http://thuvienhoasen.org/a11736/a-di...y-a-mi-da-phat
http://www.phattuvietnam.net/diendan...C3%A1o-vn.html
http://www.daophatngaynay.com/vn/pha...t-giao-VN.html
Printable View
HƯƠNG SEN VẠN ĐỨC
HT. Thích Trí Tịnh
Nhà Xuất Bản Phương Đông TP. HCM 2006
http://thuvienhoasen.org/p27a5327/ph...-mon-niem-phat
2.1 A Di Đà Phật 阿彌陀佛
Câu niệm rất phổ thông trong các môn phái phật giáo Á Châu, dẫn tên đức Phật A Di Đà, cũng là kí âm từ tiếng Phạn Amitābha, अमिताभ. Chữ này thành lập từ tiền tố a- (không, dịch là vô 無) và mita मित (đo lường, dịch là lượng 量) với phụ tố ābhā (sáng, dịch là quang 光). Do đó, Amitābha dịch là Vô Lượng Quang (Phật). Tuy nhiên, Amita- cũng là thành phần đầu của chữ Amitāyus với ayus आयुस् (đời sống dài, dịch là thọ 壽), cho nên A Di Đà Phật còn có nghĩa là Vô Lượng Thọ (Phật)8 hay A Di Đà Sưu Tư 阿彌陀廋斯 …
Từ trục không gian, đức Phật (lý tưởng) là nguồn sáng vô cùng vô tận; từ trục thời gian tuổi thọ ngài cũng vô lượng vô biên. Các chữ Phạn ghép với amita như kratu (năng lượng) tạo thành amitakratu (năng lượng vô hạn/unbounded energy), guna (công đức) ghép với amita trở nên amitaguna (công đức vô lường), amitatman (trí óc vô lường) ...
Tuy câu niệm A Di Đà Phật bằng tiếng Phạn không hiện diện trong các kinh nguyên thủy của pháp môn Tịnh Độ9, nhưng phần đầu của Vô Lượng Thọ Kinh có câu Namo'mitābhāya (dấu phẩy chỉ cách đọc nhanh hay liên âm /sandhi) và Namo Amitābhāya được phát âm như sau
[nɐmoːɐmit̪ɑːbʱɑːjɐ] ------- đọc theo tiếng Việt bây giờ gần như là ----- ‘na mô a mita ba da’
http://giacngo.vn/phathoc/2011/10/08/5AE64A/
http://nigioikhatsi.net/tinh-do/niem...-dung-hon.html
HỌC HỎI PHẬT PHÁP - Niệm "Nam Mô A Di Đà Phât hay Nam Mô A Mi Đà Phật" ?
( http://www.nhanduyenbatnha.com/2014/...o-di-phat.html )
Bạn Diệu Xuân hỏi:
Nam Mô A Di Đà Phật. Kính thưa Sư Cô Tiểu Ni Diệu Hân, con được 1 số người hỏi Niệm danh hiệu Phật "NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT" hay niệm "NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT"? Vì họ nói Hòa Thượng Thích Trí Tịnh chỉ dạy niệm danh hiệu "NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT", họ nói Hòa Thượng nói do có lần nhìn lên bầu trời thấy danh hiệu "NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT" hiện ra. Nên từ ngày đó Hòa Thượng khuyên mọi người niệm "NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT". Con không biết phải giải thích như thế nào để họ hiểu mà niệm Phật cho đúng. Mong sư cô Tiểu Ni Diệu Hân mở lòng từ bi chỉ dạy, để phật tử hiện nay và các phật tử sau này niệm Phật cho đúng. NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!
Cô Diệu Hân:
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT...Tiểu tôi xin phép trả lời bạn Diệu Xuân...
DIỆU XUÂN thân mến, Sáu câu niệm PHẬT lục tự là NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT từ thời VIỆT NAM, PHẬT GIÁO phát khởi niệm PHẬT, đã có từ lâu, 6 câu niệm phật rất chuẩn là “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” không sai lệch, tiếng niệm A Mi Đà Phật, tiểu tôi mới biết đây từ ngày có phong trào niệm PHẬT xuất phát từ bên Trung Quốc. Có một vị tăng yêu mến vị ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG TĂNG HIỀN có pháp môn dạy người NIỆM PHẬT, VỊ TĂNG đến nước HỒNG KÔNG tìm vị đại trưởng lão TỊNH KHÔNG bái sư pháp môn NIỆM PHẬT, vị tăng thỉnh chiếc áo cà sa trao tay HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG sau đó HÒA THƯỢNG trao lại trước mặt phật tử HỒNG KÔNG việt kiều Việt Nam. Vị tăng mặc áo và nhiều pháp phục hoa tông tịnh độ đem về VIỆT NAM phát lên gầy dựng đạo tràng niệm PHẬT tắt là “A MI ĐÀ PHẬT” phật tử có quay phim lại quá trình trao đổi với vị tăng ấy.
Từ đó vị tăng mở đạo tràng hướng nhân dân phật tử NIỆM A MI ĐÀ PHẬT, theo xu hướng nửa Hoa nửa Việt. Việt là “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” nửa Hoa nửa Việt niệm là “A MI ĐÀ PHẬT” cho nên nhân dân và phật tử đa số theo xu hướng niệm A MI ĐÀ PHẬT .
Tiểu tôi xin khuyên niệm gì cũng được, trước khi ta học và hành bất cứ pháp môn nào trong bao nhiêu ngàn pháp môn, tốt nhứt chúng ta nên tu THÂN – TÂM - KHẨU - Ý tốt đẹp là tốt nhứt, vì Thân Tâm Khẩu Ý khinh chê bè giễu, mạn nghi không giúp cho ta đi về thế giới vô vô nghì được.
Tiểu xin mời các vị vào mạng youtube xem “Niệm Phật Về Đâu và Thân Tâm Khẩu Ý phần 17 và 18 - Tiểu Ni Diệu Hân” các bạn sẽ hiểu rõ...
Còn riêng bản thân Tiểu Ni Diệu Hân tiền khiên kiếp tiểu thấy tiểu có ở xứ Trung Quốc là tăng xuất gia, niệm phật là NA MO A MI PHÒ PHÒ, kiếp này...Tiểu là con dân của VIỆT NAM, Tiểu cũng là người xuất gia Tiểu niệm là NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT, Tiểu phải niệm theo phát âm bản quốc VIỆT NAM, Tiểu không thể phát âm theo ngoại ngữ Trung dù biết rằng trong tiền kiên kiếp Tiểu có mặt trong xứ Trung.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT...Tiểu xin kính lời..
DANH HIỆU A DI ĐÀ PHẬT CÁC NƯỚC.
A DI ĐÀ PHẬT (A MI ĐÀ PHẬT) - Tiếng Việt Nam (Vietnamese)
阿彌陀佛 (A MI TUO FO) - Tiếng Trung Hoa (Chinese)
아미타불 (A MI TA BUL) - Tiếng Hàn Quốc (Korean)
अमिताभ (AMITABHA) - Tiếng Phạn Ấn Độ Cổ (Sanskrit)
阿弥陀仏 (A MI DA BUTSU) - Tiếng Nhật Bản (Japanese)
Xin thường niệm A DI ĐÀ PHẬT (A MI ĐÀ PHẬT), giữ tâm thiện thế giới hòa bình.
https://vi-vn.facebook.com/NanmoAmit...73012169434229
https://www.wattpad.com/9584844-t%E1...%BA%ADt/page/3
http://www.chuabavang.com.vn/tin-tuc...i-da-phat.html
NIỆM PHẬT TAM MUỘI
QUÁN TƯỚNG BẠCH HÀO
Pháp quán tướng bạch hào của Phật
Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật nói: “Nếu người muốn sinh về Tây Phương Tịnh độ thì nên quán tượng Phật một trượng sáu ở trên hồ nước”.
Lại chép: “Tướng tốt trên thân rất nhiều, không thể quán khắp hết, nên cần phải quán một tướng mà thôi. Đó là chuyên tâm quán tướng lông trắng, hễ quán thành thục, thì các tướng còn lại sẽ tự nhiên hiển hiện”.
Lông trắng đó dài một trượng rưỡi, xoáy tròn chu vi năm tấc, bên ngoài có tám cạnh, bên trong rỗng thông như ống thủy tinh. Vị trí của lông này nằm ngay giữa hai chặng mày, biểu thị cho lý Trung đạo. Lông ấy mềm mại, uyển chuyển xoáy vòng theo phía phải, trắng như ngọc, sáng sạch trong suốt, ánh chiếu đến toàn thân sắc vàng ròng của đức Phật. Khi quán tưởng, tâm phải an trú kiên cố. Nếu tâm hôn mê tán loạn, liền chế phục khiến tâm trở lại sáng suốt, lặng lẽ. Bởi vì sáng suốt thì không mê muội; lặng lẽ thì không tán loạn. Nên biết, sáng suốt lặng lẽ chính là kết quả của Chỉ Quán. Thể tánh Định Tuệ cũng chính là bản thể của tâm. Chỉ Quán là công phu, Định Tuệ là nhân hạnh, sáng suốt lặng lẽ là kết quả. Sáng suốt lặng lẽ đến tột cùng thì liền hợp với bản thể. Nếu đạt đến quả vị cao tột, tức thành tựu phước trí trang nghiêm. Thân tâm đã được tịch định, đó là Chỉ; quán tưởng tướng bạch hào của Phật, đó là Quán; tướng bạch hào hiển bày rõ ràng đó là sáng suốt; trụ tâm kiên cố không động, đó là lặng lẽ, nghĩa là nương nơi thân tướng đức Phật mà huân tập tâm tánh của mình. Nếu trí quán thành thục, tự nhiên sẽ hiện bày chính là nghĩa này vậy. Nhưng muốn tu tập pháp quán này, trước hết cần phải hiểu rõ vạn pháp đều do tâm.
Kinh dạy: “Tâm như họa sĩ giỏi, tạo các thân năm ấm; tất cả pháp thế gian, thảy đều do tâm tạo”.
Do đó, nên biết rằng tướng bạch hào của đức Phật A-di-đà vốn đầy đủ nơi tâm ta, những tướng hiện ra trong định cũng đều từ tâm ta biến hiện. Tâm ấy làm tướng bạch hào, tấm ấy là tướng bạch hào, không từ nơi khác mà có, không phải tìm cầu bên ngoài mà được. Hiểu được như thế mới gọi là tu quán đúng pháp.
Tóm lại, Trí hay quán là Nhất tâm tam quán[1]; còn tướng lông trắng được quán là Nhất cảnh tam đế[2]. Vì sao? Vì tướng lông trắng trong định tuy hiện ra trước mắt, nhưng đều do tưởng niệm mà có, không phải tướng thật, tánh thật. Pháp được sinh ra do nhân duyên này vốn không có tự tánh, không có tha tánh, không có cộng tánh, không phải không có nhân tánh. Bốn tánh đều không, cho nên không có thật tánh. Tướng bạch do quán tưởng mà có này không chỉ tánh không mà tướng cũng không, như bóng trong gương, như trăng dưới nước, nên không có thật. Tánh tướng đều không thật, nên ngay nơi không tức là chân; tùy theo niệm mà thấy, nên ngay nơi giả tức là tục. Ngay nơi giả tức là tục, nên chẳng phải chân, chẳng phải không; ngay nơi không tức là chân, nên chẳng phải tục, chẳng phải giả. Như thế, khởi một niệm đồng thời phá dẹp chấp trước và chiếu soi (già chiếu), lìa tức là lìa chẳng phải, lìa tức là mà chẳng phải tức là, cho nên đó là cảnh quán Trung đạo không thể nghĩ bàn tam nhất viên dung. Toàn đế khởi quán, quán trở lại chiếu soi đế. Cảnh và quan không hai, chỉ là một tâm. Cho nên, người xưa có bài tụng:
Cảnh là diệu giả, quán là không,
Cảnh quán đều không tức là Trung.
Bạch chiếu, trước sau chưa từng có
Nhất tâm dung hợp, vết không còn.
Văn trong bài tụng này quá vắn tắt, nên cần phải giải thích sơ lược. Nói “cảnh là diệu giả”, tức chỉ cho cảnh có đủ không và trung ở trong đó. Nếu chẳng có không và trung thì đâu được gọi là diệu giả? Nói “quán là không”, tức diệu không mà có đầy đủ trung và giả ở trong đó. Nói “cảnh quán đều không”, tức đã có song chiếu ở trong đó. Đều không tức chẳng phải không, chẳng phải giả; song chiếu là ngay nơi không tức là giả. Không dính mắc hai bên, nhưng cũng không lìa hai bên, cho nên gọi là Trung đạo. Hai câu dưới thì nói bạch chiếu đồng thời nhất tâm dung hợp. Vì cảnh tuy đủ ba, nhưng thuộc về cảnh được quán, nên chỉ gọi là diệu giả. Quán tuy đủ ba, nhưng thuộc về quán của trí hay quán, nên chỉ gọi là diệu không. Cảnh và quán, tuy mỗi thứ đều đủ cả ba, nhưng đã dùng diệu quán song vong song chiếu, nên thầm hợp với diệu cảnh song phi song tích. Nhưng diệu trung này, do đưa ra một tức đủ cả ba, nói đến ba tức là một. Ba và một chẳng đồng, ba và ba chẳng khác. Không thể dùng ý thức để suy lường, không thể dùng ngôn ngữ để phân biệt, cho nên nói “bạch chiếu, trước sau chưa từng có; nhất tâm dung hợp, vết không còn”. Lý nhiệm mầu cảnh quán viên dung này, chỉ dùng bốn câu kệ tóm thâu trọn vẹn. Thấu rõ bài kệ nhiệm mầu này hơn đọc cả mấy trăm quyển sách của tông Thiên Thai. Nhưng nếu chẳng phải người hiểu rõ lý nhất tâm, thấu triệt giáo nghĩa tông Thiên Thai, e rằng không dễ gì thông đạt được.
Kinh chép rằng: “Chỉ nghe được danh từ bạch hào, cũng diệt được vô lượng tội”, huống gì chuyên tâm hành trì đúng pháp. Pháp này chính đức Phật Thích-ca chỉ dạy, ngài Trí Giả ân cần khuyên bảo chuyên tu, gần đây chỉ có Hòa thượng U Khê thường tu tập. Nay, người tu Tịnh nghiệp nếu có thể nhất tâm trì danh hiệu Phật, thì bảo đảm được vãng sinh; lại kết hợp tu diệu quán này, nhất định sẽ đạt được phẩm cao, bậc thượng sĩ căn cơ lanh lợi, sao không dốc sức mà hành trì?
__________________________________________________ ____________________
Bạch Hào ( Urna ) (bạch = trắng; hào = lông dài và nhọn), là cái chùm lông trắng thường chiếu sáng, mọc giữa 2 Chân Mày, lông ấy xoay tròn quanh qua phía hữu, mềm mại như tơ đỗ-la-miên (tơ cõi trời),trắng ngần như Tuyết, tươi trắng sáng suốt như ngọc “Kha-tuyết”, dài 1 trượng 5 thước ( thước tấc Trung Hoa ), lớn bằng 5 hòn núi Tu-Di ( SuMeru ) ( " Bạch Hào uyển chuyển ngũ Tu-Di " ). Đây là Tướng thứ 31/ 32 Tướng của Đức Phật Thế Tôn. Vì thế có Kệ xưng tán rằng:
"....Lông trắng chặng mày chói rực-rỡ,
Ánh sáng chiếu suốt như vầng trăng...."
Quán tưởng tướng Bạch Hào của Phật thì không bức tượng nào có tướng Bạch Hào, tất nhiên mình chỉ thấy lời của Phật ghi lại trong Kinh về tướng Bạch Hào, rồi mình phải tự quán tưởng sao cho tướng Bạch Hào hiện ra theo ý của mình hiểu và muốn như vậy đó. Và ý nghĩ của mình từ lúc ban sơ về tướng Bạch Hào như thế nào, mình phải nắm chắc cái đó, không được thay đổi. Quán làm sao cho hiện ra đúng như chỗ thấy hiểu của mình. Đó là Quán Tưởng Niệm Phật.
Tướng Bạch Hào quan trọng, có 8 gốc, bọng, trong suốt như pha lê, xoay quanh qua bên hữu thành hình tròn như nửa hạt châu úp xuống, bề chu vi 5 tấc, kéo dài ra thì dài tới gót chân Phật. Bình thường, nó xoắn lại như trôn ốc ở giữa 2 Chặn Mày, gọi là Ấn Đường, luôn luôn có ánh sáng phát ra. Phải quán làm sao cho thành, gọi là Quán Tưởng.
Niệm tưởng tướng Bạch Hào của Phật, thì Tâm mới phấn trấn, như thế mới phá được " Hôn ám chướng " ( Tâm trầm ). Tướng Bạch Hào (lông trắng giữa Chặn Mày) - Do tán-thán Công-Đức của người khác mà được.
Người muốn quán tướng Phật, nên quán tướng Bạch Hào, vì nếu quán tướng Bạch Hào được thì tất cả tướng khác đều hiện ra. Phép này rất là Bậc Thượng, nghĩa là khi Tâm tưởng Phật, tức nhiên Tâm này là Phật. Lại có thắng phần hơn Miệng niệm vậy. Thân đời sau ( Hậu thân ) chắc chắn sẽ sanh về Bậc Thượng Phẩm Thượng Sanh.
*Phương Pháp Tu Trì ( Theo Long Thơ Tịnh Độ ):
1.Phương Pháp 1:
Nếu vừa tưởng tướng Bạch Hào vừa to tiếng xưng Hiệu Phật, thì chắc chắn khế hợp với ý Phật, được Định-Tuệ quân bình, và vào được cảnh giới Phật.
2.Phương Pháp 2:
Trai giới sạch mình, yên lòng đừng vọng tưởng ( thanh tâm tịnh lự ).
Ngồi quay mặt về hướng Tây, nhắm mắt lim dim, quán tưởng Đức Phật A Di Đà ở Tây phương có chân thân sắc Vàng, trong ao Thất Bảo, Ngồi trên 1 Hoa Sen rất lớn, mình cao 1 trượng 6 (10m60), ở chặn giữa chân mày, có 1 đường hào quang chiếu sáng, Mặt sắc Vàng, Thân cũng sắc Vàng.
Kế, lặng lòng chuyên tưởng nơi Hào Quang Trắng, chẳng đặng vọng động có chút mảy niệm khác, phải nhắm mắt hơi hơi (hí hí) thảy đều thấy Phật. Như thế muốn mỗi niệm, mỗi niệm đừng quên vậy. Như thế lâu lâu, tâm niệm thuần thục, tự nhiên cảm ứng được thấy toàn thân Phật.
3.Phương Pháp 3:
Quán tưởng thân Đức Phật A Di Đà rất cao rất lớn. Ngồi trên hoa sen, cũng cao lớn xứng nhau.
Lại chuyên tưởng giữa chặn mày, có1đường hào quang trắng xẹt ra ( Linh Quang này như cái đèn rọi cực mạnh để có thể quét sạch ô trược ). Mỗi mỗi như bài trước đã nói.
Phép quán tưởng này thật là Bậc Thượng. Vì khi Tâm tưởng Phật, Tâm này tức là Phật. Lòng tưởng Lớn, thời Niệm Lành cũng Lớn. Không vậy, thời lại quán tưởng tượng nhỏ cũng đặng. Nhưng phải chuyên tinh, đứng cho tán loạn vọng niệm xen vào.
Cứ trong Kinh Thập Lục Quán: Quán Phật A Di Đà cả thân tướng và hào quang, rực rỡ như trăm nghìn muôn ức Vàng Diêm Phù Đàn ( thứ Vàng tốt nhất trong các thứ Vàng ). Thân Phật cao 60 vạn ức na do tha ( Con số vô cùng vô tận ), hằng hà sa do tuần. Hào quang trắng giữa chặn mày, khắp trùm 5 hòn núi Tu Di. Mắt Ngài trong như nước bốn biển lớn, trắng, xanh rõ ràng, dùng lòng từ vô duyên nhiếp độ chúng sinh.
*Dẫn Truyện Quán Tướng Bạch Hào:
1.Ðức Như Lai từng ở “ Kinh Tam Muội Hải ” nói với Phụ Vương rằng:
Xưa có 4 Tỳ-Kheo phạm Luật vì hổ thẹn muốn buông xuôi không tu niệm, bỗng nghe trong hư không có tiếng nói:
“ Chỗ các ngươi vi phạm cho rằng không cứu được là điều sai lầm. Ðức Không Vương Như Lai tuy đã vào Niết bàn nhưng hình tượng vẫn còn. Các người hãy vào Tháp nhứt tâm quán tưởng tướng Bạch Hào ( lông trắng giữa 2 Chân Mày ) của Thánh Tượng! ”.
Các Tỳ-Kheo liền rơi lệ khóc nói rằng “ Tượng Phật còn có năng lực kỳ diệu như vậy huống hồ chân dung của ngài ( hình dáng chân thật ) ”, rồi gieo mình xuống đất đảnh lễ như núi lớn ngã đổ.
Các Đấng Chánh Giác ở 4 Phương hiện nay như A Súc Phật ở phương Ðông, Bửu Tướng Phật ở phương Nam, Vô Lượng Thọ Phật ở phương Tây và Vi Diệu Thinh Phật ở phương Bắc tức là 4 Tỳ-Kheo phá Giới đó vậy ”.
Vì thế nên Như Lai gọi pháp Quán Phật Tam Muội này là Ðại Bảo Vương Giới Phẩm Hải có thể dùng để tẩy trừ tội nhơ phá Giới, chứng đắc sự thanh tịnh trong cõi trần lụy. 4 Tỳ-Kheo ấy chỉ nhất tâm quán tưởng Bửu Tượng mà tất cả đều thành Ðấng Thế Tôn. Người niệm Phật há có thể sanh tâm nghi hoặc khinh thường đối với thầy Tăng phá Giới ư?.
Nhưng vì không muốn bỏ công đức đặc biệt của Quán Pháp, nên Cổ Nhơn đã thể dụng trong 16 Phép Quán, lựa cách thức dễ tu tập nhứt, lấy Trì Danh làm Chánh, Quán Phật làm Phụ, gọi là Quán Phật Trì Danh.
Hành giả mỗi ngày sau khi niệm Phật, lại để riêng một thời tịnh tâm quán tưởng sắc tướng quanh minh của Phật A Di Đà. Cách quán Phật này rút lựa phép quán 13 trong Quán Kinh, tưởng đức A Di Đà thân cao 1 trượng 6, sắc Vàng ròng, đứng bên bờ ao Thất Bảo. Nếu chưa quán tưởng được ao Thất Bảo, hành giả có thể tưởng Đức Phật đứng trong vầng ánh sáng giữa hư không trước mắt mình, tay trái đưa ngang ngực bắt ấn kiết tường, tay mặt buông sè xuống theo thế tiếp dẫn.
Muốn quán Phật cho thành tựu, trước tiên nên Quán đại khái Toàn Thân, kế chỉ Chuyên Tâm quán tướng lông trắng giữa đôi mày. Tướng bạch hào này rỗng không trong suốt như bạch ngọc, có tám cạnh, xoay về bên hữu cao thành năm vòng. Bạch hào là tướng cãn bản trong 32 tướng, khi tướng này quán thành, do sự cơ cảm, các tướng kia đều lần lượt hiện rõ. Tuy nhiên, muốn được phần chắc chắn hành giả cũng nên duyệt xem trong kinh, để ghi nhớ rõ 32 tướng tốt của Phật trước khi dụng công.
Phương pháp trên đây sở dĩ để Trì Danh vào phần Chánh, vì nếu quán tưởng không thành vẫn còn phần Trì Danh để bảo đảm cho sự Vầng Sanh. Nhưng thật ra, Trì Danh cũng giúp quán tưởng, quán tưởng lại phụ dực cho Trì Danh, 2 phần này hổ tương đưa hành giả đến chỗ song song thành tựu. Pháp thức này tuy có phần khó hơn các lối trên, song nếu thành tựu thì công đức to rộng vô biên, nên xin đưa ra sau cùng để làm duyên khuyến tấn.
Thân tâm tịch định là Chỉ. Quán tướng lông trắng giữa hai mày của Phật là Quán. Tướng bạch hào rạng rỡ là Minh. Giữ chắc chẳng động là Tịnh. Nghĩa là: nhờ vào thân tướng của Phật để huân tập tâm tánh của ta. Nếu quán trí thành tựu thì sẽ tự nhiên hiển hiện.
ĐỜI ĐƯỜNG ĐẤT PHÂN CHÂU ÔNG TĂNG
TÊN KHẢI PHƯƠNG VÀ VIÊN QUẢ
Ông Khải Phương và ông Viên Quả là 2 vị Pháp sư, chuyên tâm quán tưởng Tịnh độ. Kế 5 Tháng, trong khi quán tưởng, đồng biết thân mình đến ao Thất Bảo đại trì. Trong ao có tấm màn báu lớn, thân 2 ông liền vào trong ấy, thấy Đức Quan Âm và Thế Chí, 2 vị Bồ Tát đang ngồi trên 2 bửu tòa đài Liên Hoa, còn dưới tòa có nghìn vạn hoa sen đầy dẫy.
Đức Phật A Di Đà từ hướng Tây lại ngồi trên 1 cái Hoa Sen rất lớn, cả phóng hào quang chiếu suốt 10 Phương. Ông Khải Phương và ông Viên Quả lễ Phật và bạch Phật Thưa Đức Đại Từ! Giả sử chúng sinh cõi Diêm phù (cõi Ta bà), này y theo Kinh dạy Niệm Phật có được sinh về đây không ?
Phật dạy Như niệm Danh Hiệu Ta đều đặng sinh về nước Ta, không có 1 người nào là Người Niệm Phật, mà không sinh về được bao giờ.
Hai ông Khải Phương và Viên Quả lại thấy quốc độ kia, đất đai bằng phẳng, tràng báu lưới ngọc trên dưới xen pha. Lại có 1 ông Tăng, từ xa đi lại bảo Khải Phương và Viên Quả rằng Ta đây là Pháp Tạng vậy (tiền thân Phật Di Đà). Bởi do nguyện đời trước của ta nên nay đến đây rước 2 nhà ngươi.
Khải Phương và Viên Quả, cũng cứ ngồi trên xa báu đi tới trước, lại biết thân mình ngồi trên Hoa Sen Báu. Lại nghe Phật Thích Ca và Đức Văn Thù Bồ Tát, khen ngợi cõi Tịnh độ. Đi tới trước, lại có 1 Bửu điện rất lớn. Điện ấy có 3 cấp đường bằng Ngọc. Cấp đường thứ nhất toàn Người thế tục đi. Cấp đường thứ 2 Tăng và tục phân nửa (nửa Tăng nửa tục). Bước qua cấp đường thứ 3 duy có Tăng chứ không có tục. Đức Phật chỉ đó mà bảo hai ông Khải Phương và Viên Quả rằng Phong cảnh đây, để dành cho những chúng sinh cõi Diêm phù đề (cõi Ta bà), người nào niệm Phật, thời sinh về ở đây. Vậy 2 người hãy tự gắng.
Bấy giờ Khải Phương, Viên Quả trực giác thức dậy (xuất Định), kể chuyện cho các đồ đệ (đệ tử) nghe sự tích này. Qua 5 ngày sau, 2 ông không bệnh tự nhiên nghe tiếng Chuông, thế mà các người khác không nghe. Ông Khải Phương và Viên Quả nói Tiếng Chuông ấy là cái việc của ta, nói rồi vui vẻ trong giây lát 2 ông đồng lâm chung 1 lượt (vì đồng một tịnh nghiệp).
http://adidaphat.jimdo.com/ni%E1%BB%...A1ch-h%C3%A0o/
*Hồng Hoa:
Liều lượng: 1- 3 chỉ.
CHÚ GIẢI VỀ P’HOWA
Hướng Dẫn về Pháp Môn Chuyển Di Thần Thức Siêu Sinh Tịnh Độ
theo Truyền Giảng của Rigdzin Longsal Nyingpo
Tác giả: Chagdud Khadro - Dịch giả: Cư sĩ Nguyên Giác
http://quangduc.com/p1244a34256/2/chu-giai-ve-p-howa
KHÔNG HIẾU SẮC, CŨNG LÀ 1 TÍNH THIỆN
( CỰ SẮC DIỆC THỊ NHẤT THIỆN )
Nguồn: http://kba-tx.org/files/vn/phat/ConDuongSang.pdf
Nguyên tác: Đạo Sư Lian Sheng
Dịch giả: Liên Hoa Văn Hải
http://s1.upanh123.com/2016/12/15/sanshenhuabea2a.jpg
Liên Hoa Thanh Sơn khi qua đời, do “Không Hành Mẫu” mang hồn phách của ông ta đến chỗ tôi đóng cửa ẩn cư.
Tôi suy tính thì chợt sợ hãi. Tôi nói: “Thanh Sơn, tuy ông là đệ tử của tôi, nhưng ngay 1 Pháp cũng chưa tu, ngay 1 Câu Chú cũng chưa tụng đọc, 5 Giới cũng chưa thủ giữ nữa, 1 việc Thiện cũng chưa làm. Sinh thời chỉ miệt mài, loanh quanh ở những khối tiền, lăn lóc, ông bảo tôi dẫn đưa ông đi đâu bây giờ mới tốt đây?” Liên Hoa Thanh Sơn cúi đầu không nói.
Lúc bấy giờ, bên ngoài chỗ ở của tôi đến rất nhiều quỷ Dịch Lại, tay cầm lệnh bắt giữ và còng khóa sắt, chỉ muốn vào bắt Thanh Sơn, gây rất ồn ào ở ngoài cửa, bởi chưa vào được bên trong nhà để bắt.
Liên Hoa Thanh Sơn thấy tình huống rất khẩn cấp, trong lòng sợ sệt bèn kêu to: “Sư Tôn! Cần phải cứu con, Sư Tôn! Cần phải cứu con.”
Tôi trong lòng suy nghĩ: “Đưa Thanh Sơn đến “Ma Ha Song Liên Trì” là việc không thể làm được. Nhân vì “Di Đà Kinh” đã nói: “Xá Lợi Phất, không thể thiếu nhân duyên thiện căn phúc đức để đến được Bỉ Quốc (nước Phật)”.
Nếu như Thanh Sơn bị Dịch Lại bắt đi, dùng còng sắt khóa lại rồi áp giải vào địa ngục thì tâm tôi nghĩ chẳng đành! Tôi bị rơi vào tình trạng khó xử.
Sau đó, tôi nói với Liên Hoa Thanh Sơn: “Ông phải ghi nhớ câu chú OM. A MI DIE WA. XIE, lại phải ghi nhớ điều tôi dặn dò đây, nếu trông thấy một quán rượu, cần nhớ, không được uống rượu; nếu trông thấy gái hầu rượu dụ dỗ phải nghiêm trang cự tuyệt, như thế tôi mới có thể cứu ông được.”
Liên Hoa Thanh Sơn gật đầu ưng thuận. Do đó tôi mới mở cửa để quỷ Dịch Lại bắt ông ta đi. Quỷ lính khóa tay Thanh Sơn để tiện việc giải đi. Đi đến nửa đường, quả nhiên gặp một quán rượu, bọn quỷ lính vào quán nghỉ mệt.
Liên Hoa Thanh Sơn trông thấy người nữ hầu rượu xinh đẹp mang rượu đến mời Thanh Sơn uống rượu. Ông ta nhớ lời tôi dặn nên không uống. Bọn gái hầu rượu tranh nhau tiến lại dụ dỗ Thanh Sơn. Ông ta ghi nhớ lời tôi dặn: “Không mở miệng nói, không động đậy tay chân, không động lòng, đứng như như bất động.
Kết quả, nghe “ẦM” một tiếng, quán rượu chẳng trông thấy đâu nữa, bọn quỷ Dịch lại cũng biến mất, dây xích còng trên thân xác cũng không còn. Bản thân ở ngay tại cánh đồng rộng rãi tối om, lủi thủi một mình đi, đến âm phủ. Phán Quan âm phủ, kiểm tra nhân quả của Thanh Sơn, thoạt đầu lắc đầu, sau lại gật đầu.
Phán Quan nói: “Người này, căn bản không làm một việc thiện, nhưng sau này hắn không uống rượu là một điều thiện, nghiêm trang cự tuyệt sự dụ dỗ của sắc, lại là một điều thiện nữa.”
Phán Quan hỏi: “Ông quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thì có thể niệm Chú được không?”
Thanh Sơn nhớ câu chú tôi đã dạy nên đọc: “Om. A Mi Die Wa. Xie” Liên Hoa Thanh Sơn niệm chưa dứt câu chú thì đột nhiên trước mắt ông ta hiện ra 7 tòa núi, 7 toà núi này đều là núi to lớn, trong đó 6 toà đã có Sơn Thần, chỉ một tòa là trống không, chưa có Sơn Thần.”
Phán Quan nói: “Đi thôi! Tòa núi kia là của ông đó.” Do đó Liên Hoa Thanh Sơn làm Sơn Thần của ngọn núi ấy.
Vì sao Liên Hoa Thanh Sơn phải làm Sơn Thần vậy?
Nguyên do, không uống rượu là một điều thiện, cự tuyệt sắc dục là một điều thiện nữa, lại thêm ông ta niệm được Di Đà Tâm Chú, thì được vãng sanh đến chỗ cư trú của Sơn Thần.
Nhưng vì sao ông ta không được siêu thăng lên “Ma Ha Song Liên Trì”? (hai hồ sen vĩ đại trên thế giới Cực Lạc A Di Đà) Câu trả lời rất đơn giản, vì rằng tâm của Thanh Sơn không hề có ý niệm Tịnh Thổ Phật Quốc, cho nên ông ta không thể vãng sanh Tịnh Thổ Phật Quốc được. Sự quy y quán đỉnh của Thanh Sơn chỉ là theo người mà đến và theo người mà đi theo, thực sự vô tâm. (Vô tâm ở đây có nghĩa là không có tâm tu hành). Hơn nữa Pháp hiệu của ông ta là Liên Hoa Thanh Sơn, nên có duyên tại “thanh sơn” (núi xanh) làm Sơn Thần cũng đúng!
Vấn đề đốt vàng mã đã có từ xa xưa .... muốn thấu hiểu nó thì ta cần có cái nhìn tổng thế , ta hãy quan sát sơ đồ sau
http://www.minhtrietmoi.org/Bailey/T...s/image003.png
Từ trước tới nay nhiều người không biết rằng cõi vô hình có nhiều cõi chứ không chỉ có duy nhất 1 cõi . Ngoài âm giới mà ta quen thuộc thì còn có các cõi vô hình khác nữa như cõi thiên giới , cõi bồ đề , cõi niết bàn , cõi đại niết bàn v.v....... Mỗi cõi lại chia làm bảy tầng . VD như cấu tạo cõi trần của chúng ta thì 3 tầng thấp nhất là chất đặc , chất lỏng , chất khí và 4 tầng dĩ thái cao hơn (*) . Các cõi giới càng cao ( cõi thánh , cõi tiên , cõi phật v.v ....) thì chất liệu càng thanh nhẹ , chúng sinh trong các cõi đó họ chỉ cần tác ý là họ có được thứ họ muốn cho nên họ về cơ bản họ không cần tới vàng mã của chúng ta , phương thức sinh hoạt của họ cũng khác hẳn với chúng ta ( nhiều người đi chùa đốt vàng mã dâng lên phật là sự nhầm lẫn và hoang phí vì phật đâu có cần mấy thứ đó....!!! ).... Gần với cõi trần của chúng ta nhất là 3 tầng thấp nhất của âm giới là những tầng mà người ta hay gọi là
- Tầng súc sinh (tiếng Phạn: tiracchānayoni)
- Tầng ngạ quỷ (quỷ đói) (tiếng Phạn: petta)
- Tầng địa ngục (tiếng Phạn: niraya)
Vì cõi này còn gần với cõi trần nên chúng sinh trong các cõi này có phương thức sinh hoạt gần giống với cõi trần chúng ta nhất ( thường là khi sống họ làm nhiều điều bất thiện nên mới bị đọa vào các cõi đó ) .... Nói như thế là để thấy là chúng ta đốt vàng mã là để cho chúng sinh trong các tầng thấp cõi âm chứ các vị thánh , tiên , phật có bao giờ xài hàng mã đâu mà dâng cho các ngài làm gì ......
-----------------------------------------------------------------------------------
(*) khi nhà phật hay thuyết cái xác thân con người là sự kết hợp của tứ đại giả hiệp (địa [đất] - thủy [nước] - phong [gió] - hỏa [lửa]) thì chúng ta nên hiểu đây là cách dùng ngôn ngữ biểu tượng chứ không nên hiểu máy mọc theo nghĩa đen rồi la lối kêu la là vô lý rồi nhảy dựng lên phản đối... ta đi vào cụ thẻ hơn
Tứ đại------------Ý nghĩa đại diện-----------------Trong cơ thể tương ứng với
ĐỊA ------------ CHẤT RẮN ---------------------- XƯƠNG CỐT
THỦY ------------- CHẤT LỎNG------------------ HUYẾT DỊCH
PHONG------------ CHẤT KHÍ -------------------- HƠI THỞ
HỎA ----------- CHẤT DĨ THÁI -------------- HÀO QUANG SINH HỌC
KHAI THỊ PHÁP MÔN NIỆM PHẬT
( Trích từ HƯƠNG SEN VẠN ĐỨC của HT. Thích Trí Tịnh, Nhà Xuất Bản Phương Đông TP. HCM 2006 )
http://s1.upanh123.com/2016/12/16/hi...dep-1c4224.jpg
*Tại sao lại niệm “ Nam mô A-MI - ĐÀ PHẬT ?”
6 Chữ Hồng Danh đây nguyên là Phạn âm (tiếng Thiên Trúc).
2 Chữ đầu (Nam Mô) nguyên âm là NAMO, ta quen đọc liền vần Nam mô, là lời tỏ lòng thành kính, có nghĩa là Quy Y (về nương) và Quy Mạng (đem thân mạng gởi về).
Chữ thứ 6 (Phật) nguyên âm là Buddha (Bụt Đa hay Bụt Thô), ta quen đọc gọn là Phật, chỉ cho đấng hoàn toàn giác ngộ (Đấng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).
3 Chữ Giữa (A Mi Đà) là biệt danh của Đấng Cực Lạc giáo chủ, dịch nghĩa là Vô Lượng (Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ) Như trong kinh, Đức Bổn Sư tự giải thích rằng: “Đức Phật ấy, quang minh vô lượng, soi suốt các cõi nước ở mười phương không bị cách ngại. Đức Phật Ấy và nhơn dân trong nước của Ngài thọ mạng vô lượng vô biên vô số kiếp “.
Trong Quán Kinh nói : “ Nếu người chí tâm xưng Danh Hiệu của Đức Phật đây, thời trong mỗi niệm diệt được tội sanh tử trong 80 ức kiếp và được Vãng Sanh …”
Trong Kinh Chư Phật Hộ Niệm nói: “Nếu người nghe Danh Hiệu của Đức Phật đây mà chấp trì trong 1 Ngày đến 7 Ngày, nhất tâm bất loạn thời được thành tựu nhiều thiện căn phước đức. Đức Phật ấy và Thánh Chúng sẽ hiện đến nghênh tiếp… “
Kinh Văn Thù Bát Nhã nói: “Nếu người chuyên xưng Danh Hiệu thời đặng chứng Nhất Hạnh Tam muội và chóng thành Phật…”.
Xem như lời của Đức Bổn Sư Thích Ca, đấng chân thật ngữ phán trên đây, thời thấy rằng 3 tiếng Hồng Danh của Đức Giáo chủ Cực Lạc có những năng lực bất khả tư nghị. Muốn được kết quả to tát như lời trong Kinh, hành nhơn phải chí tâm xưng niệm, và phải xưng niệm đúng âm vận, chớ không nên như người Pháp goi Chợ Lớn là Sôlông, hay Bà Rịa là Baria.
3 chữ A- MI- ĐÀ nguyên là Phạn âm. Người Tàu đọc là A- MI- THÔ, và họ tụng xuôi là Á- MI -THỒ. Danh hiệu ấy truyền qua xứ Việt ta bằng chữ Tàu, biên sẵn trong các pho kinh sách Tàu. Người Việt ta cứ theo lệ phổ thông, chữ đâu đọc đó nên đọc là A-Di-Đà. Như đọc Nã Phá Luân để kêu Hoàng đế Napoleon (Na-po-lê-ông), cùng đọc Ba-Lê để kêu kinh đô Paris (Pari).
Với sự phiên âm bằng chữ Tàu, người Tàu đọc giống gần với Nguyên âm, mà người Việt ta đọc sai quá xa. Giá như ta gặp hoàng đế Pháp mà gọi ông ta là Nã Phá Luân thời thật là đáng buồn cười. Với A-Di-Đà để gọi Đức Giáo Chủ Cực Lạc cũng theo lệ đó.
Nhiều năm về trước, trong thời gian niệm Phật theo thông lệ Nam Mô A Di Đà Phật, khi chuyên nhiệm nhiều (mỗi ngày từ 2 vạn Câu trở lên = 2 X 1 vạn = 2 X 10 nghìn = 2 X 10.000 = 20.000 Nghìn Câu ), tôi bị sự chướng là trệ tiếng trong lúc niệm ra tiếng và lờ mờ trong lúc niệm thầm. Giữa lúc đó tiếng “Di” là chủ của sự chướng. Vì thế, tôi mới để ý đến chính âm vận của 6 tiếng Hồng Danh. Đồng thời lời của Tổ Vân Thê trong Sớ Sao nói: “ Hồng Danh Nam mô A-MI-ĐÀ PHẬT toàn là tiếng Phạn, chuyên trì không quên, thời cùng với pháp trì Chú của Mật Tông đồng nhau”, lại thúc đẩy tôi vào sự khảo cứu.
Với vần La Tinh, người Anh ghép Amita, mà tôi được thấy ở bộ Phật Học Đại Tự Điển.
Tôi đem 3 Chữ A-MI-ĐÀ ra hỏi, thời các Sư Tàu cũng như Cư sĩ Tàu đều đọc gằn từng tiếng một trước mặt tôi : A-MI-THÔ.
2 tiếng đầu “A”và “Mi” đã nhất định, và đồng thời quyết chắc đọc “Di” là sai. Tôi còn thắc mắc ở tiếng thứ 3, vì nếu đọc Amita như vần Anh, cùng A-MI-THÔ như người Tàu thời với tiếng Việt có 2 điều bất tiện:
1. Nghe không nghiêm và không êm.
2. Khác với thông lệ từ xưa.
Một học giả Bali và Phạn ngữ giải thích: chữ “Đà” của Tàu dùng phiên âm Phạn ngữ có 2 Giọng:
1. Thô như danh từ “Bụt Thô” mà người tàu đọc xuôi là “Bù Thồ”.
2. Đa cũng như danh từ “Bụt Đa” (Buddha)
Với giọng “Đa” để đọc chữ “Thô”, nó mở đường cho tôi ghép 3 Chữ lại: A-MI-ĐA và theo cách đọc xuôi đánh dấu huyền: A-MI-ĐÀ.
Ghép luôn cả 6 tiếng Nam mô A-MI-ĐÀ PHẬT, tôi nhận thấy rằng tránh khỏi cái lỗi quá khác với Nguyên Âm, dù vẫn chưa được hoàn toàn, nhưng có thể gọi là nhiều phần đúng và không quá cách biệt với cách đọc phổ thông theo cổ lệ, vì trong 6 tiếng đây chỉ có đổi “Di” thành “MI” mà thôi.
Sau khi tham cứu như trên xong, tôi bắt đầu chuyên chí niệm Nam mô A-MI-ĐÀ PHẬT, và cũng bắt đầu từ đó tôi liền nhận được kết quả.
1. Sáu tiếng Hồng Danh đây nổi rõ nơi Tai cũng như nơi Tâm, khác hẳn sự mờ mờ lọt sót của tiếng “Di” trong thời trước.
2. Khi niệm ra tiếng, từ 5 Ngàn Câu mỗi thời trở lên, Môi Lưỡi càng lúc càng nhại, càng chuyên, càng lanh. Khác hẳn sự trệ Môi cứng Lưỡi của những ngày niệm khi xưa.
3. Niệm ra tiếng với A-MI khỏe hơi hơn Niệm ra tiếng của A-Di khi trước, nhờ vậy mà mỗi thời niệm được lâu và nhiều.
Người chuyên niệm Danh Hiệu của Phật, tầng cấp đầu tiên là đến mức bất niệm tự niệm, hay niệm lực tương tục. Nếu khi niệm mà bị trệ, và tiếng Phật lại lờ mờ không nổi rõ nơi Tâm thời khó mong được kết quả trên. Còn nếu trái lại thời mới có hy vọng đến đích.
Biết rằng niệm A-MI-ĐÀ được nhiều phần đúng với Nguyên âm, nó sẽ đem đến cho mình cái mãnh lực bất tư nghì, diệt vô số kiếp tội thành đại thiện căn phước đức giống như pháp trì Chơn Ngôn (Thần Chú) của Mật Tông mà Tổ Vân Thê đã phán. Nó sẽ đưa mình đến mức bất niệm tự niệm, vì tiếng niệm không bị trệ lụt và nổi rõ nơi Tâm. Nhất là niệm A-MI-ĐÀ được khỏe hơi, nhờ đó nên được Niệm lâu và nhiều. Niệm Phật được thuần thục là nhờ Niệm nhiều Câu, nhiều Giờ và tiếng Niệm nhấn rõ nơi Tâm. Và mức bất niệm tự niệm đây là phần bảo đảm Vãng Sanh Tịnh Độ cho người chuyên niệm. Tôi tin rằng Niệm gần với Nguyên âm, tức là gần đúng với thật danh của Đức Giáo Chủ Cực Lạc, tất dễ được tương ưng và chóng được cảm thông với Phật. Và tôi đã tự cảm thấy có lẽ đúng như thế.
Nhưng trong kỳ kiết thất 49 Ngày ở Tịnh Thất nơi chùa Linh Sơn Cổ Tự, một hôm tôi bỗng có ý nghĩ: “Mình dù thiển trí bạc đức, song cũng là người tai mắt trong Tăng Giới, và cũng có đôi phần uy tín đối với gần xa, riêng mình tự tu đã đành không ngại gì, song rồi đây, tất có người tin tưởng nơi mình, mà họ sẽ tự noi theo chỗ làm của mình, nghĩa là họ sẽ niệm Nam mô A-MI-ĐÀ PHẬT. Một người như thế, lần lần sẽ có nhiều người như thế, tất sau này khó khỏi đôi điều thắc mắc:
1. Bàng quang sẽ cho mình lập dị, riêng phái, phá sự đã phổ thông của cổ lệ.
2. Đem sự ngờ vực cho người đã Niệm A-Di khi những người này chưa hiểu thế nào là A-Di và thế nào là A-MI. Và sự ngờ là điều rất chướng của Pháp môn Niệm Phật
Tôi tự giải thích: “ Cổ lệ đã sai thời sự sửa đổi là điều cần(tôi tự sửa đổi riêng tôi). Mình không có quan niệm lập Phái riêng hay lập dị, thời cũng không ngại gì với chuyên thị phi phê bình của bàng quan”. Và với sự ngờ của những người chưa nhận chơn, sẽ giúp họ tìm tòi khảo cứu, nhờ tìm xét họ sẽ thấu rõ sự sai với đúng, và họ sẽ thâu hoạch được kết quả tốt cũng như mình.
Mặc dù tôi tự giải thích với tôi như thế, nhưng trong thâm tâm vẫn mãi băn khoăn gần suốt ngày.
Chiều hôm ấy, khi đứng dựa cửa sổ ngó mong về phía mặt trời sắp lặn, tôi bỗng thấy chữ A-MI nổi bật giữa khung trời xanh sáng, gần như chữ điện ở trước cửa của những hiệu buôn chiếu sáng trong đêm. Tôi thử ngó qua hướng khác thời không thấy, khi ngó trở lại hướng Tây thời Chữ A-MI vẫn nổi y nơi chỗ cũ, khổ chữ lớn lối bốn tất Tây bề cao, và hiện mãi đến trên 30 phút mới ẩn..
Tối hôm ấy, tôi chiêm bao thấy mình đi vào một khu vườn cây cao cảnh đẹp. Giữa vườn, một dãy nhà cất theo kiểu trường học, và nghe rõ trong ấy một người xướng và số đông người hòa: Nam mô A-MI-ĐÀ PHẬT! Tôi tự bảo: “Ủa lạ! Câu Nam mô A-MI-ĐÀ PHẬT tưởng là chỉ của riêng mình cải cách, riêng mình tín hướng và riêng mình chuyên niệm. Bất ngờ ở đây, người ta cũng đồng niệm như vậy rồi”. Tôi đứng dừng trước ngõ trường chăm chú nghe xướng hòa như thế hơn 10 lần mới choàng tỉnh. Bấy giờ mới biết là mình nằm mơ.
Do 2 Điềm trên đây ( Chữ A-MI hiện giữa trời và chiêm bao nghe xướng hòa Nam mô A-MI-ĐÀ PHẬT ), bao nhiêu nổi thắc mắc và băn khoăn nơi lòng tôi đều tan rã như khối tuyết dưới ánh nắng trưa hè…
Từ hồi nào, dù với hàng đệ tử, tôi chưa từng bảo ai bỏ niệm A-Di mà niệm A-MI. Song, do ảnh hưởng ngấm ngầm mà lần lần có một số đông người Xuất Gia cũng như hàng Tại Gia niệm A-MI-ĐÀ. Đó phải chăng là do cơ duyên thời tiết nó nên như thế! Và cũng vì cớ ấy mà hôm nay có bài thuyết minh và tự thuật này.
Tôi viết bài này chỉ với mục đích gíup thêm sự nhận chơn về câu Nam mô A-MI-ĐÀ PHẬT cùng lịch sử của nó, cho các bạn đồng tu đã chuyên niệm như thế. Và bài này cũng chỉ truyền bá trong phạm vi các bạn đây thôi.
Tôi xin khuyên nhắc các bạn, đối với những vị đã quen niệm hay đã sẵn tín tâm nơi câu Nam mô A-Di-Đà Phật, nhất là người ở trong hoàn cảnh thiếu tiện lợi, các vị nên để yên cho các vị ấy niệm theo sự phổ thông cổ lệ để tránh sự ngoại chướng cho họ và cho họ khỏi sự do dự trên đường hành trì mà họ có thể vướng phải.
************************************************** ***
*GHI CHÚ:
HỌC HỎI PHẬT PHÁP - Niệm "Nam Mô A Di Đà Phật hay Nam Mô A Mi Đà Phật" ?
Bạn Diệu Xuân hỏi:
Nam Mô A Di Đà Phật. Kính thưa Sư Cô Tiểu Ni Diệu Hân, con được 1 số người hỏi Niệm danh hiệu Phật "NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT" hay niệm "NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT"? Vì họ nói Hòa Thượng Thích Trí Tịnh chỉ dạy niệm danh hiệu "NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT", họ nói Hòa Thượng nói do có lần nhìn lên bầu trời thấy danh hiệu "NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT" hiện ra. Nên từ ngày đó Hòa Thượng khuyên mọi người niệm "NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT". Con không biết phải giải thích như thế nào để họ hiểu mà niệm Phật cho đúng. Mong sư cô Tiểu Ni Diệu Hân mở lòng từ bi chỉ dạy, để phật tử hiện nay và các phật tử sau này niệm Phật cho đúng. NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!
Cô Diệu Hân:
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT...Tiểu tôi xin phép trả lời bạn Diệu Xuân...
DIỆU XUÂN thân mến, Sáu câu niệm PHẬT lục tự là NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT từ thời VIỆT NAM, PHẬT GIÁO phát khởi niệm PHẬT, đã có từ lâu, 6 câu niệm phật rất chuẩn là “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” không sai lệch, tiếng niệm A Mi Đà Phật, tiểu tôi mới biết đây từ ngày có phong trào niệm PHẬT xuất phát từ bên Trung Quốc. Có một vị tăng yêu mến vị ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG TĂNG HIỀN có pháp môn dạy người NIỆM PHẬT, VỊ TĂNG đến nước HỒNG KÔNG tìm vị đại trưởng lão TỊNH KHÔNG bái sư pháp môn NIỆM PHẬT, vị tăng thỉnh chiếc áo cà sa trao tay HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG sau đó HÒA THƯỢNG trao lại trước mặt phật tử HỒNG KÔNG việt kiều Việt Nam. Vị tăng mặc áo và nhiều pháp phục hoa tông tịnh độ đem về VIỆT NAM phát lên gầy dựng đạo tràng niệm PHẬT tắt là “A MI ĐÀ PHẬT” phật tử có quay phim lại quá trình trao đổi với vị tăng ấy.
Từ đó vị tăng mở đạo tràng hướng nhân dân phật tử NIỆM A MI ĐÀ PHẬT, theo xu hướng nửa Hoa nửa Việt. Việt là “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” nửa Hoa nửa Việt niệm là “A MI ĐÀ PHẬT” cho nên nhân dân và phật tử đa số theo xu hướng niệm A MI ĐÀ PHẬT .
Tiểu tôi xin khuyên niệm gì cũng được, trước khi ta học và hành bất cứ pháp môn nào trong bao nhiêu ngàn pháp môn, tốt nhứt chúng ta nên tu THÂN – TÂM - KHẨU - Ý tốt đẹp là tốt nhứt, vì Thân Tâm Khẩu Ý khinh chê bè giễu, mạn nghi không giúp cho ta đi về thế giới vô vô nghì được.
Tiểu xin mời các vị vào mạng youtube xem “Niệm Phật Về Đâu và Thân Tâm Khẩu Ý phần 17 và 18 - Tiểu Ni Diệu Hân” các bạn sẽ hiểu rõ...
Còn riêng bản thân Tiểu Ni Diệu Hân tiền khiên kiếp tiểu thấy tiểu có ở xứ Trung Quốc là tăng xuất gia, niệm phật là NA MO A MI PHÒ PHÒ, kiếp này...Tiểu là con dân của VIỆT NAM, Tiểu cũng là người xuất gia Tiểu niệm là NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT, Tiểu phải niệm theo phát âm bản quốc VIỆT NAM, Tiểu không thể phát âm theo ngoại ngữ Trung dù biết rằng trong tiền kiên kiếp Tiểu có mặt trong xứ Trung.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT...Tiểu xin kính lời..
MỀN "GIẢI THOÁT" THEO TRUYỀN THỐNG TÂY TẠNG
Sáu Pháp Giải Thoát mà đức Liên Hoa Sanh đã giảng dạy, gồm có:
1. Giải thoát qua cái nghe (liberation through hearing)
2. Giải thoát qua cái mặc (liberation through wearing)
3. Giải thoát qua cái thấy (liberation through seeing)
4. Giải thoát qua sự hồi nhớ (liberation through remembering)
5. Giải thoát qua vị nếm (liberation through tasting)
6. Giải thoát qua sự chạm xúc (liberation through touching)
Người Tây Tạng gọi “Mền Quang Minh” mà chúng ta thường
dùng để đắp cho người đã qua đời là Tag-drol, nghĩa là “giải thoát qua cái mặc” (liberation through wearing). “Mền Giải Thoát” (hay “Áo Giải Thoát”) ở đây được kiến tạo dựa trên sự kết hợp của các câu chú nguyện, các biểu tượng và đồ hình. Trên thực tế, đây, là sự thiết lập của một mạn đà la tâm linh.
Nguồn: Giới Thiệu về “Mền Quang Minh” hay “Mền Giải Thoát”
theo Truyền Thống Phật Giáo Tây Tạng.
Ảnh: Kalachakra Mandala
https://www.facebook.com/vietrigpabardo.org/?fref=nf
===========
PHÁP TU PHOWA
Qua sự kết hợp của hơi thở, tụng thần chú và pháp quán tưởng vào thời điểm chết, giọt tâm thức được thoát ra từ lỗ thoát trên đỉnh đầu, vượt qua các giai đoạn trung ấm và tránh tái sanh vào sáu nẻo luân hồi.
Nguồn & Ảnh: Sưu tầm
==========
KHI NÀO THẦN THỨC CỦA NGƯỜI MỚI RA KHỎI THỂ XÁC
Chưa thể xác định rằng một người bình thường chết thần thức của họ rời khỏi xác trong ba ngày sau đó. Nhiều người lưu lại lâu hơn, nhưng một số người khác thì trụ lại thời gian ngắn hơn. Có nhiều ví dụ điển hình trong số các vị Lama Tây Tạng. Như đức Lama Ling Rinpoche, thầy dạy học của đức Dalai Lama, thần thức của ngài đã trụ lại trong xác thân cả tuần lễ sau khi viên tịch. Ở trong cộng đồng người Tây Tạng, những trường hợp tương tự vẫn thường xảy ra.
Tóm lại, việc hỏa táng hoặc tiến hành tang lễ hay di chuyển thể xác tốt nhất phải đợi ba ngày sau. Tuy nhiên, ngày nay điều này khó thực hiện được vì người ta sợ ô nhiễm, do vậy, nên làm phép chuyển di tâm thức trước khi động đến thể xác của quá cố.
Nguồn & Ảnh: Đức Garje Khamtrul Rinpoche
=========
QUÁN TƯỞNG CHO NGƯỜI HẤP HỐI
Cách tốt nhất để giúp cho người hấp hối là lời nói và hành động của mình phải được thúc đẩy bởi lòng từ bi. Nếu có thể thì cung thỉnh Lama đức hạnh đến để làm pháp chuyển đi tâm thức (transference of consciousness) cho người hấp hối. Pháp này Tạng ngữ gọi là Powa, được xem là một pháp tu đặc biệt có giá trị và hiệu quả nhất để giúp cho người hấp hối.
Bạn quán tưởng hình ảnh đức Phật ở trên đầu người hấp hối. Quán tưởng những tia sáng chiếu rọi vào người sắp lâm chung làm sạch bản thể của họ, và quán thấy họ tan thành ánh sáng, hòa nhập vào ánh sáng của chư Phật. Việc chuyển di tâm thức có thành công hay không là còn tùy thuộc vào sức thiền định của người đang thực hiện pháp tu nàỵ Pháp tu đặc biệt này không những dành cho người sắp chết mà còn có thể giúp tịnh hóa và chữa lành bệnh cho người còn sống. Các vị Lama vẫn thường dùng pháp này để cầu an thọ mạng cho người già yếu. Một số vị thầy cho rằng nên thực hiện pháp chuyển di tâm thức vào khoảng ngừng lại giữa hơi thở vào và hơi thở ra. Nhiều người khác thì nói rằng nên thọ trì pháp này càng nhiều càng tốt sau khi người đó chết để hộ trì cho thân trung ấm của họ dễ dàng tái sinh.
Theo giáo nghĩa của Luật Tông thì nên hỏa táng thi thể càng sớm càng tốt sau khi chết. Nhưng theo Mật Tông thì tốt nhất là đừng di dời thân thể sau khi chết trong vòng ba ngàỵ
Nguồn và ảnh: Đức Diglo Khyentse Rinpoche.
=======
TUYỆT ĐỐI TRÁNH QUẤY RẦY NGƯỜI ĐANG HẤP HỐI
"Khi gặp người đang hấp hối tuyệt đối tránh quấy rầy họ. Đặc biệt là không làm cho họ nổi giận hoặc khóc lóc để họ sanh tâm quyến luyến. Ngược lại, phải nhắc nhở để họ hành trì, tu tập vào giờ phút cuối, ví dụ như quán tưởng hình ảnh của chư Phật, các vị thầy đức hạnh, Chúa Jesus, hoặc một lời dạy nào đó tùy theo tín ngưỡng của họ. Nếu người ấy không theo một tôn giáo nào, nên giúp đỡ cho họ chết trong thanh thản và yên bình.
Khi người ấy trở nên hôn mê, nếu là hành giả, thì nhắc nhở pháp môn mà họ công phu thường ngày, đặc biệt là lúc họ sắp ra đi. Kế đó tụng một số bài cầu nguyện. Nếu thân nhân muốn tốt cho người đang hấp hối thì tự tụng niệm hoặc cung thỉnh chư tăng về nhà để cầu nguyện cho họ. Trường hợp không có chư Tăng tiếp dẫn, người thân trong gia đình có thể tụng thần chú Om mani padme hum, hoặc những thần chú khác mà họ biết, để tiếp dẫn cho người chết. Sau tang lễ, gia đình tiếp tục thọ trì, tụng niệm đến ngày thứ 49 cho hương linh dễ dàng tìm lối tái sinh vào cõi lành." - Đức Dalai Lama thứ 14.
Nguồn: Sưu tầm.
Ảnh: Đức Dalai Lama thứ 14.
==========
CON RẬN TRONG ÁO CÀ SA
Trong thời Phật còn tại thế, một vị Tỳ Kheo Tăng được Phật tử may cho một áo cà sa mới. Vị Tỳ Kheo mặc áo cà sa mới chỉ được vài hôm, thì viên tịch. Chiếc áo cà sa đó được cúng dường lại cho một vị Tỳ Kheo khác. Một hôm, cả đại chúng tăng ngồi trước Phật tại giảng đường trong tư thế để chuẩn bị lắng nghe Phật thuyết pháp. Trước khi Phật thuyết pháp, Phật gọi vị Tỳ Kheo được mặc chiếc áo cà sa của vị Tỳ Kheo đã viên tịch và nói rằng: “Trong bâu áo cà sa của thầy đang mặc ở phần vai, có con rận trong đó. Thầy hãy lật ra xem ngay bây giờ”.
Quả nhiên có một con rận duy nhất nằm im trong bâu áo. Sau khi vị Tỳ Kheo đó lật ra xem và báo cáo với Phật là có con rận. Sau đó đức Phật dạy: “Thầy hãy bảo vệ con rận đó được sống cho đến khi nào nó được thoát kiếp” và Phật nói pháp hóa độ cho con rận được siêu thoát.
Phật nói tiếp: “Con rận đó chính là vị Tỳ Kheo đã viên tịch cách nay vài tháng bị tái sanh làm thân con rận, do vì cái tâm còn luyến ái cái áo cà sa mới, nên làm thân rận để giữ áo cà sa”.
Trích: Vén bức màn bên kia cái chết
Tác giả: Đức Hạnh Lê Bảo Kỳ
Ảnh: Bardo Thodol
===========
TỰ TIN TRƯỚC CÁI CHẾT
Nếu con tu tập pháp môn Phowa thì khi cái chết gần kề, con sẽ chẳng biết tuyệt vọng là gì. Nếu trước đó con đã thành thạo pháp tu này thì vào thời điểm chết, con sẽ có niềm tin tràn trề, phấn khởi’
Nguồn: Sưu tầm.
Ảnh: Đức Phật Milarepa
========
THÂN TRUNG ẤM
Những ai có thiên nhãn, nhìn vào ánh sáng phát ra từ mỗi người, họ có thể đoán định được người đó thiện hay ác. Trung ấm cũng thế, tùy theo nghiệp thiện hoặc ác mà mỗi loài đều có những ánh sáng phát ra khác nhau. Trung ấm của kẻ tạo nghiệp ác ánh ra sắc đen hay xám, trung ấm của kẻ tạo nghiệp thiện ánh ra sắc trắng như điện sáng. Còn về màu sắc, trung ấm của địa ngục sắc đen như than. Trung ấm của bàng sanh sắc xám như khói. Trung ấm của ngạ quỷ sắc đạm như nước. Trung ấm người và trời Dục giới sắc như vàng ròng. Trung ấm của chư Thiên Sắc giới rất đẹp màu tươi trắng, sáng tỏ như ánh trăng rằm.
Nguồn: Sưu tầm.
Ảnh: Đức Phật A Di Đà.
==========
THỈNH VẤN ĐỨC GARCHEN RINPOCHE VỀ P'HOWA
Câu hỏi: Làm sao con có thể biết được khi nào con có thể bắt đầu sử dụng phương pháp này đối với người đang hấp hối hoặc đã chết – người và động vật?
Rinpoche trả lời: Nếu con có tâm đại bi vô cùng đối với người chết thì tự nhiên con phát khởi được một liên kết mạnh mẽ giữa thức của người chết và bi tâm của con. Vào lúc bi tâm phát khởi, con có thể sử dụng phương pháp này để giúp người chết hoặc người hấp hối.
Nguồn: Sưu tầm
Ảnh: Đức Garchen Rinpoche
==========
LỢI LẠC CỦA THỰC HÀNH PHÁP P'HOWA
Khả năng thực hiện pháp môn p’howa bảo đảm rằng ngay cả nếu cái chết can thiệp và cắt ngắn cơ hội tu tập trong kiếp này, người ta vẫn có thể tiếp tục đường tu trong các điều kiện thù thắng. Ngay cả khi với nghiệp lực chưa thanh tịnh, học nhân cũng không bị kéo lùi vào cõi luân hồi quanh co và bất trắc.
Nguồn: P’howa: Để Chủ Động Trong Sự Sống, Chết, Và Tái Sinh
Tác giả: Đức Chagdud Khadro
Dịch giả: Cư sĩ Nguyên Giác
Ảnh: Đức Phật A Di Đà
=============
KHI THOÁT RA KHỎI CƠ THỂ, THẦN THỨC SẼ ĐI VỀ ĐÂU
Có 9 cửa ngõ mà thần thức thoát ra khỏi cơ thể:
Nếu thần thức thoát ra ngoài từ nơi rốn, thần thức sẽ được dẫn đi đầu thai vào cõi Trời Dục giới, đây không phải là sự lựa chọn tốt. Dục giới chính là cõi Trời nơi chư thiên cư ngụ.
Nếu thần thức thoát ra ngoài ở trán, cửa ngõ này sẽ dẫn thần thức vào trong cõi Sắc giới. Đây cũng là cõi Trời và vẫn là luân hồi nơi thời gian kéo dài, vì vậy chúng ta không nên lựa chọn cửa ngõ này.
Thần thức cũng có thể thoát ra ngoài ở thóp nằm giữa trán và đỉnh đầu là phần rất mỏng và mềm của hộp sọ, có thể được nhận biết một cách rõ ràng khi bạn còn là đứa trẻ sơ sinh. Nếu thần thức thoát ra ngoài theo vị trí này, bạn sẽ được dẫn tới cõi Vô sắc giới, cũng là một trong số các cõi Trời của chư thiên.
Nếu thần thức thoát ra ngoài theo lỗ mũi bên phải, nó sẽ được dẫn tới cõi nergin, là nơi của chư thiên chủ về của cải. Cõi này vẫn nằm trong luân hồi, cho nên, chúng ta không mong muốn thần thức sẽ thoát ra từ đây.
Nếu thần thức thoát ra ngoài theo lỗ mũi bên trái, nó sẽ được dẫn đến cõi miumgi, một cõi Trời khá giống với cõi Người, đây cũng không phải là nơi chúng ta nên lựa chọn. Vì vậy chúng ta phải thiền định đóng tất cả các cửa này lại.
Nếu thần thức thoát ra ngoài theo tai phải, nơi đó cũng sẽ dẫn tới cõi trời và không phải là nơi mong đợi.
Nếu thần thức thoát ra ngoài bằng tai trái, nó sẽ được dẫn đến cõi mihamgi, cõi Trời đặc biệt của các nữ thần. Đây cũng không phải là nơi ta cần đến.
Nếu thần thức thoát ra ngoài từ mắt, thần thức sẽ được dẫn tới cõi Người. Nếu là mắt phải, đó sẽ là cõi Người thông thường. Nếu là mắt trái, thần thức sẽ sinh làm người thuộc đẳng cấp cao quý, được trọng vọng, vì vậy, đây cũng không nên là đích đến cần lựa chọn.
Nếu thần thức thoát ra ngoài theo hai cửa phía dưới, nếu là lỗ hậu môn, thần thức sẽ bị đọa vào cõi Súc sinh, còn nếu là lỗ sinh dục, thần thức sẽ bị đọa địa ngục. Đây là hai cửa ngõ cần khoá chặt bởi chủng tử tự Hung.
Nếu thần thức thoát ra ngoài từ miệng, bạn sẽ bị đọa vào cõi Ngạ quỷ, đương nhiên đây cũng hoàn toàn là nơi chúng ta không muốn đến.
By: www.vietrigpabardo.org
Ảnh: Đức Gyalwang Drukpa Rinpoche
==============
Đại sư Naropa đã dạy rằng: ‘Có tất cả 9 cánh cửa, (lỗ thoát bình thường gọi là Buga) thuộc về trần thế nhưng chỉ có duy nhất một cánh cửa của Đại Thủ Ấn, tức Niết bàn. Nếu con đóng 9 cánh cửa này lại thì chắn chắn con sẽ được đặt chân đến con đường giải thoát, không còn nghi ngờ gì cả’.
Nguồn: Sưu tầm.
Ảnh: Six Yogas Heart Practice
==========
LỢI LẠC CỦA THỰC HÀNH PHÁP P'HOWA
Khả năng thực hiện pháp môn p’howa bảo đảm rằng ngay cả nếu cái chết can thiệp và cắt ngắn cơ hội tu tập trong kiếp này, người ta vẫn có thể tiếp tục đường tu trong các điều kiện thù thắng. Ngay cả khi với nghiệp lực chưa thanh tịnh, học nhân cũng không bị kéo lùi vào cõi luân hồi quanh co và bất trắc.
Nguồn: P’howa: Để Chủ Động Trong Sự Sống, Chết, Và Tái Sinh
Tác giả: Đức Chagdud Khadro
Dịch giả: Cư sĩ Nguyên Giác
Ảnh: Đức Phật A Di Đà
Lục Đạo Kim Cang Chú là câu thần chú có sáu âm cũng, phổ biến như Lục Tự Minh Chú (Om Mani Padme Hum).
Sáu âm của câu Lục Đạo Kim Cang Chú đọc là: A AH SHA SA MA HA
Sau đây là một số đồ hình có câu Lục Đạo Kim Cang Chú:
Câu Lục Đạo Kim Cang Chú được viết tay bởi Lama Zopa Rinpoche, với dòng chữ giải thích bằng tiếng Anh: “Chỉ cần nhìn thấy câu chú này, bạn sẽ đạt được sự giác ngộ. Thật là lợi ích biết bao!”
http://i1250.photobucket.com/albums/...01323_ud-2.jpg
http://s1.upanh123.com/2016/12/16/d3...e705faaa51.jpg
HA A HA SHA SA MA
( https://www.pinterest.com/pin/412642384583650512/ / http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=5497.0 )
http://s1.upanh123.com/2016/12/16/ad...dala268607.jpg
( https://neozen888.wordpress.com/cate...itual-healing/ / https://neozen888.files.wordpress.co...ntra-sheet.pdf )
Helpful Bardo Prayers
4 Votes
I wanted to compose something beneficial for those people that have a loved one that has died or is in the process of dying. Since it is never easy to find what you need at the last minute, I figured it would be proper to put all the texts and information in one place.
This yantra (image at right) is depicted in the classic text called the Tibetan Book of the Dead. It was also passed down from Yogi C. M. Chen to his disciples. It belongs to a class of blessing objects called “Liberation through Touch”, meaning that one will gain liberation merely by wearing it.
The central deity is Adi Buddha or Samantabhadra Buddha the supreme dharmakaya buddha. He is surrounded by all the 100 peaceful and wrathful deities. The surrounding mantras are associated with the deities in the mandala and the buddhas of the six realms at the outermost circle.
Click here to receive instructions on how to fold it and place it properly on the dying family member’s body: Adi Buddha Mandala Mantra Sheet
The Bardo Teachings:
The following info was prepared by Buz & Joanie Overbeck:
Many westerners, having received teachings on the Bardo states, wonder how these might be applied at the time of their death or the death of others. Basically, the teachings say that, rather than fearing death, one should approach the Bardo states as opportunities for enlightenment and, in order to be open to these opportunities, one should have prepared through practice during one’s lifetime.
“However, even with no experience whatsoever, if one can die a ‘conscious death’ — calmly and openly with no fear, anger, or attachment—one can still create the conditions for enlightenment or a fortunate rebirth.”
These notes were compiled to help all practitioners attain that goal.
Click here: Bardo Information
Bardo Prayers:
These are the actual root verses that a Tibetan Lama would recite next to the bedside of a dying person. This is a very important text. It is called Bardo Thodal or “Liberation upon Hearing” in the Bardo.
This text has four sections:
Prayer requesting assistance from the Buddhas and Bodhisattvas
Root verses of the Bardo Thodal
Prayer for the deliverance from the Bardo’s narrow passage
The prayer that protects from fears in the bardos
Click here to download: Bardo Prayers
Five Powerful Mantras:
These mantras are chanted at the time of death. This text was arranged by Lama Zopa Rinpoche. These mantras can be chanted for the dying person so that they receive blessings. It doesn’t matter how close or far away you are. You can still direct energy and transfer merits to them in this skillful way.
Fortunately, there is one bonus within this text. There is a special Tibetan script which you can print and then cut out. Once you have it, then you can place it on the body of the one who is dying. It will benefit them tremendously so they will have a peaceful death and a higher rebirth in the next life.
*KẾT THÚC VIỆC ĐỌC NHỮNG LỜI CẦU NGUYỆN BARDO, BẰNG ĐỌC VIỆC ĐỌC CHÚ:
1. SARVA DHARMA MANGALAM SHRI YO BHAVANTU
2. QUY KÍNH: OM KURUM GHINI SOHA
3. OM VAJRASATTVA HUM / A AH SHA SA MA HA / OM SUPRATISTHA VAJRAYE SVAHA
https://neozen888.files.wordpress.co...do_prayers.pdf / https://neozen888.wordpress.com/cate...itual-healing/
Giải thoát qua Sự Chạm Xúc (liberation through touching) / Giải thoát thông qua Sự Xúc Chạm (Regdrol)
Adi Buddha Mandala Mantra Sheet
Under the guidance of Dr. Yutang Lin
Written by Stanley Lam
( https://neozen888.files.wordpress.co...ntra-sheet.pdf / http://www.yogichen.org/gurulin/b5files/f0/f0988.html )
http://www.yogichen.org/gurulin/grap...adimandala.jpg
http://s1.upanh123.com/2016/12/16/856157188_mb768c.jpg
Adi Buddha Mandala Mantra Sheet
佩戴解脫——忿寂百尊護輪! 14世紀由噶瑪林巴( Karma Lingpa )所取出之伏藏。
http://blog.xuite.net/lifeks799/twbl...BC%AA%E9%9B%86
This mantra sheet was passed down from Yogi C. M. Chen. It belongs to a class of
blessing objects called "Liberation through Touch", meaning that one will gain
liberation merely by wearing it. (In Nyingma lineage there are five types of "SelfLiberation
without Practice," the other four are through sight, hearing, smell, and
taste.) The central deity is Adi Buddha or Samantabhadra Buddha, with surrounding
mantras representing the deities in the mandala, probably including all 100 peaceful
and wrathful Yidams.
Yogi C. M. Chen often distributed this mantra sheet freely, and those who wear it as
an amulet often have inspirational experiences. In order to wear it, the sheet first
needs to be folded one-third horizontally and vertically into a small square, such that
the image and halo at the center is completely on the square's outside surface facing
the body. For use as an amulet, one could put it in a small (preferably blue) cloth bag
and hang it around the neck. Position of this amulet should not be lower than that of
the heart. When one needs to have a needle injection, it is necessary to hold the
amulet slightly above the body, so as to indicate that it is only the Karmic body that
gets the needle. The amulet could also be hanged inside a car for protection, or the
entire sheet may be framed and worshipped on the altar. One can also burn it to
receive blessings. When put on a deceased body, the deceased could gain rebirth in
Pureland. The image of this sheet can be printed out for use in the above ways. Do
not sell this sheet for profit.
====
普賢王如來壇城符
簡繁轉換 - 繁體
林鈺堂博士指導
林成穗敬述
此符是由陳健民上師傳下,為觸解脫 ,意指以此符佩身即能得到解脫(此 寧瑪傳承五不修自解脫法之一,餘四 為見、聞、嗅、嚐,此其未贅)。中 主尊是普賢王如來,環繞的多種咒文 表其壇城中各尊聖眾,可能忿寂百尊 全部包括。
陳上師常以此符贈人結緣,佩戴者屢 感應。佩戴此符應先將之摺成九宮, 中央之佛像(包括身光)成為九宮之 中宮而朝外。佩戴作護身符時以布袋 藍色為宜)盛之掛頸上。配戴時佛像 朝自身以加被之,高度不低於心為合 。若遇就醫打針時,應將符略為舉高 身以示受針者只是業報身。亦可掛於 上祈保交通安全,或將整張裝框供於 佛壇,也可以將之火化領加持。死時 於屍體上,可得往生。此符圖像可以 行印出使用。不可售賣圖利。
二○○四年五月
http://s1.upanh123.com/2016/12/16/li...n_2_263056.jpg
( http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=5518.0 )
Đồ hình trên bao gồm các câu chú có khả năng thanh tịnh nghiệp của chúng sinh thông qua sự nhìn thấy, đó là:
1. Lục Đạo Kim Cang Chú: A Ah Sha Sa Ma Ha.
2. Câu chú Hanu: Om Hanu Pasha Bhara He Ye Soha.
3. Chú Luân Xa Như Ý: Om Padmo Ushnisha Vimale Hum Phat.
4. "Terma Giải Thoát Thông Qua Sự Thấy" được khám phá bởi Terton Mingyur Dorje ở thế kỷ 17.
Nguyện đem công đức này hồi hướng cho tất cả mọi chúng sinh mong họ thoát khỏi mọi nỗi khổ đau.
Đồ hình giải thoát thông qua sự đeo được cung cấp bởi Kyabje Kangyur Rinpoche
( http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=5375.0 )
Đồ hình này là một Tagdrol (Người Tây Tạng gọi là giải thoát thông qua sự đeo). Tagdrol được biết đến như là một trong sáu phương cách để giải thoát mà không thông qua thiền định, bao gồm: giải thoát thông qua sự nghe (Thodrol), giải thoát thông qua sự thấy (Tongdrol), giải thoát thông qua sự nhớ nghĩ đến (Drendrol), giải thoát thông qua sự xúc chạm (Regdrol), giải thoát thông qua sự đeo (Tagdrol), và giải thoát thông qua sự nếm (Nyongdrol). Đồ hình này được vẽ bởi Kyabje Kangyur Rinpoche dựa vào Terma thực hành về Akshobhya Vajrasattva.
Những linh tự và biểu tượng trong đồ hình này tượng trưng cho những thần chú của các vị trì minh vương, các vị thần an bình và phẫn nộ. Nhằm để giúp làm giảm nhẹ những nỗi khổ đau suốt thời gian trong trạng thái thân trung ấm (trạng thái trung gian giữa sự chết và sự tái sinh). Đồ hình này thường được đặt trên cơ thể của người chết và cũng như được chôn hoặc hỏa táng theo cùng với cơ thể của người chết.
Đồ hình này nên được in ra không quá nhỏ và cũng không nên quá lớn, trong một kích thước mà các chủng tự có thể nhìn thấy được rõ ràng. Tốt nhất là trên giấy màu vàng, hoặc nếu giấy màu trắng thì sau khi in xong nên sơn lên một lớp nước nghệ và sấy khô. Đồ hình được đặt trên ngực của cơ thể người chết, không thấp hơn vị trí của trái tim, và đồng thời phải úp mặt giấy có in các câu thần chú lên cơ thể người chết, tiếp xúc được với cơ thể của người chết. Ngoài ra, phải tránh đặt lộn ngược các câu thần chú, đối với những người không đọc được tiếng Tây Tạng để đặt được đúng chiều thì lưu ý ở điểm : mũi của thanh kiếm ở góc trên bên phải của hình vuông phải chỉ về phía đầu của người chết.
http://s1.upanh123.com/2016/12/16/Ta...poche13c18.jpg
https://vi.scribd.com/document/15803...RinpocheYantra