https://www.youtube.com/watch?v=u9edGJg61qg
Pháp Môn Chuyển Di Tâm Thức ( Co Wa ) - Chùa Pháp Bửu[ANVMEDIA]
Printable View
https://www.youtube.com/watch?v=u9edGJg61qg
Pháp Môn Chuyển Di Tâm Thức ( Co Wa ) - Chùa Pháp Bửu[ANVMEDIA]
https://www.youtube.com/watch?v=6P0BnztoEEs
Chùa Bảo Phước - Pháp Hội Thính Pháp - Đại Pháp Phowa - Pháp Chuyển Di Thần Thức
Vén Bức Màn Bên Kia Cõi Chết
Tác giả: Đức Hạnh Lê Bảo Kỳ
Xuất bản tại Hoa Kỳ 2005
http://quangduc.com/a54483/10-nguoi-...muon-tiep-xuc-
cô ghé tiệm thuốc Bắc mua giùm tôi một số vị thuốc sau: Châu sa – 5 chỉ, Thần Sa – 5 chỉ, Son Tàu – 5 chỉ, A Nguỳ - 1 lượng…
http://vanhoaphuongdong.co/threads/t...-chau-sa.2734/
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%C6%B0%C6%A1ng
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%C3%A0-g%C3%AC
Sau khi một vị Lạt Ma cấp cao qua đời, xác ướp sẽ được rút nước và ướp trong các thảo dược quý hiếm. Vàng mảnh và nghệ tây được rải khắp cơ thể.
http://www.phatgiaonguyenthuy.com/ne...-Tay-Tang.html
Đại Nhật Như Lai Quán Đỉnh Quang Phù
( http://tuvilyso.net/diendan/forum_po...481&PN=9&TPN=3 )
https://s1.upanh123.com/2017/01/06/V...ntra3a9311.gif
Đốt Giấy Tiền Vàng Mã!
Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập văn hóa các nước, trong đó có những cái để chọn lọc nên sự sống ngày càng văn minh và tiên tiến. Nhưng cũng có cái đáng chê trách, như việc đốt giấy tiền vàng mã, làm hình nhân thế mạng, đủ các loại giấy tiền.
Kính thưa các bạn! các bạn dựa vào đâu mà đốt giấy tiền cho người thân của mình? Khi mình đốt nó biến thành tro, rồi làm sao người thân nhận được? Tôi xin thí dụ, giả sử người trên dương thế làm tù tội, bị luật pháp giam giữ trong chốn lao tù, vậy các bạn có thể mang điện thoại, xe, nhà cửa, tiền vào đó cho người thân của mình được chăng? Huống hồ người đã khuất là linh hồn, không có thân, thì làm sao nhận được cái có. Hay như, mình là người dương gian, sống trong thời đại này, thí như tôi in tiền giả để tiêu, như vậy tôi có bị giam giữ không? Nếu bị giam giữ, vậy tôi đâu có biết mặt của vua Diêm Vương để in hình ngài ra sao, vậy là lừa dối mình và người? Nếu ta gởi tiền xuống cho người thân ta nhận được, thì có lẽ ta muốn người thân ta ở mãi chốn địa ngục luôn rồi, vậy thì cần gì ăn chay niệm Phật nữa??? Huống hồ là người sanh tiền không tu tạo phước lành thì làm sao họ thoát khỏi chốn lao tù.
Trong Kinh Cúng Thí Người Mất Đức Phật dạy:
Chính tôi được nghe, lúc Đức Phật lưu trú tại tinh xá Kỳ Viên, bà-la-môn Cha-nu-sô-ni (Janussoni) đến viếng thăm, đảnh lễ rồi thưa hỏi Đức Phật:
- Bạch đức Thế Tôn, con là bà-la-môn chuyên làm các lễ cúng cho người chết, lòng những mong sẽ đem lại lợi ích cho họ, như vậy, bạch Thế Tôn, họ có thật sự được lợi ích không? O
Đức Phật dạy:
- Này Bà-la-môn, nếu có tương xứng thì người chết sẽ hưởng được phẩm vật cúng dường. Bằng không có tương xứng thì họ không được hưởng gì cả. O
Bà-la-môn bạch Phật:
- Kính xin đức Thế Tôn giải rõ cho chúng con hiểu thế nào là tương xứng và không tương xứng?
Lúc bấy giờ, Đức Phật bảo Bà-la-môn Cha-nu-sô-ni và đại chúng rằng: O
1. Nếu ai sống sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, phù phiếm, có tham ái, sân, si và tà kiến, sau khi mạng chung sẽ bị đọa vào địa ngục. Tại đây y được nuôi sống và tồn tại bằng thức ăn của địa ngục. Do đó, việc người thân quyến cúng đồ ăn của con người cho họ là không tương xứng. Người mất sẽ không hưởng được gì từ sự cúng kiến đó. O
2. Này các thiện nam, tín nữ, với người đầy dẫy mười điều ác, mạng chung bị sanh vào loài bàng sanh. Tại đây, y được nuôi sống và tồn tại bằng thức ăn của loài bàng sanh. Do đó quả thật sẽ không tương xứng, khi người thân quyến đem phẩm vật của con người để cúng quảy, làm sao người chết đó ăn được. O
3. Này các thiện nam, tín nữ, ngay cả trường hợp người chết khi sanh tiền tu tập mười nghiệp lành, được tái sanh làm con người, hay có phước báo hơn được sanh vào cảnh giới chư thiên. Tại đây, với y báo là con người hay chư thiên, họ có cha mẹ riêng và các món ăn riêng để nuôi sống hiện hữu của họ. Do đó, thật là không tương xứng, nếu người thân quyến cúng dường và mong người quá cố thọ nhận. Vì người chết đã tái sanh làm người khác hoặc chư thiên rồi làm sao thọ nhận được. O
4. Này các thiện nam, tín nữ, chỉ có một trường hợp duy nhất người chết có thể nhận được sự cúng quảy của người thân quyến. Đó là trường hợp người chết bị đọa vào ngạ quỷ. Món ăn nào mà người thân quyến muốn hiến cúng cho họ thì họ sẽ hưởng được món đó. Họ sống và hiện hữu nhờ vào các món ăn này. Đây là trường hợp Như Lai gọi là có tương xứng. O
Nghe Đức Phật giải bày cặn kẽ, bà-la-môn hỏi thêm:
- Bạch Thế Tôn, các trường hợp người chết tái sanh vào loài bàng sanh, địa ngục, a-tu-la, hay sanh lại làm người, hoặc sanh thiên thì sự cúng quảy không có sự thọ hưởng. Nhưng nếu người chết không tái sanh vào cõi ngạ quỷ thì ai sẽ là người thọ hưởng sự cúng kiến ấy ?
Lúc ấy Đức Phật dạy rằng:
- Này các thiện nam, tín nữ, nếu không là người thân thuộc quá cố của người cúng thì cũng có những người thân thuộc khác của người cúng ở loài ngạ quỷ sẽ hưởng thế phần.
Bà-la-môn thưa hỏi:
- Nhưng nếu cả dòng họ thân thuộc của người cúng không một ai bị tái sanh vào loài ngạ quỷ thì phẩm vật cúng đó sẽ thuộc về ai ?
Đức Phật dạy:
- Đây là trường hợp không thể xảy ra, rằng chỗ ấy trống không trong một thời gian dài mà không có một ai đó trong huyết thống bị sanh vào. Nhưng này các thiện nam, tín nữ, mặc dù thế, người bố thí ấy không phải không hưởng được quả phước từ sự cúng thí đó. O
Nhân đó Đức Phật dạy thêm về phước báo của sự bố thí:
- Này các thiện nam, tín nữ, trong suốt quá trình sống, người nào vi phạm mười điều ác nhưng lại biết làm hạnh bố thí, người ấy khi mạng chung sẽ sanh cộng trú trong loài voi nhưng là con voi được chăm sóc, ăn uống và trang phục đầy đủ. Trong trường hợp họ vì nghiệp duyên bất thiện, sanh làm ngựa, bò hay bất kỳ loài bàng sanh nào, thì ở đấy y vẫn hưởng thọ đầy đủ sự ăn uống tương xứng với phước duyên bố thí khi họ còn làm người. O
Nhưng này các thiện nam, tín nữ, điều Như Lai muốn răn dạy vẫn là một người đầy đủ mười hạnh lành lại còn biết trau dồi hạnh bố thí chơn chánh và cúng dường những bậc chân tu, những người đạo đức. Khi mạng chung hoặc được tái sanh làm chư thiên thì tại đấy y sẽ được hưởng năm thứ phước đức chư thiên, hoặc sanh làm người thì sẽ được hưởng năm thứ phước báo cõi người. Trong bất kỳ trường hợp nào, người có hạnh bố thí vẫn tốt hơn.
Sau pháp thoại sâu sắc đó, bà-la-môn Cha-nu-sô-ni bỗng chốc trở thành nam cư sĩ và toàn thể pháp hội đều hoan hỷ, tín thọ lời Phật dạy
Qua bài Kinh trên, cho thấy giá trị thực sự, chúng ta cần suy xét lại có nên đốt giấy tiền vàng mã hay nên ăn chay, niệm Phật, để giúp chính mình cũng như cho người thân của các bạn! Vì người thân của bạn là người vô hình, nên nhận được cái công đức vô hình. !
Chúc các bạn tu hành ngày càng sáng tỏa Tâm Tư, để làm lợi ích chính mình và giúp cho mọi người hiểu đúng hơn.
( http://quetbuitran.blogspot.com/2011...n-vang-ma.html )
Thần Chú Dùng Để Đặt Trên Cơ Thể Người Chết Hoặc Đang Hấp Hối
Thần Chú Dùng Để Đặt Trên Cơ Thể Người Chết Hoặc Đang Hấp Hối
Sonan
( https://lotusleanh.blogspot.com/2016...guoi-chet.html )
Dưới đây là các câu thần chú mà người Tây Tạng thường đặt trên cơ thể của người chết để giúp họ có một cái chết an bình và tìm kiếm một tái sinh lợi ích hơn ở đời sống tiếp theo. Lưu ý là mặt giấy có in các câu thần chú này phải được đặt úp trên vùng ngực của người chết, hay nói một cách khác mặt giấy có in các câu thần chú này phải được tiếp xúc với làn da của người chết.
1. Mantra of Kunrig
2. Mantra of Buddha Mitrugpa
3. Mantras of Namgyalma (Ushnishvijaya)
4. Stainless Beam mantra
5. Wish-Granting Wheel mantra
6. Mantra of Chenrezig
7. Medicine Buddha mantra
8. Mantra of Padmasambhava
9. Mantra of Milarepa
10. Mantra of Buddha Maitreya’s promise
Các câu thần chú trên thường được in trên “Mền Quang Minh” của người Tây Tạng. NgườiTây Tạng gọi “Mền Quang Minh” dùng để đắp cho người đã qua đời là Tag-drol, nghĩa là “giải thoát qua cái mặc”(liberation through wearing). Người Việt có thói quen gọi những chiếc “mền”đắp cho người quá cố là “Mền Quang Minh,” đó là vì ta muốn nhắc đến trạng thái tịnh quang chói sáng và trong suốt (Clear Light) của Chân Tâm khi đạt được giải thoát. Ta mong muốn người chết sẽ đạt được đến trạng thái này sau khi lìa đời, cho nên gọi bằng “Mền Quang Minh.” “Mền Quang Minh” là một phương pháp vô cùng thiện xảo của chư Phật để hoá độ chúng sinh.
Khi mang trên người tấm “Mền Quang Minh” thì người chết cũng có thể tịnh hoá được rất nhiều chướng ngại hoặc các che chướng. Qua việc phủ đắp chiếc “Mền Quang Minh,” giúp cho tâm của người chết không bị tán loạn, giữ vững được sự sáng suốt, một mực hướng về mục đích cứu cánh là đạt đến giác ngộ giải thoát hoặc tái sinh vào cõi Phật. Đắp “Mền Quang Minh” tạo được ba loại công đức và lợi lạc như sau:
1. Giúp bảo vệ người chết khỏi những chướng ngại hoặc những tai hại do các vong linh hiểm ác hoặc quỷ thần gây ra;
2. Trong tương lai, có thể giải thoát khỏi luân hồi và khổ não;
3. Trong cõi trung giới “Bardo,” có thể trực nhận được Tuệ Giác Nguyên Sơ đạt giác ngộ giải thoát, hoặc tái sinh vào cõi Tịnh Độ Cực Lạc của đức Phật A Di Đà, sau sẽ đắc được Phật quả.
* Hỏi: Ở trong chùa, tôi từng thấy có một cuốn sách nhan đề Phật Thuyết Thọ Sanh Kinh, trong ấy có nói đến chuyện phải đóng tiền thọ sanh[*], chẳng biết tiền thọ sanh là vật gì, và cách đóng tiền ra sao? (Trương Tấn Thiêm hỏi)
Đáp: Đây là do kẻ chẳng hiểu Phật pháp, lầm tưởng mắt cá là trân châu. Trong Đại Tạng Kinh nhà Phật chẳng có cuốn kinh ấy, chớ nên mê tín! Cư sĩ vừa nhập Phật môn, cần phải phân biệt rõ chân, giả, tà, chánh. Nếu không, đường rẽ lắm ngõ, sẽ sa hầm, sẩy hố, chẳng thể vãn hồi được!
==========
*CHÚ THÍCH:
[*]Đây là một tục lệ mê tín, xuất phát từ ngụy kinh Thọ Sanh. Theo kinh ấy, vào năm thứ mười ba niên hiệu Trinh Quán đời Đường, ngài Huyền Trang đã thâu thập được kinh Thọ Sanh trên đường sang Thiên Trúc thỉnh kinh. Kinh dạy mỗi chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề thọ sanh trong cõi này đều thiếu tiền đầu thai ở chốn âm phủ. Do vậy, phải đốt tiền Thọ Sanh để trả nợ (việc này gọi là “hoàn khố thọ sanh”). Nếu không làm, sẽ gặp mười tám thứ tai ách. Theo các nhà nghiên cứu, bản kinh này vốn có tên là Thái Thượng Lão Quân Thuyết Ngũ Đấu Kim Chương Thọ Sanh Kinh của Đạo giáo, về sau, các tà sư đã đổi tên thành Phật Thuyết Thọ Sanh Kinh cũng như bịa chuyện bản kinh này do ngài Huyền Trang đem về Trung Hoa. Theo niềm tin đó, người đốt tiền thọ sanh phải tụng chú Thọ Sanh như sau “thiên la chú, địa la chú, nhật nguyệt hoàng la chú, nhất thiết oán gia ly ngã thân, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật”. Họ quy định tùy theo mỗi tuổi mà thiếu nợ bao nhiêu tiền, chẳng hạn tuổi Tân Sửu thiếu nợ mười một vạn quan, phải tụng ba mươi bảy vạn biến kinh Thọ Sanh, đồng thời cúng vào kho do viên quan họ Cát quản lý. Mỗi tờ tiền thọ sanh là một quan. Các đạo sĩ, thậm chí các “tụng kinh đoàn” ở Đài Loan, Hương Cảng, Mã Lai v.v... và một số tự viện thường có những nghi thức rườm rà để tụng kinh Thọ Sanh và đốt tiền. Hủ tục này cũng du nhập vào Việt Nam và khá thịnh hành tại miền Bắc.
( http://www.niemphat.net/Luan/phathoc...andaploai8.htm )
https://s1.upanh123.com/2017/01/06/5...74690fede7.jpg
https://s1.upanh123.com/2017/01/06/6...6d690b0b92.jpg
https://s1.upanh123.com/2017/01/06/3...63857b0848.gif
https://s1.upanh123.com/2017/01/06/2...oZfwyd68b5.gif
https://s1.upanh123.com/2017/01/06/17da4f.png
https://s1.upanh123.com/2017/01/06/263d01.png
https://s1.upanh123.com/2017/01/06/a...3c690ac424.jpg
https://s1.upanh123.com/2017/01/06/a...3e690690e7.jpg
https://s1.upanh123.com/2017/01/06/a...9071c73.md.jpg
不空羂索毘盧遮那佛大灌頂光真言一
[0606b05] (出不空羂索經二十八卷)
開府儀同三司特進試鴻臚卿肅國公食 三千戶賜紫贈司空諡大鑒正號大廣智 興善寺三藏沙門不空奉 詔譯
[0606b11]
oṃ a mo gha vai ro ca na ma hā pro
唵 阿 謨 伽 尾 嚧 左 曩 賀 母捺
ma ṇi pa dme jvā la
囉(二合) 麼 抳 鉢 納麼(二合) 嚩(二合) 攞
pra va rda ya hūṃ
鉢囉(二合) 韈 哆 野 吽
http://tripitaka.cbeta.org/T19n1002_001
http://www.yinxinzong.net/daguangmingzong.htm
http://youqisifeicheng.blog.163.com/...2010324555665/
( http://www.dianliwenmi.com/postimg_3971536_4.html/ http://blog.sina.com.cn/s/blog_5d88bc260100l3bx.html / http://blog.sina.com.cn/s/blog_13b68a2100102v7go.html / http://www.mianfeiwendang.com/doc/24...1e99ee708ebe97 )
毗卢遮那佛的手印怎么打 [复制链接]
( http://bbs.gming.org/thread-63335-1-1.html )
http://bbs.gming.org/thread-63335-1-1.html
http://bbs.gming.org/data/attachment...75mtzozhe1.jpg
https://s1.upanh123.com/2017/01/06/1...kkkkf7ae3b.jpg
问讯时的「毗卢遮那佛印」
https://s1.upanh123.com/2017/01/06/1...53z3ga4547.jpg
https://s1.upanh123.com/2017/01/06/1...7ykh7a7342.jpg
众生本性「弥陀印」
毗卢遮那佛手印的打法,其实很简单 两手成拳状举到胸前,左手抱住右拳 右手的食指尖自然地顶到左手食指的 第一节上,左手的拇指亦然压住右手 拇指即是毗卢遮那佛手印。 问讯时的手印变化:
在问讯时,两手保持原来的抄手「弥 印」,躬身弯腰到一定程度(接近90 )后,随着身体的直立,即刻变为毗 遮那佛的手印,两手腕与两小臂轻松 自然地将手印举到鼻前,感觉到左手 食指尖已到了两眉间(即上丹田), 手的拇指甲碰到鼻尖的时候, 即刻放掌,恢复到原来的抄手「弥陀 」。 这就是在整个问讯过程中,手印的变 。
https://www.youtube.com/watch?v=A41rycuv5TQ&feature=youtu.be
海濤法師教授:慈悲甘露施食儀軌( � �午5點後)另有七佛如來手印
慈悲甘露施食儀軌(下午5點後)
〈施食前行〉
先準備水和米。
放米的時候一邊放一邊念七佛如來: 無多寶如來。南無寶勝如來。南無妙 身如來。南無廣博。身如來。南無離 怖畏如來,南無甘露王如來。南無阿 陀如來。
水-南無寶髻如來。
在水中寫五個種子字:嗡阿吽凡舍
小供養咒:唵 阿彌利得 吽 怕都
〈甘露施食儀軌〉
南無佛陀耶。南無達摩耶。南無僧伽 。南無本尊釋迦牟尼如來。南無安住 地菩薩眾。南無一切龍天善神。願以 威神加哀護助。我今召請十方剎土。 虛空界。一切六趣。餓鬼有情類。 以三寶威神力故。悉至我所。
(普召請真言)三遍
南無部部帝唎 伽哩哆哩 怛哆誐哆
(解怨結真言)三遍
唵 三陀囉 伽陀娑婆訶
(開咽喉真言)三遍
唵 步步底哩伽多哩 但哆誐哆耶
(變食咒)三遍
南無薩嚩怛他誐哆 嚩嚕枳帝 唵 跋囉 三跋囉 吽
(甘露水真言)三遍
南無蘇嚕婆耶 怛他誐哆耶 怛姪他 唵 蘇嚕蘇嚕 鉢囉蘇嚕 鉢囉蘇嚕 娑婆訶
(普供養真言)三遍
唵 誐誐曩 三婆嚩 伐日囉斛
(施無遮真言-晚上)偈語一遍.咒言七
偈:汝等鬼神眾 我今施汝供 此食遍十方 一切鬼 共(一遍)
咒:唵 穆利陵莎訶(七遍)
(回向偈)
願生西方淨土中 九品蓮花為父母
花開見佛悟無生 不退菩薩為伴侶
圓滿後,就將米和水放在室外的樹下 如果住在樓上,沒辦法這麼做,那就 甘露瓶灑灑水,有機會的話就將米和 水放在樓下。
TỪ BI CAM LỘ THÍ THỰC NGHI QUỸ (Sau 5h chiều)
LINK: (Pháp sư Hải Đào giảng dạy) https://www.youtube.com/watch?v=A41r...ature=youtu.be
_Thí thực tiên hành
Đầu tiên, chuẩn bị gạo hòa vào nước.
Thả gạo vào sau mỗi lần niệm danh hiệu của 7 vị Phật Như Lai:
Nam mô Đa Bảo Như Lai
Nam mô Bảo Thắng Như Lai
Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai
Nam mô Quảng Bác Thân Như Lai
Nam mô Ly Bố Úy Như Lai
Nam mô Cam Lộ Vương Như Lai
Nam mô A Di Đà Như Lai
THỦY (nước) – Nam mô Bảo Kế Như Lai
Viết 5 chữ chủng tử vào nước: OṂ, A (?AḤ), HŪṂ,VAṂ, HRĪḤ
[Om, A (?Ắc), Hùm, Vam, Hơ-rích]
Tiểu cúng dường chú: OṂ AMṚTE HŪṂ PHAṬ
[Om, a mờ-rật tê, hùm phạt]
_Cam Lồ Thí Thực Nghi Quỹ
Nam mô Phật Đà Da
Nam mô Đạt Ma Da
Nam mô Tăng Già Da
Nam mô Bổn Tôn Thích Ca Mâu Ni Như Lai
Nam mô An Trụ Đại Địa Bồ Tát Chúng
Nam mô tất cả Long Thiên Thiện Thần
Nguyện dùng uy thần thương xót giúp đỡ. Nay con triệu thỉnh các Quỷ đói và loài hữu tình trong hết thảy sáu nẻo ở mười phương các cõi, tận hư không giới. Do sức Uy Thần của Tam Bảo cho nên đều đến chỗ của con.
Phổ Triệu Thỉnh Chân Ngôn:
NAMO BHŪPURIKARITARI TATHĀGATĀYA (3 lần)
[Na mô, phu pu ri ca ri ta ri, ta tha ga ta da]
Giải Oan Kết Chân Ngôn:
OṂ SANTĀRĀ KATA SVĀHĀ (3 lần)
[Om, xăn ta ra, ca ta, xờ-va ha]
Khai Yết Hầu Chân Ngôn:
OṂ BHŪPUTERIKATARI TATHĀGATĀYA (3 lần)
[Om, phu pu tê ri ca ta ri, ta tha ga ta da]
Biến Thực Chú:
NAMAḤ SARVA TATHĀGATĀVALOKITE_ OṂ SAMBHĀRA SAMBHĀRA HŪṂ (3 lần)
[Na mắc, xa rờ-va, ta tha ga ta va lô ki tê, Om, xăm pha ra, xăm pha ra, hùm]
Cam Lộ Thủy Chân Ngôn:
NAMAḤ SU-RŪPAYA TATHĀGATĀYA TADYATHĀ: OṂ SURU SURU, PRASURU PRASURU SVĀHĀ (3 lần)
[Na mắc, xu ru pa da, ta tha ga ta da, ta đi-da tha: Om, xu ru xu ru, pờ-ra xu ru, pờ-ra xu ru, xờ-va ha]
Phổ Cúng Dường Chân Ngôn:
OṂ GAGANA SAṂBHAVA VAJRA HOḤ (3 lần)
[Om, ga ga na, xăm pha va, va ji-ra, hốc]
Thí Vô Giá Thực Chân Ngôn: (1 lần câu kệ, 7 lần câu chú)
Các ngươi! Chúng Quỷ Thần
Nay Ta cúng cho ngươi
Thức này tràn mười phương
Mọi Quỷ Thần cùng hưởng
OṂ MULĀLIN SVĀHĀ (7 lần)
[Om, mu la lin, xờ-va ha]
_Danh hiệu của bảy Đức Phật Như Lai:
Nam mô Đa Bảo Như Lai (Namo Prabhūta-ratnāya-tathāgatāya)
Nam mô Bảo Thắng Như Lai (Namo Ratna-dharāya-tathāgatāya)
Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai (Namo Su-rūpaya-tathāgatāya)
Nam mô Quảng Bác Thân Như Lai (Namo Vipula-gatrāya-tathāgatāya)
Nam mô Ly Bố Úy Như Lai (Namo Abhayaṃ-karāya-tathāgatāya)
Nam mô Cam Lộ Vương Như Lai (Namo Amṛta-rajāya-tathāgatāya)
Nam mô A Di Đà Như Lai (Namo Amitābhāya-tathāgatāya)
_Kệ Hồi Hướng:
Nguyện sinh trong Tịnh Thổ Tây Phương
Hoa sen chín phẩm là mẹ cha
Hoa nở thấy Phật, ngộ Vô Sinh
Bồ Tát Bất Thối là bạn lữ
Sau khi hoàn tất, đem vật khí có chứa nước và gạo ra ngoài đặt dưới gốc cây. Nếu như sống ở trên lầu, không thể làm được điều này thì sử dụng bình chứa nước Cam Lộ để rãi nước, nếu có thể thì đem vật khí đặt ở tầng trệt.
===========
Namo bhagavate Prabhuta-ratnaya tathagataya
南無多寶如來
Namo bhagavate Ratna-sikhaya tathagataya
南無寶勝如來
Namo bhagavate Surupaya tathagataya
南無妙色身如來
Namo bhagavate Vipula-gatraya tathagataya
南無廣博身如來
Namo bhagavate Abhayam-karaya(Vighata-trasaya) tathagataya
南無離怖畏如來
Namo bhagavate Amrta-rajaya tathagataya
南無甘露王如來
Namo bhagavate Amitabhaya tathagataya
南無阿彌陀(無量光)如來
Namo bhagavate Ratna-sikhineya tathagataya
南無寶髻如來
Lễ Cúng Thí Thực Theo Tinh Thần Kinh Nikaya
( http://vuonhoaphatgiao.com/nghi-thuc...n-kinh-nikaya/ )
Ở bài này, chỉ dựa trên cơ sở Kinh Nikaya để xác minh ý nghĩa lễ cúng thí thực vốn có nguồn gốc trong hai truyền thống Phật Giáo. Nếu không hiểu rõ ý nghĩa tích cực và phương pháp lễ cúng này và nếu áp dụng lễ cúng thí theo kiểu Tế Đàn cực đoan của Bà La Môn giáo và ngoại đạo thì chắc chắn không không có phước báo tốt đẹp.
Theo kinh Phật dạy, các hương linh đó nếu thọ dụng được thức ăn hiến cúng đó, tương đương chúng sanh trong cảnh giới ngạ quỷ. Cho nên hương linh là ngôn ngữ nhân gian, có thể thọ nhận được sự hiến cúng phẩm vật. Kinh chép rằng: “Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi ngạ quỷ. Món ăn của chúng sanh ngạ quỷ như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Món ăn nào các bạn bè, hoặc thân hữu, hoặc bà con, hoặc người cùng huyết thống từ đấy muốn hướng cúng cho vị ấy, tại đấy vị ấy sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy được lợi ích của bố thí ấy [4]. Thực chất cảnh giới chúng sanh trong loài quỷ có nhiều loại, tùy theo phước báo và nghiệp lực sai biệt, nên sanh vào trong loài quỷ cũng có nhiều loại.
Thức ăn chúng ta hiến cúng, tương ưng với nghiệp lực loài đó, thì có sự thọ nhận. Kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa thường nhắc đến loài quỷ có phước và oai lực, loài quỷ thiếu phước khổ đau và đói khát. Có loài quỷ thường xuất hiện trong không gian, chỉ có người có tuệ nhãn mới thấy. Điều này được ghi nhận trong Kinh Nikaya ghi rất rõ ràng, khi tôn giả Mục Kiền Liên (Maha Moggallana) trong thấy có nhiều loài quỷ quái dị mà người bình thường không thể thấy, và Đức Phật xác nhận điều ấy qua đoạn Kinh sau: “Xưa kia, này các Tỳ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.”[5].
Ở bài này, chỉ dựa trên cơ sở Kinh Nikaya để xác minh ý nghĩa lễ cúng thí thực vốn có nguồn gốc trong hai truyền thống Phật Giáo. Nếu không hiểu rõ ý nghĩa tích cực và phương pháp lễ cúng này và nếu áp dụng lễ cúng thí theo kiểu Tế Đàn cực đoan của Bà La Môn giáo và ngoại đạo thì chắc chắn không không có phước báo tốt đẹp. Một lễ cúng đầy đủ ý nghĩa cần có thực phẩm hiến cúng và dùng pháp ngữ khai thị hương linh, ngạ quỷ nhận thức đạo lý để xả ly chấp thủ, luyến ái và sớm được giải thoát tự tại. Vấn đề ở đây cần nhận thức rõ ràng tinh thần người hiến cúng và đối tượng được hiến cúng trong pháp thí thực một các có trí tuệ, mới có sự lợi lạc.
Người Hiến Cúng
a) Người hiến cúng bằng pháp bất thiện
Người hiến cúng thí thực bằng pháp bất thiện sẽ mắc nghiệp xấu, vì giết hại sanh linh lấy thịt cúng tế sẽ tạo ba thứ ác nghiệp từ thân, miệng và ý, chắc chắn sẽ đưa đến kết quả không như ý muốn. Điều này được ghi lại trong Kinh Tăng Chi qua Phẩm Tế Đàn, khi Đức Phật đã trả lời cho Bà La Môn Uggatasarìra. Vị Bà La Môn này ý định đốt lửa, dựng trụ tế đàn, giết hàng trăm con bò, con cừu, con heo làm thực phẩm hiến cúng để cầu mong được quả phước lớn. Đức Phật đã thẳng thắn phê phán, cho đó là hành động bất thiện chỉ đưa đến quả khổ trong đời này và đời sau, Ngài dạy như sau: “Này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ tế đàn, dựng lên ba cây kiếm này, đưa đến khổ sanh, khổ dị thục”.[1] (Dựng lên ba cây kiếm là dụ cho ba nghiệp xấu ác của thân, miệng và ý, vì đã giết hại sanh linh để làm thực phẩm cúng tế một cách mù quáng). Qua đó chúng ta hiểu rằng, trong Dân Gian Việt Nam, nếu cá nhân gia đình, hay truyền thống làng và họ, với bất kỳ nghi lễ cúng tế nào mà sát sanh, hại vật đều đưa đến quả khổ chung cả người cúng tế lẫn đối tượng được cúng.
b) Cúng thí thực bằng pháp thiện
Người hiến cúng bằng thiện pháp sẽ đưa đến phước lành, họ không sát hại sanh linh để lấy thịt hiến cúng, dùng phẩm vật thanh tịnh cúng tế. Pháp hiến cúng này thể hiện được phẩm hạnh từ bi giúp các sanh linh thoát khỏi cảnh giới đói khổ. Trong kinh Tăng Chi Đức Phật giải thích rõ cho các người Bà La Môn như sau: “Này Bà la môn, tại những tế đàn nào, trong ấy không có bò bị giết, không có dê cừu bị giết, không có gà heo bị giết, không có các loài sinh vật khác bị giết hại. Này Bà la môn, Ta tán thán loại tế đàn không có sát sinh như vậy, tức là làm bố thí, tế đàn cầu hạnh phúc cho gia đình. Những loại tế đàn không có sát sinh như vậy, này Bà la môn, các A la hán và những ai đi trên con đường hướng đến A la hán, có đi đến.”[2] Qua đoạn Kinh trên, nội dung khẳng định rõ ràng, cúng tế không sát hại sanh linh là có quả báo tốt đẹp, đáng được tán thán.
2. Đối tượng được cúng
a) Sanh được làm người là khó (Ý nghĩa này mang tính chất pháp thí, trong pháp ngữ của nghi cúng mà hương linh- ngạ quỷ cần nhận biết)
Thuật ngữ Hương Linh, Vong Linh chỉ cho người thế tục qua đời. Thuật ngữ Giác Linh là chỉ cho người có giới đức và phẩm hạnh qua đời. Ở đây, các bậc thánh giả, thoát ly luân hồi chúng ta không bàn tới trong chuyện cúng thí. Theo tuệ giác của Phật thì, những hạng người không tu tập thiện pháp, người sát sanh, trộm cắp, tà hạnh và ác khẩu, khi chết không được sanh thiên giới, không được tái sanh làm người, phần đông sanh vào cảnh giới thấp như địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Đức Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, được tái sanh làm người lại. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, phải tái sanh vào cõi ngạ quỷ [3]. Những chúng sanh trong loài quỷ này, đa số chịu nhiều sự đói khát và có hình thù quái lạ, phần nhiều cầu mong sự cúng thí thực phẩm của người đời.
Phẩm vật hiến cúng và đối tượng thọ nhận phải có sự tương ưng. Trong văn hóa cúng bái nhân gian Việt Nam, mỗi khi cúng, người ta thiết hai bàn, bàn thượng và bàn hạ. Bàn thượng cúng hương hoa, bông trái và nước trong thanh khiết dành cúng cho chư thiên và các chúng sanh ở cảnh giới cao, gọi là bàn Thiên. Bàn hạ là cúng thức ăn thông thường như người đang sống thường dùng, như cơm, cháo, bánh trái để cúng cho các hương linh, gọi là bàn hương linh.Trong nghi thức chẩn tế và siêu độ thì đàn tràng được thiết lập theo triết lý Mật Tông. Người cúng thỉnh sư đọc tụng chân ngôn, cầu sự gia trì của Phật và Bồ tát, giúp cho chúng hương linh (ngạ quỷ) được thọ dụng no đủ và thoát khổ.
b) Sự hiến cúng thực phẩm, vì sao cần khai thị hương linh trong lễ cúng
Theo kinh Phật dạy, các hương linh đó nếu thọ dụng được thức ăn hiến cúng đó, tương đương chúng sanh trong cảnh giới ngạ quỷ. Cho nên hương linh là ngôn ngữ nhân gian, có thể thọ nhận được sự hiến cúng phẩm vật. Kinh chép rằng: “Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi ngạ quỷ. Món ăn của chúng sanh ngạ quỷ như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Món ăn nào các bạn bè, hoặc thân hữu, hoặc bà con, hoặc người cùng huyết thống từ đấy muốn hướng cúng cho vị ấy, tại đấy vị ấy sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy được lợi ích của bố thí ấy [4]. Thực chất cảnh giới chúng sanh trong loài quỷ có nhiều loại, tùy theo phước báo và nghiệp lực sai biệt, nên sanh vào trong loài quỷ cũng có nhiều loại.
Thức ăn chúng ta hiến cúng, tương ưng với nghiệp lực loài đó, thì có sự thọ nhận. Kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa thường nhắc đến loài quỷ có phước và oai lực, loài quỷ thiếu phước khổ đau và đói khát. Có loài quỷ thường xuất hiện trong không gian, chỉ có người có tuệ nhãn mới thấy. Điều này được ghi nhận trong Kinh Nikaya ghi rất rõ ràng, khi tôn giả Mục Kiền Liên (Maha Moggallana) trong thấy có nhiều loài quỷ quái dị mà người bình thường không thể thấy, và Đức Phật xác nhận điều ấy qua đoạn Kinh sau: “Xưa kia, này các Tỳ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.”[5].
Có những người qua đời tái sanh trong loài quỹ vẫn còn lưu luyến người thân. Một chi tiết trong Kinh Tăng Chi thuật về cuộc đối thoại của nữ cư sĩ Velukantakì và tôn giả Sàriputta chứng minh điều đó. Kinh chép như sau: “Ở đây, thưa Tôn giả, người chồng của con, khi mạng chung, sanh vào loại Dạ-xoa, và vị ấy hiện lên trước mặt con, với một tự ngã như lúc trước. Nhưng thưa Tôn giả, con rõ biết, không vì nhân duyên ấy, tâm của con có đổi khác.[6] Như vậy, dù qua kiếp khác, nhưng ấn tượng về những gì trong đời trước vẫn còn, nên các loài quỷ còn bám víu người thân và hoàn cảnh sống quá khứ. Cho nên, ngoài phẩm vật cúng thí, còn dùng giáo nghĩa Phật dạy, khai thị cho hương linh, ngạ quỷ nhận thức để xả ly sự chấp thủ các yếu tố tham ái để được giải thoát là điều cần thiết.
Kết luận
Phật giáo không phải thiết lập mục đích sự chứng ngộ thông qua nghi lễ cúng tế. Nhưng thực hiện nghi thức cúng thí thực cho người đã khuất bằng phẩm vật thanh tịnh, không giết hại sanh linh làm phẩm vật cúng tế là được Đức Phật tán thán. Pháp thí thực như vậy không phải xuất phát từ tính ngưỡng ngoại đạo mà có. Vì thông qua pháp ngữ trong lễ cúng, chư hương linh-ngạ quỷ nhận chân được chân lý Phật dạy.
Chúng ta nên xem những chúng sanh bị đọa lạc trong cảnh giới khổ đau, có thể họ đã từng là cha mẹ, tổ tiên, thân bằng quyến thuộc của chúng ta nhiều đời kiếp, họ đáng được báo ân và và thọ nhận sự bố thí cúng dường. Đó là việc làm thiết thực và có quả phước lành đáng được tôn trọng.
Trong cuộc sống hiện đại, con người chạy theo những giá trị vật chất, dễ dàng quên đi cái ân nghĩa đối người thân thuộc đã qua đời. Thực hiện bố thí trong đó có Pháp Thí luôn nuôi dưỡng và khơi dậy tinh thần cứu khổ và ban vui của đạo Phật đối với chúng sanh ngay trong đời này và các đời sau.
[1] Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt, Chương VII - Bảy Pháp, Phẩm Tế Đàn
[2] ĐTKVN,Tăng Chi BộI, chương 4, phẩm Bánh xe, phần Ujjaya, VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.629
[3] Kinh Tương ưng bộ, tập 2, HT.Thích Minh Châu dịch, NXB.Tôn Giáo, 2015, tr.830.
[4] Kinh Tăng chi bộ, tập 2, HT.Thích Minh Châu dịch, NXB.Tôn Giáo, 2015, tr.720.
[5] Kinh Tương ưng bộ, tập 1, HT.Thích Minh Châu dịch, NXB.Tôn Giáo, 2015, tr.599-606
[6] Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya. Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt, Phẩm Tế Đàn, Phần: Mẹ Của Nanda