Kinh mong cac huynh ti trong dien dan cho EPT hoi
Neu kiep truoc nguoi do khong tu hanh bo thi thi khi chuyen tam doc than chu giau co thi co tro nen giau co duoc khong? Neu duoc thi do nguyen nhan gi a?
Xin cam on.
Printable View
Kinh mong cac huynh ti trong dien dan cho EPT hoi
Neu kiep truoc nguoi do khong tu hanh bo thi thi khi chuyen tam doc than chu giau co thi co tro nen giau co duoc khong? Neu duoc thi do nguyen nhan gi a?
Xin cam on.
Chào bạn,
Cho NN tò mò hỏi chút nha. Hồi kiếp trước của bạn không thực hành hạnh bố thí. Vậy trong kiếp nào của những tiền kiếp bạn không thực hành hạnh bố thí vậy? Nếu biết rõ nhữ vậy thì hãy chỉ cho NN xem đi.
NN nói cho nghe nha. Một khi bạn đã biết đến một vị Bồ Tát chẳng hạn như những vị Độ Mẫu ở trên, hay các vị Tài Thần Bồ Tác như Hoàng Thần Tài Bồ Tát, không những vậy mà còn tu tập trì tụng thi khỏi nói là kiếp này bạn được hưởng những cái phước mà những kiếp trước bạn tạo ra đó. Được gặp các Ngài và được tu tập thì thật không phải là dễ đâu bạn.
Khõi nói là nếu bạn muốn cầu về Tài Bảo thì đây là những vị mà ta nên tu tập đó. Nhưng có 1 điễm này hãy nhớ kỹ là nếu mình muốn cầu tài thì mình cũng phải bỏ cái công chứ không phải cầu một hay hai tiếng là có tài đến đâu. Tuy nhiên một khi mà nó đến rồi thì bạn chẳng bao giờ bị túng thiếu đâu. Còn nếu mà thử để biết mình đến đâu thì có cơ hội mua một chút xổ số hay là Lotto đó. Nếu mà có các vị đó giúp đở thì bạn thử thời vận mua chỉ một chút xíu thôi xổ số thì bạn sẽ trúng và phải nói no vi diệu đến nổi là hể mua là trúng. Và trúng liên tục khộng ngừng đâu. Tuy nhiên, còn coi sự tu tập dến đâu. Nếu càng mạnh thì mình sẽ thấy cái số trúng nó sẽ lên từ từ. Ngoài ra, đi ra đường đụng đâu cũng có lợi về tài bảo. Chẳng hạ, mua cái gì người ta cũng tự nhiên giãm gí cho mình, không cần mình phải kèo nài, trả giá. Hoặc là, bỏ tiền lẽ bấm mua chai nước cũng được thối tiền lại "thêm" hơn nửa. Đậu xe tư nhiên không bị lấy tiền hay là lấy nhưng rất ít, chỉ là tạm trung mà thôi. Ngộ lắm. Nó xãy ra hằng ngày luôn đó. Cái phần này trong phía bên về Đạo Gia, hoặc phù thủy thì họ phải làm phép dữ đội lắm thì họ mới có cơ hội để làm cho "tiền" của mình nó "đi xa" thêm bước nửa là vậy đó.
Thân
NN
Huynh Nhat_Nguyet đã nói chính xác đấy bạn,
Nếu bạn không từng tích tập công đức nhiều trong vô lượng kiếp, thì kiếp này chưa chắc đã làm được người, và ngay cả cái ngay cả cái tên Thần Chú hay Danh Hiệu của các ngài bạn cũng không nghe được, chứ đừng nói với việc trì tụng.
Còn bạn hỏi vì sao được và nguyên nhân nào thì mình sẽ nói cho bạn biết, nguyên nhân là vì mình nương nhờ oai lực của các ngài mà được, vì các ngài chính là vì lợi ích cho tất cả chúng sanh như chúng ta mà các ngài đã tu tập Lục Độ Ba La Mật vô lượng kiếp như Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn , Thiền Định, Trí Tuệ, Từ, Bi, Hỷ Xã, đã đạt tới mức viên mãn nhất không còn gì hơn nữa, nên khi bạn trì tụng Mật Chú hay Danh Hiệu của các ngài thì khỏi nói nhờ bổn nguyện oai thần công đức của các ngài bạn sẽ giải thoát khỏi cái cảnh bị đọa đày do nghiệp lực của mình kéo lại.
Như trong Tam Bảo Ký sau đây có nói đến một vị giàu sang nhưng rồi vì bị nghiệp lực đời trước nên làm ăn dần dần bị thua lỗ, cũng vì căn lành đời trước vẫn còn nên gặp được danh hiệu của Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, và nhờ trì tụng danh hiệu của ngài nên mới thoát khỏi túc nghiệp:
Ở Thiên Trúc, có người thuộc giòng giàu sang, nhưng làm ăn sa sút đến độ nợ nần rồi phải đi xin ăn. Trước tiên, thân bằng còn giúp; sau ông đi đến đâu, người thân kẻ sơ trông thấy cũng đều đóng cửa. Do đó, mọi người đều đùa gọi ông là Bế Môn (đóng cửa).
Một hôm, trong tâm niệm buồn, ông đến ngôi chùa thờ Phật Dược Sư. Ông chắp tay đi nhiễu xung quanh tượng và chí thành sám hối. Xong, ông ngồi trước tượng Phật Dược Sư chuyên niệm danh hiệu "Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai. Đêm cuối cùng của ngày thứ 5, thân tâm mờ mệt, bỗng thấy Phật Dược Sư hiện thân tướng tốt đẹp bảo: “Do ngươi sám hối và niệm danh hiệu Ta nên túc nghiệp đã dứt, sẽ được hưởng cảnh giàu sang. Mau về ngôi nhà cũ của cha mẹ ngươi, khai quật nơi nền, sẽ tìm được kho báu”.
Tỉnh lại, ông vội lễ Phật, trở về ngôi nhà cũ của cha mẹ. Đến nơi thấy tường vách xiêu đổ, rường cột đã mục nát. Trãi qua 2 ngày, ông vừa dọn dẹp vừa đào nền theo chỗ Phật Dược Sư mách bảo, liền tìm thấy được những cái chum vàng bạc của tổ tiên xưa. Ông lại giàu có, nhà cửa huy hoàng, vật dụng tôi đòi sung túc (theo Tam bảo ký).
Điều này hoàn tương ưng với Đại Nguyện Thứ 12 trong Kinh Dược Sư như sau:
NGUYỆN LỚN THỨ MƯỜI HAI, Nguyện đời sau này, khi ta đắc đạo Vô Thượng Bồ Đề, nếu những hữu tình, nghèo không áo mặc, ruồi muỗi, bức rét khổ suốt đêm ngày, khi nghe tên ta chuyên tâm trì niệm thì tâm muốn gì liền được đủ thứ, áo mặc thật đẹp, được cả đồ dùng quý báu trang nghiêm, đeo hoa, ướp hương, âm nhạc múa hát, tùy tâm thích gì đều được đầy đủ.
Chào Quý Đạo hữu.
Đúng là nhân nào quả nấy, nói như câu mà các quý thầy hay khuyên là : Nếu trong mạng không có thì cầu xin vô ích. Quả thật, nếu quá khứ không bố thí, không gieo hạnh lành, hạnh thù thắng mà trái lại gây nhiều nghiệp ác thì khi duyên hội đủ, gặp cảnh khổ, dù gặp Phật pháp nhưng quả chịu đựng cũng rất khổ, dù rằng đỡ hơn một phần nhờ Phật Lực gia trì... Dù rằng ta tụng kinh, trì chú nhiều... Ví như chúng ta nghèo khổ, các vị hộ pháp cũng muốn giúp đỡ nhưng cũng không biết giúp thế nào vì cơ bản trong mạng không có Phước, chưa gieo nhân lành, nhân thù thắng...
Như huynh nhat-nguyet nói, như mình ra ngoài mua hàng, sẽ được người ta bớt tiền cho, hoặc cùng số tiền nhưng sẽ được người bán cho nhiều hơn dù rằng bình thường người kia bán hàng rất mắc hoặc keo kẹt, hoặc đôi khi thối tiền dư cho mình( cái này mình thường trả lại, chẳng bao giờ mình lấy). Tu tập theo các Pháp tài bảo cũng được giúp đỡ một chút về tài bảo, thậm chí nhiều... Nhưng mà cẩn thận, tu tập pháp tài bảo là ta hành hạnh bố thí, vì quả của bố thí là giàu có, sung túc, ta nghèo vì bỏn sẻn.vì năng lực mật Chú mà ta có tiền tài nhưng nếu không chịu bố thí,gieo nhân lành thì tài bảo đó rất " bẩn", và coi chừng phạm nhân quả. Khi nào thấy hộ pháp tuýt còi là hiểu rồi...
Nguồn: http://thegioivohinh.com/diendan/sho...h-doanh-ra-sao
Nhân quả của việc giữ lời hứa và thất hứa ảnh hưởng đến việc kinh doanh ra sao
Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, vườn Ghosita, rồi Tôn giả Sàriputta đi đến đảnh lễ và bạch Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn, do nhân gì, duyên gì có người buôn bán thất bại, không thành tựu như ý muốn ? Có người buôn bán thành tựu như ý muốn và thành tựu ngoài ý muốn ?
Này Sàriputta, có hạng người đi đến vị Sa môn, hứa hẹn giúp đỡ nhưng không cho như đã hứa. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung đi đến chỗ này, dẫu có buôn bán gì cũng đi đến thất bại, không thành tựu như ý muốn.
Như ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến vị Sa môn hứa hẹn giúp đỡ, và người ấy đã cho như đã hứa. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy đi đến chỗ này, dẫu buôn bán gì cũng thành tựu như ý muốn.
Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến vị Sa môn hứa hẹ giúp đỡ, và người ấy đã cho nhiều hơn như đã hứa. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung, đi đến chỗ này, dẫu buôn bán gì cũng đạt được thành tựu ngoài ý muốn.
(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ I, chương 4, phẩm Không hý luận, phần Buôn bán, VNCPHVN ấn hành 1996, tr.708)
- do vậy nhiều người không hiểu được việc quan trọng của lời hứa của mình đã tuỳ tiện hứa hẹn để làm vui người khác nhưng không thực hiện đúng lời hứa, lâu dần bị quả báo làm ăn càng ngày càng lụn bai, thất bát. có người cùng 1 món đồ vật nhưng lúc thì hứa với người A là sẽ cho họ, gặp người B cũng nói sẽ cho họ món đó, gặp người C cũng hứa sẽ cho họ, nhưng cuối cùng thì đem bán. Người chủ món đồ không biet hành động như vậy là mang nghiệp. tuy nhiên nghiệp báo đến từ từ nên người ta cứ nghĩ chắc không sao.
- có người thì ban đầu hứa sẽ cúng dường hoặc cho ai đó 10 đồng, nhưng về suy nghĩ lại thì thấy nếu cho như vậy thì nhiều quá nên tiếc và cuối cùng thì rút lại, chỉ cho người ta 7 hoặc 8 đồng cho đỡ tốn, mà không biết rằng quả báo của việc làm này cũng ảnh hưởng đến việc làm, việc kinh doanh buôn bán của mình về sau này sẽ bị quở và làm ăn lụn bại, mất tiền, do lời hứa mình đưa ra đã không được thực hiện đúng. Khi mình hứa cho người khác 10 thì người đó cũng dự trù sẽ dành khoản này để làm 1 việc gì có ích, nhưng sau do mình thay đổi cho ít đi, thì cũng ảnh hưởng đến việc của người ta. Nhân quả vì sao nhiều người bị phá sản, hư việc cũng là do những người khác không thực hiện đúng như lời hứa mà ra.
theo qtrang.wordpress.com thì:
Cũng như đa số những bài kinh khác, Phật khuyến khích sự cúng dường cho các bậc đức hạnh tu hành. Chúng ta có thể hiểu rộng hơn, phổ cập đến tất cả hạng chúng sinh. Như vậy, việc thực hiện lời hứa dâng tặng giúp đỡ đã đem lại quả báo kinh doanh thành công.
Khi một người được hứa giúp đỡ, họ sẽ khắc khoải trông chờ, dù lộ liễu hay kín đáo, về sự thực hiện lời hứa của người kia. Nếu người hứa không thực hiện, thì người được hứa sẽ phải thất vọng dù nhiều hay ít. Tạo niềm hy vọng bằng lời hứa rồi gây nổi thất vọng bằng thất hứa, việc này đã sản sinh một quả báo tuyệt vọng ở mai sau. Chúng ta phải tập cho mình một thói quen nghiêm khắc là giữ đúng lời hứa. Trước khi hứa hẹn hãy xét kỹ mình có đủ khả năng thực hiện lời hứa hay không. Đừng hứa lấy lòng trong lúc hứng chí bồng bột để rồi phải thất hứa làm thất vọng cho người.
Ngược lại, sự thực hiện đúng như đã hứa hoặc vượt hơn lời hứa khiến cho người vui mừng sung sướng đã đem lại quả báo thành công ở mai sau. Thật là quý hóa khi hứa một mà sự thực hiện gấp hai ba.
Giữ lời hứa là điều quan trọng. Giữ giới đã lãnh thọ cũng là một hình thức giữ lời hứa với Tam Bảo, đối với chúng sinh. Khi chúng ta long trọng tuyên bố lãnh thọ giới pháp, lúc đó chúng ta trở thành niềm tin cho mọi người, chúng ta ban cho họ sự tịnh tín, chỗ nương tựa, niềm an ủi nơi sự thanh tịnh của chúng ta. Nếu chúng ta thất hứa, điều BAN CHO đó đã đổ vỡ, mọi người mất tịnh tín, mất chỗ nương tựa, mất niềm an ủi và thất vọng, chúng ta phải chịu hậu quả nặng nề về sự thất hứa này. Ngược lại, chúng ta giữ giới đã lãnh thọ một cách thuần tịnh, mọi người được tịnh tín, nuơng tựa an ủi lâu dài, công đức của chúng ta không nhỏ.
Công đức nào cũng đều được thực hiện bằng dũng lực. Không có dũng lực, không có tác thành công đức. Người dám san sẻ tài sản, người kiên trì giữ gìn lời hứa, đều là những người có nhiều dũng lực.[theo qtrang.wordpress.com]
NA MÔ DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT !
Nam mô nam mô tiền đô tiền đô liên tục 49 ngày ko ngừng nghỉ nhé. Niệm xong sẽ có tiền ngay.
Đạo Hữu Thờ Ngài Hoàng Tài Thần và Trì chú của Ngài nhé!
https://www.facebook.com/phapbaomatt...90709101396060
11. PONGPA SELMA
– She Who Eradicates Poverty
– TIÊU BẦN ĐỘ MẪU
Minh Chú: OM TARE TUTTARE TURE VASU DARE SVAHA
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itled6e4e5.png
( http://www.hongnhu.org/category/kinh...t=print-search )
༡༡ ༽ɉག་འཚལ་ས་གཞི་Dzོང ��བའི་ཚǑགས་ȷམས།།
[11] CHAG TSHÄL SA ZHI KYONG WEI TSHOG NAM
Homage! She able to summon
Kính lạy Tara, chúng thần sở tại
ཐམས་ཅང་འǻགས་པར་ȶས ��པ་ཉིད་མ།།
THAM CHE GUG PAR NÜ MA NYI MA
All earthguardians’ assembly!
16/12/2017 Category: Sách Tụng Niệm hongnhuarchives
http://www.hongnhu.org/category/kinh...=printsearch 29/236
đều về qui thuận dưới uy Phật bà.
ǹོ་གཉེར་གཡོ་བའི་ཡ ི་གེ་Υྃϻϼ
་གིས།།
THRO NYER YO WEI YI GE HUM GI
Shaking, frowning, with her HUM sign
Cau mày, rung chuyển, với linh tự HUM,
ཕོངས་པ་ཐམས་ཅང་ȷམ་ པར་Ȍོལ་མ།།
PHONG PA THAM CHE NAM PAR DRÖL MA
Saving from every misfortune!
cứu khắp chúng sinh thoát cảnh bần cùng.
Lama Zopa Rinpoche
Đức Tiêu Bần màu cam, tay cầm bảo bình chứa năng lực làm tiêu tan bần cùng.
Geshe Dawa
Ngài ngồi tòa sen thứ mười một trên đài mặt trăng, thân sắc cam. Tay phải kết ấn thí thành tựu, cầm bảo bình
chứa nước cam lồ cứu nghèo.
Nghèo có nhiều loại: nghèo bạn, nghèo tiền tài, nghèo sức khỏe. Nhưng đáng nói nhất là nghèo trí tuệ, nghèo từ
bi, nghèo chánh pháp v.v… Đức Tara cứu nghèo bằng năng lực minh chú của Ngài.
Gyalwa Gedun Drub
Chau mày có nghĩa là Ngài với sắc tướng hơi oai nộ, phóng hào quang từ chữ HUM nơi tim, cứu thoát chúng
sinh nghèo niềm vui, bị khổ đau đè nặng. Ngài có tên là Nhiếp Thọ Độ Mẫu.
Khensur Rinpoche Lama Lhundrup Rinsel
Thổ địa bao gồm mười vị hộ thần phương hướng cùng chúng tùy tùng, giữ gìn và nuôi dưỡng đất đai. Vị Tara
này có khả năng câu triệu mười vị hộ thần phương hướng cùng tùy tùng, sai sử họ để thực hiện nhiều thiện hạnh.
Khi gặp cảnh túng quẩn, tài chánh khó khăn, chúng ta phải nhớ nghĩ đến đức Tara. Mục tiêu phải là để thành tựu
vô thượng giác vì chúng sinh, hay chí ít phải phát xuất từ động cơ vị tha. Với động cơ ấy, quán tưởng vị Tara
này, khởi tâm tôn kính tin tưởng sâu xa mà thỉnh cầu đức Tara giúp xóa cảnh nghèo.
Nghèo có rất nhiều loại. Nói nghèo không phải chỉ là nghèo tiền nghèo của, mà còn nghèo Phật Pháp, ví dụ như
nghèo kinh nghiệm, nghèo chứng ngộ. Chúng ta có thể cầu khẩn đức Tara này xóa đi tất cả mọi thứ nghèo.
Quán tưởng từ linh tự HUM nơi tim Ngài, hào quang dưới dạng móc sắt phóng ra khắp mười phương, câu về tất
cả mọi điều cần thiết, như thọ mạng, tài sản, của cải v.v… Tất cả tan về chủng tự HUM nơi tim Ngài, và lực gia
trì dưới dạng ánh sáng cam lồ rót vào cho quí vị. Quí vị cần quán tưởng tất cả chúng sinh đều hưởng được lợi
ích này, đặc biệt chúng sinh đang chịu cảnh bần cùng khó khăn. Khi dòng cam lồ rót xuống, hãy nghĩ rằng mình
nhận được thọ mạng lâu dài, tài sản của cải v.v…
Tâm keo bẩn là nguyên nhân khiến ta phải chịu cảnh bần hàn, vì vậy đồng thời hãy nghĩ rằng mọi chướng ngại
bao gồm tâm keo bẩn và tập khí của tâm này, tất cả đều được thanh tịnh triệt để. Nghĩ rằng bây giờ ta đã có được
kho báu bất tận. Nghĩ như vậy sẽ khiến thanh tịnh loại ác nghiệp mang đến cảnh bần cùng. Ác nghiệp này thanh
tịnh thì điều lành sẽ đến với chúng ta.
vậy, không bao giờ được tác pháp vì lợi ích cá nhân, ước cho “công việc của tôi được thuận tiện suông sẻ.” Nhất
định phải tu với cái tâm mong muốn lợi người, hướng về quả giác ngộ để độ sinh. Thiếu đi tâm nguyện này thì
dù có tu cũng không thành chánh pháp.
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%BB%80N/page95
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itlede72b9.png
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itleddc9fe.png
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itled3a70d.png https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itled5b157.png https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itled04086.png https://uphinhnhanh.com/images/2017/12/19/h.png
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itled2412c.png
( http://abhidharma.ru/A/Tantra/Content/Tara/0005.pdf )
========
9_Thắng Nhiếp Thọ Độ Mẫu (SVĀ). OṂ TĀRE TUTTĀRE TURE DĀNA-TRAYA SVĀHĀ
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...white-tara.jpg
( https://buddha-nature.com/category/tibetan-buddhism/ / https://www.wisdomcompassion.org/sin...T%C4%81r%C4%81 / https://www.facebook.com/sugatagarbhatranslations / http://dakiniryl.blogspot.com/2017/11/ )
31 MAR 2017 ERICK TSIKNOPOULOS BUDDHISM, SADHANA(S), SECTION: PRACTICE TEXTS, SECTION: REVEALED TREASURE, SECTION: TIBETAN VISIONARY LITERATURE, TERMA(S), TIBETAN BUDDHISM
The Method for Accomplishing Tārā: A New Treasure Teaching, by Khenchen Lama Rinpoché, Pelgyeypa Dorjé
༄༅།།སྒྲོལ་མའི་སྒ ུབ་ཐབས།
The Method for Accomplishing Tārā:
A New Treasure Teaching (gter gsar)
by Khenchen Lama Rinpoché, Pelgyeypa Dorjé
(mkhan chen bla ma rin po che dpal dgyes pa rdo rje)
Translated from the Tibetan by Erick Tsiknopoulos
ཨེ་མ་ཧོ།།
É-MA-HO
How wondrous!
གདོད་ནས་ཀ་དག་ཀུན བཟང་ལས།།
DÖ-NAY KA-DAK KÜN-ZANG LAY
From Samantabhadra, primordially pure from the very beginning,
རང་གདངས་ལྷུན་གྲུ ་རིག་པའི་རྩལ།།
RANG-DANG LHÜN-DRUP RIK-PA’Y TSEL
Comes spontaneously accomplished natural radiance, the dynamic energy of intrinsic awareness:
རྗེ་བཙུན་སྒྲོལ་མ དཀར་གསལ་འཛུམ།།
JÉ-TSÜN DRÖL-MA KAR-SEL DZUM
The Venerable Lady Tārā, bright white1 and smiling,
དམ་ཆོས་སྒྲ་སྙན་ཕ ོགས་ཀུན་ཁྱབ།།
DAM-CH’Ö DRA-NYEN CH’OK KÜN KHYAP
Spreading the pleasing sound of the Transcendent Dharma in all directions;
འཁོར་འདས་ཀུན་བཟང ཞིང་དུ་གྱུར།།
KHOR-DAY KÜN-ZANG ZHING DU GYUR
Transforming Saṃsāra and Nirvāṇa into the Pure Land of Samantabhadra.
(Recite the following [Mantras] as much as possible:)
ཨོྃ་ཏཱ་རེ་ཏུཏྟཱ་ ེ་ཏུ་རེ་སྭཱ་ཧཱ། ཏཱྃ་སྭ་ར་སྭཱ་སྟི ཛྙཱ་ན་ཧྲཱིྃཿཛ།
OṂ TĀRE TUTTĀRE TURE SVĀHĀ/ TĀṂ SVARA SVĀSTI JÑĀNA HRĪH JA
[Tibetan pronunciation:
OṂ TĀRE TUTTĀRE TURE SWĀHĀ*/ TĀṂ SWARA SWĀSTI DZÑĀNA HRĪH DZA]
* Or SŌHĀ
དང་།
And:
ཨོྃ་ཨཱརྱ་ཏཱ་རེ་ཏ ྃ་སྭཱ་ཧཱ།
OṂ ĀRYA TĀRE TĀṂ SVĀHĀ
[Tibetan pronunciation:
OṂ ĀRYA TĀRE TĀṂ SWĀHĀ*]
* Or SŌHĀ
ཅི་ནུས་ངང་རིག་པའ ་ངོ་བོ་སྐྱོང་ནས་ ྒྱུན་གྱི་སྤྱོད་ལ མ་ལ་འཇུག་པར་བྱའོ །
As you recite, within that state, sustain the essence of intrinsic awareness. Then, engage in your usual daily activities.
བིརྱ་དྷཱ་ར་དྷཱེ་ ིས་ངོར་ཤྲཱིས་རིག ཀློང་ལས་ཤར་བ་བཞི ན་དེ་མ་ཐག་ཡིག་རི ་སུ་བགྱིས་པའོ།།
At the request of the Vidyadhāra Dhévi, this dawned upon Śrī from within the expanse of intrinsic awareness; and as it did, immediately thereupon he set it down in writing.
Translated from the Tibetan by Erick Tsiknopoulos, March 31st 2017, in McLeod Ganj, India, at the request of Khenchen Lama Rinpoché. By the positive karmic potential of this translation, may great signs of virtue pervade the ten directions.
1 Khenchen Lama Rinpoché says that the color, in addition to bright white, can also be bright red or bright green, as in the pictures below.
https://3.bp.blogspot.com/-Jt202E6bO...9-11-38-53.jpg
( https://yhairstudiovn.blogspot.com/s...A%ADt%20Sivali )
Sīvali-gāthā (Kệ tụng Sīvali)
Việt dịch: HUYỀN THANH
1_Sīvali ca mahāthero (Sīvali là bậc Đại Trưởng Lão)
Devatā narā pūjito (Được chư Thiên và con người cúng dường)
Soraho paccayādimhi (Do quan hệ nhân quả đặc biệt đó)
Ahaṃ vandāmi taṃ sadā (Tôi luôn luôn đảnh lễ Ngài)
2_Sīvali ca mahāthero (Sīvali là bậc Đại Trưởng Lão)
Yakkhā devābhipūjito (Đã được Dạ Xoa và chư Thiên cúng dường)
Soraho paccayādimhi (Do quan hệ nhân quả đặc biệt đó)
Ahaṃ vandāmi taṃ sadā (Tôi luôn luôn đỉnh lễ Ngài)
3_Sīvali ca mahātherassa etaṃ (Sīvali là bậc Đại Trưởng Lão như thế)
Gunaṃ sotthi lābhaṃ bhavantu me (Cầu xin Công Đức, sự an vui, tài lộc đến với tôi)
4_Sīvali ca mahāthero (Sīvali là bậc Đại Trưởng Lão)
Lābha lābha nirantaraṃ (Đạt được sự phú quý không có gián đoạn)
Sīvali ca mahāthero (Sīvali là bậc Đại Trưởng Lão)
Lābha-sukhaṃ bhantu me (Xin cho tôi có được tài lộc và sự an lạc)
KỆ CẦU TÀI LỘC
1_ Sīvali ca mahānāmaṃ (Sīvali là bậc Đại Danh)
Sīvali ca mahālābhaṃ (Sīvali là bậc Đại Phú Quý)
Sabba lābham bhavissati (Phát sinh tất cả tài lộc)
Therassa ānubhāvena (Do Uy Đức trang nghiêm của đấng Trưởng Lão)
Sabbe hontu piyaṃ mama (Cầu xin hết thảy hữu tình đều thương mến tôi)
Sadā hontu piyaṃ mama (Tôi luôn luôn nhận được sự thương mến ấy)
2_Sīvali ca mahāthero (Sīvali là bậc Đại Trưởng Lão)
Mama sīse ṭhapetvāna (Ngự ngay trên đỉnh đầu của tôi)
Mantitena jayomantaṃ (Chỉ dạy điều cát tường thù thắng)
Ahaṃ vadāmi sabbadā (Tôi luôn luôn đỉnh lễ tôn kính Ngài)
_ Bản Kệ Tụng khác:
Na jalita prasiddi lābha
(Y như là nhóm lửa khiến cho đạt được sự thành tựu cao hơn) Việt dịch: HUYỀN THANH
1_Sīvali ca mahā-lābhaṃ (Sīvali là bậc Đại Phú Quý)
Sabba lābhaṃ piyaṃ mama (Xin tất cả bậc Phú Quý đều thương mến tôi)
2_Sīvali ca mahā-nāmaṃ (Sīvali là bậc Đại Danh)
Sīvali ca mahā-lābhaṃ (Sīvali là bậc Đại Phú Quý)
Sabba lābhaṃ bhavissati (Phát sinh tất cả tài lộc)
Ahaṃ vandāmi pūjito (Do sự lễ bái cúng dường của tôi)
Sabba lābhaṃ bhavissati hontu me (Xin tất cả tài lộc phát sinh đến với tôi)
_Ghi chú: Sau bài Kệ trên, có thể đọc thêm các câu này để mau được thành tựu
Sabbe buddhā balapattā (Tất cả Đức Phật đều có quyền lực)
Paccekānañca yaṃ balaṃ (Các vị Độc Giác cũng có quyền lực)
Arahantānañca tejena (Các vị A La Hán cũng có uy lực)
Rakkhaṃ bandhāmi sabbaso (Tôi xin kết hợp sự duy trì bằng cách phát huy toàn bộ các lực ấy)
Eyena saccavajjena (Y như lời chân thật này)
Hontu me jaya-maṅgalaṃ (Xin cho tôi nhận được sự an vui thù thắng)
Ý Trinh sưu tầm.
Được đăng bởi Y Hair Studio vào lúc 23:21 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng này
BlogThis!
Chia sẻ lên Twitter
Chia sẻ lên Facebook
Chia sẻ lên Pinterest
Nhãn: Phật Sivali
Ý Trinh nhớ ơn Cuộc đời Thánh Tăng Sìvali
Ý Trinh nói kệ rằng :
Ngài Đại Đức có tên gọi "Sīvali" nghĩa là: dập tắt mọi nóng nảy, lo sợ của những người thân yêu, đem lại sự mát mẻ, an vui cho mọi chúng sanh.
Mục lục
1. Sơ lược tiểu sử Ngài Sīvali
2. Ngài Sīvali trong bụng mẹ
3. Ngài Sīvali sanh ra
4. Công tử Sīvali xuất gia
5. Quả ác nghiệp Ngài Sīvali 6. Sadi Sīvali trở thành Tỳ khưu
7. Tiền kiếp của Ngài Sīvali 8. Nghiệp và quả của nghiệp
9. Câu kệ cầu tài lộc
1. Sơ lược tiểu sử Ngài Đại Đức Sīvali
Ngài Đại Đức có tên gọi "Sīvali" nghĩa là: dập tắt mọi nóng nảy, lo sợ của những người thân yêu, đem lại sự mát mẻ, an vui cho mọi chúng sanh.
Ngài Đại Đức Sīvali là con của bà công chúa Suppavasa thường được mọi người đem lễ vật đến dâng nhiều vô số kể. Để thử biết quả phước thiện của bà công chúa Suppavasa, người ta đem hạt giống đến nhờ bà đụng tay vào. Những hạt giống đó đem về gieo trồng thì kết quả thu hoạch thật là phi thường: gấp trăm ngàn vạn lần! Khi thu hoạch xong, đem đổ vào kho, rồi mời bà công chúa Suppavasa đụng tay vào cửa kho, thì lúa dù được đổ vào ít, nhưng vẫn tràn đầy kho ngay. Khi lấy lúa ra khỏi kho, nếu được công chúa Suppavasa đụng tay vào kho, thì dù lúa lấy ra bao nhiêu đi nữa, kho lúa vẫn không hề giảm bớt. Khi nấu cơm để phân phát cho mọi người, nếu được bà công chúa Suppavasa đụng tay vào vành nồi cơm thì cơm xới ra phân phát cho bao nhiêu người, cũng vẫn đủ, cơm vẫn không vơi trong nồi, cho đến khi bà công chúa Suppavasa bỏ tay ra khỏi vành nồi cơm.
Mọi người nhìn thấy quả phước thiện phi thường của bà công chúa Suppavasa trong thời gian bà mang thai Ngài Đại Đức Sīvali. Sự thực bà công chúa Suppavasa chỉ là người chịu ảnh hưởng quả phước thiện của thai nhi: Ngài Đại Đức Sīvali đang nằm trong bụng mẹ.
2. Ngài Sīvali trong bụng mẹ
Ngài Sīvali ở trong bụng mẹ 7 năm lẻ bảy ngày
Thông thường sau khi thọ thai, khoảng chín hoặc mười tháng, thì người mẹ sanh con. Nhưng khi công chúa Suppavasa mang thai Ngài Đại Đức Sīvali thì đã qua tháng thứ 10, tháng thứ 11, rồi tròn một năm mà vẫn chưa sanh. Mặc cho mọi người trong hoàng tộc và dân chúng xứ Koliya nóng lòng trông chờ sự ra đời của đứa trẻ phi thường.
Ngày tháng cứ trôi qua, trong sự mong chờ đến nóng nảy của mọi người. Ngày này qua ngày khác, tháng này đến tháng khác của năm thứ hai đã trôi qua, mà đứa con phi thường trong bụng bà công chúa Suppavasa vẫn chưa ra đời. Cứ như vậy qua năm thứ ba, rồi …thứ tư, thứ năm, thứ sáu, cho đến năm thứ bảy đã trôi qua, mà người ta vẫn chưa thấy bà công chúa Suppavasa sanh con. Thật là một điều lạ thường, chưa từng nghe, chưa từng thấy bao giờ! Đặc biệt thai nhi nằm trong bụng mẹ lâu như vậy, mà vẫn không làm cho bà công chúa Suppavasa thấy khó chịu một chút nào, bà công chúa vẫn sống an vui, tự nhiên và quả phước thiện mỗi ngày vẫn tăng trưởng phi thường.
3. Ngài Sīvali sanh ra đời
Bà công chúa Suppavasa mang thai tròn đủ bảy năm vẫn bình an, nhưng bước sang bảy ngày kế tiếp, thì bà phải chịu đựng một sự đau khổ đến cùng cực từ thai nhi. Vốn là người cận sự nữ, có đức tin trong sạch nơi tam bảo, bà công chúa Suppavasa muốn được chiêm bái Đức Phật trước khi chết. Với mong muốn thiết tha đó, bà bày tỏ với hoàng tử Mahāli:
- Thưa phu quân, xin hãy vì thiếp và đứa con trong bụng thiếp, mà đi thỉnh Đức Phật cùng Chư Đại Đức Tăng về đây cho thiếp được chiêm bái và cúng dường.
- Đang nóng lòng vì thời gian mang thai của ái thiếp quá lâu, cùng với những hiện tượng phi thường mà mọi người đều thấy nơi bà công chúa Suppavasa, nghe lời thỉnh cầu của ái thiếp, hoàng tử Mahali liền đến bạch với Đức Phật theo nguyện vọng của phu nhân.
Bằng nhãn thông, Đức Thế Tôn thấy rõ quả báo ác nghiệp của thai nhi và người mẹ đã mãn. Ngài truyền dạy lời chúc lành đến bà công chúa Suppavasa và thai nhi rằng:
"Sukhinī vata hotu Suppavasa, Koliyadhitā sukhinī arogā Arogam puttam vāyatu"
Tạm dịch:
"Công chúa Suppavasa xứ Koliya.
Được sự khỏe mạnh và an lành hạ sanh đứa con khỏe mạnh".
Khi Đức Thế Tôn chúc lành xong, tại cung điện, công chúa Suppavasa hạ sanh đứa con trai dễ dàng như nước từ trong bình đỗ ra, trước khi hoàng tử Mahāli trở về. Bà công chúa Suppavasa nhìn thấy đứa con trai mặt mày khôi ngô tuấn tú, quả phước thiện tròn đủ, thì vô cùng vui mừng sung sướng.
Sự ra đời của hài nhi làm cho hoàng tộc cũng như dân chúng thành Koliya dập tắt được mọi sự nóng lòng lo sợ cho công chúa Suppavasa và công tử, đem lại sự mát mẻ an vui cho tất cả mọi người, nên đạt tên là Sīvali" (Mát mẻ, an vui).
Trên đường trở về cung điện nhìn thấy mọi người đều vui mừng, hoan hỷ, hoàng tử Mahāli biết rằng điều tốt lành đã đến với công chúa Suppavasa phu nhân và đứa con của mình.
Về tới cung điện, ông lập tức vào thăm phu nhân và thuật lại lời chúc phúc của Đức Phật đến công chúa Suppavasa và đứa con trai., công chúa Suppavasa sẵn có đức tin trong sạch nơi Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng, đồng thời vô cùng hoan hỷ nhìn thấy đứa con đại phước mới ra đời, bèn tâu với phu quân:
- Xin cho thiếp được thỉnh Đức Phật cùng 500 chư Tỳ khưu tăng, ngày mai đến cung điện cho thiếp được làm phước thiện suốt 7 ngày gọi là "Vayamangala" (hạnh phúc sanh con).
Công tử Sīvali mới sinh ra đã mau lớn lạ thường, biết đi, đứng, ngồi, nằm…biết ăn uống, nói chuyện và có trí tuệ hiểu biết thật phi thường!
Đức Phật cùng chư Đại Đức Tăng ngự đến cung điện của công chúa Suppavasa và hoàng tử Mahāli dự lễ làm phước "Hạnh phúc sanh con", suốt 7 ngày.
Đến ngày thứ 7, Đức Thế Tôn truyền dạy Ngài Đại Đức Sariputta thuyết pháp. Ngài Đại Đức Sariputta thuyết bài pháp về sự khổ sanh, sự tái sanh là khổ. Công tử Sīvali lắng nghe và thấu hiểu một cách rất sâu sắc về sự khổ sanh, vì chính công tử đã phải chịu khổ nằm trong bụng mẹ suốt 7 năm lẻ 7 ngày: đó là những gì mà công tử đã trải qua.
Khi ấy, Ngài Đại Đức Sariputta bèn hỏi công tử rằng:
- Này con, con nằm trong bụng mẹ lâu đến 7 năm lẻ 7 ngày, con đã cảm thọ sự khổ nhiều phải không?
- Kính bạch Ngài Đại Đức, con đã cảm thọ khổ nhiều!
- Như vậy con có muốn xuất gia để giải thoát khổ sanh hay không?
- Kính bạch Ngài Đại Đức, nếu cha mẹ con cho phép, con sẽ xuất gia.
Công chúa Suppavasa nhìn thấy con trai của mình đang nói chuyện với Ngài Đại Đức Sariputta, trong tâm vô cùng hoan hỷ, muốn biết con mình đang nói gì với Ngài Đại Đức Sariputta. Bà công chúa Suppavasa đến hầu gần chỗ Ngài Đại Đức, rồi bạch rằng:
- Bạch Ngài Đại Đức, con của đệ tử đang nói chuyện gì với Ngài?
Ngài Đại Đức Sariputta thuật lại rằng:
- Công tử Sīvali nói rằng: Con đã chịu bao nhiêu nỗi khổ khi còn đang nằm trong bụng mẹ, nếu cha mẹ con cho phép, con sẽ xuất gia để giải thoát khổ sanh”.
Nghe xong công chúa Suppavasa vô cùng hoan hỷ bạch rằng:
- Kính Bạch Ngài Đại Đức, Sadhu! Sadhu! Lành thay! Lành thay! Con kính xin Ngài từ bi tế độ đứa con của đệ tử được xuất gia.
- Ngài Đại Đức Sariputta dẫn công tử Sīvali về chùa. Ngài dạy giới tử Sīvali về đề mục thiền định căn bản "Năm thể trược trong thân” (tóc, lông, móng, răng, da). Ngài còn dạy giới tử Sīvali tiến hành thiền tuệ thấy rõ, biết rõ khổ sanh, mà Sīvali đã cảm thọ suốt 7 năm lẻ 7 ngày trong bụng mẹ. Giới tử Sīvali liền thấu hiểu rõ mục đích xuất gia là để giải thoát khỏi khổ tái sanh.
4. Công tử Sīvali xuất gia Sadi
Công tử Sīvali sau khi thọ giáo lời dạy của vị thầy tế độ là Ngài Đại Đức Sariputta, liền được Ngài Đại Đức Moggallāna cạo tóc. Trong khi cạo tóc, giới tử Sīvali tiến hành thiền định căn bản, năm thể trược ở trong thân, và tiến hành thiền tuệ biết rõ khổ của sự tái sanh của danh pháp, sắc pháp. Khi Ngài Đại Đức Moggallana vừa đặt dao cạo tóc, giới tử Sīvali liền chứng ngộ chân lý tứ thánh đế, chứng đắc nhập lưu thánh đạo, nhập lưu thánh quả. Cạo đường tóc thứ nhất, giới tử Sīvali chứng ngộ chân lý tứ thánh đế, chứng đắc Nhất lai thánh đạo, Nhất lai thánh quả. Cạo đường tóc thứ hai, giới tử Sīvali chứng ngộ chân lý tứ thánh đế, chứng đắc Bất lai thánh đạo, Bất lai thánh quả. Cạo tóc vừa xong, đồng thời giới tử Sīvali chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Arahán thánh đạo, Arahán thánh quả, trở thành Bậc thánh Arahán tột cùng, cao thượng trong Phật giáo.
Kể từ ngày Đại Đức Sīvali xuất gia làm Sadi, hằng ngày không chỉ có hàng cận sự nam, cận sự nữ đem 4 món vật dụng: Y phục, vật thực, chỗ ở, thuốc men trị bịnh đến dâng cúng Ngài Đại Đức và Chư Tỳ Khưu Tăng, ngày càng đầy đủ, dồi dào sung túc, mà trước đây chưa từng có.
5. Quả ác nghiệp của Ngài Sīvali
Một hôm nhóm Tỳ khưu đang ngồi bàn luận về Ngài Đại Đức Sīvali là Bậc Đại Trí. Ngài đã chứng đắc từ bậc Thánh nhập lưu đến Bậc Thánh Arahan trong khoảng thời gian cạo tóc xong. Ngài còn là Bậc Đại Phước, kể từ khi Ngài xuất gia thành Sadi, 4 món vật dụng đã phát sanh, không chỉ đến cho Ngài Đại Đức Sīvali, mà còn đến tất cả Chư Tỳ Khưu Tăng một cách đầy đủ, dồi dào sung túc mà trước đây chưa từng có.
Vậy do quả ác nghiệp nào khiến cho Ngài phải nằm trong bụng mẹ chịu khổ suốt 7 năm lẻ 7 ngày?
Lúc ấy, Đức Thế Tôn vừa ngự đến bèn hỏi rằng:
- Này chư Tỳ khưu, các con đang bàn luận về chuyện gì vậy?
Nhóm Tỳ Khưu bạch Đức Thế Tôn rõ, họ đang bàn luận về Ngài Đại Đức Sīvali, Đức Thế Tôn bèn dạy rằng:
- Này Chư Tỳ Khưu, Sīvali chịu khổ do quả ác nghiệp đã tạo ở kiếp quá khứ.
Trong quá khứ, tiền kiếp của Sīvali là Thái Tử con của đức vua trị vì ở kinh thành Baranasi. Khi phụ vương băng hà, thái tử lên ngôi vua. Lúc ấy có vị vua của nước láng giềng mưu toan kéo quân chiếm kinh thành Baranasi. Trên đường tiến quân, vị vua này lập doanh trại cho quân lính nghỉ đêm.
Đức vua ở kinh thành Baranasi hay tin bèn bàn tính với Bà Hoàng Thái Hậu, tìm cách ngăn cản đội quân xâm lược, rồi đem quân vây quanh bốn cửa doanh trại suốt 7 ngày đêm không cho một ai ra vào.
Lúc ấy Chư Phật Độc Giác đang ngự ở chùa Migadayavihara thuyết giảng dạy về pháp thiện, pháp ác, khuyên bảo mọi người không nên gây nghiệp ác, mà hãy cố gắng tạo nghiệp thiện. Đức vua ở kinh thành Baranasi, sau khi nghe pháp hiểu rõ nghiệp thiện, nghiệp ác, liền truyền lệnh mở vòng vây 4 cửa doanh trại quân địch, thả cho vị Vua láng giềng và quân lính trốn thoát chạy về nước.
Do quả ác của nghiệp vây hãm doanh trại suốt 7 ngày đêm ấy, Đức vua kinh thành Baranasi sau khi chết đọa địa ngục, chịu khổ suốt thời gian lâu dài. Nay đến kiếp hiện tại này, được tái sanh vào lòng Bà công chúa Suppavasa, là hậu thân của Bà Hoàng Thái Hậu ở tiền kiếp, đã đồng tình với Vương nhi vây hãm doanh trại kẻ thù. Do quả của ác nghiệp ở thời quá khứ còn dư lại, nên khiến cho Ngài Đại Đức Sīvali và công chúa Suppavasa cùng chịu khổ trong suốt 7 năm lẻ 7 ngày.
6. Sadi Sīvali trở thành Tỳ khưu
Ngài Đại Đức Sīvali tròn 20 tuổi. Ngài thọ Cụ Túc Giới, trở thành Tỳ Khưu, bốn món vật dụng lại càng phát sanh dồi dào hơn đến Chư Tỳ Khưu Tăng. Hễ mỗi khi Chư Tỳ Khưu Tăng đông đảo phải đi châu du trên đường qua những vùng hẻo lánh, dân cư thưa thớt, ít ỏi, nhưng nếu có Ngài Đại Đức Sīvali đi cùng, thì 4 món vật dụng, phát sanh đầy đủ sung túc dến Chư Tỳ Khưu Tăng, do nhờ oai lực quả phước thiện của Ngài Đại Đức Sīvali, Chư thiên đã hóa ra xóm làng, thị thành và dân cư đông đúc để dâng cúng y phục, vật thực, chỗ ở và thuốc men chữa bệnh đến đoàn Chư Tỳ Khưu Tăng. Khi đoàn Chư Tỳ Khưu Tăng đã đi qua khỏi nơi ấy, thì xóm làng, kinh thành đó liền biến mất.
Một thuở nọ, Đức Phật cùng đoàn Chư Tỳ Khưu Tăng đông đảo đến ngự đến khu rừng, nơi ở của Ngài Đại Đức Revata. Khi Đức Phật cùng Đoàn Chư Tỳ Khưu Tăng đi đến đoạn đường có lối rẽ. Ngài Đại Đức Ananda bạch với Đức Phật rằng:
- Kính Bạch Đức Thế Tôn, có hai con đường, Đức Thế Tôn nên ngự đi con đường nào trong hai con đường này:
- Một con đường dài 30 do tuần, đầy nguy hiểm và có nhiều phi nhân, không có nơi khất thực và chỗ ở.
- Một con đường dài 60 do tuần, được an toàn, vì có làng xóm, chỗ ở và khất thực dễ dàng.
Đức Thế Tôn dạy:
- Này Ananda, Sīvali có đi trong đoàn Tỳ Khưu phải không?
- Bạch Đức Thế Tôn, có Ngài Đại Đức Sīvali cùng đi trong đoàn.
Đức Thế Tôn dạy:
- Như vậy, Chư Tỳ Khưu nên đi theo con đường dài 30 do tuần. Để biết rõ được quả phước thiện của Sīvali.
Đức Phật cùng đoàn Tỳ Khưu Tăng đông đảo ngự theo con đường dài 30 do tuần. Tất cả Chư Thiên hay tin Đức Phật cùng đoàn Tỳ Khưu Tăng đông đảo, trong đó có Ngài Đại Đức Sīvali kính yêu của họ, đang ngự dọc theo con đường này, nên vô cùng hoan hỷ.
Cứ mỗi do tuần, Chư thiên lại hoá ra một kinh thành trù phú có dân chúng đông đúc, có những ngôi chùa lớn, trong mỗi ngôi chùa, lại hoá ra một cái cốc lớn dành cho Đức Phật và những cốc nhỏ dành cho những vị Tỳ Khưu. Trong các cốc đó có đầy đủ những vật dụng cần thiết của bậc xuất gia, để tiếp đón Đức Phật và đoàn Tỳ Khưu Tăng.
Khi Đức Phật cùng chư Tỳ Khưu Tăng đi đến đâu Chư Thiên lại hóa ra các cận sự nam, cận sự nữ có đức tin trong sạch nơi Tam bảo, hộ độ cúng dường 4 món vật dụng đầy đủ sung túc.
Tất cả Chư Thiên đến hầu đảnh lễ Đức Phật xong, bạch Đức Thế Tôn rằng:
- Kính bạch Đức Thế Tôn, Ngài Đại Đức Sīvali của chúng con ở đâu?
Khi gặp được Ngài Đại Đức Sīvali, tất cả Chư Thiên vô cùng hoan hỷ, cho nên các món vật dụng y phục, vật thực, chỗ ở và thuốc men chữa bịnh phát sanh đến Chư Tỳ Khưu Tăng dồi dào, sung túc cho đến khi Đức Phật và đoàn Chư Tỳ Khưu Tăng rời khỏi nơi ấy.
Đức Phật cùng đoàn Chư Tỳ Khưu Tăng mỗi ngày đi được 1 do tuần, cứ mỗi do tuần Chư Thiên hóa ra các kinh thành trù phú, dân cư đông đúc như vậy để hộ độ Đức Phật và đoàn Chư Tỳ Khưu Tăng, trên suốt quảng đường dài 30 do tuần, cho đến khu rừng, nơi trú ngụ của Ngài Đại Đức Revata.
Ngài Đại Đức Revata hay được tin Đức Phật cùng đoàn Chư Tỳ Khưu Tăng đông đảo đến thăm, Ngài dùng thần thông hóa ra ngôi chùa lớn để Đức Phật thuyết pháp và là nơi hội họp của Chư Tỳ Khưu Tăng; hóa ra cốc Gandhakuti đầy đủ tiện nghi dâng lên Đức Phật, và những cốc nhỏ khác cho những vị Tỳ Khưu.
Cũng bằng thần thông, Ngài Đại Đức Revata hóa ra một con đường lớn và xinh đẹp để đón rước Đức Phật và Chư Tỳ Khưu Tăng. Đức Phật cùng đoàn Chư Tỳ Khưu Tăng ngự đi trên con đường đó đến ngôi chùa lớn, rồi Đức Phật ngự tới cốc Gandhakuti, tất cả chư Tỳ Khưu mỗi vị vào nghỉ một cốc nhỏ đã hóa sẵn.
Chư thiên ở trong rùng vô cùng hoan hỷ đón rườc Đức Phật và Chư Tỳ Khưu Tăng, trong đó có Ngài Đại Đức Sīvali vô cùng kính yêu của họ. Chư thiên cũng hóa thành những cận sự nam, cận sự nữ biết được đã quá giờ thọ thực nên họ chỉ làm nước trái cây dâng lên Đức Phật cùng Chư Tỳ Khưu Tăng.
Mỗi ngày Chư Thiên hoan hỷ cúng dường 4 món vật dụng đến Đức Phật và Chư Tỳ Khưu Tăng. Rất đầy đủ sung túc.
Do quả phước thiện của Ngài Đại Đức Sīvali, suốt nữa tháng Đức Phật cùng đoàn Chư Tỳ Khưu Tăng ngự ở khu rừng luôn được Chư Thiên kính yêu và dâng lên các món y phục, vật thực, chỗ ở và thuốc chữa bịnh một cách đầy đủ, dồi dào sung túc chưa từng có bao giờ.
Một hôm Chư Tỳ Khưu hội họp bàn về chuyện Ngài Đại Đức Sīvali có nhiều quả báu phước thiện đặc biệt nhất, không chỉ phát sanh 4 món vật dụng đến Ngài Đại Đức Sīvali mà còn đến cả Chư Tỳ Khưu Tăng dù bao nhiêu cũng vẫn sung túc đầy đủ. Thật là điều phi thường!
Không chỉ có các hàng cận sự nam cận sự nữ đem 4 món vật dụng đến cúng dường Ngài Đại Đức Sīvali và Chư Tỳ Khưu Tăng, mà còn có cả Chư Thiên, Long Vương… cũng đem 4 món vật dụng lên dâng cúng Ngài Đại Đức Sīvali và Chư Tỳ Khưu Tăng nữa. Các Tỳ Khưu đang bàn luận, khi ấy Đức Thế Tôn ngự đến bèn hỏi:
- Này Chư Tỳ Khưu, các con đang bàn về chuyện gì thế?
- Chư Tỳ Khưu bạch Đức Thế Tôn rằng:
- Kính bạch Đức Thế Tôn, chúng con đang bàn về quả phước thiện đặc biệt nhất của Ngài Đại Đức Sīvali đã làm cho phát sanh 4 món vật dụng đến Ngài Đại Đức và Chư Tỳ Khưu Tăng dù nhiều bao nhiêu cũng vẫn đầy đủ sung túc.
Nhân dịp ấy, Đức Thế Tôn chủ trì một buổi hội Chư Đại Đức Thánh Tăng.
Đức Thế Tôn tuyên dương cho toàn thể các hàng đệ tử biết rằng:
"Etadaggam bhikkhave mama sāvakānam labhinam yadidam Sīvali".
- Này Chư Tỳ Khưu, Sīvali là bậc Thánh Thanh Văn đại Đệ tử có tài lộc bậc nhất trong các hàng Thánh Thanh Văn đệ tử của Như Lai.
Đức Thế Tôn dạy rằng:
- Này Chư Tỳ Khưu, Sīvali có tài lộc nhiều là do nhờ quả báo của phước thiện đã tạo ở những kiếp quá khứ.
*
7. Tiền kiếp của Ngài Sīvali
Từ kiếp trái đất hiện tại này, lùi vào quá khứ cách 100 ngàn kiếp trái đất, có Đức Phật Padumuttara xuất hiện trên thế gian. Khi ấy tiền thân của Ngài Đại Đức Sīvali là con trai của một gia đình giàu có. Một hôm, cậu con trai ấy đi đến chùa, ngồi sau các hàng thính giả nghe Phật thuyết pháp. Khi ấy Đức Phật tuyên dương một người đệ tử có danh gọi Sudassana, là Bậc Thánh Thinh Văn đệ tử có tài lộc bậc nhất trong hàng thinh văn đệ tử của Đức Phật. Cậu con trai, là tiền thân của Ngài Sīvali, vô cùng hoan hỷ với địa vị cao thượng của Ngài Đại Đức Sudassana, nên có nguyện vọng muốn trở thành bậc Thánh thinh văn đệ tử có tài lộc bậc nhất trong các thinh văn đệ tử của Đức Phật ở vị lai, như Ngài Sudassana này.
Ngay sau đó, cậu con trai ấy đến hầu đãnh lễ Đức Phật rồi cung kính thỉnh Đức Phật cùng 500 Tỳ Khưu Tăng đến nhà để làm phước đại thí suốt 7 ngày. Đức Phật làm thinh nhận lời.
Cậu con trai ấy làm phước đại thí dâng cúng đến Đức Phật cùng 500 vị Tỳ Khưu bằng những vật thực ngon lành suốt 7 ngày. Ngày thứ 7 còn dâng cúng tam y đến Đức Phật và 500 vị Tỳ Khưu Tăng mỗi vị một bộ tam y. Sau khi dâng tam y, cậu con trai ấy đến hầu đảnh lễ Đức Phật, ngồi xuống một nơi hợp lễ, rồi bạch với Đức Thế Tôn rằng:
- Kính bạch Đức Thế Tôn, phước thiện đại thí mà con đã tạo suốt 7 ngày qua, con không mong gì khác hơn là muốn trở thành Bậc Thánh Thinh Văn Đại đệ tử có tài lộc bậc nhất trong các hàng Thánh Thinh Văn Đại Đệ Tử của Đức Phật ở vị lai, như ngôi vị Ngài Đại Đức Sudassana, bậc Thánh Thinh Văn Đại Đệ Tử có tài lộc bậc nhất trong các hàng Thánh Thinh Văn Đệ Tử của Đức Thế Tôn bây giờ.
Đức Phật Padumuttara dùng trí tuệ Anagatamsanāna: trí tuệ thấy rõ kiếp vị lai của chúng sanh - Đức Phật thấy rõ nguyện vọng của cậu con trai này sẽ thành tựu trong kiếp vị lai, nên Ngài thọ ký rằng:
- Này Chư Tỳ Khưu, kể từ kiếp trái đất này, trong vị lai sẽ trải qua 100 ngàn đại kiếp trái đất, đến kiếp trái đất Bhađakappa có Đức Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, khi ấy cậu con trai nầy sẽ trở thành Bậc Thánh Thinh Văn Đại Đệ Tử có tài lộc bậc nhất trong các hàng Thánh Thinh Văn Đại Đệ Tử của Đức Phật Gotama: như Sadussana bậc Thánh Thinh Văn Đại Đệ Tử Như Lai bây giờ.
Cậu con trai vô cùng hoan hỷ thỉnh thoảng làm phước thiện dâng cúng 4 món vật dụng đến Đức Phật và Chư Tăng cho đến trọn đời. Bắt đầu từ kiếp ấy cho đến kiếp cuối cùng, tái sanh làm người, làm Chư Thiên trong cõi trời dục giới, làm phạm thiên ở cõi trời sắc giới, không hề bị sa đọa vào 4 đường ác đạo. Kiếp nào tâm cũng hoan hỷ trong việc làm phước bố thí cúng dường.
Thời kỳ Đức Phật Vipassi xuất hiện trên thế gian, thời gian cách kiếp trái đất này 91 đại kiếp trái đất, khi ấy tiền thân Ngài Đại Đức Sīvali sanh làm con trai trong một gia đình nghèo gần thành Badhumati.
Một hôm, dân chúng trong thành Bandhumati làm phước bố thí vật thực dâng cúng đến Đức Phật Vipassi cùng Chư Tỳ Khưu Tăng, tranh đua với Đức vua ở kinh thành Bandhumati. Tất cả đồ ăn uống rất nhiều và ngon lành, nhưng xét thấy còn thiếu hai món: sữa chua và mật ong. Người nhóm trưởng cho người đi đón các ngã đường vào thành, xem xét có ai mang hai món sữa chua và mật ong vào thành bán, thì bằng giá nào cũng phải mua cho được. Khi ấy, cậu thanh niên con nhà nghèo (Tiền thân của Ngài Sīvali) mang sữa chua và mật ong vào thành bán, khi gặp người dân thành Bandhumati đón mua. Được trả ngay món tiền 1 Kahapana cho món mật ong và sữa chua, cậu thanh niên chủ hai món hàng đó vô cùng ngạc nhiên.
Cậu thanh niên đó nghĩ là hai đồ ăn này không đáng giá bao nhiêu, tại sao người dân thành Bandhumati lại trả một giá cao như vậy? Ta hãy thử xem sự cần thiết của họ như thế nào, với suy nghĩ như vậy, cậu thanh niên nói:
- Tôi không chịu bán món sữa chua và mật ong này vói giá 1 Kahapana.
Người dân thành Bandhumati năn nỉ mua hai món đồ ăn đó với giá gấp đôi, là 2 Kahapana. Người chủ hàng vẫn không chịu bán. Người dân thành Bandhumati lại tăng số tiền lên gấp đôi, gấp đôi, 4 Kahapana, 8 Kahapana…cứ thế đến 1000 Kahapana, để mua cho được hai món sữa chua và mật ong.
Cậu thanh niên chủ hai món đồ ăn trên muốn biết, tại sao người dân thành Bandhumati cần đến hai món sữa chua và mật ong, mà chịu trả một số tiền quá cao như vậy, nên hỏi người mua rằng:
- Thưa ông, sự thật hai món đồ ăn này đâu có giá là bao, tại sao các ông cần đến hai món này, phải trả số tiền 1000 Kahapana như vậy, ông có thể cho tôi biết lý do được không?
- Người dân thành Bandhumati giải thích rằng:
- Thưa anh, dân chúng trong thành Bandhumati tranh đua với Đức vua trong việc làm phước dâng cúng lên Đức Phật Vipassi cùng toàn thể Chư Tỳ Khưu Tăng, khi kiểm điểm lại những món đồ ăn dâng cúng, thì thấy còn thiếu hai món sữa chua và mật ong, mới cho tôi đón đường tìm hai món đồ ăn đó. Nếu chúng tôi không mua dược hai món đồ ăn này, thì sẽ thua đức vua mất, vì vậy, với giá nào chúng tôi cũng cố mua cho được.
Nghe vậy cậu thanh niên chủ hai món đồ ăn hỏi:
- Thưa ông, việc làm phước bố thí các món ăn sữa chua và mật ong này đến Đức Phật Vipassi và Chư Tỳ Khưu Tăng chỉ dành riêng cho dân thành Bandhumati, hay người khác cũng có thể làm phước bố thí được hay không ?
Người mua sữa chua và mật ong thưa rằng:
- Thưa anh, việc làm phước dâng sữa chua và mật ong cũng như thức ăn và đồ dùng khác đến Đức Phật Vipassi và Chư Tỳ Khưu Tăng không phải là việc dành riêng cho người dân thành Bandhumati, mà bất cứ ai cũng có thể làm được, đó là việc chung của tất cả mọi người.
Cậu thanh niên nghèo liền thưa rằng:
- Thưa ông, tôi không bán hai món sữa chua và mật ong này với giá 1000 Kahapana mà tôi muốn dâng cúng hai món đó, để cùng làm phước bố thí với dân chúng thành Bandhumati có được không?
Người dân thành Bandhumati vô cùng hoan hỷ, ông liền trở về báo tin cho người nhóm trưởng hay, có cậu thanh niên xin cùng chung cúng dường bố thí các món sữa chua và mật ong đến Đức Phật và Chư Tỳ Khưu Tăng.
Cậu thanh niên tự tay làm những món sữa chua và mật ong đem đến, rồi ngồi chờ đến phiên mình dâng cúng. Khi dâng cúng, cậu thanh niên bạch với Đức Phật Vipassi rằng:
- Kính bậc Đức Thái Tôn, món vật thực nhỏ mọn này của con, xin kính dâng đến Đức Phật, kính xin Đức Thái Tôn từ bi thọ lãnh.
Đức Phật Vipassi thọ nhận món đồ ăn làm bằng sữa chua và mật ong của cậu thanh niên nghèo. Đức Thế Tôn chú nguyện xong, Đức Phật đem món đồ ăn làm bằng sữa chua và mật ong phân chia cho 6 triệu 8 trăm ngàn (6800000) Tỳ Khưu Tăng độ vẫn không hết
Khi Đức Phật cùng Chư Tỳ Khưu Tăng độ vật thức xong, cậu thanh niên nghèo là tiền thân của Ngài Đại Đức Sīvali đến đãnh lễ Đức Thế Tôn ngồi xuống một nơi hợp lẽ, bạch rằng:
- Kính xin Đức Thế Tôn, con có duyên lành gặp dược Đức Thế Tôn, con lại có cơ hội tốt cùng dân chúng thành Bandhumati làm phước thiện cúng dường đến Đức Phật cùng Chư Tỳ Khưu Tăng, con vô cùng hoan hỷ, với phước thiện thanh cao này, xin cho con được trở thành bậc thánh Thinh văn đại đệ tử có tài lộc nhiều nhất trong các hàng Thánh Thinh văn đệ tử của Đức Phật ở vị lai.
Lúc đó Đức Phật Vipassi truyền dạy rằng:
- Nguyện vọng của con chắc chắn sẽ được thành tựu như ý.
Đức Phật thuyết pháp và chúc phước toàn thể dân chúng thành Bandhumati, trước khi Đức Phật cùng đoàn Chư Tỳ Khưu Tăng đi nơi khác.
Cậu thanh niên, tiền thân của Đại Đức Sīvali tinh tấn tạo mọi phước thiện, nhất là bố thí đến trọn đời. Trong vòng sanh tử luân hồi, cậu chỉ tái sanh làm người, làm Chư Thiên hưởng sự an lạc, không hề sa vào 4 đường ác đạo.
Thời kỳ Đức Phật Gotama xuất hiện trên thế gian.. Ngài Đại Đức Sīvali là bậc đại phước tái sanh vào lòng bà công chúa Suppavasa xứ Koliya như đã nói ở đoạn đầu.
8. Nghiệp và quả của nghiệp
Thiện nghiệp, ác nghiệp là của riêng của mỗi chúng sanh. Quả của thiện nghiệp, quả của ác nghiệp không chỉ riêng cho mình, mà còn ảnh hưởng đến người khác, chúng sanh khác nữa.
Trong kinh, Đức Phật dạy về thiện nghiệp, ác nghiệp và quả của thiện nghiệp, ác nghiệp có câu kệ rằng:
"Yadisam vāpte bijam, Tādisam harate phalam Kalyanakari kalyanam, Papakari ca papakam"
Tạm dịch:
"Người nào gieo hạt giống nào,
Người ấy gặt quả nấy.
Người hành thiện thì được quả thiện
Người hành ác thì được quả ác.”
Tiểu sử của Ngài Đại Đức Sīvali ở kiếp hiện tại là kết quả của ác nghiệp và thiện nghiệp mà chính Ngài đã tạo ở tiền kiếp quá khứ và ngay trong hiện tại.
Ngài Đại Đức Sīvali đã trở thành Bậc Thánh Thinh văn đại đệ tử có tài lộc bậc nhất trong các hàng đệ tử của Đức Phật Gotama, hợp theo nguyện vọng, mà sự thành tựu do thiện nghiệp đã tạo từ những tiền kiếp của Ngài Đại Đức Sīvali ở quá khứ.
Nay kiếp hiện tại này, Ngài Đại Đức Sīvali là Bậc Thánh Alahán, cũng là kiếp chót của Ngài. Tất cả quả của thiện nghiệp và quả của ác nghiệp sẽ trở thành vô hiệu, khi Ngài Đại Đức Sīvali nhập diệt Niết bàn, chấm dứt sanh tử luân hồi trong ba giới bốn loài.
9. Câu kệ "CẦU TÀI LỘC"
1.
"Sīvali ca mahanamam, Sabbalabhaṃ bhavissati Therassa anubhavena, Sabbe hontu piyam mama"
Ngài Đại Đức Sīvali bậc đại danh
Cầu xin tất cả tài lộc sẽ phát sanh
Do nhờ oai lực của Ngài Đại Đức,
Tất cả chúng sanh, Chư thiên, nhân loại,
Đều có tâm từ thương mến con.
2.
"Sīvali ca mahalabham, Sabbalabham bhavissati Therassa anubhavena Sada hontu piyaṃ mama"
Ngài Đại Đức Sīvali bậc đại tài lộc
Cầu xin tất cả tài lộc sẽ phát sanh,
Do nhờ oai lực của Ngài Đại Đức,
Cầu xin Chư thiên, nhân loại luôn luôn yêu mến con.
3.
"Sīvali ca mahathero, mama sise thapetvana,
Mantitena jāyomantam, aham vandami Sabbada"
Ngài Đại Đức Sīvali bậc cao thượng,
Con tôn kính Ngài ở trên đầu con.
Con xin tán dương ca tụng ân đức của Ngài
Con luôn luôn kính đãnh lễ Ngài.
*
Giống nào người đã gieo trồng
Quả ấy sẽ trỗ cho ông bội phần
Như người làm thiện ân cần
Quả lành sẽ trỗ, đặc ân lạ gì
Còn người hành ác khác chi
Khổ đau là quả tránh đi đường nào
Đức Sīvali danh cao
Cầu xin tài lộc sanh vào cho con
Do nhờ oai lực vẹn toàn
Ngài Sīvali mãi còn thế gian
Cầu mong thiên chúng các hàng
Cùng chung nhân loại vô vàn mến con
Đức Sīvali tợ non
Lộc tài Đại Đức hoàn toàn cao thanh
Cầu xin tài lộc phát sanh
Cho con hưởng quả an lành Ngài ban
Cầu mong thiên chúng các hàng
Cùng chung nhân loại vô vàn mến con.
Ân Sīvali mãi còn
Bậc Thầy cao thượng cho con đội đầu
Kính Ngài là bậc nhiệm mầu
Con luôn đảnh lễ, mong cầu lạc an.
https://yhairstudiovn.blogspot.com/s...A%ADt%20Sivali
SADHANA OF TARA OF CONTINUOUS WEALTH
To the Lama, the Three Precious Jewels, and to the Exalted Arya Tara, with devotion, myself and all sentient beings, as equal as space, go for refuge.
In order to liberate all sentient beings from extreme poverty and suffering, I will accomplish the state of the Goddess Tara of Continuous Wealth.
Upon recollection, instantly one arises as the Noble Goddess Tara of Continuous Wealth. Her body is green-yellow, beautifully adorned with all the major and minor marks of a Buddha. In her right hand she holds a ricke stalk and in her left hand she holds a wish-fulfilling gem. Her body is adorned with the Sambhogakaya dress and is sitting with her left leg outstretched and her right leg tucked in. In the expanse of radiating light and light rays she abides, joyfully smiling.
In the center of her heart is the green letter TAM, with the mantric syllables encircling it to the right. Through repetition of the mantra her heart-mind is pleasingly stirred and light and light rays boundlessly radiate forth completely pervading the universe and its contents, cleansing the cause of extreme poverty and suffering of all sentient beings, by utilizing this inexhaustible treasure may ordinary and wisdom merit be fully accomplished :
OM VASUDHARINI SVAHA
OM TAM SVAHA
Awareness of the deity dissolves into the sphere of clear light, once again the illusory form of the deity appears. By this virtue, may all sentient beings accumulation of ordinary and wisdom merit be ever complete, by utilizing this inexhaustible treasure, may auspicious good fortune prevails, at the request of Sonam Chodron.
This was composed by Jnana
==========
Meaning - Earth. 25. VASUDHARINI. Mantra - Om Vasudharinyai Namah। Meaning - Bearing the the Burden of Earth. 26.
[DOC]sadhana de chenrezig - Golden-Wheel
http://www.golden-wheel.net/.../SADH...0CHENREZIG.doc
Dịch trang này
Dans le centre du cœur du seigneur Chenrézig sur le disque lunaire les six lettres du mantra entourent la lettre HRI, de celle-ci émane un flot de nectar lumineux ... OM VASUDHARINI SVAHA. OM TAM SVAHA. Awareness of the deity dissolves into the sphere of clear light, once again the illusory form of the deity appears
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...cvIjr2d690.jpg
财续佛母心咒
om vasu dharani svaha
om 瓦素 达ra 尼 梭哈
财 续 母
(ni为女性或佛母之意,可以加,可以 加)
财续佛母(Vasu-dhara),她另有财续母、财源天女、财 源佛母、宝源度母、持世天女、持世 萨、雨宝菩萨等不同名称。
天母本生愿力,以财施、法施、无畏 之“布施波罗蜜”为主,行者若能行 养、礼拜、依止,并修习持诵,当能 资财丰饶,不虞匮乏。但行者亦如天 愿力,广行布施,方能与天母相应成 。
据佛经中记载,在过去久远劫中,迦 佛住世时,此天母以殊胜布施功德, 生到三十三天。释迦佛在世时,财源 天母又从水中出生,名为“甘登拉摩 。也就是恒河天女,她又化现为二十 度母之一的宝源度母。
财续母仪轨导修开示---大藏寺祈竹仁宝哲
财续母的藏名为nor rgyun ma(注:汉译亦作“增禄天母”、“财 续佛母”及“财续天母”等),他是 位赐予财富的本尊,亦可说是珍巴拉 尊的女性版本(注:有关珍巴拉财尊 法门,见法师著作《本尊海会Ⅰ》)
财源天母,梵名:巴素达喇;藏名: 玛属,藏名译音:若君玛。又称财宝 母、财续佛母等,属密咒部作密,系 瑜珈密续佛部尊,于六道中专司人道 掌世间之财富,并为五路财神之佛母
现今的人,都以财富为首要,宁 要钱财而不要命。在古印度的佛教传 中,可不是这样的。在古印度,认真 的修行人都先修长寿本尊法,如白度 或无量寿佛等(注:有关无量寿佛延 法门,见法师著作《寿份无量》); 次修增智慧法,例如妙音母或文殊法 等(注:有关文殊法门,见法师著作 本尊海会Ⅴ》);在也成功地增长了 智慧后,他们便修财尊法门,例如财 母或珍巴拉法门等。古印度行者修延 法并非因为世俗的怕死之心,而是为 了确保自己有足够长的寿命以学法及 持。他们修财尊法,并非为了想发财 享乐,而是为了要有足够资财以作供 养、布施予苦难众生及作为修持之顺 。在印度中部佛陀或道圣地附近之古 度石雕上,可见到许多财尊形相,足 可见证古代行者对财尊法门之重视。
在佛教传统上,有不少欲增长智 的人依止妙音母以增智。妙音母是一 佛教及印度教共尊的本尊。修持妙音 母可迅速得长智慧,可是却会有贫乏 缘起。故此,凡修妙音母的人,必定 同时修财续母法门。妙音母与财续母 ,几乎可说是一种传统的组合法门。
财续母不只有一种化相。今天所 的,是一面二臂、黄色身相的财续母 财续母传承中有不少殊胜而奇妙的细 节可以传授,但由于在座的人未曾受 此尊之灌顶,衲若多说便有过失了。 此,今晚只传授一个比较适合普传的 、礼赞祈请文形式之极简化仪轨。这 的话,大家即使无灌顶传承亦可修诵 衲教授普遍的内容亦无过失。
前行开示
有关前行细节,衲已说过多次,在此 欲重复了,只特别提一提供品及动机 面的要求。
供品必须依事密部规矩而供素品 宜多供水果、牛奶及酸奶。此外,如 我们供奉了财续母之图片或身像,可 在其前放一个漂亮的瓶子,内盛世界 国的金币、银币或普通钱币,亦可放 宝石、金、银等财宝。这样供的话, 会有积聚财富的好缘起。
修此法前,我们必须生起好的动 ,心想:“我现祈求财续母赐予资财 以利益众生!”
然后,我们诵仪轨中的皈依发心 。
行者皈依直至成正觉 佛陀正法以及圣僧众
因作布施等诸修持故 愿证佛境利普有情生
或念诵:
诸佛尊法贤圣三宝尊。从今直至菩提 皈依。
我以所修施等诸资粮。为利有情故愿 觉成。)
我们应诵这个偈文三次或更多次
正行开示
在未诵仪轨中的礼赞文前,我们 须先观出本尊在自己面前虚空中。
财续母身相黄色,一面二臂,右 作与度母一样的施愿印,此印代表赐 、施护及加持;其左手持一个上插一 株嘉禾的宝瓶;他穿着华丽的衣服, 戴多种宝饰,双足跏趺而坐于莲心月 上,相貌十分年青美丽。
观出本尊后,我们便诵仪轨中的 句礼赞文。
过去累积海般布施善 证得寿命财富及威德
于行持者降下珍宝雨 增禄德母予汝我礼敬
这四句的意思是“您在无数过往 中,积了如大海般无边的布施功德, 您有赐予财富及长寿之能力。我礼赞 您,求您加持我!”
在观好本尊及诵礼赞后,我们便 咒。
om vasu dharani svaha
om 瓦素 达ra尼 梭哈
(此咒与雨宝陀罗尼为同一个咒)
在持咒若干遍之同时,我们观想 尊左手之瓶放黄色光芒,照向十方, 宇宙中所有财富之精华、所有君王及 财主的财富之精华、八大龙王所拥财 之精华及非人族类之财富精华全摄入 中。上述的财富精华,我们观为七宝 及八吉祥形相。这些财富精华被摄入 瓶后,瓶便掉出金、银、宝石等财宝 堆满在我们身边,亦堆满了我们的房 子。如上所观,我们同时持咒若干遍
结行开示
在持咒后,我们诵仪轨中的四句 向文。
以此功德愿速能 成就增禄天母境
并将一切诸众生 安立于同等果境
在诵了回向文后,若有任何其它 愿,亦可于此时发愿回向。
最后,我们观本尊化光而融入自 身中。
财续佛母心咒
附:
财续母修持仪轨(事密部)
大藏寺祈竹仁宝哲 著
(我现祈求财续母赐予资财,以利益 生)
诸佛尊法贤圣三宝尊。从今直至菩提 皈依。
我以所修施等诸资粮。为利有情故愿 觉成。三遍
愿诸众生永具安乐及安乐因。
愿诸众生永离众苦及众苦因。
愿诸众生永具无苦之乐。
愿诸众生远离贪嗔亲疏之心住平等舍 三遍
(观想财续母身相黄色,一面二臂, 手作与度母一样的施愿印,此印代表 予、施护及加持;其左手持一个上插 一株嘉禾的宝瓶;他穿着华丽的衣服 佩戴多种宝饰,双足跏趺而坐于莲心 轮上,相貌十分年青美丽。信解本尊 即是上师真实化现,安住于面前虚空 )
过去累积海般布施善 证得寿命 富及威德
于行持者降下珍宝雨 增禄德母 汝我礼敬
嗡 瓦素 达ra尼 疏哈(根据祈 竹仁波切语音示范整理)
om vasu dharani svaha
(在持咒若干遍之同时,我们观想本 左手之瓶放黄色光芒,照向十方,把 宙中所有财富之精华、所有君王及财 主的财富之精华、八大龙王所拥财富 精华及非人族类之财富精华全摄入瓶 。上述的财富精华,我们观为七宝及 八吉祥形相。这些财富精华被摄入宝 后,瓶便掉出金、银、宝石等财宝, 满在我们身边,亦堆满了我们的房子 。如上所观,我们同时持咒若干遍。
以此功德愿速能 成就增禄天母
并将一切诸众生 安立于同等果
http://blog.sina.com.cn/s/blog_5ed62e960102xaq7.html
=============
Green Tara of Wealth Teachings – Part 3 @ Tersar org
https://www.tersar.org/teachings.../...eachings-part-...
Dịch trang này
Just as this Tam is green in color, so obviously Om Basu Dharani Soha is also green. Please don't try to make this multi-colored, just keep it green. She comes from the green Buddha field, called Yalo Kaupa so the green signifies her buddhafield. The quality of this field is emerald, that is, the stone connected to Green Tara .
https://www.tersar.org/teachings-4/g...chings-part-3/
Sự giàu có tiền bạc do 2 nguyên nhân
1. Nhân bên trong có: do kiếp trước tạo phước nhiều, kiếp này sống thuận lợi, kiếm tiền dễ dàng, may mắn đến liên tục như ý.
2. Nhân bên trong ít, hoặc lép: do đã xài ở kiếp trước rồi, kiếp này phải cày, gọi là có làm thì mới có ăn...dù cho cố gắng đi nữa cũng đủ xài hoặc dư chút đỉnh.
Hành trì mật chú để giàu có: mỗi một vị bồ tát, phật, đều có những hạnh nguyện, hạnh nguyện chung vẫn là giúp đỡ hổ trợ chúng sanh tu hành giải thoát sinh tử chứ các ngài không phục vụ và giúp chúng sanh tạo nghiệp luân hồi. Dĩ nhiên ai cầu đến ngài, ngài vẫn quán xét hay chuyển duyên họ cho các vị phúc đức chánh thần chăm sóc đặc biệt...đảm bảo người đó phước bình an chứ không phải phước họa.
Một số dòng black magic giúp bạn rất nhanh, nhưng trong vô hình họ đã lấy đi của mình một thứ lớn hơn, có thể bạn chết sẽ thành binh gia của họ...nên gọi là tiệm cầm đồ tâm linh. đặc điểm loại này bạn phải nuôi ông thầy hoài, nếu không ổng rút hay phá cũng te tua hơn...
Hãy bình tĩnh, hành giả khác với học giả nhé.
Có một lần một ẩn sĩ không có gì để sống, vì thế ông bắt đầu thực hiện thực hành pháp tu Damchen [*] Ông trở nên lão luyện trong pháp tu đến nỗi có thể trò chuyện với vị Hộ Pháp như thể nói với một người khác, nhưng ông vẫn chưa đạt được thành tựu.
Damchen nói với ông: “Ông không có ngay cả chút kết quả ít ỏi nhất đến từ bất kỳ hành động bố thí nào trong quá khứ, vì thế ta không thể đem lại cho ông một thành tựu nào.”
Một hôm nhà ẩn sĩ đứng vào hàng cùng một vài hành khất và được bố thí một tô súp đầy. Khi ông về nhà, Damchen hiện ra và nói với ông: “Hôm nay ta đã ban cho ông một vài thành tựu. Ông có nhận thấy không ?”
“Nhưng tất cả các hành khất đều nhận một tô súp, đâu phải chỉ mình tôi,” nhà ẩn sĩ nói. “Tôi không thấy (dấu hiệu) thành tựu đến từ Ngài ra sao.”
Damchen nói “Khi ông nhận súp, một miếng mỡ lớn đã rơi vào tô ông, đúng không ? Đó là thành tựu đến từ ta!”
Không thể khắc phục sự nghèo khổ bằng các pháp tu tài bảo và những pháp tu tương tự mà không có một vài tích tụ công đức trong những đời quá khứ. Nếu có những vị như các vị Trời tài bảo thực sự có khả năng ban cho các thành tựu tài bảo siêu nhiên thì chư Phật và Bồ tát, với khả năng và năng lực có thể thực hiện các điều huyền nhiệm còn lớn hơn hàng trăm, hàng ngàn lần, và là những bậc Giác Ngộ đã hoàn toàn hiến mình để giúp đỡ chúng sinh ngay cả khi không được thỉnh cầu, thì chắc chắn chư Phật và Bồ Tát sẽ trút xuống thế giới này một khối lượng dồi dào của cải khiến tất cả mọi sự cùng khổ đều được giải trừ trong giây lát. Nhưng điều này đã không xảy ra.
* Damchen Dorje Lekpa, Phạn: Vajrasadhu, một trong những Hộ Pháp chính.
| Trích Lời Vàng Của Thầy Tôi - Patrul Rinpoche
Mantra of the Wealth Granting Tara: OM TARE TUTTARE TURE DANAM ME DADA SOHA
Mantra of the Green Dzambhala: OM KARMA DZAMBHALA AH SOHA
Mantra of the White Dzambhala: OM PADMO KRODA ARYA DZAMBHALA HRIH DAYA HUM PHAT
Mantra of the Red Dzambhala: OM DZAMBHALA DZALIN DRAYE DANAM MEDIHI HRIH DAKINI DZAMBHALA SAMBHARA SOHA
Mantra of the Blue/Black Dzambhala: OM DZAMBHALA DZALIN DRAYE BASHU DHARINI SOHA
If you wish to know more about the Five Dzambhalas (also spelled as Dzambala, Jambhala, Jambala, Zambhala, Zambala) please click here.
For questions, comments, and suggestions please email sanaakosirickylee@gmail.com
https://sanaakosirickylee.wordpress....-me-dada-soha/
Có một lần một ẩn sĩ không có gì để sống, vì thế ông bắt đầu thực hiện thực hành pháp tu Damchen[*] Ông trở nên lão luyện trong pháp tu đến nỗi có thể trò chuyện với vị Hộ Pháp như thể nói với một người khác, nhưng ông vẫn chưa đạt được thành tựu.
Damchen nói với ông: “Ông không có ngay cả chút kết quả ít ỏi nhất đến từ bất kỳ hành động bố thí nào trong quá khứ, vì thế ta không thể đem lại cho ông một thành tựu nào.”
Một hôm nhà ẩn sĩ đứng vào hàng cùng một vài hành khất và được bố thí một tô súp đầy. Khi ông về nhà, Damchen hiện ra và nói với ông: “Hôm nay ta đã ban cho ông một vài thành tựu. Ông có nhận thấy không ?”
“Nhưng tất cả các hành khất đều nhận một tô súp, đâu phải chỉ mình tôi,” nhà ẩn sĩ nói. “Tôi không thấy (dấu hiệu) thành tựu đến từ Ngài ra sao.”
Damchen nói “Khi ông nhận súp, một miếng mỡ lớn đã rơi vào tô ông, đúng không ? Đó là thành tựu đến từ ta!”
Không thể khắc phục sự nghèo khổ bằng các pháp tu tài bảo và những pháp tu tương tự mà không có một vài tích tụ công đức trong những đời quá khứ. Nếu có những vị như các vị Trời tài bảo thực sự có khả năng ban cho các thành tựu tài bảo siêu nhiên thì chư Phật và Bồ tát, với khả năng và năng lực có thể thực hiện các điều huyền nhiệm còn lớn hơn hàng trăm, hàng ngàn lần, và là những bậc Giác Ngộ đã hoàn toàn hiến mình để giúp đỡ chúng sinh ngay cả khi không được thỉnh cầu, thì chắc chắn chư Phật và Bồ Tát sẽ trút xuống thế giới này một khối lượng dồi dào của cải khiến tất cả mọi sự cùng khổ đều được giải trừ trong giây lát. Nhưng điều này đã không xảy ra.
* Damchen Dorje Lekpa, Phạn: Vajrasadhu, một trong những Hộ Pháp chính.
| Trích Lời Vàng Của Thầy Tôi - Patrul Rinpoche
( http://thegioivohinh.com/diendan/sho...-c%C3%B3/page5 )
======
Có một câu chuyện : có một người tu pháp Bảo tạng thành tựu đến nỗi có thể nhìn thấy và nói chuyện với Bảo Tạng Vương . Nhưng anh ta chỉ có hơn người khác một miếng mỡ khi đi xin cháo, từ đâu bay vô bát . Khi gặp Bảo Tạng Vương anh hỏi tại sao tôi lại chỉ được vậy .
Ngài trả lời : Từ trước tới nay anh chưa làm phúc bố thí gì cả nên ta cố gắng lắm mới cho anh được miếng mỡ vào bát ....:)
Không bao giờ quên bố thí , bố thí tài vật , bố thí tình thưong và quan trọng hơn cả là bố thí Pháp .
Chính cái nhân bố thí này mà tạo cho chúng ta cái quả giàu có . Chứ không như ngoại đạo cầu các thứ mà không có ý thức về Nhân Quả .
CHO NÊN CHÚNG TA PHẢI GIEO NHÂN PHƯỚC ĐỨC BỐ THÍ THÌ MỚI NHẬN ĐƯỢC QUẢ SANG GIÀU!
*Theo lời Lama Yeshe Ladoy Rinpoche:
Tất cả các pháp tài bảo trong mật tông về chánh nghĩa chính là làm tăng trưởng thiện căn. Cho thêm phương tiện tu hành. Chứ không thể tư lợi riêng mình.
Nhờ nơi công đức này, Bồ đề tâm tâm tối thượng
Nơi tâm chưa sanh xin cho tâm ấy nảy sanh
Nơi nào đã sanh xin cho càng phát triển
Và nguyện cầu tất cả chúng sanh đều an lạc
Thành tựu đạo quả không tốn chi công sức.
( http://thegioivohinh.com/diendan/sho...B%B9-Ph%C3%A1p / https://www.facebook.com/karmavn/posts/1308689312492432 / http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=637.0;wap2 )
https://uphinhnhanh.com/images/2018/...itled26646.png
Nữ Bồ-Tát MAHĀŚRI TARA ( KICHIJÔ TEN )
( Bảo Tàng Bồ-Tát )
( http://www.butuzou-world-shop.com/i-003007/ / http://www.butuzou-world-shop.com/sh.../000000000353/ / https://www.amazon.co.jp/isumu-%E3%8.../dp/B004H0M638 )
BẢO TÀNG BỒ TÁT CHƠN NGÔN
( Giàu Sang Vô Cực )
Phục hồi Phạn Chú: Phổ Quảng
*Hồng Danh:
NAMAḤ MAHĀŚRI TĀRĀ.
*Chơn Ngôn:
OM ! TĀRE TUTTĀRE TURE DHANAM DADE SVĀHĀ.
=> OM ! TĀRE TU TĀRE TURE, DHANAM-DADE SVĀHĀ.
Chơn Ngôn trên là do Đức MAHĀŚRI TĀRĀ là 1 hoá thân của Đức QUÁN THẾ ÂM PHẬT MẪU tuyên nói. Lúc đọc, Người trì Chú nên CẦM NƠI TAY LÔNG CON CÔNG thì mau được hiệu nghiệm và có kết quả hơn. Đức Bảo Tàng Bồ Tát cũng là Thần Tài của dân chúng Nhật Bổn, do đó trong những ngôi Chùa của Phật giáo Nhật Bổn cũng như của Mật Tông ( Shigon ). Ngài thường được thờ riêng 1 cách đặc biệt và trang trọng.
Lúc trì niệm Chơn Ngôn, hành giả nên tưởng tượng Đức MAHĀŚRI TĀRĀ hiện thân Đứng trước mặt hành giả, mỉm 1 nụ cười từ ái và chấp nhận lời cầu xin Tài Bảo của hành giả để làm việc chơn chánh như: bố thí cho người đói khổ và cô nhi quả phụ là những người đáng giúp đỡ nhất. Mỗi Ngày nên trì niệm 108 biến liên tục trong 21 Ngày sẽ có kết quả như ý muốn.
( Trích trong Kinh SĀDHANAMĀLĀ là Kinh căn bản của Mật Giáo Bộ xứ Thiên Trúc ) do Tiến Sĩ Benoytosh Bhattacharyya, học giả người Ấn sưu tập )
Śri (C) Đức, Thánh, Cát Tường → Venerable one→ Đấng → An honorific title set for the name of deities or human beings.→ Danh hiệu tôn quí dùng cho tên một thần linh hay một người.
神財 Siri (P) Thần tài.
https://phatan.org/a2656/sho
Thần Tài: The goddess of fortune.
http://www.tuvienquangduc.com.au/tud...ucVA-tha1.html
(Theo văn minh Bà la môn giáo thì thần tài Siri xuất hiện dưới hình thức "điềm lành" trong nhà người nào thì người đó sẽ trở nên giàu có).
Vậy việc phải làm của người Bà la môn ác tâm kia, là tìm cách chiếm đoạt cái "thần tài" hay điềm lành ấy đem về nhà y, thì tự nhiên y sẽ trở nên giàu có. Ðiều này cũng phản ảnh niềm tin của tín đồ Bà la môn giáo rằng: Ai giàu có trên đời là nhờ tìm được "tín hiệu", tức thần tài hay phú lệnh (còn gọi là điềm lành) do Thượng đế ban xuống trần gian. Chứ không phải sự giàu có hiện tại là do gặt hái quả lành từ thiện nghiệp của mình đã tạo trong kiếp trước như đức Phật đã dạy! Nói một cách khác "thần tài" là một loại "âm binh" của Thượng đế rải xuống trần gian. Ai tìm cách chiếm đoạt hay dụ dỗ, cầm giữ được những hình tướng của các "âm binh" này trong nhà mình, thì mình sẽ trở nên giàu có.
https://www.budsas.org/uni/u-capcodoc/capcodoc-01.htm
==================
Kinh Trung bộ
HT. Thích Minh Châu dịch
KINH PHẠM THIÊN CẦU THỈNH
(Brahmanimantanikasuttam)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn Ông Anathapindika. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
– Này các Tỷ-kheo.
– Bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
– Một thời, này các Tỷ-kheo, Ta ở tại Ukkattha trong rừng Subhagavana, dưới gốc cây Tala vương. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Baka khởi lên ác tà kiến như sau: "Cái này là thường, cái này là thường hằng, cái này là thường tại, cái này là toàn diện, cái này không bị biến hoại, cái này không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi, ngoài cái này, không có một giải thoát nào khác hơn". Này các Tỷ-kheo, sau khi với tự tâm biết được tâm của Phạm thiên Baka, như người lực sĩ duỗi r ánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, Ta biến mất tại Ukkattha, rừng Sabhagavana, dưới gốc cây Tala vương, và hiện ra tại cõi Phạm thiên ấy. Này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Baka thấy Ta từ xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Ta:
"– Hãy đến, Tôn giả, thiện lai Tôn giả, đã lâu, nay Tôn giả mới có dịp đến đây. Này Tôn giả, cái này là toàn diện, cái này là thường hằng, cái này là thường tại, cái này là toàn diện, cái này không bị biến hoại, cái này không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi, ngoài cái này không có một giải thoát nào khác hơn.
Khi nghe nói vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói với Phạm thiên Baka:
"– Thật sự Phạm thiên Baka bị chìm đắm trong vô minh, thật sự Phạm thiên Baka bị chìm đắm trong vô minh, khi cái vô thường lại nói là thường, cái không thường hằng lại nói là thường hằng, cái không thường tại lại nói là thường tại, cái không toàn diện lại nói là toàn diện, cái bị biến hoại lại nói là không biến hoại, và tại chỗ có sanh, có già, có chết, có diệt, có khởi, lại nói không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi; có một giải thoát khác hơn lại nói là không có một giải thoát nào khác hơn..."
Này các Tỷ-kheo, rồi Ác ma nhập vào một Phạm thiên quyến thuộc và nói với Ta như sau:
"– Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chớ có can thiệp vào đây! Chớ có can thiệp vào đây! Này Tỷ-kheo, Phạm thiên này là Đại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Đại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Này Tỷ-kheo, thuở xư ó những Sa-môn, Bà-la-môn, ở đời phỉ báng địa đại, ghê tởm địa đại, phỉ báng thủy đại, ghê tởm thủy đại, phỉ báng hỏa đại, ghê tởm hỏa đại, phỉ báng phong đại, ghê tởm phong đại, phỉ báng chúng sanh, ghê tởm chúng sanh, phỉ báng chư Thiên, ghê tởm chư Thiên, phỉ báng Sanh chủ, ghê tởm Sanh chủ, phỉ báng Phạm thiên, ghê tởm Phạm thiên, sau khi thân hoại, mạng sống bị cắt đứt, phải an trú vào thân ti tiện. Này các Tỷ-kheo, còn những Sa-môn, Bà-la-môn ở đời xưa kia, tán thán địa đại, hoan hỷ địa đại, tán thán thủy đại, hoan hỷ thủy đại, tán thán hỏa đại, hoan hỷ hỏa đại, tán thán phong đại, hoan hỷ phong đại, tán thán chúng sanh, hoan hỷ chúng sanh, tán thán chư Thiên, hoan hỷ chư Thiên, tán thán Sanh chủ, hoan hỷ Sanh chủ, tán thán Phạm thiên, hoan hỷ Phạm thiên, sau khi thân hoại, mạng sống bi cắt đứt, những vị này được an trú vào các thân vi diệu. Này các Tỷ-kheo, vì vấn đề này, ta nói như sau: "Phàm Phạm thiên nói với Ông những gì, Ông hãy làm như vậy. Ông chớ có đi quá xa lời Phạm thiên nói. Này các Tỷ-kheo, nếu Ông đi quá xa lời Phạm thiên nói, thì giống như người dùng gậy đánh đập thần tài (Siri) đang đi đến; giống như một người đang rơi vào vực thẳm, tay chân lại không bám vào đất. Này Tỷ-kheo, sự việc sẽ xảy r ho Ông như vậy. Này Tỷ-kheo, phàm Phạm thiên nói với Ông những gì, Ông hãy làm như vậy, Ông chớ có đi quá xa lời Phạm thiên nói. Này Tỷ-kheo, Ông có thấy chúng Phạm thiên đang ngồi chăng?"
Rồi này các Tỷ-kheo, Ác ma dắt Ta đến chúng Phạm thiên. Này các Tỷ-kheo, khi nghe nói vậy, Ta nói với Ác ma như sau:
"– Này Ác ma, Ta biết Ngươi. Chớ có nghĩ rằng: "Vị ấy không biết ta". Người là Ác ma. Này Ác ma, phàm là Phạm thiên, phàm là Phạm thiên chúng, phàm là Phạm thiên quyến thuộc, tất cả đều nằm trong tay của Ngươi, tất cả đều nằm trong quyền lực của Ngươi. Này Ác ma, nếu Ngươi nghĩ rằng: "Mong vị này nằm trong tay ta; mong vị này nằm trong quyền lực của ta!. Này Ác ma, Ta không nằm trong tay của Ngươi. Ta không nằm trong quyền lực của Ngươi.
Này các Tỷ-kheo, khi được nói vậy, Phạm thiên Baka nói với Ta như sau:
"– Này Tôn giả, cái gì thường còn, ta nói là thường còn; cái gì thường hằng, ta nói là thường hằng; cái gì thường tại, ta nói thường tại; cái gì toàn diện, ta nói là toàn diện; cái gì không biến hoại, ta nói là không biến hoại. Ở đây, cái gì không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi, ta nói rằng cái ấy không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi, và vì không có một sự giải thoát nào khác hơn, ta nói là không có một sự giải thoát nào khác hơn. Này Tỷ-kheo, xưa ki ó những Sa-môn, Bà-la-môn ở trong những đời trước Ông; những vị này đã tu hành khổ hạnh lâu dài cho đến trọn tuổi thọ của những người đó, những vị này phải biết:" Hoặc có một sự giải thoát khác hơn, thì biết rằng có một sự giải thoát khác hơn; hoặc không có một sự giải thoát khác hơn, thì biết rằng không có một sự giải thoát nào khác hơn". Này Tỷ-kheo, ta nói như sau với Ông: Ông sẽ không thấy một giải thoát nào khác hơn, dầu ông có phải chịu đựng mệt nhọc và khổ cực. Này Tỷ-kheo, nếu Ông y trước địa đại, Ông sẽ gần ta, trú tại lãnh đị ủa ta, làm theo ý ta muốn, bị đứng ngoài lề; nếu Ông ý trước thủy đại... hỏa đại... phong đại... chúng sanh... Chư thiên... Sanh chủ... Nếu Ông y trước Phạm thiên, Ông sẽ gần ta, trú tại lãnh đị ủa ta, làm theo ý ta muốn, bị đứng ra ngoài lề.
"– Này Phạm thiên, Ta biết việc này. Nếu Ta y trước địa đại... thủy đại... hỏa đại... phong đại... chúng sanh... chư Thiên... Sanh chủ... Nếu Ta y trước Phạm thiên, Ta sẽ gần Ông, trú tại lãnh đị ủa Ông, làm theo ý Ông muốn, bị đứng ra ngoài lề. Lại nữa, này Phạm thiên, Ta biết sanh thú (gati) của Ông và Ta biết sự quang vinh của Ông. Phạm thiên Bak ó thần lực như vậy; Phạm thiên Bak ó quyền lực như vậy; Phạm thiên Bak ó uy lực như vậy.
"– Này Tỷ-kheo, Như Ông biết sanh thú, Ông biết sự quang vinh của ta: "Phạm thiên Bak ó thần lực như vậy; Phạm thiên Bak ó quyền lực như vậy; Phạm thiên Bak ó uy lực như vậy".
"– Như nhật nguyệt lưu chuyển,
Sáng chói khắp mười phương,
Như vậy mười Thiên giới,
Dưới uy lực của Ông.
Ông biết chỗ cao thấp,
Có dục và không dục,
Hữu này và hữu kia,
Chỗ đến, đi hữu tình.
Như vậy, này Phạm thiên, Ta biết chỗ sanh thú và sự quang vinh của Ông: "Phạm thiên Bak ó thần lực như vậy; Phạm thiên Bak ó quyền lực như vậy; Phạm thiên Bak ó uy lực như vậy". Này Phạm thiên, có ba loại chư Thiên mà Ông không biết, không thấy, nhưng Ta biết, Ta thấy. Này Phạm thiên, có loại chư Thiên tên là Abhassara (Quang âm thiên), từ chư Thiên này, Ông mạng chung, và sanh ở nơi đây. Nhưng vì Ông an trú ở đấy quá lâu, nên Ông không nhớ được. Do đó, Ông không biết, không thấy, còn Ta biết, Ta thấy. Như vậy, này Phạm Thiên, T òn không chịu ngang hàng Ông về thượng trí huống nữa là thấp hơn. Do vậy, Ta thù thắng hơn Ông. Này Phạm thiên, lại có một loại chư Thiên tên là Subhakinna (Biến tịnh thiên)... lại có một loại chư Thiên tên là Vehapphala (Quảng quả thiên) mà Ông không biết, không thấy, nhưng Ta biết, Ta thấy. Như vậy, này Phạm thiên, T òn không chịu ngang hàng Ông về thượng trí, huống nữa là thấp hơn. Do vậy. Ta thù thắng hơn Ông. Này Phạm thiên, Ta biết địa đại từ địa đại, cho biết giới vức địa đại, Ta không lãnh thọ địa tánh; do biết địa đại, Ta không nghĩ: "Ta là địa đại. Ta ở trong địa đại, Ta từ địa đại, địa đại là của Ta, và Ta không tôn trọng địa đại". Như vậy, này Phạm thiên, T òn không chịu ngang hàng Ông về thượng trí, huống nữa là thấp hơn. Do vậy, Ta thù thắng hơn Ông. Này Phạm thiên, Ta biết thủy đại... Này Phạm thiên, Ta biết hỏa đại... Này Phạm thiên, Ta biết phong đại... Này Phạm thiên, Ta biết chúng sanh... Này Phạm thiên, Ta biết chư Thiên... Này Phạm thiên, Ta biết Sanh chủ... Này Phạm thiên, Ta biết Phạm thiên... Này Phạm thiên, Ta biết Abhassara (Quang âm thiên)... Này Phạm thiên, Ta biết Subhakinna (Biến tịnh thiên)... Này Phạm thiên, Ta biết Vahapphala (Quảng quả thiên)... Này Phạm thiên, Ta biết Abhibhu (Thắng giải)... Này Phạm thiên, Ta biết tất cả (Sabba) từ tất cả, cho đến giới vức tất cả, Ta không lãnh thọ nhứt thiết tánh, Ta không nghĩ: "Ta là tất cả, Ta ở trong tất cả, Ta từ tất cả, tất cả là của Ta, và Ta không tôn trọng tất cả". Như vậy, này Phạm thiên, T òn không chịu ngang hàng Ông về thượng trí, huống nữa là thấp hơn. Do vậy, Ta thù thắng hơn Ông.
"– Này Tôn giả, đối với tất cả, nếu Tôn giả không lãnh thọ nhất thiết tánh, thì đối với Tôn giả, trở thành trống không, trống rỗng, Thức là phi sở kiến, không biên tế, chói sáng tất cả, nếu không thể lãnh thọ địa đại ngang qua đại tánh, không thể lãnh thọ thủy đại ngang qua thủy tánh, không thể lãnh thọ hỏa đại ngang qua hỏa tánh, không thể lãnh thọ phong đại ngang qua phong tánh, không thể lãnh thọ chúng sanh ngang qu húng sanh tánh, không thể lãnh thọ chư Thiên ngang qu hư Thiên tánh, không thể lãnh thọ Sanh chủ ngang qua Sanh chủ tánh, không thể lãnh thọ Phạm thiên ngang qua Phạm thiên tánh, không thể lãnh thọ Quang âm thiên ngang qua Quang âm thiên tánh, không thể lãnh thọ Biến tịnh thiên ngang qua Biến tịnh thiên tánh, không thể lãnh thọ Quảng quả thiên ngang qua Quảng quả thiên tánh, không thể lãnh thọ Abhibhu (Thắng giả) ngang qua Abhibhu tánh, không thể lãnh thọ nhứt thiết ngang qua nhứt thiết tánh. Này Tôn giả, nay ta sẽ biến mất trước mặt Tôn giả.
"– Này Phạm thiên, hãy biến đi trước mặt Ta, nếu Ông có thể biến được.
Rồi này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Baka nói:
"– Ta sẽ biến mất trước mặt Sa-môn Gotama. Ta sẽ biến mất trước Sa-môn Gotama.
Nhưng Phạm thiên Baka không biến mất trước mặt Ta. Này các Tỷ-kheo, khi nghe nói vậy, Ta nói với Phạm thiên Baka:
"– Này Phạm thiên, Ta sẽ biến mất trước mặt Ông.
"– Này Tôn giả, Tôn giả hãy biến đi trước mặt Ta, nếu Tôn giả có thể biến được.
Rồi này các Tỷ-kheo, Ta thực hiện thần thông như sau: "Hãy để cho Phạm thiên, Phạm thiên chúng và Phạm thiên quyến thuộc nghe tiếng T hớ không thấy Ta", Ta biến mất và nói lên bài kệ như sau:
"Thấy nguy hiểm trong hữu,
Từ hữu, tìm phi hữu,
Ta không tôn trọng hữu,
Không hỷ, không chấp trước".
Rồi này các Tỷ-kheo, Phạm thiên, Phạm thiên chúng và Phạm thiên quyến thuộc, tâm sanh vi diệu hy hữu, nói lên như sau: "Thật vi diệu thay, chư Tôn giả! Thật hy hữu thay, chư Tôn giả! Đại thần lực, đại uy lực của Sa-môn Gotama. Thật sự từ trước đến nay chưa từng thấy, chưa từng nghe một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có được đại thần lực, đại uy lực như Sa-môn Gotama, là Thích Tử, xuất gia từ giòng họ Sakya. Đối với quần chúng ái trước hữu, lạc nhiễm, hoan hỷ đối với hữu (Sa-môn Gotama) đã nhổ hữu lên tận cả gốc rễ!"
Rồi này các Tỷ-kheo, Ác ma sau khi nhập vào một trong Phạm thiên quyến thuộc đã nói với Ta như sau:
"– Này Tôn giả, nếu Ông biết như vậy, giác ngộ như vậy, chớ có hướng dẫn đệ tử, chớ có hướng dẫn các vị xuất gia, chớ có thuyết pháp cho các đệ tử, chớ có thuyết pháp cho các vị xuất gia, chớ có ái luyến đệ tử, chớ có ái luyến các vị xuất gia. Này các Tỷ-kheo, trước Ông đã có những vị Sa-môn, Bà-la-môn ở đời tự xưng là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Những vị này hướng dẫn đệ tử, hướng dẫn các vị xuất gia, thuyết pháp cho các đệ tử, thuyết pháp cho các vị xuất gia, ái luyến các đệ tử, ái luyến các vị xuất gia. Sau khi hướng dẫn các đệ tử, các vị xuất gia, sau khi thuyết pháp cho các đệ tử, các vị xuất gia, sau khi ái luyến các đệ tử, các vị xuất gia, khi thân hoại, mạng sống bị cắt đứt, những vị này bị an trú trong các thân hạ liệt. Này các Tỷ-kheo, trước Ông đã có những vị Sa-môn, Bà-la-môn ở đời, tự xưng là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Những vị này không hướng dẫn đệ tử, không hướng dẫn các vị xuất gia, không thuyết pháp cho đệ tử, không thuyết pháp cho các vị xuất gia, không ái luyến các đệ tử, không ái luyến các vị xuất gia. Sau khi không hướng dẫn các đệ tử, không hướng dẫn các vị xuất gia, không thuyết pháp cho các đệ tử, không thuyết pháp cho các vị xuất gia, không ái luyến các đệ tử, không ái luyến các vị xuất gia, khi thân hoại, mạng sống bị cắt đứt, các vị này được an trú trong thân vi diệu. Này Tỷ-kheo, ta nói với Ông như sau: "Này Tôn giả, chớ có phiền lao cực nhọc, hãy sống lạc trú hiện tại. Này Tôn giả, chớ có nêu rõ việc thiện. Này Tôn giả, chớ có giảng dạy cho người khác!"
Này các Tỷ-kheo khi nghe nói vậy, Ta nói với Ác ma như sau:
"– Này Ác ma, Ta biết Ngươi! Ngươi chớ có nghĩ rằng: "Vị ấy không biết ta". Này Ác ma, Ngươi là Ác ma! Ngươi là Ác ma! Này Ác ma, Ngươi nói như vậy không phải vì lòng thương tưởng đối với Ta. Này Ác ma, Ngươi nói như vậy vì không có lòng thương tưởng đối với Ta. Này Ác ma, Ngươi nghĩ như sau: "Những ai được Sa-môn Gotama thuyết pháp, những người ấy sẽ thoát ra ngoài tầm tay ảnh hưởng của ta". Này Ác ma, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy không phải Chánh Đẳng Giác, nhưng tự xưng là: "Chúng ta-là Chánh Đẳng Giác". Này Ác ma, Ta là Chánh Đẳng Giác và Ta tự xưng Ta là Chánh Đẳng Giác. Này Ác ma, Như Lai có thuyết pháp cho đệ tử, Như Lai cũng vẫn là Như Lai. Này Ác ma, Như Lai không thuyết pháp cho các đệ tử, Như Lai cũng vẫn là Như Lai. Này Ác ma, Như Lai có hướng dẫn cho các đệ tử, Như Lai cũng vẫn là Như Lai. Này Ác ma, Như Lai không hướng dẫn cho các đệ tử, Như Lai cũng vẫn là Như Lai. Vì sao vậy? Này Ác ma, đối với Như Lai, các lậu hoặc tương ưng với phiền não, đưa đến tái sanh, gây nên phiền lụy, đem đến quả khổ dị thục; đưa đến sanh, già, chết trong tương lai; các lậu hoặc ấy đã được diệt trừ, được cắt đứt tận gốc, được làm như thân cây Tala, khiến không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Ác ma, ví như cây tala, dầu thân cây này bị chặt dứt, khiến không thể lớn lên được; cũng vậy, này Ác ma, đối với Như Lai, các lậu hoặc tương ứng với phiền não, đưa đến tái sanh, gây nên phiền lụy, đem đến quả khổ dị thục, đưa đến sanh, già, chết, trong tương lai; các lậu hoặc ấy đã được diệt trừ, được cắt đứt tận gốc, được làm như thân cây tala, khiến không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai".
Như vậy, vì Ác ma đã thất bại, không thể thuyết phục (Ta), vì có lời mời Phạm thiên, nên bài trả lời này cũng được gọi là Kinh Phạm Thiên Cầu Thỉnh.
http://tuvien.com/kinh_dien/show.php...&id=trungbo049
=========
Giới hạnh người tu
QUẢN TRỊ VIÊN SỐ TRUY CẬP: 1111 Email In PDF.
Trích Kinh Sa-môn quả (Sāmannaphala Sutta), Trường bộ 2
Thế nào là Tỳ-khưu giới hạnh cụ túc? Ở đây, Tỳ-khưu từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến tất cả hạnh phúc của chúng sanh và loài hữu tình. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp, như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Tỳ-khưu từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy Tỳ-khưu ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Vị ấy từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác. Vị ấy nói những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về chánh pháp, nói những lời về luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm. Từ bỏ ăn phi thời. Từ bỏ đi xem múa, hát nhạc, diễn kịch. Từ bỏ trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Từ bỏ dùng giường cao và giường lớn. Từ bỏ nhận vàng và bạc. Từ bỏ nhận các hạt sống. Từ bỏ nhận thịt sống. Từ bỏ nhận đàn bà con gái. Từ bỏ nhận nô tỳ gái và trai. Từ bỏ nhận cừu và dê. Từ bỏ nhận gia cầm và heo. Từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái. Từ bỏ nhận ruộng nương, đất đai. Từ bỏ nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới. Từ bỏ buôn bán. Từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường. Từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo. Từ bỏ làm thương tổn, sát hại câu thúc, bứt đoạt, trộm cắp, cướp phá. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dù đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống làm hại các hạt giống và cây cối như hạt giống từ rễ sanh, hạt giống từ nhánh cây sanh, hạt giống từ đốt cây sanh, hạt giống từ chiết cây sanh, và thứ năm là hạt giống từ hạt giống sanh. Còn vị ấy thì không làm hại hạt giống hay cây cỏ nào. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dù đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống cất chứa và thọ hưởng các đồ vật như cất chứa các món ăn, cất chứa các đồ uống, cất chứa vải, cất chứa xe cộ, cất chứa các đồ nằm, cất chứa các hương liệu, cất chứa các mỹ vị. Còn vị ấy thì từ bỏ cất chứa các vật trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dù đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống theo các du hí không chân chánh như múa, hát, nhạc kịch, ngâm vịnh, nhịp tay, tụng chú, đánh trống, diễn các tuồng thần tiên, mãi võ, đấu voi, đấu ngựa, đấu trâu, đấu bò đực, đấu dê, đấu cừu, đấu gà, đấu chim cun cút, đấu gậy, đấu quyền, đấu vật, đánh giặc giả, dàn trận, thao dượt, diễn binh. Còn vị ấy thì từ bỏ các du hí không chân chánh như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dù đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống đánh bài và theo các trò giải trí. Như cờ tám hình vuông, cờ mười hình vuông, cờ trên không, trò chơi trên đất, chỉ bước vào những ô có quyền bước, trò chơi quăng thẻ rồi chụp nhưng không cho sụp đống thẻ, chơi súc sắc, chơi khăng, lấy tay làm viết, chơi banh, chơi thổi kèn bằng lá, cày với chiếc cày giả, nhảy lộn nhào, chơi chong chóng, chơi với đồ chơi bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ, chơi đoán chữ viết thiết trên không hay trên lưng, chơi đoán tư tưởng, chơi bắt chước bộ điệu. Còn vị ấy thì từ bỏ đánh bài và các loại giải trí như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dù đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống dùng các giường cao và giường lớn như ghế bành, ghế trường kỷ, nệm trải giường bằng len, vải trải giường nhiều tấm nhiều màu, chăn len trắng, chăn len thêu bông, nệm bông, nệm thêu hình các con thú, mền bằng lông thú cả hai phía mền bằng lông thú một phía, mền có đính ngọc, mền bằng lụa, tấm khảm lớn có thể chứa mười sáu người múa, mền voi, mền ngựa, mền xe, mền bằng da sơn dương khâu lại với nhau, mền bằng da con sơn dương khâu lại gọi là Kadali, tấm thảm với lều che phía trên, ghế dài có gối đầu, gối chân màu đỏ. Còn vị ấy thì từ bỏ không dùng các giường cao và giường lớn như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dù đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống dùng các đồ trang sức và mỹ phẩm như thoa dầu, đấm bóp, tắm, đập tay chân cho mềm dẻo, gương kem đánh mặt, vòng hoa và phấn son, phấn mặt và sáp mặt, vòng tay tóc giả trên đầu, gậy cầm tay, ống thuốc, gươm, lọng, dép thêu, khăn đầu, ngọc, phất trần, vải trắng có viền tua dài. Còn vị ấy thì không dùng các loại trang sức và mỹ phẩm như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dù đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống nói những câu chuyện vô ích tầm thường như câu chuyện nói về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, câu chuyện về hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, các câu chuyện biến trạng của thế giới, câu chuyện về biến trạng của đại vương, câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Còn vị ấy thì từ bỏ nói những chuyện vô ích, tầm thường kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dù đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống bàn luận tranh chấp như nói:
"Ngươi không biết pháp và luật này, tôi biết pháp và luật này. Sao ngươi có thể biết pháp và luật này? Ngươi đã phạm vào tà kiến, tôi nói mới thật đúng chánh kiến. Lời tôi nói mới tương ưng, lời nói của người không tương ưng. Những điều đáng nói trước, ngươi lại nói sau. Những điều đáng nói sau ngươi lại nói trước. Chủ kiến của ngươi đã bị bài bác, câu nói của ngươi đã bị thách đấu. Ngươi đã bị thuyết bại. Hãy đến mà giải vây lời nói ấy. Nếu có thể được, gắng thoát ra khỏi lối bí".
Còn vị ấy thì từ bỏ những cuộc biện luận, tranh chấp kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dù đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống cho đưa các tin tức, hoặc tự đứng làm môi giới như cho các vua, các đại thần của vua, cho các vị Sát-đế-lỵ, cho các vị Bà-la-môn, cho các gia chủ cho các thanh niên và nói rằng:
"Hãy đi đến chỗ ấy, hãy đi lại chỗ kia, mang cái này lại, đem cái này đến chỗ kia".
Còn vị ấy thì từ bỏ đưa các tin tức và đứng làm môi giới. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dù đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống lừa đảo, nói lời siểm nịnh, gợi ý, dèm pha, cầu lợi. Còn vị ấy thì từ bỏ nói lời lừa đảo và siểm nịnh như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dù đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà hạnh như xem tướng tay chân, chiêm tướng, triệu tướng, mộng tướng, thân tướng, dấu chuột cắn, tế lửa, tế muỗng, dùng miệng phun hạt cải v.v. vào lửa, tế vỏ lúa, tế tấm, tế gạo, tế thục tô, tế máu, khoa xem chi tiết, khoa xem địa lý, khoa xem mộng, khoa cầu thần ban phước, khoa cầu quỷ ma, khoa dùng bùa chú khi ở trong nhà bằng đất, khoa rắn, khoa thuốc độc, khoa bò cạp, khoa chim, khoa chim quạ, khoa đoán số mạng, khoa ngừa tên bắn, khoa biết tiếng nói của chim. Còn vị ấy thì tránh xa những tà hạnh kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dù đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như xem tướng các hòn ngọc, tướng que gậy, tướng áo quần, tướng gươm kiếm, tướng mũi tên, tướng cây cung, tướng võ khí, tướng đàn bà, tướng đàn ông, tướng thiếu niên, tướng thiếu nữ, tướng đầy tớ nam, tướng đầy tớ nữ, tướng voi, tướng ngựa, tướng trâu, tướng bò đực, tướng bò cái, tướng dê, tướng cừu, tướng gia cầm, tướng chim cun cút, tướng con cắc kè, tướng vật tai dài, tướng ma, tướng thú vật. Còn vị ấy thì tránh xa những tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dù đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng, như đoán trước:
"Vua sẽ tiến quân, vua sẽ lùi quân, vua bản xứ sẽ tấn công, vua ngoại bang sẽ triệt thối, vua bản xứ sẽ thắng trận, vua ngoại bang sẽ thắng trận, vua bản xứ sẽ bại trận. Như vậy sẽ có sự thắng trận cho phe bên này, sẽ có sự bại trận cho phe bên kia".
Còn vị ấy thì từ bỏ những tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Trong khi có một số Sa-môn, Bà-la-môn, dù đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn nuôi sống bằng những tà mạng, như đoán trước:
"Sẽ có nguyệt thực, sẽ có nhật thực, sẽ có tinh thực, mặt trăng, mặt trời sẽ đi đúng chánh đạo, mặt trăng mặt trời sẽ đi ngoài chánh đạo, sẽ có sao băng, các tinh tú sẽ đi đúng chánh đạo, các tinh tú sẽ đi ngoài chánh đạo, sẽ có sao bằng, sẽ có lửa cháy các phương hướng, sẽ có động, sẽ có sấm trời, mặt trăng mặt trời các sao sẽ mọc, sẽ lặn, sẽ mờ, sẽ sáng, nguyệt thực sẽ có kết quả như thế này, nhật thực sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi ngoài chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, các tinh tú đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, các tinh tú đi ngoài chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, sao băng sẽ có kết quả như thế này, lửa cháy các phương sẽ có kết quả như thế này, động đất sẽ có kết quả như thế này, sấm trời sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời các sao mọc lặn sáng mờ sẽ có kết quả như thế này".
Còn vị ấy thì tránh xa không tự nuôi sống bằng tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dù đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng tà mạng, như đoán trước:
"Sẽ có nhiều mưa, sẽ có đại hạn, sẽ được mùa, sẽ mất mùa, sẽ được an ổn, sẽ bị hiểm họa, sẽ có bệnh, sẽ không có bệnh, hay làm các nghề như đếm trên ngón tay, kế toán, cộng số lớn, làm thư, làm theo thế tình".
Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dù đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng, như sắp đặt ngày lành để rước dâu hay rễ về nhà, sắp đặt ngày lành để đưa dâu hay rễ, lựa ngày giờ tốt để hòa giải, lựa ngày giờ tốt để chia rẽ, lựa ngày giờ tốt để đòi nợ, lựa ngày giờ tốt để cho mượn hay tiêu tiền, dùng bùa chú để giúp người được may mắn, dùng bùa chú để khiến người bị rủi ro, dùng bùa chú để phá thai, dùng bùa chú làm cóng lưỡi, dùng bùa chú khiến quai hàm không cử động, dùng bùa chú khiến người phải bỏ tay xuống, dùng bùa chú khiến tai bị điếc, hỏi gương soi, hỏi phù đồng thiếu nữ, hỏi thiên thần để biết họa phước, thờ mặt trời, thờ đại địa, phun ra lửa, cầu Siri thần tài. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dù đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng, như dùng các ảo thuật để được yên ổn, để khỏi làm các điều đã hứa, để được che chở khi ở trong nhà bằng đất, để dương được thịnh, để làm người liệt dương, để tìm đất tốt làm nhà, để cầu phước cho nhà mới, lễ rửa miệng, lễ tắm, lễ hy sinh, làm cho mửa, làm cho xổ, bài tiết các nhơ bẩn về phía trên, bài tiết các nhơ bẩn về phía dưới, tẩy tịnh trong đầu, thoa dầu trong tai, nhỏ thuốc mắt, cho thuốc qua lỗ mũi, xức thuốc mắt, thoa dầu cho mắt, chữa bệnh cho mắt, làm thầy thuốc, mổ xẻ chữa bệnh cho con nít, cho thuốc uống bằng các loại rễ cây, ngăn ngừa công hiệu của thuốc. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Và như vậy, vị Tỳ-khưu ấy, nhờ đầy đủ giới luật nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Như một vị Sát đế lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã hàng phục kẻ thù địch, không còn thấy sợ hãi từ chỗ nào nữa về phương diện thù địch, cũng vậy, vị Tỳ-khưu ấy nhờ đầy đủ giới luật, nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Vị ấy nhờ đầy đủ giới luật cao quý này, nên hưởng lạc thọ, nội tâm không vẩn đục. Như vậy, vị Tỳ-khưu đầy đủ giới luật.
Nguồn Budsas.blogspot.com
http://www.chualagovap.org.vn/lut-tn...sa-mon-qu.html
=======
https://quangduc.com/images/file/Ke6...ng-46-50-f.pdf
Những việc làm tích phúc đức, cải mệnh
( https://giakimthuat.com/nhung-viec-l...c-cai-menh.jsp )
Đối với cha mẹ , với vợ chồng , với bạn bè , bản thân và với chúng sinh ... những việc sau đây nên coi trọng...
Những việc làm tích phúc đức, cải mệnh
1. Hiếu Thảo : bạn nên có Hiếu với cha mẹ. Bạn nên nhớ rằng, tội bất hiếu, chửi mắng, đánh đập và đi nói xấu cha mẹ mình,bạn phải gánh chịu quả báo rất nặng về sau, khi con cháu hành hạ và đối xử tệ bạc với mình. Từ bây giờ, bạn nên quan tâm và chăm sóc cha mẹ mình. Cha mẹ phải chịu bao nhiêu đau khổ và mồ hôi nước mắt để nuôi bạn lớn thành người, họ không kể ngày kể công, bạn đừng có kể ngày kể công. Bạn đừng nên sống thất đức với cha mẹ, rồi con cháu về sau sẽ nghĩ như thế nào đây! Bạn đừng để con cháu khinh bỉ mình và chửi bới mình. Bạn nên nghĩ là mình phải nên để lại tấm gương đạo đức cho con cháu noi theo.
Hiếu Thảo Với Cha Mẹ
2. Vợ Chồng : Tình nhân nên sống chung thủy, không ngoại tình, không hãm hại hôn nhân của người khác, nếu bạn làm vậy thì về sau bạn và con cháu luôn bị người khác phản bội và phá hoại hạnh phúc của mình. Rồi bạn sẽ gặp quả báo đau khổ.
3. Giữ gìn hành vi – Lời Nói và Suy Nghĩ Bản Thân cho chân chính, tránh tà kiến, không công kích và phỉ báng những người khác.
Nếu bạn luôn nghĩ xấu và đi nói xấu, hãm hại, đánh, giết người khác, thì về sau; bạn và con cháu của bạn sẽ gặp Quả báo tù tội, kiện cáo, bị vu oan giáng họa, bị hãm hại, bị bệnh tật hiểm nghèo,... Tất cả chúng là Quả Báo để trừng phạt những gì bạn đã gây ra cho những người khác. Từ bây giờ; bạn nên mở lòng vị tha để cho Tâm bạn luôn được Thanh thản, thân thể của bạn và của người khác được bình an. Đã sống trên đời thì bạn nên giữ chữ tín. Đã hứa với ai điều gì thì nên thực hiện. Đã nợ cái gì thì nên trả. Đã sai lầm thì nên cúi đầu xin lỗi. Mở lòng nhân từ và bao dung cho tất cả mọi người.
Trong cuộc đời này, bạn sống mà Tâm luôn được thanh thản, đó mới là hạnh phúc thực sự.
Bạn giàu có hay đã có thứ mình cần mà tâm luôn đau khổ, lo lắng, sợ mất, sợ bị vạ, hay thở dài vì người khác giàu có hoặc khá giả, thành đạt hơn mình, thì đó không phải là hạnh phúc. Cả cuộc đời bạn sẽ luôn chìm trong đau khổ và vô nghĩa.
Thịnh thì người khen. Suy thì người chê – Tiếng thị phi của người đời thế gian là vậy đó. Biết đủ thì tâm luôn được an vui.
4. Lễ cúng : Các ngày lễ hoặc ngày thường, bạn nên mua hoa, quả, lễ vật chay quý giá Lên Chùa, Đền và Bàn thờ Tổ Tiên để cúng dàng.
5. Phóng sinh : Mua nhiều Chim, Cá,...rồi mở lòng phóng sinh, thả tự do cho chúng. Đó là công đức lớn để cứu độ người bệnh và cả vong linh.
Phóng Sanh
6. Tâm bệnh : Những người mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh nan y, hay khám không ra bệnh, hay cùng một lúc nhiều bệnh. Y học hiện đại không chữa được là do bạn mắc bệnh Quả Báo, chỉ có những việc làm Tu Tâm – Tích Đức mới chữa được.
7. Làm việc thiện Phát tâm đi đến Hội khuyến học của tỉnh, huyện, xã và thành tâm quyên góp tiền ủng hộ cho tất cả học sinh, sinh viên nghèo để các em có cơ hội được học tập, đỗ đạt và thành tài, về sau con cháu của bạn sẽ được hưởng phúc này.
8. Cứu người : Khi gặp người bị nạn, gặp khó khăn, rơi đồ xuống đường, bạn nên đến giúp đỡ, nếu bạn bỏ đi thì ắt về sau bạn sẽ gặp quả báo.
Nhìn thấy những đoạn đường hư, lở,... Bạn nên mở lòng bồi đường, đắp lộ để cho nhiều người đi qua được bình an.
9. Hạn chế sát sinh Sát sinh là tội ác thất đức trên đời. Bạn nên buông dao xuống và nhớ rằng: Sinh mạng của chúng cũng như chúng ta, ăn đồ sát sinh, bạn nên nghĩ đến là khi cầm dao giết nó, nó đã kêu lên thảm thiết và đau đớn cầu xin chúng ta như thế nào, nó chẳng khác gì chúng ta khi bị kẻ thù cầm dao cắt cổ rồi ăn xác chết của nó.
10. Quyên góp : Những người nghèo khổ có thể cải vận của mình bằng việc lập công đức như trên và bạn nên cứu giúp tiền bạc hay sự giúp đỡ tới những người nghèo khổ và khó khăn hơn mình. Nếu bạn đã nghèo rồi mà còn ích kỷ, không bố thí và giúp đỡ cho nhữngngười khốn khổ hơn mình, thì cuộc đời bạn đã nghèo thì vẫn cứ là nghèo. Bởi vì người có lòng lập công đức thì Trời Phật sẽmở tương lai sáng cho người đó, cho dù người đó đang gặp khó khăn hay đang chịu quả báo ở kiếp này đi nữa.
11. Làm ăn lương thiện : Nếu bạn Kinh Doanh mà làm ăn lừa đảo, trốn thuế, cân sai, ăn bớt, thay linh kiện kém, sản phẩm gây độc hại cho nhiều người sử dụng, dùng âm mưu hãm hại đối thủ, bán cho xong tay, rồi mặc cho sự đau khổ của người khác thì những việc làm thất đức của bạn, về sau bạn và con cháu của bạn phải gánh chịu Quả Báo rất nặng. Làm ăn chân chính và Tích Đức thì có Phúc lớn về sau.
17. Wealth Granting Tara - lilian too's tibetan cosmic magic series
Mantra: Om Tara Tuttare Ture Danam me Dada Swaha (one mala daily - 108 times or when need help in finance situation)
- bring prosperity to those who seek her help if you need to improve your income. chant one mala daily or when need help with finance situation.
Author note: my first impression is that freelancer and self-employ might like this mantra. but this mantra also seem can have impact with minimun wage, and investment knowledge like fixed deposit . unfortunately i don't get too see the result whether if it really does help increase salary (as i have completed my 100,000 recitation not during the evaluation month). but i do see more news and information about fixed deposit, increasing minimun wages , and knowledge of wealth.
http://growthplus.blogspot.com/2011/...or-wealth.html
==============
http://elizacarroll.com/sitebuilder/...ra-270x345.jpg
Yellow Tara
Abundance, Generosity, Fulfillment
The Yellow Tara, or Vasudhara, offers to all beings the gift of wealth and
abundance, symbolized by her opulent throne and ornamentation. This six-armed
goddess offers you the gifts of wealth, abundance and prosperity. Her lower right
hand makes the gesture of giving, while holding in other hands, jewels and grain. On
her lap she holds a vase containing the elixir of immortality. Yellow Tara helps us
relax and trust in the sure abundance of both the physical and spiritual worlds. Set
flowers and other offerings before her image.
Suggested Meditation for abundance and fulfillment:
Relax your body and allow your mind to clear. Breathe slowly and deeply. Visualize
the image of Yellow Tara. Imagine a beautiful yellow light coming out of Tara’s heart
and flowing like ribbons into yours. Let yourself be filled with this light as you open to
receive the abundance of the universe. Repeat 108 times (you can use a bead mala)
the mantra: “Om tare tuttare ture pushtim kuru Om!”
http://elizacarroll.com/YellowTara.html
http://www.thangkapaintings.com/Cont...e63b0%7C5b5450
Nguyệt san » Phật học ứng dụng10/04/2018 08:16 (GMT+7)Kích cỡ chữ: Giảm Tăng
Tôn giả Thi-bà-la - vị "thần tài" đích thực của Phật giáo
NSGN - Ước nguyện về một đời sống no đủ và thịnh vượng là khát vọng cháy bỏng của con người ở mọi thời kỳ. Nhằm đáp ứng một phần ước nguyện đó, nhiều tôn giáo đã xây dựng và định hình nên những vị thần chuyên trách, thường gọi là thần tài.
https://giacngo.vn/UserImages/2018/0...0Kum%20Kam.jpg
Tuong ton gia Sivali in trước chùa Ubosot, Chedi Liam, Wiang Kum Kam.jpg
Tượng Tôn giả Sivali trước chùa Ubosot (Chedi Liam, Thái Lan)
Thần tài trong Phật giáo, cụ thể ở Phật giáo Bắc truyền đã vay mượn giữa hình ảnh Bố Đại hòa thượng và các truyền thuyết về thần tài Trung Hoa, để tổng hòa nên một vị thần tài có nguồn gốc ngoài Phật giáo.
Với Phật giáo, thần tài được hiểu ở đây là vị Thánh đệ tử (ariya-sāvaka) có nhân duyên tạo ra phúc lộc sâu dày (lābhagga). Và, trong lịch sử kinh điển, thực sự vị đó là ai?
Bước đầu khảo sát thư tịch Phật giáo, chúng tôi đã tìm thấy nhiều nguồn tư liệu quý hiếm cùng đề cập về một vị Thánh giả gắn liền với phúc lộc, nói theo ngôn ngữ số đông chính là thần tài, đó là ngài Sīvali. Kinh điển Hán tạng phiên âm thành Thi-bà-la (尸婆羅)1.
Từ những bằng chứng quan trọng trong kinh điển, từ Hán tạng đến Nikāya, từ sự xác tín của chính Đức Phật Thích Ca, đã cho thấy, đây là vị Thánh có nhân duyên với phúc lộc nhiều đời. Chuyên khảo sau sẽ làm sáng tỏ các vấn đề liên quan.
Cơ sở kinh, luận về ngài Thi-bà-la (尸婆羅: Sīvali)
1- Tư liệu Hán tạng
Trong thư tịch Hán tạng, ngài Thi-bà-la (尸婆羅, có khi viết 施婆羅, đôi khi phiên âm thành 世婆羅), xuất hiện trong những bản kinh, luận sau:
Kinh Tăng-nhất A-hàm, quyển thứ ba và quyển 252.
Chú giải kinh Tăng-nhất A-hàm. Thực ra, đây chính là bản luận Phân biệt công đức3.
Kinh Xuất diệu4.
Kinh Khởi thế5.
Kinh Khởi thế nhân bổn6.
Luận Đại-trí-độ7.
Luận A-tỳ-đàm-Tỳ-bà-sa8.
2- Tư liệu Nikāya
Tư liệu Nikāya đề cập về ngài Sīvali khá phong phú, bao gồm:
Kinh Tăng chi bộ9.
Kinh Tiểu bộ, kinh Phật tự thuyết (Ud.15)10.
Kinh Tiểu bộ, Jataka số 10011.
Trưởng lão Tăng kệ12.
Thánh nhân ký sự (Apadāna)13
Chú giải kinh Tăng chi bộ14.
Chú giải kinh Pháp cú15
Chú giải Trưởng lão Tăng kệ16.
3- Nhận định về tư liệu
- Cơ sở tư liệu vững chãi liên quan đến ngài Thi-bà-la (Sīvali) được ghi nhận trong một bản kinh quan trọng, đó là kinh Tăng chi bộ ở Nikāya và kinh Tăng-nhất A-hàm tương đương ở Hán tạng. Trong cả hai bản kinh, Tôn giả Thi-bà-la (Sīvali) được chính Đức Phật xác tín: bậc đệ nhất phước đức là Tỳ-kheo Thi-bà-la (第一福德者, 尸婆羅比丘是也). Nguyên tác Pāli ghi: Tối thắng…về phúc lộc là ngài Sīvali (Etadaggaṃ… lābhīnaṃ yadidaṃ sīvali)17.
- Nếu như tư liệu về cuộc đời ngài Sīvali trong kinh tạng Pāli phần lớn nằm trong những bản chú giải, có niên đại xuất hiện khá muộn; thì tư liệu về Tôn giả Thi-bà-la trong thư tịch Hán tạng xuất hiện trong kinh Tăng-nhất-A-hàm, quyển 25, có niên đại sớm hơn. Theo Khai nguyên thích giáo lục, quyển 3, kinh Tăng nhất-A-hàm do ngài Tăng-già-đề-bà (Saṃghadeva) dịch lại lần thứ hai18 vào niên hiệu Long An nguyên niên (397) thời Tấn An Đế (382–419)19.
- Về phương diện chú giải, tư liệu Nikāya đề cập về ngài Sīvali rất phong phú, từ chú giải kinh Tăng chi, Pháp cú, Trưởng lão Tăng kệ…do hai bậc thầy về chú giải là ngài Budhaghosa và Dhammapālā trước tác. Xét về thời gian, cả hai Tôn giả vừa nêu có niên đại vào khoảng từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ VI. Trong khi đó, một phần chú giải bản kinh Tăng-nhất A-hàm ở Hán tạng, liên quan đến Tôn giả Thi-bà-la được ghi nhận vào thời Hậu-Hán (後漢:23-220), đó là bản luận Phân biệt công đức. Theo ngài Tăng Hựu (445-518) trong Xuất tam tạng ký tập, quyển bốn, thì đây là bản chú giải kinh Tăng-nhất A-hàm do hai ngài Ca-diếp và A-nan tạo ra và không rõ ai đã dịch sang chữ Hán20. Nếu ghi nhận của ngài Tăng Hựu chính xác, thì đây là bản chú giải kinh Tăng-nhất A-hàm sớm nhất trong lịch sử chú giải kinh điển21.
Như vậy, từ sự đối khảo cả hai nguồn thư tịch từ Hán tạng đến Nikāya đã cho thấy rằng, tư liệu về ngài Thi-bà-la (Sīvali) trong Hán tạng là những tư liệu có niên đại xuất hiện khá sớm trong lịch sử truyền dịch kinh điển.
Lược thuật về hành trạng của Tôn giả Thi-bà-la (Sīvali)
1- Theo kinh tạng Nikāya
Cha của Tôn giả Sīvali tên là Mahāli người xứ Licchavī22. Mẹ của Tôn giả tên là Suppavāsā, công chúa nước Koliya23 có truyền thống tín phụng Tam bảo, thường cúng dường Đức Phật và chư Tăng24.
Do nghiệp cũ oan khiên25, nên nàng phải mang thai Tôn giả Sīvali đến bảy năm và chịu cơn đau chuyển dạ đến bảy ngày. Tưởng mình sắp chết, nàng nói với chồng rằng: Trước khi mạng căn chấm dứt, tôi sẽ bố thí trọng thể (pure maraṇā jīvamānāva dānaṃ dassāmī)26.
Sau khi phát tâm cúng dường Đức Phật và Thánh Tăng, nhờ lòng chí thành của nàng và sự chú nguyện của Tam bảo, Suppavāsā đã hạ sanh một đứa con trai kháu khỉnh, đặt tên là Sīvali.
Chuyện tiền thân Asātarūpa (Jataka 100) đã bổ sung:
Thiếu niên Sīvali, vào năm thứ bảy, hiến thân mình cho đạo, và xuất gia. Khi tuổi được đầy đủ, vị ấy thọ Đại giới, làm các công đức, đạt được lợi đắc cao nhất trên cõi đất, tức là quả A-la-hán, và khiến quả đất vang lên tiếng động hoan nghênh27.
Và kể từ khi chứng Thánh quả A-la-hán, Tôn giả Sīvali có một phước báo to lớn, thường được nhân loại hay chư Thiên ở khắp mọi nơi cúng dường, dù đó là chốn hoang vu hay nơi làng mạc, khi ở sông nước, hoặc trú tại đất liền (vane gāme jale thale)28.
Một lần, trong chuyến du hóa đến trụ xứ của Tôn giả Revata (Ly-bà-đa), Đức Phật đã dẫn 500 vị Tỳ-kheo dự kiến phải băng qua một vùng hoang vu dài khoảng 30 dặm và khó khăn về vật thực. Trước lúc khởi hành, Đức Phật đã hỏi Tôn giả A-nan:
- Này, A-nan! Có Sīvali đi với chúng ta không?
- Dạ có, bạch Thế Tôn!29
(Sīvali, pana, ānanda, amhehi saddhiṃ āgato ti? Āma, bhante ti)30.
Với Đức Phật, chỉ cần có Tôn giả Sīvali hiện diện trong đoàn thì dù con đường có hoang vu ít người qua lại, nhưng do phước báo của riêng Tôn giả mà các vị thiện thần (devatā) sẽ tùy duyên hóa hiện thành người phàm, để cúng dường vật dụng cần thiết cho đấng Chí Tôn và toàn thể chúng Tăng.
Sở dĩ có được phước báo to lớn đó là do nhiều thiện nhân duyên mà Tôn giả đã gây dựng trong nhiều kiếp, nhiều đời. Theo Chuyện tiền thân Asātarūpa (Jataka 100), Thánh nhân ký sự (Apadāna), Chú giải kinh Tăng chi bộ, Chú giải kinh Pháp cú, Chú giải trưởng lão Tăng kệ; thì tiền thân của Tôn giả Sīvali đã cúng dường lên Đức Phật Padumuttara31 và được Ngài thọ ký sẽ là người đầy đủ phúc lộc ở đời vị lai32. Sau đó, trong một kiếp khác, tiền thân Tôn giả đã hiến cúng hai phẩm vật, được xem như hai vị thuốc quý ở thời xưa33, đó chính là bơ tươi vo thành viên (guḷadadhiñca) và mật ong (madhuñca) lên Đức Phật Tỳ-bà-thi (Vipassī) với tâm tín thành và lòng kiên định sâu sắc34. Theo tư liệu, lễ phẩm tuy giản đơn nhưng do diễn ra trong một bối cảnh bức thiết nên trở thành đắt giá (sahassaṃ), mặc dù vậy tiền thân của Tôn giả Sīvali chỉ kính nguyện dâng lên Đức Phật Tỳ-bà-thi (Vipassī) và chúng Tăng.
Như vậy, do dư nghiệp bất thiện ở quá khứ nên quá trình thác thai của Tôn giả Sīvali gặp nhiều bất hạnh, khổ đau. Tuy nhiên, do phước nghiệp tự tay mình (sahattheneva) cúng dường hai phẩm vật gồm bơ tươi và mật lên Đức Phật Tỳ-bà-thi (Vipassī) với lòng kiên định, sùng kính, thế nên hiện đời phúc báo của Tôn giả luôn đầy tràn, không những lan tỏa đến chư vị Thánh Tăng mà còn được Đức Phật Thích Ca tán thán: Trong các vị đệ tử... nhận được đồ cúng dường, này các Tỳ-kheo, tối thắng là Sīvali35.
2- Theo tư liệu Hán tạng
Xét về nguồn cội, Tôn giả Thi-bà-la (尸婆羅) vốn dòng dõi hoàng tộc Sư-tử- giáp (師子頰: Sīhahanu36), mẹ ngài tên là Cam-lộ-vị (甘露味: Amitā37; được phiên âm thành 阿彌多質多𡆗38, có khi cũng gọi là 不死女39), cùng huyết thống với Đức Phật Thích Ca40.
Theo kinh Tăng-nhất A-hàm và bản chú giải kinh này ở Hán tạng, khi mới sinh ra, Thi-bà-la đã có những dấu hiệu đặc dị phi phàm. Kinh văn ghi nhận rằng, khi vừa sinh ra, hai tay Tôn giả đã cầm viên minh châu vô giá cùng nhiều biểu hiện kỳ đặc. Lo ngại nên cha mẹ của Tôn giả đã cầu thỉnh các vị đạo sĩ giải đáp nhưng vẫn không thỏa lòng. Nghe tin Đức Phật Thích Ca là bậc quán thông, nên đã đưa Tôn giả đến thỉnh an.
Phật dạy:
Đứa trẻ này cực kỳ đại phúc. Đến tuổi trưởng thành sẽ dẫn năm trăm đồ chúng cầu học với Ta. Sau khi xuất gia tu đạo sẽ chứng quả A-la-hán. Trong hàng thanh văn đệ tử của Ta là vị có phước đức lớn nhất, không ai sánh bằng.41
Như lời thọ ký của Đức Phật, vào lúc hai mươi tuổi, Tôn giả Thi-bà-la đã cùng năm trăm người bạn xuất gia. Chỉ sau một thời gian ngắn Tôn giả đắc quả A-la-hán.
Sau khi chứng đạt thánh quả, Tôn giả cùng năm trăm vị đồng học du hóa trong nhân gian, khi đi đến đâu Tôn giả cũng được cúng dường tứ sự đầy đủ, dù ở thị thành náo nhiệt hay nơi hẻo lánh hoang vu. Vì lẽ, mỗi khi Tôn giả đi đâu thì chư thiên đã mặc báo cho dân làng biết để tùy nghi cúng dường42. Đôi khi, Tôn giả vừa khởi ý thì vua trời Thích-đề-hoàn-nhơn (釋提桓因, có lúc phiên âm là 摩伽婆43: Maghavā), và ngay cả Tỳ-sa-môn Thiên vương (毘沙門王: Vessavaṇa) cũng tùy tâm của Tôn giả mà liệu biện các thứ. Thậm chí trong một trường hợp đặc biệt, Đức Phật đã cho phép Tôn giả tiếp nhận một trăm ngàn lượng vàng (百千兩金)44 để tùy nghi phân bổ cúng dường vật dụng cho mười phương chúng Tăng.
Với phước báo to lớn như vậy là do nhiều nhân duyên mà Tôn giả đã gây tạo ở nhiều kiếp xưa kia.
Trước hết, vào chín mươi mốt kiếp xưa, khi Đức Phật Tỳ-bà-thi (毘婆尸 = Vipassī) ra đời và giáo hóa nhân dân tại nước Bàn-đầu (槃頭 = Bandhumatī), có một trưởng giả tên là Da-nhã-đạt (耶若達) muốn cúng dường Đức Phật Tỳ-bà-thi nhưng còn thiếu sữa đông (酪=Dadhi). Khi ấy, tiền thân Tôn giả làm một người chăn bò và hiện có sữa đông, định dùng để tế tự các vị Trời. Khi ấy, dù được trưởng giả Da-nhã-đạt trả giá cao, nhưng khi được nghe mục đích cúng dường nên tiền thân Tôn giả Thi-bà-la đã phát nguyện rằng:
Hôm nay tôi đích thân đem sữa đông đến cúng dường Như Lai.45
Thứ hai, vào ba mươi mốt kiếp về trước, có Đức Phật Thi-khí (Sikhī46. Nguyên tác: Thức-cật: 式詰) xuất hiện ở đời. Khi ấy, tiền thân Thi-bà-la là một nhà buôn lớn với tên gọi Thiện Tài (善財) đã đảnh lễ cúng dường nhiều kim ngọc trên thân Như Lai với lời nguyện rằng:
Nguyện nhờ công đức này, nơi nào con sinh ra, tiền tài luôn đầy đủ, bảo vật luôn sum vầy, không vật gì thiếu thốn, trong tay con lúc nào, cũng đong đầy tiền của, cho đến trong thai mẹ, cũng nắm giữ tiền tài.47
Thứ ba, ở thời Trung kiếp (Antara-kappa), khi Đức Như Lai Tỳ-xá-la-bà (毘舍羅婆, cũng gọi là Tỳ-xá-phù: Vessabhū ) xuất hiện, tiền thân Thi-ba-la tên là cư sĩ Thiện Giác (善覺) lắm tiền nhiều của, đã tự tay mình (躬自辦: Sahattha) thiết trai hiến cúng Đức Phật và Thánh chúng với lời phát nguyện:
Con nguyện nhờ công đức, nơi nào con sinh ra, thường được gặp Tam bảo, không vật gì thiếu thốn, có nhiều người phò trợ, ở trong đời tương lai, cũng gặp được Đức Phật, như đã gặp ngày nay48.
Thứ tư, trong hiền kiếp hiện tại (Bhadda-kappa), khi Đức Phật Câu-lâu-tôn (拘屢孫:Kakusandha) xuất hiện ở thế gian, tiền thân Thi-bà-la tên là Đa Tài (多財) đã phát tâm hiến cúng Đức Phật và thánh chúng suốt bảy ngày với đầy đủ tứ sự cùng lời phát nguyện:
Nguyện nơi con thác sanh, tiền tài luôn đầy đủ, bảo vật luôn sum vầy, không sinh nhà bần tiện; khiến nơi con sinh ra, thường cúng dường tứ sự; khiến bốn chúng, quốc vương, và nhân dân tôn kính; khiến trời rồng quỷ thần, nhân loại hay phi nhân, đều hân hoan đón tiếp.49
Do những nhân duyên công đức mà Tôn giả Thi-bà-la đã gây tạo và phát nguyện trong nhiều kiếp quá khứ, thế nên kiếp này Tôn giả Thi-bà-la xứng danh là bậc phúc lộc đệ nhất trong chúng đệ tử của Đức Phật Thích Ca.
Nhận định và đề nghị
Tư liệu kinh điển từ Hán tạng đến Nikāya đều xác tín rằng, Thi-bà-la (Sīvali) là một vị Thánh Tăng, sinh trưởng trong gia đình có truyền thống mộ Phật và thiện thí.
Từ lúc xuất gia và chứng đắc thánh quả, khi đi hoằng hóa hay bất cứ nơi đâu, dù chốn hoang vu hay nơi làng mạc, khi ở sông nước hoặc trú tại đất liền (vane gāme jale thale)50, nơi nào Tôn giả đặt chân đến thì nơi ấy chúng Tăng luôn được bình yên với sự cúng dường của chư Thiên và dân chúng. Sự thực này đã được Phật xác chứng: bậc đệ nhất phước đức là Tỳ-kheo Thi-bà-la.
Khảo về nguyên nhân sâu xa thì tiền thân Tôn giả đã từng đảnh lễ, cúng dường nhiều phẩm vật, từ sữa đông, mật ngọt đến thức ăn, trân bảo…với nhiều vị Phật quá khứ, từ cổ Phật Tỳ-bà-thi, Thi-khí, Tỳ-xá-phù, Câu-lưu-tôn. Thậm chí, trước thời điểm Tôn giả sinh ra, cha mẹ cũng nhân đó mà thiết trai hiến cúng cho Đức Phật và mười phương Tăng chúng.
Xem ra, từ sự thực khả tín qua nhiều nguồn tư liệu vừa nêu, từ ước nguyện sâu xa về một cuộc sống ấm no của số đông Phật tử, từ thực trạng các vị thần tài có nguồn gốc Trung Hoa và kể cả Ấn giáo, đã mặc nhiên tồn tại trong không gian thờ tự, trong tâm khảm của hàng cư sĩ và kể cả một số ít các bậc xuất gia; cho thấy rằng, đã đến lúc phải tái xác nhận vai trò của Thánh giả Thi-bà-la như một vị thần tài của Phật giáo.
Điều này, ở các nước Phật giáo theo truyền thống Theravāda đã thực hiện, nhưng chưa thực sự lan tỏa vào những quốc gia mang ảnh hưởng của Phật giáo Bắc truyền. Vì lẽ, mãi đến hôm nay cuộc đời và hành trạng của Tôn giả Thi-bà-la (Sīvali) vẫn chưa được quan tâm đúng mức, nếu không nói là do chưa tìm thấy cơ sở lý luận vững chãi, nên chưa được các giới Phật giáo Việt Nam chú trọng, quan tâm.
Trong hiện tình Phật giáo hiện tại nói chung, việc tạo hình một vị Thánh giả với bàn tay ban phúc phát lộc, là nguyên mẫu sống động gắn liền với hành trạng của Tôn giả Thi-bà-la (Sīvali). Chúng tôi nhất trí với mẫu tượng thờ này và chỉ bổ sung thêm, trong những đặc phẩm cúng dường ngài, nên chăng cần sử dụng mật ong (madhu) và bơ đặc (dadhi). Vì đây là những lễ phẩm mà Tôn giả dâng cúng đầu tiên, làm sơ khởi nhân duyên để tác thành nên một vị thần tài trong Phật giáo.
Chúc Phú
_____________________
(1) 大正藏第 02 冊 No. 0125 增壹阿含經, 卷第二十五. Nguyên văn: 第一福德者, 尸婆羅比丘是也.
(2)大正藏第 02 冊 No. 0125 增壹阿含經.
(3) 大正藏第 25 冊 No. 1507 分別功德論.
(4)大正藏第 04 冊 No. 0212 出曜經, 卷第十五. Nguyên văn: 猶如尸婆羅比丘, 阿那律比丘, 功德滿足不求自至.
(5) 大正藏第 01 冊 No. 0024 起世經, 卷第十.
(6)大正藏第 01 冊 No. 0025 起世因本經, 名世婆羅.
(7)大正藏第 25 冊 No. 1509 大智度論, 卷第三. Nguyên văn: 甘露味女有一子,名施婆羅.
(8)大正藏第 28 冊 No. 1546 阿毘曇毘婆沙論, 卷第五十一.
(9) Kinh Tăng chi bộ, tập 1, HT. Thích Minh Châu, dịch, NXB. Tôn Giáo, 2015, tr.59.
(10) Kinh Tiểu bộ, tập 1, HT.Thích Minh Châu, dịch, NXB. Tôn Giáo, 2015, tr. 124-127.
(11) Kinh Tiểu bộ, tập 3, HT.Thích Minh Châu, dịch, NXB. Tôn Giáo, 2015, tr.386-388.
(12) Kinh Tiểu bộ, tập 2, HT.Thích Minh Châu, dịch, Nxb.Tôn Giáo, 2015, tr.230-231.
(13) Apadāna, Thánh nhân ký sự. Tỳ-khưu Indacanda, dịch.
(14) Chú giải kinh Tăng chi bộ, (Aṅguttaranikāya-aṭṭhakathā). Xem tại, tipitaka.org.
(15) Nguyên tác: Dhammapada-aṭṭhakathā. Xem tại, tipitaka.org. Tham khảo: Tích truyện Pháp cú, tập 2, Thiền viện Viên chiếu, dịch, NXB.Tôn Giáo, 2012, tr. 66-75.
(16) Theragāthā-aṭṭhakathā. Xem tại, tipitaka.org.
(17) Aṅguttaranikāya, Ekakanipāta, Etadaggavagga. Xem tại, tipitaka.org.
(18) Bản kinh Tăng-nhất A-hàm đầu tiên, gồm 51 quyển, do ngài Đàm-ma-nan-đề (曇摩難提) dịch vào niên hiệu Kiến Nguyên năm thứ 21 (385), thời Tiền Tần. Xem, 大正藏第 02 冊 No. 0125 增壹阿含經, 卷第一, 序. Nguyên văn: 有外國沙門曇摩難提者,兜佉勒國人也, 齠齓出家,孰與廣聞,誦二阿含,溫故日 ,周行諸國,無土不涉.以秦建元二十年 詣長安,外國鄉人咸皆善之.武威太守 文業求令出焉.佛念譯傳, 曇嵩筆受, 歲在甲申夏出,至來年春乃訖.
(19) 大正藏第 55 冊 No. 2154 開元釋教錄, 卷第三. Nguyên văn: 增壹阿含經五十一卷(第二出隆安元年 月出與難提本小異竺道祖筆受或四十 二或三十三無定亦有六十卷成者見道 及寶唱錄).
(20) 大正藏第 55 冊 No. 2145 出三藏記集, 卷第四. Nguyên văn: 分別功德經五卷(一名增一阿含經疏迦 阿難造).
(21) Theo ngài Trí Thăng (智昇), trong tác phẩm Khai nguyên thích giáo lục, quyển thứ 13, đã cho rằng, căn cứ vào thông tin ở quyển thứ nhất của luận Phân biệt công đức, thì tác giả của bộ luận này không phải do hai ngài Ca-diếp và A-nan soạn (如論第一卷中引外國師及薩婆多說故 非是二尊所撰). Chúng tôi đã khảo sát lại, và thấy rằng, quan điểm của ngài Trí Thăng chưa đúng, vì ngữ cảnh câu văn không liên quan đến tác giả của bộ luận này. Và như vậy, quan điểm của ngài Tăng Hựu trong Xuất Tam Tạng ký tập quyển 4, là quan điểm đáng được ghi nhận. Xem thêm tại, 大正藏第 55 冊 No. 2154 開元釋教錄, 卷第十三.
(22) Apadāna, câu 6105. Tỳ khưu Indacanda, dịch.
(23) Malalasekera, G.P. Buddhist Dictionary of Pāli Proper Names. Vol 2. London: Luzac & Company Ltd., 1960, p. 1163.
(24) Kinh Tăng chi bộ, tập 1, HT.Thích Minh Châu, dịch, Nxb.Tôn Giáo, 2015, tr. 63; tr. 405-406; Kinh Tăng chi bộ, tập 2, HT.Thích Minh Châu, dịch, NXB. Tôn Giáo, 2015, tr. 434.
(25) Chuyện tiền thân Asātarūpa (Jataka 100) đã giải thích, trong kiếp quá khứ, Tôn giả Sīvali là hoàng tử con vua Ba-la-nại, bị vua nước Kosala tấn công và cưỡng chiếm thành. Trong khi tái chiếm thành Ba-la-nại, nghe lời mẹ, hoàng tử đã bao vây, cắt đứt mọi nguồn viện trợ từ bên ngoài, thế nên đến ngày thứ bảy đã chiếm được thành. Do nghiệp cũ đó mà ngài phải chịu bảy năm trong thai và bảy ngày đau đớn trong khi chuyển dạ. Khổ đau cũng tương ứng với người mẹ, vì lúc xưa mẹ ngài đã góp lời khuyên thực hiện kế sách này. Xem, Kinh Tiểu bộ, tập 3, HT. Thích Minh Châu, dịch, Nxb.Tôn Giáo, 2015 tr. 388.
(26) Chú giải kinh Tăng chi bộ, (Aṅguttaranikāya - aṭṭhakathā, Sīvalittheravatthu); Chú giải Trưởng lão Tăng kệ (Theragāthā-aṭṭhakathā, Sīvalittheragāthāvaṇṇanā). Xem tại, tipitaka.org.
(27) Kinh Tiểu bộ, tập 3, HT.Thích Minh Châu, dịch, Nxb.Tôn Giáo, 2015 tr. 387
(28) Apadāna, câu 88, bản Pāli. Xem tại, tipitaka.org.
(29) Tích truyện Pháp cú, tập 2, Thiền viện Viên Chiếu, dịch, Nxb.Tôn Giáo, 2012, tr. 69.
(30) Nguyên tác: Dhammapada-aṭṭhakathā. Nội dung tương tự cũng được tìm thấy trong Chú giải kinh Tăng chi bộ, chuyện về ngài Revata. Xem tại, tipitaka.org.
(31) Là vị Phật thứ 10 trong 24 vị Phật quá khứ. Xem, Malalasekera, G.P. Buddhist Dictionary of Pāli Proper Names. Vol 2. London: Luzac & Company Ltd., 1960, p. 136.
(32) Apadāna, câu 6090. Tỳ-khưu Indacanda, dịch.
(33) 大正藏第 02 冊 No. 0150A 七處三觀經, 四五. Nguyên văn: 比丘有三大藥, 風者比丘大病, 麻油大藥, 亦麻油輩. 熱大病者, 酪酥大藥, 亦如酪酥輩. 寒大病者, 蜜大藥, 亦如蜜輩.
(34) Tích truyện Pháp cú, tập 2, Thiền viện Viên Chiếu, dịch, Nxb.Tôn Giáo, 2012, tr. 73-74.
(35) Kinh Tăng chi bộ, tập 1, HT.Thích Minh Châu, dịch, NXB.Tôn Giáo, 2015, tr.59.
(36) Malalasekera, G.P. Buddhist Dictionary of Pāli Proper Names. Vol 2. London: Luzac & Company Ltd., 1960, p. 1171.
(37) Malalasekera, G.P. Buddhist Dictionary of Pāli Proper Names. Vol 2. London: Luzac & Company Ltd., 1960, p.1171.
(38)大正藏第 03 冊 No. 0190 佛本行集經, 卷第十一.
(39) 大正藏第 01 冊 No. 0025 起世因本經, 卷第十.
(40) 大正藏第 03 冊 No. 0156 大方便佛報恩經, 卷第三; 大正藏第 03 冊 No. 0190 佛本行集經, 卷第五; 大正藏第 25 冊 No. 1509 大智度論, 卷第三. Nguyên văn: 昔有日種王名師子頰, 其王有四子: 第一名淨飯, 二名白飯, 三名斛飯,四名甘露飯. 有一女, 名甘露味. 淨飯王有二子佛, 難陀. 白飯王有二子:跋提, 提沙. 斛飯王有二子: 提婆達多, 阿難. 甘露飯王有二子: 摩訶男, 阿泥盧豆. 甘露味女有一子, 名施婆羅.
(41) 大正藏第 02 冊 No. 0125 增壹阿含經, 卷第二十五. Nguyên văn: 今此小兒極有大福, 此小兒若當大者, 當將五百徒眾來至我所, 而出家學道得阿羅漢, 我聲聞中福德第一, 無能及者. (
42) 大正藏第 02 冊 No. 0125 增壹阿含經, 卷第二十五. Nguyên văn:復有諸天告諸村落: 今有尊者尸婆羅,得阿羅漢福德第一, 將五百比丘, 在人間遊化. 諸賢可往供養, 今不為者. 後悔無益.
(43) 大正藏第 02 冊 No. 0099 雜阿含經, 卷第四十, 一一〇六,
(44) 大正藏第 02 冊 No. 0125 增壹阿含經, 卷第二十五. Nguyên văn: 爾時,世尊告尸婆羅曰:汝今可受此長者 百千兩金, 使蒙其福, 此是宿緣之業,可受其報.
(45) 大正藏第 02 冊 No. 0125 增壹阿含經, 卷第二十五. Nguyên văn:我今躬持此酪往施如來.
(46) Là Đức Phật thứ 20 trong 24 vị cổ Phật. Theo, Malalasekera, G.P. Buddhist Dictionary of Pāli Proper Names. Vol 2. London: Luzac & Company Ltd., 1960, p. p.1130.
(47) 大正藏第 02 冊 No. 0125 增壹阿含經, 卷第二十五. Nguyên văn: 持此功德, 所生之處, 饒財多寶, 無所乏短, 無令手中有空缺時,乃至母胞胎中亦使 空.
(48) 大正藏第 02 冊 No. 0125 增壹阿含經, 卷第二十五. Nguyên văn: 我持功德,所生之處,常值三尊,無所短 ,恒多使人,令將來之世值如來, 如今日也.
(49) 大正藏第 02 冊 No. 0125 增壹阿含經, 卷第三. Nguyên văn: 所生之處常饒財多寶,莫生貧賤之家,使 我所生之處恒得四事供養,為四部之眾, 國王,人民所見宗敬,天,龍,鬼神,人若非 人,所見接遇.
(50) Apadāna, câu 88, bản Pāli. Xem tại, tipitaka.org.
https://giacngo.vn/nguyetsan/phathoc.../04/10/7360DB/
TỪ LỜI PHẬT DẠY TRONG KINH TRƯỜNG BỘ
NGHĨ VỀ VIỆC CẦU, CÚNG THẦN TÀI.
Chúc Phú
Hết thảy do hành nghiệp, cầu Trời ích lợi gì?[1]
1. Đề dẫn và định danh.
cung-than-taiCầu cúng thần tài là một trong những tín niệm phổ biến của nhiều thể thức tôn giáo ở Ấn Độ, xuất hiện từ thời cổ đại và tồn tại cho đến ngày nay. Đứng trước thực trạng đó, Đức Phật đã mở một lối đi riêng qua lời khẳng định trong kinh Trường Bộ:
Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng. Như sắp đặt ngày lành để rước dâu hay rể, lựa ngày giờ tốt để hòa giải, lựa ngày giờ tốt để chia rẽ, lựa ngày giờ tốt để đòi nợ, lựa ngày giờ tốt để mượn hay tiêu tiền, dùng bùa chú để giúp người được may mắn, dùng bùa chú để khiến người bị rủi ro, dùng bùa chú để phá thai, dùng bùa chú làm cóng lưỡi, dùng bùa chú khiến quai hàm không cử động, dùng bùa chú khiến cho người phải bỏ tay xuống, dùng bùa chú khiến cho tai bị điếc, hỏi gương soi, hỏi phù đồng, thiếu nữ, hỏi thiên thần để biết họa phước, thờ mặt trời, thờ đại địa, phun ra lửa, cầu Siri thần tài. Còn Sa-môn Gotama tránh xa các tà mạng kể trên[2].
Trong đoạn kinh trên, vấn đề trọng yếu nằm ở câu cuối. Đó là sự kiện Đức Phật không cho phép cầu Siri thần tài (sirivhāyanaṃ)[3]. Vậy, thực sự vị đó là ai?
Siri thần tài được định danh với nhiều tên gọi như thần May mắn (siridevatā)[4], nữ thần Śrī, nhưng tên gọi phổ biến nhất chính là nữ thần Lakṣmī (लक्ष्मी)[5], vợ của thần Vishnu[6]. Dấu hiệu xưa nhất của vị nữ thần लक्ष्मी (Lakṣmī) có mặt trong Atharvaveda (VII.115.2)[7]. Trong kinh Tiểu Bộ, vị nữ thần này cũng xuất hiện trong ba truyện tiền thân (Jataka) mang số 40, 284, 382.
Trong Hán tạng, vị nữ thần này được phiêm âm hoặc dịch nghĩa trong vô số tên gọi như Lạc-khất-sử-mính (洛乞史茗 = Lakṣmī), Thất-lợi (室唎 = Śrī)[8], Ma-ha-thất-lợi (摩訶室利 = Mahā Śrī), Cát-tường thiên nữ (吉祥天女), Đại cát tường thiên nữ (大吉祥天女), Công đức thiên (功德天)[9]…Tuy đa dạng về tên gọi nhưng thực chất cũng chỉ là tên khác của Siri thần tài, theo ghi nhận trong kinh Trường Bộ.
2. Nguồn gốc và tập tục thờ cúng thần tài ở Ấn Độ.
Trong tín niệm đa thần của Ấn Độ, có nhiều vị nữ thần có công năng ban phúc phát lộc cho những ai phát tâm quy ngưỡng. Trong số đó phải kể đến thiên nữ Thất-lợi (室唎= Śrī), phối ngẫu của Vishnu và thiên nữ Tỳ-ma (毘摩天女= Parvati), phối ngẫu của thần Shiva. Ngoài ra còn có Biện tài thiên nữ (辯才天女 = Sarasvatī) là phối ngẫu của Phạm thiên (Brahma). Cả ba vị nữ thần này thống hợp nhất thể với ba vị thần Brahma, Vishnu và Shiva[10] và đều có chức năng đóng vai trò thần tài cho bất cứ ai phát tâm cầu nguyện và thờ cúng.
Tư liệu khả tín về một trong ba vị thần tài được ngài Huyền Tráng (602-664) xác tín trong tác phẩm Đại đường tây vức ký, quyển hai:
Từ thành Bạt-lỗ-xa đi hơn 50 dặm về phía Đông Bắc thì đến núi cao. Núi này có một tảng đá xanh mang hình dáng phu nhân của vua trời Đại-tự-tại (Shiva), là Tỳ-ma-Thiên nữ (毘摩天女). Nghe phong tục địa phương kể rằng, tượng Tỳ-ma Thiên nữ này do thiên nhiên tác tạo và rất linh thiêng. Dân chúng các nước thuộc Ấn Độ, dù gần hay xa, dù sang hay hèn, thảy đều cùng đến cầu phước, cầu thọ, tuỳ tâm thỉnh nguyện. Bất kỳ ai muốn thấy được hình tượng Thiên nữ thì lòng phải chí thành, tâm phải chuyên nhất, nhịn ăn bảy ngày, nếu thấy được tôn nhan thì sở nguyện sẽ viên thành[11].
Theo huyền thoại và truyền thuyết Ấn Độ, thiên nữ Lakṣmī, cũng còn gọi là Śrī[12], được sinh ra từ sự khuyấy động biển sữa (The churning the milk ocean), trong quá trình tìm kiếm bình nước bất tử (amṛta: अमृत), giữa các vị chư Thiên và chúng A-tu-la (Asura). Lakṣmī là thiên nữ chủ về sắc đẹp, tình yêu và sự thịnh vượng[13].
Trong truyền thống Ấn giáo, việc kính lễ thiên nữ Lakṣmī có thể thực hiện hằng ngày. Tuy nhiên, đại lễ tôn vinh nữ thần Lakṣmī diễn ra trong tết Diwali hay còn gọi là Dīpāvali được diễn ra vào tháng Kartika theo lịch Ấn Độ, hiện còn được sùng phụng cho đến ngày nay[14].
Thần chú về thiên nữ Lakṣmī rất phong phú và đa dạng tùy theo tập tục, vùng miền, tuy nhiên điểm chung nhất là sự tôn kính, kính lễ (namo) thiên nữ Lakṣmī[15].
3. Vài cứ liệu về thiên nữ Lakṣmī của Ấn giáo trong Phật giáo Bắc truyền.
Trong quá trình du nhập và phát triển tại Trung Hoa, các nhà hoằng pháp buổi đầu đã vận dụng chú ngữ làm phương tiện bổ trợ. Một trong những đại diện tiêu biểu cho phương cách giáo hóa đặc thù này chính là ngài Đàm-vô-sấm (385-433).
Theo Cao Tăng Truyện, ngài Đàm-vô-sấm vốn người trung Ấn Độ, mười tuổi đã đọc thông nhiều thể loại thần chú. Ông rành rẽ các loại chú thuật và đạt được nhiều thành tựu trong lãnh vực này. Cụ thể, ông đã gia tâm trì mật chú để mạch nước có thể xuất hiện từ tảng đá khô (枯石生泉). Do thành tựu nhiều thể loại chú thuật nên ở Tây-vức ông được tôn xưng là Đại chú sư (大呪師).
Di sản dịch phẩm kinh điển do Đàm-vô-sấm để lại khá nhiều, trong số chúng có bản kinh Kim-quang-minh, gồm bốn quyển[16]. Với sơ khảo bước đầu cho thấy, bản kinh Kim-quang-minh có nhiều dấu hiệu kỳ đặc, pha tạp nhiều yếu tố ngoài Phật giáo. Vấn đề này, chúng tôi sẽ trình bày trong một khảo cứu khác.
Ở đây, riêng về bài thần chú cầu thần tài, nằm trong phẩm Công đức Thiên (功德天品)[17] trong bản dịch của ngài Đàm-vô-sấm, hoặc hoặc ở phẩm Đại cát tường Thiên nữ tăng trưởng tài vật (大吉祥天女增長財物品) trong bản dịch của ngài Nghĩa Tịnh (635-713)[18].
Bản thần chú của ngài Đàm-vô-sấm thì khuyết, thiếu ở phần đầu, bản của ngài Nghĩa Tịnh đầy đủ hơn nhưng do vừa phiên âm, vừa dịch nghĩa nên ít phổ biến. Tồn bản thần chú cầu thần tài trong kinh Kim Quang Minh theo chúng tôi hiện được sử dụng cho đến ngày nay được trích xuất từ Kim Quang Minh sám pháp bổ trợ nghi (金光明懺法補助儀)[19], được tập thành vào thời Tống Nhân Tông (1010-1063), do ngài Từ Vân sám chủ, húy là Tuân Thức (遵式: 964-1032)[20], bậc cao tăng thời Bắc Tống (960-1127).
Nguyên văn bài thần chú cầu thần tài trong bản dịch của ngài Đàm-vô-sấm cũng như của Nghĩa Tịnh không có phần đảnh lễ Tam Bảo (南無佛陀南無達摩南無僧伽). Riêng bản tập thành của ngài Tuân Thức thì gia thêm phần này. Toàn văn bài chú ấy như sau:
南無佛陀南無達摩南無僧伽南無室利 訶提鼻耶怛儞也他波利富樓那遮利 三曼陀達舍尼摩訶毘訶羅伽帝三曼陀 尼伽帝摩訶迦利野波禰波羅波禰薩利 栗他三曼陀修鉢梨帝富隸那阿夜那達 摩帝摩訶毘鼓畢帝摩訶彌勒帝婁簸僧 帝 醯帝簁僧祇醯帝三曼陀阿咃阿㝹婆羅 [21].
Phiên âm:
Nam mô Phật đà nam mô Đạt ma nam mô Tăng già nam mô thất lợi ma ha đề tị da đát nễ dã tha ba lợi phú lâu na già lợi tam mạn đà đạt xá ni ma ha tì ha la già đế tam mạn đà tì ni già đế ma ha ca lợi dã ba nễ ba la ba nễ tát lợi phạ lật tha tam mạn đà tu bát lê đế phú lệ na a dạ na đạt ma đế ma ha tì cổ tất đế ma ha di lặc đế lâu bá tăng kì đế ê đế si tăng kì ê đế tam mạn đà a tha a nâu bà la ni.
Bài thần chú này về sau được thâu nạp vào trong Chư kinh nhật tụng tập yếu, quyển Hạ[22], và từng bước đi vào thời khóa tụng kinh buổi sớm (晨朝課誦) của nhiều chùa, viện Phật giáo Bắc truyền, trong đó có cả Phật giáo Việt Nam, với tên gọi là bài chú Thiện thiên nữ (善天女咒).
Có thể nói, do đặc thù của Phạn ngữ là đa âm còn ngôn ngữ Trung Hoa là đơn âm, nên khi phiên dịch những bài thần chú từ Phạn sang Hán thì đã có nhiều khác biệt, tùy theo quy ước của các nhà phiên kinh. Riêng về bài chú Thiện thiên nữ, ngay câu đầu tiên là lời kính lễ thiên nữ Đại cát tường. Nói cách khác, đó vốn là bài chú liên quan đến thần tài Lakṣmī của Ấn giáo.
Theo tác phẩm Cổ Phạn văn Phật giáo chú ngữ toàn tập, tác giả Giản Phong Kỳ (簡豐祺) đã nỗ lực khôi phục Phạn ngữ bài chú này. Nguyên tác như sau:
namo buddhāya, namo dharmāya, namo saṃghāya. namo śri-mahā-devīya, tadyathā: oṃ paripūruṇa carye samanta darśanī mahā vihāra gate, samanta vidhānagate, mahā kārya pratiṣṭhāpane, sarvārtha samanta suparipūruṇe, āyāna dharmate mahā vikurvite, mahāmaitrī upasaṃhite, hite susaṃgṛhīte, samanta artha anupālane svāhā[23].
Nếu trừ đi câu đảnh lễ Tam Bảo đầu tiên được thêm vào, so với hai bản dịch của ngài Đàm-vô-sấm và của ngài Nghĩa Tịnh, thì câu: 南無室利摩訶提鼻 nguyên tác Phạn ngữ chính là namo śri-mahā-devīya. Nghĩa là, Kính lạy đại thiên nữ Śri.
Cũng câu thần chú này, nhưng có vài thay đổi chi tiết trong Nghi quỹ Hồng Ca Đà Dã (吽迦陀野儀軌)[24], do ngài Kim Cang Trí (671?-741)[25] trước thuật, đó chính là:
唵麼賀室唎提婆毘娑婆賀
(Án, ma hạ thất lợi đề bà tì sa bà hạ)
Căn cứ vào dòng ghi chú phía trên câu thần chú này, ở Nghi quỹ Hồng Ca Đà Dã, đã cho thấy đây là câu chú triệu thỉnh thiên nữ Cát tường (吉祥天女). Vị nữ thần có thể ban cho chúng sanh nhiều thứ như: bệnh tật thì sẽ được chóng lành, đói khát thì được no đủ, nghèo khổ thì có y vật, của báu…. Đặc biệt, trong phần quán tưởng khi niệm thần chú, phải tưởng đến hình ảnh lưu xuất từ biển sữa (乳海), giống như nguồn cội của thiên nữ Lakṣmī trong thần thoại của Ấn giáo.
Cùng mang nội dung liên quan đến thiên nữ Cát tường, bản kinh Phật thuyết Đại cát tường thiên nữ thập nhị danh hiệu (佛說大吉祥天女十二名號經)[26] do ngài Bất Không (705-774) phiên dịch. Bản kinh đã quảng diễn mười hai tên gọi khác nhau của vị thiên nữ này và những khả năng tương ứng với từng tên gọi. Đặc biệt, trong bài thần chú cũng chuyển tải một cách phiên âm mới của thiên nữ Lakṣmī là Lạc-khất-sử-mính (洛乞史茗).
4. Hiệu năng của chú ngữ và tham chiếu với lời Phật dạy.
Có nhiều bằng chứng cho thấy, nếu lòng thành khấn nguyện và trì tụng bài chú cầu thần Cát tường hoặc nữ thần Lakṣmī đúng pháp, tất sẽ tạo nên nhiều lợi lạc tức thời. Thực tế năng lực gia trì thần chú của ngài Đàm-vô-sấm ghi nhận trong Cao Tăng Truyện được gói gọn trong bốn chữ Sở hướng giai nghiệm (所向皆驗), đã phần nào chứng tỏ hiệu năng của thần chú nói chung và chú thần tài nói riêng.
Không những thế, trong kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương đã ghi nhận lời phát nguyện mang tính bảo chứng của thiên nữ Đại Cát Tường, rằng:
Bạch Thế Tôn! Nếu có người trì tụng thần chú này đúng như vậy để triệu thỉnh con, con nghe được lời cầu thỉnh, tức sẽ đến bên và khiến cho sở nguyện kẻ kia thành tựu[27].
Dẫu rằng cần phải khảo cứu lại tính thuần túy Phật giáo của bản kinh này, nhưng qua đó đã cho thấy nếu như trì tụng thần chú thần tài, cầu thỉnh thiên nữ Đại Cát Tường, tất sẽ có nhiều điều hoạch đắc.
Theo Phật tổ lịch đại thông tải, quyển 18, vào niên hiệu Thiên Thánh năm thứ tư (1026), triều Tống Nhân Tông, lúc ấy trời đại hạn, ngài Tuân Thức (遵式) cùng các vị Sa-môn dùng kinh Kim Quang Minh để cầu đảo thì mưa gió liền gội nhuần. Nhân đó, ngài Tuân Thức đã trước thuật Kim Quang Minh Sám Pháp bổ trợ nghi (金光明懺法補助儀)[28].
Từ thực tế kinh nghiệm của các bậc cổ đức trong chốn tùng lâm, mỗi khi cần tu bổ thiền lâm, hoặc lúc bị khuyết thiếu các vật dụng cần dùng thì các ngài tổ chức trì tụng chú Thiện thiên nữ. Người viết chưa thống kê đầy đủ về vấn đề này nên chưa rõ hiệu năng thực tế, nhưng được biết rằng, vào mỗi sớm mai, chú Thiện thiên nữ vẫn được trì tụng trong phần lớn các chùa, viện Phật giáo Bắc truyền.
Một điều cần phải thấy rằng, từ thực tế lịch sử đã chứng tỏ, những lợi lạc do thần chú, cụ thể ở đây là chú thần tài đưa đến là nhất thời và không có giá trị vững chãi, nếu không nói là chứa đựng nhiều nỗi sợ hãi, bất an. Câu chuyện về mối tương quan thầy trò giữa Thư-cừ-mông-tốn và ngài Đàm-vô-sấm được ghi nhận ở Cao Tăng truyện là một ví dụ cụ thể[29].
Vốn có cơ tâm, nên khi biết được khả năng chú thuật của Đàm-vô-sấm, Hà Tây Vương Thư-cừ-mông-tốn (河西王沮渠蒙遜: 368-433) đã triệu kiến ngài và tiếp đãi trọng hậu nhằm chủ ý phò trợ cho đế nghiệp của mình. Khi vương vị lung lay, ông cho rằng thờ Phật không thiêng (事佛無應) nên đã bức ép các vị Sa-môn dưới năm mươi tuổi hoàn tục. Không những vậy, khi hay tin Ngụy-lỗ-thác-bạt-đảo (魏虜託跋燾: 408-452) cầu thỉnh Đàm-vô-sấm vì khả năng chú thuật của ngài thì Thư-cừ-mông-tốn không vui. Thậm chí, ông còn tỏ ra buồn bực vì Đàm-vô-sấm nhiều lần xin phép đi Tây-vức tìm lại phần sau của kinh Niết-bàn. Lo sợ quân cơ bị tiết lộ, ưu tư về khả năng chú thuật của Đàm-vô-sấm có thể tạo thuận lợi cho kẻ thù, nên Thư-cừ-mông-tốn đã âm thầm sai thích khách giết hại ngài trên đường đi, vào niên hiệu Nghĩa Hòa (義和) năm thứ ba (433), khi đó ngài Đàm-vô-sấm mới được 49 tuổi.
Trước khi đại nạn xảy ra, ngài Đàm-vô-sấm đã cơ cảm về cái chết của mình, thế nên vào ngày khởi hành, ngài đã rơi lệ mà bảo chúng rằng: Nghiệp cũ của Sấm sắp đến. Chư vị Thánh hiền cũng không thế cứu vậy.[30]
Với một bậc thầy về chú thuật, được tôn xưng là bậc Đại chú sư (大呪師), thế nhưng vẫn không thể vượt qua được nghiệp cũ của mình, thế mới hay việc vận dụng nhuần nhuyễn các thể loại thần chú, mà ở đây là chú thần tài không thể vượt qua nghiệp quả, quả đúng như sự ghi nhận trong Tỳ-nại-da:
Mạng người khi nghiệp tận,
Chú thuật hoặc y phương,
Đều không thể cứu được,
Thần tiên hoặc thánh hiền,
Đành xuôi tay, buông bỏ.[31]
Tương tự, câu chuyện được ghi lại trong kinh Tạp Bảo Tạng là một minh họa sống động về việc cầu khẩn thần tài, lược truyện như sau.
Có hai anh em nghèo khó nhưng tính cách khác nhau. Người em thì siêng năng làm lụng để được giàu có, còn người anh vì muốn nhanh giàu có nên không chịu làm gì mà chỉ cầu vị trời Tỳ-ma, chủ về thần tài.
Một thời gian sau, vị trời Tỳ-ma liền hóa hiện thành người em đến thăm anh. Người anh liền cáu gắt, nói: sao em không lo trồng tỉa mà đến đây làm gì. Người em đáp, tôi muốn học theo anh, trai giới cầu nguyện, mong mau được giàu to.
Người anh bảo: Không cày bừa gieo giống, siêng năng làm lụng thì làm sao mà giàu to được?
Ngay đó, người em liền bảo: Có phải nhờ trồng tỉa mới giàu có được sao? Nghe vậy người anh yên lặng, không nói được gì. Lúc ấy, vị trời Tỳ-ma liền hiện nguyên hình và dạy:
Ngươi phải biết, ngày nay ngươi phải tu hành, bố thí thì ngày sau mới hưởng được phúc quả giàu sang. Bởi nhiều kiếp ngươi không tu bố thí nên cứ mãi bần cùng. Dù ngày nay người siêng năng cầu khẩn ta để mong nhanh chóng giàu sang nhưng làm sao mà thành tựu được. Cũng như cây xoài vào mùa Đông, dù cầu khẩn cả ngàn vạn thiên thần cũng không thể đơm hoa, kết trái. Không tu nhân mà chỉ lo cầu ta để được giàu có là điều không không thể xảy ra vậy[32].
Sau khi dạy bảo xong, vị trời Tỳ-ma liền nói một bài kệ ngắn, với hai câu kết:
Hết thảy do hành nghiệp,
Cầu Trời ích lợi gì?[33]
Một trường hợp khác liên quan đến việc phụng thờ vị trời chủ về tài vật, hạy còn gọi là Cát tường thiên của Đề-bà-đạt-đa,được mô tả sống động qua câu kinh:
Chống nghịch Phật Thế Tôn,
Phụng thờ trời Cát-tường,
Sẽ đọa ngục Vô gián,
Bức vây khổ tai ương.[34]
Không những vậy, trong kinh Ban chu Tam muội, một vị cư sĩ thọ trì năm giới thì không được lễ bái miếu thờ các vị Trời. Bài kệ sau đã cho thấy điều đó:
Ưu-bà-di muốn học thiền Tam-muội.
Hãy giữ gìn năm giới chớ hư hao
Kính thờ thầy như Phật hằng chỉ bảo.
Không bái lạy miếu Trời hoặc cúng thần.[35]
Bản kinh này xuất hiện khá sớm ở thời Hậu Hán do ngài Chi-lâu-ca-sấm dịch và được lưu hành khá rộng rãi ở thế kỷ thứ II. Chính vì vậy, bản kinh là một trong những luận cứ quan trọng trong một tờ nghị trạng của Trường Sử Vương Huyền Sách (長史王玄策), nhằm phản kháng vương quyền bắt Tăng, Ni lễ bái vương quan:
Hàng Ưu-bà-tắc giữ năm giới đã không được lạy Trời, huống hồ Tăng, Ni thọ cụ túc giới mà phải lễ bái hàng bạch y[36].
Trong kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức do ngài Huyền Tráng dịch, trong những điều kiện căn bản để không thọ ba đường ác, đó là tùy theo khả năng của mình mà tuân giữ giới pháp, và đặc biệt là không được thờ Trời. Kinh ghi: cho đến trọn cả cuộc đời không thờ vị Trời nào khác, mà chỉ nhất tâm quy y Phật, Pháp, Tăng (乃至盡形不事餘天,惟當一心歸佛,法, )[37].
Từ những cứ liệu minh giải ở trên đã cho thấy, chú thuật nói chung và chú thần tài nói riêng vẫn tạo nên những hiệu năng nhất định nhưng không có giá trị vững bền, vì chưa thống hợp với lời Phật dạy. Không những vậy, việc kính lễ thiên thần là điều không đúng phép, ngay cả một vị Ưu-bà-di, huống chi là một bậc xuất gia với chí xuất trần vi thượng sĩ.
5. Nhận định.
Phật giáo xuất hiện giữa một rừng tín niệm đa thần, vốn đã bắt rễ sâu xa trong mọi giai tầng của xã hội Ấn Độ ở thời kỳ cổ đại. Việc khẳng định một lối đi riêng không cầu khẩn, tế tự trời thần, là một tia sáng vạch thời đại của chính Đức Phật Thích Ca.
Xem ra, cùng tương sinh và tồn tại trong mối giao thoa giữa các tôn giáo cùng thời; đặc biệt là khi giáo đoàn chấp nhận nhiều thành phần xã hội được tham dự vào đời sống Tăng-già, là điều kiện thuận lợi để nảy sinh các tập tính tế tự xưa cũ, cụ thể là vận dụng chú thuật của Ấn giáo, kể cả việc thờ Trời.
Ngay trong thời Phật, việc vận dụng chú ngữ của Ấn giáo ngoài mục tiêu hoằng đạo thỉnh thoảng đã xảy ra và Đức Phật đã có những khuyến nghị, cấm chỉ. Những cổ tục này ngày càng xuất hiện nhiều hơn sau khi Đức Phật diệt độ và trong sinh hoạt Thiền gia ở những vùng đất mới, đặc biệt là kể từ khi có sự trỗi dậy và âm thầm tác động của xu hướng tân Vệ-đà.
Từ lời dạy cô động của Đức Phật trong kinh Trường Bộ ở tạng Nikāya, từ những bằng chứng tương đồng về lời dạy đó trong kinh văn Hán tạng, đã xác quyết rằng, việc cầu khẩn thần tài Siri và các danh xưng tương ứng như Cát tường thiên, Thiện thiên nữ cùng các bài chú ngữ… đều không đúng với giáo nghĩa thuần túy của Phật giáo.
Nói cách khác, trì tụng chú thần tài là không thuận hợp với Phật đạo, nếu không nói là gián tiếp hành pháp Bà-la-môn[38].
[1]大正藏第 04 冊 No. 0203 雜寶藏經,卷第九, 求毘摩天望得大富緣. Nguyên văn: 一切由行得,求天何所為
[2] Kinh Trường Bộ, HT. Thích Minh Châu dịch, NXB. Tôn giáo, 2013, tr.23. Xem thêm, kinh Sa-môn quả, tr.75
[3] Xem tại: http://www.tipitaka.org/romn/
[4] Milindapañhapāḷi. Xem tại: http://www.tipitaka.org/romn/
[5] M.Monier-Williams, A Sanskrit English Dictionary. Springfield,VA: Nataraj Books, 2014, p.892
[6]George M. Williams. Handbook of Hindu Mythology. Santa Barbara, California: ABC-CLIO, Inc. 2003. p.196-198.
[7] The Atharva-Veda (Sanskrit text), Devi Chand M.A Trans. New Delhy: Munshiram Manoharlal Publishers Pvt. Ltd, Reprinted 2014, p. 333.
[8]大正藏第 54 冊 No. 2135 梵語雜名
[9]大正藏第 04 冊 No. 0201 大莊嚴論經, 卷第四
[10] Donald Alexander Mackenzie. Indian Myth and Legend. London: The Gresham Publishing Company. 1913, p. 150-151.
[11]大正藏第 51 冊 No. 2087 大唐西域記, 卷第二. Nguyên văn: 跋虜沙城東北五十餘里,至崇山.山有青 石大自在天婦像, 毘摩天女也.聞諸土俗曰: 此天像者,自然有也.靈異既多,祈禱亦 ,印度諸國,求福請願,貴賤畢萃,遠近咸 會.其有願見天神形者,至誠無貳,絕食 日,或有得見,求願多遂
[12] George M. Williams. Handbook of Hindu Mythology. Santa Barbara, California: ABC-CLIO, Inc. 2003. p.21.
[13]Donald Alexander Mackenzie. Indian Myth and Legend. London: The Gresham Publishing Company. 1913, p. 144, 149. See also, Mahābhārata. Krishna-Dwaipayana Vyasa trans. vol 1. 65-67
[14] Encyclopedia of Hinduism. Constance A. Jones and James D. Ryan. New York: Facts On File, Inc. 2007.p.135-136.
[15]Lakshmi Puja. Kanai L. Mukherjee ed. Nashville: Association of Grandparents of Indian Immigrants. 2012.p.92. Cf: Om Lakshmi devi khamasya.
[16]大正藏第 16 冊 No. 0663 金光明經.
[17]大正藏第 16 冊 No. 0663 金光明經. Nguyên văn bài chú thần tài (Công đức Thiên) như sau: 波利富樓那遮利三曼陀達舍尼羅佉摩 毘呵羅伽帝三曼陀毘陀那伽帝摩訶迦 波帝波婆禰薩婆哆㖃三曼陀脩鉢梨富 隷阿夜那達摩帝摩訶毘鼓畢帝摩訶彌 簸僧祇帝醯帝簁三博祇悕帝三曼陀阿 阿㝹婆羅尼.
[18]大正藏第 16 冊 No. 0665 金光明最勝王經, 卷第八. Nguyên văn bài thần chú tăng trưởng tài vật của thiên nữ Đại cát tường: 南謨室唎莫訶天女怛姪他鉢唎脯𠷈拏 囇三曼䫂達喇設泥 (去聲,下皆同爾)莫訶毘訶囉揭諦 三曼哆毘曇末泥莫訶迦哩也鉢喇底瑟 鉢泥薩婆頞他娑彈泥蘇鉢喇底晡囇㢌 娜達摩多莫訶毘俱比諦莫訶迷咄嚕鄔 波僧呬羝莫訶頡唎使蘇僧近(入聲)哩呬 羝三曼多頞他阿奴波喇泥莎訶.
[19]大正藏第 46 冊 No. 1945 金光明懺法補助儀.
[20]大正藏第 49 冊 No. 2035 佛祖統紀, 卷第十. Xem thêm, 大正藏第 49 冊 No. 2036 佛祖歷代通載, 卷第十八
[21]大正藏第 46 冊 No. 1945 金光明懺法補助儀, 第四召請誦呪方法(次當胡跪手執香爐 眾名香.一心召請三寶及功德天等.起 重心涕淚悲泣.一一想至道場.其辭出 助儀.應檢閱.口作是言)
[22]嘉興藏第 19 冊 No. B044 諸經日誦集要, 卷下
[23]簡豐祺. 古梵文佛教咒语全集 (修正版). 佛陀教育差会會, 印贈. 2007. p.250.
[24] 大正藏第 21 冊 No. 1251 吽迦陀野儀軌
[25]大正新脩大藏經第 50 冊 No. 2061 宋高僧傳卷第一
[26] 大正藏第 21 冊 No. 1252a 佛說大吉祥天女十二名號經
[27]大正藏第 16 冊 No. 0665 金光明最勝王經, 卷第八. Nguyên văn: 世尊!若人誦持如是神呪請召我時,我聞 請已,即至其所,令願得遂
[28]大正藏第 49 冊 No. 2036 佛祖歷代通載, 卷第十八
[29]大正藏第 50 冊 No. 2059 高僧傳, 卷第二.
[30]大正藏第 50 冊 No. 2059 高僧傳, 卷第二. Nguyên văn: 臨發之日.讖乃流涕告眾曰.讖業對將至 .眾聖不能救矣
[31]大正藏第 23 冊 No. 1442 根本說一切有部毘奈耶, 卷第四十五. Nguyên văn: 人命將盡時,呪藥不能救;神仙及諸聖, 能違拒者. Xem thêm, 大正藏第 12 冊 No. 0338 佛說離垢施女經. Nguyên văn: 若墮惡趣,生死之難,雖有父母,不能救 ,亦無餘人,及財神呪,獨斯等類,乃能救 脫.
[32]大正藏第 04 冊 No. 0203 雜寶藏經, 卷第九, 求毘摩天望得大富緣
[33]大正藏第 04 冊 No. 0203 雜寶藏經,卷第九, 求毘摩天望得大富緣. Nguyên văn: 一切由行得,求天何所為
[34]大正藏第 04 冊 No. 0193 佛本行經, 卷第六. Nguyên văn: 拒逆佛世尊,為祀吉祥天;若入無擇獄, 連曳吾等.
[35]大正藏第 13 冊 No. 0417 般舟三昧經. Nguyên văn: 優婆夷欲學三昧,奉持五戒勿缺毀,承事 善師視如佛,不得拜天祠祀神
[36]大正藏第 52 冊 No. 2108 集沙門不應拜俗等事,卷第四, 右驍衛長史王玄策騎曹蕭灌等議狀一 . Nguyên văn: 五戒優婆塞尚不得禮天.況具戒僧尼而 拜俗
[37]大正藏第 14 冊 No. 0450 藥師琉璃光如來本願功德經
[38] 大正藏第 23 冊 No. 1442 根本說一切有部毘奈耶, 卷第三十一. Nguyên văn: 諸外道輩於晨朝時禮諸天廟
https://thuvienhoasen.org/a29421/tu-...cung-than-tai-
[PDF]ANĀTHAPIṆḌIKA Tỳ-khưu Bodhi
budsas.net/dlpp/bai118/csnam_anathapindika.pdf
cho ông một thoáng nhìn về thân tâm đích thật của một bậc Giác Ngộ: Giấc ngủ .... cóc Sirī, nữ thần Tài lộc, mà theo lối tin tưởng thời bấy giờ nếu có nữ thần này
Ông ta muốn bắt
cóc Sirī, nữ thần Tài lộc, mà theo lối tin tưởng thời bấy giờ nếu có nữ
thần này trong tay thì tài lộc sẽ rời bỏ Anāthapiṇḍika mà qua ông ta
http://budsas.net/dlpp/bai118/csnam_anathapindika.pdf
https://upanh1.com/images/1393491338-2103086112.jpg
尸婆羅(希瓦利/西瓦利) SIVALI 尊者- 招財佛@ 老不修的小窩:: 痞客邦::
老不修的小窩- 痞客邦
尸婆羅(希瓦利)尊者03 ..
http://paul3968.pixnet.net/blog/post...B2%A1%E4%BD%9B / http://paul3968.pixnet.net/blog/post...B2%A1%E4%BD%9B
=
https://i.ytimg.com/vi/BXUrED9kC0I/hqdefault.jpg
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...-c%C3%B3/page3
-
https://upanh1.com/images/Untitled30dc3bf0fd9c8c32.png
https://www.youtube.com/watch?v=_nPFJnoz6c0
--
NA MÔ TÀ SA PHA GA QUA TÔ A RA HÁ TÔ SAM MA SAM BÚS THÁ SÁ.
Siqualí cha ma ha thê rô
Đê qua ta ná Rá bu chí tô
Sô Rá hô bách chà đa đim hí
Á hăng quanh đa mí tăng sá đa
Siqualí cha ma ha thê rô
Dắc kha đê quá phi bu chí tô
Sô Rá hô bách chà đa đim hí
Á hăng quanh đa mí tăng sá đa
Siqualí cha ma ha tê rách sá ế tăng
Gú năng sót thi la phăn phá quanh tù mê
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...-c%C3%B3/page3
=======
https://www.youtube.com/watch?v=BXUrED9kC0I
Sivali Katha.wmv
Sivali Mantra 施婆罗尊者咒(财富人缘)
Sivali Mantra - Thi-Bà-La Tôn-Giả Chú ( Tài Phú Nhân Duyên )
https://upanh1.com/images/Untitledf0450d7debae4b71.png
https://upanh1.com/images/001xtc9Bgy6SIUkJJZr6d690.png
〈財神咒〉:嗡貝夏哇那也梭哈
嗡.百夏。哇那也。娑哈。
嗡貝也薩哇那耶梭哈.
.(wēng . bèi yě . sà wā nà yé . suowa he)
.Om.Vaisa.Wanaya.Svaha
=> Tài Thần Chú: OM VAI'SRAVANAYA SVAHA ( Cũng chính là: 毗沙门天王咒:Tỳ Sa Môn Thiên Vương Tâm Chú /【財寶天王心咒】: Tài Bảo Thiên Vương Tâm Chú )
http://happy1924.pixnet.net/blog/pos...9B%86%E9%8C%A6 / http://blog.sina.com.cn/s/blog_5415ba8b0102vjn8.html
TĂNG TIẾN TÀI VẬN CHÚ
〈增進財運咒〉
( http://happy1924.pixnet.net/blog/pos...9B%86%E9%8C%A6 )
Phục hồi Phạn Chú: Phổ Quảng
https://upanh1.com/images/Untitled94b723556792700b.png
〈增進財運咒〉: 嗡 財財嚕嚕梭哈. / 嗡財財嚕嚕唆哈這是發財咒 : tức là PHÁT TÀI CHÚ ( http://money2007.pixnet.net/blog/pos...B2%A1%E9%81%8B )
. Án Tài-Tài Lỗ-Lỗ Tóa-Ha
. Án Tài-Tài Rô-Rô Tóa-Ha
. OM DHANAM-DHANAM RURU SVAHA
TÀI-NGUYÊN QUẢNG-TIẾN CHÚ
Nguồn tiền bạc rộng chảy đến
【財源廣進咒】
( http://www.xuanjimen.com/2018/11/blog-post_55.html )
Phục hồi Phạn Chú: Phổ Quảng
https://static.meiguoshenpo.com/imag...2091514578.jpg
【財源廣進咒】: 嗡財財魯魯唆哈,摩利摩利瑪哈摩利 哈。
【 Tài Nguyên Quảng Tiến Chú 】: OM DHANAM-DHANAM RURU SVAHA, MARI MARI MAHA-MARI SVAHA
问答详情
帕奥禅师-戒律学处391
问: 【问题08】礼敬玛欣德尊者!请问《see vlee paritta》是出自巴利经典的哪一部?里 为什么会出现najaliti Svaha这样的咒语呢?佛陀不是禁止持咒吗 我找了很多资料都没有找到这几个咒 的翻译,可否请尊者解释一下这种情 况?感恩您!
答: 答:首先从这个名字seevlee paritta就可以知道,这不是巴利的词, 然不是巴利的词,当然就不可能在巴 利圣典里找到它的出处了。至于这个 从哪里传过来的,或者说是哪里的传 ,这很难说,总之在《巴利三藏》里 肯定没有这样的经文。
http://www.yushi666.com/app/app_answ...4&answerPage=0
==========
南传佛教
www.yushi666.com/app/app_answer_detail.asp?going...
Translate this page
里面为什么会出现najaliti Svaha这样的咒语呢?佛陀不是禁止持咒 吗?我找了很多资料都没有找到这几 咒语的翻译,可否请尊者解释一下这 情况?感恩您!
https://www.youtube.com/watch?v=X4JFoQSOUqw
Câu chú cầu tài sivali( học làm Giàu)
Có thần chú nào kiếm được trăm tỷ không? Có "VONG BÁO OÁN"
次以金剛羂索真言手印。結東方界真 曰。
oṃ va jra pa hrīḥ ga ga na ma 唵 跛 折囉 波舍(二合) 紇里 伽 伽 那 摩 la hūṃ
囉 𤙖(誦三遍)
其手印相。以左手頭指。屈著大指根 。以大母指直竪。押頭指甲。微開圓 。餘三指相博。直竪。右手亦然。以 右手三指背。著左手三指內。是金剛 索印。
http://jnbooks.oss-cn-qingdao.aliyun...%20T0894b.html
[0714a01]
oṃ va jra pa hrīḥ ga ga na ma
唵 跛 折囉 波舍(二合) 紇里 伽 伽 那 摩
la hūṃ
囉 [合*牛](誦三遍)
http://tripitaka.cbeta.org/ko/T18n0894b_002
次以金剛羂索真言手印。結東方界真 曰
唵 嚩日囉(二合)簸賒醯唎(二合) 伽囊麼囉 (三遍誦之此是金剛羂索真言)
http://buddhism.lib.ntu.edu.tw/BDLM/.../T18n0894a.pdf
https://sachbaoluutru.viengiac.de/Hu...-phap-kinh.pdf
https://sachbaoluutru.viengiac.de/Hu...-phap-kinh.pdf
=================
Mật Tạng Bộ 1_ No.894A (Tr.697 _ Tr.701)
TÔ TẤT ĐỊA YẾT LA CÚNG DƯỜNG PHÁP
_QUYỂN TRUNG_
(Thông cả thứ tự của ba Bộ)
Hán dịch: Đại Đường_Trung Ấn Độ Tam Tạng THIỆN VÔ ÚY (Śubha-karasiṃha)
Việt dịch: Sa Môn THÍCH QUẢNG TRÍ
Sưu tập Thủ Ấn và phục hồi Phạn Chú: HUYỀN THANH
Tiếp theo, dùng Kim Cang Quyến Sách Chân Ngôn Thủ Ấn, kết Đông
Phương Giới
Chân Ngôn là:
“Úm, Phạ nhật-ra bá xa, hề-rị, già già nang, ma ra, hồng” (Tụng ba biến. Đây
là Kim Cang Quyến Sách Chân Ngôn)
OṂ_ VAJRA-PĀŚA HRĪḤ GAGANA-AMALA HŪṂ
Tướng của Thủ Ấn ấy: Tay trái co ngón trỏ dựa vào gốc ngón cái, duỗi thẳng
ngón cái đè móng ngón trỏ mở thành vòng tròn, ba ngón kia cùng nắm dính nhau dựng
thẳng. Tay phải cũng vậy, đem lưng ba ngón tay phải để dính bên trong ba ngón tay
trái (Đây là Kim Cang Phạt Sách Ấn, dùng kết Đông Phương Giới)
OM_ VAJRA-PĀŚA HRĪḤ GAGANA-AMALA HŪṂ.
https://sachbaoluutru.viengiac.de/Hu.../no-894a_2.pdf
===========
https://www.scribd.com › document
2 thg 1, 2014 — OM _ VAJRA-AGNI PRADIPTAYA SVAHA Tung nam ... OM _ SUSIDDHI KARI SVAHA ... OM _ VAJRA-PASA HRH GAGANA-AMALA HUM
=============================
https://i.upanh.org/2021/04/04/zxc.png
https://i.imgur.com/mwGxLEe.png
https://www.xifangju.com/article-27519-1.html
http://josephchen2.com/greatbook/T18...4BP0704B09.htm
0894b 18.P0704 苏悉地羯罗供养法(2卷)〖唐善无畏译〗-密教 ...https://www.xifangju.com › article-2751...
Dịch trang này
25 thg 9, 2018 — 0894 18.P0704 苏悉地羯罗供养法(2卷)〖唐善无畏译 大正藏第18 册No. 0894b 苏悉地羯罗供养法苏悉地羯罗供养法 第一三藏法师善无畏译归 ...
https://www.xifangju.com/article-27519-1.html
http://josephchen2.com/greatbook/T18...4BP0704B09.htm