Xin phép cho tui trả lời nha. Đó chính là chúa Giehova.
Printable View
Thời gugồ mà! Sợt là biết. Người công giáo là DẤU THÁNH GIÁ, MIỆNG NÓI "NHÂN DANH CHA-CON-THÁNH THẦN, AMEN". CHA là NGÔI CHA, LÀ CHÚA CHA, mà Môise đã gặp và gọi GIEHOVA. CON là NGÔI CON, CHÚA CON, GIESU KITO MESIA,. THÁNH THẦN là NGÔI CHÚA THÁNH THẦN, CHẲNG DỄ NHÌN THẤY ĐÂU. Chúa Giesu dạy rằng là THẦN KHÍ
Nhớ để ý địa chỉ web. Web của công giáo viết chuẩn
Vô wikipedia cũng được. Ổng là con của Amram, KO PHẢI CON ABRAHAM. LÀ CHÁU NHIỀU ĐỜI CỦA ABRAHAM
ÔI! Cơngió lạ miền tây là CƠN GIÓ NÀO? Cơn gió CHA DIỆP như cơn lốc thổi cho bạt vía mấy cái miệng ngông ngênh. ĐỪNG CÓ CÒN BÔ BÔ LÀ "KO CÓ ÔNG NÀO BÀ NÀO ĐẤNG NÀO....." NGE CHƯA! Cái ông hiệu trưởng trường phật học đó hả? Dạy phét lác. Cái ông THICH PHƯỚC TIẾN nữa, và lắm cái mồm VÔ THẦN, NÊN IM LẶNG, MỞ TO MẮT, BANH LỖ TAI, MÀ HỌC "SỰ THẬT".
Trước hết tôi xin lỗi anh bạn "congiolamientay", tôi mượn topic của anh để đưa bài này cho "tay ngông cuồng" đọc để sáng mắt ra một chút (chưa chắc gì hắn mở mắt, vì gần như giống dân IS hiện nay đang khũng bố trên thế giới, ngược lại hắn cũng muốn đem trở lại "thời trung cổ cực thịnh của Vatican" bằng cách đầu độc, xuyên tạc luôn cả kinh thánh của hắn, mà tôi nghi ngờ hắn thuộc loại chuyên làm chuyện gây thù oán tôn giáo với tôn giáo, để trục lợi một ý đồ nào đó, mà Mod, cũng như Admin không có cách khống chế để hắn đi rông phá phách hết topic này đến topic nọ, tôi cũng kêu gọi Mod (tôi cũng đang là Mod của 1 trang web) và các Admin hãy xữ dụng quyền của mình khi nhìn thấy những bài viết thiếu tính cách tôn trọng của chủ Topic (viết sai lạc đề của chủ đề, như vậy chỉ tốn dung lượng của ổ cứng mà BQT thuê bao!).
Có lẽ tôi sẽ copy những bài viết của hắn qua Box "Đạo Thiên Chúa", sẽ mở 1 topic dành riêng nói về đạo Thiên Chúa dưới góc cạnh "phản đề" với những gì hắn đề cập, để cho bên Box "ĐTC" có lời bình luận!
ABRAHAM: ÔNG TỔ CỦA CÁC ĐẠO CHÚA
Các đạo thờ Chúa gồm đạo Do Thái, đạo Kitô và đạo Hồi đều có chung một ông tổ là Abraham. Abraham là người Do Thái, sinh trưởng tại thành phố Ur thuộc đế quốc Babylon, (hiện nay thuộc phía nam Iraq, gần giáp Kuwait) vào thế kỷ 20 trước công nguyên.
Theo các nhà khảo cổ thì, hiện tại vùng Lưỡng Hà Châu (Mesopotamia) là vùng đồng bằng được cấu tạo bởi hai con sông lớn Tigris và Euphrate, giống người Sumerians đã lập nên một nền văn minh quan trọng của thế giới cổ. Họ là những người đầu tiên xây cất những thành phố lớn, thời cổ gọi là những quốc gia đô thị (city-states) như UR, ERECH, KISH, BABYLON vào khoảng 4000 năm trước Công Nguyên. Tại những thành phố này, người Sumerians đã phát minh ra chữ viết, bánh xe, kỹ thuật luyện kim, vườn treo, những tháp Babel (trong kinh thánh Do Thái) những điều luật thành văn, thơ văn và rất nhiều huyền thoại. Trong số những huyền thoại của Sumerians có chuyện vườn Địa Đàng của đạo Do Thái sau này (Garden of Eden).
Năm 2300 trước Công Nguyên, giống dân Semitic-Akkadians tức giống Do Thái-Ả Rập dưới sự lãnh đạo của vua Sargon đã chiếm toàn vùng Lưỡng Hà Châu. Hai nền văn hóa Semitic - Akkadian và Sumerians hòa đồng và phát triển trong 300 năm. Tới năm 2000 trước Công Nguyên, giống dân Armonites chinh phục các quốc gia đô thị trong vùng Lưỡng Hà Châu và lập nên đế quốc Babylon. Họ chọn đô thị Babylon làm thủ đô cho cả đế quốc. Babylon hiện nay là vùng sa mạc, cách Baghdad thủ đô Iraq khoảng 80 dặm về phía nam. Những người sống trong đế quốc Babylon tin tưởng thủ đô của họ là nơi linh thiêng, là cái cổng của thiên đàng. Babylon được xây dựng như hình ảnh của nước trời (an image of heaven). Mỗi một ngôi đền, mỗi một ngọn tháp hay một khu vườn treo (hanging gardens) là một bản sao của các lâu đài trên thiên đàng (a replica of celestial palace). Tại các đền thờ, các tu sĩ làm lễ và đọc sách Thánh Kinh mà họ gọi là Enuma Elish. Thánh kinh thường được viết dưới dạng thơ có nội dung ca tụng các vị thần đã chiến thắng sự hỗn mang trong vũ trụ (the victory of the gods over chaos). Trong số các vị thần đó có thần El mà tượng của "ngài" là một con bò đực mạ vàng (the gilded bull). Babylon là tiếng ghép lại từ hai chữ Bab và Ili, có nghĩa là Cái Cổng của Trời (Gate of God). "Tư tưởng cốt yếu của người Babylon là: không có vật gì tự nhiên mà có. Trước khi có thần thánh và con người, một vật tự hữu thiêng liêng đã có từ trước vô cùng" (There was no creation out of nothing. Before either the gods or human being existed, a substance which was itself devine had esixted from all eternity - A History of God p. 7).
Đó là tư tưởng sơ khởi về một Thiên Chúa cho các đạo thuộc hệ thống Độc Thần Giáo sau này. Những quan niệm của người Babylon về thiên đàng, về thánh kinh, về đất thánh (Holy place) và về thần quyền (sacred power) là những yếu tố quan trọng làm nền móng cho cả 3 đạo Do Thái, Kitô và đạo Hồi.
Đế quốc Babylon được thành lập cách đây khoảng 4000 năm, nhưng trước đó có những thành phố khác trong đế quốc như thành phố Ur đã được xây cất từ năm 5500 TCN. Ur là một trong những thành phố cổ nhất thế giới vì tính tới nay thành phố này đã có 7500 tuổi! Thành phố Ur và toàn vùng Babylon đã bị hủy diệt do một trận lụt lớn gây ra vì sự đổi dòng của con sông Euphrate vào cuối thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên, cả vùng này trở thành sa mạc vì thiếu nguồn nước. Các nhà khảo cổ gọi nền văn minh ở vùng này là "nền văn minh của dân Sumerian trước đế quốc Babylon" (the pre-Babylon Sumerian civilization). Chính tại thành phố Ur, các nhà khảo cổ đã tìm thấy những dấu vết về nhân vật Abraham (thực sự là những huyền thoại nói về Abraham) ông tổ chung của đạo Do Thái, đạo Kitô và đạo Hồi. Tại thành phố này, người Sumerians đã phát minh ra bánh xe, chữ viết, một giờ có 60 phút, vòng tròn có 360 độ. Thành phố này cũng đã phát sinh ra các bạo chúa (tyrans) và các cuộc tàn sát đẫm máu về tôn giáo. Nhiều bạo chúa tại thành phố này đã tự xưng là thần thánh từ trời xuống cai trị muôn dân bằng thần quyền (to rule by divine right). Dân Sumerians biết luyện kim để đúc lưỡi cầy khiến cho những cánh đồng của họ thêm màu mỡ và biết dẫn thủy nhập điền để tạo nên một nền nông nghiệp phồn thịnh. Tuy nhiên, họ cũng dùng luyện kim để đúc giáo mác và mũi tên đồng khiến cho những ruộng lúa xanh tươi của họ trở thành những cánh đồng máu (killing fields).
Sẻ viết gởi tiếp phần sau.
Xem thêm để biết:
http://kilopad.com/Ton-giao-Tu-tuong...hao-co-t127766
Tôi chưa cần đọc hết, mới đọc câu đầu là ABRAHAM LÀ NGƯỜI DO THÁI, là lòi cái dốt dốt dốt đặc của ổng. DO THÁI là gì? Từ đâu LÒI RA CÁI CHỮ DỜ O DO, THỜ AI THAI SẮC THÁI, "DO THÁI", HẢ ÔNG QIN? Ông dốt thì dựa cột mà nge!
Ổng nói ABRAHAM LÀ NGƯỜI DO THÁI SỐNG Ở BABYLON. Vậy cha mẹ Abraham là DÂN TỘC GÌ? Lòi ra cái dốt của ông rồi đấy!
Dân tộc Do Thái có mười mấy triệu thôi mà sao lắm người tôn sùng quá. Mấy cái sách trí tụê Do Thái bán đầy ngoài nhà sách.
DÂN ISRAEL CÒN SỜ SỜ RA ĐẤY, MÀ LẠI KO BIẾT RÕ SỬ SÁCH CỦA MÌNH À? Ấy lại CÓ THỨ LẾU LÁO XUYÊN TẠC SỬ SÁCH NGƯỜI TA ẤY CHỨ NHỈ?!
Thiên Chúa Elohim của Đạo Do Thái Nguyên thủy
(Pre-Mosaic Judaism)
Đạo Do Thái được chia ra làm hai thời kỳ rõ rệt. thời kỳ đầu được gọi là Đạo Do Thái trước Moises (The Pre-Mosaic Judaism) do Abraham sáng lập khoảng năm 2000 TCN. Thời kỳ sau được gọi là đạo Do Thái của Moises hay là Đạo Mai-sen (The Mosaic Judaism) do Mai-sen canh cải từ đạo Do Thái nguyên thủy của Abraham (năm 1250 TCN) mà ra.
Đối với người Do Thái, Abraham và con trai là Isaac, cùng với cháu nội là Jacob được coi là 3 vị tổ phụ lập quốc và lập đạo Do Thái. Họ gọi chung các vị này là "các thánh tổ phụ" (The Fathers).
Theo Cựu Ước, dòng họ Abraham là những người chăn cừu chuyên nghiệp cha truyền con nối. Sau này, đến đời Vua Salomon, một người cháu của dòng tộc Abraham là Job làm chủ một đàn cừu lên tới 14.000 con. Job cung cấp cho triều đình nhà vua 100 con mỗi ngày. Các chủ nhân thuê nhân công trong đám dân hạ tiện sống cô đơn ở những nơi hoang dã để chăn cừu cho họ. Vũ khí của những công nhân chăn cừu là những cái ná làm bằng da dê dùng để liệng những hòn đá to bằng nắm tay có thể giết người hoặc thú dữ (tương tự như cái ná vua David dùng để giết Goliath trong phim David and Bethsabe). Vũ khí thông thường nhất là một cây gậy dài có đóng đinh sắt ở đầu. Với cái gậy này, các người chăn cừu có thể chống cự các thú dữ ở sa mạc như sói, sư tử, gấu, linh cẩu và sơn cẩu. Thức ăn của họ là olive, chà là, phó mát, sữa và bánh mì. Vì ở sa mạc không mưa nên họ chỉ làm những mái rạ sơ sài để che nắng. Bình thường, họ ngủ ngoài trời bên cạnh bầy cừu bầy dê của họ. Vì quen sống giữa cảnh thiên nhiên bao la, họ thường nhìn lên trời ngắm trăng sao và hay tưởng tượng đến các vị thiên thần từ trời xuống báo tin này tin nọ. Ba đạo thờ Chúa đều bị ảnh hưởng bởi đời sống của giống dân du mục Do Thái nên trong Kinh Thánh của các đạo này thường nói đến thiên thần báo tin về những điềm lạ sẽ xảy tới. Đặc biệt trong cả 3 đạo này, các vị lãnh đạo tôn giáo thường ví tín đồ của họ như những con chiên (lambs) tức cừu non. Họ thường giết dê hay cừu để làm vật hy sinh tế thờ Thiên Chúa. Sau này, những người Ki Tô Giáo coi Chúa Jesus như một vị hy sinh mạng sống để chuộc tội nhân loại nên ví ngài như một con Chiên của Đức Chúa Trời (The Lamb of God) hoặc gọi ngài là đấng Chăn chiên lành (The Good Shepherd).
Huyền thoại giáng sinh của Jesus cũng là một cảnh sống của dân du mục: Máng cỏ hang lừa, ngôi sao lạ, Jesus sinh ra giữa đêm đông lạnh lẽo được bò lừa kéo đến hà hơi sưởi ấm... Các giám mục hồng y và giáo hoàng mỗi khi làm lễ thường mang một cây gậy mạ vàng tượng trưng cho cây gậy chăn cừu của dân du mục Do Thái thời xưa. Các danh từ giám mục, linh mục hay mục sư đều có ngụ ý "chăn dắt" con chiên. Mối tương quan giữa các tu sĩ lãnh đạo và đám giáo dân là mối tương quan giữa những ông chủ và bầy súc vật vừa non nớt vừa ngu dại như bầy cừu non (chiên). Bổn phận của giáo dân là phải vâng lời các cấp lãnh đạo tinh thần của mình, nếu bất tuân sẽ bị ghép vào tội kiêu ngạo hoặc nặng hơn là "dám phản nghịch cùng Chúa"! Đó là thói quen của các tu sĩ Công Giáo La Mã đối với giáo dân trong những thế kỷ trước. Ngày nay, cách đối xử tuy có bớt xa cách nhưng trong các cộng đoàn Công Giáo Việt Nam, nhiều giáo dân lớn tuổi vẫn quen với thái độ khúm núm mỗi khi tiếp xúc với các cha cố trẻ tuổi chỉ đáng tuổi con cháu của họ. Cũng như tổng thống Diệm là quốc trưởng một nước vẫn thản nhiên khom lưng cúi xuống hôn tay những Hồng y của Vatican vậy!
Những người du mục Do Thái quen sống trong vùng sa mạc Syro-Arabi có nhiều núi đá. Tự nhiên họ có lòng tôn sùng đặc biệt đối với những cột đá lớn, những đống đá cao hoặc những núi đá. Đối với họ, đá là biểu hiện của sự trường cửu và thiêng liêng. Tâm lý này được thể hiện trong đạo Do Thái và đạo Hồi. Vật thiêng liêng nhất được tôn thờ tại đền thánh Jerusalem là Bia Thánh (Sacred Stone). Nơi linh thiêng nhất của đạo Hồi là thánh địa Mecca ở Saudi Arabia, tại đây một tảng đá đen khổng lồ hình khối được gọi là Ká-Ba, tượng trưng cho Thiên Chúa, được cả thế giới Hồi Giáo ngưỡng mộ. Tảng đá đen Ká-ba được phủ lụa đen. Các người Hồi Giáo từ khắp nơi kéo đến hành hương, ít nhất một lần trong đời, chỉ cốt được chạm tay vào tảng đá này! Những người đàn ông mặc áo dài trắng hoặc đen, đàn bà phủ khăn trùm đầu, tất cả tạo thành những vòng tròn chung quanh tảng đá theo các vạch kẻ sẵn để cầu nguyện. Đoàn hành hương đi vòng quanh tảng đá 7 lần, tượng trưng cho 7 tầng của Thiên đàng. Đến hết vòng 7, họ ôm lấy tảng đá và hôn. Đó là ước vọng cao quí và thiêng liêng nhất trong đời của mọi người Hồi Giáo trên khắp thế giới.
Vị Thiên Chúa mà Abraham, Isaac và Jacob tôn thờ là thần El-Shaddai. Shaddai có nghĩa là đá. Thần El-Shaddai là vị thần của đá (El of the Rock). Khi ca hát để chúc tụng thiên chúa El, họ gọi ngài là Eloa. Dân Sumerians tôn thờ thần El từ khoảng năm 5500 TCN, tức trước khi có đế quốc Babylon. Tiếng Semitic (Do Thái) gọi EL là Elim. Elim là danh từ số ít, Elohim là danh từ số nhiều nhưng lại nghĩa là MỘT (Elohim is one) vì Elohim bao hàm ý nghĩa thần El là vị thần của tất cả mọi sự (The All-God). Thần El là Toàn Thể (The one who is All) gần tương tự như Toàn Năng (The Almighty-The Absolute Power). Thần El là vị thần chân thực của các thần (The one true God of gods) là vị thần được mọi người gọi bằng nhiều tên khác nhau nhưng sự thực chỉ là một (many names of the one true God). Thần El là tổng thể của mọi sự thiêng liêng (The totality of the Divine).
Các công trình nghiên cứu cổ vật đã khai quật được tại Iraq, Palestine và Syria cho thấy đạo thờ một thiên chúa đầu tiên là đạo thờ thần Elohim của Abraham. Abraham là người đầu tiên có ý kiến chỉ thờ một vị thiên chúa duy nhất. Đến đời cháu nội của ông là Jacob, đầu thế kỷ 19 TCN, toàn thể 12 bộ lạc Do Thái dưới sự lãnh đạo của Jacob đã di cư về đồng bằng sông Nil (Ai Cập) và định cư tại đây nhiều thế kỷ. Sau khi thống nhất các bộ lạc Do Thái thành một quốc gia, Jacob đặt tên nước Do Thái là Isra-El để vinh danh thần El . Jacob đã thuyết phục các bộ lạc Do Thái gạt bỏ mọi thần khác mà chỉ tôn thờ thần Elohim dưới hình tượng con bò đực. Thường là tượng bò đực mạ vàng (the gilded bull) hoặc có khi là tượng đúc bằng vàng (the molten bull). Đạo thờ bò của Do Thái kéo dài 750 năm. Đến 1250, đạo này biến thể.
Muốn biết Abraham gốc gác từ đâu, chịu khó theo dõi bộ phim "Ancient Aliens", thì sẻ biết.