-
Chớ đừng lật sấp vì Thầy tái sanh.
Đi xa thì phải dặn rành,
Bàn thông-thiên cũng thiệt hành như y.
Bốn phương đều đọc vậy thì,
Cúi đầu bái tạ từ-bi Phật Trời.
Sớm chiều bình-đẳng chớ lơi,
Thường hành như vậy nhớ lời đừng sai.
Có đau xem thuốc ba bài,
Tâm thành cầu nguyện ắt nay bịnh lành.
Giấy vàng xé nhỏ đành rành,
Để trên bàn Phật chí thành uống ngay.
Thánh Thần phưởng-phất hồn bay,
Ở đâu cũng đến độ rày chúng-sanh.
Con rồng mới nửa gút nanh,
Mà trong bá-tánh thất thanh hãi-hùng.
Chừng nào Thầy lại gia trung,
Thì trong bổn-đạo bóng tùng phủ che.
Trách dân còn tiếc lụa the,
Chẳng làm phước-thiện họa e đến mình.
Hết nhục rồi lại đến vinh,
Nghe không thì cũng mặc tình thế-gian.
Để cho dân-sự luận bàn,
Nếu tu thì phải chọn vàng lừa thau.
Cá to mà phải ở ao,
Muốn ra biển rộng phải nhào kiếm sông.
Một mai dạo được Tây, Đông.
Khắp trong thế-giái thỏa lòng ước-mơ.
Nuôi tằm ắt được nên tơ,
Nếu ta làm phải phước hờ bên lưng.
Núi non rừng thẩm cũng từng.
Bây giờ phiêu lạc ta mừng khắp nơi.
Cho dân đều hiểu cuộc đời,
Thiên-cơ để dạ Lão thời yên thân.
Đại-đồng chuông đạo bon ngân,
Cho người say ngủ tỉnh lần giấc mê.
Biết lo sửa kiểng trồng huê,
Thơm-tho gia-trụ danh đề Tổ-tông.
Bấy lâu lòng những ước-mong,
Cha con hội hiệp thì lòng mới nguôi.
Từ nay ai có tới lui,
Cúi đầu bái Phật lòng vui tu hành.
Xin đừng đeo-đắm lợi-danh,
Bỏ trôi đạo-đức hư danh dạy truyền.
Mai sau được gặp cõi Tiên,
Phỉ tình nguyện ước khỏi phiền lòng ta.
Vài lời để lại khuyến ca,
Truy phong tách gót đường xa xứ người.
Trò buồn Thầy lại tức cười,
Đâu đâu bá tánh cũng người Trời sanh.
Gần xa Thầy chỉ đành-rành,
Quyết tuyển con lành đem lại Phật-gia.
Cáo từ làng xóm trẻ già,
Chúc cầu lạc nghiệp nhà nhà ấm no.
Nhơn-Nghĩa (Xà-No), ngày rằm tháng 6 Canh-Thìn.
" NGAO-NGÁN TÌNH ĐỜI”
Ngao-ngán tình đời gẫm cuộc âu,
Đông, Tây, Nam, Bắc cũng chung bầu.
Vì sao thế sự người sang cả,
Phân biệt tước quờn áo rẽ bâu.
Rẽ bâu dầu có, có mà chi,
Những mãng say sưa mặt cố lỳ.
Múa mỏ khua môi tài biệt thự,
Giống nòi Nam-Việt mãi chia ly.
Xà-No, năm Canh-Thìn
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
AI NGƯỜI TRI KỶ
Nghĩ việc đời xưa gẫm việc nay,
Ai người tri kỷ ai là ai?
Tái sanh chọn lựa trang hiền thảo,
Thức tỉnh tâm trung sẽ vẹn mày.
Vẹn mày mới đẹp, đẹp Tiên-gia,
Tông-tổ thơm-tho phước hải hà.
Tịch mịch huyền sâu ai hiểu đặng,
Ắt là thấu tích sĩ cuồng ca.
Cuồng ca nẻo Đạo chốn huyền thâm,
Nghĩ việc xa xa ruột tím bầm.
Đau-đớn cho đời ôi thảm họa,
Mạch sầu có miệng lại dường câm.
Dường câm khó nói, nói còn e,
Thiện tín thờ-ơ nỗi rụt-rè.
Tiếng động bên tường nghe vẳng vẳng.
Sức hèn như chấu chống ngàn xe.
Ngàn xe muốn nghiến chấu còn bay,
Nước túng tìm phương chống kẻ tài.
Rốt cuộc tương-lai do quyết định,
Phương trời xa thẳm nắm quyền oai.
Quyền oai thế-hệ cực ta mang,
Luân chuyển nhơn-sanh lắm cuộc nàn.
Ai hỡi dân lành ta sẽ đợi,
Đạo người sửa trọn dứt lầm than.
Lầm than khói lửa với binh đao,
Âu Á lung-tung nhuộm máu đào.
Bá tánh say sưa mùi phú-quí,
Sau nầy sẽ vướng cảnh đồ lao.
Đồ lao muốn lánh sớm nghe ta,
Bố thí trì chay giữ giới mà.
Phật đạo trau giồi tâm tánh lại,
Giác thuyền chuyên chở lúc can qua.
Can qua dân chúng chớ buồn lo,
Tích đức chờ ta chốn hẹn-hò.
Tiên cảnh Phật đài xem rực-rỡ,
Hoàn-cầu đến đó ấm cùng no.
Cùng no bốn biển một cha thôi,
Bỏ dứt thói hư với tật tồi.
Trên có Phật Trời soi việc thế,
Dưới đầy cơm áo Lão về ngôi.
Nhà thương Chợ-quán, đêm 18-7 Canh-Thìn (1940).
SẮP MÀN CẢNH TRÍ
Cảm bấy lòng ta nổi thẹn thuồng,
Sắp màn cảnh trí chửa nên khuôn.
Chúng-sanh lỡ bước ngơ bờ bến,
Nhơn-loại tầm đường ngán buội truông.
Tạo hóa khiến đời mang sống khổ,
Đất trời xui đạo bị dông luồng.
U hoài tưởng lại thân lưu lạc,
Rừng thẳm khát-khao kiếm suối nguồn.
Nhà thương Chợ-quán, năm Canh-Thìn.
HIẾN THÂN SÃI KHÓ
Bá nhựt thân nầy chịu nạn tai,
Cầu xin Phật-Tổ vẽ tuồng hay,
Giúp cho Sãi khó qua bờ giác,
Trừ lũ yêu ma khuấy chọc Ngài.
Nhưng Ngài biến hóa ở Tây-Phương,
Còn Sãi dấn thân cảnh đoạn trường.
Nam-Hải Quan-Âm bình nước tịnh,
Rưới giùm bá tánh bớt tai ương.
Phận tớ xác phàm tớ sẽ dưng,
Cúng dường cho Phật, Phật đành ưng.
Dù cho phải chịu ngàn cay đắng,
Cũng nguyện Đạo mầu sẽ chấn-hưng.
Nhà thương Chợ-quán, năm Canh-Thìn.
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
BÓNG HỒNG
Bóng hồng vừa mới thoáng qua,
Nhơn-sanh tỉnh giấc tìm nhà Thánh Tiên.
Thánh chúa phán ra miền Nam-địa,
Mặc cho đời mai-mỉa cười chê.
Nhìn dân châu lụy ủ-ê,
Biết sao trút hết gánh về ta mang.
Mang cho hết tai nàn thế-giới,
Kẻ tâm lành bớt đợi chờ trông.
Cốt xưa thiệt giống Lạc-Hồng,
Trên hòa dưới thuận một lòng mến yêu.
Nay hiếm kẻ ỷ nhiều tiền của,
Vội làm trò hát múa lăng-xăng.
Xâu nhau đặng có tranh ăn,
Cùng là giành mặc cho bằng ngoại-bang.
Người sao lại bỉ bàng tôm cá.
Thức ăn thừa khiếp nỗi ném quăng.
Kẻ nghèo lo chạy ngày hằng.
Lại không đủ bữa rối nhăn đời người.
Xem thế sự biếng cười biếng khóc,
Chẳng rung-rinh quèo móc chi ta.
Cười là cười thói ranh ma,
Khóc là khóc kẻ chưa ta dỗ-dành.
Cơn lỡ-vở buồn tanh chuyện quái,
Tim non đời kinh hãi bao phen.
Từ xưa ông cống xù quèn,
Ngày nay ông bịnh ông ghen việc nhà.
Bởi mắc việc đi xa đánh chén,
Bà ở nhà sẽ lén cải trang.
Sét tin ruột nọ bàng-hoàng.
Gượng say làm tỉnh rỗi nhàn cụng ly.
Thấy hiếm kẻ vô nghì lạc Đạo,
Đua một lòng làm bạo làm xằng.
Ai mà xét đến ăn-năn,
Quày đầu hướng thiện bần tăng dắt giùm.
"BÓNG HỒNG"
(Tiếp theo bài trước)
Mắt thấy đứa vô nghì phát giận,
Ngặt nỗi mình còn bận pháp-thân.
Chờ con đầy-đủ nghĩa-nhân,
Ra tay tế-độ dắt lần về ngôi.
Có ngày mở rộng quí-khôi,
Non thần vang chuyễn Khùng ngồi xử phân.
Huyền cơ máy tạo xoay vần,
Đồng về Phật-cảnh mười phần xinh tươi.
Thánh Tiên vừa nhích miệng cười,
Chúc mừng trần-thế có người chơn tu.
Ngày nay vừa lúc trăng thu,
Tiết trời ảm đạm mịt-mù gió mây.
Mua phùn lát-đát đượm bay,
Canh tràng thơ-thẩn thân Thầy bơ-vơ.
Truân-chuyên Tạo-hóa thờ-ơ,
Đưa người lương-thiện lỡ bờ xa quê.
Ru con buồn ngủ chưa mê,
Tằm đòi lên kén sợ dê phá chuồng.
Nực cười cho lũ sói muông.
Đem điều cay nghiệt phá tuồng Thuấn Nghiêu.
Đến sau phách lạc hồn xiêu,
Rã-rời thân thể mang nhiều họa-ương.
Ai ôi! hãy ngắm cho tường,
Nhìn ông tận mặt hùng cường làm chi?
( Viết tại nhà thương Chợ-quán, ngày 25-8 Canh-Thìn)
PHÒNG VẮNG ĐÊM KHUYA
Vận thời luân chuyển đưa ta tới,
Tới chốn nhà thương dưỡng bịnh điên.
Lắc-lẻo Hóa-công bày tấn kịch,
Chia xa bổn-đạo xuất mộng phiền.
Phòng vắng đêm khuya lặng tiếng người,
Tâm thần phưởng-phất cảnh vui tươi.
Ước-mơ thế giới lân Hòa-Hảo,
Nhà Phật con Tiên hé miệng cười.
Lạnh-lùng mây bạc bị luồng dông,
Cũng bởi quá yêu giống Lạc-Hồng.
Cay đắng siểm gièm thân Lão chịu,
Miễn đời thạnh trị hết cuồng ngông.
Ta bước, bước đường gặp nẻo chông,
Mà không nản chí với nao lòng.
Dắt-dìu nhơn-loại câu huyền-bí,
Bủa đức dạy đời rạng Á-đông.
Nhà thương Chợ-quán, đêm 25-8 Canh-Thìn
Còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
NGHĨ NHỮNG NGÀY QUA
Bây giờ ngồi nghĩ những ngày qua,
Lòng tớ lạ không, chẳng nhớ nhà.
Nhớ cả vạn dân trong bốn biển,
Gặp hồi trụy lạc Đạo càng xa.
Mộng hồn trong bóng vẩn-vơ bay,
Sương tỏa trắng trong chói rạng đài.
Bóng xế tà-tà về núi ngủ,
Trông chừng ông Tạo vẽ tuồng hay.
Ông hỡi khách chờ khách sẽ xem,
Cảnh cũ ôi thôi quá cũ mèm!
Vùng-vẫy đỡ nưng cơn sấm chớp,
Vinh-hoa phú-quí chẳng mơ thèm.
Phút chốc vui mừng cuộc trí tri,
Cùng nhau hiệp mặt hết sầu-bi.
Tình yêu nhơn-loại càng thêm đậm,
Có lẽ chơn-nhơn lúc thạnh thì.
Xúc-động tâm hoài gọi chúng-sanh,
Thoát ly cảnh tục sớm tu hành.
Giác thuyền đến bến đưa người thế,
Chớ đắm hồng trầm nẻo lợi danh.
Nhà thương Chợ-quán, năm Canh-Thìn
KHÔNG BUỒN NGỦ
Đêm nay lại sao ta không buồn ngủ? [1]
Đi, đứng, nằm, ủ-rũ nỗi niềm xa.
Hình như say chén rượu quá khề-khà,
Nhớ những kẻ bê tha trong ảo mộng.
Đường danh-lợi đua chen mùi ong-ỏng,
Đâu có màng tiếng vọng của người tu.
Cảnh thế-gian dường thể chốn ao tù,
Trong biển khổ mấy ai mà thoát đặng.
Nơi cửa Thánh, ôi! người càng quạnh vắng,
Chốn nhà ma chen-chúc quá thêm đông.
Biết làm sao gieo Đạo khắp đại đồng,
Đưa nhơn-loại đi vào vòng hạnh-phúc.
Thương trăm họ ruột tơ thêm vò khúc.
Để trí suy giục-thúc cả muôn dân.
Bỗng hay đâu nghi-ngút khói vua Tần,
Tăng-sĩ phải gắng vùi mơi hắc ám.
Nào ai biết tâm ta đời bác lãm,
Kiếp người dường chùm gởi bám vào cây.
Ở thế-gian ai rõ kẻ chơn Thầy,
Dắt sanh-chúng lìa nơi sông mê khổ.
Cõi trần-thế biết bao điều ái ố,
Hơn cùng thua nhắm mắt cũng ra ma.
Chi cho bằng:
Lúc sống sanh tìm lấy cuộc nhơn hòa,
Chữ thuận thảo hay hơn là tranh-đấu.
Thuở ít tuổi ấy là thời thơ ấu,
Ơn mẹ cha dạy-dỗ lúc nâng-niu.
Lớn lên rồi cần giữ lấy qui điều,
Của Phật-Thánh dạy người trung lẫn hiếu.
Con nghịch phản đều mang câu đàm tiếu,
Giữ sao tròn đạo nghĩa mới khôn ngoan.
Lòng sắt son dám sánh nỗi ngàn vàng,
Khó mua chuộc những người đầy liêm-sĩ.
Đường xa mới rõ biết tài ngựa ký,
Lúc nguy nàn tường tận kẻ vô lương.
Phụ ông cha làm lắm thói bạo cường,
Giành ăn uống ganh em cùng ghét cháu.
Trời sanh muỗi là loài thường hút máu,
Cũng lắm người mượn kế ấy dung thân.
Nên thuở xưa Trời sắp cuộc Phong Thần,
Diệt kẻ quấy lọc-lừa dân lương-thiện.
Mong Tạo-hóa sắp xong tuồng cổ-điển,
Đặng nhơn-sanh kiến cảnh thái bình hòa.
Ngỏ lời khuyên nhơn-loại khắp gần xa,
Rán tu tỉnh hưởng đời chung cực-lạc.
Trên cửa Phật mùi hương thơm bát ngát,
Dưới quân thần phụ tử khải hoàn ca.
Ấy là xong bốn biển hiệp một nhà,
Không ganh-ghét dứt câu thù hận oán.
Trên kẻ trí lấy công-bình phân-đoán,
Dưới vạn dân trăm họ được im-lìm.
Trẻ với già gìn hai chữ từ-khiêm,
Không còn thấy loạn-luân nền cang-kỷ.
Đạo tôi chúa chặt gìn câu chung thỉ,
Đạo thầy trò khắc cốt với ghi xương.
Đạo cha con chặt-chẽ chữ miên trường.
Đao chồng vợ thuận-hòa cho đến thác.
Biết lễ nghĩa kính yêu cùng cô bác,
Nội tông cùng ngoại tổ với cậu dì.
Thêm kính nhường anh chị kẻ cố tri,
Mắt chẳng thấy lũ gian phi xảo trá.
Đạo bè bạn bất phân nhơn với ngã,
Chữ nghĩa tình sắt đá mãi bền gan.
Trên non tiên văng-vẳng tiếng phụng-hoàng,
Phật, Tiên, Thánh an bang cùng định quốc.
Đời xuất Thánh tỏ bày câu tiêm-tất,
Rán giữ-gìn kẻo mất giống hiền xưa.
Những thói hư tật xấu phải răn chừa,
Sau sẽ thấy người xưa tường tận mặt.
Ta kể sơ ít điều cho vắn tắt,
Ước mong đời xét kỹ đặng tu hành.
Phật từ-bi đặng chữ cao thanh,
Người lương-thiện hưởng muôn điều hạnh-phúc.
Đến đây ngao-ngán việc trần,
Thôi dừng bút lại định thần xét suy.
Giàu-sang lắm kẻ vô nghì,
Ỷ mình trên bực kể gì nghĩa-nhân.
Chẳng kiêng chẳng nể Phật Thần,
Suy mưu làm quấy nghiệp trần phải mang.
Vì chưng ta mắc tai nàn,
Lòng thương trăm họ lỡ-làng từ nay.
Cầu Trời, Phật độ tiêu tai,
Cứu trong thiên-hạ Đạo khai khắp trời.
Nhà thương Chợ-quán, năm Canh-Thìn
(Hiệu chính: Ghi theo ấn bản trước năm1966:
[1] Đêm nay lại sao ta không buồn ngủ? (Đêm qua không buồn ngủ, đêm nay lại không buồn ngủ nữa). Có ấn bản ghi:
“Đêm nay tại sao ta không buồn ngủ?,”)
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
THU ĐÃ CUỐI
(Bài nầy không có tựa. Chép theo bổn chánh do Đức Ông giữ)
Thu đã cuối bấc lai-rai thổi,
Xét cõi lòng chạnh nỗi thương tâm.
Canh tràng thốn-thức đứng nằm,
Phiền-ba xe ngựa ù-ầm bên tai.
Nguồn mây bạc cuốn quay mũi viết,
Chấm vào nghiên chi xiết ngại-ngùng.
Cũng bung sao lại khuấy bung,
Một bầy ngơ-ngác cội tùng còn xa.
Thấy Tăng-Sĩ thiệt-thà hữu chí,
Vội đem lòng ích-kỷ hại nhân.
Ôi, đời yểm cựu nghinh tân,
Rùng-rùng xóa bỏ Phật, Thần, Thánh, Tiên.
Làm cho Lão nửa phiền nửa tủi,
Ước sao mình như cuội trên trăng.
Đặng soi khắp cả dương-trần,
Cho người trong tối đặng lằn điển quang.
Kể đến lúc băng ngàn đất khách,
Đem thân nầy cắt mạch sầu đông.
Dầu ai trao đổi lạt nồng,
Trao chua chế ngọt tấm lòng chẳng nao.
Nhưng nghĩ lại héo xào tim phổi,
Biết gốc lành sao cội không gìn.
Ngạt-ngào tiếng kệ lời kinh,
Ơn nhờ chư Phật oai thinh giáo-truyền.
Thân làm Đạo ba giềng năm mối,
Dù gặp cơn gió thổi mưa tuôn.
Bại rồi thành lại nên tuồng.
Vạn dân hưởng được nước nguồn Ma-ha.
Trải một lúc cuồng ba sóng dậy,
Chắc nhơn-sanh sẽ thấy việc chi ?
Trời đà sắp-đặt ly-kỳ,
Tới ngày trả quả ầm ỳ biết bao.
Thỏa cho kẻ khát-khao đạo-đức,
Danh Thánh tài thơm rực non sông.
Theo đòi học cổ của ông,
Nguồn văn gọi người đồng tâm tu.
Lòng đừng chất mối thù chi cả,
Lũ bạo tàn tất tả nay mai.
Bấy lâu khoe giỏi khoe tài,
Trời xanh rọi thấu diệt loài kiêu căng.
Lời ta nói có ngằn lắm nhỉ,
Để đây rồi chúng quỉ hiểu lầm.
Điệu đờn trổi khúc huyền thâm,
Nhà nghề chọn bản tri âm đâu nào.
Giọng Tăng-Sĩ thanh thao như kiểng,
Hạn đã lâu sông giếng cạn mòn.
Cỏ cây khô héo thon-von,
Nay nhờ mưa đượm mà còn khát khao.
Nghĩ đến đây gió ào-ào thổi,
Ngẩng mình ra nhìn ngọn đông-phong.
Khổng-Minh nhờ gió dụng công,
Còn ta nhờ được muỗi-mòng bay tan.
Khuyên chớ chấp kẻ lòng lang sói,
Để đức lành ta rọi khắp nơi.
Non sông rực-rỡ chói ngời,
Mảnh gương Phật-đạo soi đời cổ kim.
Nhơn loại sẽ khỏi chìm bể khổ,
Khắp muôn loài nguyện độ siêu-thăng.
Kể chi miệng mối lưỡi lằn.
Mặc tình thế-sự kêu thằng hay ông.
Chớ chia rẽ phải đồng tâm lực,
Khua giọng vàng đánh thức bốn phương.
Chấn-hưng Phật-Giáo học-đường,
Dưới trên hòa-thuận chọn đường qui nguyên.
Tay Tăng-Sĩ gậy thiền quyết nắm,
Lần buội bờ xuống thẳm lên đèo.
Dầu cho gặp lắm hùm beo,
Từ-bi vẫn niệm quyết leo khỏi rừng.
Đâu nản chí mà ngừng việc phải,
Cuộc tang thương biến cải cảnh trần.
Bực mình đeo đắm pháp-thân,
Chờ cơn gió tạnh sẽ lần bước ra.
Thấy thiện-tín chan hòa giọt lụy,
Tâm não nùng chạnh nghĩ xa vời.
Chim trời dựng ổ chiều mơi,
Bầy con chiu-chít cả đời nhàn thân.
Còn một đoạn mưa Tần nắng Sở,
Trải qua rồi việc dở hóa hay.
Thế-gian sẽ biết Thánh-tài,
Bế-bồng con dại hát bài khải-ca.
Ai mà được trông qua cảnh ấy,
Cội phúc nhà tạo lấy mà nhờ.
Thương đời tả ít lời thơ,
Nẻo tu dân-sự còn chờ dịp nao?
Phận Tăng-Sĩ nài bao gió bụi,
Miễn xổ lồng tháo củi ta-bà.
Theo đòi gương-phẩm Thích-Ca,
Dốc đem tâm chí tầm ra Đạo mầu.
Cả vạn vật chung bầu thế-giái,
Vì oán thù dựng bãi chiến-trường.
Cũng đồng xưng bá xưng vương,
Tranh quyền đoạt lợi đởm đương xé giành.
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
Ta nguyện một lời hành chánh đạo,
Chẳng phải người thông thạo hoàn toàn.
Nhưng mà gắng chí kêu vang,
Người ôi! thức tỉnh lánh nàn tu thân.
Nguồn bạch thủy trong ngần mát-mẻ,
Múc rưới vào độ kẻ chúng-sinh.
Thần-thông phép Phật muôn nghìn,
Cội lành nắm chặt ắt mình thảnh-thơi.
Nay Tăng-Sĩ có lời kêu gọi,
Dụng tinh-thần chống-chỏi quỉ tà.
Đừng cho chúng đến gần ta,
Nhơn-sanh còn hỡi ngà-ngà giấc say.
Phật, Tiên, Thánh muôn loài vạn-vật,
Cũng ở trong quả đất dựng gầy.
Siêu-thăng nhẹ tách đường mây.
Trầm-luân oan-nghiệt càng gây thêm hoài.
Ta chí dốc tầm đài-nguyệt-kiến,
Cho dương-trần rọi chuyện sai lầm.
Định thần dẹp hết tà tâm,
Huờn lai bổn-tánh Thần khâm quỉ nhường.
Bỏ cái tánh tự cường tự trọng,
Gẫm cuộc đời cái bóng theo hình.
Tu hành đâu kể nhục vinh,
Ta làm bổn-phận ngạo khinh mặc đời.
Đầu ngưỡng-vọng đất trời minh chứng,
Tấm lòng thành quyết dựng Đạo đời.
Đôi đều hòa-nhã nơi nơi,
Thân nầy mới chịu ngồi ngơi thạch-bàn.
Lòng trẻ thảo biết đoàn biết kết,
Phí xác phàm mê mệt đâu nài.
Băng rừng vẹt phá gốc gai,
Đưa người lương-thiện đến ngay Niết-Bàn.
Thấy biển khổ đâu an lòng đặng,
Xông thuyền ra cứu vớt sanh-linh.
Miễn cho bá tánh vẹn mình,
Hết cơn bịnh tật hết tin đạo tà.
Cúi nhờ nước ma-ha mát mẻ,
Xin Phật ban cho kẻ khát lòng.
Chim khôn thì uống nước trong,
Người khôn mau sớm rửa lòng bợn nhơ.
Để ma bịnh theo hờ bén gót,
Thần chết kia ôm hót bên mình.
Đạo lành sao lại chẳng tin,
Dầu cho thông thái cũng gìn cốt xưa.
Nở đâu lại vày bừa đồng loại,
Cũng gốc Ngài Thượng-Đế xuống trần.
Quày đầu nghe tiếng chuông ngân,
Trở về nơi cũ cho gần Phật, Tiên.
Thấy sanh-chúng quá ghiền cảnh tục,
Nên nhiều lần giục thúc muôn dân.
Bạch trinh giữ lấy nghĩa-nhân,
Muốn về cõi Phật, lập thân cõi trần.
Vượt cảnh khổ muôn phần u-ám,
Ganh, ghét, hờn, thì thảm muôn bề.
Khuyên trong nam nữ chợ quê,
Cúi đầu thiện-niệm trông về Tây-Phương.
NGÂM:
Tu cho kẻ bạo khâm-nhường,
Đẹp lòng cha mẹ Cửu-Huyền chờ trông.
"ĐÊM NGỒI MỘT MÌNH"
(tiếp theo bài trước)
Riêng phòng vắng-vẻ một mình ta,
Đèn điện bật lên ánh sáng lòa.
Trí não nghĩ suy tuồng biến đổi,
Tâm hồn liệu lượng cảnh thay nhà.
Tai nghe bốn phía xe cùng ngựa,
Mắt thấy chung quanh vách trắng ngà.
Cô độc nhưng lòng nô-nức mãi,
Cố tình kinh-nghiệm những ngày qua.
Nhà thương Chợ-quán, ngày 30-9 Canh-Thìn
MƯỜI BỐN THÁNG MƯỜI
Cảnh trời mây mịt vẽ lăng-quằng,
Mười bốn tháng mười lại khuất trăng.
Ngẫm việc thiên-cơ càng biến chuyển,
Xem chừng địa-lý quá xung xăng.
Tơ lòng vương-vấn đời thêm bận,
Tâm dạ ai-hoài cuộc nhện giăng.
Biết đó biết đây thời với vận,
Để ngày kết cuộc khó ăn-năn.
Nhà thương Chợ-quán, ngày 14-10 năm Canh-Thìn.
(trước khi Cộng-sản nổi dậy ở Xoài-Hột)
Còn tiếp
Nam Mô A Di Đà phật
-
"THAN ĐỜI"
(Chép theo bổn chánh do Đức Ông giữ)
Chạnh lòng nghĩ lại cảnh phiền ba,
Nghi-ngút bợn nhơ khói vạy tà.
Lăn lóc phong-trần dày dạn mặt,
Truân chuyên bể ái kiếp mày hoa.
Hố sâu chất chứa người bạc-ác,
Hang thẳm chôn chồng kẻ thiết tha.
Trời đã hoàng hôn mau chợt tỉnh,
Tìm đèn Trí-Huệ lánh thân ra.
Lánh thân ra khỏi kẻo mang tai,
Tầm nẻo cao siêu đến Phật-đài.
Bến giác Thần, Tiên mau chực sẵn,
Bể mê phàm tục phải cao bay.
Nợ duyên đeo-đắm nơi đời tạm,
Kiếp số luân-chìm chốn gốc gai.
Rày gặp mưa nhuần ân Thánh-đế,
Cam-lồ rưới tắt lửa trần-ai.
Nhà thương Chợ-quán, ngày 3-12 Canh-Thìn
"TRAO LỜI CÙNG ÔNG TÁO"
(Chép theo bổn chánh do Đức Ông giữ)
Đôi lời cạn hỏi Táo-quân ông,
Sắp tính về chầu Thượng-giới không.
Nếu có việc trần tâu thẳng lẽ,
Đừng như những kẻ bén hơi đồng.
Đêm ngồi nghĩ hỏi thăm ông Táo,
Sổ-sách trần ông tính đã xong chưa?
Năm Canh-Thìn nhiều trận gió mưa,
Cho nhơn-loại trăm cay cùng ngàn đắng.
Còn một tháng trông coi dài dặn,
Chắc hăm-ba theo lệ cũng chầu Trời.
Đêm nay trò chuyện với tôi chơi,
Thêm dặn trước ít lời ông xin nhớ.
Táo cười rằng! có chi nhắn-nhở?
Mới hôm nay sao lại gấp quá chừng?
Có điều chi lo liệu bâng khuâng,
Mà vội-vã dặn-dò tôi sớm vậy?
Sãi cả cười, vuốt-ve tấm đãy:
Sợ ngày về ông bận lắm chè xôi.
Của chúng-sanh làm lễ vãng hồi,
E quên mất những lời tôi gởi-gấm.
Nên tính trước trao tờ cáo-thẩm,
Cuộc trần-gian đà trải một năm qua,
Luôn từ ngày Tăng-Sĩ xa nhà,
Đều uất-kết tâu qua cùng Thượng-Đế:
Ngày vâng chỉ đáo-lai trần-thế,
Cõi Trung-Ương nhằm đất nước Việt-Nam.
Chọn một chàng tuổi trẻ tục-phàm,
Mượn tay gã, tờ hoa Thần hạ bút.
Khuyên bá-tánh tầm Tiên rời tục,
Chỉ máy Trời bày tỏ việc về sau.
Gái cùng trai già trẻ bước vào,
Đường trí-huệ qui-y gìn Đạo-pháp.
Thần cũng chẳng say mê chùa tháp,
Chẳng tham tiền, tham vật, món chi chi.
Hơn năm dư quyết chí duy trì,
Truyền sanh-chúng phải kính thờ Trời, Phật.
Cũng lắm kẻ phàm phu sơ thất,
Vội trêu đùa lũ quỉ ngạo đoàn ma.
Lúc ăn-năn sửa tánh rất thật-thà,
Còn lắm kẻ nghinh-nganh theo chọc rối.
Mượn luật-pháp ẩn trong bóng tối,
Mãi làm điều phi nghĩa chuyện bất lương.
Dạ hiểm sâu không thước đo lường,
Dốc phá hoại đường ngay, bôi lẽ thẳng.
Thêm lời tiếng thấp cao nhẹ nặng,
Làm cho người tu tỉnh phải xót-xa;
Nên hạ thần kính-cẩn tâu qua,
Xin Ngọc-Đế phân minh giùm trần-thế.
Nay cũng lắm người ưa kinh-kệ,
Muốn tu mà gặp lúc quá gay-go.
Xác trần còn mắc phải neo đò.
Giờ rước khách đã ngưng rồi năm tháng.
Thiên-số định cũng chưa quá hạn,
Nên phải còn bận mãi ách nàn tai.
Vọng Thánh-minh đức rạng khắp nhơn-loài,
Ban phước xuống dân lành cho bớt khổ.
Gạo lúa kém là đồ sản-thổ,
Hàng hóa cao, ấy của ngoại bang vào
Kẻ nghèo hèn thêm nỗi đói, đau,
Rất mong-mỏi an-cư cùng lạc nghiệp.
Oai trời đất, thế-trần khủng-khiếp,
Nhưng ngặt loài thỏ-cáo cứ đua tranh.
Lũ sói hùm huơi gút múa nanh,
Cho trăm họ hãi-hùng cơn sấm nổ.
Thần rán sức ra công khuyến dỗ,
Gìn thuần-phong mỹ-tục của Rồng-Tiên.
Tập ở ăn theo nết Thánh-hiền,
Lòng tu tỉnh, dòm Phật-Tiên nối chí.
Bày tường-tận trước sau chung thỉ,
Đời văn-minh vật-chất bỏ gương xưa.
Nghiệp Tổ Tiên con cháu vày bừa,
Học thói mới lăng loàn theo sở dục.
Khắp thế-giới binh lương cụ túc,
Quyết tranh-giành quyền-lợi, xé-xâu nhau.
Thấy nhơn-sanh tuôn giọt máu đào,
Lòng bác-ái động tình rơi nước mắt.
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
Tiếng ai-bi thở than véo-vắt,
Khắp Đông, Tây, Nam, Bắc chịu ưu sầu.
Kẻ lương-hiền chờ giọt mưa ngâu,
Người bạo ngược thừa cơ nguy thủ lợi.
Ở thị thiềng đua chen xướng-khởi,
Những tuồng hư, cho bọn gái lẫn trai.
Nào hút thuốc phiện, hội ve chai,
Nào trùm-đĩ, ma-cô, nghề hút máu.
Ai để mắt xem đời chu đáo,
Chẳng khỏi than giùm dân-tộc hư hèn.
Diện áo quần, son phấn lấn chen,
Miễn cho mình được lên xe xuống ngựa.
Mãng điểm-tô huy-hoàng nhà cửa,
Ai khốn-cùng để mặc đất, trời xây.
Thấy nhơn gian khuynh đảo tỏ bày,
Cho Thượng-Đế lãm tường trong sanh-chúng.
Bấy nhiêu điều xét xem nhân-chủng,
Táo đệ giùm cho thấu đến Thiên-cung.
Còn nhiều điều gớm-ghiếc hãi-hùng,
Lấy yếu lược đôi câu mà trần tố.
Nay cùng ông hữu duyên tương ngộ,
Chúc ông về Thượng-giái được ban khen.
Phần Sĩ-Tăng tay trống miệng kèn,
Giác thiện-tín chấn-hưng nền Phật-giáo.
Nếu chừng nào khai thông đại Đạo,
Đuốc từ-bi rọi khắp cả nhơn-gian.
Bể trầm-luân khô cạn sáu đàng,
Tăng-Sĩ mới trở về nơi thanh-tịnh.
Nhà thương Chợ-quán, ngày 3 tháng chạp Canh-Thìn
"TỰ THÁN"
(Chép theo bổn chánh do Đức Ông giữ)
Vì đâu bốc ngọn lửa Tần,
Mà lòng Tăng-Sĩ như dần nát tan.
Nghĩ mình chọn kiếp con hoang,
Quê hương rày đã dậm tràng sơn-xuyên.
Tổ-đường còn một cành huyên,
Từ-đường hôm sớm luống phiền chờ trông.
Hai em thiểu trí thơ-đồng,
Chị đà an phận theo chồng đàng xa.
Từ mang một tấm áo dà,
Mùi thiền đã thắm ơn nhà lợt phai.
Sống sanh ra phận râu mày,
Một đời một Đạo đến ngày chung thân.
Tuy là xa cách cố nhân,
Nơi đời triếu mến sớm gần cửa không.
Từ-bi buộc chặt cõi lòng,
Còn ơn cúc-dục để hòng mai sau.
Bể trần sóng cuộn lao-xao,
Xông thuyền bát-nhã lướt vào một phen.
Quản chi lực kém tài hèn,
Dù đời bạc đãi ngọn đèn cứ nêu.
Soi từ đài các xá lều,
Cho người trụy-lạc biết điều nghĩa-nhân.
Tài tai hai chữ cân phân,
Trời ban họa phước một lần cho ta.
Mắt đen thấy mắt trắng lòa,
Phật ma, ma Phật mới ra vở tuồng.
Trời già tay khéo, khéo luôn,
Sắp chi chua ngọt pha buồn lẫn vui?
Năm canh luống những sụt-sùi,
Cám trong nhân-chủng lắm người dở-dang.
Sầu chung ta cất tiếng than,
Phù-sinh kiếp có đoạn tràng thì thôi.
Bon bon chuông giục mấy hồi,
Rầm rầm sấm nổ trên đồi xa xa.
Đầu canh tiếng động bên nhà,
Chờ ba canh một thì gà gáy tan.
Ngày xuân cách cội xa làng,
Người quê Quán-Chợ như thoàn linh-đinh.
Vừa cơn sóng gió bất bình,
Số trời đã định phận mình biết sao.
Ngày xưa mấy bực yên-hào,
Vào sanh ra tử dạ nào trách than.
Thân nầy đã ngấm trầm nhang.
Vui câu bác-ái bền gan đợi chờ,
Đêm khuya vắng lặng như tờ,
Vài hàng nhủ hết chớ ngơ-ngẩn lòng.
Gắng tình đừng lắm ngóng trông.
Hung-tinh sao ấy trời Đông lờ-mờ.
Hềm vì mắc lá thiên-thơ,
Đôi điều ghi chép cõi bờ chưa xong.
Thôi thì lòng dặn lấy lòng,
Gẫm đây đến cuộc mây rồng chẳng xa.
Đêm khuya lác-đác sương sa,
Phòng khuya lạnh-lẽo có ta với phòng.
Gật-gù suy cuộc hưng vong,
Quyết xoay máy tạo gánh gồng chưa yên.
Trí thần nhớ đến tiếng quyên,
Gọi hồn cố-quốc sầu riêng một mình.
Trầm-ngâm vẻ mặt làm thinh,
Tựa mình bên gối giấc quỳnh đã say.
Mơ tiên hồn muốn vụt bay,
Nhà thương Chợ-quán, tháng chạp năm Canh-Thìn
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
"TỈNH BẠN TRẦN GIAN"
(Chép theo bổn chánh do Đức Ông giữ)
Nghiệp chướng lăng-loàn hại xác thân,
Chuông lành buông tiếng vọng bon ngân.
Cương-thường gánh nặng trai gìn trọn,
Tơ-tóc vai quằn gái vẹn phân.
Nợ nước văn-chương toan báo đáp,
Ơn nhà đạo-đức quyết đền ân.
Khuyên người trí-sĩ mau mau tỉnh,
Giấc mộng nam-kha chốn thế-trần.
Thế-trần tạm giả gạt đời ta,
Lướt khỏi sông mê khỏi ái hà.
Nhân-ngã, ngã-nhân đừng cách biệt,
Sắc không, không sắc chớ lìa xa.
Diệu-huyền chơn lý noi đường sáng,
Ảo-thuật tà-tâm kiếm nẻo ra.
Lóng-lánh gương xưa lời Phật dạy,
Hồng-trần ái-dục giết tài hoa.
Tài-hoa cho lắm, lắm nàn tai,
Trụy-lạc phong-trần chốn gốc gai.
Nếu đã tỉnh tâm tầm lẽ thẳng,
Cũng nên rèn tánh gặp đàng ngay.
Sân-si phỏng có điều thêm bận,
Nhẫn-nhịn ắt không chuyện kéo dài.
Tiếng gọi hồn mê hồn được giác,
Phải toan sắm-sửa rứt trần-ai.
Trần-ai chỉ có thú phong-lưu,
Tranh-đấu thành ra mãi oán cừu.
Chung cuộc chỉ mang câu thất vọng,
Xong đời ghi chất mối sầu ưu.
Cổ kim máy tạo nhiều huyền-bí,
Lão ấu xây vần lắm mẹo mưu.
Cũng chẳng cướp xong quyền võ-trụ,
Mà còn đeo đắm thú phong-lưu.
Phong-lưu nào phải gọi người ngoan,
Sa ngã biến nên kẻ khốn nàn.
Ngày đến, đến đi đâu kéo ngược,
Năm về, về mãi chẳng ngừng ngang.
Tuổi già thân yếu đa sầu cảm,
Tóc bạc mình ve lắm rộn-ràng.
Biết được trần-gian là mộng huyễn,
Tử thần sửa soạn kéo vào quan.
Kéo vào quan-quách biết bao người,
Cảnh sống sum-vầy phỏng mấy mươi?
Lắm lúc đua chen vui lẫn giận,
Nhiều khi vùng-vẫy khóc pha cười.
Tuồng đời chuốt-ngót cho xong tiếng,
Cuộc thế trau-giồi mượn tấc hơi.
Nín thở nằm ngay không cựa quậy,
Xót thương con trẻ khóc đôi lời.
Đôi lời kể lại nỗi hàn huyên,
Ma lớn chay to phí lắm tiền.
Tưởng vậy xác thân đa hạnh-phúc,
Nào hay hồn-phách lắm oan-khiên.
Thiên-đường siêu-thoát thời thong-thả,
Địa-ngục trầm-luân ắt đảo-điên.
Nên chọn một nơi thanh-tịnh ấy,
Rứt trần bất nhiễm mới là yên.
Mới là yên-ổn lánh trần-gian,
Chí nguyện tiêu-diêu cảnh Phật-đàng.
Diệu-pháp chuyển thân vô sự thế,
Huyền-thông hóa kiếp chẳng lo toan.
Tâm linh mắt thánh xem ba cõi,
Tánh hiển tai thần lóng bốn phang.
Phổ-tế chúng-sanh qua bể khổ,
Di-Đà miệng niệm lánh trần-gian.
Trần-gian khói lửa với đao binh,
Chư Phật sớm bày phép hiển-linh.
Cứu khổ nam-mô vô lượng phước,
Diệt nàn tu-rị hữu thiên kinh.
Sóng xao dương-thế nhiều cay đắng,
Gió cuốn trần-gian nỗi bất bình.
Tín-nữ thiện-nam gìn mối đạo,
Dầu cho lăn-lóc rán kiên-trinh.
Kiên-trinh mà chịu lúc nàn tai,
Dẫu có gian-nan dạ chớ nài.
Vàng đá bao phen cơn nước lửa,
Chì thau lắm chuyện lúc non hài.
Bền gan chờ đợi ngày sum hiệp,
Gắng chí trông mong bữa tiệc khai.
Thiên địa tuần-huờn gom một mối,
Phàm-trần vẹn kiếp kiến Bồng-Lai.
Nhà thương Chợ-Quán, tháng chạp năm Canh-Thìn
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
Đức Thầy gởi ông MƯỜI (chú Đức Ông)
Ngày Tết đến, nương mực viết thay lời, trước kính
bái tông đường, sau chúc mừng ông bà đặng muôn điều hạnh-phúc. Sau có hai bài thơ, xin ông xem chơi cho rõ điều tâm sự:
Xuân đến chúc mừng tuổi thúc ông,
Đàng xa không thể viếng môn tông.
Câu thơ cao hứng thay bầu rượu,
Bài phú vui mừng thế chậu bông.
Đạo-đức gắng công nên cách mặt,
Văn-chương rèn chí chẳng phai lòng.
Ơn nhà tạm gác sau nầy trả,
Xin bớt đau lòng bớt ngóng trông.
Trước đã đem thân hiến Phật đài,
Chắc rằng sẽ được buổi trùng lai.
Ra công khai-hóa vì nhân-chủng,
Nhọc sức mở-mang bởi cốt-hài.
Sanh đấng nam-nhi toan xử thế,
Sống làm hiền-triết nghĩa gồm hai.
Thuận hòa trăm họ đời an-lạc,
Chừng ấy xe tiên thế dép giày.
Nhà thương Chợ-Quán, tháng chạp năm Canh-Thìn
MƯỢN CÂY ĐUỐC HUỆ
Phụ mẫu thâm ân vô lượng kiếp,
Quân-thần nghĩa trọng hữu thiên niên.
Vận phải bỉ trăm điều chua chát,
Thời đáo lai muôn chuyện ngọt ngon.
Nghĩ cuộc đời mà chan-chứa nỗi hao mòn,
Xem cảnh thế luống xót-xa niềm chích mát.
Đời nầy như thế người kia cũng thế,
Làm sao mà tránh khỏi việc lầm than.
Sống tranh đua khi chết cũng xương tàn,
Cho nên:
Mượn đuốc huệ đánh tan mùi tục lụy.
Buồn vơi mượn bút tay đề,
Tu hành tâm đạo dựa kề Tiên-bang.
Nào nào trần thế có sang,
Sắp đều đau khổ nghèo nàn hỡi ai!
Thảm trong thế sự ngày nay,
Lắm điều lao-lý quá dài gian-nan.
Một tay tá quốc an bang,
Nước nhà vững đặt Hớn-đàng hiển vinh.
Bây giờ phải mượn kệ kinh,
Dắt-dìu trần-thế mặc tình nghe không.
Kêu thằng hay gọi là ông,
Cũng không có muốn ai hòng tôn-ti.
Nhà thương Chợ-Quán, tháng chạp năm Canh-Thìn (Bài trên đây Đức Thầy gởi về nhà, một lượt với 2 bài thơ gởi ông Mười).
NHỔ BÀN THÔNG-THIÊN
(vì sợ liên-can vụ "Đạo Tưởng" ở Tân-Châu, thuộc tỉnh Châu-Đốc)
Đạo ác xảy ra rất thảm phiền,
Làm cho dân sự nhổ thông-thiên.
Xô ngang ít bữa rồi trồng lại,
Thần Thánh đi xa khó rước liền.
Hòa-Hảo, hạ tuần tháng Giêng năm Canh-Thìn.
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
Những bài sáng-tác năm Tân-Tỵ (1941)
Chúc xuân ông Thầy thuốc TRẦN-VĂN-TÂM
làm việc tại Nhà thương Chợ-Quán
Tràng pháo vang-vầy đến rước xuân,
Chúc ông năm mới chữ vui mừng.
Trăm điều phúc-lộc vừa đem lại,
Muôn chuyện nhàn-cư đến chẳng ngưng.
Tộc-họ cùng chung gìn nghiệp cũ,
Gia-đình sum-hợp giữ thường-luân.
Thanh-liêm một mực tròn nhơn-cách,
Rạng vẻ non sông tiếng lẫy-lừng.
Nhà thương Chợ-quán, Tết năm Tân-Tỵ (1941)
"NGÀY TẾT"
Tháng lụng ngày qua năm đã tàn,
Trẻ già nô-nức đón xuân sang.
Chờ coi năm mới hên hay chẳng?
Chóng đạt công-danh kẻo muộn-màng.
Ngày tết đến rồi các bạn ơi,
Tổ-Tiên truyền lại mấy ngàn đời;
Ước ao xuân mới bằng xuân cũ,
Thanh-bạch tâm hồn cuộc thảnh-thơi.
Nầy hỡi chúa xuân ta rán chờ,
Khỏi ngày thảm lệ buổi nguy cơ.
Pháo tan xác pháo rền rang nhỉ,
Khói bốc đường mây án mịt-mờ.
Thời giờ kinh hãi sẽ đi qua,
Thế-giới trì xong cuộc thái hòa.
Chừng ấy chúa xuân thêm tráng lệ,
Huy-hoàng tục cổ của ông cha.
Thiên hạ đua nhau rằng mới mới,
Lòng ta nào thấy mới chi đâu.
Lao xao phố chợ hoành đôi tấm,
Rộn-rịp cửa nhà liễn mấy câu.
Lũ trẻ cười reo pha tiếng pháo,
Cụ già đùa chuyện lẫn năm châu.
Nào dè xuân ấy là xuân gượng,
Của buổi loạn-ly gợi thảm sầu.
Lốp-bốp pháo chi nổ quá ồn,
Khắp cùng thành-thị khắp hương-thôn.
Người dư của-cải tiêu xa-xí,
Kẻ thiếu tiền-nong nợ mắc dồn.
Ba bữa cờ trương còn hớn-hở,
Bảy ngày nêu hạ hết lo nôn.
Thì ra năm mới như năm cũ,
Cảnh khó dân đen vẫn tự tồn.
(Chép theo bản chánh do Đức Ông giữ)
" CẢNH XUÂN”
Kiểng vật khoe màu đua sắc tươi,
Cành hoa hé nở tợ như cười.
Xuân về cảnh đẹp càng thêm vẻ,
Dám hỏi Đông-Hoàng tuổi mấy mươi?
Nhà thương Chợ-Quán, Tết năm Tân-Tỵ
ĐI TRÌNH-BÁO
(Lúc Đức Thầy về Bạc-liêu ở nhà ông Võ-văn-Giỏi thì nhà cầm quyền buộc phải đi trình diện tại bót cò mỗi tuần một lần, vào ngày thứ hai).
Việc chi mà phải đi trình báo?
Mỗi tháng bốn kỳ nhọc cẳng ông.
Đợi máy huyền-cơ xây đến mức,
Tính xong cuộc thế lại non Bồng.
Thứ hai hừng sáng mưa tầm-tã, [1]
Lính đứng ngoài đường giục-giã ông.
Kiếp khách trần-gian vay lắm nợ,
Để đền trọn nghĩa với non sông.
Người cười, người nhạo bảo ông điên,
Ông chẳng giận ai, cũng chẳng phiền.
Chỉ tiếc trần-gian đùa quá vội,
Chưa tường điên tục hay điên tiên.
Bạc-liêu, 6-6 Tân-Tỵ (30-6-41)
(Hiệu chính: [1] Có ấn bản ghi: “Thứ hai bừng sáng mưa tầm-tã,”)
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
TẠM NGƯNG LÝ-LẼ
(vì nhà cầm quyền ở Bạc-liêu buộc ràng, dòm ngó)
Gặp lúc truân chuyên lắm buộc ràng,
Cảm tình bổn-đạo tiếng riêng than.
Tạm ngưng lý-lẽ trong cơn túng,
Xin chớ ưu-sầu cuộc dở-dang.
Nghĩ cuộc đời lương tâm càng cố-gắng,
Lòng ta sao rối-rắm cuộc tằm-tơ.
Vì đâu nên nỗi hẫng-hờ,
Với người tha-thiết đợi chờ ngoài song!
Bạc-liêu, 20-6 Tân-Tỵ (14-7-41)
VỊNH QUẠT MÁY
Khoa-học đời nay thật khéo cho,
Bày ra cái máy chạy vo-vo.
Tranh quyền tạo-hóa nồng thay lạnh,
Đông-Á lần hồi phụ quạt mo.
Có tiền mua lấy cũng nên cho,
Tủ sắt còn đầy còn gió vo.
Nhưng ngặt khan dầu e hết điện,
Trở về lối cũ lượm cau mo.
Cau mo chừng ấy đắt tiền cho,
Ngóng cổ thêm dài hút gió vo.
Chủ khách ngẩn-ngơ cơn nóng bức,
Thôi thì "toa mỏa" tạm dùng mo.
Bạc-liêu, 21-6 Tân-Tỵ (15-7-41)
VỊNH CON BEO ĐÁ
(để chưng tại nhà ông Võ-văn-Giỏi ở Bạc-liêu)
Beo ơi, beo hỡi là beo!
Gần cọp sao mi lại giống mèo?
Ngóng cổ chờ ai đem thịt tới?
Hay chờ gạt chó cướp đàn cheo?
Bạc-liêu, 1-6 nhuần Tân-Tỵ (24-7-41)
Cho ông HẠNH, rể của ông VÕ-VĂN-GIỎI
(ở Bạc-Liêu)
Đó rán tầm đường đến cảnh Tiên,
Thú vui phong nguyệt lắm ưu phiền.
Lòng phàm rửa sạch niềm nhân ngã,
Phước Phật trau-giồi kết thiện-duyên.
Thiện-duyên ấy cũng tại nơi ta,
Hộ niệm oai linh Đức Phật-Đà.
Sớm, tối, đi, nằm, y chánh-pháp,
Thầy nguyền dắt đến cảnh Long-Hoa.
Bạc-liêu, 1-6 nhuần Tân-Tỵ (24-7-41)
VÌ SANH-CHÚNG
Vì nghiệp trần mê hay bởi ai?
Tâm, can, tì, phế, thận đau hoài (1)
Hay vì sanh-chúng còn lao-lý,
Nguyện uống cho đời chén thuốc cay.
Bạc-liêu, 6-6 nhuần Tân-Tỵ (29-7-41)
(1) Lúc Đức Thầy còn ở Bạc-Liêu, Ngài thường đau ốm không thuốc nào trị được.
NGŨ NGÔN CÁCH CÚ
Đã trải hai năm dư,
Mang một túi đồ-thư.
Lòng hằng mong phổ-hóa,
Dụng đủ cách thanh từ.
Muốn khai kinh thả cá,
Trời chưa cho thỏa dạ.
Gặp buổi quá thâm u,
Đời đầy câu nhơn-ngã.
Sóng bể cuộn phương Đông,
Chừng nào mới cho xong.
Câu ấy nhơn-dân hỏi,
Phải chờ lịnh Thiên-công.
Tại sao ta lại đau?
Quyết trị liệu phương nào?
Bịnh ni là tâm bịnh,
Dễ hết được đi sao?
Bạc-liêu, ngày 6-6 nhuần Tân-Tỵ (29-7-41)
MONG CHỜ
Tây-Phương chư Phật cám ta-bà,
Chuyển pháp độ đời khỏi đọa-sa.
Mong-mỏi chúng-sanh đồng mật niệm,
Vọng cầu thế-giới dứt can qua.
Can-qua binh lửa sát sanh-linh,
Khẩn bái Quan-Âm trút tịnh bình.
Giọt nước nhành dương mau tưới tắt,
Cứu đời an lạc hết giao chinh.
Lòng người muốn khỏi họa đao-binh,
Nhưng Phật chờ oai sắc Ngọc-đình.
Trị tội cho xong loài ác-bạo,
Công-đồng thưởng phạt hết đao-binh.
Bạc-liêu, ngày 6-6 nhuần Tân-Tỵ (29-7-41)
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
NIỆM DI-ĐÀ
Mắt nhìn trần đỏ niệm Di-Đà,
Nguyện vái thân nầy khỏi đọa sa.
Muôn đạo hồng quang oai-đức Phật,
Soi đường minh-thiện đến Long-Hoa.
Bạc-liêu, ngày 10-6 nhuần Tân-Tỵ (2-8-41)
(Bài trên đây Đức Thầy viết ra để cho anh em tín-đồ nguyện trước khi niệm Phật).
Cho ông VÕ-VĂN-GIỎI ở Bạc-Liêu
Hào-quang chư Phật rọi mười phương,
Đạo-pháp xem qua chớ gọi thường.
Chuyên-chú nghĩ suy từ nét dấu,
Cố công gìn-giữ tánh thuần lương.
Bạc-liêu, 20-7 Tân-Tỵ (11-9-41)
(Bài nầy cũng có ở trong quyển Khuyến-Thiện)
GIẢI-THOÁT CỬU-HUYỀN
Rán tu đắc đạo cứu cửu-huyền,
Thoát chốn mê-đồ đến cảnh Tiên.
Ngõ đáp ơn dày công sáng tạo,
Cho ta hình vóc học cơ-huyền.
Bạc-liêu, 21-8 Tân-Tỵ (11-10-41)
TỘI VỚI THIÊN-HOÀNG
Chúng-sanh đắc tội với Thiên-Hoàng,
Đạo-lý chẳng gìn ở dọc ngang.
Nên mới gây ra trường thảm họa,
Làm cho lê-thứ chịu lầm than.
Bạc-liêu, 22-10 Tân-Tỵ (10-12-41)
MẤY ĐOẠN TƠ LÒNG
Theo lời ông Hương-bộ Thạnh thì trong khi Đức Thầy ở Bạc-liêu, ông ở Nhơn-Nghĩa (Cần-thơ) hăng-hái đi cổ-động cho người ta vào Đạo.
Khi được lịnh Đức Thầy bảo đừng đi hoạt-động nữa, ông buồn lắm. Nhơn thấy người tá-điền đem cho một trái sầu riêng, ông tức cảnh làm bài thi dưới đây rồi cho bà Hương-bộ đem đến Đức Thầy.
Đức Thầy trả lại ông bài thơ: "Trái sầu riêng" và có cho thêm bài Mấy đoạn tơ lòng như dưới đây:
TRÁI SẦU RIÊNG
Thân hình gai gốc nghĩ càng thương,
Thật trái sầu riêng báu của vườn.
Lắm kẻ chê bai rằng nhám-nhúa,
Nhiều người yêu chuộng tại mùi hương.
Giúp đời trải dạ cơn khao-khát,
Đỡ chủ tàng che lúc nắng sương.
Trinh bạch tấm lòng trời đất rõ,
Đinh-ninh dạ trắng núi sông tường.
MẤY ĐOẠN TƠ LÒNG
Mấy đoạn tơ lòng mấy đoạn đau,
Muôn dân ngơ-ngẩn đợi mưa dào.
Thiết-tha thiện-tín câu cầu nguyện,
Vui-đẹp dạ Thầy luống ước-ao.
Lòng người muốn vậy trời chưa vậy,
Cuộc thế xây vần đất phụ sao?
Nhẫn nhẫn cho rồi câu bĩ cực,
Thời lai sẽ được cảnh tiêu dao.
Bạc-liêu, năm 1941
Theo lời ông Hương-bộ thì Đức Thầy còn gởi thêm 2 bài tứ cú mà Đức Thầy đã cho rể ông Võ-văn-Giỏi ở Bạc-liêu.
TƯ TƯỞNG
Khuyên niệm Phật than rằng chưa rảnh,
Lúc bắt hồn mắc việc cũng đi.
Chắp tay niệm Phật Di-Đà,
Lòng ta ta biết ai mà mặc ai.
Cuốn sổ bình sanh công với tội,
Chờ nơi thẩm phán sẽ cung khai.
Thất đức thì ma quỉ rối loàn,
Tu đức thì ma quỉ tiêu tan.
Phải rán tu đặng mà chết,
Chớ đừng để chết đến mà chẳng có tu.
Bạc-liêu, 22 tháng 10 Tân-Tỵ
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
VỌNG BẮC HÒA NAM
Lâm san rày đã rời ra,
Dạo trong lê-thứ vậy mà xét-soi.
Bàn với luận đặng coi chơn-lý,
Lậu cơ trời thiên-ý bày ra.
Thấy đời ta cũng thiết-tha,
Chiến-tranh ngoại-quốc hằng hà lụy rơi.
Bị danh-lợi xe lơi tình nghĩa,
Mới tranh-giành xoi xỉa cùng nhau.
Phơi thây mà chẳng núng-nao,
Tranh cùng với đoạt chừng nào mới thôi.
Hạ-nguơn lao khổ lắm ôi!
Tu sau mới được qua đồi chông gai.
Lo bổn-phận thảo ngay trọn vẹn,
Chừng lập đời không thẹn tấm thân.
Câu quân lý tứ ân chạm dạ,
Nếu chẳng gìn phải đọa đừng than.
Chừng nào tiếng sấm nổ vang,
Thất-sơn lộ vẻ đền vàng báu thay.
Chọn bến nước rủi may trong đục,
Nếu chần-chờ lục đục trễ chơn.
Yêu đời ta dạy làm ơn,
Lời ta khuyên nhủ như đờn Bá-Nha.
Trong bổn-đạo gần xa ghi nhớ,
Phải thi hành phận tớ cho xong.
Để sau đến việc long-đong,
Xác thân khó thấy Mây Rồng hội kia.
Chữ trung-tín chạm bia trước mộ,
Người phượng thờ đặng độ chúng-sanh.
Trả nợ thế nghĩa-ân trọn vẹn,
Cảnh non Bồng kỳ hẹn ngày kia.
Chúng ham làm chức nắc-nia,
Ngày sau như thể vô đìa quên nôm.
Nay nhằm lúc đêm hôm vắng-vẻ,
Muốn tu hành lặng-lẽ mà nghe.
Thử yên lặng để ve nó gáy,
Gáy ít điều rõ máy thiên-cơ.
Người khôn nghe nói ngẩn-ngơ,
Người ngu nghe nói mãi ngờ Khùng Điên.
Kẻ chẳng mến tình riêng hay ghét,
Ta tu hành hay mét làm chi.
Hổ thay cho bực tu-mi,
Thân mình chẳng vẹn vậy thì không lo.
Để đến việc dang lưng mà chịu,
Ai biết điều sớm liệu cho xong.
Miệng sự thế nhiều ông kiêu-hãnh,
Ta dạy đời chẳng rảnh mà tranh.
Gió đưa nhằm lúc đêm thanh,
Lời ta dạy-dỗ như nhành ghẹo chim.
Gắng công mài sắt nên kim,
Những câu huyền-bí rán tìm cho ra.
Viết ít câu ngâm-nga thời-thế,
Ta khuyên đời như kế Trương-Lương.
Tấm thân nào nại gió-sương,
Thương-yêu lê-thứ lo lường năm canh.
Nếu ai muốn luận-tranh đạo-đức,
Ta cho đời một bức thi ca.
Hết gần rồi lại nói xa,
Nói cho sanh chúng rõ mà người chi.
Dân với chúng còn nghi mãi mãi,
Đạo tu hành nói phải mà nghe.
Ngàn năm đạo-lý vắng hoe,
Bị ngươi Thần-Tú bày chè cùng xôi.
Kinh với sấm ngoài môi nó tụng,
Đạo suy-tồi bại-lụn vì ai.
Đem nguồn chơn-lý bằng nay,
Ta thương dân chúng lạc-loài giống xưa.
Mặc ý ai ghét ưa, ưa ghét,
Định tâm thần xem xét thể nao.
Dạy đời chẳng nệ công lao,
Khuyên người danh-lợi chớ rào làm chi.
Ngày sau đến việc sầu bi,
Thương đời ta mới làm thi khuyên đời.
Còn ẩn-nhẫn đợi thời chưa đến,
Nên phải làm kẻ mến người khinh.
Bạc-liêu, năm Tân-Tỵ
Ông PHAN-CHÂU-BÁ (Long-Xuyên) hỏi:
Tang bồng nợ ấy trả sao xong?
Chí dốc từ-bi cổi tấc lòng.
Nhơn đạo còn mang chưa xử trọn,
Nghĩ sao giải-thoát nợ tang bồng?
ĐỨC THẦY đáp lại:
Đành rằng nợ thế trả chưa xong,
Mà biết ăn năn sửa lấy lòng.
Niệm chữ Di-Đà tan chướng nghiệp,
Thuyền từ Thầy rước lại non Bồng.
Non Bồng Tiên Phật xót nhân-sinh,
Trí-huệ trau giồi khán kệ-kinh,
An phận hơn bề danh lợi tạm,
Tề gia trung hiếu vẹn thân mình.
Bạc-liêu, năm Tân-Tỵ
BÀI NGUYỆN TRƯỚC BÀN THỜ CỬU-HUYỀN
Đầu cúi lạy Cửu-Huyền Thất-Tổ,
Ngõ đáp ơn báo-bổ sanh thành.
Ngay con qui Phật tu hành,
Cửu-Huyền Thất-Tổ lòng lành chứng tri.
Lời Phật dạy từ-bi bác-ái,
Dạ nhơn-từ quảng đại mở-mang.
Hiếu-trung con giữ vẹn toàn,
Từ rày chẳng dám lăng-loàn như xưa.
Sau hưởng đặng phước thừa của Phật,
Hồn nhẹ-nhàng vượt khỏi tử-sanh.
Nguyện đem công quả tu hành,
Cứu trong tông-tổ vãng-sanh liên-đài.
Về Phật-quốc ngày ngày an lạc,
Cả giống-dòng giải-thoát luân-trầm.
Rồi đem đạo-pháp huyền-thâm,
Độ trong sanh-chúng hết lầm hết mê.
Cả vạn-vật đồng về Phật cảnh,
Chẳng luyến trần ảo-ảnh gạt lường.
Nguyện cầu chư Phật mười phương,
Niết-Bàn tịch tịch là đường vô-sanh.
(Bài nầy Đức Thầy viết tại Bạc-liêu lối cuối năm Tân-Tỵ, nhưng vì thấy nó hơi dài nên Đức Thầy viết bài khác chỉ có 12 câu cho anh em bổn-đạo học mau thuộc. Ấy là bài "Cúi kính dưng hương trước Cửu-huyền")
NÉM CẤP-BẰNG
Lấy cái cấp-bằng ném xuống sông,
Thôi, thôi! tôi cũng mét-xì (1) ông.
Tuồng đời gẫm lại nơ quô rẻn (2).
Xăng phú ba manh (3) trở lại đồng!
Bạc-liêu, năm 1941
(1) Merci
(2) Ne vaut rien.
(3) S'en f. . . pas mal,
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
Năm Nhâm-Ngũ
(1942)
CHO THẦY ĐỘI GIÀU (1)
Chúc thầy trong năm mới,
Đạo tâm càng phấn khởi.
Mở rộng cửa từ-bi,
Giúp người đang mong đợi.
Mong đợi được tu-hành,
Thầy nên giảng việc lành.
Cho người mê giác-ngộ,
Là phổ-tế chúng-sanh.
Chúng-sanh đang thảm-đạm,
Bởi tội ác gây ra.
Bần-tăng thường khẩn-nguyện,
Mong trăm họ thái hòa.
Bạc-liêu, Tết năm Nhâm-Ngũ (1942)
(1) Thầy đội Giàu là nhân-viên giúp việc sở Mật-Thám Bạc-liêu và thuộc phái Tịnh-Độ Cư-Sĩ.
Cho ông TRẦN-QUANG-HẠNH
TRẦN tâm rứt sạch cuộc mê-si,
QUAN-sát Đạo mầu nẻo ẩn vi.
HẠNH đức vun bồi thêm rạng tỏ,
Thoát phàm theo dõi gót Từ-Bi.
Bạc-liêu, Tết nguyên-đán năm Nhâm-Ngũ (1942)
THỨC TỈNH MỘT NỮ TÍN-ĐỒ Ở BẠC-LIÊU
Trót đã qui-y giữa Phật-đài,
Nguyện rằng đệ-tử dứt trần ai.
Mong nhờ đuốc huệ soi đường tối,
Chớ nhiễm nghiệp phiền chớ đắm say.
Đắm say một phút cội lành xa,
Sớm tỉnh trì tâm chống quỉ tà.
Dõi gót theo Thầy nương Phật cảnh,
Vui vầy xem hội, hội Long-Hoa.
Long-Hoa Tiên-Phật đáo ta-bà,
Lừa lọc con lành diệt quỉ ma.
Nếu mãi mê-mang mùi tục lụy,
Linh hồn chìm đắm chốn nê-hà.
Lòng Thầy chua xót ruột Thầy đau,
Nghe được lời khuyên tỉnh với nào !
Kiếm huệ dứt xong rồi quả báo,
Lo gì cửa Phật chẳng chen vào.
Cuộc trần, ôi quá khổ !
Trường đỏ đen là chỗ nhuốc-nhơ.
Biết bao người vì nó phải bơ-vơ,
Sự nghiệp hết gia-đình tan nát.
Sớm tỉnh ngộ lên đường giải-thoát,
Lánh xa trường đổ bác chớ chen chân.
Nếu lỡ cơ mua tảo bán tần,
Thân-trí cực, nợ lần-khân chẳng dứt.
Chi cho bằng:
Qui y thì khá làm y,
Giữ lòng thanh-tịnh từ-bi giúp đời.
Bạc-liêu, 6-3 Nhâm-Ngũ (20-4-42).
Cho ông Cò tàu Hảo (Sàigòn)
Nam-Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật,
Cung kính Phật, cung kính Pháp, cung kính Tăng.
Tam qui ngũ giái lòng hằng gìn theo,
Chúc ông thoàn nhã vững lèo.
Qua bờ giác ngạn sớm treo gương mầu.
Nơi cõi tạm sông sầu bể khổ,
Làng ngựa xe cám dỗ tao-nhân.
Gây ra lắm nợ phong-trần,
Luân-hồi sáu nẻo khôn lần bước ra.
Rày tỉnh ngộ ái hà quyết dứt,
Đèn đạo tâm sáng rực soi đường.
Cầu tu cho đạt ngũ-hương,
Huơi gươm trí-huệ Ma-vương hãi-hùng.
Làm cho chúng phục tùng chơn-lý,
Trong sắc-thân giám-thị lục căn.
Đừng cho chúng tính lăng-quằng,
Ngoài thì chấp thủ mà ngăn lục trần.
Phá ngũ uẩn rứt lần tham ái,
Cội sân-si cũng phải tảo trừ.
Đem về giác tánh chơn-như,
Kim thân thị hiện dứt trừ tử sanh.
Ðem tâm hồi hướng gốc lành,
Làm tôi Phật-Tổ chí thành chí chơn.
Dầu mắc phải mưa đơn gió kép,
Cũng chuyên trì mà dẹp gai chông.
Ngày nào đắc được lục thông,
Vớt hồn cha mẹ, tổ-tông bảy đời.
Về Cực-Lạc thảnh-thơi an dưỡng,
Ấy là ngày ban thưởng công tu.
Chúc cho đó vẹt mây mù,
Vững-vàng bất thối công-phu vuông tròn.
Đến ngày biển cạn non mòn,
Tứ ân đã trả chẳng còn tội căn.
Nay ông nhập tự làm tăng,
Trước sau tuy khác thiện-căn vẫn đồng.
Lắng tai nghe được tin hồng,
Tờ hoa ít chữ gọi lòng chia vui.
Bạc-liêu, ngày 25-4 Nhâm-Ngũ (8-6-42)
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
CẢM TÁC
(Đức Thầy cảm tác viết bài nầy vì ông Nguyễn-văn-Ngọ ở Bạc-liêu nghi Ngài cản-trở việc ông ta muốn kết nghĩa thông-gia với ông ký Giỏi ở Bạc-liêu)
Ngồi mà ngẫm nghĩ chuyện xưa,
Thánh-Hiền chẳng biết sao vừa lòng dân.
Đem thân mà rứt nợ trần,
Nợ trần đâu khéo chần ngần chun ra.
Nhìn đời lụy muốn ứa sa,
Thế-gian đui tối nửa ma nửa người.
Muốn reo vang một tiếng cười,
Nhưng lòng chẳng nỡ khi người mê-si.
Đâu thông pháp-luật từ-bi,
Gán cho Tăng-Sĩ làm chi sự đời.
Con thuyền bát-nhã xa khơi,
Dầu cho sóng gió rã-rời cũng cam.
Thường nhơn là tánh tục phàm,
Biết đâu tội phước luận-đàm tương lai.
Tình trường đầy dẫy thi hài,
Lạ gì chẳng biết những bài học xưa.
Thánh-nhơn còn hỡi răn chừa,
Huống chi Phật-đạo tam thừa qui mô.
Sa-môn chí những tín-đồ,
Mai-vong cản mối tựa hồ gớm-ghê.
Một là gây nghiệp trần-mê,
Hai là tan-nát phu-thê một đời.
Lòng ta trong sạch người ơi,
Người sao chẳng xét luận lời phi ngôn.
Cờ nguy ngựa chốt đánh dồn,
Trước sau cũng chữ vong-tồn an nguy.
Tỏ lời tâm huyết lâm ly,
Mong ai ngộ nhận quyết-nghi duyên trần.
Trách lầm mang nghiệp vào thân,
Chỉn e vai-vác Thánh Thần chép biên.
Phận ta nối gót Phật Tiên,
Ngợi khen cũng mặc điêu huyền cũng hay.
Thương đời phải chịu đắng cay,
Thân danh chẳng quản, chông-gai chi sờn.
Ít ai nghe rõ giọng đờn,
Của người rứt bỏ oán ơn cõi phàm.
Ngày hằng giái ngũ qui tam,
Sắc không, không sắc tánh phàm đổi thay.
Chẳng qua tai-ách những ngày,
Nên phần xác-thịt đọa đày trần-gian.
Lìa quê tách bước xa ngàn,
Gia-đình chẳng đoái còn màng chi ai.
Dốc tâm nguyện đến Phật-đài,
Hiệp cùng chư Phật độ rày chúng-sinh.
Nện vang một tiếng chuông linh,
Cho người trong mộng biện minh lẽ nào.
Gẫm cuộc thế chẳng qua tuồng mộng-ảo,
Cuộc truy-hoan thường giết khách tài-hoa.
Nghe chuông linh sớm dứt bể ái-hà,
Kẻo vật-dục cuốn lôi vào bể-khổ.
Ví dầu lập chữ công-danh,
Đến khi rốt cuộc cũng đành thả trôi.
Lá úa vàng nó rụng người ôi!
Muôn năm mới có một thời,
Tới kỳ hiệp (1) hội Phật Trời định phân.
Con lành đều đủ nghĩa-nhân,
Cha là Phật, Thánh, Tiên, Thần phước dư.
Có đâu như thể bây chừ,
Loạn-luân cang-kỷ bất từ, bất lương.
Thân ta dầu lắm đoạn trường,
Cũng làm cho vẹn chữ thương nhơn-loài.
Ngày kia thỏa chí làm trai,
Tiếng lành như thể hương bay nực-nồng.
Bây giờ bờ bến chưa xong,
Dở-dang thời vận mà lòng chẳng nao.
Ngàn xưa mấy bực anh hào,
Nằm gai nếm mật dạ nào trách than.
Trượng-phu chí cả dọc-ngang,
Dạo trong bốn biển mới trang Thánh-Hiền.
Làm cho kẻ bạo ngửa-nghiêng.
Đạo lành mở cửa nơi miền Nam-bang.
Tiếng đờn hò liếu cống xang,
Đêm khuya khuyên nhủ khắp tràng chúng-sanh.
Thu còn gặp lúc trăng thanh,
Vang lời thỏ-thẻ như cành ghẹo chim.
Thấy trong người ấy thanh-liêm,
Tỏ bày tâm sự rán tìm cho ra.
Bồi-hồi chợt tỉnh Nam-kha,
Đường danh nẻo lợi xem ra ích gì.
Trời thu ảm đạm ai-bi,
Nạn tai vương-vấn bởi vì Trời riêng.
Thảm thương lê-thứ ưu phiền,
Chớ lòng đâu có lo riêng nỗi mình.
Mờ mờ tỏ tỏ xinh xinh,
Đêm nay bóng nguyệt như rình xem ta.
Miệng cười ta bảo Hằng Nga,
Làm ơn rọi chữ "San-Hà" nơi đâu,
Gẫm trong cõi tạm nhiệm mầu,
Ngặt mang xác thịt khó hầu cao bay.
Chữ tài thường gặp chữ tai,
Trớ-trêu tạo-hóa ông bày trò chua.
Ta nào có muốn tranh đua,
Vun trồng cội phúc chờ mùa trổ bông.
Bay mùi thơm cả Tây-Đông,
Bắc, Nam nhơn-vật Lạc-Hồng thảnh-thơi.
Tâm hồn hoài cảm nơi nơi,
Gẫm người hữu chí đôi lời cám ơn.
Bạc-liêu, ngày 29 tháng 6 Nhâm-Ngũ (1942)
(1) Có chỗ chép: Tới kỳ lập hội. .
Còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
BUỒN
Buồn thay chư Phật ẩn non đoài,
Buồn biết bao giờ trở gót hài.
Buồn thấy chúng-sanh đa xót cảm,
Buồn lo trăm họ nghiệp gây hoài.
Buồn đời lưu-lạc trong u tối,
Buồn thế gian-nan suốt cả ngày.
Buồn buổi cạnh tranh e hoãn đạo,
Buồn dân ngu-muội ghét người ngay.
TỦI
Tủi sầu Phật giáo ở non Tần,
Tủi phận môn-đồ quá tối-tân.
Tủi cuộc hôn-nhơn bày trước Phật,
Tủi cơ-nghiệp báu phế nguồn ân.
Tủi thay ai tạo trò vô lý,
Tủi bấy lấp nguồn đạo hữu chân.
Tủi hổ trông nhìn người dối thế,
Tủi duyên ác-cảm đắm hồng trần.
Bạc-liêu, ngày 29 tháng 6 Nhâm-Ngũ (1942)
Gởi Bác-Sĩ CAO TRIỀU-LỢI ở Bạc-Liêu
(để cảm tạ ông nầy chữa bịnh cho Đức Thầy mà không lấy tiền thuốc)
Gởi ít hàng thăm ông bác-sĩ,
Cầu chúc ông phước chỉ được lai tăng.
Cuộc thế trần nhiều đoạn khó-khăn,
Nên lôi kéo bần-tăng vào cảnh ngộ.
Xuống Bạc-liêu chưa bao nhiêu độ,
Bỗng ruột tằm quằn-quặn rứt đau.
Phần thương dân phổi héo gan xào,
Ngồi, đi, đứng, nằm lăn-lóc mãi.
Cũng nhận được trần-hoàn là khổ hải,
Dốc tầm đường phóng giải cho thân tâm.
Dìu nhơn-sanh khỏi chốn mê lầm,
Bờ giác ngạn kiên tâm lần bước tới.
Hoàn-cảnh chẳng gặp hồi lai thới,
Ẩn-nhẫn hoài chờ đợi vận hanh thông.
Để đem phô trí óc với gan lòng,
Đền-đáp lại cuộc chờ trông ngoài ngõ.
Cũng rất thẹn bịnh đau vò-võ,
Tuy thuốc dùng chẳng tuyệt được cơn đau.
Chớ ơn ông đâu dễ quên nào,
Muốn đáp lại lấy chi mà đền đáp?
Nếu ông có vui lòng dung-nạp,
Tỏ vài hàng gọi đáp ân nhau.
Phần phước duyên nguyện để về sau,
Khi thong-thả sẽ đến trao lời cảm tạ.
Cám ơn ông tặng thuốc Tây-phương,
Khâu giúp bần tăng khúc đoạn trường.
Nhưng bịnh trầm-ưu nên chẳng mạnh.
Nợ cùng bách tính hỡi còn vương.
Vương-vấn trong vòng cương tỏa ấy,
Lòng nào mà chẳng xót thương chung.
Bao giờ đạo pháp ta thông đạt,
Quyết cứu sanh-linh cảnh não-nùng.
Thôi cũng an lòng nơi số phận,
Đợi chờ vận tới sẽ tuông mây.
Về trên thượng-giới đền Kim-khuyết,
Tâu lại trần-gian cớ sự nầy.
Bạc-liêu, ngày 18-7-42 (Nhâm-Ngũ)
Cho thằng TÂN
(Tân là cháu ngoại ông Võ-văn-Giỏi ở Bạcliêu)
Nghe lời ông dạy hỡi con Tân!
Học tập muốn nên phải rán cần.
Chớ có biếng lười theo lũ trẻ,
Ắt đòn bể đít hỡi con Tân!
Con Tân có tật đái dầm,
Bời vì biếng nhác mê tâm quen đời
Quen đời tuổi đã hai tư,
Mà còn chẳng bỏ thói hư thói hèn,
Muốn cho cha mẹ ngợi-khen,
Từ rày nên rán tập rèn cho siêng.
Ông bà có sẵn của tiền,
Lại thường làm ruộng phước-duyên để dành.
Lớn lên ăn ở cao-thanh,
Biết yêu, biết quí, điều lành nghe con!
Bạc-liêu, ngày 3-7 Nhâm-Ngũ (14-8-42)
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
HOÀI CỔ
Bình tâm cất bút tỏ lời [1],
Xét xem hai chữ vận thời còn xa.
Liếc nhìn thế-giới can qua,
Ngàn muôn binh tướng xua ra chiến trường.
Dốc lòng tranh bá đồ vương,
Đeo câu danh-lợi lấp đường nghĩa-nhân.
Gieo điều tàn-khốc cho dân,
Khiến lòng Tăng-Sĩ bâng-khuâng lo lường.
Tiếc thay đạo-nghĩa luân-thường,
Thánh-nhơn đã vạch sẵn đường từ xưa.
Để cho quân-tử lọc-lừa,
Ở ăn hợp lẽ rán chừa tiểu nhân.
Trên vua minh chánh cầm cân,
Dưới quan liêm-tiết xử phân công-bình.
Quyền cha quản xuất gia-đình,
Dạy con phải phép vẹn gìn hiếu trung.
Từ ngày cách mặt cửu-trùng,
Thay đời đổi cách bất tùng Thánh-Tiên.
Bút lông đẹp với dĩa nghiên,
Thế vào bút sắt cùng viên mực tròn.
Lần lần thế đạo suy mòn,
Nền xưa nếp cũ, hỡi còn mấy ai.
Nên ta thở vắn than dài,
Cúi đầu lạy Phật niệm hoài mấy câu.
Dứt trần mang bộ sồng nâu,
Trông ngày chư quốc chư hầu tỉnh tâm.
Đừng gây chinh-chiến ù ầm.
Để gây hạnh-phúc mà tầm Phật Tiên.
Ta-bà thật cảnh ưu phiền,
Duyên trần cấu kết oan khiên báo đền.
Thiều-quang thấm-thoát dường tên,
Mắc vòng sanh-tử có bền được đâu.
Chi bằng theo học đạo mầu,
Sớm qua khổ hải theo hầu Phật Tiên.
Tham chi giả tạm của tiền,
Như chim vào lưới xích-xiềng trói thân.
Tính xong món nợ lần-khân,
Thoát vòng cương tỏa pháp-thân nhẹ-nhàng.
Tiêu diêu đạo đức luận bàn,
Vân du võ-trụ thanh-nhàn biết bao.
Bạc-liêu, năm Nhâm-Ngũ (1942) ( Hiệu chính: [1] ấn 1966 bản ghi:
“Bình tâm cất bút tõ lời”.)
DỤNG KINH-QUYỀN
Hỡi ôi! Trời đất mấy muôn trùng,
Muốn dụng kinh-quyền đạt hiếu trung.
Ngặt nỗi thân phàm vương-vấn nạn,
Trường thi chưa mở trống chưa thùng.
Trống chưa thùng sĩ-tử vẫn chờ trông,
Mong ngóng mau mau thấy mặt rồng.
Bảng-hổ danh đề tên chí-sĩ,
Đem tài thao-lược giúp non sông.
Giúp non-sông trong lúc chịu gian-truân,
Thảm-lệ tràn tuôn mãi chẳng ngừng.
Mịt mịt mờ mờ mưa gió đạn,
Phong-trần đày-đọa mấy mươi xuân.
Mấy mươi xuân vắng chúa, trông hoài,
Thân gởi nơi người nợ chẳng vay.
Trời đất lẽ nào không xét đến,
Để cho dân Việt khổ lâu dài.
Khổ lâu dài nay sắp mãn hay chưa,
Cầu nguyện Phật trời gội móc mưa.
Kíp mở Long-Hoa xây máy tạo,
Cho dân Hồng-Lạc thọ ân thừa.
Thọ ân thừa mà được cảnh nhàn an,
Trăm họ đầu đê trước Thánh-Hoàng.
Nguyện giữ cang-thường gìn Phật-đạo,
Giao-hòa mãi mãi với lân-bang.
Với lân bang sẽ dứt mối thâm thù,
Trên dưới một lòng chí nguyện tu.
Chẳng dám trễ-bê đường đạo-đức,
Đặng mong chẳng vướng cảnh ao-tù.
Cảnh ao-tù giờ vẫn phải còn mang,
Nặng triệu trên đầu héo ruột gan.
Chí dốc thoát-ly vòng xích tỏa,
Cầu trên Thánh-chúa vững ngai vàng.
Chúa vững ngai vàng sãi mới yên,
Rời ngay cảnh tục trở về tiên.
Chẳng còn tham-luyến nơi trần-thế,
Vì cả thế-gian hết não phiền.
Bạc-liêu, năm Nhâm-Ngũ (1942)
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
RỨT CÁI NGU ĐẦN
Vướng nghiệp trần-hoàn bởi quả nhân,
Gây ra kiếp số chịu phong-trần.
Nay nhờ đuốc huệ soi đường tối,
Đặng rứt cái ngu lẫn cái đần.
Muốn bán cái ngu lẫn cái đần,
Ngu đần cả nước lẫn cùng dân.
Sớm lo lòn cúi chiều ăn ngủ,
Nào biết liệu toan gỡ nợ-nần.
Nợ-nần tiên-tổ gây nên,
Con cháu ngày nay phải báo đền,
Đành thế, nhưng vừa lời với vốn,
Lẽ gì chịu dại trả ngông-nghênh?
Bạc-liêu, năm Nhâm-Ngũ (1942)
NHỮNG CÂU CHÚ THƯỜNG NIỆM
Thấy trong quyển "Tăng đồ nhà Phật" có chép những câu chú mà xưa kia các vị "tì theo" và "tì kheo ni" thường đọc trong những công chuyện thường ngày, Đức
Thầy lúc còn ở Bạc liêu, bèn dịch mấy câu chú nầy bằng lối thơ vần.
Dưới đây là những câu chú bằng hán văn và phạn văn, kế đó là những bài của Đức Thầy dịch lại:
Thùy miên thỉ ngộ,
Đương nguyện chúng-sanh.
Nhứt thiết trí giác,
Châu cố thập phương.
Như tôi tỉnh giấc lúc bình minh,
Chí nguyện cầu cho cả chúng-sinh.
Tâm trí khai thông cùng tỉnh táo,
Mười phương đều rõ máy anh linh.
Đại tiểu tiện thời,
Đương nguyện chúng-sanh.
Khí tham, sân si,
Quyên trừ tội pháp.
(Án ngận lỗ đà da tá ha!)
Cũng như tôi tiểu tiện ra,
Nguyện cầu sanh-chúng tống ra khỏi mình:
Tham-lam, gây-gổ, si tình,
Khỏi điều tội-lỗi nhẹ mình cao bay.
Sự ngật tựu thủy,
Đương nguyện chúng-sanh.
Xuất thế Pháp trung,
Tốc tật nhi vãng.
Việc xong rồi đến tôi dùng nước,
Cũng như tôi lấy nước nầy ra.
Nguyện chúng-sanh xuất khỏi ta-bà,
Nhờ đạo-pháp lướt qua mau chóng.
Tẩy dịch hình uế,
Đương nguyện chúng-sanh.
Thanh tịnh điều nhu,
Tất kiến vô tất.
Như tôi rửa sạch khỏi dơ mình,
Chí nguyện cầu cho cả chúng-sanh.
Đắc được thân tâm thanh tịnh lạc,
Điều hòa chẳng nhiễm nghiệp mê-linh.
Dĩ thủy quán chưởng,
Đương nguyện chúng-sanh.
Đắc thanh tịnh thủ,
Thọ trì Phật-pháp.
(Án chủ ca ra da tá ha!)
Lấy nước tôi rửa sạch tay,
Nguyện cầu sanh-chúng được tay thơm lành.
Ngõ hầu nắm pháp vô sanh,
Giữ-gìn lời Phật ban hành từ xưa.
Dĩ thủy tẩy diện,
Đương nguyện chúng-sanh.
Ðắc tịnh pháp-môn,
Vĩnh vô cấu nhiễm.
(Án lam tá ha!)
Lấy nước rửa sạch mặt mày,
Tôi nguyền sanh-chúng đắc rày pháp-môn.
Lặng yên trong cõi trường tồn,
Chẳng hề tiêm nhiễm tục hồn bợn nhơ.
Thấu khẩu liên tâm tịnh,
Dẫn thủy bá hoa hương.
Tam nghiệp hằng thanh tịnh,
Đồng Phật vãng Tây-Phương. (Án hám án hản tá ha!)
Súc miệng tôi cũng lóng lòng,
Ngậm nước như ngậm trăm bông đủ mùi.
Cầu tịnh ba nghiệp xong xuôi,
Tây-Phương quyết đến chung vui Phật-đài.
Thủ chấp xát nha,
Đương nguyện chúng-sanh.
Giai đắc diệu pháp,
Cứu cánh thanh-tịnh.
Tay tôi cầm lấy xát nha,
Nguyện cầu sanh-chúng gặp khoa diệu-mầu.
Thảy đều thấy lý cao sâu,
Đến nơi yên tỉnh tột sâu vô ngằn.
Trước hạ quần thời,
Đương nguyện chúng-sanh.
Phục chư thiện căn,
Cụ túc tàm hủy!
Cũng như tôi mặc quần đây,
Đặng cho phần dưới khỏi thây lõa-lồ.
Nguyện chúng-sanh điểm-tô điều thiện,
Lấy việc lành che chuyện xấu-xa.
Nhược trước thượng y,
Đương nguyện chúng-sanh.
Hoạch thắng thiện căn,
Chí pháp bỉ-ngạn.
Như tôi mặc áo trên vào,
Nguyện cầu sanh-chúng trùm bao gốc lành.
Trổi bước tìm cuộc vô sanh,
Đến nơi sáng-suốt tịnh-thanh Niết-Bàn.
Chỉnh y thúc đái,
Đương nguyện chúng-sanh.
Kiểm thúc thiện căn,
Bất linh tán thất.
Như tôi gài áo buộc ràng dây,
Cầu nguyện chúng-sanh khắp cõi nầy.
Buộc chặt căn lành vào thể-phách,
Chẳng lo thất lạc đổi cùng thay.
Nhược đắc kiến Phật,
Đương nguyện chúng-sanh.
Đắc vô ngại nhãn,
Kiến nhứt thiết Phật.
Như tôi được thấy Phật đây,
Nguyện cầu sanh-chúng đắc rày nhãn-quan.
Mắt thông dòm suốt khắp ngàn,
Nhìn thấy chư Phật thập phang đại đồng.
Pháp-vương vô thượng tôn,
Tam giái vô luân thất;
Thiên nhơn chi đạo sư,
Tứ sanh chi từ phụ.
Ngã kim tạm qui y,
Năng diệt tam kỳ nghiệp.
Xưng dương nhược tán thán,
Ức kiếp mạc năng tận.
Ngài là vua Pháp tột cao,
Khắp trong ba cõi chẳng sao sánh tày.
Tiên, người đồng kính đạo Thầy,
Cha lành hết cả bốn loài chúng-sanh.
Nay tôi qui mạng thiệt hành,
Ngõ mong trừ dứt nghiệp sanh ba đời.
Tỏ ra khen ngợi những lời,
Dầu cho ức kiếp chẳng nơi nào cùng.
Thiên thượng thiên hạ vô như Phật,
Thập phương thế giái diệc vô tỷ.
Thế-gian sở hữu ngã tân kiến,
Nhứt thiết vô hữu như Phật giả.
Trên dưới trời chẳng ai bằng Phật,
Khắp mười phương hẳn thật khó so.
Dòm trong cõi thế rộng to,
Một người khó kiếm sánh đo cùng Ngài.
Năng lễ, sở lễ, tánh không tịch,
Cảm ứng đạo giao nan tư nghị.
Ngã thử đạo tràng như đế châu,
Thập phương chư Phật ảnh hiện trung.
Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền,
Đầu diện tiếp túc qui mạng lễ.
Sự lạy Phật vốn không yên tĩnh,
Đạo cảm-giao khó tính khôn bàn.
Nay tôi ở trong đạo tràng,
Cũng như kết chặt vào đoàn ngọc-châu.
Mười phương Phật hiện bầu hình ảnh,
Có bóng tôi cũng sánh các Ngài.
Từ chơn cho chí mặt mày,
Cúi đầu làm lễ nguyện rày qui y.
Phật quan nhứt bát thủy,
Bát vạn tứ thiên trùng.
Nhược bất trì thử chú,
Như thực chúng-sanh nhục. (Án phạ tất ba ra ma ni tá ha!)
Phật thấy chén nước có trùng.
Bốn ngàn tám vạn muốn dùng cho tinh.
Nếu không trì chú niệm kinh,
Khác nào ăn thịt chúng-sinh hằng-hà.
Nhược kiến không bát,
Đương nguyện chúng-sanh.
Cưú cánh thanh-tịnh,
Không-vô phiền-não.
Như tôi thấy chén không,
Cầu nguyện chúng-sanh đông.
Đến tận bờ thanh-tịnh,
Phiền não vẫn không không.
Nhược kiến mãn bát,
Đương nguyện chúng-sanh.
Cụ túc thạnh mãn,
Nhứt thiết thiện pháp.
Bằng như tôi thấy bát đầy đây,
Cầu nguyện chúng-sanh khắp cõi nầy.
Chứa được đủ no thêm vẹn-vẽ,
Pháp lành các món cũng về đây.
Thiện tai giải-thoát phục,
Vô thượng phước điền y.
Ngã kim đảnh đái thọ,
Thế thế bất xả ly!
(Án tất đà da tá ha!)
Lành thay y phục thoát trần,
Khác nào thửa ruộng tột phần tốt tươi.
Cúi đầu đội nó trên người,
Thề nguyền kiếp kiếp đời đời chẳng phai.
Thiện tai giải-thoát phục
Vô thượng phước điền y.
Ngã kim đảnh đái thọ,
Thế thế thường đắc phi. (Án độ ba độ ba tá ha!)
Lành thay y-phục thoát trần,
Khác nào thửa ruộng tột phần tốt tươi.
Cúi đầu đội nó trên người,
Thề nguyền được mặc đời đời chẳng phai.
Thiện tai giải-thoát phục,
Vô thượng phước điền y.
Phụng trì Như-Lai mạng,
Quảng độ chư chúng-sanh.
(Án ma ha ca bà, ba tra tất đế ta ha!)
Lành thay y-phục thoát trần,
Khác nào thửa ruộng tột phần tốt thay.
Nguyện theo mạng lịnh Như-Lai,
Mở lòng rộng-rãi độ rày chúng-sanh.
Nguyện thử chung thinh siêu pháp-giái,
Thiết vi u-ám tất giai văn.
Văn trần thanh-tịnh chứng viên thông,
Nhứt thiết chúng-sanh thành chánh-giác!
Nguyện tiếng chuông lành thông các cõi,
Thiết vi địa-ngục cũng nghe rành.
Nghe rồi thân tịnh tâm tròn sáng,
Tất cả chúng-sanh Phật đạo thành!
Văn chung thinh phiền-não khinh,
Trí-huệ chưởng bồ-đề sanh.
Ly địa-ngục xuất hỏa khanh,
Nguyện thành Phật độ chúng-sanh. (Án đà ra đế dạ ta bà ha!)
Nghe chuông phiền não tiêu tan,
Bồ-đề tâm mở trí toan huệ mầu.
Lìa xa địa-ngục thảm sầu,
Khỏi nơi hầm lửa đặng cầu chơn tâm.
Nguyện tu thành Phật chẳng lầm,
Độ trong sanh-chúng hết lâm tai nàn!
Thủ chấp tịnh bình,
Đương nguyện chúng-sanh.
Nội ngoại vô cấu,
Tất linh quang khiết!
(Án thế dà rô ca sất ta ha,
Án phạ tất ra thí dà lô sất mạng sất tá ha!)
Tay tôi cầm lấy tịnh bình,
Nguyện cầu thân thể chúng-sanh trong ngoài.
Đều không nhiễm trược trần ai,
Sạch tinh sáng láng tắc lai diệu huyền!
Bạc-liêu, tháng 7 năm Nhâm-Ngũ.
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
CHO CÔ HAI GƯƠNG (CẦN-THƠ)
Thầy thương đệ-tử ngẩn-ngơ sầu,
Vẫn biết công-phu con dãi-dầu.
Nhưng nỗi tiền-khiên gây lắm nợ,
Đời nầy trả dứt mới mong cầu.
Mong cầu gặp Phật hội Long-Hoa,
Con rán trì tâm niệm Phật-Đà.
Xét lại xác Thầy xưa cũng hoại,
Thân phàm bỏ lại thế-gian mà!
Đến hội trăm quan còn hiện được,
Thì ra xác thịt có cần đâu?
Khuyên con nghĩ cạn đừng ưu-lự,
Mượn chước huyền-cơ giải mạch sầu.
Ví Thầy xác thể phải còn đau,
Hà huống chi con tránh được nào?
Quả dữ trả rồi nhân thiện đến,
Nếu Thầy đắc đạo bỏ con sao?
Đường xá xa xuôi Thầy nguyện cầu,
Phật Thần ban rải huệ linh mầu.
Cho con yên-ổn thân đôi chút,
Chớ dễ nào Thầy quên trẻ đâu!
Bạc-liêu, 24-8 Nhâm- Ngũ (3-10-42)
CHO CÔ NĂM VÕ-THỊ-HỢI Ở BẠC-LIÊU
Hãy rán tu tâm dưỡng tánh lành,
Đừng cho ma nghiệp vọng tâm-sanh.
Quay về cội phúc đường chân đạo,
Phật-pháp thiền-na dốc thực hành.
Chớ nhiễm trần-hoàn đượm phấn son,
Chiêm-bao cuộc thế chẳng thường còn.
Chi bằng nhớ lại câu hồng thệ,
Tỉnh ngộ nghe Thầy dạy hỡi con!
Hỡi con! Đời tục rất hôi tanh,
Trí-huệ trau-giồi kiếm nẻo thanh.
Mãn kiếp hồng-trần sanh Lạc-quốc
Hưởng công niệm Phật rất yên lành.
Thầy thấy con nay đắm cõi trần,
Đường tu lơ-lảng chẳng ân-cần.
Thương thay công quả tu từ trước,
Lại muốn bỏ đành gốc thiện nhân!
Chẳng sớm về nhà lo sám-hối,
Cầu trên Phật-Tổ giải mê-căn.
Ắt là hồn trẻ còn chi nữa (1),
Ðịa-ngục trầm-luân cách thượng tằng.
Sàigòn, ngày 23-12-42 (16-11 Nhâm-Ngũ).
(1) Quả thật cô nầy sau chết tại nhà thương Biên-hòa năm 1945.
Những bài sáng-tác năm Quí-Mùi và năm Giáp-Thân
(1943 - 1944)
HỎI PHỖNG ĐÁ (Cổ thi)
Ông đứng làm chi đấy hỡi ông?
Trơ trơ như đá vững như đồng.
Giữ gìn non nước cho ai đó?
Dâu bể cuộc đời có biết không?
PHỖNG ĐÁ TRẢ LỜI
Ông đứng đây cho chúng biết ông,
Kêu lên một tiếng tợ chuông đồng.
Khắp trong thiên-hạ đều lai tỉnh,
Bước xuống thuyền từ đến cửa không.
Đứng chờ thờ-vận đến cho ông,
Rải Đạo huyền-vi khắp Đại-Đồng.
Bao bọc non Hồng cùng nước Lạc,
Việc đời cũng biết chớ sao không?
Đứng chờ Đại Chúng trọng tôn ông,
Dựng cuộc hòa-minh khắp Đại-Đồng.
Mao-việt giang-sơn bờ cõi vững,
Đuổi loài Phiên-tặc lội về không.
HỒNG-VÂN CƯ-SĨ (biệt hiệu của Đức Thầy) Sàigòn, năm 1943.
CHO ÔNG ĐỖ-VĂN VIỄN
Sắp Ðổi Đi Làm Việc Xứ Xa
Ngàn dậm đường xa cách ải quan,
Chúc nguyền đệ-tử được bình-an.
Mong trời nhỏ phước cho dân thiện,
Vô bịnh, vô ưu, muôn việc nhàn.
Đó rán trì lòng ẩn-nhẫn qua,
Thì-giờ hạnh-phúc có đâu xa.
Ngày nay sư-đệ tuy xa-cách,
Trời Phật ban cho sẽ hiệp-hòa.
Cơn nầy thế-giới lắm phong-ba,
Lừa-lọc con tiên diệt quỉ tà.
Phú có cao-đàng phân kẻ bạo,
Cho người lương-thiện khỏi xông-pha.
Non nước tuy xa đâu cũng trời,
Cũng Trời, cũng Phật, cũng an nơi.
Một tâm chí nguyện cho tròn đạo,
Lòng chớ lo chi sự đổi dời.
Sàigòn, năm 1943
CHO BÀ NĂM CÒ Ở SÀIGÒN
Ngọn gió thiền môn cuốn bụi hồng,
Lợi danh hai chữ mắt lờ trông.
Nương theo đuốc huệ tầm chơn-lý,
Lóng tiếng từ-bi diệt dục lòng.
Tỉnh ngộ đã nghe lời Phật thuyết,
Thoát mê suy nghiệm lẽ huyền thâm.
Mau chơn bước đến Long-Hoa hội,
Chầu Phật hòa vui cõi Đại-Đồng.
Sàigòn, năm 1943
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
GỌI ĐOÀN
Hỡi anh em trong nhà Nam-Việt !
Nhớ nước ta hùng liệt thuở xưa.
Ngàn năm Bắc địch vày bừa,
Mà còn đứng dậy tống đưa quân thù.
Hồn chiến-sĩ ngàn thu rạng tỏ,
Gương anh-hào chói đỏ như châu.
Non sông thanh bạch một bầu,
Ngọn cờ độc-lập bay hầu khắp nơi.
Lịch-sử cũng rạng ngời mấy đoạn,
Lắm anh-hùng hảo-hán xuất thân.
Sanh vi tướng tử vi thần,
Câu châm ngôn ấy truyền lần đến nay.
Tới Nguyễn-trào sa tay một phút,
Lũ Tây-dương bòn rút mấy mươi năm.
Thương dân ruột tím gan bầm,
Rửa chưa xong hận còn căm mối hờn.
Nay chẳng lẽ ngồi đờn những bản,
Vong-quốc-ca cho bạn chung nghe.
Thôi thì ta hãy hiệp bè,
Cùng nhau đoàn-kết đặng khoe sức hùng.
Khắp Bắc, Nam đùng đùng một trận,
Ấy mới mong quốc-vận phản hồi.
Trước là dẹp lũ Tây bồi,
Sau đưa quốc-tặc qui hồi Diêm-cung.
Nếu nay chẳng vẫy-vùng cương-quyết,
Thì ắt là tiêu-diệt giống nòi,
Muôn năm chịu kiếp tôi đòi,
Thân người như thế còn coi ra gì?!
GỌI ĐOÀN THANH NIÊN
Hỡi thanh-niên trong nhà Nam-Việt,
Thanh-niên đừng mài-miệt truy-hoan.
Cùng nhau hiệp bạn vầy đoàn,
Luyện rèn thao-lược đặng toan báo cừu.
Cứu được nước danh lưu thanh-sử,
Noi tinh thần quân lữ Phù-Tang.
Lòng yêu tổ-quốc hoàn toàn,
Xông pha chiến địa gian-nan sá-gì,
Chớ có ngủ li-bì trong mộng,
Để dân ta mãi sống khốn cùng.
Á-đông súng nổ đùng đùng,
Thì ta cũng phải vẫy-vùng thoát-ly.
Đừng nhu-nhược mê-si tửu sắc,
Mà buông tha lũ giặc cùng đường.
Thanh-niên nghĩa-vụ phi thường,
Phận là phải biết yêu thương giống nòi.
Nay chẳng lẽ ngồi coi thắng bại,
Của cọp rồng trên giải đất ta.
Một mai cọp đã lìa nhà,
Biết rồng có chịu buông tha chăng cùng?
Vậy anh em phải chung lưng lại,
Dùng sức mình đánh bại kẻ thù.
Tỏ ra khí-phách trượng-phu,
Vung long-tuyền-kiếm tận tru gian thần,
Xưa nước đã bao lần khuynh đảo,
Được cứu nguy nhờ máu anh-hùng.
Hy-sinh báo quốc tận trung,
Đem bầu nhiệt huyết so cùng sắt gang.
Việt-Nam là giống Hồng-Bàng,
Muôn đời xa lánh tai-nàn diệt vong.
Sàigòn, năm 1943
“TẶNG ĐOÀN THANH-NIÊN ÁI-QUỐC”
Vừa nghe nói Đoàn Thanh-Niên ái-Quốc,
Lòng sĩ-tăng bổng bật sự vui say.
Âu là Trời đã sẵn bày,
Non sông chìm đắm có ngày phục hưng.
Khắp Á-Đông tưng-bừng náo-nhiệt,
Nô-nức nhau kiến-thiết quốc-gia.
Kẻ sang hải-ngoại về nhà,
Người trong tăng-lữ cũng là ước-ao.
Bấy lâu đã khát-khao tự-trị,
Thanh-Niên Đoàn chuẩn-bị xong chưa?
Chừng nào sức mạnh có thừa,
Diệt-trừ kẻ bạo cho vừa lòng dân.
Gương trung-nghĩa Thánh Thần cảm động,
Ắt có ngày mở rộng cơ-quan.
Từ Nam ra Bắc xa ngàn,
Nhưng lòng phải một mới toàn mưu hay.
Chừ dầu có đắng cay rán chịu,
Đợi cơ Trời kết-liễu thù chung.
Làm cho rõ mặt anh-hùng,
Làm cho địch-thủ rùng rùng bó tay.
Vậy mới đáng làm trai Nam-Việt,
Chen vai cùng hào-kiệt Phù-Tang.
Gánh-gồng bảo-bọc giang-san,
Giữ-gìn biên-cảnh bằng an đời đời.
Trăm họ mới thảnh-thơi nhàn-nhã,
Lo đắp-bồi văn-hóa ngàn năm.
Tham quan chừng ấy vắng tăm,
Mọt dân chừng ấy kiếm tầm đâu ra.
Đôi lời thô-kịch ngâm-nga,
Tặng viên Đoàn-Trưởng gọi là yêu nhau.
Sàigòn, năm 1943
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
NHẪN ĐỢI THỜI CƠ
Vì có nhiều anh em bổn-đạo phân-vân về chỗ mùa hạ năm Quí-Mùi (1943) đã qua mà chưa thấy chuyện gì có thể cho là phù hạp với câu:
"Qua năm dê đến lúc mùa hè. Trong bá tánh biết ai hữu chí"
nên Đức Thầy có làm mấy bài thi dưới đây:
Bay hồn khiếp vía kể từ đây,
Nhắn gởi cho ai vội trách Thầy.
Trời hạ năm dê chưa nữa nữa,
Tuần-huờn máy tạo cũng lần xây.
Lần xây thiện-tín rõ chơn Thầy,
Chớ nóng tánh phàm chớ vội quây.
Ngày lụn tháng qua năm sẽ đến,
Trẻ già sẽ thấy cái hay hay.
Hay hay nam-nữ thỏa lòng khuây,
Nếu chẳng thì ra lại trách Thầy.
Muốn sớm tạn nhìn e úa rụng,
Trì tâm tu niệm để rồi đây.
Rồi đây úa rụng xót lòng thay,
Uổng tiếc công-trình bấy đến nay.
Có khó mới khôn, khôn rảnh khó,
Gìn tâm thiện niệm bớ râu mày.
Râu mày biết giữ đạo tâm chay,
Đắc quả thành công cũng có ngày.
Thất-Tổ Cửu-Huyền nơi chín suối,
Những mong hậu tấn biết tâm chay.
Tâm chay hậu tấn rán tu thân,
Bến giác chẳng xa cũng chẳng gần.
Trời Phật thương người lo độ tận,
Muốn lo giải-thoát phải tu thân.
Tu thân thiện-tín phải chuyên cần,
Lục-tự Di-Đà giữ Tứ Ân.
Rán nhẫn trăm phần dầu khó nhẫn,
Dạ thưa quan chức phận làm dân.
Làm dân bá nhẫn thị lương hiền,
Chữ nhẫn lời truyền Phật, Thánh, Tiên.
Gương trước Hớn,Tần, Hàn-Tín nhẫn,
Đã không khổ nhục khỏi ưu-phiền.
Ưu phiền trăm mối suốt canh thâu,
Thiện-tín chưa thông lẽ nhiệm-mầu.
Mãng sợ sông Ngân cầu lỗi nhịp,
Lo chi ô-thước chẳng xong cầu.
Xong cầu bờ giác bến sông mê,
Thế-sự nhân-sanh hết nhúng trề.
Đạo-pháp huyền-vi thâm diệu diệu,
Chẳng màng thế sự tiếng khen chê.
Sàigòn, năm Quí-Mùi (1943)
BÀ-RÁ
Bà-Rá mấy năm nhốt tội nhơn,
Hành-hà những kẻ mến giang-sơn.
Bao giờ cuộc thế xoay chiều mới,
Tháo củi tuông mây đặng rửa hờn.
Sàigòn, năm Quí-Mùi (1943)
ĐI CHƠI ĐÊM VỚI ÔNG LUẬT-SƯ MAI-VĂN-DẬU
Cùng ông thầy kiện đi chơi,
Hứng luồng gió mát thảnh-thơi tấm lòng.
Đi vừa giáp đặng một vòng,
Ngồi lại bàn đá ngó mong trên trời.
Sao một nơi, trăng một nơi,
Trời xinh cảnh lịch tuyệt vời như tranh.
Đi ngang bồn cỏ xanh xanh,
Ổng quên luật-lệ ổng đành bước lên.
Rầy ông, ông giả đò quên,
Phải mà có lính biên tên sổ cò.
Rồi đi nhiều nỗi quanh co,
Ngay đường khám lớn nhỏ to luận bàn.
Bỗng đâu một tiếng la vang,
Nắm tay ổng kéo chạy sang cạnh lề.
Ấy là tiếng "ách-ta-lê"(1),
Không đứng chỉnh-tề chúng bắn dập xương,
Sàigòn, mùa thu năm 1943
(1) Halte là! (Hiệu lịnh bảo đứng lại).
AN-ỦI MỘT TÍN-ĐỒ
Con thuyền bát-nhã sang sông,
Miệng ngoài gọi khách lòng trong ngại-ngùng.
Đã từng dựa kẻ nâu-sùng,
Cớ sao tâm trí còn tùng ngoại duyên.
Muốn lên tiên được cảnh tiên,
Nấc thang vinh-hạnh Thầy riêng cho mình.
Từ đây đến buổi thanh-bình,
Muôn người niệm Phật quả mình biết bao.
Trồng cây mà chẳng rấp rào,
Để cho gió lại tạc vào gốc lay.
Lòng người chẳng ớt mà cay,
Bị câu tài-sắc đổi thay khôn lường.
Một mai đến số vô-thường,
Công kia với tội có lường kịp chăng?
Sàigòn, năm 1943
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
NĂM GIÁP-THÂN (1944)
CHO CÔ KÝ GIỎI Ở BẠC LIÊU
Rày đã tu thân lánh bụi hồng,
Dạ đừng suy nghĩ chuyện minh-mông.
Để tâm yên tĩnh tầm chơn-lý,
Phổ cứu nhơn-sanh khắp đại-đồng.
Cô hai cô đã đi về,
Mà sao tâm não nhiều bề ưu tư.
Làm sao gỡ mối sầu tư,
Cho Thầy cho bạn cũng như cho mình?
Viết cho cô diệu ít hàng,
Chuối già ăn hết rõ ràng mười hai.
Nội nhà ngó thấy bằng nay,
Từ đây sắp đến không ai dám mời.
Tưởng ăn vài trái đố chơi,
Ai dè bao-tử là nơi kho tàng.
Sàigòn, năm 1944
ẠC-NÚC
Ạc-Núc từ khi đến đất nầy,
Giết đà vô số kẻ thù Tây.
Làm cho chí-sĩ nhà Nam-Việt,
Chẳng đội trời chung với lũ mầy.
ĐỜ-CU
Người Pháp bây giờ mới phục hưng,
Trẻ già múa nhảy tửng-từng-tưng.
Đờ-cu hội hiệp lăng-xăng xộn,
Đứa biểu đầu đi đứa biểu đừng.
Sàigòn, năm 1944
MUỐN LÁNH PHỒN-HOA
Muốn lánh phồn-hoa, lánh thị-thành,
Tìm nơi non thẩm ngõ mai danh.
Đợi cơ thiên-địa xây vần đến,
Chờ cuộc phong-lôi đổi vận lành.
Sớm hứng sương trong cùng vũ-trụ,
Chiều mong gió mát với trời thanh.
Xa nơi đa sự điều cao hạ,
Muốn lánh phồn-hoa lánh thị-thành.
Sàigòn, năm 1944
còn tiếp
Nam Mô A DI Đà Phật
-
NĂM ẤT-DẬU
(1945)
KHUYẾN NÔNG
Hỡi đồng-bào! Hỡi đồng-bào!
Thần chết đã tràn vào Trung-Bắc,
Ngày lại ngày siết chặt giống nòi;
Lật qua các báo mà coi,
Thấy con số chết xem mòi kinh nguy.
Cũng tại vì Tây-di bày kế,
Phá-hoại nền kinh-tế nước ta.
Làm cho điên-đảo sơn-hà,
Làm cho điêu-đứng con nhà Lạc-Long.
Bổng phút đâu cuồng phong một trận,
Quân Phù-Tang khai hấn bất kỳ.
Còn đâu mưu khéo giải vi,
Còn đâu hoãn kế trong kỳ viện binh?
Dầu những kẻ vô tình với nước,
Cũng tỉnh hồn mơ-ước tự-do.
Tiếng vang độc-lập reo hò,
Từ Nam chí Bắc nung lò khí thiêng.
Quyết phen nầy kết-liên một khối,
Đem máu đào tắm gội giang-san.
Giờ đây xem lại mùa-màng [1],
Năm rồi miền Bắc tan-hoang còn gì.
Chỉ có xứ Nam-Kỳ béo-bở,
Cơ-hội nầy bỏ dở sao xong.
Cả kêu điền-chủ phu-nông,
Đứng lên đừng để ruộng đồng bỏ hoang.
Muốn cứu khỏi tai nàn của nước,
No dạ dày là chước đầu tiên.
Nam-Kỳ đâu phải sống riêng,
Mà còn cung-cấp cho miền Bắc, Trung.
Quân-đội Nhựt cần dùng lương thảo,
Cũng phải ăn lúa gạo Nam-kỳ.
Ta còn ngần ngại nỗi chi,
Mà không cày cấy kịp thì hỡi dân?!
Điền-chủ phải một lần chịu tốn,
Giúp áo quần, giúp vốn thêm lên.
Muốn cho dân được lòng bền,
Mua giùm canh-cụ là nền khuếch-trương.
Giá mướn phải thường thường dễ thở,
Xử ôn-hòa niềm-nỡ yêu nhau.
Cùng chung một giọt máu đào,
Phen nầy hiệp sức nâng cao nước nhà.
Kẻ phu-tá cũng là trọng trách,
Cứu giống-nòi quét sạch non sông.
Một phen vác cuốc ra đồng,
Thề rằng ruộng phải được trồng lúa khoai.
Mưa nắng ấy đâu nài thân xác,
Chí hy-sinh dầu thác cũng cam.
Miễn sao cho cánh đồng Nam,
Dồi-dào lúa chín gặt đam về nhà.
Chừng ấy mới hát ca vui-vẻ,
Ai còn khinh là kẻ dân ngu.
Không đem được chút công-phu,
Không đem sức-lực đền-bù nước non.
Gởi một tấc lòng son nhắn-nhủ,
Khuyên đồng-bào hãy rủ cho đông.
Nắm tay trở lại cánh đồng,
Cần-lao, nhẫn-nại Lạc-Long tổ truyền.
Sàigòn, tháng tư năm Ất-Dậu (1945) ( Hiệu chính: [1] có ấn bản ghi:
” Giờ đây đem lại mùa-màng”).
ĐÍNH-CHÁNH
Gần đây lắm kẻ ngoa truyền,
Một bài sấm-ngữ nơi miền Hậu-giang.
Nói rằng: tháng tám tai nàn,
Tối-tăm trời đất tan-hoang cửa nhà.
Kẻ gần rồi đến người xa
Từ trong thôn dã đến ra thị-thành.
Hại cho quốc-kế dân-sanh,
Ruộng đồng tươi đẹp dân đành ngó lơ.
Thương thay những kẻ ngu khờ,
Lầm mưu gian-trá ngẩn-ngơ ưu-sầu.
Hỏi rằng: Sấm bởi nơi đâu,
Nói: "Ông Hòa-Hảo làm đầu truyền ra".
Buộc lòng tôi phải đính ngoa,
Cho trong toàn quốc gần xa được tường.
Chuyện ấy là chuyện hoang-đường,
Của bọn phá-hoại chủ-trương hại mình.
Anh em ta hãy đồng tình,
Nếu gặp "nắm óc" đem trình "Công-An".
Chúng ta giải-quyết lẹ-làng,
Đừng để chuyện huyễn tràn lan ra nhiều.
Ký tên: HÒA-HẢO
Sàigòn, tháng tư năm Ất-Dậu (1945)
Còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
YÊU NƯỚC
Yêu nước bao đành trơ mắt ngó,
Thương đời chưa vội ẩn non cao.
Quyết đem tâm sự tâu cùng Phật.
Coi lịnh từ-bi dạy lẽ nào.
Phụng-Hiệp, tháng tư Ất Dậu (1945)
Bài nầy Đức Thầy đọc tại Phụng-Hiệp lúc đi khuyến
nông; sau khi diễn thuyết, Đức Thầy hỏi câu nầy: "Tôi là
một nhà tu hành, lẽ thì vào chốn non cao, núi thẳm, tu tâm dưỡng tánh, cớ nào hôm nay lại xen vào chánh trị?!"
Không ai nói gì, Đức Thầy có vẻ buồn, cau chơn mày rồi ngâm bài thơ tứ tuyệt trên đây.
(Do theo lời ông Mai-Ngọc-Quế thuật lại).
HỒI CHUÔNG CẢNH TỈNH NHỮNG KẺ TRÔNG TÂY,
HẪNG-HỜ VỚI NẠN ĐÓI BẮC-KỲ
Nam-kỳ có một lũ hề,
Mày râu nhẵn-nhụi chuyên nghề buôn dân.
Nhờ ơn Mẫu-quốc vinh thân,
Giờ toan mua tảo bán tần nữa sao?
Dửng-dưng trước nghĩa đồng-bào,
Đói cơm khát nước trông vào thống tâm.
Làm ngơ, giả điếc, giả câm,
Tay ôm hủ bạc, mắt đăm đăm chờ.
Vái rằng: "Mẫu-quốc gặp cơ."
Trở qua Nam-Việt con thờ muôn năm.
Dầu con nay ở xa-xăm,
Chớ lòng thương nhớ đứng nằm không yên.
Trước kia "nước mẹ" xin tiền,
Của muôn trong túi con liền tuôn ra.
Ngày nay tuy chẳng lại qua,
Con cũng lén-lén cúng cha ít nhiều.
Đồng-bào con chết bao nhiêu,
Con để mặc kệ quạ diều bươi thây".
Ai ơi còn ước mơ Tây,
Mắt kia quá tối lại Thầy chữa cho.
SĨ-CUỒNG (biệt hiệu của Đức Thầy)
Tháng tư năm Ất-Dậu (1945)
CAI TỔNG CHÁNH (CÙ-LAO GIÊNG) xướng:
Giữ đạo từ lâu kín nhẹm mầu,
Để lòng tầm đạo biết nơi đâu.
Ngửa mong bái-ái từ-bi hóa,
Trông lượng ơn Thầy chỉ đạo sâu.
ĐỨC THẦY đáp họa
Kín nhẹm lòng nhơn ấy mới mầu,
Đức là đạo cả chớ nơi đâu?
Duyên lành sẵn có ơn trên hóa,
Bồi đắp nền nhơn đức lại sâu.
Long Xuyên, tháng 4 Ất Dậu 1945
(Ðức Thầy ứng khẩu đáp họa liền bằng cách đọc cho
một người tín-đồ chép vì lúc ấy Ngài đang dùng cơm).
"PHỤ-NỮ CA DIÊU"
Ngán thay bổn-đạo đàn bà,
Lắm lời điêu-xảo gần xa đều tường.
Làm cho hoen-ố Phật-đường,
Không rèn được đức khiêm-nhường từ-bi.
Tu còn ái-ố sân-si,
Tu còn nhiều tánh dị-kỳ trần mê.
Khó mong cửa Phật dựa kề,
Càng gần địa-ngục nhiều bề thảm thương.
Tỉnh tâm đốt nén tâm hương,
Nguyện rằng đệ-tử một đường lo tu.
Ăn-năn kẻo uổng công phu...!
Sa-đéc, ngày 28-7-45
(trong lúc Đức Thầy đi Khuyến-nông)
TẶNG THI-SĨ VIỆT-CHÂU
Thi-sĩ Việt-Châu tức là ông Nguyễn-xuân-Thiếp mà hầu hết anh em tín-đồ đều nghe danh. Là văn-sĩ kiêm thi-sĩ, ông Việt-Châu có viết một tập thơ xuất sắc, nhan đề "Lông ngỗng gieo tình" để kể lại đoạn tìnhduyên của Trọng-Thủy và Mị-Châu.
Trong khi cùng ngồi xe với Đức Thầy trên đường về Sàigòn, ông có trao cho Đức Thầy xem tập thơ ấy. Đức Thầy liền ngâm hai câu thơ dưới đây để phê bình gián-tiếp áng văn kiệt-tác của ông Việt-Châu.
"Mị-Châu ơi hỡi Mị-Châu,
Mê chi thằng chệt để sầu cho cha!"
Liền đó, Đức Thầy bảo ông Việt-Châu thử làm thi tả cảnh ngồi trên xe trên đường về Sài gòn. Thấy ông Việt-Châu nặn óc mãi mà không ra thơ, Đức Thầy liền ứng khẩu đọc bài dưới đây:
Xe về chở theo chàng thi-sĩ,
Bảo làm thi mãi nghĩ không ra.
Vậy mà giữa chốn phồn hoa,
Vang danh thi-sĩ hiệu là Việt-Châu.
Quen thói viết thơ sầu thơ cảm.
Không dìu dân hắc ám qua truông.
Ngâm nga giọng quá u buồn,
Làm cho độc-giả quay cuồng mê-ly.
Theo dõi gót từ-bi mấy bữa.
Phàm tâm kia đã rửa hay chăng?
Ðương cơn sóng dậy đất bằng,
Thi-nhân đứng ngó để tăng-sĩ làm.
Tăng-sĩ quyết chùa, am bế cửa,
Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha.
Đền xong nợ nước thù nhà,
Thiền môn trở gót Phật-Đà nam-mô.
Chừng ấy mới tịnh vô nhứt vật,
Bụi hồng trần rứt sạch cửa không.
Chuông linh ngân tiếng đại-đồng,
Ta-bà thế-giới sắc không một màu.
Sài-Gòn đến, trống lầu đã trở.
Đề-huề nhau cửa mở xuống xe.
Khuyến nông chấm dứt mùa hè...
Trên đường về Sàigòn, tháng 6 năm Ất-Dậu (1945)
còn tiếp
Nam Mô A DI Đà Phật
-
ĐI KHUYẾN NÔNG VỀ
Lìa Sài-gòn trong vòng hai tháng,
Khi lộn về tiệm quán tanh-banh.
Bởi chưng pháo lũy phi hành,
Quăng bom mù quáng tan-tành còn chi.
Động lòng của kẻ từ-bi,
Tây-Phương tấu lại A-Di Phật-Đà.
Rằng: bên thế-giới ta-bà,
Chúng-sanh tàn-sát cũng là vì tham.
Di-Đà mở cuộc hội-đàm,
Cùng chư Bồ-Tát quyết đam phép lành.
Tịnh bình rưới khắp chúng-sanh,
Làm cho giác-ngộ hiền lành như **ta.
Công-đồng hoạch-định san-hà,
Nước ai nấy ở nhà nhà tự-do.
Sàigòn, tháng 6 năm Ất Dậu (1945)
TỰ THÁN
Gió hiu-hắc bên rừng quạnh-quẽ,
Nhìn non sông đượm vẻ tang-thương.
Mối tình chủng-loại vấn-vương,
Thấy quân xâm-lược hùng cường căm gan.
Vừa toan rút gươm vàng ngăn giặc,
Bổng họa đâu gieo rắc bất-kỳ.
Cường quyền một lũ ngu-si,
Oan nầy hận ấy sử ghi muôn đời.
Truyền khắp nước muôn lời vu cáo,
Dùng trăm ngàn thói bạo hiếp dân.
Làm cho trong nước rẻ phân,
Làm cho giặc Pháp một lần sướng rang.
Vậy cũng gọi an bang định quốc,
Rồi rút lui bỏ mất thành trì.
Giống nòi nỡ giết nhau chi?
Bạng duật tương trì lợi lũ ngư ông.
Đoàn hậu tấn có lòng yêu nước,
Khá nhìn xem gương trước răn mình.
Riêng ta hai chữ nhục vinh,
Thoảng cười thế sự nhân tình quá đen.
Lòng dân chớ khá xem khinh,
Bạo tàn giết mất nhân tình thì thua.
Miền Đông, cuối năm Ất-Dậu (1945)
NHỮNG BÀI SÁNG-TÁC
NĂM BÍNH-TUẤT (1946)
TIẾNG SÚNG BÊN LẦU
Nước non tan vỡ bởi vì đâu ?
Riêng một ta mang nặng khối sầu.
Lòng những hiến thân mưu độc-lập,
Nào hay tai họa áp bên lầu.
Bên lầu tiếng súng nổ vang tai,
Trời đất phụ chi kẻ trí tài.
Mưu quốc hóa ra người phản quốc,
Ngàn thu mối hận dễ nào phai.
Từ ấy lao mình vượt khổn nguy,
Băng rừng lội suối giả man-di.
Ngày mong ải Bắc oan nầy giải,
Đem sức ra nâng lá quốc-kỳ.
Nhưng khổ càng mong càng vắng bặt,
Trời Nam tràn ngập lũ Tây-di.
Biết bao đồng chí phơi xương máu,
Thức-giả nhìn nhau hỏi tội gì ?
Vì tội không đành phụ nước non,
Phô bày tiết-tháo tấm lòng son.
Ngăn phường sâu mọt lừa dân-chúng,
Chẳng nệ thân danh nỗi mất còn.
Nếu mất thôi đành xong món nợ,
Nay còn há dễ ngó lơ sao ?
Dọc-ngang chí cả dù lao-khổ,
Thất bại đâu làm dạ núng-nao.
Thất bại đâu làm dạ núng-nao,
Non sông bao phủ khí anh-hào.
Phen nầy cũng quyết đền ơn nước,
Máu giặc nguyện đem nhuộm chiến-bào.
Miền-Đông, năm 1946.
(Trong khi Đức Thầy ẩn lánh Việt-Minh và người Pháp
vừa mới tái chiếm Nam-Việt)
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
ĐỒNG ĐẢNG TƯƠNG TÀN
Người đồng đảng giết người đồng đảng,
Ai Việt-minh, Cộng-Sản là ai ?
Đương cơn quyền lợi đắm say,
Anh hùng chí-sĩ râu mày thế ư ?
Đường muôn dặm lời thư một khúc,
Giờ giặc đà tá túc nhà ta.
Ai ra nưng đỡ san-hà,
Ai ra cứu vớt nước nhà lâm nguy ?
Phát-xít sẽ tầm truy tàn-sát,
Không đảng nào mà thoát tai-ương.
Nghĩ càng bực-tức đau-thương,
Giết nhau để lợi cho phường xâm-lăng.
Mìền-Đông, năm 1946
CHÍ NAM NHI
Nam nhi mang chí cả,
Bao tấm lòng sắt đá.
Thương giống-nòi dẹp bã vinh-huê,
Lướt đạn bôm giữ vững một lời thề:
Tàn-sát hết quân thù xâm-lược,
Tranh độc lập tự-do cho nước,
Cho giống nòi rạng-rỡ trước năm châu.
Khí thiêng-liêng sông núi nhiệm-mầu,
Un-đúc giống anh-hùng vang bốn bể.
Gương sáng ấy soi chung hậu thế,
Anh em ôi ! theo dõi gót cùng ta.
Ra tay quét sạch san-hà,
Ra tay bồi-đấp nước ta hùng-cường.
Miền-Đông, ngày 10 tháng giêng Bính-Tuất (1946)
*
RIÊNG TÔI
Rứt áo cà-sa khoác chiến-bào,
Hiềm vì nghịch cảnh quá thương-đau.
Bên rừng tạm gởi thân cô quạnh,
Nhìn thấy non sông suối lệ trào.
Nhìn thấy non sông suối lệ trào,
Lòng nguyền giữ vững chí thanh-cao.
Ai người mãi quốc cầu vinh nhỉ,
Hậu thế muôn thu xét thử nào ?
Hậu thế muôn thu xét thử nào ?
Lòng nầy yêu nước biết là bao ?
Vì ai gieo-rắc điều hồ-mị,
Đành ngó non sông nhuộm máu đào.
Đành ngó non sông nhuộm máu đào,
Thời-cơ độc nhứt cứu đồng bào.
Muôn ngàn chiến-sĩ chờ ra trận,
Bỗng vướng gông cùm chốn ngục-lao.
Miền-Đông, năm 1946
*
TIẾNG CHUÔNG CẢNH-TỈNH
Hãy tỉnh giấc hỡi muôn ngàn chiến-sĩ,
Mở lòng ra thương nghĩ sanh-linh.
Đồng-bào ai nỡ dứt tình,
Mà đem chém giết để mình an vui.
Dù lúc trước nếm mùi cay đắng,
Kẻ độc-tài đem tặng cho ta.
Sau nầy tòa-án nước nhà,
Sẽ đem kẻ ấy mà gia tội hình.
Lúc bấy giờ muôn binh xâm-lược,
Đang đạp vày non nước Việt-Nam.
Thù riêng muôn vạn cho cam,
Cũng nên gát bỏ để làm nghĩa công.
Khắp Bắc Nam Lạc-Hồng một giống,
Tha thứ nhau để sống cùng nhau.
Quí nhau từng giọt máu đào,
Để đem máu ấy tưới vào địch quân.
Đấng anh-hùng vang lừng bốn bể,
Các sắc dân đều nể đều vì.
Đồng bào nỡ giết nhau chi,
Bạng duật tương trì lợi lũ ngư-ông.
Hỡi những kẻ có lòng yêu nước,
Nghe lời khuyên tỉnh được giấc mê.
Anh em lớn nhỏ quày về,
Hiệp nhau một khối chớ hề phân ly.
Đả-đảo bọn Nam-Kỳ nô-lệ,
Kiếp cúi lòn thế-hệ qua rồi.
Lời vàng kêu gọi khắp nơi,
Anh em chiến-sĩ nhớ lời ta khuyên.
(Viết vào lối tháng 2 tại Miền-Đông năm 1946 để khuyên anh em tín-đồ Hòa-Hảo chấm dứt các cuộc xung-đột với Việt-Minh).
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
QUYẾT RỨT CÀ-SA
Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau,
Quyết rứt cà-sa khoác chiến-bào.
Ðuổi bọn xâm-lăng, gìn đất nước,
Ngọn cờ độc-lập phất-phơ cao.
Ngọn cờ độc-lập phất-phơ cao,
Nòi giống Lạc-Hồng hiệp sức nhau.
Tay súng tay gươm xông trận địa,
Dầu cho giặc mạnh há lòng nao.
Dầu cho giặc mạnh há lòng nao,
Nam-Việt ngàn xưa đúc khí hào.
Lúc giặc xâm-lăng mưu thống-trị,
Anh-hùng đâu sá cảnh gian-lao.
Anh-hùng đâu sá cảnh gian-lao,
Chiến-trận giao-phong rưới máu đào.
Miễn đặng bảo tồn non nước cũ,
Giữ an tánh-mạng cả đồng-bào.
Miền-Đông, năm 1946
TẶNG HỘI-ĐỒNG CỐ-VẤN NAM-KỲ
Tám ông Cố-vấn Hội-đồng,
Phùng mang trợn mắt ra công bán nòi.
Hô hào nghinh-tiếp quân voi,
Về vày mộ tổ để vòi mề-đay.
Thinh múa mỏ, Phát khoe tài,
Nam-Kỳ hiến-pháp sắp bày mị dân.
Nào là chấn-chỉnh (củng-cố) hương-lân,
Để cho lũ chó làm sân săn mồi.
Vụng-về thay, bọn Tây-bồi !
Sắm tuồng vẽ mặt mà giồi phấn đen.
Ngàn muôn cử chỉ đê-hèn, Cúi-lòn,
bưng bợ tập rèn công phu.
Lòng mong dân nước dại ngu,
Để đám nghị mù tự-tiện làm quan.
Nào ngờ trong lúc dở-dang,
Nghị Phát vắng số suối vàng vội đi.
Nghị Thinh lụy nhỏ lâm-ly,
Than rằng bạn nỡ bỏ đi giữa chừng !
Họp bàn tính kế trùng hưng,
Vợ bạn đã nửa chừng xuân nhưng còn.
Ra tay dìu-dắt bốn con,
Suối vàng bạn hỡi lòng còn ghen không ?
Muôn dân như chửa vừa lòng,
Ước sao cả lũ vào tròng Diêm-La.
Từ nay trong nước Nam ta,
Thề rằng chẳng chịu đẻ ra giống nầy.
Miền-Đông, năm 1946
*
NGHỊ THINH VỚI CAO ỦY D'ARGENLIEU
NGHỊ THINH: Dạ dạ… Dám bẩm quan Cao-Ủy,
Thậm chí nguy, thậm cấp chí nguy !
Rối beng trật-tự Nam-Kỳ,
Bạn tôi Nghị Phát mạng phi mất rồi.
Còn bảy ông ngồi trơ mỏ chó,
Lòng những lo sóng gió bất kỳ.
Nếu không phương pháp phòng nguy,
Ức tình tôi sẽ điện đi hoàn-cầu.
Cho thế-giới góp thâu tài-liệu.
Rằng Việt dân chẳng chịu phục tòng.
Thế nầy cai-trị sao xong,
Trả nước lại nó mới hòng ngủ yên.
D'ARGENLIEU: Quan Cao-Ủy mặt liền sầm lại,
Lũ dân gì kỳ quái lạ thường.
Máy bay tàu chiến biểu-dương,
Rõ-ràng Đại-pháp hùng-cường thế ni,
Mà chúng vẫn khinh-khi sự chết,
Chẳng lẽ ta giết hết trẻ già,
Bằng không, muốn dứt can qua,
Giao cho việc nước việc nhà nó toan.
Mình làm khách bàn quan khi khỏe,
Nước Việt-Nam son trẻ ra đời,
Cộng-hòa đem lại khắp nơi,
Muôn dân an lạc thảnh-thơi phú-cường.
NGHỊ THINH: Nghị Thinh nghe bèn òa tiếng khóc:
Thế còn công khó nhọc tôi đâu ?
D'ARGENLIEU: Mua cho ông một vé tầu,
Ba-ri đến đó ngõ hầu dung thân.
Miền-Đông, năm 1946.
*
TÌNH YÊU
Ta có tình yêu rất đượm nồng,
Yêu đời yêu lẫn cả non sông.
Tình yêu chan-chứa trên hoàn-vũ,
Không thể yêu riêng khách má hồng.
O*O
Nếu khách má hồng muốn được yêu,
Thì trong tâm chí hãy xoay chiều.
Hướng về phụng-sự cho nhơn-loại,
Sẽ gặp tình ta trong khối yêu.
O*O
Ta đã đa mang một khối tình,
Dường như thệ-hải với sơn-minh.
Tình yêu mà chẳng riêng ai cả,
Yêu khắp muôn loài lẫn chúng-sinh.
Miền-Đông, năm 1946
(Một thiếu-nữ ở Saigòn thầm yêu Đức Thầy trong khi Ngài còn ẩn lánh V.M và Pháp; thấy vậy, Đức Thầy bèn viết ba bài thi trên đây để cảnh tỉnh cô ấy).
*
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
LẤY CHỒNG CHỆT
Lúc Đức Thầy đang ẩn lánh 1946, Ngài có gặp một cô gái Việt lấy chồng Ngô. Tức cảnh, Ngài có làm bài thi sau đây (dùng biệt-hiệu Hoài-Việt):
Cô ơi, nước Việt-Nam thiếu gì trai trẻ,
Mà vội đi lấy lẽ « ba Tàu » ? !
Của tiền quí báu là bao,
Đem tuổi mười tám so vào bốn mươi ?
Rồi nuôi tánh biếng lười mê ngủ,
Để ngày kia ủ-rủ đau thương.
Khi ba Tàu xách gói hồi hương,
Vàng bạc tóm, bỏ cô thơ-thẩn.
Cô nhìn theo muôn vàn tiếc hận,
Cô vì chàng mà bẩn tiết-trinh.
Cô tủi thân, cô lại bất bình,
Nhưng muộn quá, tuổi xuân không trở lại.
Trông tương-lai cô đầy sợ hãi,
Hoa úa tàn người lại rẽ khinh.
Cô tiếc rằng phải tuổi còn xinh (xanh),
Cô sẽ chọn người chồng Nam-Việt.
Ở trong hàng thanh-niên, thanh-niết,
Tuy nghèo hèn mà biết thỉ chung.
Yêu-đương nhau đến phút cuối cùng,
Vợ chồng ấy mới chân hạnh-phúc.
Ta là khách phương xa tá-túc,
Thấy sự đời vẽ khúc văn-chương.
Thấy đời cô chìm-đắm trong gió sương.
Than ít tiếng gọi hồn chủng-loại.
Việt-Nam ! người Việt-Nam mau trở lại !
Yêu giống nòi có phải hơn không ?
Dầu sao cũng giống Lạc-Hồng !
Miền-Đông, năm 1946
TẾ CHIẾN-SĨ TRẬN VONG Ở VƯỜN THƠM
Trên linh-tọa hương trầm nghi-ngút,
Tấc lòng thành cầu chúc vong linh.
Sa-trường hỡi các sĩ-binh,
Vườn Thơm tuyệt mạng hiến mình non sông.
Thiệt chẳng hổ giống-dòng Nam-Việt,
Từng nêu cao khí-tiết Lạc-Hồng.
Đã mang lấy nợ non sông,
Quyết lòng báo quốc tồn vong sá gì.
Gương yêu nước đáng ghi đáng nhớ,
Chí hy-sinh nhắc-nhở mai sau.
Sống không hổ kiếp anh-hào,
Không ham tiền bạc sang giàu cá-nhân.
Thân chiến-sĩ vì dân vì nước,
Vì tự do hạnh-phước đồng-bào.
Bao nài nguy hiểm gian lao,
Một năm kháng-chiến ra vào chông-gai.
Bôm, đạn thét không phai tâm ý,
Súng gươm rền nung chí hùng anh.
Quyết đem xương máu hy-sanh,
Hy-sanh cứu nước rạng danh muôn đời.
Thù giặc Pháp làm người phải trả,
Trừ tham quân bởi quá ngang-tàng.
Nước mất đâu dễ ngồi an,
Mượn gươm Lê, Lý dẹp tan quân thù.
Ngày hôm ấy tàn thu sương đượm,
Quân Pháp đem lực-lượng tấn-công.
Máy bay, tàu thủy, súng đồng,
Lục quân cơ-khí quyết lòng hại dân.
Chúng gặp phải liên-quân anh-dũng,
Hạ phi-cơ, tuốt súng, lấy bôm.
Quanh tàu vây chặt mấy vòng,
Cả kinh giặc Pháp phục tòng rút lui.
Phận rủi-ro riêng xui mạng bạc,
Khiến anh-hùng cởi hạc xa bay.
Nước non đang thiếu anh-tài,
Tử thần vội cướp đưa ngay chầu Trời.
Hồn tử-sĩ nghe lời than tiếc,
Trừ tham quân tận diệt xâm-lăng.
Nam binh sát-khí đằng đằng,
Thề-nguyền thành lũy đạp bằng mới thôi.
Kẻ chết đã yên rồi một kiếp,
Người sống còn tái tiếp noi gương.
Lòng thành thắp một tuần hương,
Vái hồn liệt-sĩ bốn phương tụ về.
Nơi làng vắng cam bề đơn giản,
Lễ mọn nầy trước án bày ra.
Hiển-linh xin chứng gọi là….
Quéo-Ba, ngày 1-10-46 (Bính-Tuất)
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
CỤ PHẠM-THIỀU Mời ĐỨC THẦY Tham-Chánh
Mưa gió thâu canh mãi dập-dồn,
Âm-u tràn ngập cả càn-khôn.
Hỡi ai thức ngủ trong đêm ấy,
Có thấu tai chăng tiếng quốc-hồn ?
Sao còn khoắc-khoải nhớ hiềm xưa ?
Trang sử chùi đi những vết nhơ.
Gìn-giữ tim son không chút bợn,
Mặc tòa dư-luận thấu hay chưa.
Sao còn lãnh đạm với đồng bang,
Toan trút cho ai gánh trị-an ?
Thảm kịch « tương tàn » chưa hết diễn,
Long-Xuyên Châu-Đốc lụy muôn hàng.
Sao còn ngần-ngại chẳng ra tay,
Trước cảnh xâm-lăng cảnh đọa-đày ?
Ngọn lửa binh đao lan khắp đất,
Phật Trời soi thấu cũng châu mày.
Chẳng áo cà-sa, chẳng chiến-bào,
Về đây tham-chánh mới là cao.
Non sông chờ đợi người minh-triết,
Chớ để danh thơm chỉ Võ-Hầu.
TRƯỜNG-PHONG
(biệt hiệu của cụ Phạm-Thiều)
ĐỨC THẦY họa:
Những nỗi đau thương mãi dập-dồn,
Càng nhiều luân-lạc lại càng khôn.
Lặng nhìn thế sự nào ai ngủ !
Chờ dịp vung tay dậy quốc-hồn.
Từ-bi đâu vướng mối hiềm xưa,
Nhưng vẫn lọc-lừa bạn sạch nhơ.
Nếu quả tri-âm tri-ngộ có,
Thì là hiệp lực hiểu hay chưa ?
Nhìn sang Trung-quốc khách lân bang,
Cứ cố xỏ ngầm sao trị an ?
Nếu thiệt hai bên đồng hiệp trí.
Kẻ gây thảm kịch phải qui hàng,
Lắm kẻ chực hờ đặng phỗng tay,
Mà sao chánh-sách bắt dân đày.
Vẫn còn áp-dụng vì phe đảng ?
Chẳng muốn xông ra sợ cháy mày !
Thà ở trong quân mặc chiến-bào,
Ngày qua sẽ biết thấp hay cao.
Nào ai đem sánh mình minh-triết,
Mà dám lăm-le mộng Võ-Hầu ?
HOÀNG-ANH (biệt hiệu của ĐỨC THẦY)
Miền-Đông, ngày 1 tháng 10-1946
NĂM ĐINH-HỢI
(1947)
ANH PHIỆT XƯỚNG: (1)
Non nước ngửa nghiêng vẫn ngủ ỳ ?
Ai ôi tỉnh dậy, dậy rồi đi.
Đi lo sự nghiệp trai thời loạn,
Khỏi thẹn người xưa lúc gặp thì.
ĐỨC THẦY họa:
Lặng-lẽ tính toan đâu ngủ ỳ !
Chỉnh-tu binh mã để rồi đi.
Khi đi muông sói đều tan-vỡ,
Rõ mặt hùng-anh tạo thế thì...
Miền-Đông, mùa xuân năm 1947
(1) Bài nầy của anh mười Phiệt, thuộc nhóm Bình-Xuyên (làm đã từ lâu) đọc có ý kích-thích Đức Thầy trong khi Ngài đang nằm nghỉ trưa. Đức Thầy liền ứng khẩu đáp họa liền làm cho anh em Bình-Xuyên vỗ tay hoan nghinh nhiệt liệt.
còn tiếp
Nam Mô A Di đà Phật
-
TẾT Ở CHIẾN - KHU
Tặng bạn ngày xuân chén rượu nồng,
Uống rồi vùng-vẫy khắp Tây-Đông.
Đem nguồn sống mới cho nhơn loại,
Để tiến, tiến lên cõi đại-đồng
O*O
Rượu xuân càng nhắp càng say,
Gió xuân càng thổi thì tài càng tăng.
O*O
Ngày tết năm nay ở chiến-khu,
Bưng-biền gió lốc tiếng vi-vu.
Xa xa súng nổ thay trừ-tịch,
Dân Việt còn mang nặng mối thù,
O*O
Mối thù nô-lệ trả chưa xong,
Pháp-tặc còn trêu giống Lạc-Hồng.
Dùng thói dã-man mưu thống-trị,
Thì ta quyết chiến dễ nào không !
O*O
Dễ nào không dám gắng hy-sinh,
Giữ vững non sông đất nước mình.
Tự lập nghìn xưa gương chói rạng,
Anh-hùng khởi xuất chốn dân-binh.
O*O
Dân-binh Nam-Việt mấy ai bì ?
Không súng tầm-vông cũng vác đi.
Xông lướt trận tiền ngăn giặc mạnh,
Liều thân cứu nước lúc lâm nguy.
O*O
Nước lúc lâm nguy há đứng nhìn,
Lòng mang Đại-Nghĩa để thân khinh,
Máu đào xương trắng phơi đầy nội,
Quyết đổi tự do mới thỏa tình,
O*O
Thỏa tình được sống dưới trời Đông,
Tổ phụ ngày xưa rất đẹp lòng.
Nhìn thấy cháu con không thẹn mặt,
Từ đây non nước thoát nguy vong.
Bình-Hòa (Chợ-lớn) ngày 2-1 Đinh-Hợi (1947)
*
KỶ-NIỆM RỪNG CHÀ-LÀ
Rừng Chà-Là, rừng Chà-Là vạn tuế... !
Thành lũy ấy chông gai bao xiết kể,
Muôn quân thù đâu dám dẫm chơn vô.
Đây là nơi tướng Việt thiết mưu-mô,
Chờ cơ-hội quét tan loài xâm lược.
Tranh độc-lập để bảo-tồn non nước,
Biết bao lần chúng giặc phải cuồng-điên.
Vì đem quân cả phá Bình-Xuyên,
Chạm trán với chiến binh hùng-dũng.
Một năm qua bền gan không nao-núng,
Dù thảo-lương thiếu túng chịu gian-nan.
Nơi rừng xanh chịu lắm cảnh cơ-hàn,
Mưa nắng táp gió sương dầu-dãi.
Nước Nam-Việt ở ven bờ Nam-hải,
Ngàn xưa từng chống lại họa xâm-lăng.
Bạch-Đằng Giang công-nghiệp ấy ai bằng
Quân Việt ít đánh tan Mông-Cổ mạnh.
Nay giặc Pháp buông lung kiêu-hãnh,
Ỷ-lại vào tàu-chiến với phi-cơ.
Nơi sa-trường chúng gặp cảnh bất ngờ,
Sức kháng-chiến ngàn xưa nay sống dậy.
Nơi Hành-dinh gió vàng phe phẩy,
Khách viễn phương mượn lấy tờ hoa.
Vài câu văn thô kịch gọi là,
Để kỷ-niệm chốn « Bình-Xuyên » anh-dũng.
H.H. tặng chiến-sĩ Liên-khu Bình-Xuyên (2-1947)
*
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
PHỤ - LỤC
Những bài không rõ thời-gian tính sáng-tác,
và những phương thuốc gia-truyền
NHỮNG BÀI SAU ĐÂY KHÔNG RÕ ĐỨC
THẦY VIẾT TẠI ĐÂU VÀ HỒI NÀO
LO NƯỚC
Nước Việt trẻ già mãi ngóng trông,
Ngày nào hưng phục cõi trời Đông.
Lẽ đâu Tạo-hóa riêng cay độc,
Đày khắc mãi chi giống Lạc-Hồng.
*
NỢ NƯỚC
Một phen nợ nước lâm đền,
Đạo làm thần-tử cho bền chí trai.
Thừa cơ xoay trở gót hài,
Vung gươm Thần-Thánh dẹp loài cẩu phiên.
*
KHÔNG KHÔNG
Đại đạo giáo dân, dân bất tri,
Khai năng bạch phát đãi hà thi.
Công-danh phú-quí chung huờn mộng,
Kỳ-cá miên qui thố nhứt kỳ.
*
TỈNH GIẤC MƠ
Một giấc mơ-màng, một giấc say,
Tỉnh hồn mới biết cuộc trần-ai.
Trần-ai rày đã xa phiền lụy,
Rán bước qua truông kẻo nữa hoài.
*
Nợ thế âu toan tròn nợ thế,
Đường tu sớm liệu vẹn đường tu.
O*O
SẦU BÁ TÁNH
Cúi lạy Tây-phương chốn Phật-đàn,
Vưng lời truyền dạy các chư bang.
Âu-sầu bá tánh gieo tình ác,
Bị lũ con buôn quá tráo hàng.
*
GÌN TỤC CỔ
Cũng dòng dân Việt cũng màu da,
Sao lại chê bai thói tục nhà.
Phong-hóa lễ-nghi trề nhúng bỏ,
Gia nghiêm nghĩa tiết choán Nam-gia !
*
LỐ VỪNG HỒNG
Khói tỏa mây ung sương mịt mù,
Vừng hồng vừa lố cảnh trời thu.
Ruộng sâu đã cấy chờ bông trái,
Thì sẽ ấm no thoát ngục tù.
O*O
Ngục tù giam hãm mấy mươi năm,
Nhớ lại quặn đau khúc ruột tằm.
Rày gặp mưa nhuần ân Thánh-đế
Tưới cho trăm họ bớt mê lầm.
*
XÉ-XÂU NHAU
Gẫm thấy cuộc đời xô-xát mãi,
Dắt tay nhau đến bãi tha-ma.
O*O
Gió Á mưa Âu bùng sấm dậy.
Hãi hùng tranh chiến xé xâu nhau.
Hồng-trần trở lại màn u-ám.
Khắp cả chúng-sanh nhuộm máu đào.
CHUYỂN PHÁP-LUÂN
Lòng thương lê-thứ đáo ta-bà,
Thừa chuyển pháp-luân dụng khuyến ca.
Cảnh tỉnh người mê về cõi ngộ ,
Dạy răn kẻ tục vượt nê-hà.
*
LÚC TA TỈNH
Tỉnh giấc mơ màng cảnh mộng hoa,
Tỉnh lòng lê-thứ chữ nhơn hòa.
Tỉnh thân tầm đạo xa trần-tục,
Tỉnh chuyện gần xa tiếng thiết-tha.
O*O
Tỉnh biết đời nay lỗi đạo hằng,
Tỉnh tâm già trẻ bớt làm nhăng.
Tỉnh câu phụ tử tình thâm ấy,
Tỉnh hết vạn dân biết thượng tằng.
*
CHO MỘT VỊ SƠ TÂM
Duyên lành mới gặp cảm tình ông,
Rõ việc mở mang giống Lạc-Hồng.
Bí hiểm cơ-huyền nơi diệu lý,
Nhiệm mầu Phật pháp chốn thần thông.
Trau tria nhục thể về nơi cũ,
Chùi rửa tim gan một tấc lòng.
Cố tưởng ước mơ đời thạnh trị,
Ngặt vì vận bĩ bắt cuồng ngông.
*
CHÍ THANH CAO
Một thân quyết chí phá lâm tòng,
Dắt chúng đời nầy liễu diệu thông.
Nhắc nhở con hiền noi tục cổ,
Kêu chừng trẻ thảo góc trời đông.
Ngày thanh mong tưởng cho mau tới,
Đêm vắng ước mơ lộ vẻ hồng.
Sẽ được hiệp hòa non phụng gáy,
Trung thần thỏa dạ hết chờ trông.
*
BÁO-HIẾU ÐẠO NHÀ (1)
Quảy đơm cúng tế lệ xưa nay,
Sát vật trâu heo đứa mị bày.
Kẻ mất cho ăn suy khó hiểu,
Người còn bạc đãi lạ lùng thay.
Cháu con báo hiếu theo Nhà-Phật,
Cha mẹ qua đời thủ lễ chay.
Trong sạch nghĩa nhân vầy mới đáng,
Hồn linh siêu thoát nhẹ cao bay.
(1) Bài nầy Ðức Thầy, thuyết-giảng tại Tổ-Ðình Hòa
Hảo, khuyên tín-đồ không nên sát sanh trong lễ giỗ
quảy đơm.
VÀI TOA THUỐC NAM
Mà Đức Thầy đã dùng từ năm 1939 để trị
Bịnh cho bá-tánh thập phương.
_____________
1.- BỊNH HO
É tía, rau tần, rễ chanh, gừng lùi, lá bưởi, bông thọ, rễ chòi mòi (sao), một xu nhơn trần, một xu trắc bá diệp.
***
2.- BỊNH BAN
Chổi đực, vòi voi, hắc-sửu, rau bợ, rể chòi mòi, năm thứ đậu, đọt tre mở một nắm (sao chín).
***
3.- BỊNH THƯỜNG
Lá xoài, lá ổi, lá mít, lá bưởi, bông trang hay là bông thọ (để sống).
***
_____________
33 TOA THUỐC GIA TRUYỀN MÀ ĐỨC THẦY ĐÃ GIAO CHO ANH EM TÍN-ĐỒ Ở BẠC-LIÊU HỒI THÁNG 6 DL. 1945, TRONG LÚC NGÀI ĐI KHUYẾN NÔNG.
1.- CẢM MẠO (thuốc tán)
Xuyên hậu phát 1 lượng, Quản trần bì (sao) 1 lượng, Bạch bì 1 lượng, Xuyên khung (sao) 1 lượng, Sa nhân 1 lượng, Bạch khấu 1 lượng, Bạch trực (sao) 2 lượng, Thương trực (sao) 2 lượng, Cam thảo 1 lượng, Thảo quả 2 lượng, Hoát hương 2 lượng, Thạch cao 1 lượng, Chánh thần khúc 1 lượng.
Tán khô để vô ve, mỗi lần uống 1 chỉ với nước gừng, trị nóng lạnh, mới cảm, nhức đầu, thổ tả, đau bụng, ban trái.
2.- CẢM GIÓ (thuốc ban)
Sa sâm 2 chỉ, Kiết cánh 1 chỉ, Phục linh 1 chỉ, Tiền hồ 2 chỉ, Độc huợt 2 chỉ, Sài hồ 2 chỉ, Cam thảo 1 chỉ, Xuyên khung 1 chỉ, Chỉ xát 1 chỉ, Khương huợt 1 chỉ, Sanh cương 2 chỉ.
Uống rồi trùm lại chờ đổ mồ hôi
***
3.- Cảm ba bốn ngày sắp lên, nửa trong nửa ngoài, nóng lạnh từ hồi, cổ không thông, khô cả nước miếng hoặc làm rét.
Sài hồ 3 chỉ, Bạch bì sâm 3 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Trần bì (sao) 2 chỉ, Thảo quả 3 trái, Chế bản hạ 2 chỉ, Hoàng cầm 3 chỉ, Thương trực (sao) 2 chỉ, Hậu phát 2 chỉ, Gừng sống 4 lát.
Uống hai nước.
***
4.- Ho gió, mới cảm trong mười ngày thì cứ uống
Tử tô diệp 2 chỉ, Bạc hà 2 chỉ, Quế tiện 1 chỉ, Hạnh nhơn 2 chỉ, Sanh cương 5 lát, Trần bì (sao) 2 chỉ, Tang bạch bì 3 chỉ, Đại phúc bì 2 chỉ, Trầm hương tốt (gói riêng) 2 chỉ, Ma hoàng 1 chỉ, Tô tử 2 chỉ, Cam thảo 2 chỉ.
Sắc uống hai nước.
***
5.- Trị bịnh ho vừa phát nóng lạnh dữ lên thì ho dữ-dội ấy là cảm gió vào phổi hóa nóng nhiều.
Sa sâm 3 chỉ, Kiết cánh 2 chỉ, Cát căn 2 chỉ, Chỉ xác (sao) 2 chỉ, Tử tô diệp 2 chỉ, Tiền hồ 2 chỉ, Phục linh cũ
2 chỉ, Nam mộc hương 1 chỉ, Trần bì (sao) 2 chỉ, Chế bản hạ 3 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Sanh cương 5 lát.
Uống hai nước.
***
6.- Ho thuộc về thận
Trạch tả 3 chỉ, Táo nhục 3 chỉ, Thiên môn đông 2 chỉ, Ngưu tất 2 chỉ, Hoài sơn (sao) 4 chỉ, Lão thục địa 8 chỉ, Mạch môn đông 3 chỉ, Hạnh nhơn 2 chỉ, Phục linh cũ 3 chỉ, Ngũ vị tử 1 chỉ, Mẫu đơn 3 chỉ.
Sắc 2 nước vắt nước cốt chia ra hai phần uống 2 lần.
***
7.- Ho gió lâu quá mà thuốc nào cũng vô hiệu
Kha tử (nướng cho vàng) 5 chỉ, Cam thảo 2 chỉ.
Hai vị nầy chung lại, sắc uống, hiệu nghiệm như thần.
***
8.- Ho ra huyết ói cả tô, lúc đầu vừa ói ra nó nặng ngực (thượng tiêu)
Đại hoàng tốt (sao rượu cho khô) 2 chỉ, Xuyên hoàng liên 3 chỉ, Huỳnh cầm 4 chỉ.
Sắc hai nước uống hai lần, cho ỉa đừng sợ (mệt mà bổ). Xổ rồi lại uống thang dưới đây:
Văn thảo (sao) 2 chỉ, Lão thục địa 8 chỉ, Ngũ vị tử 1 chỉ, Thiên môn đông (khử bỏ tim) 3 chỉ, Hoài sơn (sao) 4 chỉ, Phục linh cũ 3 chỉ, Mạch môn đông 2 chỉ, Đơn bì 4 chỉ, Táo nhục 2 chỉ, Đông hoa 2 chỉ.
Hốt 1 thang sắc hai nước, vắt lấy nước cốt uống hai lần, uống luôn 3 thang thì hết, nếu uống mà sôi bụng ỉa ấy là Lão thục địa xấu, phải mua thứ tốt.
***
9.- Đàn bà huyết băng cầm lại rồi còn đương mệt nhọc lại hóa ho nhiều
Phòng đản sâm 3 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Xuyên khung 2 chỉ, Mạch môn đông (khử bỏ tim) 2 chỉ, Công giao châu 2 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Lão thục địa 5 chỉ, Đại đương qui 3 chỉ, Phục linh cũ 2 chỉ, Bạch thược (sao) 3 chỉ, Đông hoa 2 chỉ, Ngũ vị tử 1 chỉ, Tam thốc can 2 chỉ, Kỳ ngại khô 1 chỉ.
Sắc hai nước, uống hai lần. Uống năm thang mới giảm và hết.
***
10.- Đàn bà đường kinh đi râm-rỉ cả 10 ngày hay nửa tháng mà không dứt
Tam thốc can 3 chỉ, Viễn chí 2 chỉ, Phòng đản sâm 3 chỉ, Chánh phục thần 3 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Chá hoàng kỳ 4 chỉ, Quảng mộc hương (gói riêng không sắc) 6 chỉ, Đại qui đầu 3 chỉ, Tàng táo (sao) 2 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Long nhãn nhục 2 chỉ.
Sắc hai nước, uống hai lấn, uống ba thang thì hết, cữ ăn hành, tỏi.
***
11.- Huyết hư, cảm mạo, nóng lạnh, không có mồ hôi, đường kinh quá kỳ không đi
Lão thục địa 5 chỉ, Bạch thược 2 chỉ, Đại đương qui 3 chỉ, Tử tô diệp 2 chỉ, Kiết cánh 2 chỉ, Pháp hạ 2 chỉ, Phục linh 2 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Xuyên khung 2 chỉ, Phòng đản sâm 3 chỉ, Trần bì (sao) 2 chỉ, Tiền hồ 2 chỉ, Càn cát 1 chỉ, Chỉ xác (sao) 2 chỉ.
Sắc hai nước, chia ra uống hai lần, uống 3 thang đổi toa.
***
12.- Điều hòa huyết, trị huyết nóng đau bụng, nhức mỏi, đường kinh trồi sục
Lão thục địa 3 chỉ, Xuyên khung 3 chỉ, Chế hương phụ 1 chỉ, Ích mẫu 2 chỉ, Bạch thược 3 chỉ, Đương qui 3 chỉ, Ô dước 2 chỉ, Sanh cương 5 lát.
Sắc hai nước uống hai lần.
***
13.- Điều kinh, đàn bà kinh kỳ trồi sục, đau bụng nhiều ít không chừng
Trạch tả (sao) 3 chỉ, Táo nhục 2 chỉ, Bạch thược 3 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Hoài sơn (sao) 4 chỉ, Lão thục địa 7 chỉ, Xuyên khung 2 chỉ, Mẫu đơn 3 chỉ, Phục linh 3 chỉ, Đương qui 3 chỉ.
Sắc hai nước uống nhiều thang mới hết.
***
14.- Thuốc sản hậu (trong 15 ngày mà hóa các chứng bịnh gì cứ uống. Còn trong 8 ngày thì cứ uống chớ ngại chi)
Đương qui vĩ 7 chỉ, Đào nhân 3 chỉ, Cam thảo chá 2 chỉ, Xuyên khung 5 chỉ, Bào cương 2 chỉ.
Nước lã 1 chén, nước đái 1 chén, sắc còn 7 phân, thêm 1 chung nước đái vô chén thuốc, thuốc sắc rồi uống ấm. Khi mới sanh đẻ hốt hai thang, sắc thang trước lấy nước nhứt, lại sắc thang sau lấy nước nhứt uống vô, rồi lấy cái xác của hai thang (sắc rồi) sắc nước nhì cũng như cách trên bảo vậy. Nếu uống liền bốn thang như vậy thì càng tốt.
***
15.- Thuốc ỉa nước nhiều và nóng nhiều.
Trạch tả 3 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Phòng đản sâm 3 chỉ, Trần bì (sao) 2 chỉ, Sanh cương 5 lát, Phục linh 3 chỉ, Biên đậu (sao) 3 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Sài hồ 3 chỉ, Đại táo 3 trái, Hoài sơn (sao) 3 chỉ.
Sắc 2 nước uống ấm.
***
16.- Tỳ vị, quá hư lạnh, sanh ra ỉa nước, ăn không vô.
Bạch trực (sao) 3 chỉ, Phòng đản sâm 3 chỉ, Hắc phụ tử 3 chỉ, Hắc cương 2 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Phục linh 3 chỉ, Hoài sơn (sao) 4 chỉ, Biên đậu (sao) 3 chỉ, Sanh cương 5 lát.
Sắc hai nước uống hai lần. Chừng vài thang thì hết ỉa.
***
17.- Ăn chậm tiêu, sình bụng no hơi, đau bụng, hoặc lạnh tay chơn, ói mửa ỉa ra nước mà không thôi.
Phòng đản sâm 4 chỉ, Càn cương 2 chỉ, Hắc phụ tử 2 chỉ, Cam thảo chích 2 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Hoài sơn (sao) 3 chỉ.
Hốt 1 thang sắc hai nước uống hai lần, uống 3 thang đổi toa.
***
18.- Ăn không tiêu, đau bụng,
ngăn ngực, nghẹn trong cổ
Phòng đản sâm 2 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Mạch nha (sao) 2 chỉ, Thần khúc 2 chỉ, Đại táo 3 trái, Phục linh 2 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Bào cương 1 chỉ, Sơn tra 2 chỉ, Gừng sống 5 lát.
Sắc hai nước uống ấm.
***
19.- Bịnh kiết đi sông nhiều,
rặn nhiều và ra đàm ít
Bạch thược (sao) 3 chỉ, Xuyên hoàng liên 4 chỉ, Vỏ lựu nướng 5 chỉ, Thương trực (sao) 4 chỉ, Quảng mộc hương 3 chỉ.
Chung lại tán nhỏ, thêm vô một chỉ nhựa bông, tán chung. Uống mỗi lần 1 chỉ. Chừng 3 lần hết bịnh (Cần thêm nhiều cho dứt căn). Đàn bà đẻ uống cũng được.
***
20.- Trị bịnh uất mới có, xổ êm
Sài hồ 3 chỉ, Đại hoàng 3 chỉ, Sanh cương 4 lát, Chế bản hạ 3 chỉ, Sanh chỉ xác 3 chỉ, Xích thược dược 2 chỉ, Huỳnh cầm 2 chỉ, Đại táo 3 trái.
Uống một nước để lâu ước chừng 2 giờ xem có đi sông chăng hoặc có sôi ruột mà chưa sông thì uống thêm nước nhì; như có sông mà ít thì uống thêm nửa nước nhì. Uống thuốc xổ thì nên dè-dặt vì bịnh hư dễ xổ, bịnh thiệt khó xổ. Vậy nên mình coi thêm bớt cho vừa ý.
***
21.- Xổ rửa sạch độc cũ, đau lâu uất bón phong nhiều, ung độc ghẻ chốc, nóng trong mình
Phòng phong 2 chỉ, Bạch thược 1 chỉ, Xuyên khung 1 chỉ, Phát tiêu (để riêng) 2 chỉ, Liên kiều 1 chỉ, Kiết cánh 1 chỉ, Ma hoàng 1 chỉ, Huợt thạch 15 phân, Đại hoàng 2 chỉ, Bạc hà 1 chỉ, Cam thảo 1 chỉ, Chi tử 1 chỉ, Huỳnh cầm 1 chỉ, Bạch trực (sao) 2 chỉ, Kinh giái 1 chỉ, Thạch cao 15 phân.
Sắc 2 nước uống 2 lần (uống quá sức thuốc có hại).
22.- Thuốc tiêu trị bá chứng như: Thũng thực vật, bại xụi
Hương phụ tử chế 1 cân (chia 4 phần tẩm muối, tẩm gừng, tẩm nước đái, tẩm giấm trọn đêm, sao cho cháy một chút). Hắc sửu nửa cân (phân nửa sao, phân nửa để sống). Ngũ linh chỉ 1 cân (rửa sạch, tẩm giấm sao cháy một chút). Tạo giác nửa cân (để sống).
Bốn vị chế xong đều tán nhỏ, khuấy hồ gạo vò viên bằng hột bắp, mỗi lần uống 30 hoàn với nước trà tống hạ, như uống nhiều bằng 2 thì xổ êm, uống ít thì tiêu.
***
23.- Đau lưng
Trạch tả (sao) 3 chỉ, Mẫu đơn 3 chỉ, Lão thục địa 7 chỉ, Đổ trọng (sao muối) 2 chỉ, Táo nhục 2 chỉ, Hoài sơn (sao) 4 chỉ, Phục linh 3 chỉ, Thục đạn 2 chỉ.
Sắc hai nước uống ấm.
***
24.- Tức và lói ra sau lưng
Sài hồ 4 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Phục linh 4 chỉ, Bạc hà 2 chỉ, Hương phụ chế 3 chỉ, Bạch thược (sao) 4 chỉ, Đương qui 3 chỉ, Cam thảo 1 chỉ, Ô dước 2 chỉ.
Sắc hai nước thêm 5 lát gừng sống.
***
25.- Phong đau mình, nhức mỏi,
bổ huyết và hành huyết, bổ khí
Lão thục địa 4 chỉ, Xuyên khung 3 chỉ, Phòng đản sâm 4 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Độc huợt dương 2 chỉ, Xuyên
túc đoạn 2 chỉ, Bạch thược (sao) 3 chỉ, Đại qui đầu 3 chỉ, Phục linh cũ 2 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Chá hoàng kỳ 2 chỉ, Linh tiên 2 chỉ.
Sắc hai nước uống hai lần. Uống 2 thang nghỉ. Rồi uống toa thuốc dưới đây:
Độc huợt 2 chỉ, Đổ trọng (sao) 3 chỉ, Tế tân 1 chỉ, Tần giao 2 chỉ, Quế tâm 1 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Phòng phong 2 chỉ, Xuyên khung 2 chỉ, Tang ký sanh 3 chỉ, Ngưu tất 2 chỉ, Phòng đản sâm 3 chỉ, Phục linh 2 chỉ, Bạch thược 2 chỉ, Thục địa 4 chỉ, Đại đương qui 3 chỉ, Sanh cương 5 lát.
Sắc 2 nước chế thêm một chung nhỏ rượu, chia ra làm hai, uống luôn hai, ba thang mới hay. Bịnh có bớt, uống thêm càng tốt.
***
26.- Mạnh tỳ vị, mau tiêu,
bổ về phần khí cho sanh huyết
Phòng đản sâm 3 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Đại táo 3 trái, Sanh cương 5 lát, Phục linh cũ 3 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Hoài sơn (sao) 3 chỉ, Liên nhục (sao) 2 chỉ.
Sắc hai nước uống cho nhiều.
***
27.- Ăn ngủ không được, mệt,
lạnh tay chơn nghẹn cổ, chóng mặt
Trạch tả (sao) 3 chỉ, Mẫu đơn bì 3 chỉ, Lão thục địa 7 chỉ, Hắc phụ tử 1 chỉ, Đỗ trọng (sao muối) 2 chỉ, Hoài sơn (sao) 4 chỉ, Táo nhục 2 chỉ, Phục linh cũ 2 chỉ, nhục quế (gói riêng) 1 chỉ, Ngưu tất 2 chỉ.
Hốt 1 thang sắc hai nước, vắt xác lấy nước cốt quế ngâm riêng nước sôi để nguội, lấy ra ngâm lại, lần thứ nhì, rót lại hai nước quế và nước thuốc chung vô 1 tô, trộn đều chia làm hai uống hai lần, uống hơi nguội một chút, cử ăn hành, tỏi và tiêu vì phạm thuốc.
28.- Ăn ngon ngủ nhiều
Đại đương qui 3 chỉ, Long nhãn nhục 2 chỉ, Phòng đản sâm 3 chỉ, Chánh phục thần 2 chỉ, Quảng mộc hương (gói riêng) 5 phân, Tàn táo (sao) 2 chỉ, Viễn chí 2 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Chá hoàng kỳ 4 chỉ, Cam thảo 2 chỉ.
Sắc hai nước uống ấm. Mộc hương để ngoài, mài riêng, thuốc sắc tới rồi chế vô trộn đều chia ra hai phần uống hai lần.
***
29.- Bổ tim, dưỡng tỳ, trị bịnh hồi hộp, làm
cho ăn ngủ ngon, mạnh tinh-thần khí lực
Phòng đản sâm 3 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Lão thục địa 4 chỉ, Đương qui lớn 3 chỉ, Ngũ vị tử 1 chỉ, Hoàng kỳ chá mộc 4 chỉ, Sanh cương 5 lát, Phục Linh 2 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Bạch thược (sao) 2 chỉ, Viễn chí 2 chỉ, Trần bì (sao) 2 chỉ, Nhục quế 1 chỉ.
Sắc hai nước uống ấm.
***
30.- Bổ trung chơn, trị đau lâu, ăn ngủ ít, tay chơn bải-hoải, mồ hôi ra nhiều, cổ chẳng thông, có đàm nhiều.
Hoàng kỳ chá mộc 4 chỉ, Phòng đản sâm 3 chỉ, Đại đương qui 3 chỉ, Thăng ma 2 chỉ, Đại táo 3 trái, Cam thảo 2 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Bắc sài hồ 2 chỉ, Trần bì (sao) 2 chỉ, Sanh cương 5 lát.
Sắc hai nước uống ấm.
***
31.- Chận cử rét (lạnh nhiều hơn nóng)
Bắc sài hồ 3 chỉ, Phòng đản sâm 3 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Lá Thường sơn tẩm rượu (sao) 5 lá, Chế bản hạ 3 chỉ, Điều cầm 2 chỉ, Phục linh 2 chỉ, Thảo quả 3 chỉ.
Sắc hai nước, uống trước khi làm cữ một giờ.
***
32.- Chận cữ rét (nóng nhiều hơn lạnh)
Lão thục địa 4 chỉ, Xuyên khung 2 chỉ, Bắc Sài hồ 3 chỉ, Chế bản hạ 3 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Thảo quả 3 chỉ, Bạch thược 3 chỉ, Đại táo 3 trái, Lá Thường sơn tẩm rượu (sao) 5 lá, Đương qui 3 chỉ, Điều cầm 2 chỉ, Phòng đản sâm 3 chỉ.
Sắc hai nước, uống trước khi làm cữ một giờ.
***
33.- Con nít ói sữa
Thiên sanh ư trực 1 chỉ, Phòng đản sâm 1 chỉ, Phục linh 5 phân, Xuân sa nhơn 8 phân, Cam thảo chá 5 phân, Hoài sơn 1 chỉ, Biên đậu 1 chỉ, Hoát hương 3 lá.
Hốt một thang để vô chưng cách thủy, một chén còn lại bốn phân cho uống, chẳng cần mấy thang, con uống nước nhứt, mẹ uống nước nhì, cứ uống cho nhiều thì mau hết. Đừng để lâu vì bịnh nầy hay hại con nít.
đến đây đã hết, xin cảm ơn các bạn đã đọc. nếu ai mà có duyên thì nên tu tâm, tu tánh
Nam Mô A Di Đà Phật
-
-
-
-
-
-
"Bao giờ Chúa xuất An Giang
Bấy giờ thiên hạ bạc vàng đầy kho "
Bữa trước bt có theo chiếc ghe lên Hồng Ngự mua cát vàng về Bạc Liêu bán , đi ngang qua cái miếu thờ Phật Giáo Hòa Hảo thấy 2 câu thơ này trên vách tường . Ngoài ra , khắp các vách tường chỗ nào cũng có đề thơ , thơ như nửa điên nửa tỉnh , nhiều quá nên bt nhớ không hết .
Bác rambon có nghe qua 2 câu thơ này chưa ?
-
Đợi bạc vàng đầy kho thì còn lâu đấy