-
Published on Jul 26, 2013
Hội quán hiện tọa lạc tại số 12 đường Lão Tử, phường 11, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi thờ tự chính gồm hai điện thờ, bố trí trước sau, cách nhau một sân thiên tỉnh (giếng trời). Tiền điện thờ Thiên Hậu Thánh mẫu, phối tự hai bên tả hữu là Phước Đức chính thần (ông Bổn) và Bà chúa Thai Sinh. Hậu điện thờ Bồ tát Quan Âm và phối tự: một bên là Quan Công, Bao Công, một bên là Thành Hoàng, Tương Đàn Lão gia.
Nhìn chung, có rất nhiều thần linh được thờ tự ở đây, nhưng đối tượng chính là Bồ tát Quan Âm. Theo đó, các lễ hội chính là các lễ vía Quan Âm trong năm: 19 tháng 6 âm lịch là lễ Vía chính, còn 19 tháng 2 âm lịch và 19 tháng 11 âm lịch là hai lễ Vía phụ.
Cuối thế kỷ 17, một số người Hoa thuộc phủ Tuyền Châu đã di cư sang Việt Nam và định cư tại vùng Chợ Lớn ngày nay. Ban đầu, cuộc sống của họ gặp không ít khó khăn, nhưng rồi cũng dần được ổn định. Để có nơi tín ngưỡng và chia sẻ, nhóm người đồng hương này, bao gồm cư dân của năm huyện là: Tấn Giang, Nam An, Huệ An, Đồng An, An Khê thuộc phủ Tuyền Châu đã chung góp công sức, tiền của xây lên một hội quán có tên là Hội Quán Ôn Lăng[1] vào năm 1740[2], để thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu và nhiều vị thần theo tín ngưỡng dân gian của dân tộc Hoa.[3]Sau này, hội quán thờ thêm Quan Thế Âm bồ tát nên còn được gọi là chùa Quan Âm.
-
-
-
Còn tục ngữ "Thượng Chùa Cầu, hạ Ông Bổn " thì ra đời ở Cảng thị Hội An từ năm nào ? Như chúng ta biết Hội quán Triều Châu của người Hoa thường được ..
-
Xuất bản 8 thg 9, 2014
Lễ cúng rằm Trung Nguyên tại Tam Sơn Miếu, phường Vĩnh Mỹ, TP Châu Đốc. Một nghi lễ đượm màu tâm linh và huyền bí.
(Thử nghiệm loại hình tin video)
Nguồn : Lam Quang Hien (https://www.facebook.com/profile.php?...)
Tam Sơn Vương này là 3 vị thần núi Cân Sơn, Minh Sơn và Độc Sơn tại phía bắc huyện Yết Dương, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông bên TQ từ đời nhà Tùy cách nay hơn 1000 năm. Khi người Yết Dương phủ Triều Châu sang VN mới đem tượng của 3 vị thần này theo để thờ. Nhất Vương thờ tại TX Hà Tiên tỉnh Kiên Giang, Nhị Vương thờ tại xã Đa Phước, huyện An Phú ,tỉnh An Giang còn Tam vương thì thờ tại phường Vĩnh Mỹ, TP Châu Đốc, tỉnh An Giang. Tam Sơn Vương rất được người dân tin tưởng vì ông thường hay nhập đồng về trị bịnh cho người dân. Có lẻ do niềm tin về tâm linh nên phần lớn bệnh tật đều tiêu tan. Ít nghười hiểu được lai lịch của 3 vị thần này vì người địa phương chỉ gọi là miếu ông Bổn. Ông Bổn này khác với Chu Đạt Quan thờ ở Nhị Phủ Miếu tại TP HCM hay Trịnh Hoà thờ ở vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu. Từ " Ông Bổn" ám chỉ vị thần ở địa phương được dân chúng tin tưởng. Vùng Vĩnh Mỹ, Mỹ Đức phần lớn là người dân vùng Yết Dương sang đây nên thờ ông Bổn là Tam Sơn Vương. Họ cũng mang theo tín ngưỡng từ quê nhà sang VN hòa nhập với tín ngưỡng tại đây trở thành nét văn hóa tâm linh đặc sắc.
Tương truyền là Tam Sơn Vương mặt đỏ như Quan Vân Trường nên khi nhập vào xác đồng thường lấy son đỏ bôi lên mặt. Hiện tượng lên đồng này đã xuất hiện ở địa phương hơn 200 năm qua
Danh mục
Giáo dục
-
Ở các khu du lịch Hà Tiên ngoài đặc sản biển, món ngon “độc quyền” của Mũi Nai là canh chua cá kẻm nấu sả nghệ với măng tre. Cơm trái thốt nốt ngọt mát làm món tráng miệng thật dễ chịu. Muốn lạ miệng thì ăn món sầu riêng chở từ Kampot (Campuchia) qua. Sầu riêng thịt dày, mùi dậy, vị ngọt và béo ăn một lần nhớ mãi.
http://cungduongdisan.blogspot.com/2...i-gi-o-au.html
-
-
Xe KUMHO:
Trạm Lê Hồng Phong: (08) 3833.8180 – 3833.8190.
BX Miền Tây: (08) 3752.7878.
Tuyến Sài Gòn – Hà Tiên
Khởi hành tại bến xe miền Tây lúc 9h30-11h-15h30-21h-22h.
Tại bến xe Hà Tiên lúc 7h50-11h-20h20-21h10-22h30. Giá vé ghế ngồi 120.000, ghế nằm 130.000.
Tuyến Sài Gòn – Hòn Chông
Khởi hành Sài Gòn 11h. Khởi hành Hòn Chông 21h30.
Tuyến Sài Gòn – Kiên Lương
Khởi hành tại bến xe miền Tây lúc 11h-15h30-20h45.
Khởi hành tại Kiên Lương 9h00-22h00-22h15, Giá vé ghế ngồi 110.000, ghế bật nằm 120.000
-
Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2015
[KGB]: TUYẾN BUÝT KIÊN-GIANG DỰ-KIẾN
I. TUYẾN NỘI-TỈNH:
- Tuyến 05: Bến xe Hòn-đất - Bến xe Kiên-lương
Cự-ly: 35 km
Lộ-trình: Bến xe Hòn-đất - Quốc-lộ 80 - Bến xe Kiên-lương
- Tuyến 06: Bến xe Kiên-lương - Hòn Chông
Cự-ly: 24 km
Lộ-trình: Bến xe Kiên-lương - Quốc-lộ 80 - Tỉnh-lộ 11 - Hòn Chông
- Tuyến 07: Bến xe Kiên-lương - Thành-phố Hà-tiên
Cự-ly: 26 km
Lộ-trình: Bến xe Kiên-lương - Quốc-lộ 80 - Bến xe Bình-san
- Tuyến 08: Bến xe Hòn Đất - Thổ-sơn
Cự-ly: 11,5 km
Lộ-trình: Bến xe Hòn Đất - Quốc-lộ 80 - Tỉnh-lộ Tri-tôn Hòn Me - Thổ-sơn
- Tuyến 09: Bến Nhứt - Bến xe Gò-quao
Cự-ly: 19 km
Lộ-trình: Bến Nhứt - Quốc-lộ 61 - Tỉnh-lộ Lộ-quẹo Gò-quao - Bến xe Gò-quao.
- Tuyến 10: Thứ-bảy - Bắc Xẻo-rô
Cự-ly: 17 km
Lộ-trình: Thứ-bảy - Quốc-lộ 63 - Bến bắc Xẻo-rô
- Tuyến 11: Thứ-bảy - An-minh - Đông-hưng B
Cự-ly: 21,5 km
Lộ-trình: Thứ-bảy - Quốc-lộ 63 - Tỉnh-lộ Thứ-bảy Cán-gáo - Bến xe An-minh - Tỉnh-lộ Thứ-bảy Cán-gáo - Đông-hưng B
- Tuyến 12: Thứ-bảy - Vĩnh-thuận
Cự-ly: 39 km
Lộ-trình: Thứ-bảy - Quốc-lộ 63 - Bến xe Vĩnh-thuận.
- Tuyến 17: Rạch-giá - Tà-niên
Cự-ly: 27,8 km
Lộ-trình: Bến xe Rạch-giá - Khu lấn biển - Rạch-sỏi - Tà-niên.
- Tuyến 18: Hà-tiên - Xà-xía - Hà-tiên
Cự-ly: 12,5 km
Lộ-trình: Bến xe Bình-san - Quốc-lộ 80 - KDL Mũi-nai - Khu lấn biển - Quốc-lộ 80 - Bến xe Bình-san
- Tuyến 19: Giồng-riềng - Tân-hiệp
Cự-ly: 33 km
Lộ-trình: Bến xe Giồng-riềng - Tỉnh-lộ 963 - Bến xe Tân-hiệp
- Tuyến 20: Bến xe An-biên - Xèo-nhàu - Bến xe An-minh
Cự-ly: 57,6 km
Lộ-trình: Bến xe An-biên - Tỉnh-lộ An-biên An-minh - Bến xe An-minh
- Tuyến 21: Bến xe An-minh - Bến xe Vĩnh-thuận
Cự-ly: 55 km
Lộ-trình: Bến xe An-minh - U-minh Thượng - Bến xe Vĩnh-thuận
II. TUYẾN LIÊN-TỈNH:
- Tuyến 13: Bến xe Gò-quao - Thành-phố Vị-thanh:
Cự-ly: 18 km
Lộ-trình: Bến xe Gò-quao - Tỉnh-lộ Lộ-quẹo Gò-quao - Quốc-lộ 61 - Bến xe Vị-thanh.
- Tuyến 22: Bến xe Hòn-đất - Thị-trấn Tri-tôn
Cự-ly: 44 km
Lộ-trình: Bến xe Hòn-đất - Quốc-lộ 80 - Quốc-lộ N2 - Thị-trấn Thi-tôn
- Tuyến 23: Hà-tiên - Thị-trấn Ba-chúc
Cự-ly: 55 km
Lộ-trình: Bến xe Bình-san - Quốc-lộ 80 - Quốc-lộ N1 - Thị-trấn Ba-chúc
- Tuyến 24: Giồng-riềng - Vị-thanh
Cự-ly: 27 km
Lộ-trình: Bến xe Giồng-riềng - Tỉnh-lộ 963 - Bến xe Vị-thanh.
- Tuyến 25: Giồng-riềng - Cờ-đỏ
Cự-ly: 25 km
Lộ-trình: Bến xe Giồng-riềng - Tỉnh-lộ 921 - Cờ-đỏ
- Tuyến 26: Vĩnh-thuận - Ranh-hạt
Cự-ly: 26 km
Lộ-trình: Bến xe Vĩnh-thuận - Quốc-lộ 63 - Ranh-hạt
III. TUYẾN BUÝT ĐẶC-KHU PHÚ-QUỐC
- Tuyến 14: Dương-đông - Cửa Lắp - An-thới
Cự-ly: 21 km
Lộ-trình: Thị-trấn Dương-đông - Đường ven biển - Thị-trấn An-thới
- Tuyến 15: Dương-đông - Cửa Cạn - Gành-dầu
Cự-ly: 22,7 km
Lộ-trình: Thị-trấn Dương-đông - Ấp 2 Cửa Cạn - Gành-dầu
- Tuyến 16: Dương-đông - Hàm-ninh - Bãi Vòng
Cự-ly: 13 km
Lộ-trình: Thị-trấn Dương-đông - Hàm-ninh - Cảng Bãi Vòng.
- Tuyến 27: Gành-dầu - Rạch Vẹm - Rạch Tràm
Cự-ly: 18,7 km
Lộ-trình: Đường Cửa-cạn - Gành-dầu - Rạch Vẹm - Rạch Tràm
- Tuyến 28: Thị-trấn An-thới - Hàm-ninh
Cự-ly: 24 km
Lộ-trình: Thị-trấn An-thới - Hàm-ninh
- Tuyến 29: Dương-đông - Bãi Thơm
Cự-ly: 30 km
Lộ-trình: Thị-trấn Dương-đông - Đường Dương-đông - Bắc-đảo
http://bussaigonnais.blogspot.com/20...g-du-kien.html
-
Nếu đi từ thành phố Hồ Chí Minh thì bạn nên đặt chuyến xe lúc 12h đêm hôm trước, đến bến xe Rạch Giá khoảng 6h sáng, đi xe trung chuyển ...
-
LIỄN DÁN CÁC BÀN THỜ
12 Tháng 2 2015 lúc 9:20
LIỄN DÁN CÁC BÀN THỜ
Hằng năm cứ đến ngày đưa ÔNG TÁO về trời là sau khi cúng tiễn TÁO QUÂn xong, thì tất cả chưn nhang đều được nhổ ra, chỉ chừa lại 3 cây trong lư hương mà thôi, còn lại thì thiêu hóa chung với giấy tiền vàng bạc và giấy cò bay ngựa chạy để theo ông Táo về trời, kể cả đôi liễn dán hai bên bàn thờ ông Táo cũng thế. Và không riêng gì bàn thờ ông Táo mà tất cả bàn thờ trong nhà cũng vậy ! Dẹp hết để chưn nhang khỏi đùn quá cao, vừa mất mỸ quan vừa dễ gây hỏa hoạn. Sẵn làm vệ sinh lau chùi khảm thờ cho sạch sẽ, rồi... dứt luôn nhang khói... Mãi cho đến tận chiều ba mươi Tết, khi cúng rước Ông Bà về ăn Tết với con cháu, thì mới dán liễn mới lên để đón Giao Thừa và tiếp tục nhang khói như thường lệ.
Công việc của tôi hàng năm là tân trang và viết lại các đôi liễn mới nầy. Nào, ta bắt đầu từ trước sân nhà nhé. Một cây cột lửng được đóng giữa sân, trên gát một miếng ván vuông hoặc chữ nhật, có lư hương nhỏ hoặc một cái lon sửa bò đổ đầy cát để cắm nhang. Những nhà khá hơn thì cột được xây bằng gạch tiểu, trên gác một miếng gạch Tàu đo đỏ, còn nhà cửa khang trang hoặc phố chợ thì bàn thờ ÔNG THIÊN được đặt sát bên trái hoặc bên phải của cửa ra vào... Nhưng dù như thế nào thì trên bài vị hoặc trên thân cây cột để bàn thờ đều phải có 4 chữ : THIÊN QUAN TỨ PHƯỚC 天官賜福, có nghĩa các vị quan trên trời sẽ ban phát phước lành xuống cho gia chủ.
Thường thì chỉ đổi mới 4 chữ THIÊN QUAN TỨ PHƯỚC mà thôi, vì bàn thờ Ông Thiên bình dân thông thường không có câu đối, chỉ có nhà giàu hoặc ở các Đạo Quan, bàn thờ Ông Thiên lớn hơn, nên mới có câu đối 4 chữ như sau :
吉庆有余, Kiết khánh hữu dư,
受天百祿. Thụ thiên bách lộc.
Có nghĩa : Điều lành điều tốt có thừa,
Hưởng nhận trăm lộc của trời ban.
Bên dưới ngay cửa đi vào là bàn thờ Thổ Địa. Bước vào phòng khách thì ở bên trong ngay lối vào là bàn thờ của Thần Tài xây mặt ra cửa cái. Thường thì Thổ Địa và Thần Tài được thờ chung ở nơi đây, nên bài vị thường viết là :
Ngũ phương ngũ thổ long thần, 五方五土龍神,
Tiền hậu địa chủ tài thần. 前後地主財神.
Bên trên khảm thờ là 3 chữ TỤ BẢO ĐƯỜNG 聚寶堂,
câu đối 2 bên thường là như thế nầ : Kim chi sơ phát diệp, 金枝初發葉,
Ngân thọ chánh khai hoa. 銀樹正開花。
Có nghĩa : Cành vàng vừa trổ lá,
Cây bạc lúc ra hoa.
Hoặc là câu đối thật hay lấy từ bài Đằng Vương Các Tự của VƯƠNG BỘT đời Đường như sau :
Vật hoa thiên bảo nhật, 物華天寶日, Nhân kiệt địa linh thời. 人傑地靈時。
Có nghĩa : Đây là những ngày vật đẹp như là tinh hoa báo vật của trời. Cũng là lúc đất đai linh hiển nên sinh ra người giỏi ( hào kiệt ).
Đó là bàn thờ Thần tài Thổ Địa ở trong nhà, còn nếu là Miếu thờ Thổ Địa hoặc Thổ Thần cho cả làng xóm thì câu đối liễn sẽ hay hơn. Sau đây là liễn dán miếu Thổ Thần :
THỔ Vượng nhân tòng vượng, 土旺人從旺, THẦN an trạch tự an. 神安宅自安。 Có nghĩa : Đất có vượng thì người sẽ vượng theo, Thần có yên thì người tự nhiên cũng sẽ yên.
Và... Sau đây là liễn thờ miếu Thổ Địa :
THỔ năng sanh bạch ngọc, 土能生白玉, ĐỊA khả xuất hoàng kim. 地可出黃金。 Có nghĩa : Đất có thể sanh ra ngọc trắng, Đất cũng có thể cho ra vàng ròng.
Bạch Ngọc là Ngọc Trắng, một loại đá quí. Bạch Ngọc còn có thể hiểu đó là hạt gạo trắng tinh như Ngọc dùng để nuôi sống con người ! Và... Hoàng Kim là Vàng ròng, kim loại quí, Nếu biết siêng năng trồng trọt canh tác thì : " Tất đất sẽ cho Tất Vàng " như chơi !
Tùy theo gia đình, thường thì phía trên cùng của phòng khách là nơi thờ Thần Thánh, nếu nhà có lầu thì thờ ở trên lầu trong căn phòng phía trước. Các Vị Thần Thánh được thờ thường là Bà Quan Thế Âm Bồ Tát, Phật Tổ Như Lai, nhưng thông thường nhất là Bàn Thờ ÔNG, ÔNG ở đây là Ông QUAN CÔNG, tức QUAN VÂN TRƯỜNG thời Tam Quốc. Năm nào tôi cũng phải lau chùi quét dọn và viết lại bộ liễn của Bàn Thờ Ông. Bộ liễn khá bài bản và nghiêm trang như sau : Phía trên cùng của khảm thờ là 2 vòng tròn giấy đỏ trên viết 2 chữ CHÍNH KHÍ 正氣 để chỉ cái khí tiết chính trực của Quan Công, phía dưới 2 chữ Chính Khí là 4 chữ TRUNG TÂM QUÁN NHẬT 忠心貫日, có nghĩa : Lòng trung thành vằng vặc như mặt trời. Liễn 2 bên thì như vầy :
Chí tại Xuân Thu công tại Hán, 志在春秋功在漢, Trung đồng nhật nguyệt nghĩa đồng thiên. 忠同日月義同天。
Có nghĩa : Chí thì như ở đời Xuân Thu( muốn làm nên nghiệp lớn ), nhưng công thì ở đời Hán. Lòng trung thành như mặt trăng mặt trời, còn nghĩa thì cao tợ trời.
Một đôi liễn thường thấy ở Bàn Thờ Ông nữa là :
Thiên thu nghĩa dõng vô song sĩ, 千秋義勇無雙士, Vạn cổ tinh trung đệ nhất nhơn. 萬古精忠第一人。 Có nghĩa : Cái nghĩa khí và vũ dũng ngàn năm không có được 2 người, Lòng trung thành tuyệt đối muôn đời là người số 1 duy nhất.
Hai người đứng 2 bên Quan Công, người râu rìa mặt đen là Châu Thương cầm Thanh Long Yễm Nguyệt Đao, người mặt trắng đẹp trai là Quan Bình, ta bưng cái ấn Hớn Thọ ĐÌnh Hầu. Theo dị đoan thì lưỡi của Thanh Long Yễm nguyệt Đao phải xây về hướng nước ròng, tức là phải chém ngược dòng nước.
Dưới các khảm thờ của Thần Thánh mới là bàn thờ Tổ Tiên. Bàn thờ Gia Tiên thường đặt một hoặc nhiều bài vị của Tổ Tiên các đời, phía trên thường thấy 3 chữ ĐỨC LƯU PHƯƠNG 德流芳. Chữ LƯU 流 là Chảy, là Dòng Chảy, chứ không phải LƯU 留 là GIỮ, là ĐỂ Lại. Nên có nghĩa là : Cái ĐỨC phải sống động như dòng chảy tỏa mùi hương từ đời nầy sang đời khác, tức là muốn con cháu các đời đều phải TÍCH ĐỨC, chứ không phải chỉ trông chờ để hưởng cái ĐỨC của ông bà để lại. Vì hễ cái gì LƯU để lại thì cũng phải có ngày khánh kiệt, như gia tài chẳng hạn, ĐỨC cũng vậy, để ĐỨC lại cho con cháu mà con cháu không biết TÍCH ĐỨC thì ĐỨC đó cũng sẽ bị hao mòn khánh kiệt mà thôi !. Bên dưới 3 chữ ĐỨC LƯU PHƯƠNG là 4 chữ CỮU HUYỀN THẤT TỔ. Hai bên của 4 chữ CỬU HUYỀN THẤT TỔ là 2 câu đối. Có lần tôi đọc được đôi câu đối thật hay trong gia đình của một người bạn ở Nhơn Ái, thuộc huyện Phong Điền như sau :
Kính thất tổ thiên niên bất tận, 敬七祖千年不盡, Trọng cửu huyền nội ngoại tương đồng. 重九玄內外相同。Có nghĩa : Lòng kính trọng Thất Tổ ngàn năm không dứt, Tôn trọng Cửu Huyền của 2 bên nội ngoại như nhau.
Có người hỏi : CỬU HUYỀN THẤT TỖ chỉ những AI, gồm những AI ?!. Xin thưa :
CỬU HUYỀN THẤT TỔ gồm 9 đời Con Cháu và 7 đời Cha Ông, như sau :
CỬU HUYỀN là :
Tử, Tôn, Tằng, Huyền, Lai, Côn, Nhưng, Vân, Nhĩ. 九玄 : 子、 孫、 曾、 玄、 來、 昆、 仍、 雲、 耳 .
THẤT TỔ là :
Phụ, Tổ, Tằng, Cao, Thái, Huyền, Hiễn.
七祖 : 父、祖、 曾、 高、 太、 玄、 顯 .
Cuối cùng, ở phía sau nhà, nơi bếp nút củi lửa là bàn thờ ông Táo. Ta còn gọi là Thần Bếp, Vua Bếp, Táo Quân... Bên trên bàn thờ là 4 chữ : NGŨ KỴ CHI THỦ 五祀之首, hai bên là đôi liễn mà tôi đã có dịp trình bày trong bài TỐNG TÁO THI là :
有德能司火, Hữu đức năng ty hỏa, 無私可達天。 Vô tư khả đạt thiên.
Có nghĩa : Có ĐỨC thì mới có thể trông coi việc củi lửa bếp nút được. Phải CHÍ CÔNG VÔ TƯ thì mới được lên chầu trời ( để trình tấu mọi việc ).
NGŨ KỴ : là 5 chỗ cần phải cúng tế ở trong nhà, đó là : MÔN,HỘ là Cổng, cửa ( nơi ra vào ), TỈNH, TÁO là Giếng, Bếp ( nơi ăn uống ), TRUNG LƯU là phần giữa nhà ( nơi ngủ nghỉ ). Xưa thì cho rằng CỔNG là nơi đứng đầu cần phải cúng tế, nhưng sau với khuynh hướng' Dĩ thực vi thiên ", thì Bếp đứng đầu, nên bàn thờ Táo Quân mới có được 4 chữ " NGŨ KỴ CHI THỦ " là vì thế !
Đỗ Chiêu Đức
https://www.facebook.com/notes/tran-...3114065071468/
-
Taipei Tian Hou Temple (台北天后宮) — Josh Ellis Photography
www.goteamjosh.com/blog/tptianhou
Dec 3, 2016 - Right Shrine (左側殿): Kōbō-Daishi (弘法大師), Ksitigarbha (地藏王菩薩). Left Shrine (右側殿):Earth God (福德正神), The Tiger Generals (虎爺).
http://www.goteamjosh.com/blog/tptianhou
-
Monju (Sanskrit: Manjushri)
Sanskrit: Mañjuśrī मञ्जुश्री Tibetan: 'jam dpal dbyangs འཇམ་དཔལ་དབྱངས། Chinese: Wénshu 文殊 Vietnamese: Văn-thù-sư-lợi Japanese: Monju, Monjushiri ...
-
-
佛Phật 法Pháp 金Kim 湯Thang 編Biên 卷quyển 第đệ 七thất
Phật Pháp Kim Thang Biên ♦ Quyển 7
會hội 稽khể 沙Sa 門Môn 。 心tâm 泰thái 。 編biên 。
天thiên 台thai 沙Sa 門Môn 。 真chân 清thanh 。 閱duyệt 。
唐đường
都đô 長trường/trưởng 安an 。 起khởi 高cao 祖tổ 戊# 寅# 。 盡tận 哀ai 帝đế 丙bính 寅# 。 二nhị 十thập 一nhất 主chủ 。 二nhị 百bách 八bát 十thập 九cửu 年niên 。
高cao 祖tổ
帝đế 諱húy 淵uyên 。 字tự 叔thúc 德đức 。 李# 姓tánh 。 隴# 西tây 成thành 紀kỷ 人nhân 。 祖tổ 虎hổ 。 追truy 諡thụy 景cảnh 皇hoàng 帝đế 。 父phụ 昞# 。 諡thụy 仁nhân 公công 。 生sanh 高cao 祖tổ 於ư 長trường/trưởng 安an 。 武võ 德đức 元nguyên 年niên 帝đế 於ư 朱chu 雀tước 門môn 南nam 衢cù 建kiến 道Đạo 場Tràng 設thiết 無vô 遮già 大đại 會hội 。 又hựu 命mạng 僧Tăng 道đạo 各các 六lục 十thập 九cửu 人nhân 於ư 太thái 極cực 殿điện 七thất 日nhật 行hành 道Đạo 設thiết 千thiên 僧Tăng 齋trai 。 三tam 年niên 造tạo 靈linh 仙tiên 。 會hội 昌xương 。 勝thắng 業nghiệp 。 慈từ 悲bi 。 證chứng 果Quả 五ngũ 寺tự 。 嘗thường 捨xả 晉tấn 陽dương 舊cựu 第đệ 為vi 興hưng 聖thánh 寺tự 。 於ư 并tinh 州châu 造tạo 義nghĩa 興hưng 寺tự 。 為vi 太thái 祖tổ 元nguyên 皇hoàng 帝đế 造tạo 旃chiên 檀đàn 像tượng 三tam 軀khu 以dĩ 薦tiến 冥minh 福phước 。 四tứ 年niên 太thái 史sử 令linh 傅phó/phụ 奕dịch 上thượng 疏sớ/sơ 毀hủy 教giáo 。 法pháp 琳# 法Pháp 師sư 對đối 詔chiếu 論luận 之chi 。 奕dịch 議nghị 遂toại 寢tẩm (# 辨biện 正chánh 論luận 并tinh 舊cựu 唐đường 史sử )# 。
太thái 宗tông
帝đế 諱húy 世thế 民dân 。 高cao 祖tổ 次thứ 子tử 。 貞trinh 觀quán 元nguyên 年niên 正chánh 月nguyệt 詔chiếu 在tại 京kinh 德đức 行hạnh 沙Sa 門Môn 並tịnh 各các 於ư 當đương 寺tự 。 行hành 道đạo 七thất 日nhật 。 齋trai 供cung 所sở 須tu 有hữu 司ty 准chuẩn 給cấp 。 二nhị 年niên 詔chiếu 。 略lược 曰viết 。 神thần 道đạo 設thiết 教giáo 慈từ 悲bi 為vi 先tiên 。 玄huyền 化hóa 潛tiềm 通thông 亭đình 育dục 資tư 始thỉ 。 朕trẫm 恭cung 膺ưng 大đại 寶bảo 。 撫phủ 愛ái 黎lê 元nguyên 。 矜căng 愍mẫn 之chi 心tâm 觸xúc 類loại 而nhi 長trường/trưởng 。 是thị 用dụng 旁bàng 求cầu 冥minh 貺# 幽u 贊tán 明minh 靈linh 。 所sở 冀ký 九cửu 功công 惟duy 敘tự 五ngũ 福phước 。 斯tư 應ưng 宜nghi 為vì 普phổ 天thiên 億ức 兆triệu 仰ngưỡng 祈kỳ 加gia 祐hựu 。 可khả 於ư 京kinh 城thành 及cập 天thiên 下hạ 諸chư 州châu 寺tự 觀quán 僧Tăng 道đạo 等đẳng 七thất 日nhật 七thất 夜dạ 。 轉chuyển 經Kinh 行hành 道Đạo 。 辨biện 正chánh 錄lục )# 。 是thị 年niên 三tam 月nguyệt 詔chiếu 曰viết 。 自tự 隋tùy 創sáng/sang 義nghĩa 志chí 存tồn 拯chửng 溺nịch 。 壯tráng 征chinh 東đông 伐phạt 所sở 向hướng 平bình 殄điễn 。 凡phàm 所sở 傷thương 殪# 難nan 可khả 勝thắng 紀kỷ 。 手thủ 所sở 誅tru 剪tiễn 將tương 近cận 一nhất 千thiên 。 切thiết 以dĩ 如Như 來Lai 聖Thánh 教giáo 。 深thâm 尚thượng 仁nhân 慈từ 。 禁cấm 戒giới 之chi 科khoa 殺sát 害hại 為vi 重trọng/trùng 。 爰viên 命mạng 有hữu 司ty 。 京kinh 城thành 諸chư 寺tự 皆giai 為vi 建kiến 齋trai 行hành 道đạo 七thất 日nhật 七thất 夜dạ 。 竭kiệt 誠thành 禮lễ 懺sám 。 冀ký 三tam 途đồ 之chi 難nạn/nan 因nhân 期kỳ 解giải 脫thoát 。 萬vạn 劫kiếp 之chi 苦khổ 藉tạ 此thử 弘hoằng 濟tế 。 滅diệt 冤oan 障chướng 之chi 心tâm 。 趣thú 菩Bồ 提Đề 之chi 路lộ (# 舊cựu 唐đường 史sử )# 。 三tam 年niên 閏nhuận 十thập 二nhị 月nguyệt 詔chiếu 曰viết 。 有hữu 隋tùy 失thất 道đạo 。 九cửu 服phục 沸phí 騰đằng 。 朕trẫm 親thân 總tổng 元nguyên 戎nhung 。 致trí 茲tư 明minh 罰phạt 。 切thiết 恐khủng 九cửu 泉tuyền 之chi 下hạ 尚thượng 淪luân 鼎đỉnh 鑊hoạch 。 八bát 難nạn 之chi 間gian 永vĩnh 纏triền 氷băng 炭thán 。 所sở 以dĩ 樹thụ 立lập 福phước 田điền 濟tế 其kỳ 營doanh 魄phách 。 可khả 於ư 建kiến 義nghĩa 以dĩ 來lai 交giao 兵binh 之chi 處xứ 為vi 義nghĩa 士sĩ 囚tù 徒đồ 殞vẫn 身thân 戎nhung 陣trận 者giả 各các 建kiến 寺tự 剎sát 。 招chiêu 延diên 勝thắng 侶lữ 。 望vọng 法pháp 皷cổ 所sở 震chấn 變biến 炎diễm 火hỏa 於ư 青thanh 蓮liên 。 清thanh 梵Phạm 所sở 聞văn 易dị 苦khổ 海hải 於ư 甘cam 露lộ 。 所sở 司ty 量lượng 定định 處xứ 所sở 並tịnh 立lập 寺tự 宇vũ 。 具cụ 為vi 事sự 條điều 以dĩ 聞văn 。 稱xưng 朕trẫm 矜căng 哀ai 之chi 意ý (# 舊cựu 唐đường 史sử )# 。 是thị 年niên 玄huyền 奘tráng 法Pháp 師sư 詣nghệ 闕khuyết 陳trần 表biểu 往vãng 西tây 域vực 取thủ 未vị 至chí 經kinh 。 帝đế 不bất 許hứa 。 私tư 遁độn 而nhi 去khứ 。 五ngũ 年niên 帝đế 以dĩ 慶khánh 善thiện 宮cung 為vi 慈từ 德đức 寺tự 。 於ư 昭chiêu 陵lăng 立lập 瑤dao 臺đài 寺tự 。 七thất 年niên 勑# 禁cấm 堰yển 寨# 取thủ 魚ngư 者giả 。 并tinh 斷đoạn 屠đồ 殺sát 。 度độ 僧Tăng 尼ni 三tam 千thiên 人nhân (# 辨biện 正chánh 錄lục )# 。 九cửu 年niên 十thập 一nhất 月nguyệt 詔chiếu 曰viết 。 三tam 乘thừa 結kết 轍triệt 濟tế 度độ 為vi 先tiên 。 八bát 正chánh 歸quy 依y 慈từ 悲bi 為vi 主chủ 。 流lưu 智trí 慧tuệ 之chi 海hải 膏cao 澤trạch 群quần 生sanh 。 剪tiễn 煩phiền 惱não 之chi 林lâm 津tân 梁lương 品phẩm 物vật 。 任nhậm 真chân 體thể 道đạo 。 理lý 叶# 至chí 仁nhân 。 妙diệu 果Quả 勝thắng 因nhân 。 事sự 符phù 積tích 善thiện 。 朕trẫm 欽khâm 若nhược 金kim 輪luân 。 恭cung 膺ưng 寶bảo 命mạng 。 至chí 德đức 之chi 訓huấn 無vô 遠viễn 不bất 思tư 。 大đại 聖thánh 之chi 規quy 無vô 幽u 不bất 察sát 。 欲dục 使sử 人nhân 免miễn 盖# 纏triền 家gia 臻trăn 仁nhân 壽thọ 。 比tỉ 緣duyên 喪táng 亂loạn 僧Tăng 徒đồ 減giảm 少thiểu 。 華hoa 臺đài 寶bảo 塔tháp 窺khuy 戶hộ 無vô 人nhân 。 紺cám 髮phát 青thanh 蓮liên 櫛# 風phong 沐mộc 雨vũ 。 眷quyến 言ngôn 凋điêu 毀hủy 。 良lương 用dụng 憮# 然nhiên 。 其kỳ 天thiên 下hạ 諸chư 州châu 有hữu 寺tự 之chi 處xứ 。 宜nghi 度độ 僧Tăng 尼ni 。 數số 以dĩ 三tam 千thiên 為vi 限hạn 。 十thập 四tứ 年niên 五ngũ 月nguyệt 杜đỗ 順thuận 法Pháp 師sư 卒thốt 。 初sơ 為vi 隋tùy 文văn 帝đế 所sở 重trọng/trùng 。 給cấp 月nguyệt 俸bổng 供cung 之chi 。 至chí 是thị 帝đế 愈dũ 敬kính 之chi 。 常thường 引dẫn 入nhập 宮cung 事sự 之chi 如như 佛Phật 。 十thập 五ngũ 年niên 五ngũ 月nguyệt 帝đế 幸hạnh 弘hoằng 福phước 寺tự 。 召triệu 沙Sa 門Môn 道đạo 懿# 五ngũ 人nhân 賜tứ 坐tọa 言ngôn 剏# 寺tự 。 專chuyên 為vi 追truy 崇sùng 穆mục 太thái 后hậu 。 言ngôn 發phát 涕thế 零linh 。 自tự 製chế 疏sớ/sơ 文văn 。 令linh 回hồi 向hướng 罷bãi 。 謂vị 懿# 曰viết 。 頃khoảnh 以dĩ 老lão 子tử 是thị 朕trẫm 先tiên 宗tông 。 故cố 令linh 道đạo 在tại 前tiền 。 卿khanh 等đẳng 應ưng 有hữu 所sở 恨hận 。 懿# 曰viết 。 陛bệ 下hạ 尊tôn 祖tổ 宗tông 。 降giáng/hàng 成thành 式thức 。 懿# 等đẳng 荷hà 恩ân 。 詎cự 敢cảm 有hữu 恨hận 。 帝đế 曰viết 。 佛Phật 道Đạo 大đại 小tiểu 。 釋thích 老lão 尊tôn 卑ty 。 朕trẫm 已dĩ 久cửu 知tri 。 豈khởi 以dĩ 一nhất 時thời 在tại 上thượng 為vi 勝thắng 耶da 。 故cố 先tiên 老lão 子tử 者giả 。 以dĩ 別biệt 親thân 踈sơ 之chi 序tự 。 非phi 不bất 留lưu 心tâm 於ư 佛Phật 也dã 。 自tự 有hữu 國quốc 以dĩ 來lai 。 未vị 嘗thường 剏# 立lập 道đạo 觀quán 。 所sở 在tại 戰chiến 場tràng 皆giai 建kiến 佛Phật 寺tự 。 至chí 於ư 太thái 原nguyên 舊cựu 第đệ 亦diệc 以dĩ 奉phụng 佛Phật 。 朕trẫm 存tồn 心tâm 如như 此thử 。 卿khanh 等đẳng 想tưởng 未vị 諭dụ 也dã 。 朕trẫm 意ý 不bất 述thuật 則tắc 人nhân 不bất 知tri 。 十thập 七thất 年niên 詔chiếu 四tứ 祖tổ 信tín 大đại 師sư 赴phó 闕khuyết 。 使sứ 者giả 四tứ 返phản 。 信tín 堅kiên 臥ngọa 不bất 起khởi 。 就tựu 賜tứ 珍trân 繒tăng 以dĩ 遂toại 其kỳ 志chí (# 釋thích 監giám )# 。 十thập 八bát 年niên 勑# 曰viết 。 如Như 來Lai 滅diệt 度độ 。 以dĩ 末mạt 代đại 澆kiêu 浮phù 付phó 囑chúc 國quốc 王vương 大đại 臣thần 。 護hộ 持trì 佛Phật 法Pháp 。 遺di 教giáo 經kinh 者giả 是thị 佛Phật 涅Niết 槃Bàn 所sở 說thuyết 。 戒giới 勑# 弟đệ 子tử 甚thậm 為vi 詳tường 要yếu 。 末mạt 俗tục 緇# 素tố 不bất 知tri 崇sùng 奉phụng 。 永vĩnh 懷hoài 聖thánh 教giáo 用dụng 思tư 弘hoằng 闡xiển 。 宜nghi 令linh 有hữu 司ty 多đa 寫tả 經kinh 本bổn 。 付phó 京kinh 官quan 刺thứ 史sử 各các 一nhất 卷quyển 。 若nhược 見kiến 僧Tăng 尼ni 業nghiệp 行hành 與dữ 經kinh 不bất 同đồng 者giả 。 公công 私tư 勸khuyến 勉miễn 必tất 使sử 遵tuân 行hành (# 舊cựu 唐đường 史sử )# 。 十thập 九cửu 年niên 正chánh 月nguyệt 玄huyền 奘tráng 還hoàn 長trường/trưởng 安an 。 留lưu 守thủ 房phòng 玄huyền 齡linh 表biểu 聞văn 。 二nhị 月nguyệt 奘tráng 見kiến 帝đế 於ư 儀nghi 鸞loan 殿điện 。 帝đế 曰viết 師sư 去khứ 何hà 不bất 相tương 報báo 。 奘tráng 曰viết 去khứ 時thời 表biểu 三tam 上thượng 不bất 蒙mông 許hứa 可khả 。 乃nãi 輙triếp 私tư 行hành 。 帝đế 曰viết 。 師sư 能năng 委ủy 命mạng 求cầu 法Pháp 。 惠huệ 利lợi 蒼thương 生sanh 。 朕trẫm 甚thậm 嘉gia 焉yên 。 奘tráng 因nhân 奏tấu 西tây 域vực 所sở 獲hoạch 梵Phạm 本bổn 經kinh 論luận 六lục 百bách 五ngũ 十thập 七thất 部bộ 。 乞khất 就tựu 嵩tung 山sơn 少thiểu 林lâm 寺tự 宣tuyên 譯dịch 。 帝đế 曰viết 。 朕trẫm 頃khoảnh 為vi 穆mục 太thái 后hậu 剏# 弘hoằng 福phước 寺tự 。 可khả 就tựu 彼bỉ 翻phiên 譯dịch 。 勑# 房phòng 玄huyền 齡linh 監giám 護hộ 。 資tư 俻# 所sở 須tu 一nhất 出xuất 天thiên 府phủ (# 玄huyền 奘tráng 傳truyền )# 。 二nhị 十thập 二nhị 年niên 六lục 月nguyệt 帝đế 幸hạnh 坊phường 州châu 玉ngọc 華hoa 宮cung 。 召triệu 奘tráng 至chí 。 帝đế 曰viết 。 比tỉ 日nhật 所sở 譯dịch 何hà 經kinh 。 奘tráng 曰viết 近cận 譯dịch 瑜du 珈# 師sư 地địa 論luận 。 帝đế 覧# 之chi 謂vị 侍thị 臣thần 曰viết 。 佛Phật 教giáo 廣quảng 大đại 。 猶do 瞻chiêm 天thiên 瞰# 海hải 莫mạc 極cực 高cao 深thâm 。 九cửu 流lưu 典điển 籍tịch 如như 汀# 瀠# 方phương 溟minh 渤bột 耳nhĩ 。 世thế 言ngôn 三tam 教giáo 齊tề 致trí 者giả 。 此thử 妄vọng 談đàm 也dã 。 因nhân 勑# 有hữu 司ty 寫tả 新tân 譯dịch 經kinh 論luận 。 頒ban 賜tứ 十thập 道đạo 總tổng 管quản 。 御ngự 製chế 三tam 藏tạng 聖thánh 教giáo 序tự 。 以dĩ 冠quan 其kỳ 首thủ 。 賜tứ 奘tráng 百bách 金kim 磨ma 衲nạp 寶bảo 刀đao 。 嘗thường 問vấn 奘tráng 曰viết 。 法Pháp 門môn 之chi 益ích 何hà 所sở 宜nghi 先tiên 。 對đối 曰viết 。 弘hoằng 法pháp 須tu 人nhân 。 度độ 僧Tăng 為vi 最tối 。 帝đế 悅duyệt (# 舊cựu 唐đường 史sử 稽khể 古cổ 略lược )# 。 聖thánh 教giáo 序tự 略lược 曰viết 。 盖# 聞văn 二nhị 儀nghi 有hữu 像tượng 。 顯hiển 覆phúc 載tải 以dĩ 含hàm 生sanh 。 四tứ 時thời 無vô 形hình 。 潛tiềm 寒hàn 暑thử 以dĩ 化hóa 物vật 。 是thị 以dĩ 窺khuy 天thiên 鑒giám 地địa 。 庸dong 愚ngu 皆giai 識thức 其kỳ 端đoan 。 明minh 陰ấm 洞đỗng 陽dương 。 賢hiền 喆# 罕# 窮cùng 其kỳ 數số 。 故cố 知tri 像tượng 顯hiển 可khả 徵trưng 。 雖tuy 愚ngu 不bất 惑hoặc 。 形hình 潛tiềm 莫mạc 覩đổ 。 在tại 智trí 猶do 述thuật 。 況huống 乎hồ 佛Phật 道Đạo 崇sùng 虗hư 。 乘thừa 幽u 控khống 寂tịch 。 弘hoằng 濟tế 萬vạn 品phẩm 。 典điển 御ngự 十thập 方phương 。 大đại 之chi 則tắc 彌di 於ư 宇vũ 宙trụ 。 細tế 之chi 則tắc 攝nhiếp 於ư 毫hào 釐li 。 玅# 道đạo 凝ngưng 玄huyền 。 遵tuân 之chi 莫mạc 知tri 其kỳ 際tế 。 法pháp 流lưu 湛trạm 寂tịch 。 挹ấp 之chi 莫mạc 測trắc 其kỳ 源nguyên 。 然nhiên 則tắc 大đại 教giáo 之chi 興hưng 基cơ 乎hồ 西tây 土thổ/độ 。 騰đằng 漢hán 庭đình 而nhi 皎hiệu 夢mộng 。 照chiếu 東đông 域vực 而nhi 流lưu 慈từ 。 於ư 是thị 徵trưng 言ngôn 廣quảng 被bị 。 拯chửng 含hàm 類loại 於ư 三tam 途đồ 。 遺di 訓huấn 遐hà 宣tuyên 。 導đạo 群quần 生sanh 於ư 十Thập 地Địa 。 有hữu 玄huyền 奘tráng 法Pháp 師sư 者giả 。 幼ấu 懷hoài 貞trinh 敏mẫn 。 早tảo 悟ngộ 三tam 空không 。 長trường/trưởng 契khế 神thần 情tình 。 先tiên 包bao 四tứ 忍nhẫn 。 翹kiều 心tâm 淨tịnh 土độ 。 往vãng 遊du 西tây 域vực 十thập 有hữu 七thất 年niên 。 詢tuân 求cầu 正chánh 教giáo 凡phàm 六lục 百bách 五ngũ 十thập 七thất 部bộ 。 譯dịch 布bố 中trung 夏hạ 。 聖thánh 教giáo 缺khuyết 而nhi 復phục 全toàn 。 蒼thương 生sanh 罪tội 而nhi 還hoàn 福phước 。 方phương 冀ký 茲tư 經kinh 流lưu 施thí 。 將tương 日nhật 月nguyệt 以dĩ 無vô 窮cùng 。 斯tư 福phước 遐hà 敷phu 。 與dữ 乾can/kiền/càn 坤# 而nhi 永vĩnh 大đại 。
高cao 宗tông
帝đế 諱húy 治trị 。 字tự 為vi 善thiện 。 太thái 宗tông 第đệ 九cửu 子tử 。 永vĩnh 徽# 元nguyên 年niên 詔chiếu 天thiên 宮cung 慧tuệ 威uy 禪thiền 師sư 補bổ 四tứ 大đại 師sư 。 朝triêu 散tán 大đại 夫phu 。 五ngũ 年niên 特đặc 旨chỉ 度độ 沙Sa 彌Di 窺khuy 基cơ 為vi 大đại 僧Tăng (# 基cơ 。 尉úy 遲trì 敬kính 德đức 猶do 子tử 。 慈từ 恩ân 是thị 也dã )# 。 顯hiển 慶khánh 元nguyên 年niên 五ngũ 月nguyệt 勑# 天thiên 下hạ 僧Tăng 尼ni 有hữu 犯phạm 國quốc 法pháp 者giả 以dĩ 僧Tăng 律luật 治trị 之chi 。 不bất 得đắc 與dữ 民dân 同đồng 科khoa 。 三tam 年niên 六lục 月nguyệt 帝đế 剏# 西tây 明minh 寺tự 成thành 。 出xuất 繡tú 像tượng 長trường/trưởng 旛phan 安an 奉phụng 西tây 明minh 。 帝đế 曰viết 。 佛Phật 道Đạo 二nhị 教giáo 同đồng 歸quy 一nhất 善thiện 。 釋thích 宗tông 為vi 於ư 無vô 為vi 。 道đạo 門môn 德đức 於ư 不bất 德đức 。 師sư 等đẳng 學học 道Đạo 古cổ 今kim 。 業nghiệp 宗tông 空không 有hữu 。 可khả 共cộng 談đàm 名danh 理lý 以dĩ 相tương/tướng 啟khải 沃ốc 。 沙Sa 門Môn 慧tuệ 立lập 。 道Đạo 士sĩ 張trương 惠huệ 元nguyên 七thất 人nhân 於ư 百bách 福phước 殿điện 共cộng 論luận 名danh 理lý 。 帝đế 悅duyệt 。 補bổ 立lập 為vi 西tây 明minh 寺tự 都đô 維duy 那na (# 釋thích 監giám )# 。 四tứ 年niên 十thập 月nguyệt 制chế 以dĩ 玉ngọc 華hoa 宮cung 為vi 寺tự 。 追truy 崇sùng 先tiên 帝đế 。 詔chiếu 奘tráng 法Pháp 師sư 居cư 之chi 。 麟lân 德đức 元nguyên 年niên 二nhị 月nguyệt 奘tráng 法Pháp 師sư 卒thốt 。 帝đế 哭khốc 之chi 慟đỗng 。 罷bãi 朝triêu 五ngũ 日nhật 。 顧cố 左tả 右hữu 曰viết 。 國quốc 寶bảo 永vĩnh 失thất 。 可khả 謂vị 痛thống 心tâm 。 勑# 准chuẩn 如Như 來Lai 故cố 事sự 。 斂liểm 以dĩ 金kim 棺quan 銀ngân 槨# 。 塔tháp 於ư 滻# 水thủy 之chi 東đông 原nguyên 。 乾can/kiền/càn 封phong 二nhị 年niên 十thập 月nguyệt 道đạo 宣tuyên 律luật 師sư 卒thốt 。 有hữu 詔chiếu 傷thương 悼điệu 。 勑# 天thiên 下hạ 寺tự 圖đồ 形hình 塑tố 像tượng 以dĩ 為vi 軌quỹ 範phạm (# 舊cựu 唐đường 史sử 并tinh 二nhị 師sư 塔tháp 銘minh )# 。 帝đế 在tại 東đông 宮cung 日nhật 。 製chế 述thuật 聖thánh 記ký 。 略lược 曰viết 。 夫phu 顯hiển 揚dương 正chánh 教giáo 。 非phi 智trí 無vô 以dĩ 廣quảng 其kỳ 文văn 。 崇sùng 闡xiển 微vi 言ngôn 。 非phi 賢hiền 莫mạc 能năng 定định 其kỳ 旨chỉ 。 盖# 真Chân 如Như 聖thánh 教giáo 者giả 諸chư 法pháp 之chi 玄huyền 宗tông 。 眾chúng 經kinh 之chi 軌quỹ 躅trục 也dã 。 綜tống 括quát 宏hoành 遠viễn 。 奧áo 旨chỉ 遐hà 深thâm 。 極cực 空không 有hữu 之chi 精tinh 微vi 。 體thể 生sanh 滅diệt 之chi 機cơ 要yếu 。 詞từ 茂mậu 道đạo 曠khoáng 。 尋tầm 之chi 者giả 不bất 究cứu 其kỳ 源nguyên 。 文văn 顯hiển 義nghĩa 幽u 。 履lý 之chi 者giả 莫mạc 測trắc 其kỳ 際tế 。 故cố 知tri 聖thánh 慈từ 所sở 被bị 。 無vô 善thiện 不bất 臻trăn 無vô 惡ác 不bất 剪tiễn 。 開khai 法pháp 網võng 之chi 綱cương 紀kỷ 。 弘hoằng 六Lục 度Độ 之chi 正chánh 教giáo 。 拯chửng 群quần 有hữu 之chi 塗đồ 炭thán 。 啟khải 三tam 藏tạng 之chi 秘bí 扃# 。 伏phục 惟duy 皇hoàng 帝đế 陛bệ 下hạ 垂thùy 拱củng 而nhi 治trị 。 八bát 荒hoang 斂liểm 衽# 而nhi 朝triêu 萬vạn 國quốc 。 石thạch 室thất 歸quy 貝bối 葉diệp 之chi 文văn 。 金kim 匱quỹ 流lưu 萬vạn 說thuyết 之chi 偈kệ 。 遂toại 使sử 阿a 耨nậu 達đạt 水thủy 通thông 神thần 甸# 之chi 八bát 川xuyên 。 耆Kỳ 闍Xà 崛Quật 山Sơn 。 接tiếp 嵩tung 華hoa 之chi 翠thúy 嶺lĩnh 。 豈khởi 謂vị 重trọng/trùng 昏hôn 之chi 夜dạ 燭chúc 慧tuệ 矩củ 之chi 光quang 。 火hỏa 宅trạch 之chi 朝triêu 降giáng/hàng 法Pháp 雨vũ 之chi 澤trạch 。 於ư 是thị 百bách 川xuyên 異dị 流lưu 同đồng 會hội 於ư 海hải 。 萬vạn 區khu 分phần/phân 義nghĩa 總tổng 成thành 乎hồ 實thật 。 玄huyền 奘tráng 法Pháp 師sư 者giả 。 遠viễn 涉thiệp 恆Hằng 河Hà 。 頻tần 登đăng 雪tuyết 嶺lĩnh 。 問vấn 道đạo 往vãng 還hoàn 十thập 有hữu 七thất 載tái 。 以dĩ 貞trinh 觀quán 十thập 九cửu 年niên 二nhị 月nguyệt 六lục 日nhật 。 勑# 於ư 弘hoằng 福phước 寺tự 。 譯dịch 六lục 百bách 五ngũ 十thập 七thất 部bộ 。 御ngự 製chế 眾chúng 經kinh 序tự 。 理lý 含hàm 金kim 石thạch 之chi 聲thanh 。 文văn 抱bão 風phong 雲vân 之chi 潤nhuận 。 治trị 輙triếp 以dĩ 輕khinh 塵trần 足túc 岳nhạc 墜trụy 露lộ 添# 流lưu 。 略lược 舉cử 大đại 綱cương 以dĩ 為vi 斯tư 記ký 。
武võ 后hậu
后hậu 諱húy 瞾# 。 并tinh 州châu 文văn 水thủy 人nhân 。 高cao 宗tông 后hậu 。 垂thùy 拱củng 三tam 年niên 。 天Thiên 竺Trúc 沙Sa 門Môn 地địa 婆bà 訶ha 羅la (# 此thử 云vân 日nhật 照chiếu )# 在tại 長trường/trưởng 安an 譯dịch 密mật 嚴nghiêm 等đẳng 經kinh 。 后hậu 製chế 序tự 。 載tái 初sơ 元nguyên 年niên 勑# 沙Sa 門Môn 法Pháp 朗lãng 等đẳng 九cửu 人nhân 重trọng/trùng 譯dịch 大đại 雲vân 經kinh 。 並tịnh 封phong 縣huyện 公công 。 賜tứ 紫tử 袈ca 裟sa 銀ngân 龜quy 袋đại (# 賜tứ 紫tử 始thỉ 此thử )# 。 證chứng 聖thánh 元nguyên 年niên 初sơ 。 后hậu 以dĩ 晉tấn 譯dịch 華hoa 嚴nghiêm 經kinh 與dữ 會hội 未vị 俻# 。 遣khiển 使sứ 往vãng 于vu 闐điền 國quốc 迎nghênh 。 實Thật 叉Xoa 難Nan 陀Đà 。 至chí 是thị 至chí 東đông 都đô 大đại 徧biến 空không 寺tự 。 與dữ 菩Bồ 提Đề 流lưu 志chí 重trọng/trùng 譯dịch 成thành 八bát 十thập 卷quyển 。 后hậu 製chế 序tự 。 萬vạn 歲tuế 通thông 天thiên 元nguyên 年niên 遣khiển 使sứ 賜tứ 六lục 祖tổ 能năng 禪thiền 師sư 水thủy 晶tinh 鉢bát 磨ma 衲nạp 衣y 白bạch 氎điệp 香hương 茶trà 。 勑# 韶thiều 州châu 守thủ 臣thần 安an 撫phủ 山sơn 門môn 。 聖thánh 曆lịch 二nhị 年niên (# 稽khể 古cổ 略lược 云vân 長trường/trưởng 安an 元nguyên 年niên )# 勑# 法Pháp 藏tạng 法Pháp 師sư 於ư 佛Phật 授thọ 記ký 寺tự 講giảng 新tân 譯dịch 華hoa 嚴nghiêm 。 至chí 華hoa 藏tạng 世thế 界giới 品phẩm 。 講giảng 堂đường 及cập 地địa 。 皆giai 為vi 震chấn 動động 。 即tức 日nhật 引dẫn 對đối 長trường 生sanh 殿điện 宣tuyên 敷phu 玄huyền 義nghĩa 。 后hậu 茫mang 然nhiên 未vị 決quyết 。 藏tạng 指chỉ 殿điện 隅ngung 金kim 獅sư 子tử 為vi 譬thí 。 后hậu 豁hoát 然nhiên 領lãnh 解giải 。 封phong 師sư 為vi 賢Hiền 首Thủ 菩Bồ 薩Tát 戒giới 師sư 。 集tập 其kỳ 說thuyết 曰viết 金kim 獅sư 子tử 章chương 。 學học 者giả 尊tôn 稱xưng 為vi 賢hiền 首thủ 教giáo 云vân (# 高cao 僧Tăng 傳truyền 并tinh 舊cựu 唐đường 史sử )# 。
中trung 宗tông
帝đế 諱húy 顯hiển 。 高cao 宗tông 第đệ 七thất 子tử 。 母mẫu 曰viết 則tắc 天thiên 。 神Thần 龍Long 元nguyên 年niên 。 降giáng/hàng 御ngự 札# 召triệu 六lục 祖tổ 入nhập 京kinh 。 其kỳ 辭từ 曰viết 。 朕trẫm 延diên 安an 。 秀tú 二nhị 師sư 宮cung 中trung 供cúng 養dường 。 二nhị 師sư 云vân 。 南nam 方phương 能năng 禪thiền 師sư 密mật 受thọ 忍nhẫn 大đại 師sư 衣y 法pháp 。 可khả 召triệu 至chí 問vấn 法pháp 。 今kim 遣khiển 內nội 侍thị 薛Tiết 簡Giản 。 馳trì 詔chiếu 迎nghênh 請thỉnh 。 願nguyện 師sư 慈từ 念niệm 。 速tốc 赴phó 上thượng 京kinh 。 師sư 表biểu 辭từ 以dĩ 疾tật 。 簡giản 還hoàn 闕khuyết 以dĩ 奏tấu 。 又hựu 遣khiển 使sứ 賜tứ 袈ca 裟sa 瓶bình 鉢bát 以dĩ 諭dụ 主chủ 上thượng 向hướng 慕mộ 之chi 意ý (# 傳truyền 灯# )# 。 詔chiếu 義nghĩa 淨tịnh 三tam 藏tạng 於ư 內nội 道Đạo 場Tràng 譯dịch 孔khổng 雀tước 等đẳng 經kinh 。 御ngự 製chế 聖thánh 教giáo 序tự 以dĩ 冠quan 經kinh 首thủ 。 二nhị 年niên 勑# 造tạo 聖thánh 善thiện 寺tự 成thành 。 命mạng 上thượng 庸dong 公công 。 慧tuệ 範phạm 加gia 銀ngân 青thanh 光quang 祿lộc 大đại 夫phu 。 充sung 寺tự 主chủ 。 沙Sa 門Môn 萬vạn 歲tuế 加gia 。 朝triêu 散tán 大đại 夫phu 。 封phong 縣huyện 公công 。 充sung 都đô 維duy 那na 。 沙Sa 門Môn 廣quảng 清thanh 檢kiểm 校giáo 殿điện 中trung 監giám 。 充sung 功công 德đức 使sử 。 八bát 月nguyệt 詔chiếu 天thiên 下hạ 試thí 童đồng 行hành 經kinh 義nghĩa 。 挑thiêu 通thông 無vô 滯trệ 者giả 度độ 之chi (# 試thí 經kinh 度độ 僧Tăng 始thỉ 此thử 。 唐đường 史sử )# 。
景cảnh 龍long 二nhị 年niên 勑# 高cao 安an 令linh 崔thôi 思tư 亮lượng 往vãng 泗# 洲châu 迎nghênh 僧Tăng 伽già 大đại 師sư 至chí 京kinh 居cư 薦tiến 福phước 寺tự 。 帝đế 及cập 百bách 僚liêu 皆giai 稱xưng 弟đệ 子tử 。 睿# 宗tông 問vấn 萬vạn 回hồi 禪thiền 師sư 曰viết 僧Tăng 伽già 何hà 人nhân 。 曰viết 觀quán 音âm 化hóa 身thân 也dã (# 統thống 紀kỷ )# 。
睿# 宗tông
帝đế 諱húy 旦đán 。 高cao 宗tông 第đệ 八bát 子tử 。 景cảnh 雲vân 元nguyên 年niên 。 大đại 赦xá 天thiên 下hạ 。 賜tứ 百bá 官quan 封phong 爵tước 。 普phổ 度độ 僧Tăng 道đạo 萬vạn 數số (# 唐đường 史sử )# 。 二nhị 年niên 三tam 月nguyệt 三tam 日nhật 僧Tăng 伽già 示thị 寂tịch 。 勅sắc 就tựu 薦tiến 福phước 寺tự 塑tố 像tượng 建kiến 塔tháp 。 俄nga 臭xú 穢uế 滿mãn 城thành 。 詔chiếu 許hứa 歸quy 泗# 即tức 異dị 香hương 郁uất 然nhiên 。 遂toại 奉phụng 全toàn 身thân 還hoàn 普phổ 光quang 王vương 寺tự 建kiến 塔tháp (# 本bổn 傳truyền )# 。 十thập 月nguyệt 詔chiếu 萬vạn 回hồi 禪thiền 師sư 入nhập 宮cung 。 舘# 於ư 集tập 賢hiền 院viện 。 十thập 二nhị 月nguyệt 忽hốt 求cầu 閿# 鄉hương 河hà 水thủy 左tả 右hữu 不bất 可khả 得đắc 。 回hồi 曰viết 穴huyệt 堂đường 前tiền 地địa 可khả 得đắc 也dã 。 回hồi 飲ẩm 水thủy 畢tất 湛trạm 然nhiên 而nhi 逝thệ 。 贈tặng 司ty 徒đồ 虢# 國quốc 公công 。 勑# 圖đồ 形hình 集tập 賢hiền 院viện (# 本bổn 傳truyền )# 。 帝đế 復phục 於ư 北bắc 苑uyển 甘cam 露lộ 亭đình 勑# 菩Bồ 提Đề 流lưu 志chí 同đồng 法Pháp 藏tạng 。 塵trần 外ngoại 等đẳng 譯dịch 大đại 寶bảo 積tích 經kinh 。 宰tể 相tướng 張trương 說thuyết 。 右hữu 丞thừa 盧lô 藏tạng 用dụng 。 愽# 士sĩ 賀hạ 知tri 章chương 。 中trung 書thư 侍thị 郎lang 陸lục 象tượng 先tiên 。 尚thượng 書thư 郭quách 元nguyên 振chấn 。 侍thị 中trung 魏ngụy 知tri 古cổ 潤nhuận 文văn 監giám 護hộ 。 先tiên 天thiên 元nguyên 年niên 菩Bồ 提Đề 流lưu 志chí 等đẳng 進tiến 新tân 譯dịch 寶bảo 積tích 經kinh 百bách 二nhị 十thập 卷quyển 。 御ngự 製chế 聖thánh 教giáo 序tự (# 統thống 紀kỷ )# 。
玄huyền 宗tông
帝đế 諱húy 隆long 基cơ 。 睿# 宗tông 第đệ 三tam 子tử 。 開khai 元nguyên 元nguyên 年niên 勑# 以dĩ 寢tẩm 殿điện 材tài 建kiến 安an 國quốc 寺tự 彌Di 勒Lặc 佛Phật 殿điện 。 二nhị 年niên 帝đế 問vấn 左tả 街nhai 僧Tăng 錄lục 神thần 光quang 法Pháp 師sư 曰viết 。 佛Phật 於ư 眾chúng 生sanh 。 有hữu 何hà 恩ân 德đức 。 致trí 捨xả 君quân 親thân 棄khí 妻thê 子tử 而nhi 師sư 事sự 之chi 。 神thần 光quang 曰viết 。 佛Phật 於ư 眾chúng 生sanh 。 恩ân 過quá 天thiên 地địa 。 明minh 逾du 日nhật 月nguyệt 。 德đức 重trọng/trùng 父phụ 母mẫu 。 義nghĩa 過quá 君quân 臣thần 。 帝đế 曰viết 。 天thiên 地địa 日nhật 月nguyệt 。 具cụ 造tạo 化hóa 之chi 功công 。 父phụ 母mẫu 君quân 臣thần 具cụ 生sanh 成thành 之chi 德đức 。 何hà 以dĩ 言ngôn 佛Phật 並tịnh 過quá 此thử 乎hồ 。 神thần 光quang 曰viết 。 天thiên 只chỉ 能năng 盖# 不bất 能năng 載tái 。 地địa 只chỉ 能năng 載tái 不bất 能năng 盖# 。 日nhật 則tắc 照chiếu 晝trú 不bất 照chiếu 夜dạ 。 月nguyệt 則tắc 夜dạ 朗lãng 而nhi 晝trú 昏hôn 。 父phụ 只chỉ 能năng 生sanh 不bất 能năng 養dưỡng 。 母mẫu 只chỉ 能năng 養dưỡng 不bất 能năng 生sanh 。 君quân 有hữu 道đạo 則tắc 臣thần 忠trung 。 君quân 無vô 道đạo 則tắc 臣thần 侫# 。 以dĩ 此thử 而nhi 推thôi 。 德đức 則tắc 不bất 全toàn 。 且thả 佛Phật 於ư 眾chúng 生sanh 。 德đức 則tắc 不bất 爾nhĩ 。 論luận 盖# 則tắc 四tứ 生sanh 普phổ 覆phú 。 論luận 載tái 則tắc 六lục 道đạo 俱câu 承thừa 。 論luận 明minh 則tắc 照chiếu 耀diệu 十thập 方phương 。 論luận 朗lãng 則tắc 光quang 輝huy 三tam 有hữu 。 論luận 慈từ 則tắc 提đề 拔bạt 苦khổ 海hải 。 論luận 悲bi 則tắc 度độ 脫thoát 幽u 明minh 。 論luận 聖thánh 則tắc 眾chúng 聖thánh 中trung 王vương 。 論luận 神thần 則tắc 六Lục 通Thông 自tự 在tại 。 所sở 以dĩ 存tồn 亡vong 普phổ 救cứu 貴quý 賤tiện 皆giai 携huề 。 惟duy 願nguyện 陛bệ 下hạ 留lưu 心tâm 敬kính 仰ngưỡng 。 帝đế 悅duyệt 曰viết 。 佛Phật 恩ân 如như 此thử 。 非phi 師sư 莫mạc 宣tuyên 。 朕trẫm 當đương 生sanh 生sanh 敬kính 仰ngưỡng (# 唐đường 史sử )# 。 三tam 年niên 詔chiếu 一nhất 行hành 禪thiền 師sư 入nhập 見kiến 。 訪phỏng 以dĩ 安an 國quốc 撫phủ 民dân 之chi 道đạo 及cập 。 出xuất 世thế 法Pháp 要yếu 。 又hựu 嘗thường 問vấn 國quốc 祚tộ 何hà 如như 。 行hành 曰viết 鑾# 輿dư 有hữu 萬vạn 里lý 之chi 行hành 。 社xã 稷tắc 終chung 吉cát 。 尋tầm 以dĩ 金kim 合hợp 進tiến 之chi 。 帝đế 一nhất 日nhật 發phát 視thị 之chi 。 乃nãi 當đương 歸quy 少thiểu 許hứa 。 祿lộc 山sơn 之chi 亂loạn 。 帝đế 幸hạnh 蜀thục 至chí 萬vạn 里lý 橋kiều 。 未vị 幾kỷ 果quả 歸quy 。 乃nãi 悟ngộ 其kỳ 讖sấm 。 昭chiêu 宗tông 初sơ 封phong 吉cát 王vương 。 唐đường 之chi 社xã 稷tắc 至chí 昭chiêu 宗tông 遂toại 滅diệt 。 故cố 云vân 終chung 吉cát (# 一nhất 行hành 傳truyền )# 。 四tứ 年niên 無vô 畏úy 三tam 藏tạng 至chí 京kinh 。 舘# 於ư 西tây 明minh 。 後hậu 因nhân 旱hạn 。 帝đế 遣khiển 高cao 力lực 士sĩ 召triệu 畏úy 祈kỳ 雨vũ 。 畏úy 曰viết 今kim 旱hạn 數số 當đương 然nhiên 也dã 。 若nhược 苦khổ 召triệu 龍long 。 致trí 雨vũ 必tất 暴bạo 。 帝đế 強cường/cưỡng 之chi 曰viết 。 人nhân 苦khổ 暑thử 病bệnh 。 雖tuy 風phong 雷lôi 亦diệc 足túc 快khoái 意ý 。 畏úy 乃nãi 盛thịnh 水thủy 一nhất 鉢bát 。 以dĩ 小tiểu 刀đao 攪giảo 之chi 。 咒chú 以dĩ 梵Phạm 言ngôn 。 須tu 臾du 有hữu 物vật 如như 龍long 。 其kỳ 大đại 如như 指chỉ 。 矯kiểu 首thủ 水thủy 面diện 。 復phục 潛tiềm 鉢bát 底để 。 頃khoảnh 之chi 有hữu 白bạch 氣khí 自tự 盋# 而nhi 升thăng 直trực 上thượng 數số 尺xích 。 畏úy 謂vị 力lực 士sĩ 曰viết 亟# 去khứ 。 雨vũ 至chí 矣hĩ 。 既ký 而nhi 大đại 風phong 震chấn 電điện 驟sậu 雨vũ 如như 傾khuynh 。 樹thụ 為vi 之chi 拔bạt 。 第đệ 八bát 年niên 帝đế 御ngự 花hoa 蕚# 樓lâu 。 召triệu 法Pháp 師sư 道đạo 氤# 。 道Đạo 士sĩ 尹# 謙khiêm 對đối 辨biện 四tứ 十thập 餘dư 反phản 。 尹# 謙khiêm 義nghĩa 負phụ 。 有hữu 旨chỉ 編biên 其kỳ 所sở 論luận 入nhập 藏tạng 。 號hiệu 曰viết 開khai 元nguyên 佛Phật 道Đạo 論luận 衡hành (# 高cao 僧Tăng 傳truyền 并tinh 唐đường 史sử )# 。 十thập 九cửu 年niên 。 御ngự 註chú 金kim 剛cang 經kinh 。 頒ban 行hành 天thiên 下hạ (# 經kinh 目mục )# 。 廿# 六lục 年niên 。 詔chiếu 天thiên 下hạ 州châu 郡quận 各các 建kiến 一nhất 大đại 寺tự 。 以dĩ 紀kỷ 年niên 為vi 額ngạch 。 皆giai 號hiệu 開khai 元nguyên (# 唐đường 史sử )# 。 天thiên 寶bảo 五ngũ 年niên 詔chiếu 不bất 空không 三tam 藏tạng 入nhập 內nội 立lập 壇đàn 。 為vi 帝đế 灌quán 頂đảnh 。 夏hạ 旱hạn 復phục 令linh 禱đảo 雨vũ 。 大đại 霔# 。 賜tứ 紫tử 袈ca 裟sa 。 絹quyên 二nhị 百bách 疋thất 。 是thị 年niên 制chế 天thiên 下hạ 度độ 僧Tăng 尼ni 。 並tịnh 令linh 祠từ 部bộ 給cấp 牒điệp 。 十thập 二nhị 年niên 西tây 蕃phồn 入nhập 宼# 安an 西tây 。 召triệu 不bất 空không 入nhập 內nội 誦tụng 仁nhân 皇hoàng 護hộ 國quốc 密mật 語ngữ 。 帝đế 親thân 秉bỉnh 爐lô 。 有hữu 神thần 介giới 冑trụ 而nhi 至chí 。 帝đế 問vấn 曰viết 此thử 何hà 神thần 也dã 。 空không 曰viết 北bắc 方phương 毗Tỳ 沙Sa 門Môn 天Thiên 王Vương 長trưởng 子tử 也dã 。 空không 誦tụng 密mật 語ngữ 遣khiển 之chi 。 四tứ 月nguyệt 二nhị 十thập 日nhật 西tây 凉# 奏tấu 報báo 。 二nhị 月nguyệt 十thập 一nhất 日nhật 城thành 東đông 北bắc 三tam 十thập 里lý 許hứa 雲vân 霧vụ 間gian 神thần 兵binh 長trường/trưởng 偉# 。 城thành 北bắc 門môn 樓lâu 有hữu 光quang 明minh 。 空không 中trung 鼓cổ 角giác 。 聲thanh 震chấn 天thiên 地địa 。 西tây 蕃phồn 畏úy 懼cụ 卷quyển 甲giáp 遁độn 去khứ 。 帝đế 覽lãm 奏tấu 因nhân 勑# 諸chư 道đạo 城thành 樓lâu 置trí 天thiên 王vương 像tượng (# 不bất 空không 傳truyền )# 。
肅túc 宗tông
帝đế 諱húy 亨# 。 玄huyền 宗tông 第đệ 三tam 子tử 。 即tức 位vị 於ư 靈linh 武võ 。 改cải 元nguyên 至chí 德đức 。
時thời 宼# 難nạn/nan 方phương 盛thịnh 。 或hoặc 勸khuyến 帝đế 宜nghi 憑bằng 佛Phật 祐hựu 。 乃nãi 詔chiếu 沙Sa 門Môn 百bách 人nhân 入nhập 宮cung 行hành 道Đạo 。 朝triêu 夕tịch 諷phúng 唄bối 。 至chí 德đức 二nhị 載tái 詔chiếu 令linh 元nguyên 皎hiệu 於ư 鳳phượng 翔tường 開khai 元nguyên 寺tự 建kiến 藥dược 師sư 道Đạo 場Tràng 。 忽hốt 法Pháp 會hội 中trung 生sanh 李# 樹thụ 四tứ 十thập 九cửu 莖hành 。 皎hiệu 等đẳng 表biểu 賀hạ 。 勑# 答đáp 曰viết 。 瑞thụy 李# 滋tư 繁phồn 。 國quốc 興hưng 之chi 兆triệu 。 生sanh 處xứ 伽già 藍lam 之chi 內nội 。 亦diệc 知tri 覺giác 樹thụ 之chi 榮vinh 。 感cảm 此thử 殊thù 祥tường 。 與dữ 師sư 同đồng 慶khánh 。 乾can/kiền/càn 元nguyên 元nguyên 年niên 帝đế 於ư 禁cấm 中trung 立lập 內nội 道Đạo 場Tràng 。 講giảng 誦tụng 讚tán 唄bối 。 尋tầm 勑# 五ngũ 岳nhạc 各các 建kiến 一nhất 寺tự 。 選tuyển 高cao 行hành 沙Sa 門Môn 主chủ 之chi 。 二nhị 年niên 詔chiếu 天thiên 下hạ 諸chư 州châu 各các 置trí 放phóng 生sanh 池trì 。 勑# 昇thăng 州châu 刺thứ 史sử 顏nhan 真chân 卿khanh 撰soạn 碑bi 。 上thượng 元nguyên 元nguyên 年niên 勑# 中trung 使sử 往vãng 韶thiều 州châu 曹tào 溪khê 迎nghênh 六lục 祖tổ 衣y 鉢bát 入nhập 內nội 瞻chiêm 禮lễ 。 二nhị 年niên 詔chiếu 南nam 陽dương 慧tuệ 忠trung 禪thiền 師sư 赴phó 京kinh 。 詔chiếu 曰viết 。 朕trẫm 聞văn 調điều 御ngự 上thượng 乘thừa 久cửu 安an 中trung 土thổ/độ 。 大đại 雄hùng 付phó 囑chúc 實thật 在tại 朕trẫm 躬cung 。 良lương 緣duyên 斯tư 在tại 。 勿vật 以dĩ 為vi 勞lao 。 仗trượng 錫tích 而nhi 來lai 京kinh 師sư 非phi 遠viễn 。 齋trai 心tâm 已dĩ 久cửu 速tốc 副phó 朕trẫm 懷hoài 。 師sư 赴phó 京kinh 。 安an 置trí 千thiên 福phước 寺tự 。 待đãi 以dĩ 師sư 禮lễ 。 帝đế 問vấn 師sư 在tại 曹tào 溪khê 得đắc 何hà 法pháp 。 忠trung 曰viết 陛bệ 下hạ 還hoàn 見kiến 空không 中trung 一nhất 片phiến 雲vân 否phủ/bĩ 。 帝đế 曰viết 見kiến 。 忠trung 曰viết 。 釘đinh/đính 釘đinh/đính 著trước 。 懸huyền 掛quải 著trước 。 帝đế 一nhất 日nhật 齋trai 沐mộc 致trí 十thập 問vấn 於ư 師sư 。 師sư 答đáp 之chi 稱xưng 旨chỉ 。 帝đế 由do 是thị 凝ngưng 心tâm 玄huyền 理lý (# 舊cựu 唐đường 史sử 。 傳truyền 灯# )# 。
代đại 宗tông
帝đế 諱húy 豫dự 。 肅túc 宗tông 長trưởng 子tử 。 廣quảng 德đức 元nguyên 年niên 十thập 一nhất 月nguyệt 吐thổ 蕃phồn 陷hãm 京kinh 師sư 。 帝đế 在tại 幸hạnh 陰ấm 五ngũ 臺đài 。 文Văn 殊Thù 出xuất 現hiện 以dĩ 秘bí 語ngữ 授thọ 帝đế 。 及cập 郭quách 子tử 儀nghi 克khắc 復phục 京kinh 師sư 駕giá 還hoàn 長trường/trưởng 安an 。 詔chiếu 修tu 五ngũ 臺đài 文Văn 殊Thù 殿điện 。 鑄chú 銅đồng 為vi 瓦ngõa 。 塗đồ 以dĩ 黃hoàng 金kim (# 釋thích 監giám )# 。 二nhị 年niên 詔chiếu 內nội 道Đạo 場Tràng 三tam 百bách 僧Tăng 講giảng 誦tụng 仁nhân 王vương 般Bát 若Nhã 。 永vĩnh 泰thái 元nguyên 年niên 詔chiếu 天thiên 下hạ 有hữu 司ty 毋vô 得đắc 捶chúy 辱nhục 僧Tăng 尼ni 。 五ngũ 月nguyệt 送tống 六lục 祖tổ 衣y 鉢bát 歸quy 曹tào 溪khê 。 九cửu 月nguyệt 鑄chú 金kim 銅đồng 佛Phật 像tượng 成thành 。 帝đế 率suất 百bách 僚liêu 致trí 拜bái 。 大đại 曆lịch 元nguyên 年niên 七thất 月nguyệt 作tác 盂vu 蘭lan 盆bồn 會hội 於ư 禁cấm 中trung 。 設thiết 高cao 祖tổ 太thái 宗tông 以dĩ 下hạ 七thất 聖thánh 位vị 祗chi 薦tiến 冥minh 福phước 。 歲tuế 以dĩ 為vi 常thường 。 三tam 年niên 詔chiếu 不bất 空không 就tựu 於ư 大Đại 興Hưng 善Thiện 寺Tự 立lập 壇đàn 。 命mạng 近cận 臣thần 諸chư 將tương 令linh 師sư 灌quán 頂đảnh 。 署thự 大đại 廣quảng 智trí 三tam 藏tạng 。 又hựu 詔chiếu 徑kính 山sơn 法pháp 欽khâm 禪thiền 師sư 入nhập 見kiến 。 待đãi 以dĩ 師sư 禮lễ 。 及cập 乞khất 歸quy 山sơn 。 賜tứ 號hiệu 國quốc 一nhất 。 四tứ 年niên 於ư 大đại 明minh 宮cung 建kiến 道Đạo 場Tràng 。 感cảm 佛Phật 光quang 現hiện 。 宰tể 相tướng 裴# 冕# 表biểu 賀hạ 。 五ngũ 年niên 加gia 不bất 空không 開khai 府phủ 儀nghi 同đồng 三tam 司ty 肅túc 國quốc 公công 。 九cửu 年niên 帝đế 夢mộng 建kiến 康khang 牛ngưu 首thủ 山sơn 辟Bích 支Chi 佛Phật 來lai 見kiến 。 勑# 太thái 子tử 詹# 事sự 古cổ 侁# 即tức 山sơn 中trung 建kiến 七thất 級cấp 浮phù 圖đồ 。 是thị 年niên 道Đạo 士sĩ 史sử 華hoa 者giả 以dĩ 術thuật 得đắc 幸hạnh 。 因nhân 請thỉnh 立lập 刃nhận 梯thê 與dữ 沙Sa 門Môn 角giác 法pháp 。 勑# 兩lưỡng 街nhai 選tuyển 僧Tăng 應ưng 之chi 。 沙Sa 門Môn 崇sùng 慧tuệ 表biểu 請thỉnh 挫tỏa 之chi 。 帝đế 帥súy 百bách 僚liêu 臨lâm 觀quán 。 華hoa 履lý 刃nhận 而nhi 上thượng 。 招chiêu 慧tuệ 登đăng 之chi 。 慧tuệ 躡niếp 而nhi 昇thăng 。 往vãng 復phục 無vô 傷thương 。 乃nãi 命mạng 薪tân 烈liệt 火hỏa 聚tụ 於ư 庭đình 。 慧tuệ 入nhập 以dĩ 呼hô 華hoa 。 華hoa 慚tàm 汗hãn 。 不bất 敢cảm 正chánh 視thị 。 帝đế 大đại 悅duyệt 。 賜tứ 慧tuệ 號hiệu 護hộ 國quốc 三tam 藏tạng (# 舊cựu 史sử 。 稽khể 古cổ 略lược 。 論luận 衡hành )# 。
德đức 宗tông
帝đế 諱húy 适# 。 代đại 宗tông 長trưởng 子tử 。 建kiến 中trung 元nguyên 年niên 沙Sa 門Môn 圓viên 照chiếu 進tiến 新tân 定định 四tứ 分phần/phân 律luật 疏sớ/sơ 。 勑# 賜tứ 紫tử 衣y 。 充sung 內nội 供cung 奉phụng 檢kiểm 校giáo 鴻hồng 臚lư 卿khanh 。 食thực 邑ấp 三tam 百bách 戶hộ (# 統thống 紀kỷ )# 。 貞trinh 元nguyên 二nhị 年niên 詔chiếu 律luật 師sư 道đạo 澄trừng 入nhập 宮cung 為vi 妃phi 嬪# 內nội 侍thị 授thọ 三Tam 歸Quy 戒giới 。 賜tứ 號hiệu 大đại 圓viên 律luật 師sư 。 四tứ 年niên 詔chiếu 迎nghênh 鳳phượng 翔tường 法Pháp 門môn 寺tự 佛Phật 指chỉ 骨cốt 入nhập 禁cấm 中trung 供cúng 養dường 。 傳truyền 至chí 諸chư 寺tự 瞻chiêm 禮lễ 。 十thập 五ngũ 年niên 四tứ 月nguyệt 帝đế 誕đản 節tiết 。 勑# 有hữu 司ty 俻# 儀nghi 輦liễn 迎nghênh 教giáo 授thọ 和hòa 尚thượng 澄trừng 觀quán 入nhập 內nội 殿điện 。 闡xiển 揚dương 華hoa 嚴nghiêm 宗tông 旨chỉ 。 觀quán 升thăng 座tòa 曰viết 。 大đại 哉tai 真chân 界giới 。 萬vạn 法pháp 資tư 始thỉ 。 包bao 空không 有hữu 而nhi 絕tuyệt 相tương/tướng 。 入nhập 言ngôn 象tượng 而nhi 無vô 迹tích 。 妙diệu 有hữu 不bất 有hữu 。 真chân 空không 不bất 空không 。 我ngã 佛Phật 得đắc 之chi 。 妙diệu 踐tiễn 真chân 覺giác 。 廓khuếch 淨tịnh 塵trần 習tập 。 寂tịch 寥liêu 於ư 萬vạn 化hóa 之chi 域vực 。 動động 用dụng 於ư 一nhất 虗hư 之chi 中trung 。 融dung 身thân 剎sát 以dĩ 相tương/tướng 含hàm 。 流lưu 聲thanh 光quang 而nhi 遐hà 燭chúc 。 我ngã 皇hoàng 得đắc 之chi (# 云vân 云vân )# 。 帝đế 顧cố 謂vị 群quần 臣thần 曰viết 。 朕trẫm 之chi 師sư 。 言ngôn 雅nhã 而nhi 簡giản 。 詞từ 典điển 而nhi 富phú 。 能năng 以dĩ 聖thánh 法pháp 清thanh 凉# 朕trẫm 心tâm 。 乃nãi 以dĩ 清thanh 凉# 賜tứ 為vi 國quốc 師sư 之chi 號hiệu (# 清thanh 涼lương 本bổn 傳truyền )# 。
順thuận 宗tông
帝đế 諱húy 誦tụng 。 德đức 宗tông 長trưởng 子tử 。 在tại 東đông 宮cung 時thời 問vấn 佛Phật 光quang 如như 滿mãn 禪thiền 師sư 曰viết 。 佛Phật 從tùng 何hà 方phương 來lai 。 滅diệt 向hướng 何hà 方phương 去khứ 。 既ký 言ngôn 常thường 住trụ 世thế 。 佛Phật 今kim 在tại 何hà 處xứ 。 滿mãn 曰viết 。 佛Phật 從tùng 無vô 為vi 來lai 。 滅diệt 向hướng 無vô 為vi 去khứ 。 法Pháp 身thân 等đẳng 虗hư 空không 。 常thường 在tại 無vô 心tâm 處xứ 。
又hựu 問vấn 。
佛Phật 向hướng 王vương 宮cung 生sanh 。 滅diệt 向hướng 雙song 林lâm 滅diệt 。 住trụ 世thế 四tứ 十thập 九cửu 。 又hựu 言ngôn 無vô 法pháp 說thuyết 。 滿mãn 曰viết 。 佛Phật 躰# 本bổn 無vô 為vi 。 迷mê 情tình 妄vọng 分phân 別biệt 。 法Pháp 身thân 等đẳng 虗hư 空không 。 未vị 曾tằng 有hữu 生sanh 滅diệt (# 云vân 云vân )# 。 帝đế 大đại 悅duyệt 。 永vĩnh 貞trinh 元nguyên 年niên 嘗thường 問vấn 清thanh 涼lương 國quốc 師sư 至chí 道Đạo 心tâm 法pháp 。 師sư 答đáp 曰viết 。 至chí 道đạo 本bổn 乎hồ 其kỳ 心tâm 。 心tâm 法pháp 本bổn 乎hồ 無vô 住trụ 。 心tâm 躰# 靈linh 知tri 不bất 昧muội 。 性tánh 相tướng 寂tịch 然nhiên (# 云vân 云vân )# 。 又hựu 嘗thường 問vấn 尸thi 利lợi 禪thiền 師sư 。 大đại 地địa 眾chúng 生sanh 如như 何hà 得đắc 見kiến 性tánh 成thành 佛Phật 去khứ 。 尸thi 利lợi 曰viết 。 佛Phật 性tánh 如như 水thủy 中trung 月nguyệt 。 可khả 見kiến 不bất 可khả 取thủ 。 帝đế 悟ngộ 其kỳ 意ý (# 傳truyền 灯# )# 。
憲hiến 宗tông
帝đế 諱húy 純thuần 。 順thuận 宗tông 長trưởng 子tử 。 元nguyên 和hòa 元nguyên 年niên 十thập 月nguyệt 詔chiếu 天thiên 下hạ 有hữu 道Đạo 行hạnh 僧Tăng 赴phó 京kinh 闡xiển 化hóa 。 二nhị 年niên 二nhị 月nguyệt 勑# 沙Sa 門Môn 端đoan 甫phủ 錄lục 左tả 街nhai 僧Tăng 事sự 。 靈linh 邃thúy 錄lục 右hữu 街nhai 僧Tăng 事sự 。 詔chiếu 信tín 州châu 鵞nga 湖hồ 大đại 義nghĩa 禪thiền 師sư 入nhập 麟lân 德đức 殿điện 。 設thiết 齋trai 召triệu 諸chư 大đại 德đức 論luận 道đạo 。 帝đế 臨lâm 聽thính 論luận 議nghị 。 有hữu 法Pháp 師sư 問vấn 何hà 謂vị 四tứ 諦đế 。 義nghĩa 曰viết 聖thánh 上thượng 一nhất 帝đế 。 三tam 諦đế 何hà 在tại 。 又hựu 問vấn 如như 何hà 是thị 禪thiền 。 義nghĩa 以dĩ 指chỉ 點điểm 空không 。 法Pháp 師sư 無vô 對đối 。 帝đế 曰viết 。 法Pháp 師sư 講giảng 無vô 窮cùng 經kinh 論luận 。 只chỉ 這giá 一nhất 點điểm 尚thượng 不bất 奈nại 何hà 。 帝đế 問vấn 義nghĩa 曰viết 。 何hà 者giả 是thị 佛Phật 性tánh 。 義nghĩa 曰viết 不bất 離ly 陛bệ 下hạ 所sở 問vấn 。 帝đế 默mặc 契khế 。 由do 是thị 益ích 重trọng/trùng 禪thiền 宗tông 。 四tứ 年niên 五ngũ 月nguyệt 勑# 有hữu 司ty 別biệt 鑄chú 金kim 印ấn 加gia 清thanh 涼lương 國quốc 師sư 。 號hiệu 僧Tăng 統thống 國quốc 師sư 。 主chủ 教giáo 門môn 事sự (# 釋thích 監giám )# 。 八bát 年niên 賜tứ 諡thụy 江giang 西tây 馬mã 祖tổ 曰viết 大đại 寂tịch 。 塔tháp 曰viết 大đại 莊trang 巖nham 。 九cửu 年niên 勑# 諡thụy 百bách 丈trượng 懷hoài 海hải 曰viết 大đại 智trí 。 塔tháp 曰viết 大đại 寶bảo 勝thắng 輪luân 。 十thập 年niên 嶺lĩnh 南nam 節tiết 度độ 使sử 馬mã 總tổng 以dĩ 曹tào 溪khê 六lục 祖tổ 未vị 有hữu 稱xưng 號hiệu 疏sớ/sơ 聞văn 於ư 上thượng 。 詔chiếu 諡thụy 大đại 鑑giám 禪thiền 師sư 。 塔tháp 曰viết 靈linh 照chiếu 。 十thập 四tứ 年niên 遣khiển 中trung 使sử 杜đỗ 英anh 奇kỳ 迎nghênh 鳳phượng 翔tường 法pháp 雲vân 寺tự 護hộ 國quốc 真chân 身thân 塔tháp 內nội 釋Thích 迦Ca 文Văn 佛Phật 。 指chỉ 骨cốt 入nhập 內nội 。 帝đế 御ngự 安an 福phước 門môn 迎nghênh 拜bái 。 留lưu 禁cấm 中trung 供cung 奉phụng 三tam 日nhật 。 五ngũ 色sắc 光quang 現hiện 。 百bách 僚liêu 稱xưng 賀hạ 。 歷lịch 送tống 諸chư 寺tự 而nhi 威uy 儀nghi 音âm 樂nhạc 旌tinh 旛phan 偉# 盛thịnh 殊thù 特đặc 。 刑hình 部bộ 侍thị 郎lang 韓# 愈dũ 上thượng 表biểu 極cực 諫gián 。 帝đế 大đại 怒nộ 。 貶biếm 潮triều 州châu 刺thứ 史sử (# 舊cựu 史sử 并tinh 傳truyền 灯# )# 。
穆mục 宗tông
帝đế 諱húy 恆hằng 。 憲hiến 宗tông 第đệ 三tam 子tử 。 長trường/trưởng 慶khánh 元nguyên 年niên 三tam 月nguyệt 盧lô 龍long 節tiết 度độ 使sử 劉lưu 總tổng 舉cử 幽u 燕yên 二nhị 十thập 餘dư 郡quận 歸quy 朝triêu 乞khất 度độ 為vi 僧Tăng 。 詔chiếu 賜tứ 僧Tăng 衣y 。 號hiệu 大đại 覺giác 大đại 師sư 。 署thự 所sở 居cư 第đệ 為vi 報báo 恩ân 寺tự (# 舊cựu 史sử )# 。 二nhị 年niên 遣khiển 左tả 街nhai 僧Tăng 錄lục 靈linh 阜phụ 賷# 詔chiếu 起khởi 汾# 州châu 無vô 業nghiệp 禪thiền 師sư 赴phó 闕khuyết 。 阜phụ 至chí 宣tuyên 詔chiếu 畢tất 稽khể 首thủ 曰viết 願nguyện 師sư 起khởi 赴phó 。 師sư 笑tiếu 曰viết 貧bần 道đạo 何hà 德đức 。 累lũy/lụy/luy 煩phiền 人nhân 主chủ 。 汝nhữ 可khả 先tiên 行hành 。 吾ngô 即tức 往vãng 矣hĩ 。 遂toại 沐mộc 浴dục 端đoan 坐tọa 而nhi 逝thệ 。 阜phụ 迴hồi 奏tấu 其kỳ 事sự 。 帝đế 嘉gia 嘆thán 。 賜tứ 諡thụy 大đại 達đạt 國quốc 師sư (# 傳truyền 灯# )# 。 嘗thường 製chế 南nam 山sơn 宣tuyên 律luật 師sư 讚tán 曰viết 。 代đại 有hữu 覺giác 人nhân 。 為vi 如Như 來Lai 使sử 。 龍long 鬼quỷ 歸quy 降giáng/hàng 。 天thiên 人nhân 奉phụng 事sự 。 聲thanh 飛phi 五ngũ 天thiên 。 辭từ 驚kinh 萬vạn 里lý 。 金kim 烏ô 西tây 沉trầm 。 佛Phật 日nhật 東đông 舉cử 。 稽khể 首thủ 皈quy 依y 。 肇triệu 律luật 宗tông 主chủ 。
敬kính 宗tông
帝đế 諱húy 湛trạm 。 穆mục 宗tông 長trưởng 子tử 。 寶bảo 曆lịch 元nguyên 年niên 勑# 兩lưỡng 街nhai 建kiến 方Phương 等Đẳng 戒giới 壇đàn 。 左tả 街nhai 安an 國quốc 寺tự 。 右hữu 街nhai 興hưng 福phước 寺tự 。 以dĩ 中trung 護hộ 軍quân 劉lưu 規quy 充sung 左tả 右hữu 街nhai 功công 德đức 使sử 。 擇trạch 戒giới 行hạnh 者giả 為vi 大đại 德đức 。 令linh 試thí 童đồng 子tử 經kinh 得đắc 度độ (# 統thống 紀kỷ )# 。
文văn 宗tông
帝đế 諱húy 昂ngang 。 穆mục 宗tông 次thứ 子tử 。 太thái 和hòa 元nguyên 年niên 十thập 月nguyệt 誕đản 節tiết 。 詔chiếu 秘bí 書thư 監giám 白bạch 居cư 易dị 。 安an 國quốc 寺tự 引dẫn 駕giá 大đại 師sư 義nghĩa 林lâm 。 上thượng 清thanh 宮cung 道Đạo 士sĩ 楊dương 弘hoằng 元nguyên 於ư 麟lân 德đức 殿điện 談đàm 論luận 三tam 教giáo (# 樂nhạo/nhạc/lạc 天thiên 文văn 集tập )# 。 五ngũ 年niên 。 帝đế 好hảo/hiếu 食thực 蛤# 蜊# 。 一nhất 日nhật 有hữu 菩Bồ 薩Tát 現hiện 。 像tượng 于vu 蛤# 中trung 。 詔chiếu 太thái 乙ất 山sơn 惟duy 政chánh 禪thiền 師sư 問vấn 之chi 。 政chánh 曰viết 。 物vật 無vô 虗hư 應ưng 。 此thử 盖# 廣quảng 陛bệ 下hạ 信tín 心tâm 耳nhĩ 。 經Kinh 云vân 。 應ưng 以dĩ 此thử 身thân 得đắc 度độ 者giả 。 即tức 現hiện 此thử 身thân 。 而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp 。 帝đế 曰viết 。 大Đại 士Sĩ 已dĩ 現hiện 。 未vị 聞văn 說thuyết 法Pháp 。 政chánh 曰viết 。 陛bệ 下hạ 覩đổ 此thử 為vi 常thường 耶da 非phi 常thường 耶da 。 信tín 耶da 非phi 信tín 耶da 。 帝đế 曰viết 。 希hy 有hữu 之chi 事sự 。 焉yên 得đắc 不bất 信tín 。 政chánh 曰viết 。 已dĩ 說thuyết 法Pháp 竟cánh 。 帝đế 大đại 悅duyệt 。 即tức 詔chiếu 天thiên 下hạ 寺tự 院viện 皆giai 立lập 觀quán 音âm 聖thánh 像tượng (# 釋thích 監giám )# 。 開khai 成thành 三tam 年niên 三tam 月nguyệt 。 澄trừng 觀quán 卒thốt 。 帝đế 以dĩ 祖tổ 聖thánh 宗tông 仰ngưỡng 。 特đặc 輟chuyết 朝triêu 三tam 日nhật 。 重trọng/trùng 臣thần 縞cảo 素tố 。 奉phụng 全toàn 身thân 塔tháp 於ư 終chung 南nam 山sơn 。
宣tuyên 宗tông
帝đế 諱húy 忱# 。 憲hiến 宗tông 第đệ 十thập 三tam 子tử 。 封phong 光quang 王vương 。 武võ 宗tông 忌kỵ 之chi 。 拘câu 於ư 後hậu 苑uyển 。 宦# 者giả 仇cừu 士sĩ 良lương 潛tiềm 令linh 髠khôn 髮phát 為vi 僧Tăng 。 乃nãi 周chu 游du 天thiên 下hạ 。 見kiến 鹽diêm 官quan 安an 禪thiền 師sư 。 安an 與dữ 帝đế 曰viết 。
時thời 至chí 矣hĩ 。 無vô 滯trệ 泥nê 蟠bàn 。 囑chúc 以dĩ 佛Phật 法Pháp 。 武võ 宗tông 崩băng 。 左tả 神thần 策sách 軍quân 中trung 尉úy 楊dương 公công 諷phúng 宰tể 臣thần 百bá 官quan 迎nghênh 立lập 之chi 。 即tức 位vị 改cải 元nguyên 。 大đại 中trung 閏nhuận 三tam 月nguyệt 詔chiếu 曰viết 。 會hội 昌xương 季quý 年niên 。 併tinh 省tỉnh 寺tự 宇vũ 。 雖tuy 云vân 異dị 方phương 之chi 教giáo 。 有hữu 資tư 為vi 理lý 之chi 源nguyên 。 中trung 國quốc 之chi 人nhân 久cửu 行hành 其kỳ 道đạo 。 釐li 革cách 過quá 當đương 。 事sự 體thể 乖quai 謬mậu 。 其kỳ 靈linh 山sơn 聖thánh 境cảnh 。 應ưng 會hội 昌xương 五ngũ 年niên 所sở 廢phế 寺tự 宇vũ 。 諸chư 宿túc 舊cựu 僧Tăng 可khả 仍nhưng 舊cựu 修tu 復phục 住trụ 持trì (# 唐đường 史sử )# 。 二nhị 年niên 。 勑# 上thượng 都đô 。 東đông 都đô 。 荊kinh 。 揚dương 。 汴# 。 益ích 等đẳng 州châu 建kiến 寺tự 立lập 方Phương 等Đẳng 戒giới 壇đàn 。 為vi 僧Tăng 尼ni 再tái 度độ 者giả 重trọng 受thọ 戒giới 法pháp 。 五ngũ 臺đài 山sơn 建kiến 五ngũ 寺tự 。 各các 度độ 僧Tăng 五ngũ 十thập 人nhân 。 三tam 年niên 。 勑# 沙Sa 門Môn 靈linh 晏# 為vi 左tả 右hữu 街nhai 僧Tăng 錄lục 。 四tứ 年niên 。 勑# 杭# 州châu 鹽diêm 官quan 安an 禪thiền 師sư 所sở 居cư 院viện 賜tứ 名danh 齊tề 豐phong 寺tự 。 五ngũ 年niên 正chánh 月nguyệt 。 詔chiếu 弘hoằng 辯biện 禪thiền 師sư 入nhập 內nội 。 帝đế 問vấn 禪thiền 宗tông 何hà 有hữu 南nam 北bắc 之chi 名danh 。 師sư 曰viết 。 禪thiền 門môn 本bổn 無vô 南nam 北bắc 。 至chí 弘Hoằng 忍Nhẫn 大Đại 師Sư 。 有hữu 二nhị 弟đệ 子tử 。 一nhất 慧tuệ 能năng 居cư 嶺lĩnh 南nam 。 一nhất 神thần 秀tú 在tại 北bắc 揚dương 化hóa 。 得đắc 法Pháp 雖tuy 一nhất 。 而nhi 開khai 導đạo 發phát 悟ngộ 有hữu 頓đốn 漸tiệm 之chi 異dị 。 故cố 曰viết 南nam 頓đốn 北bắc 漸tiệm 。 帝đế 曰viết 何hà 名danh 戒giới 定định 慧tuệ 。 師sư 曰viết 。 防phòng 非phi 止chỉ 惡ác 名danh 戒giới 。 六lục 根căn 涉thiệp 境cảnh 心tâm 不bất 隨tùy 緣duyên 名danh 定định 。 心tâm 境cảnh 俱câu 空không 照chiếu 覽lãm 無vô 惑hoặc 名danh 慧tuệ 。 何hà 名danh 方phương 便tiện 。 師sư 曰viết 。 隱ẩn 實thật 覆phú 相tương/tướng 。 權quyền 巧xảo 之chi 門môn 也dã 。 何hà 為vi 佛Phật 心tâm 。 師sư 曰viết 。 佛Phật 者giả 言ngôn 覺giác 。 心tâm 者giả 佛Phật 之chi 別biệt 名danh 。 有hữu 人nhân 念niệm 佛Phật 如như 何hà 。 師sư 曰viết 。 中trung 下hạ 之chi 根căn 。 不bất 能năng 頓đốn 曉hiểu 。 佛Phật 開khai 觀quán 門môn 。 令linh 念niệm 佛Phật 生sanh 於ư 極cực 樂lạc 。 是thị 日nhật 弘hoằng 辯biện 奏tấu 對đối 。 漏lậu 下hạ 七thất 刻khắc 。 帝đế 悅duyệt 。 賜tứ 號hiệu 圓viên 智trí 禪thiền 師sư (# 舊cựu 史sử 。 五ngũ 灯# )# 。
懿# 宗tông
帝đế 諱húy 漼# 。 宣tuyên 宗tông 長trưởng 子tử 。 咸hàm 通thông 三tam 年niên 四tứ 月nguyệt 。 勑# 兩lưỡng 街nhai 四tứ 寺tự 各các 建kiến 戒giới 壇đàn 度độ 僧Tăng 。 杭# 州châu 大đại 慈từ 山sơn 寰# 中trung 卒thốt 。 僖# 宗tông 賜tứ 諡thụy 性tánh 空không 大đại 師sư 。 塔tháp 曰viết 定định 慧tuệ 。 仍nhưng 為vi 贊tán 曰viết 。 履lý 踐tiễn 真chân 實thật 。 心tâm 悟ngộ 無vô 際tế 。 南nam 泉tuyền 趙triệu 州châu 。 激kích 揚dương 酬thù 對đối 。 居cư 乏phạp 寒hàn 泉tuyền 。 虎hổ 跑# 以dĩ 濟tế 。 惟duy 德đức 斯tư 馨hinh 。 風phong 清thanh 日nhật 麗lệ 。 六lục 年niên 十thập 二nhị 月nguyệt 三tam 日nhật 。 德đức 山sơn 宣tuyên 鑒giám 坐tọa 化hóa 。 勑# 諡thụy 見kiến 性tánh 禪thiền 師sư 。 八bát 年niên 四tứ 月nguyệt 十thập 日nhật 。 臨lâm 際tế 義nghĩa 玄huyền 端đoan 坐tọa 說thuyết 偈kệ 而nhi 逝thệ 。 勑# 諡thụy 慧tuệ 照chiếu 禪thiền 師sư 。 塔tháp 曰viết 澄trừng 靈linh 。 十thập 年niên 三tam 月nguyệt 洞đỗng 山sơn 良lương 价# 入nhập 寂tịch 。 勑# 諡thụy 悟ngộ 本bổn 禪thiền 師sư 。 塔tháp 曰viết 慧tuệ 覺giác 。 十thập 一nhất 年niên 。 賜tứ 終chung 南nam 山sơn 道đạo 宣tuyên 律luật 師sư 澄trừng 照chiếu 之chi 號hiệu 。 十thập 二nhị 年niên 五ngũ 月nguyệt 。 帝đế 幸hạnh 安an 國quốc 寺tự 。 賜tứ 知tri 玄huyền 沉trầm 檀đàn 寶bảo 座tòa 。 高cao 二nhị 丈trượng 餘dư 。 十thập 四tứ 年niên 三tam 月nguyệt 。 造tạo 浮phù 圖đồ 寶bảo 帳trướng 綵thải 旛phan 花hoa 盖# 。 勑# 兩lưỡng 街nhai 往vãng 鳳phượng 翔tường 迎nghênh 佛Phật 骨cốt 。 四tứ 月nguyệt 八bát 日nhật 至chí 京kinh 。 帝đế 御ngự 安an 福phước 門môn 。 迎nghênh 拜bái 入nhập 內nội 瞻chiêm 禮lễ 。 群quần 臣thần 有hữu 諫gián 者giả 至chí 。 言ngôn 憲hiến 宗tông 迎nghênh 佛Phật 骨cốt 尋tầm 即tức 晏# 駕giá 。 帝đế 曰viết 。 朕trẫm 生sanh 得đắc 之chi 。 死tử 無vô 所sở 恨hận 。 帝đế 每mỗi 於ư 禁cấm 中trung 設thiết 講giảng 席tịch 。 自tự 唱xướng 經kinh 旨chỉ 。 手thủ 錄lục 梵Phạm 文văn 而nhi 為vi 贊tán 唄bối (# 舊cựu 史sử 。 稽khể 古cổ 略lược 。 虎hổ 跑# 寺tự 記ký )# 。
僖# 宗tông
帝đế 諱húy 儇# 。 懿# 宗tông 第đệ 五ngũ 子tử 。 廣quảng 明minh 元nguyên 年niên 。 以dĩ 黃hoàng 巢sào 入nhập 宼# 幸hạnh 成thành 都đô 。 詔chiếu 知tri 玄huyền 法Pháp 師sư 赴phó 行hành 在tại 談đàm 論luận 。 賜tứ 號hiệu 悟ngộ 達đạt 國quốc 師sư 。 留lưu 宮cung 久cửu 之chi 。 辭từ 歸quy 九cửu 隴# (# 高cao 僧Tăng 傳truyền )# 。 又hựu 賜tứ 諡thụy 永vĩnh 嘉gia 玄huyền 覺giác 曰viết 無vô 相tướng 大đại 師sư 。 塔tháp 號hiệu 淨tịnh 光quang 。
昭chiêu 宗tông
帝đế 諱húy 曄diệp 。 懿# 宗tông 第đệ 七thất 子tử 。 龍long 紀kỷ 元nguyên 年niên 誕đản 節tiết 。 勑# 兩lưỡng 街nhai 僧Tăng 道đạo 入nhập 內nội 殿điện 講giảng 論luận 。 乾can/kiền/càn 寧ninh 三tam 年niên 。 勑# 於ư 羅la 什thập 法Pháp 師sư 譯dịch 經kinh 處xứ 重trùng 建kiến 草thảo 堂đường 寺tự 。 四tứ 年niên 。 勅sắc 諡thụy 趙triệu 州châu 從tùng 諗# 曰viết 真chân 際tế 大đại 師sư (# 統thống 紀kỷ )# 。
佛Phật 法Pháp 金Kim 湯Thang 編Biên 卷quyển 第đệ 七thất
Phật Pháp Kim Thang Biên ♦ Quyển 7
天thiên 台thai 釋thích 如như 惺tinh 重trọng/trùng 校giáo
❖
Phiên âm: 27/2/2016 ◊ Cập nhật: 27/2/2016
Lưu ý: Phần dịch thuật này được thực hiện
http://daitangkinh.net/?f=X87n1628/7
-
Annakondanna (A-nhã Kiều-trần-như) là đệ nhất tổ của tăng đoàn.
Sariputta (Xá-lợi-phất) là đệ nhất trí tuệ.
Mahamoggalana (Ðại Mục-kiền-liên) là đệ nhất thần thông.
Tôn Giả Ca Chiên Diên, Đệ Nhất Nghị Luận (Katyayana)
Ma-Ha Câu-Hy-La,
Tôn giả Maha Kotthita (Đại Câu-hi-la).
Tôn giả Maha Kassapa (Đại Ca-diếp), Tôn giả Anuruddha (A-na-luật-đà), Tôn giả Revata (Ly-bà-đa), Tôn giả Ananda (A-nan) cùng với một số Thượng Tọa đệ ...
Gavampati Kiều phạm ba đề
1. Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất).
2. Tôn giả Moggallàna (Mục-kiền-liên).
3. Tôn giả Maha Kassapa (Đại Ca-diếp).
4. Tôn giả Anuruddha (A-nậu-lâu-đà).
5. Tôn giả Subuti (Tu-bồ-đề)
6. Tôn giả Punna (Phú-lâu-na).
7. Tôn giả Maha Kaccayana (Đại Ca-chiên-diên).
8. Tôn giả Upàli (Ưu-bà-ly).
9. Tôn giả Rahula (La-hầu-la)
10. Tôn giả Anada (A-nan).
Tỳ Kheo:
Annakondanna (A-nhã Kiều-trần-như) là đệ nhất tổ của tăng đoàn.
Sariputta (Xá-lợi-phất) là đệ nhất trí tuệ.
Mahamoggalana (Ðại Mục-kiền-liên) là đệ nhất thần thông.
Mahakassapa (Ðại Ca-diếp) là đệ nhất đầu đà.
Anuruddha (A-nậu-lâu-đà, A-na-luật) là đệ nhất thiên nhãn.
Bhaddiya Kaligodhaputta (Phát-ti-da Ca-lị-gô-da-pút-ta) là đệ nhất quý tộc.
Lakuntaka Bhaddiya (La-kun-ta-ka Phát-ti-da) là đệ nhất âm thanh.
Pindola Bharadvaja (Bin-đô-la Phá-rát-oa-cha) là đệ nhất âm sư tử hống.
Punna Mantaniputta (Pun-nha Manh-ta-ni-pút-ta, Phú-lâu-na) là đệ nhất pháp sư.
Mahakaccana (Ðại Ca-chiên-diên) là đệ nhất biệt giải Phật ngôn.
Cullapanthaka (Chu-la-banh-tha-ca) là đệ nhất thần thông dụng ý hóa thân và định vô lậu pháp.
Mahapanthaka (Ma-ha Banh-tha-ca) là dệ nhất tưởng vô lậu pháp.
Subhuti (Tu-bồ-đề) là đệ nhất vô tranh lạc trú và ứng cúng.
Revata Khadiravaniya (Rê-oa-ta Kha-đi-ra-oa-ní-da) là đệ nhất tu ẩn cư.
Kankha Revata (Căn-kha Rê-oa-ta) là đệ nhất nhập thiền.
Sona Kolivisa (Sô-na Kô-li-qui-sa) là đệ nhất tinh tấn.
Sona Kutikanna (Sô-na Ku-ti-canh-na) là đệ nhất thuyết pháp tinh xảo.
Sivali (Si-oa-li) là đệ nhất ứng cúng lợi dưỡng.
Vakkali (Oắc-ka-li) là đệ nhất thuần tín.
Rahula (La-hầu-la) là đệ nhất hiếu học.
Ratthapala (Rát-tha-pha-la) là đệ nhất thuần tín xuất gia.
Kundadhana (Kun-đa-tha-na) là đệ nhất lộc hưởng.
Vangisa (Oan-ki-sa) là đệ nhất biện tài.
Upasena Vangantaputta (U-ba-sê-na Oăn-ganh-ta-pút-ta) là đệ nhất đối tượng khả ái.
Dabba Mallaputta (Ðắp-ba Ma-la-pút-ta) là đệ nhất tổ chức cư trú cho tăng đoàn.
Pilindavaccha (Pi-lin-đa-oắc-cha) là đệ nhất đối tượng khả ái của chư thiên.
Bahiva Daruciriya (Ba-hi-da Ða-ru-chi-rí-da) là đệ nhất tốc chứng thánh đạo.
Kumara Kassapa (Ku-ma-ra Ca-diếp) là đệ nhất vi diệu giảng sư.
Mahakotthita (Ma-ha Kốt-thi-ta, Ma-ha Câu-hy) là đệ nhất tuệ phân giải.
Ananda (A-nan-đà) là đệ nhất thinh văn, ức niệm, tế nhị, kiên trì, thị giả.
Uruvela Kassapa (U-ru-uê-la Ca-diếp) là đệ nhất đa tín đồ.
Kaludayi (Ka-lu-đà-di) là đệ nhất tạo lạc cho mọi gia đình.
Bakkula (Bắc-ku-la) là đệ nhất thiểu bệnh.
Sobhita (Sô-phi-ta) là đệ nhất túc mạng tri.
Upali (Ưu-ba-li) là đệ nhất giới luật.
Nandaka (Nan-đà-ka) là đệ nhất huấn ni.
Nanda (Nan-đà) là đệ nhất thu thúc căn môn.
Mahakappina (Ma-ha Káp-pi-na) là đệ nhất huấn tăng.
Sagata (Sa-ga-ta) là đệ nhất tam muội hỏa.
Radha (Ra-tha) là đệ nhất năng khởi biện tài.
Mogharaja (Mô-kha-ra-cha) là đệ nhất hạnh phấn tảo y.
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tan...tcgiang-04.htm
Mục lục
Lời giới thiệu
Chương 1. Bối cảnh
Chương 2. Sự thành lập Tăng già
1. Giáo đoàn Tỳ-kheo
2. Sự hình thành của Tăng-già
Chương 3. Sự hình thành các tịnh xá
- Jìvahàrama (Tinh xá Kỳ-bạt)
- Jetaranàràma (Tinh xá Kỳ Hòan)
- Ghositàràma (Tinh xá Cù-sư-la)
Chương 4. Một thành viên của Tăng-già
1. Ý nghĩa khái quát
2. Gia nhập Giáo đoàn
3. Đạo đức của một Tỳ-kheo
Chương 5. Sinh hoạt của Tăng-già
1. Thời biểu mỗi ngày
2. Tăng-già Yết-ma (Sangha Kamma)
3. Bố-tát (Uposatha)
4. An Cư (Vassavasa)
5. Tự tứ (Pavàràna)
6. Thọ y Cathina (Kathina)
Chương 6. Tam học: Giới học, Định học, Tuệ học
- Ý nghĩa khái quát
- Giới học
- Định học
- Tuệ học
Chương 7. Các quả vị và cảnh giới chứng đạt
- Phật
- A-la-hán (Arahant)
Chương 8. Các Đại đệ tử của đức Phật
* Các Nam Tôn giả
1. Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất)
2. Tôn giả Moggallàna (Đại Mục-kiền-liên)
3. Tôn giả Maha Kassapa (Đại Ca-diếp)
4. Tôn giả Ananda (A-nan)
5. Tôn giả Anuruddha (A-nậu-lâu-đà)
6. Tôn giả Upàli (Ưu-bà-ly)
7. Tôn giả Punna Mantaniputta (Phú-lâu-na Mãn-từ-tử)
8. Tôn giả Punna Sunasarata (Phú-lâu-na Du-lũ-xa)
9. Tôn giả Subhùti (Tu-bồ-đề)
10. Tôn giả Maha Kaccàyana (Đại Ca-chiên-diên)
11. Tôn giả Rahula (La-hầu-la)
12. Tôn giả Anna Kodannà (A-nhã Kiều-trần-như)
13. Tôn giả Revata (Li-bà-đa)
14. Tôn giả Pindola Bhàradvàjà (Tân-đầu-lô Phả-la-đọa)
15. Tôn giả Maha Kappina (Đại Kiếp-tân-na)
16. Tôn giả Katiyàyana
17. Tôn giả Upasena (Ưu-bà-tiên-na)
18. Tôn giả Bhaddiya (Ba-đề)
19. Tôn giả Lakuntaka Baddiya (Kiều-phạm Ba-đề)
20. Tôn giả Radhà (La-đà)
21. Tôn giả Nanda (Nan-đà)
22. Tôn giả Sunìta (Tu-nê-đa)
23. Tôn giả Ratthapàtla (Nại-tra-hòa-la)
24. Tôn giả Maha Kotthita (Đại Câu-hi-la)
25. Tôn giả Sakicca (Ca-tịch-đa)
26. Tôn giả Bhaddala (Bạt-đà-la)
27. Tôn giả Yasa (Da-xá)
28. Tôn giả Angulimàla (Ương-câu-lê-ma-la)
29. Tôn giả Uruvela Kassapa (Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp)
30. Tôn giả Baddaji (Bạt-đà-di)
31. Tôn giả Dàsaka
32. Tôn giả Cula - Pantaka (Châu-lợi Bàn-đà-già)
33. Tôn giả Subhadda (Tu-bạt-đà)
* Các Nữ tôn giả
1. Nữ tôn giả Maha Pajapati Gotamì (Ma-ha Ba-xà-ba-đề Cồ-đàm-di hay Kiều-đàm-di)
2. Nữ tôn giả Khema
3. Nữ tôn giả Uppalàvana (Liên Hoa Lâm)
4. Nữ tôn giả Kìsogotamì
5. Nữ tôn giả Sonà
6. Nữ tôn giả Bhadda-Kundalakesa
7. Nữ tôn giả Patacara
8. Nữ tôn giả Dhammadinnà (Pháp Thí)
9. Nữ tôn giả Sumànà
10. Nữ tôn giả Ubirì
11. Nữ tôn giả Subhà
12. Nữ tôn giả Sìha
Chương tám
Các đại đệ tử của Đức Phật
Tất cả các Tỳ-kheo y theo lời Phật dạy mà tu hành đạt Thánh quả đều là những đệ tử lớn của đức Phật. Tùy theo nghiệp quả trong quá khứ, tùy theo nỗ lực tu tập và cơ duyên đưa đẩy của từng vị, việc đạt Thánh quả có cấp độ và hình thức khác nhau. Tăng-già của đức Phật được cái cơ duyên lớn là trực tiếp nhậm sự giáo huấn của bậc Đại Giác Ngộ cho nên hàng Thánh giả thật đông đảo, có đến nhiều nghìn vị.
Nói đến các đại đệ tử của đức Phật, truyền thống kinh thường nêu tên mười vị (gọi là Thập Đại đệ tử). Đó là:
1. Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất).
2. Tôn giả Moggallàna (Mục-kiền-liên).
3. Tôn giả Maha Kassapa (Đại Ca-diếp).
4. Tôn giả Anuruddha (A-nậu-lâu-đà).
5. Tôn giả Subuti (Tu-bồ-đề)
6. Tôn giả Punna (Phú-lâu-na).
7. Tôn giả Maha Kaccayana (Đại Ca-chiên-diên).
8. Tôn giả Upàli (Ưu-bà-ly).
9. Tôn giả Rahula (La-hầu-la)
10. Tôn giả Anada (A-nan).
Mỗi vị đều được Phật tuyên bố là đệ nhất về một mặt (như trí tuệ, thần thông, v.v... ).
Kinh điển chỉ ghi lại một số rất ít các vị A-la-hán. Tất nhiên còn quá nhiều vị chưa được đề cập tới. Ngay cả những tài iệu nói đến từng vị rải rác ở nơi này nơi khác cũng có chỗ bất nhất hay trùng hợp nhau...
Trong khuôn khổ hạn hẹp của cuốn sách này và của chương sách này, chúng tôi xin chọn lọc và nêu ra đây sơ lược tiểu sử của một số đại đệ tử của đức Phật thời bấy giờ, có tính cách liệt kê và nhằm bổ sung thêm một nét về đoàn thể Tăng-già thời đức Phật. Chúng tôi nêu lên những nam và nữ đại đệ tử của đức Phật, tất cả đều đắc quả A-la-hán, dựa theo những ghi chép của Kinh Tạng, Luật Tạng, đặc biệt trong hai cuốn Trưởng lão Tăng Kệ (Theragàthà) và Trưởng lão Ni Kệ (Therìgàthà); ngoài ra chúng tôi còn góp nhặt thêm một số tài liệu của các học giả đi trước. Sự sắp xếp thứ tự các vị như sau đây không nhất thiết là theo tầm quan trọng của từng vị.
Trước hết là:
Các nam tôn giả
1. Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất)
Ngài còn có tên là Upatissa, con của một gia đình Bà-la-môn danh vọng ở vùng Upatissa, gần Ràjagaha (Vương Xá). Tôn giả rất thông tuệ, học giỏi, rất được trọng vọng. Tôn giả có người bạn chí thân, sinh cùng ngày, là Tôn giả Moggallàna (Mục-kiền-liên). Cả hai cùng thọ học với vị thầy nổi danh là Sanjaya, và đều đạt được những thành quả cao vời, nhưng vẫn chưa được những thành quả cao vời, nhưng vẫn chưa thỏa mãn về các sở đắc của mình.
Một hôm Sàriputta gặp Tôn giả Assaji (Át-bệ hay Mã Thắng, hoặc Thuyết Thị) thuộc nhóm Tôn giả Kodanna (Kiều-trần-như) đang đi khất thực, và được Tôn giả Assaji giảng pháp cho nghe. Tôn giả vô cùng sung sướng được gặp Phật pháp, vội đến gặp Tôn giả Moggallàna thuật lại sự việc và cả hai cùng đến đảnh lễ đức Phật (bấy giờ cả hai Tôn giả đắc Tu-đà-hoàn, sau khi nghe phần giáo lý Duyên khởi mà Tôn giả Assaji nói tóm tắt) xin gia nhập giáo đoàn.
Bốn tuần lễ sau (có tài liệu ghi chỉ hai tuần sau), Tôn giả đắc A-la-hán. Tôn giả được đức Phật khen là vị đệ tử Trí tuệ đệ nhất (ngang bằng Thế Tôn về mặt hiểu rõ Pháp giới), được xem là Trưởng tử của đức Phật, là Tướng quân Chánh pháp. Chính Tôn giả đã thay đức Phật điều hành, sắp xếp, giảng dạy Tăng chúng. Tôn giả thường tiếp tục buổi giảng của đức Phật khi đức Phật cảm thấy mệt mỏi thân, Tôn giả cũng thường thuyết pháp cho cả hội chúng. Tôn giả hướng dẫn và độ cho nhiều vị đắc A-la-hán. Tôn giả luôn luôn tỏ ra trí tuệ, tận tụy, nhiệt tâm, và khiêm tốn, được đức Phật và chư Tăng ca ngợi, xứng đáng là người kế vị đức Phật. Khi đã già, Tôn giả xin phép đức Phật được về quê nhà độ cho mẹ và nhập Niết-bàn tại đấy, trước ngày Phật nhập diệt vài tháng.
2. Tôn giả Maha Moggallàna (Đại Mục-kiều-liên)
Tôn giả vốn tên là Kolita, sinh tại Kalavalà, gần Ràjagaha, thuộc đẳng cấp Bà-la-môn, gia đình giàu sang và rất nổi tiếng. Tôn giả theo Tôn giả Sàriputta đến quy y đức Phật và xin gia nhập Giáo đoàn; chỉ trong bảy ngày sau, Tôn giả đắc A-la-hán (dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Thế Tôn trong định) trong lúc sống độc cư trong rừng. Sau đó, Tôn giả về yết kiến Thế Tôn, vừa lúc Tôn giả Sàriputta đắc A-la-hán. Tôn giả Moggallàna được đức Phật khen là vị đệ tử Thần thông đệ nhất (ngang bằng Thế Tôn về mặt thần thông).
Nhiều tài liệu ghi rằng Tôn giả đã thi triển thần thông nhiều lần, quy phục rất nhiều ngoại đạo. Kế sát cạnh Tôn giả Sàriputta, Tôn giả cũng điều hành và giáo dục Tăng chúng và độ cho rất nhiều vị đắc Thánh quả. Cùng với Tôn giả Sàriputta, Tôn giả xứng đáng tiêu biểu cho hàng trí thức thông tuệ của Tăng-gia thời đức Phật (gây uy tín lớn lao trong các đoàn Sa-môn và dân chúng thời bấy giờ). Khi về già, tôn giả bị bọn Ni-kiền-tử ganh ghét vì sự nổi danh mà trả thù, phục kích lăn đá khiến Tôn giả bị tử thương. Đức Phật xác nhận Tôn giả đã nhập Niết-bàn ngay tại chỗ đó (chỗ ngộ nạn).
3. Tôn giả Maha Kassapa (Đại Ca-diếp)
Tôn giả vốn tên là Pippali Mavana, sinh tại Mahatittha, gần Ràjagaha, gia đình Bà-la-môn rất giàu có, nổi danh. Do cha mẹ nài ép, Tôn giả kết hôn với một thiếu nữ xinh đẹp, nết hạnh. Hai người cùng giao ước sống với nhau như bạn, chờ cha mẹ mất sẽ xuất gia. Sau đó, cả hai đều sống đời Sa-môn không nhà, rồi trở thành đệ tử đức Phật. Được thọ giới Tỳ-kheo với Thế Tôn, Tôn giả trở về Ràjagaha và đắc A-la-hán tám ngày sau đó.
Tôn giả tinh cần tu lập mười ba hạnh đầu đà, được Thế Tôn khen là đệ tử Đầu đà đệ nhất. Khi đức Phật nhập diệt, Tôn giả đang ở Uruvela, vội về đến Kusinagara, kịp châm lửa vào Kim quan của bậc Đạo sư, chứng kiến lễ hỏa táng (thiếu xá-lợi). Tôn giả kế thừa đức Phật, lãnh đạo Giáo hội, đứng ra tổ chức kỳ kiết tập thứ nhất, ghi lại những gì đức Phật đã dạy, làm cơ sở cho Tam Tạng giáo điển (Kinh, Luật, Luận). Rất lâu sau Tôn giả mới nhập diệt, khi tuổi đã quá già. Có truyền thuyết cho rằng Tôn giả còn nhập đại định tại một nơi nào đó ở Bodhi Gaya (hay ở núi Kê Túc thuộc Linh Thứu Sơn) chờ khi đức Phật Di Lặc ra đời.
4. Tôn giả Ananda (A-nan)
Tôn giả sinh ở Kapilavatthu, thuộc hoàng tộc dòng Sakya, anh em họ sinh cùng ngày với đức Phật nhưng nhỏ tuổi hơn nhiều. Xuất gia lúc Thế Tôn trở về thăm hoàng cung lần đầu tiên. Về sau Tôn giả được Thế Tôn chọn làm thị giả (lúc Thế Tôn năm mươi sáu tuổi thọ). Suốt hai mươi lăm năm Tôn giả tận tụy hầu hạ đức Phật. Chính nhờ Tôn giả cầu xin phụ thêm, đức Phật mới cho phép bà Mahapajapati (Ma-ha Ba-xà-ba-đề) thành lập Ni đoàn Tỳ-kheo. Tôn giả nổi danh là vị đệ tử Đa văn đệ nhất, tế nhị, nhu hòa thuyết pháp hay, thu hút người nghe.
Khi đức Phật nhập Đại Niết-bàn, Tôn giả chứng A-na-hàm (Tam thánh quả). Tôn giả bị Tôn giả Maha Kassapa phê phán nghiêm khắc về nhiều điều, và không được phép tham dự kỳ kiết tập vì Tôn giả chưa đắc quả A-la-hán. Tôn giả buồn bã vô cùng. Trong đêm trước ngày Kiết tập, Tôn giả nỗ lực phát triển thiền quán suốt đêm. Đến tảng sáng, khi Tôn giả chuyển từ tư thế ngồi sang tư thế nằm, đầu chưa đặt đến gối thì Tôn giả bỗng chứng đắc A-la-hán. Được tham dự kỳ Kiết tập, tôn giả là vị đọc lại tất cả các Kinh đức Phật đã dạy mà Tôn giả đã nghe và ghi nhớ. Tiêu ngữ ở đầu mỗi Kinh mà ta luôn gặp: "Tôi nghe như vầy...", chính là lời của Tôn giả vậy.
5. Tôn giả Anuruddha (A-nậu-lâu-đà)
Tôn giả cùng quê và là con người cậu của đức Phật, được thọ hưởng giàu sang, quyền quý của gia đình. Xuất gia cùng lúc với các hoàng thích khác như Ananda... Tôn giả được Tôn giả Sàriputta hướng dẫn đề tài thiền quán, sau đó được đức Phật chỉ dạy thêm, Tôn giả đắc quả A-la-hán cùng với năng lực thần thông và trí tuệ vô ngại, được đức Phật khen là đệ tử Thiên nhãn đệ nhất. Tôn giả trông coi lễ hỏa táng Kim thân Phật và nhập diệt sau đức Phật, tại Beluva, gần Vesali, được dân chúng Vajì nơi đây vô cùng kính mộ.
6. Tôn giả Upàli (Ưu-ba-ly)
Tôn giả thuộc dòng Sakya, chỉ giữ phần việc nhỏ, chuyên nghề hớt tóc. Đến tuổi trưởng thành cùng với các hoàng thích xuất gia theo đức Phật. Tôn giả tinh tấn tu học, đặc biệt rất chăm về giới luật, thường tham hỏi Phật về giới luật, được đức Phật khen là đệ tử Giới luật dệ nhất.
Nhận được đề tài Thiền quán, Tôn giả xin phép Thế Tôn vào rừng ẩn tu, nhưng Thế Tơn khuyên Tôn giả nên sống cạnh Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo để được phát triển về mọi mặt. Tôn giả vâng theo, nỗ lực tu tập và đắc A-la-hán. Chính Tôn giả là vị phụ trách đọc lại giới luật trong kỳ Kiết tập do Tôn giả Maha Kassapa chủ trì làm cơ sở cho toàn tạng Giới luật hiện nay.
7. Tôn giả Punna Mantanuputta (Phú-lâu-na Mãn-từ-tử)
Tôn giả sinh tại Donavatthu, gần Kapilavatthu, trong một gia đình Bà-la-môn. Tôn giả xuất gia khi còn trẻ, nỗ lực tu tập và đắc A-la-hán. Tôn giả có biệt tài thuyết pháp, hướng dẫn cho năm trăm người trong gia tộc xuất gia, tu tập và đắc A-la-hán. Đức Phật khen Tôn giả là đệ tử Thuyết giảng đệ nhất.
8. Tôn giả Punna Sunasarata (Phú-lâu-na Du-lũ-na)
Tôn giả sinh tại cảng Suppàraka, xứ Sunaparanta. Tôn giả dẫn một đoàn thương gia đến Sàvatthi có việc, tại đây được nghe Thế Tôn thuyết pháp, khởi lòng tin và xin xuất gia. Sau một thời gian, Tôn giả xin Thế Tôn trở về tu tập tại quê nhà, mở rộng Chánh pháp cho dân chúng tại đây vốn là những kẻ chưa thuần. Sau đó, Tôn giả đắc A-la-hán.
Có thể nói Tôn giả là một trong những vị đầu tiên mở rộng phong trào truyền bá Phật giáo ra các vùng xa xôi, qua đường biển theo các thương nhân. Người ta kể rằng Tôn giả thích sống độc cư ở các sườn núi ven biển; có lần Tôn giả đã dùng thần thông cứu người anh ruột và cả đoàn người trên một chiếc thuyền khỏi đắm. Tôn giả mất tại quê nhà, giáo hóa hơn một nghìn nam nữ cư sĩ.
9. Tôn giả Subhùti (Tu-bồ-đề)
Tôn giả sinh tại Sàvatthi, em trai của Trưởng giả Cấp Cô Độc (Ànthapindika). Tôn giả chứng kiến sự việc người anh tận tụy thành tín, hiến dâng tinh xá Jetavana cho đức Phật và chư Tỳ-kheo mà phát tâm hoan hỷ đến đảnh lễ Thế Tốn, nghe Thế Tôn thuyết pháp, và liền xin xuất gia. Tôn giả nỗ lực thiền quán về lòng từ; sau đó đắc A-la-hán.
Tôn giả hành thiền cả khi đang đi khất thực, mở rộng lòng từ ái đối với mọi người. Đức Thế Tôn khen Tôn giả là đệ tử Thanh tịnh và vô tránh đệ nhất. Tài liệu kể rằng một lần vua Bimbisara hứa tặng Tôn giả một lều trú, nhưng rồi vua quên mất; Tôn giả vẫn tọa thiền ngoài trời. Từ đó trời không mưa, đe dọa hạn hán. Vua tìm hiểu sự việc, chợt nhớ đến lời hứa của mình, vội sai làm lều trú cho Tôn giả. Khi Tôn giả vào lều tọa thiền thì bên ngoài trời bắt đầu đổ mưa, dân chúng rất vui mừng.
10. Tôn giả Maha Kaccàyana (Đại Ca-chiên-diên)
Tôn giả sanh tại thành Ujjeni, trong gia đình Bà-la-môn; cha là cố vấn nghi lễ cho vua Candapajjota. Tôn giả, cùng bảy người khác, nghe đức Phật thuyết pháp và tất cả đều đắc A-la-hán; liền đó xin thọ Tỳ-kheo, gia nhập Giáo đoàn. Tôn giả là Tỳ-kheo giỏi về phân tích pháp lý, được đức Phật khen là vị đệ tử Luận nghĩa đệ nhất. Nhà vua có thỉnh cầu được nghe đức Phật thuyết pháp, đức Phật ủy nhiệm Tôn giả đến với vua, vua được nghe pháp khởi lòng tin và xin quy y Tam Bảo.
11. Tôn giả Rahula (La-hầu-la)
Tôn giả là con trai của Thái tử Siddhattha (Sĩ-đạt-đa) và Công chúa Yasodara (Da-du-đà-la). Khi đức Phật trở lại thăm hoàng cung lần đầu tiên, Tôn giả được xuất gia cùng với các hoàng thích. Bấy giờ Tôn giả được giao cho hai Tôn giả Sàriputta và Moggallàna hướng dẫn.
Tôn giả còn nhỏ tuổi (chừng mười tuổi) nên thường lười biếng, ít chịu nỗ lực tu tập, thường bị đức Phật quở trách. Sau đó, nhờ sự lưu tâm giảng dạy đặc biệt của hai Đại Tôn giả và của đức Phật, Tôn giả rất siêng năng tu học và đắc A-la-hán, được đức Phật khen là đệ tử ưa thích học tập đệ nhất. Từ đó Tôn giả giữ phần việc giảng dạy cho các tân Tỳ-kheo. Tôn giả tịch trước ngày thế Tôn nhập diệt.
12. Tôn giả Annà Kodannà (A-nhã Kiều-trần-như)
Tôn giả sanh tại Donavatthu gần thành Kapilavatthu, thuộc gia đình Bà-la-môn nổi tiếng. Tôn giả là một Ba-là-môn thông tuệ được vua mời vào cùng với bảy vị khác xem tướng cho Thái tử Siddhattha vừa ra đời. Tôn giả đã đoán về sau Thái tử sẽ là một vị Phật. Tôn giả đứng đầu trong năm vị Tỳ-kheo cùng Thái tử (Bồ-tát) tu khổ hạnh tại Uruvela. Thấy Bồ-tát bỏ lối tu khổ hạnh, cả năm vị bỏ Bồ-tát mà về Baranasì. Khi Thế Tôn thành đạo, cả năm vị đều được Thế Tôn hóa độ trong lần chuyển Pháp luân đầu tiên tại Isipatana, Migavana (Lộc Uyển), tại Baranasì. Cả năm Tôn giả sau đó đều đắc A-la-hán (năm ngày sau).
Như vậy Tôn giả Kodannà là vị Tỳ-kheo đầu tiên và là vị A-la-hán đệ tử đầu tiên của Giáo hội. Sau đó, tôn giả xin phép Thế Tôn về ẩn tu trong rừng sâu tại Saddantavana, gần hồ Mandàkini. Mười hai năm sau, Tôn giả trở lại bái biệt Thế Tôn rồi về nơi ẩn trú trong rừng mà nhập tịch.
13. Tôn giả Revata (Li-bà-đa)
Tôn giả là em ruột của tôn giả Sàriputta. Khi Tôn giả Sàriputta gia nhập Giáo đoàn, mẹ Tôn giả ép Tôn giả lập gia đình. Trong ngày cưới, người ta chúc Tôn giả sống lâu như bà nội của Tôn giả. Bấy giờ bà nội đã quá già, yếu đuối, bệnh hoạn, Tôn giả nghĩ rằng rồi vợ Tôn giả sẽ như thế mà kinh sợ. Tôn giả bỏ trốn đi ngay khi ấy, xin xuất gia với đức Phật. Sau khi nhận pháp từ Thế Tôn, Tôn giả vào ẩn cư trong rừng, nỗ lực thiền định rồi đắc A-la-hán. đức Phật khen Tôn giả là vị Độc cư thiền tịnh đệ nhất.
14. Tôn giả Pindola Bhàradvàja (Tân-đầu-lô Phả-la-đọa)
Tôn giả thuộc gia đình Bà-la-môn, con vị giáo sĩ hoàng gia của vua Udesa xứ Kosambi; Tôn giả tinh thông Phệ-đà, rất được giới thanh niên sùng mộ. Tôn giả chán nản bỏ đi đến Ràjagaha xin xuất gia với đức Phật. Được Phật giảng dạy, Tôn giả tinh cần tu học và đắc A-la-hán. Tôn giả luận giảng rất hay, phá được nghi ngờ của quần chúng. Đức Phật khen Tôn giả là vị đệ tử đệ nhất rống tiếng rống sư tử.
15. Tôn giả Maha Kappina (Đại Kiếp-tân-na)
Tôn giả là vua xứ Kukkuta, ham học hỏi, thường mời các nhà thông thái đến để tham luận. Tôn giả nghe các thương gia từ Savatthi đến kể rằng có đức Phật đang thuyết giảng và họ giới thiệu với Tôn giả về Tam Bảo. Tôn giả liền dẫn một đoàn tùy tùng đến tham bái đức Phật. Tất cả đều đắc A-la-hán và trở thành các Tỳ-kheo đệ tử Phật. Về sau, do Phật yêu cầu, Tôn giả thuyết pháp cho chúng Tỳ-kheo, độ được nhiều vị đắc Thánh quả. Đức Phật khen Tôn giả là vị Giáo giới đệ nhất.
16. Tôn giả Katiyàyana
Tôn giả sinh tại Ujjaynì, trong một gia đình giáo sĩ hoàng gia cho các vua họ Avanti. Chính Tôn giả cũng là Giáo sĩ của vua Candapradyota. Theo lệnh vua, Tôn giả đến thỉnh đức Phật về Ujjayinì giảng Pháp. Khi đến nơi, Tôn giả được Phật độ và đắc A-la-hán. Đức Phật ủy nhiệm Tôn giả thay đức Phật về lại Ujjiayinì thuyết pháp. Vua rất khen ngợi Tôn giả. Từ đó Tôn giả truyền bá Chánh pháp, mở rộng Tăng-già tại Ujjayinì. Sau đó Tôn giả đến sống gần đức Phật và thường đi thuyết pháp ở vùng châu thổ sông Hằng (Ganges). Tôn giả là một luận sư tài danh, được xem là một vị tổ của học phái A-tỳ-đàm. (Ghi chú: Tôn giả Katiyàyana ở đây khác với Tôn giả Katiyàna trong Trưởng lão Tăng Kệ - Thera. 45).
17. Tôn giả Upasena (Ưu-bà-tiên-na)
Cũng như Tôn giả Revata, Tôn giả là em của Trưởng lão Sàriputta. Sau khi xuất gia, Tôn giả sống theo hạnh đầu đà, giữ giới luật rất nghiêm khắc và đắc A-la-hán. Tôn giả sống trong một hang đá, một hôm bị một con rắn độc cắn, biết mình sắp chết, Tôn giả gọi Trưởng lão và các vị đồng tu khác, nhờ đem tôn giả ra khỏi hang, đặt ở ngoài trời, sắc mặt Tôn giả vẫn bình thản cho đến khi nhập tịch.
Người ta kể rằng sau đó thân thể Tôn giả bay lên không trung rồi biến mất. Đức Phật thường khen gương đạo hạnh của Tôn giả thực xứng đáng cho các Tỳ-kheo noi theo.
18. Tôn giả Bhaddiya (Ba-đề)
Tôn giả sinh tại Kapilavatthu, thuộc dòng hoàng tộc của Thế Tôn. Trong cung, Tôn giả đầy quyền thế, dư dật về vật chất, nhưng Tôn giả luôn có cảm giác sợ hãi, bất an. Khi được xuất gia, Tôn giả cảm thấy rất hạnh phúc, giữa hạnh đầu đà rất nghiêm túc, sau đó đắc A-la-hán. Tôn giả thường ca ngợi nếp sống trong rừng sâu tĩnh mịch. Tôn giả thường được đức Phật khen là vị Tỳ-kheo hoàng tộc thiện tu đệ nhất.
19. Tôn giả Lakuntaka Bhaddiya (Kiều-phạm Ba-đề)
Tôn giả sanh tại Sàvatthi, gia đình giàu sang. Tôn giả có tên là Bhaddiya nhưng vì thân hình quá thấp lùn nên có thêm tên là Lakuntaka Bhaddiya. Đặc biệt Tôn giả thuyết pháp với âm thanh dịu ngọt, rất thu hút người nghe nên đức Phật khen là vị đệ tử có âm thanh vi diệu nhất. Một hôm nhân một phụ nữ trông thấy Tôn giả mà bỗng bật phá lên cười để lộ hàm răng trắng, Tôn giả lấy đó làm đề tài thiền quán và chứng A-na-hàm (Tam Thánh quả). Về sau, Tôn giả được Trưởng lão Sàriputta chỉ cho tu thân hành niệm, và theo đó Tôn giả đắc A-la-hán.
20. Tôn giả Radhà (La-đà)
Tôn giả sinh tại Ràjagaha, thuộc gia đình Bà-la-môn, khát khao chân lý, Tôn giả tìm đến đức Phật và xin xuất gia. Được đức Phật chấp nhận, Tôn giả tinh tấn tu tập, trí tuệ phát triển nhanh chóng. Tôn giả sống bên cạnh đức Phật, thường nổi danh thuyết giảng, luận giải về những vấn đề đột xuất. Đức Phật khen Tôn giả là đệ tử Biện tài đệ nhất.
21. Tôn giả Nanda (Nan-đà)
Tôn giả là con vua Suddhodana (Tịnh Phạn) và bà Mahapajapati (Ba-xà-ba-đề), tức em cùng cha khác mẹ với Thái tử Siddhattha (Bồ-tát). Biết được duyên nghiệp và căn cơ của Tôn giả, Thế Tôn, ngay trong lễ cưới của Tôn giả, đã khuyên Tôn giả xuất gia. Tôn giả miễn cưỡng theo Thế Tôn xuất gia. Tôn giả miễn cưỡng theo Thế Tôn về tịnh xá. Tại đây bậc Đạo Sư thuyết giảng hứa hẹn với Tôn giả về hạnh phúc của hàng Thánh giả. Tôn giả tự tiết chế, điều ngự lấy mình và nỗ lực thiền quán, sau đó Tôn giả đắc A-la-hán. Thế Tôn khen Tôn giả là đệ tử Tiết chế đệ nhất.
22. Tôn giả Sunìta (Tu-nê-đa)
Tôn giả sinh tại Ràjagaha trong một gia đình tiện dân, nhà rất nghèo, Tôn giả sống bằng nghề đổ rác trong thành phố. Hành nghể hạ tiện, quần áo, thân người dơ bẩn, bị mọi người khinh bỉ, xa lánh. Một buổi sáng, khi Tôn giả đang gánh rác trên đường phố thì gặp Thế Tôn và đoàn Tỳ-kheo đang khất thực, thấy vẻ uy nghi, hiền hậu của Phật, Tôn giả quên lẩn tránh, cho đến khi đức Phật đến gần, Tôn giả giật mình bỏ gánh xuống vội nép vào một góc tường và chấp tay vái lạy. Đức Phật ân cần hỏi han Tôn giả, khuyên Tôn giả xuất gia. Tôn giả mừng rỡ, cảm động được làm đệ tử đức Phật. Đức Phật dạy cho Tôn giả đề tài thiền quán, nhờ nỗ lực tinh cần, Tôn giả đắc A-la-hán.
23. Tôn giả Ratuhapàla (Nại-tra-hòa-la)
Tôn giả sinh ở thành Thullakotthita, xứ Kuru, trong một gia đình trưởng giả, Tôn giả rất được cưng chiều, sống trong sung sướng xa hoa, nhưng lại xin cha mẹ xuất gia. Không được chấp thuận, Tôn giả quyết định nhịn đói cho đến chết. Cuối cùng cha mẹ phải ưng thuận. Được đức Phật dạy bảo, Tôn giả nỗ lực tiến tu và đắc A-la-hán.
Nhiều năm sau, Tôn giả được phép trở về thăm nhà. Đến khất thực trước nhà mình, nhận phần cơm thừa mà cô giúp việc sắp đem đổ. Người này nhận ra Tôn giả, thế là cả gia đình, cha mẹ, vợ cũ của Tôn giả mừng rỡ đón tiếp, rồi đưa ra tất cả những giàu sang của gia đình, vẻ đẹp của thê thiếp để cám dỗ Tôn giả. Tôn giả một mực khước từ, nghiêm trang giảng pháp cho cả gia đình, cảm hóa tất cả trở thành những cư sĩ thuần tín. Có tài liệu kể thêm rằng, sau đó, gia đình khóa kín cổng, dấu y bát của Tôn giả để Tôn giả khỏi ra đi, nhưng Tôn giả đã thi triển thần thông, vượt lên hư không mà đi.
24. Tôn giả Maha Kotthita (Đại Câu-hi-la)
Tôn giả sinh tại Sàvatthhi, trong một gia đình Bà-la-môn giàu có. Lớn lên, Tôn giả là một Bà-la-môn thông tuệ và đức hạnh. Tôn giả được Thế Tôn giảng dạy pháp, cho thọ Tỳ-kheo và dạy phương pháp thiền định. Tôn giả rất thiện xảo về thiền định, ít lâu sau, Tôn giả đắc A-la-hán, được Thế Tôn khen ngợi là vị đệ tử Thiền quán đệ nhất.
25. Tôn giả Sankicca (Ca-tịch-da)
Tôn giả thuộc gia đình Bà-la-môn nổi tiếng. Mẹ Tôn giả chết khi sanh Tôn giả, nhưng người ta đã cứu sống được Tôn giả. Lên bảy, Tôn giả rất xúc động khi được nghe kể về cái chết của mẹ, liền xin xuất gia. Tôn giả được Trưởng lão Sàriputta hướng dẫn, đặc biệt, Tôn giả đắc A-la-hán khi đang cạo tóc. Người ta còn kể rằng về sau, Tôn giả đã hy sinh thân mình để cứu ba ngàn Tỳ-kheo khỏi tay bọn cướp.
26. Tôn giả Bhaddala (Bạt-đà-la)
Sinh tại Sàvatthi, trong một gia đình giàu sang. Cha mẹ hiếm muộn con, cầu đảo mãi vẫn không được; cuối cùng xin đức Phật gia hộ, nguyện nếu có con sẽ đem đến dâng Phật. Thế Tôn giao Tôn giả cho Tôn giả A-nan dạy bảo, chỉ trong một đêm, Tôn giả đã chứng đắc A-la-hán. Sáng hôm sau, Thế Tôn gọi Tôn giả đến cho thọ Đại giới Tỳ-kheo.
27. Tôn giả Yasa (Da-xá)
Tôn giả sinh tại Baranasì (Ba-la-nại) trong một gia đình rất giàu có. Được cha mẹ nuông chiều, cho nhiều nhà cửa và người hầu hạ. Một đêm kia, Tôn giả thấy chán cảnh giàu sang, khổ vì không tìm thấy lẽ sống ở đời, liền trốn nhà ra đi đến Isipatana. Tại đây gọi Tôn giả gặp đức Phật đang đi dạo. Thế Tôn gọi Tôn giả đến, giảng Tứ đế cho Tôn giả, Tôn giả liền đắc A-la-hán. Sau đó, Tôn giả thuyết pháp, khuyến khích nhiều bạn bè, thân thuộc đến với đức Phật. Rất nhiều vị chứng quả Thánh.
28. Tôn giả Angulimàla (Ương-câu-lê-ma-la)
Tôn giả có tên là Himsaka, sau được đổi là Ahimsaka (Vô hại), con của vị giáo sĩ hoàng gia của vua Kosala. Tôn giả thọ học tại Takkasila, rất tôn kính thầy, nhưng bị bọn xấu dèm pha. Tôn giả có sức mạnh, chí khí cương quật nên khi thầy nghe kẻ xấu mà yêu sách mình, liền bỏ học, phẫn chí vào rừng Jalini làm tướng cướp chận bắt giết người, lấy ngón tay kết vòng đeo cổ. Do đó người ta gọi Tôn giả là người đeo tràng hoa bằng các ngón tay (Angulimàla). Vua treo giải thưởng cho ai bắt hay giết được Tôn giả. Mẹ của tôn giả nghe vậy sợ hãi, tìm đến báo cho Tôn giả biết.
Trong cơn giận dữ, Tôn giả toan giết cả mẹ đế lấy ngón tay, thì vừa khi đức Phật xuất hiện cản ngăn Tôn giả. Tôn giả bỏ ý định giết mẹ mà quay sang đuổi bắt giết vị Sa-môn vừa xuất hiện (Phật). Phật thi triển thần thông và đem lòng đại từ cảm hóa Tôn giả. Tôn giả lạy Thế Tôn xin xuất gia. Sau đó không lâu, Tôn giả đắc A-la-hán. Từ đó, trên đường khất thực, Tôn giả thường bị dân chúng ném đá và mắng chửi, Tôn giả nghĩ đấy là những dịp để chịu đựng, kham nhẫn cho tiêu tan nghiệp chướng cũ. Tôn giả về sau là vị Tôn giả biểu hiện lòng Từ rất nhiều đối với đời.
29. Tôn giả Uruvela Kassapa (Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp)
Tôn giả là anh cả trong ba anh em ruột rất tinh thông giáo lý Bà-la-môn. Mỗi người lần lượt theo thứ tự, có năm trăm, ba trăm, hai trăm đệ tử đang là các ẩn sĩ đạo hạnh.
Tôn giả tu tại Uruvela, xứ Magadha và đã đắc một số thần thông. Bấy giờ Giáo đoàn Tỳ-kheo vừa được thành lập. Đức Phật cùng một số ít Tỳ-kheo từ Baranasì (Ba-la-nại) trở lại Uruvela. Tại đây, đức Phật nhiếp phục con trăn dữ, Tôn giả thấy thế nên rất kính mộ. Được đức Phật thuyết pháp, Tôn giả mừng rỡ cùng với hai người em và một ngàn đệ tử (của cả ba vị) xin quy y đức Phật và gia nhập Giáo đoàn Tỳ-kheo. Tôn giả, hai em, và rất đông các đệ tử đắc A-la-hán.
30. Tôn giả Baddaji (Bạt-đà-đi)
Tôn giả sanh tại Avanti, phía đông Magadha trong một gia đình đại trưởng giả. Thời trẻ, sống rất xa hoa. Bấy giờ, đức Phật từ Sàvatthi đến trú tại đây (Avanti) ba tháng. Khi Thế Tôn sắp ra đi, dân chúng tụ tập đến cúng dường và nghe pháp. Tôn giả cũng mở tiệc riêng, mời khách rất đông mà không ai đến dự. Hỏi ra mới biết mọi người đều đổ xô về nghe Thế Tôn thuyết pháp; Tôn giả bèn dẫn một đoàn tùy tùng đến nghe Pháp. Đang nghe, Tôn giả liền đắc A-la-hán. Thế Tôn đề nghị cha mẹ Tôn giả cho phép Tôn giả nhập Giáo đoàn. Thế là Tôn giả cùng đoàn Tỳ-kheo đến Koti.
Kinh chép rằng, sau đó một số Trưởng lão bất bình Tôn giả vì Tôn giả không đứng lên chào họ trong khi sự thực Tôn giả đang nhập thiền, khi Thế Tôn cùng đoàn Tỳ-kheo sắp lên bè qua sông Ganges (sông Hằng). Thế Tôn biết sự việc ấy, khi bè ra giữa sông Thế Tôn bảo Tôn giả hãy thi triển thần thông. Theo lời dạy, Tôn giả làm cho cả những tòa cung điện từ dưới nước nổi lên, đấy là cung điện của vua Panada, tiền kiếp của Tôn giả thời xa xưa.
31. Tôn giả Dàsaka
Tôn giả là con một người giúp việc (nô lệ) của Trưởng giả Ànathapindika (Cấp Cô Độc), ở Sàvatthi. Lớn lên, giữ việc gác cổng tinh xá Jetavana. Biết được nhiệt tâm mong mỏi xuất gia của Tôn giả, Trưởng giả Cấp Cô Độc bạch xin Thế Tôn cho Tôn giả xuất gia. Sau khi tu, Tôn giả lại tỏ ra lười biếng, ưa thích ngủ nghỉ. Sau bữa ngọ, Tôn giả thường đến một gốc cây vắng ngủ. Một hôm Thế Tôn thấy, liền đọc lên bài kệ nói lên sự nguy hiểm của việc ham ăn, ham ngủ. Tôn giả xúc động, hoảng sợ tu tập. Chẳng bao lâu Tôn giả đắc A-la-hán.
32. Tôn giả Cula Pantaka (Châu-lợi Bàn-đa-già)
Tôn giả sinh tại Ràjagaha, cùng với anh ruột là Maha Pantaka xuất gia thọ Tỳ-kheo giới. Anh Tôn giả thì thông minh, nhặm lẹ, không bao lâu thì đắc A-la-hán. Tôn giả thì chậm lụt, học mãi vẫn tối tăm, ký ức tồi kém, đến nỗi anh Tôn giả phải bảo Tôn giả quay về sống đời cư sĩ. Tôn giả buồn khổ từ giã nơi tu học, đang đứng tần ngần trước cổng tinh xá, thì được Thế Tôn trông thấy. Thế Tôn ân cần dẫn Tôn giả vào trong, ban cho Tôn giả một cái khăn sạch, bảo Tôn giả lau sạch, dặn Tôn giả trú tâm vào cái khăn ấy mà nỗ lực thiền quán. Liền ngay sau đó Tôn giả đắc A-la-hán, thông suốt Tam tạng Giáo điển và có thần thông vi diệu.
33. Tôn giả Subhadda (Tu-bạt-đà)
Tôn giả là một Bà-la-môn thông tuệ, thuộc hàng Bà-la-môn trưởng thượng. Bấy giờ, Tôn giả đã già (ngoài tám mươi tuổi) đang là du sĩ, nghe tin Thế Tôn sắp nhập diệt tại Kusinagara, trong rừng Sàla của bộ tộc Mallà, Tôn giả vội đến bái yết Thế Tôn. Thấy Thế Tôn đang nằm dưới bóng cây, Tôn giả ba lần xin Tôn giả Ananda được vào bái kiến Thế Tôn, nhưng đều bị từ chối. Thế Tôn hay được, liền cho gọi Tôn giả đến, thuyết giảng Tứ đế cho Tôn giả nghe, Tôn giả xin thọ Đại giới, sau đó ít lâu thì Tôn giả đắc A-la-hán, Tôn giả Subhadda là vị A-la-hán cuối cùng được Thế Tôn độ khi Thế Tôn còn tại thế.
* * *
Các nữ Tôn giả
1. Nữ Tôn giả Maha Pajapati Gotamì (Ma-ha Ba-cà-ba-đề hay Kiều-đàm-di)
Nữ Tôn giả sinh tại Devadaha, thuộc vương tộc Maha-Suppa Buddha (Thiện Giác). Vua Suddhodana (Tịnh Phạn) cưới Gotami và chị của Gotami là Mahà Màya. Hòang hậu Màya sau khi sinh Thái tử Siddhattha (Bồ-tát) bảy ngày thì thác sinh về Đâu-suất. Nữ Tôn giả là dì ruột và là mẹ kế của Thái tử. Khi Thế Tôn về thăm hoàng cung lần thứ hai để độ cho vua Tịnh Phạn đang hấp hối; thì khi đó, nữ Tôn giả xin phép Thế Tôn cho nữ Tôn giả xuất gia (vào dịp Thế Tôn thăm hoàng cung lần thứ nhất, ba năm sau ngày Thành đạo, nữ Tôn giả đã chứng quả Tu-đà-hoàn) cùng với năm trăm Thích nữ khác và được thành lập Ni đoàn Tỳ-kheo đệ tử Phật, đức Thế Tôn từ chối. Nữ Tôn giả không nản chí, cạo tóc, khoác cà-sa, theo chân Thế Tôn đến Vesali tiếp tục cầu xin, Thế Tôn lại từ chối. Sau đó, nhờ Tôn giả Ananda khẩn khoản tìm cách bạch xin Thế Tôn, Thế Tôn mới thuận cho với điều kiện tôn trọng "Bát Kỉnh pháp".
Từ đó, nữ Tôn giả tinh cần hành đạo và đắc A-la-hán. Nữ Tôn giả đã được phép Thế Tôn thay Thế Tôn lãnh đạo Ni đoàn.
2. Nữ tôn giả Khema
Nữ Tôn giả sinh tại Sàgala, xứ Magadha trong dòng hoàng tộc. Nữ Tôn giả có nhan sắc rực rỡ được vua Bimbisara tuyển làm hoàng hậu. Vua mong nữ Tôn giả (Hòang hậu) đến Veluvana (Trúc Lâm tinh xá) tham bái Thế Tôn, nữ Tôn giả thoạt đầu e ngại không dám đi, vì sợ Thế Tôn chỉ trích lòng tự hãnh về nhan sắc lộng lẫy của nữ Tôn giả. Sau đó, vua đã lập chước đưa hoàng hậu đến gặp Thế Tôn trong bối cảnh sắp đặt như là tình cờ. Trưởng lão Ni Kệ kể rằng Thế Tôn đã thị hiện thần thông hóa hiện một thiếu nữ, đẹp đẽ vượt xa hoàng hậu, đứng hầu quạt Thế Tôn. Rồi thiên nữ trở nên già nua, xấu xí và quỵ ngã xuống. Hòang hậu Khema bừng tỉnh và đắc A-la-hán ngay tại chỗ.
Vua Bimbisara chấp thuận cho nữ Tôn giả xuất gia. Đức Thế Tôn khen nữ Tôn giả là Tỳ-kheo ni có Trí tuệ và Thiền quán đệ nhất.
3. Nữ Tôn giả Uppalàvana (Liên Hoa Lâm)
Nữ Tôn giả sinh tại Sàvatthi, con gái một vị trưởng khố giàu có, nhan sắc rất xinh đẹp, hàng vua chúa, quý tộc đều tranh nhau hỏi cưới nàng. Phụ thân nữ Tôn giả yêu cầu nữ Tôn giả xuất gia. Vào Ni đoàn, nỗ lực tu tập, một hôm khi đang dọn dẹp chuẩn bị cho lễ Bồ-tát, nữ Tôn giả nhìn ngọn đèn vừa đốt lên mà thiền quán liền đắc A-la-hán với thần thông vi diệu. Thế Tôn khen nữ Tôn giả là nữ đệ tử Thần thông đệ nhất.
4. Nữ Tôn giả Kisagotami
Nữ Tôn giả sinh tại Sàvatthi, trong một gia đình nghèo khổ. Lớn lên lại lấy chồng giàu, bị gia đình chồng khinh thường. Đến khi sinh được một con trai kháu khỉnh thì vị trí của nàng trong gia đình chồng trở nên khá hơn. Nhưng con trai nàng bất ngờ bị chết đi, nàng đau khổ đến cuồng dại, cứ ẵm xác con đi khắp nơi để xin thuốc chữa.
Nàng đến tịnh xá Thế Tôn và xin Thế Tôn cứu giúp. Thế Tôn dạy nàng hãy đến nhà nào không có người chết lấy về một hạt cải, Thế Tôn sẽ chữa lành cho con nàng. Nàng ra đi vào từng nhà hỏi xin hạt cải, tất nhiên nàng không thể thỏa được yêu cầu, vì nhà nào mà lại không có người chết? Nàng tỉnh ngộ, hiểu được ý Thế Tôn muốn dạy nàng; đem con vào nghĩa trang; rồi bạch xin Thế Tôn xuất gia. Thế Tôn nói pháp, nữ Tôn giả chứng sơ thánh quả tại chỗ. Vào Ni đoàn, nữ Tôn giả tinh cần phát triển thiền quán, không bao lâu sau thì chứng đắc A-la-hán. Nữ Tôn giả được Thế Tôn khen là một nữ đệ tử có hạnh mang thô y đệ nhất.
5. Nữ Tôn giả Sonà.
Nữ Tôn giả sinh tại Sàvatthi, trong một gia đình quý tộc, lập gia đình, có con trai và con gái. Rồi người chồng xuất gia. Nữ Tôn giả giao gia tài cho con trai và con gái. Đến khi con trai lập gia đình, người dâu lại tỏ ra hắt hủi nữ Tôn giả. Buồn rầu, nữ Tôn giả xin gia nhập Ni đoàn quyết tâm tu tập. Nhân nghe bài kệ của đức Phật, nữ Tôn giả liền đắc A-la-hán. Đức Phật khen nữ Tôn giả là nữ đệ tử Tinh cần đệ nhất.
6. Nữ Tôn giả Bhadda Kundalakesa.
Nữ Tôn giả sinh tại Ràjagaha, con vị thủ khố của vua, được cưng chiều lắm, sống rất sung sướng. Một hôm trông thấy một tên cướp đang bị dẫn đi hành hình, nàng bỗng đâm ra yêu hắn. Nàng lo lót cho các viên chức để giải thoát tên cướp. Tên cướp đến với nàng và dụ dỗ nàng đem nhiều lễ vật lên núi cúng tế, rồi nhân đó cướp hết nữ trang quý giá của nàng và định giết nàng phi tang. Thừa lúc tên cướp vô ý, sau khi hắn để lộ hung ý, nàng xô nó xuống vực sâu, thoát nạn. Thế rồi nữ Tôn giả quyết chí xuất gia, gia nhập Giáo đoàn Ni-kiền-tử. Nữ Tôn giả trở thành một nhà hùng biện, nhưng không vừa ý với giáo lý của Ni-kiền-tử, nữ Tôn giả ra đi khắp nơi và thách thức mọi triết nhân tranh biện, nữ Tôn giả đã thắng tất cả.
Cuối cùng, nữ Tôn giả đến Sàvatthi, được Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) chấp nhận sự thách thức đấu lý của nữ Tôn giả. Trong buổi tranh luận, nữ Tôn giả đuối lý, đảnh lễ trí tuệ của Tôn giả Sàriputta và xin thờ Tôn giả Sàriputta làm thầy. Tôn giả Sàriputta khuyên nữ Tôn giả đến quy y Phật, nữ Tôn giả nghe theo, được đức Phật nói Pháp độ cho đắc A-la-hán. Nữ Tôn giả liền được thọ Đại giới và gia nhập Ni đoàn Tỳ-kheo đệ tử Phật.
7. Nữ Tôn giả Patacara
Nử Tôn giả sinh tại Sàvatthi, con một vị thủ khố của vua. Nàng yêu một người giúp việc và trốn đi với người này khi cha mẹ ép gả nàng cho một người quyền quý.
Nàng sinh được một con trai; hai năm sau khi sắp sinh người con thứ hai, người chồng trong khi đi tìm vật dụng làm chòi lá bị rắn cắn chết. Nàng sinh đứa con thứ hai và trở về nhà cha mẹ. Trên đường về gặp cơn mưa bão, đứa con lớn bị nước cuốn trôi, đứa con nhỏ bị chim tha mất... về đến nhà thì được tin cha mẹ và em trai nàng đã chết vì cơn mưa bão ấy. Nàng quá đau đớn, trở nên điên dại, đi lang thang, xé nát quần áo, bị người chọc ghẹo, ném đá...
Nàng đến Jetavana, gặp Thế Tôn và được Thế Tôn cho phép lại gần. Vừa thấy Thế Tôn, nàng bỗng hồi tỉnh, nằm mọp xuống đất và vội vàng nhặt tấm y, do chư Tỳ-kheo ném đến, quấn lấy mình. Nàng đảnh lễ Thế Tôn, được Thế Tôn giảng về Nhân quả và Tứ đế, nàng chứng liền quả Dự lưu, và được cho gia nhập Ni đoàn.
Một hôm, đang lúc rửa chân, nữ Tôn giả nhìn những dòng nước lan chảy trên mặt đất, vẽ thành đường dài, ngắn khác nhau, liền tưởng đến vô thường của đời người, nữ Tôn giả quán pháp sanh diệt mà Thế Tôn đã dạy, và chứng đắc A-la-hán. Từ đó nữ Tôn giả trở nên vị thuyết pháp giỏi, giáo giới đệ nhất. Kinh chép nữ Tôn giả đã thuyết pháp độ được năm trăm vị Ni khác đắc A-la-hán.
8. Nữ Tôn giả Dhammadinnà (Pháp Thí)
Nữ Tôn giả sinh tại Ràjagaha, trong một gia đình trưởng giả, có chồng là Visàkha, sống hạnh phúc. Chồng được nghe Thế Tôn thuyết pháp và chứng A-na-hàm quả. Trở về nhà với thái độ thanh thoát mà nghiêm túc, khác với vẻ tình tự như mọi khi. Nữ Tôn giả cặn hỏi lý do. Tôn giả Visàkha xuất gia và trao quyền tự do lại cho nữ Tôn giả cải giá. Ít hôm sau đó nữ Tôn giả gia nhập Ni đoàn, nỗ lực thiền quán và không bao lâu thì đắc quả A-la-hán. Tôn giả Visàkha đến thăm hỏi và được nữ Tôn giả giảng pháp rành mạch (về Niết-bàn, về Diệt thọ tưởng định...) Tôn giả Visàkha trình lại Thế Tôn sự việc. Thế Tôn xác nhận nữ Tôn giả Dhammadinnà là bậc Đại tuệ, Thuyết pháp đệ nhất trong hàng nữ đệ tử của Thế Tôn.
9. Nữ Tôn giả Sumànà
Nử Tôn giả sinh tại Sàvatthi, là chị của vua Kosala. Được nghe Thế Tôn thuyết pháp, nữ Tôn giả vững lòng tin giải thoát, nhưng chưa xuất gia được vì còn bận lo hầu hạ bà ngoại. Sau khi bà ngoại mất, nữ tôn giả đem theo nhiều lễ vật dâng cúng Giáo hội. Được nghe Thế Tôn dạy, nữ Tôn giả liền đắc quả A-la-hán và được thọ Tỳ-kheo ni giới.
10. Nữ Tôn giả Ubirì
Nữ Tôn giả sinh tại Sàvatthi, trong một gia đình quyền quý. Rất xinh đẹp, được tuyển vào cung vua Kosala (xứ Kosala). Khi sinh được một công chúa đặt tên là Jiva, đẹp lạ thường, vua hết lòng yêu vì công chúa và cất nhắc nữ Tôn giả lên ngôi hoàng hậu. Bỗng nhiên công chúa chết, nữ Tôn giả sầu khổ, đứng cạnh bờ sông Aciravàti mà khóc. Thế Tôn đi đến giảng cho nữ Tôn giả nghe rằng trong nghĩa trang kia có đến tám vạn bốn ngàn người con gái tên Jiva bị hỏa thiêu, vậy nữ Tôn giả khóc là cho Jiva nào? Nữ Tôn giả chợt ngộ, dứt hết phiền muộn, xin Thế Tôn xuất gia. Nữ Tôn giả nỗ lực tu tập và đắc A-la-hán quả.
11. Nữ Tôn giả Subhà
Nữ Tôn giả sinh tại Ràjagaha trong một gia đình Bà-la-môn nổi tiếng, có nhan sắc tuyệt trần. Được nghe Thế Tôn dạy đạo, nữ Tôn Giả trở nên một nữ cư sĩ tín thành. Sau đó liền xuất gia, được Trưởng lão Ni Maha Rajapati hướng dẫn và đắc A-na-hàm. Một buổi trưa khi nữ Tôn giả một mình trong rừng, có một thanh niên phóng đãng đến ve vãn, mê con mắt đẹp của nữ Tôn giả toan giở thói sàm sở. Nữ Tôn giả móc mắt mình cho anh ta; người thanh niên ân hận nhận lỗi. Nữ Tôn giả liền đến yết kiến Thế Tôn, đôi mắt lại được sáng lành như cũ, được nghe Thế Tôn dạy, nữ Tôn giả liền đắc quả A-la-hán
12. Nữ Tôn giả Sìhà
Nữ Tôn giả sinh tại Vesali. Nhân được nghe Thế Tôn giảng pháp cho người cậu, nữ Tôn giả khởi lòng tin và xuất gia. Sau bảy năm tu tập, không thăng tiến được giải thoát, lòng bị dày vò bởi dục ý, nữ Tôn giả bèn quyết định tự vẫn. Khi đặt cổ mình vào chiếc thòng lọng treo ở cành cây thì năng lực thiền quán bộc phát, nữ Tôn giả đắc A-la-hán và trở về với Ni đoàn .
* * *
Trên đây là một số rất ít trong nhiều Thánh đệ tử của đức Phật. Do đại cơ duyên, các Tôn giả được sinh vào thời Phật, được Phật trực tiếp giáo hóa mà dễ dàng chứng đắc giả thoát. Kinh kể nhiều thời thuyết pháp, thậm chí có khi cả vài trăm vị đắc A-la-hán, thậm chí có khi đến một nghìn vị, nhất là trong những năm đầu. Có trường hợp hành giả vừa trông thấy Phật, hoặc vừa nghe qua vài lời dạy đã đạt ngộ. Có trường hợp đắc A-la-hán rồi mới gia nhập Giáo đoàn; có trường hợp vào Giáo đoàn vài ba ngày, vài tuần lễ, vài ba tháng, vài ba năm... mới đắc A-la-hán quả. Hàng Tỳ-kheo Thánh giả của đức Phật quả là rất nhiều, khó có thể kể hết được.
Các Tôn giả gồm đủ thành phần: nam, nữ, già, trẻ, ngoại đạo, vua chúa, quyền quý, nô lệ, kỹ nữ, trí thức, ngu muội v.v... Tất cả đều được Thế Tôn bình đẳng theo duyên nghiệp hóa độ. Hoàn cảnh chứng ngô thì khác nhau, có khi bộc phát, có khi tiệm tiến, có khi thanh thản, có khi ngặt nghèo. Cung cách giáo hóa luôn nhẹ nhàng, hiền dịu, từ bi, siêu thoát của đức Phật được chuyển thành cung cách sinh hoạt và tu tập của Tăng-già. Phương pháp tu tập, thiền quán đều trực tiếp liên hệ đến Tứ Thánh đế, Tứ Niệm xứ và Tam Pháp ấn... Tất cả đều thể hiện rõ nét Giới, Định và Tuệ. Cái cốt cách nhẹ nhàng thanh thoát, tự nhiên mà rất giải thoát trong một nỗ lực mạnh mẽ, thầm lặng ấy khác xa với nhiêu hình thức và nột dung tu tập về sau của các bộ phái Phật giáo phát triển vốn mang vẻ giáo điều, lý luận, cầu đảo, tế lễ hoặc sôi nổi, khốc liệt, kỳ khu... Đây chỉ là một sự ghi nhận có tính chung nhất và bao quát mà không hàm ý đánh giá hay phê phán. Khó mà có được một sự phê phán chính xác về từng hình thức tu tập khi không thực sự kinh qua hình thức tu tập ấy.
https://hoavouu.com/a29243/tang-gia-thoi-duc-phat
ma ha kiếp tân na
(摩呵劫賓那) Phạm: Mahàkalpina. Pàli: Mahàkapphiịa. Cũng gọi Ma ha kiếp tân ninh, Ma ha kiếp tỉ noa, Ma ha kế tân na, Ma ha ca thất na, Ma ha kim tì la, Đại kiếp tân na. Gọi tắt: Kiếp tân na. Hán dịch: Hoàng sắc, Phòng tú, Đại phân biệt thời. Vị A La Hán đệ tử của Đức Phật, tinh thông thiên văn, lịch số, chiêm tinh bậc nhất trong chúng tăng. Cứ theo phẩm Đại kiếp tân ninh trong kinh Hiền Ngu quyển 7 chép, thì ngài là con của vua Kiếp Tân Ninh nước Kim Địa, bẩm tính thông minh, khỏe mạnh, sau khi phụ vương băng hà, ngài lên nối ngôi, quân lực hùng mạnh, uy thế lừng lẫy; vì muốn áp chế Trung Ấn Độ nên ngài sai sứ đến nước Xá Vệ xin triều cống vua Ba Tư Nặc. Bấy giờ Đức Phật đang trụ ở tinh xá Kì Hoàn, hóa làm Chuyển luân Thánh vương, dùng thần thông biến hiện làm cho Kiếp Tân Na tin phục. Từ đó, vua Kiếp Tân Na xa lìa trần tục, xuất gia tu trì, luôn dũng mãnh tinh tiến, thường an trụ trong định. Sau được pháp nhãn thanh tịnh và chứng đắc quả A La Hán. Ngoài ra, cứ theo Quang Trạch Pháp Hoa Nghĩa Sớ quyển 1 và Pháp Hoa Huyền Tán quyển 1 chép, thì vì đức Như Lai biết trước nhân duyên thành đạo của Kiếp Tân Na, nên hóa hiện làm 1 vị Tỉ Khưu già ngủ trong tăng phòng và nói pháp cho Kiếp Tân Na nghe, ngay đêm đó ngài Kiếp Tân Na đắc đạo nên gọi ngài là Phòng Túc. Còn theo Pháp Hoa văn cú quyển 1, thượng, thì vì cha mẹ ngài cầu nguyện sao Phòng mà sinh được ngài, cho nên đặt tên là Phòng Tú. [X. kinh Tăng Nhất A Hàm Q.22; kinh Bản Sự Q.6; kinh Hiền Ngu Q.6; Pháp Hoa Nghĩa Kí Q.8; Phiên Phạm Ngữ Q.2, 4; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.23].
Bực Trưởng lão là các Ngài : Xá Lợi Phất[6], Ma ha Mục Kiền Liên[7] Ma ha Ca Diếp[8] Ma Ha Ca Chiên Diên Ma ha Câu Si La Ly Bà Đa Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà A Nan Đà La Hầu La Kiều Phạm Ba Đề Tân Đầu Lô Phả La Đọa Ca Lưu Đà Di Ma Ha Kiếp Tân Na Bạt Câu La A Nậu Lâu Đà như thế cả các vị đệ tử lớn của Phật.
Đấy là nêu rõ cái Danh của các Ngài, ví tuổi sanh và đức hạnh đều cao cả, nên được gọi là Trưởng Lão. Mười sáu vị trên, mỗi đều riêng chiếm một cái (tài đức) đặc biệt, để xưng bực nhứt, nên đều được gọi là Trưỡng Lão, nghĩa là cái tài đức ấy rất già dặn lớn hơn.
Như ông Xá Lợi Phật thì riêng có tài đức bằng "Trí huệ" vì lúc còn ở trong bào thai đã giúp ích cho thân mẫu biện luận hơn chúng; năm lên tám tuổi, lên tòa tranh biện, không ai bì kịp; khi quy đầu Phật pháp, chỉ trong bảy ngày ông đã suốt thông cả giáo pháp của Phật; nên người đời gọi là trí huệ đệ nhứt.
Oâng Mục Kiền Liên thì có cái thiên tài bằng "thần thông" vì ngăn dẹp được con Độc Long, không cho xe của Kỳ vực trên trời chạy đi, đốt cháy cái nhà thắng trận của Trời Đế Thích, ngăn cấm được chúng Ngoại đạo luyện phép dời núi đã rung rinh, hóa phép đem cả con cháu họ Thính tản cư giấu trên cõi trời v.v...nên gọi là Thần Thông đệ nhứt.
Ca Diếp thì chuyên tu hành di đầu đà, dù tuổi già cũng không chịu thôi nghĩ, được Phật truyền tâm ấn, làm vị Tổ Sư số một bên Aán Độ đầu đà đệ nhứt.
Ca Chiên Diên dịch là Văn Sức : văn chương trau chuốt. Nghĩa là với giữa các trường luận nghị lời của ông ứng khẩu thốt ra là toàn những vẻ văn chương, câu lối rất khó vì nói hoặc bàn ngược luận xuôi ngang hay dọc đảo lộn phía nào lời lẽ cũng đều rất linh hoạt vang reo nên gọi là luận nghị đệ nhứt. Nguyên ông làdòng giống Bà La Môn ở Nam Thiên Trúc.
Câu Si La dịch là Đại Tất : đầu gối lớn. Thủo ông còn tu học bên phái Ngoại đạo chuyên môn đọc thuộc lòng được mười tám bộ kinh sách sau khi đầu Phật xuất gia, tu chứng được bốn pháp biện tài với giữa những cuộc hạch hỏi, lời lẽ của ông rất trôi chảy nên gọi là thiện vấn đáp đệ nhứt.
Ty Bà đa, dịch là Tinh Tú : ngôi sao Tú Nhơn cầu đảo ngôi sao ấy mà được kết quả sanh ra ông, nên đặt tên bằng tên của vì sao kia. Tâm của ông không hề điên đảo loạn tưởng vì tu pháp chánh định đã thâm nên gợi vô đảo loạn đệ nhứt.
Châu Lợi dịch là Đại Lộ biên sanh : Anh lớn để bên đường. Bàn đà già, dịch là Tiểu lộ sanh : Em nhỏ đẻ dọc đường; bởi vì hai anh em đều do đẻ nơi lộ đồ là, khi mẹ sấp lâm bồn, phải về nhà của cha mẹ đẻ để sanh mà lần nào cũng mới về tới giữa đường đã nở nhụy. Oâng Bàn Đà Già nhơn Phật dạy nửa bài kệ mà đã mấy tháng học không thuộc, nhờ Phật giải thích mới tỏ ngộ được, phát minh ra thần thông, biệt tài vô cùng nên gọi là thiện trì nghĩa đệ nhứt.
Nan Đà, dịch là Thiện Hoan Hỷ : hay vui vẻ, em ruột của Phật Thích Ca ông có cái thân thể tướng mạo rất đẹp gần bằng Phật, nên gọi là dung nghi đệ nhứt.
A Nan Đà, dịch là khánh hỷ : vui mừng, em con nhà chú của Phật, ông đã học thông nhiều kiếp nên gọi là đa văn đệ nhứt. Làm thị giả hầu Phật trong những thời nói pháp; sau khi Phật nhập diệt ông kết tạng Kinh. Được đức Ca Diếp truyền tâm ấn làm vị tổ thứ hai bên ấn độ.
La Hầu La dịch là Phú Chướng : Phủ che. Nhơn vì kiếp trước lấp hang làm cho con chuột bị che phủ dưới đất sáu ngày nên nay ông bị quả báo ở trong bào thai của mẹ sau năm mới được sanh ra ông có cái hạnh nguyện bí mật là với một nghìn đức Phật trong kiếp trụ nầy, mỗi Ngài lúc còn tại gia ông cũng đều làm con rồi cũng theo xuất gia, như Thái Tử Sĩ Đạt TA khi còn tại gia thì ông làm con lúc Ngài xuất gia thành Phật Thích Ca thì ông cũng theo đi tu v.v... với cái hạnh nguyện kín đó, chỉ có Phật mới có thể biết được nên gọi là Mật hạnh đệ nhứt.
Kiều Phạm Ba Đề, dịch là Ngưu ty : Trâu nhơi. Bởi kiếp trước nhái điểu để khinh thường một vị Lão Tăng rụng răng ăn cơm nhai trệu trạo cái miệng, ông đã học bộ nhái điểu lại còn nói lớn mặt rằng : Sư ông ăn sao cái miệng như con trâu nhơi. Thế nên mắc báo đọa làm trâu đã ở trăm kiếp, nay dù chứng quả La hán, nhưng còn cái tật dư thừa là thói quen bằng cách miệng cứ nhai hoài như trâu, dù không ăn gì mà miệng cứ nhai luôn. Ơû giữa nhơn gian, e người đời không biết là bực Thánh, thấy thế cũng khinh diễu mà mắc tội lỗi, nên Ngài thường ở luôn trên cõi trời, chư thiên đều biết kính lạy cúng dường. Đó là Ngài vânglời Phật chỉ định, nên gọi là thụ thiên cúng đệ nhứt. Vậy đời nay, đối với bực già bịnh dù có cái tật chi, các thấy thiếu niên chứ không nên diễu cợt nhài lờn, phải kính dè nhớ lấy.
Tân Đầu Lư Phả La Đọa, dịch là bất động lợi căn : ý thức chẳng động, căn tánh rất thông lợi. Thường thụ hưởng trai phạm thiện tín đời mạt pháp cúng dường, để làm phước điền cho nhơn gian; hễ trai chủ nào mà thiết đàn trai tăng thành kính, thì ngài ẩn ngầm đến lẫn lộn trong chúng tăng để chứng cúng, nên gọi là phước điền đệ nhứt.
Ca Lưu Đà Di, dịch là Hắc Quang: đen ngời. Vì cái da đen huyền có ánh ngời, lãnh mạng làm Sứ giả của Phật. Với cái nhiệm vụ giáo hóa ông có cái sở năng rất hay khéo hơi hết, nên gọi là thiện giáo hóa đệ nhứt.
Kiếp Tân Na dịch là Phong Tú ; Sao Phòng. Trước khi đến đầu Phật xuất gia, đi giữa đường gặp mưa vào nghỉ đỡ nơi nhà làm đồ gốm, Phật biết trước, bèn hóa thân làm một nhà sư cũng đến xin ngủ trọ núp mưa, nhà sư ấy vì nói pháp cho nghe, liền chứng đạo quả La hán. Nhà sư thâu phép hoàn nguyên lại là hình Phật, ông rất tinh tường về khoa thiên văn, nhứt là rõ biết sự biến hiện của các ngôi sao, sẽ có các hung thế nào nên gọi là tri tinh tú đệ nhứt.
Bạt Câu La, dịch là thiện dung : hình dung khéo. Nghĩa là tướng mạo nghiêm chỉnh. Nguyên kiếp trước có thí thuốc cho một nhà Sư bịnh bằng một trái cây, nhà Sư ăn quả ấy liền được lành bịnh; nên đời nay ông được kết quả bằng những hiệu nghiệm là lâm vào năm chỗ rất nguy hiểm mà không chết. Lại, kiếp trước giữ giới bất sát sanh, nên đời nay sống lâu được một trăm sáu chục tuổi nên gọi là thọ mạng đệ nhứt.
A Nậu Lâu Đà, dịch là Vô Bần : không nghèo. Nhơn vì kiếp trước, đem cơm bằng gạo lúa tắc cúng cho vị Bích Chi Phật, nên về sau suốt chín mươi mốt kiếp được cái phước báu muốn chi...được nấy nên gọi là không nghèo. Nay tu pháp Tam muội chứng được thiên nhãn thông thấy biết sáng suốt nên gọi là thiên nhãn đệ nhứt.
Mười sáu đức Tôn giả trên đều là : Trong tâm chứa kín đức trí của Bồ Tát, ngoài thân tỏ bày uy nghi của Thinh Văn, thường theo sát cánh Phật, để phụ giúp mọi việc giáo hóa, nên được ghi vào đây, còn các La hán khác rất nhiều mà không được ghi, là vì ở xa chẳng thường theo Phật để phụ tá.
https://quangduc.com/p140a21066/chuong-7-kinh-a-di-da
-
Lakuntaka Bhaddiya Thera
"Maha Sivali Thera"
Maha Sivali Thera
(Shin Thi Wa Li Thera)
Maha Sivali (Shin Ti Wa Li Thera)
In one of his past lives, Phra Sivali (Pāḷi: Sīvalī Thera)
Disciples Of The Buddha: SIVALI MAHÃTHERA
Disciples Of The Buddha: SIVALI MAHÃTHERA: In the days of the Buddha padumuttara, Sivali was born as an ordinary man. One day when he was listening to the Dhamma he saw the Buddha app...
(WTS) Thai Amulet for 'Rent' 泰国佛牌圣物结缘区 - Lowyat Forum ...
https://forum.lowyat.net › ... › Hobbies & Collectibles Garage Sales
Jun 6, 2011 - 20 posts - 4 authors
Some say that Thai Bhikkhu's pay reverence to Sivali Thera that brought prosperity to Thailand, a Theravada Buddhist country. Sivali thera was
http://www.usamyanmar.net/Buddha/Art...hinThiwali.pdf
然而,在阿含及尼柯耶的聖典中,佛 仍然是一位非常真實的人間聖者。例 在長部的《大般涅槃經》(Mahaparinibb ana D.N. II) 中,佛陀也像常人一樣,對優美的自 景色也會感到歡悅,也會因衰老而容 疲倦,路途走得久了也會口渴。總之 ,佛陀也經過了像一般人那樣的生老 死的過程。不同的是,佛陀能處之泰 ,並以他那深邃的智慧勘破生死的迷 惑。
若就「福慧兩足尊」的「福」來說, 方的傳統則以為佛陀時代最大的福報 並不是佛陀,而是其阿羅漢弟子-施 華利尊者(Sivali Thera)。此方的民宅、巴士、商店等大 多數都供奉著以手吃缽飯的阿羅漢, 即施華利尊者,這有它的典故。施華 尊者多生多世曾遇佛,每次遇佛,施 華利必定以妙飲食供佛及其弟子,因 獲得了極大的福報。增支部(Avgutta Nikaya I, p.24) 中,佛陀讚嘆施華利尊者為「福報第 者」(即最受供養者)。據說, 當佛陀欲前往卡地拉瓦尼亞.樂瓦他 Khadiravaniya-Revata)時,因為路途飲食貧乏,佛陀 要有勞施華利尊著同行以方便獲得供 (Apadana II, p.495)。可見施華利尊者的福報比佛
陀大,有他在的地方,一切飲食終不 。實際上,佛陀也曾經挨餓,即於婆 門村時托空缽及晚年安居時吃馬麥。
然佛陀為何又被尊稱為「福慧兩足尊 呢?其實,福有兩種,即 (一)pubba,是由種種布施供養而獲得 福報,尚屬輪迴業因;(二)
kusala, 是由持戒修定淨化內心的淨業,能成 解脫(慧根)。故「福報雙修」的福 不是指布施、供養而獲得的pubba, 而是指從戒定慧而修而得的kusaladhamma 菩薩行布施波羅蜜不求福報(三輪體 )而以「捨」為圓滿的德行(四梵住 之一),故北方的傳說:「修福不修 ,白象戴瓔珞;修慧不修福,羅漢托 缽」是有不同意趣的!簡言之,「福 慧雙修」就是「三學總持」的意思, 中的戒定俱足,才是佛法所謂的「福 」。(施、戒、定為三福行,於此行 者若再修慧,才是真正的「福慧雙修 )
http://www.bauswj.org/wp/wjonline/%E...6%8F%E5%A0%B1/
My collection of Sarira (Venerable Sivali's Sarira) 希瓦利(尸婆罗)尊者舍利
PHRA TATH SIVALI THERA
SARIRA OF VENERABLE SIVALI
希瓦利(尸婆罗)尊者舍利
Namu Myo Ho Renge Kyo
Namo Buddhaya
Namo Dharmaya
Namo Sanghaya
http://www.mylotuspath.com/2011/02/m...able_6092.html
Namo Arahato Sivali Vandana Gatha
Namo Arahato Sivali Vandana Gatha
Sivali ca mahathero devata nara pujito soraho paccaya dimhi
Sivali ca mahathero yakkha devabhi pujito soraho paccaya dimhi ahang vandami sabbada
Sivali terasa etang gunang savasti labhang bhavantu me
http://fkpba.blogspot.com/2009/08/dh...a-xxvi-32.html
-
http://blog.fang.com/7385354/1748922/articledetail.htm
【釋迦牟尼佛】
Araham samma sambuddho bhagava buddham bhagavantam abhivademi.
Svakkhato bhagavata dhammo. Dhammam namassami.
Supatipanno bhagavato savaka-savgho. Savgham namami. (一遍)
Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma Sambuddhassa. (三次)
【玉佛/Phra Keow】
Kayena vacaya va cetasa va buddha maha maniratana patimekhalam namamiham (三次)
【頌德瓦拉康 / Somdej Wat Rakang】
《Jinapañjara》 (護身偈,適用念于其他一切佛祖牌
Jayasanagata vira
Hetva maram savahinam
Catu sacca matarasam
Ye pivimsu narasabha
Tanhankaradayo buddha
Atthavisati nayaka
Sabbe patitthita mayhem
Matthake me munissara
Sire patitthita buddha
Dhammo ca mama locane
Sangho patitthito mayhem
Ure sabba gunakaro
Hadaye Anuruddho ca
Sariputto ca dakkhine
Kondano pitthibhagasmim
Moggalano’si vamake
Dakkhine savane mayhem
Asum Ananda Rahula Kassapo ca
Mahanamo Ubhosum vamasotake
Kesante pitthibhagasmim
Suriyo’va pabhankaro
Nisinno sirisampanno
Sobhito muni pungavo
Kumarakassapo nama
Mahesi citravadako
So mayhem vadane niccam
Patitthasi gunakaro
Punno Angulimalo ca
Upali Nanda Sivali
Thera panca ime jata
Lalaje tilaka mama
Sesa siti mahathera
Vijata jina-savaka
Jalanta sila-tejena
Anga’mangesu santhita
Ratanam purato asi
Dakkhine metta suttakam
Dhajaggam pacchato asi
Vame angulimalakam
Khanda-Mora-parittanca
Atanatiya suttakam
Akasacchadanam asi
Sesa pakara-sannita
Jinana bala samyuta
Dhammapakara lankate
Vasanto me catukiccena
Sada sambuddha panjare
Vatapittadisanjata
Bahirajjhattu’paddava
Asesa vilayam yantu
Ananta-guna-telasa
Jinapanjara-majjhatham
Viharantam mahitale
Sada palentu mam sabbe
Te maha-purisasabha
Icceva m’accantakato surakkho
Jinanubhavena jitu’paddavo
Buddhanubhavena hatarisangho
Carami saddhama’nubhavapalito
Icceva m’accantakato surakkho
Jinanubhavena jitu’paddavo
Dhammanubhavena hatarisangho
Carami saddhama’nubhavapalito
Icceva m’accantakato surakkho
Jinanubhavena jitu’paddavo
Sanghanubhavena hatarisangho
Carami saddhama’nubhavapalito
Saddhammapakarararikkhita’smi
Atthariya atthadisasu honti
Etthantare atthanatha bhavanti
Uddharu vitanam va jina thita me
Bhindanto marasenam mama shasi thito
Bhodi maruyha sattha
Moggallano’si vame vasari bhujatate
Dakkhine sariputto
Dhammo majjhe urasmim viharati bhavato
Mokkhato morayonim
Sampatto bodhisatto carana yugagato
Bhanu lokekanatho
Sabba’vamangala’mupaddava dunnimitam
Sabbitiroga gahadosa’masesa ninda
Sabbantaraya bhaya dussipinam akantam
Buddhanubhavapavarena payatu nasam
Sabba’vamangala’mupaddava dunnimitam
Sabbitiroga gahadosa’masesa ninda
Sabbantaraya bhaya dussipinam akantam
Dhammanubhavapavarena payatu nasam
Sabba’vamangala’mupaddava dunnimitam
Sabbitiroga gahadosa’masesa ninda
Sabbantaraya bhaya dussipinam akantam
Sanghanubhavapavarena payatu nasam (一遍)
【西哇里 羅漢 / Sivali】
Sivali ca maha thero deva dhana rapucitto soraho paccaya timhi
Sivali ca maha thero yakkadeva pipucito soraho paccaya timhi
Aham vandami tam sadatassa therassa
etam gunam sotthi labhan bhavantu me (三次)
【拍艮 / Phra Ngang】
Nama Na A
Nor Gor Na Ga
Kor Or No A
Na A Ga Am
U Mi A Mi
Ma Hi Su Tam
Su Na Buddham
Na Su Na A (三次)
【鑾菩托 圣僧 / Luang Phor Thuat】
Namo Boddhi Sattho Akantimaya Iti Bhagava Nacaliti (三次)
【鑾菩速 圣僧 / Luong Phor Sod ~頌德瓦帕南 / Somdej Wat Pak Nam】
Samma Araham (三次)
【坤平將軍 / Kun Phien】
坤平主咒: Maha bada om siddhi sawaha sunamolo (三次)
抱雙雞坤平咒: Akajeya akajehi ihi mama mala jaokai kumankai (三次)
抱雙童坤平咒: Nama patha om sitti sawaha sonamolo kuman thong kumankai (三次)
抱雞與童坤平咒: Thoosa sani khuman thong lae jao kai tham hai ruay, ruay maha setthi lama riel (三次)
【坤曼童 / Khuman Thong】
Om mana ca maha putta akachahi ehi mama mala khuman thong (三次)
【女招財神 / Nang Gwak】
Om laluoi maha laluoi dusanima dhanam pokam (三次)
【善伽財 羅漢 / Sang Kat Chai】
Kajjayana mahathero yo satthuno saddhammam anuppato piyo
Deva manussanam pito brohmana muttamo piyo naga supan nanam piyo
Itti puvisanam cevahosi tamaham kajjayana mahatheram sirasa
Pathipujayami tamaham kajjayana mahatheram sirasa namami (三次)
【鑾菩當 圣僧 / Luong Phor Dang】
A i a me buddham sanmi na ja
Li ti ehi marehi namo buddhaya
ma a u me ma a u (三次)
【鑾菩銀 圣僧 / Luong Phor Ngeun】
Maretise mamanam buddhaya nama bada cabhakasa (三次)
【四面神 / Pak Phom】
Om kara bindu natam uppannam brohmasaha patinama atikappe su a kate panca patunam tisva namo buddhaya vandanam. Siddhi kiccam siddhi kammam siddhi kariya tadakato siddhi teco jayo niccam siddhi labho nirantaram sabbakammam prasiddhime sabbasiddhi bhavantu. (三次)
【引通神 / Eng Thong】
人緣咒: Siddhi Karaya (三次)
護身咒: Manunnam (三次)
【臘雍神 / Lup Yong】
Om pluk maha pluksiddhi pluk mahamuni pluk mahamuni perk jak su pert vinnan pert lokasnehamahahniyom lokasneha ei jab vinnanjit itti purut loka sneha mahamuni prasiddhime (三次)
【咩菩速 女神/ Mae Por Sok】
Bosa bhocanam uttamalabhan mayham hotu (三次)
恭请热线:020-36380158\33368982\83697825(夕月子)
-
作者hvariables (Carl)
看板Buddhism
標題止觀禪修開示 帕奧禪修營開示(一) 聖法大長老
時間Mon Apr 5 20:05:25 2010
Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma SamBuddhassa(三稱)
禮敬彼世尊、阿拉漢、正自覺者(三 )
2000年帕奧禪修營開示(一)
斯裏蘭卡聖法大長老(Ven. Ariyadhamma Mahathera)
Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma SamBuddhassa(三稱)
Utthenenappa madena
Sanyamena damenathe
Deepam kairatha medhawi
Yam ogo nabhikeerathi.
智者修習戒、精進、正念、智慧,他 憑自己無有煩惱。
周利盤陀迦(Culapanthaka)阿拉漢比庫 神通第一著稱,他七歲出家,
他哥哥名叫馬哈盤陀迦(Mahapanthaka) 也是一位阿拉漢,因此周利盤陀迦
就出家於其兄的座下。他哥哥馬哈盤 迦對他細心教導,可是他花了四個月 時
間,仍然不能把一句偈頌記牢。他哥 因此叫他還俗回家,但他並沒有這麼 ,
仍然繼續精進。
有一天早上,佛陀教導他一個靜坐的 緣,他運用他的戒和精進力努力地修
行,最後終於證得阿拉漢果。佛陀因 念出前面的偈頌,也就是一開始時, 老
所念的偈頌,同時說他已經證得了阿 漢果。
在這世界上,有十種心的力量。如果 個人具有正見和精進,同時完成他應
盡的責任,這也是一種心的力量。因 在這世間,只要一個人擁有精進力, 就
能夠做任何的事情。這些神通是以四 足作為基礎,所謂的四神足指的是欲 足、
精進神足、心神足、觀神足。
上面的故事提到周利盤陀迦比庫正確 跟隨佛陀的教法,以正精進修持,因
此在極短的時間裏,就能夠得證阿拉 果。我們今生能夠得到人身,那是因 在
過去世累積了很多的善業;現在只要 們跟隨佛陀的教導,就能夠得到禪定 然
後修習觀慧,最後證得涅槃,滅盡一 煩惱。
Sivali 尊者是受供第一,他母親懷胎整整七 又七天,臨盆前劇烈的陣痛,
又讓他母親再受苦七日,最後他才順 地誕生。在他年輕時,舍利弗尊者曾 告
訴他:「你並不需要長篇大論的佛法 因為你在你母親的胎中所受的痛苦, 經
有整整七年,已經受了相當多的痛苦 」
在過去世,Sivali 比庫就已經修行了心的力量,
他的靜坐功夫良好,因此可以輕易地 起在他母親胎中所受的苦楚。那時,
舍利弗尊者教導他觀照身體五個部份 也就是頭發、身體的毛發、指甲、牙 和
皮膚。因此當他剃頭時,仔細地觀照 體這五個部份,最後證得了阿拉漢果
Sivali 尊者修習智慧,曆經百千劫,
因此在極短的時間之內就證得了阿拉 果,擁有受供第一的稱號。如果我們
修習戒、精進、正念和智慧,可以在 世或者是在不久的來世當中證得涅槃 Sivali
尊者因為觀照而生起厭離的智慧,因 憶起在他母親的胎中所承受的痛苦。 樣
地,我們也可以修習觀照身體五個部 這一個方法,令我們產生厭離的智慧
為了生起厭離的智慧,現在就讓我們 想:在過去世我們必須面對死亡,對
我們來說這是一種苦。而現在世我們 住在母親的胎中大概九到十個月,這 是
一種苦。母親生產時,我們啼哭嚎叫 這也是一種苦。從一出生到現在,我 不
能停止呼吸,這也是一種苦;如果我 停止呼吸,我們會立刻死去,這也是 種
苦。在生下來時,我們要伸展手足, 我們來說,這也是一種苦。如果我們 能
這樣子做,死亡立刻就會降臨,這也 一種苦。從一出生開始,我們需要吃 需
要喝,以維持身體,這也是一種苦。 出生的那一刻開始,唾液、鼻水、血 、
小便即從我們的
身體排出,我們因此要清潔它、洗刷 ,像刷牙、嗽口、在身體上噴灑香水 香
粉,以防止身體的惡臭。如果我們不 麼做,身體會生病、會死去,對我們 講,
這也是一種大苦。最後我們學會了利 一些東西以減除我們的痛苦,我們需 房
屋、床、桌椅、枕頭、衣服、食物、 車、金錢等等諸如此類的東西,以減 我
們的痛苦。
在這輪回的苦海裏,從卑下如乞丐, 至尊貴如國王,皆有無盡的痛苦,而
隨著這輪回的巨輪而輪轉的力量,即 善業與惡業的力量。佛陀的教法可以 助
我們從無盡的輪回的力量中解脫,以 如何離苦得樂,如果我們忠實地跟隨 陀
的教導,我們可以解脫生、老、病、 苦,而最後證得涅槃。因此現在是我 修
學佛法最佳的時機,因為我們擁有了 身。
以下是諸佛的教誡、教授:諸惡莫作 眾善奉行;自淨其意,是諸佛教。換
言之,佛陀教導我們修習戒、定、慧 持戒是修習禪定和道果的基礎,就像 屋、
工廠蓋在大地,戒有如大地一般,我 可以在大地上播種和建築。同樣地, 果
我們持戒,在世間法上,我們可以擁 大財富。而且一個持戒的人,他不會 此
而懈怠,他正直、無所謂至他的美名 遍四方,臨終時,他能夠建立起良好 正
念,之後投生天界。
有智慧的人知道持戒可以得到無窮的 益,因此他持戒,從而證得禪定、道
與果。以戒作為基礎,可以由此而修 定和慧;「由戒生定、由定生慧」, 此
應先修習定再開展慧。修定是指讓身 平靜,我們的心時常雜念紛飛,就像 風
中的蠟燭般搖擺不定;我們的心受惑 眼、耳、鼻、舌、身而產生執作、瞋 、
愚癡、害怕、身苦、心苦、我慢等等 我們可以透過修習定禪再來克服這些 念,
因此不論任何人,如果想讓他的心靈 靜,應該正確地修習定禪令心平靜下 ,
就像是一枝加上護罩的蠟燭處在無風 狀態之中。
如果我們跟隨一位有經驗的禪師修習 出息念,可以證得四種禪定,帕奧禪
師教導修行者必須要先習入出息念, 由此逐一地進入四種禪定,接下來修 觀
照身體的三十二相,再以白遍修到四 ,然後修慈、悲、喜直到三禪,修舍 到
四禪,再以佛隨念,然後再以不淨觀 初禪,之後再修習死隨念。
帕奧禪師教導修習四大以便修習觀智 任何人若想修習定禪,帕奧禪師會繼
續教導十遍、四禪八定。若想進入觀 ,最好是修習白遍直到四禪,屆時無 光
明遍照一切。
如果家中的環境並不太適合修行,至 在早上或晚上時,持續地靜坐。其他
時間,你可以修持四種護衛禪之中的 何一種,即佛隨念、慈心觀、不淨觀 死
隨念。如果你修其中任何的一種方法 很容易地便能夠達到禪定,而不會輕 地
受到五蓋的幹擾。
在古時候的印度,在一個比庫尼的道 之中,有一只小鸚鵡,她們叫牠作浮
富。有一天,一位比庫尼教導牠一個 坐的所緣,那就是觀想身體是一具骷 ,
那只小鸚鵡反覆不斷地叫作:「骷髏 骷髏!」。當這只小鸚鵡觀照牠的身 是
骷髏時,突然之間,一只老鷹從天空 直沖而下,正好被一位比庫尼看見了 那
位比庫尼大聲地喊叫,這只小鸚鵡因 而獲救。於是這位比庫尼就問牠:「 你
被抓住時,你在觀照著些什麼?」小 鵡回答說:「骷髏!只是抓著骷髏! 這
位比庫尼就說:「Sadhu! Sadhu! Sadhu! 你應該繼續修習這個靜坐的業處,將
來就會證得涅槃。」
這只小鸚鵡按照這指示去做,在牠臨 時,憶念起這個靜坐的業處而投生在
斯裏蘭卡為人,後來出家成為僧人, 且學習同一個靜坐的所緣,之後牠證 了
阿拉漢果,證悟涅槃。
在古時候的斯裏蘭卡,人們習慣於修 靜坐,不論他們正在做些什麼事,都
時常憶念著佛法。有一段時期,大約 六十位比庫一起前去禮拜一座佛塔, 於
正念圓滿,他們聽到兩位女居士念誦 行有關於「此身是汙穢不淨」的偈頌 便
馬上停下他們的步伐而立即觀照身體 最後這六十位比庫全部證得阿拉漢果 因
此不管是在家人或者是出家人,我們 應該持續不斷地修習靜坐,那麼我們 會
在佛陀的教法之中,得到歡喜和愉悅
佛陀教導我們持戒,時時憶念我們所 持的戒,要向那些值得敬仰的人們履
行我們應盡的責任和義務,時時聽聞 法、討論佛法和時時修習靜坐。我們 想
得到世間和出世間的快樂,就應該跟 諸佛的教導。最後長老祝願大家都能 跟
隨諸佛正確的教導,馬上得到喜悅和 愉。
願將我們的功德回向給帕奧禪師,祝 能夠早日康複,因為現在大家在禪修
營期間,也希望大家能夠精進修行, 能夠證悟涅槃。
-