:53::53:
Đột Phá >>>> nhanh (đốn ) hay tiệm ( chậm ) ????
>>> hay tiếng nổ ?????
chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.
cát tường..
:53::53:
Printable View
:53::53:
Đột Phá >>>> nhanh (đốn ) hay tiệm ( chậm ) ????
>>> hay tiếng nổ ?????
chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.
cát tường..
:53::53:
"... Cụ thể, sự thật về khổ đau, bao gồm năm uẩn, phải được hiểu đầy đủ (pariññeyya).
Sự thật về nguồn gốc của đau khổ, ái, cần phải đoạn trừ (pahatabba).
Sự thật của sự đoạn diệt, Niết Bàn, phải được nhận ra (sacchikatabba).
Và sự thật về con đường đưa đến đoạn tận khổ đau, Bát Chánh Đạo, phải được tu tập (bhavetabba)."
Trở lại ngọn đồi đá trắng Cālikapabbata, thị trấn Cālika xinh đẹp chưa được bao lâu, đức Phật lại ôm bát ra đi, về phương Nam. Sau tháng ngày dầm sương dãi nắng, đức Phật lên ngụ tại núi Linh Thứu, phía Nam kinh đô Rājagaha một thời gian mà không cho ai hay biết. Khi thì đức Phật tìm một động vắng, tĩnh chỉ cả tuần lễ, lúc thì ngài dạo chơi đây đó, chỉ một mình.
Buổi sớm, ngài lên một đỉnh núi cao nhất để ngắm nhìn mặt trời mọc; và cũng vậy, vào buổi chiều, ngài ngắm nhìn mặt trời lặn. Đôi khi, ngài lại ngồi giữa trăng khuya, cô liêu giữa đỉnh trời, sương mù bàng bạc; và hình bóng ngài như lẫn giữa mênh mông, bao la, không còn phân biệt đâu là hữu tướng, đâu là vô tướng.
Thẳng hoặc, ngài ngắm nhìn một con thác đổ, trắng xoá, hơi nước mong manh, tan vào khí đá, cỏ cây! Chỉ những người yêu thích sự tĩnh cư mới nếm thưởng và hiểu được niềm phúc lạc thanh cao, yên tĩnh, êm đềm của các bậc xuất trần! Tuy nhiên, chẳng ai biết, trong thời gian ấy, đức Phật đang chiêm nghiệm, lắng nghe, ngắm nhìn bài học của thiên nhiên, của tự nhiên để cho giáo pháp thêm vẻ sắc màu, phong phú và đa dạng.
Có lẽ không ai hiểu đâu, giáo pháp của ngài, sau lần đó, sẽ như mặt trời mọc, sẽ như mặt trời lặn. Mặt trời mọc, nó xoá tan sương mù, mang hơi ấm và ánh sáng cho vũ trụ một cách vô danh như bản thân nó mà không cần một đền đáp nào! Mặt trời lặn như hoàn tất một hành trình để bắt đầu một chu kỳ mới, cho cỏ cây được yên nghỉ, âm thầm, lặng lẽ sáng tạo với trăng, với nước sương để bồi dưỡng thêm sinh lực, ngày mới!
Mặt trời là trí tuệ vô lậu, mặt trăng là tứ vô lượng tâm – đấy là sự toàn hảo của giáo pháp. Đức Phật còn học bài học tự nhiên của dòng thác đổ, nó rơi xuống, nó va đập vào ghềnh đá, nó thành suối chảy; và nó không bao giờ trở lại, nó đi miết, qua các con sông, qua các đầm lầy, qua những mương rãnh rồi cuối cùng cũng tìm về biển lớn.
Giáo pháp của ngài cũng vậy, từ thuở đầu nguồn, nó va đập vào truyền thống ngàn đời của Vệ Đà; nó va đập thượng đế, đại ngã phạm thiên, tiểu ngã linh hồn thường kiến; nó va đập vào tế tự, lễ nghi, cúng bái, cầu nguyện, chơn ngôn, mật chú; nó va đập vào bốn giai cấp nghiệt ngã, va đập vào cái tròng nô lệ lên thân phận nhỏ nhoi, bé mọn của chiên-đà-la, thủ-đà-la… khốn khổ! Rồi, nó đi không trở lại, về biển đại đồng, mênh mông, vô lương của sự thoát khổ, của giải thoát tâm, của giải thoát trí…
(Trích Một cuộc đời một vầng nhật nguyệt)
Đọc những đoạn như này hay đọc "đường xưa mây trắng" của ts Thích nhất hạnh, Viên Mộc có một thắc mắc... Những sự kiện như thế tác giả tưởng tượng ra, hay có thần thông quay về thời điểm đó để nhìn ra? Thậm chí Đức Phật đang chiêm nghiệm cái gì, tâm thức đang diễn tiến thế nào tác giả vẫn biết được thật là tài tình.Trích dẫn:
Trở lại ngọn đồi đá trắng Cālikapabbata, thị trấn Cālika xinh đẹp chưa được bao lâu, đức Phật lại ôm bát ra đi, về phương Nam. Sau tháng ngày dầm sương dãi nắng, đức Phật lên ngụ tại núi Linh Thứu, phía Nam kinh đô Rājagaha một thời gian mà không cho ai hay biết. Khi thì đức Phật tìm một động vắng, tĩnh chỉ cả tuần lễ, lúc thì ngài dạo chơi đây đó, chỉ một mình.....
Hãy để ý chỗ in đậm "không cho ai hay biết "
Lại nữa, mục đích như thế này có quá khiên cưỡng, guongj ép? Giác ngộ rồi bản thân đều là Đạo, là chân lý sao cần phải đi chiêm nghiệm tự nhiên nữa? Có ai phải đi đếm xem mình có mấy tay, mấy chân không?
Trích dẫn:
Tuy nhiên, chẳng ai biết, trong thời gian ấy, đức Phật đang chiêm nghiệm, lắng nghe, ngắm nhìn bài học của thiên nhiên, của tự nhiên để cho giáo pháp thêm vẻ sắc màu, phong phú và đa dạng
Viên Mộc không biết nhiều, nhưng theo những gì Viên Mộc được cảm nhận, qua các bài pháp còn truyền lại đến giờ mà Viên Mộc tiếp xúc được, có 3 người là đem lại cho Viên Mộc cảm giác Chân Lý mỗi lời nói đều xuất phát từ cảm ngộ của bản thân, đều xuất phát rất tự nhiên, gặp duyên liền phát, không cần chuẩn bị trước, không cần sách vở, không cần đắn đo suy nghĩ đó là : Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Lục Tổ Huệ Năng và Ngài Ajahn Chah
Dưới đây là lời giới thiệu, và lời nói đầu của tác giả cho cuốn Một cuộc đời một vầng nhật nguyệt, mình nghĩ qua đó có thể hiểu hơn về mục đích của tác giả cũng như nội dung của cuốn sách.
-----------
Lời giới thiệu
Cuộc đời đức Phật là nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều sử gia, triết gia, học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cổ, nhạc sĩ, họa sĩ, những nhà điêu khắc, nhà viết kịch, phim ảnh, sân khấu... Và hàng ngàn năm nay đã có vô số tác phẩm về cuộc đời đức Phật, hoặc mang tính lịch sử, khoa học hoặc phát xuất từ cảm hứng nghệ thuật, hoặc từ sự tôn kính thuần tín ngưỡng tôn giáo, đủ thể loại, nhiều tầm cỡ, đã có ảnh hưởng sâu xa trong tâm khảm biết bao độc giả, khán giả, khách hành hương chiêm bái và những người yêu thích thưởng ngoạn nghệ thuật.
Tuy nhiên, qua văn chương, thi phú, hội họa, điêu khắc… một số tác phẩm không khỏi ít nhiều nhuốm màu sắc cá tính, tình cảm, phong cách, tầm nhìn hoặc trình độ nhận thức chủ quan của tác giả. Do đó, nhiều tác giả đã đánh tráo đức Phật lịch sử thành một nhân vật thần thoại, một đấng siêu huyền; những tác giả khác có dụng ý đánh đồng cuộc đời đức Phật với những hoạt động đầy chủ quan của mình, hầu phô trương bản ngã hay đề cao uy tín cá nhân, đã không ngần ngại biến đức Phật thành một con người tầm thường, dung tục. Và tệ hại nhất là không ít tác giả ngoại đạo có âm mưu phá hoại Phật giáo, đã khéo léo tôn vinh đức Phật lên tận mây xanh, nhưng thực ra là để xuyên tạc sự thật, đánh lừa quần chúng.
Thấy rõ điều nguy hại này, Sư Giới Đức (Minh Đức Triều Tâm Ảnh) đã kiên nhẫn đọc rất nhiều tác phẩm, cùng những sử liệu đáng tin cậy để tìm tòi, tra cứu, đối chiếu, xác minh sự thật qua những chứng cứ di tích lịch sử, với tâm nguyện cống hiến một tác phẩm vừa giàu tính văn chương nghệ thuật vừa đầy đủ những chi tiết khách quan và trung thực nhất về cuộc đời đức Phật.
Với lối văn kể chuyện, tất nhiên phải có nhiều đoạn văn chương hư cấu, chỉ cốt để chuyển mạch, để làm cho câu chuyện càng thêm thi vị, hấp dẫn, đồng thời làm rõ bối cảnh của những sự kiện lịch sử mà vẫn không làm mất đi ý nghĩa sâu xa, mầu nhiệm của những pháp thoại được trình tự trích dẫn một cách trung thực, đúng lúc và đúng chỗ.
Tôi trân trọng giới thiệu tác phẩm “Một cuộc đời, một vầng nhật nguyệt” đến quý bạn đọc để chúng ta cùng chia sẻ với tác giả lòng kính ngưỡng sâu xa một bậc giác ngộ đầy trí tuệ và vị tha nhân ái, một con người lịch sử nhưng siêu việt và sáng ngời như một vầng nhật nguyệt.
Trân trọng.
Tổ Đình Bửu Long, ngày 20-4-2008
Hòa thượng Viên Minh
Phó Ban Thiền Học
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam
-----------
Lời thưa
Viết lại cuộc đời đức Phật là một công việc cực kỳ khó khăn và vất vả. Không những thế, đây lại là một thử thách gian lao, lớn lao – nếu không có sự trì chí lâu dài thì không thể thực hiện được. Tuy nhiên, do quá quý kính đức Phật, một hiện thân siêu việt, một giáo chủ vô song, một minh triết rạng ngời – tôi đã bạo gan làm một công việc mà dường như không thể, trong lúc tâm trí có hạn, kiến văn không đủ và nhất là nguồn tư liệu chắp vá, lượm lặt từ Tam tạng, từ chú giải cũng như từ các sử liệu Đông và Tây có nhiều chỗ không tương thích, khó lý giải, khó tìm ra được sự liền lạc, nhất quán. Cuộc đời đức Phật Sakyā Gotama từ khi ngài Đản sinh đến lúc ngài Nhập diệt, chẳng ở đâu có tư liệu đầy đủ.
Khó khăn thứ nhất là suốt 45 năm hoằng pháp, từng hạ lạp một, theo dấu chân của ngài, ngài đã làm gì, ở đâu, duyên sự thế nào, thuyết những bài pháp gì – các tư liệu kinh văn đều khái quát, đôi nơi trùng lặp, có chỗ lại mâu thuẫn – nhất là về địa danh, tuổi tác của nhân vật cùng thời gian liên hệ!
Khó khăn thứ hai là chọn lựa tư liệu. Có tư liệu kinh điển hoặc chú giải thiên về đức tin, tín ngưỡng đôi nơi thiếu logic, không khoa học. Có tư liệu do các sử gia Tây phương viết, rất khoa học nhưng lại quá duy vật lịch sử không biểu trưng đầy đủ nhân cách và hành trạng của một bậc Chánh Đẳng Giác. Tuy nhiên, đấy lại là nguồn tư liệu quan trọng để tham cứu, bổ khuyết. Tôi sẽ có vài ví dụ cụ thể:
– Khi Thái tử Siddhattha Đản sanh, các kinh văn Nguyên thủy đều nói là có 7 nhân vật đồng sanh, đấy là: Yasodharā, Channa, ngựa Kaṇṭhaka, Ānanda, Kāḷudāyi, cây Bodhi, 4 hầm châu ngọc. Trong 7 nhân vật này, tôi đã không giải minh được khi thấy tôn giả Ānanda luôn luôn có vẻ trẻ tuổi, đến hạ lạp thứ 20, đức Phật mới chọn ngài làm thị giả, khi đức Phật nói là ngài sức đã yếu – trong lúc hai vị đêu cùng tuổi 55! Còn nữa, nếu so về tuổi tác thì tôn giả Ānanda còn lớn hơn hai vị Đại đệ tử, lớn hơn cả Mahā Kassapa – thế nhưng, tại sao, ở đâu thấy ngài cũng như trẻ nít, ít tuổi hơn nhiều!
- Cũng từ tuổi tác của tôn giả Ānanda, chúng ta liên hệ đến tuổi tác của các ông hoàng Sakyā và Koliyā, đấy là Bhaddiya, Kāḷudāyi, Anuruddha, Kimbila, Bhagu, Devadatta – là tại sao họ đều trên dưới 37 tuổi mà chưa lập gia đình? Chẳng lẽ họ sinh ra chỉ để chờ đợi được xuất gia trong giáo pháp của đức Phật theo như tư liệu kinh văn nguyên thủy? Rồi sau này, chính Devadatta, tâu là đức Phật bây giờ đã già yếu rồi, nên bàn giao lại giáo hội cho ông ta chưởng quản?
– Vào hạ thứ tư, khi thành lập giáo hội tỳ-khưu-ni, chính tôn giả Ānanda đã có công rất lớn là ba lần tâu xin với đức Phật mở rộng cửa cho Ni giới, tư liệu nào cũng nói như thử tôn giả Ānanda là thị giả – trong lúc thật sự phải là hạ thứ 20!
– Bát kỉnh pháp dường như là điều kiện cần và đủ cho Ni giới xuất gia tu học; nhưng tại sao lại có điều thứ 3, 4, 5 – mà nó chỉ khả hữu lúc tạng Luật đã đầy đủ, cụ thể là tụng giới và tội “tăng tàn”. Nên nhớ đây mới là hạ thứ tư, đức Phật chưa ban bố luật, chỉ sau hạ thứ 12, như sau nạn đói tại Verañja, tôn giả Sāriputta thưa thỉnh mà đức Phật vẫn chưa chuẩn y. Nói cách khác, lúc này chưa hoàn chỉnh Tứ thanh tịnh giới!
– Dân số nước Kosala thuở ấy là bao nhiêu? Ta lý giải làm sao, khi kinh văn nguyên thủy nói rằng, nội thành Sāvatthi có 90 triệu dân, và ngoại thành – tức là cả nước cũng có 90 triệu dân? Tôi đã đi hành hương, xe chạy từ Sāvatthi, xuôi Nam, đến giáp bờ Bắc sông Gaṅgā, đến Vườn Nai thì thấy xa chừng 220 km – tương đương từ Huế đến Quảng Ngãi – đấy cũng là chiều dài của nước Kosala thuở xưa, địa vức rất nhỏ vậy! Hiện nay, thành phố Thượng Hải có 22 triệu dân (?), có lẽ là thành phố có dân cư đông nhất thế giới; biết bao khó khăn, phức tạp về thực phẩm, y tế, giáo dục, vệ sinh, nhà ở. Sāvatthi cách đây gần 3000 năm mà có 90 triệu dân, ta có tin nổi không? Số liệu của các sử gia Tây phương có lẽ phù hợp với tư duy khoa học của thời đại: Sāvatthi có 350 ngàn dân, và toàn bộ nước Kosala có 3 triệu dân!
– Tư liệu lác đác trong toàn bộ “Tiểu bộ kinh” rất nhiều, rất nhiều vị tỳ-khưu tinh thông “Tam Tạng”, đọc tụng giới bổn! Xin thưa, thuở đức Phật đang trên đường hoằng hóa thì chỉ có Pháp và Luật; mà Pháp chưa đầy đủ và Luật cũng chưa đầy đủ! Còn Abhidhamma đâu đã có một tạng riêng! Cả Kinh, Luật và Abhidhamma chỉ được kết tập thành văn, tối thiểu là gần 500 năm sau Phật nhập diệt kia mà!
Khó khăn thứ ba là không-thời-gian diễn tiến của một câu chuyện, các vị kết tập sư không để ý đến sự hợp lý, và tính chặt chẽ, lo-gic của các chi tiết, sự kiện liên hệ. Tôi có thể đưa ra vài ví dụ cụ thể:
- Làm sao có đủ ba y, bát, 8 món vật dụng của thầy tỳ-khưu mà 500 vị xuất gia một lần, 1000 vị xuất gia một lần? Nếu có điều ấy thì cần một giải minh hợp lý! (có bỏ 7 dòng)
- Có một hạ tại xứ Kuru, thị trấn Kanumāsadamma, đức Phật gặp hai ông bà Māgaṇḍi. Họ thấy đức Phật đẹp quá nên muốn chọn ngài làm rễ đông sàng cho cô con gái rượu xinh đẹp của họ. Đức Phật cốt ý để lại dấu chân ngàn căm bánh xe. Ông bà đều là người giỏi xem tướng – nên biết đây là dấu chân của bậc phi thường. Bà giỏi hơn ông nên khẳng định đây là dấu chân của bậc Chánh Đẳng Giác, con gái họ dù đẹp nhưng ông ta cũng sẽ không sờ đụng dẫu sờ đụng bằng ngón chân! Đức Phật xác định điều ấy là đúng. Cô con gái bị chạm tự ái, thấy mình bị coi khinh, bị sỉ nhục nên kết mối hận thù sâu sắc với đức Phật. Hai ông bà nghe pháp, đắc quả A-na-hàm, xin xuất gia. Gia tài để lại cho ông em ruột là Cūḷamāgaṇḍi để chăm sóc cô con gái. Chuyện sau đó xẩy ra, ông em trai dâng cô gái cho đức vua Udena làm thứ phi. Cô thứ phi được vua sủng ái nên có quyền hành, sai tay chân bộ hạ và thuê cả bon du đãng phá hoại, quấy rầy đức Phật và tăng chúng. Chắc ai trong chúng ta cũng còn nhớ chuyện, đức Phật và Ānanda đi bát ở đâu cũng bị chưởi rủa, mắng nhiếc, bị ném đá, bị quăng đùi gậy… Tôn giả Ānanda chịu không được, bàn với đức Phật nên đi xứ khác. Vậy diễn tiến câu chuyện với thời gian hợp lý thì phải năm sau mới xảy ra sự vụ bà thứ phi trả thù – hoặc chuyện ấy phải xảy ra vào hai mùa an cư khác nhau. Các sử liệu thường mơ hồ về điểm này, họ cứ kể chuyện một hơi mà không để ý đến thời gian!
- Cũng từ việc diễn tiến câu chuyện qua thời gian, chúng ta thấy chuyện các cô kỹ nữ xinh đẹp Suñdarī và Ciñcāmānavika cũng tương tợ. Cô Suñdarī giả một kịch bản ăn nằm với đức Phật, sau bị ngoại đạo chôn sống ở Kỳ Viên để vu oan, giá họa cho đức Phật. Cô Ciñcāmānavika với kịch bản cứ chiều tối ghé Kỳ Viên, sáng sớm lại về, với sự ởm ờ, nửa kín nửa hở là hầu chăn gối cho đức Phật. Cái thai đầy đủ phải cần thời gian 9 tháng 10 ngày thì kịch bản mới trọn vẹn. Vậy phải giải thích hạ nào, đức Phật ở Kỳ Viên 9 tháng 10 ngày mà ngài không đi nơi khác. Hoặc câu chuyện được diễn tiến như thế nào cho hợp lý hơn? Chúng ta lưu ý là đức Phật tuy an cư mà ngài thường không ở một chỗ, rồi sau an cư, ngài lại ra đi du hóa xứ này sang xứ khác!
- Lại còn các con số. Phải hiểu các con số chỉ là ước lệ. Như 8 vạn 4 ngàn, như 500 kiếp, như 2 koti chư thiên đắc đạo, như 2, 3 triệu cận sự nam nữ đắc quả thánh! Người Ấn Độ thuở xưa thường chỉ nói con số tượng trưng, họ không quan tâm lắm đến lịch sử nên các con số họ thường khái quát – lúc viết lại, chúng ta phải dè dặt! Rồi 01 do-tuần là bao nhiêu cây số, là 16 cây số hay chỉ khoảng chừng 12, 13 cây số? Quả là rất nhiều, rất nhiều tư liệu chúng ta phải kiểm tra lại, tuy nhiên cũng không dám có con số nào là chính xác!
- Còn vua và thái tử nữa! Vua và thái tử đâu mà nhiều thế? Mỗi nước lớn, nước nhỏ hoặc bộ tộc chỉ có một ông vua và một thái tử. Công chúa và hoàng tử thì nhiều. Các sử liệu thường không phân biệt rõ vua, hoàng thân, vương tử, thái tử, hoàng tử, công chúa, hoàng hậu, công nương, vương phi, thứ phi nên cũng khá khó khăn cho người biên soạn luôn cần những tên gọi chính xác để cấu trúc câu chuyện, lúc đối thoại…
Do vậy, bộ đại sử về cuộc đời đức Phật, có khả năng 3000 trang đến 5000 trang, với hằng trăm nhân vật, hằng chục địa danh, hằng ngàn chi tiết – tác giả dầu cố gắng thế nào cũng không tránh khỏi những thiếu sót, những khiếm khuyết, những bất cập – kính mong chư vị độc giả, các thiện trí thức hỷ xả cho!
Cuối cùng là đệ tử xin sám hối với đức Phật – vì đệ tử đã dám dùng trí óc phàm phu, tăm tối; đôi mắt nhiều mây mờ, cát bụi; tâm hồn, cảm xúc thế tình; ngôn ngữ, văn chương hạn hẹp, chập chờn khói sương khái niệm để viết về hành trạng của một hiện thân siêu việt. Dầu đệ tử đã hết sức mình, thận trọng từng câu, từng chữ như xâu nối từng sợi chỉ đỏ để kết dệt nên nhân cách một bậc Chánh Đẳng Giác nhưng không thể nào tránh khỏi sự vụng về, thô lậu, bất khả.
Tất cả chỉ với tấm lòng muốn cung hiến cho độc giả hiện tại và hậu lai một soạn phẩm về cuộc đời đức Phật tương đối đầy đủ nhất, về con người, về sở học, về bối cảnh đương thời, về phẩm tính, về giáo pháp cốt lõi, về hạnh đức, trí minh… gần đúng như hành trạng của một bậc Toàn Giác. Tâm nguyện ấy quả là không thể như ý – nhưng ít ra là các thế hệ mai sau còn có sở y để tầm nguyên, nếu không, những tiểu thuyết hóa, điện ảnh hóa thường thêm thắt, hư cấu cho hợp cái tạng của thời đại, cho hợp với tông môn, tông chỉ, các quan niệm, chủ trương cục bộ hoặc quá dung thường thì còn đâu là chân dung đức Phật lịch sử Sakyā Gotama của chúng ta nữa!
Trân trọng cảm ơn độc giả đã chịu khó đọc tác phẩm nầy!
Viết tại Huế,
Huyền Không Sơn Thượng
Thu Kỷ Sửu, 2009
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
(Tỳ-khưu Giới Đức)
Cuộc đời qua mắt tôi
Chiếc thân tứ đại khói,
Sinh hoạt thế gian mây.
Thành công khối nước đá,
Thất bại chùm bọt tan.
Nhục vinh bong bóng nước,
Thương ghét hạt sương mai.
Khổ vui trong giấc mộng
Danh lợi bóng chim bay.
Tháng ngày cái chớp mắt,
Còn mất nước trăng lay.
Chung cuộc cơn gió thoảng,
Viên mãn bầu trời trong.
(HT Thích Thanh Từ
Thiền viện Chân Không, tháng 6-1984)
Xin phép chia sẻ một chút về MỤC ĐÍCH ĐỨC PHẬT THUYẾT VỀ TỨ THÁNH ĐẾ
Mục đích Phật thuyết "Đây..." là khổ
Đây là Sắc Thọ Tưởng Hành Thức (5 uẩn), đây là khổ, vì sao? Vì sắc thọ tưởng hành thức là cái bị sanh, không bền vững, sẽ hư hoại, sẽ tiêu thất, sẽ bệnh hoạn, sẽ già lão, sẽ vứt bỏ. Ai đang có lòng tham với sắc thọ tưởng hành thức là đang có lòng tham với cái khổ, ai chạy theo sắc thọ tưởng hành thức là đang chạy theo cái khổ, ai mong cầu có sắc thọ tưởng hành thức trong tương lai là đang mong cầu có cái khổ trong tương lai, ai đang bị trói buộc bởi hỷ tham nơi sắc thọ tưởng hành thức là đang bị trói buộc bởi cái bị sanh, trói buộc bởi cái bị già, trói buộc bởi cái bị bệnh, trói buộc bởi cái bị chết, nên nói rằng người đó không thoát khỏi sanh già bệnh chết, người đó không thoát khỏi đau khổ <-- Nhận rõ đây là khổ để đừng tầm cầu cái khổ, từ bỏ cái khổ, tầm cầu cái không khổ.
Mục đích Phật thuyết "Đây..." là khổ tập
Đây là 12 nhân duyên tạo ra khổ, chiêu cảm ra đời sống sanh già bệnh chết, tai nạn, nguy hiểm, đấu tranh, áp bức, tương tàn, giết hại, ăn nuốt lẫn nhau. Do mê lầm (Vô Minh) nghĩ cõi đời là vui sướng, nghĩ ân ái dục lạc là nguồn hạnh phúc, nghĩ tái sanh (vãng sanh) trong những cảnh giới ưa thích là thỏa mãn nên tạo tác những nghiệp hành nơi việc làm hành động đưa đến cái biết thôi thúc tồn tại trong sanh hữu, hướng đến hình thành tâm tánh và thân thể tiếp xúc với đối tượng duyên qua 18 xứ, từ đó tham đắm với lạc thú, hận thù với xung quanh, mê mờ trong kiếp sống...và rồi có dục có sắc có tâm dong ruỗi lang thang vô định hướng mang theo tham sân si căn bổn của bất thiện cùng với sầu bi trong một chuỗi dài đau khổ bởi sự khắc nghiệt của vô thường hủy diệt qua sanh già bệnh chết. <-- Nhận rõ đây là nguyên nhân đưa đến khổ để đoạn trừ nó.
Mục đích Phật thuyết "Đây..." là khổ diệt
Như ngọn lửa tham thiêu đốt thân tâm được dập tắt, như ngọn lửa sân thiêu đốt thân tâm được dập tắt, như ngọn lửa si mê mù quáng đang ru ngủ thân tâm được dập tắt; sự mát lành an lạc không có hỷ tham, sự thoát khỏi bị trói buộc bởi cái bị sanh bị già bị bệnh bị chết, sự thoát khỏi những tai nạn, thoát khỏi nguy hiểm, thoát khỏi đấu tranh, thoát khỏi áp bức, thoát khỏi tương tàn, thoát khỏi sự giết hại, thoát khỏi ăn nuốt lẫn nhau, thoát khỏi mọi đau khổ. Bất động kiên cố là sự giải thoát khỏi tất cả các hành khổ. <-- Nhận rõ đây là khổ diệt để có chí nguyện mong ước đạt được.
Mục đích Phật thuyết "Đây..." là con đường đưa đến khổ diệt
Do muốn thoát khổ mà nhiều người đã đi trên nhiều con đường (Đạo), nhưng lại đi nhầm vào những con đường tà kiến u mê, đưa đến lẫn quẩn trong 5 uẩn (lục đạo) không sao thoát được, như cái lưới rộng lớn (phạm võng) bủa vây giam cùm hết thảy những con cá tham dục; những con đường đưa đến hổ thẳm rừng chông, vọng tưởng, ngỏ cụt, bế tắt, bi quan và thất vọng. Có đường thì lạc vào duy linh duy vật duy tâm duy thần, có đường thì lạc vào duy danh duy lý duy thức duy nghiệm, như kẻ mù không rõ hướng đi. Đức Phật thuyết giảng con đường Đạo Thánh Đế là trực đạo (đường thẳng), trung đạo (thoát khỏi 62 tà kiến khổ hạnh ép xác hay dục lạc cực đoan) là Thánh Đạo Tám Ngành, đây là con đường xứng đáng cho bậc Thánh Nhân để nhiếp phục, chế ngự, đoạn trừ tham sân si vốn là căn bổn của bất thiện, là nhân sanh ra khổ. <-- Nhân rõ đây là con đường diệt khổ để chơn chánh hành trì để giúp mình giúp người thoát khỏi kiếp sống vô thường hư hoại của sanh già bệnh chết sầu bi và đau khổ.
------------------------------
Chánh Đạo có 8: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
Tà đạo cũng có 8: Tà kiến, Tà tư duy, Tà ngữ, Tà nghiệp, Tà mạng, Tà tinh tấn, Tà niệm, Tà định.
Hai nẻo tà và chánh: Một đàng đưa đến thế gian lưu chuyển luân hồi trong lục đạo, còn một đàng đưa đến Niết Bàn.
Chánh Kiến:
* Thấy chắc các sự khổ.
* Thấy chắc lòng tham ái là nhân sanh các sự khổ.
* Biết chắc nơi đoạn dứt nhân sanh khổ là Niết bàn.
* Nhận rõ con đường Bát Chánh Thánh Đạo sẽ đưa đến chấm đứt luân hồi sinh tử khổ đau.
Tà kiến:
* Thấy cõi đời là vui sướng.
* Thấy ân ái, dục lạc là nguồn hạnh phúc.
* Thấy sự tái sanh (vãng sanh) trong những cảnh giới ưa thích là thỏa mãn.
* Thấy sự tạo dựng công danh, sự nghiệp, nhà cửa, con cái… là khôn ngoan.
Kính Tưởng Đức Thế Tôn Gotama - Vị Phật Có Thật Của Nhân Loại
Rất tuyệt và có ích cho tôi, huynh SMC ạ! Xin cảm ơn rất nhiều!
Người nói dối giống như nước rửa chân, không thể dùng ăn uống được, chỉ đổ bỏ mà thôi con ạ!
(Đức Phật dạy La hầu la)
---------------------------------
Sống Mười Điều Lành
Ước vọng của nhân loại, khi sanh ra đời đều mong được mạnh khỏe, sống lâu, gặp nhiều điều may mắn, nhưng có mấy ai đã được toại nguyện?
Sự thực, không ai chối cãi được, vì đời người là một chuỗi ngày dài thời gian đau khổ, phiền lụy về mặt vật chất cũng như về mặt tinh thần, chẳng bao giờ có được những phút giây an vui, hạnh phúc chân thật. Sự an vui hạnh phúc đến với mọi người giống như một giấc mơ. Bởi vậy nó đến, nó đi như nước chảy qua cầu, như bóng ngựa chạy thoáng qua cửa sổ.
Con người vốn vô minh, mê mờ không biết mọi vật trên thế gian này là vô thường nay còn mai mất. Họ cứ mãi mê chấp đắm cho rằng mọi vật là có thật; là thường hằng bất di, bất dịch; là của mình. Vì thế nên thường dính mắc không vật này thì vật khác. Do hiểu sai lầm như vậy nên con người tự thấy mình là trên hết trong cuộc đời này. Tự thấy mình trên hết trong cuộc đời này, đó là hành động suy tư để nuôi lớn bản ngã. Vì thế, bản ngã càng to thì càng tạo biết bao điều tội ác để phục vụ cho bản ngã của mình. Sự nuôi lớn bản ngã, không những trong đời này mà còn nhiều đời trước nữa.
Do từ nhiều đời làm ác mà ngày nay phải chịu quả báo khổ sở. Nhưng có mấy ai hiểu biết nên cứ nghĩ rằng mọi sự khổ đau là do sự ngẫu nhiên, là do hoàn cảnh may rủi mang đến.
Hiểu biết như vậy, nên con người cứ mãi mê chạy theo danh lợi mà tạo ra biết bao nhiêu ác nghiệp trong một đời người. Vì thế, tội lỗi này càng ngập đầu, ngập cổ.
Muốn chấm dứt những hoàn cảnh khổ đau của đời sống con người hay muốn vượt thoát khỏi cảnh ái kiết sử trói buộc, hoặc những tai nạn hiểm nghèo, những bệnh tật nan y khó trị, những sự xung đột tỵ hiềm, nhỏ mọn, ích kỷ, dối trá, xảo quyệt, v.v... thì hãy sống đời với Mười Điều Lành.
Mười Điều Lành là con đường đưa con người đến nơi hạnh phúc chân thật; đưa con người thoát ra mọi cảnh sống thường tình thế gian. Cảnh sống thường tình thế gian là sống chỉ biết lo cho cá nhân của mình mà chẳng cần biết đến ai cả.
Sống đúng Mười Điều Lành là phải rèn luyện con người trở thành những người tốt đối với bản thân, đối với gia đình, đối với xã hội hiện nay và mai sau.
Sống đúng Mười Điều Lành sẽ giúp tâm tánh chúng ta luôn luôn thành thật với mình, với mọi người, hoàn toàn không dối trá lừa đảo bất cứ một người nào. Nhờ sống như vậy, lúc nào chúng ta cũng đầy đủ những đức hạnh điềm đạm, khiêm hạ, giản dị, v.v… Nhờ sống như vậy chúng ta mới đủ sức nhẫn nại để vượt qua những cam go, thử thách của cuộc đời. Nhờ sống như vậy chúng ta mới tìm thấy sự an vui chân thật trong lòng mình.
Sống Mười Điều Lành sẽ chuyển cảnh khổ đau, đói rét thành cảnh an vui, no ấm, và còn đưa con người đến những cảnh thuận duyên mãi mãi trong cuộc đời.
Sống Mười Điều Lành sẽ giúp cho cuộc sống của chúng ta trở thành cuộc sống đạo đức không làm khổ mình, khổ người và cũng không làm khổ tất cả chúng sinh.
Nhất là chúng ta cố gắng sống trong Mười Điều Lành trọn vẹn thì sẽ làm gương tốt cho mọi người cùng nhau soi. Nhờ thế, bản thân được an ổn, gia đình được hạnh phúc, an vui và xã hội luôn luôn được trật tự an ninh.
Sống trong Mười Điều Lành còn giúp cho chúng ta không trở thành kẻ hung ác, điêu ngoa, xảo trá, trộm cướp, hiếp dâm, giết người, v.v… Nhờ thế, chúng ta cũng không còn lo sợ mất của cải tài sản và bị những kẻ trộm cắp, cướp giựt, hung ác giết người hãm hại chúng ta.
Và nhất là chúng ta sống đúng trong Mười Điều Lành thì không còn sợ bị đọa vào ba đường ác nữa. Tức là không tái sinh vào:
1- A Tu La là những người hay sân hận, giận dữ.
2- Ngã quỷ là những người đói khát, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc.
3- Địa ngục là những người bệnh tật nằm liệt giường; là nhưng tai nạn gãy tay gãy chân; là những người mù mắt, tai điếc,
hoặc tay, chân tật quyền, hoặc câm ngọng nói ấp a, ấp ớ, hoặc bệnh thần kinh ngơ ngơ ngẩn ngẩn không biết thiện ác, trái phải; hoặc trí nhớ qua kém, quên trước, quên sau.
Sống Mười Điều Lành sẽ giúp cho thân, khẩu, ý của chúng ta thanh tịnh, không phạm những lỗi lầm vào nghiệp ác, Nhưng ngược lại chúng ta sống không đúng Mười Điều Lành thì ba nghiệp thân, khẩu ý của chúng ta sẽ tạo đủ mười điều ác.
Nói về nhân quả thì người nào sống trong Mười Điều Ác thì sẽ tạo mười nhân chẳng lành. Mà đã tạo mười nhân chẳng lành thì phải thọ chịu mười quả khổ đau. Mười quả khổ đau tức là địa ngục. Địa ngục là con đường khổ đau nhất trong sáu nẻo luân hồi. Nên kinh sách Phật thường nhắc nhở chúng ta phải siêng năng tu tập ngăn ác, diệt ác pháp; sinh thiện, tăng trưởng thiện pháp thì mới thấy sự an vui và hạnh phúc.
Bởi vậy, địa ngục ở tại thế gian chớ không có ở cõi nào cả. Chỉ có những người khéo tưởng tượng cho rằng địa ngục ở cõi âm phủ, nhưng vì họ là những người chịu ảnh hưởng mê tín, dị đoan theo truyền thống của người xưa. Chính họ cũng chẳng biết cõi âm phủ ở đâu, chỉ nghe người ta nói rồi nói theo mà thôi.
Cho nên địa ngục ở tại chỗ đau khổ của mỗi người, chớ không phải đợi chết mới xuống địa ngục để thọ chịu những cực hình đau khổ.
Vì thế địa ngục không có ở trong một cõi nào cả, mà ở ngay trong cuộc sống hiện tại của chúng ta. Nếu quý vị sống làm đủ mười điều ác, thì ngay đó chắc chắn quý vị phải chịu mười điều khổ đau chính bản thân quý vị hành hạ, chớ không có một ông vua Diêm Vương nào hay một con quỷ dạ xoa nào tra tấn hành hạ quý vị.
Chúng ta cứ xem những kẻ một đời làm ác như: Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi đôi chiều, nói lời hung ác, tham lam, sân hận và si mê thì có lúc nào mà họ được an vui đâu?
Dù họ ở vào địa vị nào trong xã hội, bản thân và tâm hồn của họ vẫn đen tối và đau khổ triền miên.
Phật dạy sống đúng Mười Điều Lành là cốt yếu giúp cho chúng ta tạo những nhân quả lành.
Người thực hiện nhân quả lành thì luôn luôn lúc nào cũng gặp duyên lành, may mắn trong hiện tại và mai sau. Vì thế, cuộc sống của họ đều có đầy đủ phước báu. Không những trong đời này được an vui, yên ổn, hạnh phúc mà còn mãi mãi ở kiếp sau cũng được giàu sang, sung sướng, đầy đủ mọi nhu cầu cần thiết của cuộc sống.
Sống với mười điều lành như vậy thì phải thọ hưởng mười phước báu lớn như sau:
1- Thân không bệnh tật.
2- Thân được sống trong cảnh giàu sang.
3- Gia đình hạnh phúc, vợ chồng hòa thuận, con cái hiếu thảo.
4- Được mọi ngươi kính yêu tin tưởng, đồng thời luôn luôn nghe và làm theo lời dạy.
5- Trí tuệ thù thắng, thông minh sáng suốt không ai hơn, thấu suốt lý nhân quả thiện ác không còn chỗ nào bị ngăn che.
6- Lời nói thẳng thắn được mọi người kính phục và yêu mến.
7- Nói lời êm ái ngọt ngào ai nghe cũng vui mừng và yêu thích.
8- Không nói lời hung dữ hay chửi mắng to tiếng với một người nào cả.
9- Không sợ sệt bất cứ một điều gì, một hoàn cảnh nào. Không thối lui trước những nghịch cảnh. Đứng trước đám đông người phát biểu những ý kiến, đều nói năng lưu loát, không ngập ngừng; tiếng nói sang sảng, nhiếp phục người nghe.
10- Ba nghiệp thân, khẩu, ý đều thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi một dục lạc nào trong thế gian này.
Cho nên ai có đủ duyên được nghe Mười Điều Lành; được thấy Mười Điều Lành, nhưng không chịu sống với Mười Điều Lành, rồi luống để một cuộc đời đen tối và khổ đau, thì thật là uổng phí cho một đời người chẳng ra gì. Họ cũng giống như những người giàu sang có kho báu mà không chịu đem ra dùng, chỉ đành lòng chấp nhận để “mot nời lang thang, làm kẻ cùng tử”. Họ chính là những người không trí tuệ, thiếu sáng suốt, vô minh, ngu si và dại dột, khờ khạo nhất, v.v… không còn chỗ nào để phê phán.
Bởi vậy, trong đời nếu ai gặp được Mười Điều Lành trong đây là người đã gieo căn lành trong nhiều kiếp chớ không phải trong một kiếp này. Tức gười ấy đã gieo sâu duyên lành với Mười Điều Lành, nhất là thường kính trọng ba ngôi tam bảo: Phật, Pháp, Tăng.
Do gieo duyên lành này mà ngày nay mới gặp được Mười Điều Lành. Nếu đời nay gặp Mười Điều Lành mà không thực hiện sống với Mười Điều Lành này thì tất cả sự cung kính tôn trọng Phật, Pháp, Tăng chỉ là cơn gió thoảng bên ngoài mà thôi, chẳng có lợi ích gì thiết thực cho cuộc sống.
Do Mười Điều Lành này rất quan trọng như vậy, nên chúng tôi xin quý vị có duyên gặp nó thì hãy cố gắng sống đúng với Mười Điều Lành này thì sẽ thấy phước báu đến ngay, không chờ đợi. Vì chính vừa sống đúng Mười Điều Lành này thì có sự bình an cho mình, cho mọi người và cho các loài vật.
(Sưu tầm, còn tiếp)
Tri kiến giải thoát
Con người sống trong cuộc đời này thường hoạt động tạo ra nghiệp thiện hay nghiệp ác. Nghiệp thiện hay nghiệp ác đều do THÂN, KHẨU, Ý của chúng ta. Vì thế nghiệp gồm có ba thứ:
Thứ nhất là THÂN NGHIỆP.
Thứ hai là KHẨU NGHIỆP.
Thứ ba là Ý NGHIỆP.
THÂN, KHẨU, Ý tạo ra ác nghiệp thì thân tâm chúng ta thường chịu quả khổ đau như bị bệnh tật, tai nạn, hoặc nghèo khổ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thường sống lang thang đầu đình, xó chợ, thường đi xin ăn theo chỗ đông người. Những người làm ác cuộc sống thường xảy ra nhiều điều bất như ý, luôn luôn không thuận duyên. Họ thường sống trong nghịch cảnh khiến cho họ phải chịu nhiều sự khổ đau liên tục.
Do THÂN, KHẨU, Ý tạo ra nghiệp ác nên họ sống với tâm trạng đau khổ, tánh tình luôn luôn hay giận hờn, có khi thương, có khi ghét, thường thay đổi nay vầy mai khác, nhất là tâm trạng sợ hãi, lo lắng, buồn rầu, v.v.. Cuộc sống của họ bất an như vậy.
Thấy người như vậy chúng ta cũng cần phải quán xét lại thân phận của mình, tức là suy tư về thân tâm, hoàn cảnh và tất cả mọi sự việc, mọi sự vật xảy ra chung quanh cuộc sống của chúng ta để xem xét đâu là những nguyên nhân mình đã tạo ra những sự khổ đau này và ai là người đã gây ra sự khổ cho chúng ta hay chính chúng ta đã tạo ra.
Cũng giống như ngày xưa, tại núi Linh Thứu, khi ông Tu Bồ Đề mắc bệnh trầm trọng, ông liền suy tư:
- Cái đau khổ của thân ta từ đâu sanh ra? Từ đâu mà nó diệt? Khi diệt nó sẽ đến chỗ nào?
Nghĩ như vậy, ông liền đến chỗ vắng vẻ, trải tọa cụ, ngồi kiết già, lưng thẳng, ý chơn chánh, chuyên một lòng suy tư về thân bệnh để cố tìm nguyên nhân và phương pháp để diệt trừ các sự đau khổ của bệnh tật.
Khi Tôn Giả Tu Bồ Đề đang yên lặng suy tư để tìm nguyên nhân bệnh tật và phương pháp diệt trừ các đau khổ do thân bệnh của mình thì Thích Đề Hoàn Nhơn biết được tâm niệm ấy, nên cùng người đệ tử của mình là Ba Giá Tuần đến chỗ Tôn Giả Tu Bồ Đề để trợ lực, nhất là giúp Ngài soi thấu được nghiệp thân và hướng dẫn Ngài phương pháp sống MƯỜI ĐIỀU LÀNH để diệt trừ bệnh tật.
Thích Đề Hoàn Nhơn biết rất rõ, chỉ có phương pháp MƯỜI ĐIỀU LÀNH mới cứu thân nghiệp khỏi bệnh tật và những tai nạn xảy ra mà con người phải gánh chịu vì thường làm MƯỜI ĐIỀU ÁC. Cho nên vừa đến nơi thì Ba Giá Tuần đã đọc bài kệ trợ duyên:
“Nghiệp lành thoát các phược,
Ở tại núi Linh Thứu
Thường mắc bệnh cực trọng
Không ưa các căn bệnh
Trông dung nhan thượng tôn
Đã thu được phước lớn,
Trồng đức đâu hơn đây”
(Kinh Tăng Nhất A Hàm)
Nghĩa của bài kệ này khiến cho người ta khó hiểu là ở danh từ PHƯỢC. PHƯỢC có nghĩa là bệnh tật, tai nạn mà câu kệ thứ nhất nói rất rõ NGHIỆP LÀNH tức là làm MƯỜI ĐIỀU LÀNH. Toàn nghĩa của câu kệ này là sống với MƯỜI ĐIỀU LÀNH sẽ không còn bệnh tật hay tai nạn nào nữa cả. Ba Giá Tuần đã nêu rõ: Muốn thoát ra các bệnh tật, tai nạn thì phải sống trong MƯỜI ĐIỀU LÀNH. Sống trong MƯỜI ĐIỀU LÀNH thì bệnh tật, tai nạn sẽ được vượt qua, tức là sống trong nhân quả lành thì chuyển tất cả bệnh tật tai nạn sẽ không còn nữa.
Bởi vậy, kinh MƯỜI ĐIỀU LÀNH ra đời là giúp cho mọi người không còn bệnh tật nơi thân nữa, nhưng con người không đủ lòng tin với pháp môn này. Vì thế, loài người sống nuôi thân mạng bằng thân mạng của các loài chúng sinh. Do đó, họ lúc nào cũng tạo ra các ác nghiệp GIẾT HẠI VÀ ĂN THỊT CHÚNG SINH. Săn bắn, chài lưới, câu tôm, giết hại trâu bò, heo dê, gà vịt, v.v.. để lấy thịt làm thực phẩm ăn uống hằng ngày, thật là vô minh! Sống trong nhân quả ác làm sao tránh khỏi những tai nạn bệnh tật khổ đau. Vì sống bằng sự khổ đau của chúng sinh thì làm sao tránh khỏi mọi sự khổ đau.
Tại sao con người lại ưa thích ăn thịt chúng sinh?
Nói ưa thích ăn thịt chúng sinh thì không đúng mà nói con người sống bằng thói quen ăn thịt chúng sinh là không sai. Cho nên khi không ăn thịt chúng sinh thì sinh ra thèm khát muốn ăn.
Bởi huân tập thành một thói quen không phải trong một ngày hai ngày mà trong nhiều ngày. Vì thế, một đứa bé mới sinh ra cha mẹ bắt đầu mớm cơm cho con ăn bằng thịt chúng sinh, cho nên đến khôn lớn thân tâm đã nhiễm thịt cá, vì vậy không có thịt cá thì ăn uống cảm thấy như không ngon miệng.
Bởi vậy, con người mới sinh ra đều hiền lành (“Nhân chi sơ tánh bổn thiện”), nhưng do những người lớn đi trước như ông bà, cha mẹ, anh chị sống trong MƯỜI ĐIỀU ÁC nên khiến cho con cháu sau này dần dần chịu ảnh hưởng thành thói quen xấu ác mà không hay biết. Từ khi theo giáo pháp của Đức Phật mới hay biết mình đã bị nhiễm ô những điều xấu ác. Những điều xấu ác đó đã làm cho con người đau khổ từ đời này đến đời khác.
Cho nên, khi theo Phật giáo tu tập là chúng ta diệt trừ thói quen xấu ác đó, bằng cách tập sống với MƯỜI ĐIỀU LÀNH. Khi tập sống với MƯỜI ĐIỀU LÀNH như vậy lâu ngày chúng ta trở thành thói quen tốt và hiền lành.
Nhờ sống trong thói quen tốt hiền lành mà lần lần con người sống không làm khổ mình, khổ người và không làm khổ tất cả các loài chúng sinh khác nữa.
Sự tu hành của Phật giáo rất đơn giản, chúng ta chỉ cần thay đổi nếp sống xấu ác bằng nếp sống hiền lành. Khi nếp sống hiền lành đã được thực hiện thì mình sẽ được an vui, hạnh phúc sống không còn khổ đau nữa.
Một người sống đúng MƯỜI ĐIỀU LÀNH thì không có bệnh tật hay tai nạn khổ đau nào tác động vào thân tâm họ được. MƯỜI ĐIỀU LÀNH thật là một phép mầu giúp cho con người hoàn toàn thoát khổ. Cho nên, chúng ta phải quý trọng MƯỜI ĐIỀU LÀNH này hơn tất cả những vật quý trong thế gian này, chỉ có nó mới giúp chúng ta thoát khổ của kiếp làm người. Xưa Khổng Tử, nhà hiền triết Trung Quốc, dạy: “Làm người khó! Làm người khó!”. Nhưng ngược lại, Đức Phật dạy MƯỜI ĐIỀU LÀNH thì làm người không còn khó nữa mà còn đem lại sự an vui và hạnh phúc cho mình, cho người.
Nhưng điều quyết chắc chắn là con người sống với MƯỜI ĐIỀU LÀNH thì thân tâm không còn bệnh tật khổ đau nữa. Thân tâm không bệnh tật khổ đau nữa như trên đã nói thì đó là đang sống trong cõi Trời.
Bởi vậy, cõi Trời không ngoài MƯỜI ĐIỀU LÀNH, nếu ai sống đúng MƯỜI ĐIỀU LÀNH là đang sống trong cõi Trời. Vì thế, cõi Trời không có ở đâu xa, mà cõi Trời ở trong MƯỜI ĐIỀU LÀNH. Cho nên, cõi Trời không lìa cõi thế gian. Bởi ai sống trong MƯỜI ĐIỀU LÀNH là đang sống an vui, hạnh phúc, còn ngược lại ai sống không giữ gìn đúng MƯỜI ĐIỀU LÀNH là đang ở trong cảnh giới địa ngục. Cảnh giới địa ngục là MƯỜI ĐIỀU ÁC. Như vậy địa ngục không ngoài MƯỜI ĐIỀU ÁC.
Thiên đàng hay địa ngục không phải ở trên trời hay ở trong lòng đất mà ở trong lòng của mọi người.
Vì thế, mọi người không biết nên sống bằng máu, xương, thịt của chúng sinh, cho nên họ phải trả quả khổ đau. Trả quả khổ đau không ai mang đến cho họ mà do chính họ tạo ra nhân quả nghiệp ác giết hại và ăn thịt chúng sinh nên họ phải gặt lấy mọi sự khổ đau trong cuộc sống, dù họ có chạy trốn đàng trời nào thì cũng không tránh khỏi.
(St)
NIỀM TIN ĐẶT SAI CHỖ.?
Tôi đồng ý: Niềm tin là cửa vào Đạo.
Nhưng tôi lại nghĩ:
+ Tin thì phải tìm hiểu cho kỹ xem niềm tin đó có lợi ích gì cho cuộc sống của mình hay không chứ ?
+ Tin thì phải tìm hiểu xem niềm tin đó có được kẻ có trí ủng hộ hay không chứ?
Nếu không tìm hiểu kỹ mà cứ tin thì đấy đúng là mê tín.
- Nếu niềm tin bị đặt sai chỗ thì vô cùng nguy hại.
- Có một đoạn kinh được cho là của " Tôn giáo bạn" ghi chép như thế này:
" Này A-nan! Nếu có chúng sanh ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới mà có thể dùng vỏ cây hoa, lá cây cọ, giấy trắng, hay vải trắng mà biên chép thần chú Lăng Nghiêm này, rồi lưu giữ trong túi thơm. Cho dù tâm trí của ai ám độn đi nữa và chưa có thể tụng niệm hay học thuộc thần chú, nhưng nếu mang túi thơm bên mình hoặc cất giữ ở trong nhà, thì phải biết suốt cuộc đời của người ấy sẽ không bị bất cứ loại độc nào mà có thể gây hại.
Sau khi Ta diệt độ, nếu có chúng sanh nào ở vào thời Mạt Pháp mà có thể tự mình tụng niệm hoặc dạy bảo người khác tụng niệm thần chú này, thì phải biết những chúng sanh tụng trì thần chú như thế: lửa chẳng thể đốt họ, nước chẳng thể dìm họ, và dù là thuốc độc mạnh hay nhẹ thì cũng không thể tổn hại họ"...
+ Tôi có ông bạn mê bài kinh ( chú ) này lắm!
Ông ấy chép bài kinh (chú) này mấy năm trời không mệt mỏi, không thối chuyển.
Kinh chú chép chất dày hàng mét (m ), cất chật cả các tủ kinh, hòm đựng kinh.
Ông ấy thuộc làu làu, sáng, trưa, chiều, tối, đêm ngủ...đều lầm rầm trì tụng.
Ông ấy còn "thanh tịnh" đến mức " ăn chay trường" và thêm cả "ngủ chay trường" luôn, mặc vợ rủ rê lôi kéo ngủ cùng ông ấy vẫn khăng khăng cự tuyệt.
Tôi nghe ông ấy bảo: "Học cái này phải thanh tịnh! A Di Đà Phật!"
Thật sự tôi ngưỡng mộ và khâm phục ông ấy về lòng tin và sự kiên trì. Tôi thì chịu thua, không làm được như ông ấy.
Ấy thế mà ông ấy vẫn bị ngộ độc thức ăn phải đi cấp cứu ngoài bệnh viện huyện (?), Lạ thật thật đấy !
Có lần, ông mải mê niệm chú , vợ ông đi qua vô ý đánh đổ phích nước nóng lên người mà ông ấy vẫn bị bỏng.(?) mặc dù vẫn đang lầm rầm niệm chú. Lạ thật đấy!
Thế là tôi sinh ra nghi bài kinh (chú) này có vấn đề. (?)
Rất có thể có kẻ nào đó bịa ra viết rồi lồng ghép vào " Tôn giáo bạn".
Bởi lời dạy của bậc Thánh thì không thể sai được.
Kinh (chú) thì nói người đọc tụng sẽ miễn nhiễm với mọi loại thuốc độc mà ông ấy vẫn bị ngộ độc thức ăn bởi tồn dư có chút ít thuốc trừ sâu trong canh rau.
Kinh ( chú) nói người đọc tụng sẽ miễn nhiễm với lửa ( không thể đốt ) mà mới dính một phích nước nóng đổ lên người ông ấy đã bị bỏng kêu than đau đớn.
Rất khó hiểu, nhất định là kinh ( chú) này có vấn đề gì đó chứ không đơn giản. (?)
Ở trên đây có ai đọc tụng, biên chép Kinh ( chú ) này mà đã từng thực tế trải nghiệm thân mình bằng thuốc độc, bằng nước, bằng lửa hay chưa?
Nếu có xin chia sẻ cho tôi giải đáp hoài nghi.
(Nguồn: Fb anh BQT)
Có hai hạng người phỉ báng Như Lai:
1. Người có lòng tin với tà kiến. Và:
2. Người độc ác với tâm đầy sân hận
Thêm nữa: có Chánh tinh tấn mà cũng có Tà tinh tấn.
Hạng người thiếu trí tuệ, hoặc trí ba la mật (paññāpāramī) còn yếu thì khả năng rơi vào Tà tín, Tà kiến, Tà tinh tấn... là rất cao
:53::53:
Y là chánh ?
Hay
Bát là chánh ?
Tam Y nhất Bát là gì ????
Xuất gia chăng ???
chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.
cát tường.
:53::53:
Mười điều lành
Vừa nghe câu kệ đầu “Nghiệp lành thoát các phược”, Tôn giả Tu Bồ Đề hiểu rõ thân bệnh của mình do từ ác nghiệp của mình đã tạo ra. Tôn giả Tu Bồ Đề nhớ lại lời dạy của Đức Phật trong kinh MƯỜI ĐIỀU LÀNH: “Người nào muốn thoát khỏi thân bệnh, không bị tai nạn, và cầu mong cho gia nình được đầm ấm, yên vui, con cái hiếu thảo,vợ chồng hòa thuận, sống trong tình nghĩa yêu thương mặn nồng, tràn nầy hạnh phúc thì hãy sống trong MƯỜI ĐIỀU LÀNH”. Lời dạy này quá rõ ràng, chỉ có sống trong MƯỜI ĐIỀU LÀNH thì gia đình đầm ấm yên vui, con cái hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, tràn đầy hạnh phúc.
Lời dạy này không dối người, chỉ có những người sống quen trong MƯỜI ĐIỀU ÁC nên không đủ lòng tin. Vì thế họ không sống trong MƯỜI ĐIỀU LÀNH này nên phải chịu mọi sự khổ đau không bao giờ dứt.
Vậy MƯỜI ĐIỀU LÀNH này là gì?
MƯỜI ĐIỀU LÀNH này là mười điều sống không làm khổ mình, khổ người và không làm khổ tất cả chúng sinh.
Làm người ai ai cũng cần phải thông hiểu MƯỜI ĐIỀU LÀNH và còn phải luôn luôn áp dụng nó vào cuộc sống hằng ngày của mình như ăn cơm, uống nước, thì cuộc sống mới được bình an, vô sự.
Ai cũng biết con người không ăn cơm, uống nước, thì không thể sống được. Cho nên con người muốn không còn bệnh tật hay những tai nạn thì mười điều lành này phải sống như ăn cơm và uống nước. Khi biết pháp sống không còn đau khổ mà không áp dụng vào đời sống thì thà chết còn sướng hơn sống trong đau khổ.
Chúng ta là những người có phước báu lớn nên mới gặp phương pháp MƯỜI ĐIỀU LÀNH.
Lòng từ bi của Đức Phật mong muốn con người thoát ra mọi sự khổ đau, vì thế Ngài mới dạy chúng ta sống trong MƯỜI ĐIỀU LÀNH. MƯỜI ĐIỀU LÀNH này mới cứu chúng ta thoát khỏi tất cả bệnh tật, tai ương, nạn khổ, chớ không có một vị thánh, thần nào cứu chúng ta thoát khổ được. Cho nên khi có bệnh tật hay tai nạn khổ dau mà đến lạy lễ cầu chư Phật, chư Bồ tát, chư thánh, chư thần từ bi cứu khổ, cứu nạn thì những hành động cầu xin này là những hành động mê tín, dị đoan, lạc hậu, mù quáng.
Đức Phật ngày xưa dạy: “Các con tự thắp đuốc lên mà đi, Ta không cứu khổ các con được”. Lời dạy như vậy mà chúng ta còn cầu khấn van xin thì thử hỏi quý vị có phải là phật tử hay không? Hay là những tín đồ của một tôn giáo nào?
Muốn thoát khỏi bệnh tật, tai nạn khổ đau thì không có phương pháp nào hay hơn bằng phương pháp sống với MƯỜI ĐIỀU LÀNH. Sống với MƯỜI ĐIỀU LÀNH thì phải thực hiện ba chỗ trên thân của chúng ta. Nó là thân, khẩu, ý.
(1) Thân có ba việc làm lành:
- Không sát sanh
- Không trộm cắp
- Không tà dâm
(2) Khẩu có bốn việc làm lành:
- Không nói dối
- Không nói thêu dệt
- Không nói lật lọng (nói lưỡi đôi chiều)
- Không nói lời hung ác
(3) Ý có ba việc làm lành:
- Không tham lam
- Không sân hận
- Không si mê
Tại sao sống với MƯỜI ĐIỀU LÀNH mà thoát khỏi bệnh tật, tai nạn, khổ đau của kiếp con người?
Muốn trả lời câu hỏi này, trước hết chúng ta phải lần lượt xét xem MƯỜI ĐIỀU LÀNH này như thế nào?
:53::53:
Thập Toàn hay Thập Thiện ???
Cầu Toàn hay Cầu Thiện ???
cho :
* Bản Thân ???
* Gia đình ???
* Đất nước ???
* Thế giới ???
* Môi sinh ( trái đất ) ???
Lời giới thiệu sao đây ta ???
chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.
các tường .
:53::53:
"Lòng từ bi của Đức Phật mong muốn con người thoát ra mọi sự khổ đau, vì thế Ngài mới dạy chúng ta sống trong MƯỜI ĐIỀU LÀNH. MƯỜI ĐIỀU LÀNH này mới cứu chúng ta thoát khỏi tất cả bệnh tật, tai ương, nạn khổ, chớ không có một vị thánh, thần nào cứu chúng ta thoát khổ được.
Cho nên khi có bệnh tật hay tai nạn khổ đau mà đến lạy lễ cầu chư Phật, chư Bồ tát, chư thánh, chư thần từ bi cứu khổ, cứu nạn thì những hành động cầu xin này là những hành động mê tín, dị đoan, lạc hậu, mù quáng."
:53::53:
hihihihi
* Lòng bàn Chân >> để đi .
* Lòng bàn Tay >> để nắm và buông ( thả ).
* Lòng vị tha ( tha thứ và thương yêu ) ở chùa ??? :21::21:
chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.
cát tường.
:53::53:
Ký sự về đất Phật
https://www.youtube.com/watch?v=_xEq0Vcq5mM