-
Khách Sạn Gần Miếu Bà Chúa Xứ
Miếu Bà Chúa Xứ thuộc Núi Sam, Châu Đốc, An Giang. Ngòai Miếu Bà Chúa Xứ, du khách còn có cơ hội đến thăm nhiều địa điểm nổi tiếng như: núi Sam, chùa Tây An, đình Châu Phú, lăng thoại Ngọc Hầu… Hãy để Mytour hỗ trợ bạn để có 1 chuyến đi thú vị, tiết kiệm bằng cách đặt phòng khách sạn Miếu Bà Chúa Xứ ngay bây giờ với giá từ 354,000 VND đến 555,000 VND, với hơn 122 đánh giá thật từ khách hàng.
Có 19 khách sạn ở đây theo ngày đã chọn
https://mytour.vn/l7898/khach-san-o-...a-chua-xu.html
-
-
https://www.youtube.com/watch?v=YGlMUyqpsRQ
LẦN ĐẦU ĂN THỬ SẦU RIÊNG ( DURIAN) ÔI MÓN ĂN KINH DỊ - Hưng Duy
Xuất bản 17 thg 8, 2017
LẦN ĐẦU ĂN THỬ SẦU RIÊNG ( DURIAN) ÔI MÓN ĂN KINH DỊ - Hưng Duy.
Hưng thấy mùi nó giống mùi thịt sống lắm các bạn ơi, tiếc tiền quá đi.
240k một quả mà Hưng ăn không được tiếc quá đi.
Các bạn đã bao giờ ăn loại quả mà người ta nói sẽ nghiện này chưa.
Mình thì lần này là lần đầu cũng là lần cuối luôn, ôi vừa đắt mà vừa ăn không được.
Xin lỗi vì hưng không ăn được sầu riêng một cách ngon lành nha.
Các bạn nào chưa ăn hãy mua và ăn thử nha.
Cảm ơn các bạn đã xem video
Like và subscribe để ủng hộ mình nha.
-
-
-
-
Miếu Ông Tà.
Tục thờ cúng ông Tà chính là tục thờ cúng Neákta của người Khơme, là tín ngưỡng thờ đá của cư dân Nam Đảo còn lưu truyền lại đến nay.
Số lượng miếu ông Tà ở Cà Mau so với các miếu thờ mẫu, miếu thờ Thổ Thần dọc theo tuyến sông nước chiếm tỷ lệ tương đối ít. Thực ra, xét về đối tượng và mục đích thờ cúng thì miếu ông Tà và miếu thờ Thổ Thần giống như nhau, nghĩa là cùng một niềm tin, cùng một sự trông cậy vào một vị thần giúp cho người dân sự bình an, may mắn, sự hưng thịnh trong cuộc sống. Tuy nhiên biểu tượng thờ thì hoàn toàn khác nhau. ở miếu thờ Thổ Thần nhiều khi chỉ là một bát nhang, không bài vị, không đèn nến. Trong khi đó tại miếu ông Tà, biểu tượng thờ là một hoặc hai ba cục đá tròn hình bầu dục, nhẵn nhụi, thường là đá hoa cương. Sự khác biệt này, xét về phương diện tâm linh, do người ta tin rằng Thổ Thần xuất nhập từ trong đất, Ông Tà xuất nhập từ hòn đá trong miếu thờ. Đây là điểm đặc thù trong tín ngưỡng thờ đá của người Khơme mà người Việt tiếp thu. Đã là miếu ông Tà thì phải có biểu tượng của cục đá. Có những trường hợp cục đá ấy bị đánh cắp do những người khác xóm đến cúng vái cầu xin đạt được ý nguyện, họ đem về lập miếu thờ ở gia đình. Cũng có khi họ tạm “mượn” về để cầu xin việc riêng, sau đó đem trả về chỗ cũ. Đây là trường hợp khá phổ biến trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian ở Cà Mau. Để tạo sự trang trọng, người ta thường phủ lên những cục đá ấy bằng tấm vải đỏ. Đối với niềm tin của người dân, ông Tà cũng như thổ địa là một vị phúc thần, giúp cho họ đạt được những ý nguyện tương đối nhỏ như: Tìm lại được của đã bị mất, mua may bán đắt trong những buổi đưa hàng ra chợ, trúng số đề. Riêng trong lãnh vực số đề, có một thời gian, và ngay cả hiện nay miếu Ông Tà đã là nơi tập trung cho những người mê tín dị đoan đến đây để cầu số. Ông Tà cũng đã từng trở thành đối tượng cho những kẻ lừa bịp mượn danh qua việc ngồi đồng, ngồi cốt ban số đề để trục lợi cá nhân.
Hình thức miếu thờ ở Cà Mau rất đa dạng, có qui mô lớn nhỏ khác nhau, sự bài trí không theo một khuôn mẫu nhất định nào nhưng tựu trung cũng chỉ do thành ý của người cầu xin với lễ vật, nhang đèn và lời khấn vái thì người khuất mặt có thể cảm thông mà châm chước mọi điều. Người Cà Mau không “mặn mòi” lắm với hình thức lễ nghi và về bề ngoài của nơi thờ tự. Có khả năng nhiều làm nhiều, khả năng ít làm ít. Điều cốt yếu là ở lòng thành đối với trời đất, thần thánh. Không gian thiêng thờ thần linh trong miếu ở Cà Mau không được quyết định bởi Nhà nước phong kiến. Đây là một điểm đặc thù của Cà Mau. Ở Cà Mau, không có một miếu thờ thần nào được triều đình sắc phong. Thậm chí đến các đình thần số sắc phong hiện nay (theo báo cáo của Bảo tàng Cà Mau) không đến 10 sắc trên tổng số khoảng 20 ngôi đình còn sót lại qua hai cuộc chiến tranh.
Đối với các xóm ấp ở Cà Mau, sinh hoạt tín ngưỡng trong dân chúng hoàn toàn không có khái niệm về đền, điện, phủ như ngoài Bắc mà chỉ có đình và miếu, trong đó miếu thì vô cùng phong phú và đa dạng về hình thức và nội dung thờ cúng. Hầu hết các miếu ở Cà Mau đều được xây dựng dọc theo tuyến sông rạch vì nó phù hợp với điều kiện đi lại của dân chúng (gần 10.000km đường thủy trong khi quốc lộ 1 chỉ có 13km). Miếu được xây dựng với nhiều hình thức và qui mô khác nhau. Thông thường thì ở ngã ba sông, ở đầu những con rạch, con kênh nơi dẫn vào khu tập trung của một xóm cư dân quây quần sinh sống người ta thường lập miếu để thờ cúng. Có thể ví ngã ba ấy như là cổng chào để đi vào đình làng. Đầu kênh, rạch là nơi thuận lợi cho cộng đồng vì nó là cửa ngõ giao thông vì ở đó ai cũng dễ dàng thực hiện các hành vi thờ tự của mình, ai cũng có thể “đi thưa về trình” với thần linh. Cửa ngõ giao thông ấy là điểm hẹn để hội tụ các gia đình trong xóm ngõ vào các dịp cúng lễ nhất là những ngày sóc vọng và các ngày rằm chính (thượng nguyên, trung nguyên và hạ nguyên tức rằm tháng giêng, tháng 7, tháng 10).
Như vậy, miếu thờ ở Cà Mau có thể xem như một hình thức thờ tự phổ biến với nhiều dang tín ngưỡng đến từ sự giao thoa của ba nền văn hóa Việt-Hoa-Khơ me. Sự đa dạng về chủng loại cũng như sự hỗn dung tín ngưỡng trong các miếu thờ, sự phong phú về số lượng của miếu thờ trải rộng trên một vùng sông nước mênh mông, kênh rạch chằng chịt đã thể hiện nhu cầu cũng như khát vong về văn hóa tín ngưỡng trong đời sống tinh thần của người dân Cà Mau.
Nguồn: Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật (Số 5/2004)
-
Điển tích “bà Cố Hỉ” và chuyện ngọc nữ “trộm dưa”
authorNguyễn Hữu Hiệp Chủ Nhật, ngày 27/04/2014 08:39 AM (GMT+7)
Sự kiện: Phong tục tập quán
(Dân Việt) Mỗi khi trò chuyện, nếu ai đó cố nhắc mãi những chuyện cũ không còn hợp thời, người dân lớp trước vùng sông nước Nam Bộ đã gọi trại “bà Thiên Y” thành “bà Cố Hỉ”. Vậy bà Cố Hỉ là ai?
Tập tục đắp núi cát của đồng bào Khmer Nam bộ
Những “Nữ thần là chúa Kho” ở Việt Nam
Thực hư chuyện "phát tích" ở điện Hòn Chén
Bí ẩn ngôi miếu Bà bên dòng Cu Đê
Do chiến tranh, một bộ phận người Chăm thiên di vào Nam, được triều đình nhà Nguyễn chỉ định cư trú tại một số nơi gần bản doanh của quân triều để tiện bảo vệ, che chở.
Ban đầu họ ở rải rác nhiều nơi, dần về sau, để thích nghi với sinh kế truyền thống (dệt vải, đánh bắt cá, nuôi dê cừu...), họ quần cư thành những xóm nhỏ cặp theo bờ sông, nhiều nhất là tại Châu Giang (ngang Châu Đốc).
Để có chỗ dựa tinh thần, định cư tại đâu họ cũng dựng miếu thờ Bà, gọi “Thiên Y” hay “Thánh mẫu”, nói đủ là “Thiên Y nương nương”, “Thánh mẫu nương nương”. Dần về sau, do toàn bộ người Chăm ở An Giang đều theo đạo Islam (Hồi giáo – theo luật của đạo này, tín đồ chỉ thờ độc nhứt thánh Alla), do đó họ không tín ngưỡng “thờ Bà” nữa.
Chính vì vậy, mỗi khi trò chuyện nếu ai đó cố nhắc mãi những chuyện cũ không còn hợp thời, người dân lớp trước vùng sông nước Nam Bộ đã gọi trại “bà Thiên Y” thành “bà Cố Hỉ” (nói đủ là “Thượng Động Cố Hỉ”): “Chuyện đâu hồi đời bà Cố Hỉ mà cứ nói hoài!”. Vậy bà Cố Hỉ là ai?
Tượng bà Thiên Y ở Tháp Chàm Nha Trang
Tượng bà Thiên Y ở Tháp Chàm, Nha Trang
Tìm hiểu được biết, bà là một vị nhiên thần, được xem là “thần tối cao” của người Chăm, “nguyên quán” tận Nha Trang, do từng tỏ ra linh ứng nên được các vua triều Nguyễn sắc phong (Gia Long, 1901; Duy Tân, 1909...).
Về thần tích, theo Đào Thái Hanh “Những người bạn cố đô Huế”, ngày xưa ở núi Đại Điền có một ông già nhà quê và bà vợ cùng chung sống bằng nghề trồng dưa. Nhưng lần nào dưa sắp chín thì có người đến đánh cắp hết. Bực mình ông già nấp để canh dưa mong bắt được kẻ trộm.
Một đêm ấm áp, ông thấy bên bụi cây, một cô thiếu nữ tuổi độ 13,14 đưa tay xinh đẹp hái dưa, vừa ngắm nghía vừa khen ngợi, vuốt ve và ăn ngon lành dưới ánh trăng. Ông già bắt lấy, hỏi cô và biết được cô là kẻ đánh cắp thường xuyên mùa dưa của ông. Ông rất ngạc nhiên về cách đi đứng khoan thai và mỹ miều của cô gái và ông quyết định đưa về chòi để nuôi nấng như con nuôi.
Bàn thờ Thượng Động Cố Hỉ tại chánh điện Thượng động miếu tại một ngôi chùa vùng Thất Sơn (An Giang)
Bàn thờ Thượng Động Cố Hỉ tại chánh điện Thượng động miếu tại một ngôi chùa vùng Thất Sơn (An Giang)
Suốt thời gian ấy cô ở nhà ông nông dân; sắc đẹp huyền diệu, sự trong trắng và tình yêu cảnh yên tĩnh làm cho cha mẹ nuôi cô rất mến và xem như con trời cho vậy.
Có một hôm, thình lình vùng ấy bị trận lụt lớn, Thiên Y tự nhiên buồn bã có vẻ nhớ quê hương, đem lượm đá và chất lên như một hòn núi nhỏ và trồng hoa xung quanh để dựng lại cảnh đẹp của quê hương cô là “Đảo tam thần” xứ hoan lạc vĩnh cửu. Người cha nuôi thấy cách chơi này không vừa ý mình nên mắng quở làm cô mủi lòng và buồn nản.
Trong lúc đó thì trôi qua một cây cổ thụ Đà Nam, gỗ rất thơm, bị trốc gốc, nước cuốn trôi giữa dòng. Thiên Y bám lấy thân cây và để trôi ra biển theo làn sóng.
dien tich “ba co hi” va chuyen ngoc nu “trom dua” hinh anh 1
Miếu Bằng Lăng tức Miếu Bà Thượng Động Cố Hỉ ở ấp Phú Hiệp, thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, An Giang
Cái xác cây bị cuốn ra Bắc và dạt vào bờ. Dân chúng ở miền đó rất ngạc nhiên thấy cây gỗ và xúm lại để lôi vào bờ. Nhưng mất công vô ích, cây gỗ quá nặng mặc dầu số lượng người bao nhiêu cũng không sao đẩy cây gỗ được.
Tin này chẳng bao lâu được truyền đi khắp nước. Vị hoàng tử sắp lên thái tử, thấy việc lạ, đến tò mò xem vào cuộc câu bắt lạ lùng này. Vị thái tử cũng xuống nước và bỗng một tay nhấc nổi cây gỗ kéo vào bờ, và truyền cho đem vào vườn trong hoàng cung.
Vị thái tử này đã đến tuổi nhưng chưa có vợ. Có một đêm vừa đi qua lại gần cây gỗ để nghĩ đến tương lai mình, thình lình dưới ánh trăng mờ ảo, ông thấy một bóng người hiện ra trong sương mờ thơm ngát và đang đi đến. Thấy vậy ông rất rung động.
dien tich “ba co hi” va chuyen ngoc nu “trom dua” hinh anh 2
Chánh điện Miếu Bằng Lăng trước đây ghi Thượng Động Cố Hỉ, nay sửa là Thiên Y Tiên Nương
Đêm sau, khi ông đang trầm ngâm trong cảnh hoang vắng thì lại thấy bóng ấy xuất hiện. Lần này ông đuổi theo thì điều kỳ lạ, từ bóng ấy ông thấy xuất hiện một thiếu nữ xinh đẹp. Người thiếu nữ này lúng túng định trốn nhưng không kịp nữa, ông hoàng đã ôm chặt trong vòng tay mà nàng không thoát nổi.
Được hỏi tới, Thiên Y kể lại hết những sự kiện đã xảy ra trong đời nàng, trước khi bị trôi đến vùng này. Ông hoàng rất mê say và tâu lại vua cha về cuộc phiêu lưu tình cảm này. Vua sai các vị thiên văn xem tử vi. Họ đều đồng tình và lễ cưới được tổ chức cho Thái Tử và Thiên Y theo phong tục trong nước.
Sau cuộc tình duyên đẹp đẽ này nàng sinh ra luôn hai đứa con. Đứa trai tên là Tri và đứa gái tên là Quý.
Khi nào cũng bị lôi cuốn trong nỗi buồn bí ẩn, một ngày kia công chúa Thiên Y đưa hai con ra bờ biển, trốn chồng, nàng đưa hai con lên cây gỗ Đà Nam và đi vào hướng Nam.
dien tich “ba co hi” va chuyen ngoc nu “trom dua” hinh anh 3
Cổng vào cổ miếu Bà Thượng Động Cố Hỉ ở ấp Nhơn Khánh, xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ
Khi trở lại cảng Cù Huân nàng bèn đi tìm lại cha mẹ nuôi trước. Mái nhà tranh cũ chẳng thấy nữa, lão nông dân và vợ đã chết từ lâu. Nàng xây một đền thờ hai vị.
Thời kỳ ấy, dân ở Nha Trang đang còn sống lối hoang dã, chưa có phương tiện để sống và để chống lại thiên tai. Thiên Y để thời giờ giáo dục họ, những người xung quanh nàng phải tuân thủ luật pháp và phải tiết kiệm để giàu có.
Nàng khắc hình mình trên tảng đá đẽo ở núi Cù Lao, làm xong cả nàng và con biến mất giữa ban ngày. Ông thái tử, biết sự việc, đem cả một hạm thuyền đi theo tìm. Khi họ đến cù lao, bọn man rợ trên đoàn thuyền của thái tử chém giết dân làng ở đó và đem bôi nhọ các hình chạm trên đá của công chúa. Để xử phạt bọn này, một trận bão lớn, gió xoáy làm trôi các thuyền bè, các mảnh đá vỡ biến thành tảng đá.
Từ ngày ấy trở đi, vị Nữ thần ban bố nhiều "phép lạ" liên tiếp nhau.
Có nhiều khi người ta thấy công chúa cưỡi con voi trắng đi dạo quanh trên đỉnh núi, và mỗi lần ra đi chơi đều có nổ ba tiếng ầm vang như lệnh đại bác. Có nhiều lần nàng xuất hiện dưới dạng tấm lụa bay vun vút trên trời hay nhiều khi nàng cưỡi đầu con cá sấu và đi lượn quanh hòn cù lao và các đảo lân cận.
Dân làng tôn thờ nàng như vị nữ thần và nhờ nàng ban ơn cho họ hưởng bao nhiêu điều mong ước cầu nguyện.
Miếu thờ Thượng Động Cố Hỉ trong khuôn viên Giàn Gừa ở Tp. Cần Thơ
Miếu thờ Thượng Động Cố Hỉ trong khuôn viên Giàn Gừa ở TP.Cần Thơ
Trên núi có hai cái tháp, bên trái là dành cho nữ thần, bên phải là để thờ nàng và thái tử chồng nàng. Sau các tháp ấy là một ngôi chùa thờ cha mẹ nuôi của nàng.
Có một bia mộ trước các tháp ấy chữ theo lối văn tự mà dân bản xứ chẳng hiểu gì ý nghĩa cả. Giờ đây, trong vườn mà các tháp ấy và chùa được dựng lên, nhiều khách đến tham quan hái quả trong vườn để ăn tại chỗ nhưng nếu đem đi thì sẽ bị thần phạt.
Có một ngày trong năm, nhiều thú rừng và cá biển đến chầu yên lặng trước đền của nữ thần như là ngày kỵ giỗ theo kiểu của chúng.
Khi còn làm quan, đại thần Phan Thanh Giản đã có làm một bài văn tế viết bằng chữ Hán, được chạm khắc trên bia đá trân tàng tại Tháp Bà Nha Trang, nay vẫn còn.
Trong tinh thần tôn kính thần linh, cũng nhằm thể hiện tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em, hiện không ít nơi bà con người Việt vẫn thường lui tới những nơi thờ Bà để cầu xin những điều may mắn.
Vài dấu tích còn sót lại trên vùng đất này là Miếu Bà ở Chợ Vàm (huyện Phú Tân, An Giang – cũng gọi “miếu Bằng Lăng”, vì sau miếu có những cây bằng lăng rất to), miếu Bà ở Thất Sơn (An Giang – trong khuôn viên một ngôi chùa Phật), miếu Bà ở Phong Điền (Cần Thơ – cũng gọi Cổ miếu Giàn Gừa vì trong khuôn viên có những cây gừa rất to)... Tất cả đều được trùng kiến rất khang trang và tất nhiên khói hương không dứt.
Tag: thái tử, cây gỗ, bằng lăng, nữ thần, dưa, cù lao, ngôi chùa, An Giang, Người Chăm, thánh mẫu, Phong tục tập quán
http://danviet.vn/que-nha/dien-tich-...ua-400504.html
-
-
MIẾU VÀ MIỄU Ở KHÁNH HÒA
NGÔ VĂN BAN
(kỳ 1)
http://www.ninhhoatoday.net/stbkky49-2.asp
-
-
Dịch thuật: Những cái nhất ở Tuyền Châu
Đăng lúc 23:22 | Thư Mục Nghiên Cứu - Dịch Thuật
NHỮNG CÁI NHẤT Ở TUYỀN CHÂU (1)
Thiên Hậu cung 天后宫 là miếu Ma Tổ 妈祖 (2) lớn nhất và cổ xưa nhất hiện còn của Trung Quốc.
Thảo am Ma Ni giáo tự 草庵摩尼教寺 là chùa Ma Ni Giáo (3) duy nhất trên thế giới.
Viện bảo tàng lịch sử giao thông hải ngoại là viện bảo tàng duy nhất mang tính chất chuyên môn phản ánh lịch sử giao thông đường biển giữa Trung Quốc với các nước thời cổ.
Cầu Lạc Dương 洛阳 Huệ An 惠安 là chiếc cầu đá hải cảng sớm nhất hiện còn của Trung Quốc.
Cầu Bình An 平安 là chiếc cầu đá cổ dài nhất của Trung Quốc.
Y Tư Lan giáo 伊斯兰教 (Islam) Thánh mộ là Thánh mộ Hồi giáo cổ xưa nhất, giữ được nguyên vẹn nhất hiện còn của Trung Quốc.
Cây dâu cổ ngàn năm tuổi ở chùa Khai Nguyên 开元 là cây dâu cổ xưa nhất hiện còn của Trung Quốc, tuổi của cây lên đến hơn 1300 năm.
Hai tháp ở phía đông và phía tây tại chùa Khai Nguyên 开元 là tháp bằng đá cao nhất hiện còn của Trung Quốc. Tháp cao 48,24m.
Tượng Lão Quân 老君 ở núi Thanh Nguyên 清源 là tượng khắc đá Đạo giáo lớn nhất hiện còn của Trung Quốc.
Chùa Thanh Tịnh 清净 là chùa Hồi giáo sớm nhất, cổ xưa nhất hiện còn của Trung Quốc.
Nhóm đá khắc cầu gió ở núi Cửu Nhật 九日 trấn Phong Châu 丰州 thành phố Nam An 南安 là nhóm đá khắc có số lượng nhiều nhất hiện còn của Trung Quốc.
Cổ thành Sùng Võ 崇武 là toà thành bằng đá bên bờ biển được bảo tồn hoàn chỉnh nhất của Trung Quốc.
CHÚ THÍCH CỦA NGƯỜI DỊCH
(1)- TUYỀN CHÂU 泉州: thành phố Tuyền Châu thuộc tỉnh Phúc Kiến福建, còn được gọi là Lí thành 鲤城, Thích Đồng thành 刺桐城, Ôn Lăng 温陵. Tuyền Châu là trung tâm kinh tế của tỉnh Phúc Kiến 福建,
(2)- MA TỔ 妈祖: Ma Tổ là vị hải thần còn được gọi là Thiên Thượng Thánh Mẫu 天上圣母, Thiên Hậu 天后, Thiên Hậu Nương Nương 天后娘娘, Thiên Phi 天妃, Thiên Phi Nương Nương 天妃娘娘, Mi Châu Nương Ma 湄州娘妈.
Tương truyền Ma Tổ họ Lâm 林 tên Mặc 默 nên cũng có tên là Mặc Nương 默娘, sinh vào năm Kiến Long 建隆 thứ 1 đời Tống Thái Tổ (có thuyết cho là sinh vào cuối thời Ngũ đại) tại đảo Mi Châu 湄州 huyện Bồ Điền 莆田 phủ Tuyền Châu 泉州 tỉnh Phúc Kiến 福建. Khi sinh ra không khóc không quấy nên nhân đó được đặt tên là Mặc 默, tiểu danh Mặc Nương 默娘. (Về năm sinh năm mất cùng gia thế của Ma Tổ, nhiều sử liệu chép khác nhau)
Ma Tổ là vị hải thần được thuyền viên, lữ khách, thương nhân cùng ngư dân sùng kính và phụng thờ. Trong tín ngưỡng của họ, mỗi khi thuyền ra khơi đều đến cầu xin Ma Tổ bảo hộ để được thuận buồm xuôi gió, bình an.
Nguồn http://zh.wikipedia.org/wiki
(3)- MA NI GIÁO 摩尼教: được sáng lập vào giữa thế kỉ thứ 3, người sáng lập là Ma Ni 摩尼 (năm 216 – năm 275). Phụ thân là Phách Đế Khắc 帕蒂克 một tín đồ Cơ Đốc giáo. Theo truyền thuyết, năm Ma Ni 25 tuổi, Ma Ni tuyên bố sáng lập một tôn giáo mới đó là Ma Ni giáo, trên cơ sở Bái hoả giáo, hấp thu Cơ Đốc giáo, Phật giáo và tư tưởng tôn giáo của Babylon cổ.
Ma Ni Giáo lúc khởi đầu từng được sự bảo hộ của vua Sa Ba Nhĩ 1 沙波尔 (Shapur 1) (241 -272) thuộc vương triều Tát San 萨珊 (Sassanid). Ma Ni lập giáo đoàn tại Ba Tư, tiến hành truyền giáo. Phía tây truyền đến đế quốc La Mã và phía bắc châu Phi, phía đông vượt qua sông A Mẫu 阿姆 (Amu-Darya) tiến vào Trung Quốc.
Nguồn http://qzhnet.dnscn.cn/qzh32.htm
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 27/02/2013
Nguyên tác Trung văn
TUYỀN CHÂU CHI TỐI
泉州之最
Trong quyển
HUỀ TRÌNH TẨU TRUNG QUỐC
PHÚC KIẾN – QUẢNG ĐÔNG – HẢI NAM
携程走中国
福建 - 广东 - 海南
Chủ biên: Huề trình lữ hành phục vụ công ti
Thượng Hải Tam Liên thư điếm, 2001.
http://www.chuonghung.com/2013/02/di...uyen-chau.html
-
- CHÂU THIÊN NGHỊCH CHUYỂN
CHÂU THIÊN NGHỊCH CHUYỂN CÔNG PHU
Mục đích: Thanh lọc bản thể, khai mở hệ thống kinh mạch, gia tăng sức khoẻ, đẩy lùi bệnh tật, đưa tâm dần dần trở nên vi tế bước vào cảnh giới nhập định.
Thời gian: Tập vào giờ tí (23h đêm – 01h sáng),nếu có thời gian nên tập tứ thời ( Tý , Ngọ , Mẹo , Dậu ) công phu lâu mau tùy theo sức .
Không gian: Phòng hoàn toàn tối, không lọt một chút ánh sáng nào.
Điều thân: Ngồi bán già hay kiết già, chân phải để trên chân trái, bàn tay phải nắm bàn tay trái đặt trước bụng. Không được nhắm mắt, hai mắt lim dim nhìn xuống dưới, mới đầu công phu chỉ cần hơi khép mắt lại, sau khi đã nhập định thì tự nhiên sẽ lim dim, không cưỡng ép, miệng ngậm, lưỡi để tự nhiên ở hàm dưới, công pháp này không yêu cầu phải cong lưỡi vì ảnh hưởng tới nhập tĩnh.
Chỉ cần đầu lưỡi không đụng vào hàm trên là được rồi, bàn tay này nắm lấy tay kia, mục đích là khi hít thở có thể hai tay hơi nắm chặt lại để tập trung, không phải là huyệt lao cung úp vào nhau như thế bắt tay mà là lòng bàn tay phải úp lên mặt ngoài tay trái, nếu biết cách nắm tay theo ”Tí Ngọ liên hoàn bát quái thủ” của đạo gia thì cũng được.
Điều tâm: Ngừng tạp niệm, không tập trung vào bất cứ điều gì, theo ánh mắt nhìn xuống khoảng đen tối trước mắt.
Điều tức: Yêu cầu phải thở được kiểu bụng ngược, hít vào thì phần bụng dưới rốn thót lại, thở ra thì phình ra, các bạn nào chưa rõ thì tìm cách sách khí công để tham khảo cho biết chính xác cách hít thở. Hiện nay các sách khí công thường đưa thêm hướng dẫn cong lưỡi và co rút hậu môn nhằm nối thượng, hạ thước kiều, công phu này không dùng tới, yêu cầu bỏ phần đó, chỉ cần chú ý tới phép hít thở ngược thôi. Tập điều tức khi nào thuần thục thì hãy bắt đầu công phu Châu Thiên Nghịch Chuyển.
Châu Thiên Nghịch Chuyển:
Sau khi đã điều thân, điều tâm, điều tức vài ba hơi để tập co giãn bụng dưới thì bắt đầu chuyển pháp luân.
Theo phép thở bụng kiểu ngược thì khi hít vào bụng dưới từ từ co lại, đến đây thay vì thở ra hành giả tiếp tục hít vào, hít vào.. (thời gian tối thiểu phải đạt được là 1 phút), bụng dưới vẫn tiếp tục co lại đến khi cảm thấy ngộp thở không thể tiếp tục hít vào được nữa thì từ từ thở ra bằng mũi, nhưng không cố gắng phình bụng hết sức như kiểu thở ngược mà chỉ thở ra từ từ, bụng dưới chỉ hơi phình như đang giãn ra mà thôi, không thở ra hết không khí trong phổi, đó là một hiệp.
Tiếp tục thực hiện hiệp hai, ba đến khoảng chín hiệp thì ngừng, có thể tự nhiên nhập vào đại định. Có nhiều người khi thực hiện khoảng ba hiệp thì thấy tự nhiên nhập định, thì cứ để nhập định như vậy, tạm thời ngưng pháp luân, đến khi xuất định lại tiếp tục pháp luân, nếu thấy nhiều tạp niệm thì dùng thần chú ‘Ôm Mani Pát Mê Hum” vài ba lần sẽ hết.
Công phu xong thì nằm xuống ngủ luôn, lợi dụng giấc ngủ để cho nội khí tự động vận hành.
Chứng nghiệm:
Sau khi nằm xuống có thể thấy điện giật, bên tai có gío bão nổi lên, mắt nhìn thấy những đốm sáng như sao, đó là nội khí vận hành không có gì đáng ngại, thường người mới tập luyện do kinh mạch chưa thông thoáng dễ thấy hiện tượng trên, sau một thờ gian cơ thể được thanh lọc sẽ hết.
Ghi chú về thở: Tạm nói như thế này cho dễ hình dung, ta ví thân mình làm ba phần, phần trên từ cổ tới ngực, phần giữa từ ngực tới rốn, phần dưới từ rốn tới bụng dưới. Như vậy 3 kiểu hô hấp chính được tạm thời mô tả như sau( các bạn đừng hiểu theo kiểu chẻ chữ ra làm đôi nhé):
1.Kiểu ngực: Khi hít vào chủ yếu là phần trên căng lên.
2.Kiểu thở bụng thuận: Khi hít vào thì chủ yếu phần dưới căng lên
3.Kiểu thở bụng nghịch: Khi hít vào thì phần giữa căng lên, trong khi đó phần dưới thì thắt lại.
Khi tập luyện các bài hít thở, thì tuân thủ cách thở theo bài tập là tự nhiên nhất.
Những lưu ý để tập tốt Châu thiên nghịch chuyển:
- Muốn nhập định thì phải Châu Thiên Nghịch Chuyển đạt chất lượng.
Vậy thế nào là đạt chất lượng? đó là:
- Châu Thiên Nghịch Chuyển đạt 9 hiệp thì phải cảm thấy rất mệt, hết sức lực.
- Nguyên tắc của Châu Thiên Nghịch Chuyển là khi hít vào mặc dù biết không thể hít thêm vẫn cố gắng hít thêm tối đa đến khi không thể cố gắng được nữa mới thở ra, một hiệp tối thiểu đạt 1 phút.
- Làm Châu Thiên Nghịch Chuyển đạt chất lượng, thì sau mỗi hiệp hơi thở sẽ dồn dập, phải nghỉ điều hoà hơi thở 3-5 hơi (điều hoà bằng thở thuận) rồi lại tiếp tục hiệp 2, nếu có thể làm liện tục hiệp 1, 2, 3.. 9 mà không cần nghỉ là chưa đúng nguyên tắc.
- Làm Châu Thiên Nghịch Chuyển đạt chất lượng thì sẽ tự nhiên nhập định, hơi thở tự nhiên chứ không phải thở nghịch nữa, thở nghịch chỉ dùng khi làm Châu Thiên Nghịch Chuyển thôi.
Điểm quan trọng: vì chúng ta sử dụng “‘phong“‘ để khai thông kinh mạch, nên Châu Thiên Nghịch Chuyển quan trọng nhất là động tác hít vào, hít vào, hít vào nữa, không thể hít vào nữa vẫn tiếp tục hít vào, khi này chắc chắn một phần không khí sẽ bị đẩy ngược ra ngoài để có chỗ trống cho phần không khí mới tiếp tục vào, và cứ thế đẩy ra cứ thế hít vào , đây là yếu quyết chính để Châu Thiên Nghịch Chuyển thành công, khi đó các bạn có thể sẽ nhận thấy là phần bụng dưới bị nén chặt cũng có thể bị rung động nhào nắn mạnh, thấy như vậy là bạn đã hoàn thành Châu Thiên Nghịch Chuyển trọn vẹn.
THIỀN ĐỊNH
(Sau khi tập CTNC được 6 tháng thì bắt đầu tiến hành thiền định.)
Châu Thiên Nghịch Chuyển là phép luyện Tinh hoá Khí, thiền định là phép luyện Khí hoá Thần, cho nên sau khi Châu Thiên nghịch chuyển (PLNC) thì chân khí sẽ tiến sang Đốc mạch, thì bắt buộc phải thiền định để chân khí vượt Ngọc Chẩm nhập vào Nê Hoàn Cung hoá thần. Đây là công pháp truy nhiếp nguyên thần về Nê Hoàn Cung mà cổ tiên giấu kín, nay sư huynh đem ra công truyền. Người luyện thiền định này coi như đã đặt một chân vào đại đạo, cho nên khi thực hành nếu có gặp nhiều trải nghiệm huyền ảo cũng không nên lo sợ.
Nguyên tắc của phép thiền định đạo gia là ”tâm tức tương ỷ”, đó là phép làm cho thần khí quyến luyến lẫn nhau không rời ra, nói theo thế tục thì thần khí cũng như âm dương, nam nữ, dùng chân ý làm người mai mối khiến cho thần khí giao kết thì sẽ tiến vào cảnh giới nhập định, có thể khiến cho hô hấp ngừng lại, đạo gia gọi là thai tức, phép này được chỉ rõ trong ”Lục diệu pháp môn” của nhà Phật và ”Thái ất kim hoa tông chỉ” của Lã Tổ, Chỉ có điều người xưa khi truyền công pháp đều muốn người ta phải phát huy ”ngộ tính” thì mới có thể chứng nghiệm hiệu quả. Vì thế mà phép này truyền ra đời cũng ít thấy ai hiểu mà tu luyện hiệu quả. Nay tôi đặc biệt chỉ ra chỗ ”ngộ” này cho các bạn hiểu.
Nếu thiền với tư thế ngồi thì sau khi Châu Thiên nghịch chuyển, thì bước sang thiền định, về tư thế thì có thể hai tay vẫn ôm nhau như khi châu thiên nghịch chuyển, hoặc là hai tay tách ra đặt xuống hai đầu gối, tư thế nằm thì nằm ngửa hay nghiêng cũng được miễn sao cho thoải mái. Tùy theo từng người thấy phép nào hợp thì theo
Yếu quyết: Miệng ngậm, hai mắt nhắm kín, hai tròng mắt ngước nhìn lên khoảng đen tối phía trên trán, im lìm như mèo nằm rình chuột, tuy nhiên không được quá tập trung căng thẳng, đầu óc không suy nghĩ gì cả, ngưng mọi tạp niệm. Nếu thấy tạp niệm khởi lên thì dùng tâm tức tương ỷ mà thâu nhiếp, tuyệt đối không thủ ý vào bất kỳ huyệt đạo nào trên đầu. Thời gian thiền định tối thiểu là 30 phút.
Thông thường sau khi Châu Thiên nghịch chuyển thì tự nhiên nhập định rồi, được một lúc sẽ thấy mức độ nhập định không sâu nữa gọi là sắp xuất định thì thực hiện pháp ”Tâm tức tương ỷ” này, từ từ hít vào, trong lúc này tâm theo dõi quá trình hít vào, sau đó lại từ từ thở ra, tâm theo dõi quá trình thở ra, nguyên tắc là hít vào 8 phần hơi, thở ra 6 phần hơi, không được hít đầy, cũng không được thở ra cạn hơi, một lần hít vào thở ra là một hiệp, thực hiện 3 hiệp như vậy rồi ngưng, tiếp tục nhập định, ngưng mọi tạp niệm, khi đó sẽ cảm thấy trí giác ngày càng lịm đi, đến khi nào thấy sắp sửa xuất định thì lại thực hiện ”Tâm tức tương ỷ”. Làm tốt pháp này thì có thể ”siêu phàm nhập thánh”, chứng nghiệm được mọi ấn chứng được nói tới trong ”Toạ thiền chỉ quán” của nhà Phật.
- Lưu ý: Khi ”Tâm tức tương ỷ”, tiến hành hô hấp bụng kiểu thuận, hít vào bụng căng lên, thở ra xẹp xuống.
- Giải thích: Tại sao chỉ hô hấp 3 hiệp trong một lần ”Tâm tức tương ỷ”?
Vì chân ý như bà mai mối cho thần khí vậy, khi tâm theo dõi hơi thở chính là đang mai mối cho thần và khí, nếu chân ý cứ theo dõi liên tục mấy chục hiệp thì cũng như nam nử đến gặp nhau mà có bà mai đứng đó ngó hoài thì làm sao kết hợp được, đây là điểm mấu chốt của pháp này. Vì thế nhiệm vụ của bà mai chỉ là dẩn dắt đoạn đầu rồi sau đó phải đi chổ khác thì thần khí mới phối hợp được, do đó mà mỗi lần “tâm tức tương ỷ” chỉ làm 3 hiệp thì ngừng.
Hỏi:
Mới tập vài hôm, mình quan sát thấy : khi phần bụng dưới thắt lại, thì vùng chứa khí hít vào sẽ bắt đầu từ phần cơ hoành (tương ứng với phần giữa cơ thể như HuyenQuangTu vừa nêu), nhưng do hít vào từ từ đến mức đầy, nên từ phần cơ hoành trở lên sẽ dần dần đầy chỗ chứa : phần giữa đầy, phần ngực đầy cũng phải căng lên, phần ngực đầy rồi sẽ tới phần cổ đầy, phần cổ đầy rồi vẫn còn chỗ chứa nữa là các hốc xoang, khi các hốc xoang đầy rồi thì sẽ không hít vào được nữa.
Tới giai đoạn thở ra, thì ngay khi thở ra sẽ không thể phình bụng ngay được, mà hơi ở vùng trên được giải toả hết rồi thì vùng dưới mới phình ra được. Tức là quá trình phình phải lần lượt từ trên xuống dưới, khi hơi ở xoang ra hết sẽ đến cổ, đến ngực, khi hơi ở ngực ra hết thì mới bắt đầu có thể phình phần giữa và khi hơi ở phần giữa ra hết thì mới bắt đầu có thể nới lỏng dần đai bụng dưới rốn từ từ.
Như vậy quá trình phình bụng khi thở ra cũng phải nương theo quá trình không khí thoát ra một cách tuần tự, chứ không cố ý ngay từ đầu được.
HuyenQuangTu có thể nói rõ hơn về phạm vi chứa khí được không ? Vì nếu đã hít đầy hơi thì phần ngực sẽ căng hơn phần giữa vì thể tích nó lớn hơn nhiều (có chỗ nào chứa được sẽ tự nhiên chứa bằng hết).
Đáp:
Ban Tienkyanh mô tả cách hít thở bụng kiểu nghịch như vậy là chính xác và khoa học, tuy nhiên chúng ta không nên quá quan tâm đến chuyện không khí sẽ vào ra như thế nào, vì thực sự chúng ta không sử dụng không khí để khai thông kinh mạch, mà sử dụng một lực lượng gọi là “phong”, nó nương theo không khí vào cơ thể khi ta hít vào, phạm vi hoạt động của nó vượt ra ngoài không khí, vì thế nếu quá chú tâm vào không khí sẽ chứa ở đâu thì sẽ bị máy móc, các bạn chỉ cần biết rằng mình đang hít thở vào sâu dài từ từ theo kiểu bụng nghịch thì không khí sẽ tự biết vào đúng chỗ của nó, dĩ nhiên như bạn Tienkyanh đã mô tả, thì quả thật không khí sẽ vượt lên chứa đầy cổ và cả các xoang, khi thở ra cũng vậy, ta cũng chỉ chú ý vào chuyện thở ra từ từ và tập trung vào động tác dãn bụng dưỡi cho đến khi phình ra. Những gì bạn Tienkyanh mô tả là hoàn toàn chính xác.
Điểm quan trọng:vì chúng ta sử dụng ”phong” để khai thông kinh mạch, nên PLNC quan trọng nhất là động tác hít vào, hít vào, hít vào nữa, không thể hít vào nữa vẫn tiếp tục hít vào, khi này chắc chắn một phần không khí sẽ bị đẩy ngược ra ngoài để có chỗ trống cho phần không khí mới tiếp tục vào, và cứ thế đẩy ra cứ thế hít vào, đây là yếu quyết chính để PLNC thành công, khi đó các bạn có thể sẽ nhận thấy là phần bụng dưới bị nén chặt cũng có thể bị rung động nhào nắn mạnh, thấy như vậy là bạn đã hoàn thành PLNC thành công trọn vẹn.
PLNC chính là phép luyện đả thông mệnh môn ( là phần đối diện với rốn ở sau lưng).
Tu luyện sai lệch phần nhiều do các nguyên nhân thủ ý, dẩn ý, cong lưỡi, nay PLNC không dùng tới tất cả những phép luyện đó, nên không thể có sai lệch, hoàn toàn phù hợp nếu kết hợp với các môn khác (khí công, nhân điện…), và hỗ trợ chữa trị nếu do tập các môn khác phát sinh sai lệch, nếu kết hợp với các môn khác thì nên tập PLNC sau cùng, rồi sau đó ngồi thiền định nhập tĩnh luôn.
Lưu ý, sau khi tập PLNC thì phải dành khoảng 30 phút thiền định, vì PLNC là để hỗ trợ thiền định.
-Trạng thái nín thở là trạng thái thanh quản bị đóng lại, nên sẽ có hiện tượng đỏ mặt
-PLNC hoàn toàn không có trạng thái đóng thanh quản, thanh qủan lúc nào cũng mở nên không có trạng thái nín thở, mà thực sự khi bạn hít vào đầy hơi , vẫn tiếp tục hít vào thì sẽ có một phần không khí ở phía trên cổ và các xoang sẽ bị đẩy ra để không khí mới vào, bạn hãy hình dung không khí trong cơ thể bạn và bên ngoài vẫn thông suốt với nhau chứ không có hiện tượng ngăn cách trong và ngoài khi làm PLNC
-khi bạn thở ra, thì phần không khí ở phía trên sẽ ra trước, khi phình bụng bạn sẽ có cảm giác là không khí vừa ra đằng mũi làm ngực trống mà vừa đi sâu xuống bụng dưới khi phình bụng.
Khi thở ra bạn hãy chú ý vào chuyện thở không khí ra và phình bụng dưới.
Hô hấp Đạo gia: Cũng gọi là hô hấp nghịch được dùng để chuẩn bị cho khí lưu thông, và sự phát triển đúng đắn của nó có ý nghĩa quyết định. Cử động bình thường của bụng dưới bị đảo ngược. Thay vì phình ra khi hít vào , đạo gia thót lại, và ngược lại. Ta không bao giờ giữ hơi lại hoặc cưỡng ép nó. Hít vào từ từ bằng mũi , giữ cho hơi thở được êm dịu và dễ dàng, co bụng dưới lại, nâng nó lên. Khi phổi đầy hơi, bắt đầu thở ra nhẹ nhàng. Hít vào được coi là âm , thở ra là dương. Chúng phải hoạt động chung như vòng tròn Âm dương, cái này trở thành cái kia một cách êm dịu và không cố gắng trong một động tác buông lỏng. Khi thở ra, từ từ đẩy Đan Điền và bụng dưới ra. Vùng Đan Điền là nơi khí sinh ra và tích tụ để khởi vòng Tiểu Chu Thiên. Vì vậy , cơ bắp quanh Đan Điền phảI được luyện tập sao cho có thể co lại và phình ra vừa đủ khi người tập hít vào và thở ra. Trước hết phình bụng dưới khi thở ra có lẽ khó khăn , nhưng với thực hành các cơ bắp sẽ tập càng lúc càng to hơn đến khi toàn thể bụng dướI căng từ rốn đến xương chậu khi thở ra. Ta không nên cưỡng ép Đan Điền phình ra, mà phải làm nhẹ nhàng đến khi thành công.
Toàn thể tiến trình là một hình thức hô hấp sâu, không phải vì hô hấp nặng nề, mà vì nó làm cho phổi gần đầy. Nhiều người tập các bài đòi hỏi nhiều cố gắng phải hô hấp vất vả, họ không tất yếu thở sâu. Thở sâu làm cho nội tạng rung động nhịp nhàng với hơi thở, làm kích thích và luyện tập chúng. Nội tạng không có tiếp thu loại nội luyện này mà không có thở sâu. Ta có thể thấy rõ nhiều hình thức tập luyện hung bạo chỉ ảnh hưởng cơ bắp bên ngoài, tác dụng ít ỏi tới nội tạng.
CÁC BÀI TẬP PHỤ TRỢ
TIẾN DƯƠNG CÔNG
1.Đứng thẳng, hai chân rộng hơn hai vai, hai tay mở chưởng buông xuôi theo thân mình.
2.bắt đầu hít sâu vào bụng, xuống trung bình tấn, hai chưởng xoay ra sau lưng, tưởng tượng hai chưởng đang hổ trợ lưng đẩy một tảng đá lớn đang tiến tới áp sát lưng, vẫn tiếp tục hít sâu vào.
3.Vẫn tưởng tượng kết hợp hít sâu vào, đến khi nào không thể chịu đựng được nữa thì từ từ đứng thẳng dậy, hai chưởng xoay ngửa theo hai bên thân đẩy thẳng lên trời, đồng thời kết hợp thở ra từ từ bằng mũi.
THOÁI ÂM CÔNG
- Đứng thẳng, hai chân rộng hơn hai vai, hai tay mở chưởng buông xuôi theo thân mình.
- Bắt đầu hít sâu vào bụng, xuống trung bình tấn. Hai chưởng đẩy thẳng tới trước măt. Tưởng tượng hai chưởng đang đẩy một tảng đá lớn đang từ từ tiến đến áp sát ngực. Tưởng tượng hai chưởng không thể chống đỡ nổi tảng đá vẫn đang tiến tới áp sát vào ngực, hai chưởng bị tảng đá đẩy phải co về trước ngực, vẫn tiếp tục hít sâu vào.
- Vẫn tưởng tượng kết hợp hít sâu vào, đến khi nào không thể chịu đựng được nữa thì bất ngờ đẩy mạnh hai chưởng về trước, tưởng tượng tảng đá bị đẩy bật văng ra xa, đồng thời kết hợp thở ra thật mạnh bằng mũi.
Thời gian: Tập hai buổi chính là sáng tiến dương và chiều thoái âm.
NGOẠI CHÂU THIÊN
Hai chân đứng bằng vai, quay 2 tay từ sau ra trước, khi 2 tay sau lưng thì bàn tay ngửa lên, khi 2 tay qua đầu đi xuống thì úp bàn tay lại, khi qua đỉnh đầu khoảng cách 2 tay nhỏ hơn vai, không để hai tay chạm nhau, quay tốc độ vừa phải sao cho khi tay đi lên hít vào khi tay đi xuống thở ra.
Bài này luyện phần phách bao quanh thân và đồng thời cũng có tác dụng thông mạch (có tác dụng thông mạch tương tự bài phất tay Dịch cân Kinh nhưng khó tập hơn vì mau mỏi tay mỏi vai ,tuy nhiên tập tốt và chăm chỉ có thể gây tự phát động công và tay quay tự động hàng nghìn vòng không mỏi).
BÀI TẬP NỘI CÔNG
- Bài tập này các bạn tập vào buổi sáng, có tác dụng hấp thu địa khí, làm khí huyết lưu thông, giãn gân cốt do ngồi thiền lâu, ổn định nhịp tim và huyết áp bất thường.có thể chữa được bệnh đau thần kinh toạ, hoặc những ai do luyện khí công bị đau chân thì cũng công hiệu tốt.
- Đứng thẳng, hai chân dang rộng hơn vai, hít vào, bụng căng ra, nâng hai tay (mở chưởng) lên ngực, bắt đầu nín thở, hai chân rùn xuống tấn mã bộ, hai chưỡng hướng xuống đất, gồng cứng hai chân và hai tay, tưởng tượng mặt đất đang nâng lên còn mình thì đang dồn toàn bộ sức lực xuống chân để ấn mặt đất xuống, tùy theo khả năng nín thở rồi bắt đầu thu thế, từ từ thở ra bằng miệng, hai chân từ từ đứng thẳng như cũ, hai tay nâng lên ngực rồi hạ xuống hai bên thân về tư thế ban đầu.
BÀI NỘI CÔNG TRỤC TÀ
Âm tà vào người theo đường xương sống từ dưới đất lên, những người có căn âm bẩm sinh, hoặc là tập thiền ngồi trên nền đất có âm khí nhiều dễ bị nhiễm.
Bài nội công trục tà :
Tương tự như 2 bài tỉến dương thoái âm nhưng hai tay nắm chặt 2 quả đấm buông dọc theo thân mình hướng xuống đất, bắt đầu hít vào bụng , gồng cứng 2 cánh tay và 2 chân tưởng tượng mình nặng như một quả tạ, sức ì nặng ngày một tăng dần đè xuống mặt đất, hai chân rùn xuống tấn mã bộ vững chắc, đầu cúi nhìn xuống mặt đất, gia tăng quán lực, khi nào không thể hít vào được nữa thì thở ra đồng thời thư giãn toàn bộ cơ thể, hai tay mở ra tự nhiên, hai gối đứng thẳng dậy, tiếp tục làm hiệp 2.
Tại giường ngủ hoặc chỗ tập thiền vẽ quẻ dịch ‘phong địa quan’ , thường nhìn vào hình quẻ dịch quán niệm, khi thấy hiện tượng xấu thì quán tưởng và niệm tên quẻ dịch.
TÂM TỨC TƯƠNG Y
Đây là một công pháp rất nhiều huyền diệu.
Từ từ hít vào, trong lúc này tâm theo dõi quá trình hít vào, sau đó lại từ từ thở ra, tâm theo dõi quá trình thở ra, nguyên tắc là hít vào 8 phần hơi, thở ra 6 phần hơi, không được hít đầy, cũng không được thở ra cạn hơi, một lần hít vào thở ra là một hiệp.
Tâm theo dõi hơi thở. Thở nhịp nhàng khoảng 3 lần vào ra như vậy thì dừng để nội khí tự vận hành, thần khí tự quyến luyến nhau, khoảng vài phút lặp lại một lần.
Chăm tập TÂM TỨC TƯƠNG Y và nhận thấy nó rất tuyệt, nó thúc đẩy nội khí vận hành rất mạnh, thần khí quyện vào nhau, tâm trí như say, như mơ. Lúc tập nên thả lỏng tâm trí, buông lơi tất cả, bám vào hơi thở thật nhẹ nhàng, không nên dùng sức mà thật nhẹ nhàng ta sẽ thấy tất cả như quyện chặt vào nhau…. rất khó tả
ĐỘNG TÁC THU CÔNG
Mọi người tu tập CTNC khá lâu rồi mà chưa thấy sư huynh nói gì tới thu công chắc cũng có người thắc mắc, bây giờ sư huynh mới nói rõ tại sao. Trong các bài quyền thuật khí công thường khi kết thúc có động tác thu công, vậy động tác này dùng làm gì? Xin trả lời động tác thu công dùng để đưa hệ thống kinh mạch trở lại bình thường, như vậy CTNC chưa dạy thu công chắc là có thiếu sót hay sao? Không phải vậy, thực ra động tác thu công chỉ thực hiện khi nào hệ thống kinh mạch đã khai mở mà thôi, và không những thu công chỉ dùng sau khi tập mà bất kỳ lúc nào cũng có thể sử dụng vì mục đích của nó là giúp cho sư vận hành khí điều hoà bình thường. Do đó nếu kinh mạch chưa khai thông thì thu công không có ý nghĩa gì cả. Đối với khá nhiều bài quyền thuật khí công, sư huynh thấy chỉ là một động tác quy tắc mà thôi. Động tác thu công được thực hiện như sau: Hai bàn tay chắp lại như khi lễ Phật, nhưng từng cặp ngón tay tách rời nhau ra thoải mái chứ không khép sát nhau như khi lễ Phật.
Để hiểu tại sao phải dùng động tác thu công như trên sư huynh nhường lại cho mọi người tự tìm hiểu, sau khi kinh mạch khai thông thì sẽ tự có lời giải đáp.
BÀI TẬP SỬ DỤNG CHÂN HỎA TAM MUỘI
Bài tập sử dụng chân hỏa tam muội rất đơn giản chỉ là động tác lim dim hai mắt, thuật ngữ đạo gia gọi là ‘buông rèm’, có tác dụng thu hút được ánh sáng của nhật nguyệt giao quang giúp thanh lọc cơ thể. Trong loạt bài trừu thiêm sư huynh đã giảng rõ dùng hô hấp thu hút âm khí từ hệ kinh mạch ngoài vào trong và dùng nội đan tiêu diệt. Tuy nhiên người không có nội đan thì dùng kỹ thuật thu hút chân hỏa tam muội này bổ khuyết. Không có gì phải ngạc nhiên tại sao các phái tu thiền Phật giáo như Thiên Thai Tông đều sử dụng kỹ thuật này, tuy nhiên có thể họ không hiểu rõ công dụng hoặc không muốn giải thích rõ ràng. Công phu này nếu sử dụng lâu năm có thể đạt tới những tầng thiền định rất cao, đồng thời có công năng tiêu trừ bệnh tật. Bài tập này có thể sử dụng trong khi thiền định, ngoài ra khi rảnh rỗi, khi muốn thư giãn, khi thấy trong người không khỏe, khi bị bệnh đều có thể áp dụng với bất cứ tư thế nào cảm thấy thoải mái.
Ghi chú: Các công phu khi đem công truyền đều đã được hạ bậc so với công phu chính thống, nói nôm na là công phu đã thủ công hóa, có một số công phu nghe rất đơn giản như trừu thiêm là hít vào thở ra thực chất lại rất cao không thể hạ bậc để công truyền, vì thế những gì có thể đem ra truyền dạy đều có hiệu quả và những công phu không thể công khai tức là không thể hạ bậc vì không hiệu quả, sư huynh giảng rõ như vậy để mọi người khỏi lăn tăn.
ĐẠO GIA TRÚC CƠ PHÁP
Trúc cơ pháp này là pháp sư huynh luyện đầu tiên từ thời kỳ mới lập diễn đàn đạo gia khí công này, mục đích để thu ngọc dịch, khai thông nhâm đốc dẫn tới hoạt tí thời sơ kết chân tâm. Tính ra từ khi bắt đầu trúc cơ pháp tới lúc hoạt tí thời phải mất khoảng 7,8 tháng, ngày nay với hỗ trợ của nước dưỡng sinh chúng ta hoàn toàn có thể bỏ qua giai đoạn này.
Yêu cầu của trúc cơ pháp là 2 bàn tay phải thông mạch, lấy giao kết thủ ấn đả thông huyền quan khiếu ở giữa 2 con mắt, qua đó thu được ngọc dịch hoàn đan, là pháp bảo chân truyền của đạo gia cổ truyền, có thể luyện bất kể giờ giấc.
Phương pháp ngồi tự nhiên, không gò bó về tư thế, ngày trước sư huynh thường ngồi dựa lưng vào tường, hai chân thả dài trên giường, mắt nhắm, hai hàm răng cắn lại nhưng hai môi lại tách ra, lưỡi đáp thượng kiều ngay dưới chân răng hàm trên.
Thủ ấn: 2 tay đặt dưới bụng, 2 lòng bàn tay xếp chồng lên nhau, quan trọng nhất là lóng thứ nhất của ngón cái này đặt trên lóng thứ nhất của ngón cái kia.
Ý thức nhẹ nhàng hướng xuống bụng dưới mục đích để đạo dẫn giáng khí.
Thực hiện đúng phương pháp như trên thì một lúc sau sẽ cảm thấy vùng sơn căn có cảm giác khí, có thể thấy hơi thốn và nước bọt sẽ tràn ra đầy miệng, chờ khi nào được 1 ngụm lớn thì nuốt xuống.
Với người dùng sản phẩm dưỡng sinh lâu ngày có thể huyền quan khiếu đã khai thông thì sẽ không thấy nước miếng tiết ra nữa mà chỉ thấy khí chuyển trên nhâm đốc.
LỤC TỰ CHÂN NGÔN
Lục Tự Đại Minh là vua của tất cả thần chú trong các cõi. Xuất xứ của thần chú này xưa nay nhiều người thường tưởng lầm là thần chú của đạo Phật nhưng theo Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh thì chính Như Lai cũng thừa nhận đến ngài cũng chưa đủ khả năng sở đắc, tức đến Phật cũng không biết. Thần chú này cũng không phải do ngài Quán Tự Tại Bồ Tát tuyên thuyết mà do ngài cầu được ở nơi một vị pháp sư không rõ nguồn gốc, do đó nó là thần chú chung của tất cả các cõi. Công năng của Lục Tự đại minh trong kinh đã nêu rõ không cần phải nghi ngờ, và chính các vị tổ sư đạo gia cũng phải nhờ nơi thần chú này mới có thể tìm ra đường tắt mà đắc đạo, biết thần chú này thì rút ngắn con đường 10 lần, không biết thần chú này thì kéo dài thêm 10 lần. Công năng thần chú này theo quan điểm đạo gia có thể phá bỏ mọi tắc nghẽn kinh mạch bất kỳ thuộc tầng lớp nào, từ nông đến sâu, từ thô đến vi tế, có thể thay thế ngay cả các bộ thủ ấn phức tạp và bí mật nhất cần phải sử dụng trong quá trình khai thông kinh mạch. Phật từng thọ ký sau này có ngài Đại Lực A Tô La sẽ thành Phật chỉ cần dựa vào duy nhất thần chú này có thể đủ tỏ rõ công năng.
Việc đọc hay nghe thần chú này đều có công năng như nhau. Do đó đối với đệ tử đạo gia cần phải nghe thần chú này bất cứ thời gian nào, thậm chí ngay cả khi thiền định, nghe 24h cũng như tụng 24h, không cần phải chăm chú lắng nghe mà cứ nghe một cách vô thức như khi nghe nhạc, bất kỳ tắc nghẽn nào cũng sẽ được gỡ bỏ mà không cần phải cầu học tới các bộ thủ ấn bí mật.
Om Ma Ni Pê Mê Hum
Om Ma Ni Pát Mê Hum
PHÁP CÀN KHÔN GIAO CẤU CỦA ĐẠO GIA
Pháp càn khôn giao cấu theo phương pháp của đạo gia đã được mã hóa bởi đại minh chú nhưng bởi có lẽ nhiều người muốn biết nó như thế nào mà lại được truyền thụ bí mật, để thỏa mãn tính hiếu kỳ của mọi người nên sư huynh viết ra chứ thực tâm không muốn viết vì luyện theo phương pháp đạo gia chắc không mấy người thành công được rồi sinh tâm nghi hoặc đánh mất đạo căn. Đây là phương pháp đã hạ bậc, điều kiện luyện thành là chân tâm đã hỗn dung với ý thức, tức thông qua ý thức có thể điều động được chân tâm, đây chính là điểm khó nhất của phương pháp hạ bậc.
Định nghĩa một số thuật ngữ cần dùng:
1. Vũ hỏa: là động tác hít vào
2. Văn hỏa: là động tác thở ra
3. Càn cung: chỉ huyệt thiên cốc
4. Khôn cung: chỉ huyệt trung quản
Pháp Càn Khôn Giao Cấu
Pháp này chỉ luyện được nội trong giờ tí, đó là lúc nhị khí càn khôn xuất hiện.
Ở đây chọn dùng ngồi luyện.
1. Thu khí quẻ Khôn: Hai lòng bàn tay đặt ngửa trên đầu gối,trên cơ sở đã hỗn dung ý thức với chân tâm thì thủ ý là ngưng thần, ngưng thần chính là thủ ý, đem ý thức đặt vào Khôn cung, dùng vũ hỏa liên tục hít vào thật nhẹ nhàng, càng hít vào lâu chừng nào càng tốt, lúc này địa khí sẽ từ bên ngoài vào trong ta theo huyệt trung quản, theo đốc mạch tràn lên đầu não, thực hiện phương pháp này đến khi thấy khí tràn đầy không thể tiếp nạp thêm nữa thì ngừng.
2. Thu khí quẻ Càn: Hai lòng bàn tay đặt úp trên đầu gối. Đem ý thức đặt vào Càn cung, dùng vũ hỏa nạp thiên khí như trên tới khi tràn đầy thì ngừng, khí này được chứa trong mạch nhâm phần trước bụng ngực
lưu ý: tràn đầy là chỉ tình trạng khí của càn khôn thiên địa chứ không phải là trạng thái hít vào không nổi nữa.
3. Hợp nhất Càn khôn: Sau khi nạp khí càn khôn thì cơ thể chia làm 2 nửa, phía sau lưng chứa địa khí, phía trước bụng chứa thiên khí, ta bắt đầu hợp nhất càn khôn. Dùng văn hỏa liên tục thở ra, càng chậm càng tốt, ý thức không đặt vào đâu cả, lúc này nhị khí càn khôn sẽ phối hợp trong khoang não, khi tiến trình phối hợp hoàn tất chúng sẽ trở nên hợp nhất thành một dạng khí có trước khi càn khôn phân chia gọi tiên thiên nhất khí, khí này sẽ từ khoang não di chuyễn xuống thành một vòng theo mạch nhâm đốc, từ khoang não xuống bụng, vòng ra sau lưng , đi lên đỉnh đầu và chứa tại một chỗ ở đỉnh đầu, đạo gia gọi là nê hoàn cung, hoặc đơn giản gọi là “đỉnh”, cái đỉnh này nằm ở tầng lớp bên trên lớp khoang não nơi hợp nhất càn khôn chân khí. Sau đó hai mạch nhâm đốc trở lên trống rỗng và ta tiếp tục lặp lại 3 bước trên cho đến hết giờ tí.
Bổ sung về thủ ấn:
Trong pháp càn khôn giao cấu nếu mạch chưa thông sẽ dẫn tới việc khó tiếp nạp thiên địa chi khí, vậy cần phải kết hợp dùng thủ ấn, có một số vấn đề cần trình bày như sau:
Càn khôn giao cấu tức là quẻ địa thiên thái, nghĩa là thiên khí giáng xuống, địa khí thăng lên vậy khi nạp địa khí thì ngửa lòng bàn tay có tác dụng khiến địa khí thăng lên mạch đốc, khi nạp thiên khí thì úp lòng bàn tay có tác dụng khiến thiên khí giáng xuống mạch nhâm, ngoài ra nếu vì mạch chưa thông thoáng khó tiếp nạp khí thì cần kết hợp thêm thủ ấn
- Khi nạp khí càn khôn thì hai đầu ngón tay cái đụng nhau sẽ khiến mạch nhâm đốc thông suốt
- Khi hợp nhất càn khôn thì 2 đầu ngón cái và 2 đầu ngón giữa chạm nhau khâu thành một vòng tròn, hai đầu ngón giữa chạm nhau có tác dụng mở cửa ngăn cách 2 mạch nhâm đốc trong xoang não khiến thiên địa chính khí tràn qua nhau mà hợp nhất lại.
TỊNH PHÁP GIỚI CHÂN NGÔN
Châu thiên nghịch chuyển là bài tập được giới thiệu đầu tiên đối với mọi thành viên đạo gia và thông qua tập luyện mọi người đều được biết nó có tác dụng khai thông kinh mạch rất lớn. Trước đây sư huynh chỉ giải thích sơ lược rằng nó có tác dụng sử dụng luồng tốn phong trong hô hấp nhằm đả thông những bế tắc trong kinh mạch nhưng thực ra là chưa tiết lộ đầy đủ. Khi chúng ta luyện châu thiên nghịch chuyển là chúng ta nhóm lên ngọn lửa tịnh hóa thân tâm, những người có đôi chút khả năng có thể nhìn thấy một ngọn lửa bao trùm hành giả khi người đó thực hành châu thiên nghịch chuyển. Một bất ngờ là ngay cả bài tập này cũng được mật tông mã hóa thành mật chú và nó chính là tịnh pháp giới chân ngôn, phạn âm đọc là “Om Ram”. Như vậy khi thực hành châu thiên nghịch chuyển chính là ta đang tụng tịnh pháp giới chân ngôn theo phong cách đạo gia và ta cũng biết mật chú này rất quan trọng đối với hành giả tu mật tông. Tùy theo cơ địa của hành giả mà chúng ta có thể chọn lấy một trong hai cách tập sao cho phù hợp nhất.
THẦN THÔNG – KHAI MỞ TAM MẠCH
Đây là phương pháp tập luyện để phát sinh các khả năng đặc biệt, là chung nhất, tổng quát nhất của tất cả các đạo phái, không có phương pháp thứ 2. Điều kiện tập luyện là phải điều khiển được các nguồn năng lượng thế gian, tuy nhiên với một số người đặc biệt có sẵn năng lượng tiềm tàng thì phương pháp tập này có khả năng kích phát thần thông.
1. Bài tập khai mở tam mạch
1.1. Khai mở tả mạch: Không yêu cầu bất kỳ tư thế đặc biệt nào, chỉ cần hai tay đưa qua trái thực hiện giống như ôm chồng gạch xếp cao, lòng bàn tay phải ở trên, lòng bàn tay trái ở dưới, hai lòng bàn tay đối nhau hợp với vú trái thành một đường thằng.
1.2. Khai mở hữu mạch: Giống như khai mở tả mạch nhưng đổi vị trí hai tay trên dưới và hợp với vú phải thành đường thẳng.
1.3. Khai mở trung mạch: Hai lòng bàn tay đối nhau hợp với huyệt đản trung thành một đường thẳng, hai tay có thể luân phiên thay đổi vị trí trên dưới.
Lưu ý: Kết hợp bài tập với tư thế trạm trang cũng có hiệu quả dưỡng sinh cao.
2. Khiển vật: nhìn một đồ vật và quán tưởng có thể kéo vật dịch chuyển từ xa hoặc quán vật đó biến mất, tan vỡ,…vv..
3. Thiên nhãn: Nhắm mắt tưởng tượng nhìn thấy các đồ vật trong phòng, ngoài đường
4. Thiên nhĩ: Tưởng tượng cố gắng lắng nghe ai đó đang nói từ nơi rất xa ngoài đường
Các phương pháp tập 2,3,4 nhằm mục đích để các nguồn năng lượng thoát khỏi cơ thể di chuyển tới vị trí mà ta muốn tác động, quan sát, khảo sát và nhận phản hồi.
Bài tập khai mở tam mạch thực chất chính là phương pháp gỡ phong ấn hỏa xà hay còn gọi là đánh thức kundalini, bài tập này đối với sư huynh thì không có một chút nguy hiểm nào nhưng theo tài liệu Yoga thì nó có thể gây tác hại lớn đối với người luyện thông thường, vì thế sư huynh khuyến cáo mọi người nên ngừng tập bài này.
Liên Thanh Sưu Tập
-
-
-
https://www.youtube.com/watch?v=UzXD3Md3Gpg
Ngọc Hoàng Thượng Đế Giáng Cơ " Hạ Thánh Chỉ"10:00 PM Sunday June-11-2017 At Thiên Long Sơn
GOD BUDDHOLOGY RELEGION
GOD BUDDHOLOGY RELEGION
Đăng ký26
Thêm vào Chia sẻ Thêm
1.337 lượt xem
3 0
Xuất bản 17 thg 6, 2017
Đây là Thánh ý của Ngọc Hoàng Thượng Đế cùng Đức Đại Thánh Mẫu Giáng Cơ nói là "Tất cã các Đạo điều là thờ Trời Phật cho nên ai ai cũng có thể gia nhập Đạo Thiên Tâm và tu tại gia thì cũng gióng như tu ở nhà thờ hay ở chùa ""Đạo Thiên Tâm chủ yếu cho người nước ngoài lang rộng toàn cầu mọi người mọi nơi dể dàng vào được bên trong nhà Phật và biết có luật "Nhân Quả" Adidaphat
Tự Mình Nhập Môn
* Không cần rườm rà hình thức nghi lễ - đơn giản nhưng trang nghiêm – hết lòng.
* Hết lòng khấn nguyện và phát tâm vào đạo,
* Đặt tên cho mình thì lấy Thiên Tâm làm đầu. Ví dụ: Thiên Tâm Chánh – Thiên Tâm Hạnh
* Nhập Môn: Cần thành tâm quay về hướng Đông Bắc cổng Thiên Đình khấn lạy 12 lạy xin nguyện thề (Bàn nhỏ hay lớn tùy, cùng 12 đèn cầy, 12 ly bông, 12 ly nước), ngủ quả trái cây
* Chủ trương trường chay, nếu không được thì ăn mười ngày hoặc 4 ngày mỗi tháng và giử tam tịnh nhục
* Không chủ trương hộ niệm, đốt vàng mã và ăn mặc gọn
Ngọc Hoàng Thượng Đế Giáng Cơ
"Hạ Thánh Chỉ" cùng Đại Thánh Mẫu,Long Cung Thánh Mẫu,Thánh Mẫu Liểu Hạnh và Đức Phật Thầy Tây An.
10 Tháng 6 Năm 2017
16 Tháng 5 Năm Đinh Dậu
Lời Cơ Ghi Lại
Ta Sơn Thần
Sao không khấn cầu Ta?
Đặc biệt đêm nay vô cùng quan trọng đấy. Chuẩn bị đón chư vị trên Trời giáng.
Chào các ngươi đến núi này.
Ta Thánh Quân tái hội ngộ.
Sau đây là chương trình có thay đổi như sau.
Thầy Tây An Phật đến có vài lời chào tất cả: Sẽ không có thuyết pháp vì thời giờ giành cho Thánh Mẫu Việt Nam và Đại Thánh Mẫu đến sinh hoạt và ban lệnh.
Ta Thánh Mẫu Liễu Hạnh chào tất cả.
Bây giờ Ta đọc chương trình sinh hoạt hôm nay.
Ta đọc thánh chỉ của Ngọc Hoàng Thánh Mẫu.
Đón Đại Thánh Mẫu đến và nghe lời chỉ dạy của Ngài.
Ta đọc Thánh Chỉ:
➢ Chiếu Chỉ 1:
• Ngọc Hoàng Thượng Đế và Đức Thánh Mẫu quyết định bổ nhiệm Thái Tử Kiệt làm Trưởng Môn Thiên Tâm Giáo.
• Bổ Nhiệm Đoàn M phụ tá chưởng môn về sinh hoạt ngoài đời.
• Bổ nhiệm Phan N phụ tá Trưởng Môn về phần Đạo
• Bổ nhiệm Nguyễn K làm về giao thông liên lạc giả giauĐoàn Mphụ tá chưởng môn về sinh hoạt ngoài đời.
• Bổ nhiệm Phan N phụ tá Trưởng Môn về phần Đạo
• Bổ nhiệm Nguyễn K làm về giao thông liên lạc giả giữa Đạo và Thánh Mẫu qua trung gian Đức Thánh Quân.
• Với chức vụ phụ tá hai người góp ý về Đạo và Đời. Còn về liên lạc nhân cơ được phép thông tin cho Đại Thánh Mẫu những điều cần gấp thiết yếu khỏi cần qua trung gian của Thánh Quân.
• Bổ nhiệm Phan Việt làm biện ghi chép cho các buổi sinh hoạt.
• Vậy thời từ nay Trưởng Môn nên hội ý với 2 phụ tá các vấn đề liên quan.
• Hai phụ tá các vấn đề liên quan nếu không giải quyết được thì cho Nhân Cơ trình lên Thánh Mẫu hoặc Đại Thánh Mẫu.
➢ Chiếu Chỉ 2:
• Kể từ nay Đạo Thiên Tâm được thu nhận các đệ tử và được xem ở vị trí tại gia. Như là cư sĩ . Sinh hoạt của họ như là sinh hoạt ở các chùa, nhà thờ.
Hết
• Có thắc mắc gì về phần này không?
• Vậy Ta mời Đại Thánh Mẫu đến.
Đại Thánh Mẫu đến.
• Ta Đại Thánh Mẫu và Ngọc Hoàng cùng giáng cơ.
Hôm Nay
• Chào mừng tất cả! tại sao Ta đến bất thường. Ta và Ngọc Hoàng giáng lâm?
• Vì các lý do mà Đạo Thiên Tâm đã làm vừa qua về phần ưu thì tiến bộ rất tốt. Ngọc Hoàng phải lòng lắm nhưng phần kém cũng không nhỏ, vì sao? Hôm nay ta nói thẳng cho Thái Tử biết:
• Ở bài Kính Thiên 2, Ta đã nói
-
-
Chùa Bà Sa Đéc
Tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, nơi nào cũng có ngôi chùa Bà. Đặc biệt, ngôi chùa Bà ở thị xã Sa Đéc có trên 100 năm nay vẫn còn nguyên vẹn mặc dù trải bao thời cuộc chiến tranh, cũng như phong sương tuế nguyệt.
Nhóm người Hoa của tỉnh Phúc Kiến, sau khi định cư tại Sa Đéc đã chung góp tiền của để xây dựng ngôi chùa thờ Bà. Chùa được kiến trúc theo kiểu chữ thiện, mái ngói lợp âm dương tạo dợn sóng, không có kèo chỉ có đòn tay ráp mộng chịu lực trên những cột gỗ tròn, tường cao nóc cổ, rực rỡ khang trang.
Gian chánh điện của ngôi chùa Bà Thiên Hậu Ngươn Quân, sắc phong đời nhà Hán ở Trung Hoa, là Thiên Hậu Thánh Mẫu hộ quốc, tế dân. Vì Bà có công cứu độ những người đi ghe, thuyền ngoài biển bị sóng gió đánh chìm. Tưởng niệm đến danh hiệu của Bà thì được Bà hộ trì tai qua nạn khỏi, vì thế người Trung Hoa tôn sùng Bà như vị cứu tinh của họ. Bên hữu của giang chánh điện thờ Bà Kim Huê (Bà mẹ sanh), bên tả thờ ông Địa và ông Hổ (Bạch Hổ Sơn Thần). Ngoài ra chùa còn thờ Phật Di Đà, Quan Âm Bồ Tát và Quan Thánh Đế Quân.
Hàng năm, Ban trị sự hội tổ chức lễ cúng long trọng và tôn nghiêm vào các ngày 23/3 và mùng 9/9 âm lịch. Dân chúng đến chiêm bái ra vào tấp nập, nhất là giới Hoa Kiều túc trực dâng hương cúng kiến rất thành tâm.
Du khách đến Sa Đéc, nếu tâm hồn lâng lâng khoái cảm, muốn thưởng thức những danh lam cổ sái, tưởng không gì bằng dừng chân ghé lại ngôi chùa Bà cổ kính nhưng không kém phần uy nghi lộng lẫy, tọa lạc ngay trong lòng thị xã Sa Đéc.
https://hoidulich.com/mien-nam/di-tich-dong-thap/
===========
phường 2 - thị xã Sa Đéc - tỉnh Đồng Tháp
Mục lụcGiới thiệu
Tổng quan
Ngôi chùa có tên đầy đủ là 七府天后宮 - Thất Phủ Thiên Hậu Cung, tọa lạc tại số 143 đường Trần Hưng Đạo, phường 1, thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Chùa do nhóm người Hoa của tỉnh Phúc Kiến ở Sa Đéc xây dựng vào năm 1867. Chùa thờ bà Thiên Hậu Ngươn Quân, được sắc phong đời nhà Hán ở Trung Hoa, là Thiên Hậu Thánh Mẫu hộ quốc, tế dân. Bà có công cứu độ những người đi ghe, thuyền ngoài biển bị sóng gió đánh chìm.
Ban đầu, chùa được cất bằng tre lá đơn sơ, trên một khuôn viên chật hẹp. Năm 1886, chùa được trùng tu, mở rộng diện tích, xây gạch, ốp đá, trang trí nguy nga. Hầu hết các nguyên vật liệu để trùng tu ngôi chùa đều được chở từ Trung Quốc sang. Hiện nay, chùa có bốn bang Quảng Đông, Triều Châu, Hẹ, Phước Kiến thay phiên nhau bảo quản và lo khói hương cúng bái. Chùa đã được công nhận là di tích lịch sử - văn hoá cấp tỉnh theo Quyết định số 416/QĐ.UBHC, ngày 10-04-2003 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Kiến trúc
Ngôi chùa có bố cục theo kiểu chữ Đinh - 丁, trước sau liền nhau, không có sân thiên tỉnh. Mái lợp ngói âm dương tạo gợn sóng. Trên mái nóc trang trí hình lưỡng long tranh châu cùng tượng các vị tiên, Phật trong truyện xưa tích cũ của Trung Hoa. Toàn bộ khung chùa không có kèo chỉ có đòn tay ráp mộng chịu lực trên những cột gỗ tròn. Có 16 hàng cột to dùng để đỡ mái, các cột đều trang trí liễn đối rực rỡ. Trên trần nhà có rất nhiều tranh vẽ về các câu chuyện truyền kỳ của Trung Quốc như: Tam quốc diễn nghĩa, Phong Thần, Đông Chu liệt quốc...
Mặt tiền chánh điện, hai bên cửa ra vào có dòng chữ Hán: 保國 - 安民 (Bảo Quốc - An Dân), bên trên là dòng chữ: 七府天后宮 - Thất Phủ Thiên Hậu Cung. Chánh điện được trang trí lộng lẫy với nhiều hoành phi nền đỏ chữ vàng. Chánh điện gồm ba gian: gian giữa thờ bà Thiên Hậu Ngươn Quân; gian bên phải thờ bà Kim Huê (bà mẹ sanh); gian bên trái thờ ông Địa và ông Hổ (Bạch Hổ Sơn Thần). Ngoài ra chùa còn thờ Phật Di Đà, Quan Âm Bồ Tát và Quan Thánh Đế Quân.
Lễ hội
Hằng năm, chùa tổ chức lễ lớn vào ngày 23-03 và ngày 09-09, tức ngày sinh và ngày hoá của bà Thiên Hậu. Lễ hội được tổ chức công phu với nhiều nghi thức như: tắm Bà, vía Bà, thỉnh Bà hàng cung.
- Lễ tắm Bà được tổ chức rất trang trọng, nơi Bà ngự được quét dọn sạch sẽ, căng màn che lại, hai cô gái được cử vào tắm rửa cho Bà. Người ta nấu nước sôi để nguội rồi đổ vào thau, hái lá bưởi để vào rồi dùng khăn tắm cho Bà. Sau khi tắm Bà xong, người ta lấy nước đó về tắm cho trẻ con để cầu mong nó được khỏe mạnh, nên người.
- Lễ vía là lễ quan trọng nhất, thu hút rất đông người đến dự. Người ta mang theo nhang đèn, trà, rượu, gà vịt đã làm sẵn để cúng bái. Cúng xong, có người mang lễ vật về, nhưng cũng có người để lại. Lễ bắt đầu cử hành vào lúc 9 giờ sáng của ngày chính lễ.
- Lễ thỉnh Bà hành cung: được cử hành sau lễ vía. Người ta khiêng tượng Bà đi du ngoạn quanh các đường phố. Trong buổi du ngoạn đó, có đại diện Ban trị sự Hội quán, đông đảo bà con người Hoa đi cùng; đoàn ngpời mặc lễ phục, có lọng che, cờ phướn, cờ lệnh, trống kèn... nô nức, nhộn nhịp. Mục đích của chuyến du ngoạn này là để cho Bà xem nhân tình thế thái, cảnh sắc quê hương... Trên đường Bà du ngoạn, có một vài gia đình người Hoa đặt bàn cúng trước nhà nơi Bà đi qua để hộ tống Bà và cũng cầu Bà ban cho phước lộc, tiền tài... Ngày nay, lễ này không được tổ chức nữa.
Trong các ngày lễ hội, khách thập phương cũng như dân làng xung quanh đổ về chùa rất đông. Tất cả đều thành tâm cúng bái, vui chơi, thưởng ngoạn. Ngày vía bà hằng năm thật sự là một ngày hội lớn, là một nét sinh hoạt văn hóa vui tươi không chỉ của cộng đồng người Hoa ở Sa Đéc mà còn là niềm vui chung của các dân tộc ở đây.
http://mobile.coviet.vn/detail.aspx?...BA%ADu&type=A0
-
3/- Truy nguyên về nguồn cội trên thế giới
biết về Thiên Nhãn:
*Ở nước Ai Cập: Trong thần thoại cổ Ai Cập, Thiên Nhãn được gọi là Mắt của Thần Horus, Mắt của Mặt Trăng hay Mắt của Thần “Ra”. Horus là Thiên Thần của Ai-Cập cổ-đại hóa thân là chim ưng. Mắt phải chim ưng là Mắt của Thần Horus cũng được xem là tượng trưng cho mặt trời; Mắt trái tượng trưng cho mặt trăng và thần Tehuti. Người cổ đại tin rằng biểu tượng bất diệt này sẽ hỗ trợ việc tái kiếp, vì thế người ta đã tìm thấy biểu tượng này dưới lớp vải liệm thứ 12 của xác ướp vua Tutankhamun.
*Ở nước Đức: Biểu tượng Thiên Nhãn cũng được tìm thấy ở nhà thờ Aachen, miền Tây nước Đức. Nhà thờ này đã được UNESCO xếp vào di sản thế giới. Đây là một nhà thờ Công Giáo La-Mã cổ xưa nhất ở Bắc Âu. Từ năm 936 đến năm 1531, nhà thờ là nơi làm lễ đăng quang cho 30 vị Vua và 12 Hoàng-hậu nước Đức. Đây cũng là nơi còn giữ những di vật thiêng liêng của Mẹ Đồng Trinh Marie. Chúa Jésus và Thánh John the Baptist.
*Ở nước Mỹ: tại nước Mỹ (Hoa-Kỳ) vào năm 1776 Đức Thượng Đế đã khai khiếu cho ba vị lãnh đạo nước Mỹ là Ông Thomas Jefferson, ông Benjamin Franklin và Ông John Adams được chỉ định để soạn thảo tờ giấy bạc 1 Dola. Sau 6 năm nghiên cứu với sự cố gắng tột bực của Ông Williams Barton và Ông Charles Thompson mới hoàn thành phía lưng của giấy bạc một đồng Dola, trình lên Quốc Hội ngày 20-06-1782 thông qua một Nghị Quyết chấp thuận thiết kế cuối cùng phía lưng của tờ giấy bạc một Dola có hình Kim-Tự tháp, Con Mắt, một cái cân và một cái chìa khoá.
- Bên phía lưng của tờ giấy bạc một Dola: con Mắt trực tiếp bên trên Kim-Tự-Tháp là Con Mắt của Thượng Đế. Các tiền nhân sáng lập nước Hoa-Kỳ (Mỹ) có nguồn gốc tôn thờ Đức Thượng đế từ năm 1782 và sự tiến triển của nước Mỹ luôn luôn phải được sự phù hộ của Đức Thượng-Đế.
- Cái Cân tượng trưng cho Công lý.
- Chìa khoá lược trình cho quyền uy của Quốc gia
Thiết nghĩ, nước Hoa-Kỳ đã lập quốc 225 năm rồi (1776). Còn Đạo Cao-Đài mới được khai sáng tại nước Việt-Nam vào năm 1926, tức là mới có 85 năm (2010) nhưng sự thờ phượng Thiên Nhãn của Cao Đài, tức Ngọc Hoàng Thượng-Đế và Cân Công bình cùng “chìa khoá mở cửa Bạch-Ngọc-Kinh” của Tôn giáo Cao-Đài không thể là một sự trùng hợp ngẫu nhiên với Con Mắt (Thượng-Đế), Cân công lý và Chìa khoá của bên lưng giấy bạc Một Dola của Mỹ mà người Tín hữu Cao-Đài có thể hiểu rằng Đức Ngọc-Hoàng Thượng-Đế Cao-Đài đã mặc khải cho dân tộc Mỹ biết trước về “CON MẮT” để thờ Thượng-Đế, cũng như Ngài Ngô văn Chiêu được Đức Thượng-Đế mặc khải cho thấy Con Mắt tại Đảo Phú-quốc vào năm 1925 để thể hiện thờ THIÊN NHÃN là thờ Thầy vậy.
Như thế đã rõ biết Đức Chí-Tôn đã chỉ định cho
Đức Khổng-Tử và Lão-Tử đến khai sáng nền Đạo tại Trung-Quốc trước kia.
Còn ở Mỹ-Quốc thì Đức Chí-Tôn mặc khải cho dân
tộc Hoa-Kỳ tôn kính thờ Thượng-Đế từ năm 1776 rồi.
Đức Hộ-Pháp nhắc lại sau cuộc Đức Chí-Tôn hành
pháp tại Kim-Biên. Đức Chí Tôn nói với Bần Đạo rằng: “Một ngày kia: Trung Hoa sẽ thờ phụng Đạo đáo để, còn nước Mỹ sẽ lãnh trách nhiệm đi truyền giáo toàn cầu.”
Còn như chọn nước Việt-Nam để khai sáng nền Đạo Cao-Đài là Đức Thượng-Đế đã thông cảm lòng trung hiếu thờ phượng ông bà cha mẹ của dân tộc Việt-Nam mãi mãi lưu truyền, cũng như đức tin tôn kính thờ phượng Trời Phật của dân tộc Việt-Nam hết sức tốt đẹp, bất luận Tôn giáo nào du nhập vào Việt-Nam đều được dân tộc Việt Nam tôn kính phụng thờ. Vì thế, Đức Thượng Đế xót thương đệ tử, mới đến hoằng khai Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ trên đất nước Việt-Nam vào năm 1926 còn bị lệ thuộc Pháp mà Đức Ngài đã đến với lời hứa vô cùng sâu sắc:
“Thầy sẽ dùng Huyền diệu Thiêng liêng vô tận vô biên để giải ách nô lệ cho dân tộc Việt-Nam. Một vinh diệu lớn lao cho dân tộc Việt-Nam là được nắm chủ quyền Tôn giáo Cao-Đài để thực hiện sự Thương yêu và Công bình cho toàn cả nhân loại.”
Năm 1782, THIÊN-NHÃN được chọn là một phần trong biểu tượng khắc trên Quốc Ấn (con dấu quốc gia) của Hiệp-Chủng-Quốc Hoa-Kỳ. Người ta cho rằng Thiên Nhãn là đề nghị của Pierre Eugene du Simitiere, nhà tư vấn nghệ thuật cho các Tiểu bang thiết kế Quốc Ấn. Trên Quốc Ấn, THIÊN NHÃN được vẽ phía trên một Kim Tự Tháp có 13 bậc, tượng trưng cho 13 Tiểu bang đầu tiên của Mỹ. Toàn bộ biểu tượng ngụ ý Thiên nhãn hay Thượng Đế ban ân huệ cho một nước Mỹ thịnh vượng.
Thiên Nhãn trên Một Đô-La Mỹ
Ngoài ra THIÊN NHÃN còn được nhìn thấy khắc trên con dấu của Tiểu Bang Colorado. Đặc biệt là trên mặt sau của tờ giấy bạc 1 Đôla của Mỹ có các biểu tượng này.
…Chính sự việc làm cho nhiều người biết Thiên Nhãn bởi vì Một đồng Đô La của Mỹ rất phổ biến trên thế giới. “Đại Ấn của Hiệp Chúng Quốc” trên giấy một đồng Mỹ Kim là con dấu duy nhất có hai mặt. Nó là kết quả của sự cố gắng tỉ-mỉ của nhiều nhân vật từ năm 1776 đến năm 1782 trong đó có Benjamin Franklin, Tổng Thống Thomas Jefferson và John Adams.
Bề mặt của con dấu cho thấy có con Ó trọc đầu ngậm trong miệng một biểu ngữ có hàng chữ La-Tinh “EPLURIBUS UNUM” có nghĩa là “Từ cái nhiều ra cái duy nhứt”. Trùng hợp thay! Một trong những nguyên lý căn bản của Đạo Cao-Đài là “Vạn thù qui nhứt bổn” cũng cùng một nghĩa như trên. Điều này chứng tỏ sự đồng nhất vạn vật. Chúng ta tuy thấy nhiều nhưng chung qui có Một.
- Con Ó được chọn lựa là vì con Ó là một trong những huy hiệu của Ai-Cập. Vì Ai-Cập xưa kia là nước dẫn đầu về huy hiệu. Con Ó tượng trưng cho sức mạnh tối cao của Quốc gia. Trên đầu con Ó có một vầng hào quang biểu thị rằng: phần tâm linh ở trên phần vật chất.
-Trong vầng hào quang có 13 ngôi sao tượng trưng 13 Tiểu bang đầu tiên của Hoa-Kỳ:
- Đầu con Ó tượng trưng cho cơ quan Hành pháp.
- Trước ngực con Ó là một cái khiên (cái mộc) với 13 đường sọc, phần trên cái khiên màu xanh tượng trưng cho cơ quan Lập pháp.
- 9 cái lông đuôi là cơ quan Tư-pháp.
Cái sọc trắng và đỏ của cái khiên là ý nghĩa đầu tiên của một Hiệp-Chủng-Quốc.
- Theo phong tục Trung Đông nhành ô-liu với 13 lá (13 Tiểu bang) và các hạt trong chân mặt của con Ó tượng trưng cho Hoà-bình. Bên chân trái là 13 mũi tên tượng trưng cho chiến tranh lấy từ phong tục của người Mỹ bổn xứ (người da đỏ). Đầu Ó ngó qua nhành ô-liu bên phải gợi sự mong muốn Hoà bình.
- Bên trái của con dấu có Kim-Tự-Tháp không đỉnh và Thiên Nhãn. Kim-Tự-Tháp đã được chọn để nhớ lại nền văn minh cực thịnh trong lịch sử Ai-Cập. Kim-Tự Tháp không đỉnh nói lên sức mạnh vật chất của một Quốc gia luôn luôn xây dựng và tiến triển không ngừng. “THIÊN NHÃN” trên Kim-Tự-Tháp tượng trưng cho Đấng Thượng Đế soi sáng cả muôn vật và cũng chỉ sức mạnh tâm linh luôn luôn ở trên sức mạnh vật chất. Ý nghĩa hàng chữ trên:
-ANNUIT COEPTIS có nghĩa “Ơn Trên phò hộ chúng ta”.
-NOVUS ORDO SECLORUM (hàng dưới) có nghĩa là “Một kỷ nguyên mới trong nghìn năm”. Bắt đầu từ năm
1776. Dưới chân của Kim-Tự-Tháp số 1776 được viết bằng số La-Mã MSCCLXXVI.
Sự trùng hợp của biểu tượng và tư tưởng trên thấy rằng muôn vật trên thế gian này dù muôn phần khác biệt nhưng lúc nào cũng có nhiều điểm giống nhau hay nói cách khác là “Vạn thù qui nhứt bổn” (Trích Tập san Đại Đạo phổ thông).“Kim tự Tháp” là Tháp hình chữ Kim 金
4/- Thiên Nhãn trong thời gian gần đây:
Trong khoảng thời gian gần đây, người ta cũng đã sử dụng Thiên Nhãn trong nhiều lãnh vực, ví dụ như văn
học, khoa học, thiên văn học, điện ảnh, tài chính..
(Mặt trước Một Đồng Dola)
*Biểu tượng trong Đạo Cao Đài:
Hiện nay Đạo Cao Đài dùng Thiên Nhãn làm biểu tượng chính, thay cho hình ảnh Thượng-Đế tại trần gian. Tuy nhiên trong Đạo Cao Đài, Thiên Nhãn có nhiều ý nghĩa đặc trưng về Tôn giáo: Mắt là chủ tâm thức và ý thức, hai ánh sáng có quyền tối cao, ánh sáng là Thần, Thần là Trời, Trời là TA.
*Biểu tượng của trí huệ:
Theo Đạo Cao Đài, Thiên Nhãn không thể hiểu đơn giản theo nghĩa đen là Mắt Trời, bởi vì Thượng Đế không có hình thể vật chất.
Theo nguyên lý Thể Pháp và Bí Pháp của Đạo Cao Đài, có thể suy ra hai cách để hiểu biểu tượng Thiên Nhãn:
Thứ nhất là hiểu bằng kiến thức:
Hiểu bằng kiến thức nghĩa là nhìn sự vật (hình ảnh hoặc văn tự …) rồi so sánh với kho dữ liệu của bộ não để phân tích, chọn lọc hoặc phê phán. Hay nói nôm-na là nhìn bằng hai mắt. Nghĩa là khi nhìn sự vật, luôn luôn dựa vào tối thiểu là hai yếu tố: đúng hoặc sai; có hoặc không. Đây là cách hiểu thông thường của con người từ thời nguyên thủy. Cách hiểu này giúp phát triển văn minh vật chất rất nhanh chóng và đã đem lại cho nhân loại nền văn minh vật chất siêu việt như ngày nay.
Tuy nhiên, hiểu sự vật không thông qua kho chứa các kinh nghiệm lâu đời không giải quyết được các vấn đề tâm thức. Ngoài ra, cách này lại tùy thuộc vào trình độ văn hóa hoặc số lượng kinh nghiệm thu thập được của bản thân mỗi người. Những bộ óc siêu việt uyên bác sẽ hiểu biết khác với những người bình thường. Hậu quả dẫn đến sự phân hóa trong nhân loại. Chính vì thế, loài người dù tiến bộ rất cao trong lãnh vực vật chất, nhưng văn minh tinh thần vẫn chưa tiến bộ bao nhiêu. Sự tàn ác, nhẫn tâm, tranh giành, thù hận vẫn có mức độ như mấy ngàn năm trước, thậm chí tinh vi khó nhận ra hơn. Cho đến ngày nay, con người vẫn chưa tạo được một thế giới thanh bình, thịnh vượng và đầy tình thương yêu.
Cách thứ hai là hiểu Thiên Nhãn bằng trí huệ:
Hiểu bằng trí huệ là một hành vi cực kỳ khó khăn, bởi vì hành vi này không cần sự hiện diện của kiến thức bất kể loại nào. Trí huệ đưa tâm trí trực tiếp vào giữa sự vật không thông qua quá trình phân tích, chọn lọc và phê phán. Nói một cách hình tượng là nhìn bằng một mắt. Nghĩa là khi quan sát thì người quan sát cùng vật bị quan sát là một. Vì thế khi nhìn bằng trí huệ, con người mới hiểu được biểu tượng Thiên Nhãn toàn diện. Đây là cánh cổng mở vào một thế giới khác, một thế giới thanh bình thực sự mà người ta vẫn gọi là Thiên Đàng (Paradise) hay Cực Lạc Thế Giới (Nirvana).
*Biểu tượng của Đại Đồng:
Ngoài ra THIÊN NHÃN còn là biểu tượng của Đại Đồng. Trên thế giới ngày nay, quốc gia nào sống cô lập thì sẽ phải đối mặt với nguy cơ lạc hậu. Càng ngày càng có nhiều quốc gia muốn bắt tay nhau hợp tác trong mọi lãnh vực và như thế những va chạm về văn hóa, phong tục, tư tưởng cũng tăng lên. Phải có cách giải quyết để các quan hệ hợp tác không biến thành đối đầu. Trong hoàn cảnh như thế thì biểu tượng THIÊN-NHÃN của Đạo Cao Đài chính là một đề nghị có ích. Biểu tượng Thiên Nhãn ngụ một ý nghĩa là thống nhất. Nhưng không phải dùng mọi cách áp đặt quan điểm thống nhất lên người khác, bởi như thế là thống trị, làm mất đi tự do của người khác rồi !
Nếu trong tất cả các mối quan hệ, ai cũng có quan niệm: “Mọi Tôn giáo là một, mọi dân tộc là một, mọi hệ tư tưởng là một” thì sẽ tránh được ngộ nhận, hiềm khích và thế giới sẽ trở thành một nơi tốt đẹp hơn nhiều.
“Bởi Chủ-nghĩa và Giáo-lý của Đạo Cao-Đài là ĐẠI ĐỒNG: Qui Nguyên Tam-Giáo Phục Nhứt Ngũ Chi, thâu-thập tất cả những bài học của các Tôn-giáo đã ra đời từ trước đến giờ gom về một mối trở lại nguồn gốc, nhất là thờ Đấng Chúa-tể Càn-Khôn vũ-trụ tức là chủ-trương của Đấng Cha lành đã hóa sanh muôn loài vạn-vật và tôn-kính tất cả các vị Giáo-chủ đã lãnh lịnh Đức Chí-Tôn và Ngọc Hư-Cung giáng trần dạy Đạo, ngang hàng nhau như những vị Tôn sư đến làm Thầy của nhân loại. Chủ-nghĩa của Cao-Đài là ĐẠI-ĐỒNG đi từ: Đại Đồng nhân-chủng. Đại-Đồng Tôn-giáo. Đại-đồng xã hội. Như Đức Chí-Tôn đã hứa “Que l’humanité soit une: une comme race, une comme religion, une comme pensée”.
Kinh Thuyết pháp có câu:
“Muốn cho thiên hạ Đại-Đồng,
“Lấy câu cứu khổ dụ lòng thương sanh”
-
Đình Thần Chợ Thủ
Thứ sáu, 30/06/2017 00:00
Đình Thần Chợ Thủ (xã Long Điền A, huyện Chợ Mới) được UBND tỉnh An Giang xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật theo Quyết định số 288/QĐ-UB ngày 18-2-2000, có lịch sử và những giá trị kiến trúc, nghệ thuật đáng ghi nhận.
Lịch sử ngôi đình
Sử cũ chép: Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, nhiều đoàn lưu dân người Việt vào phía nam khai khẩn đất hoang, lập nên nhiều làng xã, trong đó có làng Long Điền (trước kia gọi là thôn Tú Điền). Đây là một ngôi làng nằm cặp sông Tiền, thuộc tổng Định Hòa, quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên. Ngày nay là xã Long Điền A và xã Long Điền B cùng một phần thị trấn Chợ Mới, thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Khi công cuộc khai khẩn qua giai đoạn đầu gian nan, dân cư ngày một đông, xuất hiện nhu cầu tạo lập một nơi để trao đổi tin tức và thờ thần đất đai, cùng vong linh những người đã bỏ mình trong công cuộc khai khẩn. Năm Bính Ngọ- 1786, Đình Thần Chợ Thủ nguyên sơ hình thành. Lúc này đình chỉ là một ngôi miếu nhỏ bằng tre lá, hướng mặt ra sông Tiền, phía trên vàm rạch Trà Thôn. Dân làng chọn ngày trăng tròn và sáng nhất sau mùa hạ điền xuống giống (tức ngày 15, 16, 17 tháng 6 âm lịch) tổ chức lễ Kỳ Yên, trước để cúng bái, tạ ơn chư thần; sau để vui chơi khi hết mùa cày cấy.
81-2.jpg
Một gian thờ trong Đình Thần Chợ Thủ. Ảnh: Vĩnh Thông
Đến năm Tân Sửu- 1901, hữu ngạn sông Tiền có nguy cơ sụp lở nặng, ông Hương sự huy động nhân dân dời đình về vị trí hiện nay, cách nền cũ khoảng 200 mét. Ông Hương cả Nguyễn Minh Ký đứng ra xây dựng chánh điện. Năm Đinh Mão- 1927, ông Hương chủ Trứ đứng ra cất võ ca, ông Hương cả Nguyễn Văn Hộ cất nhà chỉnh y. Hai công trình này hoàn tất trong 3 năm. Năm Mậu Dần- 1938, Ban Quý tế và nhân dân cùng xây cổng đình.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, nhà yêu nước Phạm Hữu Huệ từng tổ chức nghĩa quân tuyên thệ tại Đình Thần Chợ Thủ để khởi xướng phong trào chống Pháp tại địa phương; nhà yêu nước Phan Kiết Phủ- sĩ phu yêu nước trong phong trào Cần Vương đã từng về đình dạy học và truyền bá tư tưởng ái quốc, hun đúc tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm…
Ngày 30-4-1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, đáp ứng nhu cầu khẩn cấp của địa phương thời điểm bấy giờ, chính quyền xã Long Điền đã trưng dụng đình làm cơ quan hành chính của xã. Đến năm 1989, đình được giao lại cho Ban Quý tế quản lý. Do trải qua thời gian với nhiều biến cố nên đình xuống cấp, Ban Quý tế cùng nhân dân đại tu ngôi đình và đến nay Đình Thần Chợ Thủ đã phục dựng gần như toàn bộ nét kiến trúc đặc trưng, uy nghiêm của đình làng Nam bộ.
Kiến trúc bài trí
Đình Thần Chợ Thủ hướng mặt về Đông- Bắc, đối diện với sông Tiền. Đình có tổng diện tích 7.738m2, diện tích xây dựng hơn 4.758m2, xung quanh có nhiều loại cây như dầu, sao, dương… cho bóng mát đồng thời còn mang quan điểm huyền vũ của phong thủy.
Phía ngoài nhìn vào hai bên cột cổng đình có hai câu đối chữ Hán: "Bổn cảnh anh linh chánh trực hộ thôn dân / Thành hoàng khu nếu khai khẩn vĩnh cơ đồ". Phía trên cổng là hai nóc cổ lầu, mái lợp ngói, ở giữa là biển hiệu đề chữ Hán nghĩa "Đình Thần Long Điền", phía dưới 4 chữ "Đại tán càn khôn". Hai bên cổng là hai bình phong viền hoa văn chạm nổi. Từ trong nhìn ra ở phía trên cổng có 4 chữ Hán nghĩa "Bảo quốc an dân".
Sân Đình được tráng bê- tông, ở giữa là kỳ đài, sau là bức bình phong đắp nổi hoàng hổ (cọp vàng). Kế tiếp là miếu Thần Nông- một tục lệ gắn liền với cư dân nông nghiệp. Bên phải sân đình là miếu thờ Bạch Hổ Tướng Quân và Thái Giám Bạch Mã; bên trái thờ Cửu Thiên Huyền Nữ và Chúa Tiên Chúa Ngọc. Từ cổng đình nhìn vào, phía bên phải có nhà tiếp khách, liền sau đó là nhà ăn và nhà bếp.
Tòa đình chính rộng rãi do ghép những ngôi nhà liền nhau theo kiểu "Trùng thiềm điệp ốc", lợp ngói đại tiểu, nóc được gắn tượng lưỡng long tranh châu, bát tiên, điện Ngọc Hoàng, nhật nguyệt… bằng sứ tráng men. Đầu kỳ và góc mái tòa đình được gắn tượng cá hóa long, tượng bát tiên, tất cả đều bằng gốm màu xanh. Các đồ vật trang trí ở nóc đình tượng trưng cho âm dương hòa hợp, khát vọng ấm no, hạnh phúc của dân làng.
Đình chính có diện tích 268,14m2, gồm bốn nóc dính liền nhau theo lối kiến trúc "thượng lầu hạ hiên", tương ứng với bốn phần không gian. Bên trong là chánh điện (còn gọi là đại điện), bái đường, phủ quy và võ ca. Chánh điện và bái đường có 9 hàng cột, mỗi hàng 6 cột. Phủ quy và võ ca có 5 hàng cột, mỗi hàng 4 cột. Tổng cộng tòa đình chính có 74 cột, đa phần loại lớn, được làm từ gỗ quý; có 5 hàng bao lam thành vọng được chạm trổ công phu, sơn son thiếp vàng, sơn dầu, cẩn ốc xà cừ hoặc khung tranh kiếng với những họa tiết, hình ảnh sống động.
Cụ thể, võ ca gồm ba nóc cổ lầu, ba gian hai chái. Ở giữa là sân khấu, dành làm nơi xây chầu và hát tuồng vào dịp lễ Kỳ Yên. Phía sau sân khấu có nhà đài, có bàn thờ Tổ. Còn ở phủ quy có hai hàng ghế dùng làm nơi cho khán giả ngồi xem hát tuồng. Bái đường cũng gồm ba nóc cổ lầu, từ ngoài vào trong là bàn thờ chân dung 30 vị anh hùng liệt sĩ Việt Nam cận đại. Phía sau là Long đình. Kế tiếp là bàn thờ trăm quan cựu thần. Hai bên có hai câu đối: Di quốc tinh trung sanh tướng Việt / Vong khu chánh nghĩa tử thần Nam". Phía trong bàn thờ trăm quan cựu thần là nghi thờ, phía trên có thành vọng.
Chánh điện (đại điện hay chính tẩm), có diện tích 123m2, gồm năm nóc cổ lầu, ba gian hai chái. Phía ngoài là nơi lễ bái, kế tiếp là thành vọng lớn, trong cùng là ngôi thờ Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh- vị tôn thần được thờ chính của đình. Ngôi thờ Thần Thành Hoàng được làm bằng gỗ quý, chạm trổ công phu. Nơi đây cũng là nơi đặt Sắc Thần, kim ấn và gươm lệnh. Phía trên ngôi thờ Thần có bức hoành phi đề chữ Hán "Long Điền võ trụ". Bên phải là khánh thờ Nhơn Hoàng, bên trái là khánh thờ Thiên Sư. Phía vách phải có các khánh thờ: Tiền vãng, Tiền hiền, Hữu ban, Nhạc công; vách trái có các khánh thờ: Hậu vãng, Hậu hiền, Tả ban, Lễ bộ. Tất cả các khánh thờ đều có niên đại trên một thế kỷ, được làm từ gỗ quý, chạm khắc hoa văn.
Có thể nói phần trang trí bên trong tòa Đình chính được thể hiện phong phú, tinh tế, cho thấy tài hoa và thái độ tôn kính của nhóm thợ chạm Chợ Thủ đối với các bậc tiền nhân. Các đại trụ được làm bằng gỗ tròn sơn hình tứ linh ẩn hiện trong mây, chân mỗi cột đều có độn trụ đá xanh chạm cổ bồng hoặc tán gỗ (tán đòn dông). Các thanh kèo đều được nối vỏ đậu, đầu kèo được chạm đầu rồng, phụng; thân kèo được chạm hoặc khắc hình dây leo, hoa lá. Hàng cột ngang của Chánh điện phía trên có gắn bao lam thành vọng lớn, chạm trổ, sơn son thiếp vàng rực rỡ. Các thành vọng đều chạm khắc cuộc sống đồng quê, thiên nhiên tươi đẹp.
Đình Thần Chợ Thủ có nhiều hiện vật quý, mà quý nhất có lẽ là Sắc Thần. Sắc được phong dưới triều vua Tự Đức ngũ niên, tôn thần được phong là Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh, được vua ban mỹ từ "Quảng Hậu Chánh Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng chi thần". Điều đó chứng tỏ tôn thần đã được gia phong ba lần, nhưng do thời gian, thiên tai, chiến tranh, đến nay Đình Thần Chợ Thủ chỉ còn giữ một bản gần đây nhất, do vua Tự Đức phong ngày 29 tháng 11 (âm lịch) năm Nhâm Tý 1852, niên hiệu Tự Đức thứ 5.
Hằng năm, Đình Thần Chợ Thủ diễn ra các lễ cúng tế như sau (tính theo âm lịch): Lễ Tết Nguyên đán (29 hoặc 30 tháng Chạp hằng năm, kết hợp với cúng Giao thừa và Dựng nêu), Lễ Khai sơn (Hạ nêu, mùng 7 tháng Giêng), Đại lễ Kỳ Yên (Cầu an, vào ngày rằm, 16, 17 tháng 6), Lễ Tam ngươn (rằm tháng Giêng, tháng 7 và tháng 10), Lễ Lạp miếu (Chạp miếu, rằm và 16 tháng Chạp). Trong đó, Đại lễ Kỳ Yên là lễ chính của đình. Dân gian thường gọi là lễ vía Thần nhưng thực chất là lễ hội nông nghiệp để cầu quốc thái dân an, phong điều vũ thuận.
Theo LÊ QUANG TRẠNG (Báo Cần Thơ)
http://www.tintucmientay.com.vn/geta.../81-2.jpg.aspx
http://www.tintucmientay.com.vn/Kham...n-Cho-Thu.html