-
Sóc Trăng (Ba Xuyên) - trước 1975... (1)
Của Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam · Cập nhật khoảng 3 năm trước · Chụp tại Soctrang, Vietnam
Sóc Trăng
Lịch sử
Nguồn gốc tên gọi
Tên gọi Sóc Trăng do từ Srok Kh'leang của tiếng Khmer mà ra. Srok tức là "xứ", "cõi", Kh'leang là "kho", "vựa", "chỗ chứa bạc". Srok Kh'leang là xứ có kho chứa bạc của nhà vua. Tiếng Việt phiên âm ra là "Sốc-Kha-Lang" rồi sau đó thành Sóc Trăng. Dưới triều Minh Mạng, Sóc Trăng bị đổi là Nguyệt Giang tỉnh (chữ Sóc biến thành chữ Sông, Trăng thành Nguyệt nên Sóc Trăng biến thành Sông Trăng rồi bị đổi thành Nguyệt Giang). [1]
Đại Nam nhất thống chí viết về sông Ba Xuyên thuộc địa bàn tỉnh An Giang nhà Nguyễn như sau: "... Sông Ba Xuyên ở phía Nam hạ lưu sông Hậu Giang, cách huyện Vĩnh Định 8 dặm về phía Bắc, trước là sông Ba Thắc, rộng 15 trượng sâu 8 thước, đi về phía Nam 15 dặm, đổ ra cửa biển Ba Xuyên, đi về phía Tây 60 dặm đến trường Tàu, tức là chỗ tàu biển đỗ. Ở đây người Trung Quốc và người Cao Miên ở lẫn lộn, chợ phố liên tiếp, lại 65 dặm đến ngã ba sông Nguyệt, tục gọi là Sóc Trăng, ... Năm Kỷ Dậu (1789) hồi đầu thời trung hưng đặt bảo Trấn Di ở phía Bắc sông Ba Thắc, tức sông này."[2]
Hình thành
Theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán nhà Nguyễn thì, đất Sóc Trăng xưa thuộc đất Ba Thắc (Bassac), thuộc Chân Lạp. Trước khi chính quyền chúa Nguyễn chính thức tiếp quản vùng đất này, năm 1739, từ Hà Tiên, Mạc Thiên Tứ khai thác tiến về phía sông Hậu, lập thêm bốn đạo Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang, Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di (Sóc Trăng). Trong đó, Trấn Di thuộc đất Ba Thắc và năm 1778, phủ Ba Thắc thuộc quyền quản hạt của dinh Long Hồ.
Tháng 10, mùa đông năm Kỷ Hợi (1779), chúa Nguyễn Ánh cho họa đồ chia cắt địa giới 3 dinh Trấn Biên (Biên Hòa), Phiên Trấn (Gia Định) và Long Hồ (sau gồm Vĩnh Long - An Giang) cho liền lạc nhau. Hai vùng Srok Khl’eang và Préah Trapeang nằm trong dinh Long Hồ. Dinh này ban đầu đặt lỵ sở ở Cái Bè (thôn An Bình Đông, Cái Bè ngày nay), sau dời qua ấp Long An, thôn Long Hồ. Sau đó lại dời đến bãi Bà Lúa (trên cù lao Hoàng Trấn), đổi tên thành dinh Hoằng Trấn. Năm Canh Tý (1780), chúa Nguyễn lo ngại ở đây có nhiều người Khmer, nếu có biến thì bãi Bà Lúa quá xa không ứng phó kịp, nên đổi thành dinh Vĩnh Trấn, và dời trị sở về thôn Long Hồ (TP. Vĩnh Long ngày nay).
Đại Nam nhất thống chí viết rằng: Đất Ba Thắc (sau là phủ Ba Xuyên tỉnh An Giang) nguyên là đất Cao Miên, đến đầu thời trung hưng cơ nghiệp chúa Nguyễn của Nguyễn Ánh (tức là khoảng sau năm 1788, sau khi lấy lại được vùng đất Nam Hà (Miền Nam Việt Nam) từ tay nhà Tây Sơn), Nguyễn Ánh lập đất đó thành phủ An Biên và cho người Man (người Cao Miên) lập đồn điền ở đây. Đến năm Nhâm Tý (1792) Nặc Ấn (Ang Eng tức Narayanaraja III (1779-1796)) từ Xiêm La trở về Cao Miên. Nguyễn Ánh cắt đất Ba Thắc trả về cho Nặc Ấn. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), quan phiên (người Cao Miên) là Trà Long xin đặt quan cai trị [đất ấy], Minh Mạng liền đổi tên phủ là Ba Xuyên và cho đặt chức an phủ sứ để quản phủ này.[3] (Phủ An Biên (có lẽ thuộc dinh Vĩnh Trấn) này có lẽ là khác với phủ An Biên của Hà Tiên (tỉnh) nhà Nguyễn chỉ mới đặt ra vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826)[4].) Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu viết: "....Con Tôn là Ấn thay lên làm vua, nước Trà Và đến xâm lược, Ấn chạy sang nước Xiêm ở bên ấy. Sai Chiêu Trùy Biện giữ nước. Đến lúc Ấn về lập tức sai sứ đem phương vật sang cống ta. Vua cho đất Ba Thắc (năm Minh Mệnh thứ 16 lại đặt chỗ này làm phủ Ba Xuyên)..."[5]. Như vậy, đất Ba Thắc của Cao Miên, bắt đầu thuộc chúa Nguyễn (do Nặc Ong Nhuận (Ang Tong tức vua Ramathipadi II), (khoảng năm 1756-1757) dâng cho chúa Nguyễn Phúc Khoát cùng với đất Trà Vinh[6]) giai đoạn 1757-1792; rồi lại về Cao Miên giai đoạn 1792-1835; đến sau đó lại thuộc Việt Nam (thuộc tỉnh An Giang nhà Nguyễn).
Đến năm Gia Long thứ 7 (1808), dinh Vĩnh Trấn đổi thành trấn Vĩnh Thanh[7], đất Nam Hà thuộc nhà Nguyễn được lập thành 5 trấn là: (Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên). Trấn Vĩnh Thanh (tức Vĩnh Trấn) gồm 1 phủ (trước là châu) là Định Viễn và 3 huyện là Vĩnh An (trước là tổng Bình An), Vĩnh Bình (trước là tổng Bình Dương), Tân An. Hai vùng Srok Khl’eang và Préah Trapeang nằm trong huyện Vĩnh Bình[cần dẫn nguồn]. Năm 1820, trấn Vĩnh Thanh có 1 phủ (Định Viễn) là 4 huyện Vĩnh Bình, Vĩnh An, Vĩnh Định và Tân An. Srok Treang thuộc huyện Vĩnh Định[cần dẫn nguồn]. Năm Minh Mạng thứ 13 Nhâm Thìn (1832), trong cuộc cải cách hành chính lớn nhất thời nhà Nguyễn độc lập, Minh Mạng chia 5 trấn Nam Kỳ thành 6 tỉnh, riêng trấn Vĩnh Thanh được chia thành 2 tỉnh: Vĩnh Long và An Giang.
Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà Nguyễn thành lập phủ Ba Xuyên cho thuộc vào tỉnh An Giang (tỉnh An Giang nhà Nguyễn), từ đất Ba Thắc cũ. Đất Ba Thắc cũ chia thành 2 huyện Phong Nhiêu và Phong Thịnh. Đồng thời nhập thêm huyện Vĩnh Định của tỉnh Vĩnh Long vào phủ Ba Xuyên, khiến phủ Ba Xuyên có 3 huyện là Phong Nhiêu (Bãi Xàu), Phong Thạnh (Nhu Gia) và Vĩnh Định (Ba Xuyên)[cần dẫn nguồn].
Thời Pháp thuộc, Pháp bãi bỏ Lục tỉnh, chia Nam kỳ ra làm 4 khu vục với 19 hạt (arrondissement). Sóc Trăng được thành lập và trở thành một trong 19 hạt của Nam Kỳ bấy giờ. Tuy nhiên không lâu sau thì chính quyền Pháp tái lập tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng trở thành một phần của tỉnh Bạc Liêu. Đến năm 1953, tỉnh Sóc Trăng được thành lập trên cơ sở gồm 5 quận Sóc Trăng, Kế Sách, Long Phú, Lịch Hội Thượng và Thạnh Trị.
Năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa sát nhập Bạc Liêu và Sóc Trăng, lập thành tỉnh Ba Xuyên, còn tỉnh lỵ có tên là Khánh Hưng. Đến năm 1957, tỉnh Ba Xuyên bao gồm 8 quận, 16 tổng, 73 xã:
Quận Châu Thành có 12 xã; quận lị: Mỹ Xuyên. Gồm 2 tổng: Nhiêu Khánh, Nhiêu Hòa.
Quận Thạnh Trị có 12 xã; quận lị: Thạnh Trị. Gồm 3 tổng: Thạnh An, Thạnh Lộc, Thạnh Lợi.
Quận Long Phú có 12 xã; quận lị: Long Phú. Gồm 2 tổng: Định Hòa, Định Mỹ.
Quận Giá Rai có 4 xã; quận lị: Phong Thịnh. Gồm 1 tổng: Long Thủy.
Quận Vĩnh Lợi có 9 xã; quận lị: Vĩnh Lợi. Gồm 2 tổng: Thạnh Hòa, Thạnh Hưng.
Quận Bố Thảo có 8 xã; quận lị: Thuận Hòa rồi chuyển sang Thuận Phú. Gồm 2 tổng: Thuận Phú, Thuận Mỹ.
Quận Lịch Hội Thượng có 8 xã; quận lị: Lịch Hội Thượng. Gồm 2 tổng: Định Chí, Định Phước.
Quận Phước Long có 8 xã; quận lị: Phước Long. Gồm 2 tổng: Thanh Bình, Thanh Yên.
Năm 1958: sắp xếp lại còn 7 quận, 14 tổng, 68 xã: quận Châu Thành đổi thành Mỹ Xuyên, quận Bố Thảo đổi thành Thuận Hòa, bỏ quận Lịch Hội Thượng, quận Thạnh Trị bỏ tổng Thạnh Lợi, quận Long Phú có thêm tổng Định Phước.
Năm 1964, chính quyền VIệt Nam Cộng hòa tách một phần tỉnh Ba Xuyên để tái lập tỉnh Bạc Liêu. Năm 1968, chuyển quận Kế Sách từ tỉnh Phong Dinh sang tỉnh Ba Xuyên.
Tháng 2 năm 1976, tỉnh Ba Xuyên và tỉnh Phong Dinh hợp nhất thành tỉnh Hậu Giang.
Từ 26 tháng 12 năm 1991, tỉnh Sóc Trăng được tái lập từ tỉnh Hậu Giang.
Di tích
Bửu Sơn tự (hay chùa Đất Sét): Đây là một am thờ đã qua nhiều đời của dòng tộc họ Ngô, có tất cả tượng Phật đến linh thú, bảo tháp, đỉnh trầm đều được làm từ đất sét. Phần lớn do ông Ngô Kim Tòng sáng tạo trong suốt 42 năm (1928-1970).
Ngoài ra, trong chùa còn có 6 cây nến lớn hai cây nặng 200kg hai cây nến nhỏ nặng 100kg và 3 cái đỉnh bằng đất mõi cái cao 2m.hai cây nến nhỏ đã đốt liên tục trong 40 năm kể từ năm 1970 khi ông Ngô Kim Tòng qua đời. Sáu cây nến lớn chưa đốt, mỗi cây sẽ có thời gian cháy liên tục khoảng 70 năm.
Chùa Mã Tộc (hay chùa Dơi): Chùa được xây dựng cách đây 400 năm [cần dẫn nguồn]. Chùa còn có tên là chùa Dơi vì ngôi chùa này từ lâu đã là nơi trú ẩn của khoảng 1 triệu con dơi[cần dẫn nguồn], phần lớn có sải cánh 1-1,2 m, những con lớn nhất có sải cánh lên tới 1,5 m. chúng treo mình trên những cành cây chung quanh chùa để ngủ suốt ngày,đến chiều tối mới bắt đầu lần lượt bay đi kiếm ăn ở những nơi có nhiều vườn trái cây cách xa
Hòa An Hội Quán (chùa Ông Bổn): Chùa được xây dựng vào năm 1875.chùa thờ ông bổn(Bổn Đầu Công).Chùa được xây dựng với kiến trúc độc đáo của người hoa chất liệu toàn bằng đá, gỗ quý từ Trung Quốc chở qua. Di tích này được trải qua 7 đợt trùng tu nhưng vẫn giữ được những giá trị nghệ thuật kiến trúc.Rằm tháng giêng hàng năm nhân tết nguyên tiêu chùa đều có tổ chức lễ hội đấu đèn lồng.
Chú giải
^ [1]
^ Đại Nam nhất thống chí, quyển 30, tỉnh An Giang, trang
^ Đại Nam nhất thống chí, quyển 30, tỉnh An Giang, trang 156.
^ Đại Nam nhất thống chí, quyển 26, tỉnh Hà Tiên, trang 7.
^ Đại Việt địa dư toàn biên, trang 319.
^ Đại Việt địa dư toàn biên, Nguyễn Văn Siêu, Truyện nước Cao Man, trang 318.
^ Đại Nam nhất thống chí, quyển 29, tỉnh Vĩnh Long, trang 117.
Trích lược: Wikipedia
https://www.facebook.com/media/set/?...7802174&type=1
-
Ông chánh bái ca công cầm nhành dương nhúng vào tô nước rồi vảy nước ra xung quanh, vừa đọc to những lời cầu nguyện:
"Nhất xái thiên thanh" - Trời luôn thanh bình
"Nhị xái địa linh" - Đất thêm tươi tốt
"Tam xái nhơn trường" - Người sống muôn tuổi
"Tứ xái quỷ diệt hình" - Quỷ dữ bị tiêu diệt.
Đọc xong, ông chánh bái ca công đặt tô nước, cành dương trở lại bàn thờ, ông đánh ba hồi trống và xướng "ca công tiếp giá", lập tức đoàn hát bộ nổi chiêng trống rộ lên và chương trình hát bộ bắt đầu. Các tuồng hát bộ sau đây thường được diễn tại miếu bà: Trần Bình Trọng, Sát Thát, Lưu Kim Đính, Trưng Nữ Vương v.v...
http://vnthuquan.org/truyen/truyente...a3q3m3237n1n4n
-
Giới thiệu Thủy Tề Chúa Xứ Cổ Miếu Bạc Liêu
Hình Ảnh Thủy Tề Chúa Xứ Cổ Miếu Bạc Liêu
Hình Ảnh Miếu Bà Cửu Thiên ở Tp Trà Vinh - Trà Vinh
http://tyvn.vn/thang-tich-chuyen-muc-noi-dung/13
-
thiet ke web, Thue xe, thiet ke website, am thanh anh sang, cho thue am thanh anh sang
Thứ năm, 10 Tháng 5 2012 19:30 | Viết bởi Hoàng Minh
Gửi
Đất Sóc Trăng quê mùa nước mặn
Tôi ra Vàm Tấn chở nước về xài
Về nhà sau trước không ai
Hỏi ra em đã theo trai mất rồi
Sóc Trăng vùng đất ngày xưa tuy đồng chua nước mặn, nhưng có những ưu thế trời cho, dân lành lúa tốt, ruộng vườn mênh mông.Gửi
Sóc Trăng nước mặn đồng bằng
Dân lành lúa tốt, của hằng trời cho
Kế Sách, Ba Rinh, Xa Mo
Lắm vườn nhiều ruộng, không lo thất mùa
Ba Thắc địa danh đại diện cho Sóc Trăng xưa, vùng đất giồng gò cao, nhờ nước mưa, mỗi năm chỉ làm lúa một vụ mùa. Gạo Ba Thắc nổi tiếng thơm ngon.
Gặp cơm Ba Thắc thơm ngon
Chan nước mắm Hòn ăn chẳng muốn thôi
Ngày xưa hương vị của những món ăn Sóc Trăng vẫn lưu truyền trong dân gian qua những câu ca dao, khi ai đó một chuyến xuôi về lục tỉnh, món ăn rất dân dã mà mãi để lại trong lòng người nhiều ấn tượng không phai.
Ai về thẳng tới Năm Căn
Ghé ăn bánh hỏi Sóc Trăng, Bãi Xàu
Mắm nêm, chuối chát, khế, rau
Tôm càng Đại Ngãi cặp vào khó quên
Và người ta cũng không quên nhắm thêm một ly rượu mang một hương vị của một xứ sở từ con người Sóc Trăng hiếu khách.
Ngó lên trời mưa sa lác đác
Ngó xuống đất hạt cát nằm nghiêng
Rượu Ba Xuyên rót đãi người hiềnGửi
Trước là đãi bạn, sau giải phiền cho anh.
Quê hương Sóc Trăng, vùng đất hiền hòa, trải qua bao nỗi thăng trầm của lịch sử đã để lại trong lòng mọi người những dấu ấn không phai. Qua những câu ca dao, chúng ta càng thấy thấm đậm chất dân dã mộc mạc một thời xa xưa. Ngày nay tình hình kinh tế xã hội đã phát triển một đoạn đường dài, vùng đất Sóc Trăng đã thay đổi rất nhiều, từ cơ sở hạ tầng, nét văn hóa, nếp sinh hoạt. Xuyên suốt theo chiều dài lịch sử, nhiều câu chuyện, nhiều kỳ tích về con người, về vùng đất nầy được nói đến, từ thành thị đến nông thôn đã thay đổi hẳn diện mạo, nhưng những nét đặc trưng của Sóc Trăng thì không bao giờ thay đổi. Ai đó xa quê, ai đó xuôi về miền tây, nên có một chuyến ghé thăm Sóc Trăng.
Đến với tỉnh Sóc Trăng, điểm đầu tiên là thành phố Sóc Trăng, chúng ta vào bằng ba cửa ngỏ chính, theo tuyến quốc lộ 1A từ Cần Thơ – Sóc Trăng đi qua cổng Trà Men vào trung tâm thành phố, theo tuyến quốc lộ 1A từ Bạc Liêu – Sóc Trăng đi qua cổng Trà Tiêm, theo tuyến Nam Sông Hậu vào trung tâm thành phố theo tuyến quốc lộ 60.
GửiThành phố Sóc Trăng là tỉnh lỵ và là đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng của tỉnh Sóc Trăng. Dân số trên 174.000 người, trong đó có trên 60% người kinh, người Khmer chiếm 23,4% và người Hoa chiếm 16,4% có nét đặc trưng rất đặc sắc xuất phát từ truyền thống đoàn kết, gắn bó, sự hòa quyện giao thoa văn hóa tuyệt vời của 3 dân tộc Kinh, Hoa, Khmer. Các nơi tham quan gồm:
Chùa Dơi ở khóm 9 phường 3, có khuôn viên rộng trên 7ha, được xây dựng vào thế kỷ XVI. Mỗi ngày tại đây có khoảng 200 - 300 lượt khách đến hành hương, tham quan. Đến đây các bạn có thể tham gia các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, ngoạn cảnh trong không gian thanh tịnh, ngắm nhìn những kiến trúc, hoa văn đặc trưng của đồng bào Khmer Nam Bộ, đặc biệt là tận mắt nhìn đàn dơi tự nhiên hàng ngàn con ngụ cư trong khuôn viên chùa.
Chùa Khléang ở phường 6 được xây dựng vào thế kỷ XV trên diện tích rộng gần 4ha. Chùa có giá trị về mặtGửi kiến trúc, được trang trí bởi những đường nét hoa văn hài hòa, chạm khắc tinh vi, thể hiện sự giao thoa về nghệ thuật độc đáo của 3 dân tộc: Kinh, Hoa, Khmer. Cửa vào chính điện được mạ son thếp vàng, bộ kinh Phật được viết trên lá thốt nốt… đã làm nổi bật ngôi chùa cổ được công nhận di tích cấp quốc gia.
Chùa Đất Sét tại phường 5 được nhiều người tìm đến bởi những tượng được tạo từ Gửiđất sét như tháp Đa Bảo 13 tầng, cao 4,5m, tháp Bảo Tòa cao 2m, Lục Long đăng với sáu con rồng quay đầu ra chung quanh, đuôi chụm vào nhau, phía dưới là bông sen được phủ ngoài bằng nước sơn, kim nhũ. Bên cạnh những vật phẩm được làm bằng đất sét, trong chùa còn trưng bày 8 cây đèn cầy rất to, trong đó có 6 cây với trọng lượng 200kg/cây.
Thành phố Sóc Trăng còn có nhiều di tích thắng cảnh nổi tiếng như chùa Trà Tiêm ở phường 10, chùa Ông Bổn ở phường 1, Chùa La Hán ở Phường 8, Chùa Phước Nghiêm ở Phường 5 đặc trưng Phật giáo người Hoa, Nhà truyền thống văn hóa Khmer trên đường Nguyễn Chí Thanh, khu văn hóa hồ nước ngọt ở phường 6. Đặc biệt, thành phố Sóc Trăng còn là nơi tổ chức Lễ hội Óoc om boc – Hội đua ghe ngo truyền thống vào dịp rằm tháng 10 âm lịch hàng năm, là 1 trong 15 lễ hội lớn cả nước, thu hút vài chục ghe ngo các tỉnh đồng bằng Nam Bộ cùng hàng trăm ngàn du khách trong nước và quốc tế về Sóc Trăng trẩy hội. Những lời thơ như mời gọi, như tha thiết
Về Sóc Trăng nghe em
Ta đưa nhau đi dưới phố hoa đèn
Lễ hội mùa nầy, người đông như nước lũ.
Câu hỏi, câu chào, ôi sao quá thân quen
Đến với TP. Sóc Trăng, người ta còn được thưởng thức những món ngon đặc sản nổi tiếng không đâu bằng như : bún nước lèo, bún gỏi dà, lẩu mắm (đồng quê – hải sản), đặc biệt hai loại đặc sản bánh pía và lạp xưởng không thể thiếu trong giỏ quà tặng người thân.
Từ thành phố Sóc Trăng đi các huyện theo các tuyến hương lộ tỏa ra như hình sao, mỗi nơi có những nét đặc trưng riêng:
Đến với Vĩnh Châu ấn tượng nhất là cái nắng gió vùng biển và nét đẹp những cô gái Khmer da nâu tóc vàng, những chàng trai tóc quăn da đen, ai đó đã viết lên những câu thơ: Gửi
“Về Vĩnh Châu nên nước da cũng đen”
Bởi nắng quá và mèng ơi gió quá
Trong tao tác nghe có điều rất lạ
Như lâu rồi sông nước đã thân quen
Hay
Vĩnh Châu gió muối nắng hè
Tóc em một thuở vàng hoe bụi đường
Những người nơi ấy thân thương
Con tôm hạt lúa vấn vương cả đời.
GửiĐúng vậy lời thơ đã nói lên một nét cơ bản của Vĩnh Châu, vì đây là vùng nuôi tôm lớn nhất tỉnh. Xưa kia, người ta quen gọi Vĩnh Châu là quận Trà Nho, nay gọi là thị xã Vĩnh Châu, nơi đây cộng đồng lâu đời người Việt, người Khmer, người Hoa vẫn giữ được bản sắc văn hóa riêng, thông thường ở đây người ta nói được cả 3 thứ tiếng. Vĩnh Châu có bờ biển dài hơn 43 km, nên ngành thủy sản rất phát triển, ngoài hải sản đánh bắt được ngoài biển, nghề nuôi tôm sú đã phát triển nhiều năm nay. Đặc biệt, hành tím là đặc sản đặc trưng vùng này, tiêu thụ cả vùng và xuất cảng sang các nước lân cận. Đến Vĩnh Châu, ra về ai cũng không quên mua vài kí củ hành tím và củ cải muối về làm quà cho bà con.
Đến với Ngã Năm, nghe qua cái tên gọi dân gian đã lâu đời chúng ta cũng đoán được địa danh của vùng nầy.Gửi Huyện lỵ nằm tại thị trấn Ngã Năm, là giao điểm của năm nhánh sông. Do đó nói đến Ngã Năm không ai không biết đến chợ nổi Ngã Năm, vườn cò Tân Long là những điểm du lịch có món cháo cò trụng với năn rất hấp dẫn. Ngoài ra, Ngã Năm cũng rất nổi tiếng với mắm cá lóc, mắm cá rô không xương và rượu đế ST được nhiều người trong, ngoài tỉnh ưa thích. Có lời thơ chan chứa tình quê đôi với Ngã Năm
Mắm chưng hột vịt thịt bằm
Thương sao hương vị Ngã Năm quê mình
Dòng sông và những hành trình
Chia ra năm ngã nặng tình quê hương
Nền kinh tế chủ yếu là trồng lúa, cơ sở công nghiệp lớn nhất là khu nhà máy xay xát hiện đại do Vương Quốc Đan Mạch tài trợ và tới đây Tổng công ty lương thực miền Nam sẽ hình thành một cụm nhà máy xay xát còn bề thế hơn. Đến Ngã Năm đừng quên mua vài kí mắm lóc, mắm cá rô về làm quà cho bà con.
Đến với Kế Sách là đến với một huyện có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, có nhiều cù lao, cồn bãi Gửiđược phù sa sông Hậu bồi đắp nên có lợi thế để phát triển vườn cây ăn trái với nhiều loại như: Cam sành Ba Trinh, mít nghệ An Mỹ, bưởi da xanh Kế An, bưởi năm roi Kế Thành, chôm chôm Phong Nẫm, măng cụt An Lạc Tây...Về Kế Sách chúng ta luôn gặp những người dân hiền hòa hiếu khách, đặc biệt những chàng trai chân chất, những cô gái duyên dáng, miệng luôn cười, giọng nói ngọt lịm, tạo cho người đến một lần phải lưu luyến. Bởi vậy khi nói về Kế Sách người ta đúc kết bằng hai câu thơ:
Kế Sách là xứ trái cây
Con gái duyên dáng, con trai chân tình.
Đến với Châu Thành là đến với một huyện cửa ngỏ vào TP. Sóc Trăng, nơi có khuGửi công nghiệp lớn nhất tỉnh, khu công nghiệp An Nghiệp có sức thu hút trên 30 doanh nghiệp đã và đang đi vào hoạt động. Địa bàn huyện chủ yếu là sản xuất về nông nghiệp. Đặc biệt tại đây Gửilà nơi tập trung sản xuất hai món đặc sản nổi tiếng của tỉnh Sóc Trăng, đó là bánh pía và lạp xưởng Vũng Thơm. Theo tuyến quốc lộ 1A vào TP Sóc Trăng chúng ta gặp những hãng lớn như Tân Huê Viên, Quảng Trân, Mỹ Trân trưng bày chủ yếu hai sản phẩm độc đáo nầy. Dĩ nhiên đến Sóc Trăng dù bận rộn thế nào mà không mua vài kí lạp xưởng, dăm phong bánh pía là điều vô cùng thiếu sót.
Đến với Mỹ Xuyên đến một huyện chỉ cách TP. Sóc Trăng chừng 5km theo hướng biểnGửi Đông. Chợ Mỹ Xuyên khang trang ở trung tâm thị trấn, vòng ra sau chợ đi qua cầu Chà Và bắc trên con rạch nhỏ là tới khu phố với nhiều cơ quan hành chính của huyện. Dấu xưa còn lưu lại là những ngôi nhà kiểu Pháp, mái ngói, tường xây sơn vàng, phía trước là Gửicon đường nhựa chạy dọc con rạch uốn khúc mang tên Bãi Xàu. Khu thương cảng Bãi Xàu, ngày xưa là khu vực lớn, có nhà việc của hương chức, hội tề, có bưu điện, nhà máy xay lúa chạy bằng hơi nước do Pháp xây dựng, đặc biệt có công xi rượu Bảy Xàu nổi tiếng miền Tây. Ngày nay như các huyện lân cận Mỹ Xuyên là huyện sản xuất chủ yếu về nông nghiệp và nuôi tôm sú.
Đến Mỹ Xuyên có 2 món để chúng ta thưởng thức, đó là bò nướng ngói và bánh cóng Đại Tâm. Đây là loại bánh làm từ thịt heo băm nhuyễn, bột sắn và hột đậu xanh, với nước nắm chua ngọt. Ngoài ra cũng không quên mua một món khoái khẩu làm quà, đó là mắm tép Nhu Gia.
Đến với Trần Đề là đến với một huyện ven biển, dân chúng làm nghề đánh bắt hải sản, đây cũng là khu vực nuôiGửi tôm sú ứng dụng công nghệ cao. Cách trung tâm huyện khoảng 6 km là cảng cá Trần Đề với hàng trăm ghe tàu neo đậu chật kín, đa số là tàu đánh cá của Sóc Trăng, Trà Vinh, Cà Mau, Bà Rịa - Vũng Tàu nhộn nhịp đông vui. Dưới nước là tàu biển san sát, trên bờ lớp lớp xe đông Gửilạnh, từng tốp người cả đàn ông lẫn phụ nữ kẻ bốc xếp, người cân đong. Tàu đánh cá chiếc đưa tôm cá lên, chiếc mang dầu, nước đá, thức ăn xuống chuẩn bị chuyến đi biển dài ngày, chiếc nổ máy rẽ sóng ra khơi. Có khoảng 500 chiếc tàu đánh bắt xa bờ như vậy ra vô mỗi ngày. Ở đây có đầy đủ dịch vụ hậu cần tàu biển như xăng dầu, nước đá, thực phẩm, bốc xếp, đặc biệt thích hợp ghe tàu neo đậu tránh bão. Từ đây chỉ mất 30 phút là tôm cá vô nhà máy đông lạnh nhờ đường giao thông thuận lợi. Sau đó, thủy sản xuất khẩu cũng sẽ lên đường về cảng Sài Gòn qua đường Nam Sông Hậu vừa hoàn thành, rút ngắn thời gian 7-8 giờ so với trước đây. Đứng trên cầu cảng nhìn ra, cửa biển Trần Đề rộng mênh mông, không khó để hình dung khi dông gió nổi lên thì nơi đây nguy hiểm như thế nào, để rồi thấm thía cái tên Ba Xuyên tiền nhân đặt cho vùng đất này
Đến với Thạnh Trị một huyện nằm theo tuyến quốc lộ 1A, khu hành chinh nằm tại thị trấn Phú Lộc, nền kinh tếGửi chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, một số khu vực nuôi tôm càng xanh và cá đồng. Đến thăm Thạnh Trị, chắc hẳn du khách sẽ được thưởng thức món ăn đặc sản của vùng này, đó là khô trâu. Khô trâu Thạnh Trị được chế biến theo kiểu cổ truyền, thịt trâu bắp được lát thành những miếng mỏng lớn hơn bàn tay, tiếp theo là ướp gia vị vào gồm sả bằm, muối, tỏi, ớt,… khoảng nửa ngày cho ngấm. Sau đó đem phơi nắng hoặc sấy trong lò. Khô thành phẩm sẽ là những miếng khô thật mỏng, thơm lừng vị sả và mùi thịt trâu đặc trưng.
Đến với Mỹ Tú một huyện chủ yếu sản xuất về nông nghiệp, khu vực chịu phèn mặn và đầm lầy, do thổ nhưỡng Gửinhư thế cây tràm sinh sôi phát triển, nơi chúng ta nên tham quan là rừng tràm Mỹ Phước, nơi đây được bao bọc bởi hệ thống sông ngòi chằng chịt, cây cối um tùm. Trong kháng chiến, Khu Trung tâm của di tích là nơi diễn ra các cuộc họp, hội nghị để đưa ra nhiều quyết định quan trọng của cấp chỉ huy cao nhất Sóc Trăng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Khu căn cứ có tổng diện tích khoảng 310 ha, trong đó bao gồm: hầm nổi, hầm chìm, hội trường, nhà làm việc, rừng tràm bao bọc xung quanh. Hiện nay nơi đây là điểm du lịch rất thú vị đậm chất đồng quê dân dã. Do địa thế đầm lầy có một loài cây (họ cói) sinh sôi và phát triển mạnh trở thành nguồn kinh tế đáng kể cho địa phương, đó là cây bồn bồn, đọt non được làm thành dưa bồn bồn, một sản vật độc đáo của vùng đầm lầy đã trở thành món ăn khoái khẩu, mà nhiều người dân phương xa đến đây, vào quán phải gọi cho được món dưa bồn bồn hoặc phải tìm kiếm mua cho được mang về nhà.
Đến với Long Phú một huyện có ba lợi thế, sản xuất nông nghiệp, trồng lúa và vườn cây ăn trái ở các xã dọc sôngGửi Hậu. Trong đó, nhờ vào các yếu tố tự nhiên, ngành nuôi trồng thủy sản tương đối phát triển, Long Phú là một trong những huyện có diện tích nuôi trồng thủy sản (chủ yếu là tôm) lớn ở Sóc Trăng, là huyện được đầu tư xây dựng Trung tâm điện lực Long Phú tại xã Long Đức và sắp tới là thương cảng đặt tại thị trấn Đại Ngãi.
Dù chiến tranh đã lùi xa, tình hình kinh tế xã hội đã phát triển một đoạn đường dài, vùng đất Long Phú đã thay đổi rất nhiều, nhưng trong ký ức mọi người khi nhắc đến miền quê nầy vẫn không quên hình ảnh đẹp của những chàng trai cô gái gắn liền với những địa danh của một thời chiến tranh khốc liệt xa xưa như lời thơ ai đó đã viết:
Qua Rạch Già ghé thăm Long Phú
Lên Chợ Vàm về Phú Hữu thân thương
Đi trên sông nước quê hương
Nhớ anh du kích chống xuồng đánh Tây.
Gửi Đến với Cù Lao Dung một địa danh nghe hiền hoà dung dị, là một dãy cù lao chạy dọc trên sông Hậu đổ ra biển, càng về cuối càng nở phình ra để tạo thành 2 cửa sông lớn: Định An và Trần Đề. Cù Lao Dung xưa còn gọi là Cù Lao Hổ Châu, đến Cù Lao Dung cho thuyền chạy ven sông trong bầu không khí mát rượi của rừng bần, đi vào trong xóm chúng ta sẽ thấy những vùng mía bạt ngàn và những bờ bao ngoằn ngoèo xẻ dọc ngang nối liền các mảnh rẩy khu vườn. Các cô gái chăm sóc rẩy mía nước da trắng thùy mị, người dân ở đây hiếu khách, nam nữ đa số biết ca vọng cổ rất muồi mẫn. Nói đến Cù Lao Dung ngoài vùng chuyên canh cây mía người ta hay nhắc đến một đặc sản hiếm hoi đó là cá bống sao kho sả ớt hoặc canh chua cá bống sao nấu bần. Lời ca dao xưa người ta thường ngâm nga:
Gió đưa nhành trái la đà
Cù Lao Dung đó mấy xa cũng gần
Bống Sao đem nấu chua bần
Nặng mang tình đất nhẹ nâng tình ngườiGửi
Nếu ai có dịp về Cù Lao Dung một chuyến, đi thuyền ra bãi biển xem bà con thụt cá bống sao, lúc về nhớ chọn mua vài kí, hái vài trái bần rồi ghé quán ăn nhờ cô chủ nấu cho một nồi canh chua bần và kho với sả ớt, ăn với gạo lúa thơm Sóc Trăng, chắc chắn sẽ không có gì thú vị bằng.
Những năm gần đây sự giao lưu kinh tế văn hóa với các nước láng giềng trở thành bình thường gần gũi. Huyện Cù lao có số đông các cô gái lấy chồng xa xứ, điều gì đã khiến những cô gái tay lấm chân bùn, ở những vùng quê hiu hắt, chưa từng bước chân ra khỏi lũy tre làng, bờ ruộng, rẩy mía, dám vượt hàng ngàn cây số để kết hôn với người chồng không cùng ngôn ngữ, chênh lệch tuổi tác, vân vân và vân vân. Một anh bạn về thăm quê Cù Lao Dung, gặp người quen trong xóm hỏi thăm bé Tư, bé Ba... Anh đặt câu hỏi rồi bùi ngùi tự trả lời bằng nỗi xốn xang.
Về Cù Lao nghe xót trong lòng
Thương người em gái lấy chồng xứ xa
Ao sâu ruộng mía sau nhà
Tình quê theo mãi chuyến phà sang sông
GửiTrong trái tim mỗi người, tình yêu quê hương có lẽ là thứ tình cảm thiêng liêng nhất. Mỗi người sinh ra, ai cũng có cội nguồn, trong trái tim mình, ai cũng có một góc trời quê hương. Về Sóc Trăng là về lại với quê hương, dù gặp bao cay đắng ngọt bùi, nhưng chúng ta sẽ tìm được những kỷ niệm thật ngọt ngào, những tình cảm thật chân quê. Một chuyến về thăm Sóc Trăng, tham gia những ngày trẩy hội, ghé phố phường hoặc xuôi về tận những vùng quê, chắc chắn rằng chúng ta sẽ nhận ra trong lòng mình có một góc quê hương thật tuyệt vời, thật dễ thương.
HOÀNG MINH (CHS 68-75)
http://www.hoangdieusoctrang.com/hoa...soc-trang.html
-
Độc đáo nét kiến trúc chùa Ông
14:00 | 10/02/2016
|
(PetroTimes) - Từ lâu, chùa Minh Hương (hay còn gọi là chùa Ông, chùa Quan Thánh Đế quân) được xem là một trong những ngôi chùa linh thiêng bậc nhất Sài Gòn. Nơi đây là địa chỉ tâm linh quen thuộc của cộng đồng người Hoa, người Việt và cả du khách thập phương.
Chùa Minh Hương tọa lạc ở số 184 Hồng Bàng, P.12, Q.5, TP HCM. Sở dĩ Minh Hương được gọi là chùa Ông hay chùa Quan Thành Đế Quân là vì chùa thờ Quan Vân Trường ở chánh điện; đây cũng chính là tục thờ của người Hoa và nhiều người Việt.
Chùa Ông không quá bề thế về quy mô, chùa nằm yên tĩnh và uy nghiêm giữa khu trung tâm náo nhiệt của Q.5. Chính không gian thoát tục, cùng kiến trúc độc đáo và những câu chuyện tâm linh bí ẩn đã khoác lên ngôi chùa chiếc áo linh thiêng và lôi cuốn.
doc dao kien truc chua ong
Cửa vào chùa chùa Ông
Chúng tôi đến chùa vào một ngày thường cuối năm, không phải những ngày cao điểm lễ bái Rằm hay Mùng 1 nhưng khách đến viếng chùa vẫn khá đông. Có người thì chủ yếu đến tham quan, chụp ảnh, đó là những du khách nước ngoài. Người thì đến thấp hương lễ bái rất cung kính và thành tâm, họ là những người thường xuyên đến đây để cầu nguyện về chuyện kinh doanh buôn bán hằng ngày của họ.
Đến chùa Ông, ấn tượng đầu tiên đập ngay vào mắt đó chính là lối kiến trúc độc đáo chủ yếu bằng gốm và gỗ. Khắp nơi từ ngoài cổng, mái vòm đến các cột trong chùa đều chạm trổ hoa văn dày đặc. Đặc biệt là trên đỉnh mái chùa là mô hình phù điêu thu nhỏ bằng gốm sứ và phù điêu nghệ thuật cổng tam quan. Hai bên của hai mái vòm cong vút là tượng ông Tơ, bà Nguyệt vươn tay.
doc dao kien truc chua ong
Một phần kiến trúc độc đáo trước cửa chùa
doc dao kien truc chua ong
Một góc trên mái chùa
Chánh điện của chùa thờ bức tượng Quan Thánh Đế mặt đỏ râu dài, áo bào uy nghi. Bên phải có tượng thờ 5 bà Ngũ Hành và bên trái là tượng ông Bổn (ông Địa). Tượng Bồ tát Quán Thế Âm nằm ở bên trái khuôn viên chùa, tượng Phật Di Lặc thì được đặt bên phải, lúc nào cũng đèn nhang nghi ngút khói. Ngay bên trái cửa vào Chánh điện là tượng ngựa Xích Thố cao to, màu nâu đậm.
Bên trong chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ như: tượng thờ bằng gỗ lim có niên đại trên 300 năm, lư hương kiểu cổ, sư tử đá, giá trưng kích thương, các bộ bàn, ghế, giường, đồ gỗ xưa…
doc dao kien truc chua ong
Bên phải chánh điện chùa Ông
Một đặc điểm ấn tượng khác khuôn viên chùa là có hàng chục nén nhang vòng lớn hình chóp nón màu đỏ được treo lơ lửng trên đỉnh đầu.
Các nén hương này do Phật tử phát tâm tạ lễ, trên mỗi nén nhang có treo một mẫu giấy màu đỏ ghi lại lời cầu nguyện của chủ nhân gửi đến đấng linh thiêng. Họ thấp nhang rồi treo nó lên trần chùa. Mùi hương trầm cứ thế lan tỏa khắp nơi, vừa tôn thêm nét thiêng liêng huyền diệu vừa tạo nên nét tĩnh tâm đến lạ thường. Được biết là những nén nhang này thắp đến 2 tuần mới cháy hết…
doc dao kien truc chua ong
Chánh điện thờ Quan Công trong chùa
doc dao kien truc chua ong
Thờ ngựa Xích Thố
Theo quan sát của chúng tôi, anh Huy (40 tuổi, nhà ở quận 6) là người lễ bái thuần thục, nghiêm trang nhất trong các khách đến viếng chùa hôm ấy. Lễ xong, chúng tôi có đến trò chuyện với anh. Anh chia sẻ rằng rất hay đến chùa thấp hương, trước là cầu sự bình an cho mình và người thân, sau là cầu cho công việc kinh doanh được thuận lợi.
Hỏi vì sao chọn chùa này để cầu nguyện, anh Huy cho biết do anh có nhân duyên với chùa. Cách đây mấy năm anh tình cờ vào chùa, sau lần đó anh cảm thấy phù hợp, có niềm tin nên dần dần thường xuyên đến, dù chùa Ông không phải là địa chỉ tâm linh duy nhất của anh ở Sài Gòn này.
Còn chuyện chùa linh thiêng thế nào thì anh Huy bảo tùy vào niềm tin của mỗi người. Bản thân anh cũng nghe là chùa Ông rất linh thiêng, cầu được ước thấy, nhưng anh thì không dám khẳng định, chỉ biết mình thành tâm kính tin thì sẽ có kết quả tốt. Và bản thân anh cũng đã từng đạt được sở nguyện trong chuyện làm ăn.
doc dao kien truc chua ong
Trong chùa có rất nhiều đồ cổ
Được biết, vào những ngày Rằm, mùng 1 khách đến chùa rất đông; đặc biệt nhất là đêm Giao thừa và ngày Vía Quan Thánh Đế Quân 24/06 ÂL hàng năm thì khách đến đông nghẹt, đến mức không có chỗ để đứng.
Kỳ 2: Chùa Ông linh thiêng như thế nào?
http://petrotimes.vn/stores/news_dat...chua-ong_2.jpg
http://petrotimes.vn/doc-dao-net-kie...ng-382616.html
-
Nghỉ Dưỡng Trần Đề
Trần Đề là huyện ven biển của tỉnh Sóc Trăng.Trần Đề không chỉ có nền văn hóa ba dân tộc mà còn nổi tiếng với nhiều địa danh,di tích: Giồng Chát, Cảng cá Trần Đề, Chùa ông Bổn người Hoa, Nhà thờ Bãi Giá, Chùa Dơi,.. Hãy để Mytour hỗ trợ bạn để có 1 chuyến đi thú vị, tiết kiệm bằng cách đặt phòng khách sạn Trần Đề ngay bây giờ với giá từ VND.
-
Miễu Bà Ngũ Hành phường Bửu Hoà
-
-
-
https://www.youtube.com/watch?v=ERXwIhpBi4k
NGÀY VÍA "MẸ NAM HẢI" QUAN ÂM PHẬT ĐÀI TẠI BẠC LIÊU | Về miền tây
-
Ăn kiểm Vu lan thắng hội
18/08/2013 08:14 GMT+7
TT - Ở thị trấn Cầu Kè (huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh), mùa Vu lan có một món chay khá độc đáo, ai đã một lần thưởng thức đều tấm tắc ngợi khen. Đó là kiểm. Ngoài ra, ở vài tỉnh, thành phố khác cũng có điểm bán kiểm.
Ăn kiểm Vu lan thắng hội Phóng to
Thưởng thức kiểm bán trên vỉa hè đường Nguyễn Đình Chiểu, TP Cần Thơ - Ảnh: P.S.Lộc
Nhiều người dân ở Cầu Kè nói ăn kiểm tại nhà vẫn không ngon bằng tại chùa - chùa Ông Bổn. Chùa Ông Bổn là tên dân dã, tên chữ là Vạn Niên phong cung. Cung ở đây có nghĩa là miếu. Vu lan thắng hội ở Vạn Niên phong cung không diễn ra vào ngày rằm tháng 7 mà bắt đầu từ ngày 25 đến 28 tháng 7 âm lịch. Trong các ngày 25 đến 27, chùa liên tục tổ chức những buổi trai đàn, gọi “làm chay”. Bá tánh hàng chục ngàn người từ các tỉnh thành xa gần nô nức đến dự, xem ông Bổn với thế lực siêu nhiên rạch lưỡi, quất trái chông nhọn sắc quanh mình, múa kiếm... trong tiếng nhạc Tùa lầu cấu nôn nao, thúc giục, đều được dùng cơm chay hưởng lộc, trong đó có món kiểm.
Kiểm được làm từ bột khoai, bột báng, tàu hủ ky, khoai lang, phổ tai, nấm mèo, khoai cau, khoai mì, chuối xiêm chín, mít chín, cơm dừa, bí rợ... đặc biệt là sa kê, cùng nguyên liệu “cốt lõi” là nước dão dừa và nước cốt dừa. Tất cả các nguyên liệu trên cho vào nồi cùng nước dừa dão, muối, đường, hầm trên bếp. Kiểm chín tỏa mùi thơm béo, múc ra tô, chan nước cốt dừa, rắc đậu phộng rang (đã tách vỏ lụa) đâm sơ lên mặt.
Múc một muỗng củ quả này cho vào miệng, ta nghe vị ngọt của chuối xiêm chín, bí rợ, khoai lang, khoai cau và mít hầm rục; của những miếng tàu hủ ky dai thơm mùi khói bếp; của những hột bột báng nở tròn trơn tuột; những sợi cơm dừa, những cọng bột khoai giòn dai sần sật tê mê miệng lưỡi... Hòa trong vị ngọt mặn béo của nước cốt dừa là vị béo của đậu phộng rang nổ giòn trong răng. Nhưng nổi bật hơn hết là cái “vị không vị” của sa kê. Những miếng sa kê làn lạt, dai dai, khẽ nhai vị ngọt, vị mặn, vị béo của nước kiểm từ bên trong tiết ứa đầy vòm họng, càng ăn càng bắt mê.
Không biết kiểm có nghĩa là gì, là tiếng Việt hay tiếng Tiều (Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc) của đồng bào Hoa định cư hàng trăm năm tại vùng đất xa xôi của tỉnh Trà Vinh này? Có thể đoán kiểm là món ăn được thăng hoa từ món tàu thưng, có nghĩa canh đậu của người Tiều. Tàu thưng được nấu bằng đậu xanh hột, nhãn nhục, táo tàu... với nước dão dừa xiêm. Trong quá trình định cư tại đồng bằng sông Cửu Long, người Tiều lấy vợ người Việt để phụ trách nấu nướng. Từ đó món tàu thưng được các bà nội trợ Việt giản lược một số nguyên liệu, hòa trộn món bí hầm dừa thành kiểm, vừa giữ bản sắc ẩm thực Tiều vừa có nét văn hóa ẩm thực Việt đồng bằng sông Cửu Long - là nước cốt dừa.
Thưởng thức kiểm ở Vạn Niên phong cung ngon tuyệt là vì nguyên liệu tươi nguyên nấu trong chảo đụng. Kiểm còn được các bà thợ nấu dồn tâm dồn ý vào, những mong thánh thần phò trợ ông bà cha mẹ họ siêu sanh miền lạc cảnh, riêng gia đình họ làm ăn tấn tới trong suốt một năm dài. Có lẽ vì vậy mà món ăn “có thần” khiến ta luyến nhớ?
Đủ 4 thành phần
Nguyên tắc đầu tiên là thực phẩm phải đủ bốn thành phần của ô vuông thức ăn đó là: chất đường, chất đạm, chất béo và chất khoáng, vitamin. Dinh dưỡng học ví von “cái áo” thức ăn cần có vạt, tay, cổ và túi, nút áo, không được thừa hay thiếu.
Kiểm là món ăn chay nhưng đầy đủ bốn thành phần: chất đường (bột khoai, bột báng, chuối, đường...), chất đạm (tàu hủ ky, nấm, sa kê, đậu xanh, đậu phộng, ngũ cốc...), chất béo (dão, cốt dừa...), khoáng và vitamin (các loại trái...), nên chắc chắn là một thực phẩm chay rất thích hợp cho mọi người.
TS.BS TRẦN BÁ ThOẠI
http://static.new.tuoitre.vn/tto/i/s...8/pp4b2CLT.jpg
Thưởng thức kiểm bán trên vỉa hè đường Nguyễn Đình Chiểu, TP Cần Thơ - Ảnh: P.S.Lộc
-
-
https://www.youtube.com/watch?v=-fhxTSBi_oM
Le Nguyen Tieu - Chua Ong Te Bac Lieu 2014 (part 1)
Jason Ma
Jason Ma
-
Quan Vân Trường (nên còn được gọi là chùa Quan Đế Thánh quân). Ngoài thờ Quan Vân Trường, chùa còn thờ Quan Âm, năm bà Ngũ Hành, ông Bổn (ông Địa), ông Mã (ngựa Xích Thố)
https://anvietnam.net/2016/07/15/chu...a-ong-sai-gon/
-
Tín ngưỡng thờ Ông Bảo và nguyên tiêu thắng hội (03/07/2007)
Trần Dũng(*) Hằng năm, cứ sau tết Nguyên đán, vào dịp rằm tháng Giêng âm lịch, đông đảo bà con người Hoa khắp nơi trong tỉnh Trà Vinh, từ Cù lao Dung, Long Phú, Kế Sách bên kia sông Hậu, từ Thành phố Hồ Chí Minh và khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long lũ lượt bao xe, bao đò kéo nhau về Phước Thắng cung (chùa Ông Bảo) xã Đại An, (Trà Cú) cùng người dân địa phương trẩy hội Nguyên tiêu
Trần Dũng(*)
Hằng năm, cứ sau tết Nguyên đán, vào dịp rằm tháng Giêng âm lịch, đông đảo bà con người Hoa khắp nơi trong tỉnh Trà Vinh, từ Cù lao Dung, Long Phú, Kế Sách bên kia sông Hậu, từ Thành phố Hồ Chí Minh và khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long lũ lượt bao xe, bao đò kéo nhau về Phước Thắng cung (chùa Ông Bảo) xã Đại An, (Trà Cú) cùng người dân địa phương trẩy hội Nguyên tiêu. Nguyên tiêu thắng hội là một lễ hội dân gian truyền thống khá tiêu biểu của cộng đồng người Hoa trên đất Trà Vinh.
1. Thần phả, hành trạng Ông Bảo
Ông Bảo hay Bảo công, vị thần được thờ tại Phước Thắng cung, là cách gọi vắn tắt mà đầy lòng tôn kính của đồng bào người Hoa Trà Kha - Đại An dành cho Bảo sanh đại đế. Tương truyền, ngài sinh trưởng ở vùng Phúc Kiến, vào thời Xuân Thu bên Trung Quốc. Từ nhỏ, ngài tỏ rõ tư chất thông minh nên được các vị tiên trên núi dạy cho phép tiên và các thuật linh đơn. Vào tuổi thanh niên, ngài kết thân với Lâm Ngạc Nương (người sau này được sắc phong là Thiên Hậu nương nương) nhưng không lập gia đình mà rày đây mai đó, tiêu dao cùng cỏ cây mây nước và chẩn mạch, bốc thuốc cứu nhân độ thế. Danh tiếng ngài lẫy lừng khắp một miền Hoa hạ xuống tận Giang Nam. Tuy vậy, khi nghe tin thân mẫu mình lâm bệnh nặng, ngài vội vã trở về cố quán thì bà đã vĩnh viễn ra đi trước đó vài ngày. Thọ tang xong, buồn bã trong lòng, nghĩ bụng y thuật tiên ba cũng không cãi được số trời nên ngài cho tất cả sách vở, y cụ vào hòm khóa lại, đưa lên gác cất còn chìa khóa thì quăng giữa sông Hoàng Hà, thôi không theo đuổi nghề thuốc nữa.
Năm tháng qua mau, trăng tròn rồi trăng khuyết, hết đông rồi sang hạ, thấm thoát hơn chục mùa xuân đào nở, chim ca, ngài vẫn ẩn mình trong vách núi. Một bữa, từ dưới bến sông có tiếng kêu khóc xôn xao. Động lòng từ tâm, ngài lần dò bước chân xuống núi, mới hay người vợ trẻ của chàng ngư phủ đang hồi nguy kịch trong cơn vượt cạn khó khăn. Đã định trở về lều cỏ nhưng mấy lần chẳng thể quay bước trước sự khóc than, năn nỉ của dân làng, ngài lại xắn tay lo cho mẹ tròn con vuông. Chàng ngư phủ vui mừng khôn tả, ngày hôm sau ra sông Hoàng Hà câu con cá chép lớn mang lên núi tặng vị đại phu. Nhận quà tạ ơn, hôm sau, ngài mang cá ra bờ sông phóng sinh nhưng lạ thay, trước khi từ biệt, cá chép cứ nhìn ngài chăm chú. Ngài đưa tay xuống nước thì trong miệng cá nhả ra chiếc chìa khóa như món quà tạ ơn mà khi nhìn kỹ, ngài kinh ngạc nhận ra đó chính là chiếc chìa khóa mà hơn mười năm trước mình đã từng quẳng đi.
Biết rằng số trời đã định, ngài trở về lều cỏ, vác chiếc hòm xuống, đêm chong đèn đọc sách, ngày lên rừng hái thuốc, tiếp tục cuộc đời rày đây mai đó, chẩn mạch bốc thuốc cứu người. Năm đó, thái hậu đương triều lâm bệnh nặng mà các ngự y danh tiếng chốn triều trung đều vô phương thúc thủ. Nghe danh, vua truyền triệu ngài vào cung chẩn đoán. Ba lần nhà vua bày trò thử thách, ngài đều bình thản vượt qua. Lần thứ nhất, vua cho buộc sợi chỉ vào chân giường trong cung cấm, rồi cho người kéo đầu kia sợi chỉ ra ngoài sân cho ngài ngồi nghe mạch. Tuy cầm sợi chỉ, miệng mỉm cười, ngài bảo: "Mạch mộc, chẳng phải mạch nhân!"; Lần thứ hai, vua cho buộc sợi chỉ vào tay cung nữ. Ngoài kia, ngài bảo: "Mạch nhi, chẳng phải mạch lão!"; Lần thứ ba, vua cho buộc sợi chỉ vào tay viên thái giám. Ngoài kia, ngài bảo: "Mạch trung, không phải mạch nữ!". Cuối cùng, tin tài phục đức, vua cho buộc chỉ vào đúng tay thái hậu. Ngài nghe mạch rồi bốc ba thang thuốc. Thái hậu uống xong, liền khỏi. Nhà vua và triều thần mừng rỡ truyền ban thưởng, mới hay ngài đã lẳng lặng hồi hương khi nào mà chẳng ai hay biết. Quân lính, theo lệnh vua, ùn ùn mang lễ vật theo tạ ơn. Bỏ ngoài tai chuyện lợi danh, ngài lánh sâu vào rừng núi và chết khô trên cây đại thụ để khỏi vương vào vòng xa hoa phù phiếm. Lá, thân, rễ cây đại thụ ấy trở thành vị thuốc chữa bách bệnh. Cảm công đức ngài, vua sắc phong mỹ hiệu Bảo sanh đại đế, truyền cho thần dân trăm họ thờ ngài như vị thần cai quản về sinh mạng, sức khỏe con người.
Con người, nhất là con người nông nghiệp lạc hậu, ai mà không quan tâm đến vấn đề sống chết, sức khỏe và không tin tưởng vào vị thần có sứ mệnh cai quản những vấn đề trọng đại ấy. Thần Bảo sanh đại đế, vừa là một vị thần của tín ngưỡng dân gian, vừa xem qua thần phả và hành trạng rõ ràng mang dáng dấp khá tiêu biểu của Lão giáo, một trong ba tôn giáo lớn trong lịch sử Trung Hoa.
Khi di cư sang các nước Đông Nam Á, trong đó có Nam Bộ Việt Nam, cũng là những nước văn minh nông nghiệp, người Hoa mang theo cả vị thần Bảo sanh của mình và nhanh chóng được cả cộng đồng cư dân bản địa cùng tôn thờ.
2. Kiến trúc, phối tự của chùa Ông Bảo Đại An
Chùa Ông Bảo, hay Phước Thắng cung, là một cơ sở tín ngưỡng quan trọng của đồng bào người Hoa tỉnh Trà Vinh, tọa lạc tại ấp Mé Rạch, xã Đại An, huyện Trà Cú, cách chợ Trà Kha hơn cây số về hướng tây. Trà Kha là chợ xã Đại An, nơi đây có một quần cư thuộc loại sung túc nhất của Hoa kiều Trà Vinh, với hàng trăm hộ mang nguồn gốc Triều Châu, Phước Kiến, Quảng Đông... Làm ăn, sinh sống trên đất Việt, hòa đồng nếp ăn, nếp ở với cộng đồng người Việt, người Khmer chung quanh nhưng người Hoa Trà Kha vẫn giữ gìn nhiều phong tục, tập quán truyền thống như một bản sắc văn hóa dân tộc.
Nơi được đồng bào người Hoa Trà Kha chọn xây dựng chùa Ông Bảo là một vuông đất gò cao ráo, có nhiều cây sao, dầu cổ thụ, nhìn ra con sông nhỏ, vốn là chi lưu của dòng sông Hậu, theo đúng thuật phong thủy. Ngôi chùa được xây dựng đúng theo lối kiến trúc truyền thống của người Hoa, với ngôi tiền sảnh, chánh cung, hậu cung, tất cả trên cùng một trục, mặt nhìn về hướng nam. Từ ngoài nhìn vào, trước tiên là ngôi tiền sảnh, rộng rãi, khoáng đạt dùng để bà con thập phương đến chiêm bái, cúng kiến. Phía ngoài tiền sảnh có đặt bia đá ghi công đức của những người hằng tâm hằng sản dâng cúng xây dựng, trùng tu ngôi chùa. Phía trong cùng là hậu cung giống như kho chứa xe nhà giàn, đồ cúng tế... Ngay trên cửa chính tiền sảnh có đặt bức hoành phi với ba chữ Phước thắng cung theo lối đại triện. Hai bên cửa là cặp câu đối ca tụng công đức của đức ông Bảo sanh:
Cứu cấp thừa nguy diệu diện giảng liều ân tứ tạo;
Hành nhơn phước tụng từ vân phổ biến lợi quần sanh.
Ở cặp cột chính chánh cung, ngay trước bài vị đức ông cũng có cặp câu đối:
Bảo dục quần sanh công đoài đại đế;
Quảng thi phước đức ân ngưỡng tôn vương.
Màu sắc chủ đạo trong nội thất tiền sảnh, chánh cung chùa Ông Bảo là màu đỏ truyền thống của người Hoa. Ở mỗi thân cột, đều có chạm nổi hình rồng theo môtíp rồng mây gặp hội.
Từ chánh cung nhìn ra, hai phía tả hữu là Đông lang và Tây lang, vốn là nhà khói (nhà bếp) và nơi đãi ăn uống đối với khách thập phương đến chiêm bái. Phía sau hậu cung, nơi gò cao nhất của “cuộc đất” là miếu thờ sơn thần.
Tại ngôi chánh cung bài vị của Bảo sanh đại đế được thờ ở chính giữa, hai bên là bài vị của Quảng trạch tôn vương và Phúc đức chánh thần, tức là hai vị thần chuyên cai quản việc làm ăn tiền bạc và việc cội nguồn phước thiện lâu dài. Đây chính là bộ ba hình thành thế chân vạc giữ gìn cho cuộc sống con người được vững chãi bền lâu: Sức khỏe - tiền tài - phúc đức theo quan niệm truyền thống của người Trung Hoa. Và, cũng như ở mọi cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng khác của người Hoa, còn có một bộ ba khác cũng được phụng thờ ngay trong nội thất ngôi chánh cung là Quan thánh đế, Châu Xương, Quan Bình. Sự có mặt của Quan Công trong tất cả các nơi thờ tự của người Hoa khiến cho không ít người, kể cả các thế hệ người Hoa trẻ tuổi sau này, lầm tưởng Ông Bổn, Ông Bảo... chính là Quan thánh đế.
Dần dần, theo thời gian, những người có trách nhiệm trong Hội chùa Ông Bảo đã đưa thêm một số vị thần thánh, tiên Phật... vào cùng phối tự trong khuôn viên Phước Thắng cung. Dãy nhà Tây lang, vốn được dùng làm nơi họp hội và đãi đằng khách thập phương, nay được dùng làm nơi thờ Phật, theo thế tả cung hữu tự. Ở phía hoa viên bên kia lộ, một tượng Phật bà Quan thế âm cũng được dựng lên, do một phật tử Việt kiều về thăm quê, phát tâm cúng dường. Như vậy, trong khuôn viên ngôi chùa Ông Bảo đã có sự hiện diện của đầy đủ ba tôn giáo lớn là Lão giáo (ông Bảo), Khổng giáo (Quan công), Phật giáo (các vị Phật), theo tinh thần tam giáo đồng nguyên, đã chi phối một thời gian dài đời sống văn hóa tinh thần dân tộc Hoa cũng như dân tộc Việt trong lịch sử. Không những thế, ở góc xa hơn của phía Đông lang còn có một ngôi miếu thờ Neakta, một vị thần dân gian của người Khmer của nhiệm vụ bảo an phum sóc; ở góc khuôn viên phía Tây lang lại có ngôi miếu thờ bà Chúa Xứ, một vị thần dân gian mà người Việt vay mượn của người Chăm trên bước đường Nam tiến, có chức năng cứu hộ người đi trên sông, trên biển.
Hiện tượng phối tự nhiều đại biểu của các tôn giáo khác nhau trên cùng một cơ sở tôn giáo - tín ngưỡng là một biểu hiện của hiện tượng hỗn dung tín ngưỡng thường thấy ở Nam Bộ và, có lẽ, cũng là một phần tính cách con người Nam Bộ. Đất mới, người mới, môi trường cảnh quan mới, điều kiện sinh sống mới... khiến người ta không thể bảo thủ với tín ngưỡng, niềm tin mang tính cội nguồn của mình mà phải dang tay ra, đón nhận, hòa nhập, tích hợp, giao lưu với những tín ngưỡng, những vị thần thánh, tiên phật của các dân tộc anh em cùng cộng cư. Ngược lại, sự xuất hiện của các vị Neakta, bà Chúa xứ được trân trọng thờ kính... ngay trong khuôn viên ngôi chùa Ông Bảo đã giúp cho cơ sở tín ngưỡng này không chỉ là trung tâm sinh hoạt văn hóa tinh thần của bà con người Hoa mà còn được người Khmer, người Việt trong vùng coi như cơ sở tâm linh chung, mà mỗi người dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo cùng có trách nhiệm lui tới chăm sóc, chung tay nhau lúc hội hè, đình đám. Tình đoàn kết thắm thiết giữa các dân tộc càng được củng cố, tăng cường không chỉ trong cuộc sống lao động sản xuất, chiến đấu mà còn ngay trong đời sống tâm linh.
3. Nguyên tiêu thắng hội
Phước Thắng cung, tức chùa Ông Bảo, ở xã Đại An, huyện Trà Cú có khá nhiều cuộc cúng tế theo ngày vía đức ông Bảo sanh, đức ông Quảng trạch, đức ông Phúc đức, vía bà Chúa xứ, ngày cúng Neakta... Thế nhưng quan trọng nhất, được nhiều người biết đến nhất và được xem là một trong những lễ hội tiêu biểu của bà con người Hoa Nam Bộ là Nguyên tiêu thắng hội và lệ cúng Trùng cửu.
Lệ cúng Trùng cửu, hay Trùng dương, được cử hành trong chín ngày, chín đêm từ ngày cuối cùng của tháng Tám đến hết ngày mồng chín tháng chín âm lịch trong khuôn viên Phước Thắng cung. Đây là dịp để người Hoa các nơi tề tựu về cùng nhắc nhở nhau lưu truyền, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, vừa chiêm bái những vị thần chuyên trách về sức khỏe, tiền tài, phúc đức để cầu cho chuyện làm ăn hanh thông, cầu cho phong điều võ thuận, quốc thái dân an...
Nguyên tiêu thắng hội là một lễ hội tưng bừng được tiến hành trong hai ngày rằm và mồng sáu tháng Giêng âm lịch. Tuy trung tâm chính vẫn là ngôi chùa Ông Bảo nhưng địa bàn trẩy hội mở rộng ra khắp xã Đại An, nay là hai xã Đại An và Định An. Vào trưa ngày rằm, hàng ngàn bà con người Hoa từ các huyện trong tỉnh Trà Vinh, từ Long Phú, Cù lao Dung, kế Sách bên kia sông Hậu, từ Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã hành hương về đây. Cùng lúc đó, hàng ngàn nam thanh nữ tú người Việt, người Khmer từ các xã trong huyện Trà Cú và các huyện lân cận cũng đổ về để được đắm mình trong không khí lễ hội. Ngôi chùa Ông Bảo được trang hoàng lộng lẫy, với màu đỏ là màu chủ đạo, cờ xí rợp trời.
Trưa ngày rằm, Ban trị sự hội chùa Ông Bảo, dưới sự hướng dẫn của vị cố vấn, tiến hành nghi thức khai đàn nhập hội. Ban trị sự cùng các bậc bô lão người Hoa địa phương hai hàng tựu vị trước án thờ Đức ông. Trong hương đăng nghi ngút, người ta dâng lên những bánh trái, hoa quả, thức ăn chai lạt và kính báo đức ông đêm Nguyên tiêu đã đến, cung thỉnh Đức ông về ngự và chuẩn bị các nghi thức rước lộc thánh. Sau khi Ban trị sự lui ra, người dân địa phương và khách thập phương đến chiêm bái, dâng cúng, van vái những điều lành cho năm mới hoặc tạ ơn về những điều tốt đẹp mà Đức ông đã ban cho trong năm qua. Việc cúng tế được kéo dài suốt buổi chiều ngày rằm tháng Giêng âm lịch.
Cùng lúc đó, người ta chuẩn bị các nghi thức rước lộc thánh. Đám rước bao gồm một kiệu hương đăng, một kiệu Đức ông (tượng trưng bằng chiếc lư hương cung thỉnh trên án thờ Đức ông), một kiệu âm binh. Đi đầu là một đoàn lân, rồi đến “bộ liệt” (do những vị trung niên có đức hạnh hóa trang thành Tam Tạng, Tề Thiên, Bát Giới, Sa Tăng) cùng một đạo âm binh thiên tướng tạo không khí vui nhộn. Đặc biệt, mỗi năm, đi theo đám rước đều có một linh vật cầm tinh trong năm âm lịch (năm nay là con gà trống) do nghệ nhân địa phương Trầm Kim Lại chế tạo bằng khung tre, dán giấy bồi. Kéo kiệu, bao giờ cũng là trai tráng, không phân biệt dân tộc, tôn giáo nhưng phải là người địa phương. Khi đám rước lộc thánh kéo từ chùa Ông Bảo (ấp Mé Rạch) ra đến cầu Trà Kha cũng là lúc hai đám rước khác từ chùa Ông Quan (thờ Quan thánh đế - Giồng Đình, Định An) và từ chùa Ông Bắc (Cá Lóc, Định An) kéo tới hội lại thành đám rước chung. Trong nhịp trống lân giục giã, theo nhịp điệu vui mắt của “bộ liệt” và linh vật cầm tinh, dưới sự hộ tống của đạo âm binh thần tướng, trong tiếng reo hò của đám trẻ con đi theo, đám rước đến Bảo an miếu, cung thỉnh bà Thiên Hậu (tượng trưng bằng chiếc lư hương trong miếu thờ bà) lên đồng vị song song trên kiệu Đức ông. Đây chính là biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực xưa cũ, bao giờ có dương (Đức ông) cũng phải có âm (bà Thiên Hậu) mới có thể tạo ra sự sinh sôi, nảy nở, bảo đảm cho cuộc sống đầy đủ bền lâu. Đám rước cứ thế tiếp tục đến thất Cao đài, rồi quay lại chùa Nô Đôn (chùa Cò) như cùng cung thỉnh đại biểu các tôn giáo cùng dự cuộc vui của quần chúng để cùng nhau phù trợ cho người dân trong năm mới. Trên các nẻo đường mà đám rước đi qua, dân chúng, Hoa cũng như Việt, Khmer đều lập bàn hương án, khói hương nghi ngút trước cửa nhà. Đi đến đâu, đại diện chủ lễ ban phát lộc thánh bao gồm bánh trái cho trẻ con, liễn thờ cho từng gia đình để mỗi người mỗi hộ đều được trọn năm sống trong sự chở che, phò trợ của Đức ông.
Trước đây, mỗi lần chuẩn bị vào đám rước Nguyên tiêu, Ông Bảo đều đạp đồng về nhập xác. Xác ông đi trên lửa đỏ, uống dầu phun lửa, dùng dao bén rạch lưỡi lấy máu vẽ bùa... Sau đó, xác ông theo đám rước đi khắp nơi để trấn áp ma quỷ, bảo vệ sự an lành cho người dân. Ngày nay, sau khi “xác ông” cũ chết đi, chưa có “xác mới” hữu duyên hữu phước để đức ông nhập về nên nghi thức này không được thực hiện.
Thực ra, đoạn đường mà đám rước đi qua cũng chỉ vài cây số nhưng do lượng người trẩy hội quá đông, có năm lên đến vài chục ngàn người mà mỗi gia đình đều muốn cung thỉnh Đức ông dừng trước hương án nhà mình vài phút nên khi đám rước trở về đến chùa Ông Bảo cũng đã là nửa đêm. Sau khi đưa ông Bảo, bà Thiên Hậu, Ông Quan, Ông Bắc và chư vị tiên Phật, thần linh khác cùng tề tựu trên án thờ trong chính cung, đông đảo người trẩy hội vui chơi suốt đêm trong hoa viên nhà chùa, dưới ánh trăng rằm lung linh huyền ảo.
Sáng ra, đám rước lại hình thành để cùng tiễn bà Thiên Hậu, Ông Quan, Ông Bắc và chư vị tiên Phật, thần linh khác trở về nơi đã được cung thỉnh tối qua. Ban quản trị, bà con địa phương và khách thập phương trẩy hội lại trở về Phước Thắng cung chiêm bái, cầu nguyện Đức ông lần nữa cho chuyện làm ăn, tài lộc, sức khỏe, phúc đức bản thân, gia đình, làng xóm được hanh thông vuông tròn và hẹn nhau mùa trẩy hội Nguyên tiêu năm sau.
T.D
(Theo: Thông báo văn hoá dân gian 2005, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006)
(*) Sở Văn hóa - Thông tin Trà Vinh.
BẢN QUYỀN VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Giấy phép số 197/GP-BC do Bộ VHTT cấp ngày 27/10/2005
Địa chỉ: Số 1 - Liễu Giai - Ba Đình - Hà Nội
Điện thoại: 04.62730768
Email: banbientapj@vass.gov.vn
In bài viết
Đóng lại
http://vncvanhoa.vass.gov.vn/UserCon...5-1ebadc8612da
-
-
-
https://www.youtube.com/watch?v=MU9LjGxD1O8
hoa cài mái tóc.(bá đạo)chỉ có ở sóc trăng
-
Trong Tỉnh Phong Dinh có 550 Tăng Ni
- 20 Tăng ở 13 chùa Cổ sơn môn và Lục Hoà Tăng
https://hoavouu.com/a24028/phan-thu-ba-a
-
TĨNH GIÁO HỘI BA XUYÊN
(báo cáo ngày 29. 4. 1970)
Tỉnh Ba Xuyên thuộc miền Khánh Anh; ruộng đất phong phú, sinh lầy và sông rạch nhiều. Dân chúng chất phát hiền lành, chỉ sống nghề nông phu cáy. Tỉnh Ba Xuyên có nhiều giáo phái .
TOÀN TỈNH
- 6 Chùa Ông Bổn
https://hoavouu.com/a24028/phan-thu-ba-a
-
-
Mới nhất
Bi hài những "khách sạn giường tầng" ở Hà Nội
Sập trường do động đất, 21 trẻ em tại Mexico thiệt mạng
Mùi thuốc trừ sâu nồng nặc sau đám cháy, nhiều học sinh phải nghỉ học
Ngoại trưởng Sergey Lavrov: Đã đến lúc hàn gắn lại quan hệ Nga-Mỹ
Khoe bút súng, bắn trọng thương bạn nhậu
Ngày 20/09/2017
Thời sự - Chính trị
"Ngâm"... quyết định giải quyết khiếu nại của dân 11 năm
15:16 14/04/2011
Ông Dủ thắc mắc quyết định ban hành từ năm 2000 (tính đến nay là 11 năm) nhưng gia đình ông không hề nhận được thì Chủ tịch UBND thị trấn Lịch Hội Thượng cho rằng quyết định giao cho ông Dủ mà thị trấn giao hôm nay là để tham khảo chứ không phải là tống đạt quyết định (?!).
Ông Trịnh Xái Dủ (73 tuổi, ngụ tại ấp Châu Thành, thị trấn Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề, Sóc Trăng) làm đơn gửi Báo CAND; các cơ quan chức năng của huyện Trần Đề và tỉnh Sóc Trăng, đề nghị làm sáng tỏ việc chính quyền địa phương "ngâm" quyết định giải quyết khiếu nại của ông đúng 11 năm.
Theo trình bày của ông Dủ, gia đình ông có phần đất diện tích 27m x 63m tọa lạc tại ấp Châu Thành, xã Lịch Hội Thượng, huyện Long Phú (tháng 4/2010, xã Lịch Hội Thượng được chuyển thành thị trấn Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề). Phần đất này là đất của ông nội ông Dủ là Trịnh Minh, cầm cố của ông Trần Tính từ năm 1915, trên đó có 3 căn nhà, sau giao lại cho ông Trịnh Liếm (cha ruột ông Dủ) quản lý và sau này là ông Dủ tiếp tục quản lý...
Ông Trịnh Xái Dủ.
Sau 1975, phần đất trên ông Dủ vẫn quản lý và sử dụng làm kho chứa lúa, nấu rượu và nuôi heo. Đến năm 1990, chính quyền xã Lịch Hội Thượng yêu cầu ông phải di dời vì ô nhiễm và cho rằng đất này là đất công sản. Kể từ thời gian đó, toàn bộ khu đất nói trên bỏ trống, ông Dủ cho Ban quản trị chùa ông Bổn dùng làm sân đốt vàng mã và đậu xe cho bà con vào chùa. Cũng từ năm đó đến nay, ông Dủ nhiều lần làm đơn khiếu nại yêu cầu trả lại phần đất nói trên nhưng không hề nhận được hồi âm.
Vào đầu tháng 3/2011, UBND thị trấn Lịch Hội Thượng cho tráng lại khu đất nói trên thì bị ông Dủ ngăn cản với lý do đất ông đang khiếu nại chưa được giải quyết. Ngày 23/3, UBND thị trấn Lịch Hội Thượng mời ông Dủ đến trụ sở UBND thị trấn trao cho ông Quyết định giải quyết khiếu nại của… UBND huyện Long Phú ký ngày 31/3/2000.
Khi ông Dủ thắc mắc bởi quyết định ban hành từ năm 2000 nhưng gia đình ông không hề nhận được thì ông Trịnh Văn Bé - Chủ tịch UBND thị trấn Lịch Hội Thượng cho rằng quyết định giao cho ông Dủ mà thị trấn giao hôm nay là để ông Dủ tham khảo chứ không phải là tống đạt quyết định (?!). Khi ông Dủ yêu cầu kiểm tra lại hồ sơ lưu để biết quyết định đã tống đạt cho gia đình ông hay chưa thì không được đáp ứng.
Ông Trịnh Xái Dủ nói: "Tôi khiếu nại từ đó đến nay không hề nhận được quyết định giải quyết, bây giờ mới đưa quyết định ra là hoàn toàn sai trái vì quyết định đó đã đẩy gia đình tôi vào thế không thể khiếu nại bởi đã hết thời hiệu. Nhưng tôi vẫn khiếu nại bởi tôi chưa hề nhận được quyết định này. Nếu nhận được thì tôi đã khiếu nại lên UBND tỉnh để yêu cầu giải quyết". Như vậy, quyết định giải quyết khiếu nại của UBND huyện Long Phú (nay là huyện Trần Đề), bị chính quyền địa phương "ém nhẹm" suốt 11 năm nay, không tống đạt đến ông Trịnh Xái Dủ (?!).
Đề nghị UBND thị trấn Lịch Hội Thượng và UBND huyện Trần Đề cần xem xét lại vụ việc để giải quyết một cách thấu đáo
N.Thơ - C.X.
http://cand.com.vn/thoi-su/Ngam-quye...11-nam-177119/
-
Những nơi có đông đảo người Hoa tại miền Nam, như: TP. Hồ Chí Minh (quận 1, 5, 6, 11); tỉnh Tiền Giang, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Minh Hải đều có chùa chiền. Có điểm tập trung tu sĩ người Hoa đến tạm cư như trường hợp chùa Ông Bổn tại TP. Hồ Chí Minh. Về phương diện tín ngưỡng, trước khi những chùa người Hoa chưa có hệ thống tổ chức tu trì truyền thống, thì hình thức tổ chức vẫn theo tín ngưỡng dân gian.
Tại thành phố TP. Hồ Chí Minh - Chợ Lớn, nhiều ngôi chùa người Hoa được thiết lập trong mấy thế kỷ nay như: Chùa Thiên Hậu (Quảng Đông), chùa Bà (Hải Nam), chùa Tịnh Phúc (Phúc Kiến), chùa Ông hay Tam Đỉnh (Phúc Châu, Phúc Kiến), chùa Quang Vân (Phúc Kiến Chợ Lớn), chùa Thánh Mẫu Hộ Phòng (Quảng Đông TP. Hồ Chí Minh), miếu Thiên Hậu Chợ Quán (Quảng Đông TP. Hồ Chí Minh) chùa Bà, TP. Hồ Chí Minh (Quảng Đông, TP. Hồ Chí Minh), Vũ Miếu Thất Bang (tất cả người Hoa), chùa Bảo Sơn (Phúc Kiến, TP. Hồ Chí Minh, Chợ Lớn), chùa Nhập Chính (Phúc Kiến TP. Hồ Chí Minh, Chợ Lớn), chùa Hoà Chính (Triều Châu), chùa Đạt Thịnh (Phúc Kiến TP. Hồ Chí Minh, Chợ Lớn), chùa Quan Âm Tống Tử (Phúc Kiến Chợ Lớn), đền Ngọc Hoàng Đa Kao (tất cả người Hoa), chùa Phượng Sơn (Hội thợ sắt), chùa Trúc Lâm (Việt gốc Hoa), chùa Báo Ân (Lão giáo gốc Hoa)... chùa Nam Phổ Đà (chùa Tổ). (theo Tsai Maw Kuey- Les Chinois au Sud Viet Nam).
Căn cứ theo di chỉ chùa Hoa, những chùa miếu được xem là cổ xưa nhất của người Hoa trong vùng TP. Hồ Chí Minh - Chợ Lớn phải kể đến: chùa Giác Lâm (do Lý Thoại Long, người Minh Hương xây năm 1744 tại Phú Thọ); chùa Gia Thạnh (do người Minh Hương xây năm 1789 tại Chợ Lớn), chùa Giác Viên (năm 1820), Quan Võ Miếu thờ Quan Công (do người Minh Hương dựng năm 1820 tại TP. Hồ Chí Minh), chùa bà Thiên Hậu (do người Phúc Kiến xây năm 1830 tại Chợ Lớn), Tam Hội Miếu thờbà Chúa Thai Sinh (lập năm 1839), Quỳnh Phủ Hội Quán (do người Hải Nam xây năm 1875 tại Chợ Lớn... Ngoài ra, còn một số chùa miếu khác kiến tạo nhưng lại mang tên Hội quán các bang hay hội đoàn như Nhị Phủ Hội Quán (1835), Bửu Sơn Hội Quán (1871), Nghĩa Nhuận Hội Quán (1872), chùa Giác Hải (1887) Phước An Hội Quán (1900), Ôn Lăng Hội Quán (1901).
Những ngôi chùa người Hoa kiến lập tại vùng Gia Định TP. Hồ Chí Minh rất nhiều và đa dạng. Theo tài liệu của J. Ch. Balencie (trong Monographie de la province de Gia Dinh - 1899) thì có đến 43 chùa người Hoa trong vùng này. Một trong những ngôi chùa danh tiếng của người Hoa tại TP. Hồ Chí Minh là chùa Nam Phổ Đà, tọa lạc tại số 117 đường Hùng Vương, quận 6. Ngôi chùa này kiến lập năm 1945, do Hoà thượng Thống Lương và Hoà Thượng Thanh Thuyền đứng ra xây dựng. Đây là ngôi chùa Phật Giáo của người Hoa được tổ chức quy củ nhất, đặt nền tảng cho tổ chức Phật Giáo người Hoa ở thành phố. Giáo Hội Phật Giáo của người Hoa được Hoà thượng Siêu Trần và Hoà thượng Thanh Thuyền vận động thành lập vào năm 1968, và chính thức ra đời vào ngày 20/5/1972. Giáo Hội này mang tên là "Phật Giáo Hoa Tông". Hoà Thượng Siêu Trần là vị hội chủ đầu tiên (1972).Việc du nhập Phật Giáo của người Hoa gắn liền với cộng đồng người Hoa đến định cư.
Với những đợt di dân lớn của Mạc Cửu (Hà Tiên), của Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch vào thế kỷ XVII ở những tỉnh Mỹ Tho, Đồng Tháp, Cửu Long, Sóc Trăng, Bạc Liêu... những người Hoa đến định cư tại những vùng đất này theo đường biển. Trong nhiều thế kỷ trước đây, cảng Đại Ngã (Sóc Trăng) đã là một cảng lớn, đón nhiều đợt người Hoa đến; vùng này cũng là nơi phát triển Phật Giáo người Hoa rất mạnh. Từ khi người Hoa đến định cư, phát triển ở vùng đất Nam Phần cho đến nay, về tín ngưỡng, những ngôi chùa thờ Phật thường bị đồng hoá với những miếu thờ thần linh từ nguồn tín ngưỡng dân gian. Thành thử nhiều chùa được gọi là miếu thờ bà Thiên Hậu, thờ ngài Quan Thánh là chùa Ông, chùa Bà. Về việc kiến lâp chùa chiền, do nhu cầu của nền tín ngưỡng dângian, nên đa số chùa người Hoa thường được kiến tạo ở những vị trí thích hợp của vùng đông dân cư. Kiến trúc, điêu khắc của chùa người Hoa có một số nét khác chùa Việt:
Chùa người Hoa thường dùng nhiều màu đỏ hay màu hồng trong mọi thể hình trang trí; đây là màu của sức sống vươn lên, niềm tin, may mắn. Bố cục quần thể chùa người Hoa thường theo dạng chữ "Tam" hay "Nội công, ngoại quốc". Dạng thức này thuận tiện cho việc bài trí nhiều bàn thờ, cúng vái, xin xăm, bói quẻ Mái và cổng tam quan của chùa người Hoa thường có dạng cao vút lên, nét cong ở các đầu đao. Mái cổng dựng hai lớp trở lên, một dạng "trùng thiềm điệp ốc" để nới rộng diện tích.
Những mẫu hình trang trí chùa người Hoa khá phức tạp: Hình rồng, phượng, lưỡng long triều nguyệt, tứ linh, tứ vật là mô hình phổ biến nhất. Hai bên sân chùa đều có xây la thành, điểm thêm cặp lân, trong tư thế chầu chực. Tháp chùa người Hoa chia làm hai loại: Một loại để đựng di cốt của các sư sãi viên tịch, có nhiều công đức trong xây dựng chùa; loại thứ 2: thờ Phật. Thờ phượng: Cách thiết trí thờ phượng trong một ngôi chùa người Hoa ở Nam Việt Nam cũng có những điểm đặc biệt, khác với chùa người Việt. Chẳng hạn như cách thiết trí trong chùa Ngọc Hoàng (Phước Hải) tại phường Đa Kao (TP. Hồ Chí Minh) như sau: Ngay khi vào chùa, sẽ thấy trước tiên hai bàn thờ "Môn Quan Thần" và "Thổ Địa Thần" là nơi thờ những vị thần trấn áp tà ma quấy phá chùa. Sau đó là bàn thờ Phật, có bày những tượng Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Phật A Di Đà, Phật Thích Ca Mâu Ni, Đại Thế Chí Bồ Tát và Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nhìn vào, khắp nơi khói hương lên nghi ngút, nhìn bên phải, có tượng đồ sộ vị Thanh Long Đại Tướng, bên trái có tượng đồ sộ Phục Hổ Đại Tướng. Sau bàn thờ Phật là chính điện: cung giữa thờ Ngọc Hoàng; cung bên phải thờ Chuẩn Đề Quan Âm; cung bên trái thờ Bắc Đế, tức Huyền Võ. Ở giữa gian thờ Ngọc Hoàng có sáu phi tượng chính: bên phải có ba vị, giữa là Quan Phu Tử, hai bên có Thiên Tướng và Thiên Thần; bên trái có ba vị: giữa là Văn Xương, hai bên cũng có Thiên Tướng và Thiên Thần. Trước bàn thờ Ngọc Hoàng có tấm đá quý, trên mặt có khắc bốn chữ Hán "Hoa Khai Phú Quý". Ở chính giữa trên bàn thờ có bức hoành phi ghi bốn chữ "Tiên Phật Giáng Lâm". Gian thứ nhì có treo sáu bức chạm bằng gỗ, trình bày các cảnh: Hoạt Vô Thường, Đông Nhạc Viện, Quan Âm Đường, Địa Tạng Vương, Tì Mệnh Quân và Dẫn Hồn Tiên. Gian thứ ba là Thập Điện Diêm Vương; ở hai bên tường có treo hình chạm nổi những hình phạt ở âm ty để trừng giới những kẻ từng làm nhiều điều gian ác trên trần gian.
Ở cuối gian phòng có ba khám thờ: khám ở giữa thờ Thành Hoàng Đế; khám bên phải thờ Thái Thế Thần và khám bên trái thờ Bảo Thọ Thần. Phía ngoài sân có bàn thờ của hai vị Thần Thanh Long và thần Bạch Hổ. Sau đây là mô hình chùa người Hoa tiêu biểu: Chùa Bà rất phổ biến khắp các vùng tụ cư người Hoa. Chùa Bà ở Chợ Lớn nằm trên đường Nguyễn Trãi, quận V. Chùa Bà có tên là Thiên Hậu Miếu hay là Phò Miếu.
Chùa được kiến lập từ năm 1760, nhưng sau đó đã được trùng tu nhiều lần và nới rộng diện tích thêm. Chùa do Bang Quảng Đông điều hành. Theo người Hoa thì bà Thiên Hậu là một nữ thần, người Quảng Đông gọi là "A Phò" (Đức Bà). Theo tước phong của Trung Hoa thì gọi bà là "Thiên Hậu Thánh Mẫu". Người Phúc Kiến và Hải Nam thì thường gọi là "Đại Mẫu".
Người Hoa thường xem bà Thiên Hậu là biểu tượng của lòng nhân ái, xả thân vì mọi người. Trên bước đường di dân lập nghiệp, nguy nan luôn luôn đe doạ bởi sóng gió, bão tố, họ sợ hãi và luôn luôn cầu nguyện đến Bà Thiên Mẫu; bây giờ đến quê hương thứ hai, họ lập đền thờ để nhớ ơn. Chùa Bà giữ một vai quan trọng, không những đối với người Quảng Đông, mà ngay cả người Quảng Châu, Phúc Kiến, Hẹ... và cả người Việt nữa. Thành thử việc cúng bái ngày đêm không ngớt của thập phương ở Chùa Bà là đương nhiên. Chùa Bà được xây theo kiểu "hình cái ấn" là kiểu kiến trúc đặc trưng của người Hoa. Đây là một tổ hợp gồm bốn căn nhà liên hết với nhau, tạo thành một mặt bằng trông giống hình chữ "Khẩu" hay chữ "Quốc". Hai cơ sở phụ là trường học và hội quán. Phần dành cho việc thờ phụng là rộng nhất, gồm có ba điện thờ: tiền điện, trung điện và chính điện. Phần chính điện thờ tượng bà Thiên Hậu đặt ngay tại chính điện, với trang thờ và điện thờ lớn. Bên trong trang thờ đặt ba pho tượng của Bà, theo thứ tự từ lớn đến nhỏ và đặt từ sau ra trước thẳng hàng nhau. Trên trang thờ có bức trướng ghi hàng chữ "Thiên Hậu Thánh Mẫu". Phía trên điện thờ lại có khắc hành chữ "Thiên Hậu Cung". Trước điện thờ có đặt lư hương và ba dãy bàn thờ dùng làm nơi đặt lễ vật cúng bà. Gần đây, người Hoa chính quốc lại mang sang tặng thêm tượng đức Quan Thế Âm Bồ tát cũng được đặt tại bàn thờ này.
Bên phải chính điện là trang và điện thờ Bà Kim Huê (Mẹ Sinh, Mẹ Đậu), bên trái đặt tượng Long Mẫu Nương Nương. Bà Kim Huê là vị Nữ Thần được phong vào thời Khương Tử Nha đời nhà Chu đã đánh vua Trụ. Long Mẫu Nương Nương là vị Nữ Thần, con vua Thủy Tề. Theo truyền thuyết ghi chép lại thì nhân một hôm đi ngao du trên biển, có một ông lão đánh cá vô tình bắt được, thấy hình "con cá kỳ lạ" nên không nỡ giết, mà mang về nuôi. Một buổi tối nọ, tình cờ ông lão thấy vị thần hiện ra nửa người, nửa cá. ông liền đem ra thả xuống biển. Trước khi cá ra khơi, lão đánh cá nghe văng vẳng tiếng "cám ơn" và dặn: nếu khi ra biển đánh cá, gặp những cơn hoạn nạn, kêu cứu đến tên Long Mẫu Nương Nương, thì sẽ được cứu vớt.
Từ đó những dân chài trên biển thường cầu khẩu và cúng tế, lập nhiều miếu thờ. Phần trung điện không đặt trang thờ, mà đặt "lư pháp lam"; đây là đồ vật bằng sành, phía trên mặt có khắc những ô nhỏ, hình hoa, lá, chung quanh có viền bằng kim khí (vàng, bạc hay đồng). Lá pháp lam này có ghi niên hiệu Quang Tự thứ 12, đặt trên bàn đá cao. Dưới bộ lư, hai bên đặt chiếc kiệu lớn, sơn son, thếp vàng,dành để rước tượng bà trong những ngày đại lễ. Tại trung điện cótreo tấm hoành phi, ghi lại năm trùng tu xưa nhất, với hàng chữ "Hàm Hoằng Quang Đại". Phần tiền điện có đặt hai trang thờ nhỏ hai bên cửa ra vào; bên phải thờ "Phúc Đức Chính Thần"; bên trái thờ "Môn Quan Vương Tả". Phía sau cửa chính có hai tấm bia đá, ghi lại truyền thuyết về bà Thiên Hậu. Trên cửa, gần nóc là bức tranh lớn về ảnh "Bà Hiển Linh Trên Biển Cả".
Trong đoàn di dân từ miền Trung vào Nam khai phá vùng đất mới, có cả người Việt và những người từ Trung Quốc đến Việt Nam định cư vào nhiều thời điểm khác nhau. Phật giáo (PG) sử có đề cập đến sự hiện diện của nhiều Thiền sư Trung Hoa đến Việt Nam truyền đạo từ gần hai thiên niên kỷ trước. Với bề dày lịch sử đó đã có thể giúp định hình trên địa bàn cả nước và tại vùng đất mới Nam Bộ, đặc biệt là ở TP. Hồ Chí Minh-TP Hồ Chí Minh, một dấu ấn của PG trong cộng đồng người Hoa có mặt gần 300 năm qua tại đây. Nhưng xét về cơ cấu tổ chức, PG Hoa tông ra đời chỉ gần 30 năm trở lại đây. Số lượng cơ sở thờ tự cũng như tu sĩ tương đối ít. Có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan trong quá trình phát triển đã dẫn đến hiện tượng trên. Đó cũng là biểu hiện tất yếu của quá trình hội nhập văn hóa (inculturation) của cộng đồng người Hoa vào cộng đồng Việt. Tìm hiểu những đặc điểm chính của PG Hoa tông ở Nam Bộ, đặc biệt là tại thành phố Hồ Chí Minh, sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn quá trình hội nhập này.
Điểm dừng chân của các Thiền sư Trung Hoa vào Đàng Trong từ những thế kỷ XVI, XVII đã được ghi lại nhiều trên vùng đất Hội An thuộc Quảng Nam - Đà Nẵng. Ở miền Đông Nam Bộ, nhiều chùa cổ còn đặt bài vị và nhắc đến sự có mặt của Thiền sư Bổn Quả (đời thứ 32) và Thiền sư Nguyên Thiều, đời thứ 33 của dòng Lâm Tế. Chùa Đại Giác, chùa Kim Cang, chùa Long Thiền... ở tỉnh Đồng Nai, thuộc Cù lao Phố xưa, đã có dấu chân hoằng hóa và những ngôi chùa do các Thiền sư Trung Hoa khai sáng và trụ trì. Tuy nhiên, rất hiếm chùa còn liên tục truyền thừa và duy trì sinh hoạt, nghi lễ thuần túy cũng như sử dụng kinh sách chữ Hán cho đến hiện nay. Tìm lại vết tích ấy có thể nhắc đến vài ngôi chùa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh xưa. Trung tâm tụ cư quan trọng của cộng đồng di dân từ Trung Quốc sang định cư thuộc quận 5 ngày nay, những điểm tập trung đầu tiên của nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau là các hội quán. Nhiều người Hoa có tuổi hiện nay còn nhắc đến vài địa điểm lớn như Nhị Phủ miếu, Ôn Lăng hội quán, Thất Phủ Quan võ miếu... có các tu sĩ PG tạm trú.
Trước năm 1930, những tu sĩ Hoa theo đạo Phật sinh hoạt theo từng chùa thuộc tông phái là chính, chưa có tổ chức Giáo hội.
Năm 1945, Hòa thượng (HT) Thống Lương và Thanh Thuyền xây dựng chùa Nam Phổ Đà (quận 6). Cùng thời gian này, tại quận 11 có chùa Trúc Lâm do HT Lương Giác xây dựng; chùa Hoa Nghiêm (quận Bình Thạnh) do HT Thọ Dã (1952); chùa Từ Ân (quận 11) do HT Hoằng Tu (1955); chùa Vạn Phật (quận 5) do HT Diệu Hoa và Đức Bổn (1959); chùa Thảo Đường do HT Diệu Nguyên xây dựng vào năm 1960 ở quận 6...
Như vậy, giai đoạn giữa thế kỷ XX, PG trong cộng đồng người Hoa được phục hồi và phát triển hơn so với trước đó, và đã tạo tiền đề cho sự ra đời cơ cấu tổ chức của Giáo hội PG Hoa tông Việt Nam vào năm 1972, do HT Siêu Trần và Hòa thượng Thanh Thuyền đứng đầu. Lần đầu tiên, đạo Phật của các tu sĩ Trung Quốc truyền vào Việt Nam chính thức có tổ chức rộng rãi và có tư cách pháp nhân. Văn phòng đặt tại 360A Bến Bình Đông, quận 7. Trụ sở Trung ương ở số 195 Nguyễn Tri Phương, quận 5. Giáo hội có nội quy, điều lệ và mở đại hội thành lập Ban Chấp hành Trung ương vào ngày 20-5-1973.
Về phương diện thờ cúng, chùa của người Hoa có đặc điểm tượng thờ được đặt trong khánh để đảm bảo sự tinh khiết. Hầu hết các tượng đều được đưa về từ nhiều nước như Myanmar, Hồng Kông... Tam thế Phật là bộ tượng chính, đặt thờ bên cạnh bộ tượng 5 vị tại bàn ngoài cùng (5 vị này có khác với 5 vị được thờ tại các chùa cổ của người Việt) gồm : Phổ Hiền, Di Lặc, Quan Âm, Văn Thù, Địa Tạng Vương Bồ tát. Chùa Hoa còn thờ Phật Di Lặc và Ngọc Hoàng Thượng đế. Trên điện thờ, lư hương dùng đựng trầm được đốt trong các buổi đại lễ và ngọn đèn dầu phộng giữ cháy liên tục, tượng trưng cho chính pháp không bao giờ tắt !
Bia công đức là một điểm đặc thù trong các chùa miếu của người Hoa, ghi lại tên và số tiền quyên góp vào việc dựng và trùng tu chùa... Tùy theo từng nhóm ngôn ngữ khác nhau, mỗi chùa có nét riêng trong đọc tụng lời kinh và pháp khí sử dụng theo phong cách riêng.
Ngoài một số chùa đặt tượng 18 La Hán, chùa Thảo Đường còn có tranh vẽ 500 La Hán, theo phong cách thờ La hán ở Trung Quốc. Hai vị Hộ pháp trong chùa Hoa là Vi Đà Hộ pháp và Già Lam Thánh chúng.
Phía sau các chùa Hoa thường có Diên sinh đường, nơi đặt long vị của cư sĩ có công lớn với chùa. Trên các long vị này thường thờ Phật Dược Sư. Tên gọi Diên sinh đường vì là nơi chú nguyện phước báu cho các cư sĩ còn sống được mạnh khỏe, trường thọ. Khi cư sĩ đã mãn phần, được đưa vào đặt tại Công đức đường. Vào những dịp lễ lớn, chùa Hoa còn tổ chức lạy các bộ sám lớn như sám Tam Thiên Phật, sám Vạn Phật, sám Lương Hoàng... Lễ tạ chư Thiên là lễ lớn và riêng có đối với các Tăng sĩ Phật tử theo PG Hoa tông. Lễ được tổ chức sau ngày lễ lạy sám trong năm. Lễ vật phong phú với 10 loại 24 thứ khác nhau.
Ảnh hưởng của phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian in đậm trong nghi thức thờ cúng tại chùa Hoa. Giấy tiền vàng bạc được xếp thành hình ống, đặt lên dĩa thành tháp 7 tầng, hoặc có dạng hoa sen... Trong PG Hoa tông, lễ quy y và thọ giới không tiến hành đồng thời như ở chùa Việt. Sáng xuất gia, chiều thọ giới. An cư kiết hạ không tập trung Tăng Ni cùng tu học mà nhập thất riêng, mỗi người tự ở hẳn trong Tăng đường; tùy phát nguyện có thể từ 49 đến 100 ngày. Lễ truyền và thọ giới thường có tục đốt liều trên đỉnh đầu. Một trong những nguyên nhân làm cho PG Hoa tông có số lượng tu sĩ ít ỏi vì việc tu hành đòi hỏi sự kiên trì, không được hoàn tục, “thọ” nhiều giới..., trong khi cộng đồng người Hoa thì có tục con cái đông đúc mới là nhà có phúc lớn!
Khi hành lễ, Phật tử thường mặc áo tràng đen. Lúc hành lễ, Tăng sĩ có tục bó ống quần để bảo đảm sự thanh khiết.
Một trong những nét đặc thù của PG Hoa tông là công tác từ thiện - xã hội. Nhiều hội đoàn được hình thành từ việc bảo đảm cuộc sống của cộng đồng từ khi mới sang Việt Nam như Hội Sư Trúc Hiên (quận 5). Hoạt động chính của Hội là công tác từ thiện, bố thí áo quan, hộ niệm cho người qua đời, đặc biệt là thành lập đội cổ nhạc, chuyên phục vụ lễ hội truyền thống và đám tang. Hội Phật học mang tên Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm có trụ sở trung ương tại quận 5 và nhiều chi nhánh khắp Nam Bộ như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Sa Đéc, Đà Lạt... Ban Hộ niệm của Hội được hình thành từ yêu cầu cúng cầu siêu cho các gia đình theo PG Hoa tông có người quá vãng cần cầu siêu và đưa cúng tại từ đường, nghĩa trang...
Hoạt động từ thiện - xã hội được đẩy mạnh trong các chùa thuộc PG Hoa tông còn xuất phát từ quan niệm hoạt động từ thiện để lại phúc đức cho con cháu! Riêng trên địa bàn quận 5, nơi có đông người Hoa và chùa Hoa, đã có nhiều gương làm việc thiện, điển hình như Sư cô Tuệ Độ ở tịnh xá Quan Âm, có trên 1.000 hội viên; Từ Đức tịnh xá có Thượng tọa Tôn Thật là Trưởng ban Từ thiện của Báo Giác Ngộ. Tháng 12-1998 đại trai đàn chẩn tế kỳ an, kỳ siêu được tổ chức, do PG Hoa tông đề xướng, sẽ có ý nghĩa thiết thực đối với bệnh nhân nghèo. Từ tiền ủng hộ của các tấm lòng từ thiện, ban tổ chức sẽ phát chẩn cho người nghèo sống lang thang. Trai đàn Vạn Nhân Duyên được tổ chức để gây quỹ xây dựng trường Chính Giác (quận 11), Việt Tú (Mỹ Tho), Quảng Triệu (Thủ Dầu Một)...
Về việc truyền thừa, PG Hoa tông vẫn tiếp tục kế truyền các Thầy Tổ thuộc “Ngũ gia tông phái” ở Trung Quốc. Tuy vậy, phổ biến tại Việt Nam chỉ có hai dòng phái Lâm Tế và Tào Động. Đa số Tăng Ni người Hoa đều được truyền theo bài kệ của Trí Thắng Bích Dung : “Trí Huệ Thanh Tịnh...” của dòng Lâm Tế. Riêng dòng Tào Động chiếm số ít hơn, theo bài kệ pháp phái Vĩnh Xương Cổ Sơn: “Huệ Ngươn Đạo Đại Hưng...”. Chùa Từ Đức (quận 5), chùa Thảo Đường (quận 6)... đều thuộc phái Tào Động.
Những đặc điểm nêu trên của PG Hoa tông ở Nam Bộ là những nét lớn, chủ yếu, còn được lưu giữ đến nay, tạo nên nếp sinh hoạt đặc thù trong cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ. Đặc điểm ấy là bản sắc văn hóa Hoa trong PG ở Nam Bộ, đặc biệt là tại thành phố Hồ Chí Minh. Gọi PG Hoa tông, theo sự phân phái trước đây để dễ phân biệt với nhiều giáo phái có mặt ở TP. Hồ Chí Minh trước năm 1975. Ngày nay, với một Ban Quản trị, đại diện có HT Đức Bổn, PG Hoa tông trực thuộc Giáo hội PG Việt Nam. HT là Thành viên Hội đồng Chứng minh và là Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội PG Việt Nam.
Dù rằng gần 300 năm qua, đã có khá nhiều ngôi chùa Hoa do các Thiền sư Trung Hoa sang truyền đạo đã dần dần bị biến đổi theo xu thế Việt hóa, nhiều lớp đệ tử của Sơ Tổ Nguyên Thiều đã là những Thiền sư Việt Nam, nhưng do quá trình cộng cư của hai cộng đồng Hoa - Việt mang tính hòa hợp, cố kết và tự nguyện nên những nét đặc sắc trong văn hóa PG vẫn còn được lưu giữ và được phát huy, nhất là trong lĩnh vực từ thiện - xã hội, đã góp phần lớn vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo; mang lại sự giàu mạnh và thịnh vượng cho đất nước mà người Hoa là thành viên trong cộng đồng 54 dân tộc nước .
So với những kiến trúc ở miền Bắc và miền Trung thì chùa chiền ở miền Nam Việt Nam tương đối ra đời chậm nhất. TP. Hồ Chí Minh cũng nằm trong trường hợp này, vì mãi cho đến thế kỷ 19 mới được nói đến. Một trong những ngôi chùa ở TP. Hồ Chí Minh được lập ra sớm nhất vùng này là chùa Giác Lâm. Ngôi chùa tọa lạc tại số 118 đường Lạc Long Quân thuộc quận Tân Bình. Theo nhiều tài liệu lịch sử ghi lại thì chùa này được thành lập sơ khởi vào năm 1744, nhưng thời gian đó chỉ là một am nhỏ và về sau đã được trùng tu lại cảnh trí như ngày nay là vào tháng 12 năm 1900.
Những công trình điêu khắc, kiến trúc và hội họa trang trí trong ngôi chùa như đã thấy hiện nay cũng bắt đầu xuất hiện từ 1900 trở về sau mà thôi. Từ cổng chính đi vào, qua tam quan thì trông thấy một cây bồ đề to lớn, được mang từ Ấn Độ sang vào năm 1902 do Hoà thượng Quảng Lạc cúng dường sau chuyến hành hương sang Phật tích. Cạnh cây bồ đề có nhiều ngôi tháp và miễu nhỏ thờ cúng những người góp công của trong đợt trùng tu sau này. Tháp thờ hoà thượng Quảng Lạc được xây dựng công phu bên cạnh chùa. Một pho tượng toàn thân của đức Quan Thế Âm Bồ tátngay vào con đường dẫn vào chính điện của chùa GiácLâm.
Những công trình kiến trúc cũng như điêu khắc hội họa khác ở mái chùa, cột chùa cũng như chung quanh chùa đều kết bằng sành sứ, muôn màu muôn vẽ, như những kiến trúc Trung Hoa hiện nay.
Vì ngôi chùa được quản trị do một Hội đồng Tín Hữu người Hoa Kiều gốc Quảng Đông hiện nay, cho nên những nghi thức hành lễ, cầu siêu, cầu an, đại trai đàn chẩn tế, lễ xá tội vong nhân, những ngày chính lễ Phật Giáo đều được cử hành theo đúng nghi thức tụng niệm Trung Hoa. Chúng ta có thể nhìn vào cách thờ phượng trong chùa thì rõ.
Chính điện thờ đức Phật Thích Ca trong tư thế Cửu Long tức là đức Phật đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni. Đi sâu vào thì có tượng đức Phật Di Đà và Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật, hai đức Phật biểu hiện cho quá khứ và cho vị lai của đức Thế Tôn. Những pho tượng kể trên đều được thỉnh từ Trung Hoa sang cho nên mọi đường nét đều trình bày tỉ mỉ, rườm rà và pha trộn những mô hình khác nhau.
Đặc biệt hơn hết là màu sắc trang trí vô cùng rực rỡ. Bên tả thờ đức Quan Công cùng với Trương Phi và Lưu Bị trong tư thế hành động cho nên rất linh hoạt, sống động lạ thường. Bên hữu thì thờ Quan Âm Thị Kính trong truyền thuyết bình dân. Ngài ngồi trên toà sen màu trắng trong, chung quanh có những vầng hào quang sáng chói. Một phần bên trái của hương án thờ chính, còn có bàn thờ đức Ngọc Hoàng Thượng Đế; bên trái có tượng của Thái Thượng Lão Quân; bên phải là tượng của Tam Đại Chính Thần tức là 3 vị hộ pháp cho đức Ngọc Hoàng Thượng Đế.
Tất cả trở thành một cảnh trí trong huyền thoại mang tính chất bình dân.Trên chính điện có một toà linh đăng do 49 ngọn đèn chạm trổ công phu kết lại. Theo giải lý đây là biểu tượng của 49 cõi của cảnh giới cực lạc cung trời Đâu Suất đang chiếu sáng khắp mọi nơi. Vì chịu ảnh hưởng tín ngưỡng bình dân, cho nên phíaphải của chùa có nơi xin xăm, xin quẻ, thu hút rất đông đảo thiện nam tín nữ đến hành lễ và cầu xin, bói quẻ. Bài thơ của thiền sư Trung Hoa Thích Pháp Quang của Tổng Hội Phật Giáo Đài bắc khi đến viếng thăm ngôi chùa này được thoát dịch như sau:
Cảnh trí uy nghiêm, chốn nhiệm mầu, Hồi chuông Bát Nhã gửi về đâu? Ba ngàn thế giới mong siêu thoát, Một chốn trang nghiêm thoát bể dâu.
Trong chuyến vân du này, thiền sư cũng trao tặng nhiều kinh sách và pháp cụ cho chùa. Liên hệ của chùa Giác Lâm với Giáo Hội Đài Bắc rất chặt chẽ.
Nhìn đại thể về kiến trúc và cách thờ phượng thì chùa Giác Viên và Giác Lâm có nhiều điểm tương đồng và cũng được quản trị do một Hội đồng người Hoa gốc Phúc Kiến tại Chợ Lớn. Chùa Giác Viên toạ lạc tại khu Đầm Sen thuộc Quận 11 TP. Hồ Chí Minh. Theo những tài liệu và di chỉ còn lưu lại tại ngôi chùa này viết bằng hán văn thì chùa Giác Viên được xây vào năm 1793, trong thời kỳ chúa Nguyễn Ánh đang khởi binh đánh Tây Sơn. Chúa Nguyễn cũng nhiều lần đến trú ngụ trong khuôn viên của ngôi chùa. Hai đạo dụ sắc phong đời Gia Long chứng tỏ được điểm lịch sử này. Hoà Thượng Thích Hải Tịnh gốc Trung Hoa là người đứng ra cổ động xây dựng và sáng lập ngôi chùa này,trước khi giao lại cho một Hội đồng cư sĩ điều hành. Hoà thượng Hải Tịnh viên tịch vào tháng ba năm 1819 dưới đời vua Gia Long và cũng được nhà vua sắc phong là thánh sư.
Địa chỉ ngôi chùa hiện nay là 161/25/20 đường Lê Đại Hành. Phía ngoài có một cổng lớn, rồi qua một con đường khá lầy lội, trước khi đi vào sân chùa. Chung quanh sân chùa có nhiều ngôi mô xây bằng đá và nhiều bửu tháp nhỏ. Nơi đây thờ những vị sư kế tiếp nhau trụ trì, cùng những cư sĩ có công điều hành ngôi chùa qua những giai đoạn khó khăn khác nhau. Ngay trước cửa đi vào chính điện, có một chiếc lư lớn mà khách thập phương thường lên nhang đèn trước khi đi vào chính điện. Đây cũng là một trong những nơi lễ bái cầu phước của thập phương.
Đi vào chính điện, sẽ thấy nhiều bàn thờ sắp đặt qui mô. Thoạt tiên là bàn thờ và pho tượng của Hoà Thượng Hải Tịnh, vị khai sinh của ngôi chùa. Các hình vẽ khác nhau về vị sư này qua nhiều tư thế, do những danh họa Trung Hoa trình bày. Một bàn thờ đối diện với chính điện là các vị Thập Bát Kim Cương, các vị thần bảo vệ cho đức Phật như thường thấy ở những chùa miền Bắc đời Lý, Trần. Hai bên trái và phải là hình của Diêm Vương Thập Điện, tức là 10 vị phán quan của Âm Phủ. Đây là nơi cúng tế cho những vong hồn vừa khuất. Những bức tranh phát họa khung cảnh này được treo chung quanh điện thờ, với những chú thích nội dung của từng bối cảnh một.
Phía chính điện rộng lớn ở chính giữa có bàn thờ của đức Thích ca Mâu Ni cùng 12 vị Phật và Bồ Tát khác. Những tượng đó của Đức Đại Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát...Trong chùa có nhiều câu đối, do những Phật Tử từ Hồng Kông, Đài Loan và Singapore trong những chuyến hành hương sang Việt Nam đã hỷ cúng. Có thể đọc được những câu sau đây: Vạn thế trang nghiêm tự, Chính quả đắc Niết bàn. Hay là: Vạn vật duy tâm tạo, Vãng sinh Tịnh Độ thiên. Những liên hệ của ngôi chùa này với những tổ chức Hoa Kiều trong ba quốc gia nói trên từ trước đến nay về nhiều phương diện khác nhau rất chặt chẽ. Cũng như ngôi chùa Giác Lâm, một gian lớn dùng để thiết lập bàn thờ dùng lễ xin xăm, bói quẻ được nhiều khác thập phương, nhất là người Hoa đến cúng tế và xin quẻ nhiều nhất. Dường như quanh năm suốt tháng chùa này không bao giờ vắng khách đến cúng tế thường xuyên. Chùa có ban Quản Trị gồm những thành viên chính trong Hội Tương Tế Quảng Đông và Triều Châu liên kết cho nên việc tổ chức và trùng tu liên tiếp rất chu đáo và toàn diện. Hằng năm có 4 ngày lễ lớn: lễ đầu năm (Nguyên Đán) lễ Phật Đản, lễ Xá Tội Vong Nhân và lễ Phật Bà Liễu Sinh.
Chùa Ngọc Hoàng, còn có tên là Phước Hải Tự là một trong ba ngôi chùa lớn do Hoa Kiều xây dựng tại TP. Hồ Chí Minh (bên cạnh chùa Giác Lâm và chùa Giác Viên). Hội Tương tế Triều Châu quản trị toàn bộ những sinh hoạt và tài chính, trùng tu ngôi chùa này. Toàn thể ngôi chùa toạ lạc tại số 73 đường Mai Thị Lựu ở vùng Dakao. Những khách thập phương đến lễ bái chùa Ngọc Hoàng có thể đi vào chùa theo hướng của số 20 đường Điện Biên Phủ vào.
Hội đồng Tín đồ Phật Giáo Triều Châu hiện nay lo việc quản lý và trách nhiệm với chính quyền ngôi chùa này sau khi được chính quyền địa phương trao lại. Chế độ bán tự trị được tổ chức trong vòng hai năm gần lại đây. Như tên gọi, trọng tâm chính của ngôi chùa này là thờ phượng đức Ngọc Hoàng Thượng Đế và chư thánh trên thiên đình, dưới chín tầng địa ngục... theo quan niệm của đạo Lão là chính; sau đó mới giành một phần để thờ Phật, nhất là hình tượng của đức Phật Bà Quan Thế Âm. Chùa được xây cất lần đầu tiên vào năm 1909, nhưng sau đó thì trải qua nhiều cuộc trùng tu, xây dựng bổ túc thêm tiền đình và hậu tổ, mới có được cảnh quan như ngày hôm nay. Chùa có khả năng thu hút khách thập phương, không ngày nào là không cúng lễ hương khói trong vùng Dakao.
Trên tổng thể, những phần chính của chùa Ngọc Hoàng bố cục như sau: Từ cửa chính đi vào bên trong, thoạt tiên có hai bàn thờ nhỏ bên ngoài; một bên thờ Môn thần và bên kia thờ Thổ thần. Đây là hai vị thần canh giữ ngôi chùa chống lại những tai kiếp từ nhiều phía đến, như quan niệm thờ cúng của người Trung Hoa. Một chiếc hộp Phước Sương lớn được đặt ngay nơi cúng bái để khách thập phương cúng lễ hương khói dễ dàng. Trước hết là bàn thờ của chư Phật, từ ngoài vào trong thấy có: Phật Mẩu Chuẩn Đề, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Đức Phật Di Lặc, Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương và đức Quan Thế Âm Bồ Tát.
Đức Thích Ca Mâu Ni tại chùa này chỉ được thờ ở một góc của những vị Phật kể trên, khác với cách bài trí của tất cả ngôi chùa khác. Vào trong thêm nữa là ba bàn thờ dùng để dâng hương hoa quả phẩm. Đi vào sâu cũng là chính điện là nơi thờ những vị Phật và Thần liên quan đến đến Ngọc Hoàng như Tứ đại Kim Cang, Đại Vương Minh Quang, Phật Mẫu Chuẩn Đề, Nam Tào, Bắc Đẩu.
Ngôi tượng Ngọc Hoàng ở phía giữa lớn nhất, uy nghiêm nhất và trang hoàng nhiều nhất. Hai hàng phướn rủ xuống hai bên tượng đức Ngọc Hoàng, có hai hàng chữ Vô lượng công đức và bên kia Tam thế cứu nhân, như những ngôi thờ Ngọc Hoàng khác tại các ngôi miếu Việt Nam.
Phần bên trái của chính điện có một phó điện để thờ những cô hồn uổng tử người Hoa trên đường đi tìm những vùng đất để phát triển trong toàn vùng Đông Nam Á Châu. Quang cảnh nơi đây cũng khá trang nghiêm dùng trong những lúc lên đồng bóng. Thành thử chính điện của căn này thờ đức Thanh Hoàng là chính yếu.
Hai bên tượng Thanh Hoàng có tượng Âm Quan và Thưởng Thiện, Phạt Ác là những vị thần điều động mọi việc xử lý của đức Thanh Hoàng. Hai bên phía ngoài có 10 tượng khác trình bày 10 cảnh trí của điạ ngục mà người chết sẽ phải trải qua trước khi được đầu thai. Những hình ảnh được mô tả theo lối hiện thực và bình dân. Ra phía ngoài, có tượng của đức Địa Tạng Vương Bồ Tát và đức Quan Âm nhưng lấy theo ý nghĩa của Quan Âm Thị Kính. Kim Hoa Thành Mẫu, thường được tôn xưng là pháp chủ của nữ giới được đặt ở ngoài cùng và được thờ bái vô cùng trang nghiêm. Qua những hình thái trên đây, ta có thể thấy được những đường nét chính như sau:
- Chủ yếu là thờ vị Ngọc Hoàng Thượng Đế của đạo Lão và những vị thần chung quanh Ngọc Hoàng.
- Mặt khác chùa cũng thờ nhiều Phật Bà Quan Thế Âm dưới những thể hiện và xuất xứ khác nhau. - Những tượng Phật kể cả đức Phật Thích Ca chỉ là phụ, trong mục đích tạo thêm danh nghĩa là cảnh chùa.
- Dân chúng thường xuyên đi lễ bái chùa này là người bình dân, xin xăm, cầu quẻ, mong sao có được những kết quả tốt trong những ngày tới.
Qua những cách bố cục như thế, chùa Ngọc Hoàng là một hình thức cầu kiến, bốc phệ, mê tín dị đoan hơn là tu tâm dưỡng tánh.
http://www.phattuvietnam.net/van-hoa...B%87t-nam.html
-
Phụ nữ Hội An ký tên đòi đập phá tượng Mã Viện (tượng này được dựng trong chùa Ông Bổn. Mã Viện là người đưa quân xâm lược nước ta mở đầu cho 500 năm nô lệ phương Bắc) và đóng cửa ngôi chùa này. Vì đây là tổ tiên của quân Bắc Kinh. Mã Viện lại là người có tội lớn với dân tộc nên không có lý do gì phải thờ ở Hội An. “Đơn đập phá chùa, tượng Mã Viện được hàng nghìn hội viên phụ nữ đồng thuận. Phụ nữ Hội An đồng loạt ký tên và mang đến Văn phòng Thị ủy Hội An”, ông Hà Phước Mai nhớ lại.
Một lần nữa phố cổ lại đứng trước nguy cơ bị phá. Buổi sáng Thị ủy Hội An gửi công văn cho ông Bí thư Hồ Nghinh, chiều đã thấy ông có mặt. Đứng trước hàng nghìn người, ông Nghinh khuyên ngăn: “Đình, chùa là chốn tâm linh, nhân dân đã tự tay xây dựng để chiêm bái hằng năm. Hơn nữa đây là hội quán của bà con người Hoa. Trung Quốc đang làm điều phi nghĩa, mang quân xâm lược nước ta, hơn lúc nào hết ta phải tranh thủ bà con người Hoa đứng về phía chính nghĩa của ta. Chùa Ông Bổn không chỉ thờ Mã Viện mà còn là nơi thờ các phúc thần khác. Theo tôi, ta vận động bà con cất bài vị Mã Viện đi thôi. Sau đó thì hàng ngàn người dân Hội An đã trấn tĩnh lại và không còn quyết tâm phá bằng được ngôi chùa này”.
Chính nhờ sự can thiệp kịp thời ấy mà Hội An còn giữ được đến tận ngày nay. Lời tiên đoán của ông Hồ Nghinh về việc Hội An sẽ tấp nập đón du khách và “hái” tiền cho tỉnh Quảng Nam cũng trở thành sự thật. Sự minh triết của ông Hồ Nghinh đã cứu nguy cho Hội An đến hai lần.
https://giadinh.vnexpress.net/tin-tu...i-2832903.html
-
Hội quán Phúc Kiến - Chùa Kim An
Tham quan phố cổ Hội An, ngắm những ngôi vườn tĩnh lặng và kiến trúc sang trọng của hội quán lớn nhất thành phố.
Hội quán Phúc Kiến (hay còn gọi là Chùa Kim An) là hội quán hoành tráng nhất trong sô 5 hội quán của Hoa kiều tại Hội An. Được Hoa kiều có nguồn gốc từ Phúc Kiến xây dựng để làm nơi hội họp, giao thương, về sau, hội quán được dùng làm nơi thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, vị thần biển trong tín ngưỡng của họ. Đây cũng là nơi tổ chức nhiều lễ hội văn hóa quan trọng trong năm, bao gồm lễ vìa Bà Thiên Hậu.
Bước chân qua cổng tam quan bằng đá để vào hội quán. Ngay sau cổng tam quan là sân vườn với những pho tượng, cây bon sai và đài phun nước chạm rồng tinh xảo. Hãy bước chầm chậm và tìm xem những họa tiết muông thú trên những bức bính họa, hình chạm trổ cũng như các tác phẩm nghệ thuật khắp khuôn viên. Mỗi linh vật trong các tác phẩm này đều mang một ý nghĩa riêng. Ví dụ, long tượng trưng cho quyền lực, trong khi quy lại là biểu tượng của sự trường thọ.
Thưởng thức những bức tranh và bích họa với đề tài chính là thần thoại và lịch sử vùng Phúc Kiến. Trầm trồ trước phong cách kiến trúc sặc sỡ, những họa tiết trang trí và chạm khắc cầu kỳ.
Chính điện là gian lớn nhất trong toàn khuôn viên hội quán, với tượng Thiên Hậu được thờ tự trang trọng trong tư thế thiền. Hai bên bà là tượng các vị hộ thần. Tiếp tục viếng tượng 3 bà Chúa sanh thai và 12 bà mụ, theo tín ngưỡng dân gian là những người mang lại hình hài và bảo trợ trẻ sơ sinh. Tương truyền, nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn đã xin được con sau khi cúng viếng các bà.
Trong khuôn viên còn có tượng của những người đứng đầu 6 gia tộc Phúc Kiến đã góp công xây dựng hội quán vào cuối thế kỷ 17. Đây là các gia tộc đã chọn rời Trung Quốc đến Hội An định cư sau sự sụp đổ của Triều Minh.
Hội quán Phúc Kiến nằm tại trung tâm phố cổ Hội An, gần hội quán của các gia tộc khác. Hội quán mở cửa đón khách tham quan từ sáng sớm đến tối mọi ngày trong tuần.
https://www.expedia.com.vn/Assembly-...-Quan-Diem-Den
-
5. Ngoài những từ chỉ món ăn quá quen thuộc như hoành thánh, há cảo, xíu mại, xá xíu, lạp xưởng...người miền nam trước 1975 còn dùng khá nhiều từ gốc tiếng Hoa như pạc sỉu (cà phê sữa đá ít cà phê), xây chừng (cà phê đen li nhỏ), tài mà ( đại ma = cần sa), xộ khám (toạ giam = ngồi tù), nhị tì (nghĩa địa) tài chảy, a có (ca = anh), a chế (tỷ = chị), sườn xám (trường xiêm = áo dài), xí quách (trư cốt = xương heo)...trong tiếng Quảng Đông, cà na, pò pía, hủ tíu (phảnh), phá lấu, thím (thẩm = vợ của chú hoặc người phụ nữ trung tuổi), tía (cha), má (mẹ), thèo lèo (trà liệu = bánh kẹo ăn khi uống trà),bánh pía, tùa hia (đại huynh)...trong tiếng Triều Châu để sử dụng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày.
Nguồn: Vien Huynh
Ảnh: Sưu tầm
http://anthropos.vn/nguoi-hoa-o-cho-...ban-chua-biet/
-
-
Nên tới Trà Vinh vào mùa nào?
Bạn có thể đến Trà Vinh vào bất cứ mùa nào. Ở đây có khá nhiều lễ hội, nếu đến Trà Vinh vào các dịp đó thì sẽ rất tuyệt, đặc biệt là ở huyệnCầu Kè.
Tháng 7 bảy âm lịch, lễ Vu Lan được tổ chức ở cả bốn chùa ông Bổn:
Chùa Giữa (Vạn Ứng Phong cung) trong các ngày 8, 9, 10;
ChùaCây Xanh (Niên Phong cung) trong 2 ngày 15, 16;
ChùaGiồng Lớn (Minh Đức cung) ngày 19, 20
ChùaChợ (Vạn Niên Phong cung) từ 25 đến 28. Lễ hội Vu Lan ở các chùa đều vui, nhưng rôm rả và đậm đà bản sắc dân tộc Triều Châu (Hòa) hơn hết là ở chùa Chợ (Vạn Niên Phong cung).
http://didauchoigi.com/cam-nang-du-l...h/news5878.htm
-
-
Thí vàng (phố dưới) 15/07/15 AL
Phong tục thí vàng quê mình 15/07/15 AL
https://www.facebook.com/llhtqt/phot...type=3&theater
-
-
-
-
https://www.youtube.com/watch?v=rkw9-th_Ys8
Nữa vầng trăng khmer Trà Vinh ♥ Fc Chùa Lớn ♥
-
-
Tín ngưỡng thờ cúng thần Hổ của người Việt
Bởi Nguyễn Mạnh - 31/07/201551750
Facebook Tweet
Trong quan niệm của người phương Đông, hổ là một con vật linh thiêng, thuộc sứ giả của nhà trời xuống hạ giới ban phúc cho người lành, giáng họa cho kẻ ác, hướng con người đi đến chân, thiện, mỹ. Sự tích thờ thần hổ rất đa dạng mỗi vùng, mỗi dân tộc có sự tích thần hổ khác nhau, nhưng chung quy đều thể hiện con hổ có chức năng trừ tà ma, biểu thị cho quyền uy và sức mạnh.
SỰ TÍCH THỜ THẦN HỔ
Sự tích thờ thần hổ còn lưu truyền nhiều ở vùng Thanh Nghệ Tĩnh như sau:
Vào thời An Dương Vương, người Việt còn đóng khố, cởi trần, định cư ở vùng đồng bằng và trung du, làm nghề nông và săn bắn. Ở làng nọ có một ông lão nhà nghèo, quanh năm vất vả mà vẫn không đủ ăn, không làm được nhà ở, ông phải lên rừng đốn nứa đem về làm bè và dựng thành lều ở trên sông Lam, ngày ngày tảo tần đơm đó và đưa đò để kiếm sống. Vùng này có nhiều hổ dữ, chúng thường bắt người ăn thịt. Một hôm có đoàn người đi lên rừng làm rẫy, gặp 5 con hổ đang ngồi rình trên hòn đá ven đường, chờ người đi qua để bắt. Ông lão đang chống bè trên sông trông thấy, liền kêu lớn cho đoàn người quay lại. Nghe tiếng động, hổ liền đuổi theo, bắt được một người và xé xác ăn thịt. Người xấu số đó lại chính lại cha ông lão chèo đò.
Lần khác, ông lão chèo bè đang đi trên sông thì có một con hổ xám chờ ông lão đến gần, nhảy xuống bè bắt ông. Nào ngờ, bè nứa bị choãi ra và một chân sau của hổ bị kẹp chặt lại. Hổ càng giãy thì chân sau càng lún sâu xuống và bị nứa cứa rách da thịt máu chảy đầm đìa. Hổ đau đớn gầm lên náo động cả khu rừng, muông thú đều hoảng sợ bỏ chạy tán loạn. Trong khi đó, ông lão hết sức bình thản, một tay cầm con dao, một tay cầm bó đuốc đến bên con hổ và nói: “Nhà ngươi dòng dõi ờ trên thượng giới, xuống hạ giới sinh sống, sao lại bắt con người để ăn thịt? Ta đã già yếu, xin hiến thân cho ông và xin từ nay trở đi ông đừng giết hại con người nữa”. Nói đoạn, ông cầm dao chặt cây nẹp bè cho bung nứa ra và lấy tro thấm dầu bôi cho cầm máu. Hổ cảm kích, hai chân sau quỳ xuống, hai chân trước đồng chầu cảm tạ hồi lâu, rồi mới chạy vào rừng.
Nhưng rồi, hồ xám vẫn thường lui tới ven đường, nơi có người qua lại để bắt ăn thịt. Một hôm, hổ xám vồ trúng ông lão đang đi đò. Khi kéo xác lên bờ, mới nhận ra là ân nhân của mình. Hổ hối hận, kêu gào ầm ĩ cả khu rừng. Sáng hôm Sau, dân làng đi làm, thấy xác ông lão bên đường và nhìn dấu vết biết là ông bị hổ vồ. Dân làng thương xót, chôn cất từ tế và tôn ông làm thần thổ địa của làng. Đêm đêm, con hổ xám về chầu trước mộ ông, kêu khóc thảm thiết và cuối cùng gục chết, hóa thành hòn đá bên mộ. Từ đó, các loài muông thú không đến phá hoại và dân làng làm ăn trúng mùa liên tiếp. Đặc biệt, hổ xám được dân làng thờ cúng và tôn là ông hổ Thần hổ, ông Ba mươi ông Năm dinh (những con hổ đá đặt ở đền chùa, miếu đều nằm trong thế quỳ, miệng há rộng và nhắc lại sự tích trên).
Trong những di tích ở Việt Nam người ta tìm thấy con hổ đá sớm nhất từ thời Trần với con hổ được thể hiện trên chiếc nhang án tại chùa Xuân Lũng (Phú Thọ). Đến thời hậu Lê con hổ xuất hiện ở lăng mộ Lê Lợi (Lam Kinh) – đó là con hổ ngồi dưới dạng rụt cổ, vai u như đang làm nhiệm vụ canh gác và giữ của cho người chết.
Đến khi Nho giáo phát triển, hổ được chạm khắc trên các công trình kiến trúc và thể hiện cho những người thi cử đỗ đạt với cụm từ thường gọi “Bảng hổ danh đề”. Trên bức bình phong tại cổng các đền chùa, người ta thường đắp con hổ đang bước xuống những bậc đá gập ghềnh. Với tư thế đó, hổ là hiện thân của âm cung, biểu hiện cho sức mạnh thế giới Diêm Vương và kiểm soát linh hồn khách hành hương. Người ta còn thờ Ngũ hổ để tượng trưng cho 5 phương: Hoàng hổ ở giữa gọi là Trung phương, Xích hổ là phương Nam, Lục hổ là phương Đông, Bạch hổ là phương Tây và Hắc hổ là phương Bắc. Tất cả đều mang ý nghĩa cầu mưa và cầu cho mọi sự sinh sôi, phát triển. Cũng có những nơi vào tối 30 Tết, người ta thường dùng vôi trắng vẽ hình hổ phục ở 4 góc sân nhà nhằm trừ đuổi tà ma, quỷ quái, cầu cho mọi người được khỏe mạnh, bình an, chăn nuôi, trồng trọt đều hanh thông, phát đạt.
Trong nhiều gia đình, người ta thường thờ thần Bạch Hổ, hoặc thần Ngũ Hổ, tức là năm thần Hổ năm sắc. Bàn thờ thường lập một nơi riêng, nhiều khi là ở một chiếc bàn xây ngoài sân, hay chiếc miếu xây ở ngoài vườn đối với những gia đình ở gần chân núi.
Bàn thờ Bạch hổ ở chùa Ông Bổn (Sóc Trăng)
Bàn thờ Bạch hổ ở chùa Ông Bổn (Sóc Trăng)
Cúng Thần Hổ cũng cúng vào những ngày sóc vọng hoặc trong nhà có công việc gì cáo với gia tiên. Việc thờ cúng thần Hổ ngoài trầu rượu phải cúng mặn, phải dùng thịt sống hay trứng sống làm đồ lễ.
https://hanhtrinhtamlinh.com/tin-ngu...ua-nguoi-viet/
-
Giác Ngộ Online
Lễ “Bầu Ông” và tục thờ Bạch hổ ở đình Bình Thọ
Giác Ngộ - Cứ vào ký ức, tôi trực chỉ đến miếu thờ Bạch Hổ ở bến Phú Định. Miếu thờ cọp thì có đó, lệ cúng hàng năm vẫn còn nhưng tục Bầu Ông dân bổn xứ bảo "Không nghe ông bà nói!". Miếu thờ Ông Hổ ở xã Nhơn Đức (Nhà Bè) tìm suốt một ngày không ra. Chắc là được... giải toả đền bù rồi. Miếu thờ Ông Hổ Tăng Nhơn Phú, có lễ cúng mà không có tục Bầu Ông.
1. Từ những năm 80 của thế kỷ trước, trong những chuyến điền dã ở các tỉnh Nam Bộ, tôi được bô lão nhiều nơi kể về cổ tục Bầu Ông Cọp làm Hương cả của làng và theo đó, từ thời khai hoang đến tận cuối thế kỷ XIX, các làng ấy không ai dám đứng ra nhận chức Hương cả, bởi theo sự xác tín rằng kẻ nào cả gan như vậy tức thì bị cọp ăn thịt ngay! Tập tục này tôi ghi lại trong một số bài viết, đặc biệt là trong sách viết về đình ở Nam Bộ, xuất bản đã mười mấy năm nay. Thế rồi, khi tết Canh Dần sắp đến, thế nhân lại quan tâm về cọp và có người bán tín bán nghi hỏi tôi rằng: Tập tục Bầu Ông có thật hay không? Đáp: Có. Hỏi: Ở đâu? Chỉ cho tôi một chỗ đi! Thế là phải lục đống sổ tay điền dã, cái thứ sổ ghi chép đủ thứ tai nghe, mắt thấy ấy giờ kiếm cái cần tìm thì chúng trốn mất tăm. Ngồi giở từng trang thì có đến Tết mới rồi, nên không còn cách nào hơn là "đi giang hồ" một chuyến theo chỉ dẫn của ký ức và theo lối "đường đi ở miệng" của truyền thống nghề nghiệp.
bongho-1.jpg
Đàn thờ Bạch hổ, đình Bình Thọ
Cứ vào ký ức, tôi trực chỉ đến miếu thờ Bạch Hổ ở bến Phú Định. Miếu thờ cọp thì có đó, lệ cúng hàng năm vẫn còn nhưng tục Bầu Ông dân bổn xứ bảo "Không nghe ông bà nói!". Miếu thờ Ông Hổ ở xã Nhơn Đức (Nhà Bè) tìm suốt một ngày không ra. Chắc là được... giải toả đền bù rồi. Miếu thờ Ông Hổ Tăng Nhơn Phú, có lễ cúng mà không có tục Bầu Ông. Ghé về đình Tân Kiểng, nơi mà sách Gia Định thành thông chí có ghi rằng nhà sư Hồng Ân đánh cọp được dân thờ tự ở đình này thì thấy có miếu thờ "Cậu Tư". Đọc bài vị thì đoán rằng, Hán tự chữ "Ân" có mặt chữ giống "Tư" (suy nghĩ/ tư duy) nên viết nhầm "Ân" thành "Tư" - và dân chúng gọi là Cậu Tư, hiểu là "Cậu Bốn"... Thế mới biết, chuyện nhà sư Hồng Ân và đệ tử Trí Năng xắn tay áo cứu đời, đánh cọp dữ ở chợ Tân Kiếng hồi năm 1770 được sách sử ghi chép đàng hoàng mà thời gian còn làm sai lạc đến vậy thì tục Bầu Ông làm sao mà không mai một.
2. Đi ròng rã hơn mươi ngày, rồi hay hổng bằng hên: tôi gặp được cổ tục Bầu Ông hiện còn bảo lưu ở đình Bình Thọ, Thủ Đức. Ông thủ từ ở đình Bình Thọ, dắt tôi đến đàn thờ Bạch Hổ đặt ở bên phải trước sân đình để xác định nơi tổ chức lễ Bầu Ông của đình làng Bình Thọ hàng năm. Ông kể rằng, Bình Thọ xưa là một trong bốn thôn của xã Phước Long: Trường Thọ, Bình Thọ, Bình Thái, Bình Phú. Dân chúng sống bằng nghề ruộng và rẫy, đặc sản nổi tiếng là thơm song rừng vẫn còn nhiều. Mãi đến sau 1945, 1954 nhiều cây cổ thụ mới bị chính quyền lúc bấy giờ triệt phá.
bungho-2.jpg
Văn tế Chúa Sơn lâm Mãnh hổ chi thần/lễ Bầu Ông
Khi hỏi truyền thuyết về cọp ở địa phương, ông thủ từ bảo: Ông bà tôi kể rằng, xưa ở đây có nhiều cọp, còn tôi khi lớn lên thì không thấy cọp beo gì. Có chuyện đặc biệt: Thuở ấy, có một lão nông khi đem cơm ra ruộng cho công cấy, thấy một ông Cọp nấp ở bìa rừng. Ông Cọp ấy cầm lên để xuống nhiều lần một nhánh lá cây che mặt để nhìn ra đám công cấy ngoài ruộng. Chờ Cọp bỏ vào rừng, ông lão mon men đến nhặt cành lá ấy đưa lên nhìn xuyên qua đó ngó ra đám công cấy thì thấy trong đám thợ cấy có một người biến dạng thành con heo. Thấy lạ, ông lão gọi mấy người khác đến thử và tất thảy đều thấy cảnh tượng như vậy. Thế là các chủ ruộng và công cấy đoán chắc người có dạng heo khi nhìn qua cành lá ấy sẽ bị cọp vồ. Bởi vậy, khi ra về, người ta bố trí người ấy đi giữa và mọi người đi trước sau để bảo vệ. Thế nhưng đến một đoạn đường, ông Cọp nhanh như chớp không biết ẩn từ đâu phóng ra vồ đúng người ấy tha đi mất. Truyện kể này, xác tín rằng Trời không cho phép cọp bắt người ăn thịt, nó chỉ được bắt thú vật để sống. Riêng những người có số phận phải bị cọp ăn thì cọp nhìn qua cành lá sẽ thấy hình dáng họ biến thành heo. Kẻ ấy, cọp được phép ăn thịt. Theo ông thủ từ, từ đó, lệ cúng heo (hay đầu heo) cho cọp thường phải bẻ một nhánh lá cây đậy lên. Cọp đến thụ hưởng lễ vật cầm nhánh lá ấy, để nhìn: xác định đó đúng là heo thì cọp mới ăn. Đó là cổ tục, nay không còn thấy nữa, chỉ thấy tục lấy mỡ chài phủ kín đầu con heo cúng Bạch Hổ.
bungho-3.jpg
Về chuyện cọp ở vùng đất này, ông Trưởng ban Qui tế đình Bình Thọ, cho biết chính ông cố của mình bị cọp vồ ở Bình Thái. Bấy giờ, dân chúng đồng loạt đánh trống, mõ đuổi theo và đến tận chợ Nhỏ (Tăng Nhơn Phú) mới tìm được thi hài đã bị cọp ăn mất nội tạng. Mộ cụ cố của ông hiện tồn ở Bình Thái. Tính ra, sự việc này xảy ra vào hồi nửa cuối thế kỷ XIX.
Tất cả những dữ liệu về cọp kể trên giải thích việc thờ Sơn quân ở các đình làng ở vùng Thủ Đức - quận 9, đặc biệt là miếu Ông thờ cọp hiện tồn ở Tăng Nhơn A (xã Tăng Nhơn Phú, quận 9) cũng như tập tục Bầu Ông ở đình Bình Thọ.
3. Bình Thọ trước đây là một trong 4 thôn thuộc xã Phước Long (quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định)(1). Mỗi thôn đều có đình thần, nhưng tập tục cúng tế của đình Bình Thọ có phần đặc dị hơn các đình kia: Một là, đình thờ tượng thần Thành hoàng sớm nhất, sau các đình khác mới tạo tượng thần. Cái khác thứ hai, là đình Bình Thọ cúng đại lễ luôn mời hát bội về hát chầu cúng thần, còn các đình kia cấm tuyệt không được hát bội. Đặc biệt tập tục Bầu Ông là lễ thức riêng của đình Bình Thọ và các đình khác không có, mặc dù các đình khác có miếu/ đàn thờ "Sơn quân".
bungho-4.jpg
Học trò lễ dâng rượu cúng Bạch hổ
Lễ Bầu Ông ở đình Bình Thọ được tổ chức đúng vào lúc 0 giờ khuya ngày 15 rạng ngày 16 tháng 2 âm lịch hàng năm, tức đêm trước ngày tổ chức Đại lễ Kỳ yên của đình (16 -2 ÂL). Đây là một lễ thức trang nghiêm và quy củ có tính chất điển lệ chứ không phải là hình thức thực hành nghi lễ dân gian. Cụ thể là lễ vật chu đáo (một con heo sống, một cỗ xôi trắng) với nghi thức tế lễ do học trò lễ thực hiện, có nhạc lễ tấu, theo lời xướng đọc nghi thức lễ bái, dâng lễ vật của viên chấp sự... Đại thể nghi thức tương tự như nghi thức tế thần Thành hoàng trong Đại lễ Kỳ yên. Tục Bầu Ông ở Bình Thọ có một bản văn tế chữ Hán nghiêm túc. Bản văn tế này được khắc trên gỗ cất giữ ở chùa Linh Sơn gần đình và mỗi khi tế lễ lại được in ra để xướng đọc và đốt đi. Điều này có khác với tập tục ở nơi khác, ở chỗ thay vì văn tế là một văn bản đựng trong cái ống tre - gọi là "Tờ cử", có nội dung rằng dân làng đồng lòng cử ông Cọp làm Hương cả. Theo tục truyền, mỗi năm, cứ đúng lệ, ông Cọp ra nhận lễ vật cùng "tờ cử" mới và trả lại "tờ cử" cũ. Nói chung, nghi thức của lễ Bầu Ông ở đình Bình Thọ đã được nâng cấp theo điển lệ tế tự chính thống Nho giáo, chứ không dừng lại ở hình thức cúng lễ các thần linh dân gian. Điều này cũng chỉ ra tầm mức quan trọng của tín ngưỡng thờ cọp đối với cộng đồng cư dân ở đây, đặc biệt là được bảo lưu khá lâu dài so với các địa phương khác; theo đó, tuồng như tín lý thờ cọp cũng biến đổi theo thời gian, chứ không phải được bảo thủ nguyên vẹn.
bungho-5.jpg
Miếu thờ Bạch hổ/ đường Bến Phú Định, TP.HCM
4. Theo ghi chép trong bài Văn tế cổ truyền được xướng đọc trong lễ Bầu Ông thì Thần Hổ được gọi là "Chúa Sơn lâm Mãnh hổ chi thần" trong khi đó trên bài vị ở đàn thờ lại đắp nổi hai chữ Hán "Bạch hổ" với phù điêu ở tấm hậu chẩm đắp nổi hình hổ trắng đứng ở góc trái (từ trước nhìn vào) trên bối cảnh "sơn lâm". Sự khác biệt này là một điều đáng lưu ý.
Rõ ràng là danh hiệu ghi trong văn tế thuộc tín lý truyền thống phổ biến trong tín ngưỡng thờ hổ ở Nam Bộ cũng như vùng đất này: Sơn quân chi thần hay gọi tắt Sơn quân (như ở đình Trường Thọ, kế bên đình Bình Thọ), Sơn lâm Hổ lang chi thần, Mãnh hổ Đại tướng quân, Lý Nhĩ Đại tướng quân, Sơn quân Mãnh hổ Lý Nhĩ chi thần... Đây là tín ngưỡng thờ cọp như vị thần bảo hộ cộng đồng, một tín lý bắt nguồn từ thực tế "Dưới sông sấu lội, trên bờ cọp um" của lưu dân thời khẩn hoang ở vùng đất mới. Còn tập tục thờ Bạch hổ thì bắt nguồn từ tín điều "Tả Thanh long - Hữu Bạch hổ" của thuật phong thủy, song chắc chắn hơn là tín lý của Đạo giáo được truyền bá vào xứ ta, trực tiếp từ các cộng đồng di dân người Hoa đến Nam Bộ.
bungho-6.jpg
Tượng Bạch hổ/ Miếu thờ Bạch hổ/đường Bến Phú Định, TP.HCM
Thanh long vốn là Thần Thương long, chủ quản phương Đông trong thần thoại Trung Hoa, tức chòm "thất tinh" (Giốc, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ) có bố cục hợp thành hình con rồng trên bầu trời hướng Đông. Còn Bạch hổ là vị thần chủ quản phương Tây trong thần thoại cổ đại Trung Hoa, tức chòm "thất tinh" (Khuê, Lâu, Vị, Mão, Chủy, Sâm, Tất) cấu thành hình con hổ trên bầu trời phía Tây. Rồng ở phương Đông ứng với Mộc (một trong ngũ hành) nên thành Thanh long; hổ ở phương Tây ứng với hành kim nên có màu trắng: Bạch hổ. Bạch hổ, cùng Thanh long. Chu tước (Nam), Huyền vũ (Bắc) gộp lại thành tứ phương tứ thần. Đạo giáo thường dùng 4 thần này làm thần hộ vệ để tăng thêm oai nghi. Về sau Tứ phương thần được nhân cách hóa. Bạch hổ được gọi là "Giám danh thần quân". Chức trách của Thanh long và Bạch hổ canh gác các sơn môn đạo quán như Hộ pháp của chùa (2).
Trong thực tế, việc thờ Thanh long - Bạch hổ ở các đền miếu của người Hoa, cũng thấy lan sang đình miếu của người Việt, là cặp tượng Rồng xanh và Hổ trắng chứ không thấy thờ mỗi một Bạch hổ riêng biệt như trường hợp ở đình Bình Thọ và một số miễu thờ Bạch hổ khác (như miếu Ông Hổ ở đường Bến Phú Định, quận 8, TP.Hồ Chí Minh chẳng hạn). Hiện tượng này hẳn bắt nguồn từ tín lý khác.
5. Trong câu chuyện về tập tục Bầu Ông ở đình Bình Thọ, tôi gạn hỏi: Ông cọp ở bình phong trước đình là ông cọp vàng, còn ông cọp thờ ở đàn thờ lại là ông Bạch hổ? Ông thủ quỹ đáp: Chú biết tại sao không? Ông Bạch hổ là ông cọp tu, không ăn thịt người. Điều xác tín này là nếp nghĩ khá phổ biến ở Nam Bộ. Truyền thuyết về hai con cọp dữ ở núi Lớn (Thắng Nhì, Vũng Tàu) đã nhường hang của mình cho vị du tăng họ Trương làm cốc tu hành. Cứ sáng chiều, khi nghe tiếng mõ tụng kinh thì chúng đến bên cốc phủ phục nghe kinh và từ đó, không còn vào thôn quanh vùng bắt gia súc ăn thịt nữa.
Truyền thuyết tương tự ở chùa Chơn Tiên (Bà Rịa) cũng kể rằng Bạch hổ đã nhường hang cho Tổ khai sơn ngôi chùa này tu hành khi chưa kiến tạo tự viện và từ đó, Bạch hổ chỉ "trường trai" bằng mít chín trong rừng (3).
Các truyền thuyết trên, cũng như việc nhà sư Tăng Ngộ, Tổ khai sơn chùa Tôn Thạnh (Cần Giuộc, Long An) khi chặt phá cây rừng đắp con lộ từ chùa ra chợ dài 250 trượng thì "cọp dữ gặp ông đều cúi đầu mà đi qua không dám xâm phạm"...(4) đều biểu thị quan niệm "thiên nhân tương ứng", rằng: Đạo cao long hổ phục, đức trọng quỷ thần kinh. Ở đó, tuy có ánh lên quan niệm về việc chuyển đổi tính ác sang tính thiện, tức từ cọp dữ sang cọp tu, song không xác định rõ tín niệm Bạch hổ là loài cọp không ăn thịt người như truyện Bạch hổ của ông Tăng chủ (đại đệ tử của Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên) ở Bảy Núi (An Giang). Ở truyện này, Bạch hổ chẳng những không ăn thịt người và thú vật mà còn trừ khử những loại cọp dữ khác ở núi Bà Độ Om (5). Câu chuyện chỉ rõ rằng Bạch hổ đối lập với bọn cọp dữ hại người, được gọi là hạm. Do đó, có sự xác tín rằng ở đâu có mặt Bạch hổ thì bọn cọp dữ không dám lai vãng. Chính vì vậy, Bạch hổ không chỉ là biểu trưng cho loài "cọp tu" mà còn có công năng xua đuổi bọn cọp dữ. Đây là tín lý phổ biến của tín ngưỡng thờ Bạch hổ ở xứ này.
Nói chung, ngày nay chúng ta khó truy cứu nguồn gốc của tín lý này, song qua các truyền thuyết đã trình bày trên, chúng ta thấy, khá gần gũi với điển tích Hoa Lâm nhị hổ (6) phổ biến của Phật giáo Bắc tông và thấy xuất hiện trong bài Phổ khuyến phát Bồ đề tâm của Trần Thái Tông (1218-1277):
(...) Thiền đạo nhược vô hướng vị, Thánh hiền hà khẳng quy y? Hoa Lâm cảm nhị hổ tùy thân, Đầu Tử tam nha báo hiểu (...)
(Nghĩa: Đạo thiền nếu không thú vị, Thánh hiền sao chịu quy y? Hoa Lâm khiến hai hổ cảm theo, Đầu Tử có ba chim báo sáng...) (7).
Chính việc các truyền thuyết về Bạch hổ ở Nam Bộ thường gắn với các thiền sư tôn túc, đạo cao đức trọng, nên giả thiết chúng bắt nguồn từ điển tích "Hoa Lâm nhị hổ" cũng có cơ sở minh chứng chứ không phải là đoán định vô bằng.
Huỳnh Ngọc Trảng (Giác Ngộ Xuân Canh Dần - 2010)
Chú thích (1) Văn tế lễ Bầu Ông ghi "Đại Nam quốc. Nghĩa An huyện, An Điền tổng, Bình Thọ thôn". (2) Xem Lão Tử - Thịnh Lê: Từ điển bách khoa Nho - Phật - Lão. Bản dịch của Trương Đình Nguyên và nhiều dịch giả khác/ Nxb Văn Học, 2001. (3) Xem Huỳnh Ngọc Trảng - Trương Ngọc Tường: Nghìn năm bia miệng. Nxb TP.HCM, 1992, tập I, tr 235-237; 299-301. (4) Đại Nam nhất thống chí/ lục tỉnh Nam Việt/ Tỉnh Gia Định. Mục Tăng thính. (5) Theo Đào Hưng - Vương Kim: Đức Phật thầy Tây An. Sài Gòn, 1953, tr.59-62; xem thêm: Liêm Châu: Bạch hổ tử chiến cùng Hắc hổ ở Núi Cấm/ Thiên Cẩm Sơn/ trong Mười đỉnh núi thiêng, Văn Nghệ Châu Đốc, 2002, tr 59-60. (6) Hoa Lâm nhị hổ: Hai con hổ được ngài Hoa Lâm Thiện Giác hàng phục. Hoa Lâm - Thiện Giác, người nối pháp của Mã Tổ Đạo Nhất, có hai con cọp theo làm thị giả. Tể tướng Bùi Hưu cảm phục bí thuật nhiếp hổ của ngài nên đem việc ấy thưa hỏi. Ngài đáp (Vạn tục 148, 104 thượng): "Sơn tăng thường niệm Quán Âm". Theo Từ điển Phật học Huệ Quang. Cảo bản, tr.2875. (7) Huệ Chi chủ biên: Thơ văn Lý - Trần. Nxb KHXH, H., 1988, tập II, quyển Thượng, tr.38-69.
https://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=5B5003
-
Thực hư tin đồn chuyện bạch xà khổng lồ hiện hình dọa Trưởng Công an xã
Chủ nhật, 26/04/2015 | 19:37 GMT+7
(ĐSPL) - Cửu Thiên Miếu tọa lạc trên một đồi đá thuộc núi Dài của huyện biên thùy Tri Tôn. Từ lúc hình thành, sự linh thiêng, huyền bí của Cửu Thiên Miếu đã được người dân xôn xao, ca tụng, cũng như vô vàn lời đồn chưa thể xác thực.
Đáng chú ý, tin đồn Trưởng Công an xã Lương Phi chính mắt thấy bạch xà khổng lồ hiện hình ở trên đồi Cửu Thiên Miếu gây không ít hoang mang cho người dân...
Huyền tích giếng tiên chữa bệnh, miếu bà ban con
Ông Lê Văn Tám (48 tuổi, ngụ ấp An Thành, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, An Giang), người có hơn 10 năm trông giữ Cửu Thiên Miếu (ấp An Thành, xã Lương Phi) cho biết, miếu này được Đức Bổn sư tức ông Ngô Lợi, người tạo lập đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, xây dựng cùng lúc với chùa Tam Bảo ở huyện Ba Chúc (An Giang).
Thực hư tin đồn chuyện bạch xà khổng lồ hiện hình dọa Trưởng Công an xã - Ảnh 1
Cửu Thiên Miếu đơn sơ trên đồi đá (ảnh Hà Nguyễn).
Ban đầu, miếu chỉ được dựng lên từ tre trúc và lá rừng, theo thời gian và những huyền tích kỳ lạ truyền tụng, miếu được người dân sùng bái xây dựng khang trang. Ông Tám khẳng định Cửu Thiên Miếu sở hữu rất nhiều câu chuyện kỳ lạ.
Khung cảnh xung quanh Cửu Thiên Miếu rất kỳ bí. Miếu trơ trọi trên đồi đá tảng, mùa khô cây cối trơ cành lộ ra chi chít những tổ ong mặt quỷ hung tợn. Tuy nhiên, người dân cho biết, trong khu vực chưa bao giờ xảy ra chuyện ong chích người, dù loại ong này nổi tiếng cực độc.
Ông Tám chia sẻ: “Cửu Thiên Miếu thờ Cửu Thiên Huyền nữ, là bà tiên ở tầng thứ chín rất huyền diệu. Xưa, bà rất linh và hay trách quở trẻ con lên miếu quấy phá nhưng bây giờ đỡ nhiều rồi. Bây giờ, người ta chủ yếu lên đây xin con và xin trúng số, số đề”. Nói xong, ông Tám chỉ đường cho PV sang nơi có giếng tiên mà người dân thường đến lấy nước uống để trị bệnh.
Thực hư tin đồn chuyện bạch xà khổng lồ hiện hình dọa Trưởng Công an xã - Ảnh 2
Một trong số 9 giếng tiên tại Cửu Thiên Miếu (ảnh Hà Nguyễn).
Theo quan sát của PV, giếng tiên chỉ là những ô nước lớn hơn bàn chân người một chút. Trên khu đá cạnh Cửu Thiên Miếu, PV ghi nhận có chín giếng tiên nhưng chỉ một số là còn nước, số khác đã khô cạn. Giếng còn nước thì màu nước đen kịt, không thể uống được. Vậy mà, bà Nguyễn Thị H. (64 tuổi, ngụ ấp An Thành, xã Lương Phi) sống dưới chân đồi Cửu Thiên Miếu khẳng định: “Nước giếng tiên đó quý lắm, nhiều khách hành hương đi xe đến đây để múc nước về dùng cho khỏi bệnh, ai hiếm muộn thì sẽ sớm có con trai”.
Để thêm bằng chứng, bà H. kể: “Gia đình tôi mới về đây sinh sống hơn tám năm nhưng đã chứng kiến nhiều việc kỳ lạ. Mấy năm trước, một người đàn ông chở theo vợ con đến miếu để tạ ơn đã kể lại cho tôi nghe chuyện của anh ta. Số là, lúc còn nhỏ, anh này được mẹ chở lên miếu vài lần để thắp hương. Bẵng đi khoảng mười mấy năm, anh này lớn lên lấy vợ nhưng chẳng may bệnh nặng, nghe nói là ung thư.
Anh ta buồn bã lấy xe chạy lung tung rồi chạy đến Cửu Thiên Miếu lúc nào không hay. Anh ta ra giếng tiên rửa mặt thì thấy tinh thần sảng khoái. Chợt nghĩ lấy nước giếng về uống cầu may, không ngờ, anh này khỏi bệnh, vợ sinh được thằng con trai kháu khỉnh. Vừa rồi, vợ chồng, con cái lên đây để tạ ơn”.
Bạch xà hiện hình dọa Trưởng Công an xã?
Ads by AdAsia
End of ad break in 13 s
You can close Ad in {40} s
Người dân ở xã Lương Phi còn truyền tai nhau Cửu Thiên Huyền nữ sẽ độ trì cho người muộn con, nhưng người đó phải có tấm lòng nhân hậu và thành tâm tin tưởng vào sự nhiệm màu của trời đất. Bà H. khẳng định: “Hễ thấy cặp vợ chồng nào mà dẫn một đứa nhỏ đến miếu cúng bái là biết ngay họ từng đến đây cầu con. Ngoài cầu con, nhiều người còn cầu làm ăn thuận lợi, cầu trúng số. Vừa rồi có người đến cúng heo quay trả lễ, không biết có phải trúng số không”.
Thực hư tin đồn chuyện bạch xà khổng lồ hiện hình dọa Trưởng Công an xã - Ảnh 3
Cổng Cửu Thiên Miếu dưới chân đồi đá (ảnh Hà Nguyễn).
Những câu chuyện mang màu sắc kỳ bí vẫn chưa dừng lại ở việc chữa bệnh, cầu con mà còn ly kỳ hơn, khi có tin đồn chính Trưởng Công an xã Lương Phi đã chạm trán bạch xà khổng lồ trên đỉnh đồi, nơi có Cửu Thiên Miếu tọa lạc.
Câu chuyện Trưởng Công an xã Lương Phi chạm trán bạch xà khổng lồ được bà H. kể lại tỉ mỉ với PV báo ĐS&PL. “Chính miệng Trưởng Công an xã Lương Phi kể cho chúng tôi nghe chuyện ông thấy bạch xà trên Cửu Thiên Miếu. Ông ta kể rằng, ông lên miếu kiểm tra an ninh trật tự cũng như phòng chống cháy rừng như mọi lần.
Ông đi cùng với một số công an viên khác nữa, tất cả họ đều nhìn thấy bạch xà nằm dưới tảng đá xung quanh có tre bao bọc. Ban đầu họ chỉ thấy một con rắn trắng nhỏ nhưng không biết tại sao càng nhìn nó lại càng lớn lên. Thấy chuyện lạ, họ sợ hãi, bỏ chạy xuống chân đồi. Định thần lại, họ trở lên đỉnh đồi thì không thấy bạch xà đâu nữa”, bà H. thuật lại.
Ngoài nguồn tin về bạch xà khổng lồ, bà H. cho biết: “Tôi còn nghe người dân sống lâu năm ở gần Cửu Thiên Miếu kể lại, hơn chục năm trước, ban đêm không ai dám đi ngang con đường dưới chân đồi. Họ kháo nhau, vào sáng tinh mơ thường thấy những dấu chân rất to in trên nền đất, chắc phải là ông Hổ lớn lắm mới để lại dấu chân to như thế. Thường những ai ăn ở ác nhơn sẽ bị dọa bằng những con ác thú khổng lồ, nên người dân ở đây rất cẩn trọng lời ăn tiếng nói”.
Chị Nguyễn Thị B. (32 tuổi, ngụ ấp An Thành, xã Lương Phi) kể thêm: “Hai năm trước, một tài xế chở xe đá ngang đây giữa trưa nắng đã bị lật nhào một cách kỳ lạ. Sau tai nạn, người tài xế này kể lại, anh ta chạy xe đến khu vực dưới chân đồi Cửu Thiên Miếu đúng 12h trưa. Đường rất vắng, tài xế chạy xe rất thong dong thì bỗng nhiên thấy ba người con gái chặn trước đầu xe”.
“Hễ tài xế cố lách xe sang trái thì họ xuất hiện bên trái, khi lách sang phải thì họ lại xuất hiện bên phải. Bởi vậy, người dân hai bên đường thấy xe tải cứ vòng vèo lung tung rồi lật nhào. Thế nhưng, người tài xế này không bị trầy xước gì hết, ai cũng kinh ngạc”, chị B. hào hứng kể lại.
Người dân xã Lương Phi còn biết bao câu chuyện ly kỳ xung quanh ngôi miếu cổ xấp xỉ trăm tuổi. Tuy nhiên, đằng sau những câu chuyện ấy cũng có vô số mục đích không tốt, làm mất an ninh trật tự địa phương.
Đem những hoài nghi vừa thu nhặt được từ người dân, PV đã liên hệ với Trưởng Công an xã Lương Phi (huyện Tri Tôn, An Giang) để xác thực thông tin, ông này cho biết: “Đúng là tôi có phát hiện một con rắn, nhỏ thôi nhưng không phải màu trắng. Chắc người dân nghe nhầm rồi đồn thổi thêm. Chuyện một nói mười vốn cũng không lạ gì, vả lại, bạch xà ở vùng Thất Sơn cũng không thuộc dạng hiếm, chỉ là lớn hay nhỏ thôi”.
Tất cả chỉ là tin đồn
Ông Phạm Minh Hải, Chủ tịch UBND xã Lương Phi cho biết: “Ban tế tự của Cửu Thiên Miếu hoạt động rất tích cực. Mỗi khi tổ chức cúng bái, lễ hội, họ đều xin phép địa phương. Tuy nhiên, chính quyền địa phương không phân công ông Từ trông coi miếu mà do người dân tự tín ngưỡng rồi ông này dành thời gian chăm sóc, nhang khói.
Những thông tin mà người dân đồn thổi đều là mê tín, không hề có thật. Những năm trước, đúng là có hiện tượng một số người dân đến miếu thắp nhang cúng vái khá đông nên chúng tôi phải cắt cử lực lượng để giải tán. Sau lần đó, địa phương chú ý nhiều hơn đến việc ngăn chặn các thông tin mê tín lan truyền trong nhân dân và thường xuyên cắt cử lực lượng để bảo vệ miếu. Vì miếu nằm trong địa điểm nhạy cảm trong công tác quản lý phòng chống cháy rừng”.
NGỌC LÀI - HÀ NGUYỄN
Xem thêm video: Thực hư tin có đỉa trong bụng người do ăn bánh kẹo
http://media.doisongphapluat.com/thu...ng-an-xa-1.JPG
http://www.doisongphapluat.com/tin-t...xa-a92282.html
-
-