-
药师琉璃光七佛本愿功德经 2018-06-23 19:57:18
大唐三藏沙门义净于佛光内寺译
如是我闻。一时薄伽梵游化诸国,至 严城,乐音树下,与大比丘众八千人 。菩萨摩诃萨三万六千,其名曰曼殊 室利菩萨、观自在菩萨、慈氏菩萨、 现菩萨、大慧菩萨、明慧菩萨、山峰 萨、辩峰菩萨、持妙高峰菩萨、不空 超越菩萨、微妙音菩萨、常思惟菩萨 执金刚菩萨。如是等诸大菩萨而为上 。及诸国王大臣、婆罗门、居士、天 龙八部、人、非人等,无量大众恭敬 绕而为说法。初中后善,文义巧妙, 一圆满,清净鲜白,梵行之相,示教 利喜,皆令具足,微妙行愿,趣大菩 。
呾侄他 恶寠莫寠 呾去罗寠 么么寠具丽 诃呼去醯去末啰末啰末啰 紧树丽布丽 莎诃
Tadyatha Aghu Maghu taraghu mamaghu khure hahuhe mara mara mara sucure pure svaha
https://blog.creaders.net/u/4442/201806/324511.html
-
药师七佛供养简轨
A Concise Ritual of Offering to the Seven Tathagatas
༄༅། །དེ་བཞིན་གཤེགས་པ བདུན་མཆོད་པའི་ཆོ ག །
作者: 大宝法王邬金钦列多杰
Author: H.H. Oygen Trinley Dorje
http://bambookarma.org/tibetan/sutra...haSadhana.html
-
-
BẢN VIỆT DỊCH TỪNG CHỮ PHẠN VỚI LƯỢC GIẢI VÀ ẤN PHÁP
ĐẠI BI TÂM ĐÀ LA NI
Maha karunika citta Dharani
1. (Việt) Nam mô Hắc ra đát na đa ra dạ da → (Sanskrit) Namah Ratnatrayaya.
Namah, Namo: dịch nghĩa (viết tắt: dng:) Kính lạy, Quy y, Quy mạng, Nương về. Ratnatrayaya: Tam Bảo (Phật, Pháp Tăng). Ratna: Bảo, quý báu; Traya: Tam, ba.
Lược giải (viết tắt: L.G.:) Con xin nương tựa, kính cẩn dâng trọn tâm, thân lên chư Phật, quy y Tam Bảo vô tận vô biên khắp mười phương ba đời. Câu niệm Phật chủ yếu mang lại tất cả điềm lành.
24. Tát bà tát bà → Sarva Sarva,
Sarva: dng: Đấng Nhất thiết chủng trí, lợi lạc chúng sinh.
L.G.: Đấng Nhất thiết chủng trí hành trì ấn pháp mang tới an lạc thái hòa.
* AP: Bảo ấn thủ nhãn (chú ngữ: Tát bà tát bà). Cầu được khẩu tài vô ngại.
https://tinhtan.org/2020/06/07/chu-d...i-vuot-be-kho/
-
-
-
-
• KINH ĐẠI BI TÂM ĐÀ LA NI ( dịch từng chữ, có Phạn Chú Đại-Bi, có Phạn Chú Nhật-Quang Bồ Tát, có Phạn Chú Nguyệt-Quang Bồ Tát, có hình 42 Thủ Nhãn ):
https://daitangkinh.net/?f=Kinh-Thie...i&m=awviet2#!1
• KINH THIÊN QUANG NHÃN BÍ MẬT PHÁP KINH ( Có Hình 40 Bổn Tôn của Thủ Nhãn, có chữ Tất-Đàn ):
https://tangthuphathoc.net/thien-qua...mat-phap-kinh/
-
-
Muốn vãng sinh Tây Phương Cực Lạc thì niệm:
“Nam Mô Đại Bi Công Đức Bảo Vương Như Lai”.
https://lichngaytotvn.blogspot.com/2...ng-uc.html?m=1
-
-
-
Trước đây tại quận Ling ch’ing, huyện Chi-nan, Sơn Đông có một người nho sinh tên là Lý Thanh. Vào ngày 3 tháng 8 năm Trinh Thái thứ sáu (1455), y bị đột tử. Khi trình diện trước mặt Diêm Vương, y được hỏi đã làm được những điều thiện gì khi còn sống ở dương gian. Lý trả lời rằng vào ngày đản sanh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tức là ngày 8 tháng 4, y đã ăn chay và niệm 10,000 lần danh hiệu Phật. Khi Diêm Vương nghe chuyện này thì liền đứng dậy và ca ngợi Lý cho rằng y đã làm được điều tốt và tích lũy được nhiều công đức. Rồi Diêm Vương hỏi tiếp, “Tại sao không có ai ăn chay và trì tụng danh hiệu Phật vào những ngày đản sanh của Thập Vương ?” Lý trả lời là những người trên dương thế không có ai biết ngày đản sanh của Thập Vương cả. Thế rồi vua Diêm Vương bảo rằng ông ta sẽ cho phép Lý được hoàn hồn sống lại nếu Lý chịu phổ biến ngày sinh nhật của Thập Vương và dạy cho người đời cử hành những ngày lễ vía này bằng cách ăn chay và tụng niệm danh hiệu Phật. Nếu làm như thế, họ sẽ có một cuộc sống hạnh phúc và khi chết sẽ được tái sanh về những cảnh giới tốt lành. Thế rồi Diêm Vương ra lệnh cho một con qũy dẫn hồn Lý trở lại dương thế. Khi Lý sống lại, y đã viết ra ngày sinh nhật của Thập Vương trên một mảnh giấy và kêu gọi mọi người làm lễ kỹ niệm Thập Vương vào những ngày này. Trong những ngày này, nếu người ta đốt nhang đèn, giấy tiền vàng bạc như là những phẩm vật cúng dường đến Thập Vương, họ sẽ không bao giờ bị rơi xuống địa ngục mà sẽ được tái sanh vào cõi thiên đàng. Sau đây là những ngày đản sanh của thập vương :
Ngày 8 tháng giêng là ngày đản sanh của vị vua thứ tư có họ là Shih. Trong ngày này, trì tụng danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng 1000 lần thì sẽ không bao giờ bị rơi vào Ngục Cắt Lưỡi.
Ngày mồng 1 tháng 2 là ngày đản sanh của vị vua thứ nhất, có họ là Hsiao. Trong ngày này niệm danh hiệu Phật Định Quang một ngàn lần thì sẽ không bao giờ bị rơi vào Ngục Núi Đao.
Ngày 27 tháng 2 là ngày đản sanh của vị vua thứ sáu có họ là Pi. Niệm danh hiệu Bồ Tát Đại Thế Chí 1000 lần thì sẽ không bao giờ bị rơi vào ngục Rắn Độc.
Ngày 28 tháng 2 là ngày đản sanh của vị vua thứ ba có họ là Yu. Niệm danh hiệu Phật Bhadra kalpa một ngàn lần thì sẽ không bao giờ bị rơi vào Ngục Băng Giá.
Ngày mồng 1 tháng 3 là ngày đản sanh của vị vua thứ hai, có họ là Ma. Trong ngày này niệm danh hiệu Phật Dược Sư một ngàn lần thì sẽ không bao giờ bị rơi vào Ngục Vạc Dầu.
Ngày 7 tháng 3 là ngày đản sanh của vị vua thứ bảy có họ là Tung. Trong ngày này, trì tụng danh hiệu Bồ Tát Quán Âm 1000 lần thì sẽ không bao giờ bị rơi vào Ngục Cối Giả.
Ngày 8 tháng 3 là ngày đản sanh của vị vua thứ năm có họ là Han. Trong ngày này, trì tụng danh hiệu Phật A Di Đà 1000 lần thì sẽ không bao giờ bị rơi vào Ngục Rừng Kiếm.
Ngày mồng 1 tháng 4 là ngày đản sanh của vị vua thứ tám, có họ là Huang. Trong ngày này niệm danh hiệu Phật Tỳ Lô Xá Na một ngàn lần thì sẽ không bao giờ bị rơi vào Ngục Cưa Xác.
Ngày 7 tháng 4 là ngày đản sanh của vị vua thứ chín có họ là Hsueh. Trong ngày này, trì tụng danh hiệu Bồ Tát Dược Vương 1000 lần thì sẽ không bao giờ bị rơi vào Ngục Giường Lửa Nóng.
Ngày mồng 22 tháng 4 là ngày đản sanh của vị vua thứ mười, có họ là Hsueh (cùng họ với vị vua thứ chín). Trong ngày này niệm danh hiệu Phật Thích Ca Mâu Ni một ngàn lần thì sẽ không bao giờ bị rơi vào Ngục Hắc Ám.
Như vậy ở đây ta thấy Thập Vương không những đã được cho mang những họ đẹp đẽ của người Trung Hoa, mà đồng thời cũng đã được làm cho biến thành những người đi xiễn dương phương pháp thực hành của môn phái Tịnh Độ chính thống. Mặc dầu ngày tháng khác biệt nhưng bản thời khoá này tương tự với mười ngày thập trai của một người Phật tử thuần thành (17). Hơn thế nữa, việc khuyến khích mọi người trì tụng danh hiệu của một vị Phật hay Bồ Tát đặc biệt nào đó trong những ngày sinh nhật của thập vương, bản văn này đã quảng bá cho một phiên bản Trung quốc của một bản kinh Nhật Bản, honji suijaku. Cũng giống như bản kinh “Địa Tang và Thập Vương Kinh” (Jizo juo kyo) của Nhật Bản được viết bởi những tác giả vô danh của Nhật Bản trong khoảng từ năm 1000 đến 1300 C.E., trong đó thập vương đã được ghép chung với mười vị đầu tiên trong số mười ba vị linh thần Phật giáo, bản văn này cũng làm công việc tương tự, tuy nhiên đã có sự khác biệt tên tuổi trong hai bản văn Trung hoa và Nhật Bản (Teiser 1994 :60,237). Khuynh hướng của những tác giả sáng tác bảo quyển là cố gắng tổng hợp những yếu tố đa dạng vào trong một thể thống nhất, đó là điều mà tôi đã từng nhấn mạnh trước đây và đây được xem như là một thí dụ có tính thuyết phục.
http://lecongda.20fr.com/BoTatQuanTheAm8.htm
-
Một bản dịch cuối cùng thuộc loại Thiên Thủ Avalokitesvara mà chúng ta sẽ nói đến là Thiên Quang Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Bí Mật Kinh do Tô Phược La dịch. Bộ kinh này đã không được lưu lại trong bất kỳ cuốn danh mục nào, ngoại trừ trong bộ Tam Tạng Tân Tu Ðại Tạng Kinh là bản sao chép của Nhật Bản, mà niên đại được biết là năm 1125 (T20:126c). Bộ kinh này có thể đã được dịch hay kết tập vào đời Ðường bởi vì danh hiệu Quán Tự Tại như ta biết chỉ bắt đầu được dùng bởi ngài Huyền Trang. Ðiều này đã giải thích lý do tại sao Bồ Tát Avalokitesvara lại được mô tả là có “Ngàn Mắt Chiếu Soi” bởi vì Ngài phóng quang chiếu soi khắp cả chúng sanh với những con mắt này (T 20:125a). Tác giả của bản kinh này có vẻ như rất quen thuộc với bốn mươi đại thủ ấn của Bồ Tát, nhưng sắp xếp chúng thành năm loại chính, mỗi loại gồm tám đại thủ ấn: Như Lai thủ, Kim Cương thủ, Như Ý Châu, Liên Hoa Thủ và Nghiệp. Bộ Như Lai thủ có công dụng chính là khắc phục mọi chướng ngại gồm các thủ ấn sau đây: Hóa Phật, quyến sách, vô úy, phất trắng, bàng bài, phủ việt, bảo kích, và cành dương liễu. Bộ Kim Cương thủ có tác dụng chế ngự, gồm: Bạt chiết la, chày kim cang, bửu kiếm, hóa cung điện, bất thối kim luân, bửu bát, nhựt tinh ma ni, nguyệt tinh ma ni. Bộ thủ ấn Ngọc Như Ý mang đến những lợi ích cụ thể gồm: Như ý châu, cung báu, kinh báu (Bửu Kinh), hoa sen trắng, hoa sen xanh, linh báu (Bửu Ðạt), hoa sen tím, chùm bồ đào. Bộ Liên Hoa Thủ sẽ làm cho mọi người yêu mến và kính trọng hành giả gồm: Hiệp chưởng, gương báu (bửu cảnh), ấn báu (Bửu Ấn), vòng ngọc (ngọc hoàng), hồ bình, quân trì, hoa sen hồng, tích trượng. Và cuối cùng, bộ thủ ấn Nghiệp với tác dụng chiêu hồi, truyền lệnh gồm: Cu thi thiết câu, đảnh thượng hóa Phật, xâu chuỗi ngọc (Số Châu), loa báu, tên báu, bảo kíp, gậy đầu lâu (Cô Lâu Trượng), mây ngũ sắc (Ngũ sắc vân) (T20:120a).
Tùy thuộc vào những ước vọng mà hành giả muốn đạt đến hay thủ đắc, bộ kinh hướng dẫn hành giả cách thức tạo dựng tôn tượng của Bồ Tát với đặc tính tương ứng, cách bắt ấn quyết và trì tụng thần chú đặc biệt cho từng trường hợp.
http://lecongda.20fr.com/BoTatQuanTheAm2.htm
-
Cao Vương Quán Thế Âm Kinh
Trong số tất cả những bộ kinh bản địa có mục đích quảng bá tư tưởng tôn thờ Bồ Tát Quán Âm, bộ kinh này là nổi tiếng hơn cả. Không những nó đã được sự quan tâm đặc biệt của giới học giả (Makita 1970, 1976) mà còn là một bộ kinh được những Phật tử thuần thành ưa thích, trãi qua bao thời đại và cả đến ngày hôm nay, lựa chọn để ấn tống. Tính cách phổ thông của nó được thể hiện qua việc tín đồ đã không ngại bỏ tiền ra để bảo tồn cũng như quảng bá qua mỹ thuật. Cụ thể như trong một tấm bia đá tạ ơn có niên đại vào thời Bắc Tề (550-577) hiện được lưu trữ tại Bảo Tàng Viện Mỹ Thuật Á Châu, San Francisco, nội dung của bản kinh này đã được khắc vào phần dưới của tấm bia, nữa phần trên là hình của Bồ Tát Quán Âm cùng với đoàn tùy tùng thị giả gồm A Nan, Ca Diếp, hai vị Bồ Tát và hai vị Thiên vương (7). Bộ Kinh này đã được ngài Ðạo Tuyên đề cập đến lần đầu tiên trong bộ Ðại Ðường Nội Ðiển Lục vào năm 664. Hiện năm bản kinh vẫn còn tồn tại: một bản được khắc vào động Lôi Âm vào khoảng năm 616, một bản khác tại Ðộng số 3 Phòng Sơn, gần Bắc Kinh khắc trong khoảng từ năm 665 đến 669, bản thứ ba là nguyên bản kinh văn được khám phá tại Turfan nay được bảo quản trong bộ sưu tập Deguchi, Nhật Bản. Bộ này có niên đại vào khoảng thế kỷ thứ tám, hiện đang được các nhà học giả nghiên cứu kỷ lưỡng. Bản thứ tư được khám phá tại Ðôn Hoàng và bản thứ năm được ghi lại trong bộ Ðại Chính Tân Tu Ðại Tạng Kinh. Cả hai bộ sau này chưa thể xác định được niên đại. (Kiriya 1990:10).
Bộ kinh này có những tựa đề khác nhau. Cụ thể như trong tấm văn bia tại Ðộng Lôi Âm thì được gọi là Phật Thuyết Quán Thế Âm Kinh và Ðại Vương Quán Thế Âm Kinh. Ðồng thời nó cũng mang những tên khác là Cứu Sanh Quán Thế Âm Kinh và Tiểu Quán Thế Âm Kinh. Bản Nhật Bản có tên là Quán Thế Âm Chiết Ðao Trừ Tội Kinh. Những bản kinh ra đời sớm nhất, nội dung không có gì khác hơn là danh sách liệt kê danh hiệu của một số vị Phật và lời hứa hẹn sẽ đạt được những lợi ích thế tục nếu thờ phượng Bồ Tát Quán Âm. Nhưng càng về sau thì phần văn tự càng được thêm vào dài dòng hơn kể cả những lời sám nguyện, cầu nguyện, những thần chú cùng danh hiệu của các vị Phật. Ý tưởng chủ yếu của bộ kinh này đặt cơ sở trên niềm tin được quảng bá trong đại bộ phận kinh điển Ðại thừa đã được dịch sang Hán văn và củng cố vững chắc kể từ thế kỷ thứ sáu: những tội lỗi có thể được tiêu trừ do niệm danh hiệu Phật, trì tụng kinh điển hay thần chú. Cũng giống như kinh Pháp Hoa khuyên những kẻ thuần thành nên trì niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Âm, những bộ kinh khác nói về danh hiệu Phật (Phật Danh Kinh) khuyến khích thực hành sám hối tội lỗi bằng cách niệm hồng danh chư Phật (Shioiri 1964).
Bản kinh này nguyên thủy kể lại câu chuyện một người đã được cứu vớt ra khỏi chốn ngục tù và thoát khỏi bị hành hình do trì tụng bộ kinh mà Bồ Tát Quán Âm đã tuyên thuyết. Phép lạ xảy ra đã làm cho "Cao Vương" rúng động, hồi tâm, ra lệnh ân xá cho tội nhân và phổ biến bộ kinh này. Thế nhưng câu hỏi được đặt ra là nhân vật tù nhân và Cao Vương trong bộ kinh này là ai? Các cuốn biên niên sử Phật giáo và sử sách thế tục đã đưa ra ba tên tuổi khác nhau về nhân vật chính của câu chuyện: Vương Huyền Mô (388-468), Lư Cảnh Vu (d. 542), và Tôn Kính Ðức, tất cả đều sống trong khoảng thế kỷ thứ sáu. Còn Cao Vương thì chắc chắn không ai khác hơn là Cao Hoan (496-547) vị Tể tướng đầy quyền lực của nhà Ðông Ngụy và cũng là người sáng lập nên triều đại Bắc Tề.
Trong số ba người được kể tên nói trên, Lư là người có mối quan hệ mật thiết với Cao Hoan hơn cả. Makita đã cung cấp cho ta một chi tiết khá đầy đủ về mối quan hệ lâu dài và khá phức tạp này. Lư nguyên xuất thân từ một gia đình thế gia vọng tộc tại Hồ Bắc. Người bác của Lư có phẩm hàm bá tước đã được vua ban cấp thái ấp vào năm 528, tuy nhiên Lư không bước vào chốn quan trường mà lựa chọn sống một cuộc đời thanh bạch và đạo đức. Ông rất thân cận với giới tu sĩ Phật giáo đương thời và đã viết nhiều lời đề tựa cho các cuốn kinh được dịch sang Hán Văn. Sau khi Cao Hoan dựng Hiếu Kinh lên ngôi Hoàng đế và dời đô về đất Diệp, thuộc địa phận tỉnh Hồ Bắc ngày nay, thúc đẩy cho việc tách rời nhà Ðông Ngụy ra khỏi Bắc Ngụy, ông đã mang theo Lư cùng một số những người có trình độ học thức khác về kinh đô mới. Mặc dù Cao Hoan trên danh nghĩa là Tể Tướng nhưng uy quyền của ông rất lớn, bao trùm lên tất cả. Chẳng bao lâu sau, vào khoảng cuối năm 537, những người anh em bà con trong gia tộc của Lư đã nổi dậy chống lại Cao nhưng cuộc nổi loạn này đã bị dẹp tan khoảng mười tháng sau đó. Lư bị tình nghi có dính líu vào âm mưu phản loạn và bị tống giam vào ngục để chờ ngày xét xử. Căn cứ vào tự truyện của Lư vừa mới tìm thấy gần đây trong Bắc Sử thì, "Khi Cảnh Vu bị giam trong ngục tối tại Tân Dương, ông đã nhất tâm trì tụng bộ kinh này. Bỗng nhiên tất cả các gông cùm xiềng xích đều tự tan rã. Cũng trong lúc này có một người tù khác đang bị án tử hình, tuy nhiên một đêm y nằm mộng thấy một vị Tăng dạy cho y bộ kinh này và sau khi tỉnh dậy đã âm thầm chuyên trì tụng đọc hàng ngàn lần, đến ngày xử chém, lưỡi gươm đã bị gảy đôi khi hành hình. Khi nghe chuyện này, nhà vua liền lập tức ra lệnh ân xá cho người tù kia. Bộ kinh này vì thế được phổ biến rộng rãi dưới nhan đề là Cao Vương Quán Thế Âm Kinh" (Makita 1970:161-66).
Tác giả của Bắc Sử đã căn cứ vào tự truyện của Lư trong bản gốc đã bị mất và được kể lại trong bộ Ngụy Sử của Ngụy Thu. Ngụy Thu là bạn thân của Lư thế nên đây là một nguồn xuất xứ rất đáng tin cậy. Tuy nhiên câu chuyện đã nói đến hai phép lạ khác nhau, một của Lư và một của người tù vô danh. Lư được biết là đang chuyên tâm trì tụng một bộ kinh Phật giáo, không rõ tên. Ông là một học giả Khổng giáo tên tuổi đồng thời cũng là một Phật tử thuần thành, thế nên một điều chắc chắn là ông phải thuộc rành kinh điển Phật giáo, không cần phải nhờ ai chỉ dạy. Tuy nhiên đối với trường hợp người tù vô danh mô tả là được một Tăng sĩ trong giấc mơ truyền dạy cho một bộ kinh, vị Tăng này không ai khác hơn là Bồ Tát Quán Âm vì hầu như trong các cuốn kinh nói về thần chú, cụ thể như cuốn được tuyên thuyết bởi Thiên Thủ Quán Thế Âm do ngài Trí Thông dịch, Bồ Tát thường được mô tả xuất hiện dưới hình thức như thế. Khi người tù này chuyên tâm trì tụng hơn một ngàn biến, lúc hành hình lưỡi gươm đã bị gãy đôi và y được ân xá. Những hoàn cảnh và chi tiết trong câu chuyện này rất gần giống với trường hợp của Tôn Kính Ðức. Xét về mặt sử liệu, câu chuyện được ghi lại trong Bắc Sử có phần nào mơ hồ và không thỏa đáng. Trong kinh, câu chuyện của Lư và người tù vô danh kia đã được đan lồng vào nhau. Tuy không nói ra nhưng người ta đoán biết rằng bộ kinh mà Lư trì tụng và bộ kinh mà người tù được vị Tăng ban cho trong giấc mơ là một. Thế nhưng ta không có chứng cớ nào để chứng minh điều này. Và Cao Vương là ai? Ðiều này cũng không được nói rõ. Ta biết được rằng sau khi ra khỏi tù, Lư đã được Cao Hoan mướn làm gia sư và hai người con trai của Cao Hoan sau này đều trở thành những vị Hoàng đế của nhà Bắc Tề. Một điều hơi mỉa mai là bộ kinh được đặt tên của người đã ngược đãi Lư và sau này lại trở thành kẻ ân nhân. Nhân vật Cao Vương trong kinh chắc chắn không ai khác hơn là Cao Hoan. Ðiều này cho ta một lý do để giải thích tại sao so với bao nhiêu bộ kinh bản địa khác bị đào thải thì bộ kinh này lại tồn tại vì có thể nó đã được hổ trợ bởi một đấng quân vương đầy quyền lực.
Lúc bản dịch Chánh Pháp Hoa Kinh của ngài Đàm Vô Sấm -bản dịch sớm nhất của Kinh Pháp Hoa, xuất hiện vào năm 286, phẩm Phổ Môn có thể đã tồn tại một cách độc lập. Như ta đã biết, phẩm kinh này đã được lưu hành một cách rộng rãi do sự chiếu cố đặc biệt của Hoàng đế Bắc Lương, Trở Cừ Mông Tốn (r.401-433), người đã được ngài Tan Wu chen (Đàm Vô Sấm 385-433) củng cố niềm tin. (8). Ngài Cưu Ma La Thập đã hoàn tất bản dịch Kinh Pháp Hoa vào năm 406 , trong đó phẩm “Phổ Môn” đã được những tín đồ thuần thành gọi là “Kinh Quán Âm”. Chúng ta hãy trở lại câu chuyện của Vương, được ghi chép lại trong bộ Thái Bình Ngự Lãm (chuyện 654) và Thái Bình Quảng Chí (chuyện 111), xuất bản vào năm 983. Đoạn văn có liên quan đến Vương Huyền Mô được mô tả như sau: [Vương] nằm mơ thấy một người đến bảo ông ta rằng nếu tụng Kinh Quán Âm một ngàn biến, ông sẽ được cứu thoát qua khỏi tai họa. Vương Huyền Mô trả lời rằng mình có thể bị mang ra chém đầu bất cứ lúc nào làm sao có đủ thì giờ để tụng một ngàn biến Phổ Môn? Người này liền dạy Vương hãy chuyên tâm trì tụng mười câu kinh như sau: Nam Mô Quán Thế Âm, Vị Phật Đáng Tôn Kính, do nhân lành mà con biết Phật, do duyên lành mà con biết Phật, Phật và Pháp không hề rời nhau; vĩnh cữu, cực lạc, thực ngã, và tinh khiết; con niệm Quán Thế Âm vào buổi sáng, con niệm Quán Thế Âm vào buổi tối, niệm niệm xuất phát từ tâm, Phật tức tâm’. Khi Vương thức dậy, ông lập tức tụng đủ một ngàn biến. Lúc Vương sắp bị đem đi hành hình, tướng Shen Ching Ch’ih đã vội can gián với Hoàng đế và nhờ đó Vương được ân xá.”
-
Lý do tại sao thoạt tiên Vương nghĩ là mình không thể thực hiện theo lời chỉ bảo của người trong giấc mơ? Vì ông tin rằng Quán Âm Kinh chính là Phẩm Phổ Môn, và quả thực như ta biết phẩm kinh này tương đối khá dài. Trong khi đó, với mười câu kinh ngắn gọn và cô đọng sẽ rất dễ dàng cho mọi người đọc tụng được nhiều lần. Mặc dầu cả hai bộ sách nói trên đã không nói rõ mười câu kinh này thuộc về Cao Vương Quán Thế Âm Kinh, nhưng sau này Chí Bàn, tác giả Phật Tổ Thống Kỷ vào năm 1269 đã nhìn nhận và cho biết:
Kinh này chỉ có mười câu. Đây chính là những câu đã được truyền cho Vương Huyền Mô vào đời nhà Tống (424-479) cũng như được Tôn Kính Ðức trì tụng và được in ấn phổ biến trên thị trường hiện nay. Tuy nhiên do người đời sau đã thêm thắt vào một cách tùy tiện làm cho câu văn trở nên thông tục, mất cân đối khiến những kẻ có học thức nghi ngờ tính cách chân thực của kinh này. Trong vương triều của chúng ta, dưới thời Chia-yu (1056-63), người vợ của Long Tuyết Mai (Lung Hsueh-mei) mù cả hai mắt, được khuyên là nên đến cầu nguyện tại chùa Thiên Trúc Thượng. Một đêm bà nằm mơ thấy có người mặc áo trắng đến bảo hãy trì tụng “Kinh Quán Thế Âm Mười Câu”, bà nghe lời và trì tụng liên tục không ngưng nghỉ, đôi mắt của bà sau đó đã được phục hồi hoàn toàn. Triệu tiên sinh của Thanh Hiên (Ch’ing-hsien) đã viết và phổ biến câu chuyện này. Bồ Tát Quán Âm đã truyền dạy mười câu kinh cực ngắn này để cứu vớt con người ra khỏi những đại họa, và từ trước đến giờ đã có ba câu chuyện linh ứng xảy ra. Chúng ta có dám không tin tưởng hay không? (T 49:357c).
Trong bộ Cao Vương Quán Thế Âm Kinh được tu chính hiện còn tồn tại người ta thấy có sáu câu đầu tiên của bản kinh mười câu này, còn bốn câu sau thì bị mất. Tuy nhiên đã có giả thuyết, cụ thể như Chí Bàn, cho rằng thực ra bản kinh mười câu này có thể chính là dạng nguyên thủy của bộ kinh bản địa nói trên (Kiriya 1990:15-16 (9). Điều đáng nói ở đây là thái độ của Chí Bàn, chẵng những ông đã không lên án bản kinh này là ngụy kinh mà còn khuyến khích người đương thời tin tưởng vào nó bằng cách trưng dẫn những phép lạ đã xảy ra cho hai nhân vật trong quá khứ cũng như một nhân vật sống gần với thời đại của ông hơn. Một chi tiết đáng lưu ý khác là người nói ra nội dung của kinh cũng thay đổi theo với thời gian, từ một nhà sư thành một người đàn bà áo trắng. Như ta biết, kể từ thế kỷ thứ mười trở đi, Bồ Tát ngày càng được biết đến dưới hình ảnh Bạch Y Quán Thế Âm, và ngôi chùa Thiên Trù Thượng tại Hàng Châu được coi như là trung tâm thờ phượng Ngài (xem chương 6). Cho nên quả là điều dễ hiểu khi ta thấy bà Long đã được Bồ Tát Quán Âm cho nằm mơ thấy sau khi đến cầu nguyện tại chùa Thiên Trù Thượng. Bồ Tát Quán Âm đã cứu Vương Huyền Mô và Tôn Kính Ðức ra khỏi tù tội và cái chết, nhưng đồng thời cũng đã cứu bà Long thoát khỏi bị mù. Từ đây, ta có thể khám phá ra một đặc tính tổng quát cho tất cả các kinh điển bản địa. Mặc dầu Cao Vương Quán Thế Âm Kinh không theo một kiểu mẫu cố định và có cùng văn phong của loại kinh điển truyền thống, sự “chính thống” của nó cũng đã được hợp thức hoá và cập nhật bởi những câu chuyện về phép lạ đã xảy đến cho những con người thật trong những thời điểm và không gian nhất định có thể kiểm chứng được. Trong cách thế như vậy, những kinh điển bản địa, giống như những tài liệu lưu trữ phép lạ, đã đặt Bồ Tát Quán Âm một cách vững chắc vào mảnh đất Trung Quốc bằng cách nối kết một cách mật thiết hạnh nguyện cứu độ của Bồ Tát với những mảnh đời đau thương của quần chúng Trung Quốc.
Chí Bàn đã đề cập đến cuốn kinh bản địa này dưới ba tên gọi (Kinh Cao Vương, Kinh Thập Cú và Kinh Cứu Khổ) ở chín vị trí khác nhau trong các truyện 36, 38, 52 và 53 của Phật Tổ Thông Kỷ với ba nhân vật được dùng như là những nhân vật tuyên truyền chính trong những mẫu chuyện về phép mầu của Bồ Tát. Cung cách này cũng giống như Thái Bình Quảng Ký ghi lại những câu chuyện của Lư Cảnh Vu (truyện 102) và Tôn Kính Ðức (truyện 111). Khác với Lư và Vương, Tôn không phải là một viên tướng hay nhà học giả mà chỉ là một mạc sĩ, người nha lại tầm thường phục vụ trong nha huyện. Câu chuyện của Tôn đã được ngài Ðạo Tuyên ghi chép lại lần đầu tiên trong Tục Cao Tăng Truyện (truyện 29), với chi tiết như sau:
Dưới thời Thiên Bình (534-537) của triều đại Bắc Ngụy, một nha lại ở Tinh Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc) tên là Tôn Kính Ðức có đúc một ảnh tượng của Bồ Tát Quán Âm để thờ tại nơi công quán của y. Mỗi khi công chuyện trở về, y đều cúng lễ rất nghiêm chỉnh. Sau đó có một đám cướp bị bắt đã cáo gian Tôn là đồng lõa. Tôn bị bắt giam vào ngục và vì không chịu nỗi cực hình tra tấn, Tôn đã nhận tội mà mình không hề phạm rồi bị kết án tử hình. Ðêm trước khi bị hành hình Tôn cảm thấy nổi lên một niềm ăn năn thống hối và chảy nước mắt mà phát nguyện rằng: "Ðây chính là do kết quả những tội lỗi của kiếp trước nên nay tôi mới bị cáo gian. Bây giờ là lúc tôi trả món nợ nghiệp báo này. Tôi xin nhận chịu sự đau khổ của hết thảy chúng sanh". Sau đó Tôn bỗng rơi vào trạng thái buồn ngũ và mộng thấy một vị Tăng đến dạy cho mình trì tụng bộ kinh Quán Âm Cứu Khổ Cứu Nạn, trong đó có rất nhiều danh hiệu của các vị Phật, rồi bảo Tôn phải tụng đủ một ngàn biến thì có thể thoát khỏi bị hành hình. Sau khi thức giấc, Tôn liền trì tụng bộ kinh được vị Tăng truyền cho trong giấc mơ không hề vấp váp, nhưng vừa mới tụng được một trăm biến thì trời đã sáng. Trên đường dẫn đến pháp trường, Tôn vừa đi vừa tiếp tục tụng niệm và khi hoàn tất xong một ngàn biến cũng vào lúc mà đao phủ đưa đao lên để chém đầu, nhưng mầu nhiệm thay, lưỡi đao vừa chém xuống lập tức bị gảy thành ba mảnh. Người đao phủ đã phải thay đao đến ba lần nhưng kết quả cũng vẫn như cũ. Ngạc nhiên trước sự kiện lạ lùng này, họ vội báo cho quan Tể tướng Cao Hoan và xin khoan hồng cho Tôn. Cao nghe chuyện liền ra lệnh cho chép lại bản kinh và phổ biến rộng rãi khắp nơi vì thế bộ kinh bây giờ mới có tên gọi là Cao Vương Quán Âm Kinh. Sau khi được phóng thích, Tôn trở về nơi công quán và thấy trên cổ của bức tượng Quán Âm có dấu của ba nhát dao chém. (T 50: 692c-6903a).
Thu hút mạnh mẽ bởi câu chuyện này Ngài Ðạo Tuyên đã đưa vào cả trong ba bộ biên niên sử khác nhau, Thích Già Phương Chí (T 51:972b) kết tập vào năm 650, Tập Thần Châu Tam Bảo Cảm Thông Lục (T 52:420a, 427a) kết tập năm 664, và bộ Nội Điển Lục (T 53:339a) được kết tập cùng năm với bộ trên. Trong cả ba bộ biên niên này, ngài Ðạo Tuyên đã không hề đề cập đến hai nhân vật Vương hoặc Lư. Có thể là do ảnh hưởng của ngài Ðạo Tuyên, một số các cuốn biên niên sử Phật giáo khác như Pháp Uyển Châu Lâm (668), Phật Tổ Lịch Đại Thông Tái (1333), và Thích Thị Kê Cổ Lược (1354) cũng chỉ đề cập đến câu chuyện của Tôn Kính Ðức mà thôi (Kiriya 1990:44-49). Như vậy có thể nói mà không sợ võ đoán rằng, ngài Ðạo Tuyên chính là người đã đưa Tôn trở thành nhân vật chính của truyền thống bí nhiệm này. Tuy nhiên câu chuyện của Tôn một phần nào mang tính chất bi thảm hơn là Vương hoặc Lư nên đã có ưu thế trong việc tô đậm nét cả hình ảnh lẫn bản kinh nhằm xiễn dương những ân đức cứu độ của Bồ Tát Quán Âm. Thế nên đến thế kỷ thứ mười ba, nếu không nói là sớm hơn, Tôn đã trở thành một nhân vật nối kết chặt chẽ với bộ kinh bản địa này một cách độc quyền, bất khả phân ly.
Ý thức hệ cơ bản cũng như phương pháp hành trì tu tập được tuyên xưng bởi bộ kinh này hoàn toàn đặt cơ sở trên phẩm "Phổ Môn" của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Và như vậy, nếu như Pháp Hoa đã không được biết đến một cách rộng rãi trong xã hội đương thời thì Cao Vương Quán Thế Âm Kinh cũng khó mà được nổi danh một cách nhanh chóng. Cũng không có gì là khó hiểu khi ta thấy những kinh điển bản địa thường dựa vào tiếng tăm của những kinh điển "chính thống" để được chấp nhận. Ngay sau khi bản dịch đầu tiên của bộ Pháp Hoa ra đời vào năm 286, đã có rất nhiều mẫu chuyện về phép lạ của những người đã khấn cầu đến Bồ Tát dưới cái tên đặc biệt là Quang Thế Âm, theo cách dùng của ngài Ðàm Vô Sấm. Sau khi ngài Cưu Ma La Thập đưa ra một bản dịch Pháp Hoa mới với danh hiệu của Bồ Tát là Quán Thế Âm, trong khoảng một trăm năm, Lư Cao (459-523) đã kết tập một bộ sưu tập các mẫu chuyện vào năm 501 trong đó Bồ Tát được đề cập đến dưới danh hiệu Quán Thế Âm. Trong lúc này, một số tác giả đương thời như Liu-I-Ch'ing : Lưu Nghĩa Khanh (403-444) và Vương Diễm cũng đồng thời kết tập những bộ sưu tập các mẫu chuyện về phép lạ linh ứng trong đó có những câu chuyện liên quan đến Bồ Tát Quán Âm (Makita 1970:1968; Kiriya 1990:21-22). Có không biết bao nhiêu chứng cớ cho thấy phẩm "Phổ Môn" càng phổ biến rộng rãi bao nhiêu, Bồ Tát Quán Âm càng trở nên được quần chúng dưới thời Lục Triều tôn thờ sùng bái rộng rãi bấy nhiêu.
Cũng chẳng có gì khó hiểu lý do tại sao phẩm "Phổ Môn" lại được ưa chuộng như thế. Bởi vì nó đã đưa ra lời hứa hẹn rằng bất cứ ai nhất tâm cầu nguyện đến danh hiệu Bồ Tát, họ sẽ được cứu vớt ra khỏi bảy đại nạn (lửa, nước, gió bảo, dao kiếm, ma qũy, gông cùm xiềng xích và kẻ thù) và ba độc (tham, sân, si), cũng như đạt được hai điều nguyện ước (sinh con trai hay con gái). Hơn thế nữa, những lợi ích cụ thể và chắc chắn mà người ta sẽ đạt được không đòi hỏi phải có một kiến thức thông tuệ hay thông qua thiền định nhưng chỉ do niệm danh hiệu Bồ Tát -một phương thức thực hành rất là bình đẳng, dân chủ. Thế nên chẳng có gì là ngạc nhiên khi tín ngưỡng tôn thờ Bồ Tát trở nên phổ cập và đại chúng. Khi chúng ta nhìn vào sáu mươi chín mẫu chuyện về phép lạ trong “Ghi Chú Thêm về Những Mẫu Chuyện Linh Ứng của Bồ Tát Quán Thế Âm” của Lư Cao, tám mẫu chuyện nói về tai nạn đao kiếm, hai mươi hai câu chuyện về gông cùm xiềng xích, và mười bốn câu chuyện khác liên quan đến những hiểm nguy đối với kẻ thù nghịch. Như vậy có thể xem đây là những vấn nạn tiêu biểu, chiếm hơn phân nửa cuốn sách. Nhưng kể từ bản dịch đời Tùy (601), với phần kệ tụng được thêm vào trong phẩm Phổ Môn, bảy nạn lớn đã được phân ra thành mười hai trong đó các vấn nạn số 4 và số 6 trở thành “bị triều đình kết án tử hình, dao kiếm sẽ gãy rời thành từng mảnh” và “bị giam vào ngục tối, xiềng xích tay chân, sẽ được giải thoát”. Ðây chính là những nạn tai mà Tôn Kính Ðức, Vương Huyền Mô, và Lư Cảnh Vu mắc phải. Ngoài ra, một số mẫu chuyện được thêm vào trong bộ sưu tập này phần nào tương tự như trường hợp xảy ra cho ba nhân vật nói trên. Cũng giống như những kinh điển mà chúng ta đã biết, những mẩu chuyện về phép lạ này cũng đã mô tả chi tiết tỉ mỉ với đầy đủ tên tuổi của người được cứu nạn. Ðể chứng tỏ rằng mình không bịa chuyện, tác giả đã cẩn thận nêu rõ nguồn gốc của những câu chuyện này. Hơn thế nữa, một ngàn biến thường là con số tiêu chuẩn được yêu cầu phải trì tụng nếu muốn đạt đến kết quả.
Thông thường giới tăng sĩ Phật giáo được xem như là những người bảo vệ sự chính thống của kinh điển và hay chỉ trích lên án bất cứ ai tạo ra những kinh điển bản địa. Ðây là vị thế thông thường của những nhà kết tập mục lục kinh điển Phật giáo, tuy nhiên trong thực tế, vấn đề không phải lúc nào cũng đơn giản như vậy. Như ta đã thấy, cả hai ngài Ðạo Tuyên và Chí Bàn đã không hề đặt vấn đề về tính cách chân thực của bộ kinh Cao Vương Quán Thế Âm mà ngược lại còn làm cho nó trở nên danh tiếng. Một thí dụ có ý nghĩa khác là bộ kinh này cũng đã được chọn để khắc vào hang động tại Phòng Sơn. Kiriya (1990) đã lưu ý chúng ta về một sự kiện khá thích thú là nội dung của bản kinh này đã được khắc hai lần vào các hang động khác nhau. Thứ nhất là Ðộng Lôi Âm, vào năm 616, một trong tám bản khắc sớm nhất do Tĩnh Uyển, nhà sư mở đầu cho dự án khắc kinh vào đá tại Phòng Sơn thực hiện. Có tất cả mười chín bộ kinh đã được khắc trên 146 mảnh đá mỏng, trong số này bảy mươi sáu mảnh, tức là hơn phân nữa, khắc những kinh điển thuộc truyền thống Pháp Hoa. Cao Vương Quán Thế Âm Kinh là một trong những bộ kinh này. Số còn lại là các bộ kinh Duy Ma Cật, Hoa Nghiêm, Niết Bàn, Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Ða, và Kinh Thắng Man (Srimala,) tất cả đều là những bộ kinh Ðại thừa “chính thống” (Kiriya 1990:28, 64). Thế cho nên khi nhà sư Tĩnh Uyển tin rằng thời kỳ Mạt Pháp đã đến và trong ý hướng muốn bảo tồn kinh điển Phật giáo cho những thế hệ tương lai, ông đã chọn cho khắc bộ “ngụy kinh” này cùng với các kinh điển khác. Cũng giống như thái độ của các ngài Ðạo Tuyên và Chí Bàn trước đây, Tĩnh Uyển đã không mảy may kỳ thị về xuất xứ đáng ngờ của bộ kinh này. Ðây là một chứng cớ cho thấy bộ kinh này có thể đã rất phổ biến trong thời kỳ tiền bán thế kỷ thứ bảy. Một sự kiện khác mà ta không thể không lưu ý là bộ kinh này có xuất xứ từ Hồ Bắc, quê hương của nhà Ðông Ngụy và Bắc Tề nơi mà Cao Hoan và giòng tộc của ông nắm quyền cai trị do đó mới được lựa chọn trong dự án khắc kinh tại Phòng Sơn. Những đỡ đầu, hậu thuẩn chính trị đương nhiên đóng một vai trò quan trọng trong việc sáng tạo và phổ biến nguồn kinh điển bản địa.
http://lecongda.20fr.com/BoTatQuanTheAm3.htm
-
* ĐỨC QUÁN ÂM CỠI THẦN-THÚ:
"...Bồ Tát Quán Âm đang ngự trên 1 con HỐNG..."
Vào ngày 12 tháng Chạp, khi đi thăm viếng một ngôi chùa nhỏ trong vùng, tại đây tôi trông thấy bản kinh này được đặt kế bên một bức tượng Bồ Tát Quán Âm đang ngự trên một con hống, do một viên thư ký Bộ Hình cúng tặng.
Tôi bắt đầu trì tụng bộ thần chú này vào tháng Hai năm 1580 cùng với hai người bạn thân Li P’o-shu và Nghiêm Đạo Triệt. Không bao lâu sau đó thì Lý sanh được một đứa con trai và ba năm sau Nghiêm cũng có con trai. Chỉ có riêng mình tôi là không nhận được sự linh ứng này. Tôi thường luôn tự than trách mình vì nghiệp ác quá sâu dày nên đã không thể thành tựu được sự mong cầu như hai người bạn kia. Thế rồi vào một đêm tháng Ba năm 1583 tôi nằm mộng thấy mình đi vào một ngôi chùa và một vị tăng sĩ đến bảo tôi, “Trong khi trì tụng thần chú, ngươi đã bỏ sót tên của một vị Phật, nếu như ngươi niệm đúng danh hiệu, ngươi sẽ có con trai.” Tôi thức dậy bàng hoàng không hiểu ý nghĩa mà vị tăng nói tôi đã bỏ sót tên vị Phật nào vì tôi luôn luôn tụng niệm đầy đủ tất cả những danh hiệu trong mọi lễ lạc liên quan đến Ngài. Thế rồi vào mùa Đông năm 1585 khi có công chuyện phải đi về miền bắc, dọc đường vì con sông bị đóng băng tôi bị kẹt lại phải tạm trú tại một nhà công quán. Vào ngày 12 tháng Chạp, khi đi thăm viếng một ngôi chùa nhỏ trong vùng, tại đây tôi trông thấy bản kinh này được đặt kế bên một bức tượng Bồ Tát Quán Âm đang ngự trên một con hống, do một viên thư ký Bộ Hình cúng tặng. Tôi mở ra và đọc thấy tên của Bảo Nguyệt Quán Âm Tự Tại Vương Như Lai, một danh hiệu mà tôi chưa từng nghe trước đó, và tôi như chợt bừng tỉnh ra. Thế rồi tôi qùy xuống khấu đầu đảnh lễ Ngài. Trên đường trở về quê tôi đã chuyên tâm trì tụng danh hiệu này và chỉ ba ngày sau khi về đến nhà, đứa con trai của tôi chào đời. Thế là giấc mộng đã ứng nghiệm một cách tuyệt vời.
http://lecongda.20fr.com/BoTatQuanTheAm3.htm
-
Một trường hợp khá nổi tiếng khác là cuốn Cao Vương Quán Thế Âm Kinh, sẽ được đề cập đến trong chương kế tiếp. Danh hiệu của cuốn kinh này xuất hiện lần đầu tiên trong cuốn danh mục của Ðạo Tuyên, Ðại Ðường Nội Ðiển Lục, vào năm 664 trong phần nói về những phép lạ liên quan đến kinh điển trong các thời điểm khác nhau, đặc biệt nhấn mạnh đến những phép lạ đã xảy ra cho những người trì tụng kinh điển. Ông đã xếp cuốn kinh bản địa này dưới tên gọi Cứu Sanh Quán Thế Âm Kinh, ngang hàng cùng với các kinh Pháp Hoa, Niết Bàn, Hoa Nghiêm trong cuốn danh mục của mình. Tác giả của một cuốn danh mục khác, Ðại Chu San Ðịnh Chúng Kinh Mục Lục, kết tập vào năm 695 cũng đã có cùng quan điểm như thế. Tuy nhiên, ba mươi lăm năm sau, ngài Trí Thăng trong Khai Nguyên Thích Giáo Lục đã liệt kê cuốn kinh này vào loại ngụy kinh. Lý do mà ông đưa ra là cuốn kinh này đã được nói ra từ giấc mộng, không phải do một công trình dịch thuật, và những cuốn kinh tương tự của Tăng Pháp (Ni-tử) cũng thế, tất cả đều nên được xem là ngụy tác (T 55:675a).
http://lecongda.20fr.com/BoTatQuanTheAm3.htm
-
bộ kinh này cũng đưa ra những lời hướng dẫn trước giờ lâm tử. Khi có thân nhân sắp chết, hãy lấy một ít đất sạch từ hướng tây, trộn với tro đốt ra từ thần chú này để trên ngực của người hấp hối trước khi tẩm liệm. Do năng lực của thần chú này, người chết sẽ lập tức được vãng sanh về cõi Tây phương Tịnh Ðộ mà không cần phải đi qua giai đoạn bốn mươi chín ngày của thân trung ấm.
http://lecongda.20fr.com/BoTatQuanTheAm3.htm
-
Cao Vương Quán Thế Âm Kinh
Trong số tất cả những bộ kinh bản địa có mục đích quảng bá tư tưởng tôn thờ Bồ Tát Quán Âm, bộ kinh này là nổi tiếng hơn cả. Không những nó đã được sự quan tâm đặc biệt của giới học giả (Makita 1970, 1976) mà còn là một bộ kinh được những Phật tử thuần thành ưa thích, trãi qua bao thời đại và cả đến ngày hôm nay, lựa chọn để ấn tống. Tính cách phổ thông của nó được thể hiện qua việc tín đồ đã không ngại bỏ tiền ra để bảo tồn cũng như quảng bá qua mỹ thuật.
Bộ kinh này có những tựa đề khác nhau. Cụ thể như trong tấm văn bia tại Ðộng Lôi Âm thì được gọi là Phật Thuyết Quán Thế Âm Kinh và Ðại Vương Quán Thế Âm Kinh. Ðồng thời nó cũng mang những tên khác là Cứu Sanh Quán Thế Âm Kinh và Tiểu Quán Thế Âm Kinh. Bản Nhật Bản có tên là Quán Thế Âm Chiết Ðao Trừ Tội Kinh.
http://lecongda.20fr.com/BoTatQuanTheAm3.htm