(大解有加持咒 : OM O BIDSA AHA LIBE SVAHA) , (小解有其加持咒 : OM O MU DSA AHA LIBE SVAHA).
http://marcpolly.pixnet.net/blog/post/315609617
Printable View
(大解有加持咒 : OM O BIDSA AHA LIBE SVAHA) , (小解有其加持咒 : OM O MU DSA AHA LIBE SVAHA).
http://marcpolly.pixnet.net/blog/post/315609617
諸天廚神咒(誦21遍或1080遍加持飮食)
Namo ratna-trayaya,Jvala,maha-Jvala,turu,maha-turu Hum,cisuhavisya,OM,cisuhavisya,sudha,svaha.
那謨。拉特那特拉呀呀。吉哇拉。嘛 吉哇拉。度魯。嘛哈度魯。吽。濟蘇 威斯呀。嗡。濟蘇哈威斯呀。蘇達。 蘇瓦哈。
http://maitreya362.pixnet.net/blog/p...9%8C%84%283%29
http://s2.upanh123.com/2017/05/11/taixung2e3856.jpg
诵咒时观想自身和杯中种子字【 赫利 】发
( http://www.bjr027.com/news/6LWr5Yip5...f5b635Yqb.html )
Đó là loại cây mà Đức Phật Dược Sư cầm trong tay phải, dược tính của nó rất công hiệu.
arura là nền tảng của toàn bộ nền y dược Tây Tạng.
Nếu cất giữ trái arura trong người thì ngoài việc bảo vệ bạn khỏi bệnh tật, nó còn chữa lành được tâm.
Một ngôi chùa ở Tây Tạng có một pho tượng mà bên trong quả tim có chứa một lễ vật cúng dường làm bằng cây arura. Và nhiều người thường đến tựa người vào pho tượng rất lâu vì nghe nói rằng cây arura bên trong tượng có năng lực chữa bệnh rất mạnh.
lợi ích của viên thuốc có chứa loại arura tốt nhất.
Đức Trijang Rinpoche có hai hay ba viên thuốc quý [chứa arura]
Chỉ cần giữ nó trên người thôi cũng có thể giúp ích cho người bị ngộ độc. Viên thuốc đó cũng có ích cho người sắp chết. Khi tôi cần lấy lại viên thuốc đó để pha chế chung với một loại thuốc khác tôi đang làm, chú tôi bảo rằng ông đã làm mất rồi. Về sau, chị tôi cho biết là chú tôi không hề làm mất viên thuốc, mà ông muốn giữ lại cho riêng mình.
Trong việc điều trị bệnh AIDS, cây arura được xem là hiệu quả nhất, và các loại baru và kyuru cũng hữu ích. Dựa theo các sách y dược Tây Tạng – các sách này đến từ Đức Phật Dược Sư – thì con người có tất cả 424 loại bệnh. các bệnh có thể phân ra thành ba nhóm cơ bản: bệnh thuộc tính lạnh, bệnh thuộc tính nóng và bệnh thuộc gió (phong, hay khí, tiếng Tạng là lung). Ba loại cây thuốc vừa nói trên là thuốc để trị ba loại bệnh này và là nền tảng của y dược Tây Tạng.
nhận thuốc Tây Tạng từ Viện Chiêm Tinh và Y Dược Tây Tạng ở Dharamsala.
Anna có mối liên kết nghiệp rất gần gũi với ngài Kirti Tsenshab Rinpoche, cô ta nhận được nhiều khuyên bảo và nâng đỡ từ ngài vì cô ta là đệ tử mới tu tập Pháp.
Tôi đã chế một số lượng bột có chứa ba loại dược liệu này – arura, baru và kyuru – và tôi mang bột đó đến Viện Vajrapani (ở Pháp), nhưng lúc đó tôi không gặp ai bị AIDS. Đó là bột làm bằng ba loại dược liệu mà tôi đã đề nghị Anna dùng để chữa bệnh AIDS.
=
Nhằm tìm ra một phương cách khác để chữa bệnh AIDS, tôi đang cố tìm kiếm để có được một loại cỏ rất quý hiếm, chỉ mọc trên những vùng linh thiêng. Tôi nghĩ rằng loại cỏ này có thể sẽ là một loại LSD kế tiếp. Tôi đã nhờ một số người đi tìm nó trên những vùng núi linh thiêng ở Tây Tạng và cả ở Trung Hoa. Chắc hẳn là nó chỉ mọc ở những nơi khó tiếp cận. Ở Tây Tạng, nó mọc trên vùng Tsa-ri, là một dãy núi lớn chỉ có người bản địa sinh sống. Tsa-ri là vùng thánh địa của Ngài Chakrasamvara, và các hành giả Chakrasamvara đi nhiễu quanh dãy núi bằng chân trần như một cách tịnh hóa nghiệp, và họ dâng cúng tsog ở nhiều nơi trên dãy núi. Người ta nói rằng kết quả là họ có thể đạt được năng lực thấu thị. Đức Song Rinpoche có nêu ra điều này trong tự truyện của Ngài.
Dĩ nhiên, vì loại cỏ quí hiếm này có lợi ích rất đặc biệt, nên chỉ riêng việc tìm thấy nó thôi cũng đòi hỏi phải có nhiều công đức. Tôi có ý tưởng là sẽ trộn loại cỏ này với các nguyên liệu khác để làm ra những viên thuốc. Tôi tin rằng ngay cả một lượng rất nhỏ của loại cỏ này cũng có năng lực chữa bệnh không thể nghĩ bàn, không chỉ đối với bệnh AIDS, các bệnh khác mà còn hiệu quả đối với tâm nữa. Các sách nói rằng ăn được loại cỏ này sẽ giúp ngăn không tái sinh vào các cảnh giới thấp.
Loại cỏ này được nhận biết nhờ nó tỏa khói vào ban ngày và phát sáng vào ban đêm. Nó có mùi thơm cực kỳ mạnh, có thể thấm qua nhiều lớp vải. Tôi đã xem các sách Y Dược Tây Tạng để tìm các hình vẽ về các loại cỏ dược liệu, nhưng tôi còn chưa thấy hình vẽ loại cỏ này. Tên thông dụng của nó là cỏ tàu. Nó được trộn vào loại mực tàu trước đây, nên mực có mùi thơm rất mạnh như tôi còn nhớ lúc nhỏ đã từng ngửi. Mực tàu cũng được dùng trong Y Dược Tây Tạng.
Chỉ một ít cỏ này cũng cực kỳ quí báu. Đặt nó lên miệng người hấp hối cũng ngăn họ không tái sinh vào cảnh giới thấp; họ sẽ có tâm thiện khi chết vì bản thân loại cỏ quí này sẽ mang lại sự tịnh hóa nghiệp rất mạnh.
Người ta nói rằng khi một con vật ăn được loại cỏ này thì nó không thể bước đi; con trâu yak hay con bò đó chỉ đứng yên tại chỗ và nước mắt chảy ra. Dân làng thường nói: “Ồ! Con vật đang thiền định.” Vì ăn loại cỏ này, tâm của con vật được chuyển hóa; con vật lập tức phát sinh tâm buông bỏ, tâm từ bi, vân vân..., và nó khóc. Và khi con vật chết, thậm chí nó cũng lưu lại xá lợi.
Nếu dược liệu có chứa loại cỏ này, chắc chắn sẽ có tác dụng rất mạnh và chữa được ngay tức thời các bệnh như AIDS, ung thư... Nhưng cần phải có rất nhiều công đức mới tìm thấy được loại cỏ này. Vì lợi ích không thể nghĩ bàn của nó, người nào sử dụng thuốc có loại cỏ này cũng cần phải có rất nhiều công đức.
https://thuvienhoasen.org/p26a10156/23-y-duoc-tay-tang
======================
Có một loại cỏ thiêng được gọi là Tsa Lu-du-dorjee, được tìm thấy tại vùng đất thiêng của Tsari (cõi tịnh độ của Ngài ChakraSamvara hay là Demchok Khorlo) ở vùng hẻo lánh của Tây Tạng. Loại cỏ này được cho là thiêng liêng nhất và quý giá nhất trong việc giải thoát qua việc nếm. Có một hiện tượng thường được chứng kiến tại vùng Tsari là khi những loài động vật hoang dã bị chết thì có một ánh sáng cầu vòng mầu nhiệm xuất hiện bên trên cơ thể của những con vật đó. Người ta cho rằng, những loài động vật hoang dã đó có phước duyên là đã ăn được loài cỏ thiêng liêng này và bây giờ được tái sanh về miền tịnh độ.
Trong dòng truyền thừa Dongyud Pelden Drukpa, loại cỏ thiêng giống như thế cũng đã được sử dụng như một trong những thành phần chính quan trọng để bào chế ra viên thuốc cầu vòng hay còn gọi là viên Jastug Rilbu (nghĩa là viên thuốc giúp đạt được thân cầu vòng). Truyền thuyết kể lại rằng, loại cỏ thiêng này chỉ có thể tìm thấy bởi những bậc tái sinh thuộc dòng truyền thừa Gyalwang Drukpa vì họ là những thân tái sinh của Bồ tát Quán Thế Âm. Vì thế, chỉ duy nhất dòng truyền thừa Drukpa mới có những viên thuốc cầu vòng.
Thành phần quan trọng khác được dùng để bào chế ra những viên thuốc cầu vồng là những hạt xá lợi còn lại từ thân của các Đức Phật và chư vị Bồ-tát. Trong quá trình thực hành sáu ba-la-mật, chư Bồ-tát đã tích lũy được những công đức vĩ đại thông qua nhiều phương tiện giáo hóa khác nhau, kể cả việc bố thí, cúng dường những vật sở hữu của cá nhân, bố thí thân thể và thậm chí là bố thí cả sinh mạng của mình. Chư Bồ-tát dùng công đức có được từ những việc bố thí, cúng dường vĩ đại ấy để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, không chỉ là ngay lúc các ngài còn tại thế mà cả sau khi các ngài đã viên tịch, qua những viên xá lợi được lưu lại từ thân thể của các ngài. Đấy là lý do tại sao chúng ta tìm thấy những viên xá lợi sau khi hỏa thiêu thân thể của các bậc đại sư. Những sự hóa hiện này tồn tại trong khuôn khổ của luật nghiệp báo và hỗ trợ cho sự phát triển lòng vị tha và trí tuệ của chư Bồ-tát trên lộ trình hướng đến sự giác ngộ vĩ đại.
Những viên thuốc cầu vồng được bào chế ra từ sự hòa trộn nhiều vật thể thiêng liêng khác nhau, như là: cỏ Tsa Lu-du-dorjee; xá lợi của các bậc giác ngộ, nước cam lồ của Đức Liên Hoa Sinh và nhiều thứ linh thiêng khác được hòa trộn với nhau. Những viên thuốc ấy được gia trì trong các khóa lễ về ChakraSamvara trong một khoảng thời gian nhất định cho đến khi thấy những dấu hiệu phước lành phát ra từ những viên thuốc ấy, chẳng hạn như là những tia sáng, hương thơm và ánh lửa.
Trong kinh điển có nói rằng, người nào uống hoặc đeo viên thuốc cầu vồng với tất cả sự thành tâm thì người đó sẽ chứng ngộ được chân lý tuyệt đối của Đại Thủ Ấn hay Tánh Không. Và việc uống hoặc đeo viên thuốc cầu vòng còn giúp chữa lành mọi bệnh tật, bảo vệ người đó khỏi bị xâm hại bởi những chất độc, các loại vũ khí, làm cho các giác quan của họ trở nên thanh tịnh và còn đem lại lợi ích cho họ trong nhiều phương diện của cuộc sống, bao gồm cả việc giúp người đó không bị đọa vào ba đường ác (địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh).
Hiệu quả của những viên thuốc cầu vồng là tùy thuộc vào mức độ thành tâm và sự hiểu biết của mỗi người. Sư ban phúc lành gia trì của những viên thuốc cầu vồng dựa trên chân lý duyên khởi. Người ta không thể nào đóng tất cả các cánh cửa mà vẫn mong những tia sáng mặt trời chiếu qua.
Theo truyền thống, những viên thuốc cầu vồng này chỉ dành cho những người đang hấp hối. Người ta làm thế với lòng thương xót rằng, người hấp hối cảm thấy hoàn toàn tuyệt vọng về những gì họ đã làm trong suốt cuộc đời. Những người gây ác nghiệp như vậy sẽ phát khởi niềm tin và lòng thành kính nếu họ được nghe giảng dạy giáo pháp và nhận được những vật thiêng liêng, khi kết hợp được cả 2 yếu tố này thì sẽ tạo ra thiện nghiệp rất mạnh. Và điều này có thể giúp người hấp hối tái sinh vào những cảnh giới thanh tịnh được hình thành từ những lời phát nguyện của chư Phật. Vì thế, ở Tây Tạng, người ta dù ở rất xa cũng đã tìm đến để xin cho được những viên thuốc cầu vồng ấy, còn được gọi là những viên thuốc cầu vồng của Drukpa. Người nào được uống viên thuốc cầu vồng này thì khi chết sẽ được chết trong sự thanh thản và tin chắc rằng người đó sẽ không bị đọa vào ba ác đạo.
Công đức của những viên thuốc này, là hiện thân của chư Phật (vì trong đó có xá lợi Phật), tương đương với công đức của việc đảnh lễ hoặc cúng dường chư Phật.
Những viên thuốc cầu vồng rất là thiêng liêng, hiện trên thế giới chỉ có vài trăm viên, trừ khi Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa quyết định điều chế thêm. Do tính chất thiêng liêng của viên thuốc và vì không thể nào kiếm được nhiều hơn nữa, cho nên chúng tôi không thể nào tặng nguyên cả viên thuốc. Để đảm bảo những lợi lạc có được từ những viên thuốc cầu vồng được phân phối một cách bình đẳng đến tất cả những ai đang tìm kiếm nó, chúng tôi đã lấy những phần nhỏ của viên thuốc hòa trộn vào trong những viên thuốc thiêng khác do dòng truyền thừa Drukpa bào chế. Những viên thuốc có một phần nhỏ tinh chất từ viên thuốc cầu vồng thiêng liêng thì có sẵn tại tất cả các trung tâm và các tu viên Drukpa trên khắp thế giới.
http://www.thegioiphatgiao.vn/dactru...g-jastug-rilbu
———
Đây chỉ là phần giới thiệu ngắn và chưa đầy đủ về những lợi ích của viên thuốc cầu vồng, bởi vì lợi ích của một vật thể thiêng liêng như thế thì không thể nào đo lường được.
Để biết chi tiết hơn về những xá lợi trong viên thuốc cầu vòng thì hãy đọc bài “Giới thiệu về Damzey Nyongdrol” (An Introduction to Damzey Nyongdrol) của Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa đời thứ 8, ngài Kunzig Choenang và được Dasho Karma Ura dịch qua tiếng Anh.
Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh đều được giác ngộ thông qua những phương tiện và những sự hóa hiện khác nhau.
Nhiếp chính vương Gyalwa Dokhampa
Minh Nguyên chuyển ngữ
Arura Tibet Natural Healing Range
The Arura Plant
The Arura Plant
The Latin botanical name for Arura is Terminalia chebula. In Tibetan medicine we use the fruit of the Terminalia chebula, it is considered to be a great panacea. There are five different types of Arura and the most highly prized Arura is called “the victorious one” (Aru Namgyal); it possesses all the six primary tastes, eight potencies and seventeen properties. Because of this, Arura is used to treat and balance the three principal energies of Tibetan medicine called rloong, mKhris-pa and Bad-kan. Arura also helps for digestion, improved blood circulation and longevity. In paintings of the Medicine Buddha he is seen carrying the Arura branch in his right hand whilst in his begging bowl are Arura fruits. This is why I have chosen ARURA as the name for my range of natural healing products.
Medicine Buddha carrying the Arura branch
Medicine Buddha carrying the Arura branch
For many years I have been thinking about producing a range of natural healing products and have spent much time researching the ingredients relevant to Tibetan medicine, along with their efficacy and availability. I have now produced the Arura Natural Healing Range which blends the ancient wisdom of Tibetan medicine with modern science.
Tibetan medicine is extremely rich in its depth and variety of medical formulas, however when we need to produce natural products such as skin creams it does not have the knowledge of using emulsifiers and preservatives. As I already have knowledge of Tibetan herbal medicine I have in addition to this attended courses on natural skin care, on making creams, lotions, balms, the use of natural emulsifiers and preservatives. I have also attended courses on EU laws and regulations with regard to cosmetic products, because practising in the United Kingdom I need to follow EU laws and regulations on cosmetic safety. Each ingredient has to be traced to the source and therefore all my creams have been assessed and certified by Cosmetic Safety Consultants Ltd. for safe use by the general public in the EU.
The main purpose for producing these natural products is because there are kind to the skin, nourishes the hair, is relaxing for the mind and soothing for the body; I can say this with full confidence as I know that all my ingredients are based on natural waxes, herbs, oils and essential oils. All my natural products are sourced ethically and ecologically. I hope you will enjoy using them.
Purchasing Products
If you wish to order any of these products please email - info@aruratibetanmedicine.com - and we will get back to you with a total cost of the order including shipping. Once you recieve the confirmation email from us you can make payment using the following methods -
Cheque made payable to Dr Tamdin S Bradley
Bank transfer - Details for UK Customers :
Account Name: Dr Tamdin S Bradley
HSBC
Account Number - 81201840
Sort Code - 40 47 15
Bank transfer - Details for Non-UK Customers :
Account Name: Dr Tamdin S Bradley
HSBC
International A/C No: GB12MIDL40471581201840
Branch Identifier Code: MIDLGB2164N
http://s2.upanh123.com/2017/05/19/ay...1-638b879c.jpg
Ayurvedic Pharmacology of Terminalia chebula & its Pharmacognocy
( https://www.slideshare.net/drrajangu...-pharmacognocy )
======
http://s2.upanh123.com/2017/05/19/images140451.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/05/19/images4a88c.jpg
Terminalia chebula
Haritaki (Terminalia chebula) 100 Vegicaps, Bazaar of India
What is Myrobalan, what is Arura?
Myrobalan is a botanically very large group of different Himalayan tree-fruits. In Tibetan the special Myrobalan, which the Medicine-Buddha is holding in his hand, is called Arura. Together with the two other Myobalans 'Brura' and 'Cyurura' they make out the »Three Fruits«, an important, digestion-supporter, the basic substance of the Ayurvedic Art of Healing. I had been hearing about these fruits for more than fifteen years, but their true scope did not become clear to me until I had take the Refuge with the Karma-Kagyü-line and got to know the ritual of the "Medicine-Buddha".
There are references to the fact that the Buddha Gautama during his 6 years of apprenticeship by the most different ascetics in the Foothills of the Himalayas among other things also got an education as a Ayurveda-healer. This knowledge used to be part of the spiritual foundation of these wandering Storytellers, so that in an emergency they could heal themselves in the then still thick forests. In any case, the four- and eight-layered build-up of his teachings about the ending of all suffering has the same layout as the classic Ayurvedic-diagnostics. And even though these events can hardly be historically reconstructed, the Gautama Buddha, as well as the Guru Rinpoche (Padmasambhava), have personally recommended the use of these fruits, as can be seen from the picture.
In the book that I wrote, I collected all the facts from the scientific literature about the different Arura-fruits and their use in the partly still living traditions of Asian traditional medicine. Here is a short excerpt:
Compared to apples the Arura-Myrobalan has 10 times more vitamin C.
You find 17 of the 18 essential amino-acids, that is very high protein content, which is very unusual in fruits.
Containing valuable vitamins and minerals, the Arura-Myrobalan is very good nutrition.
Therefore the cultivation of these plants should intensified, since they are threatened by extinction in the course of the present worldwide progressive destruction of the Multitude of Species.
Old scriptures differentiate between 7 different forms of Arura, while we now know only three species.
In progressive scientific experiments, concentrated alcoholic extracts from the Arura-Myrobalan exhibit a growth-impeding effect on four types of cancer-cells.
The different Arura-fruits assist with all problems of digestion, even if this isn't apparent until it's been used for a long time.
By correctly chewing this fruit one is motivated to a small practical yoga-exercise. Well chewed is half digested, as the saying goes.
In the mouth the fruit will have a strong astringent effect. It furthers the flow of saliva and it cannot be swallowed until the fruit is completely chewed up. As soon as one has swallowed it, one senses a beneficial warming effect in the stomach. If anybody should think that they couldn't use this fruit because they should avoid warming foods, rest assured. There are, as I mentioned, a second and third fruit specially suited for those cases.
Arura is said to be nerve-supporting and strengthening and has therefore since way back and even today been used in all Asian cultures for the improvement of meditation in the monasteries.
The ancient Indians describe Arura-Myrobalan as a "Rasayana" - an all-organ-penetrating-food, which can even sustain Nerve-tissue.
All texts say that it should be enough to eat one fruit in the morning before breakfast to be assured of a long life free from illnesses!
For the courageous ones who now right away want to know how this, by Buddha himself endorsed as the "Great Medicine", fruit does taste, be forewarned: The fruit has no very seductively sweet taste, although it does contain fruit-sugar. The eating of a fresh fruit may take as much as five to fifteen minutes, depending on the freshness of the fruit and the constitution of the chewer, and is rather a kind of Buddhist self-disciplinary-exercise. Ngöndro for the tongue so to speak. Unfortunately the taste goes against our as pleasant defined accustomed habits of our pampered palate. But it is a common experience how sweet pure drinking water tastes after having devoured such a fruit. Arura-fruits soaked in saltwater for a long time taste a bit like olives.
Traditionally it is eaten about half an hour before breakfast on an empty stomach. Those who want may add a bit of honey. And for those who cannot do that either, you should try to make a paste from by shredding the fruit without the pit in a blender with some ecological Cane- or Palm-sugar and swallow this.
The Tibetan Ayurveda regards the Arura-twig also as a multilayered symbol of all the knowledge about right conduct with oneself and others, so as to prevent sicknesses before it happens. The central message behind the fruit is the awareness of the importance of right nourishment which makes food that fits the individual constitution a medicine in itself. So the Arura becomes the finest instrument in the ayurvedic teachings, the key to understanding the controlling the flow of body-fluids and the base for a stable health.
It is not generally known that also the familiar Indian spices such as pepper, cinnamon, clove, and many others - besides their purely aromatic qualities which lend themselves to the taste improvement of our anemic and water-filled vegetables - also have important pharmacological qualities as remedies for everyday ailments, such as coughing, belly-aches etc. In fact there is no food-plant in India which can not also be found as a medicine in the Materia Medica. Also certain minerals and animal-products are utilized medicinally.
The present in the West commonly accepted definition of medicine is very different from this. Here in the West medicines are usually complicated synthetic products, which can not and should not be handled by the lay people. The Ayurveda on the other hand only works with the richness of nature and its endless varieties. Therefore the term "medicine" can also be used here about the right combination of nutrition.
From: Kagyü Life Nr. 27, 10.Year (December 1998)
<<<To Page 1
http://www.nimmersoft.dk/arurafruit2.htm
http://s2.upanh123.com/2017/05/19/Untitleda3f16.png
The arura plant is well-known in Indian medicine
( https://books.google.com.vn/books?id...BUDDHA&f=false )
arura (Tib)
Also known as chebulic myrobalan; the botanical name is Terminalia cherbula. A fruit that is one of the three fundamental Tibetan medicines; the Medicine Buddha holds the stem of the arura plant in his right hand. Ordinary arura is commonly used in Tibetan medical compounds; special arura—which is said to cure any sickness—is extremely rare.
http://www.lamayeshe.com/glossary/term/arura-tib
7 types of Haritaki –
Although Bhavaprakasha has explained seven types of Haritaki, all are the same Terminalia chebula, available in different places. The seven types explained are –
Vijaya – used in all diseases, available in Vindhya mountains
Rohini – fruit is circular in shape – Useful in wound healing – available in place called Pratishtanaka.
Putana – Having small fruits with big seed – used for external application, available in Sindh area.
Amruta – Having thick fruit pulp, useful for Panchakarma (detoxification) , available in Champa, Bhagalpur area.
Abhaya – Having five creases in fruit skin, useful in eye disorders, available in Champa, Bhagalpur area.
Jivanti – Yellow coloured fruit – useful in all diseases, available in Saurashtra region of Gujarath.
Chetaki – Having thre creases in fruit skin, useful for purgation, available in Himachal Pradesh.
http://easyayurveda.com/2013/01/05/h...rveda-details/
Arura Medicine of Tibet, Tibetan Medicine in Charlottesville, Virginia .UVA
Tibetan Medicine is a complex, traditional medical system that incorporates a mind/body approach to health care. Tibetan Medicine is one of the world's oldest healing arts and has been practiced for more than four thousand years in Tibet and the Himalayan region of Asia.
Arura Medicine of Tibet in Charlottesville is affiliated with the Arura Tibetan Medical Group in Tibet. In the United States, Arura Medicine of Tibet strives to create an all-encompassing Tibetan Medicine resource center by:
Educational partnership and exchanges with the University of Virginia
Traditional Tibetan Health assessment and treatment in the Charlottesville offices
Compassionate wellness care
Public engagement and learning opportunities through workshops, social events and regular group meditation practice
In the Tibetan language, the Tibetan Medicine term is "Sowa Rigpa" meaning “knowledge and science of healing”. "Sowa" translates “to heal the illnesses or disorders”; "Rigpa"translates to “the knowledge or science of a particular subject”
By sharing the ancient healing practices of Tibetan Medicine, Arura Medicine of Tibet hopes to encourage the preservation of Tibetan culture and craft a new approach to health-care in contemporary western society.
Thread: Arura Fruit
Thread Tools
Rate This Thread
Display
11-26-2001, 06:45 AM #1 prana
Guest
Arura Fruit
The Arura fruit is held on the hand of the Medicine Buddha. It is said to be the king of medicines. Unusually high amounts of amino acids for a fruit and 10 times more Vit-C than apples.
But is the Arura fruit available anywhere else but India ? What is it ? What does it look like ?
TIA for any thoughts
Reply With Quote Reply With Quote
11-26-2001, 11:28 PM #2 Repulsive Monkey
Guest
Prana
As ever my brother in energy. It is good that you speak of the Medicine Buddha, do you much else about practices concerning this area? My Master recently recieved a teaching from an exalted Lama passing on the Medicine Buddha meditation for therapists, practitioners etc.
It sounds very interesting.
Reply With Quote Reply With Quote
11-27-2001, 12:22 AM #3 prana
Guest
Repulsive Monkey
I have been lucky to have received the empowerment of Medicine Buddha, although I was ill and could not attend to the following classes, which taught how to use and harness the fruits.
But so long as the seed is planted, hopefully, I may slowly but surely be guided in the right direction.
Perhaps, in your field of healing, you should look up the empowerment ceremonies ? It would greatly benefit all those around you and yourself, spiritually and career-wise.
http://www.fpmt-osel.org/meditate/medicine.htm
http://www.kungfumagazine.com/forum/...81-Arura-Fruit
訶梨勒果
[10] Ha-lê-lặc 訶 梨 勒. Pāli: harītaka, loại quả dùng làm thuốc (Terminalia citrina).
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-aha....htm#_ftnref10
Ha Lê lặc (Haritaka) lớn như trái đại táo, vị chua đắng, uống vào lợi cho tiêu hóa.
http://www.budsas.org/uni/u-luat-thi...enkien-17b.htm
3. Chiêu liêu (Haritaki)
Chiêu liêu hay kha tử là một loại thuốc kỳ diệu cung cấp vô số lợi ích sức khỏe. Nó là loại thảo dược Ayurvedic cực kỳ quan trọng trong việc điều trị thiếu máu. Trong trường hợp thiếu hồng cầu, thiếu hemoglobin, Haritaki là rất hữu ích. Khi trộn nó với mật ong và bơ sữa trâu, đây là một phương thuốc tuyệt vời để điều trị nồng độ hemoglobin thấp.
Từ Lê Lặc: Haritaki (skt)—Một loại cây có sớ màu vàng, mọc nhiều ở miền đông Ấn Độ, dùng làm thuốc hay làm mực—The yellow Myrobalan tree and fruit, grown in East India, used for medicine, or ink.
https://hoavouu.com/p38a14293/tu
72. A-lê-lặc: tên gọi được phiên âm từ Phạn ngữ Haritaki, nên trong một số
kinh luật cũng được đọc là ha-lê-lặc. Theo Phật Quang Đại từ điển thì loại
cây này có tên khoa học là terminalia chebula, là loại cây ăn trái sinh sản ở
các vùng Lĩnh Nam (Trung quốc), bán đảo Trung Nam, Ấn Độ v.v... Thân
cây giống như cây dâm bụt, lá dài và nhọn, hoa màu trắng, kết quả vào đầu
mùa thu, quả hơi tròn như quả trứng, màu vàng chanh, dùng làm thuốc chữa
được nhiều loại bệnh.
http://tinhtong.org/main/taiLieu/phu...Ha-ChuGiai.pdf
ha-lê-lặc
phiên âm từ Phạn ngữ là haritakỵ, cũng đọc là ha-lỵ-lặc, là một loại cây có trái, rễ, thân, cành lá, hoa và hạt đều có vị đắng.
http://phatam.org/dictionary/detail/...00/ha-le-lac/1
1Kinh văn là “ha tử”, trái ha, hạt ha, nói đủ là Ha-lê-lặc (Haritaki), cũng đọc là Ha-la-lặc, Ha-lỵ-lặc. Trái ấy chất đắng, dùng làm thuốc, bằng cở như trái táo.
Ha-lê-lặc là thứ trái có thể trị bịnh, người muốn tịnh thí có thể dùng thuốc men để thay thế).
haritaki (chiêu liêu)
Chebulic Myrobalan powder (Bột chiêu liêu).
Haritaki (Terminalia chebula)
[147] Ha-lê-lặc 呵梨勒; Pāli: harīṭaka, harītakī (Skt. đồng), kha tử 柯子.
https://quangduc.com/a15121/31-pham-tang-thuong
药师佛所持的诃梨勒
药师佛右手所持的诃梨勒,或作诃黎 、诃梨怛鸡、诃梨憺鸡,梵语:Harīta ki、藏语:Arura(阿噜喇、阿如拉),后 时代为了避石勒的名讳,后来改称诃 ,另外也称藏青果、随风子、诃梨勒 果、诃子药。
《金光明最胜王经》云:“诃梨勒一 ,具足有六味;能除一切病,无忌药 王。”
《南海寄归传》云:“诃梨勒,若能 日咽一颗,则终身无病。”(请遵照合 格医师指示食用)
《一切经音义》云:“诃梨怛鸡,旧 ‘呵梨勒’,翻为‘天主持来’。此 堪为药分,功用极多,如此土人参、 石斛等也。”
《阿毗达磨婆沙论》云:“若能以一 梨怛鸡,起殷净心,奉施僧众,于当 世,决定不逢疾疫灾起。”
在西藏医学中,认为诃梨勒(诃子),味 涩,辛而苦,功能治邪魔及眼疾,是 刚乘甘露法药之基本药材。诃梨勒(诃 子)共分5种:(1)尊胜诃梨勒(2)无 诃梨勒(3)肥诃梨勒(4)补养诃梨 (5)干沟诃梨勒。尊胜诃梨勒是贤 千佛中每尊佛出现时才会应时长出, 为殊胜难遇,其他四种诃梨勒都是药 用诃梨勒。
诃梨勒(诃子)为使君子科落叶乔木植物 诃子 Terminalia chebula Retz. 的成熟果实。诃梨勒(诃子)生于海拔 800-1,800 米高的疏林中,原产亚洲,现分布于 度、西藏、云南、广东、广西、埃及 伊朗、尼泊尔、土耳其等地。
在汉医学中,认为诃梨勒(诃子)的性味 是: 苦、酸、涩,平。归经是:归肺、大 经。 功效是:涩肠止泻,敛肺止咳,利咽开 。 《新修本草》说:“治痰嗽咽喉不利 含三数枚殊胜。”,《本草衍义补遗 说:“实大肠,敛肺降火。”《本草 备要》说:“涩肠敛肺泻气。”
http://m.v4.cc/News-4542003.html
Lúc đó trong Chúng có một vị Trưởng Giả tên là Tinh Tú Quang (Nakṣatraprabha)
nghe nói Đại Tuệ bình đẳng của Đại Thừa nên tâm sinh vui vẻ, liền từ chỗ
ngồi đứng dậy, cầm quả Ha Lê Lặc với các tạp dược (thuốc đủ loại) đến chỗ của Nhật
Tạng rồi bạch rằng:”Đại Đức ! Con nghe Nhân Giả nói thuốc Cam Lộ. Như Ngài đã
nói, người uống thuốc này sẽ chẳng già chẳng chết”
http://dongphapkimcang.com/home/imag...ong_Bo_Tat.pdf
Tại sao Kỳ Bà trị bệnh trên đường đi?
Vị thầy dạy nghĩ rằng: Ðây là vương tử, không thiếu tài vật, nếu trở về nước thì không còn nhớ đến ân của ta.
Sau khi suy nghĩ như vậy, vị thầy dạy chỉ cho bộ y phục cũ chứ không cho lương thực.
Sau khi từ giã thầy trở về, đi đến giữa đường bị đói bụng, ngang qua một làng xóm, Kỳ Bà hỏi thăm người trong làng rằng ở đây có ai bị bệnh không?
Người làng đáp: Nhà trưởng giả... có người bệnh.
Kỳ Bà liền chữa trị cho họ, và được (thù lao) vật quý giá.
Kỳ Bà suy nghĩ: Ta trị một người bệnh mà được vật quý báu như vậy, nếu trị cho nhiều người bệnh sẽ được vô số vật báu. Ta được như vậy là nhờ ơn của thầy dạy.
======
Dược Kiền độ
(về sử dụng thuốc; thuốc ở đây kể cả thức ăn như sữa, đường vv...)
Cơm Câu Bạt đà la: cơm bằng gạo lúa tẻ.
Tu Bộ là canh đậu xanh.
Kiết La là măng tre.
Na Nậu là loại thuốc ở nước ngoài, không hiểu.
Khư Xà ny (Khajja) chỉ cho tất cả các loại trái.
Ha Lê lặc (Haritaka) lớn như trái đại táo, vị chua đắng, uống vào lợi cho tiêu hóa.
Tỳ Ê lặc (Vibhitaka) là trái dư cam tử, ở đất Quảng Châu có (trái này), hình dạng lớn như trái đoác núi.
Thuốc Chất đa la: tên một loại thuốc ở nước ngoài.
Thuốc Già bà: tên thuốc ở nước ngoài.
Bà Lợi bà bà: là hạt cải.
Nị cự: là loại thuốc nước ngoài chuyên trị độc, đất Hán không có.
Ðà Bà Xà: thuốc xông khói.
Kỳ la Xà na kỳ (Kajana) loại đá đỏ.
Thuốc trị mắt là Ðà bà xà đà bà (Anõjana).
Xà Na: sống trên đất.
Kỳ la xà na: sống dưới nước.
Long (rồng, rắn) thân dài không có chân.
Ðối với thịt sư tử, voi, ngựa, rồng, rắn, chó không được ăn, không được dùng da, lông. Khi được bất kỳ loại thịt gì thì cũng phải hỏi (là thịt gì), nếu không hỏi phạm tội Ðột Cát La.
Ðể mất (thất thủ?) La Ma: cá sấu.
Tại Quảng Châu có hắc thạch mật chính là đường mía, cứng như đá nên gọi là đá ngọt (Phànita).
Già ny: là mật (Madhu).
Ô Ba Ðà phả ny: phả ny là cục đường mía mỏng.
Lấy phòng bên cạnh kết làm tịnh thất (Kappiyakuti - phòng để đồ vật đúng pháp của tăng) khi bắt đầu dựng trụ, nên đào hố trước và đặt trụ gần hố, tỳ kheo đứng chung quanh nâng trụ lên và nói rằng làm tịnh thất cho tăng chúng. Nói ba lần và khi nói xong trụ đá cũng đã được được dựng lên. Ðến trụ thứ hai, thứ ba, thứ tư cũng nói như vậy. Nếu chỉ nói cho một trụ, cũng thành tịnh thất.
Nếu đã thành thất rồi, vậy tác tịnh như thế nào? Nên gọi chủ thất đến và nói rằng thất này chưa tịnh, ông hãy tác tịnh cho tăng chúng.
Thí chủ nói như vầy: xin dâng cúng tịnh thất này cho chúng tăng, các ngài sử dụng tùy ý.
Làm như vậy thì thành tịnh thất.
Nếu khi làm tịnh thất mà không có thí chủ thì tác tịnh như thế nào?
Nếu tụ lạc ấy có người kỳ lão thì gọi họ lại (và nói rằng) phòng này chưa tác tịnh, thỉnh ông làm tịnh chủ.
Nếu thí chủ không biết cách nói, tỳ kheo nên dạy họ nói rằng đây là tịnh thất, xin dâng cho chúng tăng, tùy ý sử dụng.
Làm như vậy xong thì thành tịnh thất, được sử dụng tùy ý về việc chứa đựng thứa ăn uống, không bị tội ngủ chung với thức ăn, nấu thức ăn trong cương giới (của tăng).
Trái diêm phù (Jambu) lớn như trái hồng táo màu đỏ sậm, chua ngọt.
Xá lầu Ca (Sàlùkapàna) dùng ngó sen xanh (Uppala), ngó sen đỏ (Kumuda) giã nát lọc lấy nước trong, gọi là nước ngó sen.
Ba Lậu Sư (Phàrusaka) giống như trái am la (Amba - xoài).
Tất cả trái cây đều được dùng làm nước phi thời, chỉ trừ bảy loại mễ cốc. Tất cả các loại lá đều được dùng phi thời, chỉ trừ rau khoai nước (rau dụ). Tất cả các loài hoa đều được dùng phi thời, trừ nước hoa Ma Ðầu (Madhukapuppharasa - mật làm bằng bông cây madhuka). (Nước) trong các loại quả đều được dùng, trừ (nước) sáu loạitrái cây như trái Ta La (thốt nốt), trái dừa, trái Ba La Nại (?), trái bầu ngọt, dưa đông. dưa ngọt (Tàla, Nàlikèra, Panasa, Labuja, Alàbu, Kumbhanda, Pussaphara, Tipusaphala, Elàlaka) không được dùng phi thời. Tất cả các loại đậu không được dùng (làm) phi thời (dược) .
Vật dụng chứa nước (được dùng bằng) gỗ, đất nung, sắt, không được dùng các loại khác.
Nếu tự gieo trồng (cây trái) trên đất chúng tăng thì chia cho tăng một nửa số thu hoạch. Nếu tăng gieo trồng (cây trái) trên đất cá nhân thì cũng nên chia cho tăng một nửa (số thu hoạch).
Hết phần Dược Kiền Ðộ (Bhesajjakkhandakavannanà nitthità).
Chú Giải Luật Thiện Kiến
- Quyển 17 -
http://www.budsas.org/uni/u-luat-thi...enkien-17b.htm
Còn một loại rượu khác là Tam Lặc Tương, sở dĩ có tên gọi thế là vì nó được bào chế từ ba loại thảo quả: Am ma lặc (cây chùm ruột), bì lê lặc (cây tam quà), và ha lê lặc (một loài thực vật có tên Haritaki trong kinh phật), là một loài rượu trắng nồng độ rất thấp. Tuy loại rượu này cũng hiếm, nhưng ở Quy Tư nếu muốn thì vẫn có tửu tư có bán. chỉ là giá hơi đất ba trăm tiền một ly.
https://bachngocsach.com/reader/thien-ha/nfle
https://www.youtube.com/watch?v=WlHbV0dSXf0
Cây Chiêu Liêu | Terminalia Chebula (Chebulic Myrobalan) | Medicinal Herbs
Chiêu liêu - Kha Tử
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chiêu liêu
Terminalia chebula NP 01.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
Bộ (ordo) Myrtales
Họ (familia) Combretaceae
Chi (genus) Terminalia
Loài (species) T. chebula
Danh pháp hai phần
Terminalia chebula
Retz., 1789
Danh pháp đồng nghĩa[1]
Buceras chebula (Retz.) Lyons
Combretum argyrophyllum K.Schum.
Myrobalanus chebula (Retz.) Gaertn.
Myrobalanus gangetica (Roxb.) Kostel.
Myrobalanus tomentella Kuntze
Terminalia acuta Walp.
Terminalia argyrophylla King & Prain
Terminalia gangetica Roxb.
Terminalia parviflora Thwaites
Terminalia reticulata Roth
Terminalia tomentella Kurz
Terminalia zeylanica Van Heurck & Müll. Arg.
Chiêu liêu[2] hay còn gọi chiêu liêu hồng, kha tử,[2] xàng, tiếu (danh pháp khoa học: Terminalia chebula) là một loài thực vật có hoa trong họ Trâm bầu. Loài này được Retz. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1789.[1] Nó là loài bản địa miền nam châu Á từ Ấn Độ và Nepal kéo dài về phía đông tới miền tây nam Trung Quốc (Vân Nam), và về phía nam tới Sri Lanka, Malaysia và Việt Nam[3][4].
Mục lục [ẩn]
1 Hình thái
2 Sinh thái và phân bổ
3 Sử dụng
4 Hình ảnh
5 Chú thích
6 Liên kết ngoài
Hình thái[sửa | sửa mã nguồn]
Chiêu liêu là cây gỗ nhỡ có thể cao tới gần 30m, đường kính thân cây có thể tới 1m.[3] Vỏ thân cây màu xám tro, có nứt dạng vảy hình chữ nhật không đều> Lớp vỏ thân cây dày tới 2 cm có nhiều tầng màu đỏ và nâu nhạt xen kẽ nhau. Lá đơn mọc cách. Phiến lá nguyên có hình trứng hoặc trứng ngược, đầu lá có mũi nhọn (nhọn gấp), đuôi lá hình nêm rộng, phiến dài trung bình 7–10 cm và rộng 4,5–8 cm. Cuống lá dài 1–3 cm,[3] đỉnh cuống lá có 2-4 tuyến nhỏ. Hệ gân lông chim có 6-10 cặp gân thứ cấp.[2]
Mùa hoa vào tháng 5-6. Hoa nhỏ lưỡng tính, tập trung trên hoa tự. Hoa tự hình bông viên chùy mọc ở nách lá đầu cành, dài từ 5,5 – 10 cm. Hoa nhỏ màu vàng đến trắng đục,[3] không có tràng, có 10 nhị, vòi nhụy nhô cao. Bầu hạ, có 1 ô chứa 1 noãn. Quả hạch hình trứng dài 3–4 cm rộng 2 cm, có 5 múi tù. Quả chín vào tháng 8-9, khi chín có màu vàng đến cam hơi nâu.[2]
Sinh thái và phân bổ[sửa | sửa mã nguồn]
Cây có thể được tìm thấy phân bổ lên tới độ cao 1500m so với mực nước biển.[5] Chiêu liêu ưa sáng, mọc nhiều ven sông suối, các khu rừng thưa lá rộng. Cây tái sinh tốt dưới tán rừng thưa, đất ẩm.
Chiêu liêu phân bổ rộng khắp vùng Đông Nam Á, Nam Á, miền nam Trung Quốc và Đài Loan.[3]
Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]
Quả và hạt được sử dụng trong y học cổ truyền Ấn Độ, Tây Tạng, Trung Quốc, Việt Nam. Quả và vỏ cây còn được dùng nhiều trong nguyên liệu nhuộm. Gỗ màu nâu vàng nhạt, thớ mịn, khá nặng nhưng thường chỉ dùng trong xây dựng.[2]
https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%C3%AAu_li%C3%AAu
_PHÁP CÚNG KHÓI GOM TỤ TIỀN CỦA (.PDF)
Phục hồi Phạn Chú và Việt dịch: HUYỀN THANH
_TỔNG QUAN VỀ PHÁP CÚNG DƯỜNG KHÓI (.PDF)
Soạn dịch: Trần Ngọc Nguyên
_NGHI THỨC TỊNH HÓA CÚNG DƯỜNG KHÓI – NGUỒN TĂNG TRƯỞNG CÁT TƯỜNG (.PDF)
Việt dịch: Trần Ngọc Nguyên
https://kinhmatgiao.files.wordpress....duong-khoi.pdf
KHA TỬ 訶 子
Terminalia chebulla Retz.
Tên khác : A Tử, Hà Tử, Kha Lê Lặc, Kha Tử Nhục, Kha Tử Thán, Sáp Ông, Tùy Phong Tử (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Chiêu Liêu, Chiều Liều ( Việt Nam),.
http://www.tuetinhlienhoa.com.vn/web...l#.WR6iyLKLSHs
Black myrobolan
Xàng -Tiếu
Terminalia chebula Retz.
Combretaceae
http://s2.upanh123.com/2017/05/19/Untitled264f5.png
Đại cương :
Cây Xàng Terminalia chebula ( Myrobalan vàng hoặc Chebulic Myrobalan, Karakkaya; Phạn : Haritaki ) là một loài của giống Terminalia, có nguồn gốc ở miền nam Châu Á từ Ấn Độ và Népal về phía đông đến Tây Nam nước Tàu ( Vân Nam ) và miền nam Sri Lanka, Malaisie và Việt Nam. Tại Việtnam, danh pháp thông thường theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ ghi nhận tên gọi Cây Xàng hay Cây Tiếu.
Cây Xàng Terminalia chebula có khả năng tăng trưởng trên những loại đất khác nhau, đất sét cũng như trong bóng râm. Cây Xàng Terminalia chebula có thể mọc trong những nơi có độ cao khoảng 2000 m so với mực nước biển, và trong những vùng trong đó lượng nước mưa hàng năm khoảng 100-150 cm và nhiệt độ khoảng từ 0° đến 17 ° C.
Mặc dú nguồn gốc có ở Châu Á, nhưng cũng tìm thấy ở Népal, Sri Lanka, Myanmar, Bangladesh, Egypte, Iran và Turquie và cũng thấy ở Pakistan và Yunnan, Tibet, Guangdong, tỉnh Quảng Tây của Tàu. Trong Ấn Độ, cây mọc trong những rừng thay lá Himachal Pradesh, Tamil Nadu, Kerala, Karnataka, Uttar Pradesh, Andhra Pradesh và Bengale occidental.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Đại mộc cao khoảng 20 m hay hơn, đường kính khoảng 80 cm, tàn lá hình mũ chỏm tròn, có lá rụng theo mùa và nhánh lan rộng, nhánh non có lông. Vỏ cây màu nâu sẫm với một số vết nứt theo chiều dọc.
Lá, có phiến to, mọc cách, lá phụ đối diện, dài đến 7 đến 10 cm, 4-7 cm rộng, dạng bầu dục tròn dài, thường thì hơi tròn ở đáy, không lông ở mặt trên, có lông mịn mặt dưới, dai, được gắn trên một thân dài, chót cuống có 2 tuyến to, hệ thống gân lá gồm 6-8 đôi.
Phát hoa, chùm tụ tán nhiều hoa ở nách lá và ngọn nhánh, cao 6 cm.
Hoa, đơn phái, đồng chu, hoa đực và hoa cái cùng trên một thân, vàng vàng, mùi khó chịu, cuống hoa ngắn tiểu nhụy 10.
Trái, quả nhân cứng, dài 3-4 cm, có 5 đường gờ chạy dọc, chưa chín có màu xanh lá cây, khi chín có màu vàng xám khi chín và trở màu đen khi khô.
Hột, 1
Bộ phận sử dụng :
Trái, bột trái.
Thành phần hóa học và dược chất :
Những nhà nghiên cứu đã phân lập một số Glycosides triterpénoïdes của Haritaki Cây Xàng Terminalia chebula, bao gồm :
- những triterpènes arjunglucoside I,
- arjungenin,
- chebulosides I và II,
- arjunin,
- arjunglucoside,
- acide 2α-hydroxyursolic,
và acide 2α-hydroxymicromiric cũng đã được báo cáo.
▪ Cũng như những thành phần hợp chất phénoliques khác bao gồm :
- acide ellagique,
- 2,4-β-chebulyl-D-glucopyranose,
- acide chébulinique,
- acide gallique,
- anthraquinones,
- acide chébulagique,
- gallate d'éthyle,
- punicalagin,
- terflavin A,
- terchebin,
- lutéoline,
- và acide tannique.
- férulique,
- p-coumarique,
- acide caféique,
- vanillique.
▪ Cây Xàng Terminalia chebula cũng chứa :
- terflavin B,
một loại tanin, trong khi acide chébulinique tìm thấy trong những trái .
▪ Những nhân của trái Cây Xàng Terminalia chebula có chứa 49% dầu béo.
▪ 12 acides béo đã được phân lập từ Cây Xàng Terminalia chebula bao gồm :
- acide palmitique,
- acide linoléique,
- và acide oléique,
- stéarique,
- acide béhénique,
- và acide arachidique
là những thành phần chất chánh.
▪ Acide lutéique có thể được phân lập từ vỏ Cây Xàng Terminalia chebula.
▪ Cây Xàng Terminalia chebula được phát hiện có chứa :
- phloroglucimol,
- và pyrogallol,
cũng bao gồm những thành phần chất dinh dưởng, như là :
- vitamine C,
- protéine,
- những acides aminés,
- và những nguyên tố khoáng minéraux (Mahesh và al., 2007 ).
▪ Trong những trái, vỏ và những lá Cây Xàng Terminalia chebula, những thành phần hợp chất đặc trưng là :
- những tanins,
- saponines triterpènes,
- và những chất nhày substances muqueuses.
▪ Trong những trái Cây Xàng Terminalia chebula, 14 chất tanins có thể tách riêng bởi HPLC, kết hợp với điện di mao mạch électrophorèse capillaire.
Cây Xàng Terminalia chebula là một loại pyrogallol ( thủy giải hydrolysable),
Có chứa 14 thành phần chất của tanins thủy giải hydrolysables :
- (acide gallique,
- acide chebulic,
- punicalagin,
- chebulanin,
- corilagine,
- acide neochebulinic,
- ellagique,
- acide chebulegic,
- acide chébulinique,
- 1,2,3,4, 6-penta-O-galloyl-ß-D-glucose,
- 1,6-di-O-galloyl-D-glucose,
- casuarinin,
- 3,4,6-tri-O-galloyl-D-glucose,
- và terchebulin).
Hàm lượng chất tanin thay đổi với sự biến đổi địa chất.
Có thể xác định bởi RP-HPLC.
▪ Những hợp chất với lượng nhỏ khác, chứa trong trái, bao gồm :
- castalagine,
- acide flavogallonic,
- corilegin,
- β-D-glucogallin,
- glucose,
- và sorbitol.
- những hợp chất polyphénoliques,
-những glycosides triterpéniques,
- terchebulin,
- punicalagin,
- terflavin A,
- những flavonoïdes,
- những đường giảm sucres réducteurs,
- và tinh bột amidon ,
- galloyle glucose,
- acide maslinique.
▪ Ngoài ra, còn có :
- fructose,
- những acides aminés,
- acide succinique,
- β-sitostérol,
- résine,
▪ Ngoài ra, người ta còn thu được :
- những glycosides de terpenene,
- arjungenin,
- và arjunglucoside-I,
- 18 acides aminés,
và một lượng nhỏ :
- acide phosphorique,
- acide succinique,
- acides quinique,
- và syringique.
▪ Những trái Cây Xàng Terminalia chebula giàu chất tanins ( khoảng 32% -34% ) và hàm lượng thay đổi theo chức năng của sự phân bố địa lý.
và nguyên chất làm tẩy xổ purgatif anthraquinone cũng hiện diện.
▪ Những lá Cây Xàng Terminalia chebula cho thấy có chứa những polyphénols như là :
- punicalin,
- punicalagin,
- terflavins B, C, và D.
▪ Năng xuất có thể gia tăng bởi ly trích với Supercritical carbon dioxide.
▪ Glycosides de flavonols, triterpénoïdes, coumarine kết hợp với acide gallique gọi là :
- chebulin,
Cũng như những hợp chất phénoliques cũng được phân lập (Chattopadhyay và Bhattacharyya, 2007).
▪ Ngoài ra,
- gallate éthyle,
- và lutéolin,
đã được phân lập từ trái Cây Xàng Terminalia chebula (Karel và al., 2004).
Đặc tính trị liệu :
▪ Cây Xàng Terminalia chebula đã được chứng minh có nhiều hoạt động dược lý, như là :
- hoạt động chống oxy hóa antioxydants,
- kháng khuẩn antimicrobien,
- chống tiểu đường antidiabétique,
- bảo vệ gan hépatoprotecteur,
- chống viêm anti-inflammatoire,
- chống đột biến antimutagène,
- chjống tăng sinh antiprolifératif,
- bảo vệ bức xạ radioprotecteurs,
- bảo vệ tim mạchj cardioprotecteurs,
- chống viêm khớp anti-arthritiques,
- chống ung thư anti-caries,
- nhu động ruột motilité gastro-intestinale,
- và hoạt động chữa lành vết thương guérison des plaies.
► Chữa trị :
Cây Xàng Terminalia chebula được đánh giá rộng rãi cho đặc tính :
- kháng khuẩn antimicrobiennes,
nhưng không có áp dụng lâm sàng clinique để xác định cho một trong những loài của giống Terminalia.
▪ Hoạt động đã được chứng minh chống lại :
- Staphylococcus aureus ( bao gồm những chủng đề kháng với méthicilline ),
- Salmonella typhi,
- Clostridium perfringens,
- Escherichia coli,
- một số loại nấm ký sinh nhất định ở da ảnh hưởng đến da, tóc, móng,…dermatophytes,
- và những loài nấm Candida.
Trong nước, méthanol, butanol, và những phần đoạn khác đều được đánh giá và có những đặc tính hơi khác nhau.
▪ Ung thư cancer :
Cây Xàng Terminalia chebula ( trái khô ) và Terminalia Arjuna ( vỏ ) đã được nghiên cứu cho một hoạt động có tiềm năng chống lại một số dòng tế bào gây ung thư người cancéreuses humaines :
- ức chế sự tăng trưởng croissance,
và những hiệu quả gây độc tế bào cytotoxiques là rõ ràng, với nồng độ phụ thuộc vào :
- lập trình kích hoạt tự hủy tế bào apoptose,
- và hoại tử tế bào nécrose cellulaire, như một cơ chế đề xuất .
▪ Cây Bàng mốc Terminalia bellerica và Cây Xàng Terminalia chebula cả hai được sử dụng cho :
- cholestérol cao,
- và những rối loạn tiêu hóa troubles digestifs,
đặc biệt :
- tiêu chảy diarrhée,
- và táo bón constipation,
- và chứng không tiêu indigestion.
cũng như được sử dụng cho bệnh :
- lây nhiễm VIH.
▪ Cây Xàng Terminalia chebula được sử dụng để chữa trị :
- bệnh kiết lỵ dysenterie.
▪ Cây Xàng Terminalia chebula và Cây Bàng mốc Terminalia bellerica được sử dụng như một dung dịch lotion dùng cho :
- mắt yeux.
▪ Cây Xàng Terminalia chebula cũng sử dụng bên ngoài tại chổ như :
- nước súc miệng ( không giữ trong miệng ) rince-bouche,
- và súc miệng ( ngậm nước thuốc trong miệng ) gargarismes.
▪ Bên trong âm đạo Intravaginale, Cây Xàng Terminalia chebula được dùng như một nước rửa ( vòi xịt bên trong ) để chữa trị :
- những nhiễm trùng âm đạo infections vaginales.
► Sự sử dụng và lợi ích của Haritaki Cây Xàng Terminalia chebula :
▪ Haritaki Cây Xàng Terminalia chebula có đặc tính :
- nhuận trường laxatif,
- làm trẻ trung hóa rajeunissant,
- tẩy xổ purgatif,
- làm se thắt astringent,
- và đặc tính khô sèches.
▪ Trái Cây Xàng Terminalia chebula là :
- nhuận trường nhẹ laxatif doux,
- thuốc bao tử stomachique,
- thuốc bổ tonique,
- chống co thắt antispasmodique.
▪ Có lợi ích trong :
- viêm mắt, đỏ mắt ophtalmie,
- những bệnh trĩ hémorroïdes,
- chứng sâu răng caries dentaires,
- chảy máu nướu răng saignements des gencives,
- loét khoang miệng ulcere cavité buccale.
▪ Sử dụng cho :
- bệnh sạn thận calculs rénaux,
- tiểu khó dysurie,
- và lưu giữ nước rétention urinaire.
dùng như :
- thanh lọc máu purificateur de sang,
- súc miệng đau cổ họng maux de gorge,
- và thấp khớp bắp cơ rhumatisme musculaire.
Cũng sử dụng cho :
- bệnh sốt fièvre,
- ho toux,
- và bệnh suyễn asthme.
- những bệnh trĩ piles,
▪ Bột của trái Cây Xàng Terminalia chebula được dùng trong :
- bệnh tiêu chảy mãn tính diarrhée chronique.
▪ và sử dụng trong :
- suy nhược thần kinh faiblesse nerveuse,
- thần kinh dễ bị kích thích irritabilité nerveuse.
▪ Bột nhão pâte của trái Cây Xàng Terminalia chebula có hiệu quả để :
- giảm sưng enflure,
- tăng tốc độ quá trình chữa lành bệnh processus de guérison,
- và làm sạch vết thương nettoyage des plaies,
- và những vết loét ulcères.
▪ Bột nhão pâte với nước được tìm thấy có đặc tính :
- chống viêm anti-inflammatoire,
- giảm đau analgésique,
- làm sạch, thanh lọc purification,
- và có khả năng chữa lành vết thương guérison des plaies.
▪ Bột nhão pâte mang lại :
- giảm nhẹ mí mắt paupières,
trong trường hợp :
- viêm kết mạc conjonctivite.
▪ Súc miệng với nước nấu sắc décoction Cây Xàng Terminalia chebula giúp :
- viêm miệng stomatite,
- loét miệng ulcérations buccales,
- và đau cổ họng maux de gorge.
▪ Nước nấu sắc décoction của trái Cây Xàng Terminalia chebula dùng để chữa trị :
- nấm đẹn trong miệng trẻ em muguet
và như nước súc miệng gargarisme cho :
- những bệnh viêm niêm mạc miệng muqueuses de la bouche.
▪ Nước nấu sắc décoction của trái cũng được sử dụng cho bệnh :
- tiêu chảy khó trị diarrhée opiniâtre.
Cây Xàng Terminalia chebula là một chất làm se thắt astringent tốt cho :
- những nướu răng lỏng lẻo gencives en vrac,
- chảy máu nướu răng saignements,
- nướu răng lỏng lẻo gencives en vrac,
- và loét trong nướu răng ulcères dans les gencives.
▪ Cây Xàng Terminalia chebula được sử dụng trong việc bào chế của « Triphala », là sự kết hợp giữa 3 cây : Cây Bàng mốc Terminalia bellirica, Cây Xàng Terminalia chebula, và Cây Chùm ruột núi Phyllanthus emblica, được sử dụng để :
- gội đầu lavage des cheveux,
đánh răng trong trường hợp :
- làm mủ nướu pyorrhée,
và chữa trị :
- chảy máu nướu răng saignements des gencives.
▪ Bột Cây Xàng Terminalia chebula là một loại kem đánh răng tốt, làm se thắt astringent trong trường hợp :
- tăng khẩu vị bữa ăn augmenter l'appétit,
- giúp tiêu hóa digestion,
- kích thích gan timulant hépatique,
- thuộc dạ dày stomachique,
- yếu tố dùng để chữa trị dạ dày- ruột gastro-intestinal,
- và nhuận trường nhẹ laxatif doux.
▪ Dược thảo cãi thiện :
- trí nhớ mémoire,
và bổ ích trong :
- tiểu khó dysurie,
- và kết thạch trong nước tiểu calculs urinaires.
▪ Haritaki Cây Xàng Terminalia chebula gớp phần vào cải thiện :
- khẩu vị bữa ăn appétit,
- và giúp cho sự tiêu hóa digestion.
▪ Cây Xàng Terminalia chebula, là một thuốc tốt cho thần kinh nervin và góp phần trong :
- sự suy nhược thần kinh faiblesse nerveux,
- và thần kinh dễ bị kích thích nerveux irritabilité,
- và thúc đẩy sức mạnh sự tiếp nhận của 5 giác quan réception des cinq sens.
như là để :
- chống viêm anti-inflammatoire,
- và làm se thắt astringent,
▪ Cây Xàng Terminalia chebula có lợi ích trong việc thải niếu đạo như là :
- di tinh mộng tinh spermatorrhée,
và bài tiết dịch âm đạo sécrétions vaginales, như :
- huyết trắng hay bạch đới leucorrhée.
▪ Là chất bổ trợ trong những trường hợp xuất huyết hémorragies, do bản chất làm se thắt astringents và tốt cho :
- bệnh ho mãn tính toux chronique,
- đau cổ họng maux de gorge,
cũng như :
- bệnh suyễn asthme.
▪ Ngoài ra, có lợi ích trong :
- sạn thận calculs rénaux,
- đi tiểu khó dysuria,
- lưu giữ nước tiểu rétention d'urine,
và những rối loạn da với những thải lộ ra như là :
- những dị ứng allergies,
- nổi mề đay urticaire,
- và những rối loạn phát ban đỏ khác érythémateuses.
● Cây Xàng Terminalia chebula và rối loạn ở dạ dày :
• Tốt để gia tăng :
- khẩu vị bữa ăn appétit,
như giúp cho :
- sự tiêu hóa digestion,
- kích thích gan foie stimulant,
Thuộc về bao tử stomachique, cây như là :
- một tác nhân dùng để chữa bệnh dạ dày-ruột gastro-intestinal,
- và nhuận trường nhẹ laxatif doux.
• Haritaki Cây Xàng Terminalia chebula đã chứng minh hiệu quả chữa trị dạ dày có nghĩa là, giúp :
- chuyển vận những nội dung bên trong dạ dày sớm.
cũng như, có thể sử dụng sau khi làm phẩu thuật chirurgie và như chất bổ trợ với những thuốc khác ảnh hưởng đến nhu động dạ dày như :
- chống dị ứng antihistaminiques,
- như thuốc giản cơ atropine.
• Căn cứ vào tính chất toàn diện của cây, nó thúc đẩy :
- khẩu vị bữa ăn appétit ,
- và giúp tiêu hóa digestion.
• Nó kích thích gan foie và bảo vệ lợi ích bằng cách :
- trục những sản phẩm bài tiết thải từ ruột.
• Bột Cây Xàng Terminalia chebula được sử dụng trong :
- bệnh tiêu chảy mãn tính diarrhée chronique,
- bệnh tiêu chảy ở xứ nóng sprue, với một kết quả tốt.
Bột này, phải dùng như một nước ngâm trong nước đun sôi infusion nóng trong những rối loạn này.
Được chỉ định trong những bệnh tiêu chảy kéo dài với :
- phân có máu tươi hématochzia,
thường thông qua xuất huyết ở hậu môn, thường kết hợp với xuất huyết dạ dày-ruột bên dưới nhưng cũng có thể xuất huyết dạ dày- ruột bên trên.
- và sa trực tràng prolapsus de rectum.
• Cũng dùng đối với những người có hơi gaz quá mức trong :
- ruột intestin,
- đầy hơi flatulences,
Cây Xàng là dược thảo tốt có thể dùng hằng ngày, cho phép làm giảm những bệnh một cách êm dịu.
• Một hợp chất acide chébulagique của Haritaki Cây Xàng Terminalia chebula cho thấy một hành động :
- chống co thắt antispasmodique như thuốc papavérine.
là một thuốc nhuận trường nhẹ laxatif doux, nó được dùng để làm sạch ruột êm dịu.
▪ Với những đặc tính khác, nó cung cấp cho một số hành động giúp trong những bệnh như :
- gan foie và lá lách rate nở rộng.
- và bệnh cổ trường, phúc mạc thủy ascite,
dịch tràn trong ổ bụng, sự tích tụ chất lỏng trong bụng đặc biệt trong khoang phúc mạc.
Chủ trị : indications
Bởi tính trung hòa của cây, những trái myrobalan Cây Xàng Terminalia chebula thường được dùng để chữa trị những những rối loạn có nguyên nhân của 3 năng lượng énergies :
- gió vent,
- mật bile,
- và chất nhày mucus.
cũng như :
- những bệnh cảm lạnh maladies froides,
- và những bệnh nóng sốt maladies chaudes.
Người ta cũng sẵn sàng để có những đặc tính :
- làm trẻ trung hóa rajeunissantes,
- dinh dưởng nourrissantes,
- tái tạo régénératrices,
- và cường kiện fortifiantes.
Đây là lý do tại sao những trái của Cây Terminalia chebula được tìm thấy trong thành phần của nhiều chế phẩm như là :
- một yếu tố cân bằng élément équilibrant.
▪ Những bệnh như :
- tiêu hóa digestives,
- bệnh đường tiểu voies urinaires,
- bệnh tiểu đường diabète,
- bệnh ngoài da maladies de la peau,
- nhiễm ký sinh trùng parasitaires,
- những bệnh tim cardiaques,
- bệnh sốt bất thường fièvres irrégulières,
- chứng đầy bụng flatulences,
- bệnh táo bón constipation,
- loét ulcères,
- ói mữa vomissements,
- đau bụng coliques,
- và bệnh trĩ hémorroïdes
dùng Cây Xàng Terminalia chebula để chữa trị.
▪ Nếu dùng sau bữa ăn, tránh được một sự mất cân bằng của một trong những tâm trạng có nguyên nhân do những thực phẩm hoặc thức uống không tốt .
▪ Cây Xàng, thúc đẩy :
- một sự khôn ngoan sagesse,
- trí thông minh intelligence,
- và một tầm nhìn tốt vue.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Toàn cây của Cây Xàng Terminalia chebula có một giá trị y học lớn và trong truyền thống sử dụng để chữa trị những bệnh khác nhau cho con người.
Những người trong dân gian sử dụng cây này trong chữa trị :
- bệnh suyễn asthme,
- đau cổ họng maux de gorge,
- ói mữa vomissements,
- nấc cục hoquet,
- bệnh tiêu chảy diarrhée,
- bệnh kiết lỵ dysenterie,
- bệnh trĩ chảy máu saignements pieux,
- những bệnh loét ulcères,
- thống phong goutte,
- những bệnh tim mạch maladies cardiaques,
- và bàng quang vessie.
▪ Trong Ấn Độ, những trái Cây Xàng Terminalia chebula được cung cấp trên những chợ, được sử dụng như :
- thuốc nhuận trường nhẹ laxatif doux,
và như chất làm se thắt astringent cho :
- những vết thương blessures,
- và nhọt ung mủ abcès.
▪ Trong Ấn Độ và Đông Nam Á, trái Xàng Terminalia chebula được sử dụng như một y học truyền thống dân tộc để :
- chống bệnh ho antitussif,
- lợi tiểu diurétique,
- căn bằng điểu kiện của cơ quan bên trong trước sự thay đổi điều kiện bên ngoài homéostatique,
- nhuận trường laxatif,
và là thuốc chữa trị tim mạch cardiotonique, trong trường hợp :
- suy tim .
▪ Trong Ấn Độ, dùng để chữa trị :
- những rối loạn tiêu hóa troubles digestifs,
- những bệnh sốt bất thường fièvres irrégulières,
- đầy hơi flatulence.
▪ Trong y học Ayurveda, sử dụng để chữa trị :
- bệnh suyễn asthme,
- đau cổ họng maux de gorge,
- ói mữa vomissements,
- nấc cục hoquet.
Trái tươi hoặc trái tái chế :
▪ dùng trước bữa ăn để :
- kích thích tiêu hóa stimule la digestion;
▪ dùng sau bữa ăn, cho những bệnh có nguyên nhân bởi tình tiết tăng nghiêm trọng của :
- vayu, pitta, và kapha.
▪ Trong điều trị răng, bột khô được áp dụng để chống lại :
- viêm miệng stomatit,
Cây Xàng Terminalia chebula được dùng như một chất giải độc antidote chống lại :
- những vết rắn cắn morsures de serpents,
▪ Trong Tàu, một thuốc, một phương thuốc để chống lại :
- đau cổ họng maux de gorge,
- và ho toux,
chống bệnh tiêu chảy diarrhée lâu dài trong trường hợp kết nối với :
- sa trực tràng prolapsus du rectum.
▪ Ở Tibet, trái khô Cây Xàng Terminalia chebula được sử dụng chống lại :
- bệnh loét ulcères,
- và bệnh kiết lỵ dysenterie.
▪ Rất được sử dụng trong y học truyền thống ayurvédique, unani, và y học vi lượng đồng căn homéopathique.
Nghiên cứu :
● Hoạt động bảo vệ tim mạch cardioprotectrice :
Trích xuất Cây Xàng Terminalia chebula, tiền xử lý đã được tìm thấy để cải thiện hiệu quả của isoprotérénol trên sự hình thành của quá trình oxy hóa chất béo không bảo hòa peroxyde de lipide và giữ lại hoạt động của những phân hóa tố enzymes đánh dấu của sự chẩn đoán trong isoprotérénol gây ra bởi sự tổn thương cơ tim ở chuột.
Ngoại quả bì của trái cũng được báo cáo là có một hoạt động bảo vệ tim mạch cardioprotectrice trong mô hình tim cô lập của ếch grenouille.
● Hoạt động chống bệnh tiểu đường antidiabétique và bào vệ thận néphroprotecteur :
Trái và hạt Cây Xàng Terminalia chebula, thể hiện một sự giảm liều phụ thuộc vào nồng độ đường glucose trong máu của streptozotocine gây ra ở những chuột bệnh tiểu đường diabétiques, cả trong nghiên cứu ngắn hạn và lâu dài và cũng có một hoạt động bảo vệ thận néphroprotecteur.
● Hoạt động chống đơn bào động vật antiprotozoaire :
Một sự kết hợp của Cây Xàng Terminalia chebula và 4 cây khác ( Boerhavia diffusa, Berberis aristata, Tinospora cordifolia, và Zingiber officinale) có một tĩ lệ chữa lành bệnh tối đa 73% trong thí nghiệm ung mủ biến hình trùng abcès amibien của gan ở những chuột hamsters và 89% trong bệnh truyèn nhiễm do biến hình trùng ký sinh trong manh tràng amibiase caecum, thí nghiệm ở chuột rats, thể hiện hoạt động chống biến hình trùng antiamibien chống lại :
- Entamoeba histolytica.
Trích xuất trong acétone của hạt Cây Xàng Terminalia chebula cho thấy một hoạt động chống huyết tương trùng anti plasmodial chống lại :
- Plasmodium falciparum.
● Chống viêm anti-inflammatoire và chống viêm khớp anti-arthritique :
Trích xuất trong nước của trái khô Cây Xàng Terminalia chebula cho thấy chống viêm anti-inflammatoire bằng cách ức chế cảm ứng tổng hợp oxyde nitrique.
Chébulagique acide từ những hạt chưa chín của Cây Xàng Terminalia chebula loại bỏ một cách đáng kể sự xuất hiện và phát triển của thể keo collagen gây ra viêm khớp arthrite ở chuột.
Cây Xàng Terminalia chebula trong một công thức polyherbal (Aller-7) thể hiện một liều phụ thuộc vào hiệu quả chống viêm anti-inflammatoire chống lại tá dược adjuvant de Freund gây ra viêm khớp arthrite ở chuột.
● Hoạt động bào vệ gan hépatoprotectrice :
Một hỗn hợp của acide chebulic (CA) và chất đồng phân isomère nhỏ của nó, acide neochebulic với một tĩ lệ 2: 1 được phân lập từ trích xuất éthanolique của trái Cây Xàng Terminalia chebula đã cho thấy một hoạt động mạnh bảo vệ gan hepatoprotective.
Trích xuất alcoolique Cây Xàng Terminalia chebula đã tìm thấy một sự ức chế gây độc gan hepatotoxiocity nguyên nhân bởi dùng uống thuốc rifampicine, isoniazide và pyrazinamide (kết hợp) trong mô hình dưới-mãn tính sous-chronique (12 tuần ).
Những hiệu quả bảo vệ của một trích xuất trong nước của trái Cây Xàng Terminalia chebula trên tert-butyleur hydroperoxyde gây ra tổn thương quan sát được trong cấy nuôi những tế bào chính gan hépatocytes chuột và gan của chuột cũng được ghi chép.
Cây Xàng Terminalia chebula trong công thức với căn bản của cây Xàng (HP-1) cho thấy một hoạt động bảo vệ gan hépatoprotecteur chống lại tétrachlorure de carbone gây độc trong những tế bào gan hépatocytes của chuột.
● Hoạt động chống gây ra ung thư Anticancérigène
Một nhóm của những nhà nghiên cứu đã báo cáo hành động ức chế trên sự tăng trưởng của những tế bào ung thư cancéreuses bởi những thành phần hợp chất phénoliques của trái Cây Xàng Terminalia chebula và thấy rằng acide chébulinique, acide tannique, acide ellagique là những hợp chất phénoliques ức chế sự tăng trưởng nhất của Cây Xàng Terminalia chebul.
Trích xuất alcoolique của trái Cây Xàng Terminalia chebula ức chế sự tăng sinh tế bào prolifération cellulaire và gây ra tế bào chết trong liều phụ thuộc một cách đáng kể trong nhiều dòng tế bào ác tính, bao gồm người (MCF-7) và chuột (S115) :
- dòng tế bào ung thư vú cancer du sein,
- dòng tế bào ung thư xương ác tính người ostéosarcome (HOS-1),
- tế bào ung thu tuyến tiền liệt người prostate cancéreuse (PC-3),
- và một dòng tế bào không gây ung bướu bất tử tuyến tiền liệt người non-tumorigène immortalisée prostate (PNT1A).
Ngoài ra, trích xuất trong acétone của vỏ cây và bột trái của Cây Xàng Terminalia chebula, noi ở của thành phần có hoạt động chống gây ung thư anticarcinogènes đầy hứa hẹn.
● Hoạt động chống nấm antifongique :
Một trích xuất trong nước của Cây Xàng Terminalia chebula cho thấy một hoạt động kháng khuẩn antifongique chống lại một số nấm nhất định ký sinh ngoài da dermatophytes và những nấm men levures. Nó có hiệu quả chống lại với:
- nấm men Candida albicans
và nấm ký sinh gây bệnh ngoài da dermatophytes pathogènes :
- Epidermophyton,
- floccosum,
- Microsporum gypseum,
- và Trichophyton rubrum.
Hiệu quả ức chế của trích xuất trên 3 nấm ký sinh ngoài da dermatophytes (Trichophyton spp.) và 3 nấm men levures ( Candida spp.) cũng đã được ghi chép trong tài liệu.
Một trích xuất trong nước của khối u sưng galle của Cây Xàng Terminalia chebula cho thấy những hiệu quả ức chế trên 3 nấm ký sinh trên da dermatophytes (Trichophyton spp.) và 3 nấm men levures (Candida spp.).
Hoạt động chống nấm men Candida anti-candidal của trích xuất trong méthanol của Cây Xàng Terminalia chebula đã được quan sát đối với chất thuốc clotrimazole đề kháng với Candida albicans.
Trích xuất của hạt cho thấy một hoạt động kháng nấm antifongique chống lại :
- Trichophyton glabrata.
● Hoạt động thích ứng adaptogènes và chống quá mẫn antianaphylactique :
Trái Cây Xàng Terminalia chebula là một trong 6 dược thảo của hệ thống y học truyền thống ayurvédiques, cho uống bởi những động vật để thử nghiệm tiềm năng thích ứng adaptogène. Tất cả những 6 cây của phương pháp chữa trị rasayana truyền thống ( là phương pháp điều trị mục đích là gia tăng sinh lực force vitale quan trọng của cá nhân cũng như tăng cường hệ thống miễn nhiễm mà kết quả trong tái sinh những tế bào và những mô ) để có thể giúp những động vật chống lại nhiều loại yếu tố gây áp lực khác nhau của sự làm việc theo những phương cách khác nhau.
Ngoài ra, những nghiên cứu trên động vật cho thấy rằng trích xuất của Cây Xàng Terminalia chebula được cho uống sau cảm ứng cú sóc ( choc ) phản vệ ( mẫn cảm ) anaphylactique, những mức độ chất dị ứng histamine trong huyết thanh được giảm, điều này chỉ ra rằng hành động chống sóc phản vệ ( mẫn cảm ) mạnh antianaphylactique.
Phần đoạn tan trong nước của Cây Xàng Terminalia chebula có một hiệu quả đáng kể trên sự gia tăng chống dinitrophényle anti-dinitrophényle IgE gây của khối u hoại tử nhân tố-alpha facteur de nécrose tumorale-alpha, sản xuất từ phì đại tế bào phúc mạc chuột mastocytes péritonéaux, chỉ ra một hành động mạnh chống sóc (choc) phản vệ antianaphylactique.
● Hoạt động hạ mỡ trong máu Hypolipidémiant và hạ cholestérol hypocholestérolémiant :
Hoạt động hạ mỡ trong máu hypolipidémiant của trích xuất của Cây Xàng Terminalia chebula chống lại thí nghiệm gây ra xơ vữa động mạch athérosclérose đã được ghi chếp trong tài liệu.
Nó cũng có một hoạt động hạ cholestérol hypocholesterelomic chống lại cholestérol gây ra :
- cholestérol trong máu cao trong máu hypercholesterolemia,
- và xơ vữa điộng mạch athérosclérose ở thỏ thí nghiệm.
● Cải thiện nhu động dạ dày-ruột gastro-intestinale và chống gây ra loét anti-ulcérogène :
Mặc dù sự sử dụng truyền thống như thuốc nhuận trường laxatif đã được thành lập tốt. Trái của Cây Xàng Terminalia chebula đã cho thấy sự gia tăng thời gian làm rỗng sạch dạ dày gastrique. Hành động này dường như là để cân bằng với hiệu quả bảo vệ trên niêm mạc dạ dày-ruột gastro-intestinale, với sự cải thiện của tình trạng bài tiết của những tuyến Brunner liên quan trong sự bảo vệ chống lại :
- loét tá tràng ulcère duodénal.
● Hoạt động chữa lành vết thương guérison des plaies :
Dùng tại chổ nơi vết thương của một trích xuất trong alcoolique của lá Cây Xàng Terminalia chebula trên sự chữa lành vết thương da ở chuột cho thấy rằng Cây Xàng Terminalia chebula có sự hoá sẹo làm lành vết thương nhanh chóng hơn, như được chỉ ra bởi sự cải thiện tỹ lệ co thắc và thời gian tạo biểu mô épithélialisation giảm.
● Hoạt động điều hòa tính miễn nhiễm immunomodulatrice :
Trích xuất trong nước của Cây Xàng Terminalia chebula sản xuất một sự gia tăng kháng thể miễn nhiễm dịch thể anticorps humorale và làm trì hoản loại quá mẫn hypersensibilité ở chuột.
Trích xuất thô của Cây Xàng Terminalia chebula kích thích phản ứng miễn nhiễm với sự trung gian của những tế bào ngoại vi trong thí nghiệm ung mủ gan biến hình trùng amib trong những chuột đồng vàng hamsters dorés.
Hiệu quả xấu và rủi ro :
● Cẫn thận :
• Haritaki Cây Xàng Terminalia chebula được sử dụng với tất cả cẫn thận bởi những :
- những cá nhân yếu,
- và những người đàn bà mang thai enceintes.
• Phải tránh dùng trong trường hợp suy nhược nghiêm trọng, trầm cảm tâm thần.
Cũng như Cây Bàng mốc Terminalia bellerica, Cây Xàng Terminalia chebula không đủ thông tin về sự an toàn, điều tốt nhất là khi sử dụng với tất cả sự cẫn thận phải làm.
▪ Mang thai grossess :
Có một số bằng chứng cho thấy Cây Terminalia Arjuna là có thể nguy hiểm trong thời gian mang thai. Đối với 2 loài khác của giống Terminalia như là chebula và bellerica thì không rỏ. Tốt nhất là tránh dùng những loài của giống Terminalia trong thời gian mang thai.
▪ Cho con bú :
Không có đủ thông tin trên sự an toàn của giống Terminalia nếu người đàn bà đang trong thời kỳ cho con bú. Để một bên trên sự an toàn và tránh sử dụng.
▪ Bệnh tiểu đường diabète :
Terminalia có thể làm giảm nồng độ đường trong máu. Thuốc trị bệnh tiểu đường cần phải điều chỉnh bởi Bác sỉ chăm sóc sức khỏe.
▪ Giải phẩu chirurgie :
Terminalia có thể giảm nồng độ đường trong máu và can thiệp vào nồng độ đường trong máu glycémie trong quá trình phẩu thật.
Ngưng sử dụng Terminalia 2 tuần trước khi dự kiến làm phẩu thuật .
Ứng dụng :
▪ Bột Cây Xàng Terminalia chebula, pha trộn với đường thốt nốt jaggery, có chức năng tốt trong :
- bệnh thống phong goutte.
▪ Bột của Cây Xàng, trong khi trộn với mật ong miel và trong bơ ghee ( bơ sữa trâu ), là một đơn thuốc chống lại bệnh :
- thiếu máu anémie.
▪ Dùng thường xuyên bột Cây Xàng Terminalia chebula, chiên trong bơ ghee, thúc đẩy cho :
- tuổi thọ longévité,
- và gia tăng năng lượng augemente l'énergie.
cũng đáp ứng với :
- những bệnh dạ dày-ruột gastro-intestinales,
- những ung bướu khối u tumeurs,
- bệnh cổ trướng ascite,
- bệnh trĩ pieux,
- gan foie và lá lách rate nở rộng ra élargissement,
- những trùng ký sinh vers,
- và đau bụng tiêu chảy colite.
▪ Haritaki Cây Xàng Terminalia chebula kết hợp với bột gừng “ tên tiếng Phạn sunthi ” Zingiber officinale và cho vào nước nóng để làm :
- nhẹ bớt bệnh suyễn alléger l'asthme,
- và nấc cục hoquet.
▪ Nước nấu sắc décoction, một khi uống với mật ong miel, là một sự trợ giúp lớn trong :
- bệnh viêm gan hépatite,
- và bệnh béo phì obésité.
▪ Nạt của trái Cây Xàng sử dụng như kem đánh răng để chữa trị :
- chảy máu nướu răng saignement gencives,
- và loét nướu ulcération des gencives.
Nước, trong đó trái Cây Xàng được ngâm qua một đêm, tốt cho :
- rửa làm mát cho mắt refroidissement pour les yeux,
- và làm giảm viêm kết mạc conjonctivite tương tự như bệnh mắt affections des yeux
▪ Sự sử dụng tại chổ của Cây Xàng Terminalia chebula :
• Bột nhão với nước được tìm thấy là :
- chống viêm anti-inflammatoire,
- giảm đau analgésique,
- làm thanh lọc purification,
- và có khả năng chữa lành vết thương guérison de plaies.
▪ Nước nấu sắc như một dung dịch kem lotion băng những vết phẩu thuật pansement chirurgical, để :
- vết thương mau lành sớm.
Nguyễn thanh Vân
Publié par Thanh Van Nguyen à 02:07
http://duocthaothucdung.blogspot.com...myrobolan.html
Giá bán quả kha tử
Được đăng ngày Thứ ba, 01 Tháng 3 2016 23:28 | Viết bởi Super User | In bài này | Gửi Email bài này | Lượt xem: 8988
Bạn đánh giá: / 2
DỡHay Chọn
Giá bán quả kha tử
Giá bán quả kha tử
Kha tử bảo quản được rất lâu, bạn có thể mua độ 10 quả kha tử (ở tiệm thuốc Nam, thuốc Bắc) cho vào lọ có nắp kín hoặc bao nilông bọc kín, đi xa thì mang theo, có thể giữa được hơn 2 năm.
Sử dụng quả kha tử là cách đơn giản được thầy lang xưa dùng làm thuốc chữa bệnh. Một trong những công dụng chữa bệnh được nhiều người biết đến nhất đó là trị ho bằng quả kha tử rất hiệu quả.
quả kha tử chín phơi hay sấy khô được gọi là kha lê ( cây Chiêu liêu). Quả kha tử dùng làm thuốc chữa bệnh được ghi đầu tiên trong sách Dược tính bản thảo với nguyên tên Kha lê lặc.
Theo Đông y ghi chép: Kha tử vị chua, chát, đắng, vào các kinh phế và đại tràng có tác dụng liễm phế, chỉ khái (sạch phổi, trừ ho), trị phế hư, ho hen, viêm hầu họng, khản tiếng. Săn ruột, cầm ỉa chảy lâu ngày: chữa viêm ruột, ỉa ra máu, lòi dom, đái ra máu.
Quả kha tử trong y điển còn gọi là chiêu liêu, tên khoa học là Terminalia Chebula Retz, cùng họ với bàng. Cây kha tử cao khoản 15-20m. Lá mọc đối xứng, cuống lá ngắn.
Liên hệ Tấn Phát để được tư vấn về giá bán quả kha tử chính xác, không bị nhầm lẫn.
Quả của cây chiêu liêu có rất nhiều công dụng chữa bệnh khác nhau, được sử dụng rộng rãi trong các hộ gia đình thượng lưu từ xa xưa. Y học Trung Quốc cũng xem Kha tử như phương thuốc bí truyền chữa bệnh ho
Giới thiệu - Giá bán quả kha tử
Ở miền Nam nước ta, loài thảo dược phong phú này đã nhanh chóng trở thành vị thuốc độc đáo được dân gian truyền miệng trị bệnh ho
Quả kha tử rất cứng, nhưng có thể ngậm nguyên quả từ từ quả sẽ tiết chất chát trị ho rất tốt
Liên hệ Tấn Phát để được tư vấn về giá bán quả kha tử chính xác, không bị nhầm lẫn.
Quả kha tử được thu hái quả vào tháng 9 - 11, phơi khô. Khi dùng sao qua, bỏ hạt, nếu có thể có thể tán ra dùng.
Hoa kha tử có màu trắng, mùi thơm dịu, mọc thành chùm ở đầu cành hoặc kẽ lá. Quả có lớp vỏ màu nâu nhạt, hình trứng gồm 5 cạnh dọc, nhọn ở 2 đầu, trong chứa một hạt nhỏ rất cứng.
Những người thường xuyên phải sử dụng giọng nói như ca sĩ, giáo viên... có thể dùng kha tử tán nhỏ trộn với mật ong rồi ngậm, tiếng sẽ thanh thót và hết khô cổ.
Ở đất nước NePal, người dân nướng Kha tử trên than hồng rồi nhai chậm để chữa viêm họng và có tác dụng long đờm, bổ phế. Có thể tán thành bột, giã nát hoặc sắc uống Kha tử cũng được áp dụng tương tự như ở Việt Nam.
Giá bán quả kha tử
Công dụng - Giá bán quả kha tử
Ở Ấn Độ, Trung Quốc và một số quốc gia châu á khác, quả Kha tử được dùng với tác dụng nhuận tràng, bổ và làm hồi phục sức khỏe. Thịt quả dùng làm thuốc đánh răng, chữa chảy máu và loét lợi. Quả Kha tử cũng được phối hợp với các dược liệu khác, sắc uống để điều trị rối loạn tiết niệu, táo bón, bệnh tim.
Chủ trị tiêu chảy, lỵ lâu ngày, đại tiện ra máu, thoát giang (sa trực tràng); phế hư, ho, suyễn, ho lâu ngày không ngừng; yết hầu đau, tiếng khàn.
Kha tử chứa tanin, acid luteoic, chebulic, terchebin... có tính kháng sinh mạnh, kháng nấm kháng siêu vi cảm cúm. Kha tử đặt trị ho, viêm họng, tiêu chảy, nhức răng, viêm lợi bằng cách ngậm như trên.
Ngày nay, y học hiện đại đã chứng minh tác dụng thần kỳ của Kha tử trong điều trị viêm họng, khản tiếng bằng các nghiên cứu lâm sàng. Trước hết là tác dụng giảm ho, thử nghiệm lâm sàng đã cho thấy một vài loại hoạt chất trong Kha tử có khả năng giảm ho rõ rệt.
Liên hệ Tấn Phát để được tư vấn về giá bán quả kha tử chính xác, không bị nhầm lẫn.
Dân gian nước ta thường lấy quả kha tử đã được sấy khô, chặt thành miếng nhỏ, bỏ hạt, vỏ giã dập rồi ngậm dần để chữa chứng đau cổ họng, khản tiếng. Ngậm trong 2-3 ngày bệnh sẽ thuyên giảm rõ rệt. Một bài thuốc khác là với 8g kha tử kết hợp với 6g cam thảo, 10g cát cánh, sắc lấy nước uống hàng ngày.
Quả kha tử già phơi thật khô là một đơn vị thuốc không cần chế biến gì cả, cứ để vậy có thể giữ được vài năm, vì quả bì chứa 30 - 40% tanin (chất chát) tự bảo quản được quả.
Cách dùng - Giá bán quả kha tử
Trị xích bạch lỵ: kha tử 12 trái, 6 trái để sống, 6 trái nướng bỏ hạt, sao vàng và tán nhỏ. Nếu lỵ ra máu thì dùng nước sắc cam thảo mà chiêu thuốc, nếu lỵ ra nhầy không, dùng nước sắc cam thảo trích (tẩm).
Tiêu chảy mãn tính: dùng khoảng 5g kha tử (dạng bột đã xây), hòa với 10 ml rượu và 100 ml nước ngọt xi rô. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 muỗng canh. Với trẻ em dùng khoảng 1/3 liều lượng của người lớn.
Kiết lỵ kinh niên: lấy 30 g kha tử, 100 g hoàng liên, 20 hạt nhục đậu khấu đã bỏ vỏ đem tán nhỏ thành bột mịn, trộn với hồ nặn thành viên nhỏ. Mỗi ngày uống 30 viên, chia làm 2 lần.
Ngộ độc thức ăn: khi thức ăn nhiễm vi khuẩn gây ngộ độc, có thể dùng bài thuốc từ kha tử nướng chín bỏ hạt 8 g, hoàng liên 5 g, mộc hương 5 g, đem tán thành bột mịn. Hòa hỗn hợp này với nước đun sôi để nguội dùng uống ngày 3 lần sẽ khỏi.
Giá bán - Giá bán quả kha tử
Tấn Phát xin cam kết đây là quả kha tử 100% tự nhiên, các bạn sẽ hoàn toàn hài lòng về chất lượng của sản phẩm
Tấn Phát – Giá bán quả kha tử uy tín uy tín chất lượng
Quả kha tử được công ty Tấn Phát bán với bảng giá như sau
bang gia qua kha tu
Nguồn bài viết: Thảo dược Tấn Phát – quả kha tử
Giá bán quả kha tử
http://cayduoclieuquy.com/qua-kha-tu...ua-kha-tu.html
những viên thuốc tiên (nectar pills)
http://www.kba-tx.org/files/vn/phat/TRUESCHOOL.pdf
A DI ÐÀ PHẬT NHẤT TỰ TÂM CHÚ
http://s2.upanh123.com/2017/05/26/Untitled61ea8.png
http://s2.upanh123.com/2017/05/26/A005cb246.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/05/26/ADD-04438f6.jpg
Chơn ngôn “Hật Rị”.
Om A Mi Tabha Hrih.
Úm A Di Ðát Phạ Hật Rị Sa Ha / Án, A Di Đát Phạ, Hật rị Tóa Ha
Câu chú này luôn luôn đi theo với Úm Ma Ni Pát Mê Hum (Hồng). Căn cứ theo chư sư truyền lại, nên thêm Úm A Di Ðát Phạ và thêm chữ Ta Ha cũng được.
Kinh dạy: Chữ Hật Rị (HRIH) Ðủ bốn chữ thành một Chơn ngôn. Chữ Hạ tự môn, nghĩa là tất cả pháp nhơn bất khả đắc. Chữ RA tự môn, nghĩa là tất cả pháp ly trần. Trần nghĩa là ngũ trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc). Cũng gọi hai món chấp trước năng thủ và sở thủ. Chữ Y tự môn, là tự tại bất khả đắc, hai điêm ác tự nghĩa. Chữ Ác gọi là Niết Bàn. Do giác ngộ các pháp vốn không sanh, đều xa lìa món chấp trước, chứng được pháp giới thanh tịnh. Chữ Hật Rị này cũng nói làm tàm (hổ thẹn), nếu nói đủ là tàm quí (hổ thẹn), tự thẹn với lương tâm mình và xấu hổ đối với kẻ khác, vì thế nên không làm tất cả điều bất thiện vậy. Ðầy đủ tất cả pháp lành vô lậu vậy. Cho nên Liên Hoa Bộ cũng gọi là Pháp Bộ.
Do gia trì chữ Hật Rị này mà ở thế giới Cực Lạc, nước, chim, cây, rừng đều diễn nói pháp âm. Rộng như trong kinh đã thuyết minh. Nếu có người nào trì một chữ Chơn ngôn này, có công năng hay diệt trừ tai họa, tật bệnh. Sau khi chết sẽ sanh về cõi An-Lạc quốc, được thượng phẩm thượng sanh. Ðây là nhứt thông tu Quán Tự Tại tâm Chơn ngôn của người tu hành và cũng là hay trợ giúp cho các người tu các bộ Du Già vậy.
========
*CHÙA LONG PHƯỚC
Địa chỉ: 207 ấp An Quới, xã Hội An Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp
Fax: 067-3689298 - Số điện thoại: 0918.579.477
Trụ trì: Thích Nhật Quang - Hòa thượng Chứng minh Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Đồng Tháp
.NAM MÔ TỲ LÔ GIÁ NA PHẬT HRỊ (1 hơi thở)
.NAM MÔ A MI TA HẬT RỊ TÓA HA.
.Sau đó đọc A Di Đà Nhất tự tâm chú: Án, A Di Đát Phạ, Hật rị Tóa Ha
Lời Khuyên cho những hành giả cận kề cái chết.
do Dodrupchen Jikmé Tenpé Nyima
Bạn cần phải chuẩn bị cho giờ phút lâm chung. Có rất nhiều điều cần phải lưu ý trong việc này,
nhưng tôi chỉ nói về một số chi tiết ở đây thôi. Tóm lại, những điều được nói ở đây là thiết yếu để các bạn sử dụng vào lúc lâm chung.
Hãy tự nhắc nhở thật nhiều lần: "cái chết có đến muộn hơn hay sớm hơn, cuối cùng thì cũng không làm sao thoát được việc phải bỏ lại thân thể này và tài sản này. Đó là một nguyên tắc chung cho cả thế giới này". Khi nghĩ như vậy hãy cố gắng hoàn toàn triệt bỏ mọi sự tham chấp và bám víu vào nó. Hãy sám hối tất cả các ác nghiệp mà bạn đã tạo ra trong đời này và nhiều đời trước, cũng như việc cố ý hay vô tình không giữ đúng những lời thệ nguyện mà bạn đã hứa, lại phải cầu xin thật nhiều lần là sẽ không bao giờ tái phạm vào những sai lầm như thế nữa.
Đừng cuống quít và sợ hãi đối với cái chết. Hãy cố gắng lấy tinh thần và phát một niềm vui thích, hãy nghĩ đến những pháp thiện và lành mà bạn đã tạo trong quá khứ. Không cảm nhận một niềm tự hào hay tự mãn nào, hãy mừng rỡ thật nhiều lần đối với những thắng lợi này. Hồi hướng tất cả những thiện nghiệp của bạn cũng như phát những lời thệ nguyện cao cả thật thiết tha và nhiều lần, để những đời sau bạn có cơ duyên thâm nhập đạo cao cả theo con đường đại thừa, dưới sự hướng dẫn của Thiện Hữu Tri Thức, và có đủ những đức tính như niềm tin, tinh tấn, trí tuệ và tỉnh giác - nói cách khác, những điều kiện thù thắng nhất, bên trong cũng như bên ngoài. Cũng hãy cầu nguyện để đừng bao giờ gặp phải Ác Hữu Tri Thức và có những cảm thọ bất thiện.
Trong luật tạng cũng ghi lại là nhân căn bản để có thể có được tái sanh thù thắng, như có một cuộc sống thánh thiện vào lúc đức Phật còn tại thế, là cầu khẩn và phát nguyện vào lúc lâm chung. Vì vậy nên có lời hướng dẫn là những gì gần nhất và quen thuộc nhất sẽ có ảnh hưởng cao nhất.<1>
Lời phát nguyện nào của bạn cũng cần nên gia tăng động lực bằng sự cầu khẩn quyết liệt như: "Trong tất cả đời, tôi sẽ làm những gì có thể để tu tập pháp Không với tâm Từ Bi một cách rốt ráo nhất!" để nhận biết giá trị của điều này; qua sự so sánh xem cái nào có tác dụng hơn, khi bạn nói là "tôi sẽ dậy sớm vào buổi sáng!" hay "ước gì tôi dậy sớm".
Để có thể thành tựu được dễ dàng những lời nguyện hay những dự tính của bạn, điều lợi lạc căn bản là sự nương tựa vào hiện thân của một năng lực thiêng liêng. Vì vậy hãy nhớ nghĩ về một vị nào mà bạn có được niềm tin chắc thật, hay đến vị nào mà bạn cảm thấy có sự liên hệ mạnh mẽ nhất trong sự tu tập của mình; có thể vị đó là vị Đại Sư cao cả của xứ Oddiyana, Liên Hoa Sanh, hay đức Quán Thế Âm, vị Bảo Hộ của Thế Gian, với một sự tin thành vị đó là hiện thân của nguồn lực để bạn có thể nương tựa, hướng đến vị đó một lòng cẩu khẩn cho sự thành tựu nguyện lực của bạn.
Vào giờ phút lâm chung rất khó mà tập trung tư tưởng được để thiền quán về một cái gì mới mẻ hay không thuần thục, vì vậy bạn cần phải chọn một pháp tu trước và thực hành nó cho đến lúc thuần thục. Sau đó, trong quá trình chết, bạn cần phải chuyên chú vào pháp tu này càng tập trung càng tốt, như là nhớ nghĩ đến đức Phật, hay phát tâm Từ Bi, hay phát sự kiến giải về Tánh Không, hay nhớ nghĩ về Pháp hoặc về Tăng. Để có thể thành công trong việc này, bạn cũng cần phải tu tập trước nghĩ rằng: "Từ giờ trở đi, khi tôi đi qua ngưỡng cửa của cái chết này, tôi sẽ không cho phép bất cứ ý niệm bất thiện nào khởi lên cả!".
Những vị thánh đời trước có dạy thế này: "Một ngày sống tỉnh giác với đủ thiện pháp hơn hẳn làm thật nhiều điều phước thiện với tâm mê mờ và tăm tối." Theo lời dạy này, trước khi bạn khởi sự một việc gì hãy bắt đầu bằng một lời phát nguyện và tâm hoan hỷ, nó sẽ có lợi hơn rất nhiều.
Mặc dầu đối với một người như tôi, sẽ khó có thể làm lợi cho người khác, nhưng tôi cũng sẽ tụng bài kệ quy y và cầu nguyện cho các bạn trong những đời sau sẽ gặp được pháp Đại Thừa.
Viết bởi người được mang tên là Vô Úy (Jikme)
http://bodedaotrang1.blogspot.com/20...ia-can-ke.html
Kinh Nhân Quả Ba ĐờiLúc bấy giờ, Tôn giả Khánh Hỷ cùng với 1.250 vị Bhikṣu ở trên Pháp hội Linh Sơn.
Khi ấy ngài Khánh Hỷ chắp tay đỉnh lễ, rồi đi nhiễu Phật ba vòng, gối phải quỳ, chắp tay, và thưa hỏi Đức Bổn Sư Thích-Ca-Mâu-Ni Phật:
"Bạch Thế Tôn! Vào thời Mạt Pháp, tất cả chúng sinh ở Nam châu Thắng Kim sẽ khởi sinh rất nhiều nghiệp chẳng lành. Họ không tôn kính Tam Bảo, không kính trọng cha mẹ, và không có mối quan hệ giữa quân thần, cha con, hay vợ chồng. Năm mối quan hệ sẽ rối ren và hỗn loạn. Họ bần cùng hạ tiện, sáu căn không hoàn chỉnh, suốt ngày chỉ sát sinh hại mạng. Tầng lớp cũng không bình đẳng, có người thì giàu sang, có kẻ thì nghèo túng. Nhân duyên gì đã dẫn đến những quả báo này? Ngưỡng mong Thế Tôn hãy từ bi giảng giải tường tận cho chúng đệ tử."
Phật bảo ngài Khánh Hỷ và các vị đại đệ tử:
"Lành thay, lành thay! Các ông hãy lắng nghe. Bây giờ Ta sẽ nói rõ cho các ông. Hết thảy nam nữ già trẻ trong thế gian, có kẻ bần tiện, có người phú quý, có kẻ thọ khổ tột cùng, có người hưởng phúc bất tận, tất cả việc này đều là do quả báo của đời trước.
Muốn được quả báo lành thì phải nên làm gì? Trước tiên là hiếu kính cha mẹ. Kế đến là kính tin Tam Bảo. Thứ ba là đừng giết hại và hãy phóng sinh. Thứ tư là ăn chay và bố thí. Những việc như thế mới có thể gieo trồng phúc điền cho đời sau."
Khi ấy Đức Phật nói bài kệ nhân quả rằng:
"Giàu sang đều do mạng
Đời trước tu nhân lành
Ai thọ trì lời này
Đời đời phúc lộc thâm
Thiện nam tín nữ nghe cội nhân
Nghe nhớ Tam Thế Nhân Quả Kinh
Nhân quả ba đời chẳng phải nhỏ
Phật nói lời thật chớ xem khinh
Đời này làm quan là nhân gì?
Đời trước lấy vàng tô tượng Phật
Đời trước tu tạo đời này hưởng
Gấm bào nịt vàng cầu trước Phật
Lấy vàng đắp Phật tức cho mình
Phủ áo cho Phật là cho ta
Chớ nói làm quan rất dễ dàng
Đời trước không tu sao nó đến
Cưỡi ngựa ngồi kiệu là nhân gì?
Đời trước xây cầu sửa đường sá
Áo gấm lụa đào là nhân gì?
Đời trước lấy áo cho kẻ bần
Ăn mặc dư giả là nhân gì?
Đời trước cơm nước thí người nghèo
Ăn mặc thiếu thốn là nhân gì?
Đời trước nửa đồng chẳng hề cho
Nhà lớn lầu cao là nhân gì?
Đời trước lấy gạo cho chùa chiền
Phúc lộc dồi dào là nhân gì?
Đời trước xây chùa dựng miếu đình
Tướng mạo đoan trang là nhân gì?
Đời trước hoa tươi dâng cúng Phật
Thông minh trí tuệ là nhân gì?
Đời trước tụng Kinh siêng niệm Phật
Vợ hiền đẹp xinh là nhân gì?
Đời trước Phật môn kết duyên lành
Vợ chồng hạnh phúc là nhân gì?
Đời trước tràng phan cúng dường Phật
Cha mẹ đầy đủ là nhân gì?
Đời trước kính trọng người đơn côi
Mồ côi cha mẹ là nhân gì?
Đời trước do bởi thích bắn chim
Con cháu đầy đàn là nhân gì?
Đời trước mở lồng thả chim muông
Nuôi con không lớn là nhân gì?
Đời trước do bởi oán hận người
Đời này không con là nhân gì?
Đời trước oán ghét con cháu người
Đời này sống lâu là nhân gì?
Đời trước động vật mua phóng sinh
Đời này chết yểu là nhân gì?
Đời trước xẻo thịt giết chúng sinh
Đời này không vợ là nhân gì?
Đời trước thông gian vợ người ta
Đời này ở góa là nhân gì?
Đời trước khinh rẻ chồng của mình
Đời này tôi tớ là nhân gì?
Đời trước vong ân phụ nghĩa tình
Đời này mắt sáng là nhân gì?
Đời trước lấy dầu thắp đèn Phật
Đời này mù lòa là nhân gì?
Đời trước khoái xem sách khiêu dâm
Đời này sứt miệng là nhân gì?
Đời trước ưa thích nói thị phi
Đời này câm điếc là nhân gì?
Đời trước ác khẩu mắng song thân
Đời này gù lưng là nhân gì?
Đời trước chê cười ai lạy Phật
Đời này tay cong là nhân gì?
Đời trước đánh đập cha mẹ người
Đời này chân khiễng là nhân gì?
Đời trước phá ai sửa cầu đường
Đời này trâu ngựa là nhân gì?
Đời trước thiếu nợ không chịu trả
Đời này lợn chó là nhân gì?
Đời trước rủ rê chuyên lừa đảo
Đời này lắm bệnh là nhân gì?
Đời trước mong người bị tai ương
Đời này khỏe mạnh là nhân gì?
Đời trước cho thuốc cứu bệnh nhân
Đời này ngồi tù là nhân gì?
Đời trước thấy nguy mà không cứu
Đời này chết đói là nhân gì?
Đời trước cười mắng kẻ xin ăn
Bị người thuốc chết là nhân gì?
Đời trước ngăn sông độc chết cá
Côi cút lẻ loi là nhân gì?
Đời trước ác tâm xâm chiếm lời
Đời này lùn xủn là nhân gì?
Đời trước khinh bỉ kẻ làm công
Đời này hộc máu là nhân gì?
Đời trước khêu chọc gây chia rẽ
Đời này tai điếc là nhân gì?
Đời trước nghe Pháp chẳng tin thật
Đời này ghẻ lở là nhân gì?
Đời trước ngược đãi với động vật
Thân thể hôi hám là nhân gì?
Đời trước đố kỵ người giàu sang
Đời này chết treo là nhân gì?
Đời trước hại người lợi cho mình
Cô độc ở góa là nhân gì?
Đời trước vợ con chẳng thương yêu
Sét đánh lửa thiêu là nhân gì?
Đời trước hủy báng người tu hành
Hổ vồ rắn cắn là nhân gì?
Đời trước kết tạo nhiều oán thù
Muôn nghiệp mình làm tự gánh lấy
Địa ngục thọ khổ oán trách ai
Chớ cho nhân quả không ai thấy
Xa thì con cháu gần là ta
Không tin Tam Bảo làm bố thí
Hãy nhìn trước mắt người thọ phúc
Đời trước tu thiện đời này hưởng
Đời này tích đức hậu thế nhờ
Nếu ai hủy báng Kinh Nhân Quả
Đời sau đọa lạc mất thân người
Nếu ai tín thọ Kinh Nhân Quả
Sao phúc lộc thọ chiếu đến nhà
Nếu ai biên chép Kinh Nhân Quả
Đời đời gia đạo luôn hưng thịnh
Nếu ai đội mang Kinh Nhân Quả
Hung tai hoạnh họa chẳng đến thân
Nếu ai giảng giải Kinh Nhân Quả
Đời đời kiếp kiếp được thông minh
Nếu ai đọc tụng Kinh Nhân Quả
Mọi nơi sinh đến người cung kính
Nếu ai ấn tống Kinh Nhân Quả
Đời sau sẽ được làm đế vương
Nếu hỏi nhân quả việc đời trước
Thì có Bhikṣu Đại Ẩm Quang
Được thân sắc vàng, do bố thí
Nếu hỏi nhân quả chuyện đời sau
Bhikṣu Thiện Tinh, đọa địa ngục
Do bởi hủy báng, Phật Chánh Pháp
Nếu cho nhân quả không báo ứng
Đại Thải Thúc Thị Phật đệ tử
Do bởi nhân gì mà cứu mẹ?
Nếu ai tin sâu Kinh Nhân Quả
Đồng sinh tây phương cõi Cực Lạc
Nhân quả ba đời nói bất tận
Trời rồng chẳng xa người hiền lương
Trong cửa Tam Bảo tu phúc lành
Một đồng vui cho, vạn đồng thu
Phúc ấy giữ tại kho kiên cố
Đời đời kiếp kiếp phúc chẳng hết
Nếu ai muốn biết việc đời trước
Hãy xem đời này thọ quả gì
Nếu ai muốn hỏi việc đời sau
Hãy xem đời này gieo nhân gì"
Kinh Nhân Quả Ba Đời
Dịch từ Phạn văn: Pháp sư An Thế Cao ở Thế Kỷ 2
Dịch sang Tiếng Việt: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận
Dịch nghĩa: 15/3/2012 ◊ Cập nhật: 25/9/2014
☸ Cách Đọc Chữ Phạn
http://daitangkinh.net/?f=Kinh-Nhan-Qua-Ba-Doi
LÝ SĨ KHIÊM THÍCH BỐ THÍ
Vào đời Tùy (Trung Hoa) có vị cư sĩ tên Lý Sĩ Khiêm, từ nhỏ đã hết sức hiếu thuận. Ông mồ côi cha từ bé, rồi sau khi mẫu thân theo cha về thế giới bên kia thì ông buồn thương thọ tang thủ hiếu trọn ba năm. Kỳ hạn thọ tang vừa xong liền sửa sang ngôi nhà đang ở thành một ngôi chùa, và từ đó lập chí nguyện không tiếp tục làm quan nữa. Cả đời ông không hề nhấp môi dù chỉ một giọt rượu, không ăn thịt cá, hành vi lúc nào cũng đoan chính, khẩu nghiệp hết sức thanh tịnh, từ xưa đến nay chưa từng nói ra lời nào có liên quan đến sự giết hại.
Tiên sinh được kế thừa gia sản kếch xù do cha mẹ để lại nhưng sự sinh hoạt, chi tiêu hàng ngày lại tiết kiệm, dè sẻn hơn cả người nghèo. Ông mặc y phục thô cũ, ăn cơm rau đạm bạc, lúc nào cũng xem việc giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, nghèo đói là nhiệm vụ quan trọng nhất.
Nếu trong thôn xóm có gia đình nào khó khăn, chẳng hạn như người chết không có quan tài, tiên sinh liền bố thí quan tài. Anh em cãi nhau vì phân chia tài sản không đồng đều, ông tự lấy tiền nhà thêm vào cho đủ chia để không ai thấy thiệt thòi. Cũng không ít trường hợp khi đó cả hai anh em đều cảm động và xấu hổ, tự thay đổi tâm tánh không còn tranh chấp mà biết nhường nhịn lẫn nhau, yêu thương và tha thứ cho nhau, nhờ đó mà cả hai đều trở thành người tốt.
Một hôm, tiên sinh phát hiện có người đang cắt trộm lúa trong ruộng của mình. Ông chẳng những không hô hoán để bắt tên trộm, ngược lại chỉ lặng lẽ bỏ tránh đi nơi khác. Mọi người trong gia đình thấy khó hiểu trước hành động của tiên sinh liền theo hỏi, ông giải thích:
- Con người không ai không có sĩ diện, nào ai thích làm kẻ trộm? Nhưng bởi thiên tai họa hại, nghèo đói bức bách nên mới bất đắc dĩ rơi vào đường xấu. Do đó chúng ta nên khoan dung tha thứ cho anh ta đi!
Không lâu sau, người cắt trộm lúa biết được tấm lòng nhân từ của tiên sinh, cảm động sâu sắc liền phát tâm hối cải, từ đó thề với lòng thà chết đói chứ không làm kẻ trộm nữa. Quả thật, nhờ đó mà anh trở thành người tốt.
Một năm nọ, mất mùa đói kém, rất nhiều người rơi vào hoàn cảnh thiếu trước hụt sau, gia đình đói khát, Lý tiên sinh liền mở kho xuất hơn ngàn bao tạ lúa để cứu giúp dân chúng. Đến năm sau, mùa màng lại tiếp tục thất bát, những người mượn nợ năm trước đều không đủ khả năng trả nợ, cùng kéo đến nhà Lý tiên sinh xin khất nợ. Lý tiên sinh chẳng những không một lời làm khó mà còn nấu cơm thết đãi, sau đó đem tất cả giấy nợ ra đốt sạch và nói với mọi người một cách rất từ ái:
- Ngũ cốc trong nhà tôi được chứa trữ vốn là để cứu tế, giúp đỡ mọi người khi hoạn nạn, tuyệt đối không có ý đầu cơ để thừa nước đục thả câu. Hiện tại nợ nần của các vị đã hết, vậy mọi người hãy yên tâm làm ăn, đừng nên lo lắng nữa!
Mấy năm sau, lại tiếp tục gặp năm mất mùa rất nặng nề, Lý tiên sinh đem hết tất cả gia sản ra để tổ chức việc bố thí lương thực với quy mô lớn, cứu sống hơn vạn người đang đứng trước cái chết vì đói thiếu. Mùa xuân năm sau, Lý tiên sinh lại tiếp tục bố thí một số lượng lớn hạt giống để giúp nông dân trồng tỉa vụ mùa mới.
Có người thấy việc làm của tiên sinh như thế, liền nói:
- Lý tiên sinh! Ông đã cứu sống được rất nhiều người, quả thật âm đức không nhỏ!
Ông cười xòa đáp:
- Ý nghĩa của âm đức cũng giống như việc bị ù tai, chỉ bản thân mình biết, người khác không nghe biết được. Hiện tại, những việc tôi đã làm, anh đều biết cả, như vậy sao có thể gọi là âm đức được chứ?
Sau đó con cháu của Lý tiên sinh đều làm ăn phát đạt, mọi người cho rằng đây là quả báo tích đức của tiên sinh. Nhưng lúc đó lại có người không tin đạo lý nhân quả, đưa ra lập luận rằng chẳng có sách vở thánh hiền nào ghi chép về nhân quả cả. Lý tiên sinh ôn tồn nói:
- Ông sai rồi, đức Khổng Tử tán thán Kinh Dịch, mà trong Kinh Dịch có nói: "Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh; tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương." (Nhà tích chứa điều thiện ắt sẽ có niềm vui; nhà tích chứa điều bất thiện ắt sẽ gặp tai ương). Như vậy có thể thấy trong sách Nho cũng nói đến đạo lý nhân quả, sao bảo là không?
Người đó hiểu ra, rất thán phục sở học của tiên sinh, lại thưa hỏi về chỗ khác biệt giữa Tam giáo (Phật, Đạo, Nho). Lý tiên sinh giải thích:
- Phật giáo giống như mặt trời. Đạo giáo giống như mặt trăng. Nho giáo giống như những ngôi sao lấp lánh trên bầu trời.
Người ấy nghe được những lý luận cao thâm của Lý tiên sinh bỗng chốc liền khởi tâm hoan hỉ, tin phục.
Vào năm 66 tuổi, Lý tiên sinh thuận theo lẽ vô thường, an nhiên xả bỏ xác thân. Người người nghe tin đều đau buồn khóc than thảm thiết. Người đến tham dự lễ tang và tiễn đưa linh cữu có đến hơn hàng vạn.
Một đời của Lý Sĩ Khiêm được nuôi dưỡng trong giáo lý giải thoát của Phật-đà, thấm nhuần Phật pháp, cho nên đối với gia đình hết lòng hiếu thuận song thân, làm tròn trách nhiệm, nghĩa vụ, tình thương; còn đối với xã hội cũng thực hành hạnh nguyện lợi tha rộng lớn, cứu độ chúng sinh chẳng khác gì hàng Bồ Tát.
Ông đã mang toàn bộ tài sản của mình ra để thực hành hạnh bố thí song trong lòng không khởi chút ý niệm tham cầu danh thơm tiếng tốt hay kể lể công lao. Hành động này có thể nói là những người bình thường không dễ gì làm được. Tấm gương cuộc đời của Lý tiên sinh có thể nói là "sống được mọi người kính mến, lúc chết được mọi người thương xót."
("Nhân quả báo ứng hiện đời" - Đường Tương Thanh biên soạn, Đạo Quang dịch)
1 lượt thích
https://www.facebook.com/permalink.p...93084224330111
Bố Thí Vô Úy
khi tôi vừa mới học Phật, trong lòng muốn có loại này, thì chỉ trong một tháng có người mang đến cho tôi. Chân thật là “hữu cầu tất ứng”, chỉ cần mong cầu đúng lý đúng pháp thì đều có cảm ứng. Tôi hiểu rõ đạo lý này, thấu suốt chân tướng sự thật. Hơn nữa, từ nhiều năm đến nay, từ 26 tuổi học Phật thì tôi thật làm, do lão sư dạy cho tôi, tôi chăm chỉ làm. Càng làm càng có cảm ứng không thể nghĩ bàn. Cho nên, đối với từng câu từng chữ trên Kinh Phật đã nói, tôi tin sâu không nghi. Bạn có thể y giáo phụng hành thì chính mình được lợi ích. Đó là nói về tài bố thí.
Bố thí tài được tài phú, bố thí ăn uống thì bạn có được ăn uống, bố thí quần áo được quần áo, bố thí phòng ốc thì bạn được phòng ốc, linh nghiệm không thể nói. Bố thí Phật pháp được thông minh trí tuệ, được biện tài vô ngại, đó là điều mà mọi người đều cần đến. Phải tu pháp bố thí, phải tu pháp cúng dường. Bố thí vô úy rất đơn giản, rất thuận tiện chính là ăn chay.
https://www.facebook.com/hoiquanadid...39149076170829
=========
Bố Thí Vô Úy
khi tôi vừa mới học Phật, trong lòng muốn có loại này, thì chỉ trong một tháng có người mang đến cho tôi. Chân thật là “hữu cầu tất ứng”, chỉ cần mong cầu đúng lý đúng pháp thì đều có cảm ứng. Tôi hiểu rõ đạo lý này, thấu suốt chân tướng sự thật. Hơn nữa, từ nhiều năm đến nay, từ 26 tuổi học Phật thì tôi thật làm, do lão sư dạy cho tôi, tôi chăm chỉ làm. Càng làm càng có cảm ứng không thể nghĩ bàn. Cho nên, đối với từng câu từng chữ trên Kinh Phật đã nói, tôi tin sâu không nghi. Bạn có thể y giáo phụng hành thì chính mình được lợi ích. Đó là nói về tài bố thí.
Bố thí tài được tài phú, bố thí ăn uống thì bạn có được ăn uống, bố thí quần áo được quần áo, bố thí phòng ốc thì bạn được phòng ốc, linh nghiệm không thể nói. Bố thí Phật pháp được thông minh trí tuệ, được biện tài vô ngại, đó là điều mà mọi người đều cần đến. Phải tu pháp bố thí, phải tu pháp cúng dường. Bố thí vô úy rất đơn giản, rất thuận tiện chính là ăn chay. Ăn chay là từ nay về sau không hại tất cả chúng sanh. Tuy là trong Phật pháp không khuyên người ăn trường chay, Phật chỉ khuyên bạn không sát sanh, không hề khuyên bạn không ăn thịt. Bởi vì Thế Tôn năm xưa còn ở đời, tăng đoàn mỗi ngày bưng bình bát đi khất thực, Phật pháp là “từ bi vi bổn, phương tiện vi môn”, bạn đi ra ngoài khất thực, người ta cúng dường cho bạn thứ gì thì bạn ăn thứ đó. Giống như hiện tại quốc gia Tiểu thừa Phật giáo như Thái Lan, Srilanka, họ đều khất thực, họ đều ăn thịt, người ta cho thứ gì thì ăn thứ đó, không phân biệt, không chấp trước, vậy thì đúng. Tuyệt đối không thể bảo tín đồ đặc biệt phải làm đồ chay cho bạn, vậy thì quá phiền, không nên. Nếu như muốn nói đến bố thí vô úy, thì việc ăn chay đó rất quan trọng. Khoa học kỹ thuật hiện đại phát triển lò sát sanh, tôi chưa đi tham quan qua, thế nhưng khi tôi còn nhỏ, sanh ra lớn lên ở trong nông thôn, trong nông thôn giết heo bán thịt, khi nhà bán thịt giết heo, họ nắm tai của heo lên nói với nó: “Heo ơi, heo ơi! Ngươi đừng trách ta. Ngươi là một món ăn của nhân gian. Họ không ăn thì ta không giết. Ngươi đi tìm người ăn mà đòi mạng đi”. Các vị thấy, họ đem tất cả trách nhiệm đổ cho người ăn, các vị người nào ăn thịt thì tiêu rồi, vấn đề sẽ rất nghiêm trọng. Họ đem trách nhiệm đổ hết cho người ăn, họ không có tội, tội lỗi đều là ở người ăn thịt. Cho nên chúng ta có thể ăn chay, có thể không ăn thịt tất cả chúng sanh, đó chính là vô úy bố thí, bồi dưỡng tâm từ bi của chính mình. Đây là việc tốt, bồi dưỡng tâm từ bi của chính mình, quyết không tổn hại bất cứ một chúng sanh nào. Không những là không thể sát hại, mà ngay đến làm cho chúng sanh vì ta mà sanh phiền não thì chúng ta liền có tội, có lỗi lầm. Cho nên bạn thấy, Phật Bồ Tát tiếp xúc với quần chúng rộng lớn, điều thứ nhất ở trong “Tứ Tất Đàn” đã nói rõ ràng là “khiến cho tất cả chúng sanh sanh tâm hoan hỉ”. Đó là Phật pháp, là Phật dạy cho chúng ta. Chúng sanh nào chán ghét chúng ta, khi chúng ta vừa xem thấy họ thì phải mau tránh ra xa, vậy thì họ vui mừng. Nhất định phải khiến cho chúng sanh sanh tâm hoan hỉ, thì những nơi mà chúng ta đến mới có người hoan nghênh chúng ta. Chúng ta ghét bỏ người khác, quả báo chính là làm cho người khác ghét bỏ chúng ta. Do đây có thể biết, người già là rất quan trọng. Người thanh niên thì phần nhiều ghét bỏ người già, không ưa thích người già. Nếu như bạn có cái tâm này, có loại hành vi này, vậy hỏi xem, bạn tương lai có già hay không? Nếu bạn không già thì bạn đoản mạng, nếu bạn không đoản mạng thì nhất định phải già. Khi bạn già thì phải nhận quả báo, bạn có hiểu hay không? Bạn còn trẻ mà ghét bỏ người già, khi bạn già rồi thì người trẻ sẽ ghét bỏ bạn. Nhất định sẽ chiêu đến quả báo, nhân duyên quả báo không sót chút nào. Không những không sót, mà hiện tại quả báo sẽ đến được rất nhanh. Bạn bình lặng mà quan sát, chân thật là ở ngay trước mặt, tạo nghiệp thì làm gì không bị quả báo chứ! Bạn tạo ra là nghiệp thiện, bạn nhất định được quả thiện, bạn tạo ra là ác nghiệp thì phải gặp ác báo.
Hiện tại các vị đều biết, thế gian này tai nạn càng lúc càng phức tạp, càng lúc càng nghiêm trọng. Tai nạn này là cộng nghiệp của cả chúng sanh thế gian, rất là đáng sợ. Chỉ hơn một năm qua, kinh tế suy thoái là mở đầu của tai nạn, là dự báo của tai nạn, vẫn chưa phải bắt đầu. Đây tuyệt đối không phải là việc tốt. Cho nên, mọi người nhất định phải ghi nhớ lời dạy của Phật, “rộng tu cúng dường”, “y giáo phụng hành”. Người học Phật chúng ta phải phước huệ song tu. Có phước, có huệ thì tốt. Giúp đỡ một số người nghèo khó, giúp đỡ một số người khổ nạn, giúp đỡ một số người già yếu, giúp đỡ một số người bệnh tật, toàn tâm toàn lực giúp đỡ họ. Phải thật làm, đem tài vật của bạn bố thí hết thật sạch trơn thì mới tốt, đời sống như vậy mới tự tại, mới tiêu diêu. Bạn phải biết, việc bố thí này chính là đem khổ, tai, nạn của bạn bố thí hết. Cái ý này rất là sâu rộng, các vị nhất định phải tỉ mỉ mà thể hội. Thế nên trên Kinh Phật nói với chúng ta: “Trong các cúng dường, cúng dường pháp là hơn hết”. Hơn nữa, trong tất cả Kinh Đại thừa, Phật đặc biệt nhắc nhở chúng ta, Phật thật là từ bi đến tột đỉnh, làm ra rất nhiều so sánh cho chúng ta xem, thậm chí nói, bạn dùng bảy báu của đại thiên thế giới bố thí cúng dường (phước này rất lớn, không ai có phước báo lớn đến như vậy), Phật chỉ nói thí dụ, thí dụ đến cùng tột, bạn dùng bảy báu của đại thiên thế giới tu bố thí cúng dường, phước đó của bạn rất to rất lớn, nhưng vẫn không thể so với phước báo của người vì người khác nói bốn câu kệ (bốn câu kệ là bốn câu trong Kinh văn), còn không thể so với công đức to lớn của người nói bốn câu Phật pháp. Ai có thể tin tưởng? Người có thể thâm nhập Kinh tạng thì tin tưởng. Đạo lý này ở đâu vậy? Bố thí bảy báu bằng đại thiên thế giới, chúng sanh có được lợi ích như thế nào? Người nghèo khổ có được cơm áo, người khổ nạn được sự cứu giúp, đời sống vật chất không thiếu kém, không có lo lắng, họ có được lợi ích này. Vậy chúng ta muốn hỏi, sanh tử luân hồi thì phải làm sao? Không thể giải quyết! Dùng bảy báu đại thiên thế giới bố thí, bạn cũng không thể thoát khỏi sáu cõi luân hồi, hay nói cách khác, chúng sanh có được lợi ích là rất có hạn, chỉ một đời, không thể đời đời kiếp kiếp. Sau khi bạn mạng chung rồi, bạn không thể mang đi được thứ gì, chính là ngay trong nhà Phật đã nói “vạn ban tương bất khứ” (chữ “tương” chính là mang), bạn không thể mang đi được thứ gì, “chỉ có nghiệp theo mình”. Bạn phải hiểu được đạo lý này.
Trích Kinh Vô Lượng Thọ Lần 10, năm 1998, tập 6- HT. Tịnh Không chủ giảng
http://hoiquanadida.com/phap-am/bo-thi-vo-uy.htm
Tích Gia Ðình Ông Puṇṇa
Trong thời kỳ Ðức Phật Gotama của chúng ta, có gia đình ông Puṇṇa [Chú giải Dhammapada, trong tích Uttarāupāsikā] nghèo khó, làm ruộng thuê của ông phú hộ Sumana, toàn thể mọi người trong gia đình đều có đức tin trong sạch nơi Tam bảo.
Một hôm, buổi sáng ông đi cày ruộng; cũng vào buổi sáng ấy, Ngài Ðại Ðức Sāriputta xả diệt thọ tưởng định (suốt 7 ngày đêm qua), đi khất thực để tế độ gia đình ông Puṇṇa, nên Ngài đi thẳng về hướng ông Puṇṇa đang cày ruộng. Ông Puṇṇa nhìn thấy Ngài Ðại Ðức Sāriputta liền bỏ cày đến hầu đảnh lễ Ngài, dâng cúng cây tăm xỉa răng và nước dùng, nước uống. Ngài Ðại Ðức Sāriputta thọ nhận xong, đi theo đường hướng về nhà ông Puṇṇa, gặp vợ ông Puṇṇa đang đem cơm cho chồng. Bà đảnh lễ Ngài Ðại Ðức Sāriputta xong, bạch rằng:
- Kính bạch Ngài Ðại Ðức, kính xin Ngài từ bi thọ nhận phần vật thực, phận nghèo khó của gia đình chúng con.
Ngài Ðại Ðức Sāriputta từ bi tế độ thọ nhận tất cả phần vật thực, bà vô cùng hoan hỉ phát nguyện:
- Do nhờ phước thiện bố thí này của chúng con, cầu mong cho gia đình chúng con được một phần pháp mà Ngài đã chứng đắc.
Ngài Ðại Ðức Sāriputta phúc chúc rằng:
- Mong cho gia đình các con được toại nguyện.
Bà vô cùng hoan hỉ đi trở về nhà nấu lại phần cơm khác đem cho chồng, vội vàng mang cơm ra đồng ruộng với tâm hoan hỉ phước thiện bố thí đến Ngài Ðại Ðức Sāriputta làm cho thân tâm của bà nhẹ nhàng, nhu nhuyến không sao dấu được.
Còn phần ông Puṇṇa trễ giờ đói bụng, thả bò đi ăn cỏ, ông lên bờ ngồi dưới bóng mát cây chờ đợi vợ, dầu đói bụng nhưng tâm vẫn hoan hỉ, niệm tưởng lại việc làm phước thiện bố thí tăm xỉa răng và nước đến Ngài Ðại Ðức Sāriputta. Ông nhìn thấy từ xa, vợ mình đi đến trễ hơn mọi ngày, nhưng bà có vẻ khác thường, chắc chắn bà đang hoan hỉ một điều gì đó. Bà vừa đến nơi liền thưa với chồng rằng:
- Hôm nay, xin anh hoan hỉ thật nhiều! Sáng nay, em đem cơm cho anh, giữa đường gặp Ngài Ðại Ðức Sāriputta đang đi khất thực, em phát sanh đức tin trong sạch, đem phần cơm của anh để bát cúng dường đến Ngài Ðại Ðức Sāriputta, Ngài không chê vật thực nghèo khó của chúng mình. Ngài Ðại Ðức có tâm từ bi tế độ thọ nhận tất cả vật thực phần của anh; xin anh nên hoan hỉ phần phước thiện bố thí này!
Ông Puṇṇa vừa lắng nghe từng tiếng, từng câu làm cho ông phát sanh thiện tâm hỉ lạc đến cực độ; nên không thể theo dõi liên tục tron vẹn lời nói của vợ ông. Sực tỉnh lại, ông muốn biết chắc chắn chính mình nghe đúng sự thật là như vậy không, nên ông bảo với vợ rằng:
- Này em, em hãy nói lại cho anh nghe một lần nữa!
Bà vợ thưa lại rõ ràng một lần nữa, lần này ông nghe rõ biết chắc chắn đúng sự thật như vậy rồi, ông vô cùng hoan hỉ phước thiện bố thí của vợ, đã đem phần cơm của mình cúng dường đến Ngài Ðại Ðức Sāriputta, đồng thời ông cũng nói cho vợ biết, cũng chính sáng hôm ấy, ông đã làm phước thiện bố thí cúng dường cây tăm xỉa răng và nước đến Ngài Ðại Ðức Sāriputta; nghe xong, bà cũng vô cùng hoan hỉ việc phước thiện bố thí của chồng.
Hai vợ chồng cùng nhau hoan hỉ việc phước thí cúng dường đến Ngài Ðại Ðức Sāriputta, ông dùng cơm xong nằm niệm tưởng việc phước thiện bố thí hôm nay, mới thiu thiu giấc ngủ, ông bừng tỉnh lại, ngồi nhìn thấy phần đất cày ruộng hồi sáng đã hóa thành những thỏi vàng y (vàng ròng) làm cho ông hoa cả mắt; và vợ của ông cũng như ông vậy. Ông lấy lại bình tỉnh đi xuống ruộng, lấy lên một thỏi, đúng thật là thỏi vàng ròng, đem khoe và nói với vợ rằng:
- Này em, vợ chồng chúng ta đã làm phước thiện bố thí cúng dường đến Ngài Ðại Ðức Sāriputta, do phước thiện bố thí ấy, liền cho quả báu đến vợ chồng chúng ta ngày hôm nay, chúng ta không thể nào dấu một số vàng lớn như thế này được!
Ông Puṇṇa lấy một số thỏi vàng bỏ vào khay, đem trình lên Ðức vua và tâu rằng:
- Tâu Ðức vua, sáng nay tiện dân đi cày ruộng, tất cả đất cày hóa thành những thỏi vàng ròng, kính xin Ðức vua truyền lệnh cho binh lính đem xe đến chở về cất trong kho báu của Ðức vua.
- Nhà người là ai? – Ðức vua hỏi.
- Tâu Ðức vua, tiện dân là Puṇṇa, một nông dân nghèo khó làm thuê. – Puṇṇa tâu.
- Sáng nay, nhà ngươi đã làm việc gì đặc biệt vậy?
- Tâu Ðức vua, tiện dân làm phước cúng dường cây tăm xỉa răng và nước dùng, nước uống đến Ngài Ðại Ðức Sāriputta; còn phần vợ tiện dân làm phước cúng dường phần cơm của tiện dân đến Ngài Ðại Ðức.
Ðức vua phán rằng:
- Này Puṇṇa, vợ chồng ngươi đã làm phước thiện bố thí cúng dường trong sạch đến cho Ngài Ðại Ðức Sāriputta, cho nên, quả báu phát sanh ngay trong ngày hôm nay. Vậy, ngươi muốn Trẫm làm gì?
- Tâu Ðức vua, tiện dân xin Ðức vua truyền lệnh đem ngàn chiếc xe đến thửa ruộng kia để khuân tất cả số vàng ấy về cung điện. – Puṇṇa tâu.
Ðức vua truyền lệnh đem hàng ngàn chiếc xe đến chở vàng ròng, nhóm lính trong triều nói rằng: "Vàng của Ðức vua!", tức thì những thỏi vàng được lấy lên, hóa trở lại thành đất như cũ. Chúng về triều tâu lên Ðức vua sự việc xảy ra như vậy. Ðức vua sáng suốt bèn phán rằng:
- Các ngươi nghĩ như thế nào, khi lấy những thỏi vàng ấy?
- Tâu Hoàng Thượng, chúng thần nghĩ và nói rằng: "Vàng của Ðức vua!".
- Số vàng ròng kia không phải của Trẫm. Các người nên trở lại nghĩ và nói rằng: "Vàng của ông bà Puṇṇa!" rồi khuân số vàng ấy về đây. – Ðức vua phán.
Họ vâng lệnh Ðức vua ra đi. Thật đúng vậy, lần này họ khuân toàn bộ số vàng ấy đem về, chất giữa sân rồng thành một đống vàng cao 80 hắc tay.
Ðức vua cho truyền dân chúng trong thành hội họp tại sân rồng, bèn hỏi rằng:
- Trong kinh thành này, người nào khác có số vàng lớn như thế này không?
- Tâu Hoàng Thượng, không có người nào khác cả! – Toàn thể dân chúng trong thành tâu.
- Trẫm nên tấn phong ông Puṇṇa như thế nào mới xứng đáng?
- Xin Hoàng thượng tấn phong ông Puṇṇa địa vị đại phú hộ.
Ðức vua phán rằng:
- Này Puṇṇa, từ nay ngươi là đại phú hộ, có tên Bahudhanaseṭṭhi: phú hộ nhiều của cải.
Sau khi trở thành đại phú hộ Puṇṇa, gia đình ông càng có đức tin trong sạch nơi Tam bảo, làm phước thiện bố thí cúng dường đến chư Tỳ khưu Tăng, có Ðức Phật chủ trì suốt 7 ngày, đến ngày thứ 7 Ðức Phật thuyết pháp tế độ gia đình ông Puṇṇa, toàn gia đình ông đại phú hộ Puṇṇa, hai vợ chồng và đứa con gái tên Uttarā đều chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu.
Vợ chồng ông Puṇṇa làm phước thiện bố thí cúng dường đến Ngài Ðại Ðức Sāriputta vừa xả diệt thọ tưởng định, do năng lực phước thiện bố thí trong sạch và hội đủ nhân duyên ấy, liền cho quả báu trong ngày hôm ấy, trở thành đại phú hộ nhiều của cải thế gian và đặc biệt hơn nữa, toàn gia đình chứng đắc pháp siêu tam giới đó là Nhập Lưu Thánh Ðạo, Nhập Lưu Thánh Quả trở thành bậc Thánh Nhập Lưu.
Những trường hợp như trên, có không ít trong Phật giáo.
Phước bố thí cho quả hiện tại
Làm phước thiện bố thí có quả báu ngay trong kiếp sống hiện tại trong vòng 7 ngày, cần phải hội đủ 4 nhân duyên như sau:
1- Bậc thọ thí phải là bậc Thánh Bất Lai hoặc bậc Thánh A-ra-hán (vatthusampadā).
2- Vật bố thí phát sanh hoàn toàn hợp pháp và trong sạch (paccayasampadā).
3- Người bố thí có đầy đủ 3 thời tác ý thiện tâm trong sạch hoan hỉ: trước khi làm phước thiện bố thí, đang khi làm phước thiện bố thí và sau khi đã làm phước thiện bố thí xong (cetanāsampadā).
4- Bậc Thánh Bất Lai hoặc bậc Thánh A-ra-hán vừa mới xả diệt thọ tưởng định, đi khất thực (guṇātire-kasampadā).
Do năng lực hội đầy đủ 4 nhân duyên này, chắc chắn sẽ được quả báu của phước thiện bố thí ấy trong vòng 7 ngày.
http://trungtamhotong.org/NoiDung/Th...uoc/BoThi2.htm
PHÓNG SANH
( Chú cần phải Học Thuộc Lòng )
1. Khi Thả-Cá đọc:
OM VA-SI PỜ-RA-MA-NI SOA-HA ( 7 Lần - 21 lần / Hoặc Niệm liên tục Cho đến khi kết thúc Việc PHÓNG SANH )
2. Khi Rải Linh-Phù Kết-Thúc Phóng-Sanh đọc:
OM ĐA-RÊ ĐA-RÊ BAN-ĐA-RÊ SOA-HA ( 7 Lần - 21 lần / Hoặc Niệm liên tục Cho đến khi kết thúc Việc RẢI LINH-PHÙ )
================================================== =======================================
PHÓNG SANH
( Chú cần phải Học Thuộc Lòng )
1. Khi Thả-Cá đọc:
OM VA-SI PỜ-RA-MA-NI SOA-HA ( 7 Lần - 21 lần / Hoặc Niệm liên tục Cho đến khi kết thúc Việc PHÓNG SANH )
2. Khi Rải Linh-Phù Kết-Thúc Phóng-Sanh đọc:
OM ĐA-RÊ ĐA-RÊ BAN-ĐA-RÊ SOA-HA ( 7 Lần - 21 lần / Hoặc Niệm liên tục Cho đến khi kết thúc Việc RẢI LINH-PHÙ )
============
Con xin hồi hướng tất cả các công đức đã tích tập được qua hàng động phóng sinh này, trong ngày hôm nay, trong cuộc đời này, trong tất cả các đời quá khứ và tương lai cho sự hạnh phúc và giác ngộ của tất cả chúng sinh, trong đó có: những chúng sinh được phóng sinh ngày hôm nay, những người tham gia phóng sinh ngày hôm nay, gia đình bạn bè, họ hàng của những người tham gia phóng sinh ngày hôm nay, các thành viên và gia đình bạn bè, họ hàng các thành viên của nhóm An tựu, những người trong danh sách cầu an và cầu siêu của nhóm An tựu, và… (ví dụ và mẹ con là Phan Thị X, sinh năm 1950…)
Tiếp theo đọc minh chú tăng trưởng công đức tụng kinh, thêm gấp một triệu lần
OM DHARE DHARE BENDHARE SVAHA (7x)
OM DHARE DHARE BHANDHARE. SVĀHĀ
NGHI QUỸ PHÓNG SINH
http://www.drukpavietnam.org/images/.../phongsinh.pdf
http://www.andyweberstudios.com/shop...0b-800x600.jpg
https://scontent.cdninstagram.com/t5...45060478_n.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/23/84...ae82d367c0.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/06/04/Me...0x600c5b7c.jpg
Medicine Buddha Mandala
http://s2.upanh123.com/2017/03/21/images134cb0.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/05/06/VBN4295a.png
http://s2.upanh123.com/2017/03/29/IMG_0915-110ca4.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/21/image0121fea92.jpg
( http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%BB%80N/page65 / http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%C3%81T/page70 / http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%C3%81T/page72 / http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%C3%81T/page74 / https://www.pinterest.com/pin/492229434250862174/ / https://sanaakosirickylee.wordpress....t-and-thought/)
===============
http://s2.upanh123.com/2017/03/21/duoc-su-bw4ea41.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/03/21/bhaisajya44e75.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/23/Ta...d-721de0e1.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/06/04/me...ntra10da85.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/06/04/Untitled6e5d8.png
http://s2.upanh123.com/2017/06/04/T1...0x210df0e7.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/03/23/la...00010ed623.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/23/taixungd792f.jpg
http://i27.photobucket.com/albums/c1...efran/NMB1.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/06/04/He...st-_12994d.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/06/04/NEWMEDBUD3883e1.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/06/04/Untitled42c31.png
http://s2.upanh123.com/2017/06/04/Untitled5029f.png
medicine-buddha-mantra1
The Medicine Buddha Mantra which is TADYATHA OM BHEKANDZYE (pronounced as BHE-KAND-ZAY) BHEKANDZYE MAHA BHEKANDZYE BHEKANDZYE RADZA SAMUGATE SOHA.
Symbolic Script of the Mantra - TADYATHA OM BHEKANDZYE BHEKANDZYE MAHA BHEKANDZYE BHEKANDZYE RADZA SAMUGATE SOHA. At the middle is its seed syllable.
=
http://img07.taobaocdn.com/bao/uploa...pg_310x310.jpg
=
( http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%C3%81T/page69 / http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%C3%81T/page69 / http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%C3%81T/page74 / http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%C3%81T/page73 / http://www.wisdomcompassion.org/medicinebuddhasadhana )
======
https://i2.wp.com/sanaakosirickylee....2&crop=1&ssl=1
http://www.dhresource.com/0x0s/f2-al...nitiations.jpg
http://www.dhgate.com/product/009-sk...238948748.html / https://sanaakosirickylee.wordpress.com/tag/taoist/
=======
http://s2.upanh123.com/2017/06/04/69851268abbd.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/06/04/10...035_n1729c.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/21/H25ad38.jpg
( http://lotushouse.weebly.com/lapis-l...eity-yoga.html / https://www.facebook.com/Drikung-Kag...3374036416301/ / http://thegioivohinh.com/diendan/sho...M%C3%A3/page54 )
http://s2.upanh123.com/2017/06/04/Untitledb2db8.png
http://s2.upanh123.com/2017/06/04/4f...e65d6dd8ad.jpg
The Five Buddha Family Mandala. The Five Buddha families also known
( https://www.pinterest.com/pin/173107179400266825/ )
http://s2.upanh123.com/2017/06/04/TC...0x4251cacc.png
His Holiness the Karmapa visits Tara Children’s Project children at Root Institute, Bodhgaya, India
( http://fpmt.org/2013/page/12/ )