:105: nhẹ tay thôi sh !!!
Printable View
Ông bà có nói :" muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học ". Bạn quadiacau hỏi hợp lý thì có gì sai? Bản thân tôi chỉ sợ những người chẳng biết gì nhưng lại không dám hỏi. Im lặng không đồng nghĩa với biết Bác spirit82 nhé
Đức Phật kết luận:
- Trước khi chưa thành đạo, Như Lai chưa có pháp nào cả. Thành đạo rồi, suốt 49 ngày thọ hưởng hạnh phúc siêu thế; xuống lên, vào ra các tầng thiền cho thuần thục; quán ngược, quán xuôi những duyên khởi cho tinh minh; đến đi, xuất nhập các thắng trí cho tỏ suốt; ngẫm cạn, ngẫm sâu, về Tứ Đế cho tỏ tường; chẻ thô, chẻ tế các sắc, thọ, tưởng, hành, thức cho đến chỗ chi li, tinh mật - từ đấy, Như Lai mới có pháp, mới có rất nhiều pháp, mới có Pháp bảo!
Các thầy không thể tưởng tưởng được cái thấy biết của Như Lai về thế gian nội tâm, về thế giới vạn hữu, về tất cả các bộ môn học thuật trên cuộc đời này đâu. Nó rộng lớn lắm. Nó bao trùm cả hư không vô tận này. Tuy nhiên, nói hạt vi trần chia bảy mà làm gì khi kiến giải ấy không đem lại sự chấm dứt khổ, lắng dịu phiền não? Nói về các ngân hà, thiên hà mà làm gì - khi tri kiến ấy chỉ để mà thỏa mãn kiến thức - một loại trí tham, trí dục - một hình thức khác của bản ngã và si mê mà thôi! Ồ, các thầy hãy xem đây!
Rồi đức Phật nắm một nắm lá trong tay, đưa lên rồi hỏi:
- Các thầy thấy nắm lá trong tay của Như Lai nhiều, hay lá trong rừng nhiều?
- Lá trong rừng nhiều hơn, bạch đức Thế Tôn!
- Ừ, đúng vậy! Nắm lá trong tay Như Lai thật là ít ỏi so với lá ở trong rừng. Cũng vậy, nhiều như lá ở trong rừng là thấy biết của Như Lai, là sở học, sở tri, sở chứng, sở ngộ của Như Lai - nói chung là của chư Chánh Đẳng Giác - đã tích lũy được qua hằng hà sa số kiếp, qua vô lượng vô biên ba-la-mật.
Tuy nhiên, nắm lá trên tay ít, nhưng vừa đủ, vừa đủ để trao truyền cho các thầy những tinh yếu, những nguyên lý để các thầy lên đường, để mà tu tập, để mà diệt tận khổ đau. Giáo pháp của Như Lai là giáo pháp diệt khổ, thoát khổ chứ không phải để mà giải thích về vũ trụ, các ngân hà, thiên hà.
Như Lai còn biết nữa rằng, vào thời mà giáo pháp suy đồi, chư tỳ-khưu không còn tu tập giải thoát, thiền định hay giới luật được nữa - chúng sẽ biến giáo pháp của Như Lai thành một mớ triết lý, triết luận - nghe thì có vẻ hay ho, cao siêu nhưng mà rỗng không, phù phiếm. Là cái trò chơi văn, giỡn chữ ồn ào, huyên náo ở chợ búa, ở quán nước và ngay cả tại các giảng đường, tu viện, học viện!
Một bọn khác - cũng không còn tu học chính đính, hành trì giới luật nghiêm túc được nữa - bèn chứng tỏ kiến văn, sở học của mình - muốn giải thích cả số lá vô lượng, vô khả lượng trong rừng cây kia. Chúng muốn vượt qua cả Như Lai! Những điều Như Lai im lặng, không nói vì thấy vô ích, vô bổ, phù phiếm - thì chúng lại huyên thuyên giảng nói, không biết đâu trúng, đâu trật; chẳng biết đâu là sở tri hữu dụng và đâu là kiến tri chỉ để lòe đời, bịp đời! Chúng họp bè, kết phái, lập tông... để tự giương danh mình, giải thích giáo pháp của Như Lai bằng cái kiến văn đựng trong cái vỏ ốc, vỏ hến ngu si, tối tăm nhưng đầy kiêu căng và khoa đại của chúng!
Có bọn - thì thấy giác ngộ, giải thoát, giới luật khó quá - nên trở lại với bà-la-môn giáo thời sa đọa là luyện chú, luyện bùa, đọc mật chú, thần chú để chữa bệnh kiếm tiền, để giúp việc mua may bán đắt, thăng quan tấn chức, lắm vợ nhiều con, được danh đoạt lợi. Chúng còn lấy cái bí bí, mất mật ấy... để dẫn dắt mọi người đến nơi giác ngộ, giải thoát! Cho đến, chúng còn có khả năng siêu nhiên là dẫn dắt thần thức người chết (phàm phu, chưa tu tập) đến các cảnh trời và cả Niết-bàn nữa!
Có bọn - chứng tỏ ứng hợp với thời đại, đã lấy kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học, sinh học, lý học, vũ trụ học, thiên văn học, địa lý học, số học, toán học, cả triết, cả thơ và cả văn để giải thích giáo pháp của Như Lai! Bọn chúng nói chỉ để mà nói, mà khoe mẻ ta đây là học giả, là bác học nhưng năm giới cũng không giữ được, thậm chí, một giới cũng không giữ được - nói gì đến định, đến tuệ, đến tuệ giải thoát!
Ủa thưa bác smc! Bài trên bác viết thì LÀ KINH PHẬT hay là bài luận của riêng bác? Nếu là bài luận thì bác tô đỏ đoạn nào là KINH cho em rõ. Hì. cám ơn bác
Thời ĐỨC PHẬT, ấn độ đang THỜ ĐA THẦN. Nếu nghiá sang TRUNG ĐÔNG AI CẬP, HỌ CŨNG ĐA THẦN, ĐẦY PHÙ THUỶ. Đức Phật ko muốn dân ẤN ĐỘ THỜ THẦN LINH NỮA, và PGNT LÀ VÔ NGÃ VÔ THẦN QUYỀN. Còn Dân DO THÁI ISRAEN ĂN NHỜ Ở ĐẬU TRONG ĐẤT AI CẬP, BỊ VUA AI CẬP BẮT LÀM NÔ LỆ, THIÊN CHÚA CỨU HỌ RA, VÀ DẠY "KO THỜ THẦN NÀO NỮA, CHỈ THỜ DUY NHẤT ĐẤNG ĐÃ CỨU HỌ"
Kính @Sesônglai : Bài tôi post bên trên là một bài luận của một người khác. Bạn có thể tìm đọc thêm trên Google với tiêu đề: "Bài học về rừng" ở link này, hoặc chương 46 - Nắm Lá Simapa - trong "Đường xưa mây trắng" của TS.Nhất Hạnh.
Thân !
Đây là dẫn chứng trong kinh PGNT Đức Phật nói về các vị Phật khác.
Họ là các vị Phật thành tựu trước Đức Phật, tất nhiên là trước hệ thống kinh điển Pali của PGNT.
Rõ ràng kinh điển Pali của PGNT không phải là con đường duy nhất để thành tựu.
Chân lý 2+2=4 không hề phụ thuộc ai là người "nguyên thủy" thuyết giảng về chân lý này.
Tôi học Thiển, đọc cả kinh điển PGNT và kinh điển Đại thừa và không thấy mâu thuẫn gì làm lung lạc đường tu của mình và tôi thấy Hạnh Phúc về điều đó.
Bạn muốn biết những điều đó thì bạn tìm đọc cuốn ''Chánh giác tống - Hòa Thượng Bửu Chơn'' sẽ có những giải đáp cho bạn nhé. Nếu bạn không tìm được thì email theo địa chỉ binhduong1910@gmail.com tôi sẽ gửi cho bạn nhé.
Chúc bạn luôn an vui!
Cám ơn các bạn đã trả lời những thắc mắc của mình :77: , nhưng mình vẫn hơi lấn cấn mơ hồ 1 chút :
Như vậy là sẽ có công nhận người nào muốn thành Phật thì phát nguyện thành đức Phật Toàn Giác tu đầy đủ 30 Ba La Mật.
Vậy các vị đã đắc A La Hán mặt dù đã giải thoát nhưng không đầy đủ 30 Ba la mật phải không ? Họ sẽ không quay trở lại để cứu độ mọi người sao ?
Chẳng lẽ từ vô lượng kiếp trải qua các thời đức phật nói trên cho đến Phật Thích Ca không một vị A La Hán nào phát nguyện quay trở lại thành tựu 30 ba la mật để cứu độ mọi người sao ?
Nếu có .. thì mình nghĩ các vị bồ tát trong giáo lý đại thừa tồn tại là có cơ sở chứ, họ là các A LaHan từ xưa giờ quay trở lại đang trên đường tu tiếp 30 ba la mật vì mục đích nối bước chư phật trong quá khứ
(có thể Đức phật Thích Ca cũng là một trong các vị ALaHan từ xa xưa phát nguyện tu 30 Ba la mật đến nay mới thành tựu)
Và vì họ đã chứng A LaHan rồi nên việc ra vào sanh tử kiếp này kiếp khác tự tại , làm những việc siêu phàm để thành tưu ba la mật giúp đỡ chúng sinh là hiển nhiên, tạo nên lòng biết ơn trong dân chúng khiến mọi người sùng bái và thờ cúng
(một chư thiên hay quỷ thần thông thường cũng đã có thể dùng thần thông dời non lấp bể nói chi đến các vị đã chứng niết bàn thần thông có thể tự nhiên phát sinh theo đại nguyên chân thật)
Không biết mình nghĩ vậy có bất hợp lý không, có thiếu logic không ?
MS đã tìm thấy rồi. Trong Kinh Đại Bổn thuộc Trường Bộ có nói về 7 vị Phật quá khứ và hiện tại
Đúng vậy
Theo Kinh Điển của Phật Giáo Nguyên Thủy, thì một vị A La Hán khi chứng đắc giải thoát thì "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa. Vị ấy ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn, khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người"
Trước khi ngài thành Phật, ngài là đức Bồ Tát tu tập để viên mãn thành tựu 30 Ba La Mật, nên giờ ngài đã thành bực Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cứu khổ chúng sanh, thuyết pháp cho chúng sanh thoát khổ.
Câu Phật ngôn trong Tạng Kinh, Bộ Itivuttaka đoạn Dutĩyavagga. Bài kinh Sattamasutta dạy:
Này các thầy Tỳ-khưu, trong kiếp hiện tại này vị Tỳ-khưu nào đã xa lìa phiền não, hết những phiền não, ngủ ngầm trong tâm, đã hành tròn phạm hạnh, làm xong nhiệm vụ, để gánh nặng xuống, diệt tận kiết sử pháp, tạo điều lợi ích cho mình, đã giác ngộ và giải thoát. Song nếu còn thân ngủ uẩn này gọi là Hữu Dư Niết Bàn. (Ý nói: Chư A-la-hán đã hoàn toàn giải thoát nhưng còn mang thân ngũ uẩn này vì chưa hết tuổi thọ của kiếp sống. Các Ngài vẫn sống như người thường, đây là còn dư sót thân nhưng không còn phiền não.)
Khi các Ngài sống hết tuổi thọ xong, nhập diệt gọi là Vô Dư Niết Bàn.
Trong câu Phật dạy, có đoạn nói: "bỏ gánh nặng xuống". Có nghĩa là bỏ ba điều rất là nặng nề, thường do nơi ba điều ấy mà chúng sanh bị chìm trong biển khổ mãi. Ðó là:
1. Gánh nặng ngũ uẩn.
2. Gánh nặng phiền não.
3. Tạo tác nghiệp thiện hay ác là gánh nặng.
Có đoạn nói Diệt trừ tận mười Kiết sử nghĩa là mười sợi dây trói buộc người lại trong biển trầm luân. Mười kiết sử đó là:
1) Thân kiến: chấp có cái ta
2) Nghi: không tin chơn lý và người tìm ra chơn lý
3) Giới cấm thủ: mê tín tà giới cho rằng những điều kiêng cử tà vạy có thể đưa đến giác ngộ-giải thoát
4) Tham dục: đam mê dục lạc
5) Giận dữ: tàn bạo, độc ác
6) Tham sắc: đam mê hình sắc vi tế thuộc cõi sắc giới
7) Tham vô sắc: đam mê sự hiện hữu thuộc cõi vô sắc giới
8) Mạn: kiêu căng, ngạo mạn
9) Giao động: náo động bên ngoài, không thanh tịnh trong tâm
10) Vô minh: không hiểu khổ và còn đường diệt khổ
Niết Bàn là nơi yên tĩnh tuyệt đối, không thể giải bằng lời ví dụ, bằng sự vật thực. Nhưng Niết Bàn có ba đặc điểm khác thường là:
1. Trạng thái: Niết Bàn có sự hoàn toàn an tịnh là trạng thái.
2. Vị: Niết Bàn có sự bất diệt là Vị.
3. Hiện tượng: Niết Bàn có sự không có giới hạn là hiện tượng.
Sở dĩ mà người không thấu đáo hay đoạt được quả vị thanh cao là Niết Bàn bởi người ấy còn chứa đựng Phiền não là Tham Lam, Sân hận và Si mê Tà-kiến v.v... tạo ra nhiều nghiệp chướng Thiện hay Ác nên vẫn còn phải Luân hồi.
Trong Phật Giáo Nam Tông Nguyên Thủy thì một vị A La Hán nhập Niết bàn là được vào nơi yên nghỉ trọn vẹn giải thoát hoàn toàn viên mãn, chấm dứt hết tất cả mọi phiền não khổ đau.
Nhưng trong Phật Giáo Đại Thừa Phát Triển thì Trong thời kỳ đầu, Đức Phật khuyên chư đệ tử diệt phiền não để đắc quả A La hán, đắc Niết Bàn tại thế (Hữu dư Niết Bàn) và đến chứng tịch thì nhập hẳn Niết Bàn trọn vẹn (Vô dư Niết Bàn). Những đệ tử nghe theo Ngài, cố diệt các sự luyến ái, đắc và nhập Niết Bàn, đó là nhập Niết Bàn tạm mà thôi. Rồi sau đó phải lo đắc Đại Niết Bàn, tức là Niết Bàn của Phật Thế Tôn, Như lai. Vị A La Hán tuy đã đắc Đạo và nhập Niết Bàn, vào nơi yên nghỉ, nhưng là cảnh yên nghỉ tạm thời mà thôi. Rồi đây, các vị A La Hán ấy còn phải tu học nữa đặng về sau thành Phật Thế Tôn. Những vị A La Hán hoan nghênh, bèn thi hành chủ nghĩa Đại thừa, các Ngài bèn thành chư Bồ Tát Ma Ha Tát.