http://phanthietvn.com/images/1_diem...n_thiet027.JPG
http://phanthietvn.com/en/diem-den/93-chua-ba-thien-hau
Printable View
https://www.youtube.com/watch?v=IlsVP47f32k
Andrew Tan @ 陈势安 天后 MV
vị tiên, thánh nào cũng đều có xăm, như Quan Thánh Đế Quân Linh Thiêm, Thiên Hậu Linh.
http://ftp.budaedu.org/ebooks/pdf/VI172-1.pdf
[PDF]Thượng
ftp.budaedu.org/ebooks/pdf/VI172-1.pdf
đạo, nhưng những điều lạm bàn về chánh trị trong báo có chỗ hơi thiên ... đem in tại Bắc Kinh, đặt tựa là Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao, đem sách ..... tầng, Sa Bà thế giới nhãn quang minh, một Phật báo trọn ân thiên địa, hai Phật ...... vị tiên, thánh nào cũng đều có xăm, như Quan Thánh Đế Quân Linh Thiêm, Thiên Hậu Linh.
Compendio della Do
https://sites.google.com/site/thienc...ue%20quang.jpg
NAM DU HUÊ QUANG
Trọn bộ: Nam Du Huê Quang – dịch giả Tô Châu
https://sites.google.com/site/thienc...nam-du-hue-qua
– THẦN ĐẠO Đức Khương Thượng Tử Nha
www.caodaiaustin.org/home/?p=195
Viếng thăm chùa Bà Thiên Hậu linh thiêng ở Kuala Lumpur
17/12/2016 Malaysia24h Online
Hàng năm, chùa Bà Thiên Hậu ở Kuala Lumpur thu hút rất đông du khách đến thăm viếng. Đây là công trình kiến trúc biểu tượng cho tín ngưỡng tôn giáo của cộng đồng người Hoa sống trong khu phố Tàu, Kuala Lumpur. Vì thế nếu có dịp du lịch Malaysia, bạn đừng quên viếng thăm ngôi chùa linh thiêng này…
Chùa Bà Thiên Hậu ở Kuala Lumpur tọa lạc trên đồi Robson, có diện tích hơn 6.760m² và chính thức khánh thành vào ngày 3/9/1989. Một điều thú vị nữa là toàn bộ chi phí xây dựng chùa đều do cộng đồng ngư dân Hải Nam quyên góp. Khi viếng thăm chùa, du khách sẽ thấy ngay phía trước có thờ tượng Phật bà Quan Âm. Đó cũng là truyền thống của những ngôi chùa Hoa ở đất nước Malaysia.
Khi bước vào tham quan, du khách sẽ lần lượt bước qua 4 tầng. Tầng 1 là nơi bán đồ lưu niệm và quầy bán đồ chay. Tầng 2 là nơi tổ chức tiệc cưới cho người Hoa ở Kuala Lumpur vì họ rất thích làm đám cưới tại chùa. Tầng 3 là văn phòng và nơi đăng ký làm tiệc cưới. Tầng trên cùng (người dân địa phương không gọi là tầng 4 vì kiêng cữ) là nơi thờ phụng, diễn ra các nghi lễ cúng kiến hàng ngày.
Từ tầng cao nhất, du khách có thể phóng tầm mắt ra xa để chiêm ngưỡng cảnh quan thủ đô Kuala Lumpur. Tiêu biểu như tháp đôi Petronas ngay phía trước và tháp truyền hình Kuala Lumpur.
http://malaysia24h.net/wp-content/up...ne-678x381.jpg
http://malaysia24h.net/vieng-tham-ch...-kuala-lumpur/
Nghĩa: Khương Thái Công tại đây, tà ma đi hết
4. Chùa Tàu Đà Lạt
Chùa Tàu Đà Lạt hay còn được gọi là Chùa Thiên Vương Cổ Sát toạc lạc tại số 385 đường Khe Sanh, cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 5km là một trong những ngôi chùa được thiết kế theo phong cách đậm chất Trung Hoa. Chùa Tàu nổi bật với tượng Phật Di Lặc cao 3m, hai bên là 4 bức tượng Tứ Đại Thiên Vương cùng to lớn và tượng thần Thiện và Ác vô cũng oai nghiêm. Chùa Tàu Đà Lạt mang trong mình một giá trị riêng biệt về mặt vật chất cũng như tinh thần mà không thể nào phai mờ theo thời gian.
https://3mienvn.com.vn/wp-content/up...tau-da-lat.png
https://3mienvn.com.vn/author/3mienvnahihi/page/4
http://image.baotayninh.vn/news/2016...25_hoiyen1.JPG
Mỗi năm một lần Hội yến - Báo Tây Ninh Online
Báo Tây Ninh800 × 524Tìm kiếm bằng hình ảnh
Mỗi năm một lần Hội yến
Giải tiên tri «Mã Tiền Khóa» của Gia Cát Lượng
Bản in Bản in
Tác giả: Mộc Tử
"Hối cực sinh minh" chính là Đông chí trong 24 tiết khí, là ngày Âm cực đỉnh Dương mới sinh, vừa trùng khớp với ngày trong tiên tri của người Maya. (Ảnh: EET/Đại Kỷ Nguyên)
[Chanhkien.org] “Dương phục nhi trị, Hối cực sinh minh”, ngày 21 tháng 12 năm 2012 (ngày Đông chí), nghênh đón vạn vật canh tân, bắt đầu kỷ nguyên mới.
Giới thiệu: Dự ngôn «Mã Tiền Khóa» (马前课) là do Thừa tướng Gia Cát Lượng nhà Thục Hán thời Tam Quốc sáng tác. Nhắc đến Gia Cát Lượng, có thể nói là nhà nhà đều biết, nhưng không nhiều người biết về «Mã Tiền Khóa». Tương truyền Gia Cát Lượng vào lúc nhàn hạ trong quân đã sáng tác «Mã Tiền Khóa» (tên «Mã Tiền Khóa» có nghĩa là “quẻ bói gieo trước ngựa”). «Mã Tiền Khóa» ngắn gọn súc tích phi thường, chỉ có 14 khóa, mỗi khóa dự ngôn một thời đại lịch sử, mà mỗi một khóa lại tuân theo một trật tự sắp xếp. Khi mỗi thời đại lịch sử qua đi rồi, người ta quay lại xem mới thấy Gia Cát Lượng dự ngôn chuẩn xác đến phi thường.
* * *
Sau đây là phần giải nghĩa:
Khóa 1 ○●●●●○ Trung Hạ
Vô lực hồi thiên
Cúc cung tận tụy
Âm cư Dương phất
Bát thiên nữ quỷ
Tạm dịch:
Không sức đổi Trời
Còng mình gắng sức
Âm tồn Dương phất
Tám ngàn nữ quỷ
Giải: “Vô lực hồi thiên, Cúc cung tận tụy” là nói bản thân Gia Cát Lượng, như ông viết trong «Xuất sư biểu»: “Thần cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi“. “Âm cư Dương phất” chỉ hoạn quan Hoàng Hạo loạn quyền, Khương Duy chỉ có thể duy trì tàn cục chứ không thể làm gì được. “Bát thiên nữ quỷ” (八千女鬼) chính là chữ “Ngụy” (魏), chỉ nước Ngụy diệt Thục Hán.
Khóa 2 ○●○○●○ Trung Hạ
Hỏa thượng hữu hỏa
Quang chúc Trung Thổ
Xưng danh bất chính
Giang Đông hữu hổ
Tạm dịch:
Trên lửa có lửa
Rọi sáng Trung Thổ
Xưng danh bất chính
Giang Đông có hổ
Giải: “Hỏa thượng hữu hỏa”, trên “hỏa” (火) có “hỏa” (火) chính là chữ “Viêm” (炎). Chỉ Tư Mã Viêm lập nên triều Tấn. “Xưng danh bất chính” chỉ triều Tấn của Tư Mã Viêm thực chất là soán ngôi Tào Ngụy mà kiến lập, mà Tào Ngụy lại là soán ngôi triều Hán mà kiến lập, danh không chính ngôn không thuận. “Giang Đông hữu hổ” chỉ Đông Tấn thành lập, đóng đô tại Kiến Khang thuộc Giang Đông. “Hổ” chỉ Tư Mã Duệ.
Khóa 3 ○●●●●● Hạ Hạ
Nhiễu nhiễu Trung Nguyên
Sơn hà vô chủ
Nhị tam kỳ vị
Dương chung mã thủy
Tạm dịch:
Nhiễu loạn Trung Nguyên
Non sông không chủ
Hai ba vị ấy
Dê cùng ngựa chạy
Giải: “Nhiễu nhiễu Trung Nguyên, Sơn hà vô chủ” miêu tả Trung Quốc vào thời loạn bát vương, ngũ hồ thập lục quốc và thời đại Nam-Bắc triều. “Nhị tam kỳ vị” (Hai ba vị ấy) chỉ một số Đế vương chỉ tại vị trong một thời gian rất ngắn. “Dương chung mã thủy” (Dê cùng ngựa chạy) chỉ đại loạn khởi từ gia tộc nhà Tư “Mã” {ngựa}, kết thúc là “Dương” Kiên kiến lập triều Tùy. Họ “Dương” (杨) với chữ “dương” {dê} (羊) là đồng âm.
Khóa 4 ●●○●○● Trung Thượng
Thập bát nam nhi
Khởi vu Thái Nguyên
Động tắc đắc giải
Nhật nguyệt lệ thiên
Tạm dịch:
Mười tám nam nhi
Khởi từ Thái Nguyên
Động ắt được giải
Nhật nguyệt tươi đẹp
Giải: “Thập bát nam nhi” là “thập bát tử”, “thập bát tử” (十八子) hợp thành chữ “Lý” (李). Chỉ thời Tùy mạt, Lý Uyên khởi binh từ Thái Nguyên. “Động tắc đắc giải” ý nói Lý Uyên khởi binh là đường sinh, không phải đường tử. “Nhật nguyệt tươi đẹp” chỉ văn minh Đại Đường sáng lạn.
Khóa 5 ○○○●●● Hạ Trung
Ngũ thập niên trung
Kỳ số hữu bát
Tiểu nhân đạo trường
Sinh linh đồ độc
Tạm dịch:
Trong năm thập niên
Số ấy có tám
Tiểu nhân đường dài
Sinh linh tàn hại
Giải: 53 năm sau triều Đại Đường, Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu cùng xưng là “Ngũ Đại”. Thời “Ngũ Đại” tổng cộng có 8 họ người được xưng là Hoàng đế, ứng với “Số ấy có tám”. Thạch Kính Đường tự xưng là Hoàng đế với Khiết Đan, ứng với câu “Tiểu nhân đường dài”.
Khóa 6 ●○○●○○ Thượng Trung
Duy thiên sinh Thủy
Thuận thiên ứng nhân
Cương trung nhu ngoại
Thổ nãi sinh Kim
Tạm dịch:
Chỉ Trời sinh Thủy
Thuận Trời hợp người
Trong cứng ngoài mềm
Thổ ấy sinh Kim
Giải: Triều Tống thực hành nền chính trị nhân từ, thuộc tính “Thủy”. Thổ khắc Thủy, như vậy triều Kim sinh ra từ Thổ chính là khắc tinh của triều Tống. “Thổ nãi sinh Kim”, “Kim” chỉ nước Kim, kẻ thù không đội trời chung của triều Tống. Chính sách nội ngoại của triều Tống có thể dùng “trong cứng ngoài mềm” để hình dung.
Khóa 7 ●○●○○● Trung Trung
Nhất nguyên phục thủy
Dĩ cương xử trung
Ngũ ngũ tương truyền
Nhĩ Tây ngã Đông
Tạm dịch:
Một nguyên về đầu
Lấy cứng đặt giữa
Năm năm tương truyền
Ngươi Tây ta Đông
Giải: “Nhất nguyên phục thủy” (Một nguyên về đầu) chỉ triều Nguyên kiến lập. “Dĩ cương xử trung” (Lấy cứng đặt giữa) chỉ người Mông Cổ thống trị cực kỳ hà khắc với người Hán. “Ngũ ngũ tương truyền” là chỉ triều Nguyên tổng cộng có 10 (=5+5) vị Hoàng đế. “Nhĩ Tây ngã Đông” chính là nói người Mông Cổ phân thành các Hãn quốc.
Khóa 8 ○○●●●○ Thượng Thượng
Nhật nguyệt lệ thiên
Kỳ sắc nhược xích
Miên miên diên diên
Phàm thập lục diệp
Tạm dịch:
Nhật nguyệt tươi đẹp
Sắc ấy như đỏ
Kéo dài liên miên
Gồm mười sáu lá
Giải: “Nhật nguyệt tươi đẹp”, chữ “nhật” (日) ghép với chữ “nguyệt” (月) chính là chữ “Minh” (明), chỉ triều Minh. “Sắc ấy như đỏ”, đỏ là “chu”, chỉ họ “Chu” (朱). “Kéo dài liên miên, Gồm mười sáu lá”, ý nói triều Minh có tổng cộng 16 đời Hoàng đế.
Khóa 9 ○●○●●● Trung Thượng
Thủy nguyệt hữu chủ
Cổ nguyệt vi quân
Thập truyền tuyệt thống
Tương kính nhược tân
Tạm dịch:
Nước trăng có chủ
Trăng cổ làm vua
Truyền mười tuyệt sạch
Kính nhau như khách
Giải: “Thủy nguyệt hữu chủ”, ba điểm Thủy (氵) cộng thêm “nguyệt” (月) rồi thêm “chủ” (主) hợp thành một chữ “Thanh” (清). “Cổ nguyệt vi quân”, “cổ nguyệt” (古月) chính là chữ “Hồ” (胡), chỉ triều Thanh do người dân tộc thiểu số (Hồ nhân) kiến lập. “Thập truyền tuyệt thống” ý nói triều Thanh từ khi nhập quan truyền được 10 đời Hoàng đế, cuối cùng là Tuyên Thống. “Tương kính nhược tân” (Kính nhau như khách) là chính phủ Quốc Dân ưu đãi các thành viên vương tộc nhà Thanh.
Khóa 10 ●○●○●● Trung Hạ
Thỉ hậu ngưu tiền
Thiên nhân nhất khẩu
Ngũ nhị đảo trí
Bằng lai vô cữu
Tạm dịch:
Lợn sau trâu trước
Nghìn người một miệng
Năm hai đảo ngược
Bạn đến không trách
Giải: “Lợn sau trâu trước” là năm Tý 1912 (sau Hợi trước Sửu), Trung Hoa Dân Quốc thành lập. “Thiên nhân khẩu” (千人口) chính là chữ “hòa” (和), chỉ thực hành cộng hòa chế. “Ngũ nhị đảo trí”, “ngũ” là ngôi Vua (có câu “cửu ngũ chí tôn”), như vậy “Năm hai đảo ngược” ý là “dân chủ”. “Bằng lai vô cữu” là quái từ, chỉ tuy có xâm nhiễu mà cũng không ngại lắm (bị Nhật Bản xâm lược nhưng không ngại).
Khóa 11 ○●○○●○ Trung Hạ
Tứ môn sạ tích
Đột như kỳ lai
Thần kê nhất thanh
Kỳ đạo đại suy
Tạm dịch:
Bốn cửa mở toang
Thình lình đột ngột
Tiếng gà gáy sớm
Đạo này đại suy
Giải: “Bốn cửa mở toang” chính là chữ “cộng” (共), chỉ đảng cộng sản bất ngờ được thiên hạ, văn hóa truyền thống 5.000 năm bị phá hoại. “Tiếng gà gáy sớm, Đạo này đại suy”, chỉ năm Dậu {gà} 2005, «Cửu bình cộng sản đảng» phát hành, dân chúng đua nhau thoái đảng, thế đảng bắt đầu suy bại.
Khóa 12 ●○○○○● Thượng Trung
Chửng hoạn cứu nạn
Thị duy Thánh nhân
Dương phục nhi trị
Hối cực sinh minh
Tạm dịch:
Cứu họa cứu nạn
Duy có Thánh nhân
Dương phục mà trị
Đêm hết ngày rạng
Giải: “Cứu họa cứu nạn, Duy có Thánh nhân”, giữa thời loạn thế, Pháp Luân Đại Pháp hồng truyền cứu người. “Dương phục mà trị, Đêm hết ngày rạng”, chỉ ngày 21 tháng 12 năm 2012 (ngày Đông chí), nghênh đón vạn vật canh tân, bắt đầu kỷ nguyên mới. Theo sách «Hoàng Cực kinh thế» của Thiệu Ung tiên sinh triều Tống, năm 2012 là quẻ “Phục” (Địa Lôi Phục). Còn “Hối cực sinh minh” (Đêm hết ngày rạng) chính là Đông chí trong 24 tiết khí, là ngày Âm cực đỉnh Dương mới sinh, vừa trùng khớp với ngày trong tiên tri của người Maya.
Khóa 13 ○●●○○○ Thượng Trung
Hiền bất di dã
Thiên hạ nhất gia
Vô danh vô đức
Quang diệu Trung Hoa
Tạm dịch:
Hiền không rơi mất
Thiên hạ một nhà
Không danh không đức
Chói lọi Trung Hoa
Giải: Pháp Luân Đại Pháp hồng truyền toàn thế giới, chỉnh thể đạo đức nhân loại hồi thăng, là tượng thế giới đại đồng. Giống với Tượng 59 «Thôi Bối Đồ» (“Vô thành vô phủ, Vô nhĩ vô ngã, Thiên hạ nhất gia, Trị trăn đại hóa”).
Khóa 14 ○●○●○● Trung Hạ
Chiêm đắc thử khóa
Dịch số nãi chung
Tiền cổ hậu kim
Kỳ Đạo vô cùng
Tạm dịch:
Bói được quẻ này
Dịch số đã hết
Trước cũ sau mới
Đạo ấy vô cùng
Giải: Văn minh lần này kết thúc, kỷ nguyên mới bắt đầu. Giống với Tượng 60 «Thôi Bối Đồ» (“Nhất Âm nhất Dương, Vô chung vô thủy, Chung giả nhật chung, Thủy giả tự thủy”).
Ghi chú: Các dự ngôn khác cũng nói về quẻ “Phục” năm 2012.
«Mai Hoa Thi»: “Dục tướng Bác Phục vấn tiền nhân”: năm 2011 là quẻ “Bác”, năm 2012 chính là quẻ “Phục”.
«Bộ Hư Đại Sư dự ngôn thi»: “Thế vũ tam phân, Hữu Thánh nhân xuất, Huyền sắc kỳ quan, Long trương kỳ phục, Thiên địa phục minh, Xử trị vạn vật, Tứ hải âu ca, Ấm thụ kỳ phúc”.
«Thôi Bối Đồ», Tượng 1: “Chu nhi phục thủy”; «Thôi Bối Đồ» tổng cộng 60 Tượng, tuần hoàn một vòng theo lục thập giáp tử.
Xem thêm:
http://chanhkien.org/2012/05/giai-ti...cat-luong.html
gười Hoa ở Biên Hòa – tín ngưỡng và lễ hội
Biên Hòa là địa bàn có đông dân cư sinh sống với tổng diện tích 263,55 km2, dân số 904.060 người (theo số liệu thống kê 2014). Thành phần dân tộc khá đa dạng với hơn 40 dân tộc cộng cư, trong quá trình sinh sống họ đã xây dựng nên những cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo khá phong phú với nhiều loại hình, quy mô và kiểu kiến trúc khác nhau... Trong đó, cộng đồng người Hoa (người Tàu, Ba Tàu, Minh Hương, người Hẹ,…) ở Biên Hòa là một trong những cộng đồng đã góp phần làm đa dạng sắc thái tộc người, làm phong phú thêm về văn hóa cho Đồng Nai.
Theo sử sách, người Hoa đến Đồng Nai từ thế kỷ thứ 17, cụ thể được định vị vào năm 1679. Mùa xuân, tháng Giêng, năm 1679 (Kỷ Mùi), Tổng binh trấn thủ các địa phương thủy lục ở Long Môn tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) là Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến; cùng Tổng binh trấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm là Trần Thắng Tài (Trần Thượng Xuyên) và phó tướng Trần An Bình đem hơn 3000 quân và hơn 50 chiến thuyền đến các cửa biển Tư Dung và Đà Nẵng xin chúa Nguyễn cho tỵ nạn trên đất Việt. Đây là nhóm người Hoa trung thành với nhà Minh, không chịu thần phục nhà Thanh nên đã nổi dậy phất cờ “bãi Mãn phục Minh” nhưng bất thành. Thấy họ lâm vào cảnh thế cùng lực kiệt, chúa Nguyễn cho phép họ nhập cư. Chúa Nguyễn tiếp đãi nhóm người Hoa này và sai các tướng Vân Trình, Văn Chiêu hướng dẫn cho họ vào đất Đông Phố để mở mang, sinh sống. Binh thuyền tướng sĩ của Dương Ngạn Địch theo cửa Lôi Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu đến định cư ở Mỹ Tho; binh lính tướng sĩ Cao, Lôi, Liêm của Trần Thượng Xuyên theo cửa biển Cần Gìơ đến định cư ở Bàn Lân xứ Đồng Nai (tức Biên Hòa ngày nay).
Từ cuối thế kỷ XVII cho đến những năm cuối thập niên 70, thế kỷ XX, số lượng người Hoa đến Biên Hòa ngày càng tăng qua nhiều đợt di dân. Từ sau năm 1975, có 3.331 hộ gồm 17.647 khẩu. Đến năm 2006 (theo thống kê dân số 2006) thì tổng số người Hoa ở Đồng Nai là 17.576 hộ gồm 111.456 khẩu. Người Hoa có mặt hầu hết các đơn vị phường, xã, thị trấn của các huyện, thành phố thuộc địa bàn Đồng Nai. Riêng thành phố Biên Hòa có 1.354 hộ gồm 7.876 khẩu. Trong số này, nhóm người Hoa đến trước năm 1954 chiếm đa số và có mặt hầu hết tại địa bàn xã, phường và mỗi bang đều có cơ sở tín ngưỡng chung cũng là hội quán của cộng đồng. Nhóm cộng đồng người Hoa đến sau năm 1954 cư trú chủ yếu tại địa bàn phường Tân Phong và Bình Đa.
Từ khi đặt chân đến đất Biên Hòa, nhóm người Hoa đầu tiên bắt đầu tạo lập cuộc sống trên vùng đất mới. Bao thế hệ người Hoa từ đoàn di dân buổi đầu tiên trên đến những đợt di cư do nhiều biến cố xã hội sau này (trong đó có cộng đồng người Hoa trước đây sinh sống tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam, đến Đồng Nai từ cuối thập niên 50, đầu thập niên 60, thế kỷ XX) đã cùng nhau khẩn khai, xây dựng vùng “tị địa” trước xa lạ trở thành “quê hương” thân quen. Hành trang đến với vùng đất phương Nam của nhóm lưu dân người Hoa ngoài sự cần cù, nhẫn nại, khéo léo trong buôn bán để mưu cầu cuộc sống no ấm, họ còn mang trong tâm thức mình hình ảnh của tổ tiên, thần, thánh, tập tục, tín ngưỡng. Do vậy, khi đã ổn định và thành công trong cuộc sống, người Hoa xây dựng nhiều ngôi chùa, đền miếu để tỏ lòng thành, ghi nhớ công lao với tổ tiên, phúc thần mà chính họ quan niệm rằng, đã giúp đỡ, chở che cho cộng đồng người Hoa trong suốt chặng hành trình đầy hiểm nguy và con đường lập nghiệp nơi vùng đất mới.
Về tín ngưỡng cộng đồng của người Hoa ở Biên Hòa cũng rất phong phú. Tùy theo đặc điểm mỗi bang, hội hay dòng họ mà người Hoa xây dựng những cơ sở thờ tự để cộng đồng thờ bái, cúng viếng. Các đối tượng được thờ cúng trong các cơ sở tín ngưỡng của người Hoa ở Biên Hòa thường gặp như: Những người đã chết được thờ cúng bằng linh vị; Ông Bổn (Ông Tổ, thần Thổ Địa/Tam bảo Thái giám Trịnh Hòa…); Thổ thần; Quan Đế thánh quân; Quảng Trạch Vương; Trần Thượng Xuyên; Địa Tạng; Án thủ công công; Các vị tổ nghề (tổ nghề đá, tổ nghề Mộc, tổ nghề rèn); Thái Tuế…
Tín ngưỡng thờ Ông/Quan Đế thánh quân - Quan Vân Trường (một con người được tôn thánh của lòng trung nghĩa, tài đức vẹn toàn) được cụ thể hóa bằng các đền, chùa khá phổ biến ở Biên Hòa. Có thể xem sự tồn tại của những ngôi miếu/ chùa thờ Quan Công sẽ nhận diện được vùng này có cộng đồng người Hoa sinh sống. Ở Đồng Nai, tồn tại nhiều ngôi chùa Ông mà điển hình ở Phước Thiền, Bến Gỗ, Cù lao Phố, Bến Cá. Chùa Ông ở Cù Lao Phố là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo, là cơ sở văn hóa tín ngưỡng được xây dựng sớm và có quy mô lớn của người Hoa. Bên cạnh tín ngưỡng thờ Ông qua đền, chùa, cộng đồng người Hoa còn thờ các vị nhân thần khác có gốc tích từ quê nhà. Di tích Phụng Sơn tự ở Thành phố Biên Hòa là một điển hình của người Hoa bang Phúc Kiến.
Đồng thời với tín ngưỡng thờ Ông, cộng đồng người Hoa còn có tín ngưỡng thờ Bà - mà nhân vật được tôn thờ là Bà Thiên Hậu. Hầu hết các di tích tín ngưỡng của người Hoa ở Đồng Nai đều có miếu thờ Bà ở bên cạnh. Nguyên ủy bà Thiên Hậu là một nhân vật tài năng nhưng chết trẻ và thường hiển linh cứu độ người dân đi biển khi gặp bão dông, tai ương. Có lẽ, cảm ứng trước sự linh ứng, lòng trắc ẩn và cũng có thể quan niệm chính bà Thiên Hậu đã độ trì giúp cho họ trong chuyến vượt biển tìm đến nước Nam mà cộng đồng người Hoa ở vùng đất Biên Hòa đã không quên lập miếu tôn thờ. Ở Đồng Nai miếu thờ bà Thiên Hậu khá phổ biến. Nhưng có lẽ di tích tiêu biểu và quy mô phải kể đến Thiên Hậu Cổ Miếu ở phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa. Nơi đây, vốn là một ngôi miếu nhỏ của những người Hoa bang Hẹ làm nghề đá tạo dựng để thờ Tổ sư Ngũ Đăng. Sự linh ứng của bà Thiên Hậu thu hút nhiều người tôn thờ nên người Hẹ đã rước Bà vào phối tự tại di tích. Ngoài ra, còn thờ cúng các bà Thánh, Bà Quan Âm…
Lễ hội của Người Hoa bao gồm các lễ Vía Quan Đế hiển thánh (một năm, Quan Đế có ba ngày lễ vía (theo âm lịch): ngày 13/1, ngày 13/5 và ngày 24/6, lễ vía ngày 24/6 là lễ vía được tổ chức long trọng, kéo dài trong hai ngày; Lễ vía Thiên Hậu có ngày lễ vía ngày sanh Thiên Hậu (23/3 âm lịch), lễ cúng chay Thiên Hậu đáo lệ 3 năm được tổ chức 1 lần, thời gian kéo dài 4 ngày từ ngày 10-13/6 (âm lịch) đây là lễ hội có tính chất đa hợp: vía bà thiên hậu, cúng tổ nghề với mục đích cầu an, cầu siêu; Lễ vía Quan Âm cũng có 3 lễ vía vào các ngày 18 và 19 tháng 2 (âm lịch) là lễ vía ngày sanh Quan Âm, Lễ Quan Âm nhập đạo được thực hiện vào ngày 18, 19 tháng 6 (âm lịch) và ngày 18, 19 tháng 9 (âm lịch); lễ Tả tài phán mục đích của lễ hội là cầu an, cầu siêu tùy theo địa phương nơi xảy ra những sự kiện, biến cố hay dịch bệnh thì tại nơi đó mời thầy về cúng cầu an, cầu siêu giúp cư dân tai qua nạn khỏi, khỏe mạnh, bình an…
Trên cơ sở tín ngưỡng và lễ hội phong phú cộng với sự dung hợp của nhiều quan niệm tín ngưỡng trong các lễ hội đã tạo nên sự đa dạng trong đời sống tinh thần, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc đặc biệt của cộng đồng người Hoa nói riêng đồng thời làm phong phú đa dạng thêm bản sắc văn hóa của vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai.
Đinh - Nhài
Được đăng lúc 8:15 SA theo nnkduy | Loại: Di tích | Liên kết tĩnh | Gửi email Bài đăng này | Comments (0)
Comments
Không có nhận xét nào cho bài đăng này.
三宝佛公之灵签
——泰柬闻见录6
7月15日,是泰国三宝佛节。我到泰国 方大学孔子学院讲课时,已是8月中旬 ,没能赶上三宝佛节,至憾。不过, 子学院缪院长很能体惜我的心情,特 开列一天,并且约好学院的10多名教 同游大城的三宝佛公寺。
三宝佛公寺创建于泰国大城皇朝时期 主殿主要供奉的大佛龙波多,意即是 陀。这尊大佛持着大宝扇法相非常庄 严让人看一眼就难以忘记,同时这尊 是泰国最大的佛陀。据史书记载,在 军即将发动攻击之前,这尊佛陀双目 竟然流下眼泪。
我们如果抬头仰望,就可以看到山门 右上方,悬挂着一个镶金的篮子,篮 里存放着许多贝壳一样的东西,这是 什么呢?原来,它就是古代的“巴” —今天泰国使用的铢,其读音仍然是 音的巴。大门匾额上有斗大的四个字 :"三宝佛公"。
跨进大门,一尊巨型大佛赫然矗立, 态肃穆庄严,一个正常人的身高还抵 上这尊佛的一根手指长。绕到庙的後 方,墙上立有一斜倒之石碑,刻 "大城三宝佛公凉亭(佛□二五○六年)" 墙边的木门两旁,又是一幅对联:" 光普照地上;宝筏慈帆天下"。联中的 宝筏,意思是指郑和的宝船。
听说寺的神佛前面许愿很灵验,在泰 经商的华人也非常敬仰寺内供奉的众 佛,常到这里向神佛许愿。于是,还 愿的信众也越来越多,让这间寺庙也 为基金雄厚的一间寺庙可以帮助更多 百姓。我在寺里的布施箱捐了钱款, 便抽一签,得第23号签,东方大学一位 学生依照号数,帮我从签书里抽出签 ,览之,一笑,姑妄听之。签云:“ 祟作灾殃,关防看守羊; 火中跳出马,四蹄却无伤。”后果如 言。什么时候我来还愿呢?
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...8066b7a690.jpg
http://s11.sinaimg.cn/bmiddle/6270bf47gadd95956165a&690
http://s5.sinaimg.cn/bmiddle/6270bf47gadd95a304f14&690
http://s13.sinaimg.cn/bmiddle/6270bf47gadd95ae988ec&690
http://s9.sinaimg.cn/bmiddle/6270bf47gadd95b8c6f98&690
http://blog.sina.com.cn/s/blog_6270bf470100x1f2.html