-
Tibet
Menu
Ici, les adeptes du tantrisme Mahâyana et surtout Vajrayâna, trouveront quelques mantras courants et d'autres moins usités. Tout en sachant qu'ils n'appartiennent pas au Bouddhisme originel, il est recommandé, cependant, pour leurs prononciation, signification, portée, incidence et intonation de s'en référer au maître ou lama enseignant. Il est fortement déconseillé, voire même pour certains dangereux, de les énoncer sans ces précautions préliminaires. Abacadabra, n'est-ce pas !!!!
Omtare.GIF (4920 octets)
******
Mantras courants que l'on récite selon l'usage en vigueur
3, 7, 21 fois ou même 108 fois
Bouddha Shakyamouni = Om Mouni Mouni Mahamouni Yé Soha
******
Manjushri - la connaissance transcendante = Om Ah Ra Pat Sa Na Dhi
******
Tara - Protectrice exauçante des voeux spirituels et matériels = Om Taré Tuttaré Turé Soha
******
Avalokitshvara / Chenrézi - la compassion universelle = Om Mani Pémé Hung
******
Bhaishajyaguru /Sangyé menla/ Bouddha de médecine = Om Békanzayé Békanzayé Mahabékanzayé Radza Samougaté Soha
******
Amitabha - Bouddha de l'Au-Delà = Om Wa Kyé Dam Na Ma
******
Om Svabhava Suddah Sarva Dharah Svabhava Suddho'Ham Ah Hum
******
Om Ah Hum Vajra Guru Siddhi Hum
******
Om Yamantaka Hum Phat
******
Om Vajra Sattva Hum Phat
******
Om Bam Sam Dza Soha
******
Om Benza Ayou Ké Soha
******
Om Sarwa Tathagata Béwalokité Soha
******
Om Amrita Ayour Dadé Soha
******
Om Amidé Oua Hri Houng
******
Om Péma Dari Houng
******
Om Barata Pémé Houng
******
Om Mani Benzéni Houng
******
Om Péma Tsdintamani Maha Bézar Bara Houng
******
Om Amogachila Sambara Sambara Bara Bara Maha Chouda Sato Péma Bibou Kita Bounza Dara Dara Aoualokité Houng Pé Soha
******
Om Hri Trélokya Bidzaya Amogha Pacha Atratihata Hri Ha Houng Pé Soha
******
Om Pémo Ouknikha Bimalé Houng
******
Om Mani Bézir Houng
******
Om Mani Dari Houng Pé Soha
******
Om Mani Pémé Houng Arapa Tsamita Hri Daya Soha
******
Om Dram Kouti Parama Soubagué Soha
******
Om Kétsara Gam Houng Hri Ta
******
Om Dourou Dourou Dzayé Mouké Soha
******
Om Dharé Dharé Bendharé Soha
******
Om Pentsa Ndriya Awa Bodhani Soha
******
Namo Mendzou Chriye Namo Sou Chriye Namo Outtama Chriye Soha
******
Om Hang Kcha Ma la Oura Ya Soha
******
Om Béndza Amrita Koundali Hana Hana Houng Pé
******
Om Soubhawa Chouddha Sarwa Dharma Soubhawa Chouddho Hang
******
Om Akaro Moukham Sarwa Dharménam Adé Nupén Natota Om Ah Houng Phé Soha
******
Om Abhira Houng Khé Tsa Mam Soha
******
Om Ghé Tsa Na Houng
******
Om Kouroum Guini Soha
******
Om Ah Hum Ami Dewa Ayu Siddhi Hum
******
Om Drum Soha
******
Om Vajra Pancha Amrita Balingta Rakta Kharam Ka Hi Hum
******
Om Mani Ratna Hum
******
Om Ratna Mandala Hum
******
OM Benza Argam Soha/Om Benza Padeam Soha/Om Benza Chapda Ah Houng
******
OM Shunyata Jnyana Benza Sobhaoua Atma Ko Ham
******
OM Soutra Tikta Benza Ye Soha
******
Om Ah Houng
******
OM Dâna Paramita Hum Hum Phat
OM Silâ Paramita Hum Hum Phat
OM Kshânti Paramita Hum Hum Phat
OM Vîrya Paramita Hum Hum Phat
OM Dhyâna Paramita Hum Hum Phat
OM Jñâna Paramita Hum Hum Phat
******
OM Sri Kalachakra Mandala Saparivaribhyah Namah
******
Om Ye Dharma
******
Om Sarva Tathagata Abisheka Te Samaya Sri Yé Hum
******
OM Shanti Shanti Shanti Hari Om Tat Sat
******
enfin, le mantra, dit des 100 syllabes:
Om Vajra Sattva Samaya Manoupalaya Vajrasattva Tvenopatishta Dridho Me Bhava Soutosyo Me Bhava Souposyo Me Bhava Anourakto Me Bhava Sarva Siddhim Me Preycha Sarva Karma Sucha Me Chittam Shreyah Kourou Hum Ha Ha Ha Ha Ho Bhagavan Sarva Tathagata Vajra Ma Me Munca Me Vajri Bhava Mahasamayasattva Ah Hum Phat
Une traduction s'impose: la meilleure est celle de Philippe Cornu dans "le Miroir du Coeur" - Ed. Seuil:
Hommage au lien sacré de Vajrasattva, ô Vajrasattva protégez le lien sacré, puissiez-vous demeurer fermement en moi, donnez-moi complète satisfaction, croyez en moi, soyez bienveillant, accordez-moi tous les accomplissements, montrez-moi tous les karmas, rendez mon esprit bon, vertueux et de bon augure, essence du coeur de Vajrasattva, (quatre étapes de l'accomplissement ou extases: HA), ô Bienheureux qui personnifiez tous les Tathagâta de diamant ne m'abandonnez pas, accordez-moi la réalisation de la nature de vajra, grand être du Samaya, faites-moi un avec vous. "
******
Tibet
http://www.bouddha.ch/mantra.htm
-
-
-
The actual practice:
Say the mantras while mixing the plaster and water, or clay.
0M AHRANDZE BERANDZE SOHA
0M NAMO SAMENTA BUDDHANAM 0M VAJRA AYUKE SOHA
0M BENDZO BAWAYE SOHA
0M DHARMADHATU GARBE SOHA
0M VAJRA MUNGARA AKUYATA HUNG
0M BAYUTE SOHA
1) For the first print, think:
“I am making this tsa-tsa for the triple gem.” With your speech recite this prayer:
“May the teachings of Buddha spread and be developed. May the holy Dharma last a long time. May the
Sangha achieve the holy Dharma. May the highest enlightenment be accomplished.”
2) Now, for the second print, pray:
“May the lives and holy actions of the direct and indirect holy gurus be developed. May the experiences of
realizations in their holy minds be increased, and may the field of objects to be subdued increase.” Dedicate
that the holy wishes of the Gurus be fulfilled.
3) For the third print:
“May the wishes of all the fathers and mothers, the transmigrators of the six realms, be accomplished. May
all the suffering of each individual being be completely purified and may they achieve the state of
omniscience.”
4) For the fourth print:
“Due to the good karma of making offerings to the Sangha and of making statues of the holy bodies of the
arya beings, may the hallucinated minds of all the intermediate state beings be eliminated completely. May
they achieve the three kayas of enlightenment.”
5)for the fifth print:
“May I and all sentient beings accumulate merit and purify the two obscurations. May we pacify all disease
and sufferings, and increase our lives, merit, wealth and reputation. May I have whatever control I wish over
the three realms, human beings, possessions and food. I am requesting to dispel the bad conditions of
enemies, interferers, obstacles and untimely death.”
To consecrate the tsa-tsas:
0M VAJRA SUPATITA VAJRAYE SOHA
http://www.nalanda-monastery.eu/file...%20plaster.pdf
-
-
Khảo biện về kinh Dược Sư
NSGN - Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an cho cá nhân, gia đình, dân tộc và xứ sở. Đặc biệt, trong những ngày đầu năm, đàn tràng Dược Sư được các chùa tổ chức với nhiều thể thức, quy mô khác nhau. Tuy nhiên, điểm chung nhất giữa các đàn tràng đều lấy việc trì tụng bản kinh Dược Sư làm nền tảng.
Kinh Dược Sư có nhiều truyền bản và có 1ịch sử truyền dịch lâu đời. Đồng thời, nội dung bản kinh chứa đựng những yếu tố kỳ đặc, so với những quan điểm cơ bản của Phật giáo. Do vậy, việc khảo cứu về lịch sử bản kinh này cũng như biện giải những nội dung đặc thù được chuyên chở trong bản kinh, là điều quan tâm chính của khảo luận.
VG_DS (6).JPG
Hướng về Đức Phật Dược Sư - tại đàn Dược Sư tổ chức ở Việt Nam Quốc Tự - Ảnh: Vũ Giang
Truyền bản và niên đại
1. Vấn đề truyền bản
Theo Đại tạng kinh Đại chính tân tu, (ĐTK ĐCTT), kinh Dược Sư hiện có bốn truyền bản:
Kinh Phật thuyết quán đảnhBạt trừ quá tội sanh tử đắc độ (佛說灌頂拔除過罪生死得度經), là quyển thứ 12 thuộc bộ kinh Quán đảnh1 do ngài Bạch-thi-lê-mật-đa-la dịch vào thời Đông Tấn (317-420)2.
Kinh Phật thuyết Dược Sư Như Lai bổn nguyện (佛說藥師如來本願經)3, do ngài Đạt-ma-cấp-đa dịch vào niên hiệu Đại Nghiệp năm thứ 11 (615) đời nhà Tùy.
Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai bổn nguyện công đức (藥師琉璃光如來本願功德經)4 do ngài Huyền Tráng dịch vào niên hiệu Vĩnh Huy nguyên niên (650)5.
Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang thất Phật bổn nguyện công đức (藥師琉璃光七佛本願功德經)6, do ngài Nghĩa Tịnh dịch vào năm thứ ba niên hiệu Thần Long (707)7.
Một số biên khảo cho rằng, có 5 bản dịch kinh Dược Sư8. Tuy nhiên, theo chúng tôi thì chỉ có bốn bản dịch, vì căn cứ theo ngài Tăng Hựu trong Xuất Tam tạng ký tập, quyển năm, thì bản của Tỳ-kheo Tuệ Giản (慧簡)dịch vào niên hiệu Đại Minh nguyên niên (457), chính là sự sao chép và biên soạn từ bản của ngài Bạch-thi-lê-mật-đa-la9.Ngài Trí Thăng trong Khai Nguyên thích giáo lục, quyển 17 cũng khẳng định điều tương tự, và còn chỉ ra rằng, đây là sai lầm trong ghi chép của học giả phiên kinh Phí Trường Phòng10. Trong ĐTK ĐCTT hiện chỉ còn bốn bản dịch nêu trên, cũng là cơ sở biện minh cho quan điểm đó.
Trong bốn bản dịch này, nội dung cơ bản đều giống nhau. Chỉ riêng bản dịch của ngài Nghĩa Tịnh, thì ngoài nội dung tương tự như ba bản dịch nêu trên, còn thêm vào danh tự và thệ nguyện của sáu vị Phật. Sáu vị Phật này đều ở phương Đông, cách thế giới Ta-bà từ bốn đến chín hằng-già-hà-sa cõi Phật, sáu vị Phật này đều phát những lời nguyện cứu độ chúng sanh tương tự như Đức Phật Dược Sư.
Ngoài ra, theo Phật Quang đại từ điển11, thì Phật giáo Tây Tạng cũng lưu hành hai bản dịch kinh Dược Sư. Bản thứ nhất mang tên: Bcom-ldam ḥdas sman-gyi blavaidūryaḥi hod-kyi sṅon-gyi smon-lam-gyi khyad-par rgyas-pa, tương đồng với bản dịch của ngài Huyền Tráng. Bản thứ hai mang tên: De-bshin-gśegs-pa bdun-gyi sṅon-gyi smon-lam-gyi khya -par rgyas-pa, tương đương bản dịch của ngài Nghĩa Tịnh.
Trong kinh tạng tiếng Việt, hiện có nhiều bản dịch kinh Dược Sư được dịch từ bản Hán tạng của ngài Huyền Tráng, do các dịch giả uy tín như HT.Trí Quang, HT.Tuệ Nhuận, HT.Huyền Dung… phiên dịch.
2. Vấn đề niên đại và cơ sở Phạn bản
a) Về niên đại
Nghiên cứu về vấn đề truyền bản, đã cho thấy rằng, kinh Dược Sư có niên đại xuất hiện rất sớm vào thời Đông Tấn, do ngài Bạch-thi-lê-mật-đa-la dịch. Việc làm rõ niên đại của dịch giả cũng là một phương cách xác định niên đại xuất hiện bản kinh Dươc Sư.
Khảo sát các bộ Tăng sử ở Hán tạng cho thấy, ngài Bạch-thi-lê-mật-đa-la đến Trung Hoa vào khoảng niên hiệu Vĩnh Gia (307-313)12. Theo Phật Tổ thống kỷ, quyển 36, vào niên hiệu Vĩnh Xương nguyên niên (322), thời Tấn Nguyên Đế, ngài Bạch-thi-lê-mật-đa-la đến Kiến Khang (建康). Lúc này, thừa tướng Vương Đạo (丞相王導,276-339) cầu ngài làm thầy và thường theo ngài học pháp. Ngài viên tịch vào niên hiệu Hàm Khang (咸康:335-342), hưởng thọ hơn 80 tuổi.
Như vậy, theo niên biểu nêu trên, thì bản kinh Dược Sư đầu tiên do ngài Bạch-thi-lê-mật-đa-la dịch có niên đại vào khoảng đầu thế kỷ thứ tư.
b) Về cơ sở Phạn bản
Trong giai đoạn đầu của sự nghiệp dịch thuật kinh điển tại Trung Hoa, do thiếu cơ sở tham chiếu nên đã có sự lầm lẫn trong khi phân loại kinh văn. Bản kinh Dược Sư nằm trong trường hợp như vậy. Theo Xuất Tam tạng ký tập, quyển bốn, ngài Tăng Hựu đã nêu ra nghi vấn về bản kinh này trong một ghi chú nhỏ13.
Nghi vấn này sau đó được học giả phiên kinh Phí Trường Phòng sau khi tham cứu Phạn bản, đã cho rằng, quan điểm của ngài Tăng Hựu đã không đúng14. Cùng quan điểm này, ngài Trí Thăng trong Khai Nguyên thích giáo lục, quyển năm, cho rằng, ghi chú của ngài Tăng Hựu đã sai15.
Trong công trình khảo cứu và sưu tập các cổ thư trên thế giới, nhà sưu tập Martin Schøyen, Na Uy đã phát hiện kinh Dược Sư bằng ngôn ngữ Sanskrit có niên đại vào thế kỷ thứ sáu. Nguồn gốc bản kinh này được lưu xuất từ một tu viện của học phái Mahāsāṃghika,nơi mà ngài Huyền Tráng đã từng ghé thăm vào thế kỷ thứ bảy ở Bamyan, Afghanistan16.
Như vậy, kinh Dược Sư có cơ sở Phạn bản, ngay từ khi xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ tư, và hiện còn bằng chứng lịch sử từ bộ sưu khảo Martin Schøyen.
Khảo biện về nội dung
Trong kinh Tăng chi, chương Một pháp, phẩm Người tối thắng (A.i,23)17, Đức Phật đã lần lượt nêu dẫn và giới thiệu nhiều vị đệ tử đặc thù với khả năng chuyên biệt, có thể kể đến như: tối thắng về hạnh đầu-đà là ngài Mahā Kassapa, tối thắng về hạnh nhận sự cúng dường là ngài Sīvali, tối thắng về thi kệ biện tài là ngài Vaṅgīsa, tối thắng về đa văn là Tôn giả Ānanda, tối thắng trong việc nhớ đến đời sống quá khứ là ngài Sobhita, tối thắng về việc săn sóc người bệnh là nữ cư sĩ Suppiyā…
Có thể nói, Đức Phật không ngăn cản chí nguyện đặc thù của từng vị đệ tử, miễn làm sao những chí nguyện đó hợp với đạo, chuyên chở tự lợi và hàm nghĩa lợi tha, thì được Đức Phật cho phép, trợ duyên và tán thán.
Từ cơ sở này có thể hiểu được sở nguyện đặc thù của nhiều vị Phật, Bồ-tát, nhằm đáp ứng những sở cầu chuyên biệt của mọi loài, mà ở đây là thệ nguyện cứu chữa bệnh tật cho chúng sanh của Đức Phật Dược Sư, từ lúc còn ở giai vị Bồ-tát và mãi đến khi thành Phật.
Nội dung kinh Dược Sư đề cập đến nhiều chi tiết, trong khuôn khổ khảo cứu này, chúng tôi xin biện giải những nội dung cơ bản sau.
1- Thệ nguyện và sở cầu
Thệ nguyện ở đây là thệ nguyện cứu khổ, ban vui của Đức Phật Dược Sư được thể hiện trên nhiều phương diện như, cứu giúp chúng sanh bị đói rách, tật bệnh, thân hình xấu xa, bất tiện của nữ thân…và sở cầu của chúng sanh nhằm thoát khỏi tình cảnh đó. Đơn cử một trong những đại thệ nguyện đặc thù của Đức Phật Dược Sư:
Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ-đề, nếu có chúng hữu tình nào bị những chứng bịnh hiểm nghèo không ai cứu chữa, không ai để nương nhờ, không gặp thầy, không gặp thuốc, không bà con, không nhà cửa, chịu nhiều nỗi nghèo hèn khốn khó, mà hễ danh hiệu ta đã nghe lọt vào tai một lần thì tất cả bệnh hoạn khổ não đều tiêu trừ, thân tâm an lạc, gia quyến sum vầy, của cải sung túc, cho đến chứng được đạo quả Vô thượng Bồ-đề18.
Ở đây, cụm từ danh hiệu ta đã nghe lọt vào tai một lần,(我之名號,一經其耳)cần được hiểu đó chính là việc trì niệm danh hiệu Đức Phật Dược Sư, trong tai khi nào cũng nghe tên Đức Phật Dược Sư (經者,道之常)19.
Để hiểu tại sao việc niệm danh hiệu Đức Phật Sư có năng lực như thế, nên chăng đọc lại kinh Tăng chi, chương Một pháp, phẩm Một pháp (A.i,30) có thể làm sáng tỏ thêm về điều này:
Có một pháp, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Phật20.
Một pháp rất đơn giản nhưng mở ra vô số diệu dụng, do vì lẽ đó nên pháp hành này có những yêu cầu rất cao. Một trong những yêu cầu cơ bản và quan trọng của pháp này là việc niệm Phật thường được tu tập (bhāvito), được làm cho sung mãn (bahulīkato). Sự an tịnh (upasamāya) của thân tâm sở dĩ có được là do hành trì pháp này đến mức chuyên nhất.
Như vậy, việc niệm Phật chuyên nhất mở ra vô số diệu dụng, từ chữa lành bệnh tật, đầy đủ thức ăn…cho đến giác ngộ, Niết-bàn. Sở dĩ hành giả trì niệm danh hiệu của Đức Phật Dược Sư, nhưng chưa thực sự tu tập (bhāvito), chưa được sung mãn (bahulīkato), thế nên vẫn chưa nhận được kết quả như mong muốn.
Theo Vô tỷ pháp, thì thuật ngữ Bahulīkata còn mang nghĩa là định21. Định, Phạn ngữ gọi là Sammādhi, Trung Hoa phiên âm là Tam-muội. Do vậy, khi niệm Phật đến mức sung mãn (Bahulīkata) cũng chính là đạt tới niệm Phật Tam-muội. Theo luận Đại trí độ, quyển thứ bảy: Niệm Phật Tam-muội có thể diệt trừ vô lượng phiền não và các tội lỗi quá khứ… Niệm Phật Tam-muội có thể độ chúng sanh do phước đức lớn22.
Trên một phương diện khác, cần phải thấy rằng, với lòng thương lớn, chư Phật bao giờ cũng quan tâm đến chúng sanh, và sự quan tâm càng gia tăng khi có những Đức Phật với lời nguyện đặc thù, chuyên gia hạnh vào những sở cầu cụ thể của chúng sanh như Đức Phật Dược Sư.
Có thể nói, mỗi vị Phật, Bồ-tát đều có những bản nguyện đặc thù. Khi thắng duyên hội đủ, sẽ tạo nên sự cơ cảm giữa bản nguyện của chư Phật và sở cầu chúng sanh. Trong thực tế, sự cơ cảm giữa bản nguyện của Đức Phật và sở cầu của chúng sanh hiện còn nhiều bằng chứng trong lịch sử kinh điển23.
2- Minh giải về hoạnh tử
Theo kinh Tương ưng (S.ii,2), chết là sự tàn lụi và chấm dứt của ngũ uẩn. Kinh ghi:
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là già, chết? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị già, yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ tàn lụi, các căn chín muồi. Ðây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, sự từ bỏ, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn hư hoại, thân thể vứt bỏ. Ðây gọi là chết. Như vậy, đây là già, đây là chết. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là già, chết24.
Theo luận giải của ngài Anuruddhācariyatrong tác phẩm Abhidhammattha Saṅgaha: Cái chết sở dĩ diễn ra do bốn nguyên nhân: thọ diệt, nghiệp diệt, cả hai diệt và sát nghiệp (Āyukkhayena kammakkhayena ubhayakkhayena upacchedakakammunā ceti catudhā maraṇuppatti nāma)25. Sát nghiệp (upacchedakakamma) là trọng nghiệp cắt đứt mạng sống thình lình, là một cái chết phi thời (akālamaraṇa), và cũng có thể gọi là hoạnh tử.
Hoạnh tử là một cái chết không đúng thời. Trong kinh Tương ưng, hoàng thân Mahānāma nêu dẫn về những trường hợp chết không đúng thời do con gặp con voi cuồng chạy; con gặp con ngựa cuồng chạy; con gặp người cuồng chạy; con gặp cỗ xe lớn cuồng chạy; con gặp cỗ xe nhỏ cuồng chạy26.
Trong luận Tứ đế cũng nêu định nghĩa:Tự mình hoặc do người khác, dùng các phương tiện như thuốc độc, lửa thiêu, đao trượng…làm cho chấm dứt mạng căn, nên gọi là hoạnh tử27.
Trong kinh Pháp cú thí dụ, Đức Phật dạy rằng: Trong đời sống nhân sanh, có ba loại chết oan uổng. 1, Có bệnh nhưng không được chữa trị nên bị chết oan uổng. 2, Tuy được chữa trị, nhưng không thận trọng nên bị chết oan uổng. 3, Do kiêu mạn, buông lung, tự tiện, không biết lẽ đúng sai nên bị chết oan uổng28.
Kinh điển Hán tạng và Nikāya ghi nhận rất nhiều trường hợp hoạnh tử, như: Phật thuyết cửu hoạnh kinh, Ma-ha tăng-lỳ-luật, quyển 28, Du-già sư địa luận, quyển 31…Theo kinh Giới phân biệt29, trong khi cùng trú tạm qua đêm ở lò gốm, thanh niên Pukusāti hạnh kiến Đức Phật, sau đó quy ngưỡng xin xuất gia và cầu thọ giới pháp. Trong khi đi tìm y bát để được truyền trao giới pháp, Pukusāti bị tử nạn do gặp phải một con bò cuồng chạy. Tuy nhiên, do vừa đoạn năm hạ phần kiết sử, thanh niên Pukusāti đã chứng quả Bất lai, không phải tái sinh lại cõi đời này nữa.
Như vậy, chín thứ hoạnh tử mà kinh Dược Sư miêu tả không những có cơ sở từ kinh điển, mà còn làm rõ thêm các phương cách đặc thù trong việc chấm dứt sự tồn tại của chúng sanh.
Trong thời đại ngày nay, khi đời sống luôn bị đoanh vây bởi dục vọng và phiền não, thì càng có nhiều cái chết hoạnh tử xảy ra.
Xem ra, khát vọng được sống, sống đúng với thọ mạng mà không bị hoạnh tử, vẫn là một mong mỏi cháy bỏng từ ngàn xưa cho đến hôm nay, và cũng từ đây đã mở ra vấn đề kéo dài sự sống, hay còn gọi là diên mạng.
3- Diên mạng và nhân quả
Trong thực tế đời sống, thọ mạng của mỗi người không đồng nhau và cái chết của mỗi người cũng diễn ra khác biệt do nghiệp lực sai khác nhau.
Diên mạng là phương cách kéo dài mạng sống nếu thọ mạng chưa hết. Diên mạng có thể được hiểu như là được cung cấp đúng mực và đầy đủ thức ăn, nước uống để tồn tại, được điều trị thuốc thang khi gặp phải bệnh tật, được sống trong môi trường an ninh và an toàn, được hội đủ điều kiện để chuyển hóa các trọng nghiệp của bản thân. Diên mạng vì vậy không trái với nhân quả mà tuân theo quy luật nhân quả. Vì lẽ, sự sống là sự kết hợp của nhiều yếu tố mà trong đó, diên mạng chỉ là một điều kiện trợ duyên, và là phương cách bổ sung, tăng cường những điều kiện cần thiết giúp bảo toàn sinh mạng.
Có thể thấy, đời sống của một chúng sanh có thể chấm dứt một cách đột ngột nếu như gặp phải một trọng nghiệp đến thời phải trổ quả. Nếu nhận ra sự thật này và dùng các biện pháp cần thiết và phù hợp thì đôi khi có thể kéo dài sinh mạng.
Trong kinh Phật thuyết cửu hoạnh, cho rằng nếu như gặp phải voi say, ngựa chứng, bò điên, xe cộ, rắn độc, hầm hố, nước, lửa, chiến loạn, người say, kẻ xấu cũng như bao điều tệ ác khác (弊象,弊馬,牛犇,車,蛇虺,坑井,水火,拔 刀,醉人,惡人, 亦餘若干惡)30…nếu bậc có trí tuệ thì sẽ biết và tránh các nhân duyên đó (慧人當識當避是因緣)31để bảo toàn tính mạng. Và đây cũng là một trong những phương cách cụ thể để diên mạng.
Mặt khác, tùy theo tính chất của nhân dẫn đến thời gian trổ quả nhanh hay chậm. Có những nhân gây ra kết quả tức thời và cũng có những nhân tạo ra kết quả ở thời gian lâu xa.
Câu chuyện Tỳ-kheo Kokālika trong kinh Tăng chi (A.v,170) là một bằng chứng nhân quả gần như tức thời, vì lẽ sau khi vừa mắng chửi Tôn giả Sāriputta và Moggallāna xong thì toàn thân mọc lên những mụt nhọt lớn bằng hột cải. Từ hột cải, chúng lớn lên bằng hột đậu xanh (mugga). Từ hột đậu xanh, chúng lớn lên bằng hột đậu lớn (kalāya). Từ hột đậu lớn, chúng lớn lên bằng rolatthi (hột cây jujube, cây táo). Từ hột rolatthi, chúng lớn lên bằng hột kolama. Từ hột kolama, chúng lớn lên bằng hột amala (a-ma-la quả). Từ quả amala, chúng lớn lên bằng quả beluva chưa chín. Từ quả beluva chưa chín, chúng lớn lên bằng quả billa. Từ hình lớn bằng quả billa, chúng nứt vỡ ra, chảy máu và mủ32.
Ở đây, dù nhanh hay chậm, thì yêu cầu cơ bản để khi đi từ nhân đến quả là phải có yếu tố thời gian. Tính chất khác thời mà chín (異時而熟)33 luôn có mặt trong tiến trình nhân quả.
Chính vì vậy, khi đã lỡ gây nhân, nhưng nếu kịp thời ăn năn và vận dụng các biện pháp phù hợp tùy theo nhân đã gây tạo, thì có thể góp phần thay đổi phần nào tính chất của kết quả. Tính chất tích cực trong lý thuyết nhân quả của Phật giáo thể hiện ở điểm này. Vì lẽ, nhờ tính chất bất định và có khả năng thay đổi đó, mà hàng phàm phu có cơ may tiến lên Thánh vị và kẻ hung ác có cơ hội quay đầu.
Có thể nói, diên mạng là những giải pháp nhằm kéo dài sự sống mang tính trợ duyên. Khi duyên thay đổi theo chiều hướng tích cực, thì quả có thể thay đổi. Do vậy, diên mạng nằm trong khuôn khổ và tuân theo quy luật nhân quả.
4- Những phương cách diên mạng
a) Theo kinh Dược Sư
Theo kinh Dược Sư, những phương cách diên mạng chính là:
- Giữ tám phần trai giới.
- Niệm danh hiệu và lễ bái Đức Phật Dược Sư.
- Thắp 49 ngọn đèn.
- Làm một lá phướn ngũ sắc.
- Cúng dường chư Tăng tứ sự.
- Phóng sanh 49 loại.
- Khởi tâm từ bi.
- Ân xá kẻ tù tội.
- Rải các thứ hoa.
- Đốt các thứ hương thơm cúng dường.
Có hai chi tiết đáng lưu ý về những giải pháp diên mạng được nêu dẫn trong kinh Dược Sư cần được minh giải. Thứ nhất là danh từ “Thần phan tục mạng”. Thứ hai là con số 49.
Về thần phan tục mạng, cần phải hiểu rằng, việc cúng dường phan có khả năng tăng trưởng thọ mạng, nên thường gọi tắt là thần phan tục mạng.
Theo nghĩa ban đầu từ kinh điển, tràng phan là một lá cờ biểu trưng cho Đức Phật hay trí tuệ của Đức Phật, tùy theo hình dạng mà được phân ra là tràng, hay phan.
Theo kinh Tương ưng, kinh Đầu lá cờ (Dhajaggam, S.i,218)34 khi có sự hiện hữu lá cờ của Đức Phật, bản kinh Hán tạng tương đương gọi là lá cờ cao rộng (高廣之幢)35. Là ngọn cờ biểu trưng cho trí tuệ (智慧高幢)36, hay lá cờ của những vị Thiên tướng, thì sẽ không còn sợ hãi, đem lại an ổn cho chúng sanh.
Như vậy, trong nghĩa thứ nhất, an ổn và an toàn là một trong những nghĩa cụ thể của diên mạng, và sở dĩ có được là do sự hiện diện của lá cờ mang tính biểu trưng cho Đức Phật. Có thể tìm thấy nghĩa biến thể tương đương về lá cờ này trong thư tịch Hán tạng, gọi là Trục ma thần phan (逐魔神幡)37. Trong nghĩa thứ hai, thần phan ở đây chính là ngọn cờ trí tuệ, ngọn cờ Chánh pháp, khi nêu cao ngọn cờ Chánh pháp, tức quảng diễn nghĩa lý kinh điển, cũng là một phương cách để diên mạng có cơ sở kinh điển.
Về con số 49. Trong không gian văn hóa Ấn Độ, số 7 là con số thành, là con số thiêng trong văn hóa Hindu, biểu trưng cho sự mỹ mãn(Saptaसप्त)38. Bảy lần bảy là 49, là tích số biểu trưng cho mọi sự tròn đầy, mỹ mãn.
Khi dùng con số này để minh họa về mức độ, số lượng…hàm nghĩa rằng, mức độ tối ưu và số lượng hợp lý trong khả năng có thể. Cụ thể là, theo kinh Dược Sư, khi làm phan dài 49 gang tay, mang ý nghĩa là dài trong khuôn khổ hợp lý nhất của đàn tràng. Phóng sanh 49 loài vật khác nhau, tức là phóng sanh với khả năng có thể, với các giống loài có thể. Cần phải phân biệt ý nghĩa biểu trưng thông qua ẩn dụ, trong văn hóa cũng như trong kinh điển.
Những phương cách diên mạng, đem lại sự thịnh vượng cho cá nhân, dân tộc và xứ sở được đề cập trong kinh Dược Sư, có thể tìm thấy cơ sở liên hệ trong kinh điển Hán tạng và Nikàya.
b) Theo kinh tạng Nikàya
Trong kinh tạng Nam truyền, cụ thể là kinh Tăng chi, Đức Phật dạy rằng, nếu bố thí thức ăn thì sẽ thành tựu 4 điều và một trong số chúng là được tăng tuổi thọ. Kinh ghi:
Những ai khéo chế ngự,
Sống bố thí người khác,
Ai tùy thời nhiệt thành,
Bố thí đồ ăn uống,
Ðem lại cho các vị,
Bốn sự kiện như sau,
Cho thọ mạng, dung sắc,
Cho an lạc, sức mạnh39.
Đặc biệt, trong tác phẩm Tích truyện Pháp cú, tức là bản Sớ giải kinh Pháp cú tương truyền là của ngài Budhaghosa, đã ghi lại một câu chuyện hết sức kỳ đặc về việc gia tăng tuổi thọ:
Có hai Bà-la-môn sống ở thành Dīghalambika, tu theo ngoại đạo và khổ hạnh suốt bốn mươi tám năm. Một người sợ dòng giống bị diệt vong nên hoàn tục. Ông bán công đức của mình cho người khác, và với một trăm trâu bò, một trăm đồng, cưới vợ sống đời gia chủ. Chẳng bao lâu ông được một mụn con trai. Tu sĩ kia, bạn cũ của ông, đi nơi khác, một hôm trở về thăm. Họ chào mừng lẫn nhau. Tu sĩ chúc cả hai vợ chồng sống lâu, nhưng khi đứa bé được trình diện thì tu sĩ lặng thinh. Ông cha thắc mắc và được tu sĩ giải thích có một tai họa đang chờ đứa bé, và nó sẽ chết trong bảy ngày. Cả hai ông bà hoảng hốt không biết tính sao. Tu sĩ khuyên nên đến cầu cứu với Sa-môn Cồ Đàm. Họ ngần ngừ vì sợ mang tiếng bỏ những ẩn sĩ của mình, nhưng lòng thương con mãnh liệt khiến họ rồi cũng đến Thế Tôn. Họ đến chào Thế Tôn, được Phật chúc sống lâu, nhưng đến phiên đứa bé Phật cũng lặng thinh, cùng lý do như tu sĩ đã nói. Ông cha thỉnh cầu Phật ngăn đừng cho tai họa cướp mất đứa bé. Phật dạy:
- Nếu ông dựng trước cửa nhà một cái lều, đặt một ghế ở giữa, sắp tám hay mười sáu chỗ ngồi vòng quanh cho đệ tử của Ta; và nếu ông cho tụng những bài kinh cầu an và ngăn ngừa tai họa suốt bảy ngày liên tục, thì con ông sẽ tránh được hiểm họa.
Bà-la-môn làm đúng theo lời Phật, và các Tỳ-kheo đã đọc tụng đúng bảy ngày đêm liên tiếp. Ðến ngày thứ bảy Thế Tôn đến, chư thiên các cõi cũng tụ hội. Có một quỷ Dạ-xoa phụng sự cho Vessavana tên là Avarudhaka suốt mười hai năm, được ân huệ là bảy ngày nữa sẽ nhận được đứa bé, đi đến đứng đợi. Nhưng có mặt Thế Tôn và thiên thần đầy quyền lực, các vị khác yếu hơn đều phải thối lui mười hai dặm nhường chỗ, cả Avarudhaka cũng thế.
Phật đọc kinh cầu an suốt đêm, kết quả sau bảy ngày Dạ-xoa không bắt được đứa bé. Bình minh ngày thứ tám, đứa bé được đặt trước Thế Tôn và được chúc sống lâu, đến một trăm hai mươi tuổi theo lời Phật, do đó có tên là “Chàng trai tăng tuổi thọ” Ayuvaddhana. Lớn lên chú có năm trăm đệ tử cư sĩ đi theo.
Một hôm các Tỳ-kheo thảo luận trong Pháp đường về Ayuvaddhana, và không hiểu tại sao mạng sống của chúng sanh được gia tăng ở thế gian này. Phật nghe được liền bảo:
- Các Tỳ-kheo! Không phải chỉ có tuổi thọ mà thôi. Ở thế gian này chúng sanh biết tôn kính và lễ trọng những vị đạo đức, sẽ được tăng trưởng bốn pháp, thoát khỏi nguy hiểm và sống an toàn suốt đời.
Và Ngài đọc Pháp cú:
(109) Thường tôn trọng, kính lễ,
Bậc kỳ lão trưởng thượng,
Bốn pháp được tăng trưởng,
Thọ, sắc, lạc, sức mạnh40.
Theo đối khảo, câu Pháp cú Nam truyền này tương đương câu 274 trong Pháp cú Bắc truyền:
Ai sống đời lễ nghĩa
Kính trọng bậc cao minh
Bốn phước đến với mình:
Sống thọ, khỏe, đẹp, an41.
Như vậy, giải pháp diên mạng trong trường hợp này là tôn trọng và kính lễ bậc trưởng thượng, thông qua hình thức tụng kinh, cầu nguyện, nghi lễ, là cơ sở để tăng tuổi thọ theo sớ giải kinh Pháp cú.
c) Theo kinh văn Hán tạng
Trong kinh điển Hán tạng, những giải pháp nhằm gia tăng tuổi thọ được đề cập rất phong phú, chúng tôi xin lược trích các nguồn tư liệu sau.
Trước hết, theo kinh Pháp cú thí dụ: Muốn mạng sống được trường thọ, cần phải thực hành lòng thương yêu rộng khắp (欲得長命當行大慈)42. Câu chuyện Sa-di cứu kiến nên vượt qua nạn hoạnh tử và được tăng tuổi trong kinh Tạp bảo tạng là minh chứng về trường hợp này43.
Thứ hai, theokinh Phân biệt thiện ác báo ứng, Phật dạy rằng, có mười việc làm đem đến trường thọ:
- Xa lìa việc tự mình giết.
- Xa lìa việc khuyên bảo người giết.
- Xa lìa sự vui mừng khi thấy giết.
- Xa lìa việc tùy hỷ giết.
- Cứu kẻ bị giết bởi ngục hình.
- Phóng sanh mạng.
- Ban lòng vô úy với tha nhân.
- Thương yêu, chăm sóc người bệnh.
- Bố thí thức ăn, nước uống.
- Cúng dường đèn đuốc, tràng phan44.
Thứ ba, theo kinh Tạp bảo tạng, quyển bốn, ghi rằng:
Xưa, có vị Tỳ-kheo sắp chết, vô tình gặp Bà-la-môn ngoại đạo và được cho biết rằng, sau bảy ngày ông sẽ mạng chung. Lúc ấy vị Tỳ-kheo kia đang đi vào Tăng viện, thấy vách tường bị hư hỏng nên vo bùn thành viên sửa chữa lại. Do duyên phước đó nên tăng thọ mạng, vượt qua bảy ngày. Khi gặp lại, Bà-la-môn tỏ ra kinh quái nên cật vấn: “Ông đã tu phước gì?” Vị Tỳ-kheo đáp: “Tôi không tu gì cả, duy chỉ một lần vào chốn Tăng viện, thấy vách hư hỏng nên đã sửa sang”. Vị Bà-la-môn ca thán: Quả phước điền Tăng, cực kỳ tối hảo, có thể khiến một Tỳ kheo sắp chết được kéo dài mạng sống và được trường thọ45. Ở đây, nghĩa chính của câu chuyện này là tu bổ, cúng dường chỗ ở cho chư Tăng đem lại phước quả trường thọ.
Như vậy, những giải pháp diên mạng được nêu dẫn từ kinh Dược Sư như khởi tâm đại bi, phóng sanh, cúng dường, thắp đèn, làm phan, chí thành niệm danh hiệu Phật Dược Sư…là những giải pháp có cơ sở từ Hán tạng và cả trong kinh tạng Nikāya.
VG_DS (27).JPG
Phật tử trì tụng kinh Dược Sư trong mỗi tháng Giêng về - Ảnh: Vũ Giang
5. Thực nghĩa của thần chú Dược Sư
Trong những bản dịch âm bài chú kinh Dược Sư hiện có, chúng tôi chọn bản của ngài Nghĩa Tịnh. Nguyên văn bài thần chú như sau:
Nam-mô bạc già phạt đế, bỉ sát xã, lũ lỗ bệ lưu ly, bát lạt bà, hát ra xà dã, đát tha yết đa dã, a ra hát đế, tam miệu tam bột đà dã, đát điệt tha. Án, bỉ sát thệ, bỉ sát thệ, bỉ sát xã, tam một yết đế,sa ha.
(南謨薄伽伐帝, 鞞殺社,寠嚕薜琉璃, 鉢喇婆, 曷囉闍也, 呾他揭多也, 阿囉喝帝, 三藐三勃陀也, 呾姪他,唵鞞殺逝,鞞殺逝,鞞殺社,三沒 帝, 莎訶)
Trong kho tàng kinh điển Hán tạng, có những bài thần chú hoàn toàn có nghĩa nếu như được chuyển dịch ra. Bài thần chú Dược Sư là một trường hợp như vậy.
Theo tác phẩm Dược Sư kinh trực giải của Tỳ-kheo Tuệ Kiên Giới Sơn chủ biên46, soạn vào năm thứ ba (1684), niên hiệu Trinh Hưởng của Thiên hoàng Higashiyama (1687-1709), Nhật Bản, và các tác phẩm chú giải liên quan, cũng như tham chiếu từ điển Phạn ngữ, thì thực nghĩa của bài thần chú này vốn là một câu xưng tán Đức Phật Dược Sư theo giải tự như sau.
Nam-mô (Namo:नमो)46: kính lạy, tôn kính.
Bạt-già-phạt-đế (Bhagavate:भगवते)47: Thế Tôn.
Bỉ-sát-xã(Bhaiṣajya:भैषज्य)48: thuốc thang, cũng gọi là dược
Lũ-lỗ (Guru:गुरु)49: vị thầy, đạo sư.
Bệ-lưu-ly-bát-lạt-bà-hát-ra-xà-dã (Vailūrya-Prabha-Rājāya: वैडूर्यप्रभराजाय)5 0: Lưu Ly Quang Vương.
Đát-tha-yết-đa-dã (Tathāgatāya: तथागताय)51: Như Lai
A-ra-hát-đế (Arhate:अर्हते)52: Ứng cúng
Tam-miệu-tam-bột-đà-da(Samyaksambuddhāya:सम्यक्सम् ुद्धाय)53: giác ngộ hoàn toàn; chánh biến tri.
Đát-điệt-tha (Tadyathā:तद्यथा)54: theo phương cách sau; liền nói chú rằng.
Án (Oṁ:ओं)55: Đây là âm thanh trước khi bắt đầu lời cầu nguyện.
Bỉ-sát-thệ, bỉ-sát-thệ (Bhaiṣajye Bhaiṣajye:भैषज्येभैषज् े)56: bệnh tật sẽ được chữa lành.
Bỉ-sát-xã (Bhaiṣajya:भैषज्य)57: thuốc thang, liên quan đến thuốc58.
Tam-một-yết-đế (Samudgate:समुद्गते)59: Xuất hiện.
Sa-ha (Svāhā:स्वाहा)60: Lời cảm thán cát tường.
Như vậy, câu thần chú Dược Sư được tạm dịch như sau:
Kính lạy Thế Tôn, là Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, với lời thật ngữ: Mọi bệnh tật sẽ được chữa lành nếu thực hành phương thuốc của ta.
Nhận định
Xét về lịch sử, kinh Dược Sư có niên đại truyền dịch khá sớm trong kho tàng kinh điển Hán tạng. Người truyền dịch đầu tiên là ngài Bạch-thi-lê-mật-đa-la, một bậc thầy có thẩm quyền về Mật giáo61, chính vì vậy bản kinh lưu lộ những dấu vết cơ bản của tông phái này.
Với những cơ sở từ thư tịch Hán tạng, cộng với khảo chứng của nhà sưu tập Martin Schøyen, Na Uy, đã chứng minh rằng, bản kinh Dược Sư có nguồn gốc Phạn bản.
Trong những phương cách nhằm đem đến bình an, sức khỏe, sống thọ theo kinh Dược Sư là phải biết trang nghiêm bản thân bằng giới luật, thực hành lòng từ thông qua việc phóng sanh, bố thí cho người nghèo khổ, cúng dường tứ sự đến chư Tăng, tu tạo các phước thiện cần thiết... là những tiền đề có cơ sở từ kinh điển. Từ những kết quả phước thiện (Puṇyaphala)62 đang có, sẽ mở ra nhiều diệu dụng, mà diên mạng và bình an chỉ là những hoa trái khích lệ ban đầu. Ba cơ sở để tạo nên phước thiện công đức trong kinh Phúng tụng (Sangīti)63 như nghiêm trì giới luật, bố thí và tu tập hoàn toàn trùng khớp với những nội dung mà kinh Dược Sư đã nêu ra.
Tụng kinh để trú tâm trong thắng pháp, để hiểu lời Phật dạy và sau đó thực hành. Diệu dụng của pháp Phật chính là ở đây. Siêng năng trì tụng kinh điển nhưng không thực hành, thì tuy có phước đức, nhưng rất nhỏ nhoi và khó có thể đem đến những kết quả ưu thắng.
Chúc Phú
_______________________
(1) 大正藏第 21 冊 No. 1331 佛說灌頂經.
(2) 大正藏第 21 冊 No. 1331 佛說灌頂經,佛說灌頂拔除過罪生死得 經卷第十二.
(3) 大正藏第 14 冊 No. 0449 佛說藥師如來本願經.
(4) 大正藏第 14 冊 No. 0450 藥師琉璃光如來本願功德經.
(5) 大正藏第 55 冊 No. 2157 貞元新定釋教目錄,卷第十一.
(6) 大正藏第 14 冊 No. 0451 藥師琉璃光七佛本願功德經.
(7) 大正藏第 55 冊 No. 2154 開元釋教錄, 卷第九.
(8) Theo Phật Quang đại từ điển, và theo Lời dẫn của Tỳ-kheo Thích Nguyên Chơn, trong bản Việt dịch: Kinh Dược Sư thất Phật bản nguyện công đức.
(9) 大正藏第 55 冊 No. 2145 出三藏記集, 卷第五.Nguyên văn:灌頂經一卷(一名藥師琉璃光經或 灌頂拔除過罪生死得度經) 右一部. 宋孝武帝. 大明元年. 袜陵鹿野寺比丘慧簡. 依經抄撰(此經後有續命法所以偏行於 ).
(10) 大正藏第 55 冊 No. 2154 開元釋教錄, 卷第十七.
(11) Phật Quang đại từ điển, tập 1, Sa-môn Thích Quảng Độ dịch, Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn xuất bản, 200, tr.1380-1381.
(12) 大正藏第 50 冊 No. 2059 高僧傳, 卷第一, 帛尸梨密多羅.
(13) 大正藏第 55 冊 No. 2145 出三藏記集, 卷第四. Nguyên văn: (本名普廣菩薩經或名灌頂隨願往生十 淨土經凡十一經從七萬二千神王呪至 召五方龍王呪凡九經是舊集灌頂總名 灌頂經從梵天神策及普廣經拔除過罪 凡三卷是後人所集足大灌頂為十二卷 其拔除過罪經一卷摘入疑經錄中故不 載).
(14) 大正藏第 49 冊 No. 2034 歷代三寶紀, 卷第十.Nguyên văn:藥師瑠璃光經一卷(大明元年出. 一名拔除過罪生死得度經. 一名灌頂經. 出大灌頂經.祐錄注為疑房勘婆羅門本 有梵本神言小異耳).
(15) 大正藏第 55 冊 No. 2154 開元釋教錄,卷第五.Nguyên văn:藥師琉璃光經(亦云灌頂拔除過罪 死得度經出大灌頂經祐錄注為疑經者 ).
(16) http://www.schoyencollection.com/22-...hedika-ms-2385.
(17) Kinh Tăng chi bộ, tập 1, HT.Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2015, tr.58-63.
(18) Kinh Dược Sư bổn nguyện công đức, HT. Thích Huyền Dung dịch, Nxb Tôn Giáo, 2012, tr.66-67.
(19)“書.酒誥”經德秉哲.(傳)能常德持 智.(左傳.昭二十五年)夫禮,天之經也. (註)經者,道之常.
(20) Kinh Tăng chi bộ, tập 1, HT.Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2015, tr.67.
(21) Từ điển các thuật ngữ Vô tỷ pháp của ngài Tịnh Sự, được chép từ phần ghi chú thuật ngữ trong các bản dịch của ngài.
(22) 大正藏第 25 冊 No. 1509 大智度論, 卷第七. Nguyên văn:念佛三昧能除種種煩惱及先世罪… 念佛三昧有大福德,能度眾生.
(23) Với Đức Phật, khi Ngài hướng tâm đến một đối tượng nào đó, thì ngay tức khắc, như người lực sĩ duỗi cánh tay, Ngài sẽ nhận ra tâm tư, bối cảnh cụ thể và tùy theo đó mà có những lời dạy phù hợp. Theo Tích truyện pháp cú, phẩm Hạnh phúc, thứ 15, mỗi sáng sớm, Đức Phật quán sát thế gian xem ai đủ duyên để hóa độ. Trường hợp Phạm thiên Baka và các vị Phạm thiên khác vừa khởi lên tà kiến, thì Đức Phật đã nhận biết và ngay tức khắc, từ tinh xá Jetavana, Đức Phật hiện ra ở Phạm thiên giới để giáo hóa (S.i,142; S.i,144). Tương tự, khi Đức Phật về quê nhà lần đầu tiên, đọc được tâm không thanh tịnh của các vị thân bằng Thích tử, Đức Phật đã thị hiện biến hóa thần thông để giáo hóa.
(24) Kinh Tương ưng bộ, tập 1, HT.Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2013, tr.372
(25) Abhidhammattha Saṅgaha. Nguồn: http://www.dhammadipa.net/2014/12/08...%E1%B9%85gaha/.
(26) Kinh Tương ưng bộ, tập 2, HT.Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2013, tr.742.
(27) 大正藏第 32 冊 No. 1647 四諦論, 卷第二. Nguyên văn:毒火刀杖等自作或他作.因此命根 .是名橫死.
(28) 大正藏第 04 冊 No. 0211 法句譬喻經, 卷第一,多聞品第三. Nguyên văn: 人生世間,橫死有三:有病不治為一 死,治而不慎為二橫死,憍恣自用不 逆順為三橫死.
(29) Kinh Trung bộ, tập 2, HT.Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2012, tr. 579-588.
(30) 大正藏第 02 冊 No. 0150B 九橫經.
(31) 大正藏第 02 冊 No. 0150B 九橫經.
(32) Kinh Tăng chi bộ, tập 2, HT.Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2015, tr.650-651.
(33) 大正藏第 43 冊 No. 1830 成唯識論述記, 卷第一.
(34) Kinh Tương ưng bộ, tập 1, HT.Thích Minh Châu, dịch, Nxb Tôn Giáo, 2013, tr.336-339.
(35) 大正藏第 02 冊 No. 0125 增壹阿含經, 卷第十四, 高幢品
(36) 大正藏第 10 冊 No. 0279 大方廣佛華嚴經,卷第四十七,佛不思議 法品
(37) 大正藏第 21 冊 No. 1331 佛說灌頂經, 卷第五, 佛說灌頂呪宮宅神王守鎮左右經.
(38) M.Monier-Williams, A Sanskrit English Dictionary. Springfield, VA: Nataraj Books, 2014, p.1149-1150.
(39) Kinh Tăng chi bộ, tập 1, chương 4 pháp, phẩm Nguồn sanh phước, kinh Các đồ ăn, VNCPHVN, 1996, tr.674.
(40) Tích truyện Pháp cú, tập 2, Viên Chiếu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2012, tr.101-103.
(41) 大正藏第 04 冊 No. 0210 法句經, 卷上, 述千品. Nguyên văn:能善行禮節,常敬長老者,四福自 然增,色力壽而安.
(42) 大正藏第 04 冊 No. 0211 法句譬喻經, 卷第一.
(43) 大正藏第 04 冊 No. 0203 雜寶藏經, 卷第四, 沙彌救蟻子水災得長命報緣.
(44) 大正藏第 01 冊 No. 0081 分別善惡報應經. Nguyên văn: 一離自手殺,二離勸他殺,三離慶快 ,四離隨喜殺,五救刑獄殺,六放生 ,七施他無畏,八慈恤病人,九惠施 飲食,十幡燈供養.
(45) 大正藏第 04 冊 No. 0203 雜寶藏經, 卷第四. Nguyên văn: 昔有比丘,死時將至,會有外道婆羅門見 ,相是比丘,知七日後必當命終. 時此比丘,因入僧坊, 見壁有孔, 即便團泥, 而補塞之. 緣此福故, 增其壽命,得過七日.婆羅門見, 怪其所以, 而問之言: “汝修何福”. 比丘答言: “我無所修, 唯於昨日, 入僧房中,見壁有孔, 補治而已”. 婆羅門歎言: “是僧福田, 最為深重, 能使應死比丘續命延壽”.
(46) 卍新續藏第 21 冊 No. 0381 藥師經直解.
(47) M.Monier-Williams, A Sanskrit English Dictionary. Springfield, VA: Nataraj Books, 2014, p.528.
(48) Ibid., p.743.
(49) Ibid., p.767.
(50) Ibid., p.359.
(51) Ibid., p.767.
(52) Ibid., p.433.
(53) Ibid., p.93.
(54) Ibid., p.1181.
(55) Ibid., p.434.
(56) Ibid., p.235.
(57) Ibid., p.767.
(58) Ibid.
(59) 大正藏第 54 冊 No. 2125 南海寄歸內法傳, 卷第三,鞞殺社譯之為藥.
(60) M.Monier-Williams, A Sanskrit English Dictionary. Springfield, VA: Nataraj Books, 2014, p.1167.
(61) Ibid., p. 1284.
(62) 大正藏第 50 冊 No. 2059 高僧傳, 卷第一, 帛尸梨密多羅: Nguyên văn: 密善持呪術所向皆驗.
(63) M.Monier-Williams, A Sanskrit English Dictionary. Springfield, VA: Nataraj Books, 2014, p.632.
(64) Kinh Trường bộ, kinh Phúng tụng, HT.Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2013, tr.651.
Tin Liên Quan VĂN HÓA TỔNG HỢP
http://www.phatgiaoq1.com/pgq1/101/3...h-Duoc-Su.html
-
三○三、多陀阿伽度:梵Tathagath義為 來。
三○四、智慧箭勁利:大正藏作智慧 『到』利,勘諸本為『勁』利。
三○五、破憍慢諸賊:藏本作『破懈 諸賊』。
三○六、阿羅訶:勘北8673本寫作阿羅 ,梵Arhan阿羅漢,義為殺賊。
三○七、三藐三佛:梵Samyak sambuddhah義為正等正覺。
三○八、鞞闍遮羅那:梵Vidya carana 義為明行足。
三○九、自得妙道去:大正藏作自得 道『法』,勘諸本為妙道『去』。
三一○、修伽陀:梵Sugatah義為善逝。
三一一、路迦鞞陀:梵Lokavit義為世間 。
三一二、禪戒智等眼等八句:藏本前 後偈相倒
三一三、阿耨多羅:梵Anuttarah義無上 。
三一四、富樓沙曇藐:梵Purusa damya義為調御丈夫。
三一五、提婆魔[少/兔]舍:梵deva manusyanam,義為天人師。
=======
[DOC]法護大德您好 - 大藏文化
www.mahapitaka.com.tw/thardo.doc
Translate this page
您所校勘的大解脫經(敦煌寶藏校刊 ),實在是太好了。 ..... 南無水月光佛。 ...... na va ra ru ni ca ya tamale cale huru huru shivite mantra mantra mantrah svaha.
-
-
-
-
-
-
金刚界五方佛咒 / Mantra of 5 Dhyani Buddhas(Vajra)
中方大日如来(middle):Vairocana buddha
梵文注音:om a jinajika om hum
东方阿閦如来(east):Aksobhya buddha
梵文注音:om a vajra dhrika hum
南方宝生如来(south): Ratna sambhava buddha
梵文注音:om a ratna dhrika svahum
西方阿弥陀佛(west):Amita buddha
梵文注音:om a aroleka a hum
北方不空成就如来(north):Amogha siddhi buddha
梵文注音:om a pranca dhrika ha hum
=
释迦牟尼心咒 / 佛祖心咒 / Mantra of Sakyamuni
梵文注音:om muni muni maha muniye svaha
=
| 收藏级喷墨打印 | 2016
爱染明王咒 / Mantra of Ragaraja
梵文注音:om maharaga vajrosnisa vajrasattva jah hum ban hoh
http://www.jianshu.com/p/78cd4c43968e
-
https://i.imgur.com/lTyBH4i.jpg
灵修| My Blog | 第12页
my1my1.byethost9.com950 × 534Search by image
om varunaki candro hehu(hve) visama hr hum candroki bhaisajnada bhinaya svaha
-
https://1.bp.blogspot.com/-mzxxroqFf...%2592%2592.JPG
Agnostic仰庇神恩
blogger681 × 472Search by image
《大势至菩萨心咒》︰ HUM VAJRA PHAT OM VAJRA CHANDA MAHA RO KHA NA HUM PHAT 嗡 巴杂 嘿 嗡 巴杂 詹杂 摩诃 噜 呵 呐 吽 嘿
-
http://www.fomen123.com/fo/images/20...1215312980.gif
一、【一字佛顶轮王咒】:_qinqin_新浪 博客
新浪博客456 × 208Search by image
一、【一字佛顶轮王咒】:
-
-
-
-
http://s2.upanh123.com/2017/05/04/20...nts-125a5f.jpg
真佛金刚小栈: 一月2013
真佛金刚小栈- blogger444 × 640Search by image
恭请上师、法师、堂主或代表上香祝 。 真佛观想大礼拜。 恭请上师上法座、恭请法师上座。请 同门善信就坐。 一)唱炉香赞及清净赞炉香乍热。法 蒙薰
http://truebuddha-vajra999.blogspot.com/2013/01/
-
-
-
-
https://encrypted-tbn2.gstatic.com/i...cWq0J_MEnUDedg
转载]最灵验适合大众修持的神咒之王--准提咒(附准提求财法、准提开光 ...
新浪博客690 × 690Search by image
[转载]最灵验适合大众修持的神咒之王--
-
-
除一切盖障菩萨悲力陀罗尼
据《大日经·密印品》所述,此位菩萨 大士之扫除一切障碍真言为: 拿摩 瑟曼得 部塔囊(Namah samantabuddhānām! 归命一切佛!) 阿(ah!,除障之种子字,) 萨埵 系达譬乌德戈得(Sattva hitābhyudgata,有情善性挥发出来!) 特览 特览(Tram! Tram!,清除垢障!) 览 览(Ram! Ram!,证入圣果!) 斯瓦哈(svāhā 圆满成就!)
http://blog.sina.com.cn/s/blog_598808180102w54t.html
-
-
Ý nghĩa một số pháp khí Phật giáo
Đạo Phật có rất nhiều pháp khí như: Chuông, trống, bảng, khánh, tràng hạt, bình bát, cà sa, tích trượng v.v… mỗi thứ đều có một công dụng và ý nghĩa khác nhau. Có thứ dùng để làm hiệu lệnh quy củ trong chùa, hoặc để dùng vào việc nghi lễ bái sám như chuông, trống, bảng, khánh…, có thứ để dùng làm phương tiện tu niệm hoặc để tiêu biểu ý nghĩa giáo pháp như tràng hạt, bình bát, cà sa, tích trượng v.v…
Tóm lại tất cả các pháp khí trong đạo Phật đều là những bài kinh vắn tắt, là những phương tiện cần thiết, biểu dương ý nghĩa cao thâm của chánh pháp, và giúp cho người tu hành thêm phần dễ dàng tiến tu trên đường giải thoát.
Sau đây là các pháp khí trong đạo Phật.
1. Chuông:
a. Xuất xứ: Chuông không biết bắt đầu có từ bao giờ, nhưng việc dùng chuông thì trong các kinh truyện thường có nhắc đến. Kinh Tăng Nhất A Hàm có chép: “Mỗi khi tiếng chuông chùa ngân vang thì những hình phạt trong ác đạo được tạm thời dừng nghỉ, chúng sanh chịu hình phạt được tạm thời an vui”
Truyện Cảm Thông chép: “Ngày xưa Đức Phật Câu-lưu-tôn ở tại viện Tu-đa-la xứ Càn Trúc, đã tạo một quả chuông bằng đá xanh đánh vào những lúc mặt trời mọc. Khi chuông ngân thì trong ánh sáng mặt trời có các vị hóa Phật hiện ra, diển thuyết 12 bộ kinh, làm cho người nghe chứng được chánh quả không thể kể xiết”. Bộ Kim Lăng Chí chép: “Vua Hiếu Cao Hoàng đế đời Đường, nhân vì nghe lời sàm tấu của Tống Tề Khưu giết lầm kẻ tôi trung là Hòa Châu, nên khi chết bị đọa vào địa ngục. Một hôm có người bị bạo tử (chết thình lình), hồn thần đi lạc vào địa ngục, thấy một tội nhân bị gông cùm đánh đập rất khổ sở, hỏi ra mới biết vua Hiếu Cao nhà Đường. Vua gọi người bạo tử bảo rằng: “Nhờ ngươi trở lại dương thế nói với Hậu chúa ta rằng: Hãy vì ta mà đúc chuông cúng dường và làm các việc phước thiện.” Khi tỉnh lại, người bạo tử trên liền đến bái yết Hậu chúa và chuyển lời nhắn gửi của vua Hiếu Cao. Nghe vậy, Hậu Chúa liền thân đến chùa Thanh Lương, phát nguyện đúc một quả chuông để cúng dường và cầu siêu cho Hiếu Cao Hoàng đế”. (Bách trượng Thanh Qui, quyển 87, trang 68).
Và trong kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật cũng đã bảo ngài La Hầu La đánh chuông để giảng lý viên thường cho ngài A-nan nghe.
b. Ý nghĩa và cách sử dụng: Có 3 loại chuông thường dùng trong các tự viện là Đại hồng chung, báo chúng chung và gia trì chung.
- Đại hồng chung là loại chuông lớn. Chuông này gọi là chuông u minh, thường đánh vào lúc đầu đêm và cuối đêm. Đánh vào lúc đầu đêm có ý là nhắc nhở cơn vô thường nhanh chóng cho mọi người và đánh vào lúc cuối đêm là có ý thức tỉnh mọi người tinh tấn tu hành để chóng vượt ra ngoài vòng tối tăm đau khổ.
Đánh chuông này thường đánh 108 tiếng, tiêu biểu ý nghĩa đoạn trừ 108 phiền não căn bản (88 kiến hoặc, 10 tư hoặc, 10 triền: Vô tàm, vô quý, hôn trầm, ác tác, não, tật, trạo cử, thùy miên, phận, phú = 108 phiền não) của chúng sanh. Vì vậy, trong bài kệ chuông có câu: “Văn chung thanh phiền não khinh – dịch: nghe tiếng chuông phiền não nhẹ…” là ý nói nghe tiếng chuông thì 108 phiền não được tiêu trừ, tâm trí được nhẹ nhàng thanh thoát vậy. Bài kệ đọc trong khi nghe chuông đánh: “Văn chung thanh phiền não khinh, trí huệ trưởng bồ đề sanh, ly địa ngục xuất hỏa khanh, nguyện thành Phật độ chúng sanh, án già ra đế gia toá ha”. Còn khi đánh chuông thì đọc bài kệ: “Nguyện thử chung thanh siêu pháp giới, thiết vi u ám tất giai văn, văn trần thanh tịnh chứng viên thông, nhất thế chúng sanh thành chánh giác”, tiếp đến niệm danh hiệu Quán-thế-âm và thong thả đánh cho đủ 108 tiếng.
- Báo chúng chung, cũng gọi là Tăng đường chung, tức là thứ chuông dùng để báo tin trong khi nhóm họp, thọ trai và khóa tụng v.v… trong các tự viện.
- Gia trì chung, là thứ chuông dùng điều hòa và ra hiệu trong khi tụng kinh, lễ Phật cho được nhịp nhàng đều đặn.
2. Mõ:
a. Xuất xứ: Sách Sắc tứ thanh qui pháp khí về chương Mộc ngư có chép: “Tương truyền rằng: Loài cá luôn luôn thức không bao giờ ngủ. Vì vậy chạm nó theo hình cá là có ý: tiếng mõ có thể đánh thức được hôn tình, làm cho mọi người tỉnh cơn mê muội… “Sách Chích ngôn đời Đường có chép: “Có một người bạch y hỏi một vị trưởng lão người Thiên Trúc rằng: Vì sao ở các Tăng xá đều có treo mõ? Vị trưởng lão trả lời: Vì để kỉnh tỉnh chúnh Tăng ở tại Tăng xá. Người bạch y hỏi tiếp: Nhưng tại sao lại tạc hình cá? Vị trưởng lão không trả lời được. Người bạch y liền đến hỏi ngài Ngộ Biện, ngài giải thích: “cá là một loài không bao giờ nhắm mắt, cũng vì muốn người tu hành ngày đêm quên ngủ, gắng công tu tập, mau chứng quả nên treo và đánh mõ hình cá là có ý như vậy”.
b. Ý nghĩa và cách sử dụng: Có hai loại mõ: Mõ hình bầu dục có chạm đầu cá và mõ hình điếu chạm nguyên hình con cá nằm dài. Loại mõ hình bầu dục dùng để đánh trong khi tụng niệm, còn loại hình điếu thì thường treo ở nhà trù để đánh báo tin giờ trai phạn.
Đánh mõ có hai ý: Một là để cho khi tụng niệm được nhịp nhàng, không lộn xộn và như thế vừa giữ được vẽ trang nghiêm và nhất là làm cho người tụng niệm khỏi bị rối trí loạn tâm. Hai là để kỉnh thỉnh tâm trí người tụng niệm khỏi bị hôn trầm, và cũng chính vì ý này mà ở quai mõ, thân mõ thường chạm trố hình loài cá là một loài không bao giờ ngủ, luôn luôn tỉnh táo vậy.
Đồng thời, đánh mõ cũng còn có ý nghĩa là để báo tin thì giờ ăn uống, tu tập v.v…. trong các tòng lâm, tự viện như cách dùng bảng, khánh v.v…
3 .Trống:
a. Xuất xứ: Kinh Kim Quang Minh chép: “Một hôm ngài Tín Tướng Bồ tát nằm mộng thấy một cái trống lớn bằng vàng. Trống có hào quang sáng như mặt trời. Trong hào quang có rất nhiều các Đức Phật ngồi trên tòa sen lưu ly đặt dưới các gốc cây báu. Chung quanh các Đức Phật đều có trăm ngàn các vị đệ tử ngồi nghe pháp. Bấy giờ có một người giống như giáo sĩ Bà la môn, cầm dùi trống đánh mạnh vào chiếc trống vàng nói trên, tiếng trống vang rền nghe như lời kinh sám hối. Khi đã tỉnh mộng, ngài Tín-Tướng Bồ tát liền đem những điều mình được thấy được nghe trong giấc mộng trình lên đức Thế Tôn… “Kinh Lăng nghiêm chép: “A-nan (lời Đức Phật)! Ngươi hãy nghe tiếng trống mỗi khi dọn cơm xong, và tiếng chuông mỗi khi nhóm chúng trong tịnh xá Kỳ-Đà này. Tiếng chuông hoặc tiếng trống trước sau nối tiếp nhau. Vậy theo ý ngươi nghe được các thứ tiếng ấy là vì nó tự bay đến bên tai ngươi, hay tai của ngươi đến nơi những chỗ phát tiếng?”
b. Ý nghĩa và cách sử dụng: Trống có hai loại trống Đại và trống Tiểu, tức trống kinh. Trống đại là thứ trống lớn, đánh trong những lúc như trước khi đánh chuông u minh vào đầu đêm và cuối đêm. Đánh theo thể thức bài Tam luân cửu chuyển. Khi đánh trống đầu đêm đọc bài kệ: “Cổ thanh hướng hướng, xứ biến hà sa, thiên long bát bộ tiến kha kha, tam-luân cửu chuyển sanh tử đoạn, độ tận chúng sanh xuất ái hà”, và tiếp đọc 5 danh hiệu: Nam mô Cổ-lôi-âm Bồ-tát ma-ha-tát. Còn đánh trống vào cuối đêm thì thường đọc bài kệ: “Lôi cổ đằng xao nghiệp chướng tiêu, tam luân cửu chuyển hướng tiêu tiêu, thượng thăng thiên giới quần thiên lạc, hạ thấu u quan chúng quỷ siêu”, và tiếp đọc 3 lần danh hiệu: Nam mô Siêu lạc Độ Bồ-Tát ma-ha-tát.
Hai bài kệ trên đây ngụ ý nói: Tiếng trống là tượng trưng cho chánh pháp, chúng sanh nghe trống chánh pháp thì nghiệp chướng tất tiêu trừ và sẽ được thoát ly luân hồi sanh tử.
Ngoài ra, trong những khi thuyết pháp, khi làm lễ lớn ở điện Phật, cũng đều có dùng đến thứ trống lớn này. Khi thuyết pháp thì đánh 3 hồi để triệu tập thính chúng, còn khi làm các lễ lớn như thỉnh Tam-bảo, khai kinh v.v… thì đánh theo thể thức bài Bát-nhã-hội mà thường gọi là “chuông trống bát nhã”.
Cách đánh chuông trống Bát-nhã: đánh theo từng chữ một trong bài kệ Bát-nhã-hội. Đoạn đầu của bài kệ thì nên đánh lớn tiếng và đánh chầm chậm, từ nửa bài kệ về sau thì đánh nhỏ tiếng dần, đánh thúc cho đến khi chấm dứt và đánh đủ 3 lần.
Bài kệ đánh trống Bát-nhã: Bát-nhã-hội (đánh 3 lần), thỉnh Phật thượng đường (1 lần), Đại chúng đồng văn (1 lần), Bát-nhã-âm (1 lần), Phổ nguyện Pháp giới (1 lần), Đẳng hữu tình (1 lần), nhập Bát-nhã (1 lần), ba-la-mật môn (đánh nhiều lần và đánh nhỏ tiếng cho đến khi chấm dứt).
Đại ý bài kệ này là cung thỉnh Phật nói lý Bát-nhã và nguyện cho Đại chúng hiện tiền cùng tất cả chúng sanh đều được thâm nhập giáo lý cứu cánh ấy.
Còn trống tiểu là thứ trống nhỏ dùng đánh trong những khi tụng kinh bái sám v.v… nên cũng gọi là “trống kinh”.
Cách đánh trống này rất phức tạp, không có một qui luật nhất định, đại khái là chỉ đánh theo nhịp và âm vận trầm bổng của các bài kinh tán mà thôi. Đánh trống này với mục đích là đở hơi cho người tán tụng, thứ nửa là giúp cho buổi lễ được tăng phần trang nghiêm long trọng và cũng là một món nhạc khí trong các món nhạc khí cúng dường Tam-bảo.
4. Bảng khánh:
a. Xuất-xứ: Sách tượng khí tiêu quyển thứ 18 có chép: “Ngài Vân Chương nói: hình của bảng giống như đám mây, nên người ta cũng thường gọi tên của bảng là Vân bảng.” Ngài Tục sự lão cũng có thuật: “Vua Tống thái Tổ cho rằng, tiếng trống hay giật mình người ngủ, nên thay vì dùng trống vua Tống Thái Tổ chế dùng thiết khánh (khánh bảng thiết).” Loại khánh này cũng gọi là chinh, tức là Vân bảng vậy.
b. Cách chế tác và sử dụng: Theo ngày Vân Chương trong sách Tượng Khí Tiên nói trên, thì hình của bảng giống như đám mây, và theo ngài Tục Sự lão thuật lại thì Tống Thái Tổ chế Vân bảng bằng thiết. Nhưng nay ở các tòng lâm thì đều dùng bảng bằng gỗ và trổ theo bán hình bát giác. Bề dày của bảng khoảng chừng 4 tấc tây và bề cao khoảng hơn 2 tấc tây. Bảng cũng được thay thế cho trống và dùng trong những trường hợp như báo tin giờ thọ trai, giờ học tập, và cả những lúc nhóm họp Tăng để nghị bàn Phật sự, phân phát cúng vật, hoặc xử đoán các lỗi lầm v.v… của chúng Tăng trong Già lam. Bảng và Khánh ấy trong luật thường gọi là “Kiền chùy thành”.
Còn khánh cũng là một pháp khí như bảng. Cách dùnhg cũng không khác gì nhau, chỉ có hình thức và nguyên liệu chế tác là khác nhau mà thôi. Hình của bảng là hình bát giác và làm bằng gỗ, còn hình của khánh thì làm theo hình bán nguyệt, và đúc bằng đồng, hoặc có khi làm bằng đá cẩm hạch. Ngày nay ở các tòng lâm tuy cũng có sắm khánh nhưng ít khi dùng đến, chỉ chuyên dùng bảng mà thôi.
5. Bát:
a. Xuất-xứ: Kinh Phật bổn hạnh chép: “Ngày xưa, khi Đức Phật còn tại thế, có hai thương gia một người tên là Đế-ly Phú-bà và một người tên là Bạt-ly-ca đều ở tại Bắc Ấn-Độ. Một hôm, hai thương gia này phát tâm đem sửa cúng dường Phật, nhưng Đức Phật không có gì để đựng sữa. Bấy giờ có 4 vị Thiên vương đem 4 cái bát bằng vàng cúng Phật để đựng sữa, Đức Phật không nhận, bốn vị Thiên vương lại đem 4 cái bát khác đủ các loại quí giá như ngọc, ngà v.v… Đức Phật cũng không nhận, sau cùng có 4 vị Thiên vương đem cúng dường Phật 4 cái bát bằng đá, Đức Phật hoan hỷ nhận, không từ chối.
b. Ý nghĩa, cách chế tạo và sử dụng: Chữ Bát nguyên tiếng Phạn là Bát-da-la, dịch là Ứng lượng khí, nghĩa là một vật dùng đựng các thực phẩm vừa với sức ăn của một người.
Bát chỉ được trổ bằng đá, nắn bằng đất sét rồi hầm chín hoặc phết bằng sành mà thôi, chứ không được làm bằng vàng, bạc, ngọc ngà, vì những thứ này là bảo vật, người xuất gia không nên dùng, nhất là không được làm bằng gỗ, vì bát gỗ là thứ bát của Bà-la-môn (một giáo phái ngoại đạo thờ Phạm thiên ở Ấn Độ) dùng.
Ngày nay ở các nước Tiểu thừa Phật giáo như Ấn-Độ, Tích Lan, Miến Điện, Xiêm La v.v… chư Tăng thường đi khất thực, nên thường dùng Bát. Riêng ở Việt-Nam thuộc về Đại thừa Phật giáo, Chư Tăng không đi khất thực nên ít khi dùng tới, chỉ có 3 tháng an cư kiết hạ hàng năm là đặc biệt dùng nhiều nhất mà thôi. Dưới đây là bài kệ đọc trong khi dùng bát: “Chấp trì ứng khí, đương nguyện chúng sanh, thành tựu pháp khí, thọ thiên nhơn cúng” và tiếp đọc câu chú “Án chỉ rị chỉ, rị phạ nhật ra hồng, phấn tra”.
6. Trích trượng:
a. Xuất-xứ: Kinh trích trượng chép: “Phật dạy: Này các Tỳ-kheo, các người nên thọ trì Tích trượng, vì Tích trượng là một pháp khí mà 3 đời Đức Phật đều có thọ trì”.
b. Ý nghĩa và cách sử dụng: Tiếng Phạn gọi là Khích-khí-la, Trung Hoa dịch là Tích trượng, tức là cái gậy của các vị Tỳ-kheo dùng trong khi đi đường, đi khất thực… Tích trượng cũng có tên là Khí trượng hay Đức trượng, nghĩa là nhờ chiếc gậy trí tuệ và phước đức này mà người xuất gia được mạnh tiến trên đường tu tập, hướng đến quả vị giải thoát giác ngộ. Trong kinh Tích trượng có chép: “ngài Ca-Diếp bạch Phật, bạch đức Thế-Tôn, thế nào gọi là Tích trượng? Phật dạy: Tích có nghĩa là khinh, nghĩa là nhờ ở chiếc gậy Đức hạnh và trí tuệ này mà phiền não được khinh bạt và ra khỏi ba cõi sanh tử. Tích cũng có nghĩa là minh, nghĩa là được trí sáng suốt vậy. Tích lại còn có nghĩa là tỉnh, nghĩa là tỉnh ngộ được rằng, ba cõi là khổ và không, và tích cũng có nghĩa là sơ, nghĩa là người cầm chiếc gậy này thì không còn say đắm ngũ dục nữa”.
Bề kính của Tích trượng chỉ vừa tay cầm, bề cao không quá đầu người. Trên đầu của Tích trượng có 4 cái vòng và 12 cái khâu nhỏ bằng đồng, tượng trưng cho 4 đế và 12 nhân duyên. Kiểu tích trượng này do Đức Phật Thích Ca chế. Cũng có một thứ Tích trượng khác, trên đầu chỉ có 2 cái vòng và 6 cái khâu mà thôi. Hai cái vòng tượng trưng cho chơn, tục nhị đế và 6 cái khâu là tượng trưng cho lục độ vậy. Kiểu Tích trượng này do Đức Phật Ca Diếp chế (Bách trượng thanh quy).
Sau đây là bài kệ đọc trong khi cầm Tích trượng: “Chấp trì tích trượng, đương nguyện chúng sanh, thiết đại thí hội, thị như thật đạo”. (dịch: khi cầm tích trượng, nên nguyện chúng sanh, tu tập hạnh bố thí, chừng đạo quả như thật), và tiếp đọc bài mật chú: “Án na lật thê, na lật thê, na lật tra, bát nể na lật đế, na dạ bát nảnh hồng phấn tra”.
7. Lự Thủy Nan:
a. Xuất xứ: Theo bộ Hội Chánh Ký có chép: “Nếu làm túi lọc nước thì nên may một lớp vải dày lên trên, nếu không có lụa thì dùng vải dày cũng được”. Tri môn kỉnh huấn chép: “Túi lọc nước là một dụng cụ hành từ, là một trợ duyên tế vật. Đại đạo do đó mà sanh ra, chí đạo cũng do đó mà khắc phục được”.
b. Ý nghĩa và cách chế tác, sử dụng: Lự thủy nan là cái túi lọc nước. Lọc nước để uống hoặc để dùng vào việc tắm rửa v.v… Ý nghĩa việc lọc nước này có hai đặc điểm: Một là phòng ngừa bệnh tật, giữ gìn vệ sinh. Hai là vì lòng từ bi muốn bảo vệ các sinh mạng ở trong nước như các loài thủy trùng vi tế v.v… cho nên trước khi dùng nước cần phải được lọc kỹ. Trong kinh Chánh pháp niệm cũng có chép: “Nước để cách đêm vi trùng có thể sanh ra, nếu không được lọc kỹ thì tuyệt đối không nên dùng. Giữ được điều đó tức là một phần trì giới bất sát”.
Vậy cách chế tác và sử dụng Lự Thủy Nan như thế nào? Theo bộ Bách nhất Kiết-na thì Lự Thủy nan được chế tác theo 5 cách sau đây:
1. Phương la: Phương la tức là một khổ vải rộng chừng 2,3 tấc vuông dùng để lọc nước trước khi uống hoặc rửa ráy.
2. Pháp bình: Hay cũng gọi là âm dương bình, tức là một thứ bình lọc nước có hai ngăn. Một ngăn chứa nước chưa lọc và một ngăn để chứa nước đã được lọc do ngăn bên kia chuyền sang.
3. Quân trì bình: Tức là lấy một tấm vải bít đầu miệng một cái bình rồi thả chìm vào trong nước, khi nào nước vào đầy bình thì đem ra mà dùng.
4 & 5. Chước thủy la và Y-giác-la: Hai thứ kiểu lọc nước này kiểu gần giống nhau. Chước thủy la thì chỉ cần một khổ vải khoảng 1 tấc đem căng trên một cái khung hình tròn bằng tre hoặc thép. Còn Y-giác-la thì cũng dùng một khổ vải nói trên, nhưng không căng trên khung mà chỉ may quanh khổ vải một đường nẹp và lồng vào trong đường nẹp ấy một sợi dây, đến khi lọc nước vào trong một cái bình hay bát, rồi thắt sợi dây lại, bây giờ hãy đổ nước vào lọc kỹ mà dùng.
Tóm lại, 5 thứ lọc nước trên đây tuy hình thức có phần sai khác nhau, nhưng công dụng vẫn một, ấy là dùng để lọc nước mà thôi. Có điều cần lưu ý là ngoài việc lọc nước để giữ gìn vệ sinh, đặc biệt hơn hết là để bảo vệ sanh mạng, tránh sự giết hại các loài vi trùng trong nước. Cho nên sau khi lọc nước xong, túi lọc phải được đem nhúng vào chỗ lấy nước, để cho các loài vi trùng bị lọc được trở lại chỗ cũ được sống yên ổn như trước.
Khi dùng đến lọc nước, nên đọc lên bài kệ sau đây; “Thiện lai lự thủy nan, hộ sanh hành từ cụ, xuất nhập thường đới tụng, phương hiệp Bồ-Tát-đạo”, và tiếp đọc câu chú “Án phạ tất ha ra ma ny tóa bà ha “.
8. Y:
a. Xuất xứ: Ngày xưa khi Đức Phật còn tại thế một hôm Ngài bảo ngài A-nan rằng: “Này A-nan, các hàng đệ tử của các Đức Phật ở quá khứ đã từng mặc áo Ca-sa, các hàng đệ tử của chư Phật ở vị lai cũng sẽ mặc áo Ca-sa, Ta nay dùng dao kéo cắt thành áo Ca-sa cho các hàng đệ tử Sa-môn (chúng xuất gia) mang đắp. Áo Ca-sa sẽ không bị giặc giả cướp mất. Áo Ca-sa được gọi là giải thoát phục, cũng gọi là phước điền y. Nếu có chúng sanh nào khởi ác tâm hướng đến tam thế chư Phật, Bích Chi La hán và những người mặc áo Ca-sa, chúng sanh ấy phải chịu quả báo đau khổ nhiều không kể xiết. Vì sao thế, vì áo Ca-sa hoại sắc là Tiêu thức của Thánh hiền. Trái lại, nếu có chúng sanh nào hay phát tâm kỉnh trọng thì sẽ được phước báo vô lượng. Chính ta cũng nhờ có tín tâm kỉnh tín và mang đắp ca-sa mà ngày nay được thành chánh quả” (kinh Hoa-Nghiêm).
Với tài liệu trên cho ta thấy rằng Pháp y không phải mới được sáng chế trong thế hệ hiện tại của Đức Phật Thích Ca, mà ở đời quá khứ các Đức Phật cũng đã từng mang đắp và đã dạy các hàng đệ tử mang đắp rồi.
b. Ý nghĩa và các loại y: Y là một thứ pháp phục của những người xuất gia. Ý nghĩa của thứ Pháp phục này thì nhiều nhưng có thể tóm tắt trong hai điểm. Một là muốn cho lối ăn mặc của người xuất gia khác với lối ăn mặc thông thường của thế gian, cốt để giảng trạch giữa người Tăng, kẻ tục. Hai là để tiêu biểu cho giới đức phẩm hạnh cùng tôn chỉ ý chí siêu trần của người xuất gia theo đạo Phật. Cũng vì hai ý nghĩa trên nên về phương diện chế tác hình thức và màu sắc, pháp-phục đã được khác hẳn với thường phục, còn về ý nghĩa thì pháp phục lại được mang những danh từ khác nhau để tiêu biểu như: Nhẫn nhục khải, phước điền y hay giả thoát phục v.v…
Ngoài ra cũng muốn được dễ dàng phân biệt các Phật sự của chúng Tăng, nên pháp phục được chia làm 3 loại sau đây:
1. An đà hội: Dịch là Tác-vụ-y. Nghĩa là thứ y mặc trong khi làm việc khi ra đường. Y này có 5 điều, mỗi điều chia làm 3 khoản, 2 khoản dài một khoản ngắn.
2. Uất-đa-la Tăng: Dịch là Nhập chúng Y. Nghĩa là thứ y dùng trong những khi nhập chúng, thọ trai, nghe giảng, tụng kinh, tọa thiền, lễ Phật, Tháp và các vị cao Tăng. Y này có 7 điều, mỗi điều chia làm 3 khoản, hai khoản dài và một khoản ngắn như kiểu y trên.
3. Tăng-già-lê: Dịch là Tạp toái Y hay Đại Y. Nghĩa là thứ Y lớn nhất trong các loại Y. Thứ Y này chia làm 3 phẩm là Hạ, Trung và Thượng, Hạ phẩm cũng chia làm 3 là Hạ hạ, Hạ trung và Hạ thượng. Y Hạ hạ có 9 điều Y Hạ trung có 11 điều và Y Hạ thượng có 13 điều. Trung phẩm cũng chia làm 3 là Trung hạ, Trung trung và Trung thượng. Y Trung hạ có 15 điều, Y Trung trung có 17 điều và Y Trung thượng có 19 điều. Thượng phẩm cũng chia làm 3 là Thượng hạ, Thượng trung và thượng thượng. Y Thượng hạ có 21 điều, Y Thượng trung có 23 điều và Y Thượng thượng có 25 điều.
Y hạ phẩm có từ 9 điều đến 13 điều, mỗi điều cũng chia làm 3 khoản: Hai khoản dài và một khoản ngắn như hai kiểu Y trên. Y trung phẩm từ 12 đến 19 điều, mội điều chia làm 4 khoản, 3 khoản dài một khoản ngắn. Y thượng phẩm từ 21 điều đến 25 điều, mỗi điều cũng chia làm 4 khoản, 3 khoản dài một khoản ngắn như Y trung phẩm.
9. Tràng hạt:
a. Xuất xứ: Kinh Mộc quán tử chép: “Ngày xưa có một vị Quốc Vương tên là Ba-lưu lê đến bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, nước của tôi tuy nhỏ hẹp nhưng thường không được yên ổn. Tôi phiền não lắm, tôi muốn theo lời Phật dạy để tự sửa mình và để trị an xứ sở, nhưng nghiệt vì giáo pháp của Phật rộng rãi vô biên, tôi không biết làm sao tu tập cho hết được, vậy nên tôi đến đây, cúi mong Đức Phật đem lòng từ bi chỉ giáo cho tôi một pháp yếu để tu hành. Phật dạy: Nếu nhà vua muốn diệt trừ phiền não, không gì hơn nhà vua hãy trở về lấy gỗ tiện thành 108 hạt, xâu lại thành chuổi, dùng làm vật tùy thân. Thế rồi nhà vua nên thường trí tâm niệm “Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng”, niệm mỗi câu lần một hột, niệm 108 câu nhà vua lần qua 108 hột chuỗi. Nhà vua hãy gắng niệm cho thường trong một thời gian, phiền não của nhà vua sẽ tự khắc được tiêu trừ, tai biến trong quốc độ của nhà vua cũng sẽ nhờ công tu niệm đó mà được tỉnh giảm. Vua Ba-Lưu-lê theo lời Phật dạy, trở về lấy gỗ tiện thành tràng hạt, không những tự mình tinh tấn tu niệm nhà vua còn khuyến khích dân chúng cũng gắng công tu niệm, nên chẳng bao lâu tai biến trong nước giảm bớt lần, dân chúng cũng trở nên hiền lành. Sống một đời sống thái bình an lạc.
Bắt đầu từ đó phương pháp tu niệm lần tràng hạt mà nay thường gọi là “phương pháp sổ châu” được truyền rộng khắp nơi và được lưu truyền mãi cho đến ngày nay, trong khắp các giới Phật tử không mấy ai là không dùng đến tràng hạt trong khi tu niệm.
b. Ý nghĩa các loại tràng hạt: Tràng hạt là một pháp cụ để dùng trong việc tu tập trì niệm. Tràng hạt gồm có 3 loại: Loại thứ nhất có 108 hột, loại thứ nhì có 54 hột, và loại thứ ba có 18 hột. Loại 108 hột là tượng trưng cho 108 phiền não. Phiền não của chúng sanh thì nhiều có thể tóm tắt trong 108 phiền não căn bản này. Nếu chúng ta gắng công tu niệm đoạn trừ được – 108 phiền não căn bản ấy thì bao nhiêu phiền não chi-mạt thảy đều tiêu trừ hết.
108 phiền não được lược kể sau: 88 món kiến hoặc của tam giới (lục sắc và vô sắc giới), cộng với 10 tư hoặc ở dục giới và 10 món triền phược phiền não như: vô tàm, vô quí, tật, xan, hối, thùy miên, trạo cử, hôn trâm, sân hận, phú thành 108 phiền não (theo Luận câu xá quyển 21).
Loại chuổi 54 hay 27 hột không tượng trưng ý nghĩa gì, chẳng qua muốn tiện việc mang dùng nên chia hai hay là chia bốn của loại chuổi 108 hột mà thôi.
Loại chuỗi 18 hột cũng gọi là chuỗi tay, tức là loại chuỗi mang ở tay vậy. Số lượng của loại chuổi này là 1/6 của loại chuổi 108. Người ta cũng thường bảo rằng chuỗi 18 hột là tượng trưng cho 18 vị La-hán (Thập bát la hán) hay 18 vị Vương tử trong kinh Pháp Hoa, hay tượng trưng cho Thập bát giới mà cần phải tiêu trừ. Nhưng đó chỉ là truyền thuyết thôi chứ không thấy kinh sách nào ghi chép cả.
10. Tháp:
a. Xuất xứ: Theo Thập tụng luật quyển thứ 56 có chép: “Ngày xưa khi Đức Phật còn tại thế Ngài rất được mọi người kính mến. Ông Cấp-Cô-Độc (người sáng lập tịnh xá Kỳ-Hoàn) là một trong số người ấy. Một hôm ông đến thỉnh an và xin Phật cho ông vật gì của chính ngài để ông chiêm ngưỡng trong những khi Ngài đi vắng. Đức Phật liền cắt một ít tóc và móng tay của Ngài trao tặng cho ông Cấp-Cô-Độc. Nhận được tặng vật ấy ông Cấp-Cô-Độc rất đổi vui mừng, ông liền xin phép Đức Phật được dựng hai ngôi bảo Tháp để tôn trí cúng dường hai bảo vật trên”.
Ngày nay ở Ấn Độ có hai ngôi chùa Răng và chùa Tóc, tức là hai ngôi chùa thờ răng và tóc của Đức Phật, không biết có phải người đời sau đã gì một duyên cớ gì đó, thỉnh hai bảo vật ở hai ngôi Tháp do ông Cấp-Cô-Độc tạo lập nói trên, đưa đến thờ ở hai ngôi chùa này chăng?
Nhân việc dựng Tháp trên đây là để cúng dường bảo vật của Phật khi Ngài còn tại thế. Theo kinh Bát-Niết-bàn quyển hạ thì: Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, các hàng đệ tử Phật liền đem kim thân của Ngài làm lễ trà tỳ (lễ hoả táng). Bấy giờ có 8 vị Quốc vương ở 8 nước: Ba-ha, Giá-la, La-ma-già, Tỳ-lưu-đề, Tỳ-xá-ly, Ma-già-đà, Ca-duy-la, Câu thi đến dự lễ trà tỳ xong thì trong 8 vị Quốc vương này, vị nào cũng muốn nước mình được vinh dự thỉnh Xá-lợi về cúng dường, nhưng không ai chịu nhường cho ai. Tình trạng tranh giành Xá-lợi giữa các vị Quốc vương mỗi lúc mỗi trở nên quyết liệt. Cuối cùng một giải pháp ổn thỏa được đề ra, ấy là Xá-lợi của Đức Phật được chia làm 8 phần chia cho 8 vị Quốc vương. Khi mang Xá-lợi về nước các vị Quốc vương đều dựng Tháp cúng dường. Do đó lần đầu tiên có 8 ngôi Tháp thờ Xá-lợi sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn.
Về sau khi vua A-Dục ra đời, cách Phật nhập Niết-bàn 900 năm, vị vua này liền thỉnh Xá-lợi trong 8 ngôi tháp ở 8 nước nói trên, phân loại thành 84.000 phần rồi dựng thành 84.000 ngôi tháp khắp lảnh thổ Ấn-Độ để tôn thờ.
Đến nay, vì trải qua thời gian lâu xa, lại thêm hoàn cảnh tôn giáo Ấn-Độ cũng đã lắm phen biến đổi… nên số tháp do vua A-Dục xây cất không còn nguyên vẹn nữa, chỉ còn lại một số ít thôi.
b. Ý nghĩa và các loại Tháp: Tháp là một phần mộ cao hiển để tôn trí Xá-lợi, tiếng Phạn gọi là Túy-đổ-ba (Stupa). Theo kinh trường A hàm thì ngoài Đức Phật còn có 3 hạng người sau được dùng Tháp, ấy là các vị Duyên Giác, thanh Văn và chuyển Luân vương. Nhưng theo king Nhân Duyên thì có 8 hạng người được dùng Tháp, tuy nhiên, phải tùy theo quả vị tu chứng mà số tầng Tháp có khác nhau.
- Tháp Phật từ 8 tầng trở lên.
- Tháp Bồ-tát 7 tầng.
- Tháp Duyên-Giác 6 tầng.
- Tháp Thanh Văn 5 tầng.
- Tháp A-na-hàm 4 tầng.
- Tháp Tu-đà-hàm 3 tầng.
- Tháp Tư-đà-hàm 2 tầng.
- Tháp Chuyển Luân vương 1 tầng.
HT. Thích Thiện Siêu
http://www.phathoc.net/PrintView.asp...e=vi&ID=76540B
-
http://s2.upanh123.com/2017/05/06/14...mz2ap88fb8.gif
http://s2.upanh123.com/2017/05/06/Untitledb8e8d.png
ྰོྃ་བྷ་ཕ་བྷ་ཐྷེ་བྷ་ ི་བྷོ་ས་ཧྷེ་བྷ་སོ་ ་འྷེ་རུ་ན་
འྷེ་ཎ་ཟདུ་ཟདུ་སཧ །
嗡嘛巴嘛待嘛贺莫哈唉嘛吙嘛耶日巴 达
德德索哈
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%C3%81T/page68
上班路上念药师佛的心咒:
“嗡,纳嘛美达,玉章热纳,阿牟达 忠德。”(108遍)(远离疾病痛苦和 心健康,最终成就佛的作用。
http://blog.sina.com.cn/s/blog_7e80c0270102vj9f.html
http://blog.sina.cn/dpool/blog/s/blo...10102v6bh.html
http://old.himalayabon.com/up_files/...1417180218.pdf
http://www.coowx.com/p/kkdvqv.html
http://www.8route.com/dushu/sushen/4611.html
==============
舊譯[编辑]
出自唐玄奘法師所譯《拔濟苦難陀羅 經》(一名《勝福往生淨土經》)[1]:
「羯羯尼羯羯尼。魯折尼魯折尼。咄 折尼咄盧折尼。怛邏薩尼怛邏薩尼。 剌底喝那般剌底喝那。薩婆羯莫般藍 般邏般迷。娑婆訶。」
流通版[编辑]
南摩。列那。乍呀呀。唵。槓嘎尼。 嘎尼。羅渣尼。羅渣尼。卓達尼。卓 尼。乍沙尼。乍沙尼。乍帝哈納。乍 帝哈納。薩哇噶瑪。巴南巴喇。納美。薩哇薩埵。念渣。梭哈。
流通版羅馬拼音[编辑]
Namo Ratna Trayaya. Om. Kamkani Kamkani. Rotsani Rotsani. Trotrani Trotrani. Trasani Trasani. Pratihana Pratihana. Sarva Karma Parampara. Nime Sarva Sato(Sattva). Nantsaya Soha(Svaha).
第十七世大寶法王口誦版本[编辑]
那莫。邦嘎瓦帝。阿秋比亞。達他噶 雅。阿惹哈地。桑雅桑布他雅。打笛 他。嗡。岡嘎尼。岡嘎尼。卓渣尼。 羅渣尼。朵達尼。朵達尼。達拉薩尼 達拉薩尼。布拉地哈納。布拉地哈納 薩哇。不拉姆不拉姆。不拉 。捏美。薩哇薩埵。念在。梭哈。
參見[编辑]
http://blog.sina.com.cn/s/blog_507260b50102vg9o.html
-
http://mmbiz.qpic.cn/mmbiz/Lf0Cq7ovg...webp&wx_lazy=1
灵修| My Blog | 第30页
my1my1.byethost9.com500 × 747Search by image
诸佛菩萨全套名录
-
-
阿弥陀佛
... ṃ amṛta-teje hara hūṃ 唵阿蜜[口*栗](二合)多帝[目*曳]贺囉吽 藏密 阿弥陀佛心咒 oṃ amideva hrīḥ 名号咒 oṃ amitābha hrīḥ 东密 阿弥陀佛心中心咒 oṃ amṛte hūṃ hūṃ 阿弥陀佛经典 维基文库中相关的原始文献: 阿弥陀经 最早传入中国的与净土有关的经典为 ... 阿弥陀佛的崇拜和密教手印与仪轨结 在一起。 身世背景 多部经典记载了阿弥陀佛的不同本生 缘: 《妙法莲华经》:阿弥陀佛、阿閦佛 ...
http://www.taodabai.com/98091922.html
-
大寶法王勸修不動佛拔濟苦難真言
南無世尊善逝出有壞圓滿正等覺怙主 動佛!
東方不動佛拔濟苦難真言:
Namo Bhagavate Aksobhya Tathagataya Arhate Samyak-sambuddhaya.Tadyatha
南摩巴嘎瓦帝 阿閦鞞牙 達他 達呀 阿哈帝 三藐三菩陀耶 達雅
om, gagani gagani, rocani rocani, trutani trutani, trasani trasani,
嗡 剛嘎呢 剛嘎呢 若恰呢 恰呢 多汝折呢 多汝折呢 達羅薩
prati-hatani prati-hatani, sarva karma param paramita svaha.
達羅薩呢 只地痕呢 只地痕呢 薩瓦嘎嘛 巴讓巴羅美達 莎訶
[梵文記音]:
Gagani gagani, rocani rocani, trutani trutani, trasani trasani, prati-hatani prati-hatani, sarva karma param para padma svaha.
https://www.facebook.com/nianfo123/p...34835043205042
-
-
-
-
本教通用的经文
རྫོགས་སྐུའི་སྙིང པོ།
佐古宁波
报身佛心咒
ཨྰོྃ་མ་ཏྲི་མུ་ཡེ ས་ལེ་འདུ།
嗡 嘛 智 牟 耶 萨 列 德
བོན་སྐུའི་སྙིང་པ །
本古宁波
法身佛心咒
ཨ་ཨྰོྃ་ཧྰུྃ། ཨྰ་ཨ་དཀར་སལེ་འོད ཨ་ཡྃ་ཨྰོྃ་འདུ།
阿嗡吽 啊阿嘎萨列奥阿央嗡德
སྤྲུལ་སྐུའི་སྙིང པོ།
周古宁波
化身佛心咒
ཨ་དཀར་ཨ་རྨད་དུ་ཏ ི་སུ་ནག་པོ་ཞི་ཞི མལ་མལ་སྭཱཧཱ།
阿嘎阿麦德智思,纳波希希嘛嘛索哈
ཤེས་རབ་སྨྲ་བའི་ས ང་གེ།
西饶玛卫僧格
文殊语狮
ཨཱོྃ་ཝ་ཀི་དྷཱི་ན མ།
嗡 瓦 格 德 那 嘛
ཐུགས་རྗེ་བྱམས་མ།
图吉祥玛
大悲佛母
བྱམས་མའི་སྙིང་པོ
祥玛宁波
慈母佛心咒
ཨྰོྃ་མ་བ་མ་དེ་མ་ ི་མོ་ཧ་ཨེ་མ་ཧོ་མ ཡེ་རུ་པ་ཡེ་ཏ་འདུ ་འདུ་སྭྰཧྭ།
嗡嘛巴嘛待嘛贺莫哈唉嘛吙嘛耶日巴 达德德索哈
གདུགས་དཀར་གྱི་སྙ ང་པོ།
堆嘎宁波
大白伞盖佛母心咒
ཨཱོྃ་མ་བ་མ་དེ་མ་ ི་མོ་ཧ་ཨེ་མ་ཏྲི་ ྣྲི་ཛ་ཧོ་བྃ་ཧཱུྃ ཿ ས་ཧ་ཎི་རི་དྲུང་མ ་ཙ་ཀྲ་བྲུྃ་སྭཱཧཱ
嗡,嘛巴嘛待嘛贺莫哈,唉嘛智尼匝 帮吙萨哈尼日仲牟匝扎忠索哈
ཨཱོྃ་ཀྲོ་ཏི་བཱི་ ་སི་ཏ་ཏྲེ་མ་ཧ་པྲ ཏྃ་ཡ་གི་ར་ཛ་ཡེ་ཧ ཱུྃ།
嗡卓德布噶思达哲嘛哈扎当亚格让匝 吽
ཡི་གེ་བརྒྱ་བ།
亿格迦巴
百字明心咒
བསྭོ་དམུ་ར་ཏ་ཧན་ ེར་ནི་བྲུྃ་ཧྲུན། མུ་ཏྲེ་མུ་ཏྲེ། དམུ་ར་མུ་ཏྲེ།མུ་ ེ་མུ་ཡེ། ཧ་ར་མུ་ཡེ། མུ་སྤྲོས་མུ་སྤྲོ ། ཝེར་རོ་མུ་སྤྲོས། ུ་ནི་གྱེར་ཏོ། ཡེ་ཁྱབ་ཁར་རོ།སྤྲ ས་བདལ་ཧྲི་ཧྲོ། ཝེར་ནི་ཝེར་ལོ། ཤུད་ལ་ཝེར་རོ། ན་ཧུ་ཏ་ཀཤུངྔྷོཤུ ྔྷོ། དུ་ཤུངྔྷོ་ཡ། ས་ལེ་ས་ལེ། ཏྲི་ས་ལེ་ཡ། སང་ངེ་སང་ངེ༌། སུ་སང་ངེ་ཡ། དམུ་ར་ཏ་ཧན།ཁྲི་ཙ ་དྲུང་མུ། ཧ་ཧ་བྲུྃ་བྲུྃ།ཧོ ཧོ་ལམ་ལམ། ཧྰུྃ་ཧྰུྃ་ཕཊ་ཕཊ།
嗦穆让达恒,卫尼忠胜,牟哲牟哲, 让牟哲,牟耶牟耶,哈让牟耶,牟珠 珠,卫若牟珠,牟尼杰朵,耶恰喀若 ,珠达舍烁,卫尼卫罗,西拉卫若, 贺达嘎,西多西多,德西多亚,萨列 列,智萨列亚,桑爱桑爱,思桑爱亚 ,穆让达恒,赤泽仲牟,哈哈,忠忠 吙吙,朗朗,吽吽呸呸
དྲན་པ་ཚེ་སྒྲུབ།
占巴才咒
占巴南喀长寿心咒
བསྭོ་ཁོད་དོ་རམ་མ ་རདྣ་ཡེ་བྷྲུྃ་བྷ ུྃ་ཚེའི་གཡུང་དྲུ ང་གའུ་ཚེ་རྣྲི་ཛ།
嗦阔朵让莫然纳耶忠忠,才雍仲嘎邬 呢匝
ཚེ་དབང་ཚེ་སྒྲུབ།
才旺才咒
才旺长寿心咒
བསྭོ་བྲུཾ་ཨ་དཀར་ ུ་ལ་ཏིང་ནམ་འོད་འ ུ་མུ་ཡེ་ཚེ་རྣྲི་ ཛ།
嗦忠阿嘎牟拉丁囊奥得牟耶才呢匝
དབལ་གསས་ཀྱི་སྙིང པོ།
瓦塞吉宁波
瓦塞本尊心咒
བསྭོ་ཨྰོྃ་ཨ་ཐུན་ ེ་ལོ་ཡོ་ཐུན་སྤུང ་སོ་ཐད་དོ་ཐུན།ཨ་ མ་མ་ཧ་ལ་རམ་ཛ་ཐུན བྷྱོ་ཐུན་བྷྱོ།
嗦嗡,阿腾聂罗越腾蚌索台朵腾,阿 嘛哈拉让匝腾觉腾觉
ལྷ་རྒོད་ཀྱི་སྙིང པོ།
拉郭吉宁波
拉郭本尊心咒
བསྭོ་ཨཱོྃ་ཨ་ཐུན་ ེ་ལོ་ཡོ་ཐུན་སྤུང ་སོ་ཐད་དོ་ཐུན། ཧེ་རག་ཤ་གེ་དུ་གྲ ་ལ་ཐུན་བྷྱོ་ཐུན་ ྷྱོ།
嗦嗡,阿腾聂罗越腾蚌索台朵腾,嘿 夏改德真拉腾觉腾觉
གཙོ་མཆོག་གི་སྙིང པོ།
佐穹吉宁波
佐穹本尊心咒
བསྭོ་ཨཱོྃ་ཨ་ཐུན་ ེ་ལོ་ཡོ་ཐུན་སྤུང ་སོ་ཐད་དོ་ཐུན། ཧ་ལ་རམ་ཐུན་ཆ་ལ་འ ར་ཤག་ཡེ་ཐུན་ཨ་མ་ ་ལ་སད་ཐུན་ཁ་ཐུན་ ཁ་ཐུན་བྷྱོ་བྷྱོ༔
嗦嗡,阿腾聂罗越腾蚌索台朵腾,哈 让腾恰拉达夏耶腾阿嘛匝拉赛腾喀腾 腾觉觉
གེ་ཁོད་ཀྱི་སྙིང་ ོ།
格阔吉宁波
格阔本尊心咒
གྱེར་ཁོད་ལམ་ཞུང་ ི། གྱེར་ཁོད་ལུམ་ཞུང ཅི། ཧ་པྲ་ཏ་པུ་ཅི། རུ་པྲ་ཡང་ལ་ཆེམས། ལེན་བརྒྱ་ཝང་ཅི་ན ལེན་བརྒྱ་རྒྱུང་ན ་སྤུངས། ནི་ལོ་རྒྱུང་སྤུང ་ཅི།ནེ་ལོ་ཡུ་སྤུ ས་ཅི། ཟང་ཙལ་གེ་ཏོ་མེན། གྲན་གྱག་ཁོད་མ་ཧྲ གནམ་གྱག་ཏྲི་ན་ཧྲ ག གེ་ལོ་མོ་ཟངས་ཧྲི ་ཅི་ན། ཉེ་ལོ་ཨ་རང་ཐད་ཅི ན། ཨུར་ཅི་སྨྲེ་མ་ཐད རང་ནི། རུ་རྒྱུང་ཅི་ནས་ཐ ་མེན། ཤག་ཏག་ཅི་ནི་ལོ། སུ་བུལ་ནལ་ཅི་ན། ཡུ་སྤུངས་རྦད་ཁ་ལ ་ལེ་ནི། ཟངས་རྦད་ལག་ཅི་ན། ཕྲུག་ལག་ཨུ་རམ་སྤ ངས།མུ་ཕཊ་ཕཊ་ཁྱུང ཁྱུང་ཧ་ཧ་ཧྲིག་རྦ ད།
杰阔郎雄吉,杰阔论雄吉,哈扎达布 ,如扎央拉勤,兰嘉旺吉纳,兰嘉炯 帮,尼罗炯帮吉,尼罗玉帮吉,桑匝 格朵明,占迦阔嘛释,南迦智纳释, 罗莫桑释吉纳,聂罗阿让台吉纳,额 美嘛台让尼,如炯吉纳台门,夏达吉 尼罗,苏布那吉纳,玉帮佰喀罗列尼 桑佰拉吉纳,楚拉俄让帮,牟呸呸琼 哈哈释佰。
ཕུར་པའི་སྙིང་པོ།
普巴宁波
普巴本尊心咒
བསྭོ་ཨྰོྃ་གུ་རུ་ ཛྲ་ཀི་ལི་ཀི་ལ་ཡ་ ེ་ཏྲག་ཤ་སརྦ་བྷིག ་ནན་མ་ར་ཡ་ཧྰུྃ་ཕ
嗦嗡顾如班匝格勒格拉亚,嘿扎夏萨 ,拜南嘛让亚吽呸
ཕུར་པ་མཁའ་འགྱིང་ ི་སྙིང་པོ།
普巴喀京宁波
普巴喀京本尊心咒
བསྭོ་ཨཱོྃ་ཧེ་དྲག ་ཏིབ་ཏ་ཀི་ལིང་ཡཱ ཙཀྲ་མཱ་ར་ཡ། ཨ་པྲ་ཙྪིནྡྷ་ཀྲོ་ ་སྟིབ་ཏ། བྷིནྡྷ་སྤོ་ཏ་ལྷན དབལ་ཕུར་ནག་པོ་དག ་བགེགས་ཀྱི་སྙིང་ ལ་ཁ་ཐམ་རྦད་ཐུམ་ས ་ནན།
嗦嗡嘿扎夏 帝达格林亚 匝扎嘛让亚,阿扎增达绰达帝达 ,丙达波达烂,瓦普纳波札给吉,宁 喀腾拜屯达南
ཕུར་པ་འབྲུག་གསས་ ྱི་སྙིང་པོ།
普巴珠塞宁波
普巴珠塞本尊心咒
བསྭོ་ཨཱོྃ་ཧེ་དྲག ་ཏིབ་ཏ་ཁྱི་ལིང་ཡ ། ཙཀྲ་མཱ་ར་ཡ། ཨ་པྲ་ཙྪིནྡྷ་ཁྲོ་ ་ཏི་སྟ། བྷིནྡྷ་པཱུར་པ་དྲ ཡ།བྷིནྡྷ་སྤོ་ཏ་ལ ན། དབལ་ཕུར་ནག་པོ་དག ་བགེགས་ཀྱི་སྙིང་ ་ཁ་ཐམ་རྦད། མུཾ་མཱ་ར་ཡ་ཁ་རག་ ུམ་ལིང་ཐུམ་སྟ་ནན
嗦嗡嘿扎夏 帝达吉林亚 匝扎嘛让亚,阿扎增达绰达帝达 ,丙达布巴扎亚,丙达波达烂,瓦普 波札给吉,宁拉喀腾拜,猛嘛让亚喀 ,奔林屯达南
དབལ་ཕུར་སྟག་ལའི་ ྙིང་པོ།
普巴达拉宁波
普巴达拉本尊心咒
བསྭོ་ཨཱོྃ་ཧེ་དྲག ་ཤཱ་ཏྲཱུཾ་ཏིབ་ཏ་ ྲི་ལིང་ཡཱ། ཙཀྲ་མཱ་ར་ཡ། ཨ་པྲ་ཙྪིནྡྷ་ཁྲོ་ ་ཏི་སྟ། བྷཱིནྡྷ་པཱུར་པ་ཏ ་ཡ། བྷིནྡྷ་སྤོ་ཏ་ལྷན རྦིན་ཟེ་ཡ་མ་འུར་ ུམ། ཀུག་དུར་པ་ཁུ་ཁུ་ ། ནཱ་ག་པྲ་ལ་དུན། མ་མ་རགྴ་ཀི་ལིང་ཕ ར་ཧྲིལ། མུཾ་མཱ་ར་ཡ་ཁ་རག་ ུམ་ལིང་ཤཱཏྲཱུཾ་མ ་ར་ཡ་ཏི་སྟ་ལྷན།
嗦嗡嘿扎夏夏忠, 帝达赤林亚 匝扎嘛让亚,阿扎增达 绰达帝达,丙达布巴扎亚,丙达波达 ,宾色亚嘛呜群,估都尔巴库库亚, 嘎扎拉敦,嘛嘛让夏格林普世,猛嘛 让亚喀让,奔林,夏忠嘛让亚迪达烂
མ་རྒྱུད་ཀྱི་རྩ་བ ྙེན།
嘛据吉匝宁
母续本尊心咒
བསྭོ་ཨྭོྃ་པུས་པ་ ི་དྷ་བ་དྷི་ལ་སྭྰ ྭ།
嗦嗡布巴勒达瓦德拉索哈
སྟག་ལ་མེ་འབར་གྱི སྙིང་པོ།
达拉美巴吉宁波
虎衣明王心咒
བསྭོ་ཧེ་རམ་མ་ཧ་ན ་རམ་ཁྲོ་ཏ་རམ་ར་ཡ ་ཛ་བདག་དང་འཁོར་ལ ་རཀྴ་སྲུངས་ཤིག།
嗦嘿让嘛哈尼让绰答让让越匝达当阔 让恰松西
སྨན་ལྷའི་སྙིང་པོ
曼拉宁波
药师佛心咒
ཨྰོྃ་ན་མ་སྨྲི་ཏ་ ཡུ་འབྲང་རཏྣ་ཨ་མུ ཏ་བྷྲུྃ་འདུ།
嗡纳嘛美达玉章热纳阿牟达忠德
འཛམ་སྔོན་གྱི་སྙི ་པོ།
藏翁吉宁波
蓝财神心咒
ཨཱོྃ་རརྞ་ཀུ་བཱཻ་ ་ཡག་ཤ་འཛམ་བྷ་ལ་ཡ ་སྭཱཧཱ།
嗡热纳古贝让雅夏藏巴拉耶索哈
ཁྱུང་དམར་གྱི་སྙི ་པོ།
琼玛吉宁波
红鹏心咒
ཧྰུྃ་ཁྲོྃ་ཏ་ཡ་གྷ རུ་ན་ཁྲི་ཁྲོྃ་ཧ་ ་ཉེ་ལོ་ཡོ་བསྭོ་ཐ ུན་འདུ།
吽绰达亚嘎如那赤春哈让聂洛约嗦腾
རྟེན་འབྲེལ་སྙིང་ ོ།
单哲宁波
缘起心咒
ཨྰོྃ་ཡེ་དྷརྨ་ཧེ་ ུན་ཏེ་ཥན་པྲ་མ་སར ་དྷརྨ་གུ་རུ་ནི་ས རྦ་སྃ་མྱག་ཏདྱ་ཐྰ སརྦ་སྭྰཧྭ།
嗡耶达嘛嘿敦德堪,扎嘛萨瓦达嘛顾 尼,萨瓦桑麦,待亚塔,待亚塔萨瓦 哈
ཨ་ལི་ཀ་ལི།
阿利嘎利
阿利嘎利
ཨ་ཨྰ་ཨི་ཨྰི་ཨུ་ཨ ུ་རི་རྭི་ལི་ལྰི་ ེ་ཨེ་ཨོ་ཨོ་ཨྃ་ཨ། ཀ་ཁ་ག་གྷ་ང་། ཅ་ཆ་ཇ་ཇྷ་ཉ། ཊ་ཋ་ཌ་ཌྷ་ཎ། ཏ་ཐ་ད་དྷ་ན། པ་ཕ་བ་བྷ་མ། ཙ་ཚ་ཛ་ཛྷ་ཝ། ཞ་ཟ་འ་ཡ།ར་ལ་ཤ་ཥ་ ། ཧ་ཨ།
阿阿--额额--呜呜--日日--勒勒--唉唉--噢噢--昂阿,嘎喀嘎嘎啊,嘉恰价迦聂,扎 扎扎那,达嗒达达纳,巴帕巴巴玛, 擦匝匝瓦,夏洒阿亚,让拉夏卡萨, 哈阿
མཉམ་མེད་ཀྱི་གསོལ འདེབས།
良美吉索得
良美祈祷文
བདེ་ཆེན་རྒྱལ་པོ་ ུན་བཟང་རྒྱལ་བ་འད ས། །མི་བརྗེད་གཟུངས་ ྡན་ཤེས་རབ་སྨྲ་བའ ་སེང་། །འཛམ་གླིང་བོན་གྱ ་གཙུག་རྒྱན་མཉམ་མ ད་པ། །ཤེས་རབ་རྒྱལ་མཚན ཞབས་ལ་གསོལ་བ་འདེ ས། །
德庆嘉波衮桑嘉瓦都,弥杰松旦西饶 卫僧,
藏岭本吉祖金良美巴,西饶坚参晓拉 瓦得
大乐之王普贤如来集,具有不忘智慧 殊狮,
世界本教之首良美巴,西饶坚参莲足 祈祷
སངས་རྒྱས་སྟོན་པ་ ཤེན་རབ་ཀྱི་གསོལ་ དེབས།
桑吉敦巴幸饶索得
佛祖幸饶弥沃祈祷文
སངས་རྒྱས་བསྟན་པའ ་མངའ་བདག་གསེར་མད ག་འཆང་། །མཚན་དཔེ་གཟི་འབར བརྒྱད་ཁྲིའི་བོན་ ཁོར་བསྐོར། །
ལོག་ལྟའི་དཔུང་འཇ མས་འགྲོ་བའི་སྐྱབ ་གཅིག་པུ། །རྒྱལ་བ་གཤེན་རབ་ ཆོག་ལ་གསོལ་བ་འདེ ས། །
桑吉旦贝阿达瑟朵羌,参贝司坝皆赤 阔郭,逻底邦迥卓维嘉吉布,嘉瓦幸 确拉索瓦得
如来妙法之主金光身,相好庄严宣说 万法,摧毁邪见众生之怙主,佛祖幸 弥沃敬祈祷
སེམས་བསྐྱེད།
森杰
菩提心经
ཅི་ལྟར་རྒྱལ་བ་འཕ ས་པ་ཅི་བཞིན་དུ། །འདི་སོགས་དུས་གས མ་དགེ་བའི་མཐུ་དཔ ་གྱིས། །སེམས་ཅན་སངས་རྒྱ ་ཐོབ་པར་བྱ་བའི་ཕ ིར། །བདག་ནི་བྱང་ཆུབ་ ཆོག་ཏུ་སེམས་བསྐྱ ད་དོ། །
吉达嘉瓦帕巴基兴度,帝索都松格维 巴即,森坚桑吉陀巴夏维希,达尼祥 确都森杰朵
犹如如来菩萨利众生,此等三世积善 德力,为众有情证得如来果,誓愿我 殊胜菩提心
སྐྱབས་འགྲོ།
嘉卓
皈依经
གཤེན་རབ་བླ་མ་སྐུ གསུམ་འབྱུང་གནས་ད ལ། །དུས་གསུམ་བདེར་ག ེགས་འགྲོ་བ་ཡོངས་ ྱི་མགོན། །སྐུ་གཟུགས་ཞལ་སྐ ིན་སྐུ་གདུང་གསུང རབ་རྟེན། །ཕྱོགས་བཅུའི་གཤེ ་རབ་ཐར་ལམ་སྟོན་པ ི་སྒྲོན། །
གནས་བཞིར་ཕྱག་འཚལ འགྲོ་ཀུན་སྐྱབས་ས ་མཆིའོ། །
幸饶喇嘛古松迥乃巴,都松得悉卓瓦 吉贡,古肃峡金古东诵饶丹,乔俱幸 塔朗敦贝卓,乃希恰擦卓衮嘉素切。
幸饶上师三身佛之源,三世如来众生 怙主,佛像灵塔经书三依止,十方菩 指明解脱道,礼敬四处众生皆皈依。
བླ་མ་ལ་སྐྱབས་སུ་ ཆིའོ། །
喇嘛拉嘉索切
皈依上师
སངས་རྒྱས་ལ་སྐྱབས སུ་མཆིའོ། །
桑吉拉嘉索切
皈依佛
བོན་ལ་སྐྱབས་སུ་མ ིའོ། །
本拉嘉索切
皈依法(本)
གཤེན་རབ་གཡུང་དྲུ ་སེམས་དཔའི་ཚོགས་ ྣམས་ལ་སྐྱབས་སུ་མ ཆིའོ། །
幸饶雍仲僧贝措南拉嘉素切
皈依僧
མཎྡལ།
曼扎
曼扎
ཨེ་མ་འབྱུང་ལྔའི་ ྟེང་དུ་རི་རབ་རི་ དུན་དང་། །གླིང་བཞི་གླིང་ཕ ན་ཕྱི་ནང་འདོད་ཡོ ་བཅས། །ཉི་ཟླས་བརྒྱན་པ་ ྱེ་བ་ཕྲག་བརྒྱ་འད ། །བདག་གི་བདག་གིས་ ློས་བླངས་འབུལ་ལོ བཞེས་སུ་གསོལ། །
唉嘛迥诶顶都日饶日顿当,岭希岭禅启 多永基,尼笛金巴洁瓦查加地,达格 鲁朗布罗协素索。
妙哉,五大种上须弥七金山,四洲八 内外妙欲集,日月装饰百数俱胝众, 乃诚心供养请纳受。
བླ་མའི་རྣལ་འབྱོར
喇嘛纳觉
上师瑜伽
སྤྱི་གཙུག་བདེ་བ་ ེན་པོའི་ཕོ་བྲང་ད ། །དྲིན་ཆེན་རྩ་བའི བླ་མ་ལ་གསོལ་བ་འད བས། །སངས་རྒྱས་སེམས་ས ་སྟོན་པ་རིན་པོ་ཆ ། རང་ངོ་རང་གིས་ཤེས པར་བྱིན་གྱིས་རློ ས། །
吉祖德瓦庆布颇章都,珍庆匝维喇嘛 索瓦得,桑吉森素敦巴仁波切,让沃 给希巴金吉洛。
头顶殊胜大乐妙宫中,祈请恩重根本 上师,指明如来即心如意宝,使我明 见性悉加持。
http://www.wzxun.com/detail/3527178.html
-
TADYATHA AUM BHAISHAJYE BHAISHAJYE MAHA BHAISHAJYE BHAISHAJYE SAMUDGATE SVAHA
http://buddhaweekly.com/the-first-do...bhaisajyaguru/
-
-
http://s2.upanh123.com/2017/05/06/Untitlede359d.png
《藥師佛心咒及灌頂真言之功德利益 Merits of the Medicine Buddha's Heart Mantra and Dharani