-
Khóa Phowa 2010: Khó mà Không Khó
( http://www.amitayus.net/vn/?p=321 )
phowa_cutThông thường mọi người đều nghĩ là tu mật tông là một con đường khó và chỉ dành cho những người có căn cơ đặc biệt, tôi vẫn thường nói với mọi người chỉ có những người ù lì, tức là dường như không có tham sân si mới không tu được mật tông mà thôi, còn những người thường như quý vị và tôi đều có thể tu mật tông với một ít ước nguyện thành tựu bồ đề là đủ.
Điều này ít người dám tin và nghĩ đến. Nhưng khóa tu Phowa vừa qua đã chứng minh rõ ràng đây là một sự thật.
Theo dự tính ban đầu thì người Đức sẽ tham dự khóa tu này nhiều hơn là người Á Đông, nhưng càng gần đến ngày khóa sổ thì số người Đức bị bận không đến dự được ngày càng nhiều và ngược lại số người Việt ghi danh đông hơn! Cuối cùng thì khóa tu có số người Việt là đông nhất với 21 vị (5 tu sĩ và 16 cư sĩ), chỉ có 9 người Đức tham dự và 2 người Hoa.
Chương trình chính thức mỗi ngày bắt đầu từ 6 giờ 30 ăn sáng và mỗi ngày tu tập tám tiếng gồm ba thời: 8 giờ đến 11 giờ, 14 giờ đến 17 giờ và 19 giờ 30 đến 21 giờ 30. Nhưng người Việt chúng ta lại tinh tấn hơn, tham dự cả thời công phu khuya từ 4 giờ đến 6 giờ của chúng thường trụ ở tu viện nữa.
Chính những vị tham dự khóa tu cũng không ngờ là mình có thể ngồi mỗi ngày như vậy là 10 tiếng để tu tập. Thật sự có những lúc chân cũng mỏi, hôn trầm kéo đến như một đám sương mù che mất đi tánh giác đang nhen nhúm trong tâm. Nhưng phần nhiều thì mọi người đều cố gắng tối đa để đạt được kết quả cao nhất trong khóa tu ngắn ngủi này.
Một số vị đến từ trưa hay chiều ngày thứ năm 17.06 thì còn được dự thêm một buổi quán đảnh về ngài Văn Thù bốn tay, những vị khác trong khóa tu đều nhận lễ quán đảnh về ngài A Di Đà và cuối khóa lễ quán đảnh về ngài Vô Lượng Thọ. Chắc hẳn là những vị chưa quen với mật tông sẽ hỏi “lễ quán đảnh là lễ gì? Không biết có giống như ‘truyền tâm ấn’ không nữa!”.
Xin được giải thích ngắn ở đây cho mọi người dễ hiểu: “lễ quán đảnh” là một truyền thống trong vương triều Ấn Độ xa xưa, khi một vị Thái Tử được lên ngôi, thì sẽ nhận một buổi lễ quán đảnh (dội nước lên đầu – cũng tương tự như lễ rửa tội của thiên chúa giáo – không biết đây có phải là nguồn gốc của lễ rửa tội không?), trong buổi lễ này vị Thái Tử sẽ được đội lên đầu vương miện, giao cho cây vương trượng biểu tượng của vương quyền và giao cho quyền quyết định của một vị vua.
Lễ này được sử dụng trong mật tông với một ý nghĩa tương tự như vậy. Người thọ lễ được trao cho quyền tu tập pháp môn này với tư cách của một vị Pháp Vương. Phần nhiều chúng ta đều khựng lại ở đây, không những những vị không dự lễ và không quen với truyền thống này sẽ la lên “làm sao một con người bình thường mà lại dám tự nhận mình là Pháp Vương, là Phật!” mà ngay cả những vị nhận lễ và đi trên con đường này vẫn thường phân vân và chưa dám can đảm nhìn thẳng vào bản thể của mình, vào tự tánh của mình, vào chân thật tướng của mình, để có thể chấp nhận lời đức Phật nói một cách đúng đắn: “ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”, bởi vì trên thực tế thì không có một vị Phật nào được thành cả, mà chỉ là sự trở về với cái vốn có của mình mà thôi.
Nếu thật sự có một cái Phật được thành tựu, thì cái Phật ấy cũng phải nằm trong nguyên lý tự nhiên “thành, trụ, hoại, không” của các pháp rồi. Ở đây khi chúng ta xác nhận cái bản giác của mình, không phải là mình lập tức “là” Phật trên phương diện hiện tượng, mà chỉ là xác định trở lại cái bản chất của mình để từ đó có thể sống trở lại theo bản chất này. Thế thì cái gì là cái bản chất thật của một vị Phật, đó là trí tuệ Bát Nhã và tâm Từ Bi vô lượng bồ đề. Nói một cách khác khi một hành giả đã xác định bản giác của mình thì bắt đầu sống thuận với hai yếu tố vừa nêu trên, để dần trở về với cái chân thật tánh của mình.
Giờ xin trở lại với khóa tu Phowa, chuyển di tâm thức. Trong khóa tu này người hành giả được hướng dẫn một phương pháp đặc biệt, dĩ nhiên đây là một pháp thuộc mật tông nên chúng tôi không tiện ghi ra chi tiết, để đưa thần thức của mình đi về với đức Phật A Di Đà; dựa trên ba yếu tố quan trọng là sự phát nguyện vãng sanh, niềm tin và âm thanh của các chủng tự. Tất nhiên là những pháp tu của mật tông luôn luôn gắn liền với sự quán tưởng, nhưng với những hành giả chưa quen quán tưởng thì niềm tin vẫn là một yếu tố quan trọng và lại là một phương tiện thiện xảo tuyệt vời thay thế cho khả năng quán tưởng. Vì vậy mà những vị tổ trong phương pháp tu tập này mới dám cả quyết đây là một pháp tu mà bất cứ người già – trẻ, ngu – trí, có kinh nghiệm tu tập – mới bước chân vào đạo, v.v. đều có được những dấu hiệu thành tựu trong pháp tu này.
Quả nhiên như vậy, những vị tham dự khóa tu với đầy đủ mọi thành phần và chủng tộc đều có những dấu hiệu ít nhiều về sự thành tựu của khóa tu. Ngoài ra vị Khenpo (chữ Khenpo theo trường phái Gelug có nghĩa là vị trụ trì, nhưng theo những trường phái khác, như vị Khenpo Sherab Loedro ở đây theo trường phái Nyingma có nghĩa là vị học giả – tiến sĩ phật học) còn giảng giải về bốn yếu tố căn bản của một hành giả phật giáo, đây là những bài học rất ư là căn bản mà hầu như một vị hành giả phật giáo nào cũng phải thông thuộc cũng như hành trì để có thể phát triển sự tu tập mình một cách đúng đắn, đó là: 1) cái được gọi là quý hiếm của thân người, 2) sự vô thường của các pháp, 3) bản chất khổ của hiện hữu và 4) nhân quả chi phối tất cả pháp.
Tất nhiên những vị học giả phật pháp sẽ hô lên ngay “những điều này quá xưa rồi, ai cũng biết” và ở đây câu đáp đúng đắn có lẽ là câu nói của Ô Sào Thiền Sư “điều mà trẻ nít lên ba cũng biết mà người già chín mươi làm không xong”. Vấn đề ở đây không phải là học hiểu mà là học hành, vả lại cái pháp của đức Phật không thể không hành mà hiểu được, cái mà chúng ta chỉ học hiểu là cái logic của sự suy luận theo lẽ thường tình chi phối bởi kinh nghiệm thế tục mà chúng ta hằng kinh qua chứ không phải cái mà đức Phật muốn giới thiệu đến với chúng ta. Khenpo đã không giới thiệu những pháp này như là những bài giáo lý thường thức mà là những phương pháp áp dụng trong sự hành trì căn bản của một hành giả.
Trong khóa tu cũng có một số vấn đề được đặt ra, chúng tôi xin ghi lại đây để quý vị cùng tham khảo:
– người tu Phowa có thể làm pháp này để trợ niệm cho người thân, bạn bè của mình hay không?
* Dĩ nhiên là được, lúc đó mình phải áp dụng một số quán tưởng và hành trì để giúp người thân, bằng hữu của mình vãng sanh. Tuy nhiên, nếu mình chưa thật sự thuần thục hay có một sự thành tựu khả dĩ trong pháp tu này thì nên nhờ đến những vị có kinh nghiệm thành tựu giúp đỡ sẽ đạt được kết quả hữu hiệu rõ ràng.
– làm sao biết được người chết thật sự đã được giúp đỡ bởi pháp phowa?
* Một trong những dấu hiệu rõ ràng nhất là trên đảnh môn hiện ra một lỗ hổng (nếu theo phong tục điểu táng thì người ta sẽ phát hiện nơi sọ não của người mất có một lỗ hổng), hoặc người có tóc thì tóc nơi đó sẽ rụng xuống khi chúng ta chỉ cần rứt nhẹ ra. Những dấu hiệu khác thì cũng giống như trường hợp hộ niệm qua phương pháp niệm danh hiệu đức Phật.
– có thể làm pháp Phowa để giúp đỡ một số đông người, ví dụ như khi bị một tai nạn hay thiên tai gì đó mà nhiều người chết cùng một lúc?
* Điều này có thể làm được, hành giả phải dùng pháp quán tưởng như giúp cho một người, nhưng lúc này thì quán tưởng tất cả thần thức của mọi người chết. Chỉ cần quán chung như vậy, chứ không nên quán từng người, bởi nếu thiếu sót một người nào đó trong số tử nhân thì không hay.
– có phải tu tập pháp Phowa mỗi ngày hay không?
* Không nhất thiết là phải tụng đọc tất cả các phần trong nghi quỹ, và phát âm những chủng tự lớn tiếng; hành giả chỉ cần những khi nhớ nghĩ đến vấn đề Phowa liền thực hiện pháp quán tưởng với ba yếu tố: con đường (đạo lộ), chủ thể và mục tiêu, rồi thực hiện sự chuyển di thần thức thầm trong lòng là được. Ví như người học lái xe, sau khi đã được bằng lái vẫn phải lái thường xuyên thì mới trở thành người lái giỏi, bằng không thì sẽ bị lùi sụt và khi ngồi lên chiếc xe sẽ bở ngỡ không biết làm sao mà sử dụng vậy.
– có thể thực hiện pháp Phowa với những người không phải là phật tử hay không?
* Vẫn được như thường, vì cái mà người mất kinh qua chính là bản giác chân thật của họ, dầu họ có nhận thức cái đó là gì đi nữa thì nó vẫn luôn là cái chân lý bất biến, khi vào trong biển giác ấy rồi, thì chỉ còn đơn độc một vị giải thoát mà thôi. Tuy nhiên, người trợ niệm phải khéo léo không thể hiện bất cứ một hành động nào để người mất cũng như những người chung quanh phải nghi kỵ hay kỳ quái trước những nghi thức của mình.
– đối với người đã mất quá 49 ngày còn có thể làm pháp Phowa nữa không?
* Nếu nhờ vào một vị đại thành tựu có được trí giác cao nhìn thấy được nơi tái sanh của người mất thì vẫn có thể giúp được người ấy trở về với bản thể của mình.
Dĩ nhiên là còn rất nhiều câu hỏi được đặt ra, nhưng không liên quan trực tiếp với đề tài Phowa chúng tôi xin miễn ghi lại ra đây. Điều mà chúng tôi muốn trình bày là quý vị đã tham dự khóa tu nên nhớ nghĩ thường xuyên đến pháp mà mình đã học để ôn luyện hầu có một kinh nghiệm thiết thật trong đó để tự giúp mình và giúp đỡ người khác. Những vị chưa có cơ duyên tham dự cũng có thêm chút ít thông tin để có thể hiểu biết thêm một phương pháp khác của pháp tu Tịnh Độ.
Nam Mô A Di Đà Phật.
Thích Hạnh Tấn
-
-
Có người hỏi rằng: Hằng ngày con đi ngang chợ gặp rất nhiều loài vật bị bày bán, giam nhốt, nhưng con không thể nào giúp tất chúng được vậy con có tội gì không?! Nếu làm ngơ thì có phải con không xứng là người phật tử?!
Thầy có phúc hồi rằng: (gặp) thì mới chỉ là (hội), muốn biết có tế độ được chúng hay không thì phải còn chờ cái (duyên), tức là phải đủ (hội-duyên).
Thầy tỉ dụ: nếu ta đi ngang qua chợ ta thấy rất nhiều người bán cá, đó mới chỉ là (hội) tức chỉ thấy qua trong hằng hà sa chúng sanh mà ta từng thấy, nhưng có một con cá vô tình hay hữu phận nhảy khỏi thau vào người ta, vậy ta nên nghĩ rằng đó là cái duyên. Khi đủ duyên, đủ hội rồi lòng ta nên chí thành phát nguyện trợ sanh cho chúng, thì đó là điều cần kíp, nên làm! Chứ không phải hể thấy mà không cứu thì mang tội lỗi gì đâu! Lòng ta xót thương loài vô minh gieo tạo chướng nghiệp nên bị đọa đày, mong muốn tế sanh cho chúng là điều trân quý và chính hữu. Nhưng vạn sự tùy căn duyên, tế độ tùy (hội, nghiệp)!
Nhân đây thầy cũng nói qua về việc tế sanh.
Trong tam giới ứng với mỗi loài chúng sanh đều có Chi Thần, Chi Tiên độ trì, gia hộ và cũng vì lẽ đó cho nên việc phóng sanh, tế độ cho mỗi loài lại có những ứng linh, phúc báo khác nhau:
Tỉ dụ như bậc làm phụ mẫu, muốn cho con mình thông tuệ, học hành khoa bảng tiến thăng thì nên ươm mầm tế sanh loài RÙA.
Còn như có cha mẹ già muốn cầu họ trường thọ, mạnh lành thì lại nên phóng sanh, tế độ các loài Cá Trứng (cá mang trứng sắp bị giết).
Vậy thì vì sao tế sanh loài Rùa lại ứng linh cho người học hành khoa bảng?!
Cái này thì không phải do (rùa đội bia tiến sĩ) mà ra đâu!
Vì sao trong cổ văn người ta lại cho rằng RÙA làm thừa tướng LONG CUNG? và vì sao hể có điều gì may mắn bất chợt người ta lại nói (HÊN RÙA, ĂN RÙA - hàm ý chỉ điều hạn hữu, ngẫu nhiên)?!
Tích sử truyền rằng khi xưa THÍCH CA MÂU NI ẩn tu trong rừng tháng ngày khổ hạnh có một con QUY đã đến bái ngài làm thầy (dù khi này THÍCH CA MÂU NI còn chưa chứng ngộ toàn giác), ngài đồng ý nhận lời và hứa khi nào triệt ngộ sẽ độ cho CON QUY ấy được tu hành theo.
Sau khi Thế Tôn chứng ngộ một thời gian, lần nọ Thế Tôn ngồi tọa thiền bên một dòng suối giữa đêm có một ánh sáng từ dòng suối ấy hướng về nơi Thế Tôn ngồi, thì ra đó chính là Linh Quy khi xưa đã xin cùng ngài được học đạo.
Linh Quy tuy đã sống nhiều ngàn năm, hấp thụ linh khí đất trời nên đã có thể hóa hiện thành người, tuy nhiên vì là loài vật cho nên căn tánh chậm chạp, trí tuệ kém cỏi. Vì vậy dù Thế Tôn đã dùng thần thông Ba La Mật Đề để truyền thụ chánh pháp nhưng Linh Quy vẫn không thể tiếp thâu.
Linh Quy giận mình ngu dốt, u mê định bỏ đi thì Thế Tôn liền dạy: (Phàm với những người căn tánh thông minh ta chỉ chọn một người trong một vạn để độ, vì pháp của ta không dành cho người tự phụ, ngạo mạn, kiêu căng.
Phàm với người căn tánh trung bình trong vạn người ta có thể chọn 3 để độ, vì pháp của ta cần người có đủ Huệ Căn lãnh hội.
Phàm với người trí tuệ chưa thông mà tâm thành cầu pháp thì trong một vạn người ta chọn được một trăm để độ. Vì pháp của ta giúp người mê tỉnh thức, người tối minh thông, chánh cầu, chánh định), nay ta truyền cho ngươi pháp huấn BA LA MẬT ĐỀ, về sau chỉ cần ngươi chăm chỉ, siêng năng, ngày đêm tu học sẽ đạt thành tuệ trí viên mãn.
Kể từ giây phút đó không lúc nào Linh Quy không học, học về thủy tộc các loài, học về tam giới, học về pháp huấn Ba La Mật Đề mà thế tôn truyền thụ, đến hơn 500 năm sau Thế Tôn nhập diệt thì Linh Quy đã đắc thành Hộ Pháp Tứ Linh.
Và vì kiến thức uyên bác đã được Long Vương phong làm Thừa Tướng cai quản tất cả mọi loài thủy tộc.
Linh Quy cho rằng việc mình ngu khờ lại được Phật chỉ dạy Ba La Mật Đề là điều vô cùng hạn hữu, may mắn nên kể từ đó ông thường ra sức trợ thần cho những người hữu thiện mong cầu điều khó khăn, không tưởng được thành hiện thực.
Vì nhân duyên này, cho nên về sau với những người học hành, khoa bảng mà lòng chí thành tế độ các loài RÙA, LINH QUY như (phóng sanh, giúp đỡ, bố thí đồ ăn...v..v) khi duyên lành đủ lớn thì việc học hành khoa bảng được Linh Quy gia trì dễ dàng hanh thông, tiến thuận!
-
Lời Khuyên cho những Hành Giả cận kề cái chết.
sterbende_valentinedo Dodrupchen Jikmé Tenpé Nyima
Dịch sang Anh Ngữ bởi Adam Pearcey, 2006, hồi hướng cho Ian Maxwell.
dịch Việt Ngữ Vô Thức Tỳ Kheo – Thích Hạnh Tấn
( http://www.amitayus.net/vn/?p=157 )
Bạn cần phải chuẩn bị cho giờ phút lâm chung. Có rất nhiều điều cần phải lưu ý trong việc này,
nhưng tôi chỉ nói về một số chi tiết ở đây thôi. Tóm lại, những điều được nói ở đây là thiết yếu để các bạn sử dụng vào lúc lâm chung.
Hãy tự nhắc nhở thật nhiều lần: “cái chết có đến muộn hơn hay sớm hơn, cuối cùng thì cũng không làm sao thoát được việc phải bỏ lại thân thể này và tài sản này. Đó là một nguyên tắc chung cho cả thế giới này”. Khi nghĩ như vậy hãy cố gắng hoàn toàn triệt bỏ mọi sự tham chấp và bám víu vào nó. Hãy sám hối tất cả các ác nghiệp mà bạn đã tạo ra trong đời này và nhiều đời trước, cũng như việc cố ý hay vô tình không giữ đúng những lời thệ nguyện mà bạn đã hứa, lại phải cầu xin thật nhiều lần là sẽ không bao giờ tái phạm vào những sai lầm như thế nữa.
Đừng cuống quít và sợ hãi đối với cái chết. Hãy cố gắng lấy tinh thần và phát một niềm vui thích, hãy nghĩ đến những pháp thiện và lành mà bạn đã tạo trong quá khứ. Không cảm nhận một niềm tự hào hay tự mãn nào, hãy mừng rỡ thật nhiều lần đối với những thắng lợi này. Hồi hướng tất cả những thiện nghiệp của bạn cũng như phát những lời thệ nguyện cao cả thật thiết tha và nhiều lần, để những đời sau bạn có cơ duyên thâm nhập đạo cao cả theo con đường đại thừa, dưới sự hướng dẫn của Thiện Hữu Tri Thức, và có đủ những đức tính như niềm tin, tinh tấn, trí tuệ và tỉnh giác – nói cách khác, những điều kiện thù thắng nhất, bên trong cũng như bên ngoài. Cũng hãy cầu nguyện để đừng bao giờ gặp phải Ác Hữu Tri Thức và có những cảm thọ bất thiện.
Trong luật tạng cũng ghi lại là nhân căn bản để có thể có được tái sanh thù thắng, như có một cuộc sống thánh thiện vào lúc đức Phật còn tại thế, là cầu khẩn và phát nguyện vào lúc lâm chung. Vì vậy nên có lời hướng dẫn là những gì gần nhất và quen thuộc nhất sẽ có ảnh hưởng cao nhất.<1>
Lời phát nguyện nào của bạn cũng cần nên gia tăng động lực bằng sự cầu khẩn quyết liệt như: “Trong tất cả đời, tôi sẽ làm những gì có thể để tu tập pháp Không với tâm Từ Bi một cách rốt ráo nhất!” để nhận biết giá trị của điều này; qua sự so sánh xem cái nào có tác dụng hơn, khi bạn nói là “tôi sẽ dậy sớm vào buổi sáng!” hay “ước gì tôi dậy sớm”.
Để có thể thành tựu được dễ dàng những lời nguyện hay những dự tính của bạn, điều lợi lạc căn bản là sự nương tựa vào hiện thân của một năng lực thiêng liêng. Vì vậy hãy nhớ nghĩ về một vị nào mà bạn có được niềm tin chắc thật, hay đến vị nào mà bạn cảm thấy có sự liên hệ mạnh mẽ nhất trong sự tu tập của mình; có thể vị đó là vị Đại Sư cao cả của xứ Oddiyana, Liên Hoa Sanh, hay đức Quán Thế Âm, vị Bảo Hộ của Thế Gian, với một sự tin thành vị đó là hiện thân của nguồn lực để bạn có thể nương tựa, hướng đến vị đó một lòng cẩu khẩn cho sự thành tựu nguyện lực của bạn.
Vào giờ phút lâm chung rất khó mà tập trung tư tưởng được để thiền quán về một cái gì mới mẻ hay không thuần thục, vì vậy bạn cần phải chọn một pháp tu trước và thực hành nó cho đến lúc thuần thục. Sau đó, trong quá trình chết, bạn cần phải chuyên chú vào pháp tu này càng tập trung càng tốt, như là nhớ nghĩ đến đức Phật, hay phát tâm Từ Bi, hay phát sự kiến giải về Tánh Không, hay nhớ nghĩ về Pháp hoặc về Tăng. Để có thể thành công trong việc này, bạn cũng cần phải tu tập trước nghĩ rằng: “Từ giờ trở đi, khi tôi đi qua ngưỡng cửa của cái chết này, tôi sẽ không cho phép bất cứ ý niệm bất thiện nào khởi lên cả!”.
Những vị thánh đời trước có dạy thế này: “Một ngày sống tỉnh giác với đủ thiện pháp hơn hẳn làm thật nhiều điều phước thiện với tâm mê mờ và tăm tối.” Theo lời dạy này, trước khi bạn khởi sự một việc gì hãy bắt đầu bằng một lời phát nguyện và tâm hoan hỷ, nó sẽ có lợi hơn rất nhiều.
Mặc dầu đối với một người như tôi, sẽ khó có thể làm lợi cho người khác, nhưng tôi cũng sẽ tụng bài kệ quy y và cầu nguyện cho các bạn trong những đời sau sẽ gặp được pháp Đại Thừa.
Viết bởi người được mang tên là Vô Úy (Jikme)
<1> nói cách khác, tư tưởng mà chúng ta có vào lúc sắp chết và những tư tưởng quen thuộc trong lúc còn mạnh khỏe sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự tái sanh của chúng ta.
Thích Hạnh Tấn
-
-
(s: danta-kāṣṭha, p: danta-kaṭṭha, danta-poṇa, 楊枝): âm dịch là Đạn Đa Gia Sắt Sá (憚哆家瑟詑), Thiền Đa Ni Sắt Sáp (禪多抳瑟插); còn gọi là xỉ mộc (齒木), tức là mảnh cây nhỏ dùng để mài răng cạo lưỡi cho sạch; là một trong 18 vật cần dùng cho vị Tỳ Kheo do Phật chế ra. Như trong Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện (南海寄歸內法傳, Taishō Vol. 54, No. 2125) quyển 1, phần Bát Triêu Tước Xỉ Mộc (八朝嚼齒木), giải thích rõ rằng: “Mỗi nhật đán triêu tu tước xỉ mộc, giai xỉ, quát thiệt, vụ linh như pháp, quán thấu thanh tịnh, phương hành kính lễ (每日旦朝須嚼齒木、揩齒、刮舌、務 如法、盥漱清淨、方行敬禮, mỗi ngày vào sáng sớm nên nhai cây xỉa răng, chùi răng, cạo lưỡi, làm việc như pháp, rửa tay súc miệng sạch sẽ, mới hành kính lễ).” Tại Ấn Độ, các nước phía Tây, khi mời người thế tục, trước tặng cho cây xỉa răng và nước hương, v.v., để chúc cho người đó được sức khỏe, thể hiện ý thỉnh cầu. Ngay như cung thỉnh chư Phật, Bồ Tát cũng dùng nhành dương chi và nước trong sạch, được gọi là Pháp Thỉnh Quán Âm (請觀音法) hay Pháp Dương Chi Tịnh Thủy (楊枝淨水法). Như trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 60, phần Thỉnh Quan Thế Âm Đại Thế Chí Bồ Tát Chú Pháp (請觀世音大勢至菩薩咒法), có câu: “Thỉnh thập phương Thất Phật Quan Âm Đại Thế Chí Bồ Tát đẳng, ngã kim dĩ cụ dương chi tịnh thủy, duy nguyện đại từ ai mẫn nhiếp thọ (請十方七佛觀音大勢至菩薩等、我今 具楊枝淨水、惟願大慈哀愍攝受, thỉnh mười phương bảy vị Phật, Quan Âm, Đại Thế Chí Bồ Tát, v.v., con nay đã đầy đủ nhành dương nước sạch, xin nguyện từ bi thương xót nhiếp thọ).” Pháp Uyển Châu Lâm quyển 61 còn cho biết rằng Phật Đồ Trừng (佛圖澄, 232-348), cao tăng Thiên Trúc, là người có đức độ lớn, Thạch Lặc (石勒, 274-333)—vua nhà Hậu Triệu, nghe tiếng bèn cho mời vào cung nội. Nhân con nhà vua bị bệnh chết, Phật Đồ Trừng lấy nhà dương thấm nước rưới lên, người ấy sống lại. Cho nên, người ta thường dùng nhành dương liễu và nước trong sạch để làm thanh tịnh các đàn tràng cầu nguyện cầu an, cầu siêu, Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn, v.v. Trong Từ Bi Dược Sư Bảo Sám (慈悲藥師寶懺, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1484) quyển 1 có bài tán Dương Chi Tịnh Thủy như sau: “Dương chi tịnh thủy, biến sái tam thiên, tánh không Bát Đức lợi nhân thiên, phước tuệ quảng tăng diên, diệt tội trừ khiên, hỏa diệm hóa hồng liên (楊枝淨水、遍洒三千、性空八德利人 、福慧廣增延、滅罪除愆、火燄化紅 蓮, nhành dương nước tịnh, rưới khắp ba ngàn, tánh không Tám Đức lợi người trời, phước tuệ rộng tăng thêm, diệt tội oan khiên, lửa rực hóa hồng sen).” Về loại cây xỉa răng, Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (毗尼日用切要, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1115) có nêu ra 4 loại có thể dùng làm cây xỉa răng là Bạch Dương (白楊), Thanh Dương (青楊), Xích Dương (赤楊) và Hoàng Dương (黃楊). Hơn nữa, không chỉ riêng loại Dương Liễu mới có thể làm cây xỉa răng, mà tất cả các loại cây đều có thể dùng được. Trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu còn giới thiệu bài kệ Thủ Dương Chi (取楊枝, Cầm Nhành Dương Liễu [Tăm Xỉa Răng]) là: “Thủ chấp dương chi, đương nguyện chúng sanh, giai đắc diệu pháp, cứu cánh thanh tịnh (手執楊枝、當願眾生、皆得妙法、究 清淨, tay cầm nhành dương, nguyện cho chúng sanh, đều được pháp mầu, rốt ráo thanh tịnh)”; và bài Tước Dương Chi (嚼楊枝, Xỉa Răng): “Tước dương chi thời, đương nguyện chúng sanh, kỳ tâm điều tịnh, phệ chư phiền não (嚼楊枝時、當願眾生、其心調淨、噬 煩惱, khi đang xỉa răng, nguyện cho chúng sanh, tâm được trong sạch, hết các phiền não).” Tỳ Ni Chỉ Trì Hội Tập (毗尼止持會集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 39, No. 709) quyển 16 còn cho biết một số nguyên tắc khi xỉa răng như: “Bất đắc tại Phật tháp hạ tước dương chi (不得在佛塔下嚼楊枝, không được xỉa răng dưới tháp Phật)”, “bất đắc hướng Phật tháp tước dương chi (不得向佛塔嚼楊枝, không được hướng về tháp Phật mà xỉa răng)”, “bất đắc Phật tháp tứ biên tước dương chi (不得佛塔四邊嚼楊枝, không được xỉa răng ở bốn phía của tháp Phật)”, v.v.
(灑淨) Cũng gọi Sái thủy. Rưới nước thơm để cho mọi vật được trong sạch. Tức dùng nước thơm đã được gia trì ấn chú rảy quanh đạo tràng và trên các vật cúng khiến cho tất cả được thanh tịnh. Cứ theo Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 2, thì tiên nhân Kiếp tỉ la đã kết giới sái tịnh cho 4 vị Vương tử con vua Ý ma di, rồi 4 Vương tử xây dựng thành Kiếp tỉ la. Trong Mật giáo, trước khi tu bí pháp cần phải sái thủy đạo tràng và các vật cúng cho thanh tịnh, về sau bí pháp thịnh hành nên đã phát sinh ra nghi thức sái tịnh. Cứ theo kinh Đà la ni tập quyển 1 thì tay phải cầm 1 cành liễu, tay trái cầm chày kim cương và xâu chuỗi, ngồi xoay mặt hướng đông, tụng Phật đính tâm chú, dùng cành liễu khuấy nước, niệm 108 biến chú, rồi cầm bình nước đã trì chú vào trong đạo tràng, bắt đầu rảy nước thơm từ góc đông bắc. Phẩm Tối thắng lập ấn Thánh vô động tôn đại uy nộ vương niệm tụng nghi quĩ pháp trong kinh Kim cương thủ quang minh quán đính (Đại 21, 3 thượng) nói: Ấn Kim cương 3 chĩa, quán không gia trì vào đầu ngón cái, tam luân nhưkim cương, trên tất cả vật cúng đều rảy nước thơm để tịnh trừ. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì giống như nước thơm rảy ở trên đất, để trừ sạch dơ uế, Như lai cũng thế, dùng hương giới tính tịnh, hòa hợp với nước bi tính tịnh, rảy vào tâm địa của chúng sinh trong khắp pháp giới, làm cho tất cả hí luận đều được trừ sạch. Trong giới Phật giáo hiện nay, trước khi cử hành pháp hội như thụ giới, Phật thất, bái sám... đều có dùng nước thơm rảy khắp đạo tràng, đó là nghi thức kết giới thanh tịnh. [X. kinh Tô tất địa yết ra Q.trung; Kiến lập mạn đồ la hộ ma nghi quĩ; kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương Q.4].
-
-
(五色) Phạm: Paĩca varịa. Pàli:Paĩca vaịịà. Cũng gọi Ngũ chính sắc, Ngũ đại sắc. Tức chỉ cho năm màu căn bản: Xanh (Phạm: Nìla), vàng (Phạm: Pìta), đỏ (Phạm: Lohita), trắng (Phạm: Avadàta) và đen (Phạm: Kfwịa). Tại Ấn độ, chư tăng trong giáo đoàn không được dùng 5 màu này làm màu của áo pháp, vì cho rằng năm màu này là màu lòe loẹt, hoa mĩ. Nhưng màu sắc trang nghiêm cõi Tịnh độ và mây 5 sắc trong vật cầm tay của bồ tát Quan âm nghìn tay đều là 5 màu này. Trong Mật giáo, 5 màu được phối hợp với 5 trí, 5 Phật, 5 chữ, 5 đại, 5 căn, 5 phương, 5 chuyển, 5 hình v.v... đồ biểu như sau: Ngoài ra, thứ tự sắp xếp 5 màu, tùy theo các kinh và nghi quĩ mà có khác. Chủ yếu có 7 cách sắp xếp, đó là: Trắng đỏ vàng xanh đen; Trắng xanh vàng đỏ đen; Trắng vàng đỏ xanh đen; Xanh vàng đỏ trắng đen; Trắng vàng xanh đỏ đen; Vàng đỏ trắng xanh đen; Vàng trắng đỏ xanh đen. Còn màu trung gian của 5 màu là màu lụa đào, màu hồng, màu tía, màu xanh lá cây và màu diêm sinh, gọi là Ngũ gian sắc. [X. kinh Tệ túc trong Trường a hàm Q.7; phẩm Nhập mạn đồ la cụ duyên chân ngôn trong kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.4, 5; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 1, tiết 1; Đại tạng pháp số Q.31].
Năm loại hương tức: đàn hương, trầm hương, định hương, uất kim hương, long não hương. Năm hương này cũng biểu trương cho đường lối tu hành gồm có năm giai đoạn: giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương và giải thoát tri kiến hương.
-
Phóng sinh bắt nguồn từ kinh Phật Đại Thừa, thịnh hành ở Trung Hoa, Tây Tạng, truyền sang Nhật Bản và các nước láng giềng Triều Tiên, Việt Nam. Hoạt động phóng sinh dựa trên tinh thần từ bi và bình đẳng giữa chúng sinh, và quan niệm nhân quả của sinh tử luân hồi. Nếu vừa giữ giới sát, lại vừa phóng sinh thì công đức gấp bội. Những tỷ dụ kinh nghiệm cảm ứng về phóng sinh, sách sử nói đến rất nhiều.
Trong kinh "Tạp bảo tạng" quyển 4 có ghi chép sư phụ của một Sa di biết Sa di này sẽ chết trong vòng 7 ngày, nên cho phép anh ta về thăm nhà, 7 ngày sau sẽ trở lại, nhưng không giải thích rõ lý do. Anh ta lên đường về nhà, thấy nước trong một cái ao thoát ra một khe hở, đe dọa một ổ kiến ở bờ ao. Bầy kiến nháo nhác chạy trốn nhưng không kịp với tốc độ nước tháo ra. Anh Sa di thấy vô số con kiến ắt phải chết đuối bèn lấy áo cà sa của mình bồi đất vào để đắp lỗ hổng ở bờ ao, cứu thoát bầy kiến. Sa di về thăm nhà 7 ngày, rồi trở lại ra mắt sư phụ. Sư phụ thấy Sa di kinh ngạc vô cùng, hỏi anh ta mấy ngày qua có xảy ra chuyện gì đặc biệt không. Tưởng rằng sư phụ nói mình phạm giới, làm việc bậy bạ nên lo sợ nói rằng không làm việc gì sai trái. Sư phụ là A la hán dùng thiên nhãn biết rõ là anh Sa di này đã làm một việc thiện nhỏ là cứu sống một bầy kiến, nhờ vậy mà khỏi phải chết yểu, được sống cho đến già.
Các tín đồ Phật giáo đều biết rõ căn cứ của phóng sinh. Có hai bộ kinh. Một là "Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới", trong đó có nói : "Mọi người hãy lấy từ tâm mà phóng sinh, vì tất cả đàn ông là cha của mình, tất cả đàn bà là mẹ của mình, mình chính là từ ở đó mà sinh ra. Vì vậy chúng sinh trong sáu cõi đều là cha mẹ ta, giết họ mà ăn là giết cha mẹ, và giết cả bản thân mình nữa. Tất cả đất và nước là thân trước của ta, tất cả lửa và gió đều là bản thể của ta, cho nên thường làm việc phóng sinh, đời đời thọ sinh. Nếu người đời khi thấy việc giết hại súc vật thì nên cứu chúng thoát khỏi khổ nạn, thường giáo hóa nói về giới Bồ Tát, cứu độ chúng sinh".
Bộ kinh thứ hai là "Kinh Kim Quang Minh" quyển 4 (phẩm con ông trưởng giả Lưu Thủy) kể lại chuyện ngày trước Phật Thích Ca tu hạnh Bồ Tát. Thời ấy Phật Thích Ca làm con ông trưởng giả Lưu Thủy. Một lần Người đi qua một cái hồ lớn. Trời đại hạn. Có người đắp đập trên thượng nguồn để bắt cá, làm cho mức nước hồ thấp xuống, hàng vạn cá lớn, cá bé có nguy cơ bị chết. Con trưởng giả muốn cứu bầy cá, nhưng không thể lên tận nguồn để phá đập chắn, bèn tâu với quốc vương phái đến 20 con voi lớn, chở nước tới, đổ đầy hồ, cứu sống đàn cá.
Kinh "Phạm Võng" là chỗ dựa lý luận của phóng sinh. "Kim Quang Minh" là chỗ dựa để xây ao phóng sinh. Các bộ kinh Đại Thừa khác như "Lục độ tập kinh" quyển 3, ghi chép việc mua rùa để phóng sinh. Cuốn "Đại Đường Tây Vực Ký" của Huyền Trang cuốn 9 kể chuyện Tháp Nhạn. Ở nước Magadha thuộc Trung Ấn Độ có một ngôi chùa Tiểu Thừa, do một vị Tỳ kheo tu không giữ giới ăn ba loại thịt thanh tịnh là các loại thịt không thấy giết, không nghe giết, không vì mình mà giết. Có một ngày, một Tỳ kheo không có thịt ăn, chính lúc đó ở trên trời có một bầy nhạn bay qua, Tỳ kheo bèn nói với đàn nhạn "Hôm nay, có vị Tăng không có thịt ăn, vì không ai cúng dường. Các vị Đại Bồ Tát biết là thời cơ đã đến rồi". Bầy nhạn nghe thấy như vậy, đều sa xuống mà chết. Vị Tỳ kheo ấy vốn không tin Đại Thừa, không tin chim nhạn có thể là Bồ Tát, nên nói ra câu trên để chế diễu Đại Thừa. Không ngờ chính các Bồ Tát đã hiển hiện làm nhạn để giác ngộ cho anh. Các Tỳ kheo Tiểu Thừa trong chùa lấy làm xấu hổ và bảo nhau : "Đây là các vị Bồ Tát, ai mà dám ăn". Từ nay về sau phải dựa vào Đại Thừa, chúng ta sẽ không ăn ba loại thịt thanh tịnh. Rồi xây tháp thờ chim nhạn.
Có thể thấy phóng sinh có gốc rễ ở giới sát. Cũng có thể nói phát triển giới sát thêm một bước, thành ra phóng sinh. Giới sát chỉ là ngăn không làm ác, là hành vi thiện thụ động. Phóng sinh cứu mạng là hành vi thiện tích cực. Nếu chỉ ngăn ác, mà không hành thiện thì không phải là tinh thần của Phật pháp Đại Thừa. Vì vậy mà Trung Quốc, từ thời Bắc Tề Lương đến nay, có phong trào không ăn thịt không sát sinh. Phong tục phóng sinh cũng từ đó được phát triển dần dần từ triều đình đến dân thường, từ chúng Tăng đến người trần tục đều coi trọng ăn chay.
Chính phủ Dân quốc hiện nay cũng định kỳ cấm giết hại súc vật một số ngày trong năm, từ trung ương đến địa phương để cầu mưa, xua đuổi tai họa, người ta cũng tổ chức phóng sinh và cấm giết hại súc vật. Võ Đế nhà Lương xuống chiếu cấm sát sinh để cúng tế. Tỳ kheo Tuệ Tập đời nhà Lương, nguyện tự đốt hai cánh tay, đi khắp nơi khuyên phóng sinh. Đời Tùy, đại sư Trí Khải phát động phong trào xây ao phóng sinh, giảng các kinh "Kim Quang Minh" và "Pháp Hoa" để tuyên truyền xin bỏ tiền mua lương thực để nuôi cá. Đời Trần Tuyên Đế, Vua sai quan Tế Tửu Từ, Khắc Hiếu viết "Bài Bia về việc thiền sư Trí Khải" tu ở chùa Thiền núi Thiên Thai tổ chức phóng sinh. Điều đó mở đầu cho việc ghi chép các hội phóng sinh và các ao phóng sinh ở Trung Quốc. Từ đó về sau từ đời nhà Đường, nhà Tống đến nhà Minh, đời nào cũng có phát triển việc phóng sinh. Đời vua Đường Túc Tôn, có viết bài bia về ao phóng sinh. Đến đời Tống, hai đại sư Tuân Thức và Tri Lễ cũng ra sức tán thán việc phóng sinh.
Cuối đời nhà Minh có đại sư Liên Trì là một trong những cao tăng rất tích cực tuyên truyền việc phóng sinh. Đại sư viết các bài "Như Lai không cứu nghiệp sát", "Ăn thịt", "Ăn chay" in trong tập "Trúc song tùy bút", lại viết các thiên thư như "Mặc áo lụa ăn thịt", "Giữ giới sát được sống thọ", "Ao phóng sinh", "Thầy thuốc giới sát sinh", "Vì bệnh ăn thịt". Trong tập "Trúc song tùy bút", lại có các bài "Sát sinh là tội ác lớn trong đời người", "Làm người không nên sát sinh", "Làm người không nên ăn thịt chúng sinh để khuyến khích giới sát và phóng sinh". Ngoài các bài viết về "ăn chay", ông còn viết các bài "Nghi thức phóng sinh", "Giới sát phóng sinh", để bày vẽ các nghi thức phóng sinh cho mọi người. Thời hiện đại có sách của đại sư Hoàng Nhất, các tập tranh về "Bảo vệ cuộc sống" của Phong Tử Khái "6 cuốn". Ngoài ra còn có Cư sĩ Thái Niệm Sanh đề xướng việc giới sát phóng sinh biên tập những câu chuyện về chủ đề "Động vật cũng có linh tính và cảm ứng" thành sách với nhan đề "Động vật còn như vậy". Nhưng trong xã hội hiện đại, khoa học kỹ thuật tiến bộ, mật độ nhân khẩu tăng nhanh, không gian sống bị thu nhỏ lại, muốn có một ao phóng sinh, một khu vực phóng sinh tuyệt đối an toàn là tương đối khó khăn. Ở nước Mỹ và Đài Loan hiện nay có các khu vực bảo vệ dã thú. Ngoài ra cũng có người do lòng thương yêu loài vật và muốn bảo vệ thiên nhiên đã khuyến khích dân chúng không nên giết, bắt bừa bãi, tránh phá hoại sự điều hòa phối hợp tự nhiên của sinh vật, tránh nguy cơ diệt chủng đối với loài động vật hiếm. Điều này phù hợp nhưng không hoàn toàn tương đồng với tinh thần phóng sinh của đạo Phật. Nếu chúng ta thả tất cả động vật được phóng sinh vào các khu bảo vệ động vật… thì sẽ có nguy cơ bão hòa, số động vật tăng nhan tới mức phải hạn chế.
Do đó, chúng ta đến đâu để phóng sinh ? Nếu là cá thì có người câu hay thả lưới, nếu là chim, thì có người dùng súng bắn, hay dùng lưới vây bắt. Ở các chợ bán chim, bán cá ngày nay, thường không phải là động vật hoang dã, mà đại bộ phận là do người ở các ao cá, vườn chim. Những động vật này căn bản không thích ứng với hoàn cảnh tự nhiên, phóng sinh chúng cũng như sát sinh. Phóng sinh loài nhỏ, chúng sẽ bị những loài lớn ăn thịt. Phóng sinh loài lớn, chúng sẽ bị săn bắn đưa vào bếp các quán ăn. Hơn nữa, giống chim, loài cá đều có thói quen của chúng. Có những loài cá nhất định phải sống trong những hoàn cảnh nhất định như chất nước, độ sâu, độ chảy, mua giống cá sông thả vào biển hay mua và thả cá biển vào sông đều thành vấn đề. Loại chim nuôi ở công viên, không quen săn mồi trong hoàn cảnh tự nhiên không biết rau quả nào trong rừng có thể dùng làm thức ăn. Nếu thả chúng vào rừng sẽ bị đói hoặc bị các động vật khác hoặc các loài chim ăn thịt.
Trong tình hình như vậy, có cần phóng sinh hay không, có nên phóng sinh hay không ? Điều này rõ ràng là một sự thực không may mắn. Sự hạn chế của hoàn cảnh tự nhiên làm cho cuộc vận động phóng sinh ngày càng khó khăn.
Thực ra, ý nghĩa phóng sinh là ở nơi động cơ của phóng sinh mong muốn kéo dài thọ mạng của sinh vật. Còn kéo dài được bao lâu thì chúng ta phải có trách nhiệm khảo sát, nghiên cứu như muốn thả chim thì phải nghiên cứu xem thả loài chim gì, thả ở đâu, thả vào lúc nào mới an toàn, có kết quả.
Đối với loài cá, tôm, cua v.v… cũng phải như vậy. Trước hết phải nghiên cứu tập quán sinh thái, nguồn gốc của chúng, rồi chọn thời cơ thích đáng nhất để thả chúng ở những nơi an toàn thích hợp nhất. Nhưng nếu không may, hôm nay chúng được thả, sang ngày hôm sau chúng bị bắt thì cũng đành chịu vậy.
Mục đích của chúng ta là phát động lòng từ bi, tinh thần cứu tế của người phóng sinh. Còn số phận của động vật được phóng sinh ra sao, thì còn tùy thuộc vào nhân quả họa phúc và nhân duyên của chúng nữa. Miễn là khi phóng sinh chúng ta thành tâm cầu cho chúng được thoát nạn. Hãy vì chúng mà nói Tam Quy, nói Phật pháp, phát nguyện hồi hướng. Chúng có thể nhờ đó mà thoát ly được các thân khác loài, chuyển tái sinh làm người, sinh lên cõi trời, vãng sinh tịnh độ, phát tâm Bồ đề, độ thoát chúng sinh sớm thành Phật đạo. Trong việc phóng sinh, chúng ta chỉ cần tận tâm, tận lực mà làm. Như vậy là tốt.
(HT. Thích Thánh Nghiêm)
-
-
-
Đây chính là Linh phù giải thoát qua sự Xúc chạm( Tagdrol) của dòng Nyingmapa, dùng để đeo trên thân, đặt lên thân của người chết giúp họ tịnh hoá bớt các ác nghiệp, tránh sanh vào các đoạ xứ, đốt để cầu nguyện cho các chúng sanh trong cõi Ngạ quỷ và trong trạng thái Trung Ấm.
Tính từ ngoài vào:
Tầng ngoài cùng là chân ngôn Đại Bảo Lầu Cát của Quan Âm Đoạn Tận Luân Hồi- Khorwa Dongtrug và Chân ngôn tịnh hoá tội lỗi.
Tầng thứ hai là Lục Tự Minh Chú của Đại Bi Quan Âm , Minh Chú của Đức Liên Hoa Sanh, DHARANI Cứu Thoát Ác Đạo Tịnh Hoá Ác Nghiệp của Chư Phật , Minh Chú của Phật A Di Đà, Minh Chú Tổng Trì của Một Trăm Bổn Tôn An-Nộ.
Tầng thứ ba là Minh Chú của Đức Phật Bất Động.
Bốn góc tầng thứ ba là Liên Hoa Vô Cấu Đảnh Kế Dharani.
Tầng trong cùng là Lục Tự Minh Chú của Kim Cương Tát Đoả, Lục Tự Tịnh Hoá Lục Đạo Luân Hồi và Phổ Hiền Như Lai Tạng Tâm của Dzogpa Chenpo- Đại Viên Mãn.
Kim Cương Chuỳ với chữ Hung tại Tâm Chuỳ.
-
Quán tưởng Phật Vô Lượng Thọ xuất hiện trên đầu những chúng sinh đang chuẩn bị được phóng, thả.
1. Quy y:
Con cùng tất cả hữu tình chúng sinh, từ bây giờ cho đến khi đạt được quả Diệu Bồ Đề, xin chí thành quy y Đấng Vô Lượng Thọ Như Lai. (3 lần)
2. Phát Bồ đề tâm:
Vì muốn tất cả hữu tình chúng sinh vĩnh viễn xa rời sự chết chóc, sợ hãi, nhanh chóng đạt đến quả vị thù thắng vi diệu bất tử vĩnh hằng, chúng con hôm nay thực hành nghiệp lành phóng sinh này.
‐ Quán Tứ Vô Lượng Tâm:
Nguyện tất cả chúng sinh đều được an lạc và nhân của an lạc.
Nguyện tất cả chúng sinh vĩnh viễn xa rời khổ và nhân của khổ.
Nguyện tất cả chúng sinh không bao giờ xa rời an lạc.
Nguyện tất cả chúng sinh xa rời yêu, ghét, luôn trụ trong trạng thái bình đẳng.( 3 lần)
Đọc Vô Lượng Thọ Đà Ra Ni :
OM NAMO BHAGAWATE, APARAMITA, AYURJNYANA, SUBINI TSITA TEDZO RADZAYA TATHAGATA, ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA, TAYATHA, OM PUNYE PUNYE MAHA PUNYE, APARIMITA PUNYE APARIMITA PUNYEJNYANA, SAMBHARO, PATSITE. OM SARWA SAMSKARA PARI SHUDDHA DHARMATE, GAGANA, SAMUGATE, SOABHAWA BISHUDDHE, MA HA NA YA, PARIWARE SOA HA.
( ÔM NAM MÔ PHA GA QUA TÊ ,A PA RA MI TA A DU GIÀ NA ,SU BI NI CHÍT TA TÊ GIÔ RA GIA DA ,TA THA GA TA DA ,A-RỜ HA TÊ SAM DẮC SAM BÚT ĐÀ DA.TÊ DA THA ,ÔM PU NA DÊ PU NA DÊ ,MA HA PU NA DÊ ,A PA RI MI TA PU NA DÊ ,A PA RI MI TA PU NA DÊ GIÀ NA ,SAM PHÀ RÔ PA CHI TÊ .ÔM SẠC QUA SĂM SỜ-KA RA PA RI SÚT ĐÀ ĐẠT MA TÊ ,GA GA NA SA MU GA TÊ ,SÔ PHÀ QUA BI SÚT ĐÊ ,MA HA NA DA PA RI QUA RÊ SÔ HA)
(Đọc 3 lần sau đó thổi vào gạo, thóc v.v… để ban phước, sau đó tung rải vào các chúng sinh đang chuẩn bị phóng thả, nghĩ rằng các chúng sinh đó cùng tộc loại của họ đều có khả năng chiến thắng tất cả những lo sợ do cái chết gây ra, tương lai sẽ đạt đến thọ mệnh lâu dài.
Trên trán của chúng sinh đó, dùng sơn dầu vẽ chữ Vạn ࿕-nếu có thể, để tránh chúng bị bắt lại )
Om soabhawa shuddha sarva dharma soabhawa shuddho hang.
(ÔM SÔ PHÀ QUA SÚT ĐÀ ,SẠT QUA ĐẠT MA SÔ PHÀ QUA SÚT ĐÔ HĂNG)
Từ trong chân không, tất cả các thân, uẩn, giới, xứ đều chuyển thành vô số đám mây cúng dường của tự tánh đại lạc thanh tịnh rộng lớn.
Om Ah Hung.
( ÔM A HUNG)
Nama sarwa tathagata bhayo bishoa mukhebe sarwa thakham utgate sapharana imam gagana kham soha.
(NAM MA SẠC QUA TA THA GA TA PHÀ DÔ BI SÔ MU KHÊ BÊ SẠC QUA THA KHĂM ÚT GA TÊ SA PHA RA NA I MĂM GA GA NA KHĂM SÔ HA)
(Tụng chú Hư Không Tạng 3 lần để ban phước, sau đó đọc:)
Kye! KI-Ê
Chư Phật, Thánh pháp cùng Tăng già,
Bậc Thầy, Bổn Tôn, chúng Không Hành,
Hộ Pháp, Tài Thần, Chủ Kho tàng,
Các thần thổ địa, thần xóm làng,
Thần bảo vệ, giữ gìn mạng sống,
Các thần thủ hộ thân chúng sinh,
Vô thượng cúng phẩm dâng hiến rồi.
Loài có thần thức, mạng, hơi thở,
Mạng sống đang trong cảnh hiểm nguy,
Được giải thoát khỏi nỗi lo sợ.
Những uẩn, giới, xứ ở nơi đây,
Thành mây cúng tự tánh thanh tịnh,
Hiển hiện đầy khắp cả hư không,
Các món diệu dục đầy đại lạc,
Vật thành tựu thọ mạng thù thắng,
Xuất hiện tràn ngập không bờ mé.
Các chúng sinh này con giải cứu,
Nguyện họ đủ niềm vui tối thắng.
Nguyện con và thí chủ tín cúng,
Cùng chúng sinh nhiều như hư không,
Xa rời chướng ngại gây chết yểu,
Sống lâu dài tại thế gian này,
Nguyện hưởng trọn vẹn các phước lành,
Thân suy tổn nguyện xin khôi phục,
Bởi tinh hoa bốn đại thế gian,
Tuổi thọ, sắc diện càng tăng trưởng,
Không bệnh, pháp tài ngày càng nhiều.
Con và hết thảy các chúng sinh,
Đến khi chứng đắc quả Vô thượng,
Đời đời kiếp kiếp đều trường thọ,
Nguyện thành tựu mạng sống bất tử,
Lợi ích các hư không chúng sinh,
Đạt thân Kim cương vượt sinh tử.
Ôi, Đấng Chở Che Vô Lượng Thọ,
Nguyện con chứng đắc quả thắng diệu.
(Tụng xong, nếu có thời gian, có thể tụng thêm các bài nguyện khác)
Nguyện nhờ nhân duyên tu trì nghiệp lành này,
Mong các Bậc Thầy ân đức thọ lâu dài,
Mười phương các việc khó làm đều viên mãn,
Tất cả mong cầu tốt lành thảy thành tựu.
(Sau cùng, tụng thêm bài kệ kiết tường thích hợp rồi tung hoa kết thúc)
Thế gian Đạo Sư Chí Tôn Vô Lượng Thọ,
Dẹp tan tất cả chết yểu hóa an lành,
Là Đấng Chở Che cho người không nương tựa,
Thế Tôn Vô Lượng Thọ Phật ban an lành.
-
Ban Phước Cho Các Phẩm Vật Cúng Dường ( Cúng Phẩm):
1- Vẩy nước thơm đựng trong chiếc bình sạch lên cúng phẩm và đọc Chân Ngôn của Cam Lồ Quân- Trà -Lợi Minh Vương:
Om vajra amrita kundali ha na ha na hung phet. ( 1 lần)
( ÔM BENZA A MRI TA KUN ĐA LI HA NA HA NA HUNG PHÊ).
2- Đọc Chân Ngôn Vạn Pháp Thanh Tịnh:
Om soabhawa shuddha sarwa dharma soabhawa shudho hang.( 1 lần)
(ÔM SÔ BÀ QUA SÚT ĐÀ, SẠC QUA ĐẠT MA ,SÔ BÀ QUA SÚT ĐÔ HĂNG)
Tất cả các món sắc, thanh, hương, vị, xúc hoàn hảo của chư Thiên và loài người nhờ sự quán tưởng trở thành những biển mây cúng dường tràn khắp hư không.
Trong sự nhậm vận của trí giới tự tánh,
Mây cúng dường Phổ Hiền tràn khắp hư không,
Với đủ năm món diệu dục đầy phẩm tính
Hài lòng chư Phật và mãn nguyện chúng sanh.
3- Đọc Chân Ngôn Phổ Cúng Dường của Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát:
Nama sarwa tathagata bhayo bishoa mukhebe sarwa thakham utgate sapharanam imam gagana kham soaha. (Đọc ba lần)
( NAM MA SẠC QUA TA THA GA TA BÀ DÔ ,BI SÔ MU KHÊ BÊ ,SẠC QUA THA KHAM ÚT GA TÊ ,SA PHA RA NĂM ,I MĂM GA GA NA KHĂM SÔ HA)
* Ghi chú: nước thơm thông thường được làm bởi nước tinh khiết và Tạng Hồng Hoa, Long Não Hương cùng với viên dược liệu gồm 25 chất theo truyền thống của Nyingmapa ( Mindrolling Nyernga Bumdze). Những viên thuốc này có thể xin của các Lama hoặc mua ở các cửa hàng Pháp Khí Mật tông. Nếu không có, hành giả chỉ đơn giản dùng nước tinh khiết kết hợp với Hồng Hoa ( mua ở các hiệu thuốc Bắc-Đông y)
( https://vi-vn.facebook.com/Ngagyur-N...0526741759245/ )
-
Tâm Tịnh
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật _()_
Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát _()_
Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát _()_
Tôi đã nhận thấy trong cộng đồng một số đã từng phá thai trong quá khứ, và họ bị dày vò khổ sở cả đời mà không biết tại sao. Dù có làm lễ Cầu Siêu, nhưng nhiều lúc vong linh thai nhi không muốn tha thứ và đi đầu thai, vì vậy cũng nên cố gắng tu hành và sám hối cho bé thai nhi không còn oán hận mình nữa.
Nếu bạn biết người thân trong gia đình hoặc bạn bè đã từng phá thai, thì bạn có thể hướn dẫn họ làm những phương pháp để cho bé thai nhi không còn oán hận và hành hạ làm khổ họ nữa.
Có 3 cách hướng dẫn sau đây:
Cách 1:
Ðọc hoặc tụng Kinh:
Kinh Địa Tạng và Phật Thuyết Kinh Diệt Tội Trường Thọ và Thần Chú Bảo Hộ Hài Nhi.
Cách 2:
Cúng cho Vong Linh Thai Nhi hoặc ngạ quỷ ăn.
Ngạ quỷ có cổ họng mỏng hơn một cây tăm và không có thể dùng thức ăn thường được. Nếu trong quá khứ có cúng, họ không dám ăn vì họ biết ngay cả ăn một hạt gạo vô sẽ thành lửa hoặc bị đứt cổ họng và sẽ chết. Tất cả công đức trong quá khứ đều có rất vô ích.
Đây là cách giúp quý vị cúng cho các vong hai lần mỗi tháng, tức là ngày mùng 2 và 16 âm lịch.
Quý vị có thể tùy theo nhà rộng bé mà thắp bó nhang, tùy nhiều ít , trì tụng mấy thần chú Chân Ngôn của Phật ở dưới để đồ ăn không thành lửa và mở cổ họng của họ rộng ra cho họ được dùng miếng ăn.
Quý vị nên chuẩn bị bát, đĩa, chén, muỗng và một ly nước, những vật dụng này là dành riêng cho họ dùng mỗi khi quý vị cúng hàng tháng, và làm một bát nhang nhỏ riêng để ngoài nhà, sau khi cúng xong, đừng đem vô nhà vì vong linh sẽ ở lại chỗ nào có bát nhang. Nếu đem vô nhà, họ có thể đi theo.
Đồ cúng cho vong linh :
3 chén cháo trắng với 3 muỗng, một đĩa gạo, muối, hai thứ này quý vị dùng chung một đĩa nhỏ là được, gạo có thể ít hơn muối bởi vì sợ không có chim ăn, một đĩa bánh kẹo .
Thắp một bó nhang, khấn: “Con tên họ tuổi là… hôm nay ngày tháng năm âm lịch... Con cúng Thí Thực cho hương linh.”
Rồi trì tụng mấy thần chú Chân Ngôn của Phật. Cắm 3 cây nhang trong bát nhang và cắm nhang còn lại xung quanh nhà bắt đầu từ phía trước căn nhà đến bàn Cúng.
Trước khi nhang tàn, trộn muối và gạo với nhau và tung muối gạo 5 hướng để mời các chư hương linh đi, mỗi hướng niệm Om Mani Pad Me Hung; Ðể an ủi cho hương linh được bớt đau khổ. Khấn tiếp theo: "Các hương linh sống khôn thác thiên. Nếu chưa đi đầu thai thì xin các chư hương linh phù hộ độ trì cho gia đình tôi (ví dụ: người thân hết bệnh), xin mời các chư hương linh đi."
Nếu quý vị muốn nói thêm điều gì với họ thì cứ khấn vái tuỳ quý vị.
Sau khi cúng xong hãy bỏ mọi thứ vào trong bao và vứt đi, bởi vì sau khi cúng âm khí sẽ còn vướng lại trong đồ cúng vì vậy chúng ta không nên năn. Vì nó có thể xâm nhập vào cơ thể với những ai sức khỏe yếu hoặc hợp với người âm sẽ bị tẫu hỏa nhập ma .
DIỆT ĐỊNH NGHIỆP CHƠN NGÔN:
Án bát ra mạt lân đà nãnh ta bà ha. (3 lần)
DIỆT NGHIỆP CHƯỚNG CHƠN NGÔN:
Án a lổ lặc kế ta bà ha. (3 lần)
KHAI YẾT HẦU CHƠN NGÔN:
Án bộ bộ đế rị, dà rị đa rị, đát đa nga đa da. (3 lần)
TAM MUỘI ĐA GIỚI CHƠN NGÔN:
Án tam muội da tát đỏa phạm. (3 lần)
BIẾN THỰC CHƠN NGÔN:
Nam mô tát phạ đát tha,
Nga đa phạ lồ chỉ đế
Án tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (3 lần)
CAM LỒ THỦY CHƠN NGÔN:
Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát diệt tha. Án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha.
(3 lần)
TAM QUY
(đồng đứng dậy chắp tay niệm lớn)
- Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm. (1 lạy).
- Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải. ( 1 lạy).
- Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại. (1 lạy).
HỒI HƯỚNG
Phúng kinh công đức thù thắng hạnh
Vô biên thắng phước giai hồi hướng
Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh
Tốc vãng vô lượng quang Phật sát
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não
Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ
Thế thế thường hành Bồ tát đạo
Nguyện sanh Tây phương Tịnh Độ trung
Cửu Phẩm Liên hoa vi Phụ mẫu
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh
Bất thối Bồ tát vi bạn lữ
Nguyện dĩ thữ công đức,
Phổ cập ư nhứt thiết,
Ngã đẳng dữ chúng sanh,
Giai cọng thành Phật đạo.
Giải thích về các thần chú ở dưới từ trang này:
Diệt Định Nghiệp Chơn Ngôn.
Nghĩa là :
Lời Chân Ngôn Diệt Định Nghiệp Của Địa Tạng Bồ Tát.
(Từ đây trở đi là diệt các tội nghiệp)
Án bát ra mạt lân đà nãnh ta bà ha.
Yếu giải
Khi tụng chú này, tâm quán tưởng tất cả chúng sanh thảy đều phá trừ định nghiệp từ vô thỉ. Nghiệp tuy có nhiều loại, nhưng ở đây chỉ nêu ra hai thứ : Định nghiệp và Bất định nghiệp.
1. Định nghiệp : Nghiệp đã gây tạo đời trước, thì đời nay phải trả. Định nghiệp này, sám hối thật khó tiêu trừ. Như phạm tội ngũ nghịch : giết cha, giết mẹ v.v…Tuy nhiên, có thể chuyển nghiệp nặng thành nghiệp nhẹ, hay chuyển tội nặng thành tội nhẹ. Nếu người chứng đạt chân lý, (thành đạt Phật quả) thì tội nghiệp kia ắt không còn. Trong Chứng Đạo Ca, Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác có nói: ''Chứng thật tướng vô nhân pháp, sát na diệt khước A tỳ nghiệp …'' Nghiệp không còn là do vì hành giả đã chứng được Thật tướng. Thật tướng là tướng ''không'' của muôn pháp. Đến đây, không còn thấy có ngã và pháp nữa. Nhưng khi chưa chứng, thì tội nghiệp đã gây, tất nhiên, là quả phải trả. Tuy nhiên, sự trả nghiệp nặng nhẹ, còn tùy theo sức huân tu, làm lành lánh dữ, bố thí, tu tạo phước đức của mỗi người. (Đối với những người đã chứng đạo, thì việc trả quả đối với các Ngài không có gì phải sợ hãi. Vì tội tánh bản lai không, tuy trả nhưng không có gì phải trả, bởi ngũ uẩn giai không. Ngược lại, đối với phàm phu là phải trả quả trong đau khổ, vì còn nặng lòng chấp ngã, chấp pháp, thấy tất cả đều thật nên phải chịu hành hạ khổ sở)
2. Bất định nghiệp : Những nghiệp đã gây tạo từ trước hoặc nhẹ hoặc nặng không nhứt định, nên nay sám hối thì có thể dễ tiêu trừ.
Định hay bất định nghiệp đều do mê hoặc mà tạo ra. Nhưng mê hoặc vốn không có thực thể, mà nó lấy chơn như làm tánh. Thí như thực thể của đám mây là không, mà nó phải nương nơi bầu trời mà có. Mây thì có sanh có diệt, nhưng bầu trời vẫn yên lặng. Mây dụ cho nghiệp hoặc, bầu trời dụ cho tánh giác. Như vậy, mây thì có thể tan biến, nhưng bầu trời thì bất diệt. Nghiệp thì có hết, nhưng thể tánh vẫn như nhiên thường hằng. Nói rõ ra, vô minh và Phật tánh cả hai đều đồng có từ vô thỉ, nhưng vô minh thì vô thỉ mà hữu chung, còn Phật tánh thì vô thỉ vô chung. Thế thì, tâm, Phật và chúng sanh, đứng về mặt thể tánh mà nói, thì cả ba không sai khác. Đứng về mặt tướng hay mê tạo nghiệp thì có sai khác. Khi mê là chúng sanh, giác ngộ là Phật. Chính vì nghiệp hoặc không có thật tánh, nên khi gặp ánh sáng oai lực của thần chú hay nghe danh hiệu Phật, mà hồi tâm phản tỉnh, bừng sáng giác ngộ, thì vô minh nghiệp hoặc không còn, vì chúng là hư vọng không thật, giống như sương khói vậy. Tuy nhiên, tuy chúng là hư vọng không thật, nhưng khi còn mê, chúng ta theo vọng tạo thành ác nghiệp, tất nhiên, chúng ta phải cảm thọ quả báo khổ lụy nhiều đời.
Khi tụng chú, người tụng phải nhiếp tâm quán tưởng tâm mình như vầng trăng sáng chiếu soi chúng sanh trong nghiệp đạo, bao nhiêu tội lỗi đã gây, tất cả đều nương nhờ oai lực của Phật mà hết lòng cải hối, phát Bồ đề tâm, thì nghiệp hoặc sẽ được tiêu trừ.
Kế tiếp, là đọc thần chú :
Diệt Nghiệp Chướng Chơn Ngôn. (Chú này là của Đức Quán Thế Âm Bồ tát).
Án a lỗ lặc kế ta bà ha (3 lần).
Yếu giải
(Xin chú ý : từ đây trở đi, những chữ in nghiêng như dưới đây là chúng tôi trích nguyên văn lời dặn ở trong quyển Nhị Khóa Hiệp Giải, viết tắt là NKHG)
Khi đọc chú này, tâm phải quán tưởng : tất cả chúng sanh có bao nhiêu nghiệp chướng thảy đều tiêu diệt.
Như trên đã nói nghiệp có hai : Định nghiệp và Bất định nghiệp. Chú trước là để phá cái định nghiệp thuộc về lý. Còn chú này là để phá cái Bất định nghiệp thuộc về sự. Sự và lý viên dung vô ngại, đó mới thật là chân sám hối. Khi tụng chú này, người tụng cũng phải nhiếp tâm như nói ở trên. Có thế, thì mình và chúng sanh mới được lợi ích.
Tiếp theo là đọc thần chú :
Khai yết Hầu Chơn Ngôn.
Án bộ bộ đế rị già rị đa rị đác đa nga đa da. (3 lần)
Yếu giải
Nên nhớ khi đọc tụng chú này phải quán tưởng những ngạ quỷ cuống họng bằng mũi kim, tất cả mở rộng ra, lửa nghiệp thôi cháy mà được thanh lương khoái lạc.
Yết hầu là chủ về ngòi rãnh (cửa vàm) để cho việc uống ăn chảy thông vào. Nhưng loài ngạ quỉ cái yết hầu của chúng nhỏ như mũi kim, nuốt vào thật khó khăn, bụng thì to mà cổ họng thì quá nhỏ như thế, nghĩa là yết hầu bị đóng nghẹt, suốt cả trăm ngàn muôn kiếp, chẳng nghe đến cái tên nước cháo. Hoặc có khi thấy nước vừa muốn uống thì lại thấy nó hóa làm nung huyết. Hay có khi đưa nước vừa đến miệng, thì nước nó lại hóa ra lửa đốt cháy cả thân, mãi chịu đói khát. Như trường hợp bà Mục Liên Thanh Đề chẳng hạn. Đó là để nói lên do cái nhân quá tham lam keo kiết bỏn xẻn, lại thêm kiêu mạn, khinh người dưới mắt, rồi tạo ra nhiều nghiệp ác, nên nay phải lãnh lấy cái quả báo hành hạ khổ đau như thế.
Sở dĩ chúng sanh trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi, bởi do chỗ tạo nghiệp sâu nặng từ vô thỉ đến nay, nếu không nhờ pháp lực của trí quán và mật chú, thì không dễ gì tiêu trừ được. Chú này cũng đồng nghĩa với chú khai yết hầu trong kinh Diệm Khẩu.
Kế đến đọc thần chú :
Tam Muội Da Giới Chân Ngôn :
Án tam muội da tát đỏa phạm (3 lần)
Yếu giải
Khi tụng đọc chú này, quán tưởng tất cả chúng sanh đồng thụ lãnh Bửu giới kim cang quang minh, tâm đắc thanh tịnh, thân như Bồ tát. Đây trao giới tam muội cho chúng sanh.
Tam muội giới nghĩa là đại thần giới, chính là của Bồ tát thọ trì. Nếu muốn đắc giới đây, trước tiên phải sám hối để diệt nghiệp chướng đời trước rồi sau mới thọ nhận giới được. Tỷ như cái bình lưu ly là thứ bình rất trong sạch sáng suốt, mới có thể chứa đựng sữa của con sư tử. Còn đựng vào thứ đồ khác thì sẽ bị nứt bể.
Nay vì một loại chúng sanh đang chịu thống khổ cực hình nơi chốn u minh, trước phải diệt nghiệp trừ khổ, nếu không, thì chúng không thể nào lãnh thọ giới pháp để dứt hết khổ đau. Do đó, văn này có kệ chú diệt nghiệp sám hối làm trước, rồi sau mới tiến đến thọ giới tam muội da.
Kinh Duyên Khởi nói : ''nếu muốn hành trì pháp thí thực, thì nên phát tâm bồ đề, trao lấy giới tam muội da''.
Trong Đàn nghi nói: ''phương pháp thọ giới được thành tựu là chú trọng ở ba lần yết ma, giới thể nhân đây mà được viên mãn''.
Kinh Thí Ngạ quỉ nói: ''tụng chú đây ba biến rồi, tất cả Quỉ thần liền nghe được pháp bí mật thậm thâm, đều đặng cụ túc tam muội da, vô lượng y phước. Tam muội Trung Hoa dịch là chánh định hay chánh thọ, do giới pháp thanh tịnh, nên được chánh định''.
Tiếp đến là đọc thần chú:
Biến Thực Chơn Ngôn.
Nam mô tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế. Án tam bạt ra, tam bạt ra hồng.
Yếu giải
Đọc chú đây nó biến hóa ra pháp vị : khi đọc chú quán tưởng các đồ ăn từ một biến hóa ra thành bảy, với bảy lại hóa ra thành bảy nữa, nhẫn đến hóa ra nhiều đến vô lượng, đầy lấp cõi hư không cùng vạn vật không ngần ngại, thụ hưởng pháp vị, thân tướng viên mãn.
Duyên do có ra câu thần chú này, là do ngài A Nan bạch Phật về việc thấy quỉ Diệm Khẩu khi ngài nhập định trong rừng. Nhân đó Phật dạy : Ta tự nhớ lại thuở đời quá khứ, ta làm một người dòng Bà la môn, đối trước Quán Thế Âm Bồ tát, truyền trao cho phương pháp đà la ni của Phật Vô lượng uy đức tự tại quang minh Như Lai ; tụng đà la ni đó, nó hay biến một món ăn mà hóa ra làm vô lượng món ăn lớn bằng núi Tu di, lượng đồng cõi pháp giới, trọn không thể hết.
Kinh Thí Ngạ quỉ nói: ''tụng một hay bảy biến, hoặc nhiều hơn, càng nhiều càng tốt, thì cả thảy Ngạ quỉ đều đặng đồ ăn số bảy lần bảy hột như hột của nước Ma đà dà thường dùng, ăn rồi đều được siêu sanh lên các cõi trời, hoặc vãng sanh về Tịnh độ, hay khiến hành giả tiêu trừ nghiệp chướng, mạng thêm sống lâu''.
Tiếp theo là đọc thần chú :
Cam Lồ Thủy Chơn Ngôn.
Nam mô tô bà da, đát tha nga đa da. Đát điệt tha, án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha (3 lần)
Yếu giải
Khi tụng chú này, quán tưởng cúng nước biến thành pháp thủy cam lồ, rộng lớn như biển, cùng vật không ngăn, thắm đến nước đây, thường được thanh tịnh diệu lạc.
Đây là pháp thí cam lồ của đức Phật Diệu sắc thân Như Lai.
Kinh Thí Ngạ Quỉ nói: ''Tụng chú này bảy biến, hay khiến các món ẩm thực và nước đều biến thành màu sữa cam lộ, hay mở rộng cuống họng của tất cả ngạ quỉ, mà được cùng ăn với nhau một cách bình đẳng''.
Hỏi: Nếu nói vật ăn và nước uống đều khắp cả thế giới, vậy xin hỏi Phật và chúng sanh để thân đứng, ngồi vào chỗ nào ?
Đáp: Kinh Lăng Nghiêm nói: ''Tánh của sắc là chân không, tánh của không là chân sắc''. Kinh ấy lại nói: ''Tánh của thủy là chân không, tánh của không là chân thủy, thanh tịnh bản nhiên, châu biến pháp giới, tùy chúng sanh tâm, ứng khả tri lượng, tùy nghiệp phát hiện''. Lời nói đó có nghĩa là: Tánh của nước là chân không, tánh của không (do nhân duyên mà có) là chân nước, tánh của nó là bản nhiên thanh tịnh, biến khắp pháp giới, tùy tâm của chúng sanh phân biệt như thế nào, thì hiện ra theo sự hiểu biết của chúng sanh thế ấy. Đó là do tùy theo nghiệp lực của chúng sanh mà hiện ra đó thôi. Kỳ thật thì tánh thể của muôn vật trùm khắp cả pháp giới, thanh tịnh bản nhiên, không sanh không diệt.
Nay hành giả quán trí đều thanh tịnh khắp giáp, thì nước và đồ ăn đâu chẳng khắp giáp. Khi tâm thanh tịnh, thì vật thực uống ăn đều thanh tịnh. Nếu đứng về mặt hiện tượng của vạn pháp, thì ta thấy có chướng ngại nhau. Ngược lại, nếu đứng về mặt bản thể, thì không có gì ngăn ngại. Dụ như đối với muôn vật có hình tướng ở thế gian, thì chúng ngăn ngại nhau, nhưng hư không, thì làm gì có ngăn ngại. Hư không là dụ cho bản thể hay pháp thân. Hiểu thế, thì ta thấy, người cúng thí và vật cúng thí, cả hai tánh thể đều vắng lặng. Chính đó là ý nghĩa khắp cả pháp giới vậy. Như thế, thì pháp vị nhiệm mầu thật khó nghĩ lường
Cách 3:
Cách vái xin này là từ một cô bạn hướng dẫn vì ba cô ấy là thầy cúng.
Thứ nhất là ra chổ bán đồ mã (đồ dành cho người đã mất) mua một bộ đồ trắng cho nam, và một bộ cho nữ trong đó có nón giầy dép, quần áo luôn rồi. Và mua cái cặp đi học bằng giấy nữa. Về nhà ghi rõ họ tên tuổi của bé vào những đồ này.
Đem để trước bàn thờ ông địa thần tài. Nếu không có bàn thờ thì để trên bàn nào sạch sẽ cũng được, cúng thêm ít bánh kẹo và vái xin: “PHỤNG THỈNH ÔNG THỔ THẦN,THỔ ĐỊA CAI QUẢN TRONG NHÀ NÀY, trong khuôn đất này cho con tên họ tuổi…”
“Hôm nay ngày.. Âm lịch tháng...con xin ông cho phép con được gởi số quần áo bánh kẹo này cho hài nhi của con đã mất, tên tuổi... được nhận số quần áo và bánh kẹo này.”
Những gì cô ấy muốn nói thì cứ khấn vái.
Xong rồi đem đốt.
Trong lúc đốt nhớ vái thêm cầu xin ông thổ địa,
“ông Thổ thần giao cho hài nhi của con và biến hoá quần áo để mặc vừa vặn.”
Điều thứ hai là đi chùa có thờ mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát. Cúng hoa, trái cây hay bánh ngọt và cầu xin:
“NAM MÔ ĐẠI TỪ ĐẠI BI CỨU KHỔ,CỨU NẠN QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT… Con tên họ tuổi là… Hôm nay ngày tháng năm âm lịch... Con có lòng xin mẹ quan thế âm bồ tát cứu khổ cứu nạn giúp cho vong linh hài nhi đã mất của con tên ho tuổi... Được đi theo mẹ bề trên tu hành, không còn chịu khổ ở trần gian nữa.”
“Lúc trước con có làm sai là đã bỏ hài nhi trong bụng được mấy tháng nên con rất đau khổ và hối hận. Con cầu xin mẹ cứu khổ cứu nạn cho hài nhi nhỏ đừng có đi theo vương vấn con mà được đi theo mẹ bề trên tu hành để không chịu khổ ở trần gian nữa. Xin mẹ cho những lời cầu xin cầu nguyện của con được như ý. Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.”
-
Lá đinh lăng
Loại lá này được dùng phổ biến nhất, nó được dùng như công cụ che xốp, thường dùng trong các loại hoa cắm xốp. Kho bó thì nhìn bó hoa hơi xồ xề.
Đinh Lăng Lá Răng: Cây thường dùng làm cánh,lá xẻ răng cưa,một số vựa cây kiểng vẫn bán cây này để trưng bày trong nhà.
-
Hoa Cẩm Chướng (Carnation)
Hoa cẩm chướng (Carnation) có tên khoa học là Dianthus cariophyllus L, thuộc họ Caryophyllaceae, có nguồn gốc từ Địa Trung Hải và chuyển vào Việt Nam từ nửa đầu thế kỷ XX. Tên gọi khoa học Dianthus có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp dios - thần, thánh và anthos- hoa, và nó được nhà thực vật học Hy Lạp Theophrastus (khoảng 370 TCN - 285 TCN) đặt ra. Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 300 loài và có rất nhiều giống lai khác đối phiến lá nhỏ dày, dài, không có răng cưa, mặt lá thường nhẵn.
Hoa cẩm chướng còn có tên gọi là hoa nhau. Hoa cẩm chướng có hai loại là loại hoa đơn và cánh kép, màu sắc rất đa dạng như: màu trắng điểm pha sắc hồng, hường, đỏ, vàng và cam. Chúng thường ra hoa vào mùa xuân hay mùa hè, có khi đến tận mùa đông nếu thời tiết không quá lạnh.
Hoa cẩm chướng với tên khoa học là Dianthus caryophyllus . Ý nghĩa của từ Dianthus tạm dịch là bông hoa tình yêu hay loài hoa của các vị thần. Theo tài liệu xưa, loài hoa này đã được phát hiện hàng thế kỷ. Nó là một trong những loài hoa được trồng từ rất lâu trên thế giới và được yêu thích nhờ vẻ đẹp, hoa lâu tàn và tỏa mùi đinh hương,.
Lịch sử của hoa cẩm chướng dẫn chúng ta về thời Hy Lạp cổ đại, khi loài hoa này được sử dụng trong lĩnh vực nghệ thuật và trang trí. Người theo Đạo Công giáo tin rằng bông cẩm chướng đầu tiên nở hoa khi Đức Mẹ Maria khóc thương Chúa bị đóng đinh trên thập tự giá. Bông hoa cẩm chướng vào thời ấy được tìm thấy có màu hồng đào, nhưng theo thời gian màu của chúng đa dạng từ vàng, trắng, tím, thậm chí cả màu xanh. Cho dù qua nhiều thế kỷ, mức độ phát triển của cẩm chướng vẫn chưa hề dừng lại.
Hoa cẩm chướng thể hiện sự quyến rũ, nét độc đáo và tình yêu. Cũng như các loài hoa khác , sự khác biệt về màu sắc thể hiện những thông điệp khác nhau. Ví dụ như cẩm chướng màu đỏ nhẹ thể hiện sự ngưỡng mộ, tuy nhiên màu đỏ đậm biểu lộ tình yêu sâu đậm . Cẩm chướng trắng tượng trưng cho sự trong trắng và may mắn, màu hồng lại biểu lộ lòng biết ơn. Trong thế kỷ 20, hoa cẩm chướng là loài hoa chính thức tượng trưng cho Ngày của Mẹ tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Trong cuộc sống ngày nay, cẩm chướng là sự lựa chọn cho nhiều dịp, sự kiện trong năm. Đó là loài hoa chỉ nhìn thoáng qua đã nhận ra, chúng toát lên vẻ quyến rũ hớp hồn mọi người trên thế giới. Thật sự ở rất nhiều quốc gia, mức độ phổ biến của chúng hơn nhiều loại hoa khác kể cả hoa hồng. Sức mạnh tình cảm mà loài hoa này mang lại là sự kết hợp hoàn hảo giữa vẻ đẹp cổ điển và độ bền dẻo dai.
Hoa cẩm chướng- Bông hoa tháng 01 của Slovenia
Hoa cẩm chướng (hay còn gọi hoa cẩm nhung) có hai loại là loại hoa đơn và cánh kép, màu sắc rất đa dạng như: màu trắng điểm pha sắc hồng, hường, đỏ, vàng và cam. Chúng thường ra hoa vào mùa xuân hay mùa hè, có khi đến tận mùa đông nếu thời tiết không quá lạnh.
Hoa cẩm chướng được xem là Bông hoa của tháng 1 (The flower of January) hoa dành cho "Ngày của mẹ" và là biểu tượng quốc gia của Slovenia (ở Nam Tư). Cẩm chướng được ngợi ca trong những bài hát của người Slovene. Hình ảnh hoa cẩm chướng đỏ xuất hiện nhiều trong những đồ vật trang trí, đồ thủ công, thêu, gối, chiếc nôi em bé...của người Slovene. Đối với họ, hoa cẩm chướng tượng trưng cho "món quà của Thượng Đế" hay "tình yêu đối với một đứa trẻ". Cẩm chướng đỏ còn tượng trưng cho lòng nhân hậu và tình yêu. Hình ảnh hoa cẩm chướng cũng thường thấy trên những hộp vải lanh của cô dâu, trên quần áo, mũ ni, khăn trùm đầu.. của các cô gái. Bó hoa gồm cẩm chướng, hương thảo, phong lữ có như một thông điệp về tình yêu, lòng thủy chung, chờ đợi và niềm hy vọng mà các cô gái cài trên ngực người yêu trước khi chàng trai phải lên đường ra mặt trận. Ở vùng quê, nhất là ở những miền núi, hoa cẩm chướng được đặt trên ngưỡng cửa sổ hay ngoài ban công. Ngôi nhà của người nông dân với những bông hoa cẩm chướng là một nét đặc trưng của xứ sở Slovenia.
Hoa Cẩm Chướng - Món Quà Ý Nghĩa Dành Tặng Mẹ Yêu
Mẹ luôn là người có ý nghĩa thiêng liêng nhất trong sâu thẳm trái tim mỗi người. Tình thương yêu mà mẹ dành cho con không có gì để so sánh được. Mỗi người có một cách riêng để bày tỏ tình cảm của mình đối với mẹ. Vậy còn bạn thì sao?
Hoa Cẩm Chướng - Món Quà Ý Nghĩa Dành Tặng Mẹ Yêu
Ngày của mẹ, sinh nhật mẹ yêu,... và ngay cả những ngày không đặc biệt thì một lời nói yêu thương, một bông hoa chúc mừng sẽ làm mẹ vui vẻ cả ngày. Bạn định dành loài hoa đẹp nào tặng mẹ. Điện hoa Lina Vân xin mách nhỏ bạn rằng loài hoa có ý nghĩa nhất dành tặng mẹ chính là hoa cẩm chướng
Hoa Cẩm Chướng - Món Quà Ý Nghĩa Dành Tặng Mẹ Yêu-001
Có nhiều truyền thuyết về nguồn gốc hoa cẩm chướng. Theo một câu chuyện xưa thì Cẩm Chướng là loài hoa từ thiên đường rơi xuống trần gian. Hay có huyền thoại cho rằng nó sinh ra từ giọt máu của Chúa. Đây là một trong số những loài hoa lâu đời nhất được con người gieo trồng.
Hầu hết các loài hoa cẩm chướng đều bày tỏ tình yêu mến. Tuy nhiên mỗi màu hoa lại biểu đạt tình cảm khác nhau. Hoa cẩm chướng màu đỏ tượng trưng cho sự ngưỡng mộ, lòng tôn kính và tình yêu sâu sắc. Màu trắng tượng trưng cho tình yêu thuần khiết, trong trắng, thanh cao. Hoa cẩm chướng tước hết lá : biểu tượng của sự từ chối. Còn cẩm chướng màu hồng lại trở thành một biểu tượng vĩnh cửu về tình yêu dành cho mẹ.
Hoa Cẩm Chướng - Món Quà Ý Nghĩa Dành Tặng Mẹ Yêu-002
Nhưng không nhất thiết cứ phải đến Ngày của Mẹ thì mới thể hiện tình cảm mến yêu bằng những món quà vật chất.Công ty Điện Hoa Lina Vân nghĩ rằng 365 ngày trong năm ngày nào cũng là của Mẹ. Vì vậy hãy thể hiện tình cảm yêu mến dành cho mẹ mỗi ngày, giúp đỡ mẹ từ những công việc nhỏ mà chúng ta có thể.Ngoài ra điện hoa Lina Vân còn cung cấp rất nhiều loại hoa khác như hoa cưới,hoa tình yêu,hoa sinh nhật,hoa văn phòng...với các mức giá phù hợp theo yêu cầu của các bạn. Hãy cùng nhau gửi tới thầy cô những bó hoa tươi thắm nhất nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20/11
( http://phatgiaoaluoi.com/news/Tuy-bu.../#.WElF7rKLSHs / http://www.thegioihoatuoi.com.vn/y-n...-loai-hoa.html )
Người ta đặt cho mỗi loài hoa, mỗi màu hoa một ý nghĩa nhất định. Chẳng hạn như hoa hồng tượng trưng cho tình yêu, hoa cam trinh bạch, các cô dâu thường đội vòng hoa cam trong ngày cưới. Hoa mào gà sự say mê hăng hái. Hoa glay-zơn chỉ sự hẹn hò. Hoa mẫu đơn chỉ mối tình trọn vẹn cả đôi bề.
Màu trắng biểu thị sự trong sạch, vì vậy trong các đám cưới, tặng hoa cô dâu, người ta chỉ dùng hoa trắng để tặng mà thôi. Ngoài ra, màu xanh nhạt chỉ sự xoa dịu đam mê, màu hoàng yến đường hoàng kiêu hãnh, màu phấn hồng êm ái ôn nhu, màu tím cà lâng lâng thoát tục, màu tím than an ủi đau thương, màu đỏ sậm tượng trưng máu lửa...
Sau đây là ý nghĩa của một số loài hoa
Hoa Anh Đào: Tâm hồn bạn rất đẹp
Hoa Anh Thảo: Sự thiếu tự tin
Hoa Anh Thảo Muộn: Tình yêu thầm lặng
Hoa Bách Hợp: Sự thanh khiết, hoàn toàn vừa ý, thân ái và tôn kính.
Hoa Bách Hợp Trắng: Sự trong trắng và thanh nhã.
Hoa Dã Bách Hợp: Đem lại hạnh phúc.
Hoa Sơn Bách Hợp: Sự nghiêm túc đứng đắn.
Hoa Bất Tử: Dù có điều gì xảy ra đi nữa, hãy tin rằng tình yêu của chúng ta là bất diệt
Hoa Bồ Công Anh: Lời tiên tri
Hoa Bụi Đường: Sự thờ ơ, lanh lùng
Hoa Calla (Lan Ư): Sắc đẹp lộng lẫy
Hoa Cẩm Chướng: Tượng trưng cho tình bè bạn, lòng quí mến,tình yêu trong trắng, thanh cao
Hoa Cẩm Chướng Hồng: Tượng trưng cho ngày của mẹ.
Hoa Cẩm Chướng Tím: Tính thất thường.
Hoa Cẩm Chướng Vàng: Tỏ ý khinh bỉ , coi thường, sự hắt hủi, cự tuyệt.
Hoa Cẩm Chướng có sọc: Tỏ ý từ chối, không tiếp nhận.
Hoa Cẩm Chướng Đỏ: Biểu hiện sự tôn kính, tỏ ý đau buồn, đau khổ.
Hoa Cẩm Chướng râu: Lòng can đảm - Sự tài trí
Hoa Cẩm Chướng sẫm: Lòng tự trọng, danh dự
Hoa Cẩm Nhung: Tôi mến bạn lắm!
Hoa Cỏ Chân ngỗng: Bị bỏ rơi
Hoa Cúc: Sự cao thượng.
Hoa Cúc Trắng: Lòng cao thượng - sự chân thực, ngây thơ, trong trắng
Hoa Cúc Tây: Chín chắn - tình yêu muôn màu
Hoa Cúc Đại Đóa: Lạc quan và niềm vui, sự vui mừng
Hoa Cúc Tím (Thạch Thảo): Sự lưu luyến khi chia tay
Hoa Cúc Vàng: Lòng kính yêu quý mến, nỗi hân hoan vui vẻ, tỏ sự chân thực, trong trắng
Hoa Cúc Vạn Thọ: Sự đau buồn, nổi thất vọng, ghen ghét.
Hoa Cúc Zinnia: Nhớ đến bạn bè xa vắng
Hoa Thủy Cúc: Sự lo xa, nhớ lại.
Hoa Cúc Ba Tư: Sự trong trắng.
Hoa Cúc Mũi Hài: Tỏ ý bảo vệ.
Hoa Cúc Đồng Tiền: Tỏ ý chúc sống lâu.
Hoa Dạ Lan Hương: Sự vui chơi
Hoa Ðinh tử màu lửa: Càng ngày anh càng yêu em.
Hoa Ðinh tử màu đỏ sẫm: Lòng anh không bao giờ thay đổi.
Hoa Đồng Thảo: Tính khiêm nhường
Hoa Đồng Tiền: Niềm tin tưởng, sự sôi nổi
Hoa Făng: Giúp ta hàn gắn những vết thương lòng.
Hoa Lưu Ly (Forget Me Not): Xin đừng quên em
Hoa Hồng: Tỏ lòng ái mộ, tỏ sự hạnh phúc vinh dự.
Hoa Hồng Gai: Tỏ lòng tốt.
Hoa Hồng Đỏ: Một tình yêu mảnh liệt và đậm đà, tỏ sự hạnh phúc vinh dự.
Hoa Hồng Trắng: Tình yêu trong sáng và cao thượng.
Hoa Hồng Baby: Tình yêu ban đầu.
Hoa Hồng bạch: Ngây thơ duyên dáng và dịu dàng.
Hoa Hồng Nhung: Tình yêu say đắm và nồng nhiệt.
Hoa Hồng Vàng: Một tình yêu kiêu sa và rực rỡ. (Đôi khi có ý nghĩa tình yêu út giảm và sự phản bội, tỏ ý cắt đứt quan hệ).
Hoa Hồng Phớt: Bắt đầu một tình yêu mơ mộng.
Hoa Hồng Đậm: Người đẹp kiêu kì.
Hoa Hồng Thẩm: Tình yêu nồng cháy.
Hoa Hồng Cam: Tình yêu hòa lẫn với ghen tuông.
Hoa Hồng Viền Trắng: Tình yêu kín đáo, sâu sắc, sẵn sàng hy sinh cho người mình yêu
Hoa Hồng Phấn: Sự trìu mến.
Hoa Hồng Tỉ Muội: Khi được tặng, nếu là bạn trai thì cần hiểu rằng: Bạn là một đứa em ngoan.
Hoa Huệ: Sự trong sạch và thanh cao
Hoa Huệ Tây: Sự thanh khiết
Hoa Huệ Thung: Sự trở về của hạnh phúc
Hoa Hướng Dương: Niềm tin và hy vọng. Anh chỉ biết duy nhất có em
Hoa Hải Đường: Chúng ta hăy giữ t́nh bạn thân thiết
Hoa Hạnh Đào: Thầm lặng, mòn mỏi
Hoa Inmortel: Nỗi đau khổ khó nguôi.
Hoa Kim Ngân: Lòng trung thành, tình yêu gắn bó
Hoa Lan: Tình yêu tha thiết ấp ủ trong tôi. Sự thành thật
Hoa Lay Ơn: Cuộc họp vui vẻ và lời hẹn cho ngày mai
Hoa Lưu Ly: Anh muốn hoàn toàn là của em
Hoa Lài: Tinh bạn ngát hương
Hoa Lư: Tình yêu thanh cao và trong sạch
Hoa Lý: Tình yêu thanh cao và trong sạch.
Hoa Mai, hoa Đào: Một mùa xuân tràn trề ước mơ và hy vọng
Hoa Mimosa: Tình yêu mới chớm nở
Hoa Màu Gà: Không có điều gì làm anh chán cả
Hoa Mao Địa Hoàng: Sự giả dối
Hoa Mười Giờ: Hẹn em lúc 10 h
Hoa Ngô: Sự dịu dàng, tế nhị
Hoa Nghệ Tây: Sự vui mừng, tươi tắn
Hoa Ngàn Hương Vàng: Tôi đã có chồng hãy tha thứ
Hoa Pensée: Tôi rất nhớ bạn. Tỏ lòng mơ ước
Hoa Phù Dung: Hồng nhan bạc phận, tình yêu không bền
Hoa Phi Yến: Nhẹ nhàng, thanh thoát
Hoa Phong Lữ: Sự ưu ái
Hoa Quỳnh: Sự thanh khiết
Hoa Rẻ Quạt: Sự ngớ ngẩn
Hoa Sen: Lòng độ lượng và từ bi bác ái
Hoa Sen Hồng: Hân hoan, tươi vui
Hoa Sen Trắng: Cung kính, tôn nghiêm, sự trong trắng không chút tà tâm
Hoa Sen Cạn: Lòng yêu nước
Hoa Sim: Bằng chính của t́nh yêu
Hoa Sơn Trà: Anh nên dè dặt một chút
Hoa Táo: Sự hâm mộ, ưa chuộng
Hoa Táo Gai: Niềm hy vọng
Hoa Thiên Lư: Sự trong sạch, hiên ngang
Hoa Thuỷ Tiên: Vương giả, thanh cao, kiêu hảnh
Hoa Thục Quỳ: Sự thành công
Hoa Thược Dược: Sự dịu dàng và nét thầm kín
Hoa Ti Gôn Trắng: Bạn đã lỗi hẹn, lần sau đừng thế nữa nhé
Hoa Ti Gôn Hồng: Tôi mong nhớ bạn, đau khổ và không gặp khi đến thăm bạn.
Hoa Trà Mi: Kiêu hảnh, coi thường tình yêu
Hoa Trà: Duyên dáng, cao thượng. Lòng can đảm
Hoa Trà Trắng: Sự thanh khiết
Hoa Tulíp: Tình yêu, thắng lợi và đẹp đẽ, biểu tượng người yêu hoàn hảo.
Hoa Tulíp Vàng: Tình yêu nhưng không hi vọng.
Hoa Tulíp Trắng: Lòng yêu quý.
Hoa Tulíp Đỏ: Lòng yêu chưa được đáp lại.
Hoa Tulíp Xanh: Lòng chân thành.
Hoa Tường Vi: Sự yêu thương, anh đã bắt đầu yêu em.
Hoa Tường Vi Đỏ: Ý muốn được yêu.
Hoa Tường Vi Trắng: Tình yêu trong trắng.
Hoa Tường Vi Phấn Hồng: Lời hứa hẹn.
Hoa Tường Vi Hồng: Anh yêu em mãi mãi
Hoa Tường Vi Vàng: Anh sung sướng được yêu em
Hoa Tử Đinh Hương (Lilas): Cảm thấy sao xuyến, phải chăng mình đã yêu rồi chăng
Hoa Tử Vi: Sự e ấp kín đáo
Hoa Vân Anh: Khiếu thẩm mỹ
Hoa Violette (Chuông): Hãy giữ kín tình yêu của chúng ta, đừng cho ai biết
Ý nghĩa màu sắc của hoa
Màu trắng: Ðơn sơ, thanh khiết, trung thực
Màu đen: U buồn, tang chế
Màu tím: Nhớ nhung, lãng mạn, trang trọng
Màu vàng: Rực rỡ, sung túc, cơ hội mới
Màu xanh da trời: Yêu đời, bao dung, êm dịu
Màu xanh lý: Dịu dàng, nhã nhặn
Màu xanh lá cây: Tươi mát, hy vọng, sinh động
Màu hồng: Nồng nàn, thơ ngây, đam mê.
Màu đỏ: Nồng cháy, sôi nổi
Màu cam: Tươi vui, rạng rỡ
Tuỳ theo các dịp vui, ngày lễ bạn chọn hoa như
Mừng tân gia, nên chọn màu hoa tươi vui rực rỡ.
Mừng sinh nhật nên chọn các loại hoa có màu tươi ấm, thanh khiết.
Ngày Tình Yêu (Valentine's Day) nên chọn những bông hồng đỏ thắm hoặc màu hồng nồng nàn.
Ngày thầy cô giáo có thể chọn hoa hồng màu đỏ, trắng, vàng hoặc các loại lan, cúc trắng, cúc vàng v.v...
Dự tang lễ nên chọn hoa huệ ta, huệ tây, vạn thọ, cúc tím....
Ngày trọng đại nhất đời người có thể chọn những loại hoa mà mình thích, thông thường các cô dâu hay chọn hoa hồng trắng bó chung với hoa hồng đỏ, hoa hồng BB hoặc hồng nhung, hoa cúc trắng...
-
Ðang quét dọn chính điện chùa Bát Nhã, tôi chợt nhìn ra phía trước cổng chùa và thấy Diệu Hạnh đi vào một cách vội vã. Tôi hơi thắc mắc vì sự xuất hiện đột ngột của cô Phật tử này. Chắc có chuyện quan trọng lắm nên Diệu Hạnh mới đến chùa lúc trời còn đầy sương như vậy? Những câu hỏi đang được đặt ra trong đầu tôi, thì cô đã đến sát cửa chính điện.
- A Di Ðà Phật, bạch thầy con mới qua.
Cô chắp tay cúi đầu chào. Tôi ngừng quét đáp lễ bằng câu niệm Phật. Qua lời nói và nhìn gương mặt đượm buồn của cô, tôi đoán ra có việc không may rồi. Tôi hỏi:
- Có chuyện chi không Diệu Hạnh?
Nghe tôi hỏi cô liền nấc lên vài tiếng rồi sụt sùi đáp với giọng đứt khoảng:
- Bạch thầy, mẹ con vừa mất đêm qua.
- Vậy hả?
Tôi bàng hoàng trước hung tin này và đứng lặng người chia sẻ nỗi buồn với cô. Trong khi ấy những giọt nước mắt thương đau của cô đang thi nhau lăn dài xuống nền hoa. Sau vài giây xúc động, tôi hỏi thăm nguyên nhân cái chết của thân mẫu cô. Nghe rõ đầu đuôi câu chuyện tôi khuyên cô hãy nén đau thương để dồn tâm sức lo tang lễ mẹ được chu tất. Cô cảm tạ sự quan tâm của tôi rồi thưa:
- Bạch thầy, ba con đã từ trần khi con còn nhỏ, nay mẹ con lại quá vãng, chúng con còn trẻ dại chưa rõ việc tang lễ như thế nào. Xin thầy hoan hỷ chỉ dạy cho.
Thôi rồi, đúng là một gánh nặng đặt lên vai mình đây! Tôi than thầm và ngẫm nghĩ: Chắc chắn từ chối là tôi không thể từ chối được rồi, bởi lẽ Diệu Hạnh và mẹ nàng là Phật tử thuần thành đã ủng hộ tôi từ hơn ba năm nay sau khi tôi lên thành phố ăn học và tạm trú tại ngôi chùa này. Vẫn biết rằng việc làm của họ không có ý mong cầu đến lúc chết được các thầy đến tụng niệm và đưa đám mà đó cũng là nhân và quả. Kẻ thi ân chân chính chẳng quan tâm đến việc cầu báo, nhưng người chịu ân lẽ nào không nghĩ đến hai chữ báo đền? Hơn nữa mình lại là tu sĩ, hằng ngày thường khuyên Phật tử nên lấy đạo lý làm người đối xử với nhau, lẽ nào bây giờ gia đình họ gặp hữu sự mình lại thờ ơ hoặc không có trách nhiệm gì vậy thì tình nghĩa thầy trò ở chỗ nào? Thế nhưng nhận lãnh thì biết gì mà chỉ dạy đây? Thú thật, khi còn ở với sư phụ vì là đệ tử út lại được làm thị giả thầy, nên mỗi lần có đám tang tôi đều viện cớ này lý nọ lẩn tránh để các huynh tôi lãnh giùm. Hơn nữa vì cái quan niệm “TRỌNG LÝ KHINH SỰ” của mình nên tôi coi thường việc cúng tụng đám ma và xem đó không phải là việc làm của tu sĩ đạo Phật. Do vậy tôi hoàn toàn mù tịt về vấn đề này. Bí quá, tôi đề nghị cô nên thỉnh thầy trụ trì chùa Bát Nhã đây, nhưng cô cứ một mực nhờ tôi với lý do là chỗ quen thân dễ dàng xử sự hơn. Thôi thì “thế thời phải thế” chứ còn biết làm sao khác hơn được.
Cô móc túi lấy ra tờ giấy ghi tên tuổi mẹ và ngày sinh ngày tử nhờ tôi coi giờ tẩn liệm, an táng. Tôi ấp a ấp úng:
- À, à, coi ngày giờ hả?
- Dạ, xin nhờ thầy xem giúp giùm con luôn.
Trời ơi, từ trước tới giờ tôi có biết chi đến việc xem ngày giờ tốt xấu gì đâu! Vả lại tôi đã từng lên án nó là mê tín không lẽ bây giờ lại nhúng tay vào? Không thể được, mình phải giữ lập trường trước sau như một. Tôi nhanh chóng phân tích cho cô hiểu về chính kiến trong Phật giáo. Rõ là có hiệu quả, trong lúc tôi giảng giải, cô gật gù ra vẻ tán đồng ý kiến. Khi tôi vừa dứt lời cô liền thưa:
- Bạch thầy hoan hỷ cho, chính con cũng rất hiểu về vấn đề này, nhưng vì trong lúc gia đình có tang, các em con tin tưởng ở ngày giờ, xin thầy cũng vì phương tiện mà cho chúng con một viên thuốc an thần.
Chà, kẹt quá! Tôi thấy mình cần phải giữ vững lập trường trong lúc này và đó cũng là lối thoát cho mình khỏi phải coi ngày giờ. Tôi ra sức thuyết phục, thế nhưng cô cũng ra sức phân trần. Cuối cùng...
- Thôi được, Diệu Hạnh về trước sắp đặt nhà cửa một lát nữa tôi qua thông báo ngày giờ.
Cô ra về. Tôi thơ thẩn đứng đó với bao ý nghĩ rối bời. Về việc coi ngày giờ thì tôi có thể nhờ thầy trụ trì đây được rồi. Còn vấn đề tẩn liệm, an táng sắp tới thì sao? Chả lẽ bây giờ mình lại đến “cầu pháp” với các huynh đệ mà trước đây mình đả kích? Thấy hành động như vậy sẽ tổn thương danh dự, tôi liền về phòng tính kế khác. Tôi chợt nhớ ra trước đây mình có một cuốn sách nói về nghi thức tụng đám. Mừng quá, tôi lao ngay vào các chồng sách lục lọi nhưng tìm mãi mà không thấy. Vốn có thành kiến với nó nên tôi đã hất hủi bỏ nó ở đâu không rõ nữa. Lúc này tôi cảm thấy tiêng tiếc mà thấm thía lời này: Ðừng lãng phí những cái chưa cần để rồi mai đây ta khỏi hối hận khi cần đến nó.
Ðúng giờ nhập quan, tôi có mặt tại nhà Diệu Hạnh. Tuy không biết tí gì về nghi thức này nhưng tôi vẫn thấy vững tâm ở chỗ là ngoài tôi ra không có một thầy nào khác. Nhờ vậy mà tôi dễ dàng tự biên tự diễn hơn. Tay trái cầm ly nước trong, tay mặt cầm nhánh bông cúc, tôi đến cạnh thi hài vừa đọc bài Tán Dương Chi vừa nhúng cành bông vào ly nước rồi rải chung quanh xác chết và tôi cho đó là sái tịnh! Mặc cho con cái khóc la, việc mình mình làm, tôi nhanh chóng tụng chú Ðại Bi, Bát Nhã, niệm Phật, hồi hướng. Thế là xong phần nhập quan. Có lẽ nhờ tiếng khóc la đó khiến tôi bớt trơ trọi và ít ai để ý đến nghi thức cúng tụng của mình. Trong lúc hành lễ tôi thấy một cậu thanh niên tuổi ngoài ba mươi phụ sắp đặt lễ nghi rất là thông thạo. Mặc dù thế dường như sợ múa rìu qua mặt thợ nên cậu ta nhất nhất làm cái gì cũng hỏi tôi. Qua cách bày biện tôi biết chính anh chàng là “thợ” chứ không phải là mình nên tôi cũng nhất nhất gật đầu tán thành.
- Bạch thầy, con thấy thường thường người ta để quả trứng và đôi đũa bông trên bát cơm đầy, đặt trên nắp quan tài. Bây giờ mình cúng chay thì thay quả trứng bằng củ khoai tây được không?
Tưởng anh chàng hỏi ý nghĩa về đôi đũa bông thì bí chứ còn hỏi việc đó tôi gật đầu đáp:
- Ờ, ờ, như vậy là tốt đó đạo hữu.
Bây giờ tôi cảm thấy vừa lo lại vừa mừng về sự hiện diện của cậu thanh niên này. Lo là mình không làm đúng, mừng là mừng có người sắp đặt giúp mình.
Sau khi tẩn liệm xong, anh cho người khiêng một bàn thờ đã dọn sẵn đến trước quan tài. Trên bàn thờ, bên trái là lọ bông huệ, bên phải là mâm trái cây, chính giữa là ba chén cơm với vài ba dĩa thức ăn, bên ngoài là lư hương và ba chiếc ly nhỏ để không. Anh dựng bốn chiếc đũa lên chén cơm đặt trên đầu quan tài: Một đôi ở giữa và hai chiếc mỗi chiếc một bên.
- Bạch thầy, con để vậy có đúng không?
- Tốt rồi đạo hữu.
Tôi định hỏi lại tại sao cúng ba chén cơm mà không để ba đôi đũa mà lại để bốn chiếc và tại sao không để nằm lại để dựng đứng ở đầu quan tài. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại đáng lẽ Phật tử hỏi mình thì mới phải, chứ ai đời Thầy lại đi hỏi Phật tử, như vậy làm sao mà “thống lĩnh đại chúng” cho được.
- Bạch thầy, bây giờ cúng cơm trước hay làm lễ thành phục trước?
Cái gì? Lễ thành phục? Mình có nghe lầm không nhỉ? Tôi liền hỏi lại và anh ta đáp y xì như trước. Thật vậy sao? Lễ thành phục? Tôi ngẫm nghĩ xem nó là cái lễ gì mà nghe lạ tai quá. Trong lúc chờ đợi tìm ra câu giải đáp, tôi quyết định:
- Cúng cơm trước, lễ thành phục sau.
Anh vội vào nhà trong lấy ra một ấm nước trà và đặt lên bàn cạnh ba chiếc ly không. Thấy vậy tôi nói:
- Rót nước vào ly đi đạo hữu.
Anh quay lại nhìn tôi tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Thầy không trà châm sơ tuần, nhị tuần, tam tuần à?
Có vụ này nữa sao ta? Bây giờ mình lỡ nói rót nước ra ly rồi thì phải giữ chữ tín, vả lại mình có rành nghi thức cúng cơm đâu mà biết lúc nào là trà châm sơ tuần, nhị tuần... Tôi liền biện bác:
- Rót một lần đầy ly để người chết uống cho đã khát, chứ mỗi lần rót chút chút một phiền mình mà vong phải chờ đợi tội nghiệp! Mình phải đổi mới tư duy chứ đạo hữu!
Anh chàng nhếch môi cười:
- Vậy có nghĩa là mình gắp thức ăn vào chén cơm cúng luôn khỏi phải tiến phạn?
- Ðúng đấy đạo hữu.
Trong khi tụng kinh, tôi có cảm tưởng mình là chiếc máy radio, miệng đọc mà để đọc, chứ tâm trí thì đi đàng nào ấy. Ba chữ lễ thành phục cứ ám ảnh tôi mãi cho đến khi tụng sang phần niệm Phật rồi mà vẫn chưa tìm ra nó là lễ gì. Kẹt quá tôi đành phải kéo dài thời gian bằng cách đứng niệm Phật thật lâu. Lát sau cậu thanh niên mới bưng ra một cái mâm có đựng đồ tang và đặt trước bàn vong. Tôi “à” một tiếng vì đã tìm ra đáp số và thấy người mình nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng. Tôi thì thầm:
- Thì ra là lễ phát tang!
Ðến lễ thành phục tôi thấy mình cần phải ứng dụng câu ‘tùy duyên biến hóa” trong thế bí này. Tôi nói:
- Mỗi người thắp một nén nhang khấn ngày tháng năm, tên họ mình nay xin thọ tang mẹ.
Trong lúc họ thì thầm khấn, tôi cũng lâm râm đọc thần chú, tay phải cầm ba cây nhanh vẽ lên đồ tang chữ ÁN to tướng. Sau khi thu nhang cắm vào lư hương, tôi nhắc mọi người lấy đồ tang mặc vào. Lúc ấy Diệu Hạnh thưa:
- Nhờ thầy phát tang cho tụi con.
Tôi lúng túng không biết phân biệt cái nào là của ai. Nhìn lên mâm đồ tang tôi thấy ngoài quần áo, khăn ra còn có một cái mũ bằng rơm được quấn bằng vải mùng trắng bên ngoài, vành tròn và có một đường cong ở giữa đỉnh đầu. Tôi đoán chắc mũ này là của người chị cả nên cầm lấy và trao cho Diệu Hạnh. Cô đưa tay lên định cầm thì cậu thanh niên can:
- Ấy, cái đó là của con trai.
Diệu Hạnh ngước nhìn tôi mỉm cười và cầm mũ trao cho đứa em trai. Mặt tôi hơi đỏ.
Trong lúc ngồi giải lao sau khi hoàn tất công việc, Diệu Hạnh đến bên tôi chắp tay thưa:
- Bạch thầy, hôm di quan mẹ con, nhờ thầy thỉnh giúp hộ con hai vị nữa.
Nghe lời yêu cầu của Diệu Hạnh tôi tán thành ngay.
Tôi và hai thầy nữa đến nhà Diệu Hạnh trước khi động quan nửa giờ. Vừa đến cổng, tôi thấy cậu thanh niên bưng một cái mâm đặt trên chiếc ghế đẩu để trước cửa nhà. Trên mâm có một tấm triệu, một đĩa đựng: Một con tôm, một con cua, một miếng thịt, tất cả đều luộc chín có mầu đo đỏ, ba ly nước không, một ấm trà, một cặp đèn cầy nhỏ, vài cây nhang và một ít giấy vàng bạc. Tôi hỏi:
- Cúng cái gì vậy đạo hữu?
- Bạch thầy, cúng cáo đạo lộ ạ!
Cáo đạo lộ? Tôi nhướng mày nhìn và ngẫm nghĩ cúng cáo đạo lộ là cúng ai cà? Sau vài giây tìm hiểu tôi đoán có lẽ là cầu ông thần đất để ông phù hộ cho xe tang đi đường khỏi bị chết máy ẩu chứ gì! Rõ là người Việt Nam ta rất biết điều và lễ nghĩa đầy đủ quá!
Tới giờ làm lễ di quan, tôi cho mời tất cả tang quyến tề tựu trước quan tài. Lúc này tiếng thầy chủ sám vang lên:
- Tang chủ tựu linh tiền.
Tiếng thầy cất lên trầm bổng ngân nga làm mọi người đang ồn ào bỗng im phăng phắc. Dường như âm thanh của thầy đã lôi cuốn họ về với lời kinh tiếng kệ. Quang cảnh buổi lễ trở nên trang trọng lạ thường. Thầy xướng tiếp:
- Giai quỵ.
Lúc này tôi mới cảm được cái tác dụng của âm thanh. Một bản nhạc dù hay cách mấy mà người hát dở cũng chẳng hấp dẫn được thính giả. Nếu lời kinh là một bản nhạc tuyệt vời mà thầy tụng là ca sĩ giỏi thì chắc chắn sẽ dễ dàng thu phục nhân tâm quay về chính đạo. Tôi say sưa lắng nghe và trân trọng theo dõi nghi lễ cúng tụng của hai thầy. Lúc chấm dứt, thầy chủ sám xướng:
- Tang chủ khởi thân lễ tất tứ bái...
Nghe thầy xướng hay quá, tôi nhớ lại mình hôm qua, sau phần cúng cơm tôi nói gọn lỏn:
- Tang chủ lễ tạ bốn lễ.
Sau đó thầy chủ sám nhắc tôi mời các đạo tỳ vào làm lễ bái quan. Tôi thật thà nói:
- Ðã tới giờ động quan, mời quý vị đạo tỳ vào làm lễ bái quan.
Thầy chủ sám nhìn tôi mỉm cười rồi xướng lại, giọng rất trầm hùng:
- Dịch giả tựu linh tiền tác lễ.
Biết mình làm không xong, tôi ghé tai thầy chủ sám nói:
- Nhờ thầy xướng giúp luôn.
Ðợi các đạo tỳ làm lễ bái quan xong, thầy xướng tiếp:
- Triệt hạ linh tòa.
Họ nhanh chóng dọn dẹp tất cả những đồ trang trí chung quanh quan tài. Trước khi động quan, thầy chủ sám xướng:
- Thiên cửu tựu dư.
Quan tài được nhấc lên từ từ. Tôi và hai thầy niệm Phật dẫn đường, kế đó là cậu con trai bưng bát nhang, Diệu Hạnh theo sau bưng di ảnh mẹ, tiếp đến là quan tài. Ðoàn người chậm chạp chuyển động. Tiếng niệm Phật ngân nga trầm bổng hòa với tiếng khánh nhịp mõ của thầy chủ sám vẫn có sức hấp dẫn tôi phải suy nghĩ về vấn đề nghi lễ cúng tụng của tu sĩ Phật giáo. Làm thế nào trong tinh thần tùy duyên hóa độ người mất này mà vẫn giữ được sự bất biến. Những suy nghĩ ấy đang cùng với đoàn người xa dần khởi điểm ...
-
1. Trong quá trình trợ niệm, có cần phải sái tịnh không? Hoặc thứ nhất là trước khi tắt thở hay sau khi tắt thở? ("Sái tịnh tức rưới nước thơm làm cho mọi vật được thanh tịnh. Đây là phương pháp làm thanh tịnh đạo tràng hoặc các cúng cụ, tức rải nước thơm đã được gia trì ấn khế và chân ngôn" - theo từ điển Phật học Huệ Quang tập IV)
Sái tịnh là việc nên làm. Khi bạn đến đạo tràng trợ niệm đó thì phải nên sái, càng đơn giản càng tốt, không nên phức tạp, làm vậy là có sự tôn kính đạo tràng, có sự cung kính đối với chúng sanh vô hình ở cõi này. Giúp cho người đó được vãng sanh là cũng mong rằng những oán thân trái chủ của họ chịu hóa giải oán kết, cùng chung đến giúp họ.
2. Trong quá trình trợ niệm có cần sái tịnh không? Và lúc nào mới thích đáng. Nếu người bệnh đã tắt thở có cần sái tịnh nữa không?
Khi con người vừa lâm chung tất cả các nghi thức đều không quan trọng, tâm tịnh thì cõi Phật tịnh, đâu phải chỉ rưới mấy giọt nước là Tịnh Độ đâu, đó chỉ là cách thể hiện, phải hiểu là như vậy. Có rưới nhiều nước đi nữa mà tâm không tịnh thì cũng vậy thôi. Bạn phải hiểu cái lý này. Khi lâm chung tất cả các nghi thức đều không cần thiết chỉ có một câu niệm Phật đưa tiễn vãng sanh, cũng không có bất cứ khai thị gì và cũng không cần tụng bất cứ kinh chú gì, chỉ có một câu niệm Phật xuyên suốt là được rồi. Trong quyển “sức chung tân lương” và “sức chung tu tri” giảng rất là rõ.
https://vi-vn.facebook.com/notes/ni%...0800633324045/
-
Vào ngày thứ bảy, 12 tháng Tư năm 1975, lúc 6:50 sáng, Tăng đoàn và cư sĩ Phật giáo tại Kim Sơn Thánh Tự đưa vào thùng hơn một trăm con rùa biển đã được mua từ chợ bán thịt nơi mà chúng sẽ bị giết để ăn. Đoàn xe chở tín đồ Phật giáo và rùa sau đó lên xa lộ 101 đến Vịnh Tamalas nơi Hòa Thượng Trụ Trì của Kim Sơn Thánh Tự huớng dẫn tứ chúng đạo tràng trong buổi lễ “Phóng Sanh” thật cảm động. Trong buổi lễ rùa được quy y và được tuyên bố là đệ tử của Phật, thừa nhận sự thực rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và có thể trở thành Phật.
Thần Chú Đại Bi là phần chính của buổi lễ. Trong khi các tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc và ưu bà di đi nhiễu tụng thần chú Đại Bi quanh tượng Phật và các con rùa, Hòa Thượng Trụ Trì rảy tịnh thủy lên các con rùa, tẩy rửa chúng khỏi các nghiệp đã khiến chúng đọa vào loài súc sanh. Sau khi tụng 3 lần Bát Nhã Tâm Kinh và Bốn Đại Nguyện, bài chú phóng sanh được xướng tụng và các con rùa được chuẩn bị để thả ra. Trong khi niệm tên bảy vị Phật, thành viên và bạn đạo của Hiệp hội Phật giáo Trung-Mỹ mang hơn trăm con rùa thả xuống nước cho chúng được tự do.
Một ngày trước buổi lễ, tại buổi họp hàng ngày của Pháp Hội Hoa Nghiêm, Hòa Thượng Trụ Trì của Kim Sơn Thánh Tự giảng giải đạo lý của “Phóng Sanh”:
“Pháp môn Phóng Sanh là một pháp mà người Phương Tây không quen thuộc. Tại sao người phương Tây không hiểu pháp này? Ở Phương Tây, chưa ai từng nhìn thấy buổi lễ Phật giáo này trước đây, và không ai thực sự hiểu về buổi lễ Phóng Sanh.
“Trong nhiều năm qua kể từ khi Phật Pháp bắt đầu được truyền bá ở Phương Tây, Phóng Sanh đã được thực hiện nhiều lần. Mỗi lần như thế, có nhiều người đã phàn nàn. Mặc dù có sự chống đối, chúng tôi vẫn muốn thực hành theo Phật Pháp.
“Tại sao Phóng Sanh? Một lý do là thực hành Phóng Sanh đem lại phước là tăng tuổi thọ. Nếu quý vị không giết hại chúng sanh khác, chúng sẽ không giết quý vị. Hãy xem các cuộc chiến tranh. Tại sao có chiến tranh? Chiến tranh xảy ra khi người ta tham dự vào sự giết hại lẫn nhau. Quý vị giết kẻ đó nên kẻ đó giết quý vị. Thú vật bị giết bởi người. Sau đó người trở thành thú, thú trở thành người, một lần nữa họ tham dự vào việc sát sanh. Số lượng sát sanh đạt tới tỷ lệ rất lớn và nghiệp sát sanh trở nên quá nặng nên chiến tranh xảy ra. Chiến tranh là vấn đề thanh toán các món nợ chưa trả. Anh giết tôi vì vậy tôi giết lại. Tôi giết anh, anh giết tôi. Không có sự kết thúc. Số lượng giết hại tiếp tục chồng chất lên- giống như tăng thêm lãi suất. Anh giết tôi một lần; Tôi sẽ giết anh mười lần. Anh giết tôi mười lần như vậy tôi sẽ giết anh một trăm lần bằng súng, bom, máy bay và hỏa tiễn. Đó là những biểu hiện liên quan đến nghiệp sát sanh đem đến.
“Bằng cách Phóng Sanh, chúng ta có thể làm giảm nghiệp sát sanh. Nếu con người tiếp tục phóng sanh, nghiệp sát sanh sẽ tiếp tục giảm cho đến khi cuối cùng sẽ không còn chiến tranh nữa. Vì vậy thay vì phản đối chiến tranh, chúng ta sử dụng phương pháp này. Căn bản là chúng ta không tranh, như vậy, làm thế nào chúng ta có thể phản đối chiến tranh? Phản đối là tranh chấp. Thay vào đó, chúng ta thực hành một phương Pháp tích cực là Phóng Sanh, cùng lúc làm tăng tuổi thọ. Phóng sanh cũng có thể chống lại bệnh tật. Đó là tại sao khi chúng ta bị la mắng một chút, điều đó không sao cả.
“Cũng không phải là chúng ta nhất thiết muốn tăng tuổi thọ của riêng chúng ta. Chỉ mong rằng tất cả chúng sanh sẽ ngưng sát sanh và làm nghiệp sát sanh chấm dứt ngay và mãi mãi. Đó là tại sao chúng ta phóng sanh.
“Trong việc tu Đạo, mọi người nên có kinh nghiệm thực hành tất cả các Pháp môn, một pháp môn không kém quan trọng là Pháp môn Phóng Sanh rất lợi ích.”