-
Nhất tâm phụng thỉnh phụng mệnh Thiên Đình chấn uy phù thế,thi họa phúc ư thuấn tức chi gian, định tai tường ư trần hoàn chi ngoại, uy dương lang hổ dũng xuất hùng bi,ti kim hỏa chi kỳ tinh ứng khuê lâu chi diệu tú, hóa tam đầu cửu vĩ chi tinh nhật lang chúng quỷ hiện tứ túc bát nha chi tướng, dạ yểm quần tà nhỡn thư điện chế, hào quang khẩu khiếu lôi oanh tích lịch thân ba ngũ sắc túc bộ thất tinh...
Cung duy Thổ Trạch Khuyển Thạch Thần Vương tọa hạ !
Cúng ông Thạch Khuyển
https://www.facebook.com/share/p/1HK9V4QdYV/
-
PHẬT MẪU ĐẠI BẠCH TẢN CÁI: VUA HỒI CHUYỂN VÀ CÁCH ĐỐI TRỊ TIỂU NHÂN
"Nếu cảm thấy có kẻ tiểu nhân bên cạnh, có thể niệm chú này để đối trị!"
☸ Chú này được gọi là "Vua Hồi Chuyển", có thể hồi chuyển mọi sự ghét bỏ (tiểu nhân), ác mộng, oán thù, tai nạn. Khi tu hành, nếu mỗi ngày có thể niệm chú này, chúng ta sẽ tránh được nhiều chướng ngại, ngăn chặn vận rủi (hãy tưởng tượng như một chiếc ô, che chắn mọi duyên xấu, bảo vệ bản thân).
Đức Rinpoche Xuege khai thị: Niệm chú Đại Bạch Tản Cái cũng có hiệu quả trong việc loại bỏ tiểu nhân. Khi gặp tiểu nhân gây ảnh hưởng lớn, có thể liên tục niệm chú này trong 2 giờ.
TÁN THÁN CÔNG ĐỨC PHẬT MẪU ĐẠI BẠCH TẢN CÁI
Đỉnh đầu Thiện Thệ hiển rõ ràng,
Phật mẫu Bạch Tản sinh ra chư Phật.
Chỉ nghe minh chú đốt cháy ma quỷ,
An lạc sinh ra chư thiên tối thắng.
Hiện tướng trăng tròn khí phách trắng,
Thành tựu vững chắc không ai sánh bằng.
Người, phi nhân, quỷ sinh ra,
Mọi duyên lành đều tiêu diệt.
Bờ bên kia chưa điều phục,
Ba nghiệp bị chú trói buộc.
Tai họa gần kề được hồi chuyển,
Xin bảo hộ chúng con.
☸ Phật Mẫu Đại Bạch Tản Cái trong tiếng Tạng là "Dugkar": "Dug" nghĩa là "ô" (dù), "kar" nghĩa là "trắng". Phật Mẫu Đại Bạch Tản Cái là một vị nữ tôn có đại uy lực, phóng quang minh che phủ tất cả chúng sinh, lấy chiếc ô lớn màu trắng làm hình tướng Tam Muội Gia.
Phật mẫu cũng chính là mẹ của chư Phật. Vị tôn này có nhiều hình tướng như một mặt hai tay, ba mặt sáu tay, và ngàn mặt ngàn tay; là một bản tôn Mật giáo nổi tiếng về việc tiêu tai. Chiếc ô trắng mà Phật mẫu cầm là một trong tám bảo vật, có thể hộ quốc an dân, trấn yêu phục ma.
CÔNG ĐỨC LỢI ÍCH
Trì tụng chú của Phật Mẫu Đại Bạch Tản Cái giúp hành giả thoát khỏi: nạn trộm cướp, nạn lửa, nước, độc dược, binh khí, tà chú, đói kém, sự hãm hại của kẻ thù, nạn chết yểu, động đất, thiên thạch, sấm sét, và thú dữ tấn công... Lợi ích chính yếu nhất là đại pháp lực đối trị ma quỷ và hóa giải tiểu nhân.
"THẦN THÔNG VƯƠNG" CHIẾN THẮNG NGOẠI ĐẠO
Trong lịch sử, dịch giả Ralo từng đấu pháp với ngoại đạo sư Punnahu có pháp lực cực mạnh. Nhờ được Đại sư Baro truyền pháp môn Phật Mẫu Đại Bạch Tản Cái, dịch giả Ralo đã thoát khỏi những chiếc "phi chùy" (loại vũ khí điều khiển bằng chú lực) tấn công mình. Những chiếc chùy này dù có khả năng tìm mục tiêu nhưng không thể tìm thấy dịch giả Ralo khi ông đang tu trì pháp này. Cuối cùng, ngoại đạo sư vì thua trận mà tự sát. Câu chuyện minh chứng uy lực phi thường của Phật Mẫu trong việc che chở hành giả trước các thế lực ác ý.
PHIÊN ÂM THẦN CHÚ (SANSKRIT)
1. Chú căn bản (Chú nhiếp thọ):
Tadyatha. Om. Anale. Anale. Khasame. Khasame. Baire Baire. Saume Saume. Sarva Buddha. Adhisthana. Adhistite. Sarva Tathagata. Usnisa. Sitata. Patre Hum. Phat.
Phiên âm Việt:
Ta-đia-tha. Ôm. A-na-lê. A-na-lê. Kha-sa-mê. Kha-sa-mê. Vai-rê. Vai-rê. Sâu-mê. Sâu-mê. Sát-va Bút-đa. Át-đi-stha-na. Át-đi-sti-tê. Sát-va Ta-tha-ga-ta. Út-ni-sa. Si-ta-ta. Pa-trê. Hum. Phạt.
2. Tâm chú (Chú ngắn):
Hum Mama Hum Ni Svaha
Phiên âm Việt:
Hum Ma-ma Hum Ni Sô-ha.
Lưu ý: Trì tụng chú này cần sự kiên trì và niềm tin, tích lũy tháng năm sẽ sinh ra đại uy lực. Chú ngữ tốt nhất nên được Thượng sư khẩu truyền. Nếu chưa có duyên, có thể thỉnh ảnh tượng hoặc chú luân đã được gia trì để hộ thân.
NAM MÔ ĐẠI BẠCH TẢN CÁI PHẬT MẪU 🙏🙏🙏
https://www.facebook.com/share/p/16psdM5tgf/
-
✿ CUNG NGHÊNH NGÀY CÁT TƯỜNG: SINH NHẬT BỒ TÁT NHẬT QUANG 19-11 ÂM LỊCH !!
"Nhật Quang tỏa sáng phá tăm tối - Trí tuệ soi đường thoát khổ đau."
Kính chúc toàn thể chúng sinh dưới ánh từ quang của Ngài đều được thân tâm an ổn, nghiệp chướng tiêu trừ, đời đời tướng mạo trang nghiêm.
Nam mô Nhật Quang Biến Chiếu Bồ tát Ma Ha Tát.
Cung nghênh sinh nhật Bồ tát Nhật Quang Biến Chiếu|Trí quang trường chiếu nguyện tâm tương tục.
Ngày 19 tháng 11 âm lịch là ngày sinh nhật cát tường của Bồ tát Nhật Quang Biến Chiếu.
Trong ngày tràn đầy nguyện lực ánh sáng này, hãy để tâm từ từ lắng đọng, theo ánh sáng trí tuệ, trở về nơi thanh tịnh và ấm áp bên trong.
Bồ tát Nhật Quang Biến Chiếu là vị Bồ tát thị giả bên trái của Dược Sư Phật trong thế giới Lưu Ly phương Đông, cùng với Bồ tát Nguyệt Quang Biến Chiếu thị giả bên phải, cùng phò tá Dược Sư Phật, hợp xưng là Đông Phương Tam Thánh.
Dược Sư Phật dùng pháp dược chữa lành bệnh khổ thân tâm chúng sinh, Bồ tát Nhật Quang dùng ánh sáng trí tuệ phá tan vô minh tăm tối, Bồ tát Nguyệt Quang dùng lòng từ bi thanh tịnh an ủi nỗi ưu phiền của chúng sinh. Tam Thánh đồng nguyện đồng hành, hộ trì hữu tình, khiến chúng sinh được an được sáng.
Nguyện lực sâu sắc này không phải được thành tựu trong một đời một kiếp. Kinh điển ghi chép, từ vô lượng kiếp trước, có một vị y sĩ, cùng hai người con trai đồng phát tâm từ bi, lấy việc cứu giúp bệnh khổ chúng sinh làm chí nguyện, tinh tấn tu hành lâu dài, rộng hành bố thí. Người cha dùng y dược cứu người, hai người con theo hầu bên cạnh, học cách chăm sóc thân tâm chúng sinh, ba cha con đồng nguyện đồng hành, không bao giờ thoái chuyển. Sau này, Phật Điện Quang Như Lai tán thán tâm bi và hạnh nguyện của họ, ban cho người cha danh hiệu Y Vương, ban cho hai người con danh hiệu Nhật Chiếu và Nguyệt Chiếu. Vị Y Vương này, sau này thành tựu thành Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, còn Nhật Chiếu và Nguyệt Chiếu, chính là Bồ tát Nhật Quang Biến Chiếu và Bồ tát Nguyệt Quang Biến Chiếu ngày nay.
Duyên lành ba cha con đồng nguyện độ chúng, đã thành tựu pháp môn thanh tịnh trí và bi song hành trong thế giới Lưu Ly phương Đông. Dược Sư Phật dùng pháp dược chữa bệnh, Bồ tát Nhật Quang dùng trí tuệ phá tối, Bồ tát Nguyệt Quang dùng từ bi an tâm. Đây là con đường tu hành nguyện tâm tương tục, nhắc nhở chúng ta rằng từ bi có thể truyền từ đời này sang đời khác, ánh sáng cũng có thể không ngừng tiếp nối trong cuộc sống.
Trong kinh điển tán thán danh hiệu Bồ tát Nhật Quang Biến Chiếu, hàm ý mặt trời tỏa ngàn ánh sáng, chiếu khắp thiên hạ, phá tan mọi tăm tối. Ánh sáng này là vầng mặt trời trên trời, cũng là một loại ánh sáng trí tuệ có thể soi rọi nội tâm, chuyển hóa phiền não. Khi chúng sinh lạc lối trong tham sân si, nguyện lực của Bồ tát Nhật Quang như ánh bình minh vừa ló dạng, dịu dàng và ổn định dẫn dắt chúng sinh thoát khỏi bóng tối.
Hòa thượng Hải Đào từng từ bi khai thị, trì tụng thánh hiệu Bồ tát Nhật Quang và Đà La Ni Bồ tát Nhật Quang có thể khiến chúng sinh tiêu trừ nghiệp chướng, tránh được thiên tai, đời đời kiếp kiếp tướng mạo trang nghiêm. Hòa thượng nhắc nhở chúng ta, tu hành không chỉ ở hình thức, mà còn ở trong tâm niệm và hành vi. Một tâm nguyện độ chúng tự nhiên sẽ toát ra sự nhu hòa, an định và trang nghiêm, khiến người khác vừa nhìn thấy liền sinh hoan hỷ. Nếu chưa thuộc Đà La Ni, chỉ cần xưng niệm "Nam mô Nhật Quang Biến Chiếu Bồ tát", cũng có thể tương ứng với nguyện lực của Bồ tát.
《Chú Bồ tát Nhật Quang》 là: Nam mô Phật Đà Cù Na Mê, Nam mô Đạt Ma Ma Ha Đê, Nam mô Tăng Già Đa Dạ Ni, Đê Lị Bộ Tất Tát Đát Đát Na Ma, Sa Bà Ha.
Khi trì tụng có thể niệm trước Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng ba lần, sau đó niệm Nam mô Nhật Quang Bồ tát ba lần, cầu xin Bồ tát gia trì, tiếp theo trì tụng tâm chú, mỗi lần tụng một biến liền vấn tấn một lần, nếu ở nhà có thể lễ bái, càng có thể nhiếp tâm tương ứng.
Trong kinh điển cũng ghi chép, người trì tụng Đại Bi Chú, Bồ tát Nhật Quang và Bồ tát Nguyệt Quang sẽ cùng vô lượng hộ pháp thiện thần đến làm chứng, tăng thêm công đức tu hành. Nếu có thể đồng thời trì tụng Đà La Ni Bồ tát Nhật Quang, càng có thể làm cho thiện niệm vững chắc, khiến tâm quang trường minh. Khi một người tâm thanh tịnh, cuộc sống tự nhiên sẽ hiện ra vẻ an định, nhu hòa và quang minh.
Vào ngày sinh nhật Bồ tát Nhật Quang Biến Chiếu, đặc biệt thích hợp để thắp một ngọn đèn cho chính mình và chúng sinh. Đèn là biểu tượng của ánh sáng, cũng là sự hiển hiện của trí tuệ và nguyện tâm. Một ngọn đèn cúng trước Phật không chỉ chiếu sáng không gian này, mà còn chiếu sáng những nơi chưa được hiểu và an định trong nội tâm.
Khi chúng ta nguyện vì chúng sinh cúng đèn, nguyện vì thế giới thêm ánh sáng, trí tuệ sẽ không còn dừng lại ở danh tướng, mà sẽ liên tục lưu chuyển trong đời sống hàng ngày.
Nếu có thể trong ngày này phát tâm hành thiện, hộ sinh, bố thí, giúp người, nói một lời dịu dàng, làm một việc nhỏ khiến người khác an tâm, đều là đang để trí quang của Bồ tát Nhật Quang, thông qua thân khẩu ý của chúng ta, tiếp tục hiển hiện ở nhân gian. Mỗi một thiện niệm đều là một hạt giống ánh sáng, sẽ trong duyên lành thích hợp trở về cuộc sống, trở thành sức mạnh bảo vệ chính mình.
Nguyện dưới sự hộ niệm từ quang của Bồ tát Nhật Quang Biến Chiếu, chúng ta đều có thể giữ được sự thanh tịnh trong phiền não, sinh khởi trí tuệ trong biến động, và ở mỗi bước ngoặt của cuộc đời, chọn đi về phía ánh sáng. Cũng nguyện mọi công đức tu tập trong ngày này hồi hướng cho chúng sinh pháp giới, thoát khỏi vô minh, thân tâm an ổn, thế giới hòa bình, ánh sáng tiếp nối.
🙏 Chí thành đảnh lễ 🙇🙇♀️
🔅 Nam mô Nhật Quang Biến Chiếu Bồ tát Ma Ha Tát
🔅 Nam mô Nhật Quang Biến Chiếu Bồ tát Ma Ha Tát
🔅 Nam mô Nhật Quang Biến Chiếu Bồ tát Ma Ha Tát
Trung tâm Từ Bi Tăng Già Tân Trúc.
Kính chúc:
Nguyện trí quang trường chiếu nhân gian
Nguyện hữu tình chúng sinh thân tâm an ổn
Nguyện con đường tu hành thanh tịnh không thoái chuyển
Nguyện cùng hành Bồ đề, nguyện nguyện thành tựu
NAM MÔ NHẬT QUANG BIẾN CHIẾU BỒ TÁT MA HA TÁT 🙏 🙏 🙏
Hình ảnh Phật Bồ Tát:
https://www.facebook.com/share/p/1C3dubRbTJ/
https://www.facebook.com/share/p/17jJuarNsJ/
-
Các sự tồn tại trong Linh Giới
Trống Lôi Âm
Lôi Âm Cổ hay Trống Lôi Âm là cái trống linh thiêng nơi Thượng Giới, được kết tinh bởi những đám mây lành ngũ sắc.
Nói là trống cho chúng ta dễ hình dùng, chớ thực ra là một đám mây vĩ đại vô cùng.
Đám mây vĩ đại ấy phân thành hai nhóm mang tính âm dương.
Nhóm mang tính âm thì có thể nhìn rõ hình dạng thành từng cụm, từng khối giống các đám mây chúng ta nhìn thấy trên bầu trời.
Nhóm mang tính dương thì thanh nhẹ nên không định rõ thành hình dạng, trông giống như những dải ánh sáng trên bầu trời vậy.
Khi các nhóm mây lành ngũ sắc thuộc dương di chuyển, tương tác với nhóm mây thuộc âm thì trống này phát ra điển quang tức ánh chớp chói lòa và tiếng sấm rền vang chấn động cả Thiên Địa Tam Giới.
Pháp âm ấy đặc biệt có tác động mạnh mẽ đến U Minh Giới, giúp cho các chơn hồn vô minh mang nhiều chấp niệm đau khổ, tội lỗi và bi thương hễ nghe thấy tiếng trống thì thần thức được tác động một lực giúp họ tịnh hóa năng lượng loạn động, giúp họ tỉnh thức, an định.
Còn điển quang ấy phát ra tới đâu sẽ xua tan vô minh ám khí nơi đấy.
Tiếng trống Lôi Âm cũng được phát động trong các dịp lễ để nhắc nhở, triệu tập chư linh khắp nơi quy tụ về Bạch Ngọc Kinh.
Mỗi khi có một chơn hồn chuyển sinh thành anh linh, thường là đạt quả vị tương đương Cửu Phẩm Thần Tiên thì hồi trống Lôi Âm sẽ được cất lên. Mỗi cấp bậc sẽ ứng với số hồi chuông trống hiệu khác nhau thông báo khắp Tam Giới.
Sưu tầm...
-
Ăn hành tỏi có thể niệm kinh không?
Pháp sư Hải Đào từ bi khai thị:
Tôi nghĩ trọng điểm là bạn có tâm hổ thẹn, không phải là tôi thích ăn hành tỏi, mà là để phối hợp với gia đình.
Vì vậy, khi bạn niệm kinh, trước mỗi kinh điển đều có "Tịnh thân nghiệp chân ngôn", "Tịnh khẩu nghiệp chân ngôn", cái đó nhất định phải niệm. Tức là dù bạn không thể không ăn hành tỏi, nhưng bây giờ bạn muốn niệm kinh, thì phải tịnh hóa nghiệp thân trước, tịnh hóa nghiệp miệng trước, sau đó mới niệm, như vậy là được.
Nếu nói với người khác rằng, bạn ăn hành tỏi thì đừng niệm kinh, thì Phật giáo sẽ tiêu vong, sẽ không còn ai niệm nữa, vì trên thế giới này có mấy ai không ăn hành tỏi đâu? Cho nên cách nói này không đúng.
Thậm chí trước đây có người truyền rằng "người ăn thịt không thể niệm kinh, ăn thịt niệm kinh không có tác dụng", điều này cũng không đúng,
Ăn thịt càng phải niệm kinh, bạn niệm kinh lâu rồi sẽ không ăn thịt, đúng không? Phóng sinh cũng vậy, họ nói "tôi đang ăn cá, cho nên tôi không phóng cá." Vậy là sai rồi, bạn ăn cá, bạn phải nhanh chóng phóng cá, phóng nhiều cá một chút, sau đó bạn sẽ khởi tâm bi mẫn đối với cá, cũng tiêu trừ nghiệp chướng ăn cá của bạn. Theo kinh điển là nói như vậy.
Cho nên tôi nghĩ, khi bạn gặp vấn đề, vẫn phải lấy kinh điển làm căn cứ, hoặc hỏi thiện tri thức, chứ không phải nghe người khác nói. Thiện tri thức này có nghĩa là, người này đã đọc rất nhiều kinh điển, họ giữ giới luật, họ có tâm bi mẫn, cho nên dù tôi không đọc nhiều kinh điển, tôi hỏi họ cũng không sai.
Nếu không thì bây giờ mạng internet rất tiện lợi, bạn chỉ cần tìm kiếm là có thể tìm thấy rất nhiều căn cứ kinh điển. Cho nên điểm này, đừng để bị ảnh hưởng.
Nhưng tôi nói cho bạn biết, ma quỷ hai mươi bốn giờ đều muốn ảnh hưởng bạn, tức là hy vọng bạn đừng niệm kinh, bạn đừng tu hành, chúng sẽ tìm mọi lý do để bảo bạn đừng niệm, đừng làm.
Cho nên một người nhất định phải gieo nhiều thiện căn, gieo nhiều thiện căn là gì? Là lễ Phật nhiều, cúng dường Phật nhiều, để phước báo của mình lớn hơn một chút, đừng để bị ảnh hưởng.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT 🙏🙏🙏
https://www.facebook.com/share/p/1AwvPn6rSW/
-
• ÚM THU-XẢ THU-XẢ.
=]> Phổ Quảng phục hồi Hán-Việt: ÚM XẢ-THU XẢ-THU.
=]> Phổ Quảng phục hồi Chú Hán-Việt: ÚM XẢ-THU XẢ-THU SA-HẠ.
=]> Phổ Quảng phục hồi Phạn-Chú: OṂ SĀDHU SĀDHU SVĀHĀ.
-
• ÚM THU-XẢ THU-XẢ.
=]> Phổ Quảng phục hồi Hán-Việt: ÚM XẢ-THU XẢ-THU.
=]> Phổ Quảng phục hồi Chú Hán-Việt: ÚM XẢ-THU XẢ-THU SA-HẠ.
=]> Phổ Quảng phục hồi Phạn-Chú: OṂ SĀDHU SĀDHU SVĀHĀ.
-
• ÚM THU-XẢ THU-XẢ.
=]> Phổ Quảng phục hồi Hán-Việt: ÚM XẢ-THU XẢ-THU.
=]> Phổ Quảng phục hồi Chú Hán-Việt: ÚM XẢ-THU XẢ-THU SA-HẠ.
=]> Phổ Quảng phục hồi Phạn-Chú: OṂ SĀDHU SĀDHU SVĀHĀ.
-
ẤN QUANG ĐẠI SƯ ĐÍCH THÂN CHỨNG MINH
CHÚ DƯỢC SƯ TRỊ BỆNH LINH NGHIỆM THẦN KỲ, HOÀN TOÀN CHÂN THẬT KHÔNG HƯ DỐI
Trong Văn Sao Tục Biên của Ấn Quang Đại Sư có ghi lại một câu chuyện xảy ra vào năm 1931. Tại Tô Châu, vợ của cư sĩ Ngô Thương Châu lâm trọng bệnh, nằm liệt giường, hôn mê bất tỉnh. Thầy thuốc đều bó tay, không còn cách cứu chữa. Cư sĩ Ngô Thương Châu vô cùng lo lắng, liền đến cầu thỉnh Ấn Quang Đại Sư chỉ dạy.
Ấn Quang Đại Sư dạy ông phải chí thành trì tụng Chú Dược Sư, mỗi ngày 21 biến. Đồng thời cầu nước Chú Dược Sư, quán tưởng ánh quang minh của Đức Dược Sư Phật gia trì khắp toàn thân người vợ đang bệnh, rồi dùng nước chú lau lên trán của bà. Sau ba ngày, người vợ kỳ tích đứng dậy đi lại, sắc mặt hồng hào, khí sắc phục hồi.
Bà kể rằng trong lúc hôn mê, bà nhìn thấy Đức Dược Sư Phật, phóng quang gia trì từ trán lan khắp toàn thân, nhờ vậy mà tỉnh lại. Cả gia đình nghe xong, mừng rỡ đến rơi nước mắt, toàn thân run lên vì xúc động, liền hoan hỷ quy y Tam Bảo, cảm ân và tán thán Đức Dược Sư Phật với ánh kim quang che chở, lòng đại từ đại bi cứu độ chúng sinh, ân đức rộng lớn không thể nghĩ bàn.
Ấn Quang Đại Sư giải thích rằng, chí thành niệm Chú Dược Sư, giống như con nhớ mẹ, nhờ Phật lực gia trì, cảm ứng đạo giao, nghiệp chướng tự tiêu, thân bệnh nhanh chóng lành, thân tâm tự nhiên hồi phục khỏe mạnh. Ấn Quang Đại Sư từng bế quan tại núi Phổ Đà, chuyên trì Chú Dược Sư, cảm được Đức Dược Sư Phật hiện thân, phóng quang gia trì, ban phước tiêu nghiệp.
Trong Kinh Dược Sư có dạy, nếu chí tâm niệm tụng, nhờ nguyện lực gia trì của Đức Dược Sư Phật mà tiêu tai diên thọ. Ấn Quang Đại Sư dạy trì Chú Dược Sư mỗi ngày chỉ 21 biến, là vì trọng chất không trọng lượng. Mỗi một biến chú đều phải đầy đủ tâm niệm, miệng tụng, tai lắng nghe, rõ ràng phân minh, minh bạch, không mơ hồ.
Ngài dạy rằng nghiệp chướng chính là căn nguyên của bệnh khổ. Chỉ khi chí thành, chuyên chú trì tụng Chú Dược Sư mới có thể cảm ứng được nguyện lực từ bi của Đức Dược Sư Phật, nhận được Phật lực gia trì của Dược Sư Như Lai, nhờ đó tiêu trừ nghiệp chướng, hóa giải bệnh khổ. Nếu lại kết hợp hành thiện, tu phước, thì hiệu quả sẽ nhanh chóng và rõ rệt hơn.
✵ NAM MÔ DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG PHẬT ✵
https://www.facebook.com/share/p/18Cp5psPSQ/
-
VẠN PHẬT THÀNH TU HÀNH NHƯ THẾ NÀO ?
Thầy Thích Minh Định
Từ lâu tôi muốn viết về sự tu tập ở Vạn Phật Thành như thế nào ? Nhưng nhiều việc Phật sự bận rộn, hơn nữa cũng lười biếng viết, cho nên hôm nay đột nhiên hứng thú, nên viết đôi nét về sự tu tập ở Vạn Phật Thành, Mỹ Quốc.
Trước khi biết được Vạn Phật Thành, phải nói nhờ hai vị sư huynh là Thầy Thích Minh Chiếu và Thầy Thích Trung Thành ở Mỹ, đều là đệ tử của cố lão H.T Thích Trung Quán (Chùa Hoa Nghiêm ở Villeneuve Le Roi) ngoại ô phía nam Paris. Sau khi nhị vị sư huynh nầy xuất gia với cố H.T Thích Trung Quán, thì mỗi năm đều đến Pháp thăm cố H.T bổn sư Thích Trung Quán, hai vị này mới kể về kỳ tích cố H.T Tuyên Hoá, cũng như Vạn Phật Thành như thế nào ? Nghe xong cảm thấy thích thú kỳ diệu vô cùng, hy vọng có ngày sẽ được gặp Ngài, cũng như đến được Vạn Phật Thành cho biết, trước khi đến được Vạn Phật Thành tôi nói chút xíu về nhân duyên xuất gia của tôi.
Từ lúc còn ở Việt Nam, khoảng năm 1977 tôi đã muốn phát tâm xuất gia với cố H.T Thích Thiện Tâm trụ trì Chùa Đạt Ma – Phan Thiết. Lúc này hơn 10 tuổi đang ở Chùa đi học. Nhưng cố H.T Thiện Tâm không cho phép, vì sợ chính quyền làm khó dễ, vì lúc này chính quyền đang động viên kêu gọi các thanh niên đi nghĩa vụ quân sự, nên việc xuất gia không thành.
Khoảng tháng 10 năm 1984, tôi cùng gia đình vượt biên qua các đảo Ga Lăng, Indonesie, thời gian ở đây rất vui, người tị nạn rất đông, ban ngày đi học tiếng Anh, tối thì đi Chùa tụng Kinh lễ Phật, và cũng sinh hoạt gia đình Phật tử. Ở đây được khoảng vài tháng thì đi qua Pháp. Đầu năm 1985 thì chính thức tới nước Pháp, ở trong trại vài tháng đi học tiếng Pháp, sau đó về nhà ở Tourcoing, miền bắc nước Pháp, ghi danh tiếp tục đi học trường trung học Pháp. Sau đó tâm xuất gia lại tiếp tục khởi lên, cứ nghĩ đi học rồi mai mốt cũng đi làm, lo cho gia đình, rồi vẫn cứ ở trong vòng lẩn quẩn như bao nhiêu người thế tục, nếu muốn xuất gia thì nên đi càng sớm càng tốt.
Năm 1989, tôi quyết định phát tâm xuất gia, bèn nói với cố Ni Sư Đàm Hải trụ trì Chùa Hoa Nghiêm Grenoble, trước đó Ni Sư cũng hay lui tới nhà, cũng nói về cố H.T Thích Trung Quán, nên Ni Sư dẫn về gặp cố HT Thích Trung Quán và lạy ngài làm thầy bổn sư xuất gia, cùng năm đó vào lễ Vía Bồ Tát Quán Âm, cố H.T làm lễ thọ giới Sa Di. Trước khi đi tu tôi đã thuộc năm đệ Lăng Nghiêm. Sau khi thọ giới Sa Di rồi, Ni Sư Đàm Hải xin cho tôi về Chùa Hoa Nghiêm Grenoble, tiếp tục đi học trong đại học Grenoble được khoảng hai năm.
Năm 1990, cố HT Tuyên Hoá và phái đoàn Vạn Phật Thành đến Âu Châu hoằng pháp. Ni Sư Đàm Hải thỉnh mời Ngài và phái đoàn về Grenoble thuyết giảng, và tôi đã gặp cố HT Tuyên Hoá ở Grenoble, đảnh lễ Ngài và xin Ngài qua Vạn Phật Thành tu tập, Ngài đã hứa khả, thật là vui mừng khó tả. Khi Ngài và chư Tăng xuống Grenoble thuyết giảng, tối đó chư Tăng và tôi ngủ ngồi ở Chánh điện, từ đêm đó tôi đã tập ngủ ngồi.
Năm 1991, cố Ni Sư Đàm Hải mua cho Tôi vé máy bay sang Vạn Phật Thành tu học, năm đó Vạn Phật Thành có mở Đại Giới Đàn, và tôi được thọ giới Cụ Túc đại giới đàn này. Năm đó có cố HT Thích Trung Quán, cố HT Thích Chân Thường, TT Thích Minh Đăng, cố Ni Sư Đàm Hải … và các Phật tử tháp tùng sang dự Đàn giới và tham quan Vạn Phật Thành.
Từ khi sang Vạn Phật Thành tu học, nhập chúng ở đây trở thành thường trú nhân, theo thời khoá biểu hằng ngày vừa tu, vừa học, vừa làm việc. Sáng sớm ba giờ rưỡi sáng thức dậy, bốn giờ khoá lễ sáng, năm giờ xong, tiếp tục khoá lễ, hoặc ngồi thiền, chín giờ sáng chấp tác làm việc, hoặc có lớp học cho chư Tăng mới thọ giới. Buổi sáng ở đây không dùng sáng, không có cà phê, không có gì hết, chỉ có trà, ai muốn uống thì uống. Mười giờ rưỡi cúng ngọ rồi đi kinh hành ra Ngũ Quán Đường, đọc bài cùng dường, ngũ quán, rồi dùng cơm. Trong lúc dùng cơm có khi gần cả ngàn người, mà im phăng phắc, không một tiếng nói, thật là tuyệt vời làm sao. Thức ăn tự chọn, ăn bao nhiều thì lấy. Ăn xong, bát của ai tự mình đi rửa, rồi đem vào bàn để lại chỗ của mình. Thời gian ăn khoảng bốn mươi lăm phút, ăn xong đại chúng hồi hướng đi kinh hành vào Chánh Điện, đọc Tam Quy Y, xong về phòng nghỉ. Một giờ trưa Khoá Lễ Đại Bi Sám, hoặc chấp tác làm việc, hoặc có lớp học cho chư Tăng mới thọ giới. Bảy giờ tối bắt đầu khoá lễ tối, tụng Kinh Di Đà, Hồng Danh Sám Hối, thay phiên nhau, rồi Mông Sơn thí thực, ngày tiếng Anh, ngày tiếng Tàu, kế tiếp tụng 108 biến tâm Chú Lăng Nghiêm, xong khoá lễ tối thì tới thời pháp thoại, hoặc nghe băng giảng của cố HT Tuyên Hoá. Chín giờ rưỡi tối thì xong, ai nấy về phòng của mình.
Ngủ thì ngủ ngồi, lót cái mền xuống nền tựa vào tường ngủ. Những đêm đầu tiên không ngủ được, thì những đêm kế tiếp đã quá mệt thì sẽ ngủ được thôi, sau đó thì quen dần, ngồi xuống thiền từ từ sẽ ngủ, về sau trở nên bình thường, không có gì khó khăn nữa. Vào mùa đông trời rất lạnh, dưới âm độ c, không có sưởi, chịu khó mặc đồ cho nhiều vào thì ấm thôi. Sáng dậy súc miệng rửa mặt toàn nước lạnh, chỉ khi nào tắm mới có nước nóng, đồ giặt bằng tay, mùa đông phơi tới vài ngày mới khô. Lâu dần trở thành bình thường, không nghe ai than vãn gì hết, vì ở đây là vậy, mình ở được thì ở, không được thì thôi, không ai bắt buộc mình, cũng có một số Thầy không chịu được lâu, một thời gian ngắn rồi bỏ về.
Vào khoá thiền, bắt đầu thức dậy từ hai giờ rưỡi sáng, ba giờ sáng bắt đầu ngồi thiền. Ngồi một tiếng thì dậy đi hương, đi hương khoảng hai mươi phúc, rồi lại ngồi, cứ tiếp tục như vậy. Mười một giờ trưa dùng cơm, một giờ tiếp tục ngồi thiền, bốn giờ chiều được nghỉ một tiếng. Sáu giờ tiếp tục ngồi cho đến mười một giờ đêm thì nghỉ. Trong lúc ngồi thiền, ai muốn ngồi tiếp thì cứ ngồi, ai muốn đi hương thì đi, có nhiều vị ngồi vài tiếng cho đến bảy tám tiếng liên tục. Riêng tôi thì có thể ngồi kiết già được một ngày đêm liên tục, đây là do tập luyện ngồi kiết già ba tháng trời mới được như vậy, chứ không dễ gì.
Tôi nhớ lại sau khi cố HT Tuyên Hoá mua lại ngân hàng ở Longbeach để thành lập đạo tràng Phước Lộc Thọ, lúc đó tôi đang ở Vạn Phật Thành vừa bị bệnh phổi, Hoà Thượng đã cho tôi và Thầy Hằng Đức xuống ở đạo tràng Phước Lộc Thọ, ở đây thuộc miền nam Cali, nên khí hậu ấm hơn, ở đây họ cho taxi tới đón tôi vào nhà thương khám và cho thuốc về uống, vài tháng sau thì bệnh phổi khỏi hẳn. Trong thời gian nầy tôi chuyên tu thiền, mỗi ngày từ sáng tới tối ngồi thiền một mình, ngồi kiết già lâu nhất có thể, khi nào hết chịu đựng được thì bỏ chân xuống.
Ban đầu ngồi được khoảng một tiếng rưỡi thì chân bắt đầu đau, đau dần tới khoảng hai tiếng rưỡi trở đi, thì đau khủng khiếp lắm, đau cho tới khoảng ba tiếng đồng hồ thì sẽ hết đau, sẽ an lạc vô cùng, không thể nào tả được. Vượt qua được ải thứ nhất này cũng gay go lắm, chứ không dễ dàng gì. Tiếp tục ngồi cho đến khoảng hơn năm tiếng, thì chân bắt đầu đau lại, lần này đau hơn lần trước, đau kinh hoàng lắm, có thể khóc chứ chẳng đùa. Sau khi chịu đựng cái đau khủng khiếp đó, tới khoảng sáu tiếng thì sẽ hết đau, bây giờ tới lúc an lạc một cách lạ lùng, chỉ có mình cảm nhận được thôi. Sau khi vượt qua ải thứ hai nầy, thì có thể ngồi kiết già bao lâu tuỳ ý, có thể ngồi kiết già cả ngày cũng được, không còn đau như trước kia nữa. Từ lúc tập ngồi kiết già cho đến vượt qua được hai cái ải nầy, mất hết ba tháng trời.
Ở đây được khoảng một năm, thì về lại Vạn Phật Thành. Lúc đó tới khoá thiền thất hàng năm, đại chúng vẫn ngồi thiền bình thường, lúc này tôi thử ngồi kiết già được khoảng một ngày đêm. Từ đó tới bây giờ chưa có dịp dự khoá thiền thất nữa, nên chưa ngồi kiết già lại nữa, không biết còn ngồi kiết già được lâu như xưa nữa hay không ! Nhưng dù sao cũng đã trải qua những cảm giác khổ đau an lạc khi ngồi kiết già nhiều tiếng đồng hồ.
Ở Vạn Phật Thành còn có những vị không giữ giới tiền bạc, có nghĩa là không có tiền, có bao nhiêu cúng hết cho chùa, hoặc không nhận tiền cúng dường. Hơn nữa cũng không hay đi ra ngoài, cũng chẳng mua gì. Vì trong Vạn Phật Thành có đầy đủ hết rồi, bên chư Tăng cũng có cái kho, tất cả y áo, giầy dép, túi xách, thuốc men .v.v… ai cần gì thì cứ vào lấy, rồi ghi vào cuốn sổ. Lâu lâu thì có bác sĩ Phật tử tới Vạn Phật Thành khám bệnh cho mọi người, hoàn toàn miễn phí, hoàn toàn không có bảo hiểm sức khoẻ, bệnh thì uống thuốc, hoặc khám bác sĩ Phật tử, hoặc vào nhà thương nếu cần thiết.
Sau đó Hoà Thượng kêu tôi và Thầy Hằng Luật (hiện nay là phương trượng Vạn Phật Thành), tới Tuyết Sơn Tự ở Seattle, ở đây hoàn toàn biệt lập với thế giới bên ngoài, không có Phật tử lai vãng, chỉ có chú Phật tử mang rau cải tới mỗi tuần. Hai huynh đệ ở đây tu tập, tụng Kinh bái sám, ngồi thiền .v.v… Mỗi ngày, sau giờ cơm trưa thầy Hằng Luật dạy tôi tiếng Tàu Phổ Thông khoảng một tiếng, học được đâu khoảng ba tháng, nên nói tiếng Tàu cũng khá hơn. Sau này tự học thêm, vì khi biết được phát âm căn bản rồi thì cũng dễ, hơn nữa đã biết chữ Hán thì cũng dễ hơn nhiều. Chữ Hán thì được cố HT Trung Quán dạy luật học được vài tuần lễ, đa số tự mua sách về học, nên vừa biết đọc và biết nói, giao lưu với người Tàu cũng dễ dàng. Đa số mọi người ở Vạn Phật Thành đều nói tiếng Anh và Tiếng Tàu, còn tiếng Việt thì khi nào giao lưu với Phật tử người Việt. Tiếng Phổ Thông cũng dễ học, chỉ học khoảng vài tháng thì nói được.
Vạn Phật Thành có tông chỉ ngày ăn một bữa, y bất ly thân, lúc nào cũng mặc y nâu khi ăn cơm hoặc đi ra bên ngoài. Lâu dần trở thành quen, không còn cảm thấy vướng bận. Hơn nữa có mặc y trên người cũng là thể hiện tướng người tu, cho nên đi đâu Tăng Ni Vạn Phật Thành đều mặc y nâu, cho tới bây giờ tôi vẫn còn cố gắng giữ truyền thống nầy.
Vào năm 1995, cố HT Tuyên Hoá viên tịch, để lại rất nhiều xá lợi. Sau khi đám tang của Ngài xong, tôi trở về Pháp, mặc dù có thẻ xanh (Green Card) do cố HT Tuyên Hoá làm cho mấy năm trước, nhưng tôi không muốn ở Mỹ, vì thấy cuộc sống ở Mỹ xô bồ quá, muốn trở về Pháp tu, thấy ở Pháp yên bình hơn, nên cuối cùng đã bỏ nước Mỹ trở về Pháp (hiện bây giờ vẫn còn giữ thẻ xanh để làm kỷ niệm, dù đã hết hạn từ rất lâu rồi), mọi người thì ngược lại, đa số đều thích sống ở Mỹ, thôi thì mỗi người một lý tưởng. Cho tới bây giờ tôi cảm thấy đó vẫn là quyết định đúng đắn, cũng là số tôi có duyên sống ở bên Pháp. Trước khi về Pháp tôi xin tất cả những Kinh sách do cố HT Tuyên Hoá giảng giải, gồm có Kinh Hoa Nghiêm 25 tập, Kinh Pháp Hoa 5 tập, Chú Lăng Nghiêm 5 tập (nhưng sau này dịch và in ra tiếng Việt chỉ 2 tập thôi), Chú Đại Bi 1 quyển, Nhân Sinh Yếu Nghĩa 1 quyển.
Sau khi về Pháp, vào những lúc rảnh tôi bèn lấy quyển Nhân Sinh Yếu Nghĩa ra dịch thử, càng đọc càng thấy hay quá, bèn dịch ra tiếng Việt, kế tiếp là dịch Chú Đại Bi giảng giải, rồi dịch Chú Lăng Nghiêm giảng giải, dịch Kinh Pháp Hoa giảng giải, cuối cùng dịch bộ Kinh Hoa Nghiêm giảng giải, tổng cộng thời gian dịch hết tới 20 năm. Sau khi dịch hết những Kinh này, tôi không muốn dịch nữa, muốn nghỉ ngơi, vì dịch Kinh tâm trí rất mệt, vì phải để toàn bộ tâm trí vào Kinh văn, để dịch ra cho đúng ý của Phật nói, và ý của cố HT Tuyên Hoá muốn nói gì. Sau khi dịch ra được quyển nào, thì in ra quyển đó bố thí cho trong nước và ngoài nước và cũng có in ra Kinh Hoa Nghiêm để tụng 1 bộ 8 tập và Kinh Pháp Hoa để tụng 1 bộ 1 tập.
Bây giờ mỗi ngày tôi chuyên trì Chú Lăng Nghiêm nhiều biến nhất có thể và áp dụng thiền trong cuộc sống, bất cứ lúc nào và ở đâu, chỉ cần mình tỉnh thức trở về với chân tâm của mình, thì mình sẽ cảm thấy an lạc. Cuộc sống đời tu rất đơn giản vậy thôi, không tranh giành hơn thua làm gì, cũng không màng danh lợi thế gian, chỉ biết mình còn ăn cơm của đàn na tín thì, thì mình làm tròn bổn phận của mình, thế là đủ. Mỗi chủ nhật hằng tuần, các phật tử về Chùa tụng kinh, xong rồi hướng dẫn họ ngồi thiền 20 phút, sau đó khai thị và vấn đáp Phật pháp, rồi cúng thất, xong rồi ăn cơm. Cứ như vậy tuần này qua tháng nọ, cảm thấy rất an vui.
Giờ này hồi tưởng lại gần 5 năm tu tập ở Vạn Phật Thành, nên viết ra để mọi người đọc cho vui. Nhưng nhờ những năm tháng tu ở Vạn Phật Thành, bây giờ tôi có thể ở đâu cũng được, nếu không bận Phật sự, chùa chiền v.v… tôi có thể tìm một nơi vắng vẻ trong rừng, trên núi gì cũng được, để ẩn cư tu tập. Nhưng đó chỉ là nghĩ vậy thôi, tất cả mọi sự đều tuỳ duyên, hơn nữa bây giờ cũng nhiều chúng sinh cần mình, thì mình cũng phải phục vụ lại chúng sinh, để làm tròn bổn phận xứ giả của Như Lai, để tiêu hạt cơm của đàn na tín thí.
Chùa Kim Quang ngày 21/10/2021
________________________
Thầy Thích Minh Định - Hằng Lý
® Chú thích cho hình ảnh minh họa:
•Tôi trở lại Vạn Phật Thành năm 2017
•Chánh Điện Vạn Phật Thành
•Mỗi năm Vạn Phật Thành có khoá Thiền ba tuần lễ và Niệm Phật một tuần lễ vào dịp cuối năm dương lịch.
•Lúc này mỗi cuối tuần thầy Hằng Trường, tôi, thầy Hằng Đạt, thầy Hằng Sơn các huynh đệ chúng tôi cuối tuần thì xuống Viện Dịch Kinh Quốc Tế ở Birlingame gần San Francisco thuyết giảng cho các Phật tử người Việt.
NAM MÔ ĐẠI BI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT 🙏🙏🙏
https://www.facebook.com/share/p/1JpYzUaMeB/
-
百十七佛名神咒除障滅罪陀羅尼
財團法人佛陀教育基金會
http://ftp4.budaedu.org › ghosa4 › ref
PDF
L: 0LD: 87I: n/awhoissourceRank: 2,18M
tadyathā:dhari dhari dharmma datto pratisthite, svaha. 〔法〕〔施與〕〔安住〕 ... 〔即說咒曰][施願][][一切〕〔施願〕〔遍滿足〕 〔佛][支持]. 舍泥莎訶 sani ...
http://ftp4.budaedu.org/ghosa4/C022/.../T070X_001.pdf
-
1 xích là tương đương với 33cm ngày nay, nên một tay khoảng 5 tấc tây.
https://thuvienhoasen.org/images/fil...-nam-tap-i.pdf
-
TRANG 118-119
A BÁT RA ĐỂ HẠ ĐA
囉底賀多阿鉢
Phạn: Apratihata
Tạng: Ma thogs pa, Thogs pa med pa
Hán: (pâ) A bát la để hạ đa 阿鉢囉底賀多 (d) Vô ngại 無礙, Vô đối vô tỉ lực 無對無比
力
Hình dung từ chỉ tính chất không bị trở ngại. Bài chân ngôn Phật đỉnh xí thạnh quang
(cũng thường gọi là Thần chú tiêu tai cát tường) được đề cập trong Văn Thù căn bản nghi quĩ
13 (Ma¤ju÷rimålakalpa) mở đầu nói: Nẵng mạc tam mãn đa một đa nẫm a bát ra để hạ đa xá
sa nẵng nẫm (…) Phạn: namah samanta buddhànàm apratihata sàstanànàm… (Qui mạng
hết thảy chư Phật, các đấng đạo sư vô ngại). Bài chân ngôn mệnh danh “Đại lực đại hộ minh
phi" đề cập trong Đại nhật kinh 2 kết thúc bằng câu: apratihate svàhà, với phiên âm: a bát ra
để hạ đế tá ha. Đại nhật kinh sớ 4 giải thích: “Câu cuối nói a bát ra để hạ đế, nó có nghĩa là sức
mạnh vô đối và vô tỉ, kết thúc đoạn văn trên. Do ý nghĩa này mà nó được gọi là Đại lực đại hộ
minh phi”.
Lối giải thích từ nghĩa của các nhà mật giáo thường không theo sát nghĩa đen của từ ngữ
mà theo trường hợp nó được sử dụng. Thí dụ, trong trường hợp từ aprati (a bát ra để) trong bài
chân ngôn gia trì vào nước hương để sái tịnh được Đại nhật kinh sớ 4 giải thích như sau: "A, chỉ
cho bản nguyện bồ đề tâm, hàm nghĩa rằng hết thảy các pháp từ khởi thỉ vốn bất sinh. Ba (phụ
âm P) chỉ cho đệ nhất nghĩa đế (vì nó là âm đầu của từ paramàrtha: đệ nhất nghĩa đế). Ra (phụ
âm R) hàm nghĩa là bụi bặm (vì là âm đầu của từ raja: bụi bặm). Ra, kết hợp của âm R và A
hàm nghĩa rằng bụi bặm vốn là bất sinh, Pa tiếp theo, kết hợp hai âm P và A với nghĩa: bụi bặm
bản lai bất sinh, là đệ nhất nghĩa đế, và như vậy nó cũng chính là tịnh bồ đề tâm. Để (TE)
nguyên là Đa (TA) do đi với tam muội thanh nên được đổi thành để. Để chỉ cho tâm và cũng
hàm nghĩa là như vậy …" Sự giải thích như vậy nhắm vào mục đích sái tịnh, nghĩa là rửa sạch
ác bụi dơ cho đàn tràng được thanh tịnh. Căn cứ trên mật nghĩa của từng âm và sự kết hợp của
húng chứ không theo ý nghĩa thông dụng của từ ngữ.
Trong nhiều trường hợp khác, ngoài lối sử dụng của mật giáo, apratihata thường được dịch là vô ngại, như vô ngại tâm: apratihatacitta, vô ngại quang: apratihataprabha. Về nội dung
chi tiết các ý nghĩa của nó, xem các mục quan hệ đến từ VÔ NGẠI.
https://thuvienhoasen.org/images/fil...-nam-tap-i.pdf
-
-
-
aprati: bất đắc (不得): không đạt được, không thể có được / vô dữ đẳng (無與等): không sánh bằng.
aprati: bất đắc (不得): không đạt được, không thể có được / vô dữ đẳng (無與等): không sánh bằng.
aprati: bất đắc (不得): không đạt được, không thể có được / vô dữ đẳng (無與等): không sánh bằng.
aprati: bất đắc (不得): không đạt được, không thể có được / vô dữ đẳng (無與等): không sánh bằng.
aprati: bất đắc (不得): không đạt được, không thể có được / vô dữ đẳng (無與等): không sánh bằng.
https://hoavouu.com/images/file/lv2F...-buiduchue.pdf
https://communityth.io.vn/articles/p...uoc-1736989061
-
aprati: bất đắc (不得): không đạt được, không thể có được / vô dữ đẳng (無與等): không sánh bằng.
aprati: bất đắc (不得): không đạt được, không thể có được / vô dữ đẳng (無與等): không sánh bằng.
aprati: bất đắc (不得): không đạt được, không thể có được / vô dữ đẳng (無與等): không sánh bằng.
aprati: bất đắc (不得): không đạt được, không thể có được / vô dữ đẳng (無與等): không sánh bằng.
aprati: bất đắc (不得): không đạt được, không thể có được / vô dữ đẳng (無與等): không sánh bằng.
https://hoavouu.com/images/file/lv2F...-buiduchue.pdf
https://communityth.io.vn/articles/p...uoc-1736989061
-
百十七佛名神咒除障滅罪陀羅尼
財團法人佛陀教育基金會
http://ftp4.budaedu.org › ghosa4 › ref
PDF
L: 0LD: 87I: n/awhoissourceRank: 2,18M
tadyathā:dhari dhari dharmma datto pratisthite, svaha. 〔法〕〔施與〕〔安住〕 ... 〔即說咒曰][施願][][一切〕〔施願〕〔遍滿足〕 〔佛][支持]. 舍泥莎訶 sani ...
http://ftp4.budaedu.org/ghosa4/C022/.../T070X_001.pdf
-
wisdombox.org
http://wisdombox.org › mantra_buddha
PDF
L: 0LD: 444I: wait...whoissourceRank: 9,49M
夜他湡om,嗡狣猵北咼吒am4tod-bhave,阿彌利都婆毗狣猵凹am4ta. 阿彌利哆帆畯 ... 滿馱滿馱(三) 吽癹吒(四). 結金剛牆界真言:. O3, s2ra s2ra vajra pr2- k2ra h93 ...
https://wisdombox.org/mantra_buddha.pdf
-