-
Ba Nửa chết vì rượu hay là vì đụng đến cái mả cổ, điều này chưa biết chắc nhưng đã phải ngưng đào vài ngày, nhiều khi có thể phải ngưng vĩnh viễn.
Cái hòm của Ba Nửa đặt chình ình trong trụ sở xã đội, bản nhạc hồn tử sĩ từ cái cát xét lâu ngày đã bị nhão ngân nga nghe thật thảm não “đêm khuya âm u….ma đánh đu trên nóc nhà…tòng teng…”. Ba Nửa tuy nghèo nhưng y chết bất đắc kỳ tử nên cũng có khối kẻ tò mò đến viếng để xem hư thực, bên ngoài đã nghe phong phanh đồn đại trong dân về lời nguyền dành cho những kẻ dám động vào ngôi cổ mộ.
Nhân lúc phải ngưng vài ngày, Tư Hường và ĐHC tranh thủ qua bên phía tây của khu mộ cổ, vào gặp tay chủ nhà vẫn còn chưa hết hồn vía vì lần đào trước, thuyết phục y mãi, sau cùng phải chi ra một ít tiền thì tay chủ nhà mới dẫn cho xem chỗ mà bọn Huỳnh Đỏ đã từng đào.
Đó là một cái hố đã bị lấp lại một cách sơ sài nên có thể hình dung được bọn Huỳnh Đỏ đã đào như thế nào. Bọn này đào đến đâu thì dùng tôn chắn đến đó để cát không tràn xuống, đục xuyên qua khoảng ba lớp đá ong dày thì đến được trung tâm của ngôi mộ… nếu không nắm được cấu trúc của ngôi mộ thì chắc chắn không thể đào được như vậy, một đường đào vô cùng chuyên nghiệp, hơn nữa phải có máy khoan xuyên đá mới có thể làm được, loại máy này ở VN chưa có, chắc mấy tay Đài Bắc mang lậu từ nước ngoài vào. Bọn Huỳnh Đỏ không thể đủ trình độ để đào được như vậy, chắc chắn một trong hai tay Đài Bắc là tác giả của đường đào này, có thể chính là tay đã bị xe tải tông chết… Xem chừng cái chết của y không ngẫu nhiên chút nào, và tay còn lại bỏ của tháo chạy về nước cũng là phải rồi, ở lại có khi cũng về chầu ông bà sớm. Không thể hỏi tay chủ nhà là bọn Huỳnh Đỏ đã thấy những gì, đã lấy đi những gì… bởi vì hoặc là y không biết, hay biết cũng không bao giờ dám nói.
Buổi chiều hôm đó có một người lạ mặt đến tìm ĐHC, y gầy gầy, đi đôi dép lẹp xẹp, mặc một bộ đồ cũ xì, nói giọng Quảng Bình “có rất nhiều đơn kiện các ông, có một cái đơn tố cáo mấy ông đào được một pho tượng phật vàng nặng cả chục ký mà ém cất đi không báo cáo chính quyền…”. Người này trong quá trình đào đã từng thấy y xuất hiện mấy lần, lẫn vào mấy người dân đến xem. Thực ra việc thuê mấy tay DK xã không phải để đào đất mà là để canh chừng dân đào thuê là chủ yếu, cao điểm có khi lên đến cả trăm người đào trong ngày, đều là dân tứ xứ, nếu không có DK thì khó có thể quản lý trật tự được. – Tay Quảng Bình nói tiếp “tôi hầu như theo dõi suốt nên biết chắc là không có chuyện đó…” – Tay này chắc thuộc ban nội chính…, những vụ lớn, dính líu đến các quan chức tầm cỡ, đến CA hay QĐ đều là do cái ban này triệt phá, trong ban tập hợp những người có thể nói là tinh hoa nhất của cơ chế…Tay Quảng Bình này chắc cũng muốn kiếm chút cháo, chỉ tiếc là nồi cháo của Tư Hường giờ đã cạn, may ra còn được cái tộ kho quẹt thì quá mặn… chắc là y đang lần theo dấu một đường dây buôn đồ cổ, có thể dính cả đến cái mả cổ… mà trong đó Sáu Ri cũng rất sáng giá. Sáu Ri tên là Nguyễn Văn Ri, con của Nguyễn Văn Rạng, cháu của Nguyễn Văn Rô, ba đời thuộc dòng dõi gốc gác… Trời đánh bảy búa mà Sáu Ri còn chạy lúp xúp, lúp xúp thì thử hỏi có việc gì mà y không dám làm ?
-
Hai Đụi có một gương mặt rệu rạo, nhăn nhúm, bèo nhèo như cái mền rách. Y ốm cà tong cà teo, suốt ngày say xỉn như Ba Nửa, một thời nào đó Hai Đụi cũng là một người du kích thật sự, bàn chân từng dẫm lên gai nhọn, đạp trên đá cứng, từng nằm đất phơi sương, lướt đi dưới làn đạn. Thỉnh thoảng hôm nào không say, trong lúc mọi người đào thì Hai Đụi rảnh rang ngồi phía trên cũng kể nhiều chuyện quá khứ vào sinh ra tử của y rất hấp dẫn, như chuyện “Cọp xám Bình Long” chẳng hạn:
Cọp Bình Long có bộ lông màu xám tro, nặng cỡ chừng 80 đến 120 ký, con to lắm cũng chừng 150 ký là hết cỡ. Có điều tuy nhỏ nhưng cọp xám Bình Long lại rất dữ và nhanh nhẹn phi thường. Do chiến tranh ác liệt, bom đạn ầm ầm nên dần dần cọp xám Bình Long trở nên quen thuộc, không hề sợ hãi khi nghe tiếng súng, tiếng bom nổ mà ngược lại mỗi lần nghe thấy chỗ nào có đánh nhau, súng nổ đì đoàng là cọp xám Bình Long lại mò tới để bắt thương binh đang nằm một chỗ không chạy được hay lính mới vừa chết trận xác hãy còn nóng mang vào rừng sâu ăn thịt. Ăn thịt người riết trở nên ghiền nên cọp xám Bình Long càng ngày càng trở nên hung dữ, cứ nghe tiếng súng ở đâu là lại kéo nhau mò tới.
Lần đó trong trung đội DK có Tám Ngàn, cao gần thước chín, vai u thịt bắp, chuyên gánh cơm cho anh em. Anh ta có sức khỏe phi thường, có thể vác ba hòm đạn trên vai mà vẫn chạy như bay. Trong lần chống càn ở Bình Long, Tám Ngàn và Tư Theo có nhiệm vụ cáng thương binh mang về cứ. Đang gom được hơn bảy tám người đặt nằm một chỗ thì cọp xám Bình Long ở đâu xuất hiện, con này rất to… Tư Theo bất ngờ thấy con cọp lù lù hiện ra, sợ quá đứng đờ cả người, con cọp vụt nhảy tới tính vồ lấy một thương binh lôi vào rừng thì Tám Ngàn về tới liền xông đến chiến đấu với con cọp. Ban đầu Tám Ngàn có cây đòn vông trong tay nên chiếm lợi thế, phang con cọp tới tấp, lát sau cây đòn vông bị gãy nên đành tay không đánh nhau với con cọp. Do bị trúng phải một cái vả vào sườn, mất cả một mảng thịt, ra nhiều máu nên Tám Ngàn từ từ suy yếu, cuối cùng anh ta bị con cọp cắn vào gáy, quăng lên lưng cõng chạy vào rừng mất hút. Khi toán DK Hai Đụi trở về thì chỉ còn thấy Tư Theo đứng cứng ngắc như người chết rồi, anh ta không nói được, ú ớ đưa tay chỉ vào trong rừng… toán DK liền xông vào rừng thì không còn kịp nữa, cọp xám Bình Long đã ăn hơn một nửa người của Tám Ngàn rồi…
Tuy nhiên không phải lúc nào cọp xám Bình Long cũng chiến thắng, đó là lần DK bị càn quá phải rút sâu vào rừng. Trong lúc chỉ còn có mấy thương binh và hai cô y tá ở lại trong lán thì cọp xám Bình Long lại mò tới, có lẽ nó khoái thịt phụ nữ hơn hay sao mà lần này thay vì bắt thương binh thì nó lại chụp lấy chân một cô y tá lôi đi, cô này la hét dữ dội, có anh thương binh chợt tỉnh liền ráng chồm đến níu lấy cô y tá, giằng co với con cọp. Cô còn lại đang giặt quần áo, mùng mền dưới suối nghe tiếng la liền chạy lên phóng luôn một đá trúng ngay bụng con cọp. Cọp xám Bình Long bị một đá chắc là rất đau nên nó bỏ cô kia ra, quay lại tấn công cô này. Cô y tá này tên Xiếu, rất to khỏe, là con nhà nòi võ Tây Sơn, Bình Định… cô ta chỉ hai tay không, vừa vờn vừa đánh, vừa lùi dần xuống suối…
-
Cô Xiếu có mái tóc dài chấm gối, đen mượt… quần thảo với con cọp một hồi thì tóc cô xõa xượi, quần áo lúc thì bị móng cọp vụt phải, lúc thì bị vướng vào bụi gai nên rách te tua, người gần như trần truồng, da thịt tươm máu. Cọp xám Bình Long mắt thì nhìn thấy thân thể đàn bà ngồn ngộn, mũi thì ngửi thấy mùi máu người tanh nồng nên càng lồng lộn điên cuồng, lúc cô Xiếu vớ được một khúc cây thì đã lùi đến sát bờ suối… Bấy giờ bên bờ suối có mặt cát rất rộng nên con cọp tính đánh đòn quyết định, nó lùi lại, thu mình xuống, cái đuôi đưa qua đưa lại… còn bên kia cô Xiếu cũng kịp quấn mái tóc dài vào hai cánh tay, cầm chắc lấy khúc cây đưa ra phía trước, người hơi khum xuống. Con cọp thấy ngon ăn liền phóng tới, hai vuốt nó chụp lấy hai cánh tay cô gái nhưng bị mái tóc dầy của cô làm cho vướng víu, nó tính hả cái họng khổng lồ táp tới thì bất ngờ cô Xiếu ngả người, con cọp chưa kịp phủ lên thì bị trúng cú đạp bằng cả hai chân vào hạ bộ bật lộn tuốt qua phía bên kia bờ suối. Cọp xám Bình Long bị trúng phải cú đá trời giáng ngay chỗ nhược, nằm chết lè lưỡi dài cả tấc…
Cọp xám Bình Long đã ghê gớm lắm rồi nhưng theo Hai Đụi thì chưa ăn nhằm gì với con rít chúa, khi nào cao hứng y lại kể chuyện “Rít chúa vùng biên giới”:
Lần đó Hai Đụi đang đóng quân ngoài bìa rừng sát biên giới Cao Miên thì nghe ào ào, ào ào… nhìn ra thì thấy mấy tay lái trâu đang bỏ chạy thục mạng, Hai Đụi và mấy tay DK nữa xách súng lật đật chạy ra, gặp mấy con trâu cũng đang bỏ chạy tán loạn, có điều mấy con trâu này như bị trúng tà khí hay sao mà con nào con nấy sùi bọt mép, chạy lảo đảo như không muốn nổi… Rồi cát bụi ở đâu bay đầy trời, một con gì đen thui phóng đến, dài cả hàng mấy mét, Hai Đụi còn kịp nhìn thấy nó có hàng chục cái chân. Con thú phóng như bay tới một con trâu, con trâu này dường như quá sợ hay sao, nó lắc lư cái đầu, bọt mép sùi ra ngoài giọt giọt… Con thú cắn cổ con trâu vật ngã một cái rầm, sau đó nó phóng lên trên cắn thủng bụng con trâu lôi nguyên cả bộ đồ lòng ra ngoài, có điều nó không ăn liền mà để đó, quay ra phóng theo mấy con trâu khác để vật tiếp. Bọn Hai Đụi thấy thế liền chĩa ngay mấy khẩu AK vào con thú nã đạn dồn dập… con thú cứ như là bằng thép hay sao, đạn bắn cả băng như vậy mà dường như không ăn thua gì. Thấy bắn không thủng, mấy tay DK cũng bỏ chạy, may là con quái thú không đuổi theo, nó chỉ lo vật mấy con trâu…
Sáng hôm sau kéo quân ra thì thấy ba con trâu đã biến thành ba bộ xương, chẳng còn dính một chút thịt nào. Dân buôn trâu kể đó là con rít chúa, chắc nó đang nuôi con nên vật mấy con trâu làm mồi… Gặp phải rít chúa thì chỉ có cách bỏ của chạy lấy người vì đạn bắn không thủng được nó, còn trâu gặp nó thì sợ hãi đến mức không chạy nổi, chỉ lết lết và sùi bọt mép chờ rít chúa đến moi bụng. Chỉ có mỗi con rít mà không làm gì được thì mang tiếng DK làm cái quái gì? nên toàn đội DK bàn bạc với nhau quyết chí phải diệt cho bằng được con rít chúa. Hôm sau đám buôn trâu chấp nhận hy sinh thêm một con trâu nữa để làm mồi, con trâu được cột vào một sợi dây thật chắc đề phòng khi gặp con rít nó bứt dây bỏ chạy, còn đội DK thì mỗi người đều cột ba trái lựu đạn lại thành một chùm, bao vây xung quanh.
Con rít chúa này quá dạn, ngửi thấy mùi trâu là nó phóng đến liền. Con trâu thấy nó thì quýu cả giò, khụy xuống, con rít phóng đến vật con trâu ngã cái rụp, sau đó nó moi ruột gan con trâu ra lòng thòng… Con Rít chúa rít lên mấy tiếng nghe chói cả tai, từ trong mấy cái hang sâu xuất hiện cả trăm con rít con, gọi là rít con chứ con nào con nấy to bằng bắp vế bò ra ào ào, bu lấy con trâu ăn thịt. Lúc bấy giờ mấy tay DK mới quăng mấy trái lựu đan xuống dưới bụng con Rít chúa, nó mải ăn nên không để ý, chỉ nghe một tiếng nổ long trời, con Rít chúa bị đứt ra hàng mấy khúc văng tứ tán. Hai Đụi còn kể lần đó mang mấy khúc thịt rít về làm gỏi nấu cháo ăn ngon và thơm còn hơn cả thịt gà nhiều.
Cũng như Ba Nửa, đối với Hai Đụi cái thời đó đã là dĩ vãng, bây giờ y chỉ là một cái xác không có linh hồn. Linh hồn y đã ngã xuống cùng với những người đồng đội từ thời xa xưa rồi. Thời gian khổ nhưng oanh liệt đó may ra chỉ còn ở trong câu hát ngày nào:“Mòn mỏi ánh trăng thu soi mơ màng trên đường xa, nấp sau bóng mờ ta xung phong. Lướt qua hầm qua hố, qua giông tố, mưa gió hiểm nguy, đứng lên liều thân cứu nước nhà… Bọn phát xít khát máu, chúng bay run lên đi, run lên đi… chúng bay sẽ đến ngày bại vong. Trong tối đám quân ma âm thầm đi bủa vây, âm thầm đi chăng lưới…”.
-
cảm ơn huynh Đại Hồng Cát! rongrose ko biết nói gì hơn là chuyện của huynh hay, quá hay...!
-
Bảy Bụng và Chín Cò thì không thế, họ mới vào DK sau này, họ là những kẻ thức thời, sẵn sàng đạp lên cái quá khứ đau buồn để tìm đến một tương lai no cơm ấm áo hơn… Điều đó không phải là đúng hay sao? Đó không phải là cái mà mọi người đang tìm đến hay sao? Đối với họ chỉ cần có nhiều tiền là được, tiền là sự bảo đảm cho tương lai, tiền là tất cả trong tâm trí, tình cảm và hành động của Bảy Bụng và Chín Cò. Đất cát lên giá thì đời Chín Cò lên hương vì y được thừa hưởng khá nhiều ruộng đất từ ông bà để lại. Vì thế y xây được căn nhà ba gian khá khang trang, vì thế y được bạn bè vây bọc nịnh nọt xung quanh, thượng cấp chiếu cố và nhất là cưới được cô vợ xinh tươi như bông hoa súng vào buổi bình minh.
Ngoài cái thú đếm tiền, cái thú đặc biệt nhất của y là rình xem phụ nữ tắm, cái thú đó có từ khi y còn rất bé, hầu như cả xóm biết chuyện này, vì thế sau lưng mọi người gọi y là con “Cò Ma”.
Ở miền quê, nhà tắm thường làm ngay ngoài vườn, nhiều khi chỉ che tạm vài tấm nilon, có tấm lâu ngày rách te tua nên con Cò Ma có điều kiện trường kỳ mai phục. Nhiều khi buổi trưa trời nắng chang chang như đổ lửa, Chín Cò gồng mình chui vào đống rơm, phía bên kia là cái nhà tắm che sơ sài mấy tấm nilon rách, em gái nào nực nội nhảy tùm xuống ao bơi vài vòng sau đó lên bờ vào nhà tắm thay đồ, xối lại vào gáo nước là lúc đó con Cò Ma được thỏa sức ngắm nhìn cái tòa thiên nhiên của tạo hóa.
Rình xem phụ nữ tắm là một cái thú trải dài từ nam chí bắc, từ vùng quê nghèo nàn lạc hậu đến những vùng thị thành sầm uất, văn minh. Hình như đó là một bản năng khá phổ biến ở đàn ông, nghe kể ngày xưa có một vị vua Trung Hoa cũng có cái khoái cảm này, mặc dù có trong tay cả ngàn phi tần nhưng ông ta lại khoái lén rình xem họ tắm hơn cả, vua mà còn như thế thì việc Chín Cò làm đâu có gì là lạ ?
Từ khi vào DK thì Chín Cò có điều kiện phát huy tối đa cái sở thích rình rập của mình. Y rình rập mọi lúc, mọi nơi, mọi điều thầm kín của con người đều được y dòm ngó, xem trộm và trình báo, vì thế y được Sáu Ri ưu ái hơn hết thảy.
Bảy Bụng thì không làm được điều đó vì y quá dềnh dàng, cái bụng to như cái trống, bộ ngực còn to hơn cái trống nữa nên nhìn cứ như một người khổng lồ. Y lại để bộ ria xù nom giống hệt con chuột cống nhum, một con chuột cống vai u thịt bắp, một tay sai cần mẫn đích thực. Nom lực lưỡng là thế nhưng đừng tưởng Bảy Bụng thuộc loại “đầu óc ngu si, tứ chi phát triển”, y giảo hoạt còn hơn Chín Cò nhiều. Y biết đưa biết đẩy, biết môi miếng, biết dùi sâu vào những mâu thuẫn hay những nỗi đau của người khác để từ đó thêm phần hưởng lợi. Con Chuột Cống Bảy Bụng cũng được thừa hưởng gia sản của ông bà để lại như con Cò Ma, trong đó có nhiều món đồ cổ rất có giá trị như cái tủ thờ bằng gỗ mun khảm xà cừ, bộ lư đồng cổ, một số đồ sứ cổ và đặc biệt có cả một cái sừng tê giác… Ngoài ra nhờ những phi vụ môi giới đất đai cho xã y cũng kiếm chác được khá nhiều…
Y cũng thích rình xem phụ nữ tắm, mà lại rình đúng ngay cô vợ của Chín Cò nên lần đó hai thằng xách súng mém bắn nhau, may mà có Sáu Ri can thiệp kịp thời. Tuy ngoài mặt thì dàn hòa như vậy nhưng trong bụng con Cò Ma và con Chuột Cống cũng còn “hầm” nhau lắm…
-
Có rất nhiều lời đồn đại xung quanh cái chết của Ba Nửa, trong đó có lời đồn thổi về lới nguyền của ngôi cổ mộ, lời đồn này cũng có cái lợi là làm đám dân đen thấp cổ bé họng, đám đầu trộm đuôi cướp hoảng sợ mà tránh xa. Lần đó viện cớ không có tiền, vợ Ba Nửa không chịu làm cúng thất, DK xã đành phải cùng nhau làm một bàn tiệc nho nhỏ để cúng cho hương hồn Ba Nửa khỏi tủi thân. Bàn tiệc làm ở nhà Chín Cò, hôm đó hầu như có mặt đông đủ nhưng giữa chừng Sáu Ri cáo việc phải đi. Khi tất cả đã ngà ngà, vợ Chín Cò cất tiếng ca một bài “tân cổ giao duyên”:
“Nghe tiếng đàn ai rao sáu câu
Như sống lại hồn Cao Văn Lầu
Về Bạc Liêu danh tiếng
ôn lại giấc ngủ vàng son
Một thời để nhớ ngày đó xa rồi…
Bên nước mặn biển cho muối nhiều
Bên nước ngọt phù sa vun bồi
Bạc Liêu đưa ta tới
thăm đồng lúa trải ngàn khơi
Cò bay thẳng cánh nhìn mỏi mắt người…”
…………………………………
Đang vui vẻ nhậu nhẹt, cười nói ca hát ồn ào, bỗng nhiên Bảy Bụng đứng dậy chỉ ngay mặt Chín Cò “mày đừng tưởng có tiền là mày ngon, mày chỉ là cái con củ c…” – giữa bàn nhậu đông đủ chiến hữu, quan khách lại bị chửi một cách lãng xẹt, Chín Cò quê mặt, y cũng đứng dậy chỉ ngay mặt Bảy Bụng “mày đúng là cái thằng ngu…đm…mày càng liếm đít Sáu Ri mày càng ngu, tao nói cho mày biết…cỡ mày chưa đáng xách dép cho tao” – “… mày đừng tưởng mày tâu mày hót, mày rình mày rập là làm tao sợ, cỡ mày chỉ đi rình được mấy con đàn bà… có ngon ra giữa sân chơi với tao…” – Bị chửi đúng vào chỗ nhột, nghe “búp” một cái, Chín Cò cầm luôn chai rượu đập thẳng vào đầu Bảy Bụng, may mà Út Thứ đưa tay ra đỡ được, lúc này Hai Đụi cũng đứng dậy, dù sao thì y cũng có quá khứ, cái quá khứ đó tuy chẳng là cái đinh gì nhưng cũng làm đàn em phải kiêng nể “các chú nể mặt anh thì im hết… hôm nay là cúng thất của anh Ba mà các chú làm lung tung thế thì coi sao được ? anh đề nghị chú Bảy với chú Chín yên lặng, thằng nào uống được thì uống tiếp, còn không uống nổi thì về… không được cãi nhau làm anh em mất đoàn kết…”
Chín Cò tuy làm ra vẻ lốp xốp như vậy nhưng thật ra y rất nhát… còn Bảy Bụng thì được dịp không có Sáu Ri, làm bộ bộc phát chửi tứ tung cả lên chứ thực ra y còn nhát hơn cả Chín Cò nữa. Tư Thăng nãy giờ lầm là lầm lỳ, chuyện hai thằng tay sai ghanh ghét nhau đâu có gì là lạ…nhưng y cũng khều Út Thứ kêu nó ca tiếp vài bài hát cho không khí bớt căng thẳng.
Út Thứ vén mái tóc xoăn lòa xòa trước trán, nốc luôn một ly “xoay chừng” rồi cất tiếng ca, bài ca nghe thật ảo não :
……………………..
“Ai nhớ chăng ai …
Ai nhớ chăng hôm nào
Hôm nào mưa rớt trên sông dài
Bên cầu em tiễn anh một chiều
Chiều chia ly còn chưa phai
Trời buồn khóc giùm duyên ai
Giọt lệ tuôn ngắn dài…”
……………………………..
Lúc bấy giờ trời đã chiều lắm rồi, mặt trời đã khuất sau cánh đồng, một vài gia đình đang nổi lửa đốt rơm, khói bay lên nghi ngút, không biết hương hồn Ba Nửa có đến dự tiệc hay sao mà bỗng một ngọn gió từ ngoài sông thổi về mang theo làn hơi lành lạnh và nỗi buồn man mác…
-
Chim sẻ về tất phải vào mùa hè.
Mùa hè cây Gạo nở hoa đỏ rực cả một vùng, Quýnh khèo đã lớn rồi mà vẫn thích theo đám con nít trong làng nhặt hoa gạo rơi như ngày nào. Trong tiếng ve sầu kêu ra rả, cái ánh nắng rực rỡ làm gương mặt cô Quý ửng hồng phơn phớt...
Lần đào ấy chỉ có Cả Quận và mấy đứa cháu trong nhà, sâu xuống “trụ” hơn chín mét thì thấy có cát đen, xuyên qua lớp cát đen thì gặp một phiến đá màu đỏ bầm, dưới phiến đá là ba cái chum sành.
Đó là chuyện sau này nghe Tư Hường kể lại.
Thế đất đó theo Tư Hường là cái thế “Chu Tước trấn Huyền Vũ”. Nếu hôm khởi sự đào trong bầy chim sẻ bay về có con chim sắc đỏ thì phước đức nhà Cả Quận vẫn còn, có thể đào thấy của. Còn hôm đó mà trong đàn chim sẻ không có con sẻ sắc đỏ thì xem như âm đức nhà Cả Quận đã tận, dù đào banh cả mảnh vườn cũng sẽ chẳng thấy gì.
Xem ra số Cả Quận cũng không đến nỗi…
Nghe nói sau này Quýnh khèo tự nhiên bớt khùng, nó lấy được vợ và có một đứa con trai, chỉ tiếc là lúc đó thần chết đã đến rước Cả Quận đi rồi nên ông ta không được thấy điều may mắn đó.
-------------------------------
Hôm nay đã là ngày thứ chín từ khi phát hiện ra cái mả cổ, nhưng tính ra mới khở sự đào có ba ngày, vậy mà biết bao nhiêu việc đã xảy ra.
Đây là một ngôi mộ của người Hoa… nghe đâu còn có câu “nơi nào có mồ mả của người TQ thì nơi đó là đất của người TQ”.
Nếu đào một cách bài bản, quy củ thì e rằng phải mất bốn tháng, mà nhân lực tối thiểu cũng phải là hơn hai mươi người, không đủ thời gian và tiền bạc cho điều này. Cần phải chạy đua với thời gian vì đã thấy khá nhiều kẻ lạ mặt lảng vảng, nếu thiên hạ không ngán Sáu Ri thì e rằng nơi đây đã thành bình địa từ lâu…
Nếu là mộ song táng thì mộ phía đông chắc kết cấu cũng phải giống mộ phía tây, vì thế Tư Hường cho đào giống y hệt đường đào của bọn Huỳnh Đỏ. Nhưng không có máy khoan đá thì không thể xuyên qua lớp đá ong dày cả thước nổi. Đành phải đào theo đường bao để tìm cửa, điều này cũng khá dễ vì đã có phiến đá thạch anh để định vị. Phiến đá này tuy vỡ nát nhưng cũng có thể nhận định nó nằm phía trên ngôi mộ, sau đó do thời gian cát dần dần đẩy nó trôi xuống dưới. Không dè cửa ngôi mộ lại nằm dưới gốc một bụi gai dại rậm rạp. Sau khi phát sạch bụi gai và đào sâu xuống hơn hai mét cát thì lộ ra một tấm bia đá màu đỏ hồng, bề mặt đã mòn hết cả không còn đọc được gì. Tấm bia bên ngôi mộ bên kia chắc cũng như vậy vì dân đào mộ đại kỵ đụng đến bia của người chết.
Cuối cùng cũng tìm được cửa vào ngôi mộ, nó nằm sau tấm bia hơn ba thước và sâu xuống cát cũng độ ba mét.
Chặn cửa là một phiến đá to, phía trên có khắc một cái hình bằng lòng bàn tay, lâu ngày quá cũng chỉ còn thấy mờ mờ.
Tư Hường cứ ngần ngừ nhìn cái hình, không biết y đang lo lắng điều gì ?
-
hap dan qua, cho ba con co bac duoc doc tiep nha huynh. cam on
-
doc truyen cua huynh hay qua, cam on huynh nhieu.
-
Mong Huynh cho ba con doc tiep, thank nhieu nhieu
-
Những ngôi mộ hoang thường chứa nhiều bí ẩn, những ngôi cổ mộ còn ẩn chứa nhiều điều phi thường hơn nữa. Cái điều xui xẻo nhất đã diễn ra, đó chính là phíến đá thạch anh bị băm nát, nếu biết được trên đó có khắc gì thì cũng có thể tránh được nhiều chuyện. Cái cửa đá này lâu ngày nên nó dính chắc vào thành mộ như liền một khối muốn mở ra cũng không phải là chuyện dễ. Đó là chưa kể cái kết cấu ba lớp đá dày cả thước và cát hầu như bao phủ ngôi mộ làm cuộc đào vô cùng khó khăn.
Tối hôm đó ngồi uống trà trong cái lều dựng tạm ngay bên cạnh ngôi mộ chỉ có ba người là Tư Hường, ĐHC, Lý Thông, bất ngờ Tư Hường nói “có thể đây chỉ là một ngôi mộ giả, bên trong có quan tài nhưng chưa chắc đã chôn người chết.” – “sao anh lại có ý nghĩ đó?” – “Vì cái hình khắc trước cửa ngôi mộ.”
Tư Hường nói tiếp “chú có biết ở bên Miên tượng Phật có bốn mặt còn Quỉ chỉ có ba mặt không ?” – “ tôi thấy tượng Phật bốn mặt rồi còn tượng Quỷ ba mặt thì chưa thấy” – “vì những người thấy nó đều khó thoát khỏi cái chết bất đắc kỳ tử” – “ vậy anh nghĩ cái hình mờ mờ đó là hình mặt quỷ ?”– “e rằng điều đó là sự thật” – “vậy phiến đá thạch anh đó cảnh báo điều gì?” – “ngôi mộ cổ này thật là kỳ lạ, bên ngoài nhìn vào thì giống như mộ người Hoa, nhưng lại khắc hình kiểu người Miên, chắc người trong ngôi mộ này lúc còn sống có một liên hệ nào đó với các pháp sư người Miên, chỉ tiếc là những dòng chữ lâu ngày quá bị mòn hết cả, có khi nó được khắc chữ Phạn cũng chưa biết chừng” – “Ngôi mộ này của người Hoa, không lẽ họ lại trấn yểm theo kiểu người Miên?” – “Chỉ vòng đai bên ngoài thôi, chủ yếu là để đánh lạc hướng, còn bên trong thì chắc là họ lại yểm theo cách khác, cái khó, cái nguy hiểm chính là ở chỗ đó, dù như thế nào thì cũng vẫn phải tiếp tục, có tận nhân lực thì mới tri thiên mạng…”
Từ trong lều nhìn ra bầu trời đêm lấp lánh sao, tiếng côn trùng rỉ rả, tiếng gió thổi vào những rặng dừa xào xạc, đồng quê dường như vang lên khúc nhạc hân hoan…Ngôi cổ mộ đã ló ra một phần, cái bóng đen sì sì càng trở nên kỳ bí. Thông thường mộ song táng thường có hai cỗ quan tài đặt cạnh nhau. Riêng khu mộ này lại có hai ngôi mộ được xây sát nhau, giống nhau y hệt ở phần bên ngoài, còn bên trong thì chưa thể xác định được. Nếu là một ngôi mộ giả thì có thể có hai trường hợp, một là cả hai ngôi mộ sẽ có quách, nhưng bên trong là cái gì đó chưa biết, hai là một bên mộ sẽ chôn người, bên còn lại sẽ là thứ khác… Vẫn chưa hiểu được là tại sao mấy tay Đài Bắc đã biết được kết cấu của ngôi mộ nhưng lại không thấy đào ngôi mộ phía bên này ? Cũng có thể là họ chưa kịp đào đến thì đã mạng vong rồi, nếu thế thì lời nguyền của ngôi cổ mộ phải ghê gớm lắm…
-
Đục suốt hai ngày không nghỉ thì mới qua được lớp cửa đá đầu tiên, đến đây thì tai họa lại giáng xuống. Lần này là một người chắng dính gì đến chuyện này, đó là một người đàn bà nhỏ bé, hiền lành, một bà giáo… nhưng bà giáo đó lại là vợ của Tư Hường, bà ta đang khỏe mạnh bình thường bỗng tự nhiên lăn ra chết, chẳng có một lý do gì cả ?
Đã nhiều năm nay chẳng mấy khi Tư Hường ở nhà, y bôn ba khắp nơi, có điều vợ chồng thì vẫn là vợ chồng, nghĩa tử là nghĩa tận, vợ chết cũng là đại tang… Y nói với ĐHC và Lý Thông “Đang có đại tang thì đại kỵ đào mộ, nếu cố sẽ làm chết lây cả đám, nên hai chú thay anh tiếp tục, có điều khi tiến vào trung tâm ngôi cổ mộ phải cố tìm một người tuổi Rồng, người đó sẽ phải vào đầu tiên, nếu không làm đúng điều đó thì có thể sẽ phải trả giá thêm nữa…”
Tư Hường nghỉ rồi thì cuộc đào càng trở nên căng thẳng, Hai Đụi bình thường nói nhiều nhưng lúc này cả ngày cũng không nói một câu, Bảy Bụng, Tư Thăng còn đòi ở lại ban đêm canh gác.
Phải mất thêm hai ngày nữa, tức là đến ngày thứ mười ba kể từ lúc phát hiện ra phiến đá thạch anh thì đục đến được lớp trong cùng, phải dùng cả vài chục tấm tôn để chắn và che xung quanh không cho cát tràn xuống và dân hiếu kỳ dòm ngó. Trong đám DK xã té ra Út Thứ lại là người tuổi Rồng, như vậy khi đục thủng lớp đá cuối cùng, người xông vào đầu tiên sẽ phải là Út Thứ.
Ngày xưa khu vực này chắc là một đầm lầy mênh mông, việc vận chuyển nguyên vật liệu, xây dựng chắc là cực kỳ khó khăn, vậy mà người xưa đã xây một ngôi mộ quy mô như vậy, nếu không phải là một ngôi mộ giả để chôn kho báu thì nhân vật nằm ở đây chắc là một người không phải tầm thường, cần phải phòng ngừa sự trấn yểm là lẽ đương nhiên. Trước khi đục lớp đá cuối này, Lý Thông bày một mâm cỗ cúng bao gồm nhang đèn, vàng mã, rượu, heo quay, trái cây…Nhìn gương mặt trầm trọng của y, bất giác nhớ lại hôm qua bỗng nhiên Lý Thông nói “kiểu chết của một người ít nhiều đều bắt nguồn từ kiểu sống của họ” – im lặng một lúc y nói tiếp “không phải lúc nào cái chết cũng là một điều xấu…” – Xem ra y đã chuẩn bị tinh thần rất chu đáo, nhìn cái cách cắm ba cây nhang vào cái lư hương có thể ngầm hiểu nếu lời nguyền là có thực thì Lý Thông đã sẵn sàng…
Riêng Tư Thăng thì có vẻ xem thường điều này, suốt quá trình đào ngôi mộ, y bắt được cả thảy hơn mười con rắn hổ mây trong mấy khe cát, những con rắn đó đều bị hành hình bằng cách treo cổ lên cây cả. Đào đến tầng cuối này thì lại càng phải coi chừng rắn độc, nhất là rắn Hổ mang chúa hay rắn Chung đầu đỏ đầu đen, chỉ cần bị cắn một phát là chết không kịp đi ba bước.
Lớp đá trong tầng cuối cùng này cứng khủng khiếp, đến ngày thứ mười bảy mới đục thủng qua được, lúc này phải lấy một khúc xạ mực ra để trong một cái chén sành, sau đó châm lửa đốt… một mùi thơm tỏa ra sực nức cuộn sâu vào trong cổ mộ, mùi thơm này có tác dụng diệt khuẩn cực mạnh, sẽ diệt sạch mọi vi trùng đến từng ngõ ngách, xua đuổi rắn độc, côn trùng độc… Đàn bà có thai tuyệt đối không được ngửi mùi này vì nó sẽ làm sảy thai ngay lập tức. Ngoài ra nó còn có một tác dụng vô cùng quan trọng là kỵ tà khí, âm khí và cũng có thể vô hiệu “thần giữ cửa” trong một thời gian.
Sau khi Út Thứ xông vào thì tất cả mọi người cũng lần lượt tiếp bước. Khó có thể tả được cái cảm giác khi đứng ở khu trung tâm của ngôi mộ, mùi thơm của xạ hương vẫn còn lan tỏa, trải qua nhiều năm sao nơi đây không hề có đến một hạt bụi, bóng tối lan trùm khắp nơi, cái đèn cầy leo lét không đủ để tỏa sáng. Trong cái ánh sáng mờ ảo đó vẫn có thể thấy thấp thoáng trên vách có khắc chìm hình núi non, cây cỏ, hình chim với các hoa văn mây… phía dưới nền lát một loại gạch hay đá gì đó màu nâu đen, rõ ràng là kiểu thức của người Hán. Bốn góc đều có bốn cái bệ, trên có bốn cái trụ có khắc hình gì đó nhìn không rõ lắm. Ngay giữa ngôi mộ là một cái quách to và dài hàng mấy mét, cao ngang tầm người bằng đá cẩm thạch xanh, dưới cái ánh đèn cầy nom thật lạnh lẽo và quỷ dị. Đặc biệt phía trên nắp lại đặt một viên đá vuông đen sì… hình như trên viên đá còn có dấu vết của một cái gì đó…?
Lúc đó tất cả mọi người không ai bảo ai đều sững sờ yên lặng…
-
Những gì mà con người không tự quyết định được thì gọi là định mệnh... Vài ngày sau đó Út Thứ đi ruộng đâm cá lóc, đến nửa đêm thì nó cảm thấy mệt mỏi nên leo lên bờ kinh ngồi nghỉ. Út Thứ móc trong người ra một vật giơ lên ngắm nghía, dưới ánh trăng vật đó dường như chói sáng… thì ra đó là một tấm phù bằng ngọc phỉ thúy trắng… một tấm “Bạch Hổ Phù” khắc hình cái đầu con hổ đang nhe nanh nom vô cùng dữ tợn.
Tư Hường đã có nhắc đến tấm phù này, nhưng lúc vào trong lòng ngôi mộ thì lại không thấy, y nói rất rõ “bên ngoài tuy có hình mặt quỷ nhưng bên trong khả năng sẽ có hình bạch hổ”, vì thế mà cần phải có một người tuổi Rồng vào đầu tiên, đó là cái thế “Thần Long trấn Bạch Hổ”.
Sở dĩ không ai thấy tấm linh phù vì khi vào Út Thứ đã nhanh tay lấy trước,… ai là kẻ đã nói cho nó biết về tấm phù này? Đây là một khu mộ song táng, nên chắc mộ bên kia cũng phải có một cái tương tự… cái đó hiện đang nằm trong tay ai vậy nhỉ?
Trong màn đêm đen thẫm bỗng có một cái đầu trọc lóc ló ra, cái đầu trọc lóc với đôi mắt trắng dã, khoác cái áo cà sa màu vàng. Út Thứ giật mình nói hoảng “Sơn Chùa, mày chưa chết à ?” – Sơn Chùa bây giờ đã biến hình thành một Thầy Chùa thật sự, y nhe hàm răng sún ra nhăn nhở “có người nhắn tao muốn lấy cái đó thì đến kiếm mày, không ngờ đúng thật, mày cũng là tay khá đấy!” – nhìn tấm phù sáng trắng trong tay Út Thứ, bỗng Sơn Chùa cười lên sằng sặc “tao vào sinh ra tử, đánh biết bao nhiêu trận, cỡ thằng ĐHC mà còn chưa chết thì tao làm sao mà chết được?” – Út Thứ quờ tay định cầm lấy cái chĩa, nhưng cái chĩa đó đã nằm trong tay Sơn Chùa rồi… chỉ nghe “phập” một cái, Sơn Chùa ra tay nhanh hơn chớp giật, Út Thứ làm sao mà đỡ nổi, mũi chĩa cắm ngập vào cổ Út Thứ hất nó văng tuốt xuống dưới mương nước. Tấm phù trong nháy mắt đã lọt vào tay Sơn Chùa, nghe nói ai có được cặp “Bạch Hổ Phù” thì sẽ có một quyền năng vô hạn...
Dưới ánh trăng vàng lung linh ma quái, bóng Sơn Chùa đứng sừng sững dường như che khuất cả một góc trời, tấm áo cà sa bay phần phật trong gió… Nhưng Út Thứ đã không còn nhìn thấy cái cảnh đó, một màn đen thăm thẳm đã bao trùm lên nó… Trong cái màn đêm đen thẳm đó bỗng hiện ra một gương mặt sáng ngời với ánh mắt thật là dịu hiền, đó chỉ có thể là gương mặt của một Người Mẹ… giây phút đó Út Thứ bỗng mấp máy môi, nó kêu lên khe khẽ “mẹ…”, lần đầu tiên cũng là lần cuối trong cuộc đời Út Thứ được thấy một gương mặt tuyệt đẹp của người đàn bà với đôi mắt thật dịu dàng và nụ cười hiền hậu như thế…/.
-
Xem ra bro DHC phải chịu khó xuất bản cuốn "U linh bảo lục" truyền cho hậu thế thì mới dc, truyền gì mà hay tuyệt.
-
Huynh ĐHC dạo này lại đi đi kiếm tìm báu vật ở đâu rồi :listen:, tôi mới nhìn qua được 2 khuôn mặt thần chết trong chuyện của huynh , liệu có còn những khuôn mặt nào nữa đây :105:???
-
Chờ lâu quá sư huynh ĐHC ơi. Xem truyện của sư huynh từ hồi còn trang thegioibuangai.com rồi, hồi hộp quá.
-
Bác là một cao nhân đã gác kiếm!
-
sao không đăng hết vậy chuyện đang hay
-
Hay quá, truyện có thật bao nhiêu phần trăm vậy anh?
-
Câu chuyện hay quá. Cám ơn nhiều...
Pro viết tiếp đi