Trích dẫn:
BẢN TRÍCH DẪN VÀI NÉT CHÍNH
TRONG CÁC BÀI THUYẾT GIẢNG CỦA HT. THÍCH THÔNG LẠC
1.. Phật Giáo Đại Thừa không phải là Phật Giáo chánh thống, mà là Phật giáo theo kiểu kiến giải giáo pháp của Bà La Môn. Hay nói cách khác, Phật Giáo Đại Thừa là đạo Bà La Môn lấy tên là Phật Giáo Đại Thừa để lừa đảo tín đồ Phật Giáo. Cho nên nghĩa lý toàn bộ kinh sách Đại Thừa là Giáo pháp của Bà La Môn chính gốc. .(ĐVXP-Tập 8)
2.. Thiền Đông Độ không phải là của Phật Giáo mà là của Lão Giáo Trung Hoa (Tiên Đạo) Tư tưởng Lão Trang Trung Hoa phát triển, có những điểm tương đồng với tư tưởng kinh sách phát triển Đại Thừa Giáo Ấn Độ. Vì thế, sau này Phật giáo Đại Thừa đồng hóa tư tưởng Lão Giáo lấy tên là Phật Giáo Tối Thượng Thừa" hay còn gọi là "Thiền Tông". Chủ trương của Thiền Tông là kết hợp Lão Giáo và Đại Thừa, nên thường gọi là "Thiền Giáo đồng hành". ...(ĐVXP-Tập 8)
3..Khi về họp ở Tỉnh Hội Phật Giáo Tây Ninh, ông Trưởng Ban Tỉnh Hội đề nghị tôi biên soạn giáo án Tịnh Ðộ Tông, Mật Tông, Pháp Hoa Tông và Thiền Tông. Trong buổi họp hôm đó, tôi đưa ra ý kiến và vạch rõ bốn tông phái này không phải của Phật Giáo mà của Bà La Môn Giáo:
a- Tịnh Ðộ Tông là pháp môn mê tín, lừa đảo giới tín đồ bình dân, biến tu sĩ thành những ông Thầy tụng, Thầy cúng tế làm những điều mê tín, phi đạo đức. Các vị Thầy này phá giới luật Phật tận cùng, có một lối sống giống như người thế tục, có vợ con, làm tất cả các nghề nghiệp để sanh sống.
b- Mật Tông là pháp môn tà thuật, huyễn hoặc lường gạt tín đồ nhẹ dạ, ham mê thần thông, biến ông Thầy thành Thầy phù thủy, Thầy bùa, Thầy pháp, v.v...
c- Pháp Hoa Tông là pháp môn phi đạo đức, ngồi không mà muốn làm giàu, làm ác mà muốn trốn tránh tội lỗi, biến ông Thầy thành một vị Bà La Môn chuyên tế lễ, cúng bái, cầu khẩn van xin v.v... Biến Ðạo Phật thành thần giáo. Biến tín đồ mất sức tự chủ, luôn luôn sống trong tha lực, tựa nương vào thần quyền, do thế mới sản xuất ra Quán Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn.
d- Thiền Tông là pháp môn ngã chấp, lý luận có logic, dễ lừa đảo giới trí thức, biến Phật Giáo vô ngã thành Phật Giáo hữu ngã trừu tượng, mơ hồ, biến thiền sư thành giảng sư, luận sư, v.v...
Sau buổi họp đó các Thầy trong Ban Tri Sự Tỉnh Hội báo cáo về Giáo Hội Trung Ương và Thầy tôi tức là Hòa Thượng Thanh Từ. Tôi biết rất rõ điều đó, nhưng tôi không ngại, là vì tôi xác định: Những gì tôi nói là sự thật, vì sự thật thì còn để mọi người suy ngẫm, chứ sự thật mà dối gạt được ai sao? ... [ĐVXP-Tập 7]
4. Đức Phật dạy: “Tu là phải lìa xa ý muốn của mình”. Cái ý muốn của mình là gì? Là Bản Ngã Ác Pháp. Bản Ngã Ác Pháp không ly thì làm sao có Niết Bàn? Vô Ngã Ác Pháp là Niết Bàn, chứ không phải Vô Ngã là Niết Bàn, vì vô ngã cả ác lẫn thiện là cây đá. [trang 41 TCB1] Ðạo Phật chủ trương lấy thiện diệt ác, lấy đạo đức nhân quả làm cuộc sống của mình không làm khổ mình khổ người. Từ chỗ này chúng ta suy ra để thấy Ðạo Phật không mâu thuẩn, vì Ðạo Phật "Vô ngã ác pháp chứ không phải vô ngã thiện pháp". Nếu chúng ta tu hành vô ngã cả thiện pháp và lẫn ác pháp thì hóa ra chúng ta là cây, là đá; cây, đá là một loại vô tri vô giác, đó là cái vô ngã của Ðại Thừa. Ðạo Phật không có vô ngã như kiểu đó. (ĐVXP-Tập 8)
5. Một người toạ thiền thân không động, miệng không nói và ý không tư duy thì giống như cây đá, đó là thiền của Đại Thừa và Thiền Đông Độ, ngược lại thiền định của Đạo Phật thân không hành ác, nhưng thân hành thiện, miệng không nói lời ác, nhưng miệng nói lời thiện, ý không suy nghĩ điều ác, nhưng ý suy nghĩ điều thiện. Cho nên nên Đạo Phật không chấp nhận hành không, không chấp nhận hành ác, chỉ chấp nhận hành thiện. Vì vậy tu theo đạo Phật không trở thành cây đá, mà trở thành một con người hữu ích cho mình cho người, có nghĩa là không làm khổ mình khổ người, tạo cảnh sống thế gian thành cõi Cực Lạc, Thiên Đàng.....[trang 170 TCB 1]
6. Muốn triển khai Minh trí tuệ, các nhà Đại thừa và thiền Đông Độ dùng pháp hành ức chế niệm thiện niệm ác, cho tâm không niệm thiện niệm ác là định và do tâm định thì phát tuệ (chẳng niệm thiện niệm ác bản lai diện mục hiện tiền), bản lai diện mục hiện tiền là Phật Tánh, mà Phật Tánh là tánh giác, tánh giác tức là trí tuệ. Do những pháp hành tu tập để triển khai trí tuệ như vậy. Họ đã lầm, không ngờ đường tu tập ấy lại khai mở tưởng tuệ. Khi tưởng tuệ được khai mở thì lý luận của các nhà Đại thừa siêu việt tưởng, nên không tôn giáo nào tranh luận hơn được, nhất là lý Bát Nhã của Đại Thừa. Do lý luận siêu việt tưởng Bát Nhã nên nó đã phá luôn Phật Giáo chính gốc (vô khổ, tập, diệt, đạo). (ĐVXP-Tập 6)
7. Cái sai thứ nhất của kinh sách Phát Triển và Thiền Tông là: Khi tâm hết vọng tưởng do sự tập trung ức chế ý thức mà cho là định thì định đó không phải là định của Đạo Phật, mà là định của ngoại đạo.
Cái sai thứ hai là: Trong chỗ hết vọng phát sanh sự hiểu biết, mọi người đều lầm tưởng mà cho sự hiểu biết đó là trí tuệ. Sự thật đó là tưởng tri chứ không phải trí tuệ. Đức Phật đã xác định trí tuệ ở đâu thì giới luật ở đó; mà giới luật tức là đức hạnh, cho nên người có đức hạnh là người có trí tuệ, người có trí tuệ là người có đức hạnh.
Trí tuệ hiểu biết những tưởng pháp như hiểu biết trong kinh sách Đại Thừa và các công án của Thiền Đông Độ là tưởng tuệ. Sự hiểu biết đó không ích lợi cho mình cho người. Sự hiểu biết đó chỉ là một hý luận. Từ xưa đến giờ các thiền sư dựng lên trò hý luận công án nói Đông trả lời Tây, nói Nam trả lời Bắc và còn hơn thế nữa là la, hét, chỉ, trỏ, v.v...(ĐVXP-Tập 8)
8. Đọc suốt bộ kinh Kim Cang ta không thấy có một pháp hành nào cả, chỉ toàn là hý luận lý thuyết suông. Cho nên nói được nhưng chưa có ai làm được như trong kinh này. Kinh này từ xưa đến nay đã cho chúng ta ăn toàn thứ bánh vẽ......(ĐVXP-Tập 8)
9. Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới không phải là chánh pháp của Phật mà là của Bà La Môn có thâm ý muốn diệt Phật giáo nên mới chế ra Bồ Tát Giới. Mục đích của Bồ Tát Giới là bộ sách có hình thức tổ chức người cư sĩ thành một tổ chức để phục vụ cho Phật Giáo Đại Thừa. Phần thứ nhất là khuyến dụ người cư sĩ thọ Bồ Tát Giới để góp công góp của xây dựng đạo pháp của Bà La Môn, nhưng sự thật là phục vụ cho quý Thầy Đại thừa: Bồ Tát Giới là một bộ sách khuyến dụ Phật tử để lừa công sức và lừa của cải, tiền bạc của họ. Bồ Tát Giới là một loại kinh sách với thâm ý diệt Phật Giáo. Quý vị đọc cho kỹ lại bộ sách thì mới thấy rõ âm mưu thâm độc của Phật Giáo phát triển Đại Thừa. ...(ĐVXP-Tập 8)
10. Kinh Duy Ma Cật là kinh phát triển của Đại Thừa. Kinh giáo Đại Thừa là kinh sách chịu ảnh hưởng của nhiều tôn giáo khác nhau và những phong tục tập quán của con người trên hành tinh này mà thành lập ra giáo lý của mình. Nó không có gì đặc biệt riêng của nó, chỉ khéo dùng những danh từ thật kêu và cũng giống như vẽ rắn thêm chân, thêm râu, khiến cho mọi người dễ bị lường gạt tưởng là rồng thật. Giáo lý Đại Thừa và Thiền Đông Độ cũng lường gạt tín đồ như vậy, tưởng là một chân lý siêu việt của Đạo Phật, nào ngờ là một giáo lý chắp vá, như chiếc áo may nhiều loại vải thô xấu....(ĐVXP-Tập 8)
11.Kinh Thủ Lăng Nghiêm đã lừa đảo mọi người. Tánh Biết, Tánh Thấy, Tánh Nghe, những tánh này là thường, lạc, ngã, tịnh, nó luôn luôn có trí tuệ diệu dụng, hằng giác, sáng suốt vô hạn, thế mà lại chui vào cái đải da hôi thúi. Thiền Sư Triệu Châu trả lời cho một thiền tăng hỏi đạo: biết mà cố phạm. Xưa Ðức Phật cho những luận thuyết này là những loại luận thuyết trườn uốn như con lươn… Kinh Thủ Lăng Nghiêm là kinh phát triển của Ðại Thừa, do người sau viết ra mạo nhận là Phật thuyết, nên lối lý luận thiếu chân thật, không logic, thường mâu thuẫn, v.v... Kinh này chỉ dạy cho chúng ta thấy Phật Tánh thường hằng sáng suốt từ vô thủy cho đến nay. Tất cả chúng sanh từ loài côn trùng, cầm thú đến loài người đều có, có mà ngu như con bò, nên thường chịu khổ từ kiếp này sang kiếp khác. Thà là chịu ngu như loài cầm thú còn hơn có Tánh Giác mà lại ngu thì mới buồn cười cho loại kinh sách xảo ngôn. Suy nghĩ chút xíu, chúng ta sẽ thấy rất nhiều cái sai trong kinh này ..[ĐVXP-Tập 8]
12..Kinh Viên Giác không phải kinh sách Phật thuyết mà do các Tổ thuyết, nhưng các Tổ khôn khéo gán cho Phật thuyết để dễ lừa đảo tín đồ Phật Giáo và tín đồ Phật Giáo cũng dễ tin tưởng là tất cả kinh đều do Phật thuyết vì kinh sách Ðại Thừa tập kinh nào cũng bắt đầu bằng câu: Như thị ngã văn nhất thời Phật tại Xá Vệ Quốc, kỳ thọ Cấp Cô độc viên dữ ... , chỉ nội câu này cũng đủ lừa đảo người khác rồi. Kinh sách Ðại Thừa nào cũng có hai phần: 1- Dụ dỗ 2- Hăm dọa.
13..Ðức Phật Di Lặc không có, đó chỉ là một Ðức Phật tưởng tượng của các nhà Ðại Thừa Bà La Môn. Ðức Phật Di Lặc đã được kinh sách Ðại Thừa nói đến rất nhiều. Ðó là một thâm ý nham hiểm của các nhà Ðại Thừa Giáo, đưa Ðức Phật Di Lặc ra để làm một cuộc cách mạng Phật Giáo lật đổ Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, thay thế bằng vị giáo chủ mới là Phật Di Lặc. .(ĐVXP-Tập 7)
14…Bởi vậy từ khi có sự hý luận của Ngài Long Thọ với Trung Quán Luận là một tai hại rất lớn cho tín đồ Phật Giáo từ thế hệ này đến thế hệ khác chỉ toàn là ăn thứ bánh vẽ cho nên không mấy vị tu sĩ đạt được giải thoát, đến khi chết không có vị nào mà không đau khổ cả, họ đều lăn lộn trăn trở trên giường bịnh một cách khổ đau không thua gì người thế tục. .(ĐVXP-Tập 9)
15. Trên đường hoằng hóa độ sanh, Thượng Tọa bộ tuy cố giữ gốc Nguyên Thủy, nhưng vì các vị tu hành chưa chứng đắc nên có sự kiến giải trong giáo lý ấy bằng trí tuệ học giả hoặc bằng những kinh nghiệm chưa đến nơi đến chốn như: Thiền sư Mahàsi, Thiền sư A-Chaan-chah. Hai Ngài có những bài kinh soạn theo kiến giải kinh nghiệm tu hành của mình như: Mặt Hồ Tĩnh Lặng, Thiền Minh Sát Tuệ, v.v... Làm sai ý nghĩa và giáo pháp của Đức Phật rất lớn..Vì tu hành chưa tới nơi tới chốn, nên các Ngài biên soạn những loại kinh sách này vô tình đã để lại cho loài người trong hiện tại và mai sau những tai hại rất lớn, làm hao tài tốn của và phí cả cuộc đời của hậu học chẳng ích lợi gì, khi họ theo tu những pháp môn này. Trong thế kỷ này, tín đồ Phật Giáo khắp năm châu bốn biển đua nhau tu tập thiền Minh Sát Tuệ. Tu tập thiền này phải tập trung theo cơ bụng (Phồng, xẹp) nhằm diệt vọng tưởng. Loại thiền ấy thuộc về thiền ức chế tâm nó không phải là thiền của Đạo Phật.....(ĐVXP-Tập 8)
Đây là chi tiết đáng chú ý lúc cuối đời trước khi Phật nhập diệt cũng liên quan đến Bà La Môn Giáo...
Trích dẫn:
PHẬT ĂN CHAY HAY ĂN MẶN ?
Còn một vấn đề phải giải quyết là : Phật ăn chay hay ăn mặn ? Nêu câu hỏi nầy ra thì sẽ có nhiều bạn đưa ra hai lý lẽ sau đây :
Một là : Khi đi bát, người ta cho cái chi thì mình dùng cái nấy, đừng phụ lòng người. Miễn là mình đừng sát sanh thì thôi.
Hai là : Bằng chứng cụ thể là Phật ăn thịt heo của anh thợ rèn Cung Đa (Counda) đãi nên bỏ mình. Nói trắng ra là Phật ăn mặn.
Nhưng sự thật là hai lý lẽ nầy không có cái nào đứng vững cả.
Tôi xin trưng những bằng cớ sau đây :
I
Trong quyển thứ nhì của bộ sách Đời sống của Đức Phật theo kinh Trung Hoa, tác giả là ông cố đạo Léon Wieger nơi trương 170 có bài nầy :
ĐỘ BỔ LẠP NHƠN
Pháp Cú kinh vân : La duyệt chi quốc (Rajagriha) hữu sơn. Sơn hạ nhơn sinh trưởng sơn lâm, sát lạp vi nghiệp. Phật chỉ kỳ sở, tọa ư thọ hạ. Phật phóng quang minh chiếu diệu sơn trung mộc thạch, giai kim sắc. Sơn trung nam tử câu xuất hành lạp; duy hữu phụ nữ kiến Phật quang minh, lai chỉ Phật sở, tất giai lễ bái. Phật tức vi chư mẫu nhơn thuyết sát sinh chi tội, hành từ bi chi phước. Ân ái nhứt thời hội hữu biệt ly. Chư mẫu nhơn bạch Phật ngôn; sơn nhơn vụ lạp dĩ nhục vi thực. Dục thuyết vi cung nguyện đương nạp thọ.
Phật ngôn : “Chư Phật, chư pháp, bất dĩ nhục thực, bất tu phục biện. Nhân cáo chi viết: Phù nhơn sinh thế, sở thực vô số, hà dĩ bất tác hữu ích chi thực, nhi tàn hại quần sinh dĩ tự tễ hoạt tử đọa ác đạo, tổn nhi vô ích. Nhơn thực ngũ cốc tăng diên thọ mạng, sát sinh thực nhục đa bịnh yểu vong. Sát bỉ hoạt kỷ tội nghiệp vô lượng. Từ nhân bất sát sở thích vô hoạn.
Nam tử lạp hoàn, kiến chư phụ nữ giai tọa Phật tiền, sân khuê loan cung dục đồ hại Phật. Chư phụ gián viết : Thử thi Thánh nhơn, vật hưng ác ý, tức các hối quá, vi Phật tác lễ. Phật trùng vi thuyết bất sát chi phước, tàn hại chi tội. Nhơn giai bất sát hành đại nhân từ, đương mẫn chúng sinh bác ái tế chúng, phước thường tùy thân, tại sở đắc lợi, tử thăng Phạn thiên. Lạp nhơn văn dĩ, hoan hỉ tín thọ, giai thọ ngũ giới.
(Trích ở quyển Les vies chinoises du Boudha par Léon Wieger trang 170 tome II.)
PHẬT ĐỘ THỢ
Kinh Pháp Cú nói : “Ở nước La duyệt Chi (Rajagraha) có nhiều núi non. Người sanh trưởng ở chơn núi đểu chỉ chuyên nghề săn bắn.
Phật đến nước đó, ngồi dưới gốc cây đại thọ. Hào quang Phật phóng ra một màu vàng chói chiếu khắp rừng núi, cây đá. Đàn ông ở đây đều vào non săn bắn, chỉ có đàn bà con gái ở nhà. Những người nầy thấy hào quang sáng chiếu của Phật, mới tìm đến nơi ngồi, đồng làm lễ bái Phật. Phật nhơn đó giải cho các phụ nữ ấy nghe rằng : “Hễ giết hại sanh vật thì mắc tội, còn làm lành thì được hưởng phước và sự ân ái cũng chỉ một thời, chung cuộc rồi cũng phải biệt ly nhau v. v. . .” . Các phụ nữ ấy nghe xong bạch với Phật rằng : “Dân ở núi đây chỉ chuyên nghề săn bắn nuôi sống nên phải sát sanh”.
Phật nói : “Các vị Phật xưa đều dạy không nên dùng thịt, nên ta không còn khuyên gì khác nữa”. Phật lại giảng : “Người sanh trên thế, vật nuôi sống vô số, tại sao không ăn những vật bổ ích cho mình mà phải sát sanh hại vật để nuôi sống, rồi khi chết phải bị đọa vào ác đạo. Con người nên ăn ngũ cốc để mạnh khỏe, lại sống lâu. Giết thú vật lấy thịt ăn phải mang nhiều bịnh lại còn chết yểu. Sát sanh mang tội không lường, còn có lòng nhân không thích sát sanh thì được hưởng phước lành vậy”. Lúc đó các thợ săn đều về đến, thấy đám phụ nữ đang ngồi trước mặt Phật, liền nổi giận, giương cung chực bắn Phật. Song các vợ con họ đều ngăn lại và bảo rằng : “Đây là bực Thánh nhơn, đừng nóng lòng ác đối với Ngài. Tất cả thợ săn nghe vậy đều đến xin lỗi Phật và đảnh lễ Ngài. Phật mới giảng lại những điều Phật đã giảng cho các phụ nữ khi nảy cho các thợ săn nghe rằng sự không sát hại sanh linh là phước, mà sát sanh là tội. Người không còn sát sanh tức là lập hạnh đại từ bi, biết lân mẫn rộng thương giúp đỡ chúng sanh nên phước liền theo thân, rất là lợi ích, lúc thác được về cõi Trời Phạm Thiên. Các thợ săn nghe Phật thuyết xong đều hoan hỉ tuân theo, đồng thọ ngũ giới.
(Tạm dịch theo “Độ bổ lạp nhơn” trong quyển Les vies chinoises du Boudha của éon Wieger trang 170 - cuốn thứ II.)
Bài nầy chứa đựng ba ý nghĩa sâu xa.
Một là : Các vị cổ Phật đều dạy con người không nên dùng thịt, cho nên Đức Thích Ca không còn khuyên gì khác hơn nữa.
Hai là : Ăn ngũ cốc, thân thể khỏe mạnh lại sống lâu.
Ba là : Giết thú vật lấy thịt ăn, phải mang nhiều bịnh, thác yểu lại còn mắc tội.
Nó chứng chắc Đức Thích Ca không bao giờ ăn mặn. Nếu Ngài dùng thịt thì không phải là Phật nữa vì Ngài làm trái với những vị Phật đời trước. Ngài khuyên người ta không nên dùng thịt khi Ngài còn ăn thịt thì những lời dạy dỗ của Ngài không có giá trị chi cả. Lời nói và việc làm của Ngài không đi đôi với nhau. Như vậy còn ai tin Ngài nữa, còn ai nghe Ngài nữa. Ngài không làm gương cho người ta bắt chước theo và chẳng khác nào những kẻ đã bảo : “Anh hãy làm theo những lời của tôi nói mà đừng làm những điều tôi đương làm đây”.
Bài nầy rành rẽ lắm, không có chi gọi là mờ ám : “Người tu hành không nên dùng thịt”.
II
Chuyện thứ Nhì
Bà Ambapâli (cũng có một tên nữa là Amra) thỉnh Phật và các đệ tử của Ngài về nhà dùng bữa. Bà dọn ra cơm trộn mật và bánh ngọt mà đãi.
Nguyên văn chữ Pháp
Alors Ambapâli, la courtisane, plaçe le riz sucré et les gâteaux,, devant les moines, le Bouddha étant à leur tête les servit jusqu’à ce qu’ils refusassent de manger davantage.
(Avangile du Bouddha par Carus page 268).
-------------
Bà Ambapâli giàu sang tột bực, bà dư sức mua 100 ngàn con heo làm thịt dâng đãi Phật và các đệ tử. Nhưng tại sao mà bà không dọn đồ mặn. Vì lẽ bà biết Phật và các đệ tử trường chay. Thử hỏi, người ta biết mình tu hành ăn chay thì lúc mình đi bát, người ta có dám đem thịt cá dâng cho mình ăn không ? Bởi tại mình không kiêng cữ thịt nên người ta mới đem mấy thứ món đó độ mình.
40 năm nay, đọc nhiều sách Phật chữ Pháp, tôi chỉ thấy người ta dâng cho Phật sữa, cơm trộn mật và bánh ngọt mà thôi. Tôi chưa gặp đoạn nào nói Phật dùng thịt cả.
Người thường còn ở trong vòng trần tục hay là người học đạo mà chưa hành đạo thì được quyền tự do, muốn ăn uống cách nào cũng được. Trái lại, một người tu trì, một người đã được vào hàng đệ tử rồi thì phải trường chay. Đó là luật đạo, đúng theo cơ trời, bên chánh đạo không ai dám cãi. Không một nhà Huyền bí học nào tin rằng : “Phật ăn mặn cả”.
cuối sách mục lục chú thich mục lục chi tiết
CHÚNG TÔI KHÔNG BAO GIỜ TIN RẰNG
ĐỨC PHẬT ĂN THỊT HEO NÊN NGÀI BỎ XÁC.
Chúng tôi không bao giờ tin rằng tại Đức Phật ăn thịt heo nên Ngài bỏ xác do những lý lẽ sau đây :
Một là :Theo bài “Phật độ thợ săn” thì không bao giờ Ngài dùng mặn. Anh thợ rèn Cung Đa (Counda) đâu dám dọn thịt heo ra đãi, mà dầu anh không biết nên mới làm như vậy, Phật cũng không ăn đâu.
Hai là : Theo ông Oldenberg thì chữ Phạn dịch là thịt heo có nhiều nghĩa khác nhau, như là xương ngực của con heo; hoặc nấm của con heo đào. Nói rằng Phật ăn nấm của con heo đào thì còn có lẽ đúng hơn.
Ba là : Không bao giờ đồ ăn hay là bịnh làm hại xác thân Ngài được. Tới bực Chơn Tiên, dưới Phật ba bực mà còn cầm được quyền sanh tử trong tay, huống chi là Ngài. Bằng chứng là đoạn nầy “. . . Đức Phật qua sông. Ngài đi về Vaisali. Nhưng tới làng Bailva, Ngài phát bịnh nặng. Ngài đau đớn dữ dội. Ananda khóc lóc tưởng Ngài chết. Nhưng Ngài dùng nghị lực trị lành bịnh và mạnh như thường.
Bốn là : Tới Vaisali rồi Ngài vô ngồi nghỉ trong thánh điện Tchapala. Ma vương hiện ra nói : “Bạch Phật; đã đúng ngày giờ rồi, Đức Thế Tôn nhập Niết Bàn đi”. Phật đáp : “Ma vương ơi ! chưa đến lúc đó đâu. Ta biết hơn Ma vương ngày giờ nào ta lìa cõi thế. Ba tháng nữa ta sẽ nhập Niết Bàn”.
Năm là : Trong lúc ở tại thánh điện Tchapala, Phật nhứt định bỏ xác tại Kousinagara [16] . Phật bèn tỏ cho Ananda biết ý định của Ngài. Ananda bèn cầu khẩn xin Ngài ở lại trong Kalpa (Đại kiếp) nầy. Phật mới nói : “Ananda ơi ! lời cầu khẩn của con đã trễ rồi. Ta nhứt định nhập Niết Bàn”. Ananda nài nỉ Phật ba lần như vậy. Phật ở lại Bhagagama một ít lâu rồi Ngài đi Pâvâ.
Sáu là : Tới Pâvâ, anh thợ rèn Cung Đa mới thỉnh Phật về nhà anh. Sau khi dùng bữa, Ngài ra đi. Khỏi Pâvâ một đỗi thì bịnh kiết nổi lên dữ dội. Phật rất mệt mỏi, nhưng Ngài làm cho sức lực phục hồi rồi tiếp tục ra đi. Tới mé rạch Kakoutsha Ngài xuống tắm, uống nước rồi mới đi vô một cái vườn xoài. Ngài bảo Cung Đa Ka ( Coundaka) lấy áo cà sa xếp làm tư trải xuống đất cho Ngài nằm ngủ. Vài giờ sau Ngài thức dậy rồi đi nữa. Tới Kousinagara Ngài mới bảo Ananda làm một chỗ nằm chính giữa hai cây Sala đầu day về hướng Bắc.
Đoạn nầy chứng chắc một lần nữa Ngài đã thắng phục được bịnh. Nếu thịt heo làm hại xác thân của Ngài được thì khi ra khỏi Pâvâ một đỗi Ngài đã nằm liệt rồi ? Ngài bỏ mình tại đó chớ đâu còn sức lực xuống dưới rạch tắm và tiếp tục đi tới Kousinagara được. Từ Pâvâ tới Kousinagara có lẽ cũng xa cho nên Ngài đã nghỉ hai chặng đường.
Hiểu mấy đoạn trên đây ta thấy rõ, nếu hai phen Ngài đã dùng quyền năng trị lành bịnh thì Ngài cũng có thể dùng quyền năng kéo dài sanh mạng tới bao lâu cũng được. Mà tại sao xác Ngài chết. Ấy tại Ngài nhứt định bỏ nó. Ngài đã nói điều đó với Ma vương và Ananda ba tháng trước rồi. Bằng cớ còn rành rành đó. Đời sau đổ lỗi cho anh thợ rèn Cung Đa thì rất là oan cho anh. Tội nghiệp cho anh lắm. Ta nên giải oan cho anh.
Sự thật là dầu không dùng bữa tại nhà anh thợ rèn đúng kỳ hạn Phật cũng từ giả cõi trần vậy.
Thế thì riêng phần tôi, câu chuyện Phật ăn mặn và bị thịt heo rừng làm cho Ngài bỏ mình đã giải quyết xong. Nó không đúng với sự thật, nhưng tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng.
NGHĨA BÓNG CỦA CÂU CHUYỆN PHẬT ĂN THỊT HEO MÀ BỎ MÌNH.
Theo thần thoại Ấn Độ, Đức Thượng Đế VISHNOU hóa hình heo rừng dẫy đất trên không gian mà lập ra quả địa cầu của mình, đạo Bà la môn thờ đức VISHNOU.
Câu chuyện Đức Phật ăn thịt heo rừng mà chết có nghĩa bóng là đạo Bà la môn tiêu diệt đạo Phật.
Quả thật, bắt đầu từ thế kỷ thứ V đạo Phật đã suy đồi. Nếu tôi nhớ không lầm thì sau khi nể lời cầu khẩn của Ananda, Đức Phật thâu nhận bà “Dì” là Mahaprajapati vào giáo hội, Ngài có nói câu nầy : “Ananada ơi ! giáo pháp của ta chỉ còn giữ được có 500 năm mà thôi”. Thật đúng như vậy.
Qua thế kỷ thứ XI, đạo Bà la môn đã quét sạch đạo Phật ra khỏi xứ Ấn Độ, không còn dấu vết của một cái chùa nào cả. Cảnh vật điêu tàn.
Ta hãy thử tìm hiểu nguyên nhân làm cho Phật giáo mau tàn tạ ở Ấn Độ, là chỗ Đức Phật giáng sanh và truyền đạo. Nói truyền đạo thì e sái một chút bởi vì đạo Phật có ý cải cách Ấn Độ giáo hơn là lập một đạo mới, nhưng điều đó không thuộc về phạm vi cuốn nầy.
Tham khảo đầy đủ tại: