Mantra dari Guru Padmasambhava
http://s2.upanh123.com/2017/04/18/Dr...hakra02289.jpg
Buatan Dilgo Khyentse Rinpoche (Guru dari Dalai Lama)
( http://archive.kaskus.co.id/thread/5914515/5 )
Printable View
Mantra dari Guru Padmasambhava
http://s2.upanh123.com/2017/04/18/Dr...hakra02289.jpg
Buatan Dilgo Khyentse Rinpoche (Guru dari Dalai Lama)
( http://archive.kaskus.co.id/thread/5914515/5 )
http://s2.upanh123.com/2017/04/18/il..._5ov5768ae.jpg
All Blue Medicine Buddha Prayer Flags
( https://www.etsy.com/market/prayer_flags )
http://s2.upanh123.com/2017/04/19/1e...3e80ba9a52.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/19/bb...7f0d9fcbdc.jpg
商品資訊
西藏佛教文物--能勝身語意束縛陀羅尼咒輪(透明燙金 紙)
( https://tw.bid.yahoo.com/item/%E8%A5...9-100094090126 )
中央能勝身語意束縛陀羅尼藏文咒輪
四方各有金剛杵~摩尼寶~蓮花~智慧劍
四周圍能勝身語意束縛陀羅尼中文咒
材質為透明底燙金貼紙
可將此貼紙懸掛張貼於各門戶之上
凡於此咒下方經過之眾生有情
能消除業障~增加福報~解除身語意之束 縛
亦可貼於汽車機車前方
或貼於透明水杯
光影透過咒字能使水得到淨化加持
隨身攜帶也有諸多殊勝功德
貼於燈罩之外也可使光影所照之處利 有情眾生
尺寸:大長9cm寬9cm 小(單一)長4cm寬4cm
大張每張10元~小張4張一組每組10元
注意1:由於丈量方式略有不同,因此產 生2%的誤差。因色差及電腦顯示器等因 素,實際聖物與網拍色澤略有差別時 以實際出貨品為準。土粉類聖物邊緣 有崩裂缺角,在意細微瑕疵者請勿購 買。
注意2:下標前請詳閱"關於我"有關匯款& 郵寄等資訊,所有交易細則有所變動 在"關於我"公佈。
注意3:圖片物件若有鋼殼或無鋼殼,郵 寄時盡量會附加鋼殼,鋼殼無法包裝 產品郵寄時則不附任何包裝,不另告 。附加之鋼殼為贈品,恕不折抵其他 物件或金額,鋼殼&壓克力片中間的細 細縫不屬瑕疵,介意者請選擇防水殼 款式購買。附有防水殼物件,起標售 即含防水殼,若頁面僅提供無防水殼 ,可加價包裝,詳閱"關於我"。
注意4:法術聖物因緣各人不同,請供感 應靈驗與否,不負保證責任。善信消 者於供請前應詳閱本店說明&自行斟酌 個人思考行為能力。
我第一次接觸《能勝身語意束縛陀羅 經》,是在西藏請得一套由覺囊派祖 多羅那它尊者蒐集編纂的《陀羅尼集 》中有收錄,而《陀羅尼集》等於是 法的急救箱,為什麼如此說呢?因為 時候西藏地廣人稀、交通不便,並不 是到處都有高僧大德或喇嘛上師,往 牧區的藏民有婚喪喜慶或疾病魔厄時 須要有宗教的力量作為依靠,在請不 到高僧大德前來的臨時狀況之下,只 有識字的喇嘛、甚至是看得懂字的藏 也可以,有這樣一本《陀羅尼集》, 虔心念誦消災或賜福的部分經文,也 獲得極大的感應。因此《陀羅尼集》 說是密法急救箱。
《能勝身語意束縛陀羅尼經》就是《 羅尼集》裡所收錄的其中一篇經文, 這經文被視為對治怪病(找不到病因 )或者精神鬱結(憂鬱、躁鬱)等症 特別有感應的;這部經是帝釋天神為 修羅眾向佛陀提出的問題,阿修羅在 六道中是具有福德但卻深受貪嗔所苦 眾生,祂們嫉妒天人的福報,除了常 攻打天人之外,也相互爭戰,不得解 脫。經文中特別指出,如果我們的身 意有壓抑、束縛,在任何時間都得不 安樂,這時候即使以前曾經持誦大量 真言咒語或禪修入三摩地,任何往昔 業所修而得的安樂福慧果報都會短暫 退失、不得自在,就好像太陽被烏雲 遮住一樣。而念誦這部經文或者陀羅 咒,就會像黑暗中點一盞燈一樣,瞬 光明普照,身語意的束縛壓抑也必定 能得到解脫。阿修羅就是這樣的例子 事實上祂們有跟天人一樣好的福報, 因為業力習氣而造成身語意束縛壓抑 ,嫉妒、忿怒不受控制,因此佛陀宣 此身語意束縛中尊勝陀羅尼,令阿修 能從這樣的束縛壓抑中解脫出來。
此經與陀羅尼殊勝功德,修持日深能 觀身語意三業所受到的詛咒、壓抑束 ,他人對我們的惡言、惡行無法傷害 我們,消除止息所有他人對我們產生 嗔忿、惡意念,配戴經文咒輪也有同 功效,具足信心配戴者的影子所觸碰 到的地方或者他的氣息吹拂過,也可 幫助其它眾生得到身語意解脫,放置 高處、門楣,或者照射、觸碰到水流 等等,配戴在帽內、服裝衣領都可以
Tiền Hành Pháp
7. Cúng Cho Các Thổ Thiện Thần Và Các Chướng Ngại Ác Thần:
a. Tự thân biến thành Mã Đầu Minh Vương:
Răng nhít két chic ghi Tam chốc hê ru ka trô tum dớt
Pa ka quay di jít kan pây mê tác bác qua gua pạt sam la.
Ngay tức khắc, ta biến thành Đức Phẫn Nộ Mã Đầu Minh Vương Uy
Nghiêm Rực Rỡ với lửa trí tuệ chiếu ra xung quanh.
Trì Chú:
Om Hri Bengia Krô Đa Ha Da Gri Va Hu Lu Hu Lu Hung Phét.
Tiếng Sankrit: Om Hrih Vajra Krodha Hayagriva Hulu Hulu Hùm Phat.
Hoặc: Ôm Ha Da Gri Va Hung Phét.
( không được ít hơn 108 lần)
b. Quán tưởng một đức Mã Đầu Minh Vương nữa trước mặt, trên bình đựng
nước sái tịnh và đọc 108 lần chú Mã Đầu. Đọc xong quán tưởng Đức Mã Đầu
Minh Vương tan thành ánh sang, nhập vào bình sái tịnh, nước sái tịnh trở thành
nước thiêng, dùng nước này vảy lên thân, nhà, …
c. Dùng nước thiêng vảy lên bánh, thực phẩm cúng cho thiện Thần, vừa vảy vừa
đọc :
Om Hri Bengia Krô Da Ha Da Gri Va Hu Lu Hu Lu Hung Phét. ( 1 lần)
Om Sô Bà Qua Su Đa, Sạt Qua Đạt Ma, Sô Bà Qua Su Đô Hăng.
Đọc kệ gia trì phẩm vật phẩm:
Tham chết tong nhít nam khây ngăng
BRUM lê rin chên nớt năng đu
Om lê chi năng chớt pây chốc
Sô sôi la mô ron pa chê.
Ráp jam nam kha găng bạt giua.
Om Bengia Pút Pê, Đu Pê, A Lô Kê, Gen Đe Nê
Quy Đe, Sáp Đa, Pu Gia, Sa Ma Da Hung.
Puja, Samaya Hùm
Nghĩa: Tất cả mọi hiện tượng trở thành không. Từ chân không xuất hiện chữ
BRUM biến thành bình chứa báu, trong bình là chữ OM biến tất cả đồ cúng
dường nội, ngoại với các thiên nữ dâng cúng đầy khắp hư không. Vừa đọc vừa
dùng ấn Kim Súy Điểu gia trì thực phẩm dâng cúng
Tố xông rát nây xan dê su
Tố ma đớt don phung pô pung
Om A Hung Hô
Nghĩa: Vô lượng vật phẩm cúng dường đầy đủ mùi vị, đẹp đẽ, thơm tho nhiều
như mây trời.
( http://www.chuadainhatnhulai.org/pdf..._Hanh_Phap.pdf )
Lạt Ma Gia Trì Dược Hoàn
(Thuốc viên gia trì của chư tăng Lạt Ma)
(Lama Blessing Pills)
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...M%C3%A3/page33
• Bỏ một viên thuốc (hay một thìa nhỏ Dược Thủy) vào trong một chai nước lọc (để uống) khoảng nửa lít. Ngâm qua vài ngày để thuốc mềm ra và ngấm thuốc vào nước lọc. rồi vào sáng sớm sau khi làm vệ sinh răng miệng, rửa mặt sạch sẽ xong, trước khi ăn sáng, chúng ta có thể uống một ngụm nhỏ mỗi ngày.
(Hoặc là uống thẳng một viên nhỏ với nước sạch vào sáng sớm sau khi vệ sinh răng mặt xong. Nhưng làm cách này thì khá tốn thuốc nhanh chóng và cần có số lượng lớn để uống trong thời gian lâu dài).
• Cũng có thể bỏ một viên thuốc (hoặc chút Dược Thủy) vào bình và để trong tủ lạnh. Rót nước từ bình thuốc ra ly nhỏ mỗi ngày để uống sau khi làm vệ sinh và trước khi ăn sáng. Khi nước trong bình hết, chúng ta có thể đổ thêm vào bình. Làm như thế cho đến khi bình cần được thay nước và rửa sạch hoàn toàn. Vào lúc đó, chỗ nước còn dư mà không dùng thì có thể đổ vào sông hay biển để gia trì cho các loài thủy tộc và cho môi trường.
在西藏偏遠的聖地札日,可以找一種 為『札魯度多傑』(Tsa Lu du Dorje)的聖草,被視為最稀有、最珍貴 ,有嚐即解脫的功效,在札日已得到 泛的見證,當野生動物死亡時,彩虹 奇蹟的出現在它的身上。因此,大家 認為這些居住在札日的野生動物,一 是累積了很大的福德資量,所以有機 可以吃到聖草,因而死後可以轉生到 佛淨土。
在天龍(竹巴)傳承,這種聖草是用 製作彩虹藥丸的主要成分之一。彩虹 ,藏語稱為『迦、屈瑪』(Ja Tsukma)或『迦屈丸』(Ja Rilbu),意思是『實現彩虹身的法丸』 。傳說這種草只能由嘉旺竹巴法王的 世才能找到,因為它們是由觀世音菩 所化現的。因此,彩虹丸是天龍(竹 巴)傳承特有的甘露丸。
節選自康祖仁波切吉美貝瑪盈傑所撰 彩虹丸
圖檔為康祖仁波切綠度母法會增生之 露丸
五种颜色:红、黄、蓝、绿、粉,请 注颜色。
大小60*40厘米。不带旗杆。数码喷绘印 刷,竖挂。
尊胜佛母心咒:
http://s2.upanh123.com/2017/03/12/TB...0x600c2c9a.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/19/TB...50864eb47d.jpg
尊胜佛母心咒宝髻如来护生咒二合一 �款经旗经幡幡旗结缘经文
( https://world.taobao.com/item/521308...0002.22.0YPmtH / http://thegioivohinh.com/diendan/sho...M%C3%A3/page46 )
嗡 普隆 梭哈 (ong pu long suo ha) [梵文:om bhrum svaha]
嗡 阿弥达 阿优达底 梭哈 (ong amida ayou dadi suo ha) [梵文:om amrta ayurdade svaha]
尊胜佛母心咒
◎此尊胜佛母是主长寿及净障的女本 。
◎听闻此咒之有情,永不堕恶趣。天 亦不堕畜生道。
◎洗身、穿净衣、受八戒,并持此咒 千遍。即使应命尽,亦能延长寿命, 除无明障,消除疾病。
◎在动物耳边持咒,令闻者,最后一 为畜生。
◎重病临终前,闻此咒,消病障,不 恶趣,往生净土,不再胎生。
◎持咒二十一遍,吹气于芥菜子上, 于重大恶业有情皮肤或骨头上,有情 即脱离恶趣,转生善道。
◎将咒放于塔内,屋内,屋顶幡旗, 身上,触影及风吹,皆除恶趣业。
◎探病前先持诵二十一遍尊胜佛母心 然后不断看着病人的脸,能够帮助病 消除无量病苦。
◎每日晨起持诵二十一遍礼拜十方佛 双手举高至前额并向左右打开,凡事 睛所及一切众生皆能消无量恶业。
【宝髻如来护生咒利益众生法】
见到水或一切生物就念“南无宝髻如 ”和护生咒。
护生咒(唵wèng 缚wá 悉xī 波bō 罗luó 摩mó 尼ní 莎suō 诃hē)是宝髻佛讲的,宝髻佛曾发愿 只要一切水族众生,及至死亡的众生 只要听到我的名号或是咒语,将最后 一次堕落畜牲道,之后马上升到三十 天。
取水、烧水、喝水之前,念“佛观一 水,八万四千虫,若不持此咒,如食 生肉”1遍,念“南无宝髻如来”若 遍,念护生咒“唵嚩悉波罗摩尼莎诃 3遍,水中的众生都可以舍报升天;
把咒语打出来带在身上,路过下水道 水池、江河湖海等凡是有水的地方, 可以把带有咒语的纸条或石头放入这 些水中,那些被宰杀的水族众生统统 后一次做畜牲,死后都可以升天,即 已经死亡的,它们的中阴身也可以统 统升天;
用梵文或汉文(或当地民族文字), 此护生咒刻在石头上,即为摩尼宝, 在水(河、海、井)中,所有的虫都 能够往生善道;
在佛前供过的水,拿下来念咒“唵嚩 波罗摩尼莎诃”后,可以把水洒出去 任何一滴水都会变成甘露水,鬼马上 会抢来喝,并且使它们脱鬼道。到( 路过)海边、河边,凡眼所见水或喝水 时要持此咒,更要时时刻刻遇见动物飞 持诵此咒,回向功德。
取水时当念:‘若见流水,当愿众生 得善意欲,洗除惑垢。南无欢喜庄严 佛,南无宝髻如来,南无无量胜王彿 。’“唵嚩悉波罗摩尼莎诃”(持咒3 )
凡见一切生物,应生慈念,应唱言: 汝等众生,尽应受三皈十戒” “唵嚩悉波罗摩尼莎诃”(持咒3遍)
若见牛马猪羊一切畜生,应心念口言 “汝是畜生,发菩提心。”“唵嚩悉 罗摩尼莎诃”(持咒3遍)
若见大河,当愿众生,得遇法流,入 智海。“唵嚩悉波罗摩尼莎诃”(持 3遍)
若见桥道,当愿众生,广度一切,犹 桥梁。“唵嚩悉波罗摩尼莎诃” (持咒3遍)
http://s2.upanh123.com/2017/03/12/TB...0x600c2c9a.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/19/TB...50864eb47d.jpg
种子字 / 種子字 : vam 旺 / vam和bam
(護生咒) 唵縛悉波羅摩尼莎訶 唵縛悉波羅摩尼莎訶
(尊胜佛母心咒) 唵 普隆娑哈 唵 阿弥达阿优达底 娑哈
旗放生
http://s2.upanh123.com/2017/04/19/00...19690c2e20.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/19/TB...0x600eaf65.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/19/TB...950424b7fa.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/19/b94015.jpg
( https://world.taobao.com/item/425877...34.42587799569 / http://www.ettoday.net/news/20140127/320201.htm / http://blog.sina.com.cn/s/blog_debf53510102wm3x.html )
http://s2.upanh123.com/2017/04/20/3b...240b15873c.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/20/5a...463728573e.jpg
藥師琉璃光如來心咒咒輪(悉曇文)
http://s2.upanh123.com/2017/04/20/12...549bd0bd58.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/20/34...122f14546f.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/20/54...4a9868ef47.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/20/6e...5a302d261d.jpg
咒輪旗
( http://goods.ruten.com.tw/item/show?21704176093707 )
http://s2.upanh123.com/2017/04/20/13...192017c69d.jpg
中正紀念堂自由廣場前,佛頂尊勝佛母 人繞塔大法會
( http://magicsim.pixnet.net/blog/post...BA%BA%E7%B9%9E )
===========
http://s2.upanh123.com/2017/04/20/183f6a3.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/20/DSC0472665641.jpg
6月16日~18日三天尊勝咒法會 6月19日尊勝佛母藏密護摩
( http://zhong-guan.org/paper/index/11/?&p=4 )
http://s2.upanh123.com/2017/04/20/13...66689e41b1.jpg
中正紀念堂自由廣場前,佛頂尊勝佛母 ��人繞塔大法會
( http://magicsim.pixnet.net/blog/post...BA%BA%E7%B9%9E )
http://s2.upanh123.com/2017/04/20/TB...m_pica9246.jpg
尊勝佛母心咒寶髻如來護生咒二合一 款經旗經幡幡旗結緣經文
( http://iguang.tw/x/taobao/%E5%B0%8A%...BD%9B%E6%AF%8D )
http://s2.upanh123.com/2017/04/21/SD653ea.jpg
CÁC LOẠI CỜ CẦU NGUYỆN TÂY TẠNG
Buddhist Mini Prayer flag with mantra OM MANI PEDEM UM written.
( https://www.etsy.com/market/tibetan_prayer_flag / https://picclick.com/Om-Mani-Padme-H...349023314.html )
==========
Tibetan Stupa adorned with Prayer Flags
The colors of the Tibetan Prayer Flags symbolize the five elements:
blue-wind, white-water, red-fire, green-space and yellow-earth.
FPMT News Around the World
JUN
2 2014
https://fpmt.org/wp-content/uploads/...433.jpg?x33127
http://s2.upanh123.com/2017/04/21/DS...0x47786b34.jpg
( http://fpmt.org/blog/fpmt-community-...world/page/21/ )
Maitreya Instituut Celebrates First Group Water Bowl Retreat
Posted in FPMT News Around the World, Mandala.
Group water bowl retreat participants Inge Eijkhout, Diana Carroll, Ven. Tenzin Chodron, Jaclyn Yip, Annette van Citters, March 2014. Photo courtesy of Maitreya Instituut.
Group water bowl retreat participants Inge Eijkhout, Ven. Tenzin Chodron, Diana Carroll, Jaclyn Yip, Annette van Citters, March 2014. Photo courtesy of Maitreya Instituut.
Long-time student Annette van Citters shares news about the first group water bowl retreat held at Maitreya Instituut Loenen, one of the two thriving FPMT centers in the Netherlands:
Jaclyn Yip, Maitreya Instituut group water bowl retreat, March 2014. Photo courtesy of Maitreya Instituut.
Jaclyn Yip, Maitreya Instituut group water bowl retreat, March 2014. Photo courtesy of Maitreya Instituut.
From February 28 through March 9, Maitreya Institute Loenen hosted its first group water bowl retreat. With just five participants, it was clear from the start that we wouldn’t meet our goal of offering 100,000 bowls, but we are very content to have reached 56,586.
In the very last session, we offered 4,138 bowls on 26 tables and 6 windowsills – a wonderful, colorful and inspiring sight! With an abundance of clean and fresh water, our country seems to be the perfect place for this practice. We hope to be able to make this a yearly event.
We give special thanks to Ven. Tenzin Chodron for her guidance, to Yke Krol and Geney Stans for their loving care, and to Koosje for organizing the Dorje Kadro offering. We also thank everyone else who assisted us during our sessions and to Di Carroll and Jaclyn Yip, who made a special effort to join our group.
Mandala brings you news of Lama Zopa Rinpoche and of activities, teachings and events from over 160 FPMT centers, projects and services around the globe. If you like what you read on Mandala, consider becoming a Friend of FPMT, which supports our work.
Print Friendly
http://s2.upanh123.com/2017/04/21/A5b963.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/21/tablepre4af65.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/21/C35c87.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/21/VB936ba.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/21/IM...0x773c1f87.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/21/XCc99f4.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/21/DCVf8311.jpg
Medicine Buddha Empowerment and Retreat
May 14 and 15, 2016
with Kelsang Rigden
( http://akbc.ca/our-community/ )
和 施饿鬼甘露真言 om a hum jala midam sarva prete bhyah svaha。
http://www.shengmiao.cn/bbs/forum.ph...read&tid=26249
http://s2.upanh123.com/2017/04/23/20...46773025c4.jpg
药师琉璃光王佛是位于我们所在地娑 世界东方净琉璃世界的现在佛,被病 、缺失、不如意等诸多困苦烦恼折磨 的人与药师琉璃光王佛同在,在娑婆 界无病无灾,如意吉祥,此生尽后顺 往生与极乐世界无二无别的东方净琉 璃世界。
( http://www.shijian.org/fo-guang/8324.shtml )
========
http://s2.upanh123.com/2017/04/23/taixungd792f.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/23/40...6fd233f751.jpg
Bhaisajya Guru Tathagatha or Medicine Buddha or Sangye Menlha. Newari version painting.
Regularly Scheduled Practices
8th Day Medicine Buddha Sadhana
On the 8th day of each lunar month, we offer the Namchos Medicine Buddha sadhana, a short Parnashawari/Loma Gyonma sadhana, and Thangtong Gyalpo's famous prayer to end illness and disease.
The Medicine Buddha sadhana we practice is from Mingyur Dorje's Namcho/Sky Dharma cycle of terma. It is a union of both the Sutra and Tantra.
Parnashawari is one of the 21 Taras. She is especially effective for curing disease. She is also the patron Deity of herbal medicine in Tibetan Buddhism. The Parnashawari practice we do comes from Lama Dawa Chodrak.
Thangtong Gyalpo was a great, 15th century Buddhist yogi, physician, blacksmith, architect, and pioneering civil engineer. He is considered a mind emanation of Guru Rinpoche and a reincarnation of Dolpopa Sherab Gyaltshen. Thangtong Gyalpo spoke this prayer in the midst of an epidemic and the epidemic ended.
If the 8th day falls on a weekday, practice is from 6:30 to 8 or 8:30 PM. If it falls on a weekend, it is from 4:30 to 6 or 6:30 PM.
( https://www.bouldervalleyngakpahouse.com/classes/ )
======
http://s2.upanh123.com/2017/04/23/cbh0c712.jpg
( http://topten-online.net/psychicrese...edicine-buddha )
Medicine Buddha
The reason of this post is to understand better the aspect of healing from the buddhist tradition point of view in association with reiki.
The medicine buddha is an aspect of the historical buddha Shakyamuni, and therefore a symbol. As we all know we use symbols on reiki for the purpose of healing, is there in fact a possibility of enhancing our healing process channeling this aspect of energy?. Reki symbols have different qualities. Perhaps this symbols could also share, some new possibilities. Perhaps some buddhas could also help in the healing process?.
Faith is a powerful energy,and only a sith deals in absolutes.
========
http://s2.upanh123.com/2017/04/23/1-...6x6505f67b.jpg
Blue medicine Buddha, Tibetan style
1 Medicine Buddha at Bhikkhuni Dhammananda’s
( http://www.littlebang.org/gallery/we...-dhammanandas/ )
=========
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...B0-Sange-Menla
===========
http://s2.upanh123.com/2017/04/23/ar...uit_1d9967.jpgThis is the fruit of the Arula plant, the plant held in the hand of Medicine Buddha. It is also known as the King of Medicines and is known to have a healing effect when burned. Very limited in quantity, these Arula fruits are sourced from Tibet.
( http://www.vajrasecrets.com/arula-fruit )
ARULA FRUIT
Be the first to review this product
SKU: offArula
Availability: In stock
$35.33
This is the fruit of the Arula plant, the plant held in the hand of Medicine Buddha. It is also known as the King of Medicines and is known to have a healing effect when burned. These Arula fruits are very limited in quantity and are extremely rare as they do not grow often. They are sourced from Tibet.
Directions for Use
Crush and burn with some incense to release healing scent and vapours.
Insert into statues and stupas to increase positive potential and blessings.
Place on the altar as a medicinal offering.
Product Details:
Weight: 5g (0.01 lb)
---------
http://s2.upanh123.com/2017/04/23/xcb46492.jpg
( http://www.vajrasecrets.com/medicine-buddha-puja-fund )
MEDICINE BUDDHA PUJA FUND
8 Review(s) | Add Your Review
Endowed with supreme healing energies, the Medicine Buddha Puja promotes healing on the body, mind and spirit, bringing swift recovery, granting protection from illnesses and disease, and bestowing strength and clarity of the mind.
It is especially beneficial for people in the healing profession and for those seeking doctors, treatment, diagnosis, healing and effective medicine.
SKU: off_puja_medbuddha
Availability: In stock
Price From: $100.00
“May I relieve those afflicted by diseases which destroy life, destroy work, leave families broken, worse suffering and take happiness away.
May I relieve them of their disease and suffering, relieve their inner, outer and secret diseases.
May I stop natural calamities and the diseases or unhappiness arising from that.
May I be the cause of people being freed from suffering.”
The Medicine Buddha made this special wish prior to gaining enlightenment and he now helps us in the capacity of a potent healer, in a world where illnesses are prevalent.
Endowed with supreme healing energies, the Medicine Buddha Puja promotes healing of the body, mind and spirit, bringing swift recovery, granting protection from illnesses and disease, and bestowing strength and clarity of the mind. It is especially beneficial for people in the healing profession and for those seeking doctors, treatment, diagnosis, healing and effective medicine.
Available in Small and Medium puja sizes or on a monthly basis, depending on the scale of the problem.
Benefits
Healing of the body, mind and spirit
Increasing the effectiveness of medicines and medical treatments
Purification of negative body karma
Enhancing the work of those in the healing profession
More Information
The Power of Prayers by H.E. Tsem Rinpoche
* Puja costs are determined by the type and size of the pujas, the extent of offerings required, token monetary offerings for the puja practitioners, and to cover the running costs of the Puja House. To learn more about our pujas, please contact us.
*Pujas will be completed within 14 days after confirmation of payment or from date of receipt of all necessary information, whichever is later.
=======
http://s2.upanh123.com/2017/04/23/011f088.jpg
( http://jackieguerrido.net/store/mala03316.html )
Mala 0315
Medicine Buddha Mala: Lapis Lazuli with faceted Czech crystal. 18" from nape to Guru bead.
All profits from the sale of this mala are for the benefit of Kagyu Shedrup Choling, the Kagyu Tibetan Buddhist Center in Miami, Florida.
Please Contact Us to Buy
Click on images to enlarge
A Tibetan Buddhist uses a mala for almost all practices. Malas are counters, like rosaries, that keep track of the number of mantras chanted or prayers recited. They can be made with any kind of bead – wood or seed or semi-precious gems like jade. Some stones and seeds have particular meanings: Crystal is often used for the practice of the Bodhisattva of Compassion, Chenrezig (Sanskrit: Avalokiteshvara) who holds a crystal mala; lapis lazuli is the color of Medicine Buddha and often used for that practice; green jade or emerald is the color of one of the Taras; and, white pearls or crystal, symbolizing purity, can be used for the Vajrasattva purification practice.
Tibetan malas have 111 beads but if the practitioner has chanted one mantra for every 111 beads, only 100 of those are counted. The extra 10 are done in case of any mistakes made in chanting the 100 and an extra 1 in case a mistake was made in chanting those last 10. So, an extra 10% are done and each malas includes three extra beads more than the usual 108.
These malas were designed and handmade by Lama Karma Chötso, the Resident Teacher of Kagyu Shedrup Chöling, a Center for the study and practice of Tibetan Buddhism in Miami, Florida. They are truly one of a kind as she has no intention of ever making another exactly the same (and never has). Lama chants mantras while making the malas and further blesses them in a ceremony when they are finished.
PayPal Acceptance Mark
Healing Practice Open To All Everywhere : Medicine Buddha Shared ...
newyorkstate.tribe.net › listings › community › other
Jun 13, 2014 - 2) Detailed background on Medicine Buddha and related healing practices .... MAMA BUDHE/ BUDHO TATAME/ UME KUME/ BUDHAKṢE ... VAIḌŪRYA PRATIBHĀSI SARVA PĀPAM KṢAYAM KARI SVĀHĀ/ OṀ BHAIṢAJYA
TUESDAY, MARCH 10, 2009
Raise the Gyaltsen (Gyaltsen Tsemo)
Time to raise the gyaltsen (rGyal.mTsen).
We've all been here before.
Even Indra himself has been here before.
Its true.
I heard that once, Indra was defeated by the king of the demi-gods, and full of fear he ran to Buddha for help. The Buddha told him to recite the Sutra called Powerful Armor Which Is the Summit of the Victory Banner, and thus make himself invulnerable to harm from others.
Of course, today I am not thinking so much about Indra, as I am those poor, bewildered people in Tibet who will die over the course of the next few days in the compound tragedy that is the fiftieth anniversary of the fall of Lhasa.
What is left to give them hope?
What is left to give them courage?
Weeping in sorrow for all sides to this tragedy, those who kill and those who are killed, those who torment and those who are tormented, my heart tells me it is time to raise the Gyaltsen.
It does not matter if your resources are great or small.
You can raise it symbolically, or in concert with flags.
You can raise it at your home altar.
You can (and should) even raise it right now:
(GYALTSEN TSE-MO)
ARYA DHAVAJA AGRAKEYUR NAMADHARANI
Homage to all the Buddhas and Bodhisattvas!
Thus have I heard:
At one time, Shakyamuni was dwelling in Indra's celestial realm of the thirty-three, sitting upon a rock slab as white as wool. At that time, Indra, the king of gods, had become defeated by the demi-gods. Having been completely defeated and frozen with fear, he speedily went to where the Buddha was sitting. He bowed his head to Shakyamuni's feet, and addressed the Buddha as follows:
"Oh Lord, I went into battle against the army of the demi-gods, and I was defeated by the king of the demi-gods, T'hag-Zang. I was completely defeated, as were all the god's armies from the realms of the thirty-three. Oh, Shakyamuni, how can we become victorious now?"
The Buddha answered:
"Indra, king of gods! Recite the Sutra called, Powerful Armor Which Is the Summit of the Victory Banner, which makes one invulnerable to harm from others. Previously, when I was a bodhisattva, I also received this Sutra from the Tathagata Zhengyi Mit'hub Pa'i Gyaltsen. Having received it, I also taught it extensively and perfectly to others. There is no doubt that if you recite this, there is no name of fear. Not even for an instant will you experience fear, timidity, hair-raising fright, or bodily harm."
Indra asked:
"Lord Shayamuni, what is the Sutra of invulnerability called Powerful Armor Which Is the Summit of the Victory Banner?
The Buddha spoke:
TATYAT'HA OM JAYA JAYA VIJAYA VIJAYA JAYA PRAHINI SHANKARI SHANKARI PRABHAD KARE
For I and all sentient beings:
SARVA SHATRUM DZAMBAYA DZAMBAYA SATAMBAYA SATAMBAYA MOHAYA MOHAYA BHAGAVATI JAYAWAHINI MAT'HA MAT'HA PRAMAT'HA PRAMAT'HA GRASA GRASA HASA HASA HUNG HUNG LA HUNG LA HUNG LAMBO DHAREY TRE NRE TRE CHATUR BHAGA DRE CHATUR DAMSHATE CHATUR BHUJE ASI MUSALA CHAKRA TRISHULA VAJRAKA VAJRADHARI
Protect, protect me from all harm!
BHAGA WATI HANA HANA DAHA DAHA PATSA PATSA MAT'HA MAT'HA PRAMAT'HA PRAMAT'HA DHUNA DHUNA VIDHUNA VIDHUNA HUNG HUNG PHAT PHAT BHANJA BHANJA PARA SENAYAM VIDHANASAYA SARVA SHATRUM NASHAYA DWAJA AGRA KERAYURE TITA TITA TITA VHITA VHITA ULAKA MUKHI ULAKA DHARANI TRILOKYA MAT'HANI VIDWAN SAPARA SENAYAN
Protect, protect me from all harm!
TSALA TSALA TSILI TSILI TSULU TSULU KAMPA KAMPA KALA KALA KILI KILI KULU KULU MUNJA MUNJA ATA TAHA SAMA VIDWA NASAYA PARA SENAYAN
Protect, protect me from all harm!
TRASAYA TRASAYA BRAMAYA BRAMAYA BUDDHA SATYENA DHARMA SATYENA SANGHA SATYENA SATYE VATENAM SATYEMA BUDDHA SATYE MATI KRAMA DHARMA SATYE MATI KRAMA SANGHA SATYE MATI KRAMA SATYE VATINAM SATYE MATIKRAMA LAMBHO DHARI LAMBHO DHARI KUTA KUTA KUDTA KUDTA KUDTA KUTA PAYA KUDTA PAYA RUDDRA MANAYA VISHNA MANAYA CHANDRA SURIYA BAMMANA TRE LOKYA ADI PADI MANAYA SARVA DEVA ADHIPAMANAYA SARVA YAKSHA RAKSHASA GANDHARVA KUNBHANDE MAHORA GADHI PATI MANAYA VIDWA NASAYA PARASENAM RANGA RANGA RANGHA PAYA RANGHA PAYA DZALA DZALA PUSHPA MALINI RUNDHA RUNDHA RITI RITI TSITI TSITI DHITI DHITI VRI KUTI MUKHE PARA SENA KULOD SADHANI KARI HALA HALA HILI HILI HULU HULU HE HE RINI RINI RINIMATI DZAMBHA DWAJE SARVA BUDDHA AVALOKITE
Protect, protect me from all fear!
SARVA TAT'HAGATA AVALOKITE SVAHA GUNA RAJA PRABHA SODTA ME SVAHA SURYA ARKA VIMALE SVAHA CHANDRA ARKA VIMALE SVAHA SARVA GRAHA NAKSHASTRA DHEMI KARANE SVAHA
Protect, protect me from all fear, obstacles, contagious diseases and conflicts SVAHA!
"King of gods! By reciting this exalted Sutra, Powerful Armor Which Is the Summit of the Victory Banner, also known as the Mantra Which Makes One Invulnerable to Others, whether engaged in battle, fights, conflicts, or wars, wherever you go, you shall not fear and you shall be victorious. If you attach this Sutra to the peak of a victory banner, or wear it around your neck, you will be protected from every human leader or powerful warrior. The Buddhas and Bodhisattvas will manifest in the form of beautiful ladies in front of you, who will grant you fearlessness and protection. You will become glorious and overwhelm all opposition. You will enjoy continuous fortune, purity, great fame, glory, and prosperity."
Shakyamuni having spoken thus, the world with Indra the king of gods, devas, humans, demi-gods, and ghandharvas rejoiced and praised what the Buddha had said. This completes the Sutra called Powerful Armor Which Is the Summit of the Victory Banner.
http://tibetanaltar.blogspot.com/200...sen-tsemo.html
http://s2.upanh123.com/2017/04/26/02...e696551454.jpg
( https://www.pinterest.com/pin/382524562073849001/ )
This is the fruit of the Arula plant, the plant held in the hand of Medicine Buddha. It is also known as the King of Medicines and is known to have a healing effect when consumed or burned. Very limited in quantity, these arula fruits are sourced from Tibet.
“A” Journey from Madras Through the Countries of Mysore, Canara and ...
https://books.google.com.vn/books?id=_RtaAAAAcAAJ
Francis formerly Buchanan Hamilton - 1807
Between the 10th of January and the 9th of February the fruit is fit for cutting. ... the Myrobalans called Cadugai, which are the fruit of the Myrobalanus Arula ...
Bồ tát có nói tới vấn đề tà nhập trong kinh:
* Trầm Văn Châu là thầy trị thương hàn (*) nổi tiếng chợt đến làm lễ. Bồ Tát hỏi:
- Nếu hàn khí xâm nhập tâm bào thì gọi là bịnh gì?
Ông Trầm đáp: “Gọi là trúng hàn”.
Nhân đó, Bồ Tát dạy đại chúng:
- Các ông chỉ biết hễ hàn khí xâm nhập tâm bào thì gọi là chứng trúng hàn, [chứ chẳng biết] nếu tà xâm nhập (ma nhập) tâm thì gọi là bịnh tổn mạng. Các vị chỉ nghĩ thân bịnh mới là bịnh, lo điều trị; còn cái tâm mắc bịnh nặng thì chẳng cần tìm thầy thuốc giỏi, chẳng cầu diệu dược, mặc lòng chịu khổ chẳng hay biết chi. Ðáng buồn thay!
( Giác Minh Diệu hạnh Bồ )
https://www.facebook.com/thienynhiemmau/
Ý Nghĩa 5 Màu Sắc Trong Phật Giáo Tây Tạng
( https://quangduc.com/a31579/y-nghia-...-giao-tay-tang )
Phật giáo Tây Tạng và Văn vật trong Phật giáo Tây Tạng
1. Tổng quan lịch sử tôn giáo Tây Tạng
Phật giáo có nguồn gốc lâu đời từ Ấn Độ, ra đời vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Lịch sử, truyền thuyết, và nhân loại đều công nhận Phật giáo được khai sáng bởi Đức Phật Thích Ca Mầu Ni (Shakyamuni Buddha). Truyện kể về cuộc đời của Đức Phật từ khi đản sinh cho đến khi lập gia đình là năm 16 tuổi; năm 29 tuổi thái tử Tất Đạt Đa (Siddhārtha) quyết chí xuất gia tu hành tìm đường diệt khổ; đến năm 35 tuổi giác ngộ ra chân lý, đắc đạo và trở thành Phật. Trong suốt 45 năm sau đó Ngài đi thuyết pháp, giáo hóa chúng sinh rồi cuối cùng viên tịch nhập niết bàn vào năm 80 tuổi.
Trong Phật giáo chia ra làm 2 trường phái chính: Phật giáo Đại Thừa và Giáo lý Tiểu Thừa. Tiểu thừa (Hīnayāna) nghĩa là cỗ xe nhỏ. Đặc điểm của giáo lý Tiểu thừa là không đưa ra lí thuyết về Niết bàn, mà lấy sự giác ngộ bản thân làm trọng. Trái lại, phật giáo Đại thừa (Mahāyāna) – tức cỗ xe lớn – thì đa dạng hơn, tập trung vào việc mở đường giác ngộ cho chúng sinh.
Bản thân Đại thừa lại được chia ra nhiều bộ phái khác nhau truyền qua các vùng Tây Tạng, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam. Về mặt thời gian, Đại thừa Phật giáo gồm ba kỳ: Sơ kỳ, Trung kỳ và Vãn kỳ. Phật giáo Tây Tạng là sự khai triển độc đáo của Đại thừa Mật giáo thời Vãn kỳ kết hợp uyển chuyển với những nét văn hoá lâu đời của người bản xứ đã có mặt trước đó trên cao nguyên Thanh – Tạng hàng trăm năm, trải qua quá trình sàng lọc, tôn vinh, và cả những cách tân, biến cải, song song là sự giao thoa liên tục với Phật giáo Nepal và Trung Quốc; đã xây dựng nên một thế giới tâm linh huyền bí, một tinh hoa Phật giáo có lẽ là rực rỡ nhất trong lịch sử nhân loại!
a. Thời Phật giáo Tiền truyền:
Đi ngược dòng thời gian, sử cũ chép chuyện vua Nam Nhật Tùng Tán (hay Luân Tố Tán, Namri Songtsen) – vị vua đời thứ 32 của Tây Tạng – đã xây dựng vương triều Nhã Lung (Yarlung) trong lòng thung lũng Nhã Lung, quân đội của người Tạng khi đó hung mãnh, bách chiến bách thắng. Nhưng phải đến thời con trai ông là vua Tùng Tán Cương Bố (hay Khí Tông Lộng Tán, Songtsen Gampo) (629-650) thì quốc gia Thổ Phồn mới thực sự thống nhất và hùng cường. Sau khi tiêu diệt nước Thổ Cốc Hồn (1 hãn quốc ra đời trong loạn Ngũ Hồ thập lục quốc của Trung Hoa – nay thuộc tỉnh Thanh Hải), ông tiến về phía Đông và bang giao với nhà Đường (nhắm vào thời kỳ vua Đường Thái Tông). Bước ngoặt lịch sử bắt đầu từ đây, vua Đường Thái Tông đem cháu gái của mình là công chúa Văn Thành (Princess Wencheng) gả cho vua Songtsen Gampo. Cùng lúc đó, trong cuộc chiến đánh xuống phía Nam chinh phục nước Ni Bạc Nhĩ (hay Nepal ngày nay), vua kết hôn với công chúa Nepali Ba Lợi Khố Cơ (Princess Bhrikuti Devi). Hai cuộc hôn phối với hai công chúa đều là đệ tử Phật giáo, lại thêm những ảnh hưởng tất yếu đến từ vùng biên ngoại (mà ở đây là Ấn Độ và Trung Quốc), đã hun đúc tinh thần Phật giáo từ từ nhưng mạnh mẽ giữa lòng Tây Tạng – mà khi đó vẫn còn theo quốc giáo cũ Bon.
Vua Songtsen Gampo sau đó cho ban hành Thập Hiền Thiện (mười điều hiền thiện) và Thập lục Yếu (mười sáu yếu luật) lấy Phật giáo làm kim chỉ nam để răn dạy dân chúng. Còn hai hoàng hậu của ông mang theo những tài sản vô giá từ đất nước mình như tượng Phật A Súc Kim Cương, tượng Phật Di Lặc, tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, tượng thái tử Tất Đạt Đa, tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Phật, cùng kinh luận và văn vật khác, kèm theo các Tăng Ni tháp tùng. Có lẽ là nhân duyên hay cũng là định mệnh lịch sử, sự khác nhau về hình thái và triết lý Phật giáo của Ấn Độ – Nepal – Trung Quốc không những không bài trừ nhau mà còn dung hoà, bổ sung cho nhau, tô thắm sắc màu đa dạng của Phật giáo Tây Tạng. Do đó, người ta sau này ghi công khai phá Phật giáo lớn nhất cho vua Tùng Tán Cương Bố, và tất nhiên không thể quên vinh danh hai hoàng hậu của ông. Họ sùng bái hai bà như Đa La Thiên Nữ (Tara), là người mẹ cứu độ chúng sinh (Độ Mẫu nữ tôn của Mật tông): coi công chúa Văn Thành là hoá thân của Thanh Đa La (Green Tara), và công chúa Ba Lợi Khố Cơ là hoá thân của Bạch Đa La (White Tara). Cũng phải để ý rằng, từ đây người dân Tây Tạng không chỉ sùng bái Phật giáo mà còn coi trọng các vị vua của họ ngang với Phật, coi các vị vua và những người nổi tiếng là hoá thân nhiều kiếp của Phật.
(Ảnh vua Songtsen Gampo và hoàng hậu Văn Thành bên phải, hoàng hậu Ba Lợi Khố Cơ bên trái)
Để có nơi thờ cúng và lễ kính Tam Bảo (Tam Bảo bao gồm Phật Bảo Buddha – nơi thờ Phật, Pháp Bảo Dharma – lưu trữ kinh sách giáo pháp, và Tăng Bảo Sangha – nơi học tập tu dưỡng của tăng ni), vua Songtsen Gampo đã lấy vùng Lạp Tát (Lhasa) làm trung tâm và cho dựng hành cung Bố Đạt La (Potala). Đồng thời để có sự phân biệt giữa hai hoàng hậu, vua đã cho xây 2 ngôi chùa: Đại Chiêu Tự (Jokhang Temple) và Tiểu Chiêu Tự. Đại Chiêu Tự dành cho công chúa Văn Thành thờ tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, còn Tiểu Chiêu Tự dành cho công chúa Ba Lợi Khố Cơ thờ đức Đông Phương A Súc Phật (Kim Cương Phật). Nếu bạn đọc hứng thú tìm hiểu sâu hơn nữa có thể tham khảo cuốn truyện Mật mã Tây Tạng của dịch giả Lục Hương vừa ra mắt ở Việt Nam năm 2010, tuy câu chuyện pha màu dã sử hư cấu nhưng ít nhiều đều dựa theo chính sử vùng Thanh – Tạng mà chép lại. Đại Chiêu Tự ngày nay vẫn còn được bảo quản tốt và đón du khách vào tham quan, chỉ có Tiểu Chiêu Tự đã bị huỷ hoại sau Cách mạng văn hoá.
Vua Songsten Gampo mất đi, vương triều Thổ Phồn lại tục truyền thêm 4 đời nữa và tiếp bước khuyếch trương Phật giáo. Đến giai đoạn những năm 680-742, vua Xích Đức Tổ Tán (hay Khí Đãi Xúc Tán, Me Agtsom) lại được vua Đường Trung Tông đem công chúa Kim Thành (Princess Jincheng) gả cho. Kim Thành công chúa cũng là một Phật tử, bà đã mang vào Tây Tạng vô vàn Phật điển và Dược học, Số học của Trung Quốc. Từ đây các tài liệu quý báu này được dần dần dịch ra Tạng văn và lưu truyền rộng rãi. Đặc biệt hơn, con trai bà, mà sau này trở thành vua Xích Tùng Đức Tán (hay Cật Phiêu Song Đề, Trisong Detsen) (755-780) là người có công lớn trong việc đưa Phật giáo lên một tầng hưng thịnh nữa, thoát khỏi vòng suy vong do sự bài xích phe phái cũng như áp lực ngầm của cổ giáo Bon. Sức mạnh quân sự của thời vua Xích Tùng Đức Tán thậm chí còn vượt xa giai đoạn vua Tùng Tán Cương Bố; biên giới Tây Tạng bành trướng ra Thanh Hải, Tứ Xuyên; có lúc quân đội Thổ Phồn còn vây hãm Trường An và đánh sang Ấn Độ. Vua cũng là người cho xây dựng Tu viện Phật giáo đầu tiên ở Tây Tạng: tu viện Tang Diên (Samye Monastery), thuộc địa giới vùng U. Tu viện này được xây trong vòng gần 20 năm, có kiến trúc độc đáo gồm 3 tầng lớn mà tầng 1 theo phong cách người Tạng, tầng 2 xây theo phong cách nhà Đường, và tầng 3 là dựa theo cấu trúc Ấn Độ.
(Samye Monastery)
Một sự kiện quan trọng khác đó là việc vua Xích Tùng Đức Tán khi còn tại vị đã thỉnh được đại sư Liên Hoa Sinh (Padmasambhava) từ Ấn Độ sang Tây Tạng để truyền đạo. Không giống như những người đã từng đi truyền đạo Phật ở Tây Tạng trước đó, đại sư Liên Hoa Sinh đã là người đạt được đại thành tựu (Guru Rinpoche) về Mật tông, hiểu được sự khác biệt của cổ giáo Bon so với Phật giáo: đó là sự tôn sùng quỷ thần và bùa chú của Bon giáo! Ông cùng 25 đệ tử dùng lý luận Phật môn kết hợp với Mật chú hàng phục yêu ma, đem sức mạnh yêu ma biến thành uy lực hộ pháp cho cửa Phật, dần dần như thế đã cảm hoá và dẫn dụ người dân Tây Tạng tình nguyên quy y Tam Bảo Từ đây đánh dấu sự ra đời của tông Ninh Mã (Nyingma Sect) – tông đầu tiên của Phật giáo Tây Tạng mang hoàn toàn bản sắc riêng của mảnh đất cao nguyên này Phái Ning Mã có sắc phục mũ đỏ, nên còn được gọi là Hồng Mạo Giáo; Liên Hoa Sinh được coi là sư tổ của tông phái này. Dấu ấn của phái Ninh Mã rõ ràng nhất ở vùng Kham – phía Đông Tây Tạng, thể hiện ở những tu viện như Lamaling Monastery (thuộc Nyingchi), Tsozong Monastery (trên hồ Basum-tso).
(Lamaling Monastery)
Dòng thời gian lại trôi chảy, đến giai đoạn 818-838, vua Tạng đời thứ 41 là Xích Tổ Đức Tán (Tri Ralpacan) lại xây dựng sức mạnh quân sự của Thổ Phồn đến mức cực thịnh và tiếp tục chiến tranh với nhà Đường. Khiếp sợ uy thế Tạng vương, nhà Đường với nước Thổ Phồn đã đồng ý ký minh thệ Sinh Cửu Liên Minh Bia để thương thuyết hoà bình cho vùng biên cảnh (the Sino-Tibetan treaty); cho lập 3 bia đá khắc lại văn kiện này: một bia giữ ở cửa đền Jokhang trong thành phố Lhasa, một bia giữ ở biên giới 2 nước, và một bia giữ trong kinh thành Trường An (Xian). Đến nay 2 văn bia sau đã mất, chỉ còn lại văn bia trong Lhasa nhưng chữ khắc phần lớn đã mai một không đọc được. Theo bản sao văn bia mà người Anh có ở London, trên bia khắc: “…Dân Phồn thổ an nơi Phồn thổ, Hán tộc trọn vui nơi Đường quốc, ấy là nghiệp lớn của vua hai nước. Đôi bên giữ gìn minh thệ, vĩnh viễn không đổi dời …”. Vua Xích Tổ Đức Tán cũng chính là người cho dịch mới và dịch lại tất cả kinh sách cho nghiêm trang và phù hợp với Tạng văn hơn, chuyển thể tất cả những tinh tuý Phật môn từ tiếng Phạn (Sanskrit) sang tiếng Tạng (Tibetan), từ đó tổng hợp thành Đại Từ Điển Phạn-Tạng (Mahàvyutpaatti) nổi tiếng. Với những cống hiến to lớn ấy, người dân Tây Tạng luôn thờ phụng vua Xích Tổ Đức Tán (Tri Ralpacan) cùng với vua Tùng Tán Cán Bố (Songtsen Gampo) và vua Xích Tùng Đức Tán (Trisong Detsen) là Tam Tạng Vương vĩ đại nhất (three Dharma Kings).
Nhưng phàm ở đời có Sinh có Diệt, có Thịnh có Suy, Phật giáo Tây Tạng chứng kiến những thời khắc huy hoàng trải qua mười mấy đời Tạng vương cũng đến lúc suy vi mà nguyên nhân chính xuất phát từ hình thái xã hội phức tạp của Tây Tạng lúc bấy giờ. Vì Phật giáo được vương triều hoằng trương, kéo theo sự ra đời của Tăng chế và những quy định về Tăng dưỡng (cung phụng chu cấp cho Tăng ni), kế đến là sự gia tăng của Tăng số đã đặt nặng gánh sưu thuế cho người dân. Trong hoàn cảnh đó, vua Xích Tùng Đức Tán bị em trai mình là Lãng Đạt Ma (Langdarma) – 1 người cổ xuý cho giáo pháp Bon – hãm hại. Sau khi lên ngôi, vua Lãng Đạt Ma (839-841) ra tay bức hại Phật giáo, đốt hết kinh sách, tiến hành bài Phật phá Phật trong vòng 5 năm, gần như thiêu huỷ hết những công tích gây dựng được cho Phật giáo bởi các Tạng vương đời trước!
Đến năm 842, vua Lãng Đạt Ma bị nhà sư Kiết Tường Kim Cang (Pelgyi Dorje) nhân màn múa Black Hat Dance bắn tên ám sát. Sau sự kiện đó, Phật giáo không những không được chấn hưng, ngược lại đẩy Tây Tạng rơi vào giai đoạn tranh quyền đoạt vị, nội chiến liên miên, cục diện thống nhất của vương triều Thổ Phồn đến đây coi như chấm dứt, thay vào đó là tình trạng cát cứ kéo dài gần trăm năm.
b. Thời Phật giáo Hậu truyền:
Sau 300 năm từ khi đại sư Liên Hoa Sinh vào Tây Tạng và có công khai tông lập phái cho Ninh Mã; người ta nhắc đến tên tuổi thứ hai: đại sư A Đề Sa (Atisha) đến từ Thiên Trúc, Ấn Độ năm 1042, là người có công chấn hưng Phật giáo lúc đó đang suy vong ở Tây Tạng. Từ đây trở về sau, lịch sử chứng kiến sự ra đời của 3 tông phái lớn còn lại của Tây Tạng mà ít nhiều đều chịu ảnh hưởng trực tiếp từ A Đề Sa.
Phái Ca Nhĩ Cư (Kagyupa Sect) là tông lớn thứ hai của Phật giáo Tây Tạng, tên của phái có nghĩa là dòng khẩu truyền được sáng lập bởi sư Mã Nhĩ Ba (Marpa Lotsawa) (1012-1097), học trò của đại sư A Đề Sa. Học trò chân truyền của Mã Nhĩ Ba là Mật Lặc Nhật Ba (Milarepa) là người rất giỏi thi ca với văn phong sắc diệu, đã thuyết giảng Đại Thừa – Tiểu Thừa – Mật Thừa để giáo hoá dân gian, trở thành người có công lớn trong việc hưng lại Phật giáo Tây Tạng, mà cụ thể ở đây là dòng Ca Nhĩ Cư. Một số thiền viện nổi tiếng của dòng Kagyupa Sect: Tsurphu Monastery (thuộc vùng U), Palpung Monastery (thuộc Tứ Xuyên ngày nay).
Phái Tát Ca (Sakya Sect) là tông lớn thứ ba của Phật giáo Tây Tạng do đại sư Cổn Khúc Già Bảo (Konchog Gyalpo) sáng lập nhằm thế kỷ 11, tương đương với nhà Bắc Tống bên Trung Hoa bấy giờ. Ông cũng cho xây tu viện Tát Ca (Sakya Monastery) nổi tiếng ở Shigatse thuộc vùng Tsang. Con cháu của ông sau này kế nghiệp tổ phụ tiếp tục khuyếch trương giáo pháp, đồng thời lại giữ quan hệ giao hảo với giới chính trị. Chính vì thế mà vào giai đoạn những năm 1260, khi cháu nội của Thành Cát Tư Hãn là Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt dựng cơ đồ Mông Cổ trong quan nội, Tây Tạng đã thần phục theo nhà Nguyên. Đây đánh dấu một mốc lịch sử lớn mà người Tạng từ đó quy thuận theo Trung Hoa, mất dần sự độc lập cường thịnh về chính trị quân sự so với mấy trăm năm trước. Đi cùng với sự cuốn hút của Tát Ca phái theo chính trị là sự tha hoá trong đạo đức và lối sống của các Lạt ma do cậy có nhà Nguyên bảo hộ. Đến khi nhà Nguyên thoái trào cũng là lúc ảnh hưởng của Sakya Sect mai một đi.
Ba tông: Nyingma Sect, Kagyupa Sect, và Sakya Sect do đặc điểm trang phục tương tự nhau, dùng màu hồng đỏ làm trọng, nên thường được gọi chung là Hồng Mạo Giáo. Như vậy là để phân biệt với tông giáo thứ 4, cũng là tông giáo cuối cùng cực thịnh huy hoàng nhất của Phật giáo Tây Tạng, để lại nhiều dấu ấn văn hoá nhất cho đến cả ngày nay; đó là tông Cách Lỗ (Gelugpa Sect) hay còn gọi là Hoàng Mạo Giáo (Yellow Sect).
Phái Cách Lỗ (Gelugpa Sect) được 1 nhà cải cách lỗi lạc Tông Khách Ba (Tsongkhapa) (1357–1419) sáng lập, khi đó nhằm vào thời Vĩnh Lạc Minh Thành Tổ (con trai thứ hai của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương). Xung quanh sự ra đời và tuổi trẻ của Tông Khách Ba có nhiều truyền kỳ và điển tích, người viết sẽ điểm qua trong bài viết ngày cuối khi đi thăm tu viện Taer Monastery ở quê ông thuộc vùng Amdo xưa, nay thuộc Tây Ninh, tỉnh Thanh Hải. Tông Khách Ba vốn xuất thân từ Hồng Giáo, đã tu học qua giáo pháp của cả Kagyupa và Sakya Sect nhưng chú tâm hơn vào chấn chỉnh Phật giáo với mục đích đem các Lạt Ma đã bị thế tục hóa trở về lại đời sống của Tỳ Kheo có đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh. Sự uyên bác về giáo pháp, lại cẩn trọng nghiêm kính chuyên tâm tu học của Tông Khách Ba như thổi luồng gió mới vào Phật giáo Tây Tạng mà các cựu phái chưa có được, đã khích lệ Tăng lữ theo về rất đông. Sử chép trong Đại Tập Hội lần thứ nhất (Monlam Great Prayer Festival) quy tụ gần 12,000 vị Lạt Ma dưới tông Hoàng giáo. Sau này Gelugpa Sect lấy ngày rằm tháng giêng hàng năm làm ngày đại hội nhưng đến giai đoạn thế kỷ 20 đã bị chính quyền Trung Hoa cấm tổ chức.
Theo “Nhập Tạng Báo Cáo” của Ngô Trung Tín viết năm 1940 có ghi rõ những tu viện chủ yếu của Tây Tạng thì Hồng giáo có bảy ngôi, còn Hoàng giáo lên đến sáu mươi hai ngôi; cho thấy các tông phái Tây Tạng, Hoàng giáo tuy đến sau nhưng đứng đầu về số tu viện. Ngày nay những tu viện nổi tiếng nhất mà khách du lịch thường đến thăm đều thuộc Hoàng giáo, ví dụ như: tu viện Cam Đan (Ganden Monastery) ở Lhasa, tu viện Triết Phong (Deprung Monastery) ở Lhasa, tu viện Sắc Nhạ (Sera Monastery) ở Lhasa, tu viện Trát Thập Luân Bố (Tashilhunpo Monastery) ở Shigatse, tu viện Taer (Kumbum Monastery) ở Tây Ninh (Xining). Ở các đại tu viện này đều thờ phụng đại sư Tông Khách Ba, coi ông là đệ nhất tập đại thành, là bậc trí giả đã có thành tựu cải cách và xiển dương phái Cách Lỗ cũng như Phật giáo Tây Tạng.
c. Giai đoạn sau đại sư Tông Khách Ba cho đến ngày nay:
Nên chú ý rằng sau khi vương triều Thổ Phồn diệt vong, Tây Tạng chưa được thống nhất thành 1 chính thể. Phải đến khi Hoàng giáo cường thịnh thì tông này mặc nhiên giữ vai trò quyết định trong cả chính trị và tôn giáo toàn vùng; các triều vua Trung Hoa sau này đều thương thuyết mọi việc quốc gia với tập đoàn đứng đầu Hoàng giáo, coi đó là lãnh đạo tối cao của Tây Tạng – thể chế độc đáo này được gọi là chính-giáo hợp nhất
Lãnh tụ tối cao của Phật giáo Tây Tạng được gọi là Đạt Lai Lạt Ma (Dalai Lama). Danh hiệu này thực ra phải đến năm 1578 vua A Nhĩ Đát Hãn mới ban tặng cho Toả Lãng Gia Mục Thố (Sonam Gyatso) – tương đương với đời Đạt Lai Lạt Ma thứ 3; chữ có nghĩa là đức rộng như biển. Tổng cộng từ năm 1391 đến nay, Tây Tạng đã có tất cả 14 vị Đạt Lai Lạt Ma, từ vị đầu tiên là Căn Đôn Châu Ba (Gendun Drub) – vốn là đại đệ tử của Tông Khách Ba – cho đến vị thứ 14 là Đăng Châu Gia Mục Thố (Tenzin Gyatso); tương đương với các giai đoạn triều Minh, Thanh, và Trung Hoa Dân Quốc. Người Tây Tạng luôn sùng kính Đạt Lai Lạt Ma, coi đây là hiện thân của Phật sống và được đầu thai qua mỗi kiếp.
Đáng chú ý là vào đời Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 La Bốc Tạng Gia Mục Thố (Losang Gyatso), ông đã phong tặng danh hiệu Ban Thiền Lạt Ma (Panchen Lama) cho thầy học của mình La Tang Khúc Kết (Lobsang Choegyal), chữ có nghĩa là đại học giả. Danh hiệu “Ban thiền” ra đời từ đó; Ban Thiền Lạt Ma luôn song hành với Đạt Lai Lạt Ma, trở thành người giữ vị trí quan trọng thứ hai trong xã hội Tây Tạng, có trọng trách đi tìm Đạt Lai Lạt Ma mới và ngược lại! Người Tây Tạng cũng cho rằng Ban Thiền Lạt Ma là dòng tái sinh, sẽ được đầu thai qua nhiều đời. Từ giai đoạn 1358 đến nay đã có tổng cộng 11 vị Ban Thiền Lạt Ma. Giống như Đạt Lai Lạt Ma, Ban Thiền Lạt Ma đều thuộc dòng Hoàng Mạo.
Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 5 cũng là vị đại sư nổi danh nhất và được kính trọng nhất trong cộng đồng Tây Tạng. Ngài cũng là người đã cho trùng tu và mở rộng, xây mới lại cung điện Potala – vốn được xây từ thời vua Tùng Tán Cán Bố (Songtsen Gampo) nhưng đã bị huỷ hoại rất nhiều theo thời gian.
Quay trở lại dòng chảy lịch sử, giai đoạn từ những năm 1391 đến nay, Phật giáo Tây Tạng gần như không chuyển biến nhiều mà là sự duy trì và bảo tồn bản sắc riêng của tông phái Gelugpa vốn đã bén rễ rất sâu vào tín ngưỡng người dân nơi đây. Tuy nhiên, những biến động về mặt chính trị thì quả kinh người! Năm 1652, vua Thuận Trị nhà Thanh vẫn còn giữ quan hệ giao hảo với đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 5; nhưng dần dần mối quan hệ Thanh-Tạng xấu đi. Khi Thanh Triều sụp đổ, năm 1904, nước Anh đưa quân vào chiếm đóng Tây Tạng, biến nơi đây thành xứ bảo hộ thuộc về Đế quốc Anh. Cũng trong giai đoạn này, Trung Quốc nổ ra cuộc chiến Tân Hợi 1911 và liền sau đó là Thế chiến thứ nhất (1914-1918 ) nên đế quốc Anh và Trung Hoa gần như ‘buông tha’ cho Tây Tạng – khi đó nhằm thời Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 – Tây Tạng đứng trước 1 cơ hội lịch sử để lấy lại quyền tự trị và xây dựng chính thể độc lập cho riêng mình! Tiếc thay cơ hội đó không được tận dụng triệt để; Tây Tạng gần như không đủ thời gian để đổi mới và củng cố đất nước mà lý do sâu xa nằm chính trong hình thái xã hội phức tạp của vùng này, kèm theo đó là xích mích quyền lực giữa Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 13 và Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 9! Năm 1933, khi mọi việc còn đang dang dở, Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 13 viên tịch, Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 được tìm thấy vào năm 1940, khi đó Ngài chưa đầy 5 tuổi. 9 năm sau, Trung Hoa Dân Quốc gây chiến và tiến vào Tây Tạng, tuyên bố đây là một vùng không thể tách rời của Trung Quốc; chính thể độc lập còn mong manh chưa thành hình của mảnh đất cao nguyên được cáo chung từ đây. Chỉ vọn vẻn trong hơn 50 năm (1950-2000), Tây Tạng dưới sự trấn áp của chính quyền Trung Quốc chứng kiến những trang tối tăm nhất trong lịch sử nhiều nghìn năm của mình, trong đó có những dòng được viết bằng máu và nước mắt của người Tạng! Năm 1959 nổ ra xung đột ở thủ phủ Lhasa, hàng chục ngàn người Tạng đã bị giết, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 phải rời bỏ Tây Tạng sống lưu vong ở Dharamsala, Ấn Độ. Năm 1961, do những sai lầm về đường lối canh tác nông nghiệp mà Trung Quốc áp đặt lên Tây Tạng, hơn 70,000 người Tạng đã chết đói. Giai đoạn 1967-1976, cơn bão Hồng Vệ Binh (Red Guard) theo chân Cách Mạng Văn Hoá (The Cultural Revolution) sau khi càn quét Trung Quốc đã đổ ập lên Tây Tạng: những di sản văn hoá, tu viện, đền chùa cùng vô vàn Pháp vật quý giá bị đốt phá, cướp bóc, thất lạc, vĩnh viễn biến mất trong lịch sử nhân loại; ước tính gần 200,000 thường dân và tăng ni Phật tử bị bức hại hoặc cầm tù. Chỉ đến giai đoạn sau 1980 thì trật tự mới được lặp lại, Tây Tạng dần chuyển mình sang thời kỳ hiện đại hoá và phát triển đi lên trong vai trò khu tự trị thuộc Trung Quốc; chủ đề Tây Tạng cho đến nay vẫn là vấn đề thời sự nhạy cảm ở các quốc gia.
Đến đây người viết xin dừng phần Tổng quan lịch sử tôn giáo Tây Tạng, hy vọng bạn đọc đã có cái nhìn rõ ràng hơn về những biến chuyển theo thời gian đóng góp vào tiến trình hình thành và phát triển của Phật giáo Tây Tạng. Nói tóm lại, Tây Tạng có một nền văn hoá tín ngưỡng độc đáo lâu đời mà hạt nhân xuyên suốt nhiều thế kỷ chính là nền Phật giáo Đại thừa Mật tông với lý luận mạch lạc khúc chiết và không kém phần thâm sâu, ảo diệu; là minh chứng rõ ràng nhất về tính dung và dị đặc thù của tông giáo; đồng thời bao hàm trong nó là sự vượt trội về giá trị nghệ thuật, văn hoá, và trí tuệ thu hút không chỉ riêng người Tạng mà nhân loại toàn thế giới. Phần viết này tham khảo tư liệu từ các nguồn: Thư Viện Hoa Sen, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, sách Tây Tạng Phật Giáo Sử Lược của Chương Gia, sách Lonely Planet – Tibet (2008 ), sách The Potala (Unesco, 1993).
2. Văn vật trong Phật giáo Tây Tạng:
Phật giáo Tây Tạng cuốn hút với nhân loại không chỉ bởi những tinh hoa pha trộn giữa Đại thừa phái (Mahayana), Mật tông (Tantrayana), và tôn giáo cổ Tây Tạng (với Bon giáo là điển hình) mà còn bởi những văn vật để lại cho đời. Có lẽ không nơi đâu trên trái đất này lại quy tụ đầy đủ và nhiều di chỉ Phật giáo như Tây Tạng, từ đền chùa thành quách đại viện tiểu viện cho đến tượng Phật, kinh sách luật tuyển, cờ phướn; rồi đồ dùng trong lễ bái, tán tụng, cúng dường, trì nghiệm, hộ ma, khuyến đạo … dường như không thống kê nào kể xiết! Trong bài viết ngắn ngủi này, người viết không đủ khả năng và cũng không có tham vọng tổng kết hết những tinh tuý của nơi đây, chỉ muốn dành đôi dòng nhắc đến những văn vật thường gặp trên đường khám phá Tây Tạng
a. Đại kỳ ngũ sắc:
Đi thăm Tây Tạng nói riêng và các quần thể Phật giáo nói chung, du khách hay bắt gặp các cờ phướn 5 màu tung bay trong gió. Nếu để ý kĩ, cờ ngũ sắc Tây Tạng có 5 màu (trắng, đỏ, lục, vàng, lam) hơi khác so với lá cờ Phật giáo (trắng, đỏ, cam, vàng, lam). Một trong các lý do có thể giải thích là: lá cờ Phật giáo chính thức ra đời năm 1889, còn Phật giáo Tây Tạng mà ảnh hưởng bắt nguồn từ Ấn Độ giáo thì đã có từ lâu đời, trải qua thời gian sẽ xuất hiện vài sai khác, tuy nhiên điều này không làm thay đổi ý nghĩa biểu trưng.
Số 5 không chỉ tượng trưng cho Ngũ Hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) tương sinh tương khắc làm nên vạn vật, còn ứng với Ngũ Trí của Mật tông miêu tả về trí của con người (Pháp giới trí, Đại viên kínha trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí, Bình đẳng tác trí), đồng thời hợp với Ngũ Uẩn (Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức) là 5 yếu tố tạo thành thân tâm, và là Ngũ Bộ Chú – nghi thức trì niệm của Mật Giáo (Tịnh Pháp Giới, Văn Thù Nhất Tự Hộ Thân, Lục Tự Đại Minh, Chuẩn Đề Cửu Thánh, và Nhất Tự Kim Luân Phật Đỉnh); nhưng trên hết là biểu thị sức mạnh và sự thống nhất giữa Ngũ Phương và Ngũ Phật:
Ngũ Phật (Five Wisdom Buddhas) có thể coi là biểu hiện siêu việt nhất trong thế gian, các vị này là thầy của các Bồ Tát. Đồng thời, trong mỗi thời đại loài người, các vị lại hoá thân thành Phật lịch sử – có hình dạng người sống trên thế gian. Trong thời đại chúng ta, vị Phật lịch sử đó chính là Phật Thích Ca Mầu Ni (Shakyamuni Buddha), còn vị Phật được tin rằng sẽ xuất hiện trong tương lai (Future Buddha) là Phật Di Lặc (Maitreya Buddha). Vì thế mỗi khi nhắc đến Ngũ Phương Phật, người ta sẽ nhắc đến vị Phật lịch sử và vị Bồ Tát tương ứng:
- Trung ương: Đại Nhật Như Lai (Tathagata); Phật lịch sử là Ca-la-ca-tôn-đại (Krakuccanda) và Phổ Hiền Bồ Tát (Samantabhadra)
- Hướng Đông: Bất Động Như Lai (Aksobhya); Phật lịch sử là Ka-na-ca-mâu-ni (Kanakamuni) và Kim Cương Bồ Tát (Vajrapani)
- Hướng Nam: Bảo Sinh Phật (Ratnasambhava); Phật lịch sử là Ca-diếp (Kasyapa) và Bảo Thủ Bồ Tát (Ratnapani)
- Hướng Tây: Di Đà Phật (Amitabha); Phật lịch sử là Thích-ca-mâu-ni (Shakyamuni) và Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokitesvara)
- Hướng Bắc: Bất Không Thành Tựu Phật (Amoghasiddhi); Phật tương lai là Di-lặc (Maitreya) và Phổ Chùy Thủ Bồ Tát (Vishvapani)
Quan niệm trên chỉ xuất hiện từ khi Đại thừa Phật giáo ra đời, và càng được củng cố bởi Mật tông Tây Tạng, điều đó cho thấy sự khác biệt và phức tạp, bao hàm muôn yếu tố trong Phật giáo Tây Tạng. Đi khắp cao nguyên Thanh-Tạng, du khách sẽ gặp rất nhiều nơi thờ cúng Ngũ Phật cũng như các Phật lịch sử và chư vị Bồ Tát, bên cạnh các vị Tạng vương và Đạt Lai Lạt Ma, Ban Thiền Lạt Ma. Những sự sắp xếp trên luôn có nghiêm luật chặt chẽ mà hiếm có ai hiểu được, thậm chí phần lớn chúng ta không bao giờ hiểu rõ được mà chỉ biết chiêm bái để kính phục trí tuệ, công sức và sự sáng tạo của người xưa!
b. Statues:
Tượng Phật Tây Tạng nổi trội hơn so với bất cứ nơi nào trên thế giới bởi sự đa dạng phong phú về thể loại, mỗi tượng lại xuất xứ từ nhiều nguồn khác nhau (Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc, bản địa), hình thái phong cách dáng ngồi tay ấn nét mặt màu sắc trang phục đều cực kỳ sinh động, toát lên những nét riêng của văn hoá Phật giáo Mật tông huyền bí. Nhìn ngắm mỗi bức tượng Tây Tạng, du khách sẽ bị thu hút bởi đôi mắt Phật không phải lúc nào cũng hiền từ nhìn xuống mà đôi khi mở to nhìn thẳng hay nhắm mắt, tuỳ thuộc theo tư thế thiền định và mỗi dáng ngồi, sau đó là những phù điêu trang trí nhiều tầng bao quanh tượng và cả chân bệ. Người Tạng còn dùng vàng, bạc, đồng, các kim loại quý và ngọc thạch, hổ phách, đá quý … để tô điểm thêm cho tượng, nâng giá trị của các bức tượng lên tầm có một không hai, trở thành tài sản vô giá của dòng Phật giáo nơi đây. Tây Tạng có những bức tượng cá biệt đến vài nghìn năm tuổi được trưng bày bên trong cung Potala. Thường các tu viện lớn và cung Potala đều cấm chụp ảnh nên cách tốt nhất có lẽ là một lần đến Tây Tạng để được chiêm ngưỡng những bảo vật truyền đời nơi đây.
(Tượng Thiên Vương chụp ở Shigatse)
c. Murals:
Murals hay các bích hoạ vẽ trên tường là hình thức nghệ thuật nổi tiếng của Tây Tạng, không chỉ mang tính trang trí làm đẹp với sắc màu cực kỳ sặc sỡ, những bức mural còn biểu hiện đức tin cổ giáo của người Tạng vào trời đất cỏ cây sông hồ núi tuyết, đôi khi là hình thức kể chuyện thuật lại tích cũ việc xưa trong quá trình gây dựng và hoằng trương tông phái, có lúc lại khắc hoạ chân dung những vị Phật, Bồ Tát, La hán, Hộ pháp, Tạng vương cũng như danh sư đạo Phật. Được biết chất liệu để vẽ tranh tường đều dùng nguồn nguyên liệu sẵn có ở mỗi địa phương, qua các công thức pha tạo màu cộng với chất liệu tự nhiên khả năng bảo vệ bức tranh theo thời gian hàng trăm năm mà không phai nhạt hay hư hại gì!
(Bức mural chụp ở Shigatse)
d. Thangkas:
Thangka cũng là các bức tranh Phật giáo bắt nguồn từ Nepal và du nhập vào Tây Tạng từ thời vua Tùng Tán Cương Bố lấy công chúa Nepal Ba Lợi Khố Cơ. Thangka Tây Tạng có thể xem là đỉnh cao của nghệ thuật tượng hình (Iconography) mà đề tài thường gặp là các bức vẽ về cuộc đời Phật Thích Ca Mâu Ni, Pháp luân, Phật Dược Sư, các tư thế toạ thiền, các vị hộ pháp và quỷ thần … Được biết Thangka được vẽ trên vải dệt sợi đay, rồi dùng mật của giống trâu Yawk trộn với bột đá để bồi mặt vải cho mịn, sau đó căng tấm vải đã bồi lên khung gỗ và dùng các loại màu khoáng hay bột vàng để vẽ. Tranh Thangka sau đó được khâu vào khung bằng lụa để dễ dàng cuộn lại, tiện lợi cho việc di chuyển và bảo quản.
Người ta tin rằng Thangka không chỉ cảm nhận được bằng mắt mà còn bằng tâm, việc chiêm bái Thangka một cách trang nghiêm sẽ giúp Phật tử nhập tâm, hoá thân với đối tượng được vẽ trong tranh, cảnh giới này có lẽ chỉ được nội truyền trong các tông phái mà không truyền cho người ngoài. Màu sắc sử dụng trong Thangka cực kỳ sinh động, sặc sỡ và chi tiết tới từng đường nét nhỏ. Chính bởi tính độc đáo của Thangka và ảnh hưởng tín ngưỡng của nó mà người đời sinh ra sùng bái và ham thích sở hữu Thangka, phá vỡ quy luật gốc của tranh là không được trao đổi mua bán! Ngày nay Thangka đã thương mại hoá, việc sao chép, vẽ lại và buôn bán trở nên phổ biến tại thị trường các nước; tuy nhiên vẻ đẹp và sự tinh xảo thì kém xa những Thangka hàng nghìn tuổi của vùng Tây Tạng. Do đó đến Tây Tạng ngắm những bức Thangka cổ đại, người ta vẫn rung động và trân trối bởi nét độc đáo đầy tính Chân Thiện Mỹ toát lên từ mỗi bức tranh.
Trường phái Thangka Tây Tạng nổi bật lên với 2 tên tuổi: Khentse Chenmu School và Menthang School, tác phẩm của 2 trường phái này du khách sẽ bắt gặp nhiều khi đi thăm quan hành cung Potala
Mandala: Mandala cũng là những bức hoạ hình giống như Thangka, điểm khác biệt ở đây là Mandala luôn chú trọng vào các hình vẽ vòng tròn biểu thị cái nhìn của người Tạng về thế giới và vũ trụ, trong đó hoạ hình các đức Phật hay Bồ Tát hoặc những biểu tượng Phật giáo. Điểm độc đáo ở Tây Tạng là có những mandala cỡ lớn và cực lớn bằng cát, có Mandala ba chiều mô phỏng các cung điện, và đặc biệt là các tu viện được xây theo kiến trúc Mandala như tu viện Samye (Samye Monastery) đã có dịp nhắc đến trong phần 1 về Phật giáo Tây Tạng.
(Bức Mandala lớn vẽ trực tiếp trên tường – ảnh chụp ở Shigatse)
e. Stupas:
Stupa (hay Chorten) xây theo dạng hình tháp, được coi như ngôi nhà lưu giữ phần hồn, cũng giống như các pho tượng được xây để lưu giữ phần xác vậy. Ở Tây Tạng, stupas có mặt ở khắp mọi nơi, không chỉ là nơi chứa tro cốt di hài mà còn chứa những vật dụng bình sinh được Đức Phật hay các môn đệ sử dụng; qua đó thể hiện sự tôn kính của người dân đến di thể của Phật.
Stupa thường gặp gồm nhiều tầng: tầng đáy thấp nhất tượng trưng cho 10 điều tâm niệm (Thập tâm hạnh), tầng tiếp theo gồm 4 bậc tượng trưng cho Tứ Diệu Đế (Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế, Đạo Đế) và Tứ Thần Túc (Dục, Tinh, Tâm Quán), phần trên nữa có dạng bầu là biểu hiện của Ngũ Căn (Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn, Huệ căn) và Ngũ Lực (Tín lực, Tấn lực, Niệm lực, Định lực, Huệ lực), phía trên là 13 bậc thang dẫn lên cao tượng trưng cho đường tới cõi Niết bàn chỉ có thể thông qua Bát Chính Đạo, và trên cùng luôn là mặt trăng và mặt trời biểu thị sự minh triết soi sáng mọi vật.
Nổi bật phải kể đến bộ 8 stupa lớn (Eight Great Stupas) kể lại những thành tựu trong cuộc đời tu hành đắc đạo của Phật Thích Ca Mầu Ni; và các Stupa Tomb bằng vàng ròng cực lớn của các đời Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng lưu giữ bên trong cung Potala:
Những chi tiết thú vị khác của văn vật trong Phật giáo Tây Tạng sẽ được nhắc lại khi cùng bạn đọc đi qua những địa danh ở Tây Tạng ở các bài viết tiếp theo.
Lê Minh Hưng - Nguồn: tổng hợp - icouple.sg)
NGHI LỄ PHẬT GIÁO VIỆT NAM XƯA VÀ NAY
THỨ BA, 05 THÁNG TƯ 2011 11:45 E-mail Print PDF
ĐĐ Thích Chánh Đức
Hòa chung với niềm hân hoan nhân ngày Khánh kỵ kỷ niệm lần thứ 60 của nhà sư Nguyệt Chiếu, pháp danh Đạt Bảo, Chư tôn đức Giáo phẩm khắp các Tỉnh Thành hội Phật giáo bạn cùng quý vị danh nhân thân hữu trí thức đã hoan hỷ thân lâm về Hội trường Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu để tham dự Hội thảo Sư Nguyệt Chiếu với sự Nghiệp nhạc lễ cổ truyền Nam bộ do Hòa thượng Thích Huệ Hà - Trưởng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu làm Trưởng Ban tổ chức. Dưới sự chứng minh của Chư tôn giáo phẩm, cùng tham dự của các đại biểu. Chúng tôi xin được trình bày một vài quan điểm về vấn đề Hội thảo có liên quan đến Nhạc Lễ và Nghi Lễ trong Phật giáo Việt Nam.
I.- KHÁI NIỆM :
Từ xưa đến nay, Nghi lễ Phật giáo đã hội nhập, luôn gắn liền với nền văn hóa dân tộc Việt Nam một cách hài hòa như nước với sữa. Trải dài .... ! xuyên suốt qua các thời kỳ lịch sử thăng trầm thịnh suy của đất nước.
Hiện nay, đầu thế kỷ 21 đã mở ra một kỷ nguyên mới của thời đại mới nền khoa học hiện đại tiến bộ vượt bậc, bởi thế nên ngày càng đòi hỏi Phật giáo phải phát huy hết vai trò, chức năng, khả năng, hiệu năng, hiệu dụng sẵn có của mình, trên khắp mọi lĩnh vực, trong cuộc sống xây dựng, bảo vệ phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Nhất là bảo tồn, bảo tàng, bảo trì nâng cao những giá trị ưu việt, những nét đẹp thẩm mỹ “Toàn chơn thiện mỹ” của văn hóa nghệ thuật Phật giáo cả về sắc tướng lẫn tâm linh, để cùng sánh bước song hành với văn hóa nghệ thuật của dân tộc Việt Nam.
Bởi lẽ Nghi lễ Phật giáo trong giai đoạn lịch sử hiện đại, nó bao giờ cũng đóng vai trò rất quan trọng không thể thiếu được, nhất là con người thực hiện Nghi lễ. Hầu góp phần trong sự cấu thành muôn vàn nét đẹp hài hòa cho Phật giáo Việt Nam ngày càng sáng ngời rực rỡ hơn.
II.- NGHI LỄ PHẬT GIÁO VIỆT NAM XƯA VÀ NAY :
Chịu ảnh hưởng từ Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung Hoa, cùng với văn hóa bản địa, Phật giáo Việt Nam có những bản sắc riêng nhất là về mặt Nghi lễ.
Gần đây, do sự nhu cầu thích Nghi thời đại, để tiến đến tương lai thống nhất Nghi lễ Phật giáo Việt Nam. Chúng ta cần phải có cái nhìn chung phác họa về lịch sử Phật giáo Việt Nam trước khi đọc lại trang sử Nghi lễ truyền thống “Tổ Tổ tương truyền, Sư Sư tương kế”. Từ đó chúng ta suy ngẫm về Nghi lễ đề nghị cải cách hiện nay.
III.- BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM :
Nhìn chung, theo sử liệu Việt Nam đạo Phật truyền vào nước ta khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch và vào hạ bán thế kỷ Việt Nam đã có một trung tâm Phật giáo phồn thịnh gắn liền với tên tuổi MÂU - BÁC và tác phẩm LÝ HOẶC LUẬN. Đầu thế kỷ thứ 3 Thiền học khởi đầu bằng KHƯƠNG TĂNG HỘI được coi là vị Tăng có sớm nhất tại Giao Châu và thế kỷ thứ 5 Tục Cao Tăng truyện có nói đến hai vị Tăng là Thiền sư Đạt Ma Đề Bà và Thiền sư Huệ Thắng ở Giao Châu này. Trong khoảng từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 11 Phật giáo nước ta tiếp nhận ba dòng Thiền khá quan trọng đó là Thiền phái TỲ NI ĐA LƯU CHI (Năm 580) , Thiền phái VÔ NGÔN THÔNG (Năm 820) và Thiền phái THẢO ĐƯỜNG (Năm 1069). Ba dòng này chịu ảnh hưởng MẬT TÔNG và TỊNH ĐỘ truyền thừa được nhiều thế hệ cho đến thế kỷ 13 nhập lại thành Thiền phái YÊN TỬ, sau đó thành Thiền phái TRÚC LÂM đặc biệt Việt Nam với tinh thần nhập thế triệt để. Nhưng Phật giáo Trúc Lâm chỉ hưng thịnh đến cuối thế kỷ 14, từ đó nhường lại cho thời đại độc tôn của Nho học thời Lê Mạc.
Đến khoảng giữa thế kỷ 17, trong khi nước ta đang lâm vào tình cảnh Nam - Bắc phân tranh, lúc đó một số đông Thiền sư lánh nạn từ Trung Hoa sang Việt Nam hành đạo. Cũng chính từ đây nguyên nhân để phục hưng Phật giáo nước ta với dòng THIỀN LÂM TẾ CHÁNH TÔNG và dòng THIỀN TÀO ĐỘNG mới du nhập vào Việt Nam thời kỳ này ở bên ngoài lẫn bên trong.
Đến thế kỷ 19 các vua đời nhà Nguyễn như Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức có phần để tâm ý đôi chút để phục hưng đạo Phật nhưng vẫn là đạo Phật trong thời Nho học độc tôn.
Đến năm 1930 Phật giáo Việt Nam trải qua ba lần chấn hưng Phật học :
- Lần thứ nhất năm 1931 tại Nam kỳ
- Lần thứ hai năm 1932 tại Trung kỳ
- Lần thứ ba năm 1935 tại Bắc kỳ.
Cũng từ đó mãi đến nay, Phật giáo Việt Nam liên tục chuyển mình theo đà tiến hóa để thích nghi với từng thời đại.
IV. TƯƠNG LAI THỐNG NHẤT NGHI LỄ PHẬT GIÁO VIỆT NAM:
Với bản sắc văn hóa dân tộc, với khả năng dung nhiếp Nho, Lão học, trong dòng tư tưởng Phật học của mình ngầm chảy nuôi dưỡng đời sống tâm hồn của người dân nước Việt, nổi bậc nhất là vào thời đại Lý Trần, Nghi lễ Phật giáo Việt Nam với truyền thống lâu dài đó, trải qua bao hàng bao thế kỷ, nay đến lúc chúng ta luôn phải đối mặt trước thời đại mới, một thời đại mà thế giới bao la trùng trùng điệp điệp trước kia đang thu nhỏ dần lại, bởi nền văn minh hiện đại thông tin toàn cầu. Nơi đó, không có phép con người dừng lại cục bộ, thích phân biệt.
Vậy, con đường trước mặt của tương lai Nghi lễ Phật giáo Việt Nam là gì ? Đây là một chọn lựa lịch sử để nghỉ và định hướng về tương lai thống nhất Nghi lễ Phật giáo Việt Nam và quyết định, vấn đề thống nhất Nghi lễ chúng ta bắt đầu từ tám điểm chính thời Thỉ Tổ :
1.- THỈ TỔ LÔ SƠN BIỆN HUỆ CHÁNH GIÁC, VIÊN NGỘ PHÁP SƯ HUỆ VIỄN - ĐẠO AN PHÁP SƯ
2.- TỔ TRƯỜNG AN QUANG MINH PHÁP SƯ THIỆN ĐẠO (VÂN THỊ DI ĐÀ HÓA THÂN)
3.- TỔ NAM NHẠC BAN CHU PHÁP SƯ THỪA VIỄN
4.- TỔ TRƯỜNG AN NGŨ HỘI PHÁP SƯ PHÁP CHIẾU (QUANG MINH HẬU THÂN SƯ VIỄN CÔNG)
5.- TỔ TÂN ĐỊNH ĐÀI NGHIÊM PHÁP SƯ THIẾU KHƯƠNG (KHANG)
6.- TỔ VĨNH MINH TRÍ GIÁC PHÁP SƯ DIÊN THỌ
7.- TỔ CHIÊU KHÁNH VIÊN TỊNH PHÁP SƯ TỈNH THƯỜNG
8.- TỔ CHƠN CHÂU TRƯỜNG LÔ THIỀN SƯ TÔNG TÍCH
Từ đó ta làm cơ sở mấu chốt cho việc biên soạn các Nghi thức như là Thiền Môn Yếu Dụng, Thiền Môn Chánh Độ Tăng Viên Tịch, Thiền Môn Chánh Độ Thế Nhơn, trong đó có Nghi cúng tế ma chay. Cao hơn nữa như Trai Đàn Bạt Độ, Dược Sư Thất Châu (KHƯU) , Giải Oan Các Kết, Cầu An Đảo Bệnh, Cầu Siêu Trầm Nịch Thủy Lục v.v...Thực tế chúng ta thấy và nhận định rằng : “Nghi lễ rất bao la”, nó luôn bao gồm nhiều lãnh vực.
Vâng, khi chúng ta nói đến Nghi lễ nền âm nhạc của Phật giáo Việt Nam ngày xưa đã đạt đến một trình độ thánh thiện, điều đó chúng ta có thể tìm thấy qua những tư liệu của các vị Tổ sư để lại. Thế nhưng Lễ nhạc của Phật giáo Việt Nam ngày nay về hình thức lẫn nội dung quả thật đã thua kém các bậc tiền nhân rất xa thăm thẳm. Nó không còn bộc lộ được nét sống tâm linh siêu việt (Không hồn) như lễ nhạc cổ điển ngày xưa. Hơn thế nữa Hán văn không còn được mấy ai chú trọng. Nên mỗi khi đọc thì lại có đọc mà thông hiểu thì chẳng mấy ai ... ! được bao nhiêu.
Ôi ... ! Như vậy, thì làm sao có thể thâm nhập rừng Thiền chân lý ngay khi chúng ta xưng dương tán tụng. Chính vì thế mà vai trò của những người làm công tác Nghi lễ ngày nay cần phải chú tâm biết chuyển hóa như thế nào để vừa có thể duy trì truyền thống cao đẹp của các bậc Thầy Tổ ngày xưa, vừa mang tính chất khế lý và khế cơ của quần chúng ngày nay.
Chúng tôi thiết nghĩ muốn thực hiện được ước vọng hoài bão bấy lâu nay. Tôi cho rằng ngay lúc này hơn hết, thời đến duyên đủ Giáo hội cần phải quan tâm nhiều hơn thế nữa kết tập những người có kiến thức uyên thâm về bộ môn lễ nhạc Nghi lễ Phật giáo ở cả ba miền Nam - Trung - Bắc và luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để sưu tầm, ta luôn khai thác không ngừng và phát huy hiệu quả cho bộ môn nhạc lễ Phật giáo Việt Nam ngày nay trở lại đúng vị trí của nó đã từng có vị trí chủ đạo trong thời quá khứ.
Nói đến Nghi lễ thì không ai mà không trực nhận được, đó là một hình thái nét văn hóa phi vật thể, luôn bao giờ cũng tạo nên nét đẹp đạo đức cho gia đình và xã hội, chứ không đơn thuần chỉ là những Nghi lễ cúng bái tại các Già Lam Phật Tự. Từ khi Đức Thế Tôn thành đạo dưới cội Bồ Đề, Ngài đã trải qua 49 năm trên khắp vạn nẻo đường hoằng dương tế độ, đức Phật đã từng dùng vô số phương tiện giáo hóa độ sanh. Ngài không bị ràng buộc bởi bất cứ một khuôn khổ hay giáo điều nào. Trái lại, Ngài vận dụng giáo lý “Tùy duyên bất biến”. Thấm nhuần tinh thần ấy mà Chư Tổ cũng đã tùy dòng lưu chuyển “Đạo mạch trường lưu” không ngừng của tín ngưỡng tâm linh của quần chúng nhơn gian mà các Ngài đã ứng dụng tùy duyên giáo hóa.
Để tiếp nối truyền thống “Tương tục truyền thừa” phương tiện tùy duyên, đòi hỏi người hành giả thực hành Nghi lễ phải quán triệt sâu sắc giáo lý Phật Đà, triệt để không phô trương hình thức bên ngoài không đúng Chánh Pháp, không đúng hình thức bản sắc dân tộc miền, không khéo người đời cho đó là mấy ông sư cải lương. Từ đó làm cho Nghi lễ Phật giáo trở thành mê tín dị đoan, ảnh hưởng đến nét trong sáng của Nghi lễ Phật giáo Việt Nam. Ta cũng nên đấu tranh loại trừ những hành vi tiêu cực lạm dụng lễ nghi hình tướng quá độ. Vậy, ngay lúc này hơn hết chúng ta cần phát triển nội tâm là điều quan trọng tối ưu, hầu để góp phần xây dựng bảo trì và luôn chỉnh trang nền Nghi lễ Phật giáo đậm đà bản sắc văn hóa Phật giáo Việt Nam và văn hóa dân tộc.
V.- NGHI LỄ PHẬT GIÁO VỚI VĂN HÓA PHI VẬT THỂ :
Nghi lễ Phật giáo cũng có thể gọi là văn hóa Phật giáo :
Có cả hai phần vật thể và phi vật thể :
1)- Phần vật thể : Như Pháp khí, Pháp phục, Tràng phan, Bảo cái, Lọng, Tàng, Bê, Tích ...
a- Pháp khí : Trống Bát Nhã (Đại cổ), trống Đạo (Trống công phu sáng + chiều), trống Bảng (Trống cái), Chuông (Đại hồng chung), Chung (Bảo chúng), Bảng (Bảng bằng đá quý hoặc bằng gỗ) thời xưa gọi là Ngọc Bảng thinh truyền oai âm na bạn, ngày nay Ngọc Bảng không còn nhiều chỉ thấy một trong sự hiếm hoi đó là ở chùa Giác Hoa (Chùa cô Hai Ngó) tọa lạc tại huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu là Ngọc Bảng bằng đá quý vẫn còn nguyên vẹn và đường nét rất tinh xảo.
Chuông (Chuông Gia Trì), Mõ (Mõ Gia Trì) trên chiếc Mõ luôn bao giờ cũng được các nghệ nhân khắc chạm hình trạng con cá hóa long rất tinh vi không kém phần Thiền ý.
Kiền chùy, Kích tử, Tang (Đẩu), Linh, Sử, Ốc Địch, Thủ lư, Thủ xích…
b- Pháp phục : Các loại y, hậu, tọa cụ.
Y pháp ở đây có nhiều loại y :
Y thông thường có từng cấp bậc của hàng xuất gia như :
- Bậc Sa di Tăng và Ni : Là y mạng màu vàng sậm hoại sắc, được cắt rọc ở phần giữa hai mảnh nối lại nhau có một đường thẳng.
Phần thọ mạng của y này nằm ở bên trái có hai bàn Bà và có hai sợi dây để buộc lại với nhau, mỗi khi hành trì Kinh hành, Thọ trì, Tham Thiền Lễ bái.
- Bậc Tỳ kheo Tăng và Ni : Là bậc chúng trung tôn thay mặt Phật nói pháp, lợi lạc nhơn thiên. Do đó, đúng tuổi 20 tướng mạo trang Nghiêm, lúc bấy giờ được dự “Tuyển Phật trường” đăng Tam Đàn Cụ Túc thọ nhận Đại giới.
- Đại y có ba cấp :
1- Y trung :
+ Y Ngũ (Có 5 điều)
+ Y Thất (Có 7 điều)
+ Y Cửu (Có 9 điều).
2- Y Thượng :
+ Y 11 (Có 11 điều)
+ Y 13 (Có 13 điều)
+ Y 15 (Có 15 điều).
3- Y Đại (Gọi Đại y) :
+ Y 19 (Có 19 điều)
+ Y 21 (Có 21 điều)
+ Y 25 (Có 25 điều).
PHẦN HỒNG Y (ĐẠI Y) :
* Miền Bắc : Y Hồng gấm màu đỏ huyết có 9 điều còn gọi là Y cửu (Y thép) không cắt rọc mỗi đường điều, bản to viền màu xanh. Hậu vàng nâu sậm tay dài theo bản địa.
* Miền Trung : Y Hồng gấm Thượng Hải, họa tiết cách điệu rồng và mây, được chọn màu vàng đồng có 25 điều, mỗi điều được cắt rọc, sau đó may gối lại qua những đường kim mối chỉ thật khéo léo. Ao hậu tay dài cũng theo màu y, thường gọi nôm na là “com lê”
* Miền Nam : Y Hồng gấm bông chữ Thọ cách điệu, đệm thêm vào đó hoa lá xen lẫn mây, màu đỏ tươi có 25 điều, mỗi điều là tiêu biểu ruộng phước điền. Y được may cắt rọc giống y miền Trung. Nhưng có khác là hậu, vì chiếc hậu miền Nam là hậu bá nạp màu trắng và đen hòa lẫn nhau từng mảng, mỗi mảng vải được ghép lại thành, mỗi mảnh vải to có hình chữ nhật.
- Màu trắng để nói lên ngày an lành.
- Màu trắng để nói lên đêm an lành.
Như vậy phần biểu trưng nói việc đêm ngày đưộc an lành. An lành ở đây chính là an lành trong các pháp đoạn diệt, trừ vọng niệm.
PHẦN TIÊU CHUẨN PHÁP Y CẤP BẬC :
Gồm có 3 cấp :
1. Từ thọ cụ túc tỳ kheo đến 10 tuổi hạ, thường sử dụng y ngũ, thất và cửu.
2. Từ thọ cụ túc tỳ kheo 10 tuổi hạ đến 20 tuổi hạ, thường sử dụng y 11, 13, 15.
3. Từ thọ cụ túc tỳ kheo 20 tuổi hạ đến 30 tuổi hạ, thường sử dụng y 19, 21, 25.
Riêng Y hồng là để các bậc chư tôn, kỳ túc, trưởng lão hoặc các vị chủ sám đàn sử dụng trong các buổi chứng minh trai lễ, thuyết pháp, pháp sự, trai đàn…
PHẦN THỌ MẠNG PHÁP Y :
- Thọ là thọ nhận, nhận lãnh.
- Mạng là mạng vận, mạng số.
Ở đây muốn nói đến thọ mạng của pháp y mà người xuất gia hành giả tu trì về mặt hình thức là “tướng”, hình tướng ngắn dài mỗi điều của pháp y được lập thành chuẩn hóa bằng hằng số thước đo.
Như vậy, người thợ may y tất nhiên phải biết một số căn bản về quy cách của số đo nhất định. Khi chia khoảng cách của “điều” và tỷ lệ hằng số của lá y. Ví dụ : Mỗi khi chia từng khoảng cách của “điều” rồi, sau đó bắt buộc định vị của miếng “bàn bà” phải ngay khoảng cách điều là “trường”, đó chính là thọ mạng dài “miên trường”. Bằng ngược lại là “đản” không cho phép. Về phần “tánh” là tiềm ẩn bên trong mật ý của các Tổ chỉ dụ trong các pháp “Tánh tướng Phật pháp cập Tăng già, Nhị đế dung thông tam muội ấn”. Phước là hình thức, đức là chỉ nội tâm. Phước đức ở đây chỉ dụ cho sự tu trì của hành giả.
THỂ HIỆN TÍNH TRANG NGHIÊM TRONG ĐÀN TRÀNG PHÁP SỰ
Như Đàn Tràng Dược Sư Thất Châu, để cầu an đảo bệnh, Đàn Giải Oan Bạt Độ để thuyết pháp độ linh, Đàn Chẩn Tế Cô Hồn để bố thí âm linh ... Trong các buổi pháp sự trai đàn, tế lễ. Đặc biệt bao giờ cũng phải có Nhạc lễ và Chủ sám đàn, cũng như Ban Kinh sư đều có mang hia giày, mũ mão y hồng hậu bá nạp và tọa cụ. Trang Nghiêm tự thân cũng chính là trang nghiêm tự tâm. Thân và tâm của Chủ sám đàn và Ban Kinh sư đã tự trang nghiêm tức thì đạo tràng cũng được trang nghiêm. Đạo tràng được trang nghiêm thì việc sử dụng Nghi lễ táng tụng mới có hiệu quả tác dụng về mặt tâm linh.
c- Tràng phan Bảo cái : Để mang tính chất trang nghiêm của Pháp Hội Đạo Tràng và không kém phần uy nghi oai hùng thậm thâm vi diệu của pháp lễ. Do đó ta cần sự chuẩn bị như sau :
* Đàn Dược Sư Thất Châu :
Thiết lập một nhà Đàn, nếu những nơi Già Lam Tự viện chánh điện quá chật hẹp ta nên chuẩn bị một nhà Đàn riêng, tuỳ không gian mặt bằng sẵn có. Sau đó theo thứ tự của một trong bảy Đàn, xung quanh Đàn treo những lá Tràng phan bằng vải kết nối lại nhau, trong đó mỗi lá phan phải có đủ 5 màu sắc ngắn dài tùy theo người thiết kế (Xanh, vàng, đỏ, trắng và cam) cho nên có câu “Ngoại huyền ngũ sắc thể phan, Nội tôn Thánh tượng chi thần”. Mỗi lá phan đều có ghi danh hiệu như (NGOẠI PHAN).
- Thập Nhị Dược Xoa Đại Tướng Phan :
1. Cung Tỳ La Đại Tướng,
2. Phạt Chiếc La Đại Tướng
3. Mê Xí La Đại Tướng
4. An Để La Đại Tướng
5. Nhan Nễ La Đại Tướng
6. Trân Để La Đại Tướng
7. Nhân Đạt La Đại Tướng
8. Ba Di La Đại Tướng
9. Ma Hổ La Đại Tướng
10. Chân Đạt La Đại Tướng
11. Chiêu Lỗ La Đại Tướng
12. Tỳ Yết La Đại Tướng.
- Thập Nhị Nhân Duyên Phan :
1. Vô Minh Nga Nhiên Tâm Hối Muội
2. Hành Nghiệp Nhất Niệm Tâm Phát Động
3. Thức Tánh Diêu (Dao) Động Tâm Liễu Minh
4. Danh Sắc Ngưng Hoạt Tâm Thác Thai
5. Lục Nhập Xuất Thai Tâm Đối Cảnh
6. Xúc Động Trần Cảnh Tâm Trí Giác
7. Thọ Cảnh Thuận Nghịch Tâm Nạp Thọ
8. Ái Khát Vọng Sanh Tâm Tham Mộ
9. Thủ Trước Bất Phóng Tâm Lưu Luyến
10. Hữu Tam Giới Luân Tâm Thường Chuyển
11. Sanh Sanh Thôi Xã Tâm Tương Tục
12. Tử tử bất hưu tâm khổ não.
- Lục Ba La Mật Phan :
1. Nam Mô Bố Thí Ba La Mật
2. Nam Mô Trì Giới Ba La Mật
3. Nam Mô Nhẫn Nhục Ba La Mật
4. Nam Mô Tinh Tấn Ba La Mật
5. Nam Mô Thiền Định Ba La Mật
6. Nam Mô Trí Huệ Ba La Mật
Ngoài ra phía trước nhà Đàn còn có một lá phướng gió, dựng bằng trụ cột cây tre để ngọn cành lá trên đỉnh cây. Trên đầu phướng còn có một Bảo Cái ba cấp hoặc tuỳ lớn nhỏ, trong lòng lá phướng viết bằng chữ Hán như sau:
- Phụng Thỉnh : Pháp Giới Tứ Sanh Lục Đạo Tam Thế Oan Gia Trái Chủ Cừu Thù Chấp Đối Trầm Nịch Trầm Thủy Hà Bá Thủy Quan Vương, Chiến Sĩ Trận Vong, Đồng Bào Tử Nạn, Nhất Thiết Nam Nữ Thập Loại Cô Hồn Hà Sa Đẳng Chúng Tốc Nhập Phan Thần. Bên trong điện Phật còn có Nội Phan :
- Thất Bảo Như Lai Phan :
1. Nam Mô Đa Bảo Như Lai
2. Nam Mô Bảo Thắng Như Lai
3. Nam Mô Diệu Sắc Thân Như Lai
4. Nam Mô Quảng Bác Thân Như Lai
5. Nam Mô Ly Bố Úy Như Lai
6. Nam MÔ CAM LỒ VƯƠNG NHƯ LAI
7. Nam Mô A Di Đà Như Lai.
d. Lọng tàng và Bê tích :
Mỗi khi cuộc lễ hay buổi lễ nào trong ngôi nhà Phật giáo nhất là những khi cung Nghinh Phật tượng, Xá lợi Phật, Thuyết pháp, Cung nghinh, Chư tôn Giáo phẩm ... Chúng ta nhận thấy cũng như cảm nhận ngay trong ấy khá phần trang nghiêm và long trọng. Cho nên trong Phật giáo mỗi khi buổi lễ cung nghinh thường sử dụng Lọng Tràng, Bê Tích và Nhạc Lễ.
- Lọng : Là cây lọng hình thù giống như cây dù nhưng to hơn, cao hơn màu sắc được thêu trên mảnh vải lụa bóng màu vàng.
- Tàng : Giống như cây Lọng vậy, tuy nhiên sự thiêu thùa qua giữa kết nối có phần linh động hơn.
2)- Phần phi vật thể : Phúng tụng, Diễn tấu, Xướng từ, Âm thinh theo từng nhịp diệu, rất phong phú và khúc chiết được chia ra như :
- Tán tụng : Tán là khen ngợi ca dương mười phương ba đời chư Phật, chư Bồ Tát, chư vị Lịch đại Tổ sư. Tụng là đọc qua những câu kinh tiếng kệ, ví dụ : Kinh Pháp Hoa, Kinh Dược Sư, Kinh Hồng Danh ...có khi chúng ta gặp qua những thời kinh Tịnh Độ của các Tòng Lâm còn giữ quy củ “Thiền môn quy tắc”. Ngay khi mở đầu khóa lễ của bài kinh, bao giờ cũng tán bài hương như : Tâm nhiên ngũ phận, Lư hương, Chiên đàn ... Từ đó, chúng ta nhận ra niềm xúc động rung cảm sâu sắc vào tâm thức của từng người thì đó là sự thành công của buổi lễ.
- Xướng vịnh : Là xướng câu kinh kệ, xướng câu xưng dương Tam bảo đảnh lễ mười phương ba đời chư Phật, chư Bồ Tát, chư Long Thần, Bát Bộ Kim Cang cùng chư Hiền Thánh Tăng với giọng xướng lễ trầm hùng, truyền cảm sẽ ảnh hưởng sâu sắc vào tâm khảm của những người xung quanh, lắm khi đưa tiếng cất cao bay bổng này thành vạn lời thăm hỏi những chợ đời còn đang chìm trong bể khổ.
- Thán : Là than, ai oán bi thương đau buồn thê thảm qua những bài văn “Cảm Hoài Tôn Sư”, một khi cất lên qua những làng hơi điêu luyện nhấn nhá của quý Ngài Ban Kinh sư hòa chung giai điệu khúc nhạc du dương ai oán của những người cầm đàn.
- Hô : Là gọi nói cách khác kêu gọi. Ví dụ : “Âm Công Giả Nhập”, vai trò vị Hô này phải là Chủ sám hoặc thầy Duy Na, vị này thường được gọi là Tả Bạch đứng đầu trong Ban Kinh sư (Tứ chúng).
VI.- LỄ NGHI NHẠC LỄ TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM :
Phật giáo Việt Nam có cả kho tàng âm nhạc Nghi lễ ở cả ba miền : Bắc, Trung, Nam cho thấy nền âm nhạc Nghi lễ ở nước ta hết sức phong phú về hình thức đa dạng về chủng loại.
Trên tôn chỉ hoằng pháp độ sanh các Tổ ngày xưa đã biết dùng âm nhạc Nghi lễ làm phương tiện dẫn dụ để tiếp cận nhơn sanh (Quần chúng). “Nhạc dĩ tải đạo” các Ngài đã biết sử dụng âm nhạc để chuyển tải chân lý của đức Phật đến với mọi người nhằm mục đích hướng đến con người về với một đời sống thánh thiện.
a- Nhạc lễ trong Phật giáo :
Là một trong các hình thức nghệ thuật trực tiếp gợi lên cảm xúc và dẫn đến sự đồng cảm. Lễ nhạc được phổ biến rộng rãi trong mọi lĩnh vực sinh hoạt của nhân loại,
1- Ai nhạc : Khiến lòng người buồn thương
2- Hòa nhạc : Khiến tâm người luôn vui vẻ
3- Quân nhạc : Khiến chí người phấn chấn giương cao nghĩa khí
4- Thánh nhạc : Khiến thần người an tĩnh thanh tịnh.
Bởi lẽ âm nhạc không có sự ngăn cách giữa nhân và ngã, âm nhạc là một thứ ngôn ngữ chung của thế giới Trời - Người.
b- Nhạc lễ : Trong Phật giáo, lễ nhạc là một trong sáu món cúng dường:
1- Hương
2- Hoa
3- Đăng
4- Trà
5- Quả
6- Nhạc : Một trong sáu món, nhạc khúc du dương, với âm điệu Thiền vị của Nữ Thiên Tiên (Lục Nữ Tán Hoa). Nhạc Trời mỗi khi nhạc khúc được trỗi lên nó có tác dụng rất lớn đối với sự chuyển hóa nhân tâm. Vì nhạc khúc du dương và giai điệu thanh lịch có khả năng chuyển hóa lòng người. Diễn tấu phạm âm có thể khiến cho các mọi vọng niệm luôn được tiêu tan.
Cho nên khi Đức Thế Tôn còn tại thế, sau những buổi thuyết pháp, lúc bấy giờ chư Thiên thường trỗi nhạc để cúng dường, ca ngợi công đức của Tam bảo. Kể từ đó, âm nhạc đã trở thành một Nghi thức không thể thiếu trong các Pháp hội Phật giáo. Cùng hòa phạm, âm xưng dương tán tụng.
c- Nghi lễ trong Đàn Tràng : thể hiện tính trang nghiêm trong các khoa nghi :
Trước hết nên trang nghiêm Pháp Hội Đạo Tràng, sắp xếp nơi hành lễ. Khi rước Ban Kinh sư và vị chủ Sám (Thầy cả) đứng giữa, hai hàng kinh sư đứng giao diện (Mặt đối mặt) chắp tay (Hiệp chưởng) xá nhau, đứng im lặng để thu nhiếp tam nghiệp (Thân khẩu ý) cho thanh tịnh. Lúc bấy giờ nhạc công cử khởi khai tràng (Khai Diên) tiếp đó nhạc khí Tang Đẩu (Thuận - Nghịch), Linh, Kích tử và Mõ cùng hòa âm cổ nhạc. Như trống bảng (Trống cái) Song lang, Thanh la, Trống đạo, Ốc tiêu sáo bên cạnh hòa lẫn khúc nhạc giai điệu Ngũ Đối Hạ (38 câu) thật du dương, Thiền vị của những cây đàn như là Cò, Kiềm, Bầu, Sáo và Tranh, đúng theo phong cách nhạc cổ Thiền vị giai điệu riêng thang âm qua bài tham lễ (sâm lễ) chỉ có Nghi lễ Phật giáo miền Nam Nam bộ. Qua sự diễn tấu phạm âm độc đáo lẫn hòa nguyện với làn khói hương nghi ngút bay quyện tỏa trên hư không, lại thêm vào đó bằng lời văn khải bạch Dâng Hương cúng dường Tam Bảo (ba ngôi báu) lúc bấy giờ không khí rất trang nghiêm và thanh tịnh, nó sẽ góp phần làm cho những người đến tham dự lể đều khởi tâm hoan hỷ thành kính im lặng “Cung đối Phật tiền, cầu xin sám hối” ngay khi cầu nguyện, đạo tràng tức khắc nghiêm tịnh. Kế đó vị chủ Sám đứng lên nhiếp niệm xướng lên pháp ngữ đảnh lễ mười phương Tam Bảo, với giọng xướng lễ trầm hùng và truyền cảm bằng những câu kệ tán thán công đức mười phương ba đời chư Phật, Thầy là ba cỏi bốn loại, tướng tốt trang nghiêm tuyệt vời v.v...Lời kinh tiếng kệ được diễn tấu thành những nốt nhạc khá du dương, lung linh như khói trầm, uyển chuyển như Tràng Phan, an tỉnh như Định Lực, đôi khi cao vung vút như tợ Núi Tuyết, oai hùng như Pháp cổ Thi La. Tất cả giá trị của nó không chỉ dừng lại ở khía cạnh văn thơ, triết lý mà lại còn phần đúng khá quan trọng trong buổi lễ. Ở đây tôi muốn đề cập đến đó là “PHỦ XÍCH” trước đây ngay cả quý Thầy làm Kinh Sư cũng đều gọi là “Thủ Xích - Thảo Lư”. Xin thưa ! Nếu gọi như thế là không đúng.
Nay xin hiệu đính lại cho đúng, phải gọi là : Phủ Xích , Thủ Lư : PHỦ là vổ, XÍCH là thước. Có bài kệ khai Phủ Xích như sau :
Như Lai nhất chỉ án tam quan
Chư Phật oai linh trấn tịnh đàn
Vi tác nhơn thiên chi pháp lệnh
Tung hoành hàng phục hộ đạo tràng
Nhất trịch Thiên cung khai môn hộ
Nhì trịch Địa phủ tốc khai môn
Tam trịch chúng đẳng hàm thanh tịnh.
Bởi thế là cây thước để đo lường phân định mỗi khi chúng ta làm một điều gì ! Luôn phải hết sức thận trọng cân nhắc cao độ, không để cho sai lệch với nhất định đó là “Khuôn” trong nhà nghề điệu nghiệp chuyên môn gọi là “Khuôn vàng thước ngọc” như vậy ở trong Nghi lễ Phật giáo Việt Nam người hành trì phải biết một cách nhất định để mỗi khi sử dụng cho đúng chỗ và ngay lúc nào ! Phủ xích là pháp lệnh mang tính chất đặc biệt quan trọng tối ưu trong những buổi hành lễ “Pháp sự đạo tràng” trong đó có những buổi thuyết pháp ngày xưa các vị pháp sư thường sử dụng. Ví dụ như khi chuẩn bị để vào đầu câu tán một bài tán nào đó; đều phải có hai tiếng lớn gần nhau của Phủ - Xích “Chát - chát” sau đó nhạc công “Cổ điệu” (Trống đạo) đánh lớp trống dứt tứ “Thờn xà cắc cắc tán cắc cắc thờn (xà) tán xà cà rục xà - chát”. Nếu nói đến người chuyên môn làm Nghi lễ có khoa học nghệ thuật, bắt buộc với một nhất định : Khi giáo bất cứ câu của bài tán nào ...! phải đúng ngay nhịp mỏ chát “Phủ Xích” cuối cùng lớp dứt tứ. Hoặc khi nghe phủ xích vỗ một cái để nhồi câu, nhồi lớp, có khi nhồi lớp sớt phải có một tiếng phủ xích cuối, nhồi ba lớp có tiếng phủ xích ngay lớp trống “Cà - rục” tức lớp trống để ra câu, nhồi 5 lớp tất nhiên có tiếng phủ xích chát (1) ngay điểm cà rục tiếp đến một tiếng phủ xích chát (2) liền gặp nhau tại đầu lớp trống nhồi lớp 1. Như vậy, tôi chỉ nêu ra một trong số khí cụ của những khí cụ có liên quan đến lĩnh vực trong mảng ngành Nghi lễ Phật giáo Việt Nam hết sức phức tạp để trở lại về nguồn mà ngày nay những người đang khát vọng.
THỦ là tay, LƯ là lư hương còn gọi là lô nhang. Thủ Lư là cái lư được làm bằng gỗ ngày xưa các cụ tiền bối Kỳ Túc Trưởng Lão kinh sư đều biết tự làm chạm khắc qua những đường nét rất tinh xảo, sau đó sơn son thiếp vàng, thể loại đa phần là rồng ngậm chân lư hương, vây lá hóa long, sen cách điệu họa tiết vây lá ... Ấy là biểu tượng sức oai hùng bên ngoài của hình thức trang nghiêm mỗi khi hành lễ, nhưng giá trị chính là đạo lực thanh tịnh trang nghiêm của người tu hành.
Nhằm thích nghi với phong tục tập quán, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng và để tồn tại phát triển ở những vùng miền văn hóa có khác nhau “Nghi lễ bất đồng” pháp nghi, pháp lễ, pháp nhạc, pháp khí, ấn pháp và bài bản trong nền Nghi lễ cổ truyền Phật giáo Việt Nam, cần phải được thiết lập nghiêm chỉnh có khoa học nghệ thuật hiện đại, ta nên căn cứ khoa học trên truyền thống cũ. Những thang âm cung thương trầm bổng, giai điệu thức của Thiền gia phải được duy trì vì chư Tổ ngày xưa đã nâng lên thành một pháp môn phương tiện với sự thành lập quy chuẩn hóa cao về mặt thẩm mỹ và nghệ thuật, mà thường được thấy biết dưới danh ngữ pháp môn NGHI LỄ THIỀN GIA, THIỀN MÔN QUY TẮC.
Khi gọi là pháp môn, nghi lễ bấy giờ rõ ràng không chỉ dừng lại ở ý nghĩa phương tiện đưa con người vào đạo mà còn là một pháp môn tu tập đưa đến sự thể nhập chân như bằng sự rung cảm tâm linh. Thật vậy, vì Nghi lễ định tính bởi sự rung cảm, nên Nghi lễ chính là một trong hai con đường đưa đến giải thoát, đó là bằng tư duy để ngộ nhập chân lý và bằng sự rung cảm dọn đường cho một rung cảm trác tuyệt.
Nghiêm là cốt của lễ, hòa là lõi của nhạc. Để lễ được nghiêm thì lễ phải có nghi và để nhạc được hòa thì nhạc phải có điệu. Nghi nghiêm nhạc hòa là hai yếu tố cơ bản định danh nên pháp môn Nghi lễ THIỀN GIA để “Nghi Nghiêm” và “Nhạc Hòa” hay để “Danh” song hành với “Thực” nên có có câu : “LỄ NHẠC HÒA MINH - THÁNH HIỀN VÂN TẬP”.
Bởi vậy, Nghi lễ trong Phật giáo đòi hỏi người hành trì nghi lễ, đối tượng nghi lễ và nội dung nghi lễ phải có một số phẩm chất tối ưu nhất định.
Người hành lễ có thể gồm những người thực hành nghi lễ, người truyền bá nghi lễ và người vừa thực hành vừa truyền bá nghi lễ. Người hành lễ cần hội đủ ít nhất phải có ba phẩm chất sau đây :
1- Có thanh văn tướng trang nghiêm (Âm thinh sắc tướng)
2- Có chiều sâu nhất định (Về mặt tu tập tâm linh - 10 hạ lạp trở lên)
3- Có thẩm quyền về Nghi lễ (Phải thông thạo bản văn nghi thức - Khoa Nghi tán tụng nội - ngoại khoa Hán văn).
Đối tượng nghi lễ ở đây chính là những đối tượng mà nghi lễ phục vụ, hay nói một cách khác hơn là những giới, người có nhu cầu về nghi lễ. Đối tượng nghi lễ, do vậy, hàm một diện rộng trong xã hội bao gồm cả giới xuất gia, tại gia, phật tử và không phải phật tử. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là đối tượng nghi lễ nhất thiết phải có “Thành”, có “Tín” và có “Lễ” có thành tâm, tin tưởng là lễ tắc thì Nghi lễ mới thật sự có ý nghĩa giá trị và hiệu quả tác dụng. Tạo dựng được phẩm tố tối ưu mà tôi đã nêu trên nơi đối tượng, Nghi lễ là trách nhiệm và vai trò của người thực hành truyền bá Nghi lễ.
VII.- NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO :
Như Lễ, Tết Nguyên đán, Lễ Phật đản, Lễ Vu lan, Lễ Tam Ngươn :
- Rằm tháng Giêng (Thượng Ngươn Thiên Quan Tứ Phước),
- Rằm tháng Bảy (Trung ngươn Địa quan xá tội)
- Rằm tháng Mười (Hạ nguơn Thủy quan Giải ách)
- Lễ Tống Thiên (Trừ tịch - Đưa Chư thiên) (Đêm 23 cuối năm ÂL)
- Lễ Nghinh Thiên (Rước Chư Thiên) (Đêm 29 tháng thiếu - 30 tháng đủ ÂL).
Ngoài ra còn những ngày “Sóc Vọng” sám hối hàng tháng của các Già Lam Phật tự quý chư Tôn Hòa thượng hữu công trong Phật giáo v.v...phải được sử dụng những nét nhạc cổ điển truyền thống, ta nên gạn lọc những nét nhạc ngoại lai, có nên chăng cử xướng dòng nhạc này nơi điện Phật trong những buổi lễ truyền thống !!!
1- Nghi lễ truyền thống (cổ truyền)
2- Nghi lễ đại chúng (phổ thông)
* Nghi lễ truyền thống thì nên sử dụng đúng những nét nhạc cổ điển của Phật giáo Việt Nam tùy theo từng miền (Dân tộc). Ngoài những nghi thức trong Thiền Môn Qui cũ bên cạnh đó còn có Trai Đàn Pháp sự - Ứng Phó Đạo Tràng Tế Lễ Ma Chay.
Ngày xưa chư Tổ đã đạt đến đỉnh nhất định, các Ngài đã từng ứng dụng tùy căn cơ của Nhơn quần và Xã hội, nhằm mục đích để cứu độ và giáo hóa chúng sanh. Cho nên khi nói đến Nghi lễ là nói đến những lễ nghi phép tắc hình thức bên ngoài, nhưng nếu xét dưới góc độ Sự Lý Viên Dung thì chính những sự tướng Nghi phong của Nghi lễ đã tạo nên tiền đề cho người học Phật. Ví dụ : Ngày nay chúng ta làm một việc gì có liên quan đến công văn giấy tờ v.v...tất nhiên phải có sự xác minh chứng từ qua những giai đoạn ấn lý của ban ngành, những mối quan hệ tương quan các Tổ ngày xưa lập thành văn tự “Tâm Nang Thiện Bản” đã lưu truyền đến ngày nay. Nhìn lại lịch sử lâu dài hiện diện và phát triển trên quê hương đất nước Việt Nam. Nếu nhìn từ góc độ văn hóa, thì mỗi nghi thức lớn nhỏ là một trong những tố phẩm văn chương cơ bản tạo nên nét đặc trưng nền văn hóa nghi lễ Phật giáo Việt Nam.
Cuối cùng là nội dung nghi lễ, gồm có 2, đó là nghi thức và nhạc lễ. Nghi thức tức là văn bản hay văn chương về nghi lễ, hay còn có thể gọi là “Lễ Văn” ; Nhạc lễ tức là âm nhạc đặc biệt dùng cho tế lễ, hay còn được gọi là “Lễ nhạc”. Vì nội dung Nghi lễ là biểu hiện cụ thể của “thẩm mỹ Phật giáo”, thẩm mỹ giải thoát, nên nghi thức cần phải nghiêm chỉnh, lễ văn cần phải hoàn bị trong đó có Ấn Pháp. Khi nói đến Ấn pháp tức Ấn Chứng Chi Pháp :
- Xuân bán Tuế, khi đóng Ấn Chứng Tam Bảo tại Tuế thứ tức vào mùa xuân ta nên đóng dấu giữa phân nữa của chữ Tuế trở xuống.
- Hạ Bán Thứ, tức vào mùa Hạ ta nên đóng dấu giữa phân nữa của chữ Thứ.
- Thu Trùm, tức vào mùa Thu ta nên đóng trùm cả hai chữ Tuế - Thứ.
- Đông Trạm (Trẹm) tức vào mùa Đông ta nên đóng dưới 2 chữ Tuế - Thứ.
* Nghi lễ đại chúng thì đơn giản hóa, nhưng phải thống nhứt những văn bản Việt ngữ để mọi người dù Nam - Trung hay Bắc, xuất gia hoặc tại gia xướng tụng mà đại chúng vẫn họa theo được.
Tóm lại, Pháp môn Nghi lễ Phật giáo Việt Nam dù xưa hay nay cũng không ngoài ba thành phần : Người hành nghi lễ, Đối tượng nghi lễ, Nội dung nghi lễ.
Tuy mỗi thành phần xác định những phẩm chất riêng biệt. Nhưng ngay lúc này hơn đã đến lúc Tăng, Ni đội ngũ trẻ Phật giáo Việt Nam chúng ta phải bảo tồn những di sản cao quý của Thầy Tổ đừng vì có cái nhìn phiếm diện, tự tôn, cố chấp để đánh mất những giá trị cao quý mà các bậc tiền nhân, kỳ túc, trưởng lão đã dày công xây dựng. Vâng, tôi nghĩ đây cũng chính là những nổi niềm ưu tư, thao thức của tất cả quý vị đang có mặt trong buổi hội thảo hôm nay.
Nguồn : www.phatgiaobaclieu.com
http://www.viengiac.vn/viengiac/inde...g-hp&Itemid=80
开始(祈祷)
于所供奉的释伽牟尼佛像前敬香、礼 ,准备食器,加水加米粒,水是供佛 净水。三拜祈求十方虚空一切菩萨众 慈悲护持施食得以圆满,有缘聚集之 生得大安乐,亦想象此世界今天又有 少可怜众生流离失所丧失性命,发慈 悲心。
(诵发愿文)
普施十方、穷尽虚空、周遍三界、微 刹中、所有国土、一切饿鬼
先亡久远、山川地主、及至旷野、诸 神等、请来集此、我今悲愍
普施汝食、愿汝各各、受我此食、转 供养、尽虚空界、以佛及圣
一切有情、汝与有情、普皆饱满、亦 汝身、乘此咒食、离苦解脱
生天受乐、十方净土、随意游往、发 提心、行菩萨道、当来作佛
永莫退转、前得道者、誓相度脱、又 汝等、昼夜恒常、拥护于我
满我所愿、愿施此食、所生功德、普 回施、法界有情、与诸有情
平等共有、共诸有情、同将此福、尽 回向、真如法界、无上菩提
一切智智、愿速成佛、勿招余果、愿 此法、疾得成佛
(诵:)
若人欲了知,三世一切佛,应观法界 ,一切唯心造 3 次
《破地狱真言》
Om Gharateya Svaha 7次
《召请陀罗尼》
Namo Buputeri Kari Tari Tathagataya 7次
《解冤咒》
Om Samtara Gatha Svaha 7次
(诵:)
南无大方广佛华严经
南无常住十方佛
南无常住十方法
南无常住十方僧
南无本师释伽牟尼佛
南无大悲观世音菩萨
南无冥阳救苦地藏王菩萨
南无启教阿难陀尊者 - “南无华严经”至此;3次
皈依佛、皈依法、皈依僧
皈依佛两足尊,皈依法离欲尊,皈依 众中尊
皈依佛竟、皈依法竟、皈依僧竟 - “皈依佛”至此;3次
[佛子、有情、孤魂] 所造诸恶业,皆由无始贪嗔痴
从身语意之所生,一切[佛子、有情、孤魂] 有情皆忏悔 - 佛子有情孤魂重复; 3次
众生无边誓愿度,烦恼无边誓愿断
法门无量誓愿学,佛道无上誓愿成
自性众生誓愿度,自性烦恼誓愿断
自性法门誓愿学,自性佛道誓愿成 - 3次
《地藏菩萨灭定业真言》
Om Pramardani Svaha 7次
《观音菩萨灭业障真言》
Om Alolik Svaha 7次
(捧起食器,诵)
“汝当善听,我今以此陀罗尼开汝咽 ,施汝清凉柔软快乐,欲令汝等自恣 食甘露美味。”
《开咽喉咒》
Om Buputeri Katari Tathagataya 7次
《三昧耶真言》
Om Samaya Stvam 7次
《变食真言》(取食器于手上,想象 萨加持,化变无量妙食充满虚空)
Namah Sarva Tathagataya Avalokite Sambhara Sambhara Hum 7 次
《甘露真言》(慈悲的清凉甘露遍洒 地法界)
Namah Surupaya Tathagataya Om Suru Suru Prasuru Prasuru Svaha 7次
《一字水轮真言》
Om Vam Vam Vam Vam Vam 7次
《乳海真言》
Namah Samanta Buddhanam Om Vam 7次
(合掌,想象虚空中一切天众菩萨欢喜 持聚集的众生,诵七佛法号)
南无多宝如来
南无宝胜如来
南无妙色身如来
南无广博身如来
南无离怖畏如来
南无甘露王如来
南无阿弥陀如来 - 五佛法号 3 次 或发心更多
神咒加持 [净法食、法施食、甘露水]
普施何沙众 [佛子、有情、孤魂]
愿皆饱满舍坚贪
速脱幽冥生净土
皈依三宝发菩提
究竟得成无上道
功德无边尽未来
一切[佛子、有情、孤魂] 同法食 - 佛子有情孤魂连续诵,共3次
《在此我施食 水米倒在施食小台内》
汝等[佛子、有情、孤魂]众,我今施汝供
此食遍十方,一切[佛子、有情、孤魂] 共
愿以此功德,普及于一切
施食与[佛子、有情、孤魂] ,皆共成佛道 - 同样佛子有情孤魂 3次
合掌诵《施无遮食真言》
Om Munilin Svaha 7次
《普供养真言》
Om Gagana Sambhava Vajra Hoh 7次
《心经》
观自在菩萨。行深般若波罗蜜多时。 见五蕴皆空。度一切苦厄。舍利子。 不异空。空不异色。色即是空。空即 是色。受想行识。亦复如是。舍利子 是诸法空相。不生不灭。不垢不净。 增不减。是故空中无色。无受想行识 。无眼耳鼻舌身意。无色声香味触法 无眼界。乃至无意识界。无无明。亦 无明尽。乃至无老死。亦无老死尽。 无苦集灭道。无智亦无得。以无所得 。菩提萨埵。依般若波罗蜜多故。心 罣碍。无罣碍故。无有恐怖。远离颠 倒梦想。究竟涅盘。三世诸佛。依般 波罗蜜多故。得阿耨多罗三藐三菩提 故知般若波罗蜜多。是大神呪。是大 明呪。是无上呪。是无等等呪。能除 切苦。真实不虚。故说般若波罗蜜多 即说呪曰
揭谛揭谛 波罗揭谛 波罗僧揭 菩提萨婆诃
《往生咒》
Namo Amitabaya Tathagataya Tadyata
Amrto-Bhave Amrta-Siddhambhave
Amrta-Vikrante Amrta-Vikranta
Gamini Gagana Kirte Kare Svaha -7次
《合掌诵:》
南无西方极乐世界大慈大悲阿弥陀佛
南无观世音菩萨
南无大势至菩萨
南无清净大海众菩萨 - 跪拜叩头,3次
《普贤警众偈》
是日已过 命亦随减 如鱼少水 斯有何乐
大众当勤精进 如救头然 但念无常 慎勿放逸
《三皈依》
自皈依佛 当愿众生 体解大道 发无上心
自皈依法 当愿众生 深入经藏 智慧如海
自皈依僧 当愿众生 统理大众 一切无碍
南无大悲观世音菩萨 7次
南无迦蓝圣众菩萨 7次
南无十方护法藏菩萨摩诃萨 7次
《观音赞》
观音大士 悉号圆通
十二大愿誓弘深 苦海度迷津
救苦寻声 无刹不现身
南无施无畏菩萨摩诃萨
摩诃般若般罗蜜
《阿弥陀佛赞》
四生登于宝地
三有托化莲池
河沙饿鬼证三贤
万类有情登十地
阿弥陀佛身金色 相好光明无等伦
白毫宛转五须弥 绀目澄清四大海
光中化佛无数亿 化菩萨众亦无边
四十八愿度众生 九品咸令登彼岸
《总结祈愿》
南无佛陀耶,南无达摩耶,南无僧伽 ,弟子今诚心施食六趣饿鬼有情众生 愿大慈大悲救苦救难观世音菩萨及一 切龙天善神、护法金刚、天女眾、空 母以威神加哀护助,护佑此施食圆满 碍,愿有缘聚集我所之佛子、有情、 孤魂皈依圣三宝永不退转,愿以此功 普及于一切,施者受食者皆共成佛道
《大明咒、阿弥陀佛圣号》
唵嘛呢呗美吽 、南无阿弥陀佛(次数随意)
(跪拜释伽牟尼世尊佛像完结施食)
http://www.shengmiao.cn/bbs/forum.ph...hread&tid=9360
http://s2.upanh123.com/2017/04/30/TB...0x600dc407.png
http://s2.upanh123.com/2017/04/30/hjuef806.png
http://s2.upanh123.com/2017/04/30/vb433b5.png
http://s2.upanh123.com/2017/04/30/bnm16496.png
http://s2.upanh123.com/2017/04/30/vcx3c5a2.png
http://s2.upanh123.com/2017/04/30/dfgf6938.png
九五大自在
( https://www.taobao.com/product/%E4%B...A%E5%9C%A8.htm / https://www.google.com.vn/search?q=%...miYvap&imgrc=_ )
==========
莲师除障甘露
莲花生大士,是阿弥陀佛、观世音菩 、释迦牟尼如来,身口意三密之金刚 化身。很多经典中记载,释迦佛在世 时就授记过以后为莲花生大士的应世
西藏寺庙 莲花生大士除障甘露效用
莲花生大士除障甘露可以消除灾难、 寿、去除魔难等等殊盛功德。
***莲花生大士除障甘露可供養於家中 或神台***
有意供请人士請來電93638397
Please sms, call 93638397 or mail lamyuanfatt@hotmail.com
Posted by 藍閣風水命理藝術中心 at 10:55 AM
時輪金鋼沙
時輪金鋼沙效用
可以消除灾难护持身心安康
***時輪金鋼沙可供養於家中佛或神台** *
有意供请人士請來電93638397
Please sms, call 93638397 or mail lamyuanfatt@hotmail.com
Posted by 藍閣風水命理藝術中心 at 10:47 AM
獅面空行母甘露
藏傳佛教中的噶舉派、格魯派、薩迦 和寧瑪派四大派別都 尊崇獅面空行母。她原始法身為,般 佛母,報身為金剛亥母,而化身即是 面空行母,她是噶舉派祖師「米拉日 巴大師」的主護法。
據說,她也是寧瑪派祖師「蓮花生大 」的上師、本尊和護法。
獅面空行母不是一般的除障本尊,而 特別具有威力的,特別是對降伏邪術 道十分靈驗。
獅面空行母也治一切時難、兵禍、瘟 、天災、水旱、饑荒等
西藏寺庙 獅面空行母甘露效用
可以消除灾难特別是對降伏邪術外道 分靈驗
***獅面空行母甘露可供養於家中佛或 台***
有意供请人士請來電93638397
Please sms, call 93638397 or mail lamyuanfatt@hotmail.com
Posted by 藍閣風水命理藝術中心 at 10:43 AM
药师佛除障甘露
药师琉璃光如来,梵名鞞杀社窭噜, 称药师佛,又作药师如来、药师琉璃 如来、大医王佛、医王善逝、十二愿 王。是东方净琉璃国的教主。他与本 释迦牟尼佛、阿弥陀佛为"横三世"亦 三宝佛,于东方净琉璃光净土,为大 王佛,具法身佛相,身蓝琉璃宝色, 右手持药珂子连枝带叶,左手定印托 ,钵中蓄满甘露,着三法衣,双定跏 安住莲华上。
此佛在行菩萨道时,曾发十二大愿, 为众生解除疾苦,使具足诸根,导入 脱,故依此愿而成佛,住净琉璃世界 ,其国土庄严如极乐国。其中第七愿 愿成佛时,若诸有情,众病逼切,无 无归,无医无药,无亲无家,贫穷多 苦,一闻其名号,众病悉除,身心安 ,家属资具,悉皆丰足乃至成佛,所 称为药师。又第二愿,愿成佛时,身 如琉璃,内外明彻,净无瑕秽,光明 大,过于日月,所以称为琉璃光。
西藏寺庙 药师佛除障甘露效用
可以消除灾难、去病却苦、护持身心 康、得无量福慧
***药师佛除障甘露效用可供養於家中 或神台***
有意供请人士請來電93638397
Please sms, call 93638397 or mail lamyuanfatt@hotmail.com
Posted by 藍閣風水命理藝術中心 at 10:37 AM
叶衣佛母
叶衣佛母(Parnashavari)
叶衣佛母又称严穴叶衣佛母、山林叶 佛母、叶绿佛母,是密乘莲花部部主 明妃。以其所居为深山大丛林,以树 叶及孔雀尾翎为裙,故而得名。
叶衣佛母,身黄色,三面六臂,各具 目,头发挽成三髻,戴五佛冠,身佩 宝饰璎珞,以树叶为衣裙,右足内蜷 ,左足伸,以菩萨如意坐姿安住于莲 月轮上。
主要为对治一切病灾瘟疫、传染病、 疮、诸毒、癌症等,以及为医药所难 之种种不知名病症,其形相特质与中 国古老传说之神农氏有些类似。此尊 有息灾、增益、怀爱等特性,并对时 末法时期所产生之种种药石罔效之病 ,有特别殊胜的功效。
叶衣佛母甘露效用
主要为对治一切病灾瘟疫、传染病、 疮、诸毒、癌症等,以及为医药所难 之种种不知名病症
***叶衣佛母加持甘露可供養於家中佛 神台***
有意供请人士請來電93638397
Please sms, call 93638397 or mail lamyuanfatt@hotmail.com
Posted by 藍閣風水命理藝術中心 at 10:35 AM
珍贵的大宝法王第五世(再生)黑药丸
珍贵的大宝法王第五世(再生)黑药丸效 用
大宝法王第五世(再生)黑药丸可以消业 障,增福报
*大宝法王第五世(再生)黑药丸可供養 家中佛或神台*
有意供请人士請來電93638397
Please sms, call 93638397 or mail lamyuanfatt@hotmail.com
Posted by 藍閣風水命理藝術中心 at 10:30 AM
乃穷加持米
乃穷护法加持米
西藏乃穷寺院加持做法一年
乃穷加持米可以消除灾难、护持身心 康
***乃穷护法加持米可供養於家中佛或 台***
有意供请人士請來電93638397
Please sms, call 93638397 or mail lamyuanfatt@hotmail.com
乃穷寺,全称“乃穷扎央林”,简称 乃穷贡巴”,即“乃穷寺”,民间称 乃穷角”。在拉萨市区内,位于拉萨 西郊约10公里的根培乌孜山南麓,距哲 蚌寺约1公里。
乃穷寺建于7世纪,是西藏宗教中最大 世间护法神白哈尔的代言神巫乃穷护 法神居住的寺庙。关于寺庙的来历在 文文献中有几种不同的说法:其一是 白哈尔是乌仗那地方神,后将其居处 移到了裕固境内巴达霍尔的寺庙,当 人把白哈尔作为霍尔部落的保护神。 耶寺建成后,莲花生大师根据念钦山 神的建议,从霍尔迎请哈尔做了桑耶 的保护神,居于白嘎岭。据说白哈尔 桑耶寺度过了七百年,后来搬到了拉 萨河南岸的噶举派寺庙贡塘寺。在贡 寺期间,白哈尔与寺庙住持祥喇嘛( 喇嘛祥蔡巴)不和。祥喇嘛就在建寺 时指使画工不要在寺庙壁画上画白哈 的画像。白哈尔对此非常愤怒,于是 变成一个帮画工干活的小帮手,深受 画工喜爱。壁画快完成时,画工部小 手有何要求?小帮手要求画工在壁画 的任何一个位置画上一只手持燃香的 猴子。深夜,白哈尔变成了壁画中的 子,用燃香将寺庙付之一炬。祥喇嘛 此很生气,设计用十字网纹灵器将白 哈尔捕获,装进木箱抛入吉曲(拉萨 )。木箱顺水流经哲蚌寺时,被一名 嘛捞出。这位喇嘛十分好奇,掀开箱 盖瞧了瞧,白哈尔趁此变成了一只白 的鸽子飞到附近的一棵桦树上消失了 后人绕树建寺,称“乃穷寺”。从那 以后,白哈尔就一直证明自己住在乃 寺,有自己的代言神巫,这位神巫后 第五世达赖喇嘛阿旺•罗桑嘉措(161 7~1682)指派为噶厦政府的宣谕神。其 二是说第五世达赖在哲蚌寺看见囚禁 哈尔的木箱漂在拉萨河上,他令哲蚌 德阳经院的堪布从水中捞出木箱,并 告诉他不准打开,堪布把木箱迎回寺 的途中,出于好奇掀开一条缝隙,就 那一霎时,从箱中冰出一只鸽子落到 一棵古树上。达赖喇嘛得后对堪布严 斥责,然后下令绕树建寺,取名“乃 寺”。其三是说白哈尔之所以被移到 哲蚌寺是履行他对宗喀巴的大弟子绛 却吉扎西(1379~1449)曾经许下的诺 。据说这位护法神曾在始建哲蚌寺时 证他将保护这座大寺院。于是,修建 了乃穷寺。其四是说从桑耶寺迁到拉 贡塘寺的不是白哈尔本神,而是他的 身“主臣”金刚称护法。这位金刚称 护法很早就想成为贡塘寺里重要而显 的护法神,为了证明他在贡塘寺,便 众僧面前显现各种幻像。然而,寺僧 们不喜欢这位招惹麻烦的护法神,称 为“恶鬼”。最后,僧人们就以禳邪 法强行使他进入木箱内抛入拉萨河。 木箱被一喇嘛从河从中捞出背到哲蚌 。开箱后,金刚称护法就从箱中逃出 到一棵古树上消失了,后绕树建寺称 “乃穷寺”。不久,白哈尔应乃穷寺 其五是说蔡公堂地方的一位居民曾像 人一样被装进了木箱,投入拉萨河, 箱子被哲蚌寺的喇嘛从河中捞出。打 木箱后,从里面冲出一道火焰消失在 近一棵古树上;同时躺在箱底之人也 恢复了知觉,被人反映进了哲蚌寺。 来,绕树建寺称“乃穷寺”,那人也 了乃穷寺的第一位白哈尔代言神。
据藏文史书记载:白哈尔亦被称为“ 神大王乃穷”,是王系魔神的首领。 教徒称其为“象雄护法神”。至于白 哈尔的形貌,藏文文献中是这样记述 :“协松多吉米沃且(白哈尔)三头 臂,各有白、天蓝和红色的面孔一个 ,三只右手持铁钩、箭和剑;三只左 持刀、弓和杖。身穿白丝上衣,用人 、虎皮做围腰。头戴类似于草帽的藤 帽;骑白狮,由门普布查牵引。陪伴 神是阿曲玛,派遣寒鸦做他的使臣。
乃穷寺布局呈长方形,前部回廓院约 整个面积的三分之一强,古殿占三分 二。寺庙的前方和东侧为僧舍,故僧 人出入经东门,东门两侧各有一小石 。进入东门便是回廓院,面积约50平 米。院内青石板铺地,中央立一座汉 碑顶的无字碑。碑两侧有煨香炉。回 廊院南门是一扇小门,终年紧闭。据 金刚具力神(1我吉秀丹)一直在南门 等待着他成为主护法神的一天。届时 白哈尔将成为出世间护法神升入天界 且由多吉秀丹继任白哈尔作为世间护 法神的主神。据史书记载:金刚具力 常被称作“战神大王”或“命主”, 第五世达赖在位期间由哲蚌寺一位高 僧索南扎巴的精魂演变而成的护法神 回廓院西门西北约20米处建有3座土石 龛:中央神龛供奉白哈尔,西侧神龛 供奉金刚具力神,东侧神龛供奉载乌 保(亦称“红夜叉护法神”,是所有 系神魔的首领。他继白哈尔之后担任 了桑耶寺的主护法神,他的代言神巫 是噶厦咨请的宣谕神,居住在桑耶寺 载乌玛觉乌康)。中央和西侧的神龛 为白色,东侧神龛为红色。为了阴挡 崇恶力进入寺庙,西门门廓的顶棚上 满了铁制的箭镞,过去这里曾悬挂着 很多野兽的头骨。
乃穷寺正门前有两尊汉地造型的石狮 拾级而上是双排8柱的檐廓。正门两侧 的墙上分别绘有白哈尔和多吉秀丹护 神像。由正门进入主殿,主殿正厅被 排大柱自然分割成几条通道,中间通 道靠柱铺有卡垫和藏桌,供僧人诵经 沿主殿四周各有配殿数个,其中最著 的是位于主殿西北角的白哈尔殿。殿 内有白哈尔变成白鸽栖落的古树,但 在只能看见用哈达包裹的一截树干。 树左侧为供有武士的装束的白哈尔神 龛,神龛左侧为莲花生大师像。主殿 北的大殿是乃穷寺最神圣的地方,称 乃穷法王殿”,殿中安放着包银雕花 的法座,座位上安放着乃穷神巫降神 所穿用的法衣和头盔,座前放着神巫 靴子。主殿的东北角为护法神殿,内 供一般说来丹玛索杰姆(班丹拉姆的 一化身)和尼玛旬努女神像。据史书 载:本世纪初(指20世纪)乃穷寺非 兴盛,寺庙专门有藏宝的库房;寺庙 装饰华丽;寺周围有林卡,林卡中养 豹子和其他猛兽。寺庙有比丘101名, 穷法王卸位后即从中挑选继位神巫。 整座寺庙精致、小巧、肃穆、庄严, 色的墙体掩映在蓝天、绿树和灰褐色 岩石之中。
乃穷寺的壁画艺术除古格王朝壁画、 居寺壁画之外是最具特色的,遍绘于 殿及廊院四壁,绘于17世纪中叶。从 格看,乃穷寺壁画是一个时代艺术风 格的集中体现。它与布达拉宫、大昭 等寺庙壁画在描绘题材、画面构图、 色、人物造型等方面都有所差别。因 寺庙的性质特殊,壁画所描绘的主要 白哈尔和他的化身及其伴神,还重点 绘了众生因前世所做恶业而在地狱所 受惩罚的场景。画面内容相对独立, 有西藏传统壁画中常见情节壁画。因 有情节,画面背景与装饰较少,画中 人物所占比例较大,显得构图饱满。 景多用冷色和金色、黑紫色,色调浑 辉煌,绘制手法交替使用单线平涂和 晕染法,并用与主体相近略深的色彩 勒形体。从造型看,由于受到中原汉 、印度和中亚蒙古游牧艺术的共同影 响,乃穷寺壁画完美地表现了诸神的 点。如:壁画中戴头盔、穿铠甲、持 器、骑骏马的武士,最初出现在西藏 艺术造像中是13世纪,到17至18世纪初 臻完美,这种造型明显带有中亚蒙古 牧艺术的风格;而密宗造像则受到印 度艺术风格的影响;汉地艺术与邻国 泊尔、克什米尔的影响集中地表现在 人造像及饰物方面:清前期人物的服 饰、汉地图案龙的造型等等,是西藏 贵的壁画艺术遗产。
珍贵的大宝法王黑药丸
噶玛噶举教派神秘的“黑药丸”(2008-04-20 08:31:57)
Extract from http://blog.sina.com.cn/s/blog_474d8b71010006k7.html
分类:佛教常识
黑药丸是大宝法王很重要的一项佛行 业。藏传佛教的各教系,都有甘露丸 长寿丸、修各本尊法时制做的加持丸 ,而噶玛噶举传承中最珍贵的就是黑 丸。珍贵的黑药丸黑药丸是佛教金刚 中最珍贵的圣乐,可以说是相当有福 报者才可获得。黑药丸的珍贵材料
制作黑药丸是大宝法王从最好的喇嘛 挑选几位来,共同以糙粑和一种烤大 的面粉再加上释迦牟尼佛 ( 第四位佛陀 ) 、迦叶佛 ( 第三位佛陀 ) 、第一世大宝法王杜松虔巴、第七世 宝法王邱札嘉措以及若干印度及西藏 成就者之舍利,还有又加上一种名为 「阿鲁」的药草,还有些珍贵药材与 世珍宝;最特别的还有一碗狮子的乳 ;与密勒日巴为马尔巴建造房子时所 用的斧头一起在水中熬煮而制成,再 上制做时数百万的持咒与净化。
这一碗狮子的乳汁相传是噶玛巴用神 变现出一只狮子取乳汁,狮子死后皮 收藏在噶玛巴西所铸造放置在西藏楚 布寺中的大释迦佛像中;乳汁舀了一 起来作药后,会自己再增生出来,永 不会干掉。当中共军队破坏这一尊大 佛时,传说中藏在大佛中的佛舍利子 阿难尊者的钵、狮子皮等传说中的圣 都被找出来。
据知在制造黑药丸的那一天,喇嘛们 很细心地洗净他们的脸、身体及手。 佛坛中,在许多供品中央供奉第八世 大宝法王密觉多杰的圣像,这一尊像 密觉多杰自己用七种宝石制成,其主 者为大理石。不用任何工具,密觉多 杰将其奇迹般地制成他本身之完全复 品,并宣布此像即是他的代表。喇嘛 坐在石像之前念诵噶举传承启请文, 再由这些最有成就的喇嘛们使自己的 口意与上师之身口意合而为一。密觉 杰的托钵也放在石像而干净的布上。 启请文诵毕之后,由喇嘛们之首席将 球分给每位喇嘛。然后再继续不断诵 噶玛巴千诺」,祈求大宝法王之加持 ,也一面将上述之圣物经由大宝法王 指示共同制成黑药丸。
药丸做完之后,放在一个大钵中。因 药丸很小,可能只填满钵的一半容量 度。接着此钵即以第八世大宝法王之 法衣盖起来。不可思议的事是,若以 俗来推理这些黑药丸的数量,是不可 再增加的,甚至是会因晚上的气候, 干燥而变得更缩小些,但是仰仗法王 无比加持力,事实上却发现这钵内的 药丸不但没有减少,反而由于数量增 加而溢出钵外的干净布上。因此可想 知,要得到一颗黑药丸是多么有福报 人才可获得。
黑药丸功德与利益方式 : 首先一定要虔诚地了解,必需要对噶 巴法王以及上师,三宝升起无比的恭 心与信心,而且要对一切众生都升起 无量之菩提心,并虔诚地发愿将此功 回向遍及法界,您才会得到法王与三 之加持,而得以解脱。
<1> 黑药丸有神奇的加持力,若将黑药丸 于小舍利塔内或装脏开光佛身内,或 在随身佩带的噶乌内,有保护及加持 的作用。
<2> 黑药丸可装于宝盒「噶乌」配带于身 ,防一切意外及灾难发生。
<3> 黑药丸可口服。任何人有病无病均可 服,尤其是严重疾病或临命终或心理 碍时投服会亲身体会到加持力,非常 殊胜。而且黑药丸可以给任何动物口 ( 当他们有困难或快要临命终时,可将 药丸吞服,或溶于水中而服用。 ) 甚至一粒黑药丸放入河水、湖水或海 中将会利益水中的动物。
黑药丸对生病或生产时的加持力很强 从前在西藏有一个游牧家庭生小孩的 候难产又找不到医生,结果吃了一颗 黑药丸小孩就顺利出生,黑药丸就在 孩头顶,由此所知大宝法王黑药丸的 持力。
<4> 黑药丸可溶于水而外擦疼痛部位, ( 建议您,要外擦时为了珍惜使用或防 滴落地上,您可拿家中的眼药水瓶子 新的旧的都可以,先将眼药水倒掉, 主要是要取得眼药水的瓶子并冲洗干 ,目的是将黑药丸放入瓶内再加上冷 水,每天即可省省地珍贵擦用,甚至 也可以滴入口中服用。当瓶子的水用 一半时,可随时再填满,此黑药丸加 水亦将不断加持您。 )
当然最重要的是您只要曾经口服过的 ,亦可观想此黑药丸之加持力时在体 时常加持着您,您同样会获得永久之 加持。
<5> 若是您给了没有信仰或是没有信心的 投服时,您可代为纤悔并虔诚地向噶 巴法王祈请慈悲加护他。对方会即刻 与长久获得加持而得解脱,而您同样 会获得三宝护佑而福慧增长。
<6> 有大加持力;病人临命终时吃下一颗 药丸可以消业障,增福报,至少不堕 道,病人若对噶玛巴有大信心甚至可 以直升西方极乐世界。( 文章综合至正法眼内容,创古中心资 与昆桑仁波切及竹奔仁波切开示 )
Posted by 藍閣風水命理藝術中心 at 11:24 AM
黄财神 Zambala
黄财神
黄财神即黄布禄金刚,藏名为:"藏巴 ·些玻"。财源广黄财神为五姓财神之 一,主司财富,能使一切众生脱于贫困 财源广进。当初释迦牟尼佛于灵鹫山 宣传说大般若经时,诸魔鬼神等皆前 障碍,令高山崩塌,大众惊恐,此时 财神就现身庇护,后来世尊嘱咐黄财 神,当于未来世助益一切贫困众生, 大护法。
本尊形象为肚大身小,双手有力,肤 金黄,右手持摩尼宝珠,左手轻抓口 珠宝的吐宝鼠。头戴五佛宝冠,身着 天衣,蓝色莲花及珠宝璎珞作严饰。 前挂乌巴拉念珠,以如意坐左脚曲, 脚轻踩海螺宝,安坐于莲花月轮上。
诚心持诵黄财神心咒,可获其庇佑能 源广进,免除穷困,以及一切经济窘 。如果能发生无上菩提心,发愿救度 一切众生于贫困,则福德更不可限量
Posted by 藍閣風水命理藝術中心 at 11:23 AM
结缘五路財神 (Zambala) 甘露
西藏寺庙 五路財神 (Zambala) 甘露
西藏寺庙 五路財神甘露效用
能改進及增加財運
作煙供福物,虛空眾生天龍八部獲得 脫之因
這五路財神甘露泡在海洋大湖中,水 眾生魚類龍族得以出離三惡道
***五路財神 (Zambala) 加持甘露可供養於家中佛或神台***
有意供请人士請來電93638397
Please sms, call 93638397 or mail lamyuanfatt@hotmail.com
结缘价 S$168
Posted by 藍閣風水命理藝術中心 at 11:22 AM
Tuesday, May 26, 2009
结缘金剛舍利 直径 17mm (Diameter 17mm)
金剛舍利 直径 17mm
金剛舍利石產自泰國甸緬邊區龍宮洞 一群苦行高僧修行之山洞〉,密度極 ,非常耐撞擊。
目前金剛舍利石被泰國當成國寶石, 禁出口,舍利是由石心也叫石卵所作 成 它可吸取身上的濁氣(酸毒)
龍宮舍利 是與 金剛舍利 相互間之黏壁生成,俱玉質之溫潤與剔 性,具有相當大的靈氣與磁場
目前已禁止開採,產於緬甸邊區龍宮洞 據說古時有一群苦行僧修行於洞中, 圓寂坐化後高僧全身金剛法體舍利之 氣與天地間之靈氣凝結於洞中靈石, 時間演化,靈石長出一粒粒舍利子為 有生命與靈氣之靈石,稱為金剛舍利 龍宮舍利泰國政府列為國寶,舍利具 當大之靈氣與磁場非常不可思議.
舍利的作用,若持有舍利者:可逢凶 吉,避災解難;受天人護法和其他眾生 的護持、尊敬,避免非人、魔障干擾 重業輕報
*金剛舍利可供奉於家中佛或神台
有意供请人士請來電93638397
Please sms, call 93638397 or mail lamyuanfatt@hotmail.com
Posted by 藍閣風水命理藝術中心 at 11:24 PM
甘露法藥、甘露丸,使用方法及功德
甘露法藥:
可供養於壇城中,或將甘露裝臟於佛 、舍利塔之中供養禮拜,對於人、非 及諸魔障礙干擾侵害皆能滅除
布施於火供中,上供十方諸佛菩薩、 法海會及一切聖眾,或利用在下施煙 中布施於無量六道苦眾。或行悲心救 贖生物活命放生時,布施於水族等各 眾生灑淨,或投入河湖大海中與無量 生結緣。
平時亦可將加持甘露法藥丸置入隨身 帶嘎屋舍利盒中,必獲諸佛菩薩本尊 眾的隨身大力加持護佑。
甘露功德
有諸佛加持,帶在身上可抵抗魔祟侵
寶瓶佛像舍利塔用甘露裝臟,毋需開
念經持咒有加倍的功德
以甘露作煙供福物,虛空眾生天龍八 獲得解脫之因
以甘露泡在海洋大湖中,水中眾生魚 龍族得以出離三惡道
甘露修法相當於閉關三年功德
Posted by 藍閣風水命理藝術中心 at 4:12 PM
甘露法药簡易
Some information from http://baike.baidu.com/view/188121.htm
佛教用语,(梵文 amrita ;藏文 bDud-rtsi)。
在搅拌大海生是重新获得神的甘露。 文“amrita”一词有“长生”或“不死 之意,藏文的对应词“ bDud-rtsi”意为“琼浆玉液”(rTsi),可以 战胜恶魔或死魔。在藏族艺术中,甘 在传统上被画成正在旋转的蓝色滴液
例句
“为大众说甘露浄法。” ——《法华经·药草喻品》
“甘露为谁演,得一标道心。” ——南朝梁·沉约《和王卫军解讲》
“既参甘露旨,方欲书缙绅。”—— 朝梁·萧统《东斋听讲》诗
释义四:甘露为植物的俗称,如六必 酱园的传统酱菜产品之一便称为“高 甘露”,可参见具体词条。甘露 Amrta (藏文dut tsi) : 一种加持物,能帮助心理及生理疾病 复元
==========
http://d.share.photo.xuite.net/a1122...77199197_m.jpg
( http://blog.xuite.net/a11223344t520/...C%93%E6%BB%BF) )
無償結緣 大寶法王甘露丸 僅有3顆
一人限請一顆 欲恭請者 請發願持誦任一佛號 咒語 1080遍
恭請者請留下 欲持誦的佛號 咒語 姓名 地址 郵遞區號
末學會找時間寄出
建議 別吃它 因為放很久了.
黑藥丸介紹
藏傳佛教的各教系,都有甘露丸 長壽丸及修各本尊法時製做的加持丸 而噶舉傳承中最珍貴的就是黑藥丸。 黑藥丸的母藥丸,必定是由噶瑪巴親 製做,很神奇的是,一個人若積善並 誠的向噶瑪巴祈禱,母藥丸會自己分 生出許多小的黑藥丸。
人們相信,黑藥丸有非凡的加持 ,若將黑藥丸置於小舍利塔內或裝藏 開光時的佛像內,或放在隨身佩帶的 「嘎烏(護身符)」內,有不可思議 保護及加持的作用。在某些重病時服 黑藥丸,有特異的療效,且能為患者 種下解脫的種子。
至於黑藥丸的成份與製作過程都 當複雜,主要成份除了糌粑之外,還 些稀世珍寶,如釋迦牟尼佛與第一世 、第七世噶瑪巴以及若干印度和西藏 成就者之舍利等﹔再加上製作時數百 次的持咒與淨化,其獨特處實為外人 難解,亦非現代的化學成份分析可以 識。
===========
200905231557金剛結、甘露丸、加持米的 紹
98禪話有連篇
金剛結、甘露丸、加持米的介紹
「金剛結」的介紹
一、 什麼是金剛結
金剛結、金剛繩是護身加持物,金剛 的製造過程,通常是由喇嘛製作,
再由上師或仁波切,透過修法,祈請 尊加持,化光融入結中;
於凡人眼中所見是金剛結,但對於無 眾生而言,卻是壇城。
所以,佩帶者能免除外來無形靈界眾 之干擾。
二、 金剛結的使用:
1. 掛於胸前、或手上
2. 置於隨身皮夾、皮包、背包
3. 掛於所騎乘的汽車、機車
4. 掛於居家門楣上
5. 置於病患身上或其周圍。
三、注意事項:
1.金剛結不可拆開,因為主要的加持力 在該處
2.不可用剪刀等工具修剪其外觀及長度 ,因為整條都有加持力
3.不可以掛在腰部以下
4.如果帶久了,變得陳舊,加持力仍在 。
金剛結的加持力是沒有期限的,除非 帶的人,對此金剛結失去信心 。
5. 金剛結為加持聖物,不可隨意丟棄, 願佩帶時,
可將其掛於高處(如屋頂、或樹上) 之隨風加持環境、
守護周圍的一切眾生,或恭敬焚化!
6. 佩帶金剛結出入任何地方 (如廁所) 皆無妨,惟基於尊重,夫妻同房時應 下。
================================================== ================
「甘露丸」的介紹
一、甘露丸的使用
1. 供養:
可放在舍利塔、嘎烏中,放在佛堂上 養,或裝臟於佛像之中。
或用於煙供﹐供養佈施一切眾生﹐助 得滿足﹑離苦得樂。
2. 生者服用:
可泡在水中喝下﹐或直接吞下。
服用甘露丸能延長壽命、淨除病障、 災、增長智慧。
每種甘露丸都有大量利益﹐只是因修 不同﹐
其主要的功效偏重會略有不同。
3. 臨命終者服用:
可滅罪、增加其往生淨土或善道之助 ,減少墮入惡道之危險。
4. 佩帶:
放在嘎烏中佩帶,可保平安,抵抗魔 侵犯,且於念經持咒時有加倍的功德
5. 放生:
放生時,如果我們有觀音甘露丸(mani rilbu)或同類法藥,
可以在前一晚把一顆放在熱水中浸泡 翌日把甘露水灑在動物身上、
或給牠們飲用、或混入食物中餵食一 ,便會為牠們帶來無量利益。
6. 利益龍王、水族、畜牲:
放入溪湖、河海,利樂龍王及水族眾 。
給畜牲服用,畜牲若無法服用,可泡 水中,或混入食物中,讓牠服食。
二、補充:
1. 甘露丸保存,須避免潮濕
2. 甘露丸不太會溶解於水中,所以在杯 或瓶底,仍會見到甘露丸顆粒。
此時可取出服用,或再添加水,則少 甘露丸可做成很多甘露水,能利益更 眾生。
3. 服用甘露丸時,心中若能升起無上信 與法喜,將得更大殊勝功效:
深信即使極少量的甘露丸,亦蘊含無 諸佛菩薩的加持。
以此信心觀想自己是本尊,甘露丸代 佛的五種智慧,
左大拇指化成一支金剛杵,左食指化 一朵蓮花,將甘露丸放在舌尖,溶入 身的筋脈。
================================================== ================
「加持米」的介紹
一、 什麼是加持米
所謂的「恰內」
(經尊聖 大寶法王與尊貴 嘉察仁 切處取得之加持米)
,為恭敬之詞,其意為:過去的修行 者們所加持的殊勝加持物,
任何人食用、佩帶、或將之灑置於屋 、土地,能平息種種違緣障礙,
是增長順緣及資糧所必須的。
二、 加持米的使用:
1. 置入嘎嗚中佩帶,可保平安,消除障 。
2. 取少許與一般米一起煮,與家人一起 用,同獲加持、消除罪障及障礙。
3. 個人或家運不順時,於此人床的四週 或住家四方位的角落各放置少許,
或新居落成時灑置各處,能除種種違 障礙、增長順緣及福德資糧。
4. 亦可佈施給鳥禽、畜牲吃
========
何谓甘露丸?
噶陀仁珍千宝 贝玛旺晴仁波切开示
甘露丸,或称为尝解脱和法药。法药是 种神圣之物与珍贵药材做成的药粉或 药丸,经过僧众集体念诵佛号咒语祈福 持后的圣物。使用方法是:配戴、涂 身上、吃或供奉皆可,成分大致为五肉 五甘露,或三十五种、一百零八种至一 零八种草药等简繁各种做法。
所谓五肉五甘露乃密乘的秘密名称,密 里各种修法、法器、药物皆以密名为 称,是故经过灌顶口传解释等诀窍才能 知。甘露之名梵文乃:panca amirta ,字梵文之义panca为「五种」、a为「无 或「不存在」、 mirta为「死亡」、整句字义为「五种无 死之药」;药材的比例大致皆以五的 数来配置,目的在于以五行相助的理论 而调解五大不调,摄授五大精华,从而获 得增强体力、增进智慧、容光焕发、 年益寿之利益。
五肉为: 1,人肉 :为黄精花根 2, 象肉:为天门冬花根 3, 马肉:为当归 4, 狗肉:为紫茉莉 5, 孔雀肉:为刺蒺藜;并非真正使用动物 肉,也可说在登地菩萨境界中无分别, 此无不皆为妙药,但凡夫阶段不可杀 ,只可用草药,如果这五种草药中有不 的,可用五种柯子(金光柯子、滋补柯 子、皱柯子、长啄柯子、长青果柯子 和药柯子代替。
五甘露:1,粪便:为肉蔻 2,尿液:为米酒或木香汁 3,脑髓:为白荳蔻 4,精液:为竹黄 5,经血:为紫红檀香或红土;这些秘名皆 依造药物本身的外型和药性的关联来 订名的,而整个加持程序又必须严格依 各个清净传承实行,所以不可单靠词 忙修瞎练,土法炼钢!
可参考《俱光甘露续》、《情器五大 露续》和《五大甘露炼丹术》
http://www.foyuan.net/article-403074-1.html
http://www.duozhiqin.com/forum/viewt...php?tid=134892
甘露丸
[解惑之智·嘎玛仁波切]
密续中云:即使不作禅修亦有成佛之 。而经由「尝味」即其中之一最胜法 也就是以尝食「藏密各教派如法修持 本尊仪轨,经咒加持不断圆满制作之 露法药丸」,而得以结下成佛之因缘 凡大福报缘得尝食甘露法药、甘露丸 者,现时与究竟的利益是不可思议的
各种珍贵甘露法药(甘露丸)之制作,均 置入无数佛菩萨稀有佛宝舍利,和各 承历代祖师、法王、证悟大成就者舍 ,及加持圣物,再加上取岩大师取自 岩藏宝库中珍贵大加持法宝圣物,和 百种高贵药材总集炼制完成。福报缘 珍贵甘露法药者,自心必须绝对虔诚 尽信;而尝服者必得佛菩萨、本尊的 加持。经由尝食可清净此生之身、口 意的不净,也可去除疾病,使之不受 一切恶疾之侵扰,令一切邪魔精鬼无 伤害。也可治无明业障,并能防御各 灾劫障难,去除非时而死之意外,更 有助于行者禅坐修持,而对于清除烦 有所帮助,而使修行者于心性的观照 更臻圆满。也可使人之财富、权势、 福德、寿命、智慧增长,同时对修法 了悟亦会增上,且命终不堕三恶道, 能种下往生佛净土的因缘。
http://read.goodweb.cn/news/news_view.asp?newsid=65929
供水的功德:要观想为真正的甘露!
淘宝恭请甘露丸,利益众生呀! 敦珠法王开示
服用甘露丸时的吽字观想! 敦珠法王开示
无上甚深密法——佛降甘露
索达吉堪布再谈放生!【放生仪轨甘 妙药】
甘露瓶中的一滴粪!业力深重的人将 常珍贵的戒律换成一刹那的淫乐,真 可怜!
小蜜蜂们,快来品尝莲花甘露精华! 桑耶寺龙钦巴尊者遗教】
阿弥陀佛心中最深最根本的秘密!无 光甘露~~
亲历:甘露丸救了我的命 zz
人体的爆点:第三眼或是喉莲花! 敦珠法王开示
你有过在内心升起净土的体验吗? 上师嘎玛仁波切开示
太激动了,敦珠法王的法会视频!
记历代莲师心咒成就者
http://blog.sina.com.cn/s/blog_48aa33160102e7ha.html
=========
佛陀拈花微笑的秘密 原创
只看楼主
收藏
回复
http://hi.baidu.com/rushitao
佛陀拈花微笑是2500多年的秘密,当时 场者只有迦叶尊者微笑会意,这是禅 宗的开始[i]。笔者不敢妄猜圣意,但可以从佛教 不立文字,以心印心,教外别传中受 启发。莲花是佛教的代表,它具有花 果同时的独特成长特性,代表了宇宙 化的实相;莲花出淤泥而不染,代表 佛性在污浊的人间,人人皆有佛性, 菩萨入世渡众生,出淤泥而不染;莲 似空非空,代表了世界的本性。
宇宙是从一个奇点处诞生,由简单向 杂演化,由一粒“种子”开始,“道 一,一生二,二生三,三生万物”。 演化过程是花果同时的。“花”代表 理规律,例如数学和物理等科学的理 ,相对论和量子理论等都是“花”。 相对论仅仅是一个描述宇宙的工具, 不是宇宙实相,指月之指非明月。“ ”代表结果即宇宙的真相,微观世界 和宏观世界,包括星系、星云、恒星 原子等。
理、相和数因缘和合而生出万物。理 法同义,代表着各种理论和工具,例 相对论等。相和象同义,代表着物理 世界的现象。数即数字的规律。外缘 随机的,代表着不确定性;内因代表 一定的因由。譬如,一颗种子,里面 含有了一定的法则,就像宇宙开始时 经蕴含了一定的法则。遇到外缘就萌 ,没有足够的外缘就不发芽。在成长 的过程中,因水份、土壤和阳光等外 的不同,会长成不同的样子。但桃树 种子只能长出桃树,不会长出梨树来 。宇宙从奇点开始演化的过程中,就 种子发芽一样,产生出微观世界的同 ,和合了理、相和数。让人们感觉到 似乎有一个主宰在创造了这个不可思 的世界。百丈禅师说:“如虫御木, 而成文。”这句话阐释了宇宙因缘和 合而生万物,并没有一个造物者来干 。
在这里要特别强调“花果同时”这个 点,这是佛陀拈花微笑的寓意所在, 里也体现了上帝的意志,上帝创造了 世界就不再干预它。分化出天体等宏 世界,就同时产生了广义相对论的规 ,产生了万有引力;分化出微观世界 ,就同时产生了量子理论的规律,产 了强相互作用、弱相互作用和电磁力 这也体现了万法性空的佛学观点,万 法也是因缘和合而生,缘尽而散。正 《金刚经》上说:“一切有为法,如梦 幻泡影,如露亦如电,应作如是观”。道 家的名言也可以补充如下:“道生一 一生二,二生三,三生万物,同时生 法”。这也就暗示着,宇宙的生成按 照一定的次第或秩序生成万物,伴随 生成万法。万物的生成有一定的先后 序,万法也有一定的先后顺序,万物 万法都处在不同的层次不同的阶段, 么当代众多的科学家所追逐的大统一 论也就是镜中花水中月,永远也无法 追求得到。因为宇宙并没有一个唯一 简单的公式能够把万物万法给统一。 先人类追逐大统一理论,就像是强行 要用平面的模型来刻画三维的物理世 一样,是不可能做到的。人类创立的 种理论,弦理论、广义相对论和量子 理论等都是从不同的角度,描述不同 次的宇宙法则,应该说把所有的不同 科综合起来更加接近宇宙的整体面貌 ,但是人类只能不断的接近宇宙的真 ,也许永远都无法把宇宙的万法都通 找到。我们生活的宇宙是统一而又非 统一,是可理解的也是不可理解的。 里本文提出了一个宇宙演化树模型, 随着宇宙的演化,花果同时,宇宙不 断的分化演进,生成了现在的万事万 万法。宗教、哲学和科学等都在从不 角度不同层面描述这个立体的宇宙模 型。相对论和量子理论处在同一层次 分别描述宏观世界和微观世界的规律 弦理论可能是比前两者更高层次的理 论,但并不代表着它是宇宙的终极理 。要非得说终极理论,那么本文提到 宇宙演化树模型就是大统一理论,但 这个模型也不是究竟,它仅仅是一个 具,描述宇宙演化实相的一个譬喻工 而已。《易经》中的阴阳八卦图,佛 学中的万物性空和中道思想都代表着 宙的基本性质,可以渗透到在宇宙演 树上的树根、树干、树枝和树叶。
宇宙开始的奇点或种子中,蕴藏着一 的规则,也就是因。该种子已经预定 了宇宙大体上是什么样子,但是遇到 的外缘不同,宇宙又有一定的不确定 。例如人的受精卵中储存了人的基本 息,但是每个人的遗传信息不同、生 长环境不同和遇到的外缘不同,也会 成世界上形形色色的人。在宇宙的种 中已经预定好了一定的基本规律。人 类需要用序列的规律和理论来无限的 近宇宙的真相。
http://tieba.baidu.com/p/717846912#
青春就应该这样绽放 游戏测试:三国时期谁是你最好的兄 !! 你不得不信的星座秘密
Open menu Share
0 0
09/22/13--06:40: [转载]从零开始,详解甘露丸的种种分类及 德
原文地址:从零开始,详解甘露丸的 种分类及功德作者:喇荣圆宝
甘露的种类分为三种
1.智能甘露:法界体性智、大圆镜智、 平等性智、妙观察智、成所作智
2.慈悲甘露:四无量心
3.药材甘露:八根本药材、一千支分药 材、五大肉甘露、五不净肉甘露
甘露丸供养方法及作用
1.可放在舍利塔、净盒中后放在佛堂上 供养。
2.可泡在水中喝下,或直接吞下,能清 净业障、障碍。
3.可于临终前服下,可灭罪,助其往生 净土或善道之助缘,减少堕入恶道之 险。
4.可拿去做烟供,供养一切众生,助其 得满足、离苦得乐。
5.可放入海、湖、河、溪等处,利益龙 王及水族众生。
6.可给旁生服用,旁生若无法服用,可 泡在水中,让它喝下去,利益旁生投 善趣。
7.可放在嘎乌中佩带在颈上,可保平安 ,减少障碍。
9.保存避免潮湿。
每个寺院都有自己的甘露丸,其中萨 寺的甘露丸最显殊胜。
这一次在绿度母大法会上首次出现的 度母长寿黑丸,制作材料就来源于萨 寺最为珍贵的赤达龙玛。
赤达龙玛是万生甘露丸,里面总集了 万种圣物,一颗赤达龙玛就如同一座 城,汇集十方三世诸佛的无量功德。
最早萨迦派祖师在制作时,就已经向 放入了数量众多的舍利、法衣等圣物 而萨迦祖师这一世为了利益众生会用 掉一半的圣物,之后再收集新的一世 高僧大德的圣物添加进赤达龙玛内。
一代传一代,千年来,赤达龙玛内的 物只多不少。而且它在佛教圣地萨迦 制作,那里有众多的高僧大德和殊胜 的佛像及从佛像上流淌出来的甘露, 以赤达龙玛的加持力更为殊胜。也因 ,数量十分稀少。
下面是末学见一位金刚兄弟结缘到的 类甘露丸。随喜功德。
萨迦派:
萨迦•达钦法王赠送的甘露丸、甘露 药。
萨迦•天津法王赠送的甘露丸《汇聚 瓦巴尊者、萨迦五祖等大德圣物的尝 脱甘露丸》。
第七十五任萨迦•哦巴支派大堪布禄 堪千仁波切加持过的甘露丸。
萨迦四大堪布之一塔泽堪布的《佳都 甘露丸》(在宝帐怙主嘴里放过三年 。
金刚持白雅喇嘛赠送的《祈请萨迦天 法王、达钦法王加持过的甘露丸》。
萨迦寺长生甘露丸、白色圣泥甘露丸 印度萨迦寺甘露丸、龙王甘露丸。
德格印经院制作的《珍稀甘露经书舍 丸》。
宗萨寺、更庆寺、俄支寺合制的度母 露法药。
吉祥萨迦•俄尔寺佳都日布甘露丸。
萨迦明珠佛学院六亿遍玛尼丸。
吉祥萨迦•柯洛洞寺甘露丸。
吉祥萨迦•更庆寺长寿甘露丸、终身 关的喇嘛赠送的甘露丸、观音甘露丸
金刚持囊文曲培松保喇嘛(吉祥萨迦 更庆寺的格拉•阿旺穷佩法王)加持 。
吉祥萨迦•瓦拉德钦寺解脱丸。
利美传承•宗萨寺药师佛甘露丸、於 哲圣殿中修成的殊胜甘露法药。
秋英多杰喇嘛赠送的甘露丸。
琼卡林寺喜金刚甘露丸。
结古寺甘露丸。
龙拉寺喜金刚甘露丸
德普寺圣物咒药服用解脱丸。
塔公寺曲扎堪布赠送的玛尼丸。
吉祥萨迦•南真寺制作的六字大明咒 露丸。
噶举派:
第十六世大宝法王制作的黑宝丸。
第十七世大宝法王乌金赤列多杰赠送 甘露法药(2011年于美国的观音法会) 。
尼泊尔创古寺制作的“六字大明咒” 露丸、绿度母甘露丸、文殊甘露丸。
青海创古寺制作的历代金刚亥母、红 音、金刚萨埵甘露丸。
噶玛噶举•乃朗寺制作的“六字大明 ”甘露丸。
香巴噶举•第十二世桑顶•多吉帕姆 活佛金刚亥母速解脱大红甘露丸。
竹巴噶举•热龙寺圣物总集大解脱甘 丸、圣土甘露丸、玛尼甘露丸。
噶玛噶举•当卡寺尊胜观音真实解脱 露丸(母丸)、密集金刚解脱甘露丸
香巴噶举•宗学寺红观音甘露丸。
公雅寺巴千日布財神丸。
洛•卓乌龙诸印藏圣贤五种舍利汇总 。
觉拉寺萨嘎仁波切赠送的药师佛甘露 、总集丸。
直贡梯寺千手观音甘露丸。
竹巴噶举•甘丹喇嘛赠送的极乐法会 露丸。
乔美仁波切赠送的五姓财神丸。
格鲁派:
观音喇嘛赠送的观音甘露丸、普巴金 甘露丸。
十世班禅大师灵塔所出甘露丸。
觉沃佛涂金液制见解脱甘露丸。
色拉寺色杰芒聚黑丸、马头明王甘露 、玛尼甘露丸、修供胜乐密集怖畏普 药师之总集尝解脱丸、修吉祥怖畏金 刚《妙善雨降》开光仪轨之沐浴丸、 师佛大红丸。
哲蚌寺大红丸、大威德金刚甘露丸、YI NDU哲坝寺甘露丸。
甘丹寺玛尼日布甘露丸。
策墨林寺“亿遍六字大明咒”尝解脱 露丸。
拉萨下密院观音甘露丸。
格日桑丹林寺尝即解脱甘露丸。
德庆桑阿寺甘露丸。
卡加曼旧寺玛尼日布甘露丸、马头明 甘露丸。
琼柯寺甘露丸。
惠远寺甘露丸
色须寺祈愿大法会甘露丸。
拉茂雍增•洛桑科克嘉措大师赠送的 尼丸。
拉卜楞寺玛尼日布甘露丸。
罗喉寺玛尼日布丸。
内蒙古•大召寺、昆都仑召、席力图 玛尼日布甘露丸。
扎什伦布寺护法甘露丸。
德钦寺甘露丸。
果硕喇嘛赠送的绿度母甘露丸。
宁玛派:
第十一世敏林赤钦法王(睡觉法王) 送的莲师甘露丸、长寿佛甘露丸。
敏珠林寺德达掘藏法师大乐解脱丸、 大法行八大黑噜嘎甘露法药、长
寿甘露丸、印度敏珠林寺大白伞盖佛 甘露丸。
亚青寺誓言物尝解脱丸(经2010年亚青 大宝伏藏灌顶法会加持)、阿秋喇嘛 毗涂大典甘露丸、阿秋喇嘛大宝伏藏 露丸(慈诚加参喇嘛赠送)、亚青寺 物解脱甘露丸、亚青寺益西嘉措喇嘛 赠送的甘露丸。
噶陀寺万僧法药、佛学院莲师总集甘 丸、09-10年全年法会加持过的甘露丸、噶陀堪 布阿格旺波喇嘛甘露丸、文殊甘露丸 观音解脱甘露丸。
喇荣五明佛学院九五大自在甘露丸( 业九本尊甘露丸)、九六大自在甘露 、金刚亥母甘露丸、文殊甘露丸、门 措空行母赠送的甘露丸(用晋美彭措 王的骨灰制作的)、门措空行母赠送 甘露丸(用一世敦珠法王闭关房墙上 的土和晋美彭措法王制作的多种甘露 混合在一起制作的)。
桑耶寺莲师总集甘露丸、舍利总集解 丸、金刚萨埵尝解脱甘露丸。
查朗寺圣物尝服解脱法药、查朗寺第 代大解脱丸、查朗寺第二代大解脫丸 玛尼甘露丸、圣物宝聚解脱丸。
白玛才旺喇嘛的灵骨丸。
佐钦寺七世解脱丸、大圆满解脱甘露 、文殊甘露丸、文殊洞闭关喇嘛赠送 甘露丸。
第十五世拉布香根活佛的吉祥经院甘 丸。
江玛佛学院文殊甘露丸、地藏引福丸 大自在甘露丸、解脱甘露丸。
色登寺观音解脱甘露丸、作明佛母甘 丸、丹真绒布喇嘛赠送的甘露丸。
白玉寺药师佛甘露丸、文殊智慧甘露 、尝解脱圣物甘露妙药、七世解脱丸
贝诺法王法体甘露丸、贝诺法王甘露 总集。
顶果钦哲法王甘露丸总集。
耶巴活佛红白菩提甘露丸。
吉美林巴灵骨甘露丸。
龙钦巴尊者脑甘露丸。
尼泊尔冉江仁波切赠送的甘露丸。
不丹国师贝斯林喇嘛赠送的普巴金刚 露丸。
尕让寺2009-2011年普巴金刚甘露丸。
年龙寺的甘露丸、年龙佛父佛母共制 印藏圣物受解脱总集甘露丸。
尼泊尔协庆寺财神甘露丸。
杂嘎托寺食解脱法药。
贾杰康楚喇嘛赠送的甘露丸(于2011年 湾•龙钦巴上师法会)。
秋吉林巴伏藏传承的分寺——内丁寺 作的金刚萨埵甘露丸。
白玉传承木鸟寺密集金刚甘露丸。
多杰扎寺普巴金刚甘露丸。
扎拉寺总集甘露丸。
夏珠秋阳喇嘛赠送的甘露丸。
格蒙寺普巴金刚甘露丸。
绒布寺甘露法药。
西康阿日扎菩康寺大圆满闭关中心制 刚手法会尝解脱甘露丸。
第二世多钦哲化身——阿拉桑嘎•土 尼玛仁波切赠送的甘露丸。
金刚寺玛尼甘露丸、解脱甘露丸。
东琼寺总集甘露丸。
觉囊派:
第六世卓格活佛赠送的卓格寺玛尼甘 丸、孜朗寺玛尼甘露丸、卓格红丸。
噶尔丹•江木措喇嘛的法体甘露丸。
文章来源于佛缘网站 作者:扎西郎加仁波切
附: 普巴扎西仁波切开示甘露丸的功德
甘露丸,也称为解脱丸,是用众多舍 子和加持品做成的。这次带下来的甘 丸主要是由我等大恩上师如意宝生前 所有的加持品作为主要原料,配同着 他舍利子、甘露丸和加持品而做成的
甘露丸本身的功德是什么呢?他可以 尽我们的烦恼,令见解增长。
莲花生大士曾经说过:“修行成办解 的法,诸佛菩萨都有讲解,但是不需 修行可以解脱的法,唯独我一个人才 具有。”也就是说,平常无论我们依 什么导师或者传承,都在讲解,如是 行可以消尽自己的烦恼等等。而莲花 生大士所说的不作修行亦能成办解脱 就是甘露丸。即便平常我们不做修行 天天吃一些甘露丸,他也能让我们往 生西方极乐世界,因此甘露丸是非常 胜的圣物。
服用甘露丸,一方面是为了让我们在 行的路途之上,能够配同着其他方便 迅速消尽烦恼、令自己智慧增上成办 解脱,这是最重要的一点。但还有另 一个原因。
如今这个时代,由于众生烦恼沉重的 故,各式各样的疾病层出不穷。例如 癌症一类的疾病,全世界都无法治疗 。据说有些癌症在中国发病率很高, 其沿海一带,这样的病就更多了。只 患上这样的病,基本上就等同于判了 死刑。虽然有些人也吃一些中药作为 助治疗,但是能否完全治好,也很难 言。
有时候我会问一些七、八十岁的老人 往昔是否有这样的病?很多人都回答 没听过。可是如今,这些癌症已经变 成普遍性的疾病了。
当然有人会说,这样的病来源于环境 染或不净的饮食。当然与这些因素也 着直接的关系,但避免这两者是否就 可以了呢?
要知道,同一个城市里的人都在饮用 一条河或者同一个水库里面的水,呼 的空气也是一样的,购物也都是去超 市,并没有什么区别。既然大家都是 用同一个地方的水,食用同一种食品 呼吸同样的空气,难道癌症是根据各 人的性格而产生的吗?
当然不是的,这就是佛教所讲解的业 。所以我们把癌症称之为时代病,也 做业力病,癌症是由于末法时代众生 烦恼沉重的缘故而产生的。当然癌症 具备内外不同的缘起,诸如空气污染 饮食不净等也是导致患病的因素,但 最重要的一点,癌症是业障病。
甘露丸本身能够起到消尽烦恼、增长 慧、增长见解的作用,所以他可以消 一切病,并且还能起到预防一切病的 作用,所以平常佩带在自己的身边, 常好。
《甘露功德文》也说过,把世上所有 护身符挂在自己的身上,还不如佩戴 颗甘露丸功德大。而且甘露丸携带方 便,平常佩戴在身边是非常好的。但 每人都发很大一包甘露丸,恐怕不现 ,但是我尽可能给所有的有缘弟子们 一人结缘一包。
平时出远门,可能会发生一些意想不 的事情,若能将甘露丸带在自己的身 ,就能起到遣除一切违缘、避邪的作 用。另外,我们短时间内可以吃一粒 最长十五天之内至少应该吃一粒。
记得从我第一次依止我等大恩根本上 喇嘛仁波切开始,上师身边就有一个 小的玻璃瓶,里面装的都是用水泡着 的甘露丸。上师每天早上起来的第一 事情,就是先喝一滴甘露水。
当时我问上师这样做的原因是什么, 师说:“一切都来源于上师的教言, 露丸可以消尽自己的烦恼,让自己见 解增上;另一方面可以预防各式各样 疾病。”
因此,无论我们平常做什么事情,还 从事修行,若没有一个健康的身体, 怕什么事情都做不了。如果一个人病 得很严重,内心虽然想好好修法,但 于身体衰弱的缘故,坐也坐不住、念 念不动,当到达这个时候,可能一切 都结束了。因此在没有产生这样的问 之前,我们还是应该做到这些预防措 ,我想这一点还是挺重要的。甘露丸 意义非常广大,平常应时时佩带在自 的身边。
《甘露功德文》当中说:“按照藏传 教历代传承祖师的传统修法,一天要 座。在每座之前,无论是一粒甘露丸 还是一滴甘露水,都要吃一次,也就 一天四次,这是上品者之做法;中品 ,每天早上吃一次甘露丸;下品者, 不要超过十五天之内吃一次。”虽然 露丸本身可能不是很多,你们隔两天 到的时候吃一粒也是非常好。
也有很多人说:“我平常对甘露丸很 信心,我身边有很多甘露丸,但是我 在太舍不得用了,所以每次我都赐予 给其他的人。”
这话听起来,好像非常非常了不起, 实际上你真把甘露丸当作太珍贵的圣 而舍不得自己吃?还是由于你自己有 一点懒惰的成分呢?你说你自己有信 ,当然我们也不能否认你没有信心, 作为一个修行佛法的人,对甘露丸具 有信心的同时,是否还有一点懒惰的 分?
我们先举个例子。你和你的邻居今天 要炒菜,你们两家只有一个炒菜的锅 当你正要炒菜的时候,邻居过来说: “能不能把这个锅借给我,我中午要 菜。”如果你把锅借给邻居,就意味 这个中午你就不能炒菜了,你真的会 把这个锅借给他吗?恐怕你还是会说 “这不行,因为我还要炒菜。”所以 们还是要反问一下,自己内心是真的 有一个慈悲心还是有些懒惰?或者仅 是口头这么说说而已?
所以自己也尽量多服用一点甘露丸吧 虽然你可能是有慈悲心,有为天下所 众生着想的心愿,这是一件好事,此 时可以做得善巧一些,例如把甘露丸 水化开,每天喝几滴也非常好!!!
喇嘛钦!!!
http://canalise50.rssing.com/chan-22615889/all_p17.html
===========
药师琉璃光如来,梵名鞞杀社窭噜, 称药师佛,又作药师如来、药师琉璃 如来、大医王佛、医王善逝、十二愿 王。是东方净琉璃国的教主。他与本 释迦牟尼佛、阿弥陀佛为"横三世"亦 三宝佛,于东方净琉璃光净土,为大 王佛,具法身佛相,身蓝琉璃宝色, 右手持药珂子连枝带叶,左手定印托 ,钵中蓄满甘露,着三法衣,双定跏 安住莲华上。
此佛在行菩萨道时,曾发十二大愿, 为众生解除疾苦,使具足诸根,导入 脱,故依此愿而成佛,住净琉璃世界 ,其国土庄严如极乐国。其中第七愿 愿成佛时,若诸有情,众病逼切,无 无归,无医无药,无亲无家,贫穷多 苦,一闻其名号,众病悉除,身心安 ,家属资具,悉皆丰足乃至成佛,所 称为药师。又第二愿,愿成佛时,身 如琉璃,内外明彻,净无瑕秽,光明 大,过于日月,所以称为琉璃光。
西藏寺庙 药师佛除障甘露效用
可以消除灾难、去病却苦、护持身心 康、得无量福慧
昌列寺假冒“嘎玛仁波切”如何贩卖 信疯狂敛财
2017-02-28 思维科学会
由昌列寺“嘎玛仁波切”
看西藏的喇嘛巫师如何在汉地贩卖藏 迷信,依靠藏密敛财
“藏传佛教”的根本来源与核心教义 是印度性崇拜坦特罗乘,已成为学界 认的观点。此时期所兴起的所谓秘密 大乘,早已经放弃佛教传统,但仍然 着佛教的外衣,吸收湿婆教的种种仪 ,并将这些包括性崇拜在内的种种仪 轨理念编入“佛经”,流传为金刚乘 典。在释迦牟尼时代,婆罗门教走向 微的原因之一,就是迷信仪轨的繁琐 化被尊为正统。西藏“密宗”以性为 心的密宗仪轨,正是湿婆迷信的复兴 不仅如此,传入西藏的末期密教,又 融合了西藏本土的苯教等。所以,西 的密教,将性融于迷信宣扬中,喇嘛 师以繁琐虚伪的藏密迷信仪式,搜刮 大量财富以肥私囊!达到登峰造极的 步!
近世,西藏喇嘛们看到了汉地广阔的 场,蜂拥而至,在汉地依靠藏密疯狂 财,贩卖迷信。在汉地兴起了喇嘛崇 拜的狂潮,喇嘛们以低劣的骗术愚弄 人藏人,披着袈裟装神弄鬼,宣扬上 崇拜。这个帖子,以四川昌列寺的“ 嘎玛仁波切”为例,这个吃藏密饭的 僧,和它那帮玩儿藏密的“儿子”们 为了钱,什么样的谎话都撒的出口, 什么样的无耻卑贱都做得出来,其丧 病狂的程度超出常人的想象!
贩卖“释迦牟尼如来舍利”,诸佛诸 神“舍利甘露”:昌列寺所贩卖的“ 露丸”,“嘎玛仁波切”宣称里面包 含有“众多圣物”,分别有:善逝燃 佛舍利子;释迦牟尼佛舍利子;药师 甘露丸;莲花生大师三身总集甘露丸 、无上瑜伽三世甘露丸、莲花生大师 发舍利。。。。。。。。。。(详见 http://blog.sina.com.cn/s/blog_49b54...出口来!
那么,诸佛菩萨的舍利甘露丸怎么卖 ,嘎玛仁波切开出了价码:“供僧” 份是150元,而且每份的快递费是至少 6元。。。。(详见:http://blog.sina.com.cn/s/blog_49b54...追捧者。
稻草插在头顶,可以往生成佛:昌列 宣扬,破瓦法是藏传佛教的殊胜法门 为往生捷道。什么是“破瓦法”?如 图,把稻草插在头顶,就是殊胜的破 法!!(多么荒唐!多么可笑!)那 ,“破瓦法”怎么来修呢,怎样算成 功了呢?它们说,“开顶”是修法成 的标志。(详见:http://blog.sina.com.cn/s/blog_6819f...008i7u.html)
只要给钱,同性恋可以转变性取向, 为正常人:这篇广告,昌列寺假借同 恋父母的口吻,暗示信徒,只要供僧 给钱,就可以转变性取向。(详见:http://blog.sina.com.cn/s/blog_49b54...耻至极!
以上几则,只是九牛一毛而已,其他 奇葩的跟可笑的,不胜枚举。丧心病 的程度超出常人想象,比如有:
上师是释迦摩尼佛时代的罗汉:http://blog.sina.com.cn/s/blog_49b5473f0100hhy5.html
嘎玛仁波切招来龙卷风:http://blog.sina.com.cn/s/blog_49b5473f0100h4av.html
上师从不丹带回一条龙:http://blog.sina.com.cn/s/blog_49b5473f0100efh9.html
嘎玛仁波切轻松化解黑人巫师下恶咒 http://blog.sina.com.cn/s/blog_7418c96f01012l1d.html
上师两分钟治好植物人:http://blog.sina.com.cn/s/blog_49b5473f0100h6c2.html
上师讲法时,空中出现神秘的法器宣 :http://blog.sina.com.cn/s/blog_49b5473f0102eqah.html
上师给的甘露丸竟救了我妈妈的命:http://blog.sina.com.cn/s/blog_49b5473f0102ejsh.html
昌列寺天空现天龙、天女游舞云象:http://blog.sina.com.cn/s/blog_49b5473f0102ejpr.html
昌列寺虹光:http://blog.sina.com.cn/s/blog_49b5473f0102ehk7.html
等等等等。。。。。以上只是极少的 部分,其他更荒谬可笑无耻的,在这 个人的博文中都有展示。
很明显,受“嘎玛仁波切”的指示, 徒爱子们把它们的上师爸爸宣扬为无 不能的佛,从而达到搜刮钱财名色的 目的。但是昌列寺的手法,代表了在 地活动的西藏喇嘛巫师的手法,宣扬 密低级迷信,装神弄鬼,把自己打造 成神通圣贤,暗示,再暗示。。。。 昌列寺建造了华丽的殿堂,拥有众多 汉地信奉者,可见西藏巫师的手段! 但是,只要不像轮子功一样触犯政权 他们就不会被干预,从而可以不断给 地信众洗脑敛财。在这个过程中,不 仅汉地的佛教遭到破坏,整个汉地文 都会遭藏毒的侵袭(关于“嘎玛仁波 ”被开除一事,请另行搜索)
《嘎玛仁波切关于本批金刚萨埵甘露 之功德开示》中说道:
制作甘露法药成份中的加持法物有:
善逝燃灯佛舍利子
释迦牟尼佛舍利子
药师佛甘露丸
莲花生大师三身总集甘露丸、无上瑜 三世甘露丸、莲花生大师的发舍利
益西措嘉空行母的发舍利
文殊菩萨甘露法药
金刚薩埵佛圣加持法药
瑪哈嘎拉护法神甘露丸
不丹虎穴寺、尼泊尔羊累穴、玛拉底 洞窟、印度莲花湖等莲师闭关修行的 窟内的所有長壽圣水
毗卢遮那大师的甘露法药
印度宁玛巴大法会法药总集
玛尔巴大师、米拉日巴尊者等噶举派 代大德的殊胜甘露丸
萨迦五祖等历代萨迦大德殊胜甘露法
观音苦难自解脱壇城以及亿万六字真 千僧甘露丸、万僧甘露丸
大宝总集甘露丸
龙钦巴大师的舍利子
仁那林巴尊者的法衣
五世达赖喇嘛舍利子
五世达赖喇嘛普巴金刚甘露法药
敦珠法王甘露酵母丸
历代措普多罗仁波切金刚薩埵殊胜法
老上师堪钦土登·曲吉扎巴仁波切舍利 子及金刚薩埵殊胜甘露丸
老上师土登·曲吉扎巴仁波切宝藏箱内 上百种极妙殊胜法药
拉萨大昭寺的所有甘露法药
噶陀历代传承祖师殊胜甘露法药及棕 宝藏箱内所珍藏的所有殊胜加持圣物
噶陀敦都多杰大师的法衣
米滂仁波切的法甘露
巴珠仁波切的法甘露
白玉寺图桑仁波切所赐白玉传承的所 甘露法药
大堪布阿真所赐吉祥宝物及八大法行 露丸
多竹千仁波切所赐的宁体传承甘露法
再看一脸淫笑的“嘎玛仁波切”是如 厚颜无耻要钱的 http://blog.sina.com.cn/s/blog_49b5473f0102ebbs.html
网友结缘甘露丸还是照上次的办法, ,网友参与昌列寺供僧(供僧功德巨 ,供僧时发心要纯正,请切勿在供僧 时思维目的是为了得到甘露丸,否则 大损功德甚至没有功德),供僧者将 赠尝即解脱甘露丸(需要金刚结的请 特别说明一下),具体办法见后(上 供僧活动中承诺长期供僧者将获赠本 尝解脱甘露丸,但有少数网友承诺长 期供僧且每月汇款一次,却并没有兑 ,这将有严重过失,希望这些网友尽 兑现诺言,否则不仅无法获赠本次甘 露丸,也会产生不良果报。为利于对 ,每月汇款后,请发邮件给。。。。 。。
网友结缘方法:本批甘露丸的殊胜无 以语言形容,在整个藏传佛教甘露丸 作历史上都可说是……绝对可说是无 价之宝,但为让尽可能多的众生种下 脱之因缘,凡供僧一份以上者将获赠 次尝即解脱甘露丸,供僧按每位僧人 每月150元为一份,可一次性供养一份 150元)或多份(如供养2份为300元,三 份为450元,或一年1800元……),也可 月持续供养(比如,每月供养1份150 ,持续供养一年,或长期供养下去— 长期供僧)。供养一份以上者将获赠 甘露丸,但并非供养几份就获赠几份 供养多份者的确有可能会获赠较多一 的甘露丸,但不是一一对应)。另外 ,因要快递甘露丸,请务必在汇款时 快递费(每份的快递费至少6元,境外 的请自行计算快递费)加进去。若需 金刚结的,请在邮件中注明(因为金 结数量不多,所以不是每人都送)。
拿一根稻草插在头顶,这就是殊胜的 瓦法!可以快速的往生西方极乐世界 多么可笑!多么荒唐!丧心病狂的昌 列寺
请看图片,连头都插出血来了
昌列寺妖僧嘎玛仁波切,为了收敛钱 ,派遣各路水军在网络吹嘘造势。
妖僧贩卖所谓甘露丸,竟然宣扬含有 迦如来的真身舍利,诸佛鬼神的各种 露
妖僧的魔子魔孙,也丧心病狂配合造 ,昌列寺的甘露丸,就是仙丹,包治 病,无所不能!
请看以下魔子魔孙神经病一样的中毒 言
http://blog.sina.com.cn/s/blog_49b5473f0102eac5.html
《昌列寺甘露丸非常的厉害!》
我服用昌列寺这次赠送的甘露后不到5 钟,开始从尾部到咽部、口腔,尤其 是咽部,明显出现非常凉爽的感觉, 个是我之前服用过的别的甘露丸没有 ,然后是鼻部很通气(我有些鼻炎) ,然后是背开始发热,然后是脑门和 背微微发汗,在男子的海底轮那儿有 似于阳气的升起,或是类似于拙火的 升起,具体我没有修过宝瓶气,还不 最清楚拙火,但是明显的,昌列寺甘 丸对提升体内灵气有帮助!也就是增 加了体内精气与正阳之气,另外在眼 气脉通的方面,感觉还不如佐钦寺的 世解脱丸那么明显,不过已经非常厉 害了!
悟岚对你的博文《关于供僧赠甘露丸 止日及其它重要事项告知》发表评论2 012-09-09 11:09:46 [回复] [删除] 感恩师兄,昨天收到了十相自在、甘 丸、金刚结。我今天早上起来不知为 拉肚子,拉得厉害,很疼,就吃了一 粒甘露丸,真是太神奇了,立马就不 不疼了,感恩!!
olivia2012-09-13 14:09 [回复] [删除] 师兄你好!金刚结我带到左手上后, 眼眼皮第二天就变成双(4年多时间是 单的),并且有幸结缘去医院把困扰 年的皮肤病治好; 再说说甘露丸,在师兄博客上看到有 露丸生舍利,昨晚我开ipad念佛经软件 放了一整晚的金刚经,当时把上师加 的护身符和甘露丸放在ipad上,今早起 来甘露丸竟然多了一颗!要知道每天 都会数甘露丸的数目原来15颗变成16, 千真万确,不打诳语!末学,未得皈 ,只是因为一些因缘每日在家礼佛, 中更无佛堂,阿弥陀佛
知幻对你的博文《昌列寺金刚结真的 厉害!》发表评论2012-09-17 10:45:18 [回复] [删除] 今天收到金刚结跟甘露丸,服用了一 ,全身各处电流串,麻麻的感觉,跳 (羊癫疯????)
嘎玛仁波切已被开除
喇嘛教宁玛派《噶陀声明》
为清净噶陀教法律仪,坚固诸功德基 ,经噶陀本寺法脉整理部诸活佛、堪 及所有僧众全体决议通过,公示如下 :
从现在起,颜班·希热将参(嘎玛)仁 波切已被从旧译噶陀金刚座法脉中开 。其后凡颜班·希热将参(嘎玛)仁 切的所有行为与本法脉无关。谨此声 ,敬请大家了知。
噶陀寺法脉整理部 二零零七年七月六日
看看妖僧嘎玛的魔子魔孙“希热多吉 士”写的让人呕吐的文字,跟神经病 样
嘎玛仁波切北京行
http://blog.sina.com.cn/s/blog_483d94f40100b9n2.html
去年的这个时候,也是秋风瑟瑟,大 上师嘎玛仁波切曾来北京给我们讲法 去年上师走的时候,弟子们都依依不 舍,询问上师何时可以再来。上师当 在机场很诗意的说了一句:待到来年 花盛开时。
今年是一个多事之年,一个又一个的 件使上师来京的日期变得遥不可知。 花开了,又谢了;柳叶绿了,又黄了 ;夏雨走了,秋风来了;思念上师的 情越来越浓,我们已经开始在制定12 24日去马尔康给上师过生日的计划和 程。
12日。晚上,正在家里吃饭。手机响了 ,一看来电显示,是嘎玛仁波切,心 一阵欢喜。上师在电话里问我:在做 么呢?我说:上师,我正在吃饭。这 时脑海里刹那间闪出一个念头:上师 会已经到北京了吧?我压抑住这样的 头,试探着问:上师,您现在在哪里 ?上师呵呵笑着说:在北京。妻已在 边听见,惊喜的叫了出来。我忙问上 :您现在住哪里?上师说:还是去年 的酒店。我连忙说:上师,我马上过 。
饭碗一撂,我在博客上发了一个帖子 只有一个标题:嘎玛仁波切今晚抵京 然后我让妻赶紧去买花,和我在酒店 汇合。穿上衣服就冲出了家门,直奔 辰购物中心。刚出楼门,胖活塞师兄 来电话,问我:上师到北京啦?他是 第一个看到我帖子的人。我说:是的 你现在要没事的话,就开车到北辰门 等我。
等我从北辰超市推着购物车出来时, 的车也到了,装上东西我们就往酒店 。路上开始给师兄们群发短信,通知 上师来京的消息。还没有到酒店,手 已经被打爆了,很多师兄看到短信后 为我在开玩笑,打电话过来求证。当 得到确切的消息后,无不欣喜欢呼。 少师兄也是撂下饭碗就开始往酒店赶
当我和胖活塞师兄赶到酒店大堂的时 ,辉辉师兄也正好抱着花赶到。一起 了楼,来到上师的房间门口,按响了 门铃。门开处,上师笑盈盈的站在门 。那一刻,眼泪差点掉下来。胖活塞 兄说:上师,您的头发又白了好多。 上师半开玩笑着说:我刚从雪山上下 的啊。
为了兑现去年对北京弟子们的一句承 ,上师不辞辛苦从甘孜州新龙参加完 位小活佛的坐床典礼,就只身一人从 成都飞到北京。为了不给弟子们添麻 ,上师是自己从机场到的酒店。上师 这种“游戏”的方式来到我们面前, 让我们非常感动。
很快,师兄们纷纷赶来,小小的房间 成了花房,地上坐满了师兄。有的师 甚至是从昌平开车赶到城里来见上师 ,大家象过年一样开心,和上师有说 完的话。考虑到还会有更多的人来见 师,当晚就和辉辉师兄、康汇师姐、 欣平师姐商量,第二天要给上师换一 大一些的房间。辉辉师兄连夜到另外 家酒店定了一个复式商务套间。
13日。一早,大家就赶到酒店给上师搬 家,由于前一晚师兄们带来的东西比 多,竟然装了两车。把上师安顿好后 更多的师兄来到酒店看望上师,因为 头些日子统计过想要皈依的博友名单 我也开始一个个发短信通知大家。很 ,一些经常在网上和我聊天但是从未 见过面的博友赶到酒店见上师。一些 友当天就皈依了嘎玛仁波切。
来见上师的有高卉童的奶奶,有媒体 记者,更多的是佛友。面对大家五花 门的问题,上师或善巧、或幽默的逐 一讲出自己的见解,房间里常常是笑 一片。因为来的人太多了,酒店的服 生们也很快知道了这里住进了一位“ 活佛”。
因弟子们的祈请,上师答应给大家做 刚萨埵的灌顶,并且传绿度母修法。 师详细给我和辉辉师兄列出了灌顶所 需要的法器名单,以及荟供所需要的 品清单,一直忙到13日很晚才休息。 间不断有外地的博友和我短信联系来 的具体时间和行程安排,大家都很珍 惜这难得的法缘,都渴望见上师一面 让我非常感动。我比较懊悔的是没有 外地的博友和师兄照顾好,请外地的 金刚师兄谅解我。
14日。上午和辉辉师兄去雍和宫准备灌 顶所需要的法器和物资,洗印从台湾 过来的灌顶用的佛像和法器照片,康 师姐去准备灌顶用的花环和荟供所用 的所有物品。大家看到的所有荟供用 水、牛奶、糖果、饼干、威化、水果 都是康汇师姐一个人采购回来的。灌 顶当天中午的八十份午餐都是陈师兄 赵师姐两口子供养的。14日下午,我 洛嘎仁波切去看一位著名的中医,并 晚上将洛嘎仁波切送上飞往南京的飞 机。回到上师住的酒店已是晚上八点 。遇到从新疆来京出差的一位博友, 缘巧合,她前些日子刚和我说想要皈 依嘎玛仁波切,就这么巧,上师来北 她也刚好在北京,而且前一天晚上做 一个和皈依有关系的很吉祥的梦。
15日。就是照片中的金刚萨埵灌顶传法 和绿度母修法传法,以及荟供。报名 时候是五十人,实际到场的是八十人 因为准备工作细致充分,上师说,这 是第一次在国内的金刚萨埵灌顶传法 用到花环,以前只在印度用过花环。 为我的不小心,上师的手被碎裂的花 瓶割伤,流了很多血,上师就用自己 血在铜镜上写了梵文。三十多位网友 体皈依,网络因缘让我们成为金刚师 兄,菩提道上我们要共同帮助,互相 习。十分感谢驾车的师兄们的无私付 和辛苦,帮助很多人在这一天圆了自 己的梦。而对于那些我没有照顾到和 顾好的师兄,我只有真诚的说一声“ 不起”了,其实很想和大家多呆一些 时间,多说说话,但是时间真的太紧 。以后我再补上吧。
说实话,我真的被这些从外地赶来的 友们所感动,新疆乌鲁木齐、浙江杭 、山西晋城、河北石家庄、内蒙古呼 和浩特、天津......看看这些地方,看 这些人,我就觉得佛陀真的是很伟大 佛法是真的很伟大,嘎玛仁波切是真 的很伟大。他们是我们的心灵依祜, 我们的老师,是我们快乐的源泉。我 别高兴一下子多了这麽多师兄。也非 常随喜大家供僧的功德,我们一共募 了15000元供僧款,可以为50名僧人制作 冬装了。经中讲:(供僧)最胜衣服 胜香。这样的功德是无量的。随喜大 !
16日。来也匆匆,去也匆匆。上师在北 京仅仅停留了短短的三日,为我们做 那么多的事情,辛苦可想而知。我上 给上师收拾行李的时候,才发现房间 的栏杆上晾着洗好的衣服,那一刻我 眼泪掉了下来。上师每天只睡几个小 ,白天要接待那么多人,为了不给弟 子们增加负担,晚上竟然是自己在房 里洗衣服的......
上师走了,心里万分的不舍。为了兑 去年对我们的那个诗一样的承诺,在 夜悄然而来。为了利益更多众生,又 匆匆而去,想起一首歌唱的那样:
挥挥手我不愿你走
分别的泪水已哽噎了我的咽喉
千言万语我只想让你记住一句
今生今世你都不要把我弄丢
丧心病狂的昌列寺嘎玛仁波切,竟然 称能使同性恋转变性取向,假托同性 父母的口吻,暗示为昌列寺送钱!!
求让同性恋孩子转为异性恋疏
弟子***忏悔无量劫以来由于不懂 法所造下的一切恶业和邪淫之罪,弟 恳请上师诸佛菩萨垂怜我,使我孩子 远离邪淫,远离无间罪业,愿他找到 个善良,温和,懂事,能干,并在他 业上能助他一臂之力的女孩为伴侣。
为求得此事圆满,弟子特立约如下:
1,每日礼佛法僧三宝,虔诚修持佛法
2,尽力弘法利生,布施放生,每月供 ,随喜,布施或放生等不低于400元
3,尽量经常到共修中心参加共修
4,(年底前)修持金刚萨埵心咒60万
5,(年底前)为众生持念《地藏菩萨 愿经》49部
6,随喜昌列寺修建莲花生大士像1万元
7,生生世世持不邪淫戒,并尽力劝解 人不要邪淫。
弟子***愿将所有诵经,持咒,放 ,供养,布施,随喜,闻思等一切功 回向十方法界一切众生,六道有情, 自己生生世世的父母师长,冤情债主 堕胎婴灵及一切眷属,祈愿生者所愿 遂,如法吉祥,亡者离苦得乐,往生 西方,终得佛果。弟子自知往昔罪业 重,现在诚心忏悔一切无明,贪嗔痴 慢怀疑与过失,祈请上师诸佛菩萨慈 悲加持,消除弟子修行上的一切违缘 碍,回向法界众生家庭和美,父母安 ,孩子福慧双增,回向西方极乐世界 ,回向师兄师姐精进修行,早证菩提
弟子***合十
叩首敬呈
2014年5月
喇嘛教善于迎合众生深重之貪欲,及 速效, 神通, 感應之心理,而广為宣传;又善于穿 附会佛经种种果位名相,欺骗初机学 ,令人信以为真,不敢生疑。又因施 设三昧耶戒,令诸弟子不敢泄漏密教 法义,以致外人不能窥知其谬,以此 大其势力,不断窃取佛教资源,终至 渐渐取而代之,灭亡真正之佛教
http://s2.upanh123.com/2017/04/30/DHG932cf.png
HỎA-CÚNG KIM-LIÊN CHƠN-NGÔN
火供金蓮真言
( https://donfanfeihon.tumblr.com/ )
我最近成為悲憨居士的機要秘書了, 次他發表曼陀羅或脫口而出某些秘密 音,我都必須去解讀,他的眉心輪開 了,有畫不完的曼陀羅,而且越來越 膩了,他似乎鑽進了一些細微妙處, 讚嘆著。下面這個咒語,是他最新脫 口而出的真言,我解給你聽:
火供金蓮真言
oṃ hema homa hohoma hida kamalaya hūṃ
這個咒很簡單,它在讚嘆火供的金色 焰。全咒的咒義就是:
看啊!那金色的火供火焰熊熊燃燒著 讓潔白純淨的蓮花大放毫光!
(oṃ 讚嘆、hema 金色的、homa 火供、hohoma 熊熊燃燒、hida 給予、kamalaya 潔白純淨的蓮花、hūṃ 大放毫光)
這裡的 h 都是燃燒放光。
這悲憨還真會取暖,以火供取暖,這 羅漢行徑。
這幾天的天氣很冷,修行者正可以持 這個應景咒音來取暖。可以畫個梵字 陀羅,中間畫一朵紅蓮,蓮花周圍寫 上15個梵字,字向外,外圍以金黃色的 光繞著蓮花轉動,蓮花中間就放一個 hūṃ 字,我想東方23號可以展示它。
http://s2.upanh123.com/2017/04/30/FGHJb36bf.jpg
LÂM-CHUNG CHÚC-ĐẢO BÁT-TỰ CHƠN-NGÔN / LÂM-CHUNG BÁT-TỰ CẦU-NGUYỆN CHƠN-NGÔN
臨終祝禱八字真言
( https://donfanfeihon.tumblr.com/ )
臨終祝禱八字真言
(中央社台北23日電)新加坡前總理李 光耀今天不敵病魔辭世,享壽91歲。李 光耀的辭世,也教人想起他與2010年過 的夫人柯玉芝間的深厚感情。
他說,妻子的病痛讓他憂心,也比多 來在政治領域所面對的挑戰更煎熬, 在每晚都還會在妻子的床邊告訴她自 己今天做了什麼事,「我跟她說話時 她是知道的,她會為了我保持清醒, 會唸她最喜歡的詩」。
但看著妻子在病痛中掙扎,沒有宗教 仰的李光耀也接受朋友的建議,用「M a Ra Na Tha」禱告文,這意思是「主耶穌!來 」。他說自己雖不是天主教徒,但感 唸這較有撫慰作用。
李光耀說,和妻子有61年幸福婚姻生活 ,但總有一天都要離開的,不知道是 會先走一步,所以「我一直看著基督 的結婚誓言,無論病痛或健康,無論 結果如何,都愛他、照顧他,珍惜他 直至生命的盡頭。我告訴她我會盡量 伴她,能多久就多久,她是明白的」 。
柯玉芝在2010年10月2日辭世,5天後舉行 家族私人喪禮。李光耀致悼詞時透露 她的遺願是未來要和我骨灰並置,如 生前般在一起。
** 上面談到「Ma Ra Na Tha」禱告文,這意思是「主耶穌!來 」。不盡正確。我分析這一個音流, 大家分享:
ma 自我。ra 生命。na 智慧。tha 心靈、憂鬱。mara 死亡。marana 命終。natha 主人。
ma ra na tha 自我生命的心靈智慧。
ma ra natha 自我生命的主人。
marana tha 命終的心靈。
mara natha 死亡之主。
以天主教或基督教的語言來說,耶穌 督是死亡之主,也是自我生命的主人
但這是禱告文,所以應該解成「命終 心靈」或「自我生命的心靈智慧」, 乎要傳神些。
其實,這四個意思都可以。
不過,假如把它變成一個祝禱的咒音 更棒了。
因此我在前面加上oṃ,在後面加上svā hā bhrūṃ,就更生動了。
於是就成為:oṃ ma ra na tha svāhā bhrūṃ
oṃ 是一個讚嘆。svāhā 是一個祝福。bhrūṃ 是一個圓滿。
這樣的祝禱咒音就可以適用於任何宗 及對任何臨命終人的祝禱音流了。
因為這裡面沒有神或佛菩薩的聖號。
把主耶穌、上帝、阿拉、阿彌陀佛等 號都拿掉,在一個人臨命終時,就不 地唸這個咒音去祝禱,應該是最殊勝 的功德了。
oṃ ma ra na tha svāhā bhrūṃ
oṃ ma ra na tha svāhā bhrūṃ
oṃ ma ra na tha svāhā bhrūṃ
oṃ ma ra na tha svāhā bhrūṃ
oṃ ma ra na tha svāhā bhrūṃ
———————————–
就八個梵字,我稱它為『臨終祝禱八 真言』。