Xin giới thiệu các câu thần chú dùng để đặt trên cơ thể người đang hấp hối hoặc đã chết. Các câu thần chú trên được Lama Zopa Rinpoche khuyến khích sử dụng. Lưu ý là mặt giấy có in câu thần chú phải được úp trên cơ thể tiếp xúc với làn da người đang hấp hối hoặc đã chết.
Các bạn có thể tải về từ địa chỉ sau:
http://fpmt.org/wp-content/uploads/t...2005tmlttr.pdf
=========
Cám ơn bạn, một cách khác mà đức Lạt ma giô ba rin bô che có khuyên chúng ta nên dùng những hình phù này. Hai câu chú trong hình do Đức Phật thuyết trong Kinh Thủy Truyền Dõng và Kinh Thác Nước.
Trong kinh Thuỷ Tuyền Dõng, việc nhìn qua thần chú này có tác dụng diệt từ tội chướng của 300 triệu kiếp. Cũng được gọi là thần chú giải thoát qua sự nhìn ngắm. Nếu thần chú này được treo trên cửa, có khả năng tịnh hoá mọi ô nhiễm mỗi khi có ai đi qua. Kẻ vô cùng may mắn đó sẽ không phải tái sinh trong địa ngục, quỷ đói, súc sinh.
Hàng Trên: ÔM BÁT MÔ U NI SA VI MA LÊ HÙM PHÁT
Hàng Dưới: ÔM HA NU BÁT SA BA RA HI DÊ SÔ HA
Ở Tây Tạng thường thì nhiều người viết 2 chú này lên vải và đắp trên người chết để khiến họ sanh lên cõi lành không đọa vào 3 đường giữ.
2 thần chú này làm lợi ích cho chúng sanh không thể nghĩ bàn được. Người trì tụng niệm bảy lần mỗi ngày, thì người đó sẽ được tái sanh ở cõi tốt lành.
Trì 2 chú này 108 lần vào quần áo, mang vào người thì sẽ giúp cho thân mình luôn luôn được thanh tịnh, và khi đụng người khác cũng sẽ được thanh tịnh như vậy.
Viết 2 câu thần chú này lên vải lụa hoặc giấy v.vv và treo trước cửa thì những người vừa mới nhìn qua lập tức diệt từ tội chướng của 300 triệu kiếp và tịnh hoá mọi ô nhiễm mỗi khi có ai đi qua. Kẻ vô cùng may mắn đó sẽ không phải tái sinh trong địa ngục, quỷ đói, súc sinh.
Tụng 2 thần chú này chỉ cần một lần sẽ được công đức vô lượng và vô biên, ngay cả năm nghiệp đều được tiêu diệt hết.
2 Thần chú này giúp ngăn ngừa tái sanh vào địa ngục a tỳ, địa ngục a tỳ là địa ngục phải chịu khổ nhiều nhất trong tất cả địa ngục. Người trì tụng sẽ diệt trừ được tất cả nghiệp chướng và vĩnh viễn không bao giờ tái sanh vào cõi hẹn hạ v.vv
Khi trì lâu sẽ khiến biết được các việc quá khứ, hiện tại, vị lai.
Người trì tụng niệm 2 thần chú này bảy lần mỗi ngày thì bạn sẽ bằng tích lũy công đức lạy hằng hà sa số chư phật như số cát sông hằng. Và đời sau sẽ được tái sanh vào chốn thanh tịnh.
Nếu có ai niệm 2 thần chú này 1008 lần và thổi vào cát và ném cát đó vào xác chết, thì người chết đó các tội liền được tiêu diệt các tội và sanh về cõi phật. Nếu ai niệm thần chú này 108 lần và thổi vào dầu thơm hoặc nhang, ai mà hưởi được mùi dầu thơm hay mùi hương sẽ thanh tịnh các nghiệp tiêu cực và chữa khỏi những bệnh truyền nhiễm. Thần chú đó giúp những người trì tụng đạt được những phẩm chất của một vị phật.
Hoặc có thể làm theo cách phương pháp tán sa của thầy viên đức như sau:
Lấy cát giữa lòng sông đem về phơi khô, trộn vào ít châu sa, thần sa, để trong chén nước sạch. Tay kiết ấn Bảo Thủ bưng chén cát, còn tay mặt kiết ấn Cát Tường (nếu không cũng không sao, nhưng nếu kiết ấn thì tốt hơn). Mắt ngó vào chén cát, miệng tụng Thần chú Tỳ Lô 108 biến làm chừng, gia trì cho được ba đêm rồi đem cát ấy rải lên mồ mả hay thi hài của người chết trùng, hay chết bất đắc kỳ tử mà vong nhơn không siêu được, làm phương pháp này liền được siêu sanh. Hoặc viết Thần chú này trên vải vàng hoặc giấy vàng rồi đắp lên thi hài người chết, vong họ sẽ nhờ chú lực được siêu sanh cõi Phật.
Chú: Án A Mộ Già Vĩ Lô Tả Nẵng Ma Hạ Mẫu Nại Ra. Mạ Nỉ Bát Nạp Mạ Nhập Phạ Ra Bát Ra Mạt Ða Dã Hồng.
==========
Nguyên bản Phạn âm là:
Om Amoga Vairochana Mahamudra Manipadme Juvara Phurabharatya Hum
Thần chú này thật sự là bất khả tư nghì và vô cùng hữu dụng. Trong Phật giáo khi người thân qua đời, thường gia quyến hay ra chùa thỉnh mền Quang Minh để đắp lên thân người chết. Công năng diệu dụng cũng y như cát tán sa.
Ngoài ra còn một thứ khác nữa để giúp đỡ người chết. Đó là cát mandala, các hạt cát làm mandala sau khi sử dụng xong thường được các Lama phân phát cho đại chúng. Cát mandala quý báu và diệu dụng như xá lợi. Thông thường bỏ cát mandala vào túi áo người chết cũng tương tự như đắp cho họ mền Quang Minh.
==========
TB thì được chỉ dạy dùng cát Mandala để xoa lên đỉnh đầu người quá cố, bỏ 1 ít vào miệng họ kèm thêm để cho tăng lợi lạc.
TB có biết công dụng của cát Mandala nhưng chưa dùng thử cho ai cả vì hầu như những ông bà của TB đều qua đời rất lâu trước khi TB biết và có cát Mandala quý báu này, nên cũng chưa chứng thực hiệu quả của cát. Cách đây 1 năm, gần nhà TB có 1 cụ bà lớn tuổi bệnh nằm liệt giường. Cô con dâu của cụ có tín tâm với Phật Pháp rất lớn và hành trì theo Tịnh Độ Tông. TB có tặng cô ấy 1 ít cát và dặn cách sử dụng sơ sơ, vì quả tình TB cũng chẳng biết dùng sao cho hoàn toàn đúng. TB chỉ dặn là khi cụ bà qua đời thì nên xoa đỉnh đầu bà bằng cát này sẽ rất tốt cho hậu kiếp của bà. Không may là khi cụ bà lâm chung thì cô con dâu đang đi công việc ở xa. Người con gái của bà cụ cũng từng nghe TB nhắc nhở cô con dâu về cát vì sợ cô ta quên, thế là cô con gái nhớ và lên bàn thờ lục tìm ra 1 gói cát. Không nhiều mà cũng không ít, gói cát đó dùng chắc cũng vài chục lần hộ niệm. Thế là cô con gái bà cụ chẳng biết làm sao, xoa hết đầy đầu bà cụ, cô con gái bà cụ còn kể cho TB nghe rằng bà con ai đến thăm bà cụ đều hỏi sao đầu bà đầy cát, cô con gái đó nói cát Thánh chứ không phải cát thường hihihi . Bà cụ tắt thở lúc 7h15 sáng, cho tới 12h khuya cùng ngày mà tay chân bà cụ mềm dẻo, không giống như người chết bình thường. Chờ đợi mãi không được nên người cao tuổi trong dòng họ quyết định tẩng liệm cho cụ. Và 1 cụ bà ở xa 1 chút, gia đình cụ bà này bán cháo chay. Cũng được 1 cô khác chia 1 ít cát Mandala mà TB cho cô nọ khá lâu, cũng xoa lên đỉnh đầu bà cụ và sau 8 tiếng đồng hồ giữ nguyên thi hài hộ niệm và chuẩn bị tẩng liệm thì cũng thấy thi hài cụ bà mềm mại. TB cũng chẳng hiểu hiện tượng thân thể mềm mại như vậy là tốt hay xấu. Vì TB chưa từng nghe nói về biểu hiện này khi dùng cát. Có vài bài viết ngắn hình như của bác Kim Cang viết khá lâu nói về cách dùng cát thì chỉ nói công năng diệu dụng của cát mà thôi, có chỉ sơ qua cách sử dụng. Nhân dịp thấy Thiện Duyên nhắc qua về Cát Mandala thì TB cũng chia xẻ 1 ít điều nghe qua để làm tăng tín tâm vào nhiệm mầu bất khả tư nghì của Pháp Bảo của Phật Giáo Tây Tạng chính truyền !
=========
The Tibetan Book Of Living And Dying
...Một hàng giả đã chứng đắc thường tiếp tục an trú sự trực nhận tính giác bản tâm vào lúc chết, và tỉnh thức để thể nhập Ánh sáng Căn bản khi nó xuất hiện. Vị ấy còn có thể trú trong trạng thái ấy một vài ngày. Một vài hành giả và bậc thầy chết trong tư thế ngồi thiền, lưng thẳng, hoặc nằm như “dáng nằm sư tử ngủ”. Ngoài sự tuyệt đối tự chủ, còn những dấu hiệu khác chứng tỏ vị ấy đang an trú trong trạng thái Ánh sáng Căn bản : gương mặt họ vẫn còn có sắc sáng, mũi không lún vào, da vẫn mềm mại, thân thể không cứng đờ, đôi mắt vẫn giữ một ánh sáng hiền hậu, từ bi, và tim vẫn còn hơi ấm. Người ta phải rất thận trọng đừng chạm đến nhục thể của bậc thầy, và giữ im lặng cho đến khi vị ấy ra khỏi trạng thái thiền định này.
Gyalwang Karmapa, một bậc thầy vĩ đại, chưởng môn một trong bốn tông phái lớn của Phật giáo Tây Tạng, đã chết trong một bệnh viện tại Hoa Kỳ vào năm 1981. Ngài gây một cảm hứng kỳ diệu cho tất cả mọi người xung quanh, vì ngài luôn luôn vui tươi và đầy bi mẫn. Bác sĩ Ranulfo Sanchez, trưởng khoa giải phẫu đã viết :
“Tôi cảm thấy tự thâm tâm rằng ngài không phải người phàm. Khi ngài nhìn bạn, thì giống như đang xoáy sâu vào bản thể bạn, ngài dường như thấy suốt con người bạn. Tôi rất kinh ngạc trước cái cách ngài nhìn tôi, như thể là ngài biết chuyện gì đang xảy đến. Ngài làm cho hầu hết mọi người trong bệnh viện phải cảm động, bất cứ ai tiếp xúc với ngài. Nhiều lần khi chúng tôi cảm thấy ngài gần kề cái chết, thì ngài lại nhìn chúng tôi mà mỉm cười, và bảo chúng tôi nói sai, và sau đó sức khỏe ngài lại khá hơn.
Ngài không bao giờ dùng thuốc giảm đau. Chúng tôi, những bác sĩ, trông thấy ngài và biết ngài phải đau đớn lắm, nên hỏi : “Có phải hôm nay ngài đau nhiều lắm không ?”. Nhưng ngài bảo : “Không” . Khi chúng tôi biết gần tới giây phút cuối cùng, ngài có thể cảm thấy sự lo lắng của chúng tôi, và điều ấy trở thành một trò đùa. Chúng tôi sẽ hỏi : “Ngài có đau không ?” , ngài lại mỉm cười thật từ bi và nói : “Không” .
Mọi dấu hiệu của sự sống nơi ngài đã gần chấm dứt. Tôi chích cho ngài một mũi thuốc, chỉ để ngài có thể nói chuyện vào giây phút cuối. Tôi từ giã căn phòng vài phút để cho ngài trao đổi với các vị tái sanh (tulkus) ; ngài trấn an họ rằng ngài không định chết vào ngày hôm ấy. Khi tôi trở lại chừng năm phút sau, thì ngài đã ngồi thẳng dậy, mắt mở lớn và nói thật rõ : “Hello, how are you ?” . Mọi dấu hiệu sống nơi ngài đã trở ngược lại, ngài ngồi nửa tiếng trên giường, nói chuyện, cười lớn. Trên phương diện y học thì điều này người ta chưa từng nghe thấy bao giờ. Các cô điều dưỡng tái mặt, một cô dở cánh tay cho tôi xem họ đã nổi da gà như thế nào”.
Ban điều dưỡng để ý thi hài của Karmapa không theo tiến trình thông thường của thây chết như cứng và hôi thối, mà vẫn như tình trạng lúc ngài mới chết. Sau một lúc, họ mới để ý vùng tim ngài còn ấm. Bác sĩ Sanchez viết :
“Họ đưa tôi vào phòng 36 tiếng đồng hồ sau khi ngài chết. Tôi sờ vùng bên phải, trên trái tim ngài và thấy nó nóng hơn các chỗ khác. Ðấy là một điều mà y học không thể giải thích được”.
Một vài bậc thầy chết trong tư thế ngồi thiền, thân thể tự thẳng đứng. Kalu Rinpoche chết năm 1989 trong tu viện của ngài ở dãy núi tuyết, xung quanh có nhiều bậc thầy và các bác sĩ , y tá điều dưỡng. Ðệ tử hầu cận ngài đã viết :
“Ngài cố ngồi dậy, nhưng hơi khó khăn. Lama Gyaltsen cảm thấy có lẽ đã đến thời, và nếu không ngồi dậy thì sẽ chướng ngại cho ngài, nên đã đỡ lưng ngài khi ngài ngồi. Ngài duỗi tay tới nơi tôi, và tôi cũng giúp ngài ngồi thẳng. Ngài ngõ ý muốn ngồi thật thẳng, vừa bằng lời vừa ra dấu. Bác sĩ và y tá cuống lên trước cảnh tượng ấy, nên ngài hơi thư giãn lại, nhưng vẫn để chân tay theo thế ngồi thiền... Mắt ngài mở nhìn ra, kiểu nhìn trong lúc thiền quán, và môi ngài khẽ mấp máy. Một cảm giác thanh bình, an lạc ngự trị trên tất cả chúng tôi, lan tràn qua tâm chúng tôi. Tất cả mọi người hiện diện lúc ấy đều cảm thấy rằng niềm phúc lạc dâng tràn trong chúng tôi chính là phản ảnh yếu ớt của niềm phúc lạc trào dâng trong tâm ngài... Dần dần tia nhìn và mi mắt Rinpoche hạ xuống, và hơi thở chấm dứt” .
Tôi nhớ mãi cái chết của thầy tôi, Jamyang Khientse vào mùa hạ năm 1959. Vào khoảng cuối đời, ngài cố càng ít rời tu viện càng tốt. Những bậc thầy đủ mọi truyền thống thường tụ họp lại để được sự giáo thọ, những người giữ gìn các hệ phái truyền thừa cũng đến xin ngài chỉ dẫn, vì ngài biết tận nguồn gốc của các hệ phái ấy. Tu viện Dzongsar, nơi ngài cư trú trở thành một trong những trung tâm sinh hoạt tâm linh sống động nhất Tây Tạng, ở đấy tất cả những Lạt-ma cao cấp thường lui tới. Lời ngài là pháp là luật ở trong vùng ; ngài là bậc thầy vĩ đại và hầu như tất cả mọi người đều là đệ tử của ngài, tới nỗi ngài có năng lực ngăn chận nội chiến chỉ bằng cách hăm dọa ngài sẽ rút lui sự gia trì tâm linh của ngài cho cả hai phe.
Rủi thay, khi gọng kềm của quân xâm lược Trung Quốc siết chặt, thì tình huống ở tỉnh Kham trở nên tồi tệ một cách nhanh chóng. Dù còn bé, tôi cũng có thể linh cả sự đe dọa của những gì sắp xảy ra. Vào năm 1955, thầy tôi đã có vài dấu hiệu chứng tỏ ngài sẽ từ giã Tây Tạng. Trước tiên, ngài hành hương đến những thánh tích ở miền Trung và Nam Tây Tạng, rồi để làm tròn lời nguyện tha thiết của thầy ngài, ngài làm một chuyến hành hương chiêm bái thánh tích tại đất Ấn, có tôi đi theo. Chúng tôi đều hy vọng tình hình ở miền Ðông sẽ khá hơn trong khi chúng tôi đi xa. Hóa ra - về sau tôi mới biết - nhiều Lạt-ma khác, và dân thường, đã xem cái quyết định du hành của thầy tôi như là một điềm báo trước Tây Tạng sẽ lâm nguy, nhờ thế họ đã kịp thời thoát nạn.
Thầy tôi từ lâu đã muốn viếng thăm Sikkim, một nước nhỏ trong dãy Hy Mã Lạp Sơn, một trong những vùng đất thiêng của Padmasambhava. Jamyang Khientse là nhập thể của bậc thánh thiêng liêng nhất của Sikkim, nên vị vua ở đấy đã yêu cầu ngài đến giảng dạy và ban phước cho xứ ấy bằng sự hiện diện của ngài. Khi được tin ngài đã đến Sikkim, nhiều bậc thầy từ Tây Tạng cũng đến đấy để thọ giáo với ngài, mang theo những bản kinh quý hiếm, nhờ vậy mới khỏi bị phá hủy. Jamyang Khientse là bậc thầy của những bậc thầy, và đến lượt chùa, cung điện nơi ngài ở trở thành một trung tâm tu học lớn. Khi tình hình Tây Tạng càng lúc càng kinh khủng, thì có thêm nhiều Lạt-ma đến tụ tập quanh ngài.
Người ta bảo nếu những bậc thầy vĩ đại giảng dạy quá nhiều, thì không sống lâu ; như thể là họ gánh lấy những chướng ngại xảy ra cho nền giáo lý. Có những lời tiên đoán, nếu thầy tôi đừng giảng dạy mà chỉ du hành như một ẩn sĩ đến những nơi xa xôi hẻo lánh, thì ngài có thể sống lâu nhiều năm nữa. Quả thế, ngài cũng đã cố làm điều này : Khi chúng tôi khởi hành từ tỉnh Kham lần cuối, ngài đã để lại tất cả sở hữu và ra đi trong vòng bí mật hoàn toàn. Nhưng khi khám phá ra tông tích ngài, thì đâu đâu người ta cũng liền đến xin ngài giảng dạy và làm phép quán đảnh. Lòng từ bi của ngài lớn rộng tới nỗi dù biết nguy hiểm đến tánh mạng, ngài vẫn tiếp tục giảng dạy.
Và chính tại Sikkim mà Jamyang Khientse ngã bệnh, đúng vào lúc nhận được hung tin Tây Tạng cuối cùng đã gục ngã. Tất cả những vị Lạt-ma lớn nhất, trưởng các hệ phái, lần lượt tấp nập đến viếng thăm thầy tôi. Lễ cầu an diên mạng cho ngài được tổ chức suốt ngày suốt đêm. Mợi người đều tham dự. Tất cả chúng tôi đều yếu cầu ngài sống thêm, vì một bậc thầy vĩ đại như ngài thì có năng lực quyết định thời gian để lìa bỏ thể xác. Ngài cứ nằm trên giường, nhận tất cả những đồ dâng cúng, cười lớn mà bảo : “Ðược rồi, chỉ để chứng tỏ điềm lành, tôi nói là tôi sẽ sống” .
Dấu hiệu đầu tiên chúng tôi biết được là qua Gyalwang Karmapa. Ngài bảo Karmapa rằng ngài đã hoàn tất công việc ngài phải làm trong đời, và ngài đã quyết định từ giã thế gian. Một trong những thị giả thân tín của thầy tôi bật lên khóc vừa khi nghe Karmapa tiết lộ điều này, sau đó chúng tôi đều biết. Cái chết của ngài cuối cùng đã xảy đến ngay sau khi chúng tôi nghe ba tu viện lớn nhất Tây Tạng là Sera, Drepung và Gaden đã bị quân Trung Quốc chiếm đóng. Dường như đấy là một biểu tượng bi đát khi Tây Tạng sụp đổ thì con người vĩ đại ấy, linh hồn của Phật giáo Tây Tạng, cũng từ trần.
Jamyang Khientse Chokyi Lodro mất lúc 3 giờ sáng, vào ngày mồng 6 tháng 5, lịch Tây Tạng. Mười ngày trước đấy, trong khi chúng tôi đang có cuộc lễ cầu diên thọ suốt đêm cho ngài, thình lình đất rung chuyển vì một trận động đất lớn. Theo kinh điển Phật giáo, thì đấy là triệu chứng một bậc giác ngộ sắp từ trần.
Trong 3 ngày, sau khi ngài đã viên tịch, sự bí mật được giữ tuyệt đối không ai được biết Khientse đã chết. Tôi chỉ được bảo cho biết sức khỏe của ngài đang biến đổi tệ hơn, và thay vì ngủ trong phòng ngài như thường lệ, tôi được bảo phải ngủ phòng khác. Thị giả thân cận nhất của thầy tôi và Lama Chokden, vị thầy nghi lễ, ở lại với thầy tôi lâu hơn tất cả mọi người. Ông là một nhà khổ hạnh lặng lẽ nghiêm trang với đôi mắt nhìn sâu thẳm và đôi má hóp, phong độ nhã nhặn khiêm cung. Chokden nổi tiếng vì tính trung thực, đàng hoàng, lịch sự, và có trí nhớ phi thường. Ông nhớ từng chữ lời thầy tôi dặn, thuộc từng mẩu chuyện, và biết rõ từng chi tiết của mọi lễ lạc phức tạp nhất, cùng ý nghĩa của chúng. Ông cũng là một hành giả gương mẫu và một thầy giáo trong lĩnh vực của ông.
Lúc ấy chúng tôi nhìn Lama Chokden tiếp tục mang những bữa ăn của thầy tôi vào phòng, nhưng mặt ông trông rất buồn thảm. Chúng tôi không ngớt hỏi thầy Khientse tôi ra sao, nhưng Chokden chỉ nói : “Ngài vẫn thế” . Trong vài truyền thống, sau khi một bậc thầy qua đời, và suốt thời gian ngài an trú trong thiền định sau khi chết, điều quan trọng là phải giữ bí mật. Chỉ 3 ngày sau đó chúng tôi mới được nghe thầy đã chết.
Chính phủ Ấn đã đánh một điện tín qua Bắc kinh, từ đấy tin được đưa đến tu viện Dzongsar của thầy tôi ở Tây Tạng, ở đấy nhiều thầy tu đã khóc trước khi hay tin, vì họ đã biết ngài sẽ chết bằng cách nào đó. Trước khi thầy tôi và tôi ra đi, thầy Khientse đã làm một lời hứa huyền bí rằng thầy sẽ trở lại một lần trước khi chết. Và thầy đã trở lại. Vào ngày Tết năm ấy, sáu tháng trước khi ngài từ trần, trong khi đang cử hành một điệu vũ cổ truyền, nhiều vị sư già đã thấy hình ảnh ngài xuất hiện trên nền trời. Tại tu viện, thầy tôi đã lập một trường học nổi tiếng vì đã đào tạo được nhiều học giả xuất sắc của thời cận đại. Trong ngôi chánh điện của trường, có một tượng Phật Di Lặc khổng lồ. Vào một buổi sáng sớm, ngay sau ngày linh kiến xuất hiện trên trời, khi người giữ chánh điện mở cửa thì thấy Khientse đang ngồi trên vế đức Phật Di Lặc.
Thầy tôi từ trần trong tư thế “sư tử nằm ngủ”. Mọi triệu tướng đều chứng tỏ ngài vẫn đang trong thiền định, không ai động tới thi thể trong suốt 3 ngày. Cái lúc ngài xuất định là một kỷ niệm tôi sẽ nhớ suốt đời : Lỗ mũi ngài thình lình xẹp xuống, màu sắc trên gương mặt không còn, và đầu ngài hơi ngoẻo về một phía. Cho tới lúc ấy, luôn luôn vẫn còn một mức tự chủ nào đó, một sức mạnh, một sự sống nào đó ở trên xác thầy.
Vào chiều tối chúng tôi tắm rửa cái xác, mặc y phục và đưa xác từ phòng ngủ của thầy lên ngôi chánh điện của cung đình. Từng đám đông người lũ lượt kéo đến xếp hàng quanh ngôi đền để lễ bái. Khi ấy, một điều dị thường xảy ra. Một ánh sáng rực rỡ màu sữa, trông như một đám mù mỏng và sáng bắt đầu xuất hiện và dần dần tỏa khắp. Ngôi chánh điện của cung đình có 4 bóng điện bên ngoài, thông thường vào giờ ấy chúng chiếu sáng rực. Nhưng lúc ấy chúng bị mờ đi vì ánh sáng huyền bí ấy. Apa Pant lúc ấy là sĩ quan chính trị ở Sikkim, là người đầu tiên điện thoại đến hỏi có việc gì xảy ra. Nhiều người khác cũng khởi sự gọi đến hỏi thăm : hiện tượng lạ lùng phi phàm ấy đã được hàng trăm người trông thấy. Một trong những bậc thầy lúc ấy đã cho chúng tôi biết đấy là dấu hiệu có người đang chứng đắc Phật quả....
===========
Đây là bản thần chú Tỳ lô giá na quán đỉnh quang minh bằng tiếng phạn,của thầy kim cang dịch bên hinhdongphatgiao.org:ÔM A MÔ GA VAJ RÔ CHA NA MA HA MU RA MA NI BAT MA GIA LA RA VA TA DA HUM,chúng ta nên tụng thần chú băng tiếng phạn thì sẽ hiệu nghiệm hơn là tiếng việt vì :
tiếng phạn là tiếng đã được chư phật,bồ tát gia trì các vị đạo sư thường khuyên các đệ tử tụng chú bằng tiếng phạn sẽ tốt hơn.
http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=3495.0
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)