Lễ-vật cúng Thần-Lúa thường là 1 mâm-cơm, 1 khay-trầu, 1 ly-nước và vài 3 nhúm-lúa. Trong lễ-cúng, 1 người phụ-nữ trong gia-đình đầu-đội thúng-lúa, cúng-xong, đổ-lúa vào bồ trước.
https://share.google/p8KbdHSkcJPLeqN9K
Printable View
Lễ-vật cúng Thần-Lúa thường là 1 mâm-cơm, 1 khay-trầu, 1 ly-nước và vài 3 nhúm-lúa. Trong lễ-cúng, 1 người phụ-nữ trong gia-đình đầu-đội thúng-lúa, cúng-xong, đổ-lúa vào bồ trước.
https://share.google/p8KbdHSkcJPLeqN9K
Văn bia (bi văn 碑文)
Sách Chính trung hình âm nghĩa tổng hợp đại tự điển 正中形音義綜合大字
典 của Cao Thụ Phiên 高樹藩, do Chính Trung thư cục 正中書局 ấn hành năm
2012 tại Đài Loan giải thích về nguồn gốc việc dựng bia và soạn khắc văn bia như
sau: “Bia 碑 (Chữ hình thanh, hội ý). Giáp cốt văn, Kim văn không có chữ bi. Chữ
Tiểu triện viết chữ ti (卑) bên chữ thạch (石), đọc là bi, nghĩa gốc là “dựng đá”, giải
thích rằng (thấy Thuyết văn ghi: Thời xưa, trong cung dựng bia để đo ánh sáng mặt
trời, nơi tông miếu dựng bia để trói buộc vật tế, nơi mộ táng dựng bia (đúng ra là
làm bằng thanh gỗ lớn, để buộc dây ròng rọc, hình dạng giống như bia cho nên có
tên gọi như vậy) để hạ quan tài, dựng đá để làm, cho nên có bộ thạch (石). Lại dùng
ti (卑) để thể hiện sự khiêm nhường, bia ban đầu được dựng bằng khối đá thấp để
tiện việc thờ cúng, cho nên có bộ thạch và âm ti. Chỉ có Lưu Hy cho rằng: bi (bia)
nghĩa là bì (埤) vậy, vua thời thượng cổ ghi việc tế trời đất thì dựng đá ở núi thấp
khắc hiệu Phong thiền, cho nên gọi là bi vậy, (chữ ) bi ấy có chữ bì 埤, viết lược để
ghi âm. Giải thích như vậy cũng có thể thông, dẫn cả ra để tham chứng…”. Bi - 碑
(Hình thanh, Hội ý). Giáp văn, Kim văn bi tự khuyết. Tiểu triện: Bi tòng thạch, ti
thanh, bản nghĩa tác “thụ thạch”, giải (kiến Thuyết văn Hứa trứ) cổ thời, cung
trung lập bi dĩ thức nhật cảnh, tông miếu lập bi dĩ kế tế tính, mộ sở lập bi (thực vi
đại mộc bản, thí lộc lô bị thằng sách giả, dĩ kỳ hình như bi, cố xưng) dĩ hạ quan,
Đại đô thụ thạch vi chi, cố tòng thạch. Hựu dĩ ti hữu đê hạ chi ý, tối sơ chi bi, vi thụ
đê thạch dĩ tiện sự giả, cố tòng bi thanh. Duy Lưu Hy dĩ vi (bi giả, bì dã, thượng cổ
Đế hoàng, kỷ hiệu Phong Thiền thụ thạch bì nhạc, cố viết bi dã) thị bi tòng bị tỉnh
thanh, thuyết diệc khả thông, tịnh dẫn tham chứng2
[310-1155].
Về nghĩa của chữ bi (碑), sách giải thích, chú dẫn khá kỹ với chức năng là
danh từ và động từ: “Danh từ: 1. Dựng ở trong cung để đo bóng mặt trời, khối đá
không có chữ gọi là bi. Ví dụ: Mặt hướng phía đông, phần trên hướng phía bắc, phía
trên được gọi là bi. Trịnh chú: “Trong cung tất có bi, vì dùng để đo bóng mặt trời,
dẫn khí âm dương vậy” (Nghi lễ - Sính lễ); 2. Dựng ở miếu đình (sân miếu) để buộc
ngựa, khối đá không khắc chữ gọi là bi. Ví dụ: “Người dắt vật tế đã vào cửa miếu,
buộc ở bi”. Giải thích: “Dắt - buộc, bảo rằng vật tế vào trong miếu, rõ ràng dắt buộc
vào bi trong sân vậy” (Lễ ký - Tế nghĩa); 3. Dựng để hạ quan tài, dùng khối gỗ lớn
đại khái giống như bia đá gọi là bi. Ví dụ: “Nơi chôn cất quan lại thấy nhiều bi”.
Giải thích: Phong bi - chặt đẽo cây gỗ lớn làm bi, giống như bia đá, ở hai bên phía
trước sau và 4 góc quách đều dựng bi, khoảng giữa có lỗ thủng làm con lăn (ròng
rọc) buộc dây để hạ quan tài. Bậc thiên tử dùng 6 dây 4 bi, trước sau đều có con lăn
(ròng rọc) vậy. Chư hầu 4 dây 2 bi; Bậc đại phu 2 dây 2 bi; Quan lại 2 dây không có
bi (Lễ ký - Đàn cung); 4. Dựng đá khắc văn tự để ca tụng công đức nên gọi là bi;
Trước thời Tần đa số gọi là khắc thạch, thời Hán mới quen gọi là bi. Ví dụ: 1. “Bi
Nghiêu, kiệt Vũ thời xa xưa không rõ” (Phục Thao - Thuật công đức minh); 2.
“Nước Ngụy vâng dựng bia thiền, gồm: Văn hay nổi tiếng có Vương Lãng, viết chữ
đẹp nổi tiếng có Lương Hộc, khắc chữ nổi tiếng có Chung Diêu, cho rằng đó là tam
tuyệt” (Tập cổ lục); 5. Dựng đá khắc văn tự để tỏ bày nỗi niềm của người chết khi
sinh thời mà thể hiện việc nghĩa nên gọi là bia;... ghi danh, giải thích điển nghệ
chính là bia vậy, gốc gác của việc này có từ thời Vương Mãng đặt ra vậy… Ví dụ,
1. “Thái tự Lâm Tông cất quân có đạo nhưng không có người hưởng ứng, năm Kiến
Ninh thứ 2 mất, bè bạn cùng khắc thạch dựng bia, Sái Ung làm văn” (Hậu Hán thư -
Quách Thái truyện); 2. “Hỗ mất, trăm họ thành Tương Dương ở trên núi dựng bia,
nước mắt chảy thành dòng” (Tấn thư - Dương Hỗ truyện);… 6. Khắc văn tự để ghi
danh, thuật sự cùng làm tiêu thức mà dựng thạch, gọi là bia. Ví dụ: “Bia cắm mốc,
bia lý trình, bia đảng nhân”. Lại thấy: 1. “ Chu Mục ghi dấu trên đá ở Yểm Sơn lại
Học giả cuối đời nhà Thanh (Trung Quốc) là Hiệp Xương Thức 叶昌識 khi
nghiên cứu thể bi ký đã phân chia văn bia khá chi tiết, kỹ lưỡng thành 42 loại.
Dương Điện Tuần 楊殿珣 (Trung Quốc) phân chia văn bia thành 7 nhóm chính,
dưới các nhóm được chia nhỏ thành nhiều tiểu loại [66].
Trong Kim thạch học 金石學, học giả Chu Kiếm Tâm 朱劍心 (Trung Quốc)
đã phân chia văn bia khắc trên đá thành 11 loại (10 loại chính và 01 tạp loại), gồm
có: Khắc thạch 刻石, bi kiệt 碑碣3, mộ chí 墓誌, tháp minh 塔銘, phù đồ 浮图,
kinh chàng 經幢, tạo tượng 造像, thạch khuyết 石闕, ma nhai 摩崖, địa biệt 地別
và tạp loại 雜類 (gồm văn tự khắc trên lư hương 香爐, thần vị 神位, trụ cầu 橋柱,
thành giếng 井闌...) và đưa ra nhận xét “tất cả nội dung khắc trên bia đá đều gọi là
văn bia bắt đầu từ đời Hán về sau”, “từ Hậu Hán về sau mới có văn bia, tìm văn bia
trong bia thời Tiền Hán chưa thể thấy được” [90- 19] [92-10].
Đến thế kỷ X, thời Ngô, Đinh, Tiền Lê (939 - 1009) chúng ta mới phát hiện
được các cột đá khắc kinh Phật đỉnh tôn thắng gia cú linh nghiệm Đà la ni 佛頂尊
勝加句靈驗陀羅尼 ở cố đô Hoa Lư, t. Ninh Bình và đến nay chưa có phát hiện mới
[124-786].
Đó là những danh từ
ghi lễ vật như: Cỗ 具, xôi 吹, oản 菀, bánh 餅, trầu cau 芙蔞…: ghi các lượng từ,
danh từ như: Mẫu 畝, sào 高, thửa 所, mâm 盤, hũ 圬, vò 圩; ghi các địa danh, xứ
đồng như: Đồng Trước 同畧, Đồng Sau 同婁, Cửa Đình 舉 亭, Cửa Chùa 舉㕑,
Cửa Làng 舉廊, Dộc Cả 淯奇, mương 茫, máng 漫…
https://gass.edu.vn/Uploads/File/2016/5/LuananPhong.pdf
Cổ Miếu Long-Vương - Xứ Biên-Trấn xưa
https://i.ibb.co/yjHQPjw/1.webp
https://i.ibb.co/yjHQPjw/1.webp
Lê Ngọc Quốc[*]
Trong thư tịch, miếu Long Vương được nhắc đến và tính đến hiện nay, có lịch sử hơn 300 năm kể từ khi Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu kinh lược xứ Đồng Nai, thiết lập hành chính đầu tiên trên vùng đất phương Nam vào năm Mậu Dần – 1698. Hiện nay, ngôi miếu thuộc khu phố Thái Bình, phường Long Bình, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Miếu Long Vương xưa thuộc dinh Trấn Biên, huyện Phước Long và sau này thuộc tỉnh tỉnh Biên Hoà.
Miếu Long Vương trong thư tịch
Ba nguồn thư tịch của Việt Nam đề cập miều Long Vương: Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định (1806), Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1820) và Đại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn (1865). Trong hồ sơ quân sự của người Pháp trong kế hoạch tiến đánh Biên Hòa do chuẩn Đô đốc Bonard soạn thảo (cuối năm 1861) và sau đó được tuần báo Illustration số ra ngày 01/3/1862 đăng tin, kèm bản đồ chi tiết có nhắc đến. Miếu Long Vương xuất hiện trong bản đồ địa hình Hạt tham biện Sài Gòn năm 1885 sau khi đã chiếm toàn bộ Nam kỳ, Pháp thành lập bộ máy cai trị.
– Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (皇越一統輿地志) là sách địa chí do Lê Quang Định (1759-1813), Thượng thư bộ Binh biên soạn xong năm 1806. Đây là bộ địa chí đầu tiên của nhà Nguyễn, mở đầu cho các bộ địa chí có quy mô lớn và những phương chí sau này. Nét nổi bật nhất của bộ sách chính là việc ghi chép một cách tường tận về hệ thống giao thông đường bộ lẫn đường thủy của nước ta vào đầu thế kỷ XIX.
Trong ghi chép về Doanh Trấn Biên cho biết:“100 tầm (khoảng 230m) hai bên bờ đều có ruộng vườn và dân cư thưa thớt, đến chùa cổ Vãi Lượng, chùa ở trên gò đất bên bờ nam, ngày xưa có ni cô tên là Vãi Lượng dựng chùa này, ngày nay đã bị hư hỏng, phong cảnh chùa khá đẹp… 120 tầm, hai bên đều có ruộng vườn và dân cư thưa thớt, đến rạch Cai Quý [Quới], rạch ở bên bờ nam, rộng 10 tầm, chảy xuống hướng nam 947 tầm thì giáp ngả ba hai nhánh Mụ Lộ và Đồng Tròn, hai bên bờ đều có ruộng vườn và dân cư thưa thớt… 150 tầm, hai bên đều có ruộng vườn và dân cư thưa thớt, đến miếu Long Vương (龍王廟) thôn Phước Hòa, miếu ở bên bờ nam, tương truyền vào thời tiền triều khi Vân Long hầu [tức danh tướng Nguyễn Cửu Vân] đem quân đi chinh phạt Cao Miên, thuyền lương qua đến bến này thì bỗng dưng nổi sóng gió không tài nào đi được, Vân Long hầu bèn đến cầu đảo Long Vương linh thần thì liền có ứng nghiệm, sau khi xong việc bèn lập miếu thờ…”1.
– Gia Định thành thông chí (嘉 定 城 通 志) hay Gia Định thông chí (嘉 定 通 志) là một quyển địa chí của Trịnh Hoài Đức (1765- 1825) Hiệp Biện Đại học sĩ, sách viết về miền đất Gia Định bằng chữ Nho và chữ Nôm, là một sử liệu quan trọng về Nam Bộ thời nhà Nguyễn.
Quyển 6, Thành trì chí, Trấn Biên Hoà có đoạn ghi chép: “Đền Long Vương (龍王𡑴), ở bờ nam sông Phước Giang, cách thành về phía đông 15 dặm. Đời Hiển Tông (1691-1725), Chánh thống suất Nguyễn Vân [tức danh tướng Nguyễn Cửu Vân] đi đánh Cao Miên, khi quân đến đây thấy vực sâu hiểm, dưới lòng sông có đá ngầm, nước xoáy mạnh, sóng dữ, bỗng gió to mưa lớn, rất nguy cấp, chiến thuyền hầu như khó an toàn. Bỗng thấy có ngôi đền tranh nhỏ vắng vẻ trong lùm cây bên bờ sông, hỏi ra mới đó là nơi thờ thần Long Vương. Vân Thống suất bèn cầu đảo thầm, trong chốc lát trời lại tạnh sáng, thuyền đi qua đều yên ổn. Lần đi này chỉ một trận là thành, nên ngày khải hoàn Ngài cho cho tu bổ lớn lao để đền ơn, nay đền vẫn còn nguy nga, trông rất trang nghiêm”2
– Đại Nam nhất thống chí (大南一統志) là bộ sách dư địa chí, của Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn thời vua Tự Đức. Đây là bộ sách lớn nhất và quan trọng nhất về địa chí nước ta dưới thời nhà Nguyễn. Tập 2, Tỉnh Biên Hoà, mục Đền Miếu ghi: “Đền Long Vương (龍王𡑴): Ở thôn Long Sơn huyện Long Thành, bờ nam sông Phước Long; thờ Nhất, Nhị, Tam lang Long Vương. Đời vua Hiển Tông bản triều, suất thống Nguyễn Cửu Vân đi đánh Cao Man, đến chỗ này, thấy dưới vực sâu có gành đá nước xô sóng mạnh, giây lát lại nổi lên mưa mù gió dữ rất nguy hiểm; Ông cầu khấn liền được yên lặng, quân đi đến đâu đánh thắng đến đó, nên sau Ông dựng Đền để đền đáp, nay dân gian cầu đảo đều được linh ứng. Ở bên đền có nhiều cây cổ thụ, cây cao nhất thường có giống dơi vàng, lớn bằng con chim (dơi quạ), cánh dài đến 2 thước[thước ta khoảng 70-80cm], đến đậu cả trăm con, ai muốn bắn phải cầu khẩn mới bắn được”3.
– Tài liệu của Pháp thời kỳ đầu Chiến tranh Pháp – Đại Nam
Ngày 01/09/1858, liên quân Pháp và Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc xâm lược Đại Nam. Ngày 02/02/1859, tướng De Genouilly kéo đại quân tiến xuống Nam kỳ. Ngày 18/02/1859, liên quân chiếm được thành Gia Định. Sau đó lần lượt đại đồn Chí Hoà (25/02/1861), rồi Định Tường (12/4/1861) cũng thất thủ…Lúc này trước nguy cơ chiến sự, triều đình nhà Nguyễn cho lập nhiều đồn lũy xung quanh bảo vệ thành Biên Hoà: Mỹ Hoà, Gò Công- Trau Trảu, Suối Sâu, Bình Thuận, Bình Chuẩn… Trên sông Đồng Nai, từ ngã ba Nhà Bè đến phía trước cửa thành Biên Hoà có chín cản gỗ và một cản đá. Dọc hai bờ sông có một số pháo đài bố trí súng thần công, dưới sông có một số thuyền chứa chất cháy dùng chiến thuật đánh hỏa công khi địch lọt vào trận địa.
Theo “Bản đồ chiến trường tác chiến mới nhất ở Nam Kỳ Tuần báo Illustration số ra ngày 1/3/1862” thì khu vực Miếu Long Vương lúc bấy giờ có bố trí một pháo đài, được ghi chú là “Fort Rectangulaire de Long-Young” [Pháo đài hình chữ nhật – Long Vương].
Diễn biến trận Biên Hoà (1861) dược miêu thuật: Ngày 13-12-1861, tướng Bonard, chỉ huy trưởng quân Pháp ở Sài Gòn đã ký huấn lệnh về kế hoạch đánh chiếm Biên Hòa. Theo huấn lệnh này, lực lượng đánh chiếm Biên Hòa gồm đại đội khinh binh, do đại tá Foucault chỉ huy; đạo quân trù bị gồm 300 lính thủy quân lục chiến, 100 quân Tây Ban Nha và hai đại bác do đại tá Domenech Diego chỉ huy, đạo quân thứ ba gồm hạm thuyền (2 hạm thuyền) và lực lượng đổ bộ do thiếu tá Lebris chỉ huy. Trong kế hoạch, địch chia làm ba bước, trong đó có việc đánh chiếm Bến Gỗ để làm bàn đạp tiến quân về Biên Hòa. Ngày 14-12-1861, quân Pháp tiến đánh tỉnh Biên Hòa bằng cả đường bộ và đường thủy. 7 giờ 30 cùng ngày, Gò Công Trao Trảo rơi vào tay giặc (đại tá Comte chỉ huy). Ngày 15-12-1861, quân Pháp do Comte và Diego tiến lên đồn Mỹ Hòa, quân triều đình rút chạy. Trên đường sông Đồng Nai, hai cánh quân do Lebris và Harel chỉ huy gặp sự chống trả khá quyết liệt của quân triều đình. Tàu Alarme trúng 54 phát thần công, gẫy cả cột buồm. Phá được cản, quân Pháp tiến đánh phá các pháo đài ven sông [trong đó có đồn Long Vương], quân triều đình chống trả đến giữa đêm thì rút chạy. Sáng ngày 17-12-1861, quân thủy bộ của Pháp đã đến trước tỉnh thành Biên Hòa. Đích thân đô đốc Bonard theo chiến hạm Ondine chỉ huy trận tấn công. Chỉ sau ba loạt đạn pháo bắn rất quyết liệt, tuần phủ Nguyễn Đức Hoan và án sát Lê Khai Cẩn đã bỏ thành rút chạy, khâm sai đại thần Nguyễn Bá Nghi mang quân chạy ra Bình Thuận.4 ngày 18/12/1861, Liên quân tiến chiếm Thành Biên Hoà.
Miếu Long Vương qua địa danh hành chính
Thời điểm 1698 đánh dấu mốc quan trọng trong cơ cấu hành chính của vùng đất phương Nam khi Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh thiết lập bộ máy quản lý đầu tiên, ổn định dân tình, hoạch định cương giới xóm làng “ Chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn”5. Chưa rõ miếu Long Vương được xây dựng từ khi nào và lúc ấy địa danh hành chính tên gì, nhưng Miếu được xây dựng không thể trễ hơn năm 1705 – là thời điểm danh tướng Nguyễn Cửu Vân vâng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu, thống lĩnh quân thuỷ bộ Gia Định, tiến đánh quân Cao Miên đang cầu viện Xiêm La vào quấy rối phủ Gia Định.
Đến năm 1806, trong ghi chép của Hoàng Việt nhất thống dư địa chí thì Miếu Long Vương thuộc thôn Phước Hoà, bên bờ nam sông Phước Long [sông Đồng Nai]. Trong Gia Định thành thông chí (1820), thời Gia Long; mục cương vực chí, chúng ta thấy có tên: thôn Phước Hoà thuộc tổng Long Vĩnh, huyện Long Thành, phủ Phước Long, Trấn Biên Hoà.
Trong địa bạ Minh Mạng (1836) tỉnh Biên Hoà, huyện Long Thành, tổng Long Vĩnh Hạ, bờ nam sông Đồng Nai khu vực rạch Cai Quí [Quới], có ghi: thôn Long Thành- xứ Cai Quới [trong bản đồ hạt tham biện Sài Gòn năm 1885 ghi là R. Cai Quí-làng Long Sơn]. Địa giới làng Long Thành như sau: “Đông giáp thôn Bình Dương (Long Vĩnh Thượng), giáp thôn Long An, đều lấy lòng sông làm giới [sông Đồng Nai]. Tây giáp hai thôn Bình Thắng Đông, Bình Thắng Tây (tổng An Thuỷ Đông, huyện Bình An) đều lấy bờ ruộng làm giới. Nam giáp thôn Vĩnh Thuận, lấy lòng rạch làm giới [trong bản đồ hạt tham biện Sài Gòn ghi là R. Đồng Tròn]. Bắc giáp chân núi [Núi Vãi Lượng]”.
Trong Đại Nam nhất thống chí (1865) ghi: Đền Long Vương ở thôn Long Sơn huyện Long Thành, bờ nam sông Phước Long [sông Đồng Nai]. Bản đồ địa hình Hạt tham biện Sài Gòn năm 1885 (Plan topographique de l’arrondissement de Saïgon 1885) cho thấy miếu Long Vương thuộc làng Long Sơn, tổng An Thuỷ, hạt Tham biện Sài Gòn. Cũng cần thông tin thêm, từ năm 1867, thực dân Pháp chiếm trọn 6 tỉnh Nam Kỳ. Sau đó, Pháp chia Nam Kỳ ra làm 6 tỉnh là Sài Gòn, Mỹ Tho, Biên Hòa, Vĩnh Long, Châu Đốc và Hà Tiên, đồng thời đặt ra 24 sở Tham biện để cai quản. Miếu Long Vương nằm ở làng Long Sơn có ranh giới bốn phía giáp tương ứng với thôn Long Thành trong địa bạ Minh Mạng (1836).
Trong sách Địa danh hành chính Nam Bộ của Nguyễn Đình Tư, Thôn Long Sơn thuộc tổng Long Vĩnh Hạ, huyện Long Thành, phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Hoà, triều Tự Trị, Tự Đức. Đầu thời Pháp vẫn thuộc tổng cũ. Đặt thuộc hạt thanh tra Long Thành, rồi Sài Gòn. Từ ngày 05/01/1876 gọi là làng, đổi thuộc hạt tham biện Sài Gòn, Bình Hoà, rồi Gia Định. Từ ngày 01/01/1900 thuộc tỉnh Gia Định. Từ 01/01/1918 thuộc quận Thủ Đức, cùng tỉnh. Ngày 01/01/1928 làng Long Sơn hợp với làng Vĩnh Thuận thành làng Thái Bình. Đến ngày 09/12/1939 hợp với làng Long Bửu, đổi tên thành làng Long Bình [quận Thủ Đức tỉnh Gia Định]. Sau 1956 gọi là xã Long Bình, vẫn tổng cũ, đổi thuộc quận Dĩ An, tỉnh Biên Hoà. Ngày 10/10/1962 đổi thuộc quận Thủ Đức tỉnh Gia Định. Sau 30/4/1975, thuộc huyện Thủ Đức, thành phố Sài Gòn – Gia Định6. Ngày 02/7/1976, Tp Sài Gòn – Gia Định chính thức đổi tên thành thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 06/01/1997, huyện Thủ Đức giải thể, tách làm 3 quận: Thủ Đức, quận 2, quận 9; xã Long Bình thuộc quận 9, thành phố Hồ Chí Minh. Đến 2019 đổi thành phường Long Bình. Ngày 01/01/2021, chính thức thành lập thành phố Thủ Đức thuộc thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở sáp nhập toàn bộ diện tích và dân số của quận 2, quận 9 và quận Thủ Đức.
Hiện tại (2023), Miếu Long Vương thuộc khu phố Thái Bình, phường Long Bình, thành phố Thủ Đức. Phường Long Bình có diện tích 17,61 km², dân số năm 2021 là 25.614 người, mật độ dân số đạt 1.454 người/km². Phường nằm ở phía đông bắc thành phố Thủ Đức, có vị trí địa lý: Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai với ranh giới là sông Đồng Nai; phía Tây giáp các phường Long Thạnh Mỹ, Tân Phú và Linh Trung; phía Nam giáp phường Long Phước và phía bắc giáp tỉnh Bình Dương.
Tục thờ Thủy thần ở Nam Bộ
3.1. Tín ngưỡng
Theo các tài liệu xưa, từ đầu thế kỷ XVII đã xuất hiện lưu dân từ miền Trung vào vùng đất Đồng Nai sinh sống. Những lớp di dân khai phá vùng hoang địa, tạo dựng cuộc sống mới trước những khó khăn, hiểm nguy của đầm lầy, sông nước, rừng hoang, thú dữ “Đến đây xứ sở lạ lùng. Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng kinh” (Ca dao). Trước vùng đất hoang sơ mênh mông sông nước, lưu dân đang đem theo tín ngưỡng thờ thuỷ thần từ quê hương bổn quán vào vùng đất mới, cầu mong thần nước gia ơn cho họ được nguồn nước trong lành để sử dụng trong cuộc sống, người làm nghề nông thì cầu mưa thuận gió hoà cho mùa màng tốt tươi, người làm nghề hạ bạc (đánh bắt thuỷ sản), nghề thương hồ thì cầu xin thần phù hộ sóng yên, gió lặng…
Tín ngưỡng Thuỷ thần được lưu dân đưa vào miền đất mới phổ biến như: thần ao đầm, thần giếng, thần Rái Cá, thần Rắn, Hà Bá, Đại Càn Tứ vị Thánh nương, Thuỷ Long tôn thần… đặt điệt là tục thờ Long Vương. Long Vương là tên gọi chung cho các vị thần cai quản các vùng biển và đại dương trong thần thoại Trung Hoa và ở Việt Nam, từ xưa dân gian xem nơi nào có nước như ao, hồ, đầm, phá, sông, biển đều có Long Vương. Tục thờ Long Vương có thể là một trong các tục thờ thuỷ thần xưa nhất ở nước ta: Phú Thọ nơi được coi là đất tổ của người Việt và Lạc Long Quân cũng được xem là 1 vị Long Vương. Trong Đại Nam nhất thống chí ghi chép các nơi có miếu Long Vương, cả nước ta lúc bấy giờ chỉ có 5 tỉnh có miếu thờ Long Vương: Hưng Hoá, Hà Tĩnh, Quảng Bình,Biên Hoà, Định Tường.
3.2. Miếu thờ Long Vương
Chưa có nghiên cứu khảo sát rõ các địa phương Nam Bộ hiện tại, còn có bao nhiêu cơ sở thờ thuỷ thần Long Vương. Theo Đại Nam nhất thống chí thì Nam Bộ chỉ có 2 tỉnh là có miếu thờ Long Vương.
Tỉnh Định Tường: Miếu Long Vương thờ Nam Hải Long Vương, ở thôn Từ Linh huyện Kiến Hoà. Nam Hải Long Vương, Vua rồng ở biển Nam – một trong Tứ hải Long Vương của người Trung Hoa cũng được người Việt cổ thờ phụng. Theo khảo sát của chúng tôi, thôn Từ Linh xưa kia, nay là ấp Pháo Đài, Phú Tân, Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang (Cù lao Lợi Quản – cửa Tiểu). Nơi này hiện có miếu Lăng Ông thờ 18 bộ cốt cá Ông. Các nhà nghiên cứu: tục thờ cá Ông (tức cá voi, cá heo, cá nhà táng và các loại cá lớn nói chung) là một tín ngưỡng dân gian vùng duyên hải miền Trung và miền Nam Việt Nam từ Thanh Hóa đến toàn bộ các tỉnh ven biển miền Nam. Đây là tín ngưỡng của cư dân vùng biển, hay còn gọi là vạn chài. Cá Ông ở đây là những con cá voi mà theo ngư dân chính là thần Nam Hải. Có thể đây chính là di tích Miếu Long Vương ở Định Tường xưa, sau bao biến thiên thăng trầm lịch sử, được người dân gìn giữ tôn tạo thờ tự, và đặt lại tên mới là Lăng Ông.
Tỉnh Biên Hoà: Miếu Long Vương thờ Đệ nhất lang, Đệ nhị lang và Đệ tam lang Long Vương. Tục thờ Tam Vị Long Vương có từ rất xưa ở miền ngoài. Vùng La Phù, Đào Xá ở Phú Thọ, vùng Ngã Ba Hạc Thái Bình… Hà Tĩnh hiện có khá nhiều nơi thờ Tam Lang Long Vương. Về Tam Vị Long Vương, sách Nghệ An phong thổ ký chép: “Xưa ở Chỉ Châu có hai vợ chồng ông Mái, mụ Mái đã luống tuổi mà chưa có con. Một hôm người vợ nhặt được ba quả trứng về nhà, chồng đem bỏ vào cái chậu. Ít lâu sau ba quả trứng nở thành ba con rắn, ông bèn thả xuống ngã ba sông, bỗng mưa gió nổi lên ầm ầm lúc sau mới lặng. Nhưng hôm sau thì ba con rắn trở về quấn quýt bên ông bà, ông đi đâu rắn cũng theo đi. Một hôm, ông ra bờ cuốc ruộng, ba con rắn bò lượn xung quanh tỏ ý rất vui vẻ, nhưng không may ông vô tình cuốc nhằm một con làm đứt đuôi. Ba con rắn cùng bỏ đi ẩn dưới vực Đan Hai. Về sau ba con rắn thành Thần được dân Chỉ Châu lập Miếu thờ gọi là Tam Lang Long vương” và đền Tam Lang Long Vương ở Chỉ Châu nay thuộc xã Thạch Lạc, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Di tích này được biết với tên đền Sắc vì tới nay còn lưu giữ được 86 đạo sắc, phần lớn phong cho các vị thần là Ông Cả, Ông Hai, Ông Ba Long Vương. Các sắc phong này có niên đại từ năm Thịnh Đức thứ 5 (1657) thời Hậu Lê đến năm Thành Thái thứ 13 (1901) thời Nguyễn. Ở Nam Bộ, tại Công Thần miếu tỉnh Vĩnh Long, nguyên là miếu Hội đồng tỉnh còn lưu trữ 85 sắc phong cổ; trong đó có 6 sắc phong Trung Đẳng thần cho ba vị: Đệ Nhất, Đệ Nhị và Đệ Tam Long Vương8
Hiện nay, miếu Long Vương thuộc địa giới của khu phố Thái Bình, phường Long Bình, thành phố Thủ Đức, quanh miếu không có cư dân. Việc quản lý và duy trì các lễ thức tế tự được ban quản lý đình Thái Bình đảm trách (đình Thái Bình vốn là đình làng Vĩnh Thuận xưa), cách đó khoảng 1 km đường chim bay. Trong đình Thái Bình hiện nay, khu hội đồng nội có hương án Long Vương và bài vị Hoàng Đế. Theo hồi cố của các vị cao niên của địa phương, vào ngày 16/12 âm lịch hàng năm, người dân trong làng cùng long trọng tổ chức nghi lễ rước bài vị Thần cùng sắc phong, đi bộ từ đình làng ra tới cầu Đồng Tròn, sau đó xuống ghe di chuyển từ rạch Đồng Tròn ra sông Đồng Nai, rồi ngược dòng lên miếu Long Vương. Sau cúng bái, tế lễ rồi canh con nước để trở về làng vì thời ấy miếu nằm biệt lập, không có đường bộ để vào nên đi đường sông và phải phụ thuộc vào con nước. Sau bao năm, hiện nay khu đất quanh miếu đã được quy hoạch, và có con đường mòn nhỏ dẫn vào miếu, nên dịp cúng tế bà con đi đường bộ cũng tiện lợi hơn xưa.
Tạm kết
Tín ngưỡng thờ Long Vương là loại hình tín ngưỡng đặc biệt của người Việt. Miếu Long Vương tại Biên Hòa xưa – nay thuộc địa phận thành phố Thủ Đức là một trong những nơi hiếm hoi ở Nam Bộ còn lưu giữ tín ngưỡng này. Miếu Long Vương được xây dựng khá sớm, gắn với những sự kiện hình thành và phát triển từng thôn làng ở các địa bàn cư trú nói riêng và vùng đất Đồng Nai – Gia Định nói chung; trong đó có những sự kiện quan trọng trong lịch sử giữ an vùng đất phía Nam và kháng chiến chống Pháp xâm lược lần thứ nhất. Cơ sở tín ngưỡng này gắn với tập quán, tín ngưỡng và duy trì trong các hoạt động tâm linh, tinh thần trong đời sống của cư dân hiện nay. Miếu Long Vương tọa lạc trong cảnh quan mang dấu ấn đặc biệt của thiết chế tín ngưỡng cộng đồng với hàng cây cổ thụ, không gian u nhã, thâm nghiêm và sông nước. Dấu ấn tín ngưỡng và dấu tích kiến trúc hiện tồn của miếu Long Vương cần được các cơ quan về lịch sử, văn hóa nghiên cứu xếp hạng di tích lịch sử nhằm bảo tồn di sản của Nam Bộ./.
Chú thích và tài liệu tham khảo:
Lê Quang Định (2003), Hoàng Việt nhất thống dư địa chí – dịch giả Phan Đăng, Nhà xuất bản Thuận Hóa, tr 301, 302.
Trịnh Hoài Đức (2005), Gia Định thành thông chí (dịch giả Lý Việt Dũng, Huỳnh Văn Tới hiệu đính), Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai, tr 236.
Quốc sử quan triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống chí(bản dịch Hoàng Văn Lâu) Nhà xuất bản Lao Động, tập 2 tr 1657.
Biên Hoà- Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển (1998)- Ban chỉ đạo lễ kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hoà Đồng Nai. Nhà xuất bản Đồng Nai, chương VII trang 241.
Quốc sử quan triều Nguyễn (2007), Đại Nam Thực Lục (tổ phiên dịch Viện Sử Học phiên dịch) Nhà xuất bản Giáo Dục, Tập 1, tr 111.
Nguyễn Đình Tư (2008), Địa danh hành chính Nam Bộ, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr.596-597.
https://congdankhuyenhoc.vn/tam-lang...214000902.htm; (truy cập ngày 20/11/2023)
8. https://ttltls.vinhlong.gov.vn/xem-c...-tuc/id/212850 (truy cập ngày 21/11/2023)
Bản đồ diễn tiến hoạt động quân sự mới nhất ở Nam Kỳ – Tuần báo Illustration số ra ngày 01/3/1862
https://www.flickr.com/photos/134764...7665005366349/
Carte Generale de la Cochinchine Francaise, ca 1873 (General Map of French Cochinchina):
https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/52937130104
Arrondissement de Saïgon 1885 – Bản đồ địa hình Hạt tham biện SAIGON 1885
https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/49047362738
https://nghiencuulichsu.com/2024/01/...bien-tran-xua/
Số 12. Kệ niệm lần chuỗi la-hán
Của Đức Trụ-Trì Bồ-Tát giáng cơ tại Kiên Giang, đêm 21 tháng 6 nhuần, năm Canh Ngũ.(10)
Vận chuyển kiền khôn tóm một xâu
Ba ngàn thế giái trọn tay thâu
*Bồ đề mười tám thiền tâm định
*Sáu chữ Di Đà báu tợ châu.
Nam mô Định Tâm Vương Phật
https://thuvienhactrang.vn/uploads/T...c/Le%20Bon.pdf
11. Nam mô Cửu U Chủ Tể Phong Đô Diêm La Thiên Tể.
13. Nam mô thưởng thiện phạt ác Đông Nhạc Đại Đế Quân.
14. Nam mô đại thiên củ sát thất thập nhị địa âm cảnh giải tội Quan Thánh Đế Quân.
24. Nam mô Đông Tây Nam Bắc Tứ Đại Thiên Vương.
27. Nam mô thiên lý thuận phong nhị Đại Tướng Quân.
29. Nam mô tuần du tế sát Đại Linh Quan.
31. Nam mô ngũ phương kệ đế Đại Linh Quan.
32. Nam mô tá hựu công quả nhị Đại Phán Quan.
33. Nam mô *Tứ Trị Công Tào Sứ Giả.
34. Nam mô dương cảnh Thổ Địa Tôn Thần.
35. Nam mô Thành Hoàng Bổn Cảnh Chánh Trực Tôn Thần.
36. Nam mô Thiên Địa Nhựt Nguyệt Tinh Tú phổ chiếu Minh Lãng Thần.
https://thuvienhactrang.vn/uploads/T...c/Le%20Bon.pdf
Quán-tẩy 灌洗: Rót nước rửa sạch. Khi nghe lời xướng Quán-tẩy lần lượt mỗi vị chức sắc thò tay vào thau nước rồi đưa lên mặt giả động tác rửa-mặt.
Tam-Quan Đại-Đế 三官大帝: Gồm Thiên-Quan 天官 (vua Nghiêu), Địa-Quan 地官 (vua Thuấn), và Thủy-Quan水官 (vua Vũ)
Thất tịch 七夕: Đêm mồng 7 tháng 7 âm lịch là lúc Ngưu Lang 牛郎 và Chức Nữ 織女 gặp nhau. Chức Nữ chuyên về dệt vải. Ngày xưa vào đêm này phụ nữ bày hoa quả giữa sân và xỏ kim để cầu xin được khéo léo thêu thùa may vá. Lễ này gọi là khất xảo 乞巧 (cầu xin khéo tay).
Kiều ô: Tức là ô thước kiều 烏鵲橋 (cầu ô thước). Ô là chim quạ, thước là chim khách. Theo truyền thuyết, vào đêm thất tịch 七夕 (mồng 7 tháng 7 âm lịch) chim quạ và chim khách dang cánh kết thành cây cầu (gọi là cầu ô thước) cho Ngưu Lang 牛郎 và Chức Nữ 織女 gặp nhau sau một năm xa cách vì kẻ ở bờ đông, người sống bờ tây sông Ngân Hà.
Tứ Trị Công Tào 四治公曹: 4 vị thần quản lý Năm, Tháng, Ngày, Giờ (tên là Trị Niên 治年, Trị Nguyệt 治月, Trị Nhật 治日, Trị Thời 治時).
Tam thập tam thiên thế giái (giới) vân (văn) 三十三千世界聞: 33.000 thế giới đều nghe thấy. (Chữ văn 聞 còn đọc là vấn, có nghĩa tiếng động vang tới. Thí dụ, thanh vấn vu thiên 聲聞于天: tiếng động đến trời.)
Tam Giang 三江: Tiền Giang, Hậu Giang, Trung Giang.
Quải: Cúng cơm.
Phật tiền 佛前: Ở trước mặt Phật.
Phổ Đà (sơn) 普陀山: Núi trên hòn đảo là nơi ngụ của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Non Bồng: Bồng Lai 蓬萊, Bồng Doanh 蓬瀛, Bồng Đảo 蓬島, cảnh tiên.
Oan trái 冤債: Món nợ (trái) oan uổng
Ngũ bá a la hán 五百阿羅漢: Ngày xưa Phật Thích Ca thuyết pháp, ở bên cạnh Phật luôn có năm trăm vị la hán (arhat). La hán hay a la hán là các vị tu đắc quả nên không còn sai lầm, được giải thoát.
Nhang tốc: Nhang thơm. (Tốc 速 là loại cây có mùi thơm, do đó nói hương tốc là nhang thơm, trầm tốc là trầm thơm.)
Long Thần 龍神: Vị thần mang hình rồng (nāga), thường là các vị hộ pháp, trợ giúp người tu, bảo vệ nơi tu hành.
Linh-quang 靈光: Mỗi đứa-trẻ chào-đời là 1 điểm tiểu linh-quang từ Đức Thượng-Đế (Đại Linh-Quang) đi vào đời để tiến-hóa.
Khai thiên tịch địa 開天辟地: Tạo lập trời đất, tạo lập vũ trụ. (Tịch và khai đồng nghĩa là mở mang, tạo tác.)
Hoằng khai 弘開: Phát triển, mở mang rộng lớn.
Đề huề 提攜: Nắm tay nhau cùng đi; đông đủ, vui vẻ.
Điểm trà 點茶: Rót trà.
Đăng chúc 燈燭: Đèn và nến.
Diêu (dao) đài 瑶臺: Đài bằng ngọc dao, cõi Tiên.
Diêm đài 閻臺: Địa ngục, địa phủ, cõi âm.
Cửu thiên 九天: Chín tầng trời.
Cù lao 劬勞: Mệt nhọc và vất vả. Xem cù lao cúc dục.
Cù lao cúc dục 劬勞鞠育: Cha mẹ nuôi con vất vả, tóm tắt bằng chín chữ cù lao: Sinh生 (đẻ con), cúc 鞠 (nuôi con), phủ 拊 (vỗ về), súc 畜 (cho bú), trưởng 長 (nuôi cho lớn), dục 育 (dạy dỗ, cho học hành), cố 顧 (trông nom), phục 復 (nâng đỡ), phúc 腹 (ẵm bồng). Chín chữ này có ở bài Lục Nga 蓼莪 trong Kinh Thi: 父兮生我; 母兮鞠我; 拊我畜我;長我育我; 顧我復我; 出入腹我; 欲報之德; 昊天罔極. Phụ hề sinh ngã; mẫu hề cúc ngã; phủ ngã súc ngã; trưởng ngã dục ngã; cố ngã phục ngã; xuất nhập phúc ngã; dục báo chi đức; hạo thiên võng cực (Cha thời sinh ta; mẹ thời dưỡng ta; vuốt ve cho bú; nuôi lớn dạy dỗ; trông nom nâng đỡ; ra vô ẵm bồng; muốn báo ơn đức; trời cao lồng lộng).
Cúc cung 鞠躬: Cúi mình.
Cúc cung bái 鞠躬拜: Cúi lạy
Cúng dường (cung dưỡng 供養): Kính cẩn dâng vật thực, quần áo, v.v... để nuôi người xuất gia tu hành.
Nam Tào 南曹: Ông Tiên coi sổ sanh (mạng sống) của con người trần gian. Xem Bắc Đẩu.
Bắc Đẩu 北斗: Ông Tiên coi sổ tử (số chết) của con người trần gian. Xem Nam Tào.
Án tiền 案前: Trước bàn thờ.
Âm Tào 陰曹: Tòa án cõi âm.
Bá tánh (bách tính) 百姓: Trăm họ, dân chúng.
Bái 拜: Lạy
Bàn Cổ 盤古: Nhiệm Phưởng 任昉 (thế kỷ VI đã viết huyền thoại Bàn Cổ trong quyển Thuật Dị Ký 述異記 như sau: Khi Bàn Cổ chết, đầu biến thành 4 ngọn núi, hai mắt biến thành mặt trời và mặt trăng, mỡ biến thành sông biển, râu tóc biến thành thảo mộc. Thời Tần và Hán, dân gian kể rằng đầu của Bàn Cổ là (núi) Đông Nhạc, bụng là Trung Nhạc, tay trái là Nam Nhạc, tay phải là Bắc Nhạc, và hai chân là Tây Nhạc. Các văn nhân ngày xưa kể rằng nước mắt của Bàn Cổ là sông, hơi thở là gió, giọng nói là sấm, đồng tử trong hai mắt là ánh sáng.
Bòng: Loại bưởi nhỏ trái, thường gọi chung là bưởi bòng.
Bố đức 布德: Ban bố ơn đức.
Tích phước (tứ phúc) 錫福: Ban phước.
Phong Đô 豐都: Địa-ngục. Kẻ phong ñô: Các vong hồn nơi địa ngục.
Phong niên 豐年: Năm được mùa.
https://thuvienhactrang.vn/uploads/T...c/Le%20Bon.pdf
Hà Bá Chiêu Hồn Khoa
https://fr.scribd.com/document/87214...eu-h%E1%BB%93n
NGHI CÚNG THÍ THỰC CÔ HỒN
Lưu ý: trước khi muốn tổ chức nghi cúng Thí thực cô hồn tại tư gia, phải chuẩn bị mua sắm như sau: Hương, đèn, hoa, trà, rượu, muối, gạo, ngủ cốc (khoai, sắn, đậu phụng, bắp, mía), nổ, bánh, kẹo, trầu, cau, thuốc lá, chè, xôi, bộ đồ cúng đất (giấy tiền, vàng bạc) và một mâm cơm chay.
Bắt đầu vào lễ:
Chủ lễ vái: Ư kim Ất Mùi niên- Chánh ngoạt- Thập nhứt nhựt
(Năm Ất mùi tháng giêng ngày mười một)
Tấu vì Việt nam quốc, Bình Dương tỉnh… Quận…Xã…Khu phố…đường…số nhà.
Trai chủ , vợ
Hiệp toàn gia quyến nam nữ đại tiểu đẳng
Hiệp toàn gia quyến nam nữ tử tôn hôn tế nội ngoại thượng hạ đại tiểu đẳng
Nhân vì :
Nếu cúng tất niên thì vái: tất niên lễ lệ
Chạp mã thì vái: Tu tảo phần mộ chư tiên linh chi phái
Đám giổ thì vái: Chánh kỵ ông bà hay cha mẹ
Cúng đưa thì vái: Tiền tam xuân nhựt cung tiễn chư tiên linh hồi quy bổn xứ
Toàn gia thân quyến chúng con thành tâm thiết lễ trai nghi: Hương-Đăng-Hoa-Qủa-Trà-Tửu-Thanh chước-Diêm mễ-Ngủ cốc- Trầu cau-Thuốc lá- Chè xôi-Kim ngân-Quan đới-Hải lạp-Minh Y, trai bàn, thứ phẩm chi nghi cảm chiêu cáo vu
Thành tâm cung thỉnh chư vị tôn thần:
Đức đương kiển thổ địa chánh thần
Đức phước đức tài thần
Bá nghệ tiên sư chi tôn thần
Tặng hậu tế chi tôn thần
Thổ công, phổ hóa thần quân tôn thần
Quới nhơn xứ sở chi tôn thần
Ngủ phương đạo lộ thần quân tôn thần
Ngủ tự gia đường chư vị tôn thần
Đông trù tư mạng táo phủ thần quân
Thành hoàng bổn xứ liệt vị đẳng thần
Thỉnh quang lâm hội nghệ áng tiền chứng minh nạp thọ.
Chúng con thành tâm bái thỉnh:
Đức Tiêu Diện Đại Sĩ Diệm Khẩu Quỹ Vương quang giáng đàn tràng chứng minh công đức.
Lại mời: Vong linh chư vị tiền chủ hậu chủ trong khu đất này, vong linh chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, oan hồn uổng tử, nam nữ thương vong, mê linh khổ cốt, châm chợ mọi rợ man di, y thảo phụ mộc, lị mị vọng lượng, trệ phách âm linh, cô hồn liệt vị, nội gia viên trạch, ngoại gia viên cư. Thỉnh quang lâm giáng phó diên tiền chứng minh nạp thọ, đồng thời phò trì gia quyến chúng con điều lành đem đến, điều dữ xua đi, gia đạo bình an khương thái.
Lại cúi xin chư tôn thần đệ dẫn chư tiên linh chúng con: Nguyễn môn đường thượng chi phái đồng tôn cung liệt vị <đọc từ ông cố trở xuống>
Thượng niệm chư tiên linh: Tằng tổ khảo, tằng tổ tỷ, tằng tổ bá khảo tỷ, tằng tổ thúc tỷ, tằng tổ cô chi linh liệt vị
Đệ dẫn: Hiển tổ khảo, hiển tổ tỷ, hiển tổ bá khảo tỷ, hiển tổ thúc tỷ, hiển tổ cô chi linh liệt vị
Đệ dẫn: Hiển khảo, hiển tỷ, cập bá thúc huynh đệ cô di tỷ muội tử tôn hôn điệt, hữu danh vô vị, hữu vị vô danh, chánh tiến tùng tiến, sút sảo tảo vong, xiêu mồ lạc mã. Hết thảy chư tiên linh Đồng lai đáo gia đường thọ tư hiến thực, gia hộ độ trì cho con cháu bình an khương thái. Thành tâm bái thỉnh
https://vietnamgiapha.com/XemGhiChu/10771/ghi_ghu.html
KINH TẬN-ĐỘ
Linh Quang 靈 光: Điểm Linh-quang, tức là linh-hồn. Thượng-Đế là 1 khối Đại Linh-quang trong Càn-khôn Vũtrụ. Ngài mới chiết từng Tiểu Linh-quang ban cho ...
https://share.google/MxYxKdG8lPO7T0K2U
THẤT TINH NƯƠNG NƯƠNG
Phương nam Trung Quốc và vùng Đài Loan, dân gian từng thịnh hành sùng bái Thất Tinh Nương Nương 七星娘娘. Thất Tinh Nương Nương còn được gọi là Thất Nương Ma 七娘妈, Thất Tinh Ma 七星妈, Thất Nương phu nhân 七娘夫人, Thất Tinh phu nhân 七星夫人, tượng hoặc hình vẽ là 7 phụ nữ hiền hoà đoan trang.
Thất Tinh Nương Nương vốn là sao Chức Nữ, Chức Nữ được cho là con gái hoặc cháu ngoại của Thiên Đế, là vị nữ thần chuyên lo việc chăn tằm dệt vải. Sau khi sao Chức Nữ được thần hoá và nhân cách hoá, câu chuyện tình yêu giữa Chức Nữ và Ngưu Lang được lan truyền ai ai cũng biết. Sao Chức Nữ tại chòm Thiên Cầm 天琴, tổng cộng có 3 sao. Nhưng tại sao sao Chức Nữ lại phân thành 7 sao, trở thành Thất Tinh Nương Nương? Có lẽ là do câu chuyện 7 tiên nữ lưu truyền trong dân gian phụ vào mà thành.
Trong dân gian, Thất Tinh Nương Nương được tôn làm thần bảo hộ sự bình an và sức khoẻ cho em bé. Y học thời cổ không phát triển như ngày nay, sức đề kháng của em bé yếu, thường bị các loại bệnh tật. Để bảo hộ em bé trưởng thành, dân gian đem hi vọng gởi gắm vào thần minh. Như vậy, Thất Tinh Nương Nương được xem là một trong những cát thần, rất được mọi người sùng bái. Khi em bé đau ốm, người ta liền đến quỳ trước thần tượng Thất Tinh Nương Nương cầu khấn, có người còn để em bé nhận Thất Tinh Nương Nương làm “mẹ nuôi”, cầu mong được bảo hộ, để bé được bình an vô sự. Có gia trưởng còn mua cho bé “khoá bản mệnh” có danh hiệu Thất Tinh Nương Nương, hoặc viết đại danh “Can ma” 乾妈 (mẹ nuôi) lên miếng bùa hộ thân đeo vào cổ em bé để mong được cát lợi.
Mọi người cảm thấy Thất Tinh Nương Nương giống như cha mẹ chốn nhân gian giữ em bé lại, còn giúp chúng giải quyết chung thân đại sự, cho nên dân gian lại có cách nói Thất Tinh Nương Nương đem những nam nữ thanh niên nơi trần thế mà chưa lập gia đình phân loại ra. Truyền thuyết kể rằng, hàng năm sau ngày mồng 7 tháng 7, Thất Tinh Nương Nương sẽ đem danh sách nam nữ thanh niên chưa lập gia đình do mình lập ra giao cho ông tơ bà nguyệt. Ông tơ bà nguyệt sau khi kiểm điểm liền thẩm tra kĩ lưỡng tướng mạo nhân phẩm, tính khí của từng người, sau đó phối hợp họ thành đôi tốt đẹp, rồi đăng nhập vào sổ nhân duyên, đồng thời ông tơ bà nguyệt còn dùng đất sét nặn thành tượng cặp đôi đó, dùng chỉ đỏ buộc chân cặp tượng lại, sau đó phơi khô rồi đặt vào “phối ngẫu đường” 配偶堂, đến đây coi như là đã hoàn thành nhiệm vụ.
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 01/01/2016
Nguyên tác Trung văn
THẤT TINH NƯƠNG NƯƠNG
七星娘娘
Trong quyển
CÁT TƯỜNG ĐÍCH TRUNG QUỐC
吉祥的中國
Bản công ti biên tập bộ biên soạn
Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti, năm Dân Quốc thứ 90.
https://www.chuonghung.com/2016/01/d...ong-nuong.html
Long mẫu VƯƠNG NƯƠNG
http://www.cantholib.org.vn:84/View....6677D92A959657
西tây 北bắc 方phương 華hoa 德đức 佛Phật 。 北bắc 方phương 相tương/tướng 德đức 佛Phật 。 東đông 北bắc 方phương 三tam 乘thừa 行hành 佛Phật 。 上thượng 方Phương 廣 ...
https://kinhsach.chuakhainguyen.com/?f=T53n2122/13
Tác phẩm Chú Sanh Thần Bộ do hoạ sĩ Nam Ngọc Đoàn Thành Lộc cẩn hoạ Tam Tiêu Nương Nương và Thập Nhị Vị Hoa Nương. Chư vị là những nữ thần bảo hộ việc thai sản, giáo dưỡng con trẻ nên người. Họ được thờ phụng nhiều trong văn hóa miền Nam xưa, nhưng nay đã ít thấy hơn.
Tam Tiêu Nương Nương, tương truyền là con của Lê Sơn Lão Mẫu. Lớn tuổi nhất là Vân Tiêu Nương Nương, vận áo thiên thanh; kế đến là Bích Tiêu Nương Nương áo xanh lá; trẻ nhất là Quỳnh Tiêu Nương Nương áo đỏ. Dân gian quen gọi chư vị là Mẹ Sanh, Mẹ Dưỡng, Mẹ Độ. Trong tranh, trang phục của ba vị gợi nhắc đến các món áo mão dâng Bà, dâng Mẫu; một món đồ lễ phổ biến trong đời sống tâm linh Nam bộ. Trên áo nổi rõ hoa văn Kim Hoa – hoa vàng. Tranh vẽ có phần lấy cảm hứng từ phong cách tranh kiếng Nam Bộ Việt Nam.
Dưới quyền Tam Tiêu Nương Nương là Thập Nhị Hoa Nương, dân gian quen gọi bằng cái tên thân thương là Mười Hai Bà Mụ. Trong tranh Chú Sanh Thần Bộ, nếu Tam Tiêu Nương Nương ngự trên trời mây, quản cai từ chốn cao xa; thì 12 vị Hoa Nương cùng ngồi trên tấm chiếu gần gũi với đời sống trần gian. Tấm chiếu dệt chữ Thọ, thể hiện mong muốn rằng những đứa trẻ sinh ra sẽ luôn có cuộc sống khỏe mạnh, trường thọ. Các Bà Mụ chăm sóc cuộc sống của con trẻ với những công việc khác nhau: vui đùa với trẻ, cho bú, ẵm bồng, dạy dỗ, tắm táp, chăm bệnh thuốc thang, lo ăn lo mặc. Đến ngày nay, trong dịp mừng đầy tháng của trẻ, cha mẹ vẫn có lễ cúng 12 Bà Mụ.
Trang phục các vị Hoa Nương đều là những nếp áo quen thuộc trong văn hóa Việt Nam: áo ngũ thân, áo tứ thân, áo bà ba, áo vá quàng. Mỗi vị một bộ khác nhau. Có vị vấn khăn vành; có vị chít khăn kiểu Bắc, kiểu Huế; có vị trùm khăn mỏ quạ; có vị búi tóc bánh lái, v.v.
Hình ảnh các Bà Mụ trong tranh tuy đa dạng mà lại thân quen. Người xem cảm giác tựa hồ như đã từng được thấy họ đâu đó. Có lẽ là trong hình bóng những người bà, người mẹ, cô dì hay thậm chí là những thầy thuốc đã từng ẵm bồng, chăm chút mình khi tuổi còn thơ.
Thừa quyền trời cao để chú thai; để bảo hộ cho mẹ tròn con vuông; để đứa trẻ trưởng thành khôn lớn; đó là nhờ tất cả các vị trong Chú Sanh Thần Bộ chung tay góp sức. Một con người sống giữa nhân gian, không chỉ do cha mẹ sinh thành; mà còn có sự trợ duyên của Tam Tiêu Nương Nương nhào nặn, hun đúc, có Thập Nhị Hoa Nương chăm sóc từ lúc nhập thai đến ngày trưởng thành.
https://fourpalacestuphu.com/2024/08...a-nuong-ba-mu/
HIỆN-TRẠNG THỰC-TẾ HIỆN-NAY CỦA NGƯỜI-TU
(HAY)
https://youtu.be/e7OQPfX6zdA?si=zV8lw0wfPCHDqDLg
Ai Hay Đi Chùa, Niệm Phật Hàng Đêm Phải Nghe Gấp Bài Pháp Này | Thiền Sư An Lạc Hạnh
(https://www.youtube.com/watch?v=e7OQPfX6zdA / https://youtu.be/e7OQPfX6zdA?si=zV8lw0wfPCHDqDLg)
Phụng thỉnh Thầy Tế Công Hoạt Phật từ bi tiếp dẫn hương linh Ông/ Bà …
đến bên trong nhà địa chỉ …
trước Đàn Tam Bảo để lắng nghe kinh pháp, lãnh triêm kinh chú, hưởng thụ vị cam lộ pháp ngữ và thọ trai cúng dường.
Các vị hiếu quyến lễ lạy 3 lạy.
Phụng thỉnh Thầy Tế Công Hoạt Phật từ bi gia hộ cho các Hiếu Quyến mỗi vị ra ngoài đều phùng hung hoá cát, sự nghiệp được thuận lợi, thân thể khoẻ mạnh, thêm phước thêm thọ
và cũng phù hộ cho các đạo thân đến để trợ niệm hôm nay trên đường về nhà đều được bình an cát tường. ( 3 lạy )
Mời Người Vãng Sanh đến nghe kinh
Một nén tâm nhang, Phật quang tiếp dẫn
Hương linh Cụ Bà…
Đến trước Đàn Tam Bảo nghe kinh
Hưởng vị cam lộ kinh chú Phật
Thọ trai cúng dường, th`ăm quyến thân.
Buông xả hết duyên trần vướng bận
Về tánh không, thanh tịnh pháp thân
Theo Tiên Phật tu bàn trợ đạo
Công đức viên mãn, đạo quả thành. ( Gia đình quyến thuộc lễ 3 lạy. )
Biến-Ức Chú
Úm, tam bạt nhạ,
Tam bạt nhạ
Ba mã nạp tát nhạ
Ma ha Tạng ba ba
Hồng phạ đắc sa ha. ( 7 biến )
https://bachduongky.net/nghi-thuc-cung-that/amp
Nhất-Tâm Cung-thỉnh:
Na mô Đại-Từ Đại-Bi Cứu-Khổ Cứu-Nạn Pháp-Thân TẾ-CÔNG HOẠT-PHẬT,
từ-bi làm-chủ.
https://bachduongky.net/nghi-thuc-cung-that/amp