PG đến thời suy tàn nên gọi là mạt pháp
Printable View
Ở thời đại văn minh sự chết này, nếu có sự suy tàn của đạo đức, thì đó là thất bại chung của các tôn giáo. Bảo là mạt pháp của TCG cũng được :)
Mạt pháp của PG, là sự thiếu vắng Phật tính. Mạt pháp của TCG, là sự thiếu vắng Thượng đế tính. Nên câu nói về thời mạt pháp biết đâu đúng cả cho nền lịch sử, văn minh nhân loại.
Tự nhiên nhớ tới anh Chí : Tao muốn làm người lương thiện. Ai cho tao lương thiện?
thời này ít ai khen người hiền lành thật thà,mà thay vào đó là lợi dụng và đàn áp người hiền lành thật thà. Ra đường cứu một người bị tai nạn thì sợ bị liên lụy . Một hiệp sĩ bắt cướp bị chặn đánh giữa đường,mặc dù ai cũng biết rõ anh ta là hiệp sĩ rồi mà vẫn không ai lao vào cứu cho anh ta . Vậy thì đây là cái gì đây chớ hả? Nhắc mới nhớ đến nhân cách con người của thời chuẩn bị xảy ra Đại Hồng Thủy.
Mình nghĩ các bạn trong đây đang bình luận.ai cũng có tấm lòng tình thương yêu nhân loại,trắc một điều các bạn nhìn và nghe thấy những người bị đưa đến
Đường cùng của sự đau khổ.mà toàn là đông loại gây ra ai chẳng đău lòng.
Vì thế nhiều tôn giáo và thánh nhân muốn cứu đời đã sinh ra .nhưng cũng vì thế
Mà bị lợi dụng và làm mất niềm tin cho nhiều người.ước chi các tôn giáo hoà hợp cho nhân loại nhận thấy tình yêu của tạo hoá.và sống có niềm tin chung không còn sợ khổ đau.chúng ta cùng cầu nguyện cho ngày đó đến nhanh.xin thánh thần phù hộ.
Tôi kể 1 câu chuyện nhân quả thế này.
Có 1 bệnh viện cấp tỉnh kia có truyền thống hành dân.
1 ngày kia có anh 1 anh thanh niên bị tai nạn, hôn mê và được người ta đưa vào viện này cấp cứu.
Theo luân hồi thì những gì từng diễn ra sẽ tiếp tục diễn ra. Và anh thanh niên kia chết vì thiếu nhiều cái vạn năng và chẳng có người thân nào để đi mở cái chìa khóa vạn năng đó cả :)
Sau khi anh thanh niên này chết 1 lúc, thì bố anh này-vị giám đốc bệnh viện mới đến.
Nhưng các bác sỹ đã trót bỏ sót "xuất ngoại giao" bự này rồi.
Các bạn vào viện, nếu là người quen sẽ hay nghe từ "xuất ngoại giao" :D
lối suy nghĩ của bạn cũng là lối suy nghĩ của đa số người,và rất giống như lối suy nghĩ của một con chó Vì sao ư? đọc tiếp sẽ rõ. {thật tế những thành phố lớn như SG đa số là dân miền quê lên mua đất ở,hoặc làm thuê làm mướn}
sống ở đời phải biết trước biết sau,con người với nhau đã không đoàn kết mà lại không biết ơn,ăn cháo đá bát thì không phải là con điếm nữa, mà là giống như một con chó vậy,vì con chó thì ai cho nó ăn ngon thì nó quẩy đuôi thôi mà dần dần quên đi người chủ cũ.
Đây là quan điểm của TCS :)
SVCZ YouTube Player
Copy and paste bài này:
Triết học nhẹ nhàng của Trịnh Công Sơn
Dưới đây là trích yếu của một bài viết đồ sộ, nguyên văn bằng tiếng Anh, của John C. Schafer, in trong tạp chí Journal of Vietnamese Studies (vol. 2.1, Winter, 2007, pp. 144-186), dưới tựa đề: "Death, Buddhism, and Existentialism in the Songs of Trinh Công Sơn".
http://www.tcs-home.org/News/triet-h...son/image_miniNghe nhạc Trịnh Công Sơn đối với nhiều người Việt cũng gần giống như nghe một câu kinh...
Các bạn có thể xem bản dịch của Vy Huyền : "Cái chết, Phật giáo và chủ nghĩa hiện sinh trong nhạc Trịnh Công Sơn" ở Talawas, hoặc nguyên bản tiếng Anh trên tại đây.
Đạo Phật với Trịnh Công Sơn là hơi thở là triết học làm cho con người yêu đời hơn chứ không phải là lãng quên sự sống.
Đạo Phật đến với Ông qua nếp sống gia đình, và rồi đi vào âm nhạc của ông ngày càng sâu sắc hơn qua sự trải nghiệm thăng trầm giữa cuộc đời này.
Trịnh Công Sơn có viết: "Tôi vốn thích triết học và vì thế tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc của mình. Một thứ triết học nhẹ nhàng mà ai ai cũng có thể hiểu được". Bài này sẽ trình bày rằng thứ "triết học nhẹ nhàng" này chính là triết học Phật giáo.
Trong Tứ Diệu Đế của đạo Phật, chân lý đầu tiên là khổ đế. Khổ đế là một đề tài rất phổ thông trong nhạc Trịnh Công Sơn: Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người, ông đã hát trong Gọi tên bốn mùa. Cuộc đời đầy khổ và buồn vì không có gì trường cửu cả. Theo Kinh Kim Cương, Tất cả các pháp hữu vi là “như sương mai, như ánh chớp”. Đây là một ý niệm mà Trịnh Công Sơn đã nhắc đi, nhắc lại trong nhiều lời ca của mình. Giống như con chim ở đậu cành tre và một con cá . . . trong khe nước nguồn, không ai trong chúng ta là những người định cư vĩnh viễn, tất cả đều là những người ở trọ trần gian này. Trong khi tạm cư ở chốn trần gian này chúng ta tìm chỗ ẩn náu trong tình yêu, nhưng rồi tình yêu cũng mất đi.
Tình yêu như tất cả mọi sự khác đều vô thường như Trịnh Công Sơn đã viết trong bài Đóa hoa vô thường và nhiều bài ca khác. Các bài tình khúc của Trịnh Công Sơn là những lời tuyên bố siêu hình rằng những đổ vỡ tình yêu không phải là những chông gai nho nhỏ trên con đường đời đẹp đẽ vô song. Các bài tình khúc của Trịnh Công Sơn, như Hoàng Phủ Ngọc Tường nói, là những “bài kinh cầu bên vực thẳm”. Các bài ca này là những lời nhắc nhở cho chúng ta về lẽ vô thường.
Một đề tài Phật giáo khác trong nhạc Trịnh Công Sơn là thuyết luân hồi. Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi / Để một mai tôi về làm cát bụi, ông hát trong Cát bụi. Hay Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô, trong Rừng xưa đã khép. Trong các ca khúc của mình Trịnh Công Sơn có vẻ đồng ý với đạo Phật rằng “Hiện tại là hình bóng của quá khứ và tương lai là hình bóng của hiện tại”.
Trịnh Công Sơn cũng tỏ ra chấp nhận thuyết luân hồi của nhà Phật trong những câu mà Trịnh Công Sơn đã làm nhòa nhạt biên giới giữa đi và về, như trong bài Phôi pha: Có những ai xa đời quay về lại / Về lại nơi cuối trời. Nếu chết là để đi đến tái sinh thì khi ta ra đi nghĩa là ta trở lại. Nhìn sống và chết cũng như nhìn nước chảy trên sông và tự hỏi nước đang ra đi hay nước đang trở về. Đó là ý của Trịnh Công Sơn trong Gần như niềm tuyệt vọng: Những ngàn xưa trôi đến bây giờ / Sông ra đi hay mới bước về.
Theo đạo Phật không có cái ta trường cửu nhưng mà có một chút gì trong cái ta đã mất được tiếp nối trong cái ta tái sinh. Quá trình này thường được so sánh như khi ta thắp một cây nến từ một cây nến khác, có cái ra đi và cũng có cái trở lại, một cõi đi về như Trịnh Công Sơn đã viết trong bài ca cùng nhan đề.
Một ảnh hưởng khác của Phật giáo trong ca khúc của Trịnh Công Sơn là sự mập mờ và siêu lý luận của các câu văn. Nhạc, lẽ dĩ nhiên là tiếng nói của con tim không phải là của lý trí nhưng sự xác định này cũng chưa đủ dể giải thích tại sao Trịnh Công Sơn có vẻ như không muốn làm cho lời ca rõ ràng. Tôi nghĩ rằng đây là ảnh hưởng của Phật giáo, rằng người ta không thể chỉ ngồi mà lý luận để đi đến một sự bình an cho tâm hồn, rằng ý niệm giác ngộ vượt qua biên giới của ngôn ngữ và lý luận.
Cái mập mờ danh tiếng của Trịnh Công Sơn là do sự phá bỏ biên giới giữa các điều mà chúng ta thường xem là khác biệt, một phương pháp mà Cao Huy Thuần gọi là “đối hợp”. Trịnh Công Sơn hay dùng lối văn đối nghịch, một nghệ thuật ngôn ngữ hay dùng để nhấn mạnh sự khác nhau của hai điều, nhưng ngược lại, Trịnh Công Sơn hay đem đối nghịch làm trùng hợp như trong các câu này: Tình không xa nhưng không thật gần; Không xa đời và cũng không xa một người; Một phố hồng một phố hư không.
Trịnh Công Sơn giống như một nhà thiền sư phủ nhận rằng tuyết thì trắng, quạ thì đen, với mục đích nói lên rằng muốn giác ngộ thì phải tránh xa cái đối lập giữa “có” và “không” để thành một tổng thể hài hòa. Lời ca của Trịnh Công Sơn giống như các công án trong Phật giáo, chẳng hạn như công án nổi tiếng nói về lắng nghe tiếng vỗ của một bàn tay, và cũng giống như công án, bài hát của Trịnh Công Sơn không thể giải thích được bằng đầu óc.
Khi nói về triết lý trong nhạc Trịnh Công Sơn chúng ta cũng cần nói tới ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh nữa. Các bạn thân của Trịnh Công Sơn xác nhận rằng, ông cũng như một số đông các nhà trí thức miền Nam vào cuối thập niên năm mươi và đầu thập niên sáu mươi, rất bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa hiện sinh.
Thái Kim Lan bảo rằng: ở Huế hồi đó nhiều người nói về lo âu (angst), hư vô (nothingness), nôn mửa (nausea) và nỗi hoài công phi lý của Sisyphus. Nguyễn Văn Trung hồi đó mới từ Bỉ về, theo Bửu Ý là “nòng cốt” của các cuộc tranh luận về triết lý tại Huế. Nguyễn Văn Trung viết nhiều bài về hiện sinh và đăng trong tạp chí Đại Học, do ông làm chủ nhiệm.
Các bạn của Trịnh Công Sơn bảo rằng ông rất ham đọc sách của Camus về huyền thoại Sisyphus. Các bạn này cũng bảo Trịnh Công Sơn rất thích các phim trong đó có tài tử James Dean đóng vai của một người lưu lạc cô đơn. Chúng ta thấy hình ảnh chàng cô đơn này trong nhiều bài của Trịnh Công Sơn trong đó có bài Dã tràng ca. Trong bài này Trịnh Công Sơn muốn so sánh mình với Sisyphus, qua một hình ảnh đã được Việt Nam hóa là con dã tràng suốt ngày “xe cát biển đông” trong Nghe thân lưu đày.
Trong cuốn Huyền thoại Sisyphus, Camus nói: trong cái thế giới phi lý này, chúng ta thường hay bị quyến rũ bởi hai cách trốn thoát: một là tự vấn thân xác, hai là tự vẩn triết lý, tức là nuôi dưỡng niềm hy vọng rằng mình sau này khi chết đi sẽ được lên chốn thiên đàng vĩnh cửu. Theo Camus, chúng ta phải từ chối hai con đường giải thoát này và phải chọn một con đường khác: con đường chống đối thế giới phi lý này giống như nhân vật Sisyphus trong huyền thoại vậy.
Ông Nguyễn Văn Trung đã giải thích thuyết của Camus theo một cách khác. Ông viết về tự vẫn triết học như thế này: “Hy vọng một đời khác, hoài niệm một quê nhà sau tù đầy là một cách phủ nhận tình trạng phi lý khác, mà không chấm dứt được phi lý. Camus gọi những giải pháp thoát ly đó là một tự vẫn triết lý (Suicide philosophique)”. Nguyễn Văn Trung cho rằng, theo Camus, chúng ta phải chấp nhận rằng “Tù đày chính là quê nhà”.
Rất có thể Trịnh Công Sơn đã bị ảnh hưởng của Camus qua cách giải thích của Nguyễn Văn Trung. Giáo sư Trung đã Việt Nam hóa lý thuyết về lưu đày và thiên đàng vĩnh cửu của Camus. Lời giải thích của Nguyễn Văn Trung đã làm lẫn lộn hoài vọng về một cõi thiên đàng trong kiếp sau với hoài vọng về quê nhà.
Trịnh Công Sơn quả thật đã bị lôi kéo từ hai dòng lực tù đày và quê nhà. Nhiều đêm muốn đi về con phố xa / Nhiều đêm muốn quay về ngồi yên dưới mái nhà, ông đã hát trong Lời thiên thu gọi. Nhưng vì đã được uốn nắn trong một nền văn hóa mà trong đó tình yêu quê nhà đóng một vai trò rất mạnh, Trịnh Công Sơn đã không do dự chọn quê nhà. Ông đã hát Chân đi xa trái tim bên nhà, trong Có nghe đời nghiêng và Tìm thấy nỗi nhớ từ mỗi chiếc lá / Góc phố nào cũng thấy quê nhà trong Tình yêu tìm thấy.
Do đó ta thấy Trịnh Công Sơn không chấp nhận sự nổi loạn chống lại thế giới phi lý như Camus đã cổ võ. Trịnh Công Sơn không thể nào chọn lưu đày làm nơi quê nhà. Tù đày theo Trịnh Công Sơn không phải là sự nổi loạn hiện sinh mà là sự nhìn nhận của một người con Phật trước nỗi khổ và tính cách tạm bợ của cuộc đời: Còn bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn đây Trịnh Công Sơn hỏi trong Phúc âm buồn. Còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này.
Hiện sinh khuyến khích cá nhân đứng lên một mình để chống lại xã hội và văn hóa. Phật giáo, ngược lại, dạy thuyết vô ngã, dạy rằng không có gì khác biệt giữa ta và tha nhân, rằng mọi sự mọi việc trên đời đều hỗ tương ảnh hưởng vào nhau. Tôi tin rằng Trịnh Công Sơn có ý nói đến thuyết vô ngã trong các bài ca của ông. Ông có nói đến “phụ người” như trong bài Ru em nhưng cái buồn của ông thật ra cũng là cái buồn của nhân thế. Yêu em yêu thêm tình phụ / Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ (Ru em). “Từ bi” có nghĩa là tâm từ (maitri) và tâm bi (karuna), hai đức hạnh mà theo Phật giáo mình nên tu dưỡng.
Lúc mới bắt đầu sự nghiệp, Trịnh Công Sơn cũng như nhiều thanh niên trí thức khác tại miền Nam, thích bàn luận về thuyết hiện sinh. Triết lý nói chung và thuyết hiện sinh nói riêng hồi đó là một đề tài rất phổ thông trong giới trẻ. Các bài hát đầu của Trịnh Công Sơn đã đáp ứng được nguyên vọng này của giới trí thức miền Nam. Phật giáo và hiện sinh quả thật có gần nhau ở một vài điểm. Cả hai đều tin rằng con người phải đối diện với cái chết và với ý niệm hư vô trước khi có thể thực sự sống một đời sống đích thực.
Trịnh Công Sơn lúc mới vào nghề nổi tiếng vì đã “chịu chơi” với thuyết hiện sinh nhưng theo tôi Trịnh Công Sơn đã sáng tác nhạc của mình dựa trên các đề tài của Phật giáo. Nếu hồi đó ít ai để ý tới cái tính cách Phật giáo trong các bài của ông, có thể là vì Phật giáo và hiện sinh gặp nhau ở một vài điểm và người ta chỉ để ý đến khía cạnh hiện sinh mà thôi. Tuy nhiên lý do chính vì sao Trịnh Công Sơn vẫn tiếp tục thành công trong một thời rất dài là vì những ưu tư có tính cách rất Phật Trịnh Công Sơn đã gởi gắm trong lời ca của mình.
Nghe nhạc Trịnh Công Sơn đối với nhiều người Việt cũng gần giống như nghe một câu kinh. Nhạc Trịnh Công Sơn khó hiểu nhưng lời ca của ông có khả năng xoa dịu những tâm hồn bị dao động.
Theo John C. Schafer
Tạp chí Văn hóa Phật giáo
nguồn:http://www.tcs-home.org/News/triet-h...rinh-cong-son/
Chúa Giêsu nói với các tông đồ là người giàu vào nước trời khó như lạc đà chui qua lỗ kim, đây cũng là 1 cách dạy cho con người ta không vì đồng tiền mà tranh giành giết người để đoạt của
Chúa Giêsu cũng dạy là các con hãy trở nên bé mọn như con trẻ, thường thì con nít ngây thơ không tranh giành giết nhau vì đồng tiền tài sản như người lớn!
Chính sách của các nước phương Tây thì bắt tất cả mọi người dân phải đóng thuế và dùng tiền thuế này để trợ cấp cho người nghèo thất nghiệp tàn tật, khái niệm này xa lạ với người Viet Nam nhưng người phương tây đã giải được bài toán phân chia giai cấp từ rất lâu rồi !
thật ra đó là bắt nguồn từ tập tục của Ki Tô Giáo đã có từ thời sơ khai cho đến ngày nay nhưng không theo kiểu bắt buộc như đóng thuế,như ngày nay chúng ta vẫn quyên tiền vào ống nhà thờ,vào các thùng tiền để ở tượng Đức Mẹ ,... Hay có những hội đoàn của giáo xứ đến từng nhà {nhất là các nhà khá giả} để kêu gọi quyên tiền giúp những nhà khó khăn trong Giáo Xứ hoặc Giáo Xứ nghèo hơn và còn giúp đỡ cách kín đáo những gia đình lương dân ở bên trong hoặc ngoài GX nữa.
bạn hỏi thì mình cũng xin trả lời là bạn nghĩ sai cho bệnh nhân rồi,bệnh nhân chỉ muốn kết thúc sớm nhưng nếu là bạn,bạn có sui người ta chết đi o?,không đúng o? chúng ta o phải là người thân mà còn như vậy huống hồ người thân của bệnh nhân,vậy nếu đã o thể như thế thì phải có cách nào khác giúp người ta,nếu ai đó nói mình đang vơ việc vào người thì mình o biết người đó nói đúng hay sai chỉ biết mình thấy buồn và nghĩ rằng tại thời điểm nói lời đó thì người đó có trái tim chai lì băng giá quá,mọi thứ có thể thay đổi,mong rằng sẽ tiến đến tốt đẹp hơn
Mẹ tôi khi còn sống, bà hay nói rằng chỉ mong khi chết được đông đủ con cái chăm lo báo hiếu cho 1 tuần là bà vui, ốm đau dai dẳng quá khổ mình, khổ cho con cháu.
Mẹ tôi cũng hay đi giờ Thương xót Chúa vào chiều thứ 5, hình như có 1 câu Kinh là ai đi lòng thương xót Chúa sẽ được chết vào giờ Chúa xót thương.
Nhà tôi đông anh em nhưng mỗi người đi làm mỗi nơi, cứ lo khi cụ ốm đau có chuyện gì một mình cụ ở nhà.
Cuối cùng mẹ tôi mất sau 6 ngày bị tai biến, và mất vào giờ Thương xót Chúa, trước khi bị tai biến thì cụ rất khỏe, và anh em cũng vô tình tụ họp đầy đủ ở quê trước khi cụ bị tai biến.
Người CG hay xin 1 ơn, đó là ơn Chết lành là vậy.
Chủ thớt cho anh kia đọc bài này xem thử :)
Hỡi linh hồn đau khổ, hỡi Bạn, Bạn còn nhớ câu chuyện người mù từ mới sinh đã chép trong Kinh thánh.
Một hôm, trong khi đi đường, Chúa và các tông đồ gặp một thiếu niên mù từ khi mới sinh. Các tông đồ thưa Chúa: “Thưa Thầy, người này mù từ khi mới sinh, tại lỗi nó, hay tại lỗi cha mẹ nó?”. Chúa phán: “Không phải tại lỗi ai, nhưng để làm sáng danh Chúa”. Rồi Chúa chữa em khỏi mù.
Xin Bạn hãy đọc cả đoạn phúc âm này, linh động tươi tắn vào hạng nhất của Phúc âm theo thánh Gioan:
"Đi ngang qua, Chúa Giêsu nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. Các môn đệ hỏi Người, "Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?" Chúa Giêsu trả lời, "Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng chuyện đó xảy ra là để các việc của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.
Chúng ta phải làm những việc của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng; đêm đến, không ai có thể làm việc được. Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian."
Nói xong, Chúa Giêsu nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta, "Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa (Silôác có nghĩa là, người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.
Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói, "Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?"
Có người nói, "Chính hắn đó!" Kẻ khác lại rằng, "Không phải đâu! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi!" Còn anh ta thì quả quyết, "Chính tôi đây!"
Người ta liền hỏi anh, "Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế?"
Anh ta trả lời, "Người tên là Giêsu đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo, 'Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa.' Tôi đã đi, và sau khi rửa tôi nhìn thấy được."
Họ lại hỏi anh, "Ông ấy ở đâu?" Anh ta đáp, "Tôi không biết."
Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Phari sêu.
Nhưng ngày Chúa Giêsu trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sabát.
Vậy, các người Pharisêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời, "Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy."
Trong nhóm Pharisêu, người thì nói, "Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sabát"; kẻ thì bảo, "Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?" Thế là họ đâm ra chia rẽ.
Họ lại hỏi người mù, "Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh?" Anh đáp, "Người là một vị ngôn sứ!"
Người Dothái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến.
Họ hỏi, "Anh này có phải là con ông bà không? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được?"
Cha mẹ anh đáp, "Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh.
Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó; nó đã khôn lớn rồi, tự nó nó nói về mình được."Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Dothái. Thật vậy, người Dothái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Kitô.Vì thế, cha mẹ anh mới nói, "Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó."
Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo, "Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi."
Anh ta đáp, "Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều, trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được!"
Họ mới nói với anh, "Ông ấy đã làm gì cho anh? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào?"
Anh trả lời, "Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng?"
Họ liền mắng nhiếc anh, "Có mày mới là môn đệ của ông ấy; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Môsê.
Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Môsê; nhưng chúng ta không biết ông ấy bởi đâu mà đến."
Anh đáp, "Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi!
Chúng ta biết, Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì."
Họ đối lại, "Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?" Rồi họ trục xuất anh.
Chúa Giêsu nghe nói họ đã trục xuất anh, và khi gặp lại anh, Người hỏi, "Anh có tin vào Con Người không?"
Anh đáp, "Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin?"
Chúa Giêsu trả lời, "Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây."
Anh nói, "Thưa Ngài, tôi tin." Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người. (Gioan 9,1-38)
Chuyện ấy nhắc nhủ ta rằng: Ở đời có những việc bề ngoài rất khó hiểu, người ta tìm cách giải nghĩa, mỗi người một cách, tùy theo học lực, trí tuệ, tùy theo giáo dục, tâm tình, tùy theo thành kiến của mình. Nhiều khi người ta đổ tại vật này, tại người khác. Nhưng biết bao nhiêu lúc người ta lầm: những lý lẽ người ta viện ra để bênh vực ý kiến của mình đều không có nền tảng, có khi trái sự thực. Công việc Chúa làm, nhiều khi rất bí nhiệm, chúng ta trí thấp hèn, không sao cắt nghĩa nổi. Mà chính Chúa cũng không cho ta hiểu, trước ngày Chúa đã định. Đến khi Chúa đã cho chúng ta hiểu và khi đã mở mắt ra, chúng ta mới nhận thấy rằng: những điều mà trước đây chúng ta đoán, hoặc đã cho là đúng, đều sai sự thật cả. Bạn xét lại đời Bạn xem, biết bao lần Bạn đoán một đàng mà công việc đã xảy ra một nẻo.
Vậy, Bạn thân mến, những sự đau khổ Chúa để Bạn chịu cũng thế... Trên kia, tôi đã nói, chính vì tội tổ tông và tội riêng Bạn. Nhưng nhiều lần, không phải tại lỗi Bạn, mà chỉ vì sáng danh Chúa.
Bạn ngạc nhiên: Bạn chịu khó thế này thế kia, sao lại làm sáng danh Chúa? Chẳng hạn Bạn nói: “Nếu cha mẹ tôi, chị em họ hàng tôi đi Đạo cả, hoặc giữ Đạo sốt sắng, tử tế, siêng năng đọc kinh cầu nguyện, có phải sáng danh Chúa hơn không? Bây giờ Chúa để họ còn chưa nhận biết Chúa... hoặc khô khan, hoặc sống trong tội lỗi, thì hàng ngày họ có thể làm biết bao điều phiền lòng Chúa... và chính tôi có lần đã muốn kêu trách Chúa, hoặc đã kêu trách Chúa thật... thì làm sáng danh Chúa sao được?”
Tôi nói một ví dụ. Khi Bạn ốm đau, Bạn phải dùng thuốc đắng, Bạn phải để cho người ta mổ, người ta đốt những chỗ có vết thương và chính cha mẹ cũng bắt buộc Bạn chịu. Cha mẹ đứng nhìn cũng đau đớn lắm, đau đớn đến chảy nước mắt ra được, và có khi cha mẹ, nhất là người mẹ muốn chịu thay cho con, nhưng cha mẹ đành cắn răng nhìn con đau khổ, hoặc nghe lời con trách móc, la rầy... Nhưng cha mẹ đành thế, không phải vì ghét con, cũng không phải vì ghét mình, mà chính vì yêu con, chính vì biết lo cho mình. Vì một khi con cái đã khỏi bệnh, thì những sự đau phiền cha mẹ và con cái chịu đều tiêu tan hết, và những sự đau đớn của con cái, lại là căn cớ cho cha mẹ vui mừng, con cái sẽ thêm lòng yêu mến cha mẹ, đã vui lòng chịu hy sinh đau đớn vì mình.
Vậy Bạn, Chúa để Bạn phải đau đớn cực lòng, có khi không phải lỗi tại Bạn, không phải vì Chúa vui khi Bạn khổ, nhưng Chúa đành như thế để rồi đây khi Bạn đã được như lòng sở nguyện, Bạn càng được vui mừng và càng mến Chúa hơn.
Vậy nếu Bạn chịu khó cho nên, thì Bạn làm sáng danh Chúa nhiều lắm, vì Bạn tỏ mình biết vâng theo thánh ý Chúa, Bạn biết bỏ mình, và hy sinh; chính những cái ấy, là những cái làm vui lòng Chúa, hơn những việc đạo đức người ta làm cách khô khan nguội lạnh, hoặc hơn chính việc cha mẹ, họ hàng anh em Bạn đi Đạo, hoặc ăn năn trở lại ngay lúc này, nhưng Bạn lại mất dịp làm sáng danh Chúa, bởi sự Bạn biết bỏ mình vâng theo Thánh ý Chúa.
Nếu Bạn hiểu rõ điều ấy, thì Bạn sẽ không ngạc nhiên, sao Chúa lại để Bạn chịu khổ như thế, sao Chúa lại để người thân yêu của Bạn làm phiền lòng Chúa. Một lời nói của người thân yêu làm Bạn vui lòng sung sướng hơn trăm nghìn câu truyện của những người ghẻ lạnh cùng Bạn, có phải không? Bạn hãy nhớ lại những khi Bạn được gần gũi những người thân yêu. Chắc Bạn còn nhớ lắm và những lời của những người ấy làm Bạn quên ăn quên ngủ, quên cả những lời của người khác làm mất lòng Bạn. Trái lại, những lời lạnh lùng Bạn được nghe hằng ngày của những khách qua đường, thì Bạn có nhớ đâu!
Với Chúa cũng vậy, vì thương Bạn, vì thấy Bạn mến Chúa, vì muốn cho Bạn mến Chúa hơn, nên Chúa đã muốn dùng dịp đau đớn của Bạn, để Bạn có dịp nhớ Chúa, có dịp than thở cùng Chúa, có dịp tuân theo Thánh ý Chúa, và vì thế, làm Chúa sung sướng trong lòng.
Bạn thân mến, bây giờ thì Bạn đã hiểu thêm được tí nào chưa? Bạn hãy cầu xin Chúa cho Bạn hiểu rõ những điều tôi muốn nói với Bạn. Bạn hãy suy cho thấm thía, thì hết những sự đau đớn của Bạn sẽ không làm cho Bạn buồn phiền nữa. Ôi, ước gì Bạn hiểu được, khi làm cho Chúa vui thỏa thì Bạn được sung sướng chừng nào, và đó là một hạnh phúc to tát chừng nào! Còn gì làm thỏa một linh hồn bằng thấy mình làm sáng danh Chúa, dù chỉ trong những việc rất nhỏ mọn. Bây giờ thì có lẽ Bạn chưa hiểu mấy, nhưng tôi hy vọng rồi đây, khi Bạn đã tiến xa trên đường nhân đức. Bạn sẽ càng hiểu, và khi ấy, Bạn sẽ cám ơn Chúa vì đã tìm dịp cho Bạn hiểu.
Xin Chúa ban cho Bạn hiểu được điều tôi mới nói với Bạn. Sung sướng chừng nào, nếu từ nay Bạn vui lòng chịu khó vì Chúa, nếu từ nay Bạn không còn xin Chúa cất sự khó đi, mà chỉ xin Chúa giúp Bạn biết chịu khó.
Tôi nói lại, điều tôi hết lòng mong ước lúc này là thấy Bạn vui lòng chịu đau khổ để đẹp lòng Chúa.
Bạn nghĩ sao?
"Sống trong đau đớn khổ sở thì sống làm gì?"
Sống để làm gì? Thực ra cũng có rất nhiều lần tôi tự hỏi mình câu này. Tại sao lại là tôi? mà không phải là một cái gì khác? Tôi từ đâu đến? Rồi sẽ đi về đâu? Tôi đến đây với mục đích gì? Câu hỏi vẫn mãi là câu hỏi...
Vấn đề là chúng ta đang sống, đó là cơ hội đã có 1 nhưng chưa chắc đã có 2. Nhiều người đang muốn sống mà không được. Nhiều người đang được sống lại muốn chết đi. Chết, thì cuối cùng rồi ai mà chẳng phải chết. Có chi đâu mà phải vội vàng. Còn sống giờ nào ta còn cố níu kéo, biết đâu sẽ gặp nhiều chuyện hay. Nếu sống mà quá đau khổ, đó cũng là một cơ hội để trải nghiệm sự đau khổ, cái mà ít ai dám thử nếu đang còn khỏe mạnh. Cứ trải nghiệm thử xem trái đắng cuộc đời nó ...đắng đến đâu.
Còn nếu chết đi...điều đó quá dễ, nhưng có vẻ chúng ta đã đánh mất nhiều thứ. Hãy tiếp tục sống cho đến khi nào hết cơ hội....