Printable View
祈请大家一起发心:解脱您所在城市 有众生
祈请大家一起发心:度脱水中众生
http://s2.upanh123.com/2017/03/24/li...aringd502a.jpg
liberation through wearing
-----------
http://s2.upanh123.com/2017/03/24/eDM_Photo_1f8bcb.png
點圖下載原始圖檔
( http://garchen.tw/Gdi/Social_Service...re_and_support )
http://s2.upanh123.com/2017/03/24/Untitled95971.png
https://s.yimg.com/xd/api/res/1.2/_V...89167ec8b8.jpg
過門咒金箔貼紙 / 過門解脫咒
甘丹文物 ^^ 過門咒 門檻咒 如意輪咒 滿願咒輪 消除災難 解脫聖咒 貼紙 (消業趨吉避凶)
旦旦妙 絨布過解脫過門咒 平安護身 藏傳佛教如意輪 道符21
「還願佛牌」佛教用品 過門咒 過解脫咒 如意輪 藏傳密宗 佛教咒語 護身
甘丹文物 ^^ 過門咒 門檻咒 如意輪咒 滿願咒輪 消除災難 解脫聖咒 九宮八卦 十相自在 (消業趨吉避凶)非常殊勝
( https://feebee.com.tw/bid/%E8%A7%A3%E8%84%AB%E5%92%92/ )
-
過門咒又稱如意咒輪 滿願咒輪
此咒輪能消除眾生無量深重罪業,與無 眾生廣結善緣,令其善根福慧增長,功 利益深廣不可思量.
有緣得此法寶者,可貼於寺院 佛堂 住宅 商店 辦公室之大門上,或天橋 路橋 地下道 河流大橋之棟梁上方.
此咒乃最殊勝咒中之王。依據建屋經 記載,任何人在此咒下經過就只一次 將可消除千劫以來的災難,並帶來平 安好運。
咒牌貼於門檻上(室內: 因為不識之人可能升起妄念) 可讓進出者都能得到加持消業.增長福 .
吽字杵焦烟解脱咒轮在烟供火供超度 的应用
吽字杵焦烟解脱咒轮在烟供火供超度 的应用 此博文包含图片 (2012-06-24 10:28:27)转载▼
标签: 施食 超度 烟供 火供 吽字杵 焦烟解脱 咒轮 育儿 分类: 我的心得
烧吽字杵焦烟解脱仪轨
本仪轨是我赵玺贵(释妙法居士)的 得体会,整理出来的,用吽字杵印图 结合施食法门,净土法门超拔和解怨 的效果极佳,特打印出来,给大家参 。吽字杵的用法里面有很多大恩根本 师所达多杰仁波切的窍诀,为了帮助 大众,07年的时候,征得上师同意,广 泛传播!
本文出自赵师兄的网易博客:www.daai.wusheng.blog.163.com/ediet
此仪轨可以应用于一切烟供实施火供 度仪轨之后,也可以单独使用,是解 释结无上方便!
1、 按照海涛法师编纂的施食简轨施食。
2、 施食完了,开示做简短开示:接下来 我要布施给你们一个殊胜不可思议的 宝,让你们从此所作从心,资具自在 ,让你们能够自由的看到想看到的东 ,到你们想去的地方,这个东西叫做 意宝轮。你们拿袖子收住,每人两个 足够了。
3、 然后就开始烧,边烧边念变亿真言, 真言能让一张变成十万张,甚至更多 真言如下:嗡斯玛ra 斯玛ra 嘎ra玛哈佳瓦吽
4、 3枚.7枚.49枚108枚...烧完了,再做开示 告诉他们如何用这个宝轮:你们现在 经得到这个宝轮了,现在我告诉你们 怎么用它,你们现在把这个宝轮放在 前的空中,然后跟我合掌,至心念诵 南谟阿弥陀佛”,心中想着自己想要 的东西,这时在宝轮就会变现出你们 要的东西,这个宝轮这事就叫做如意 。还有他可以作为护身至宝,如果谁 想欺负你们,扔出去决定能够降服敌 ,唯除不善,想用它来欺负人,那他 会消失掉;他还可以作为悬光镜,至 心念佛,可以看见十方佛国,何况其 境界;他还可以作为飞行器,如果你 想要往生阿弥陀佛的极乐世界,把宝 轮放在足下,至心发愿:南谟阿弥陀 ,我愿往生你的极乐世界,随你修学 将来成佛普度众生!然后至心念佛, 宝轮即时变成宝莲花,刹那之间已在 乐国土莲花受身,成就金刚不坏之身 相好如佛,从此不受轮回之苦,寿命 如佛,一生必得成就佛果。
5、 结语:我做如是广大利益,惟愿你们 够离苦得乐,希望我们过去所有的恩 都一笔勾消,放过我就是放过你们自 己,因为极乐世界没有仇恨;放不下 们就继续在轮回中生生世世造业受苦 放得下你们就往生净土,做大菩萨, 一切随心所欲,两者选其一,我相信 们都能做出明知的选择。
6、 本次法会结束了,想要往生的朋友只 不抗拒我咒印所产生的力量,自然就 往生净土,不想去的自己回去再观察 观察极乐世界好,还是这里好,到时 决定!
7、然后念六道金刚咒,越多越好。(阿 啊下沙麻哈1000遍以上)
我的电话15967291205
吽字杵焦烟解脱迎请地址
焦烟解脱http://item.taobao.com/item.htm?id=7621658880&,
吽字杵http://item.taobao.com/item.htm?id=14033321402&
另外不得不说的是
吽字杵印图说明吽字杵印图说明
此“吽字杵印图”系金刚上师诺那尊 所制定的杵印图演化而成,并经过无 次密咒加持。印图分别由:金刚萨埵 心咒、六道金刚咒、本觉大密咒、金 杵、“吽”种子字等组成。此中梵文 书之咒印,即本无生灭、法尔常恒之 阿达尔玛普贤王如来之界之自性本觉 满智,其功德威力,不可思议。
用途有数种:吽字杵焦烟解脱咒轮在 供火供超度中的应用
(1)照式样纳入小方布袋内,平时常 于身,则五蕴之身便得解脱,并能避 免地、水、火、风、空一切灾害,逢 化吉,遇难成祥,命终往生。这是给 者使用。
(2)用此印图覆盖于亡者头面及心胸 处。则亡者虽有重罪,亦得消灭,仗 此功德,往生佛土。使用方法:对于 终前的亡者事先贴一张在胸前,断气 8小时再贴一张脸上。
(3)照此式刻板印在黄纸上,可作焚 纸钱之用。特别是在人往生前后焚给 亡者的冤家债主,并及本亡者,让他 得超生,免遭冤冤相报之苦,真是不 思议。
另外,凡是密乘弟子,可以焚供给孤 野鬼 饿鬼,火供 烟供等之用有不 思议的功德和效果。用时,每次可以 使用三枚,七枚,二十一枚,一百零 枚,即可。但给往生亡者,并及冤家 主,数量不限,随己心愿,但是必须 一张一张的焚烧还要边念咒,念佛, 咒轮不可掉地,不能随便乱丢,必须 在干净处及高处。
(4)做蒙山施食,放焰口,打佛七, 可以广泛使用。焚化一枚,加念《变 亿咒》三遍,用作布施孤魂等众,则 焚一枚,可变成十万张纸钱之用。《 亿咒》亦名《无量种咒》,见《宝错 经》。咒曰:嗡、三拔嘞、三拔嘞、 嘛纳、萨惹嘛哈佳瓦吽。嗡、斯嘛惹 斯嘛惹、嘎惹嘛哈佳瓦吽。
做火供时要知道,那些饿鬼几年,几 年,几百年找不到一点吃的东西,而 供的东西他们都能吃到,火供有供素 食的仪轨也有肉供的仪轨,可按仪轨而 食,火供时如能撒一点甘露水更好, 通过火供,一些怪病可以消除,火供 发心约大他们吃到的东西越多,自己 累的资粮也越多.。所以,火供时要 菩提心,不仅请他们食用,还要他们 依三宝,受持五戒发菩提心,早日成 就佛果位,
关于焚烧吽字杵咒轮用法:焚烧时候 放干净瓦罐内,一张一张地烧,边烧 念变亿真言;或者念南无阿弥陀佛圣 号,或者念观世音心咒:嗡 玛尼贝 吽。也可以念金刚萨垛的心咒:嗡 杂萨垛吽。烧完集中一起的灰用干净 纸包起来放入大海,靠近河边就放在 里功德无量,河海里的鱼虾也可以受 ,切忽随便乱丢,万望敬重。
吽字杵焦烟解脱咒轮在烟供火供超度 的应用
吽字杵焦烟解脱咒轮在烟供火供超度 的应用
吽字杵焦烟解脱咒轮在烟供火供超度 的应用
依仪轨来做,几张已经很多,我们曾 得到回复,5张边念边烧,他们收到的 超过300万个;不依仪轨,烧几万张, 是不多,因为就只有你烧的张数!望 家了解这样的差别!
有些人把这个仪轨改动,要在背面写 己的名字,亡人的名字,以及画种子 等等,都是自己的分别心,都是自己 的执着,要知道分别心越重,加持力 越小;发心越小,福德功德力量也越 !所以大家真正要做的是发广大心, 发真正的慈悲心,多念变亿真言!
此变亿真言实际上是宝措真言,瑜伽 口集要里有,意思是一变无量的聚宝 !跟一般课诵集里的语加持真言是不 同的!不要什么都不明白,随意改动
梵音阁主人有这方面的传承,窍诀都 自于嘎绒寺传承法主所达多杰仁波切 本来是属于自己密修的东西,因为太 多人,有太多的冤业,如果不解决, 能修持的,所以就拿出来!密法越秘 的修持,加持力越大,不共的东西加 持力最大!如果供养给给大家,还不 道珍惜!
仪轨说白了就是程序,就是从头到尾 一遍,就会达成既定的目标,就像软 一样,如果不明白其中的原理,随意 改动,其结果只能有两个,一个是作 重复,多此一举;一个打乱次序,没 效果!
因为很多人看到我会写出一些仪轨, 想去写,不是不可以,我做的目的是 为很多人确实没有传承,但是确实有 必须解决问题,不得已拿自己的经验 按照一定的逻辑,把经典中最有效的 语拿出来,组合成仪轨!如果你能明 白内在的逻辑,确定知道每个咒语的 用,为了利益大众而发心,那没有问 的!当然如果有传承,还是传承的加 持力大!
如果想要依止一个真正的上师,可以 系梵音阁主人,电话15967291205,他可 帮你介绍,安排见嘎绒寺上师!
另外咒轮的作用,以及做仪轨的效果 跟你的发心信心有关系,真的慈悲他 才敢来,真的相信佛菩萨的誓愿,佛 菩萨的力量才会在你身上显现出来; 后就是依照仪轨,施食能令鬼神脱苦 四佛如来能令超生天道,这样他们对 你会升起真实的信心,你说的他们才 相信,真的接受,真的相信,真的照 ,他们才会真的放下怨恨,你才能解 脱!
这是我的仪轨的原理和次第!任何仪 都有它内在的原理,任何次序都有他 用意!
此仪轨是所达仁波切活佛,我的大恩 本上师慈悲教诲的用法,我将施食加 来,让所有有缘心开意解,开心接受 ,满意离开!使所有得到此法宝者, 德效用增长无量!
请咒轮都会赠送仪轨!
注:很多汉传佛教的居士对焚烧吽字 印有异议,很大程度上是犯了同样一 错误,那就是拿显教的经典教诲去评 断密乘经典教诲,这是一种愚痴行为 比如佛在大小乘经典中对同样一件事 的解决方法就不相同,对执空的就说 有,对执有的就说空,原理相同,皆 方便说法,随缘解缚。这是普贤王如 为普度众生曲垂的方便。
对此我们只应该感激涕零,不是吗? 是我们如果随意批评,毁谤这种度生 法,那无疑会坏掉很多众生的慧命, 让他们对密法丧失信心,让恶道众生 能凭此得生净土,罪过无量!修净土 都知道,帮助一个众生往生净土,就 是帮助一个众生成佛,因为只要往生 不退转,可是你障碍一个众生往生净 ,那就是障碍一个众生成佛,这个罪 该多大?!又该如何消除?
为什么这样讲?因为此法是接引恶道 生出离苦海的最上方便。详情请参阅 著《烧吽字杵印的开示文》,此文本 来附在拙著《横拔六道及冤家债主的 法文》中,只是当时没有考虑到很多 会对此提出异议,没有详细说明。笔 者用此法无一众生不往生,所以经常 此感慨万千!望见到此文者,切要谨 ,切莫自误误人!
我曾经仔细研读过《印光大师文钞》 他老人家对这个问题曾经做过开示, 的意思也只在于很多人用这种法宝的 时候不如法,致使纸灰乱飞,对佛法 敬,并没有否认这种利益,并且是针 汉传佛教中把往生咒做成这种烧的东 西而说的,因为往生咒经中没有开示 以这样用。有心的同修可以去查阅。
另外必须说的事情是,很多人什么咒 烧,甚至有些已经形成批量生产,像 密修海出的咒轮,也说有多少功德, 我曾就此事专门问过上师,上师说: 经典中开许烧的咒轮,只有听闻解脱 中两种,一种就是圆圆的吽字杵;一 种是方方的焦烟解脱或者说佩戴解脱 ”查丹真绒布上师网站,唯一经过认 的也只有这两种!
随意烧毁经咒是有很大过失的,望谨 !
http://s2.upanh123.com/2017/03/24/Untitled49e53.png
水解脫瑪尼石,水解脫瑪尼石價格_水解 脫瑪尼石,水解脫瑪
http://s2.upanh123.com/2017/03/24/m768f8.jpg
水解脱 龙王坛城 风水咒轮石 佛教用品
( http://nxtmarket.info/item/40576274933 )
Hôm nay là ngày thứ ba 10 tháng sáu 2008, cả thành phố Montréal của nơi Long ở
chìm trong cơn bão. Mây đen thổi ngập trời vần vũ. Sấm chớp loè trời và cơn mưa trút
xuống từng mảng nước, sau đó ngưng phắt lại và chỉ vài giờ sau lại trút từng cơn mưa
vũ bão khác. Gió thổi dữ dội và gào thét. Cả thành phố chìm trong sự sợ hãi của cơn
bão với sức thổi của gió lên hơn 120 cây số giờ. Lúc ấy, Long đang đi làm trên sở. Vào
lúc một giờ trưa thì thành phố bị mất điện và sau đó tin tức báo cho biết cơn bão đã
làm lật úp các xe vận tải lớn và làm tê liệt các trục lộ giao thông, vật ngã rất nhiều trụ
điện, cho nên cả khu của chàng ở đều bị mất điện.
Buổi chiều khi Long về đến nhà thì khu của chàng ở vẫn bị mất điện. Đang loay hoay
chưa biết làm gì để sửa soạn cho bữa tối thì thầy Geshe-la (1) từ chùa điện thoại đến
để nhắn chàng lên chùa giúp làm các công việc sửa soạn cho lễ Phật đản cuối tuần này.
Chàng nhân dịp hỏi thầy là chùa có bị mất điện không thì may quá, Geshe-la cho biết là
tuy bị mất điện, nhưng chỉ hai tiếng sau đã có trở lại. Chàng thưa với thầy là nhà con
vẫn bị mất điện và thầy bảo chàng lên chùa dùng bữa chay để rồi sau đó phụ làm giúp
chùa. Chàng vui vẻ nhận lời.
Long hành trì Mật tông từ lâu với chùa Tây tạng, ngôi chùa mà chàng giúp sư trưởng
xây cất hoàn thành từ gần mười năm nay. Tháng này là tháng tư của âm lịch Tây tạng
(khác khoảng 1 tháng so với âm lịch của Việt nam), và cũng là tháng mừng ba lễ lớn
trong truyền thống Mật tông Tây tang. Đó là lễ mừng Phật đản, lễ mừng Phật thành
đạo và lễ tưởng nhớ đức Phật bát Niết bàn (2). Do đó cả chùa ráo riết hành trì trong
tháng này. Cuối tuần vừa qua cả chùa đã nhập thất trong ba ngày và bây giờ sửa soạn
đại lễ Phật đản trong cuối tuần sắp tới này vì theo lời dạy của chư thầy tổ, mọi công
đức hành trì trong tháng sẽ được nhân lên 100 000 lần so với những ngày thường
trong năm và trong nguyên tháng, tất cả Phật tử sẽ ăn chay trọn tháng.
Trong tháng Phật đản, Phật tử thường làm một truyền thống rất đẹp để thể hiện lòng
từ bi. Đó là lễ phóng sinh. Chư tăng dạy hành lễ này không những để thể hiện lòng từ
bi mà còn tạo cơ duyên để cho đời sau đạt được thân người mạnh khoẻ không bệnh
tật để có thể tu đạo. Mọi năm, Long cũng thường tham dự vào lễ phóng sinh nhằm
ngày Phật đản. Trong chùa cử một đạo hữu đi mua những hộp giun thường bán trong
các trạm xăng cho những người ham thích câu cá và mang về chùa để các bạn cùng
chia nhau ra mang đi chôn trong những khoảnh đất xốp gần bờ sông, vừa phóng sinh
vừa trì chú. Hoặc là có khi đi mua cá tươi còn sống trong các tiệm mang về thả sông.
Chàng cũng tham dự. Nhưng đôi khi Long vẫn thấy là hiện tượng đi mua giun trong
tiệm phóng sinh, tuy đẹp, nhưng nó mang một cái hành động "hữu ý", "hữu tâm" để
cốt ý tạo công đức và do đó, tâm thức còn có sự mong cầu công đức. Chàng vẫn thích
cái gì tự nhiên, không mong cầu, "vô tâm" và thoát ra khỏi cái sự "hữu tâm" hay "hữu
ý" trong những hành động của mình làm.
Dĩ nhiên, trong đời sống đâu phải dễ dàng mà tạo được một sự phóng sinh "vô tâm".
Sống trong thành phố, đâu có dịp để gặp được một chúng sinh hữu tình đang bị giết
hại một cách tự nhiên để mình có cơ hội hành trì pháp phóng sinh một cách tự nhiên
trong thiên nhiên của đất trời. Do đó, mà Long vẫn tham dự vào các lễ phóng sinh có
sắp đặt của chùa tổ chức. Nhưng chàng vẫn nghĩ rằng phóng sinh hay nhất là phải tự
nhiên không có tính toán và hoàn toàn không có sắp đặt trước.
Ở những nơi như Việt nam, chàng còn nghe nói là có những người lợi dụng truyền
thống tốt đẹp đó để bán chim trước của chùa cho thiện nam tín nữ mua làm phóng
sinh, nhưng thực ra đã bắt những con chim đó, tập cho nó ăn những thứ thuốc nghiện
và huấn luyện cho nó quay trở về với chủ nhân để có thể tiếp tục bán cho Phật tử đi
đến chùa dự lễ Phật đản. Còn tại một số các chùa, có nhiều Phật tử vì ham thích tạo
công đức quá cho nên tổ chức mua những lồng chim thật lớn để phóng sinh, trong đó
nhét chật lèn những con chim bồ câu hay chim sẻ (vì khi làm lễ phóng sinh thì mọi
người ai cũng muốn có phần). Do đó, khi thả những con chim ấy ra thì vì bị nhốt lâu
quá và chật ních, cho nên có con đã ngoắc ngoải gần chết, có con thì còn sống nhưng
bay đi không nổi nữa, đi lền khên giữa đường xá và xe chạy qua đè chết... Cảnh tượng
làm cho chàng chán ngán và chỉ thấy thương tâm hơn...
“Chàng lại càng nghĩ đến lời Phật dạy về hạnh tùy hỷ, đâu cần phải tự tay thả chim! Chỉ cần
phóng tâm tùy hỷ công đức, là mình cũng đã tạo công đức y như người làm hành động công đức
ấy mà thôi...Khoẻ ru, nhìn mọi người thả chim mà tủm tỉm cười tùy hỷ, thế có phải sướng hơn
không! Cho nên làm bất cứ cái gì mà "hữu tâm" thì nó đều có thể bị những tác dụng phiền não
phụ đi kèm theo đằng sau.”
Giúp thầy làm xong những việc khó nhọc thì đã 10 giờ tối, chàng chào thầy để đi về
nhà nghỉ ngơi để còn đi làm sáng sớm hôm sau. Đêm hôm đó, chàng ngủ trong giấc
ngủ chập chờn vì cơn bão vẫn còn trút những cơn mưa đêm từng chập. Nửa đêm
chàng phải trở giậy để đi đóng các cửa sổ vì sợ mưa hắt ướt cả vào nhà.
Sáng hôm sau thức giậy sớm hành trì và tụng chú xong, chàng thay quần áo đi làm.
Trời hãy còn sớm. Cơn mưa đêm đã ngừng hẳn bước chân ra ngoài, chàng thầy bầu
trời xanh lơ và ánh mặt trời chiếu rạng ngàn tia sáng tưng bừng. Cơn bão đã qua đi rồi,
nhưng mà nhà chàng vẫn chưa có điện. Chặc lưỡi lắc đầu, chàng đi bộ ra trạm xe buýt
để chờ chuyến xe đưa lên sở làm. Vừa đi, Long vừa trì tụng bài kinh quen thuộc đến
nằm lòng. Nhờ thói quen hành trì và trì tụng, tâm thức chàng thường nhanh chóng
nhập vào cảnh giới của lời kinh và chú, ít bị vọng động bởi các trần cảnh bên ngoài.
Nhưng chàng vẫn nhìn thấy các vũng nước mưa vẫn còn đọng lại trên lề đường sau
đêm bão bùng mưa gió, mặt đất bên lề đường sũng mềm nước và trên đầu các ngọn
cỏ vẫn còn đọng các giọt mưa...
Chàng bước chân đều đặn đi ngang qua ngôi trường học. Chỉ cần đi qua hết cái sân cỏ
mênh mông phía trước ngôi trường là chàng sẽ đến bên trạm xe buýt quen thuộc. Tâm
trí vẫn hoàn toàn chú vào lời kinh theo từng nhịp bước, mắt chàng lim dim không để ý
đến cảnh vật lắm, nhưng vẫn liếc sơ trên đường đi của lề đường. Bất chợt, có một bóng
chim vụt lên trước mặt, Long mở mắt nhìn thì hóa ra có một con chim mỏ vàng như
con sáo đã bay về phía trước tránh bước chân của chàng. Hình như có cái gì vừa rơi
xuống. Chàng vẫn không ngừng bước đi ngang qua, nhưng hơi lạ nên chàng ngoái đầu
lại...
À ra thế, một con giun nằm trên lề đường đằng sau chàng đang quằn quại lê lết cố bò
vào bên trong bờ cỏ, nhưng cũng còn một khoảng cách cũng hơi xa xa. Con chim vừa
mới làm rơi miếng mồi giun bắt được ở đâu đó khi vội vàng bay vụt lên để tránh bước
chân chàng vô tình đi về hướng trạm xe buýt. Dường như bóng chim vẫn còn đâu đây
chỉ chờ chàng bước đi hẳn để quay lại tìm chú giun đang quằn quại lê lết trên lề đường
xi măng, đằng sau con giun là vệt nước nhơn nhớt. Là của giun hay là nước dãi của
chim? Chàng cũng không rõ….
Không lưu tâm lắm, chàng dợm bước định tiếp tục đi và quay tâm thức chú ý lại vào bài
kinh. Hốt nhiên, tâm chàng động chuyển qua hình ảnh chú giun đang quằn quại. Chàng
bèn quay hẳn người lại và nhìn kỹ. Quả thế, chú giun đang cố sức lẩn trốn cho nhanh
vào bờ cỏ trước khi chàng bỏ đi hẳn. Còn chim sáo chỉ chờ có thế để quay lại với bữa
ăn điểm tâm ngon lành của buổi sáng đẹp trời. Long thầm nghĩ "…trời đất cũng có đức
hiếu sinh...", chàng quay lại hẳn và ngồi xuống, nhặt hai cành cây gãy bên lề đường và
rất nhẹ nhàng xúc con giun bỏ sang bên lên trên bờ cỏ, rồi định dợm bước chân đi.
Tâm thức lại chuyển động lần nữa, dường như có cái gì chưa ổn, vì chú giun còn đang
tìm cách lẩn qua cỏ mà chui xuống vùng đất còn xốp mềm sau cơn mưa đêm qua. Chú
giun còn tênh hênh quá.... Ơ hay, thế thì vẫn chưa ổn. chàng đi tìm hẳn một khúc cây
đầy lá xanh mà trận bão làm gãy rơi xuống gần đó, đặt lên và che hẳn lên chú giun với
thân gỗ và cành lá xum xuê... Thế này thì chắc ăn rồi nhé... Chú giun cứ từ từ mà lẩn
xuống đất...
Khoan khoái, Long đứng giậy bỏ đi về hướng trạm xe buýt và tiếp tục hướng tâm cầu
nguyện. Trên cành cây, hình như có tiếng chim kêu ríu rít, chàng chợt suy nghĩ tiếp.
Con chim dường như đang phản đối là chàng đã cướp miếng ăn điểm tâm buổi sáng
của nó. Chàng giật mình, nhớ lại câu chuyện đức Phật Thích Ca thời còn tại thế đã từng
cắt bắp vế để đền cho con chim bù cắt đến đòi đức Phật trả lại con chim sẻ trốn sau
lưng ngài khi bù cắt bắt được. Long lại quay lại thêm lần nữa và mở cặp của mình ra
lấy một phần thức ăn trưa rắc vụn trên lề đường nơi con chim đã làm rớt chú giun
xuống...
Thanh thản bước đi về hướng xe trạm buýt, chàng hoan hỷ tiếp tục cầu nguyện cho hết
phần hành trì buổi sáng. Một ngày thật đẹp trời và nhất là một ngày không uổng phí đã
bắt đầu...
Chàng mỉm cười nghĩ thầm, xin cầu nguyện hồi hướng cho chú chim sáo, không ăn thịt
con giun, chuyển sang ăn bữa điểm tâm bằng món đồ ăn chay của chàng rắc xuống lề
đường mà phát sinh đầy đủ công đức để đời sau thoát khỏi cõi súc sinh, tái sinh lên
cảnh giới cao hơn của cõi người hay cõi chư thiên hành trì đạo pháp...
Không Quán
Mùa Phật đản 2008
12 June 2008.
Chú thích:
(1) Geshe-la: tiếng Tây tạng dùng để cung kính xưng hô với một vị tỳ kheo đã đậu bằng Geshe trong các
Tu viện đại học Mật tông, tương đương với trình độ tiến sĩ của đại học Âu Mỹ.
(2) Tạng ngữ gọi là Saga Dawa.
MƯA CAM LỒ – CÔNG ĐỨC PHÓNG SINH
Khenpo Sodargye soạn | Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ
https://thuvienhoasen.org/images/fil...odargye-2-.jpg
Khenpo Sodargye (2)Với giới tu sĩ hay cư sĩ Phật giáo, những vị đã quy y, hay thiện nam tín nữ chưa quy y, nếu các bạn có thể nghiên cứu bài báo này một cách chú tâm, nó dứt khoát sẽ rất lợi lạc với các bạn về sự phát triển nghề nghiệp, sự vun bồi tâm linh và trong nhiều khía cạnh khác. Khi các bạn đang nghiên cứu bài báo này, hãy đọc nó nhiều lần, nghiên cứu cẩn thận và suy ngẫm về các nội dung nhiều lần. Nếu không, các bạn sẽ không thể lập tức hiểu những từ ngữ kim cương sâu xa trích từ nhiều Kinh điển và bộ luận khác nhau. Đã hiểu được lỗi lầm của việc sát sinh và công đức của việc phóng sinh, bạn cần nỗ lực để hành xử cho đúng trong đời sống hàng ngày – dừng sát sinh và hãy cứu sinh mạng. Nếu các bạn có thể bước xa hơn và công bố những ý chính của bài báo này một cách rộng rãi hay ấn tống thêm, các bạn có thể tích lũy vô lượng công đức. Theo cách này, rất nhiều hữu tình chúng sinh sẽ có thể thoát khỏi khổ đau và đạt hạnh phúc và các bạn cũng sẽ tạo ra những nguyên nhân để đạt giác ngộ trong tương lai gần. Đây là mục đích duy nhất của tác giả.
Kính lễ Đức Từ Phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính lễ Bồ Tát Đại Bi Quán Thế Âm!
Kính lễ tất cả chư đạo sư truyền thừa, những vị mà chúng con mang ơn!
Từ các Kinh điển và bộ luận – cõi giới bao la của trí tuệ và lý lẽ,
Cơn mưa cam lồ trút xuống và ban phước chúng con,
Nguyện cầu tất cả những ai đang chìm trong đại dương khủng khiếp của sự tranh đấu và sát hại,
Nuôi dưỡng sự tỉnh thức tươi mới từ nay về sau.
Phật giáo được Đức Thích Ca Mâu Ni giảng dạy có thể được tóm gọn thành ba khía cạnh căn bản: Tránh những hành động xấu xa làm hại hữu tình chúng sinh; tiến hành các thiện hạnh của thân, khẩu và ý; liên tục điều phục những phiền não tinh thần – đó là Giáo Pháp chân chính. Như Niết Bàn Kinh nói, “Từ bỏ mọi ác hạnh,/ Tiến hành các thiện hạnh,/ Tịnh hóa tâm thức mình,/ Đó là giáo lý Phật Đà”. Vì thế, những người đã quy y không nên quá đặt nặng vào việc liệu họ có hình tướng giả tạo giống như tờ điệp quy y. Thay vào đó, họ cần ưu tiên cho ý nghĩ vị tha về việc làm lợi lạc hữu tình chúng sinh. Họ cần nỗ lực hết sức để làm lợi lạc hữu tình chúng sinh vào bất kỳ lúc nào. Đây là hành động tuyệt vời của Bồ Tát Đại thừa, và là con đường không thể tránh của tất cả những vị đã phát khởi Bồ đề tâm. Đó là bởi Bồ đề tâm là tinh túy của tất cả 84000 giáo lý của Đức Phật và Bồ đề tâm là để làm lợi lạc hữu tình chúng sinh trực tiếp hay gián tiếp. Vì thế, công đức tích lũy được trong động cơ làm lợi lạc hữu tình chúng sinh đã vượt xa công đức của bất cứ hiện tượng hữu vi nào của bản chất thế gian, giống như Bồ Tát Tịch Thiên nói, “Chỉ ý nghĩ làm lợi lạc hữu tình chúng sinh,/ Cũng tạo ra công đức nhiều hơn việc cúng dường tất cả chư Phật”.
Điều mà tất cả hữu tình chúng sinh trân trọng nhất là cuộc đời họ. Giải cứu họ khỏi cái chết là hành động từ ái nhất với họ, trong khi kết thúc cuộc đời họ gây ra nguy hại lớn nhất một cách tàn độc. Bởi thế, ngừng giết hại và cứu mạng sống là nhiệm vụ của Bồ Tát Đại thừa. Tích lũy công đức để đạt giác ngộ viên mãn cũng là cách thức thoải mái nhất. Bài báo này sẽ cố gắng giải thích điểm này một cách dễ hiểu nhờ những bằng chứng kinh văn từ nhiều Kinh điển và bộ luận cũng như bằng chứng về mặt lý thuyết.
QUẢ BÁO CỦA VIỆC SÁT SINH
Trong mười ác hạnh, sát sinh và tà kiến tạo ra những kết quả tiêu cực nhất. Trong Bài Luận Về Không Sát Sinh Và [Nỗ Lực] Phóng Sinh có đoạn “Cuộc đời được xem là thứ quý báu nhất trên thế gian,/ Trong khi đó sát sinh và làm tổn thương là ác độc nhất”. Dựa trên các Kinh điển, Patrul Rinpoche chỉ ra rằng, “Nếu ai đó lấy đi một mạng sống, anh ta sẽ phải đền tội trong năm trăm đời”. Vì vậy, dù chúng sinh có kích thước lớn hay nhỏ, nếu một người làm cuộc đời của chúng sinh ấy kết thúc, anh ta phải trả lại nó bằng cuộc đời quý báu năm trăm lần. Vì vậy, với những người đã tích lũy nghiệp ghê gớm của việc sát sinh, xin hãy xem xét sự thật rằng các bạn cần phải trả lại món nợ này bằng chính cuộc đời bạn rất nhiều lần. Liệu bạn có còn muốn sát sinh? Trong Kinh Đại Niệm Xứ (Maha-smrty-upasthana-sutra) có đoạn, “Nếu một người giết hại hữu tình chúng sinh,/ Anh ta sẽ ở trong địa ngục trong một trung kiếp”. Vì vậy, hãy suy nghĩ về bao nhiêu vạn năm có trong một trung kiếp? Khi nào mà người này có thể được giải phóng? Pháp Sư Lian’chi nói rằng, “Một người phạm phải nghiệp ghê gớm như vậy,/ Đã tạo ra sự hận thù sâu sắc kéo dài hàng vạn đời tái sinh./ Khi vô thường [cái chết] giáng xuống,/ Anh ta sẽ đọa địa ngục,/ Ở đó vạc sôi và lửa cháy,/ Cây dao cạo và đồi đao kiếm chờ đợi,/ Làm cạn kiện sức mạnh của ác nghiệp,/ Anh ta sẽ tái sinh làm súc sinh./ Hận thù chồng chất hận thù,/ Mạng đổi mạng,/ Và cuối cùng khi anh ta sinh làm người,/ Anh ta chịu bệnh tật và yểu mạng,/ Chết vì nanh vuốt của rắn hay hổ,/ Hoặc bị giết bởi vũ khí và chiến tranh,/ Hoặc bị chính quyền kết án tử,/Hoặc chết vì nhiễm độc./ Tất cả đều là kết quả của sát sinh”.
Giết hại bất cứ hữu tình chúng sinh nào cũng dẫn đến sự tái sinh sau khi chết giống với kiểu hữu tình chúng sinh mà chúng ta đã giết và trải nghiệm cùng kiểu khổ đau. Như Kinh Thủ Lăng Nghiêm tuyên bố, “Nếu một người giết cừu để ăn thịt, cừu sẽ tái sinh làm người và người đó, sau khi chết, sẽ sinh là cừu (để đền đáp lại món nợ nghiệp trước kia). Vì thế, chúng sinh của mười trạng thái, ăn thịt lẫn nhau và tạo ra ác nghiệp, điều sẽ không kết thúc … bởi những nguyên nhân như thế, chúng sinh sẽ phải sinh và tử trong hàng trăm nghìn kiếp”. Kinh Ngọc Báu Hỗn Hợp ghi lại câu chuyện sau đây: Ngày xưa, có một người đàn ông giàu có muốn ăn thịt cừu, nhưng sợ con trai phản đối. Vì thế, ông ấy nói dối và bảo rằng phong thủy của nhà rất tốt bởi sự bảo hộ của thần cây ngự trên cái cây trong nông trại, và vì vậy, họ phải thịt một con cừu để hiến tế cho vị thần này. Người con trai tin lời cha. Anh ta dựng một cái rạp nhỏ dưới cái cây và giết con cừu để dâng lên vị thần. Không lâu sau, người đàn ông giàu có này chết và, là nghiệp báo của sự thiếu chân thật và sát sinh, ông ấy rơi vào đọa xứ và sinh làm cừu. Năm sau, khi người con trai sắp giết một con cừu khác để hiến tế, anh ta chọn đúng con cừu mà thực sự là người cha tái sinh. Con cừu này kêu be be và phản kháng. Khi con cừu đang nằm trên đất, một vị A La Hán đi ngang qua cửa nhà họ và giải thích nguyên nhân nghiệp của đời trước. Ngài thị hiện sức mạnh cho người chủ nhà để anh ta có thể thấy cha mình đã sinh làm cừu. Lúc ấy, người con trai cảm thấy rất hối tiếc và phá hủy rạp thờ cúng vị thần. Từ đó trở về sau, anh ta bỏ mọi ác hạnh và thực hành thiện hạnh. Anh ta không bao giờ sát hại mạng sống của hữu tình chúng sinh khác và liên tục giải phóng sinh mạng, kính lễ Tam bảo và có sự xác quyết lớn lao với quy luật nghiệp.
Một câu chuyện khác được ghi chép lại trong Kinh điển như sau: Khi Tôn giả Mục Kiền Liên và Tỳ Kheo Palkye đang ở bờ biển, họ thấy một người đàn ông, bị bao phủ trong lửa dữ và cất tiếng than vãn. Với năng lực đặc biệt, Tôn giả Mục Kiền Liên quán sát nguyên nhân nghiệp – hóa ra người này từng là thợ săn trong đời trước và giết hại nhiều sinh mạng. Vì thế, khi ông ta còn sống lúc ấy, ông ta chịu nhiều năm tháng đau khổ và sau khi chết, ông ấy đọa vào địa ngục và thật khó để giải thoát.
Trong một Kinh điển khác có ghi lại câu chuyện sau: Lần nọ ở Saravati, Vua Tỳ Lưu Ly (Virudhaka) đem quân đến bộ tộc Thích Ca và giết hại tám mươi nghìn thành viên. Khi ấy, Phật Thích Ca Mâu Ni quán sát nguyên nhân nghiệp và thấy rằng đó là quả báo của bộ tộc Thích Ca khi họ là ngư dân và giết hại nhiều cá [trong các đời quá khứ]. Vua Tỳ Lưu Ly và thượng thư là hai con cá lớn tái sinh trở lại. Vì thế, mặc dù chúng ta không thể thấy điều đã xảy ra trong đời quá khứ và sẽ xảy ra trong tương lai bằng mắt thường, ác nghiệp của sự sát sinh vẫn theo ta liên tục. Khi nó chín muồi, kết quả sẽ tự hiển bày. Nếu chúng ta có sự thấu suốt, chúng ta chắc chắn sẽ cẩn thận trong việc dẫn dắt các hành động theo đúng quy luật nghiệp. Như Kinh Bách Nghiệp chỉ ra, “Thậm chí nếu hàng trăm nghìn kiếp trôi qua,/ Nghiệp mà người ta tạo ra sẽ không cạn kiệt./ Khi những điều kiện thích hợp hội tụ,/ Người ta sẽ phải đối mặt với những kết quả”. Nhiều Kinh điển khác nhau và Luật Tạng ghi lại rằng, “Nghiệp của các hành động sẽ không cạn kiệt trong một trăm kiếp”. Trong tác phẩm Kho Tàng Phẩm Tính Như Ý, Đức Jigme Lingpa (cũng được biết đến là Khyentse Ozer, Bi Trí Quang) viết rằng, “Mặc dù bóng của Kim Sí Điểu bay lượn trên bầu trời,/ Có thể tạm thời không thấy,/ Nó không bao giờ tách rời khỏi thân và,/ Sẽ xuất hiện khi các điều kiện thích hợp hội đủ”. Điều này nghĩa là, khi mà chim Kim Sí Điểu bay lượn trên bầu trời, mặc dù chúng ta không thể thấy bóng của nó, nó không có nghĩa là không có Kim Sí Điểu. Nếu chúng ta theo nó, khi con chim đậu xuống, chúng ta sẽ thấy bóng đen rõ ràng hơn. Tương tự, mặc dù tiềm năng xấu của việc sát sinh hay tiềm năng tốt của việc phóng sinh không hiển bày ngay lúc này, sức mạnh nghiệp của nó sẽ không cạn kiệt. Dưới những hoàn cảnh thích hợp, kết quả nghiệp sẽ xuất hiện.
Tất cả động vật trên thế gian đều muốn tiếp tục sống và sợ chết, cũng giống như con người. Như Bình Giảng Về Kho Tàng Phẩm Tính Quý Giá nói, “Khi Phật Thích Ca Mâu Ni là một vị vua, đoàn tùy tùng của Ngài làm lễ cầu mưa bởi vì hạn hán và đã giết hại động vật để làm vật hiến tế cho chư thần. Lúc ấy, một cảm giác bi mẫn khởi lên trong đức vua, vì thế, Ngài cố gắng ngăn cản họ, nói rằng, ‘Nam Thiệm Bộ Châu khổ đau vì hạn hán ghê gớm, và không vật hiến tế nào hữu hiệu, ngoại trừ hiến tế một nghìn thành viên trong đoàn tùy tùng của đức vua để cúng dường cầu mưa’. Khi ấy, tất cả thần dân của Ngài cầu nguyện trong sợ hãi và dâng lên cúng phẩm mà không sát sinh. Sau đấy, đức vua nói rằng, “Các ông và động vật đều giống nhau bởi tất cả đều trân quý tính mạng’.”. Khi vài kẻ ngu dốt thấy những con bò hay vật nuôi khác kinh hãi phản khác và khiếp sợ cái chết không thể tránh khỏi, họ không những không bày tỏ bất cứ sự thương cảm hay bi mẫn nào, mà còn nổi trận lôi đình và còn phải tự mình giết các con vật. Những người như thế buộc phải đọa địa ngục khi chết.
Mỗi sinh vật nhỏ bé đều sở hữu cuộc đời, và cùng với nó, là khả năng cảm thấy đau đớn và hạnh phúc. Động vật cũng sợ hãi cái chết nhiều như con người. Vì vậy, chúng ta không nên sẵn lòng làm tổn thương chúng, hoặc nếu không, chúng ta sẽ buộc phải đối mặt với kết quả. Để minh họa điểm này bằng một ví dụ, có một người nông dân tên là Si Liu ở ngoại ô Dương Châu thuộc tỉnh Giang Tô (Trung Quốc). Ông ấy thích trồng hoa và tỉa cành trong mảnh vườn của mình. Một ngày, khi ông ấy đang làm đất, ông tìm thấy một tổ kiến với rất nhiều kiến bên trong. Bởi tích cách cục súc và thói quen sát sinh, ông ấy lấy bình nước sôi từ trong nhà và rót thẳng vào tổ kiến. Kết quả là, vô số kiến bị chết bỏng. Một ngày tháng tám năm đó, ông ấy nằm mơ rằng, đột nhiên, vô số kiến bò khắp người mình. Sau khi tỉnh giấc, ông ấy thấy đầy những vết đỏ trên khắp các bắp thịt trên người. Hôm sau, các vết này biến thành vết phồng giộp màu đỏ, và ở mỗi vết giộp đó, có một con kiến đang cắn mạnh vào thịt của ông. Nỗi đau đớn là vô cùng. Sau nhiều ngày sợ hãi và than vãn, ông ấy qua đời. Đây chỉ là một trường hợp quả báo xảy đến trong cõi người, trong khi ngoài cõi người, khổ đau của ba cõi thấp hơn là vô cùng. Vì vậy, hãy suy nghĩ về quả báo lạ thường gây ra bởi việc phá hủy mạng sống.
Mỗi hữu tình chúng sinh trên thế gian đều yêu quý mạng sống của mình. Ngoại trừ những chúng sinh trong cõi địa ngục, không ai muốn chết. Ví dụ, nếu ai đó chuộc lại một người từ mũi súng bằng tiền hay các phương pháp khéo léo khác, người này không nghi ngờ gì sẽ là một người cứu mạng sống theo ý nghĩa chân thực. Người được cứu sẽ vô cùng biết ơn: Anh ta sẽ tràn ngập trong nhiều cảm xúc, những giọt nước mắt sẽ tuôn rơi và anh ta sẽ ghi nhớ điều này đến khi chấm dứt cuộc đời. Giống như vậy, nếu bạn cứu một con vật sắp bị giết, đó là một hành động của thiện hạnh tương tự, thậm chí dù đó là chỉ là một con cá nhỏ bé.
Theo A-tì-đạt-ma-câu-xá luận, nếu một người phái người khác đi giết hại, hay hoan hỷ trước hành động giết hại của ai đó, thì hành động như vậy cũng được gọi là “nghiệp được tích lũy từ không-hành động”. Nghiệp xấu được tạo ra bởi hành động như vậy ngang bằng với nghiệp của người đã thực sự giết hại. Nếu người ta thỉnh thoảng giết hại trong giấc mơ hay vô tình dẫm lên sâu bọ, khiến nó chết, bởi không cố ý sát sinh, kết quả không nặng nề. Trong Bình Giảng Về Lời Cầu Nguyện Cực Lạc, Lala Sonam Chodrup Rinpoche nói rằng, “Nếu người ta phạm phải sự sát sinh vì Tam Bảo, quả báo sẽ nặng nền hơn một trăm nghìn lần các vi phạm khác”. Nếu người ta cúng dường Tăng đoàn hay quyên tiền để xây dựng các tu viện hoặc đúc tượng bằng của cải tích lũy được từ sự sát sinh, không những không có công đức, mà họ còn tạo ra ác nghiệp cực kỳ nghiêm trọng. Theo các Kinh điển và A-tì-đạt-ma-câu-xá luận, cả người bán và người mua dao, súng, lưới đánh cá hay các công cụ sát sinh khác, sẽ tái sinh trong cõi địa ngục, và cho đến khi những công cụ này bị phá hủy, ác nghiệp của họ sẽ tăng lên mỗi ngày.
Theo bằng chứng kinh văn khác, nếu có một người trong gia đình tiến hành sự sát sinh một cách chuyên nghiệp, chẳng hạn săn bắn hay giết mổ, mỗi thành viên trong gia đình này phải đọa địa ngục một lần. Trong thung lũng, nếu có một người tiến hành sự sát sinh, cả thung lũng đều không cát tường. Hơn thế nữa, chúng ta cần tránh tham gia hay nói với những người dù vậy dù trong một phần của giây: Nếu họ viếng thăm nhà của người khác, họ sẽ mang theo nhiều điều kiện xấu. Nếu chúng ta mang theo những tài sản của họ trên mình, điều này sẽ làm giảm sức mạnh gia trì của Tam Bảo của những đối tượng được gia trì mà chúng ta đang mang theo. Chỉ chạm vào bóng của anh ta cũng gây ra nhiều phiền nhiễu và sự bất tường.
Vì thế, điều cần thiết là phải giữ giới không sát sinh. Thậm chí nếu bạn không thể từ bỏ sát sinh mãi mãi, bạn vẫn cần phát nguyện từ bỏ sát sinh trong một năm, một tháng hay thậm chí một ngày. Không sát sinh đem lại lợi lạc lớn lao. Ngày xưa, có một người đồ tể sống ở thành phố nơi Tôn giả Ca Chiên Diên cư ngụ và giữ giới không sát sinh vào ban đêm. Và sau đó, anh ta đọa vào Địa Ngục Cô Đơn, như là quả báo của việc sát sinh khi còn sống, anh ta chịu đau đớn trong căn phòng sắt nóng bỏng vào ban ngày, và ban đêm, bởi công đức của việc thọ trì giới luật, ông ấy sống trong cung điện linh thiêng được vây quanh bởi bốn thiên nữ và tận hưởng sự an bình và thoải mái.
Bởi chúng ta đều biết về lỗi lầm của việc sát sinh, chúng ta cần phát nguyện vững chắc trước Bậc Thầy và Tam Bảo – không bao giờ làm hại chúng sinh đang sống nào, dù phải đánh đổi tính mạng.
THẬM CHÍ BẬC THÁNH CŨNG PHẢI ĐỐI MẶT VỚI QUẢ BÁO SÁT SINH
Vào thời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, có một vị A La Hán mang danh hiệu Ưu Đà Di (Udayi), người thuyết Pháp cho một phụ nữ Bà La Môn. Đáp lại, người phụ nữ này đã giết hại A La Hán với sự giúp sức của một tên trộm: họ chặt đầu Ngài và chôn nó trong một đống rác rưởi. Khi đứa vua phát hiện ra điều này, Ngài bắt giữ và thiêu sống tên trộm và người phụ nữ này, và thêm vào đó, còn chặt tay và chân của năm trăm tùy tùng của tên trộm như một sự trừng phạt. Khi một đệ tử của Đức Phật hỏi về các nguyên nhân của sự kiện này, Đức Phật nói rằng, lần nọ, ở Lộc Uyển, có một vị vua tên Phạm Dư (Brahmadatta), người có một giấc mơ: Ông ấy nằm mơ rằng ruột của mình buộc cả thành phố lại. Đức vua hỏi một vị thượng thư Bà La Môn liệu giấc mơ này là cát tường hay điềm gở. Mặc dù vị thượng thư biết rõ rằng giấc mơ này rất tốt, nhưng vì lợi ích của năm trăm người phụ thuộc trong gia đình, ông ấy đáp rằng rất nhiều bò phải bị giết và dâng lên cho đám đông. Lúc ấy, có hai con bò đực và cái mà đức vua ban đầu không định giết. Tuy nhiên, trước sự kiên quyết của con trai Bà La Môn, chúng phải chịu thảm kịch bất ngờ này mà chẳng vì lý do gì tốt đẹp. Trước khi chết, chúng phát những lời nguyện xấu xa rằng chúng sẽ cắt tay và chân của năm trăm người phụ thuộc của gia đình Bà La Môn đó để trả thù. Vua Brahmadatta là vị vua hiện tại, vị thượng thư bây giờ là A La Hán Udayi và năm trăm người họ hàng bây giờ là năm trăm tên trộm. Hai con bò là người phụ nữ Bà La Môn và tên trộm.
Cũng có một câu chuyện về việc Thánh Long Thọ cúng dường đầu của mình: Một lần, để dành được ngai vàng nhanh hơn, thái tử của vua Surabhibhadra đã yêu cầu Bồ Tát Long Thọ dâng đầu của mình. Ban đầu, thái tử cố gắng chặt đầu Bồ Tát bằng một thanh gươm, nó như thể đang cắt không khí, thanh gươm chẳng thể gây ra nguy hại nào. Bồ Tát Long Thọ bảo rằng Ngài đã tiêu trừ mọi nghiệp chướng về vũ khí, nhưng ngày xưa khi đang hái cỏ Kusha, Ngài đã giết một con sâu. Đây là hành động bất thiện duy nhất chưa chín muồi, vì thế chỉ có cỏ Kusha mới cắt được đầu của Ngài. Những lời này là hoàn toàn chân thật.
Trong một đời quá khứ, khi bậc trì giữ truyền thừa Dzogchen – Ngài Vairotsana là Tỳ Kheo, Ngài đã giết những con rận trên thân. Kết quả là, khi Ngài đến Tsawa-Rang ở vùng Gyalmo, Ngài bị giam ở nơi đầy rận.
Mặc dù những bậc giác ngộ đã hiện thực hóa trạng thái tính không ở bên trong và các hiện tượng bên ngoài không có lợi hay gây hại cho chư vị, chư vị vẫn xuất hiện là chịu đau khổ vì kết quả rõ ràng của sự sát sinh. Đây là một bằng chứng khác về tính chân thật của luật nhân quả.
SÁT SINH VI PHẠM CÁC GIỚI LUẬT VÀ VÌ THẾ NGĂN CẢN SỰ GIÁC NGỘ
Các đệ tử đã quy y Tam Bảo và thọ giới Bồ Tát và Kim Cương thừa chắc chắn phải từ bỏ sát sinh, nếu không họ sẽ vi phạm mọi giới luật. Một Kinh điển nói rằng: “Những vị đã quy y Đức Phật,/ Là Phật tử chân chính và/ Không nên quy y chư thiên;/ Những vị đã quy y Thánh Pháp,/ Cần tránh xa những ý nghĩ gây hại;/ Những vị đã quy y Tăng Đoàn,/ Không nên tuân theo các thực hành không chính thống”. Lời Vàng Của Thầy Tôi nói rằng: “Ba điều cần tránh là: Đã quy y Phật, đừng kính lễ chư thần trong luân hồi. Đã quy y Pháp, đừng làm hại người khác, dù là trong giấc mơ. Đã quy y Tăng, đừng dính líu đến ngoại đạo”. Vì vậy, nếu chúng ta giết một chúng sinh còn sống, kết quả là, chúng ta phá vỡ các giới luật của sự quy y. Không có giới luật quy y, làm sao chúng ta có thể giữ giới cho cư sĩ, Sa Di, Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni? Bảy Mươi Đoạn Kệ Về Quy Y nói rằng, “Tất cả công đức đều dựa trên giới luật. Không quy y, không có giới luật”. Nếu chúng ta lấy đi mạng sống của một chúng sinh, chúng ta vi phạm các giới luật Bồ Tát. Bởi, theo các Kinh điển và bộ luận, nền tảng của mọi giới luật Bồ Tát là Bồ đề tâm nguyện. Nếu người ta cố tình làm hại hay giết hữu tình chúng sinh, làm sao một người vẫn còn có Bồ đề tâm nguyện? Nếu người ta thiếu hạt giống Bồ đề tâm, làm sao công đức của các thiện hạnh khác có thể tăng trưởng? Kinh Hoa Nghiêm nói rằng: “Này thiện nam tử, Bồ đề tâm giống như hạt giống; từ nó mọc lên tất cả Phật Pháp”. Cướp đi mạng sống của một hữu tình chúng sinh cũng vi phạm điều thứ ba và bốn trong mười bốn giới luật Kim Cương thừa – thù ghét với các hành giả bạn hữu và từ bỏ Bồ đề tâm với hữu tình chúng sinh.
Dù người ta thực hành Kinh thừa hay Kim Cương thừa Phật giáo, lấy đi mạng sống của hữu tình chúng sinh làm tất cả chư Phật và Bồ Tát không hài lòng. Nếu chư vị không hài lòng, chúng ta không bao giờ thọ nhận được ân phước gia trì hay đạt Phật quả. Tổ Tịch Thiên nói rằng, “Bởi vì hạnh phúc của họ, Đấng Chiến Thắng hài lòng,/ Nhưng nếu họ bị làm hại, chư vị không hài lòng./ Vì thế bằng cách làm hài lòng họ, con sẽ làm hài lòng Đấng Chiến Thắng/ Và nhờ làm tổn hại họ, con sẽ làm tổn hại Đấng Chiến Thắng./ Giống như đối tượng yêu thích chẳng đem lại cho tâm con niềm vui thú nào/ Nếu thân con bùng cháy trong lửa,/ Giống như khi chúng sinh đang đau đớn/ Chẳng có cách nào để những Bậc Bi Mẫn hài lòng”.
Bởi vậy, lý do khiến nhiều học trò không đạt giác ngộ hay thấy chư Bổn tôn có lẽ là vì họ đã làm hại hữu tình chúng sinh trong đời này hay đời trước. Bởi vậy, chúng ta cần tịnh hóa nghiệp sát sinh và quyết tâm không bao giờ làm điều gì làm chư Phật không hài lòng trong tương lai. Như Bồ Tát Tịch Thiên nói, “Vì thế, bởi con đã làm hại chúng sinh,/ Hôm nay con thật tâm tuyên bố mọi ác hạnh của mình/ Điều làm những Bậc Bi Mẫn không hài lòng./ Xin hãy tha thứ cho con, hỡi Thế Tôn, bởi sự bất mãn mà con đã gây ra./ Từ nay trở đi, để làm hài lòng chư Như Lai,/ Con sẽ phụng sự vũ trụ và dứt khoát từ bỏ (việc gây hại)./ Mặc dù nhiều chúng sinh có thể đá và dẫm lên đầu con,/ Thậm chí dù phải chết, nguyện cầu con làm hài lòng những Đấng Bảo Hộ Thế Gian (bằng cách không trả thù)”.
Năm nay, bậc thầy gốc nhân từ, bất bộ phái của chúng ta, đấng bảo hộ hữu tình chúng sinh, Kim Cương Thượng Sư, Kyabje Jigme Phuntsok Jungne Pal Zangpo đã giảng dạy Những Câu Chuyện Tiền Thân Của Đức Phật cho gần 5000 đệ tử cư sĩ và tu sĩ. Khi Ngài giảng về những đau đớn của hữu tình chúng sinh, Ngài không thể không khóc và một lần nữa phát nguyện không bao giờ làm hại chúng sinh dù cho phải hiến dâng cả tính mạng. Khi ấy, từ sâu thẳm trái tim, nhiều đệ tử của Ngài trong đó có tôi đã thề sẽ không bao giờ làm hại hữu tình chúng sinh.
TỊNH HÓA NGHIỆP SÁT SINH
Từ nay trở đi, chúng ta cần cố gắng hết sức để từ bỏ việc làm hại bất cứ hữu tình chúng sinh nào. Về nghiệp sát sinh đã phạm phải trong cả đời này và các đời trước, chúng ta cần thực hành tịnh hóa một cách tinh tấn. Sự tịnh hóa chân thành có thể hóa giải mọi ác nghiệp, giống như tên tướng cướp Ấn Độ – Angulimala “tràng hoa kết bằng ngón tay” – đã làm trước đây. Tên tướng cướp độc ác này đã giết 999 người và lấy ngón tay từ mỗi nạn nhân để trang hoàng chiếc vòng. Khi vẫn còn thiếu một người nữa để tròn một nghìn, tên tướng cướp cố giết Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Chỉ khi ấy, ông ta mới nhận biết về hành vi sai lầm của bản thân. Vì thế, ông ấy đã thành tâm hối lỗi và cuối cùng đạt quả vị A La Hán.
Người ta có thể băn khoăn, Kinh điển trước đó nói rằng sát sinh dẫn người ta đến địa ngục trong một trung kiếp, nhưng ở đây, bạn nói về giải thoát trong chính đời này. Liệu điều đó có phải thiếu nhất quán? Câu trả lời là không. Điều trước đó là dành cho những người chưa tịnh hóa ác hạnh, trong khi điều sau dành cho người đạt giác ngộ trong một đời sau khi đã tiêu trừ những chướng cản bởi nghiệp sát sinh nhờ sức mạnh của thực hành tịnh hóa. Hãy lấy một ví dụ để minh họa, nó giống như cuộc đời của một tử tù được chuộc lại nhờ nỗ lực hay giúp đỡ tài chính của ai đó. Anh ta không những không phải chịu án tử hình mà còn có cơ hội sửa chữa sai lầm và bắt đầu một cách tươi mới. Giống như thế, nhờ sức mạnh của đại nguyện của Đức Kim Cương Tát Đỏa và năng lực tịnh hóa của chính chúng ta, việc tiêu trừ ác nghiệp là điều khả thi. Một phương pháp tịnh hóa khác là nhờ phát khởi Bồ đề tâm. Bởi vậy, thực hành tịnh hóa nhất tâm là điều vô cùng quan trọng với những ai đã từng tham gia vào việc sát sinh ghê gớm.
Về phương pháp thực hành tịnh hóa, các bạn có thể trì tụng Nghi Thức Sám Hối Hồng Danh Ba Mươi Lăm Vị Phật hoặc các đà ra ni siêu phàm chẳng hạn Mật chú Trăm Âm hoặc Mật chú Kim Cương Tát Đỏa. Kinh Tô Ba Hô Đồng Tử (Subāhu-kumāra) nói rằng, “Như ngọn lửa dữ của khu rừng mùa xuân,/ Có thể dễ dàng quét sạch tất cả bụi cây,/ Cơn gió của giới luật có thể nhóm lên ngọn lửa trì tụng,/ Và đám cháy của sự tinh tấn lớn lao thiêu rụi tất cả dơ bẩn./ Như ngọn núi tuyết, không thể chịu đựng sức nóng,/ Tan chảy từ ánh sáng mặt trời,/ Mặt trời của giới luật và sức nóng của sự trì tụng,/ Có thể làm tan chảy tuyết xấu xa bằng sự chói ngời./ Giống như ánh sáng có thể xua tan tăm tối,/ Và có thể làm tiêu tan màn đêm khắp nơi,/ Dơ bẩn từ hàng nghìn vi phạm,/ Có thể nhanh chóng tiêu tan nhờ ánh sáng của sự trì tụng”. Mật Điển Chuyển Hóa Phẫn Nộ Ba Phần Của Đức Kim Cương Tát Đỏa tuyên bố rằng, “Trì tụng Mật chú Kim Cương Tát Đỏa một trăm nghìn lần thậm chí thể tịnh hóa sự vi phạm các Mật nguyện gốc”. Lời Vàng Của Thầy Tôi nói rằng, “Trì tụng hai mươi mốt biến Mật chú Trăm Âm mỗi ngày có thể ngăn không cho ác nghiệp tích lũy”. Mật Điển Sám Hối Vô Cấu dạy rằng, “Trì tụng 108 biến Mật chú Trăm Âm có thể tiêu tan mọi ác nghiệp và che chướng và giải phóng người ta khỏi ba đọa xứ”. Trong Pháp Tu Tịnh Hóa Kim Cương Tát Đỏa – Như Ý Bảo Châu [do Kyabje Jigme Phuntsok soạn] có đoạn, “Nếu người ta trì tụng Mật chú Kim Cương Tát Đỏa 400 000 lần bằng cách áp dụng bốn sức mạnh đối trị, thậm chí vi phạm Mật nguyện gốc cũng có thể được tịnh hóa. Hơn thế nữa, trong đời này, các ước nguyện sẽ được viên thành và với sự tái sinh tiếp theo, người ta có thể sinh trong cõi giới mà họ mong muốn, chẳng hạn cõi Cực Lạc”.
Những vị thực hành như thế sẽ đạt được các dấu hiệu của việc tịnh hóa được ác nghiệp. Chúng có thể là dấu hiệu được nhắc đến trong Kinh Chuẩn Đề Thiên Nữ Đà Ra Ni: “Nằm mơ thấy nôn ra đồ ăn dơ bẩn, uống kem, hay nôn ra kem, mặt trời hay trăng mọc, đi trên không trung, lửa cháy dữ dội, trâu nước, điều phục một người mang đồ đen, hoặc về chư Tăng và Ni, hay cho sữa, cây cối, voi, vua của bò, núi non, tòa sư tử hoặc cung điện tuyệt vời, hay lắng nghe Giáo Pháp”.
LÒNG BI MẪN LÀ ĐIỀU QUAN TRỌNG
Trong Đại Trí Độ Luận có nói, “Lòng bi mẫn là căn bản của con đường Phật giáo”. Lamrim – Các Giai Trình Của Đạo Giác Ngộ viết rằng, “Việc người ta đã bước vào Đại thừa hay chưa phụ thuộc vào việc họ đã phát khởi động cơ (của lòng bi mẫn) hay chưa và việc người ta đã rời bỏ Đại thừa hay chưa cũng phục thuộc vào việc liệu họ đã từ bỏ động cơ này hay chưa”. Trong tác phẩm Đạo Ca Chiến Thắng – Diệu Âm Của Trống Thiêng, Jigme Phuntsok Rinpoche dạy rằng, “Để chúng sinh bị trói buộc trong luân hồi khủng khiếp,/ Đạt Phật quả của Hỷ Lạc Vĩnh Cửu,/ Người ta cần nhận trách nhiệm nặng nề của lòng vị tha,/ Từ bỏ yêu thương bản thân như chất độc,/ Nhờ đó, họ có thể đóng lại cánh cửa của các cõi thấp,/ Nó cũng cho người ta niềm hỷ lạc của các cõi cao,/ Dẫn dắt họ đạt đến giác ngộ rốt ráo,/ Vì thế đừng thực hành chỉ dẫn này với tâm tán loạn”.
Vì thế, chúng ta không chỉ nên xem phóng sinh là một hành động từ ái từ hình tướng bên ngoài, mà còn cần có lòng bi mẫn như là động cơ khi giải phóng động vật, nếu không, nó không phải là hành vi thích hợp. Hãy lấy ví dụ về phu nhân của tác giả Tô Đông Pha vĩ đại của triều Tống. Bà ấy là một Phật tử thuận thành, người rất hăng hái trong thực hành phóng sinh. Ngày nọ, trên đường về nhà sau khi phóng sinh trong rừng, bà thấy một bầy kiến đang tranh nhau ít đường rơi dưới đất. Bà dẫm lên chúng và giết tất cả lũ kiến. Sau khi xem xét hành vi của phu nhân, Tô Đông Pha không thể không nhận xét rằng, “Phóng sinh vì động cơ từ ái được cho là một hành động tốt, nhưng tại sao bà chỉ thích gà và chim, không phải kiến? Đây không phải là lòng bi mẫn thực sự!”. Trong Bức Thư Thuyết Phục Phát Bồ Đề Tâm có đoạn, “Chỉ dẫn quan trọng nhất với những người bước vào con đường là phát khởi động cơ; vấn đề cấp thiết nhất trong việc vun bồi tâm thức là phát nguyện. Khi đã phát nguyện, hữu tình chúng sinh có thể được lợi lạc; đã phát khởi động cơ, con đường của Đức Phật mới có thể được viên thành. Vì vậy, những vị chưa phát khởi động cơ bao la hay phát khởi nguyện ước vững chắc vẫn còn trong vòng luân hồi sau vô lượng kiếp. Tất cả nỗ lực của họ trong việc rèn luyện là vô nghĩa”.
Tương tự, chúng ta không nên xem nhẹ những chúng sinh nhỏ bé về kích thước. Kinh Hiền Ngu (Damamūka Nidāna Sūtra) nói rằng, “Đừng coi thường vi phạm nhỏ,/ Và xem nó là vô hại,/ Thậm chí một đốm lửa nhỏ,/ Có thể thiêu cháy cả ngọn núi cỏ khô”. Nhập Bồ Tát Hạnh nói rằng, “Người ta ở trong địa ngục A Tì trong một kiếp là kết quả của tội lỗi phạm phải trong một khoảnh khắc. Điều gì có thể nói về trạng thái tồn tại được yêu thích, bởi tội lỗi đã tích lũy từ vô thủy?”. Một vị đạo sư lỗi lạc của Phật giáo Trung Hoa cũng nói, “Bất cứ hữu tình chúng sinh nào cũng cảm thấy đau đớn khi bị tổn thương hay đang hấp hối,/ Thậm chí con rận hay kiến cũng bám víu vào cuộc đời của nó”. Vì thế, nếu chúng ta thiếu lòng bi mẫn với hữu tình chúng sinh, chúng ta chỉ là tu sĩ hay hành giả cư sĩ về hình thức chứ không phải Phật tử thực sự.
Hơn thế nữa, nếu chúng ta muốn đạt được bất cứ thành tựu nào trong thực hành Bổn tôn, chúng ta cũng cần có lòng bi mẫn lớn lao liên quan đến việc làm lợi lạc hữu tình chúng sinh. Hãy lấy Tôn giả Vô Trước (Asanga) làm ví dụ. Mười hai năm nhập thất hành trì trong khó khăn cùng cực trên Núi Jizu (Kê Túc – Núi Chân Gà) chẳng dẫn đến điều gì – Ngài không thể gặp gỡ Bồ Tát Di Lặc. Rất nản lòng, Ngài quyết định xuống núi. Tuy nhiên, trên đường, Ngài thấy một con chó, bị què hai chân, bụng đầy giòi, rất đau đớn. Thấy vậy, Tổ Vô Trước phát khởi lòng bi mẫn mãnh liệt. Nếu Ngài lấy lũ giòi ra bằng tay, Ngài sợ rằng Ngài có thể giết chúng. Vì thế, mặc dù thịt của nó bị thối rữa và mùi hôi thối rất nặng, Ngài nhắm mắt và liếm lũ giòi khỏi thân thể nó. Tuy nhiên, thứ mà lưỡi Ngài chạm vào là mặt đất. Ngài mở mắt thì thấy rằng con chó đã biến mất, và phía trước Ngài chẳng có gì khác ngoài vị Bổn tôn, Bồ Tát Di Lạc hào quang chói ngời. Tràn ngập trong cảm giác hoan hỷ và cay đắng, Ngài hỏi Bồ Tát tại sao Ngài chẳng dành lòng bi mẫn và thị hiện trong mười hai năm qua. Bồ Tát Di Lặc đáp rằng, “Không phải là Ta không xuất hiện, thực sự, Ta chẳng bao giờ rời bỏ con. Nhưng bởi nghiệp chướng sâu dày, con không thể thấy Ta. Mười hai năm hành trì vất vả đã làm giảm đi nghiệp chướng đôi chút, nhưng hôm nay, con đã phát khởi lòng đại bi khi thấy con chó, thực ra là sự hóa hiện của Ta, và ác nghiệp của con được tiêu trừ hoàn toàn. Vì thế, con đã thấy được Ta”.
Ngày nay, ở Trung Quốc hay nước ngoài, người ta phạm phải ác nghiệp sát sinh khác nặng nề; các nhà hàng giới thiệu ngày càng nhiều hơn các món ăn trong thực đơn, và các loại động vật mà người ta xem là ăn được, ngày càng nhiều hơn, cách thức chế biến ngày càng ghê rợn hơn; chúng ta thấy hàng trăm, hàng nghìn xác chết trên bàn ăn, trông giống như sự giới thiệu một địa ngục trần gian, một thế giới đau khổ. Với những người đã sát sinh và chuẩn bị các món ăn, đến khi nào họ mới có thể trả được món nợ to lớn như vậy?
Tây Tạng, Xứ Tuyết, là đạo tràng của Bồ Tát Quán Thế Âm, vị đại diện cho lòng đại bi của tất cả chư Phật và vì lý do này, 98% cư dân Tây Tạng thực hành Phật giáo và thực hiện các hành vi tốt lành kể từ khi còn nhỏ, hiếm khi lấy mạng sống của hữu tình chúng sinh. Nếu một gia đình giết một con Yak, tất cả các thành viên trong nhà sẽ nỗ lực trì tụng Mật chú cho nó, và thỉnh mời chư Tăng của một tu viện tụng các lời cầu nguyện và tiến hành lễ chuyển di thần thức cho nó. Khi họ thấy một con thỏ hay quạ chết, họ sẽ thỉnh cầu chư Tăng tụng các lời cầu nguyện và chuyển di thần thức, sau đó chôn nó. Trước khi ăn thịt, người ta có thói quen trì tụng Mật chú Đại Bi bảy hay một trăm lần. Nếu ai đó sẵn lòng mua một con Yak hay cừu sắp bị giết, người bán thường sẽ giảm giá như một cách để tùy hỷ hành động phóng sinh.
Vì thế, tất cả chúng ta đã quy y cần tự quán chiếu kỹ lưỡng. Nếu thiếu tâm yêu thương, chúng ta sẽ trở thành Phật tử trên danh nghĩa và hình thức mà thôi. Vì vậy, chúng ta cần dùng mọi phương pháp có thể để phát khởi tâm bi mẫn, và nỗ lực để giải phóng động vật nhằm làm lợi lạc những chúng sinh đang khổ đau. Thậm chí nếu bạn chỉ cứu một hữu tình chúng sinh mỗi tháng, hành động như vậy có ý nghĩa lớn lao và tạo ra công đức to lớn. Để xoa dịu nỗi đau của hữu tình chúng sinh, chư Phật và Bồ Tát cũng như chư đạo sư và trưởng lão Phật giáo trong quá khứ đã hiến dâng cả thân thể hay thậm chí tính mạng. Chương mười một trong Đại Trí Độ Luận ghi lại câu chuyện sau đây: Ngày xửa ngày xưa ở những rặng núi tuyết, có một con chim bồ câu sống cuộc đời tự do không hạn chế. Ngày nọ, con chim thấy một người bị lạc đường trong tuyết. Anh ấy nghèo khó và buồn bã, đau khổ vì đói và lạnh và cận kề cái chết. Thấy vậy, con bồ câu phát khởi lòng bi mẫn lớn lao và bay đi tìm lửa và củi để người này có thể sưởi ấm. Sau đấy, chú chim tự lao vào lửa để người này có thể bớt đói. Với công đức của những hành động này, chú chim đã tái sinh và đạt giác ngộ. Chú chim ấy là Phật Thích Ca Mâu Ni. Khi so sánh với những vị Bồ Tát vĩ đại này, nếu chúng ta miễn cưỡng dành một khoản tiền nhỏ để phóng sinh, liệu chúng ta đã thực sự là người đã phát khởi Bồ đề tâm Đại thừa hay chưa?
ĂN CHAY VÀ KHÔNG ĂN CHAY
Trong các bản kinh Đại thừa như Kinh Lăng Nghiêm, Phật Thích Ca Mâu Ni nhấn mạnh vào tiềm năng tích cực của việc từ bỏ sát sinh và ăn thịt và trở thành người ăn chay. Trong Kinh Lăng Già có nói, “Sinh ra trong gia đình Bà La Môn và ở những nơi mà sự tu tập là có thể, và sinh trong gia đình có trí tuệ và sung túc, tất cả đều là kết quả của việc từ bỏ ăn thịt”. Kinh Thọ Trì Thập Thiện nói, “Người ăn thịt thường dễ bị lẫn … vì thế, người ta cần thực hành đại bi và thọ trì giới không sát sinh”. Bởi vậy, về mặt lịch sử, Lương Vũ Đế phản đối việc ăn thịt theo đúng với giáo lý của các Kinh điển như Niết Bàn Kinh và viết bốn bài về Từ Bỏ Rượu Và Thịt, hướng dẫn mọi tu sĩ Phật giáo ăn chay. Ngài thỉnh mời tập hội đạo sư của ba bộ giới luật tổ chức hội nghị tại cung điện hoàng cung và ban chiếu chỉ rằng tất cả Tăng và Ni đều sẽ trở thành người ăn chay. Vì vậy, ăn chay đã trở thành nguyên tắc tốt đẹp trong cộng đồng Phật tử Trung Hoa. Thậm chí ngày nay, nhiều vị đạo sư và hành giả cư sĩ ở phần lớn các tu viện ở Trung Quốc đều là những người ăn chay kiên trì, nhờ đó, có được vô lượng công đức từ việc ăn chay.
Nhưng trong vấn đề ăn thịt, Tây Tạng và vài vùng của Đông Nam Á thực sự có những truyền thống khác nhau từ người Hoa và mỗi truyền thống này dựa trên bằng chứng kinh văn. Để giải thích trường hợp này và suy ra những ý nghĩa sâu sắc của Kinh điển, chúng ta cần dựa vào các giáo lý của một vị thầy thiện đức, một sự trao truyền truyền thừa vô cấu nhiễm và trí tuệ rộng mở. Chỉ nhờ những phương tiện này, chúng ta mới có thể đạt được những vị trí khác nhau mà nhiều Kinh điển và bộ luận thiết lập và phản bác.
Vài người có thể nghĩ rằng truyền thống không ăn chay của Tây Tạng là vì sự phổ biến của Phật giáo Mật thừa. Thực sự, điều này trái với các sự thật. Nó thực sự dựa trên nhận thức cao cấp nhất về sự thực trong Phật giáo Mật thừa – ăn thịt, thực hành với một vị phối ngẫu và điều phục (ma quỷ và những kẻ đối nghịch) đều nằm trong các hành vi cao cấp nhất của Phật giáo Mật thừa, điều tuy nhiên chỉ liên quan đến các vị Yogi đã đạt được cấp độ cực kỳ cao của giác tính và không phải thứ gì đó có thể tiếp cận được bởi những chúng sinh bình phàm. Ví dụ, đạo sư Phật giáo vĩ đại – Đức Tilopa thường ăn cá sống, nhưng Naropa không bao giờ có tà kiến với hành động như vậy của Tổ Tilopa. Sau sự tận tụy chân thành, Naropa đạt được giác tính chân chính. Một ví dụ khác là tu sĩ Trung Hoa Tế Công. Mặc dù Ngài ăn thịt và uống rượu suốt đời, người ta vẫn xem Ngài là hóa hiện thiện xảo của một bậc thánh mà không dám nói xấu hay bắt chước hành vi của Ngài. Bởi sự thật rằng môi trường địa lý của cao nguyên cao không cho phép sự phát triển của mùa màng, thói quen không ăn chay của Tây Tạng đã định hình theo những sự cho phép thích hợp của Phật Thích Ca Mâu Ni trong giới luật Biệt giải thoát.
Các vị trưởng lão Ấn Độ của Giới Luật Tông – Gunaprabha (Đức Quang) và Sakyaprabha (Thích Ca Quang), trong lần lượt các tác phẩm Vinaya Mula Sutra và Ba Trăm Đoạn Kệ Về Luật Tạng, cho phép ăn thịt nếu nó là thanh tịnh về ba khía cạnh. Vinayavastu (Tì-nại-da sự), Nền Tảng Của Kỷ Luật cũng tuyên bố rằng, “Thế Tôn nói rằng, dùng thịt bất tịnh bị cấm”. Vinaya Sutra tuyên bố rằng, “Hãy quán sát thịt hay cá trong bát khất thực, và nếu nó không phải thịt người thì người ta có thể dùng nó”. Vị đạo sư Ấn Độ – Bhagshes nói trong tác phẩm của Ngài – Căn Bản Kệ Về Trung Đạo rằng, “Trong các bộ luận của Thanh Văn Thừa, dùng thịt thanh tịnh về ba khía cạnh (tam tịnh nhục) là được phép. Ăn thịt như vậy không có lỗi, bởi tâm từng an trú trong thịt đó đã rời đi, vì thế không có lỗi lầm khi thọ dụng thịt như thế … Ăn thịt không phải là lỗi, bởi lúc này, không có nguy hại nào được thực hiện”. Trong Bình Giảng Về Các Đoạn Kệ Căn Bản Của Trung Đạo có nói, “Phật Thích Ca Mâu Ni, Đấng Bảo Hộ vô cùng bi mẫn, không cho phép dùng thịt trong các Kinh điển Đại thừa; Ngài rõ ràng đã cấm nó. Trong các Kinh điển của Thừa Nhỏ Hơn, tuy nhiên, ăn thịt thanh tịnh về ba khía cạnh được cho là không có lỗi lầm”. Nhiều bậc thông tuệ rút ra định nghĩa về “thịt thanh tịnh về ba khía cạnh” từ một đoạn kệ trong Luật Tạng, “Đức Phật vì lợi lạc của hữu tình chúng sinh, nói rằng: thịt chủ yếu bị giết vì một người hay bị nghe thấy hoặc hoài nghi bị giết vì một người, bị cấm không được ăn” có thể giải thích như là thịt mà bị thấy, nghe hay nghi ngờ bị giết vì bản thân. Tuy nhiên, có những bộ luận nhất định nói rằng thịt của động vật bị giết để ăn được xem là bất tịnh. Ví dụ, Ngài Thích Ca Quang viết trong bộ luận của Ngài về Luật Tạng Với Đại Tịnh Quang, “Đừng ăn thịt của cá hay những con vật bị giết vì mục đích; đừng giết hay thuyết phục người khác giết; đừng hoan hỷ trước hành động giết hại của người khác; mặc dù vài loại thịt là thanh tịnh trong ba khía cạnh, nó là kết quả của sự sát sinh, một hành động thiếu lòng bi mẫn và vì thế là không hợp lý. Tất cả thịt cần phải bị cấm không ngoại lệ”.
Các bản văn Đại thừa nghiêm khắc cấm việc dùng thịt. Những bản văn như Kinh Tượng Lực, Đại Vân Kinh, Niết Bàn Kinh, Kinh Vô Não, Kinh Lăng Già, Tô Bà Hô Thỉnh Kinh cũng như nhiều bộ luận Trung Đạo đã giảng dạy tỉ mỉ về ác nghiệp của ăn thịt. Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy Bồ Tát Mahamati, “Này Mahamati, Ta đôi khi đã cho phép ăn năm kiểu thịt hay mười kiểu. Bây giờ, trong Kinh này, Ta nói rằng, mọi lúc, tất cả các kiểu thịt đều không được ăn không ngoại lệ”. Một Kinh khác nói rằng, “Những người ăn thịt đầu tiên sẽ trở thành ngạ quỷ và sau đó sinh trong Địa Ngục Gào Thét”. Trong Tập Bồ Tát Học Luận (Śikṣāsamuccaya), Tổ Tịch Thiên nói rằng sự thật là Thanh Văn thừa cho phép ba kiểu thịt là một giáo lý không phát lộ ý nghĩa trọn vẹn mà là một phương pháp để dần dần dẫn dắt họ bước vào cánh cửa của Phật giáo. Ngài cũng trích dẫn Kinh Lăng Già để minh họa điểm này. Trong Phân Biệt Ba Bộ Giới Luật của Tổ Sakya Pandita, Ngài viết, “Chư Thanh Văn có thể ăn tam tịnh nhục,/ Những vị không ăn thịt thanh tịnh như thế/ Là những người tuân theo thực hành của Đề Bà Đạt Đa,/ Kinh điển Đại thừa cấm ăn thịt”. Học giả Tây Tạng nổi tiếng – Đấng Toàn Tri Gorampa cũng nói vậy trong tác phẩm Bình Giảng Về Ba Bộ Giới Luật.
Tuy nhiên, những người thiếu hiểu biết và ngu xuẩn nghĩ về người không ăn chay là người theo dị giáo hay họ đã làm vấy bẩn giới luật bởi vì ăn thịt. Đây là một thành kiến. Phật Thích Ca Mâu Ni đã cho phép ăn thịt thanh tịnh về ba khía cạnh trong các bản văn của Thừa Nhỏ Hơn. Liệu có thể nói rằng các Kinh điển của Thừa Nhỏ Hơn là tác phẩm của dị giáo? Trong các hành giả Phật giáo ở các quốc gia Phật giáo như Thái Lan, Bhutan, Myanmar, nơi mà hơn 95% dân số là Phật tử, ăn chay là việc hiếm hoi ngay cả với các tu sĩ Phật giáo, chứ đừng nói đến hành giả cư sĩ. Liệu có phải toàn bộ tu sĩ và cư sĩ của những quốc gia này đều được xem là vi phạm giới luật hay không? Nếu câu trả lời là đúng, nó giống như nhìn lên bầu trời từ đáy của giếng.
Cũng có vài người nghĩ rằng chỉ Kinh thừa Trung Hoa mới ủng hộ ăn chay, và mọi hành giả Mật thừa của Tây Tạng đều không ăn chay. Điều này không thực sự đúng. Ngoài những vị ăn tam tịnh nhục, có nhiều hành giả tu sĩ và cư sĩ ủng hộ ăn chay và thực sự là người ăn chay. Khi Học viện cúng dường bữa ăn lên chư Tăng và Ni, có một vạc lớn đồ ăn chay dành cho các vị Tăng và Ni Trung Hoa hay Tây Tạng. Ở Kakhok có một vị Lama tái sinh, người mà trong hóa thân đầu tiên, đã thề không bao giờ ăn thịt trong bảy đời tiếp theo. Hiện tại, Ngài là hóa thân đời thứ hai và khi còn bé, Ngài thường khóc bất cứ khi nào thấy thịt. Bây giờ, Ngài là một người đàn ông trưởng thành nhưng thói quen ăn chay vẫn không đổi.
Vài người nhắc đến Bồ Tát Giới trích từ Phạm Võng Kinh: Giới luật Căn Bản Của Chư Bồ Tát Trong Truyền Thống Trung Hoa: “Người ăn thịt đánh mất hạt giống Đại Bi, cắt đứt hạt giống Phật Tính và khiến [động vật và] những chúng sinh [siêu phàm] tránh xa”, và thách thức những Phật tử ăn thịt giải thích cuộc tranh luận này. Tuy nhiên, họ không biết sự thật rằng, hai bộ giới luật của Bồ Tát, theo các truyền thống của Tổ Long Thọ và Vô Trước, thuộc về nhánh Du già và lần lượt khác với truyền thống Trung Hoa. Có mười tám giới chính và tám mươi giới phụ trong truyền thống Tri Kiến Sâu Xa của Tổ Long Thọ, trong khi theo truyền thống Hành Động Bao La của Tổ Vô Trước, có bốn giới chính và bốn mươi sáu giới phụ. Mặc dù chúng ta không thể tìm thấy việc cho phép ăn thịt ở trong hai bộ giới luật này, chúng ta cũng không tìm thấy bất cứ sự cấm đoán nào với việc ăn thịt. Hơn thế nữa, trong Kinh Phạm Võng, giới luật của việc không ăn thịt nằm trong bốn mươi tám giới phụ chứ không phải giới chính, và là một sự phạm lỗi giống như các giới luật thứ yếu của “giới biệt thỉnh Tăng”, “giới không mua chuộc” và “giới không đi nghe Pháp”. Ba giới đặc biệt này rất dễ dàng vi phạm, nhưng không được xem là quan trọng. Vì thế, có hợp lý không nếu quá chú ý đến chỉ giới không ăn thịt? Nếu người ta hỏi, “Ăn thịt là nguyên nhân dẫn người ta đến những cõi xấu, liệu nó có còn được xem là vi phạm thứ yếu?”. Câu trả lời là, không nhất thiết. Mặc dù ăn thịt là một hành động sai lầm dẫn người ta đến địa ngục, nó vẫn được tịnh hóa khá dễ dàng. Kinh Về Giới Trọng Và Khinh nói rằng, “Nếu một Tỳ Kheo đắp một mảnh y trắng, vị ấy sẽ phải chịu khổ đau trong Địa Ngục Chết Đi Sống Lại trong 80000 năm”.
Theo Bộ Luận Về Gốc Rễ Của Luật Tạng – Bình Giảng Nhật Quang của Tổ Tsonag Sherab Zangpo, vào thời đại Giáo Pháp suy đồi, nếu người ta có thể từ bỏ việc vi phạm các giới luật gốc, họ được xem là đã giữ gìn giới luật thanh tịnh. Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche cũng nói trong Giọt Cam Lồ Khai Thị rằng, “Khi dòng tâm thức của chúng ta không cùng tồn tại với các vi phạm gốc, đó được gọi là giới luật thanh tịnh”. Những người ăn tam tịnh nhục không vi phạm Biệt giải thoát giới và theo các giới luật Bồ Tát từ Phạm Võng Kinh, họ chỉ phạm phải những hành vi thiếu sót, và những thiếu sót này có thể được tịnh hóa nhờ thực hành tịnh hóa. Hãy lấy ví dụ về các vị Tỳ Kheo ở Trung Hoa, người thường được xem là giữ giới thanh tịnh – trong số họ có vài vị ăn sau bữa trưa, và một số lười nhác trong việc lắng nghe Giáo Pháp. Vì thế, dù họ giữ kiểu giới luật nào, họ vẫn ưu tiên cho tầm quan trọng tương đối của giới luật. Tuy nhiên, người ta không nên chỉ nhìn từ bề ngoài. Ngày nay, khi người ta thấy người khác vi phạm giới gốc, họ không nghĩ điều đó nghiêm trọng, nhưng khi họ thấy ai đó vi phạm một giới phụ, họ bắt đầu chỉ trỏ, cho rằng đó là một vi phạm gốc. Việc những đánh giá như vậy có hợp lý hay không thì cần sự xem xét nghiêm túc của chúng ta!
Tóm lại, ăn chay tích lũy vô lượng công đức, trong khi ăn thịt đem đến nhiều tiềm năng tiêu cực. Tuy vậy, ở Tây Tạng, Phật tử ăn thịt thanh tịnh về ba khía cạnh không vi phạm Bồ Tát hay Biệt giải thoát giới. Ăn thịt cũng không ngang bằng với việc lấy đi sinh mạng hay một hành động dị giáo. Vì vậy, tất cả Phật tử, về căn bản là Phật tử Tây Tạng và Trung Hoa, cần tạo nên tình đoàn kết thuận hòa với sự kính trọng lẫn nhau và không nói xấu lẫn nhau. Họ cần biết rằng tất cả đều là những dòng truyền thừa thanh tịnh mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã trao truyền, và tất cả đều là con đường dẫn đến giác ngộ. Những vị uyên bác và đã chuyển hóa bản thân vì thế có thể vượt trội trong thực hành bất bộ phái trong cả truyền thống Tây Tạng và Trung Hoa, thực hành Kinh và Mật không đối nghịch, kết hợp hài hòa giữa các truyền thống khác nhau.
TỪ BỎ SÁT SINH VÀ TIẾN HÀNH PHÓNG SINH VÀO NHỮNG NGÀY CÁT TƯỜNG
Phóng sinh có rất nhiều công đức, khiến nhiều vấn đề trở nên cát tường. Pháp Sư Lianchi nói rằng, “Nếu một gia đình từ bỏ sát sinh, / Chư thiên thiện lành sẽ bảo vệ họ,/ Tai ương và thiên tai sẽ tiêu tán, /Tuổi thọ sẽ được kéo dài,/ Con cái sẽ thiện đức và kính trọng người lớn,/ Nhiều sự cát tường sẽ sinh khởi,/ Vô số lợi lạc không thể được liệt kê hết”. Sát sinh, mặt khác, tích lũy sự thù hằn với bản thân và làm suy giảm hay phá hủy vận may và sự trường thọ tích lũy qua nhiều lần tái sinh. Vì vậy, vào những ngày cát tường như Năm Mới hay các ngày lễ khác, ngày sinh nhật, ngày kết hôn, ngày khai trương hay những lễ hội, bạn cần phóng sinh rộng lớn và từ bỏ việc sát hại sinh mạng, phá hủy và tiêu diệt món quà của tự nhiên và tích lũy ác nghiệp nghiêm trọng của sát sinh …
Bạn bè và gia đình tụ tập cùng nhau về điều được cho sẽ là một ngày hoan hỷ và cát tường. Vào dịp Năm Mới hay các ngày lễ, mọi người cầu mong mùa màng bội thu, thịnh vượng và sự tiến triển thuận lợi với mọi việc. Tại sao mọi người lại giết hại sinh mạng nhiều hơn và gieo hạt giống của rắc rối? Người ta thường táo bạo giết hại chúng sinh và ác độc trở thành một thực hành phổ biến, dẫn đến việc tích lũy nhiều ác nghiệp. Thậm chí chư thiên cũng sẽ không hài lòng, gây ra ngập lụt, thảm họa cháy nổ, nạn đói và chiến tranh. Trong Bài Luận Về Từ Bỏ Sát Sinh, trưởng lão Pu’an viết:
Thiên tai và hạn hán xảy đến, và làm sao chúng ta, là con người, lại không suy nghĩ gì về nó?
Vào dịp sinh nhật, người ta mong ước sự trường thọ cho cha mẹ và bản thân, và rằng họ có thể tránh khổ đau và đạt được hạnh phúc. Chính vì lý do này mà họ cần phóng sinh và từ bỏ thịt để có được sự thịnh vượng và trường thọ. Nhưng, trái lại, tại sao họ bất ngờ lại không để ý đến lòng từ của cha mẹ? Tại sao họ lại làm hại mạng sống và tăng trưởng ác nghiệp? Sát sinh gây hại cho bản thân và cha mẹ. Điều được dự định sẽ đem lại sinh khí và trường thọ lại trở thành nguyên nhân của nguy hại và sự chấm dứt mạng sống. Lần nọ, phu nhân của một quan chức chính phú cấp cao chuẩn bị một bữa tiệc lớn để chiêu đãi quan khách trong ngày sinh nhật. Bà ấy đã mua rất nhiều gà, vịt, lợn, cừu, cá, tôm và nhiều thủy hải sản khác. Khi gà và cừu sắp bị giết, thần thức của bà ấy bất ngờ bám víu vào một trong những con vật bị giết này. Bà ấy la hét trong nỗi thống khổ tột cùng và lăn qua lăn lại trên giường, trải qua nỗi đau đớn lớn lao còn tệ hơn cả cái chết. Lúc đó, bà ấy bất ngờ biết về nỗi đau và sự thù hằn của những con vật này trải qua khi bị giết. Không có khả năng nói, chúng chỉ không thể nói ra được. Cuối cùng, bà ấy sửa chữa lỗi lầm và phát nguyện từ bỏ sát sinh và phóng sinh, thề sẽ không bao giờ giết hại vì sự thỏa mãn của bản thân. Sau đấy, người phụ nữ này sống một cuộc đời rất dài lâu và đây hoàn toàn là kết quả của lòng bi mẫn và sự chuyển hóa bản thân.
Vào ngày cưới, mọi người mong muốn một gia đình êm ấm và sinh con tuyệt vời, vì thế, tại sao họ lại hành xử trái ngược với nguyên nhân và giết hại nhiều động vật khi họ sắp sinh và nuôi dạy con cái? Điều này gây ra những xung đột và thậm chí là sự chấm dứt mối quan hệ, và con cái thường sẽ bất hạnh và dễ mắc bệnh, hay thậm chí chết yểu. Liệu một đám cưới như vậy có cát tường? Thiền sư Cishou từng nói trong một đoạn kệ để khuyên phóng sinh và không sát sinh: “Bởi thế giới này tràn ngập sát sinh,/ Đây là thời kỳ của chiến tranh,/ Bạn bị giết bởi những mạng sống mà bạn nợ,/ Nhà bạn bị thiêu cháy bởi tiền mà bạn nợ,/ Sự chia ly với những người yêu thương,/ Là bởi vì những hang tổ bạn đã phá hủy,/ Nghiệp báo tương ứng (với hành động của bạn),/ Vì thế hãy lắng nghe cẩn thận giáo lý của Đức Phật”.
Thương nhân thường mong chờ một khởi đầu thuận lợi khi họ bắt đầu kinh doanh và công việc kinh doanh sẽ mang lại nhiều vận may trong tương lai. Vì thế, tại sao họ lại giết hại mạng sống vào lúc đó, khiến tiếng khóc hận thù vang vọng khắp nơi, lấy đi nhiều mạng sống vào ngày họ muốn tạo ra vận may? Liệu việc bắt đầu kinh doanh như thế sẽ trở nên thuận lợi hay điềm xấu? Kết quả của nguyên nhân như vậy sẽ là gì, lợi nhuận hay thất bại? Kinh Lăng Già ghi lại rằng, “Những người đã giết hại chúng sinh để kiếm ăn, hay bán thịt vì tiền,/ Sẽ đọa vào Địa ngục Gào thét sau khi chết”. Người xưa nói rằng, “Nhịn ăn một ngày, trong đó việc giết hại của thế giới chẳng liên quan gì đến tôi; ai mà biết về các món nợ? Mọc sừng và lông, trả lại những món nợ cũ và hiện tại”. Đại Trí Độ Luận nói rằng, “Những lợi lạc của không sát sinh là gì? Câu trả lời như sau: Người ta sẽ không sợ hãi, luôn an bình và tránh xa sự kinh hoàng. Bởi tôi không làm hại họ, họ sẽ không làm hại tôi. Người thường giết hại, dù cho họ ở địa vị cao nhất như kẻ cai trị của con người, họ sẽ không an toàn, trong khi người từ bỏ sát sinh sẽ không có gì phải sợ dù cho họ du hành một mình. Hữu tình chúng sinh không thích người có thói quen sát sinh, trong khi tất cả thường thân cận những vị nghiêm trì giới luật. Hơn thế nữa, những vị nghiêm trì giới luật sẽ cảm thấy an bình về thân và tâm trước khi họ chết. Họ sẽ thoát khỏi những nghi ngờ và hối tiếc. Nếu họ sinh làm thiên hay nhân, họ sẽ tận hưởng sự trường thọ. Từ bỏ sát sinh cũng là nguyên nhân đạt được con đường cho tới khi họ đạt Phật quả và có được cuộc đời bất tận. Những người sát sinh sẽ trải qua sự đau đớn vật lý và tinh thần trong đời này và suốt các đời tái sinh, trong khi người từ bỏ sát sinh sẽ không trải qua tai ương nào. Đây là lợi lạc lớn lao”.
Tương tự, trong việc chuyển di thần thức cho người đã khuất, các đám tang, hay khi cố gắng tránh tai ương và bất hạnh, chúng ta cần từ bỏ sát sinh và tiến hành phóng sinh để cầu nguyện sự gia trì. Chúng ta không nên hành xử trái lại với ý muốn của người đã khuất và làm tăng trưởng nghiệp chướng của họ. Trong Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện có nói, “Tôi sẽ khích lệ những chúng sinh Nam Thiệm Bộ Châu cẩn thận để tránh gây hại, sát sinh và làm các ác hạnh khác; từ bỏ việc thờ cúng ma quỷ và tinh linh hay hiến tế cho họ; và không bao giờ triệu thỉnh các tinh linh trên núi vào ngày chết. Tại sao vậy? Sát sinh, giết hại và hiến tế chẳng hữu ích gì cho người quá cố. Những hành động như thế chỉ trói buộc các điều kiện của sự phạm tội để chúng ngày càng nặng nề hơn. Người quá cố có thể sẽ tăng trưởng tiềm năng chứng Thánh quả hay tái sinh trong cõi người hay trời trong đời sau hoặc trong tương lai. Nhưng khi gia đình phạm phải những tội ác vì anh ta, anh ta sẽ thù ghét những tai ương mà anh ta phải gánh chịu và sự tái sinh tốt lành sẽ bị trì hoãn. Sẽ ra sao nếu đó là người sắp chết, người mà trong các đời đã gieo trồng rất ít gốc rễ tốt lành? Mỗi người phạm tội sẽ phải trải qua số phận xấu tùy theo nghiệp của họ. Làm sao người ta có thể chịu đựng việc họ hàng tích lũy thêm nghiệp đó? Điều đó giống như có một người hàng xóm thêm vào vài thứ vào đống hàng hơn một trăm cân đang được mang đi bởi ai đó đã du hành một quãng đường dài và chưa ăn trong ba ngày. Vì thêm khối lượng đó vào, gánh nặng thậm chí càng trở nên không thể chịu được”.
Giống như vậy, chúng ta có thể từ bỏ sát sinh và tiến hành phóng sinh khi cầu nguyện cho sự trường thọ của chư đạo sư tâm linh, nhờ đó, tăng trưởng thiện nghiệp của hữu tình chúng sinh, xua tan ác nghiệp, điều có thể thúc đẩy chư đạo sư tâm linh trụ thế dài lâu hơn và làm lợi lạc hữu tình chúng sinh một cách rộng khắp!
PHÓNG SINH TĂNG TRƯỞNG PHƯỚC BÁU VÀ KÉO DÀI TUỔI THỌ
Nếu chúng ta muốn sống cuộc đời trường thọ, chúng ta cần phóng sinh. Trong Tán Thán Phóng Sinh có nói, “Hãy nghe này, những người muốn kéo dài mạng sống,/ Con cần nương tựa vào chính mình vì một viễn cảnh rõ ràng hơn./ Nếu con muốn trường thọ, con cần phóng sinh./ Đây là sự thật tuần hoàn./ Nếu con giải cứu một chúng sinh sắp chết,/ Chư thiên sẽ bảo vệ con khỏi cái chết./ Không có cách nào khác để kéo dài mạng sống và có con,/ Ngoài từ bỏ sát sinh và thường phóng sinh./ Bồ Tát Di Lặc cũng có một đoạn kệ nói rằng, ‘Ta thúc giục các con phóng sinh tinh tấn,/ Con cuối cùng sẽ trường thọ,/ Và nếu con đã phát khởi Bồ đề tâm,/ Chư thiên sẽ cứu con khỏi các tai ương’”.
Các Kinh điển ghi lại bảy thiện hạnh của trời và người, “Tái sinh trong giai cấp cao, hình tướng trang nghiêm, trường thọ, mạnh khỏe, thiên hướng nghiệp tốt, giàu có và trí tuệ lớn”. Trong số chúng, nguyên nhân chính để trường thọ và mạnh khỏe là phóng sinh. Phóng sinh cũng là nhân tố hỗ trợ cho năm thiện hạnh khác. Ngài Thế Thân nói rằng, “Giải phóng những chúng sinh đang bên bờ vực của cái chết,/ Giống như trao cho họ cuộc đời mới;/ Từ bỏ việc làm hại chúng sinh,/ Trao cho họ sự trường thọ;/ Y tá và bác sĩ,/ Hành nghề y mà không làm hại mạng sống,/ Sẽ thoát khỏi bệnh tật”.
Bởi quả báo vì sát sinh trong đời này hay các đời quá khứ, vài người chịu đau khổ vì bệnh tật đến mức thậm chí bác sĩ cũng không thể chữa trị. Tuy nhiên, trong vài trường hợp, có một số người bệnh hoàn toàn được chữa lành sau khi phóng sinh. Ở Hàng Châu, có một người đàn ông bắt chim vì sinh kế. Bất ngờ, lưng anh ta bắt đầu đau đớn và bác sĩ chẳng thể làm được gì. Khi ấy, anh ta nhận ra rằng đó là nghiệp của tất cả việc sát sinh anh ta đã làm trong đời này, và thề không bao giờ giết hại nữa. Sau đấy, anh ta phóng sinh và kết quả là, việc điều trị trở nên hữu hiệu và anh ta dần bình phục. Ở Tây Tạng, với nhiều người được chẩn đoán mắc bệnh vô phương cứu chữa, nếu gia đình của họ phóng sinh và trì tụng các Kinh điển Phật giáo cho họ, có thể họ sẽ dần khỏe lại. Đặc biệt những căn bệnh lạ mà bác sĩ không thể chẩn đoán, chúng đặc biệt bị gây ra bởi nghiệp sát hại hữu tình chúng sinh trong đời này hay các đời quá khứ. Nếu như thế, phương pháp hữu ích duy nhất là phóng sinh.
Kinh điển có ghi lại rằng, “Mặc dù người ta chịu ác nghiệp sát sinh một trăm người và một trăm con ngựa, nếu người ta giải phóng một sinh mạng, nghiệp này sẽ được tiêu trừ. Nếu họ giải phóng mười ba sinh mạng, ác nghiệp của mười nghìn kiếp sẽ được đẩy lùi. Nếu ai đó sắp kết thúc cuộc đời, hãy phóng sinh để anh ta kéo dài tuổi thọ. Nếu ai đó sẽ chết trong ba ngày, hãy phóng sinh mười ba sinh mạng, điều sẽ kéo dài tuổi thọ của anh ta trong ba năm. Nếu một người giết hại mạng sống của một hữu tình chúng sinh mà mạng sống vừa được giải phóng, người này tạo ra ác nghiệp sát sinh một trăm người”.
Trong triều đại của Hoàng đế Đạo Quang thời Thanh, có một thái thú mắc bệnh nghiêm trọng. Khi tử thần sắp gõ cửa, ông ấy thề rằng – từ hôm đó trở đi, ông ta sẽ làm lợi lạc mọi hữu tình chúng sinh, tịnh hóa mọi ác nghiệp và từ bỏ mọi vấn đề thế gian. Ngay đêm đó, Bồ Tát Quán Thế Âm thị hiện trong giấc mơ và nói rằng, “Con đã phạm ác nghiệp sát sinh trong quá khứ và quả báo là, mạng sống của con trở nên ngắn ngủi. May mắn là, con đã có hứa nguyện kiên quyết lúc này. Cách thức duy nhất để kéo dài mạng sống là phóng sinh. Nó cũng có thể tăng trưởng sự thịnh vượng và tài bảo của con”. Khi tỉnh dậy, ông ấy được truyền cảm hứng lớn lao và như thế, cả gia đình thề sẽ từ bỏ sát sinh động vật và thường xuyên mua và giải phóng động vật sắp bị giết. Cuối cùng ông ấy bình phục hoàn toàn. Thực sự, những người phóng sinh có thể kéo dài tuổi thọ. Gần đây, có một người du mục gần hạt Drakgo của Tây Tạng, người này chịu đau khổ vì nhiều căn bệnh khác nhau trong nhiều năm và đang trải qua nỗi đau đớn tột cùng. Bà ấy đến nhiều bệnh viện nhưng không tìm được cách chữa trị. Sau đó, một tu sĩ làm lễ tiên tri cho bà, và bảo rằng bà đã phạm phải ác nghiệp sát sinh ghê gớm và nếu bà ấy không phóng sinh, bà sẽ liên tục bị bệnh và yểu mạng. Sau đấy, bà phóng sinh và thoát khỏi mọi đau đớn và bệnh tật. Bây giờ, bà ấy rất tin tưởng nghiệp và quyên góp tiền mỗi năm để phóng sinh.
Khi một người đang đau đớn vì một căn bệnh nghiêm trọng và cuộc đời sắp chấm dứt, cách duy nhất để kéo dài mạng sống và thoát khỏi bệnh tật là giải phóng sinh mạng. Có một người đàn ông tên Dalin Wang từ Tô Châu. Ông ấy có trái tim từ ái và bi mẫn và thường hay phóng sinh. Mỗi lần ông ấy thấy lũ trẻ trong làng bắt và giày vò chim chóc hay cá, ông ấy bỏ công sức để thuyết phục chúng và thậm chí còn cho tiền để giải phóng những con vật này. Khi khuyên mọi người, ông ấy thường nói, “Người trẻ cần vun bồi thiện hạnh chăm sóc mạng sống và có lòng bi mẫn với mạng sống của người khác. Họ không nên phát triển thói quen xấu của sự ác độc và giết hại”. Vì thế, trong suốt cuộc đời, ông thúc giục mọi người từ bỏ thói quen gây hại và huân tập hành vi tốt. Sau đấy, ông ấy bị bệnh nặng và cuộc đời sắp chấm dứt, ông ấy được một vị thánh khai thị trong trạng thái tỉnh giác rằng: “Con đã giải phóng nhiều hữu tình chúng sinh trong suốt cuộc đời, điều tạo ra thiện nghiệp to lớn. Cuộc đời con sẽ được kéo dài thêm 36 năm”. Bởi thế, ông ấy sống tới 97 tuổi và chết mà chẳng bệnh tật gì.
Gần đây, có một người Tây Tạng tên Gontse. Nhiều vị Yogini với những năng lực siêu phàm nói rằng, anh ấy chỉ sống đến năm 31 tuổi, nhưng nếu anh ấy có thể phóng sinh và trì tụng thần chú, tuổi thọ sẽ được kéo dài. Vì thế, anh ấy lập tức phóng sinh số lượng lớn con vật. Anh ta cũng phóng sinh và bảo vệ động vật trong những năm tiếp theo. Năm nay, anh ta đã 50 tuổi. Có một câu chuyện khác khá tương tự: một vị tên Qushi đã mua một con cá chép đỏ trong thị trấn. Sau đấy, khi anh ta mắc bệnh, anh ta nằm mơ thấy vua Naga, người thỉnh mời anh ta đến cung điện của Naga và bảo rằng, “Thưa Ngài, cuộc đời Ngài đáng lẽ phải kết thúc, nhưng bởi Ngài đã cứu mạng con trai Naga, cuộc đời Ngài sẽ được kéo dài thêm 12 năm”. Anh ta 48 tuổi khi cứu mạng con cá chép, nhưng đã sống tới năm 60 tuổi. Vì thế, nếu chúng ta muốn kéo dài mạng sống, chúng ta cần phóng sinh, và chỉ nhờ làm vậy, chúng ta mới có thể tăng trưởng những tiềm năng tích cực và kéo dài sinh mạng.
Điều vô cùng quan trọng là hành giả Phật giáo cần tin tưởng luật nhân quả và nhận thức về nghiệp của họ phải rất kích thích. Hiện tại, có nhiều bác sĩ nổi tiếng, người đã thêm phóng sinh như một phương pháp điều trị. Có một vị bác sĩ ở thành phố Toại Ninh, Tứ Xuyên, rất có tầm ảnh hưởng ở Trung Hoa cũng như nước ngoài. Các bức tường trong nhà của bà ấy có nhiều biểu ngữ bằng lụa mà các bệnh nhân được bà ấy đã chữa trị trao tặng để biểu thị lòng biết ơn và tôn vinh khả năng điều trị tuyệt vời. Những bệnh nhân này bao gồm các quan chức nhà nước ở thành phố và tỉnh, các bệnh nhân từ Trung Hoa cũng như nước ngoài. Bây giờ, bà ấy là người cứu mạng hàng nghìn, thậm chí hàng vạn người. Tôi đã đưa ra những câu hỏi với những người mà bà ấy chữa trị thành công. Họ đều nói rằng, khi việc điều trị không hiệu quả, vị bác sĩ này khuyên họ phóng sinh và tụng Kinh. Làm theo lời khuyên, họ đã phóng sinh và tiến hành các hành động thiện lành khác và nhờ đó, cơ thể đã hồi phục. Khi nghe những lời này, tôi phát triển thêm sự hiểu vững chắc với những lời dạy của Đức Phật. Vì vậy, phóng sinh là một loại phương pháp chữa trị nằm ngoài tầm ảnh hưởng của quy luật vật lý.
Mặt khác, lấy đi mạng sống của hữu tình chúng sinh là nguyên nhân trực tiếp duy nhất của việc yểu mạng và liên tục bị bệnh. Bởi thói quen sát hại, những người đáng lẽ sống cuộc đời lâu dài nhưng lại chết trẻ. Đạo sư Tây Tạng Ngawang Chakpa nói, “Những người cứu mạng và giải phóng động vật, dù cho họ đáng lẽ sẽ chết sớm, cuộc đời sẽ được kéo dài; và nếu họ giết hại động vật như cá hoặc rắn, dù đáng lẽ họ sống lâu, họ sẽ chết trẻ”. Kể từ thời cổ xưa, các trường hợp kéo dài mạng sống nhờ phóng sinh là vô số.
Nếu chúng ta có thể hướng tâm từ bi với động vật và nếu chúng ta có thể từ bỏ sát sinh và tiến hành phóng sinh, và nỗ lực trong việc khuyên người khác làm vậy, mọi thứ sẽ tiến triển thuận lợi, như Luận Văn Của Bậc Cao Cấp Nhất Về Hành Động Và Kết Quả nói, “Chư thiên sẽ bảo vệ anh ta, hạnh phúc và của cải sẽ đi theo”. Đấng Toàn Tri Patrul Rinpoche cũng nói, “Những người liên tục làm lành và phóng sinh, chư Hộ Pháp và thổ thần sẽ bảo vệ họ không ngừng nghỉ”. Câu Chuyện Về Bảo Vệ Mạng Sống nói rằng, “Như hình với bóng, nghiệp mọi lúc đều rõ ràng, các trường hợp của sự đáp trả cũng luôn hiển hiện, bạn còn nghi ngờ gì nữa?”
NHỮNG LỢI LẠC VÔ BIÊN CỦA PHÓNG SINH
Trong tất cả các hành động thiện lành bị trói buộc bởi quan niệm, không gì có thể vượt được những lợi lạc đến từ phóng sinh. Nếu một người làm những kiểu hành động thiện lành khác với ý định vấy bẩn, không có công đức nào được sinh khởi. Nhưng bất cứ ý định nào mà người ta có khi phóng sinh, hành động như vậy trực tiếp lợi lạc với hữu tình chúng sinh, vì thế, thiện nghiệp lớn lao có thể được tạo ra nhờ làm vậy. Công đức của việc phóng sinh dù chỉ một mạng sống cũng là vô biên. Điều này là bởi những chúng sinh được giải phóng tạm thời thoát khỏi nỗi đau không thể chịu đựng của việc bị giết hại. Bên cạnh đó, khi chúng ta phóng sinh, danh hiệu và Mật chú của chư Phật mà chúng ta trì tụng có thể ban phước cho những chúng sinh này, và cuối cùng họ sẽ đạt được quả vị bất thối chuyển.
Trong Kinh Bánh Xe Bất Thối có nói, “Những vị đã nghe danh hiệu của Đức Từ Phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni sẽ đạt sự bất thối chuyển. Những con vật nghe được danh hiệu của Đức Phật sẽ gieo trồng hạt giống Bồ đề tối thắng và cuối cùng đạt được sự bất thối chuyển”. Một Kinh điển khác nói rằng, “Những vị nghe thấy danh hiệu của Phật hay thấy hình của Ngài sẽ đạt được thiện hạnh vô biên. Họ sẽ giải thoát”. Mật Điển Gốc Văn Thù Sư Lợi nói rằng, “Hãy trì tụng Mật chú của Đức Như Lai, bởi những Mật chú này có ý nghĩa chân thật. Nếu người ta chỉ liếc nhìn vào những Mật chú này, Như Lai sẽ có thể tiếp nhận họ”. Trong Tiểu Sử Của Phật Thích Ca Mâu Ni có nói, “Có một con cá mập lớn sắp ăn thịt nhiều lái buôn. Một trong những vị này hét to danh hiệu của Đức Phật. Với công đức của việc nghe thấy danh hiệu của Ngài, con cá tái sinh làm người và đạt quả vị A La Hán dưới thời Phật Thích Ca Mâu Ni”. Vì thế, khi phóng sinh, đừng quên tụng đọc danh hiệu của chư Phật.
Tôi nghĩ rằng hành động phóng sinh rất lợi lạc với hữu tình chúng sinh. Chư Bồ Tát vĩ đại cũng cố gắng dẫn dắt hữu tình chúng sinh tạm thời rời xa khổ đau và đạt hạnh phúc, tận hưởng ân phước gia trì của cõi người và trời, và cuối cùng thoát khỏi vòng sinh tử. Phóng sinh sở hữu công đức như thế. Những vị thích phóng sinh, dù họ là hành giả tu sĩ hay cư sĩ, đều là Bồ Tát chân chính. Chúng ta cần liên tục hoan hỷ và học hỏi từ những hành động thù thắng của họ. Hãy lấy một vị Khenpo trong Học viện của chúng ta làm ví dụ, Ngài có lòng sùng mộ nội tại với phóng sinh và dành tất cả tiền mà học trò cúng dường để phóng sinh.
Bây giờ, chúng ta đang trong thời đại Giáo Pháp suy giảm, chư đạo sư vĩ đại, những vị thực sự có thể làm lợi lạc hữu tình chúng sinh, rất hiếm có. Những vị đạo sư nhất định và hành giả cư sĩ xây dựng nhà máy và phát nguyện đem lại ân phước gia trì cho đất nước này, dành hàng triệu, thậm chí hàng trăm triệu Nhân Dân Tệ trong việc xây dựng hay trang hoàng các tu viện. Nhưng ở những tu viện này, chẳng có tu sĩ nghiên cứu Giáo Pháp hay rèn luyện tâm; đôi lúc các bạn sẽ thấy vài bức tượng Phật với hình tướng không đúng với những tiêu chuẩn ghi lại trong Kinh điển và những bức tượng này không được yểm các vật quý giá. Đó là một hành động tốt lành, nhưng nếu chúng ta có thể phóng sinh bằng số tiền sử dụng cho điều này, chẳng phải nó sẽ tạo ra lợi lạc lớn lao hơn nhiều hay sao?
Trong Đại Trí Độ Luận, Bồ Tát Long Thọ nói rằng, “Trong tất cả những hành động xấu,/ Sát sinh là tệ nhất;/ Trong tất cả những hành động tốt,/ Từ bỏ sát sinh là tốt nhất”. Đức Kuzung Chodrak, một vị đạo sư vĩ đại của Tây Tạng, nói rằng, “Người ta cần từ bỏ sát sinh. Họ cần bảo vệ và giải phóng mạng sống. Trong tất cả những hành động tốt lành của thân và khẩu, phóng sinh tạo ra công đức lớn lao nhất”. Trong Địa Tạng Thập Luân Kinh có nói, “Nếu người ta có thể từ bỏ mọi kiểu sát sinh,/ Họ sẽ được chư thiên kính trọng./ Họ sẽ thoát khỏi bệnh tật và tận hưởng một cuộc đời bền lâu,/ Và hạnh phúc và tự tại, tránh xa hiểm nguy./ Trong suốt các đời,/ Họ sẽ có sự xác quyết sâu sắc về con đường của Như Lai,/ Và gặp gỡ Giáo Pháp và Tăng Đoàn,/ Nhanh chóng đạt được quả vị Bồ Đề thù thắng”.
Lời khuyên của một vị Yogini Tây Tạng nổi tiếng – Kunzang Chogzin từ hành trình Bardo của Bà, Tuyển Tập Con Đường Sâu Xa, Những Ý Nghĩa Sâu Xa Được Mật Truyền Của Không Hành – Giọt Tâm Yếu Liên Hoa viết rằng, “Với tất cả chúng sinh, dù cao quý hay thấp hèn,/ thực hành thù thắng để đạt được hạnh phúc trong đời này hay đời sau,/ không gì khác hơn thực hành phóng sinh./ Công đức của việc đi nhiễu quanh Nam Thiệm Bộ Châu,/ ngang với việc phóng sinh một con bê;/ trì tụng Mật chú Quán Thế Âm bảy trăm triệu biến,/ cũng ngang với phóng sinh một con bê./ Tôi đã chứng kiến nó sau khi đi đến cõi giới của Tử Thần,/ vì thế đừng quên những lời dạy của Không Hành,/ hãy nỗ lực phóng sinh,/ bởi nó tạo ra vô lượng công đức”. Theo A-tì-đạt-ma-câu-xá luận, thân thể của con vật được phóng sinh càng lớn, công đức giải phóng nó càng lớn và kích cỡ của con vật bị giết càng lớn, nghiệp quả càng lớn, bởi vì những con vật lớn hơn về kích cỡ trải nghiệm nỗi đau và niềm vui to lớn.
Pháp sư Yinguang tóm lược những công đức chính yếu của phóng sinh trong mười điểm: không có tai ương gây ra bởi vũ khí và chiến tranh, tăng trưởng cát tường, trường thọ và sức khỏe, con cái đầy đàn và thường là những hậu duệ nam, chư Phật hài lòng, sự biết ơn từ các sinh loài, không thiên tai, tái sinh trong cõi trời, hóa giải ác nghiệp, hòa bình bốn mùa, sinh lực sẽ được ảnh hưởng bởi lòng từ như vậy.
Từ thời cổ xưa cho đến thời hiện đại, nhiều vị tu sĩ lỗi lạc đã dành trọn sức lực để phóng sinh: Đại sư Trí Khải (Zhiyi) mua hơn 200 ki-lô-mét bờ biển để sử dụng cho việc phóng sinh; hoàng đế Túc Tông (Suzong) triều Đường ra chiếu chỉ rằng mỗi tỉnh phải thiết lập một ao đặc biệt dùng để phóng sinh; Nhân Chân Khanh (Yan Zhenqing) cũng viết một văn bia về phóng sinh; hoàng đế Chân Tông (Zhenzong) triều Tống cũng ban chiếu chỉ xây dựng các ao phóng sinh trong lãnh thổ của Ngài, dành toàn bộ Tây Hồ của Hàng Châu để phóng sinh; Pháp sư Liên Trì (Lianchi) triều Minh cũng xây dựng nhiều ao phóng sinh và viết Bài Luận Về Ngừng Sát Sinh Và Thường Phóng Sinh, điều vẫn còn lưu truyền cho đến ngày nay.
Thuyết phục người khác phóng sinh thông qua xây dựng các ao phóng sinh, xây dựng các đài tưởng niệm phóng sinh hay viết các bài báo, tùy hỷ công đức phóng sinh của người khác, quyên góp tiền hay nỗ lực giúp người khác phóng sinh, thiết lập các quỹ từ thiện chẳng hạn những nhóm phóng sinh hay hội bảo vệ động vật, góp phần vào hành động phóng sinh, mặc dù chúng không phải là trực tiếp phóng sinh, công đức của họ cũng ngang bằng với việc đích thân thực hiện phóng sinh. Mặt khác, tiền bạc được quyên góp bởi những hành giả chí thành để phóng sinh không nên được sử dụng vì các mục đích cá nhân, hay dùng cho những bữa ăn hoặc chi phí di chuyển. Số tiền này đã biến thành mạng sống của hữu tình chúng sinh và kết quả của việc sử dụng nó ngang với việc giết hại. Hơn thế nữa, ngăn cản người khác phóng sinh, trở thành một sự ngăn cản với họ cũng giống như lấy đi mạng sống của hữu tình chúng sinh. Theo A-tì-đạt-ma-câu-xá luận, tùy hỷ trước những hành động tốt hay xấu dẫn đến nghiệp quả giống hệt.
Bất kỳ ai phóng sinh sẽ đạt được bốn kiểu thiện nghiệp. Kết quả chín muồi hoàn toàn của phóng sinh là thoát khỏi khổ đau trong ba cõi thấp hơn – với ước nguyện nhỏ bé hơn và nếu số lượng mạng sống được phóng sinh rất ít, họ sẽ tái sinh trong cõi người; với ước nguyện trung bình và số lượng trung bình, họ sẽ tái sinh trong cõi trời; với ước nguyện lớn lao và số lượng lớn con vật được phóng sinh, họ có thể sinh trong cõi Sắc và Vô sắc giới, và dần dần thoát khỏi đại dương đau khổ của luân hồi. Các kết quả tương tự như nguyên nhân của phóng sinh có thể được tóm tắt thành hai: đầu tiên, các trải nghiệm tương tự với nguyên nhân, tận hưởng sự trường thọ và thoát khỏi bệnh tật trong suốt nhiều đời tái sinh; thứ hai, các hành động tương tự với nguyên nhân, khi tái sinh trong cõi người, họ sẽ có thói quen từ bỏ sát sinh và giải phóng sinh mạng, được phú bẩm trái tim từ ái và sẽ đi theo con đường siêu việt của Bồ Tát. Những kết quả nảy sinh gồm: những người phóng sinh sẽ không tái sinh ở các địa điểm nguy hiểm chẳng hạn vực thẳm; địa điểm mà họ tái sinh sẽ dễ chịu và đẹp đẽ, nhiều thức ăn, hoa trái. Kết quả mang tính điều kiện của phóng sinh: Trong suốt các đời tương lai, công đức của phóng sinh sẽ tăng trưởng.
PHÓNG SINH CÓ THỂ DẪN ĐẾN GIẢI THOÁT KHỎI LUÂN HỒI VÀ TÁI SINH TRONG TỊNH ĐỘ
Nếu người ta phóng sinh, họ có thể đạt giải thoát thậm chí khỏi Địa ngục Kim Cương. Có một câu chuyện được ghi lại trong Tam Tạng: “Ngày xưa ở Ấn Độ, có một người theo dị giáo thường ăn thịt và uống máu, giết hại hàng vạn sinh mạng. Sau khi chết, như là quả báo, ông ta đọa xuống tầng địa ngục thứ mười tám. Sau đấy, ông này sinh trong Địa ngục Kim Cương, nơi ông ta phải trải qua sự chết đi sống lại một trăm lần trong mỗi phần của giây, với nỗi thống khổ tột cùng. Khi ấy, Tôn giả Ananda thấy những khổ đau của chúng sinh mê lầm, và thưa với Đức Phật điều mà Ngài đã thấy. Đức Phật bảo với Tôn giả rằng, người này thường ăn thịt và uống máu khi còn sống và vì thế đang chịu đựng những kết quả của việc sát sinh. Tôn giả Ananda hỏi Tử Thần, ‘Làm sao giải phóng được người này?’. Tử Thần đáp rằng nếu người này muốn thoát khỏi cõi xấu, ai đó cần giải phóng nhiều sinh mạng trong cõi người vì ông ấy. Sau đó, Tôn giả Ananda đã phóng sinh rất nhiều cho người này và giải thoát ông ta khỏi Địa ngục Kim Cương”.
Lần nọ ở Sravasti, một người con trai với nhiều dấu hiệu tốt lành sinh vào trong một gia đình giàu có. Một ngày, vì yêu mến, người ta đều cố gắng ôm cậu bé. Bất ngờ, cậu bé rơi xuống sông và bị một con cá lớn nuốt chửng. Gia đình mất con đi xuôi dòng để bắt con cá lớn này bằng một tấm lưới, và khi họ mở bụng nó, họ thấy một đứa trẻ còn sống bên trong. Rất hài lòng, họ đem cậu bé về nuôi. Khi lớn lên, đứa trẻ trở thành tu sĩ và chứng quả A La Hán. Nhiều đệ tử hỏi Đức Phật tại sao người con không chết trên dòng sông. Đức Phật đáp rằng, trong quá khứ, khi Phật Vipasyn đang thuyết giảng về công đức của việc không sát sinh và phóng sinh, một người thí chủ đã thọ giới không sát sinh và thường phóng sinh. Bởi điều này, qua nhiều lần tái sinh, vị thí chủ đã được phú bẩm nhiều tướng tốt và thậm chí khi bị nuốt chửng bởi con cá lớn, anh ta vẫn có thể thoát ra và giờ chứng quả A La Hán.
Ngày xưa, một vị thí chủ cúng dường lên Bảo tháp Quán Thế Âm. Vị này không có con trai, vì thế ngày nọ, ông ấy thề trước bảo tháp rằng nếu ông ấy không thể sinh con trai, ông ấy sẽ phá bảo tháp này. Chư thiên an trú trong bảo tháp rất lo sợ, nhưng không thể trao cho người đàn ông này một bé trai, vì thế, họ thỉnh cầu Phạm Thiên giúp đỡ. Phạm Thiên đã yêu cầu một vị thiên đang hấp hối tái sinh trong gia đình của người đàn ông này. Tuy nhiên, vị thiên muốn trở thành tu sĩ trong cõi người và vì thế, không muốn tái sinh trong gia đình của vị thí chủ này. Phạm Thiên hứa rằng nếu bố mẹ không cho phép xuất gia, Ngài sẽ giúp đỡ hết sức. Vì vậy, vị thiên này tái sinh trong gia đình của thí chủ và khi lớn lên, cha mẹ cậu, như dự đoán, đã không cho phép cậu xuất gia. Người con nghĩ rằng, với thân người quý giá này, nếu tôi không thể từ bỏ đời sống gia đình, thật là vô nghĩa. Bởi thế, cậu ấy muốn kết liễu cuộc đời. Nhưng khi cậu nhảy xuống sông, dòng sông đảo chiều và khi cậu nhảy khỏi vách đá, cậu cũng không chết. Triều đại của đức vua khi ấy rất nghiêm khắc, vì thế cậu đã cố tình trở thành tên trộm và bị bắt. Nhưng khi mũi tên của đao phủ hướng về phía cậu lại quay ngược lại, đức vua kinh ngạc và xin lỗi cậu. Sau đấy, với sự giúp đỡ của đức vua, gia đình cậu cuối cùng cũng cho phép cậu trở thành tu sĩ và không lâu sau, cậu chứng quả A La Hán. Phật Thích Ca Mâu Ni nói với các đệ tử của Ngài về nghiệp của người này trong các đời quá khứ: Lần nọ, cậu ấy cứu một người đàn ông sắp bị giết và nhờ đó trong năm trăm đời tiếp theo, ông ấy chẳng sợ gì – đất, nước, lửa và gió không thể làm hại và trong đời tiếp theo, cậu chứng A La Hán. Phóng sinh là một cách thức để dâng lên sự vô úy [vô úy thí: một kiểu bố thí trao tặng sự bảo vệ khỏi những hoàn cảnh nguy hiểm và khó khăn]. Kinh Niệm Xứ (Sattipathana Sutra) nói rằng, “Trong tất cả giới luật, hành động tuyệt vời dẫn đến sự tái sinh trong các cõi cao hơn là giới luật của phóng sinh”. Trong Bộ Luận Về Công Đức Phóng Sinh có nói, “Nếu người ta mong muốn hỷ lạc của các cõi cao, phóng sinh có thể đem lại công đức của cõi người và thiên; nếu họ tìm kiếm sự tiệt trừ khổ đau cho bản thân, phóng sinh có thể đem lại quả vị của Thanh Văn; với sự áp dụng tâm Bồ đề, phóng sinh có thể là nguyên nhân giác ngộ; nếu họ mong muốn sự trường thọ cho đạo sư tâm linh, phóng sinh có thể hoàn thành mong ước này; nếu họ mong muốn sự trường thọ cho bản thân, phóng sinh là thực hành mạnh mẽ nhất. Phóng sinh tích lũy vô lượng công đức”.
Phóng sinh cũng là nhân tố căn bản để tái sinh trong Tịnh độ. Kinh Vô Lượng Thọ ghi lại mười nhân tố dẫn đến sự tái sinh về Tịnh độ. Mặc dù có nhiều diễn giải về mười nhân tố này, phóng sinh và thuyết phục người khác phóng sinh đều được xem là hai trong mười nhân tố. Hơn thế nữa, theo Bình Giảng Về Lời Khuyên Bardo, nếu người ta phóng sinh khi còn sống, trong Bardo, những con vật được giải phóng sẽ đến bên và dẫn dắt bạn đến cõi Tịnh độ tùy ý; trong khi nếu bạn giết hại thì những hữu tình chúng sinh bị giết này sẽ xuất hiện cực kỳ phẫn nộ và bạn sẽ bị dẫn dắt đến địa ngục bởi một thế lực mạnh mẽ.
Những người thường phóng sinh có thể lập tức tái sinh về Tịnh Độ. Ví dụ, Chakmey Rinpoche của Tây Tạng đã thuyết phục người khác phóng sinh trong suốt cuộc đời, và khi Ngài qua đời, Ngài đã trực tiếp tái sinh về Tịnh Độ. Ở Trung Hoa, Pháp Sư Vĩnh Minh (Yongming) triều Tống thường mua cá và tôm để phóng sinh. Sau đấy, nhờ công đức này, Ngài đã vãng sinh về Tịnh độ, đạt được thượng thượng phẩm trong sự tái sinh. Những câu chuyện như vậy được lịch sử ghi chép lại rất nhiều.
KẾT LUẬN
Trong vô số Kinh điển và bộ luận có nhiều giáo lý và câu chuyện liên quan đến công đức của phóng sinh và lỗi lầm của việc sát sinh, và những thảo luận về các cấp độ lý thuyết là vô tận. Bài viết này chỉ khám phá một phần nhỏ bé trong đại dương bao la. Bởi giới hạn về độ dài, tôi đã không giảng giải quá nhiều về chủ đề này. Những bậc trí nhờ đó sẽ học hỏi được thông qua sự tương đồng, phân biệt được và mất, cẩn thận lựa chọn điều cần làm và cần tránh, mở rộng việc phóng sinh và làm lợi lạc hữu tình chúng sinh, giống như Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche đã nỗ lực hết mình trong việc dẫn dắt.
Nguyên tác: Ambrosia Rain – The Merit of Life-Release (http://www.khenposodargye.org/2013/0...-life-release/).
Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ.
Mọi sai sót là lỗi của người dịch. Xin thành tâm sám hối trước Tam Bảo, Tam Gốc.
Mọi công đức có được xin hồi hướng hết thảy hữu tình chúng sinh.
( https://thuvienhoasen.org/a27433/mua...duc-phong-sinh )
Có một câu chuyện khác khá tương tự: một vị tên Qushi đã mua một con cá chép đỏ trong thị trấn. Sau đấy, khi anh ta mắc bệnh, anh ta nằm mơ thấy vua Naga, người thỉnh mời anh ta đến cung điện của Naga và bảo rằng, “Thưa Ngài, cuộc đời Ngài đáng lẽ phải kết thúc, nhưng bởi Ngài đã cứu mạng con trai Naga, cuộc đời Ngài sẽ được kéo dài thêm 12 năm”. Anh ta 48 tuổi khi cứu mạng con cá chép, nhưng đã sống tới năm 60 tuổi. Vì thế, nếu chúng ta muốn kéo dài mạng sống, chúng ta cần phóng sinh, và chỉ nhờ làm vậy, chúng ta mới có thể tăng trưởng những tiềm năng tích cực và kéo dài sinh mạng.
~ Mưa Cam Lồ - Công Đức Phóng Sinh, Khenpo Sodargye
( https://www.facebook.com/KimCuongThuaVajrayana/ )
Bởi mọi người đều phải chết, Thầy sẽ nói với con một cách rõ ràng và chính xác điều các con phải làm vào lúc chết. Hãy lắng nghe cẩn thận điều này. Sau khi cái chết xảy ra, thần thức vẫn duy trì trong thân, tức tử thi, trong ít nhất hai hay ba ngày. Sau ba ngày này, thần thức bắt đầu rời khỏi thân trong hình tướng một đứa trẻ tám tuổi trần truồng. Nó thấy thân thể của nó và hoàn cảnh mà nó vừa rời bỏ. Thậm chí nếu người đó mù, điếc hay câm khi còn sống, lúc này, mọi cơ quan đều trở nên hoàn hảo. Người quá cố có thể thấy các thành viên trong gia đình và bạn bè nhưng các thành viên trong gia đình và bạn bè thì không thể thấy người đó. Họ không thể thấy thần thức trong trạng thái bardo này. Vào thời điểm này trong bardo, ở bên phải của thân tâm thức, sẽ xuất hiện một người đàn ông màu trắng với cái túi đá trắng trên vai. Những viên đá này biểu tượng cho các đức hạnh mà người quá cố đã tích lũy từ thời vô thủy đến nay. Ở bên trái xuất hiện một ma vương đồng-sinh khởi, màu đen, với một túi đá trên lưng, biểu tượng cho những ác hạnh mà người đó đã tích lũy. Hai người đàn ông này, trắng và đen, mang theo gánh nặng nghiệp lực hướng về tất thảy chúng sinh trong sáu cõi, những kẻ đã tích lũy vô số ác nghiệp, xuất hiện trước chúng sinh trong giai đoạn này của quá trình chết và cuối cùng sẽ đồng hành theo thân tâm thức trong bardo giống như người bảo hộ hay bảo vệ. Nếu người chết sắp tái sinh trong cõi địa ngục thì, Shinje, Tử thần sẽ đến và hộ tống người đó tới địa ngục. Hai tên cai ngục từ cõi địa ngục, một kẻ có đầu khỉ và kẻ kia có đầu trâu, và họ kéo cổ người chết và dẫn anh/cô ta xuống bảy tầng dưới đất, bên dưới các khối nước, đến thành trì vĩ đại của cõi địa ngục. Tử thần xuất hiện cầm chiếc gương phản chiếu địa điểm tái sinh tương lai của người đó. Điều này sẽ chỉ ra rõ ràng liệu họ sẽ tái sinh trong cõi trời, người hay cõi nào khác.
~ KUSUM LINGPA
( https://www.facebook.com/KimCuongThuaVajrayana/ )
Phóng Sinh – Pháp tu Tăng Trưởng Sinh Mạng và Sự Thịnh VượngPosted on Tháng Ba 24, 2017 by Viet Rigpa Lotsawa Project
Kính lễ Bậc Thầy và Đấng Điều Phục Siêu Việt Vô Lượng Quang Phật.
Đạo sư thành tựu Ngagi Wangchuk Drakpa từng khai thị rằng:
“Nhờ việc cứu mạng sống của chim chóc, cá và hươu,
Hoặc kẻ trộm cướp, rắn và nhiều loài khác sắp bị giết hại,
Cuộc đời hiện tại của bạn sẽ được kéo dài,
Dù cho nó vốn rất ngắn.”
Cũng như vậy, mọi Kinh điển và Mật điển đều dạy rằng việc giải thoát mạng sống cho các hữu tình chúng sinh đang chắc chắn sẽ bị giết hại là tối thắng trong tất thảy các thực hành trường thọ. Điều này cũng có thể được chứng minh một cách logic. Vì lý do này và do việc phóng sinh đem lại lợi lạc lớn lao, tất cả những người hữu tình nên nỗ lực trong việc phóng sinh.
Nói chung, điều này nghĩa là với một tâm thức cao quý, trước hết hãy phóng sanh cho các động vật thuộc sở hữu của bạn. Thêm vào đó, hãy từ bỏ việc tự tay giết hại hoặc bán chúng cho người khác giết hại. Thay vì thế, hãy bảo vệ và nuôi dưỡng chúng. Nhờ làm như vậy, cũng như việc hồi hướng mọi đức hạnh và phát những đại nguyện vì lợi lạc của chúng, thế là đủ và chẳng cần phải tiến hành các nghi lễ đặc biệt nào khác.
Tuy nhiên, nếu bạn muốn thực hiện một nghi thức kỹ lưỡng, phù hợp với những thời gian, địa điểm và hoàn cảnh chi tiết, bạn có thể thực hiện theo các chỉ dẫn khác nhau của truyền thống Cựu Dịch (Nyingma), chẳng hạn khiến các con vật trở thành sự hỗ trợ cho một vị Hộ Pháp hay tương tự. Hoặc nếu bạn muốn tăng trưởng sự cát trường, hồi hướng và đại nguyện, thì sẽ thật tuyệt vời nếu kết hợp thực hiện việc phóng sinh với thực hành vào một thời điểm đặc biệt, chẳng hạn trong Tháng Thần Biến, ngày mùng 8, ngày trăng tròn hàng tháng hay tương tự. Nếu mục đích cơ bản là kéo dài tuổi thọ, hãy tiến hành lúc bình minh, thời gian thuận lợi của mặt trời – hành tinh thọ mạng đang lên.
Bất cứ khi nào bạn đang thực hành pháp tu này, hãy để những sinh loài sắp được giải cứu phía trước và trì tụng đoạn sau ba lần:
Nơi Tam Bảo – Phật, Pháp, Tăng,
Chúng con Quy y cho đến khi đạt được giác ngộ,
Nhờ công đức bố thí và các thiện hạnh
Nguyện đạt Phật quả, độ hết thảy chúng sinh.
Nguyện cho tất cả chúng sinh có được hạnh phúc và cội nguồn của hạnh phúc,
Nguyện tất cả chúng sinh đều thoát khỏi khổ đau,
Nguyện tất cả chúng sinh không bao giờ xa rời hạnh phúc tối thượng và trạng thái không khổ đau,
Nguyện họ an trú trong đại bình đẳng, thoát khỏi giới hạn vào những điểm tham chiếu.
Như thế, hãy quán chiếu về Tứ Vô Lượng Tâm (Từ, bi, hỷ, xả). Nếu muốn, bạn có thể trì tụng danh hiệu của Chư Phật và thần chú tương ứng của các vị. Trì tụng nhiều lần sẽ đem lại lợi lạc lớn lao và sẽ gieo hạt giống giải thoát tâm thức những sinh vật phía trước. Nếu không, đơn gian hãy trì tụng như sau:
1. Nam mô Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác Viên mãn Vô Lượng Quang Phật.
2. Nam mô Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác Viên Mãn Bất Động Phật.
3. Nam mô Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác Viên Mãn, Bửu Đỉnh Phật
4. Nam mô Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác Viên Mãn Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương Phật.
5. Nam mô Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác Viên Mãn Bảo Nguyệt Liên Hoa Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương.
6. Nam mô Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác Viên Mãn Vô Cấu Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu.
7. Nam mô Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác Viên Mãn Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Phật.
8. Nam mô Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác Viên Mãn Pháp Hải Lôi Âm Phật.
9. Nam mô Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác Viên Mãn Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông Phật.
10. Nam mô Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác Viên Mãn Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
Sau đó trì tụng:
OM MANI PADME HUNG HRI
NAMO RATNA TRAYANA, NAMO BHAGAVATE AKSHOBYAYA, TATHAGATAYA, ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA
TADYATHA, OM KAMKANI KAMKANI, ROTSANI ROTSANI, TROTANI TROTANI, TRASANI TRASANI, PRATIHANA PRATIHANA, SARVA KARMA PARAMPARA, NIME SARVA SATVA NANTSA SVAHA.
NAMO RATNA TRAYAYA, NAMAH ARYA JNANA SAGARA BAITSANA BHYUHA RAJAYA, TATHAGATAYA, ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA,
NAMAH SARVA TATHAGATEBHYA ARHATABHYA SAMYAKSAM BUDDHEBHYA,
NAMAH ARYA AVALOKITESHVARAYA BODHISATVAYA MAHASATVAYA MAHAKARUNIKAYA
TADYATA OM DHARA DHARA DHIRIR DHIRI DHURU DHURU ITTE BITTE TSALE TSALE PRATSALE PRATSALE KUSUME KUSUMA BARE ILLI MILLI TSITI DVALA MAPANAYA SOHA.
Lặp lại điều này bằng giọng to và rõ. Sau đấy, cầm hoa trong tay và tụng rằng:
Trên bầu trời phía trước mặt chúng con là Bậc Thầy, không tách biệt với Đấng Thế Tôn Vô Lượng Quang Phật, vây quanh bởi đại dương tập hội các Bổn Tôn Quy y cao quý, bao gồm chư Phật và Bồ Tát mười phương, cùng chư thiên và các hiền giả thành tựu về ngữ chân thật. Các vị hiện diện sống động và phát những ước nguyện cát tường bằng âm thanh âm du dương. Cơn mưa hoa các vị trút xuống làm tăng trưởng thọ mạng và công đức, sự uy nghiêm và thịnh vượng, trí tuệ và đức hạnh của chúng con và mọi hữu tình chúng sinh.
Tất cả những chúng sinh đầu thai làm loài súc sinh đều lập tức được giải thoát khỏi nỗi lo sợ chết yểu và sống an bình dưới sự gia hộ của Tam Bảo. Một cách rốt ráo, khi hạt giống giải thoát chín muồi trong dòng tâm thức, họ sẽ có được phước báu đạt giải thoát tuyệt đối.
Tiếp đó, trong khi quán tưởng như vậy, hãy trì tụng:
Như đỉnh oai hùng của cờ chiến thắng,
Bổn Tôn tối thượng ngự trên đỉnh đầu con,
Ngài, bậc ban cho chúng con thành tựu tối thắng,
Bậc Thầy vinh quang, nguyện cát tường!
Bậc Thầy vô song, Phật Đà cao quý,
Đấng bảo hộ vô song, Pháp bảo linh thiêng,
Bậc dẫn đường vô song, Tăng đoàn tôn quý;
Tam Bảo vinh quang, nguyện cát tường!
Đức Vô Lượng Thọ, Đấng dẫn đường tối tượng của thế gian,
Bậc vượt qua mọi cát chết non, yểu
Đấng Bảo hộ của mọi chúng sinh đau khổ,
Đức Phật Vô Lượng Thọ Như Lai, nguyện cát tường!
Đức Phật, với sức mạnh của hạnh bố thí, là tối thắng.
Khi Đấng Sư Tử giữa loài người, chứng ngộ sức mạnh của hạnh bố thí,
Bước vào thành trì luân hồi, đối tượng của lòng bi mẫn,
Nguyện hạnh bố thí hoàn hảo tăng trưởng.
Đức Phật, với sức mạnh của hạnh trì giới, là tối thắng.
Khi Đấng Sư Tử giữa loài người, chứng ngộ sức mạnh của hạnh trì giới,
Bước vào thành trì luân hồi, đối tượng của lòng bi mẫn,
Nguyện hạnh trì giới hoàn hảo tăng trưởng.
Đức Phật, với sức mạnh của hạnh nhẫn nhục, là tối thắng.
Khi Đấng Sư Tử giữa loài người, chứng ngộ sức mạnh của hạnh nhẫn nhục,
Bước vào thành trì luân hồi, đối tượng của lòng bi mẫn,
Nguyện hạnh nhẫn nhục hoàn hảo tăng trưởng.
Đức Phật, với sức mạnh của hạnh tinh tấn, là tối thắng.
Khi Đấng Sư Tử giữa loài người, chứng ngộ sức mạnh của hạnh tinh tấn,
Bước vào thành trì luân hồi, đối tượng của lòng bi mẫn,
Nguyện hạnh tinh tấn hoàn hảo tăng trưởng.
Đức Phật, với sức mạnh của hạnh thiền định, là tối thắng.
Khi Đấng Sư Tử giữa loài người, chứng ngộ sức mạnh của hạnh thiền định,
Bước vào thành trì luân hồi, đối tượng của lòng bi mẫn,
Nguyện hạnh thiền định hoàn hảo tăng trưởng.
Đức Phật, với sức mạnh của hạnh trí tuệ, là tối thắng.
Khi Đấng Sư Tử giữa loài người, chứng ngộ sức mạnh của hạnh trí tuệ,
Bước vào thành trì luân hồi, đối tượng của lòng bi mẫn,
Nguyện hạnh trí tuệ hoàn hảo tăng trưởng.
OM NAMO BHAGAVATE APARAMITAYURJNANA SUVINISCITA-TEJO-RAJAYA TATHAGATAYA ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA,
TADYATHA OM PUNYE PUNYE MAHAPUNYE APARAMITAPUNYE APARAMITA-PUNYA-JNANA SAMBHAROPACITE,
OM SARVA SAMSKARA PARISHUDDHA DHARMATE GAGANA SAMUDGATE SVABHAVA VISHUDDHE MAHANYA PARIVARE SVAHA
Trì tụng như vậy càng nhiều càng tốt đồng thời rải hoa. Sau đấy, tụng tiếp:
Nhờ công đức này và các thiện hạnh được tích tập khắp ba thời,
Nguyện giáo lý Phật Đà ngày càng phát triển và đem lại điều lành khắp thế gian,
Nguyện các Bậc Thầy tối thắng trì giữ Pháp bảo trường thọ và Phật sự của các Ngài phát triển,
Nguyện con và mọi hữu tình chúng sinh tăng trưởng tuổi thọ và công đức, phẩm giá, sự thịnh vượng và trí tuệ,
Nguyện những chúng sinh này thoát khỏi nỗi sợ hãi của việc đầu thai vào các cõi thấp,
Và nhanh chóng chứng ngộ Phật quả cao quý!
Khi đã hình thành những ý nghĩa này với sự xác quyết nhất tâm, hãy tụng tiếp:
Nhờ công đức này, nguyện mọi chúng sinh
Hoàn thiện tích lũy công đức và trí tuệ,
Và nguyện họ chứng ngộ hai thân linh thiêng
Đến từ quả vị này.
Nhờ công đức này, nguyện chúng con đạt được Phật quả toàn trí,
Và vượt qua kẻ thù hư huyễn;
Nguyện mọi chúng sinh chìm trong bởi cơn sóng của sinh, lão, bệnh và tử
Được giải thoát khỏi đại dương luân hồi.
Trong khắp các đời tương lai, dù sinh ra ở đâu,
Nguyện chúng con không rời xa Tam Bảo,
Nguyện chúng con luôn tôn kính Tam Bảo
Và thọ nhận cam lồ ân phước gia trì.
Bồ Đề Tâm như ngọc trân quý,
Nơi chưa sinh xin nguyện phát sinh,
Đã sinh rồi xin đừng thối đất,
Ngày càng lan rộng, vững bền hơn.
Cội nguồn duy nhất sinh an lạc phước lành,
Chính là Phật Pháp nguyện cầu thường trụ thế,
Những bậc thiện trí trì giữ giáo pháp này
Trường thọ an khang như bảo tràng chiến thắng.
Nguyện cầu thế giới bình yên và hạnh phúc,
Nguyện cầu mùa màng bội thu và sinh kế tăng trưởng,
Nguyện cầu suối nguồn của mọi sự tốt lành và lợi lạc luôn hiện hữu,
Để mọi mong ước thiện lành đều được viên thành.
Trong chính đời này,
Nguyện mọi nghịch duyên tan biến.
Nguyện chúng con khỏe mạnh, trường thọ và thịnh vượng,
Và đạt được sự hài lòng vĩnh viễn.
Nhờ công đức này,
Nguyện các vị bảo trợ giáo lý
Viên thành các mong muốn, thoát mọi loại chướng ngại,
May mắn và hoàn thành mọi mục tiêu tâm linh.
Nhờ ân phước gia trì của Phật bảo tối thắng,
Mặt trời của Chân lý bất bại – vô cùng oai nghiêm và siêu phàm,
Nguyện mọi ma vương và những kẻ gây chướng nguy hiểm suy giảm,
Và sự cát tường oai nghiêm hùng vĩ luôn hiện diện.
Nhờ ân phước gia trì của Pháp bảo vô điều kiện,
Cam lồ của Chân lý linh thiêng – vô song và tuyệt diệu,
Nguyện kẻ địch năm độc phiền não được tiêu trừ,
Và sự cát tường oai nghiêm hùng vĩ luôn hiện diện.
Nhờ ân phước gia trì của Tăng bảo tôn quý,
Các hoạt động lợi lạc của trưởng tử đấng Điều Phục – ngời sáng và oai nghiêm,
Nguyện kẻ địch ác hạnh được an dịu và công đức tăng trưởng,
Nguyện sự cát tường oai nghiêm hùng vĩ luôn hiện diện.
Niềm vui hùng tráng của cuộc đời vô lượng,
Sự thông tuệ và thấu suốt tuyệt vời,
Bất cứ may mắn và sự trù phú nào trong luân hồi và Niết bàn,
Nguyện cho tất cả đều đạt được những điều này!
Nguyện công đức tăng trưởng cao như Vua của các đỉnh núi,
Nguyện sự nổi tiếng lan khắp bầu trời,
Nguyện tất cả có được cuộc đời trường thọ, khỏe mạnh và đại dương
Các phẩm tính xuất sắc, nguyện mọi sự cát tường
Để lợi lạc của chúng sinh đều được tự nhiên viên thành!
Dù ở đâu, nguyện chúng con tận hưởng hòa bình và hạnh phúc
Dù ngày hay đêm, hay bất cứ lúc nào,
Nguyện hòa bình và hạnh phúc luôn tràn khắp,
Nguyện sự cát tường của Tam Bảo luôn hiện hữu!
OM YEDHARMA HETU PRABHAVA HETUN TEKAN TATHAGATO HAYAVADAT TEKENCHAYO NIRODHA EVAM VADI MAHA SHRAMANAYE SVAHA.
Rải hoa khi tụng những lời này để kết thúc với sự cát tường và tốt lành. Nếu bạn muốn, các bản văn khác về thực hành trường thọ cũng đề cập rằng người ta có thể “vẽ dấu hiệu mặt trời và mặt trăng trên trán của các con vật sắp được phóng sinh để chúng không bị giết”. Theo cách này, việc vẽ biểu tượng mặt trời và mặt trăng bằng bơ trên trán của con vật sẽ tạo ra sự cát tường để cuộc đời chúng sánh ngang với nhật – nguyệt. Các bản Kinh cũng dạy rằng việc đặt tên cho các sinh vật là “Cát tường” (Tiếng Tạng: Tashi; tiếng Phạn: Mangala), sẽ tạo ra sự tốt lành cho may mắn và vận may.
Hơn thế nữa, nếu bạn từ bỏ việc làm hại các loài động vật, chẳng hạn như từ bỏ việc đặt bẫy hay bắt chúng, hay bạn cứu mạng sống của chim muông, cá hay nai, đó là cách duy trì Bồ Đề Tâm vững chắc, cũng như bao gồm cả phần hồi hướng và phát nguyện, cùng với cúng dường hương (cúng Sang) hay tương tự, những lợi lạc sẽ không thể đong đếm. Đặc biệt, trong khu vực bạn tiến hành các thực hành như vậy, nhiều dấu hiệu cát tường sẽ xuất hiện, chẳng hạn mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Trong Tràng Hoa Ngọc Báu, Đấng Long Thọ cao quý nói rằng”
“Những Bậc Hiền Thánh nên đặt thức ăn,
Nước uống và dầu thực vật hay những đống nhũ cốc
Trước tổ kiến.”
Theo đó, việc đem thức ăn cho loài kiến, cá, chim chóc hay thuốc cho người đau ốm, tổ chức tiệc cho lũ trẻ, hay mang thức ăn đồ uống cho người nghèo cần được thực hiện với Bồ Đề Tâm, mong ước và sự hồi hướng chân thành. Nếu bạn làm vậy, đây sẽ trở thành nguyên nhân để ngăn chặn những cái chết non, yểu, tăng trưởng thịnh vượng và một cách rốt ráo, đạt tới giải thoát hoàn hảo. Bởi những điều này cũng dễ làm, không có nhiều khó khăn mà vẫn đem lại lợi lạc lớn lao, mọi kẻ thông tuệ đều cần nỗ lực trong những phương cách này như một phương tiện để tích lũy hai tư lương (phúc đức và trí tuệ).
Để làm lợi lạc cả bản thân và những người khác, tôi, Jamyang Khyentse Wangpo, kẻ chí thành với Bồ Tát Đạo, được thúc đẩy bởi ý định thanh tịnh, đã biên soạn điều này. Nguyện nó trở thành nguyên nhân để cuộc đời của các Bậc trì giữ giáo lý linh thiêng sẽ kéo dài trăm kiếp, để tất cả hữu tình chúng sinh đều thoát khỏi nỗi sợ hãi về cái chết non, yểu và để sự chứng ngộ quả vị Vô Lượng Thọ xảy đến.
Sarva Mangalam.
Theo Phật giáo Tây Tạng, tháng Thần Biến kéo dài từ ngày mùng 1 tới ngày trăng tròn (15) của tháng 1 Tạng lịch.
( http://vietrigpalotsawa.org/2017/03/...u-thinh-vuong/ )
LUẬN ĐỀ VỀ VẤN ĐỀ PHÓNG SINH
Chúc Phú
phongsinh2_jpgĐầy đủ ba pháp này, này các Tỷ-kheo, tương xứng như vậy được sanh thiên giới. Thế nào là ba? Tự mình từ bỏ sát sanh, khích lệ người khác từ bỏ sát sanh, tùy hỷ sự từ bỏ sát sanh. Đầy đủ ba pháp này, này các Tỷ-kheo, tương xứng như vậy, được sanh thiên giới(1).
Tình thương thì ai cũng có, tuy nhiên quy mô, tính chất và hạn lượng của tình thương thì không phải ai cũng như ai. Đặc thù đó đã làm nên một thái tử Shidhartta luôn trầm tư về bản chất của cuộc đời, để rồi từ những chất liệu đó đã mở ra một trang mới trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Với Phật giáo, tình thương luôn đi đầu và mang tính cơ bản, vì tình thương ấy luôn nội hàm ánh sáng của trí tuệ và gắn kết với liệu pháp chữa trị, sẻ chia. Ở đây, một trong những biểu hiện của tình thương, đó chính là bảo hộ sự sống cho chúng sanh ở nghĩa rộng nhất có thể. Thuật ngữ Phật học biểu đạt về hiện thực sinh động này bằng hai chữ ngắn gọn: phóng sanh.
Phóng sanh tức là phóng thích, cứu mạng sống, ban cho sự tự do, giúp một chúng sanh trở về với đời sống thực sự của chúng… là một trợ hạnh trong các pháp môn tu tập của Phật giáo cũng như nhiều tôn giáo khác. Nhận thức đúng về trợ hạnh này giúp chúng ta có một thái độ ứng xử phù hợp, trong bối cảnh đã và đang có nhiều bất cập nảy sanh xung quanh hiện tượng phóng sanh.
Những tiền đề lý luận dẫn xuất hiện tượng phóng sanh
Thứ nhất, Phật giáo xem tình thương là chất liệu nền tảng. Tình thương trong Phật giáo nội hàm nhiều cấp độ và tình thương rộng lớn, không phân biệt nhân, ngã, bỉ thử… được xem là đỉnh cao của giác độ tình thương. Với Đức Phật, vì tình thương vô hạn đối với chúng sanh nên Ngài đã hy sinh tất cả để tìm cầu Thánh đạo. Sau khi đã ngộ đạo, Ngài lại chuyển vận bánh xe pháp để cứu giúp chúng sanh. Nếu như sự xuất hiện của Đức Phật là vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người(2) thì mục tiêu thuyết pháp của Đức Phật cũng chính là vì lợi tha và do lòng từ, Thế Tôn thuyết pháp(3). Cuộc đời của Đức Phật là biểu thị sinh động của một tình thương lớn, chất ngất, vô biên. Như vậy, từ cơ sở tình thương không phân biệt trong Phật giáo, từng bước dẫn sinh ra quan điểm cứu người, thương vật mà thuật ngữ gọi tắt là phóng sanh.
Thứ hai, bản chất của chúng sanh nói chung là ham sống, sợ chết, ghét khổ, ham vui. Vì sinh mệnh chỉ có một và là cái thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Ngay như con sâu, cái kiến cũng ý thức về điều đó. Trong kinh Tiểu bộ, tiền thân của Đức Phật đã từng mua cá từ ngư phủ để phóng sanh(4). Có thể nói, dường như đây là lần đâu tiên, việc mua cá phóng sanh được đề cập trong kinh điển nguyên thủy. Lý thuyết về phóng sanh được củng cố thêm bằng câu chuyện sinh động về các thiếu niên hành hạ các con cá và lấy đó làm vui, đã được Đức Phật khéo léo bảo lũ trẻ nên phóng thích con cá, Ngài đã dẫn dụ bằng những vần kệ: Nếu con không ưa khổ/ Dầu bất cứ chỗ nào/ Chớ làm các nghiệp ác/ Trước mặt hay sau lưng/ Nếu con làm, sẽ làm/ Các nghiệp ác, bất thiện/ Con không giải thoát khổ/ Dầu nhảy vọt và chạy(5). Đúc kết từ nhiều trường hợp tương tự như thế, Đức Phật đã khái quát tính chất chung này bằng bài kệ: Mọi người sợ hình phạt/ Mọi người thích sống còn/ Lấy mình làm ví dụ/ Không giết, không bảo giết(6). Trong những chuẩn mực đạo đức cơ bản của một vị Tỳ-kheo, thì không những phải từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh(7) mà còn phải không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ. Ý thức sâu sắc về nỗi khổ của tha nhân khi bị xâm hại mạng sống, vị ấy từ bỏ sát sanh, khuyến khích người khác từ bỏ sát sanh, nói lời tán thán từ bỏ sát sanh(8) và đây cũng là một trong những cơ sở để xuất sinh quan điểm bảo hộ mạng sống cho chúng sanh nói chung.
Thứ ba, khát vọng tự do và bình đẳng là khát vọng muôn thuở của con người và một số giống loài. Khát vọng chính đáng đó không phải ai cũng may mắn có được, vì có một số giống loài ngay từ lúc vừa sanh ra, chưa bao giờ nếm được hương vị của bình đẳng, của tự do. Sự mô tả chân xác trong kinh Trường bộ là một thực tế cay nghiệt dù ở bất cứ một thời đại nào: như một người nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại(9). Đó là tâm sự tự ti của Tôn giả Sunita, vốn con nhà hạ tiện, làm lao công quét đường, được Phật độ vào dòng Thánh(10) và cũng là tâm trạng chán nản của nàng thiếu nữ Prakriti khi dâng nước cho ngài A Nan. Về phương diện nhân vị, Đức Phật luôn xác chứng sự bình đẳng giữa người với người. Sự cao sang hay bần tiện của một con người không phải do thân thích, dòng họ mà do chính bởi hành động của người đó. Bần tiện không vì sanh/ Phạm chí không vì sanh/ Do hành, thành bần tiện/ Do hành, thành Phạm chí(11). Cho nên xác lập bản vị cho con người cũng là một khát vọng mà Đức Phật và đệ tử của Ngài đã và đang thực hiện. Mặt khác, với chúng sanh nói chung, do túc nghiệp oan khiên từ bản thân, dòng tộc, cha mẹ nên một số giống loài khi hiện sinh ở kiếp này đã lâm vào cảnh bất bình đẳng về phẩm vị và đôi khi rơi vào vòng tù hãm, lao lung. Đó là hoạt cảnh chim lồng cá chậu, là sự dung dưỡng vật nuôi nhằm thỏa mãn sở dục vô hạn của con người. Ở đây, đưa con người trở về với phẩm vị của chính họ, đưa các loại sinh vật trở lại với môi trường sống thực sự của chúng, là một trong những phương thức phóng sanh theo nghĩa hiện thực, cụ thể.
Phóng sanh, một pháp hành hay chỉ là trợ hạnh?
Cần phải thấy rằng, quan điểm về phóng sanh không phải là một giáo thuyết đặc thù của riêng Phật giáo. Trong những tôn giáo song hành với Phật giáo tại Ấn Độ thì Kỳ Na giáo (Jain), hay còn gọi là Ni Kiền Tử (Nigantha), là một tôn giáo thoát ly ảnh hưởng của hệ thống kinh điển đồ sộ Veda và cực lực cổ xúy cho lý thuyết bảo hộ sinh mạng. Tư tưởng nền tảng của Kỳ Na giáo là chủ thuyết bất hại (Ahimsa), không được phương hại bất cứ sinh vật nào và nỗ lực bảo hộ sinh mạng của vạn vật đến mức có thể. Thậm chí, khi đi lại, các hành giả của phái này phải sử dụng một cái chổi để quét trước mỗi bước đi vì sợ giẫm chết các loài sinh vật nhỏ nhít. Trong kinh Ưu-ba-li(12), Đức Phật đã khéo léo minh giải sự bất toàn từ luận điểm này của giáo phái Ni Kiền Tử, vì theo Đức Phật, dù nỗ lực hết sức, cũng khó có thể tránh khỏi việc giẫm đạp lên vô số sinh linh nhỏ bé trong nhịp sống hành hoạt đời thường. Với Đức Phật, lý lẽ nền tảng cho quan điểm sát hại hay không sát hại chúng sanh căn cứ vào sự tác ý (Cetana) của con người. Hơn thế nữa, trong kinh Tương ưng, Đức Phật còn khẳng định bổ sung: Danh phải tương xứng người/ Người phải là bất hại!/ Ai với thân, miệng, ý/ Không làm hại một ai/ Ai không hại người khác/ Người ấy thật bất hại(13).
Đọc lại sự khẳng định của giáo trưởng Ni Kiền Tử (Nigantha Nataputta) được ghi lại trong kinh Trường bộ, đủ thấy thiết chế đó khắc nghiệt như thế nào: “Một người Nigantha (Ni Kiền Tử) sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Này Đại vương, thế nào là một người Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới? Này Đại vương, một Nigantha sống gìn giữ đối với tất cả loại nước, gìn giữ đối với mọi ác pháp, sống tẩy sạch tất cả ác pháp và sống với ý chí gìn giữ đối với tất cả ác pháp”(14). Theo chủ thuyết của giáo phái này, chỉ có hành khổ hạnh đến mức khốc liệt, hoàn toàn vô sở hữu, ngửa tay xin ăn, hạn chế hoặc thậm chí không mặc gì cả và ngưng tạo nghiệp ác trong hiện tại, mới có thể đem đến hạnh phúc, giải thoát (moksa) cho người. Theo kinh Sa môn quả, chủ thuyết của giáo phái này vẫn không thỏa mãn thú hướng tâm linh của vua Ajatasattu, để cuối cùng nhà vua đã đến với Đức Phật và được khai thị.
Có thể nói, về phương diện đạo đức thực hành, cùng với tư tưởng bất hại (Ahimsa), quan điểm ăn chay được Kỳ Na giáo đẩy lên ở mức cao nhất. Và như vậy, cả hai điều này đã đồng thời xác tín việc bảo hộ sinh linh mà nghĩa tích cực là phóng sanh, là một pháp hành chính yếu trong phương pháp tu tập của trường phái mình.
Theo quan điểm của Phật giáo, trong phẩm hạnh của một vị Tỳ-kheo hành trì giới luật thì nguyên tắc không sát sanh chủ yếu nhấn mạnh về cấm giới: không sát hại, không làm thương tổn người (thuộc nhóm Parajika). Việc thực thi nguyên tắc này còn được bổ sung thêm chuẩn mực tôn trọng sự sống đến mức có thể như: Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ(15), thậm chí ngay như phải hủy bỏ thức ăn thì cũng phải để ở nơi không có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy(16).
Trong giáo điển nguyên thủy, Đức Phật chưa từng nhấn mạnh cấm giới này quan trọng hơn các cấm giới khác ở trong nhóm Parajika. Vì sự thành tựu giới hạnh nói chung là vị Thánh đệ tử có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học các học pháp. Này Mahanama, như vậy là vị Thánh đệ tử thành tựu giới hạnh(17). Cho nên việc bảo hộ sinh mạng chúng sanh, hoặc nghiêng về nghĩa phóng sanh, cũng chỉ là trợ hạnh, là một thiện pháp cũng như bao thiện pháp khác, cần phải kiện toàn trên bước đường tu tập.
Trên bước đường phát triển, đã có nhiều phân phái Phật giáo xuất hiện, định hình. Tùy theo chủ thuyết khai tông lập phái mà có sự khinh trọng về pháp môn tu cũng như các pháp hành, ứng xử đạo đức. Trong các kinh điển phát triển đề cập chi tiết đến hạnh phóng sanh, đó là kinh Kim Quang Minh(18) kinh Phạm Võng(19), kinh Dược Sư(20) và một vài kinh, luận khác. Chi tiết Trưởng giả Tử Lưu Thủy cứu đàn cá trong kinh Kim Quang Minh(21) đã trở thành biểu tượng phổ biến cho hạnh phóng sanh theo truyền thống Phật giáo Bắc truyền. Đặc biệt, truyền thống này được cổ vũ bởi những vị vua thâm tín và ủng hộ Phật giáo như các sắc dụ trên những trụ đá của vua Ashoka(22), các biến văn của Lương Vũ Đế(23), các Phóng sanh trì của Tống Chân Tông… để cuối cùng hạnh phóng sanh trong Phật giáo nói chung và Phật giáo Bắc truyền nói riêng, phần lớn khu biệt vào công cuộc giải cứu các loài thủy tộc, chim muông và mục đích phóng sanh nghiêng về xu thế cầu phước, trường thọ(24), giải nghiệp, cầu an.
Mối quan hệ giữa phóng sanh và nghiệp quả
Sự vận hành của dòng chảy nghiệp lực rối rắm như một tổ kén. Tính chất đặc thù này được Đức Phật khái quát như sau: Này Ananda, chính vì không giác ngộ, không thâm hiểu giáo pháp này mà chúng sanh hiện tại bị rối loạn như một ổ kén, rối ren như một ống chỉ, giống như cỏ munja và lau sậy babaja (ba-ba-la) không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử(25). Hình ảnh sinh động đó được Đức Phật nêu dẫn nhiều lần trong kinh để nhằm minh giải rằng, khó có thể nhận ra đâu là điểm khởi đầu hay kết thúc của một chu trình sinh mệnh. Do vậy, tất cả mọi sự tác động, ảnh hưởng đến chu trình sinh mệnh đều phải có sự cân nhắc và cẩn trọng đến mức tối đa. Phóng sanh là hành động can thiệp trực tiếp đến chu trình này.
Mặt khác, xuất phát từ quan điểm mỗi chúng sanh đều bình đẳng trên phương diện nghiệp lực của chính họ, đã cho thấy rằng, mọi sự tác động nhằm thay đổi nghiệp nhân căn bản đã gây tạo trước đó là bế tắc, là bất khả. Đó cũng là nỗi khắc khoải của ngài Mục Kiền Liên khi đã cố sức thi triển thần thông để bảo hộ dòng tộc Thích Ca(26); và đây cũng là tâm niệm khi ngài Mục Kiền Liên phó mặc thân thể để cho tên cướp đập nát xương Tôn giả ra, bắt chịu thứ cực hình gọi là “rơm và bột”(27), và cuối cùng, ngài an nhiên xả báo thân trước lẽ công minh của ân đền, oán trả. Ngay cả bậc đại dũng mãnh như Angulimala, nhưng khi nhận ra oan nợ tiền khiên đến thời đã chín thì cũng phải bị lỗ đầu, chảy máu, bình bát bị bể, ngoại y bị rách (28). Câu chuyện về “Trư hòa thượng”(29) mà Ni sư Trí Hải phỏng dịch là một mô tả sinh động về trường hợp này. Chuyện kể rằng, chùa có nuôi một con heo, trước lúc đi xa, Hòa thượng trụ trì - là người đắc đạo - đã dặn dò đại chúng khi heo chết thì cứ cho dân làng xử lý như lệ thường. Thế nhưng, do tình thương của những người chưa liễu ngộ nên đem heo đi chôn, để cuối cùng sinh thể đó phải thác sanh thêm một lần nữa để trả định nghiệp(30) “loạn đao phanh thây”. Có thể nói, sự nghiêm minh và sáng tỏ của luật Nhân quả đã cho thấy rằng những cố gắng nhằm thay đổi nghiệp quả được thể hiện ở việc bảo hộ sinh mạng, là hành động phóng sinh, chỉ là những nỗ lực ở phần ngọn, chưa mang tính căn cơ.
Đức Phật không thể tự tay mình đưa ai lên thiên giới cũng như đày ai xuống địa ngục khổ đau. Sự thanh cao hay đọa lạc của một cá nhân đều do chính bởi sự nỗ lực của mỗi cá nhân đó. Một hành động can thiệp thô bạo đến hoàn cảnh sống, đến mục tiêu chuyển hóa nghiệp lực của một chúng sanh, nhưng nếu như không có một sự cân nhắc của lý trí, của trí tuệ thì đôi khi đem đến một kết cục thảm hại. Hành động đó ví như nỗ lực phá tan lồng sắt để giải thoát cho những con chim. Ý nghĩa giải thoát đâu chưa thấy, chỉ thấy những con chim bị giam hãm lâu ngày nên không thể bay được, đã trở thành miếng mồi ngon cho chú mèo hoang dại. Do bởi lẽ đó, Đức Phật luôn cân nhắc về hành xứ của các loài hữu tình(31). Trong hành xứ của mình, bao giờ cũng bình an và an toàn cả, kể cả người xuất gia. Phóng sanh, tức phải đưa chúng sanh về đúng hành xứ của chúng. Cần phải nhận thức đúng và đầy đủ về điều này trước khi chuẩn bị thực hiện hạnh nguyện phóng sanh.
Trầm tư về vấn đề phóng sanh trong thời đại ngày nay
Với những thành tựu vượt bậc của các ngành khoa học kỹ thuật được áp dụng trong một số lãnh vực như gieo trồng và chăn nuôi, hơn bao giờ hết, đã có nhiều giống, loài được sản sinh, gia tăng về quy mô và chất lượng nhằm mục đích phục vụ cho sở dục đa dạng của con người. Bên cạnh đó, sự thu hẹp môi trường tự nhiên đã làm cho một số giống loài khác có nguy cơ tuyệt chủng. Sự mất cân bằng sinh thái mà nguyên nhân chính yếu cũng do bởi sự can thiệp mạnh bạo của con người.
Từ đây có thể thấy, đã có một số giống loài xuất hiện, sinh sôi trong môi trường nhân tạo và có một số giống loài khác có nguy cơ tuyệt chủng trong môi trường tự nhiên. Nhận thức đúng về thực trạng này không chỉ là yêu cầu bắt buộc của những nhà làm công tác nghiên cứu khoa học mà còn là việc cần làm của những ai mang tâm nguyện chia sẻ thương yêu, mở rộng sự sống. Từ thực trạng này, soi rọi vào hạnh phóng sanh, thì yêu cầu trước tiên là phải xác định rõ về bản chất của các chủng loại sinh vật và môi trường sống thích hợp của chúng, để từ đó có thái độ ứng xử phù hợp.
Cụ thể, với các loại thủy tộc và gia cầm được nuôi cấy và chăm sóc theo phương sách của khoa học kỹ thuật hiện nay thì không thể tồn tại trong môi trường tự nhiên. Đưa chúng ra môi trường tự nhiên cũng đồng nghĩa với hành động chấm dứt mạng sống trước kỳ hạn của chúng. Cũng cần nói thêm rằng, kỳ hạn thọ mạng của một số giống loài hoàn toàn khác biệt nhau. Một ngày được sống thêm của cua cá, gia cầm, chim muông có thể là vài tháng, vài năm so với tuổi thọ của con người. Được sống thêm một ngày quả là khát vọng cháy bỏng không chỉ dành riêng cho con người. Có thể, chặng cuối của con đường được con người nuôi dưỡng trong các trang trại vẫn là bất lạc, là khổ đau; nhưng ít ra trong khoảng thời gian được sống trong sự chăm sóc đó, sinh vật vẫn được bảo đảm an toàn về tất cả các mặt. Với sinh vật nói chung, theo thiển kiến của người viết, có thể khát vọng giữa tự do và được cung cấp vật thực không giống như thụ cảm chủ quan của con người. Cho nên, việc phóng sanh đúng nghĩa ở đây cần được hiểu là phải bảo đảm các điều kiện sống cho các giống loài được phóng sanh. Đơn cử một ví dụ, mua cá từ trang trại để phóng sanh thì nên mua tất cả những trang thiết bị, vật thực, người chăm sóc, môi trường nước… cùng những điều kiện sống liên quan. Vì chỉ có như vậy thì sinh mạng của chúng sanh được phóng thích được đảm bào và hạnh phóng sanh mới đúng và đủ nghĩa hoàn toàn.
Từ thực tế việc phóng sanh hiện nay phần lớn chỉ chú trọng vào việc phóng thích sinh mạng của chúng sanh, đôi khi, người phóng sanh chỉ quan tâm đến số lượng sinh mạng mà không đảm bảo các điều kiện sống kèm theo, nên đã tạo ra những thảm trạng đau khổ cho một số giống loài. Theo cảnh báo của Hiệp hội Môi trường và Động vật tại Đài Loan, hàng năm có hàng chục triệu loài sinh vật bị chết, môi trường sống của sinh vật bị đảo lộn do hoạt động phóng sanh đang được khuyến khích và diễn ra rầm rộ tại khu vực nảy. Dự kiến, họ sẽ đề nghị chính phủ ban hành đạo luật cấm phóng sanh(32). Nếu nói theo kinh điển, thì sở dĩ thảm trạng này diễn ra là do người phóng sanh nhận thức sai về hành xứ của các loài hữu tình(33). Hành xứ ở đây cần được hiểu là điều kiện sống. Phóng sanh không đảm bảo hành xứ đồng nghĩa với việc sát hại chúng sanh.
blank
Chư Tăng và phật tử Hoa kỳ phóng thích tôm hùm. Ảnh Reuters
Trên bình diện ngược lại, sự cạnh tranh khốc liệt của các giống loài trong môi trường tự nhiên biểu hiện ở chỗ: sự hiện hữu của một giống loài này đôi khi kéo theo sự chấm dứt sinh mạng của một vài giống loài khác. Đôi khi phóng thích một sinh vật ra môi trường tự nhiên nhưng không có sự thẩm sát cần thiết của kiến thức chuyên môn thì dễ dẫn đến nguy cơ mất cân bằng sinh thái nhân tạo, mà nghĩa đen được hiểu ở đây, là sự chấm dứt mạng sống của chính nó hoặc của nhiều giống loài có ích khác. Câu chuyện siết chặt quản lý về ốc bươu vàng, về rùa tai đỏ(34) không chỉ liên quan đến việc giữ cân bằng cho môi trường sinh thái mà còn có liên hệ sâu xa đến ý nghĩa bảo hộ sinh linh. Trong liên hệ so sánh thì hành động phóng thích những sinh vật gây nguy hiểm cho những sinh vật khác cũng giống như hành động phóng thích các loài hổ, báo vào chỗ đông người. Làm bất cứ việc gì mà việc đó có khả năng gây nguy hại kẻ khác là điều mà giáo điển nhà Phật khuyến khích không nên làm.
Trên một bình diện khác, câu chuyện từ hãng Reuters ngày 4-8-2011 tường thuật, một nhóm Phật tử người Mỹ ở Massachusetts đã phóng thích 534 con tôm hùm ra biển khơi(35); gần hơn là chuyện Đại đức Thích Thiện Quý, trụ trì chùa Tâm Thành, Đồng Tháp, đã tổ chức phóng sanh động vật hoang dã ở Tràm Chim trên GNO(36), là những thông tin thiết thực về việc phóng sanh có cân nhắc về hành xứ của loài hữu tình. Đây là những dạng thức phóng sanh đúng nghĩa và cần được nhân rộng.
Căn cứ theo kinh điển Phật dạy, một tư duy không đúng dễ dàng kéo theo một nghiệp bất thiện. Từ nghiệp bất thiện ban đầu này làm cơ sở để xuất sanh nhiều nghiệp bất thiện khác là việc không xa. Đó là lý do để hiểu tại sao ngày càng có nhiều nghề nghiệp liên quan đến việc phóng sanh của con người. Bắt chim để chờ đợi kẻ phóng sanh, nuôi cá để chờ người phóng thích… là những bất thiện nghiệp mới được nảy sinh khi trợ hạnh phóng sanh được nâng lên thành xu thế, thành phong trào và thậm chí một vài cá thể còn xem đó là hạnh tu. Trong liên hệ sâu xa của tương quan nhân quả, do vì một thiện niệm vắng mặt tuệ giác mà cái ác, cái xấu phát khởi, thì khổ quả là điều tất định mà cá nhân đó phải gánh chịu ở tương lai.
Cần phải thấy, cuộc đời cần lắm tình thương và hạnh phóng sanh chỉ là một trong những cách thức làm cho tình thương hiện hữu trong cuộc đời. Tình thương không thôi thì vẫn chưa đủ mà đòi hỏi phải có nhận thức đúng về hiện thực, về chuyên môn để định hướng cho tình thương.
Đến với chân lý không phải chỉ có một con đường. Cần phải vận dụng nhiều con đường, nhiều phương tiện phù hợp với sức lực, hoàn cảnh, điều kiện… để hành trình đi đến chân lý không tiêu tốn quá nhiều thời gian, sức lực, đau khổ và hy sinh.
Chú thích
(1) Kinh Tăng chi, chương Ba pháp, phẩm Lõa thể, kinh Sát sanh.
(2) Kinh Trung bộ, tập 1, Đại kinh sư tử hống, số 12.
(3) Kinh Trung bộ, tập 3, kinh Nghĩ như thế nào, số 103.
(4) Kinh Tiểu bộ, tập 4, Chuyện tiền thân Đức Phật, chuyện Con cá, số 34
(5) Kinh Tiểu bộ, Kinh Phật tự thuyết, chương Năm, phẩm Trưởng lão Sona.
(6) Kinh Tiểu bộ, kinh Pháp cú, phẩm Hình phạt, câu 130.
(7) Kinh Trường bộ, tập 1, kinh Sa môn quả, số 2.
(8) Kinh Tương ưng, tập V, tương ưng dự lưu, phần a, phẩm Veludvara, kinh Những người ở Veludvara.
(9) Kinh Trường bộ, kinh Sa môn quả, số 2.
(10) Kinh Tiểu bộ, Trưởng lão Tăng kệ, chương XII, phẩm XII kệ, ngài Sunita.
(11) Kinh Tiểu bộ, kinh Tập, kinh Kẻ bần tiện.
(12) Kinh Trung bộ, kinh Ưu-ba-li, số 56.
(13) Kinh Tương ưng, tập 1, chương 7, tương ưng bà-la-môn, phẩm A-la-hán thứ nhất, kinh Bất hại - Ahimsaka.
(14) Kinh Trường bộ, kinh Sa môn quả, số 2.
(15) Kinh đã dẫn.
(16) Kinh Trung bộ, tập 1, kinh Thừa tự pháp, số 3.
(17) Kinh Trung bộ, kinh Hữu học, số 53.
(18) Kim quang minh kinh tối thắng vương kinh, Đại chính tân tu Đại tạng kinh, tập 16, từ trang 403 - 456.
(19) Xem thêm: Bồ-tát giới Phạm võng, Hòa thượng Trí Quang, dịch, tiết 2, Nói về giới điều của Bồ-tát giới Phạm võng.
(20) Nguyên văn: Này A Nan,… phóng sanh các loài vật, rải hoa đủ sắc, đốt các thứ danh hương để cúng dường Đức Phật Dược Sư, sẽ được lành bệnh và thoát khỏi các tai nạn.
(21) Kinh Ánh sáng hoàng kim, Tỳ-kheo Trí Quang, dịch, NXB. Tổng Hợp TP. HCM, 2011, từ trang 738 - 760
(22) Bi ký số 4, Nguyên văn: Vua Piyadasi cổ xúy việc khống chế sát hại sinh thú, Bia ký Girnar, ban vào năm 257 TTL, bản dịch của Trần Trúc Lâm.
(23) Xem thêm, Vương Chí Bình, Các đế vương với Phật giáo, Đào Nam Thắng, dịch, Lê Đức Niệm hiệu đính, phần 2, Lương Vũ Đế bỏ đạo theo Phật, Đoạn tửu nhục văn.
(24) Xem thêm, Kinh Ánh sáng hoàng kim, Tỳ-kheo Trí Quang, dịch, NXB. Tổng Hợp TP. HCM, 2011, tr.78. Xem thêm kinh Trung bộ, kinh Tiểu nghiệp phân biệt, Nguyên văn: Con đường ấy đưa đến trường thọ, này Thanh niên, tức là từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình.
(25) Kinh Trường bộ, Kinh Đại duyên, số 15.
(26) Kinh Tăng nhất a hàm, phẩm Đẳng kiến. Bản dich của Hòa thượng Thích Thanh Từ.
(27) Kinh Tiểu bộ, tập 9, Chuyện tiền thân Đức Phật, phẩm Bốn mươi bài kệ, chuyện số 522, chuyện Đại nhân thiện xạ Sarabhanga. Câu chuyện này bậc Đạo Sư trong lúc trú tại Trúc Lâm về sự diệt độ của Tôn giả Trưởng lão Mahàmoggallàna (Đại Mục Kiền Liên).
(28) Kinh Trung bộ, kinh Angulimala, số 86.
(29) Thích nữ Trí Hải, Đường vào nội tâm, phần VII, Trư hòa thượng.
(30) Xem thêm, Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Định nghiệp trong Phật giáo.
(31) Kinh Tương ưng, tập V, Thiên đại phẩm, chương 3, Tương ưng niệm xứ, phần a, phẩm Ambapali, kinh Con chim ưng.
(32) Xem thêm, Đài Loan sắp ban hành luật phóng sanh. GNO, ngày 14.5.2012.
(33) Kinh Tương ưng, tập V, Thiên đại phẩm, chương 3, Tương ưng niệm xứ, phần a, phẩm Ambapali, kinh Con chim ưng
(34) Những sinh vật gây nguy hại về môi trường sống cho những sinh vật khác.
(35) http://www.reuters.com/article/2011/...7734L520110804
(36)http://www.giacngo.vn/bandoctoasoan/.../06/02/12C21B/
Chúc Phú
(Nguyệt San Giác Ngộ)
( https://thuvienhoasen.org/a15647/lua...-de-phong-sinh )
NHẬP TỪ TAM MUỘI PHÓNG SINH
Chân Hiền Tâm
Sông nước mênh mông…
Thả cá ở đây thật tuyệt! Tha hồ bơi lội sau khoảng ngột ngạt trong bao ny-lông. Giăng lưới bắt cá cũng tuyệt(1). Tha hồ rộng rãi… Bên thả. Bên giăng. Trước thả. Sau giăng. Nhìn hai cảnh ấy cũng thấy ngồ ngộ. Thế gian là thế. Ai thả thì thả. Ai bắt thì bắt. Gieo quả nào gặt quả đó. Rồi cứ theo nghiệp mà đi. Còn chúng sinh sống hay chết là do phước đức của chúng.
Tôi không chú tâm với việc phóng sinh. Là không chú tâm bỏ tiền mua cá mua chim về thả. Đủ duyên thì làm. Chú tâm và tập thành thói thì không. Có lẽ quá khứ không huân tập nhiều. Hiện đời, có những nghi ngại khiến mình không thấy hứng thú. Cá ếch ngoài chợ không có người thả, chúng vẫn bị bắt ăn thịt, mình thả còn thấy có chút lợi ích cho vật cho người. Nhưng mấy chú chim, không vì nhờ mình cầu phước cho mình, chắc không có chim bị bắt, cũng không có người tạo nghiệp bắt chim. Thả nhiều, bị bắt càng nhiều, người tạo nghiệp bắt chim càng mạnh? Đại sư Trí Giả ngày xưa làm đầm phóng sinh, thuyết pháp cứu vật, cứu luôn nghiệp sát cho người. Người nghe thuyết pháp, chuyển nghề chài lưới khá nhiều. Cho nên, tập trung cho việc chuyển tâm trước đã. Còn việc phóng sinh, khi nào có duyên mới làm.
phongsanh_1Mấy chục năm trước, chị em chồng tôi bị bắt vì bán vàng chui. Thiên hạ bày mua chim thả. Ừ thì mua chim về thả. Trong cơn hoạn nạn bày gì làm đó, mong sự may mắn xảy ra. Niệm Phật mở lồng, chim bay hết còn lại hai con. Vỗ mấy cũng không ra. Phải cho tay vào bắt. Cái điềm khiến mình suy ngẫm nhân quả ở đời. Nhân gieo một khi đủ duyên thành quả, có phóng cũng chẳng chịu ra. Mà thiệt! Ở hết một năm.
Lần hai là vào tháng Bảy năm ngoái. Ngồi mua nấm mà con cá ở hàng bên cứ phóng vào mình. Quá ba bận, không thể không bận tâm. Mấy bà chung quanh không cho phóng sinh, nói chết. Nhảy dữ vậy mà chết? Nhảy vậy nhưng chết giờ.
Phóng sinh không phải là nghiệp của mình, lại nghe phóng rồi cũng chết không sinh, lại càng không thấy hứng thú. Niệm Phật và nhủ với nó vài lời rồi đi. Nhưng đi một đoạn lại thấy hối hận: “Chuyện sống hay chết chưa biết. Nhưng nó đã nhảy qua mình mấy bận... Dù gì, không do chặt đầu làm vẩy mà chết, đỡ đau đớn hơn”. Nghĩ rồi, trở lui mua cá, thả ở cái cầu gì đó không biết. Vừa đi vừa niệm. Tha thiết mà niệm cho chúng sống sót, cho chúng an bình. Có chết cũng được một câu niệm Phật hồi hướng gieo duyên.
Thiên hạ vẫn nói: “Dân thường tụng niệm phóng sinh không linh, phải có Tăng Ni mới linh”. Cũng biết, dân thường tụng niệm phóng sinh không linh, do tâm dân thường không tịnh. Là do thân tâm, không do đầu áo nhãn mác. Nhưng trong cái duyên lóp ngóp của chúng bấy giờ, mạng treo chỉ mành, gặp được Tăng chúng thanh tịnh, biết còn để hưởng phước không? Thôi thì dồn tâm tụng niệm cho chúng. Quan trọng ở chỗ hữu duyên, có duyên liền ứng. Quan trọng ở chỗ nhất tâm, có tâm liền cảm. Hết lòng niệm Phật nhất tâm hồi hướng cho chúng trước đã. Tôi tu thiền đâu có niệm Phật. Chỉ niệm khi cầu gia bị hồi hướng cho ai. Bởi nghĩ lực mình không đủ, phải cầu các Ngài gia bị cho chắc. Tôi thấy tha thiết và có lòng thành, niệm Phật sẽ được nhất tâm. Ít nhất là vào lúc đó. “Năng lễ, sở lễ tánh không tịch. Cảm ứng đạo giao khó nghĩ bàn”. Tôi tin như thế và đã làm như thế.
Tới đây, không biết có còn duyên nào khiến làm những việc đó không. Không thì chắc cũng không làm. Không làm, nhưng không phản đối khi thấy người làm. Nói “ít” thì chính xác hơn là “không”. Với những cái duyên mình thấy chỉ còn hình thức, trở thành tệ nạn cho chính người đó quá rõ, thì cũng lên tiếng ít nhiều. Còn nghe hay không là việc của người.
Nói không phản đối vì nhiều lý do:
1. Thế giới này rộng lớn và còn rất nhiều bí ẩn mà với cái trí hiện nay của tôi, tôi không dám chắc là đã thấy đúng bản chất của mọi hiện tượng để mà phản đối. Quá khứ bản thân lầm lẫn đã có. Người hiểu không đúng về mình cũng nhiều. Đâu thể y cứ một vài hiện tượng nào đó để mà thị phi. Cho nên, duyên nào thiện ác đã phân rõ rồi thì nói, không thì cũng tránh khởi tâm, khỏi tổn đức, mình cũng tránh hại người.
2. Chim cá thả rồi, có thể bị bắt lại liền sau đó, nhưng được một lần chú nguyện, cũng là duyên tốt về sau cho chúng.
3. Sáng nào tôi cũng đi chợ. Chợ đời lắm nỗi nhiêu khê. Ếch bị đập đầu vẫn còn chắp tay lại lạy, cá bị chà đất văng bọt tung tóe… Bao nhiêu oan khiên xảy ra trước mắt như chuyện thường ngày ở huyện. Khoanh một vùng nhỏ, đã thấy chúng sinh khổ nạn rất nhiều. Vật đau hiện tại. Người khổ tương lai. Phóng sinh để chúng thoát khỏi những cảnh đau đớn lầm than, thấy cũng nên làm. Với kẻ đồng lương ba đồng ba cọc lương thiện, dành dụm ít tiền phóng sinh, cho dù mục đích quy ngã vẫn là đáng quý.
4. Chúng sinh cang cường, không phải dạy cho điều hay lẽ phải là đã chịu nghe. Hòa thượng ngày trước, vì lòng bi mẫn, khuyên người bạn tôi hãy thôi quyên tiền cúng chùa làm phước, để tâm cho việc tu hành. Vậy mà bực bội bỏ đi. Trong tâm còn sinh oán giận. Đi cho đủ hết Ta-bà khổ nạn, người đuổi, người chê, mới tỉnh quay về sám hối cạo đầu. Mới thấy, đâu phải nói đúng là đã chịu nghe. Cho nên, Đức Phật ngày trước, còn phải lập bày phương tiện, không thể chỉ thẳng con đường thẳng tắt. Huống thời mạt pháp, chúng sinh mê muội càng dữ, cố chấp tự mãn càng kinh, sơ tâm nếu không thuận theo tính dục của họ, khó mà gần gũi độ họ dài lâu. Cho nên, có khi thấy chim chưa thả đã chết, thấy cá thả rồi có cơ bắt lại tức thì… cũng không có ý phê bình các bậc tôn đức vì sao chú nguyện mà không khuyên người đừng thả? Phương tiện độ sinh không thể nghĩ bàn, kẻ ngoài làm sao biết được.
5. Có khi thấy việc phóng sinh đi quá cái mức bình thường, không còn mang nghĩa phóng sinh, hoặc cầu hết bệnh, an lành, thoát nạn, tức vì tự ngã mà làm, không vì thương tưởng chúng sinh… đúng lý thì thấy không hay cho lắm, nhưng xét trên sự, với kẻ sơ tâm vẫn có mặt hơn. Điều đó cho thấy chư vị đã tin nhân quả, không còn nương tựa tháp miếu cô cậu, van lạy cầu xin mê tín dị đoan. Đã biết xả của, mở lòng… Đó là cái nhân tốt đẹp mở đường cho những suy nghĩ, hành động mang tính nhân quả, phước thiện sau này.
Nghĩ vậy, tôi ít khởi tâm phê bình, cản trở khi thấy người muốn phóng sinh. Nhưng làm thì tùy. Tôi chú tâm hơn với việc không giết sinh vật quanh mình. Con rết có cắn, không tâm sát hại đã đành, cũng không khởi tâm oán hận bực bội. Con chuột phá phách cũng không có tâm giết nó. Muỗi mòng các thứ… Tập không khởi tâm bực bội để rồi phải giết. Bạn nói bệnh tật? Tại mình có tâm giết hại mới sinh tai họa bệnh tật. Không tâm, duyên tụ vào đâu để sinh? Nếu sinh, là do nghiệp cũ đủ duyên. Phải trả thì trả, không thích tạo thêm nhân mới. Có khi nhờ vậy lại xóa nghiệp cũ cũng nên. Tôi tin như thế và tập làm dần những việc như thế. Cũng là một cách giải nghiệp cho mình. Nghiệp tịnh thanh rồi, ứng duyên, lợi vật sẽ có lợi ích thiết thực cho đời.
Hình thức cần có nội dung
phongsinh1Người người thích việc phóng sinh là có nhân duyên. Có người do huân cái nghiệp phóng sinh từ đời quá khứ, giờ đã thành tập, cứ nghe phóng sinh là thích rồi làm, không cần lý do. Có người nghe nói phóng sinh có thể sống lâu, hết bệnh, thoát nạn… nên thích phóng sinh. Tính ra, không phải tu thân, tịnh tâm, giữ miệng mà được cái quả như thế còn gì khỏe bằng. Hiện đời lỡ gieo cái nhân bất thiện cũng thoát tù tội thì sao không làm? Có khi phóng sinh cả mấy trăm triệu cũng vì lý đó.
Phóng sinh chỉ vì thương vật, không vì cầu phước, cầu lợi cho mình, chỉ có Thánh nhân làm được. Vì phần tự lợi tương đối hoàn chỉnh, thân tâm như hóa như huyễn cầu chi? Chỉ do bi tâm xuất hiện ở đời độ sinh, vì người vì vật là chính. Còn lại đa phần chúng ta, những việc vị tha đều có vị ngã ít nhiều trong đó. Thành nếu mua cá, thả chim để cầu phước lợi cho mình hay cho người thân là việc tự nhiên. Vẫn là đáng quý, vì mình đã tin nhân quả. Có điều, nên nhìn vấn đề đúng như những gì kinh dạy. Có vậy việc làm mới không hư vọng. Chỉ có hình thức, không đúng bản chất, đến khi cái quả nghịch ý xảy ra, lại trách Phật Tổ nói sai, dang dở niềm tin đối với Tam bảo, không còn hành thiện, đọa ba đường dữ nhanh chóng, uổng phí cho mình. Cho nên, cần hiểu cái lý cho đúng, trên sự làm được đến đâu thì làm. Có làm, dù chỉ chút ít cũng là rất quý. Không nên phương tiện đến nỗi chỉ còn hình thức, trở thành dối mình gạt người.
Tôi thấy một đoạn, không biết tác giả là ai, ghi vầy: “Dược Sư Lưu Ly Bổn Nguyện Công Đức dạy rằng cứu thả các sinh mạng, tiêu trừ được bệnh tật, thoát khỏi các nạn tai”. Nói vậy, chỉ cần hình thức phóng sinh, sẽ được cái quả tiêu trừ tật bệnh… Phật tử cũng truyền miệng nhau như vậy. Nhưng khi đọc vào bản kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức,(2) những phần liên quan đến việc phóng sinh, thì thấy không hẳn như vậy. Kinh ghi: “Nếu có người muốn thoát bệnh khổ, nên vì người đó 7 ngày 7 đêm thọ trì 8 phần trai giới. Tùy lực làm được, sắm sửa đồ ăn, thức uống cùng các vật dụng cúng dường chư Tăng, ngày đêm sáu thời lễ bái cúng dường Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, đọc tụng kinh này 49 biến…(3) cũng cần phóng đến 49 tạp loại chúng sinh, thì người bệnh có thể qua khỏi ách nạn, không bị các quỷ ngang ác nhiễu hại”. Hoặc “Nếu các quốc vương dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh mà gặp nạn tai, như dân chúng bị dịch, nước khác xâm lăng, nội loạn, quá thời chẳng mưa... thì lúc ấy các vị phải đem lòng từ thương xót tất cả hữu tình, ân xá tội nhân, y theo pháp cúng dường đã nói mà cúng dường Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Do thiện căn đó cộng với lực bản nguyện của Như Lai, trong nước liền được an ổn, mưa gió thuận thời, lúa thóc được mùa, tất cả chúng hữu tình đều vui vẻ, không bịnh hoạn, không bị thần Dược Xoa bạo ác não hại. Tất cả tướng ác đều ẩn. Các vị quốc vương sống lâu, không bịnh, tự tại, mọi việc đều thêm lợi ích”. Theo đó thì thấy, phóng sinh súc vật chỉ là duyên phụ giúp cho yên ổn, hết bệnh, thoát nạn. Duyên chính vẫn là giữ giới, trì tụng kinh điển, niệm danh chư Phật như lời thệ nguyện mà hàng Dược Xoa nói ở cuối kinh: “Nơi làng, xóm, thành, nước, hoặc trong rừng cây vắng vẻ, nếu có lưu bố kinh này hoặc lại có người thọ trì danh hiệu Dược Sư Lưu Ly, cung kính cúng dường, quyến thuộc chúng con nguyện đều hộ vệ thoát khỏi khổ nạn, các việc mong cầu khiến được thành tựu. Có ai bịnh hoạn khổ ách muốn cầu cho khỏi, cũng nên đọc tụng kinh này, lấy chỉ ngũ sắc kết tên chúng con, sau như ý rồi thì mở kết ra”. Cái chính của việc thoát khổ hết nạn là nhờ từ tâm, không chỉ nằm trên hình thức phóng sinh. Tuy nhờ từ tâm, nhưng sao lại phải trì tụng kinh điển…? Từ tâm là thứ có sẵn trong mỗi chúng sinh, vì bị cái tôi chất đầy phân biệt, ái dục che đậy mà ẩn. Giữ giới, niệm Phật, ngồi thiền, trì chú, hồi hướng tất cả chúng sinh đều được an vui, đều thành Phật đạo, chính là phương tiện giúp xóa cái tôi, hiển phát lòng từ.
Ngày xưa, khi Phật ở nước Câu-viêm-di. Vua nước ấy tên Ưu-dà-diên. Đệ nhất phu nhân tên là Xá-ma, là một tín nữ trung thành của Phật và hàng Thánh chúng. Bà thường thân cận cúng dường Như Lai, ca ngợi công đức của Ngài hết mực. Đệ nhị phu nhân thì không. Một lần bà tâu với vua: “Như Lai và hàng đệ tử có chỗ không chánh đối với phu nhân Xá-ma”. Nhà vua nghe xong, nổi giận, lấy cung bắn vào Xá-ma. Vì thương xót vua, Xá-ma nhập Từ tam muội. Mũi tên bắn ra, quay lại dừng trước trán vua. Tên ấy cháy đỏ như một khối lửa trong rất đáng sợ. Vua bắn ba phát, thảy đều như vậy(4). Nói “Từ tam muội” là nói tâm từ bình đẳng. Mong muốn người thân cũng như người oán đều được an vui, vui rồi càng vui thêm nữa. Chính nhờ phát được tâm Từ tam muội nói đó mà mọi nạn tai thoát hết, ngục tù cũng không. Không phải chỉ có hình thức phóng sinh mà thành tựu được. Kinh Phạm Võng nói: “Người Phật tử nếu lấy tâm từ mà làm phóng sinh…”. Đại sư Phật Ấn cũng nói: “Giới sát, niệm Phật kiêm phóng sinh…”. Mọi việc đều cần “từ tâm”. Không với từ tâm, cái quả nhận được chưa hẳn như kinh đã nói. Nếu có từ tâm không cần phóng sinh, bệnh tật, tai ương, hoạn nạn cũng tiêu. Song, có từ tâm cũng không từ chối làm việc phóng sinh. Phóng sinh với một tâm từ, mọi thứ sẽ được chăm chút, sẽ vì sự sống muôn loài phóng sinh đàng hoàng, cũng không sinh tâm ngã mạn thấy mình hơn người…
Phóng sinh, phương tiện giúp ta hiển phát tâm từ, cũng là hệ quả tất yếu khi tâm từ hiển phát.
Phóng tâm bất thiện đừng để nó sinh
Từ tâm, thể hiện qua việc giữ gìn 5 giới của người tại gia.
1. Không vì một miếng ăn ngon mà giết mạng sống của vật. Chẳng qua vì nghiệp huân tập quá lâu, ừ thì chưa thể ăn chay, nhưng bỏ cái tâm sát hại muốn ăn cho tươi, cho bổ. Bỏ được là đã phóng sinh. Phóng đi cái tâm vì mình hại người hại vật. Bỏ rồi, từ từ hướng tới ăn chay. Tập tháng 2 bữa, 3 bữa… cứ thế dần lên. Một lúc nào đó chay tịnh thành nghiệp, thói quen ăn mặn liền lùi. Giữ được không giết dù với vật nhỏ là đang làm việc phóng sinh. Bỏ tiền phóng sinh thêm nữa càng quý.
2. Không vì cái lợi của mình mà nói gian dối, nói lời đâm thọc, chia rẻ, nguyền rủa, phá nát gia cang nhà người. Giữ gìn khẩu nghiệp, không phạm những lỗi như vậy là đang phóng sinh. Phóng đi cái tâm nói dối, gian tham hại người, không để nó sinh.
3. Không vì lợi lộc cho mình mà sinh thu gom, trộm cắp, tham nhũng, nhiễu nhương, khiến người khổ sở vô vàn, rồi đi phóng sinh cầu phước cho mình thoát nạn thoát khổ. Phước vật không bằng phước người. “Cung dưỡng cho hàng súc sinh được phước trăm lần, cho người phạm giới được phước ngàn lần, cho người trì giới được phước vạn lần…”(5). Làm sao phóng sinh cứu vật với tâm vị ngã mà đủ phước đức trả được cái nghiệp mình đã gây khổ cho người? Cho nên, vì do vô minh từ đời quá khứ, không biết mới làm. Giờ đã biết rồi, phóng sinh với tâm hối lỗi vẫn là cái phước gỡ bớt oan khiên, nhưng nhớ chừng đó chưa đủ. Cần phải có tâm ngừa lỗi. Những gì vì tiền mà khiến người khổ, nhất định không làm. Bố thí, xây chùa cho chúng Tăng ở, phước vẫn không bằng chính mình quy y, giữ giới đầy đủ(6). Đừng bán cái đức mà mua cái phước. Vất vả vô ngần! Cố gắng phát huy thiện nghiệp, hồi hướng ác nghiệp tiêu bớt. Đó là phóng đi cái tâm trộm cắp, là giới mà người Phật tử tại gia phải giữ.
4. Không vì tham ái của mình mà làm khổ người. Cái chuyện một vợ một chồng mà vẫn duyên thừa duyên thiếu là chuyện thường tình. Trôi lăn sinh tử bao đời, kết ân, kết oán cũng nhiều, duyên thừa sao mà tránh khỏi. Nhưng có lòng từ, không vì vui riêng mà làm khổ chồng, khổ vợ, khổ con. Ngưng được là đang phóng sinh. Phóng đi cái tâm tham ái tà dâm không để nó sinh cái nhân đau khổ cho người hiện tại, cho mình tương lai. Cái chuyện tà dâm, trong kinh Tăng Nhất A-hàm quyển I, Phật nói: “Hai thứ khiến người tham đắm, đó là dâm ái rượu chè”. Vì thế cần tỉnh ngay từ lúc đầu. Đừng vì một chút lao xao, hồn xiêu phách tán mà bước chân vào, để phải dính chùm với nhau rồi dừng không được.
5. Phật nói: “Ta không thấy một pháp nào đã thực hành, thực hành nhiều mà chịu quả báo súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục, còn nếu sinh trong loài người thì bị cuồng si, ngu hoặc, không biết chân ngụy… như là uống rượu. Tâm thích uống rượu thì chỗ sinh ra không có trí tuệ, thường chịu ngu si. Vì thế cẩn thận, chớ có uống rượu”(7). Phật nêu cái nhân, nói luôn cái quả, và khuyên đừng có uống rượu. Uống rượu được… ngu. Ở đời không gì thê thảm bằng “được cái ngu”. Đầu mối của mọi khổ nạn. Cứ nhìn tình trạng uống rượu của toàn thế giới hiện nay, có thể kết luận tương lai thế giới sẽ như thế nào. Không tin nhân quả chính là hệ quả của ngu. Châm ngòi mở rộng kho tàng khổ nạn không dứt. Sống không nghiện rượu, không làm khổ mình khổ người là có từ tâm.
Phóng cá, thả chim đặt trên nền tảng tâm từ như thế thì việc phóng sinh của ta dù ít hay nhiều, dù có hay không, đều mang đầy đủ ý nghĩa phóng sinh. Nếu thêm niệm Phật, tham thiền, bố thí… thì không gì bằng. Làm rồi hồi hướng. Nguyện cho tất cả người thân kẻ oán đều được an vui, nghĩ thiện làm thiện để tránh khổ đau. Hồi hướng được vậy, từ tâm đang hiển, sở nguyện đều thành. Không kiếp này thì những kiếp sau cũng thành.
Cho nên, không tiền phóng sinh mà chịu giữ giới, niệm Phật, hành thiền, tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ, lợi ích cho đời, rồi đem hồi hướng cho mình và người, sở nguyện sẽ thành, nghiệp cũ sẽ tiêu (dù là định nghiệp, tuy vẫn xảy ra, nhưng chuyển ít nhiều)(8). Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bản Nguyện Công Đức cũng nói đến mặt lợi ích của việc thọ trì tụng niệm như sau: “Nếu có người nam người nữ với niềm tin thanh tịnh, nghe được danh hiệu Phật kia, chí tâm lễ kính, ân cần cúng dường, thọ trì, niệm, tụng … nghiệp chướng trừ diệt, được tâm Bồ-đề bất thối chuyển, đầy đủ trí túc mạng, chỗ sinh ra thường được thấy Phật, không bệnh, trường thọ, sau khi mạng chung sinh vào nước đó…”(9). Cho nên, phương tiện chư Phật đưa ra có rất nhiều đường. Quan trọng là hợp với căn cơ mình. Hợp rồi, chịu hành, liền ứng. Nhưng nhớ, thế gian duyên khởi, tùy cơ ứng pháp. Có khi niệm Phật lợi ích cho mình, nhưng phải tham thiền, trì chú… mới lợi cho người. Không phải mình lợi thì người cũng lợi. Mọi thứ tùy duyên. Bố thí, phóng sinh… cũng vậy. Song dù ứng dụng pháp nào, nên tránh tình trạng chỉ có hình thức. Cần rõ nội dung chính xác. Đừng như nhân vật trong kinh Bách Dụ, khổ nhọc cất công đi tìm kho báu. Tìm ra, chỉ lấy tấm chăn phủ ngoài, kho tàng bỏ lại. Nhưng lại không biết, dương dương tự đắc, thỏa mãn cho đã đủ rồi. Chăn ngoài, có thể giúp ta ít nhiều qua cơn lạnh giá, nhưng không cứu nỗi những việc lớn hơn. Cái chính vẫn là làm sao khai phát kho báu trong mỗi chúng ta.
Chú thích
(1) Chỉ là một câu nói bông đùa. Nó không có giá trị nếu được tách ra khỏi bài viết này.
(2) Đại Tạng Kinh, tập 14, kinh hiệu 450, Ngài Huyền Trang dịch sang Hán văn.
(3) Còn nhiều thứ khác.
(4) Kinh Đại Bảo Tích quyển 6, phẩm Pháp Hội Vua Ưu-đà-diên.
(5) Kinh Tăng Nhất A-hàm quyển I, Phẩm Địa Chủ.
(6) Kinh Tăng Nhất A-hàm quyển II, Phẩm Tứ Đế.
(7) Kinh Tăng Nhất A-hàm quyển I, Phẩm Ngũ Giới.
(8) Kinh Đại Bát Niết Bàn, hệ A-hàm cũng nói đến tu tâm, tu giới, tu thân, tu tuệ chuyển nghiệp.
(9) Đại Tạng Kinh, tập 14, kinh hiệu 451, Ngài Nghĩa Tịnh dịch sang Hán văn.
Chân Hiền Tâm
( https://thuvienhoasen.org/p120a15640...uoi-phong-sinh )
An introduction to Jatshug Rilbu ( The Rainbow Pill)
"Namo Avalokiteshvara" Whose love for all beings is like the love of a mother for her only child. To benefit sentient beings, you appear in various forms - animate and inanimate. Boundless is your compassionate activities. Bless us to develop boundless and impartial compassion!"
Even though the moon is reflected ...
( https://gyalwadokhampa.org/articles/...e-rainbow-pill )
http://s2.upanh123.com/2017/03/26/_lua13476a268.jpg
Video Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa khai mở tranh gấm thêu Phật Quan Âm kích thước lớn nhất:
.https://fptplay.net/xem-video/duc-gy...0ccb204b1.html
.http://vnexpress.net/photo/thoi-su/d...m-3556522.html
( http://www.drukpavietnam.org/khai-mo...thu-thien-nhan )
https://www.youtube.com/watch?v=RxUdRqcm8Fc
Khu danh thắng Tây Thiên
http://s2.upanh123.com/2017/03/26/du...en-0806717.jpg
Đức Pháp Vương ban phước và gia trì cho cán bộ nhân viên Lạc Hồng
( http://buonmathuot.org/showthread.ph...lam-tay-phuong )
Phóng sinh tức là nhìn thấy các loại chúng sinh có mạng sống đang bị bắt nhốt, giam cầm, sắp sửa bị giết hại, kinh hoàng, tù túng, mạng sống trong phút giây nguy ngập, liền phát lòng từ bi tìm cách cứu chuộc. Như vậy tức là hành vi giải thoát, phóng thích, cứu lấy mạng sống. Trong kinh Hoa nghiêm, phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện dạy rằng: “Chúng sinh thương yêu nhất là sinh mạng, chư Phật thương yêu nhất là chúng sinh. Cứu được thân mạng chúng sinh thì thành tựu được tâm nguyện của chư Phật.”
http://plo.vn/xa-hoi/phong-sinh-ca-c...ng-681070.html
《放生之道》蔣揚欽哲旺波 著
http://blog.xuite.net/rinpoche1/a/15...3%A2+%E8%91%97
Kính lễ Như Lai Bảo Kế
Lời ghi: “Bảo kế” (búi tóc báu) cũng gọi là Bảo- Thắng nghĩa là đức Như Lai này trí chẳng ai bằng, siêu xuất tất cả, tối thắng tối tôn, nên thêm ví dụ búi tóc trên đầu.
“Như Lai” là hiệu đầu trong 10 hiệu. Lìa điên đảo gọi là Như Lai, ra khỏi ràng buộc gọi là Như Lai. Chúng sinh ở trong nhân ở trong ràng buộc, gồm nhiếp cái quả ra ngoài ràng buộc, nên gọi Như Lai.
Kinh Kim Quang Minh nói: “Phật này thuở xưa khi tu hạnh Bồ Tát, có thệ nguyện rằng: Bao nhiêu chúng sinh trong mười phương thế giới, khi gần lâm chung, mà nghe danh hiệu Tôi, khi mạng chung rồi, đặng sinh cõi trời ba mươi ba, nên có hiệu này vậy”.
(Trích "Tỳ Ni Hương Nhũ"
Dịch giả: HT. Thích Thiện Chơn
Nguồn: NXB Tôn giáo 2010)
( http://daibaothapmandalataythien.org...nhu-lai-bao-ke )
http://s2.upanh123.com/2017/03/30/rh...539-1a2c63.jpg
During the formal tea and rice welcoming ceremony in the KTD shrine room, Khenpo Karthar Rinpoche holds up and offers desi, sweet saffron rice.
( http://the17thkarmapa.blogspot.com/2...a-arrives.html )
https://www.youtube.com/watch?v=u9R6cCs924Y
Clip giới thiệu nghi lễ cầu siêu - quán đỉnh theo truyền thống Kim cương thừa
Hôm nay theo lịch Tây Tạng - hệ lịch được dùng chính trong các dòng phái Kim Cang Thừa như Nepal, Tây Tạng, Bhutan là ngày mùng 8. Ngày của Đức Phật Dược Sư và cũng là ngày của Đức Thánh Độ Mẫu Tara. Đức Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng từng nói trong các kho tàng terma của Ngài rằng, vào ngày mùng 8 lịch Tạng này hàng tháng, Ngài sẽ cưỡi trên con ngựa thần Chang-tsê để du hành xuống thế gian cứu độ những người hữu duyên!
Nhân ngày này, chúng ta cùng nhớ về câu chuyện ngắn về gốc tích Ngài Tara!
Đức Quán Thế Âm sau khi độ thoát hàng trăm triệu chúng sinh, Ngài nhìn lại xem họ còn sót lại nhiều hay ít thì chẳng ngờ Ngài lại thấy chúng sinh trong trong luân hồi lại sinh ra hãy còn nhiều vô số kể. Ngài chợt đau lòng bật khóc, nước mắt Ngài rơi xuống mặt đất và giọt lệ đầu tiên ấy của Ngài đã trổ thành đóa hoa sen, từ đó hiện ra Đức Tara. Đức Tara bạch với Đức Quán Thế Âm: “Xin Ngài đừng đau lòng, từ nay tôi sẽ cùng Ngài cứu độ chúng sinh thoát khổ cho đến khi nào luân hồi diệt tận!”...
Hình minh họa: Đức Phật Vô Lượng Quang Amitabha màu đỏ (A Di Đà) ngồi trên cùng, 2 Đức Tara 2 bên, Đức Quán Âm Thập Nhất Diện Avalokiteshvara ngồi giữa, Đức Bồ Tát Trí Tuệ Văn Thù Manjushri màu vàng bên trái, Đức Bồ Tát Uy Lực Kim Cang Thủ Vajrapani màu xanh dương phát lửa bên phải!
Bát Cơm Của Bà Tổ Cô
------------------------------
Năm 2007, một người quen của gia đình tôi tìm được mộ anh trai thất lạc trong chiến tranh. Sau khi thử ADN từ mẫu xương, xác nhận đúng là người cùng huyết thống. Người nhà chú ấy trước là nhờ cô Phan Thị Bích Hăng nhưng không có duyên, sau được giới thiệu cô đồng Hoa ở Hải Dương. Cô đồng Hoa làm việc bằng cách cho ngươi nhà nhập vào mình rồi chỉ địa điểm mộ.
Nhà tôi cũng bị mất mộ cụ Ngũ đại và bà cô tổ ( bà cô em gái của ông Nội, ốm mất năm 6 tuổi) , thấy vậy nên cũng đến nhờ cô Hoa.
Hôm ấy trên xe đi Hải Dương có Bố, Mẹ, anh trai, tôi và chị dâu.
Khi đến đầu làng, hỏi nhà cô Hoa ai cũng biết, người ta chỉ cho tận nơi. Chúng tôi đến nhằm lúc quá 12h trưa, oto xe máy đã đỗ kín hết cả sân ngoài. Hàng xóm bảo sao đến muộn thế, giờ này thì chờ đến bao giờ mới được xem.
Khi vào, cô Hoa vừa nghỉ ngơi ăn cơm, đang ngôi uống nước. Chúng tôi trao đổi xã giao, cô chỉ hỏi 1 câu bố tôi tên là gì. Bố trả lời em tên là Hùng. Sau đó thì cô bảo mọi người vào chờ.
Trong nhà có một điện thờ nhỏ, từ ngoài sảnh đến bên trong đã ngồi chật kín người. Ở đây xem không phải theo thứ tự mà do người nhà ai nhập vào cô Hoa trước, gọi tên thì nhà đó lên. Chúng tôi cũng ngồi chờ và chứng kiến cuộc trò chuyện của 1 vài nhà.
Bỗng cô Hoa gọi rất dứt khoát: “ Thằng Hồng Anh đâu ?”
Bố tôi giật thót mình, lật đật đi lên. “Hồng Anh” là tên thường gọi ở nhà của bố từ lúc nhỏ, chỉ có người nhà và bạn nối khố mới gọi tên này, tên khai sinh là Hùng. Cả nhà tôi lên theo, ngồi 5 người vây quanh cô Hoa. Bố tôi hỏi: “ Cụ Âm đấy ạ???” (Mục đích chính là đi tìm mộ cụ Âm – cụ Ngũ đại). Cô Hoa lắc đầu … mọi người mỗi người đoán 1 cụ, cô Hoa vẫn lắc đầu … tuyệt không ai có thể đoán ra linh đang nhập vào cô Hoa là ai. Cuối cùng cô Hoa tự nói : “ Tao Minh đây “.
Thì ra là Bà Minh, Bà Tổ Cô nhà tôi, là em gái của ông nội, mất năm lên 6 tuổi. Mọi người thi nhau hỏi thử bà xem có phải là bịp không. Nhìn chung hỏi gì thì bà cũng trả lời đúng hết, mọi chuyện bí mật trong gia đình.
Trong thâm tâm, tôi cũng không chấp nhận mấy việc này. Tôi vốn không tin có linh hồn. Tôi chỉ ngồi nghe, không nói năng gì. Bỗng bà quay ra nhìn, ánh mắt rất tinh quái như đọc được ý nghĩ trong đầu tôi. :” À cái thằng cháu H này, mày không thèm nói câu nào với bà à, mày không chào bà à? “ Tôi chắp tay vái lạy và chào bà. Sau đó tôi mới hỏi 1 vài chuyện, bà cũng đều nói trúng. Tôi hỏi tiếp sắp tới cháu định xin việc vào công ty xây dựng xyz, bà thấy có được không?
Bà bảo :” Chỗ con này (chỉ vào bà chị dâu) nó quen ý gì ? “ Được , chỗ đấy tốt “ (Ôi trời, làm sao mà bà biết chỗ đấy là do chị dâu giới thiệu ???)
Sau tôi hỏi câu cuối cùng :” Bao giờ cháu lấy vợ “. Bà bảo cứ đi làm ổn định đi việc đấy tính sau. Rồi Bà (Cô Hoa) vươn người về phía tôi, tay khoác vai tôi, mặt bí hiểm nói thầm vào tai :” Vợ mày sau này xinh hơn vợ thằng Hưng (anh trai) đấy “ Rồi cười khúc khích khoái trá )).
Về vụ tìm mộ. Bà bảo bom đạn rải thảm, xương cốt đã tan hết cả rồi, bây giờ có đào lên cũng chỉ toàn đất, thôi không phải đi tìm làm gì cho mất công. Tao lúc nào mà chả ở nhà chúng mày. Từ lúc chúng mày lái xe đi, tao đã ngồi trên xe rồi. Chỉ có chúng mày là không nhớ đến tao thôi. Suốt ngày đi ăn đi uống, tao ngồi lù lù ở đấy, chả bao giờ mời tao một câu. Từ giờ ăn cơm là phải mời nhé.
Nhà tôi hỏi thế bà thích ăn gì. Bà bảo giờ bà đã ăn chay rồi, đang tu luyện thích lắm. Không thích tiền vàng mã, chỉ thích thuyền rồng thôi. Nếu có cúng đốt cho tao thì nhớ đốt thuyền rồng.
Sau đó bà bảo thôi phải đi, nói nhiều quá, đằng sau người ta giục đây này. Rồi bà quay lại mắng vào khoảng không: ơ cái cậu này cứ từ từ làm cái gì mà vội …
Từ đó mỗi khi đến bữa, nhà tôi đều xới một bát cơm và 1 cái thìa nhỏ trước bên cạnh mâm để mời bà.
Bấy giờ đầu óc tôi còn ngu muội lắm, cứ nghĩ bà là trẻ con nên muốn ăn với mọi người cho vui, mới dặn nhà tôi như vậy.
Sau này tôi mới hiểu lời dặn tưởng chừng như đơn giản ấy hóa ra lại chứa một đạo lý cực kỳ sâu sắc:
Làm người nhất định phải biết tưởng nhớ tổ tiên.
Câu Chuyện Nhân Quả !
-----------------------------------
Ông Nguyễn Sáng công tác trong một cơ quan hành chính sự nghiệp, đời sống khá giả, đã lập gia đình. Nguyễn Sáng có một người con trai duy nhất. Cậu trai này to cao khỏe mạnh giống bố, lại học rất giỏi, vừa rồi thi đỗ và học đại học năm thứ nhất trên thủ đô.
Bỗng nhiên một hôm, cậu thanh niên khỏe mạnh ấy thấy xây xẩm mặt mày, đau tức ngực. Lúc đầu gia đình nghĩ là do chưa quen với cuộc sống mới nên con bị căng thẳng nhưng triệu chứng bắt đầu kéo dài một thời gian nên đưa cháu đi khám.
Kết quả thăm khám cho thấy mọi chỉ số sức khỏe đều tốt, tất cả nội tạng đều bình thường, máu bình thường. Duy nhất khi chụp tim thì thấy có một vết hình tròn mà các bác sĩ cũng chưa có kết luận cuối cùng là cái gì. Tạm thời nghi ngờ do bất thường ở tim đó gây ra các triệu chứng nói trên. Chưa thỏa mãn, Nguyễn Sáng đưa con trai đến khám tại bệnh viện tim nổi tiếng ở một thành phố lớn khác trong nước.
Kết quả chụp chiếu vẫn là như vậy, có một vết tròn dị thường ở tim, các bác sĩ kết luận là có khối u, cần tiến hành phẫu thuật xử lý. Kỳ lạ thay khi phẫu thuật, bác sĩ tìm kiếm cách nào cũng không thấy khối dị thường hình tròn đó ở đâu, phải khâu lại.
Nguyễn Sáng rất tức giận, cho rằng trình độ y tế trong nước còn hạn chế liền đưa con sang Singapore để điều trị. Kết quả bệnh viện Singapore chẩn đoán là giống y như ở trong nước, có dị thường hình tròn ở tim và phải phẫu thuật. Các bác sĩ ngoại khoa giỏi nhất Singapore thực hiện ca phẫu thuật này. Lạ thay khi mổ ra, có tìm thế nào cũng không thấy khối u.
Về nước, Nguyễn Sáng đưa con đi khắp nơi chữa trị, sử dụng cả y học cổ truyền nhưng tất cả đều bó tay. Đứa con trai ngày một yếu ớt, đau tức ngực, hô hấp khó khăn … Gia đình khánh kiệt, bao nhiêu tài sản cũng đội nón ra đi hết để chữa trị cho cậu.
Một hôm có người quen biết chuyện, liền nói với Nguyễn Sáng hãy đến gặp thầy X xem một quẻ. Nguyễn Sáng vốn là người vô thần, ông ta không tin bói toán, thần, Phật và cho rằng đó là những thứ mê tín dị đoan, lừa phỉnh mọi người. Nhưng khi ở trong tình thế tuyệt vọng, hàng ngày phải chứng kiến đứa con chết dần chết mòn ông ta tặc lưỡi rằng có bệnh thì vái tứ phương, đông tây y kết hợp thầy cúng.
Khi đến gặp thầy, vừa ghi xong tên tuổi chưa kịp hỏi gì thì thầy đã nói :
“ Có phải mày làm nghề xxx không ?”
“ Vâng “
“ Con trai mày đang bị bệnh đúng không ?”
“ Vâng đúng, sao thầy biết ?”
“ Mày cấu kết với người khác, đưa bằng chứng giả hại người ta bị tử hình. Bị đạn bắn vào tim mà chết, nó đang đứng lù lù ở đây này. Nó bị chết oan, nó bảo nó bị đạn bắn vào tim đau lắm, cho nên con trai mày bây giờ phải chịu giống như nó “
Nguyễn Sáng chết lặng. Tưởng chừng như cả thế giới sụp đổ. Hóa ra có thế giới bên kia thật, hóa ra có nhân quả thật, hóa ra có quả báo thật sao … Lắp bắp mãi mới nói được thành tiếng : “ Bây giờ tôi phải làm như thế nào hả thầy? ”
“Nó nói mày phải lập đàn cầu siêu cho nó. In Kinh Địa Tạng và phóng sanh hồi hướng cho nó, thành tâm sám hối. Làm đủ 3 lần thì con mày sẽ khỏi”
Sau đó Nguyễn Sáng nhờ thầy lập đàn và thực hiện ngay những điều trên. Kể cũng lạ, sau lần thứ 3 ấy, đứa con trai không chữa tự nhiên khỏi bệnh, các triệu chứng trước đây hoàn toán biến mất.
Khi Nguyễn Sáng kể lại chuyện này, tôi biết anh ta đã trở thành một con người hoàn toàn khác.
~ Sưu tầm ~
( https://www.facebook.com/pg/chanphatmatphap/posts/ )
http://s2.upanh123.com/2017/03/18/Untitleda935f.png
收藏(56) 分享复制链接 举报
现货水解脱咒,现代玛尼石,瓷砖版玛尼 石,有缘人可随喜请回去
( http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%C3%81T/page67 )
NỀN LINH PHÙ
http://s2.upanh123.com/2017/04/03/1b9aa2.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/03/Untitled97394.png
http://s2.upanh123.com/2017/03/18/Untitlede0cf6.png
http://s2.upanh123.com/2017/03/18/adc5ad87.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/03/Untitled4028a.png
招财增益护摩咒轮 开光藏密招财咒轮 财神咒纸 祈福招财咒轮
( http://thegioivohinh.com/diendan/sho...M%C3%A3/page47)
Tăng cỡ chữ
HỘ THÂN CHÚ LUÂN - LỤC ĐẠO KIM CƯƠNG
05.12.2016 13:37
Xem hình
Lục Đạo Kim Cương Chú có Công Đức tương đồng với Đại Mật Tông Căn Bản Chú: MAMA KOLIṄ SAMANTAḤ nên các bậc Đạo Sư Tây Tạng thường ghép hai Chú này kèm với Thần Chú của Kim Cương Tát Đỏa Bồ Tát hình thành Chú Luân để đeo mang trên thân.
vuông thứ nhất bên ngoài:
Đại Bảo Quảng Bát lầu cát thiện trụ bí mật Dharani:
OṂ_ VIPULA-GARBHE MAṆI-PRABHE TATHĀGATE NIRDAŚANI MAṆI MAṆI SUPRABHE VIMALE SAGARA GAMBHIRA HŪṂ HŪṂ JVALA JVALA BHUDDHA (?ŚUDDHA) VILOKITE GUHYA ADHIṢTHITE- GARBHE SVĀHĀPADMA-DHARA AMOGA (?AMOGHA) JAYE CURU CURU SVĀHĀ OṂ ĀḤ PRAJÑĀ ḌHIK KKA HĀ HŪṂ MUḤ
_Hình vuông thứ hai:OṂ ĀḤ HŪṂ BODHI-CITTA MAHĀ-SUBĪ (?MAHĀ-SUBHA) JÑĀNA- DHĀRDU (?DHĀTU) AḤOṂ RULU RULU HŪṂ BHYO HŪṂOṂ MAṆI PADME HŪṂ_OṂ ĀḤ HŪṂ GURU PADMA SIDDHI HŪṂHARIṆISA NAMAḤ SARVA TATHĀGATA-HRIDAYA ANUGATE_OṂKURUṂGINI SVĀHĀOṂ AMIDHEVĀ HRĪḤ A
_Hình vuông thứ ba bên trong:.)Góc trên bên trái: OṂ PADMO (?PADMA) Góc trên bên phải: UṢṆĪṢA.)Góc dưới bên phải: VIMALE.)Góc dưới bên trái: HŪṂ PHAṬ
_Vòng tròn bên ngoài:NAMO RATNA-TRAYĀYA _ OṂ KAṂKAṆI KAṂKAṆI ROCAṆI ROCAṆI TROTANI TROTANI TRĀSANI TRĀSANI PRATIHANA PRATIHANA_SARVA KARMA PARAṂ PARAṆIME SARVA SATĀNAJAYE SVĀHĀ
_Vòng tròn trung ương:OṂ VAJRA-SATVA ĀḤAḤ AḤ ŚAḤ (HŪṂ) SAḤ MAḤ HAḤ MAMA KOLIṄ SAMANTAḤ
_Hàng ngang bên trên là Thần Chú của Kim Cương Tát Đỏa (Vajra-satva) OṂ VAJRA-SATVA HŪṂ ĀḤ_Hàng ngang ở giữa là Lục Đạo Kim Cương Chú với chủng tử HŪṂ của Kim Cương Tát Đỏa:AḤ AḤ ŚAḤ (HŪṂ) SAḤ MAḤ HAḤ_Hàng ngang bên dưới là Đại Mật Tông Căn Bản Chú: MAMA KOLIRA (?KOLIṄ) SAMANTAḤ
phatgiaovnn.com.53563.jpg
Hình vuông thứ nhất bên ngoài:
OṂ_ VIPULA-GARBHE MAṆI-PRABHE TATHĀGATE NIRDAŚANI MAṆI MAṆI SUPRABHE VIMALE SAGARA GAMBHIRA HŪṂ HŪṂ JVALA JVALA BHUDDHA(?ŚUDDHA) VILOKITE GUHYA ADHIṢTHITE-GARBHE SVĀHĀ PADMA-DHARA AMOGA (?AMOGHA) JAYE CURU CURU SVĀHĀOṂ ĀḤ PRAJÑĀ ḌHIK KKA HĀ HŪṂ MUḤ
_Hình vuông thứ hai:
OṂ ĀḤ HŪṂ BODHI-CITTA MAHĀ-SUBĪ (?MAHĀ-SUBHA) JÑĀNA-DHĀRDU (?DHĀTU) AḤ OṂ RULU RULU HŪṂ BHYO HŪṂOṂ MAṆI PADME HŪṂ_OṂ ĀḤ HŪṂ GURU PADMA SIDDHI HŪṂ HARIṆISA NAMAḤ SARVA TATHĀGATA-HRIDAYA ANUGATE_OṂ KURUṂGINI SVĀHĀ OṂ AMIDHEVĀ HRĪḤ A
_Hình vuông thứ ba bên trong:
.)Góc trên bên trái: OṂ PADMO (?PADMA)
.)Góc trên bên phải: UṢṆĪṢA
.)Góc dưới bên phải: VIMALE
.)Góc dưới bên trái: HŪṂ PHAṬ
_Vòng tròn bên ngoài:
NAMO RATNA-TRAYĀYA _ OṂ KAṂKAṆI KAṂKAṆI ROCAṆI ROCAṆI TROTANI TROTANI TRĀSANI TRĀSANI PRATIHANA PRATIHANA_SARVA KARMA PARAṂ PARAṆIME SARVA SATĀNAJAYE SVĀHĀ
_Vòng tròn trung ương:
OṂ VAJRA-SATVA ĀḤ AḤ AḤ ŚAḤ (HŪṂ) SAḤ MAḤ HAḤ MAMA KOLIṄ SAMANTAḤ
Công Đức lợi ích của Lục Đạo Kim Cương Chú: Lục Đạo Kim Cương Chú có thể dịch là Đới Thành Phật Chú. Chú này là Kim Cương Tổng Trì với Tổng Tâm Chú của năm Đức Phật ở năm phương, có Uy Thần cảm ứng, chuyên độ chúng sinh trong sáu đường (Trời, Người, A Tu La, súc sinh, Quỷ đói, Địa Ngục) thành Phật, Công Đức rất thù thắng chẳng thể nghĩ bàn Chú này một lần trải qua tai liền hay tiêu trừ Nghiệp đời trước. Phàm lỗ tai nghe tiếng của Chú này, hoặc con mắt nhìn thấy Chú này, hoặc thân tay tiếp chạm Chú này… đều tiêu diệt nghiệp chướng trong ba đời, tương lai đều được thành Phật Đối với việc siêu độ chúng sinh đã chết thì Công Đức rất lớn. Chúng sinh đã chết tuy bị đọa vào đường ác cũng có thể ra khỏi được. Chân thành tụng 10 vạn biến làm căn bản, ắt khi độ vong thời niệm tụng 7 biến cho đến 108 biến thì chúng sinh trong sáu đường được độ kia liền có thể tiêu trừ tội chướng, tức thời vãng sinh về Thế Giới Cực Lạc (Sukha-vatī), thấy Phật nghe Pháp. Dùng Chú này độ khắp cả chúng sinh có
vô lượng vô biên Công Đức.
1_Đeo mang Chú này, một khi xả tuổi thọ, cũng có thể thành Phật
2_Phàm tai nghe, mắt nhìn thấy hoặc thân tay tiếp chạm Chú này, đều hay trừ diệt nghiệp chướng của số việc, ở đời này hoặc đương lai rốt ráo thành Phật
3_Lúc sống, niệm Chú này nhiều sẽ ngộ Vô Sinh Nhẫn, sau khi chết thiêu đốt có
thể được Xá Lợi (Śarīra)
4_Chú này độ vong có Công Đức rất lớn. Nếu tụng đủ 10 vạn biến làm cơ sở, sau đó thất chúng sinh có tội khổ sắp chết, chân thành tụng 7 biến đến 108 biến. Khi Chân Ngôn đi vào lỗ tai tức hay miễn trừ mọi khổ về đao, búa, gậy, chỉa ba….
5_Chân thành tụng Chú này gia trì vào cát, đất, lúa đậu, gạo… rồi rải lên tất cả thân phần hoặc mồ mả của người chết. Tức khiến cho người chết đã bị đọa trong ba đường ác cũng có thể tiêu trừ tội chướng, vãng sinh về Thế Giới Cực Lạc
*)Do Lục Đạo Kim Cương Chú có Công Đức tương đồng với Đại Mật Tông
Căn Bản Chú: MAMA KOLIṄ SAMANTAḤ nên các bậc Đạo Sư Tây Tạng
thường ghép hai Chú này kèm với Thần Chú của Kim Cương Tát Đỏa Bồ Tát hình
thành Chú Luân để đeo mang trên thân.
HỘ THÂN CHÚ LUÂN - LỤC ĐẠO KIM CƯƠNG
Cư Sĩ Huyền Thanh - Cư sĩ Tống Phước Khải
chú giải Minh chú trên Phù Hộ thân.
NGUỒN ĐỌC THÊM: http://phatgiaovnn.com/upload1/modul...#ixzz4dBjUUVQR
Giá trị văn hóa và đời thực của việc cúng cô hồn
8 months agoAdd Comment
Đã từ lâu nghi thức “cúng cô hồn” hay còn gọi là “chẩn tế cô hồn” đã trở thành một phần của nghi lễ và văn hóa Phật giáo. Sự tồn tại lâu dài của nghi thức này cho thấy nó có một giá trị văn hóa nhất định trong đời sống của người Phật tử Bắc tông Việt Nam. Tuy nhiên, về mặt tu tập và truyền bá Chánh pháp, liệu nó có đúng với giáo lý Đức Phật và có đem lại giá trị thiết thực về đời sống tâm linh cho những người thực hiện và tham gia thực hiện nghi thức ấy không?
cung-co-hon-la-gi-640x319
Để trả lời câu hỏi đó, cần thiết phải nhìn nhận, thảo luận và đánh giá toàn diện giá trị thiết thực của quá trình thực hiện nghi thức ấy. Đây là vấn đề tế nhị và dễ va chạm vào “tín ngưỡng” đã tồn tại bấy lâu ở Việt Nam nói riêng và các nước Phật giáo Bắc tông nói chung. Ở đây, mục đích bài viết chỉ nhằm làm rõ hai giá trị: giá trị văn hóa và giá trị thực qua nghi thức này. Bài viết sẽ căn cứ trên những lời dạy căn bản của Đức Phật để thảo luận vấn đề nêu trên.
CÚNG THÍ CÔ HỒN LÀ GÌ?
Từ “chẩn tế” có nghĩa là đem tiền của ra cứu tế hay giúp đỡ người đang cần. Nó cũng được giải thích là phát chẩn (gồm thức ăn, vật thực) giúp người đói. Từ “cô hồn” được giải thích theo nhiều cách khác nhau. Theo Tự điển Hán Việt thì cô hồn có nghĩa là hồn ma cô độc. Theo bản kinh Phật thuyết Đà-la-ni cứu bạt ngạ quỷ diệm khẩu thì cô hồn tức là loài quỷ đói. Còn theo quan niệm nhân gian thì cô hồn là những người bị chết “bất đắc kỳ tử” (tức là chết bất ngờ như tai nạn, chết trẻ…), chưa tái sinh và không có người cúng thức ăn cho.
Như vậy, “chẩn tế cô hồn” nghĩa là phát thức ăn cho ngạ quỷ hay cô hồn. Vì có thực hiện nghi thức tán tụng, trì chú để bố thí thực phẩm cho cô hồn, nên gọi là “cúng thí cô hồn”.
“Cúng cô hồn” có xuất xứ từ bản kinh Phật thuyết Đà-la-ni cứu bạt diệm khẩu ngạ quỷ thuộc Đại tạng kinh, bộ Mật giáo, số 1.313. Theo kinh này, ngài A-nan-đà khi ngồi một mình nơi vắng vẻ trong đêm thấy một quỷ đói tên là Diệm Khẩu. Quỷ này hình thù gớm ghiếc, thân thể khô gầy, trong miệng lửa cháy, cổ họng nhỏ như kim, đầu tóc rối bù, móng dài nanh nhọn, rất đáng kinh sợ. Quỷ Diệm Khẩu đoán biết và nói với ngài A-nan-đà rằng: Ba ngày nữa ngài sẽ chết và đọa làm ngạ quỷ. Ngài A-nan-đà nghe quỷ nói liền hoảng sợ và hỏi lại quỷ phương cách thoát khỏi kiếp nạn. Quỷ bảo ngài A-nan-đà phải bố thí thực phẩm cho vô số ngạ quỷ, các vị tiên và cúng dường Tam bảo. Nhờ phước báu này, các quỷ đói thoát khổ cảnh ngạ quỷ và ngài cũng sẽ thoát nạn. Sau đó ngài A-nan-đà về gặp Đức Phật, kể lại câu chuyện trên và xin Đức Phật chỉ phương cách giải quyết vấn nạn này.
Đức Phật dạy ngài A-nan-đà phương thức giải quyết vấn nạn bằng cách nói một số thần chú (đà-la-ni) và danh hiệu các Đức Phật và bảo rằng nếu ai trì tụng các thần chú và niệm danh hiệu các Đức Phật này thì có thể biến thức ăn nhiều đủ để cung cấp cho vô số quỷ đói. Đức Phật còn lấy dẫn chứng là đời trước Phật đã từng làm rồi và khuyên Ngài A-nan-đà thực hành theo sẽ được kết quả thù thắng như: phước đức viên mãn, sắc tướng hoàn hảo, ăn uống no đủ, sanh lên cõi trời, thọ mạng lâu dài…. Nói chung, bài kinh trình bày rất nhiều kết quả thù thắng nếu trì các thần chú và niệm danh hiệu các Đức Phật.
Mặc dù cho rằng Đức Phật dạy cách bố thí cô hồn (ngạ quỷ) cho ngài A-nan-đà nhưng chỉ có Phật giáo Đại thừa đề cập và thực hành nghi thức cúng thí. Hơn nữa, tín ngưỡng “cúng thí cô hồn” cũng chỉ được ghi nhận xuất phát ở Trung Quốc vào đời Đường (thế kỷ thứ VIII).
Ngài Bất Không Kim Cương đã soạn dịch các bản kinh Mật giáo làm nền tảng cho nghi thức cúng thí cô hồn sau này. Theo yêu cầu của triều đình, ngài Bất Không đứng ra tổ chức các trai đàn cầu siêu. Mục đích là nhằm siêu độ cho những chiến sĩ và thường dân đã chết trong cuộc chiến tranh lúc bấy giờ. Sang đời Tống, ngài Bất Động dựa vào các kinh văn trên và tham cứu thêm các kinh điển Mật tông khác soạn ra nghi thức cúng cô hồn gồm nghi Du già diệm khẩu và Mông Sơn thí thực. Nghi Mông Sơn thí thực còn được gọi là tiểu thí thực. Vì ở Mông Sơn (tỉnh Tứ Xuyên) nên ngài Bất Động lấy tên địa danh và pháp thí đặt thành tên nghi thức. Nghi thức này được chỉnh sửa nhiều lần vào các triều đại sau đó.
Ở Việt Nam từ thời đại nhà Lý, các sách ghi chép rằng tín ngưỡng này đã được thực hành và được tiếp tục duy trì cho đến ngày nay. Căn cứ vào các tài liệu hiện có vừa nêu thì cho đến thế kỷ thứ VIII, tức hơn 13 thế kỷ sau khi Đức Phật nhập diệt, thì nghi thức cúng thí cô hồn mới được thực hiện ở Trung Quốc và đến thế kỷ XI nghi thức này mới được thực hiện ở Việt Nam. Trong khi đó, Phật giáo được cho là truyền vào Việt Nam chậm nhất là thế kỷ thứ II và Thiền học cũng được truyền dạy tại Việt Nam chậm nhất vào thế kỷ thứ III với sự đóng góp to lớn của Thiền sư Khương Tăng Hội. Như vậy, Phật giáo Việt Nam bị ảnh hưởng bởi Phật giáo Trung Quốc khá sâu rộng ngay cả thời kỳ Phật giáo được gọi là hưng thịnh nhất (thời Lý và Trần).
VỀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA
Có thể nói rằng nghi thức “cúng thí cô hồn” có giá trị văn hóa nhất định trong đời sống của người Phật tử Việt Nam theo truyền thống Bắc tông.
Về mặt tín ngưỡng, nghi thức ấy đáp ứng nhu cầu “cúng tế, cầu nguyện” của một số tín đồ Phật giáo và những người chưa là tín đồ nhưng có niềm tin đạo Phật. Đầu tiên, các vua chúa lập đàn cúng thí để cầu nguyện cho các chiến sĩ, đồng bào chết vì chiến tranh, tai nạn. Đồng thời, đây cũng là một trong những cách thức nhằm để cầu nguyện cho ngôi vị được lâu dài, cầu cho quốc thái dân an. Về sau, những người có điều kiện trong xã hội cũng bắt chước làm theo nhằm cầu nguyện cho gia đình bình yên hạnh phúc, không bị cô hồn quấy phá (theo niềm tin). Còn các chùa thực hiện nghi thức “cúng thí cô hồn” vào những dịp lễ lớn của Phật giáo nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của Phật tử.
Về mặt văn hóa, nó thể hiện một nét đẹp về cách thức “bày biện” đàn tràng và đóng góp vào nền âm nhạc tôn giáo các cung bậc âm điệu thanh thoát thức tỉnh lòng người. Cách thức thiết trí đàn tràng tạo không gian nơi thực hiện nghi thức cúng thí được trang nghiêm hơn và thể hiện nét văn hóa tín ngưỡng Phật giáo. Các điệu tán tụng và âm thanh nhạc cụ hòa nhau trong lúc thực hiện nghi lễ tạo thành âm nhạc đặc trưng của Phật giáo. Tùy theo vùng miền khác nhau, các âm điệu tán tụng cũng có phần khác nhưng nó vẫn giữ được chất tôn giáo của nó. Do đó, âm nhạc Phật giáo không bị lẫn lộn và không thể dùng để tiêu khiển như các loại âm nhạc thế tục.
mam-cung-co-hon-thang-7-am-lich
Về mặt đạo đức xã hội, “cúng cô hồn” là cơ hội tốt cho tất cả những người tham dự “pháp hội” phát tâm bố thí, hướng thiện và thể hiện lòng từ bi với người đã chết và cả với người còn sống. Đối với người chết, những người thực hiện và tham dự cúng thí thể hiện tâm từ bằng cách hướng tâm đến ngạ quỷ và mong muốn chúng no đủ, siêu thoát. Đối với người sống, nghi lễ cúng thí như là phương pháp trị liệu tạm thời nhằm xoa dịu nỗi đau của những người có người thân vừa mới chết hay chết bất thường. Nghi lễ cúng thí như là một cách thể hiện tình người, giữa người sống và người chết trong cộng đồng Phật tử.
Thông qua việc thực hiện nghi thức cúng thí, Chánh pháp có được truyền bá đến quần chúng không? Người tham dự và ngạ quỷ có thể hiểu Chánh pháp để tu tập chuyển hóa không? Phần tiếp theo sẽ thảo luận.
VỀ GIÁ TRỊ THỰC
Khi đọc nội dung bản kinh nói về xuất xứ việc bố thí ngạ quỷ, người có hiểu biết về Phật pháp sẽ không khỏi có những thắc mắc về giá trị thực của bản kinh. Thứ nhất, nội dung bản kinh được cho là Đức Phật thuyết nhưng trong tạng Pali không tìm thấy kinh nào có nội dung tương đương, mặc dù vấn đề ngạ quỷ vẫn có đề cập. Do đó, độ xác tín của bản kinh cần phải xem lại.
Thứ hai, Ngài A-nan-đà trong khi ngồi thiền gặp quỷ Diệm Khẩu hình hài xấu xí như mô tả ở trên. Nếu đây là cách mô tả thực thì khó lòng thuyết phục các học giả vì chỉ có kinh Đại thừa mới đề cập ngạ quỷ có thân thể vật chất như con người và động vật. Ngạ quỷ không có thân vật chất thì làm sao có tướng như mô tả ở trên? Còn nếu cách mô tả trên mang tính biểu tượng để chỉ cho tâm tham lam, bỏn xẻn của loài ngạ quỷ thì có thể chấp nhận được. Vì rằng, xét về tâm thì tất cả chúng sanh thỉnh thoảng phát khởi những tâm tham, sân như thế khi đủ các duyên điều kiện.
Thứ ba, quỷ biết và báo cho A-nan-đà thời gian ngài sẽ chết và đọa làm ngạ quỷ, đồng thời chỉ cách cho ngài thoát nạn. Chi tiết này rất khó chấp nhận. Người Phật tử ai cũng biết rằng ngài A-nan-đà là thị giả của Đức Phật. Khó có thể tin rằng Đấng Thế Tôn không biết gì về nghiệp duyên của người đệ tử thân cận của mình huống chi là chuyện sắp đọa lạc ngạ quỷ. Hơn nữa, theo giáo lý nhân quả được Đức Phật giảng dạy trong rất nhiều bài kinh thì người đọa vào ngạ quỷ là do làm mười điều ác. Khó có thể tin rằng A-nan-đà làm mười điều ác trong khi ngài là một vị Tỳ-kheo và là thị giả luôn theo chăm sóc Đức Phật. Giả thuyết này phi nhân quả theo lời dạy chính thống của Đức Phật.
Thứ tư, Đức Phật chấp nhận những lời quỷ nói là đúng nên chỉ dạy A-nan-đà phương pháp thoát nạn bằng cách đọc các câu thần chú và danh hiệu các Đức Phật ‘huyền thoại.’ Nội dung này cũng khó có thể chấp nhận vì Đức Phật là thầy của trời người nên không thể nào Đức Phật làm theo lời quỷ dạy. Không có bản kinh nào ghi chép khi Đức Phật còn tại thế, Ngài và Tăng đoàn trì tụng thần chú hay cúng dường bất cứ Đức Phật nào khác.
Thứ năm, cho rằng nhờ trì chú và niệm danh hiệu các Đức Phật để bố thí thức ăn cho ngạ quỷ thì ngạ quỷ được bố thí cũng như người bố thí sẽ được phước báu thù thắng, sanh lên cõi trời cũng là trái với nhân quả như đã nói. Hơn nữa, cho rằng Đức Phật đã từng làm việc này trong kiếp quá khứ của Ngài và khuyến khích đệ tử thực hành việc trì chú là không thỏa đáng vì không có bản kinh nào trong tạng Pali ghi chép vấn đề này. Vô hình trung, nó mâu thuẫn với lời dạy của Đức Phật về việc khuyến khích Phật tử tại gia giữ năm giới và làm mười điều thiện – nhân của hạnh phúc ở cõi trời và người. Do vậy, bản kinh trên có giá trị ‘tín ngưỡng’ hơn là giá trị thực.
vat-pham-cung-co-hon
Một vấn đề lớn khác là người đã chết có nhận được sự cúng dường của người đang sống hay không? Vấn đề này được đề cập trong kinh Tăng chi, chương Mười pháp, III, 177, phẩm Jànussoni qua câu chuyện được cho là cuộc đối thoại giữa Đức Phật và Bà-la-môn Jànussoni.
Câu chuyện kể rằng: Vị Bà-la-môn Jànussoni hỏi Đức Phật rằng ông và các bạn đồng tu của ông thường làm lễ cúng cho những người chết nhưng không biết việc làm ấy lợi ích như thế nào và người chết có thọ hưởng được không? Đức Phật đáp rằng việc cúng dường có lợi ích nếu người chết đó có “tương xứng xứ.” Cụm từ này nghĩa là người ấy sau khi chết nếu tái sanh ở cảnh giới tương xứng thì có thể thọ nhận được sự cúng dường. Đức Phật giải thích là nếu người nào khi sống làm mười điều ác (sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời vô ích, có tham ái, có sân, có tà kiến) thì khi chết đọa vào cảnh giới địa ngục.
Đối với chúng sanh ở địa ngục, thức ăn do con người cúng là không tương xứng nên không hưởng được.
Tượng tự, những người làm mười điều ác sau khi chết đọa vào loài súc sanh thì cũng không nhận được sự cúng dường. Những người làm thiện sau khi chết tái sanh làm người hay chư thiên cũng không nhận được sự cúng dường. Duy chỉ có những người nào do làm mười điều ác sau khi chết tái sanh cảnh ngạ quỷ mới có thể nhận được sự cúng dường của người sống. Như vậy, theo kinh này thì chỉ có ngạ quỷ mới có thể nhận được phẩm vật cúng dường của người sống.
Nếu căn cứ vào nội dung bài kinh vừa nêu, ngạ quỷ hay cô hồn có thể nhận được phẩm vật cúng thí. Rất tiếc, vấn đề ngạ quỷ nhận phẩm vật bố thí như thế nào bài kinh không miêu tả. Có người cho rằng ngạ quỷ thọ hưởng mùi hương của thực phẩm nhưng thọ bằng giác quan nào thì cũng không thấy miêu tả. Do đó, giả thuyết ngạ quỷ hay cô hồn nhận được vật thí qua thái độ của tâm thức là có thể chấp nhận nhất. Nghĩa là họ liên tưởng rằng họ được người khác quan tâm, chăm sóc và do đó tâm họ cảm thấy được an ủi, thỏa mãn. Nếu cho giả thuyết này đúng thì lợi ích chỉ là thỏa mãn tâm một lần như người đang đói được một bữa no nê.
Theo niềm tin, việc thực hiện trai đàn chẩn tế (với nghi thức trì chú, thỉnh mời cô hồn) sẽ giúp cô hồn hưởng được phẩm vật và siêu thoát. Điều này cũng chỉ mang giá trị tín ngưỡng vì nó không dựa trên nhân quả. Theo giáo lý nhân quả, việc ngạ quỷ thoát khổ và tái sanh cõi trời người không thể do người khác làm thay mà phải do chính bản thân ngạ quỷ chuyển hóa. Khi ngạ quỷ nhận ra những nguyên nhân đưa đến đọa lạc bao gồm tham, sân, si thì chính bản thân họ phải tu tập chuyển hóa tâm. Nhờ đó, họ mới thoát khổ. Cũng như người còn sống muốn thoát khổ cũng phải thực tập chuyển hóa tam độc. Không có Đức Phật nào hay sự mầu nhiệm nào có thể làm thay đổi khổ đau của con người nếu chính người ấy không thực tập chuyển hóa.
Lịch sử Phật giáo cho thấy rằng Đức Phật và Tăng đoàn thời Đức Phật cũng như Tăng đoàn Phật giáo nguyên thủy chưa từng thực hành nghi thức cúng thí này. Dù vậy, theo Ngạ quỷ sự thuộc Tiểu bộ kinh, Phật và Tăng đoàn không cúng thí cô hồn nhưng Đức Phật và Thánh Tăng giúp rất nhiều ngạ quỷ thoát khỏi cảnh khổ và tái sanh cõi lành8. Ngạ quỷ thoát khổ là do được chỉ dạy và được tu tập chứ không phải do năng lực thần chú.
Người học Phật đều biết rằng mục đích của đạo Phật là hướng dẫn chúng sanh (bao gồm ngạ quỷ) tu tập để thoát khỏi cảnh khổ, chứng đắc Niết-bàn. Giá trị thực của đạo Phật là con đường chuyển hóa tâm. Khi thực hiện cúng thí cô hồn, những người thực hiện thường tin là nhờ thần lực của chư Phật và sự mầu nhiệm của thần chú mà ngạ quỷ được no đủ và tái sanh cõi lành. Ngoài niềm tin, không ai dám khẳng định có thể làm cho ngạ quỷ hiểu Chánh pháp để tu tập chuyển hóa.
An Ethnic Chinese devotee arranges statues to set on fire during the festive event of Hungry Ghost in Kajang, in the outskirts of Kuala Lumpur on August 16, 2013. In the Chinese tradition the seventh month of the lunar year is regarded as the Ghost Month in which spirits and ghosts come down to earth. During this festival the devotees burn paper-made models to appease the wandering spirits and offers prayers. AFP PHOTO / MOHD RASFAN
Đối với người sống, ngoài việc cầu nguyện cho bản thân, gia đình, xã hội, quốc gia được bình yên hạnh phúc, hiếm ai hiểu và thực hành Chánh pháp đúng tinh thần Phật dạy; ngoại trừ những ai nghiên cứu và thực hành Phật giáo. Do đó, việc “cúng thí cô hồn” đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng hơn là sự tu tập chuyển hóa.
TỔNG KẾT
Từ khi Phật giáo tín ngưỡng phát triển thì vấn đề cúng kiếng cầu nguyện trở nên phổ biến rộng rãi. Đối với quần chúng thì việc cầu nguyện trở thành nhu cầu không thể thiếu. Đáp ứng nhu cầu đó nên nhiều nghi thức cúng bái được biên soạn, trong đó, nghi thức chẩn tế cô hồn là phổ biến nhất.
Con người có đời sống tình cảm nên cần sự an ủi, cầu nguyện. Nghi lễ Phật giáo phần nào đáp ứng nhu cầu ấy. Tuy nhiên, việc quan trọng của đạo Phật vẫn phải là làm sao cho mỗi người hiểu được Chánh pháp để hành trì chuyển hóa bản thân, đạt được hạnh phúc. Cầu nguyện cho người sống hay người chết là phương tiện chứ không phải là mục đích của đạo Phật.
Theo niềm tin, Đức Phật và Thánh chúng giúp cho ngạ quỷ thoát khổ bằng cách truyền thông với chúng và hướng chúng về nẻo thiện nhờ vào công đức tu tập của các bậc Thánh. Ngày nay, việc truyền thông và cứu giúp ngạ quỷ dựa vào thần lực của chư Phật và sự mầu nhiệm của thần chú. Nhiều người tin rằng đàn tràng được tổ chức càng lớn, tán tụng càng lâu thì hiệu quả càng cao.
Tóm lại, nghi thức cúng thí cô hồn được thực hiện với niềm tin sẽ đạt các mục đích cơ bản sau:
Thứ nhất là để bố thí cho quỷ đói no đủ.
Thứ hai là để cầu bình an cho gia chủ.
Thứ ba là cầu ngạ quỷ siêu thoát để khỏi quậy phá và thường ủng hộ gia chủ.
Tất cả đều phản ảnh giá trị tín ngưỡng hơn là giá trị thực.
Thích Hạnh Chơn
Theo Nguyệt san Giác Ngộ
( http://tamthuan.com/gia-tri-van-hoa-...c-cung-co-hon/ )
孟兰盆节
http://s2.upanh123.com/2017/04/04/20...6984102146.jpg
( http://www.baike.com/gwiki/%E5%AD%9F...9B%86%E8%8A%82 )
5张图
孟兰盆节中元节是道教的说法,中国 代以一、七、十月之十五日分称上元 中元、下元:上元是天官赐福日,中 元为地官赦罪日,下元为水官解厄日 所以会在中元时普渡孤魂野鬼。中元 ——农历7月15日中国民间的传统节日 “中元节”。在南方,亦称“鬼节” 也有说法中元节是在农历7月14日。节 这天,人们带上祭品,到坟上去祭奠 祖先,与清明节上坟相似。在封建时 ,地方官府还命令寺庙的和尚道士设 魂道场,以祭奠阵亡的军士,中元节 时,人们要焚烧大量的纸钱。它的另 叫法即盂兰盆节。
别名:鬼节
农历日期:七月十四日
宗教:道教
节日活动:到坟上去祭奠祖先
节日象征:焚烧大量的纸钱
https://www.youtube.com/watch?v=OrWstNy7ufg
Tu Viện Hộ Pháp El Monte Nơi Hòa Hợp Của Đại Thừa Và Mật Tông Tây Tạng