Sau khi ăn dãi của Đạt ma, em thông được một chuyện, hôm biết cóa sai hôm.
Công đức cũng có loại ngắn hạn - mau hết và loại trường cửu - xài vô tư ý mà...
Sau khi ăn dãi của Đạt ma, em thông được một chuyện, hôm biết cóa sai hôm.
Công đức cũng có loại ngắn hạn - mau hết và loại trường cửu - xài vô tư ý mà...
Hiểu sai hoàn toàn ý nghĩa.
Nên đặt câu hỏi vì sao chư Tổ khi xưa giữ gìn kinh điển rất quý, rất kỹ, xem kinh điển, văn tự pháp Phật như bảo vật để ở những nơi cao ráo, đọc xem bằng 2 tay, lật nhẹ từng trang, cung cung kính kính. Chư Tổ đều là người minh tâm kiến tánh rồi đó.
Thời nay mấy ai dc như vậy?
Nên nhớ 10 chữ: CHÂN THÀNH, THANH TỊNH, BÌNH ĐẲNG, CHÁNH GIÁC, TỪ BI.
10 chữ này là tánh đức của Tự tánh, vốn sẵn có. Sự chân thành, cung kính, tôn trọng Chánh pháp là 1 tánh đức vốn sẵn có trong mỗi người, khi minh tâm kiến tánh thì tánh đức ấy tự lưu lộ ra, ko cần được điều khiển bằng ý thức phân biệt. Nên đừng đem cái tâm phân biệt giữa nhị nguyên là "tôn trọng" hay "chê bai" mà áp đặt vào Tánh đức của những vị đã kiến tánh.
A Di Đà Phật.
Đã biết thuộc kinh liễu nghĩa, thực tánh thì còn gì để thắc mắc chăng ?
Ông hiểu nghĩa câu đó ra sao ? Ông là hạng Bồ tát như Tu Bồ Đề chưa ? Hiểu câu đó với 1 nghĩa đen bề mặt như vậy thì hoàn toàn ko gọi là liễu nghĩa.
Giải nghĩa:Trích dẫn:
Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế nào? Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng có đắc pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chăng?
-Bạch Thế Tôn, không. Theo con hiểu nghĩa của Phật nói, Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng thật chẳng có đắc pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Phật bảo:
-Đúng thế! Đúng thế! Tu Bồ Đề! Như Lai thật chẳng đắc pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tu Bồ Đề! Nếu Như Lai có đắc pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì Phật Nhiên Đăng chẳng thọ ký cho ta rằng: "Về đời sau ngươi sẽ được thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni." Bởi thật chẳng có đắc pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho ta rằng: "Về đời sau ngươi sẽ được thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni." Tại sao? Nói Như Lai tức là các pháp như nghĩa. Nếu có người nói rằng Như lai đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là chẳng đúng như nghĩa. Tu Bồ Đề! Vì thật ra Phật chẳng đắc pháp VôThượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tu Bồ Đề! Nói Như Lai đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, ở trong đó vô thật vô hư.
Cho nên Như Lai nói "Tất cả các pháp đều là Phật pháp." Tu Bồ Đề! Nói tất cả pháp, tức phi tất cả pháp, thị danh tất cả pháp (nghĩa ba câu). Tu Bồ Đề! Ví như thân người cao lớn đã kể trên, nghĩa là siêu việt số lượng.
Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế nào? Tôi ở nơi Nhiên Phật không có đắc vô thượng bồ đề không?
Tu Bồ Đề đáp: Không. Theo con hiểu Phật ở đời Nhiên Đăng Phật không có đắc vô thượng bồ đề.
Phật nói: Phải rồi. Tu Bồ Đề! Thật ra không có đắc vô thượng bồ đề. Nếu tôi có đắc vô thượng bồ đề thì Nhiên Đăng Phật không thọ ký cho tôi thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Tại sao? Vì Như Lai là pháp như nghĩa, như nghĩa là đích thân mình kinh nghiệm; nếu ở nơi lời nói văn tự thì không gọi là như nghĩa.
Như người chưa ăn qua đường, không biết ngọt là gì? Mặc dầu, chữ ‘ngọt’ thì nói được, nhưng không phải như nghĩa. Ngọt là lời nói, không phải kinh nghiệm; nếu giải thích chữ ‘ngọt’ để nghe, cũng không biết ngọt là gì? Chỉ cần mình đích thân nếm một chút đường thì thật biết ngọt là vậy. Kinh nghiệm thật chứng mới là như nghĩa. Nếu có người nói Phật Thích Ca có thật chứng vô thượng bồ đề thì không đúng.
Phật nói với Tu Bồ Đề: Như Lai có đắc vô thượng bồ đề đâu! Chỗ này, Phật quét vô thượng bồ đề 6, 7 lần. Quét thế giới Phật thì người ta dễ tin, còn quét luôn cả Phật thì người ta khó tin. Nói đi nói lại thật không có pháp nào là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cho nên, nói pháp vô thượng bồ đề không phải thật, không phải hư.
Thật với hư là đối đãi, thường thường người ta cho là không phải thật thì phải hư; thật là cú nhất, hư là cú thứ hai; nên không phải thật cũng không phải hư. Vậy, Phật nói “tất cả đều là Phật pháp”, nếu cho tất cả là Phật pháp cũng sai.
Cho nên, Phật nói với Tu Bồ Đề: Tôi nói nhất thiết pháp, kỳ thật chẳng phải nhất thiết pháp, chỉ là giả danh nhất thiết pháp (nghĩa ba câu). Câu thứ nhất là chấp nhất thiết pháp, câu thứ hai là phá nhất thiết pháp nên nói chẳng phải nhất thiết pháp, câu thứ ba là thị danh nhất thiết pháp (thị danh là giả danh).
Tức là nhất thiết pháp là giả danh, phi nhất thiết pháp là giả danh, thị danh nhất thiết pháp cũng giả danh; nghĩa là câu thứ ba quét câu thứ nhất, câu thứ hai và luôn cả câu thứ ba, thì đủ nghĩa ba câu của kinh Kim Cang; kinh Kim Cang trước sau đều là nghĩa ba câu.
Đại thân, chẳng phải đại thân, thị danh đại thân (nghĩa ba câu). Bồ Tát phải quét sạch như thế, nếu nói ta độ hết tất cả chúng sanh thì không phải Bồ Tát. Bởi vì còn có ngã chấp, có ta có chúng sanh. Phật pháp là câu thứ nhất, phi Phật pháp là câu thứ hai, thị danh Phật pháp là câu thứ ba. Theo nghĩa ba câu thì Bồ Tát cũng phải quét, phi Bồ Tát cũng phải quét, thị danh Bồ Tát cũng phải quét.
Nghĩa ba câu là quét tứ tướng (ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả). Thọ giả tướng là thời gian, các pháp nếu không có thời gian thì không thể thành lập được. Không gian, thời gian và số lượng như cái sườn nhà, vũ trụ vạn vật như cái nhà; nếu không có sườn nhà thì căn nhà bị sụp, cũng không thể cất lên căn nhà.
Như vũ trụ vạn vật, mình thấy rõ ràng; nếu một trong ba thứ (không gian, thời gian, số lượng) mà rút ra thì vũ trụ vạn vật đều bị tiêu diệt. tôi ngồi đây cũng có 3 thứ này, 3 thứ này không có bản thể, chỉ là 3 khái niệm của vọng tâm.
HT Thích Duy Lực.
Theo ông pháp Vô thượng Chánh Đăng Chánh Giác là gì? Phật có đắc pháp Vô Thượng Chánh Đằng Giác ko ?
Ông cũng như nhiều người khác đọc kinh ko rõ nghĩa, chấp lý bỏ tướng. Bởi vậy, những kinh như Kim Cang Bat Nhã khi có đủ căn cơ như Bồ Tát Tu Bồ Đề thì nên đọc và tu theo để nhập vào nhất chân pháp giới, Phật thuyết kinh này là cho hàng Bồ tát chứng thấy Pháp không, thực tánh các pháp, Phật thuyết pháp phá chấp cho Tu Bồ Đề, chẳng phải cho hàng phàm phu chân còn dính đất, tướng còn chưa thông ngồi đó chấp lý không.
Kinh liễu nghĩa mà người đọc ko liễu nghĩa thì cũng vô dụng.
A Di Đà Phật
Buồn cười 1 điều là cái câu mà ông đang chỉ trích và nói là "bậy" lại là trong Phật Quang Đại từ điển của Hòa Thượng Thích Quảng Độ và chư Tăng phiên dịch, từ điển Phật học uy tín nhất trước tới nay. Ông đem cái sự thấy, sự hiểu nghĩa kinh sai lệch của mình mà áp đặt phủ nhận ý nghĩa câu văn trên trong cuốn Tự Điển thì cũng như lấy cái câu này trong kinh Kim Cang:
"- Tu Bồ Đề! Ông chớ cho Như Lai có nghĩ rằng: "Ta có nói pháp". Ông chớ nghĩ như vậy. Bởi vì sao?
- Vì nếu người nào nói rằng: Như Lai có nói pháp, tức là chê Phật, không hiểu được lời của ta nói.
- Tu Bồ Đề! Nói pháp, là không có pháp gì nói được, ấy gọi là nói pháp."
để rồi phủ nhận toàn bộ kinh điển, vì Đức Phật đã nói là Ngài ko hề nói pháp thì kinh điển là lời của ai ?? Hiểu theo cái nghĩa đen 1 mặt này thì thực quả là đáng thương. Phật nói lí "Chân Đế" mà người đọc lại hiểu theo "Tục đế" thì càng đọc càng loạn.
Nói tới đây thôi, hiểu sao tùy ông, nói nhiều thành tranh luận vô nghĩa.
A Di Đà Phật.
http://inlook.vn/sites/default/files...12-400x303.jpg
Hỏi: Vậy tập khí từ đâu ra?
Đáp: Tập khí tức thói quen: Ví như xưa kia chưa có đèn điện, mọi người quen dùng đèn dầu, nay đã quen dùng đèn điện, thỉnh thoảng cúp điện một buổi liền thấy bực bội, ấy là tập khí khiến thành kích thích. Bây giờ chúng ta tu là muốn dứt hết tất cả tập khí.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:rolling_on_the_floo
http://thienviendaidang.net/images/n...ochanhbao1.jpg
Hỏi: Thế nào là y báo và chánh báo?
Đáp: Chánh báo, y báo là tùy theo nghiệp nhân của mình đáp lại quả báo. Hành động và tư tưởng của mình làm thiện thì tạo thiện nghiệp, làm ác tạo ác nghiệp, có nghiệp nhân ắt có nghiệp quả: Thân hiện nay của chúng ta là nghiệp quả của nghiệp nhân kiếp trước, gọi là báo thân.
Trong kinh Phật nói đến tam thân: Pháp thân, hóa thân và báo thân. Báo thân này là chánh báo, tức do mình có cái nghiệp nhân, thành quả báo được cái thân này, hoặc thân con trai, hoặc thân con gái, cho đến ngu si, trí huệ, giàu sang, nghèo khổ …
Tất cả vạn vật trong vũ trụ để cho thân này thọ dụng gọi là y báo, như thức ăn, nước uống, quần áo, nhà ở… cung cấp cho cuộc sống hàng ngày của chúng ta, tức mọi sự đi đứng nằm ngồi để nuôi dưỡng cái chánh báo này gọi là y báo.
trích Duy Lực Ngữ Lục)
:star:
Truyền thuyết kể rằng, vào một buổi sáng mùa đông, thời tiết trên đỉnh Tung Sơn rất lạnh, tuyết bay đầy trời, Huệ Khả đến gặp Đạt Ma cầu học pháp. Nhưng khi đến phòng Đạt Ma thì gặp đúng lúc ông đang ngồi thiền. Huệ Khả không muốn đánh động Đạt Ma nên chắp tay đứng đợi ở bên ngoài. Từ sáng tới chiều, rồi đợi tới tận lúc nửa đêm mà Đạt Ma ở bên trong vẫn chưa động đậy. Bên ngoài, Huệ Khả vẫn kiên trì đứng im lặng chờ đợi.
Trời về đêm ngày một lạnh hơn, gió tuyết mù mịt buốt da buốt thịt nhưng Huệ Khả gần như chẳng biết đến thời tiết bên ngoài, đứng im trong bão tuyết không hề động đậy. Cho tới buổi sáng ngày hôm sau, Đạt Ma mới kết thúc ngồi thiền, mở mắt ra thấy Huệ Khả đang đứng ở bên ngoài phòng, tuyết đã phủ kín cả người. Đạt Ma mới hỏi Huệ Khả đứng trong tuyết làm gì, Huệ Khả đáp: “Để cầu sư phụ truyền pháp cho!”. Đến lúc đó, Đạt Ma vẫn chưa cảm thấy lay động, sắt đá nói: “Muốn ta truyền pháp cho người, họa chăng là trời rơi tuyết màu hồng”.
Huệ Khả nghe câu nói này, biết rằng Đạt Ma vẫn lo lắng mình sẽ đem những thứ đã học từ Đạo giáo, Nho giáo và Phật giáo Tiểu Thừa vào trong giáo lý Thiền học Đại thừa nên không chịu truyền pháp cho mình. Để thể hiện quyết tâm của mình cũng là để thuyết phục Đạt Ma, Huệ Khả quyết định chặt đứt một cánh tay ngay trước mặt Đạt Ma. Vì vậy, Huệ Khả thuận tay cầm một con dao sắc chặt đứt cánh tay trái của mình. Máu từ cánh tay phun ra ngoài, làm đỏ cả một đám tuyết xung quanh chỗ đứng của Huệ Khả. Lúc bấy giờ Đạt Ma mới thừa nhận sự quyết tâm của Huệ Khả và quyết định truyền pháp cho ông.
http://vanthang.vnweblogs.com/galler...6db213a831.jpg
Hỏi: Kiến tánh là gì?
Đáp: Đợi ông kiến tánh rồi thì biết.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
the do1
kiến tánh là ý kiến của mình bé như con kiến nhưng mang lại cái nhìn thực chất về bản tính....
http://nguoivietblog.com/uyennguyen/...pkrsxdb_f1.gif
Hỏi: Sư phụ dạy phải vô sở trụ, nhưng chúng con nghe pháp của Sư phụ nói đến đâu thì trụ đến đó, trụ hoài chẳng bỏ được, vậy phải làm sao?
Đáp: Cũng là do cái ngã, do muốn đắc muốn cầu, còn sợ, tức chưa thực hành chín chữ “Vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ”và chưa tin tự tâm, hoặc tin tự tâm chưa đầy đủ, nên còn muốn tìm kiếm ở ngoài.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
violent105
http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:A...pw2CMY5gV7AcE5
Hỏi: Người tham thiền có phải là trở về tánh thấy và tánh nghe của nội tâm?
Đáp: Chẳng có đi cũng chẳng có trở về, vì tánh thấy tánh nghe vốn cùng khắp không gian thời gian, nên chẳng có đi và về. Thí dụ: Cô có thể đồng thời thấy một lượt cả chúng ở đây, hoặc phải thấy từng người một? Nếu đồng thời thấy hết tức tánh thấy khắp không gian; chẳng những thấy được đại chúng, luôn cả cái bàn, cái ghế, tách, bình v.v… đều thấy cả, vậy đâu có trở về? Về đâu?
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:thinking:
http://phanduyan.files.wordpress.com...09/con-gio.jpg
Hỏi: Thế nào là trí huệ và mê trí huệ?
Đáp: Trong Bát Nhã Tâm Kinh có câu “vô trí diệc vô đắc,” chẳng có trí huệ để đắc. Tại sao Phật nói như thế? Vì trí huệ của mình đã sẵn, khỏi cần đắc nữa. Nói “Bát nhã”ấy là trí huệ của Phật tánh, chẳng phải trí huệ của bộ não, tất cả thần thông trí huệ năng lực, mọi chúng sanh đã sẵn có, nên nói”vô trí diệc vô đắc.” Nếu có đắc tức chẳng phải trí huệ.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
violent105
http://cc5.upanh.com/27.745.35021204...1138507931.jpg
NHƯ NHƯ BẤT ĐỘNG: 如如不動
Bản thể của tự tánh cùng khắp không gian thời gian, chẳng động chẳng tịnh, chẳng biến chẳng dời, chẳng sanh chẳng diệt, gọi là Như như bất động.
(trích Từ điển Phật học của Hòa thượng Thích Duy Lực)
:smug:
http://img-photo.apps.zing.vn/upload...73_574_574.jpg
Hỏi: Thế nào là vô vi mà vô sở bất vi?
Đáp: Tức không làm mà chẳng gì không làm. Bây giờ tất cả đều đang động, chẳng cái nào là ngưng, như nay mình thấy tịnh, nhưng thực tế mọi thứ đều chẳng có tịnh.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:tongue:
http://fo2.vicongdong.vn/fo_NewsImage/16/637224.bmp
Hỏi Thế nào là “tà khởi phiền não tới, chánh đến phiền não trừ, tà chánh đều chẳng chấp, thanh tịnh đến cùng tột” trong Kinh Pháp Bảo Đàn?
Đáp: Nếu chấp vào tà kiến như không tin nhân quả, làm điều trái với nhân quả thì phiền não và khổ phải đến, vì tạo ác nhân ắt chịu khổ quả. Còn chánh là dùng để đối trị cái tà, chẳng làm nhân ác thì chẳng phải chịu khổ quả, nên phiền não trừ. Nhưng tà với chánh là tương đối, còn trụ nơi tương đối thì chẳng thể đạt đến giải thoát cuối cùng, vì còn sở trụ, do đó, tà chánh đều quét sạch, chẳng còn sự tương đối, tức nhập vào quốc độ tuyệt đối.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
slapping
http://images.yume.vn/blog/201108/30...796_ln1106.jpg
Hỏi: Ngài Ca Diếp đã ngộ được cái gì trong Hội Linh Sơn khi Đức Phật đưa lên một cành hoa rồi ngài được truyền y bát?
Đáp: Nếu có ngộ được cái gì thì chẳng phải ngộ. Khi bản tâm toàn vẹn hiện lên, chẳng phải là ngộ được cái gì, chẳng phải có tâm năng kiến để kiến được Phật tánh. Rồi nói đến Chánh Biến Tri, cái biết đó cũng là cái tâm đó tự biết, chẳng phải có cái tâm khác để biết về cái này, tất cả y như cũ, không thêm bớt, không có sự tương đối.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:at_wits_end: