Oṃ vaśi pramaṇi svāhā (3 lần)
[Oṃ: Cảnh giác
Vaśi: hiểu thấu
pramaṇi: viện ngọc như ý thắng thượng
svāhā: thành tựu tốt lành]
( https://kinhmatgiao.files.wordpress....-thiet-yeu.pdf )
Printable View
Oṃ vaśi pramaṇi svāhā (3 lần)
[Oṃ: Cảnh giác
Vaśi: hiểu thấu
pramaṇi: viện ngọc như ý thắng thượng
svāhā: thành tựu tốt lành]
( https://kinhmatgiao.files.wordpress....-thiet-yeu.pdf )
http://s1.upanh123.com/2016/11/17/44543f866.jpg
http://www.dharmacrafts.com/mm5/grap...00001/4449.jpg
http://s1.upanh123.com/2016/11/17/44487e516.jpg
( http://www.dharmacrafts.com/4454/blu...-offering-bowl / http://www.tibetantreasures.com/shrine_items.html / https://www.shutterstock.com/search/...=vector&page=2 )
Đức BẢO-KẾ NHƯ LAI = Đức BẢO-THẮNG NHƯ LAI
[ “宝胜如来”和“宝髻如来”的区别 ]
( http://www.fomen123.com/fo/jingdian/xyjl/7683.html / http://chinese.thekchencholing.org/w...NG-Eng-Chi.pdf )
I. Đức BẢO-KẾ NHƯ-LAI:
http://s1.upanh123.com/2016/11/17/BJdedc6.jpg
http://s1.upanh123.com/2016/11/17/MBXc3708.jpg
宝髻如来
NA MÔ BẢO-KẾ NHƯ LAI
Namo Ratnasikhine Tathagata
NAMO RATNA-SIKHINE TATHAGATA
Namo Bhagavate Ratna-Sikhine Tathagataya
II. Đức BẢO-THẮNG NHƯ-LAI / Đức BỬU-THẮNG NHƯ-LAI:
宝胜如来
NA MÔ BẢO-THẮNG NHƯ LAI
Namo Ratnasvabhava Tathagata
NAMO RATNA-SVABHAVA TATHAGATA
( Namo Bhagavate Ratna-Sikhine Tathagataya )
===========
*THÍCH NGHĨA:
#Đức BẢO-THẮNG NHƯ-LAI / Đức BỬU-THẮNG NHƯ-LAI:
1. Theo Kinh KIM QUANG MINH Hiệp Bộ do Dịch giả : Tỳ Kheo Ni Như Ấn; trích lược Chương 9: QUYỂN 4 PHẨM THỨ MƯỜI SÁU TRƯỞNG GIẢ LƯU THỦY:
Ông lại nghĩ rằng: Trước ta từng nghe 1 vị Tỳ Khưu ở chỗ thanh vắng, đọc tụng Kinh điển Đại Thừa Phương Đẳng, trong Kinh nói rằng: "Nếu có chúng sanh trong lúc lâm chung được nghe Danh Hiệu BẢO THẮNG NHƯ LAI, liền sanh Cõi Trời." Ta nay sẽ vì mười ngàn cá nầy, nói pháp thậm thâm 12 Nhơn Duyên, và xưng Danh Hiệu Đức PHẬT BẢO THẮNG!
Bấy giờ ở cõi Nam Diêm Phù Đề có 2 hạng người, một hạng thâm tín Đại Thừa Phương Đẳng, hạng thứ hai lại thường hay hủy báng không sanh lòng tin! Nên Trưởng giả nghĩ nay ta sẽ lặn vào trong ao nước, vì số cá nầy nói Pháp thâm diệu; suy nghĩ thế rồi liền lặn xuống ao, nói như thế nầy:
"Na mô Quá-Khứ BẢO THẮNG NHƯ LAI, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. BẢO THẮNG NHƯ LAI thuở xưa trong khi tu Bồ Tát Hạnh, thệ nguyện rằng nếu có chúng sanh nào, ở mười phương cõi, đến lúc Lâm Chung, nghe Danh Hiệu ta, sẽ khiến chúng ấy sau khi mạng chung, liền sanh Cõi Trời thứ 33(1). Rồi thì Trưởng giả lại vì số cá ấy giải nói Pháp thậm thâm vi diệu 12 Nhơn Duyên: "Vô minh duyên Hành, rồi Hành duyên Thức, Thức duyên Danh Sắc, Danh Sắc tiếp tục duyên đến Lục Nhập, Lục Nhập duyên Xúc, Xúc lại duyên Thọ, Thọ lại duyên Ái, Ái lại duyên Thủ, Thủ duyên đến Hữu, Hữu lại duyên Sanh, Sanh duyên Lão Tử, Ưu Bi Khổ Não!"
2. Theo KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN , trích lược PHẨM THỨ CHÍN XƯNG DANH HIỆU CHƯ PHẬT:
*HT. Thích Trí Tịnh dịch:
Ngài Địa-Tạng bạch cùng Đức Phật rằng:
Lại hằng hà sa kiếp về thuở quá khứ, có Ðức Phật ra đời hiệu là BẢO THẮNG NHƯ LAI / BỬU THẮNG NHƯ LAI.
Như có người nam người nữ nào được nghe Danh Hiệu của Ðức Phật đây, phát tâm Quy y với Phật trong khoảng khảy móng tay, Người này trọn hẳn không còn thối chuyển nơi Đạo Vô Thượng Chánh Giác.
*Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận Dịch sang Tiếng Việt:
Lúc bấy giờ Địa Tạng Đại Bồ-tát bạch Phật rằng:
Lại vào thuở quá khứ vô lượng vô số Hằng Hà sa kiếp, có Đức Phật xuất hiện ở thế gian, hiệu là BẢO THẮNG NHƯ LAI. Nếu có kẻ nam người nữ nào nghe được Danh Hiệu của Đức Phật này, thì sẽ không bao giờ đọa Đường Ác, thường sinh lên Trời, và thọ hưởng an vui thù thắng vi diệu.
3. Theo Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Thiển Thích Quyển Trung Phẩm Thứ Chín XƯNG DANH HIỆU CHƯ PHẬT do Tuyên Hóa Thượng Nhân giảng thuật:
Kinh văn:
Lại vô lượng vô số kiếp nhiều như cát sông Hằng về thuở quá khứ, có Đức Phật ra đời hiệu là BẢO THẮNG NHƯ LAI. Như có người nam người nữ nào nghe đến Danh Hiệu của Ðức Phật này, thì sẽ không bao giờ bị đọa vào ác đạo, mà thường ở trên cõi trời, hưởng sự vui thù thắng vi diệu.
Lược giảng:
"Lại vô lượng vô số kiếp nhiều như cát sông Hằng về thuở quá khứ, có Đức Phật ra đời hiệu là BẢO THẮNG NHƯ LAI." Theo tiếng Phạn, "Bảo" là "Ra-Đạt-Nam"; và "Thắng" là "Tỳ-Bà."
"Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật này—Ðức BẢO THẮNG NHƯ LAI—thì sẽ không bao giờ bị đọa vào Ác Đạo, mà thường ở trên Cõi Trời, hưởng sự vui thù thắng vi diệu." Người ấy rốt ráo sẽ không bị đọa lạc trong Đường Ác, thường được ở tại Cõi Trời, thọ hưởng sự vui thù thắng vi diệu nhất.
4. Theo KINH DU GIÀ TẬP YẾU CỨU A NAN ĐÀ LA NI DIỆM KHẨU QUỸ NGHI:
Na mô Đức BẢO THẮNG NHƯ LAI ( Nếu có Đại Chúng, một thời vì họ xưng )
( Các hàng Phật Tử! Nếu nghe Danh Hiệu của Đức BẢO THẮNG NHƯ LAI, hay khiến cho Các Ngươi thảy đều tiêu diệt Lửa Nghiệp trần lao )
5. Theo NHỊ KHÓA HIỆP GIẢI do HT. Thích Khánh Anh dịch:
Na mô Đức BẢO THẮNG NHƯ LAI
( Nghe Danh của Đức PHẬT BẢO THẮNG hay dứt được Lửa Nghiệp phiền não sanh tử, liền đắc Cái Trí Bửu Pháp Tánh bực Vô Thượng )
6. Theo việc tìm hiểu Phạn Ngữ về " Ý Nghĩa Danh Hiệu Của Chư Phật ":
Ratnajina Tathāgata = BẢO-THẮNG NHƯ-LAI [ ratna (n) = cái quí báu; jina (a,m) = chiến thắng; người chinh phục) ]. Nhưng việc sử dụng Hồng Danh Phạn Ngữ này, không được thông dụng phổ thông lắm trong Kinh Văn.
Vậy theo KINH KIM QUANG MINH (KINH ÁNH SÁNG HOÀNG KIM) do HT. Thích Trí Quang Dịch Giải dựa vào Bản Hoa Dịch của Ngài Nghĩa Tịnh, và căn cứ vào các mục: 1) 2) 3) 4) 5) ở phần trên => Đức BẢO-THẮNG NHƯ-LAI / Đức BỬU-THẮNG NHƯ-LAI = Đức BẢO-KẾ NHƯ-LAI ( Tuy Hồng Danh có 2 Danh Hiệu khác nhau; Nhưng tất cả cũng chỉ: đồng 1 Danh đồng 1 Hiệu của 1 Vị Phật mà thôi ! ). Nhưng việc sử dụng Hồng Danh Đức Phật này, lại có tính cách khác nhau, tùy vào trường hợp cụ thể, mà Niệm cho Khế Hợp; tỷ như:
.Trong Pháp PHÓNG SANH theo Kinh KIM QUANG MINH, thì sử dụng và Niệm Hồng Danh: Na mô BẢO-KẾ NHƯ LAI.
.Trong Pháp THÍ THỰC theo KINH DU GIÀ TẬP YẾU CỨU A NAN ĐÀ LA NI DIỆM KHẨU QUỸ NGHI, thì sử dụng và Niệm Hồng Danh: Na mô BẢO-THẮNG NHƯ LAI.
Ly kỳ chuyện 'phát' thức ăn cho quỷ đói
( http://chuaphuclam.vn/index.php?/pha...o-quy-doi.html )
Một con quỷ đói hiện ra trước mặt A Nan, một đệ tử của Phật Thích-ca Mâu-ni báo rằng ba ngày nữa là chết. Trước cái cảnh bi thảm như thế, A Nan đã hỏi gã quỷ ấy làm sao thì khỏi chết. Quỷ bảo rằng phải bố thí cho nó... Nhờ việc bố thí đó mà A Nan đã không những thoát chết mà còn trường thọ.
Trong vòng gần 200 năm trị vì, nhà Lý đã tổ chức rất nhiều lễ hội kỳ an, thí thực cô hồn đầu năm cho toàn thể dân chúng Đại Việt. Chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử lược đều ghi về một trong những lễ kỳ an, thí thực cô hồn nổi bật của vương triều này - hội đèn Quảng Chiếu
Hội đèn thí thực cô hồn, cầu quốc thái dân an
Đại Việt sử lược ghi, vào năm Canh Dần (1110): “Mùa Xuân tháng Giêng, tổ chức hội đèn Quảng Chiếu ở ngoài cửa Đại Hưng” và vào năm Bính Thân (1116) lại ghi “Mùa Xuân tháng Giêng tổ chức hội đèn Quảng Chiếu ở ngoài cửa Đại Hưng, chế tạo nhà sư bằng gỗ cột vào đánh chuông”.
Còn Đại Việt sử ký toàn thư ghi vào năm Canh Tý (1120) “Mùa Xuân, tháng Hai, mở hội đèn Quảng Chiếu” và vào năm Bính Ngọ (1126) “Mùa Xuân tháng Giêng, mở hội đèn Quảng Chiếu bảy ngày đêm. Tha người có tội ở phủ Đô Hộ, xuống chiếu cho sứ thần của Chiêm Thành xem”...
Theo Đại Đức Thích Phước Đạt, trong ý nghĩa đó, sự chuẩn bị lễ kỳ an - hội đèn Quảng Chiếu mà chính sử ghi nhận được tổ chức hoành tráng. Văn bia Sùng Thiện Diên Linh tả như sau: “Dựng đài cao Quảng Chiếu, nhắm sân trước cửa Đoan Môn, trong nêu một cột, ngoài đặt bảy tầng, uốn mình rồng hình cung hiện ra mà đỡ lấy sen vàng, may lồng nhiễu mà che cho lửa nến, giấu máy nhỏ dưới đất, xoay tròn như bánh xe, tỏa ánh sáng giữa trời như mặt trời rực rỡ, lại có thánh báo nghiêm trang rõ ràng. Đền vàng điện báu nhờ thành ý mà dựng nên, đặt ngôi tượng Đức Phật cao vót, dáng vẻ văn thiên, hình thô vẻ lạ"...
Điểm nhấn của mô hình lễ hội này là ngôi tháp 7 tầng hùng vĩ với sự trang hoàng hết sức cầu kỳ bằng châu ngọc, được thiết kế với các thiết bị đặt ngầm bên dưới để có thể quay chiếc tháp 7 tầng. Điều đáng nói là bên trong ngôi tháp tôn trí tượng Đa Bảo Như Lai trên ngọn núi vàng. Hai bên tòa Bạch Ngân đặt tượng A Di Đà và Đức Diệu Sắc Thân. Thứ nữa là hai tòa Điểu Văn đặt hai tượng Đức Như Lai Quảng Bác Thân và Ly Bố Úy. Và cuối cùng là hai tòa Tượng Xỉ thờ Đức Cam Lồ Vương và Bảo Thắng. Bảy vị Như Lai này tuy thuộc hệ Mật giáo, nhưng lại được đề cập tới rất giới hạn như một hệ thống bảy Đức Như Lai.
Theo các bản kinh như Du già tập yếu cứu A Nan nghi quỷ, Du già tập yếu diệm khẩu thí thực nghi kinh và Cứu bạt diệm khẩu ngạ quỷ Đà la ni thuộc Đại tạng kinh thì 7 vị Như Lai này có chung một chức năng độ trì được thực thi trong các nghi thức chẩn tế, bạt độ, cúng ngạ quỷ của Phật giáo. Và trong một lễ kỳ an - hội đèn Quảng Chiếu vui như lễ hội dân tộc nhằm “dốc hết hòa vui của thiên hạ, để đêm trở thành ngày” không thể không có mô hình “thất bảo Như Lai” vừa mang tính hoành tráng vừa mang giá trị tâm linh kết nối yêu thương các loài, các thế hệ với quan điểm đầy chất nhân văn “âm siêu dương thái”.
Rõ ràng việc thờ tự và đảnh lễ 7 vị Phật này trong lễ hội kỳ an trọng đại đầu năm như thế này là có lý do của nó. Bản kinh Cứu bạt diệm khẩu ngạ quỷ đà la ni kể rằng có một con quỷ đói hiện ra trước mặt A Nan, một trong Thập đại đệ tử của Phật Thích-ca Mâu-ni, báo rằng ba ngày nữa là chết. Trước cái cảnh bi thảm như thế, A Nan đã hỏi ngạ quỷ ấy làm sao thì khỏi chết. Quỷ bảo rằng phải bố thí cho nó. A Nan đến thỉnh cầu Phật và được Ngài chỉ cho nghi thức cúng quỷ đói. Nhờ việc bố thí đó mà A Nan đã không những thoát chết mà còn trường thọ.
Hội đèn Quảng Chiếu là một trong những lễ kỳ an nổi bật của vương triều Lý. (Ảnh minh họa)
Đúng như bản kinh chép “Ban thức ăn cho quỷ đói thì liền có thể đầy đủ được vô lượng công đức, giống như công đức cúng dường cho trăm ngàn ức Như Lai không sai khác. Được thọ mạng lâu dài, tăng thêm sức lực và vẻ đẹp, căn lành đầy đủ. Hết thảy A tu la, Dạ xoa, La sát, các ác quỷ thần không dám xâm hại, lại thành tựu được vô lượng công đức thọ mạng”. Cho nên, trong một thời khắc quan trọng của ngày đầu năm, hẳn nhiên người ta càng mong muốn được Phật Thánh độ trì cho mình và mọi người được sống lâu trường thọ, sắc thân thêm tươi đẹp. Xem ra từ một nghi thức cúng cho quỷ đói, nó đã được đưa vào trong nghi lễ cầu an, cũng như trong các lễ hội dân tộc, phục vụ cho người còn sống.
Tại đây ta dễ dàng hiểu tại sao một lễ hội đèn Quảng Chiếu rực sáng suốt đêm như ánh mặt trời chiếu ban ngày, nhộn nhịp và tưng bừng như thế lại có thêm nghi thức cúng quỷ đói của Mật giáo. Bởi vì có gì hạnh phúc hơn bằng khi con người được Phật độ trì sống lâu, mạnh khỏe và sắc đẹp thêm bội phần. Cũng vì lẽ này mà trong tâm thức người Việt Nam kể từ đó, bất cứ sự kỳ nguyện nào, nghi thức cúng cấp nào phục vụ cho người sống đều kèm theo nghi cúng cô hồn để nguyện cầu tăng phước và tăng thọ...
Công phu việc phục dựng Hội đèn Quảng Chiếu
Qua sự biến động của lịch sử, lễ hội đèn Quảng Chiếu đã bị mai một và tới nay tư liệu lưu truyền lại rất hiếm hoi. Sau khi Hoàng thành Thăng Long được công nhận là Di sản văn hóa thế giới, việc phục dựng lễ hội này càng trở nên cần thiết để đề cao giá trị văn hóa di sản. Nhưng việc phục dựng như thế nào để mang đậm nét truyền thống, hài hòa với tính thời đại đang được các nhà quản lý, nhà nghiên cứu văn hóa dày công sưu tầm.
Để phục vụ cho việc phục dựng hội đèn, Trung tâm bảo tồn khu di tích Cổ Loa - Thành cổ đã cậy nhờ các nhà nghiên cứu và cất công sưu tầm tư liệu lịch sử, tư liệu dân gian, Hán Nôm, truyền thuyết và giai thoại xung quanh hội lễ này. Hội thảo về nội dung này vừa diễn ra tại Hà Nội cho thấy, hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất quan điểm, lễ hội sẽ được tổ chức vào mùa xuân và ở kinh thành Thăng Long, ngay trước Đoan Môn, tức trước sân "triều" của triều đình.
Theo kịch bản, lễ hội chia làm hai phần: phần lễ và phần hội trong đó quan trọng nhất là phần lễ. Khai lễ là phần dâng hương, thắp đèn Quảng Chiếu, Thỉnh Phật, cúng triệu thỉnh Bác bộ Kim cương, dâng lục cúng. Tại lễ hội sẽ tụng kinh Dược Sư và mọi người đều có thể thắp nến xung quanh cây đèn chủ cầu mong trí tuệ.
Lễ hội đèn Quảng Chiếu chính là lễ hội cung đình. Vì vậy, khi phục dựng lại lễ hội này, các nhà nghiên cứu văn hóa, tôn giáo cho rằng cần nâng lễ hội lên tầm quốc gia để xứng đáng với vị trí của nó. Tại đây, hình ảnh quốc gia, dân tộc gắn liền với lễ hội.
Một mặt, ý nghĩa của lễ hội chính là cầu nguyện, ước muốn cho đất nước được thanh bình, hạnh phúc và thịnh vượng nên lễ hội đèn Quảng Chiếu sau này còn được gọi là đèn Diên Mệnh hoặc đèn Trường Thọ hay lễ hội Trường Thọ cũng đã phản ánh được điều đó.
Và một trong những yếu tố quan trọng cấu thành hội lễ này chính là đèn Quảng Chiếu. Theo các nhà nghiên cứu, một là phục dựng theo cái "cổ truyền", tức phục dựng y nguyên, không dùng động cơ, chỉ dùng máy cơ học (quay tay). Tuy nhiên, theo cách này thì gặp khó khăn vì nguyên liệu hiếm, phong cách nghệ thuật điêu khắc thời Lý không dễ có được sự nhất trí của các nhà chuyên môn. Cách thứ hai là sáng tác và cách tân dựa trên nguyên lý của đèn đã được mô tả.
Theo Vân Nhi - ĐVO
GIẢI NGHIỆP KỆ
Hữu tình chúng sanh túc nghiệp đa
Trí cổ kim sanh tạo võng la,
Hạnh ngộ thiện duyên công đức đại,
Quy y Tam bảo tội tiêu ma.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)
Thiên giá giá, địa giá giá
La võng biến tác Phật ca sa,
Thất Bảo Như Lai phóng sanh kệ:
Tứ đại yết đế hộ phóng tha
Phi cầm, tẩu thú quy sơn khứ,
Ngư biếc hà giải lạc thanh sa,
Nhược hữu nhứt cá bất đắc thoát,
Sơn thần thủy tướng hộ phóng tha.
Án linh cảm hồng phấn tra. (3 lần)
Phật Ngôn
Tình đa tưởng thiểu, lưu nhập hoành sanh, cố tri nhữ đẳng. Tích
dĩ ám tế ngu si, bất tu chánh niệm. Kim tắc vũ mao lân giới, thụ
thử liệt hình, thủy lục, phi không, chủng chủng bất nhất, hoặc đầu
câu thị, hoặc nhập võng la, mạng tại đao châm, hồn phi thanh
hỏa. Hạnh phùng (Tăng chúng, Thiện sĩ) tài tục nhữ thân, vạn tử
đắc sanh, lai thử thắng địa. Kim thỉnh chư Thánh, đả nhữ linh
thông, nhữ đương nhất tâm quy y Tam bảo.
Quy Y Tam Bảo.
Nhữ đẳng (thủy, lục, không) tánh chúng sanh đầu quy y Tam bảo.
Quy y Phật, Quy y Pháp, Quy y Tăng.
Quy y Phật lưỡng túc tôn,
Quy y Pháp ly dục tôn,
Quy y Tăng chúng trung tôn. (3 lần)
Quy y Phật cánh, Quy y Pháp cánh, Quy y Tăng cánh. (3 lần)
Quy y Tam bảo viễn ly tam đồ khổ.
Nhữ đẳng sở tạo chư ác nghiệp,
Giai do vô thỉ tham, sân, si,
Tùng thân ngữ ý chi sở sanh,
Nhứt thiết ngã kim giai sám hối.
Nam mô Cầu Sám Hối Bồ tát. (3 lần)
( http://www.vietbuddhism.com/PDFKinh/...hPhongSanh.pdf )
*開咽喉真言【 誦七遍 】/ Khai Yết Hầu chơn ngôn ( niệm 7 biến ):
南摩廣博身如來
Namo Guang-bo-shen Ru-lai
Na mô Quảng Bác Thân Như Lai
Namo Vipula-Gatraya Tathagataya
Namo Bhagavate Vipula-Gatraya Tathagataya
Namo Bhagavate Vipula-Gatraya Tathagataya Arhate Samyaksambuddhaya
OṂ NAMO BHAGAVATE VIPULA-GATRĀYA TATHĀGATĀYA
#Theo NHỊ KHÓA HIỆP GIẢI :
Na mô Quảng Bác Thân Như Lai
Nghe được Danh của Đức Phật Quảng Bác Thân, thì nặng tiêu được Lửa Nghiệp, Cuống Họng mở thông, mà đặng Cái Thân thanh hương vô ngại.
[ Các hàng Phật Tử! Nếu nghe danh hiệu của Quảng Bác Thân Như Lai thì hay khiến cho lửa nghiệp tại cổ họng nhỏ như cây kim của loài Ngạ Quỷ các vị được ngừng thiêu đốt, thông đạt trong mát, thức ăn uống đã thọ nhận được mùi vị Cam Lộ ]
( https://flog.tw/569046419805283/phot...89897914386797 )
TỪ BI CAM LỘ THÍ THỰC NGHI QUỸ
(Sau 5h chiều)
Nguồn: https://m.facebook.com/MatGiaoKinh/posts/1035748656459142"]https://m.facebook.com/MatGiaoKinh/p...35748656459142[/URL] / https://kinhmatgiao.files.wordpress....-tien-hanh.pdf
LINK: (Pháp sư Hải Đào giảng dạy) https://youtu.be/A41rycuv5TQ
https://www.youtube.com/watch?v=A41rycuv5TQ
*Trước khi làm Pháp phải chuẩn bị nhóm gạo, nước:
a) Gạo (mễ): 7 hạt, phóng ánh sáng đồng thời niệm tên của 7 Đức Như Lai báu.
Nước: dùng nước đun sôi (khai thủy), nước cúng Phật, nước Đại Bi…chẳng được trực tiếp dùng nước do công nghiệp cung cấp (tự lai thủy)
b) Tay phải: ngón vô danh vẽ trong nước 5 chữ Oṃ (㫘), Aḥ (ォ), Hūṃ (㜪),
Vaṃ (㮎), Hrīḥ (㜫)
_Thí thực tiên hành
Đầu tiên, chuẩn bị gạo hòa vào nước.
Thả gạo vào sau mỗi lần niệm danh hiệu của 7 vị Phật Như Lai:
Nam mô Đa Bảo Như Lai
Nam mô Bảo Thắng Như Lai
Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai
Nam mô Quảng Bác Thân Như Lai
Nam mô Ly Bố Úy Như Lai
Nam mô Cam Lộ Vương Như Lai
Nam mô A Di Đà Như Lai
THỦY (nước) – Nam mô Bảo Kế Như Lai
Viết 5 chữ chủng tử vào nước: OṂ, A (?AḤ), HŪṂ,VAṂ, HRĪḤ
[Om, A (?Ắc), Hùm, Vam, Hơ-rích]
Tiểu cúng dường chú: OṂ AMṚTE HŪṂ PHAṬ
[Om, a mờ-rật tê, hùm phạt]
_Cam Lồ Thí Thực Nghi Quỹ
Nam mô Phật Đà Da
Nam mô Đạt Ma Da
Nam mô Tăng Già Da
Nam mô Bổn Tôn Thích Ca Mâu Ni Như Lai
Nam mô An Trụ Đại Địa Bồ Tát Chúng
Nam mô tất cả Long Thiên Thiện Thần
Nguyện dùng uy thần thương xót giúp đỡ. Nay con triệu thỉnh các Quỷ đói và loài hữu tình trong hết thảy sáu nẻo ở mười phương các cõi, tận hư không giới. Do sức Uy Thần của Tam Bảo cho nên đều đến chỗ của con.
Phổ Triệu Thỉnh Chân Ngôn:
NAMO BHŪPURIKARITARI TATHĀGATĀYA (3 lần)
[Na mô, phu pu ri ca ri ta ri, ta tha ga ta da]
Giải Oan Kết Chân Ngôn:
OṂ SANTĀRĀ KATA SVĀHĀ (3 lần)
[Om, xăn ta ra, ca ta, xờ-va ha]
Khai Yết Hầu Chân Ngôn:
OṂ BHŪPUTERIKATARI TATHĀGATĀYA (3 lần)
[Om, phu pu tê ri ca ta ri, ta tha ga ta da]
Biến Thực Chú:
NAMAḤ SARVA TATHĀGATĀVALOKITE_ OṂ SAMBHĀRA SAMBHĀRA HŪṂ (3 lần)
[Na mắc, xa rờ-va, ta tha ga ta va lô ki tê, Om, xăm pha ra, xăm pha ra, hùm]
Cam Lộ Thủy Chân Ngôn:
NAMAḤ SU-RŪPAYA TATHĀGATĀYA TADYATHĀ: OṂ SURU SURU, PRASURU PRASURU SVĀHĀ (3 lần)
[Na mắc, xu ru pa da, ta tha ga ta da, ta đi-da tha: Om, xu ru xu ru, pờ-ra xu ru, pờ-ra xu ru, xờ-va ha]
Phổ Cúng Dường Chân Ngôn:
OṂ GAGANA SAṂBHAVA VAJRA HOḤ (3 lần)
[Om, ga ga na, xăm pha va, va ji-ra, hốc]
Thí Vô Giá Thực Chân Ngôn: (1 lần câu kệ, 7 lần câu chú)
Các ngươi! Chúng Quỷ Thần
Nay Ta cúng cho ngươi
Thức này tràn mười phương
Mọi Quỷ Thần cùng hưởng
OṂ MULĀLIN SVĀHĀ (7 lần)
[Om, mu la lin, xờ-va ha]
_Danh hiệu của bảy Đức Phật Như Lai:
Nam mô Đa Bảo Như Lai (Namo Prabhūta-ratnāya-tathāgatāya)
Nam mô Bảo Thắng Như Lai (Namo Ratna-dharāya-tathāgatāya)
Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai (Namo Su-rūpaya-tathāgatāya)
Nam mô Quảng Bác Thân Như Lai (Namo Vipula-gatrāya-tathāgatāya)
Nam mô Ly Bố Úy Như Lai (Namo Abhayaṃ-karāya-tathāgatāya)
Nam mô Cam Lộ Vương Như Lai (Namo Amṛta-rajāya-tathāgatāya)
Nam mô A Di Đà Như Lai (Namo Amitābhāya-tathāgatāya)
_Kệ Hồi Hướng:
Nguyện sinh trong Tịnh Thổ Tây Phương
Hoa sen chín phẩm là mẹ cha
Hoa nở thấy Phật, ngộ Vô Sinh
Bồ Tát Bất Thối là bạn lữ
Sau khi hoàn tất, đem vật khí có chứa nước và gạo ra ngoài đặt dưới gốc cây. Nếu như sống ở trên lầu, không thể làm được điều này thì sử dụng bình chứa nước Cam Lộ để rãi nước, nếu có thể thì đem vật khí đặt ở tầng trệt.
Phóng Sanh
Phật Hóa Gia Đình
Sách Dạy Tu Niệm
Sa Môn Thích Khánh Anh Soạn dịch
( http://www.tangthuphathoc.net/vn/phathoagiadinh-05.htm )
Khi nào, bỗng gặp loài “bất định sát”, nên mua lấy, rồi đối với chúng sanh ấy, ta đọc bài “nguyện nó thụ phép tam qui:”
Nhữ đương qui y Phật, nhữ đương qui y Pháp, nhữ đương qui y Tăng. (Đọc 3 lần)
Mầy nên về với Phật;
Mầy nên về với Pháp;
Mầy nên về với Tăng.
Chú sanh thiên nử
án, dật đế luật ni tóa ha. (Đọc 3 lần)
Chú nguyện cho con vật ấy, nhờ phép của thần chú này sẽ được phước khỏi sát hại nữa. Và tiếp đọc bài chú dưới đây, gia trì cho con vật khỏi bị chài lưới, súng đạn nữa:
án địa lị nhật lị tóa ha. (Đọc 3 lần)
Kế đọc 3 biến chú “Vãng sanh” và tiếp đọc bài “Nguyện sanh":
Nguyện sanh Tây phương tịnh độ trung, cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu, hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh, bất thối Bồ -tát vi bạn lữ.
Nguyện về cõi tịnh của Di -ñaø;
Chín phẩm hoa sen đấng mẹ cha:
Hoa sen hóa sanh, trông Phật, chứng...,
Tiến lên Bà-tát: bạn bờ ta.
Nguyện dĩ thử công đức, trang nghiêm Phật tịnh độ, ngã đẳng dữ chúng sanh, giai cọng thành Phật đạo.
Xin đem công đức phóng sanh.
Người trau tịnh độ, chim... rành pháp âm.
Chúng ta tất cả bao lăm:
Đều thành Phật đạo, chung làm phước duyên.
http://vanhoaphuongdong.co/threads/n...ong-sanh.2993/
http://songtamthegian.blogspot.com/2...1_archive.html
http://hungphucduong.com.vn/van-tho.html?start=24
http://ftp.budaedu.org/ebooks/pdf/VI188.pdf
http://www.thienviendaidang.net/kinh...ongiangluc.pdf
http://vncphathoc.com/phat-hoc/phat-...mon-giang-luc/
http://convert.hixx.info/truyen/do-t...o-hay-sao.html
放phóng 生sanh 儀nghi
( http://daitangkinh.net/?f=J32nB277/10 )
按án 四tứ 明minh 禮lễ 法Pháp 師sư 舊cựu 文văn 。 稍sảo 為vi 參tham 酌chước 。 使sử 簡giản 便tiện 易dị 行hành 。 後hậu 增tăng 代đại 彼bỉ 求cầu 願nguyện 往vãng 生sanh 。 又hựu 增tăng 華hoa 嚴nghiêm 迴hồi 向hướng 品phẩm 文văn 結kết 之chi 。 意ý 取thủ 先tiên 生sanh 阿A 彌Di 陀Đà 佛Phật 。 極Cực 樂Lạc 世Thế 界Giới 。 後hậu 入nhập 毘Tỳ 盧Lô 遮Già 那Na 。 華hoa 藏tạng 玄huyền 門môn 也dã 。 又hựu 暑thử 天thiên 。 初sơ 次thứ 生sanh 到đáo 。 照chiếu 此thử 式thức 念niệm 誦tụng 。 即tức 放phóng 。 後hậu 續tục 至chí 者giả 續tục 放phóng 。 但đãn 念niệm 大đại 悲bi 咒chú 一nhất 遍biến 。 往vãng 生sanh 咒chú 三tam 遍biến 。 稱xưng 念niệm 阿A 彌Di 陀Đà 佛Phật 放phóng 之chi 。 不bất 必tất 等đẳng 齊tề 。 久cửu 久cửu 遲trì 延diên 。 以dĩ 致trí 損tổn 壞hoại 生sanh 命mạng 。 後hậu 更cánh 有hữu 續tục 至chí 者giả 。 亦diệc 復phục 如như 是thị 。 ○# 於ư 放phóng 生sanh 處xứ 。 鋪phô 設thiết 香hương 案án 。 楊dương 枝chi 淨tịnh 水thủy 。 眾chúng 等đẳng 以dĩ 慈từ 眼nhãn 。 視thị 諸chư 眾chúng 生sanh 。 念niệm 其kỳ 沉trầm 淪luân 。 深thâm 生sanh 哀ai 憫mẫn 。 復phục 念niệm 三Tam 寶Bảo 有hữu 大đại 威uy 力lực 。 能năng 救cứu 拔bạt 之chi 。 作tác 是thị 觀quán 已dĩ 。 手thủ 執chấp 水thủy 盂vu 。 默mặc 念niệm 想tưởng 云vân 。 一nhất 心tâm 奉phụng 請thỉnh 。 十thập 方phương 慈từ 父phụ 廣quảng 大đại 靈linh 感cảm 。 觀Quán 世Thế 音Âm 菩Bồ 薩Tát 。 降giáng/hàng 臨lâm 道Đạo 場Tràng 。 加gia 持trì 此thử 水thủy 。 具cụ 大đại 功công 勳huân 。 洒sái 霑triêm 異dị 類loại 。 令linh 彼bỉ 身thân 心tâm 清thanh 淨tịnh 。 堪kham 聞văn 妙diệu 法Pháp 。 即tức 誦tụng 大đại 悲bi 神thần 咒chú 一nhất 遍biến 。 再tái 三tam 洒sái 之chi 。 然nhiên 後hậu 執chấp 手thủ 爐lô 白bạch 云vân 。
仰ngưỡng 白bạch 。
十thập 方phương 三Tam 寶Bảo 。 釋Thích 迦Ca 本bổn 師sư 。 彌di 陀đà 慈từ 父phụ 。 寶Bảo 勝Thắng 如Như 來Lai 。 觀quán 音âm 菩Bồ 薩Tát 。 流Lưu 水Thủy 長Trưởng 者Giả 子Tử 。 天thiên 台thai 永vĩnh 明minh 。 諸chư 大Đại 士Sĩ 等đẳng 。 唯duy 願nguyện 慈từ 悲bi 。 證chứng 知tri 護hộ 念niệm 。
今kim 有hữu 飛phi 空không 水thủy 陸lục 。 諸chư 眾chúng 生sanh 等đẳng 。 為vi 他tha 網võng 捕bộ 。 將tương 入nhập 死tử 門môn 。 (# 比Bỉ 丘Khâu 某mỗ 甲giáp 信tín 士sĩ 某mỗ 甲giáp )# 。 等đẳng 。 於ư 是thị 修tu 菩Bồ 薩Tát 行hạnh 。 發phát 慈từ 悲bi 心tâm 。 作tác 長trường 壽thọ 因nhân 。 行hành 放phóng 生sanh 業nghiệp 。 贖thục 其kỳ 身thân 命mạng 。 放phóng 使sử 逍tiêu 遙diêu 。 仍nhưng 順thuận 大Đại 乘Thừa 方Phương 等Đẳng 經Kinh 典điển 。 授thọ 與dữ 三tam 皈quy 。 稱xưng 揚dương 十thập 號hiệu 。 復phục 為vi 宣tuyên 說thuyết 。 十Thập 二Nhị 因Nhân 緣Duyên 。 但đãn 以dĩ 此thử 類loại 眾chúng 生sanh 。 罪tội 障chướng 深thâm 重trọng 。 神thần 識thức 昏hôn 迷mê 。 仰ngưỡng 乞khất 。
三Tam 寶Bảo 。 威uy 德đức 冥minh 加gia 。 哀ai 憐lân 攝nhiếp 受thọ 。
白bạch 云vân 。
現hiện 前tiền 異dị 類loại 諸chư 眾chúng 生sanh 等đẳng 。 皈quy 依y 佛Phật 。 皈quy 依y 法pháp 。 皈quy 依y 僧Tăng (# 三tam 說thuyết )# 。
現hiện 前tiền 異dị 類loại 諸chư 眾chúng 生sanh 等đẳng 。 皈quy 依y 佛Phật 竟cánh 。 皈quy 依y 法pháp 竟cánh 。 皈quy 依y 僧Tăng 竟cánh (# 三tam 說thuyết )# 。
從tùng 今kim 已dĩ 往vãng 。 稱xưng 佛Phật 為vi 師sư 。 更cánh 不bất 皈quy 依y 。 邪tà 魔ma 外ngoại 道đạo 。 (# 三tam 說thuyết )# 。
諸chư 佛Phật 子tử 等đẳng 。 皈quy 依y 三Tam 寶Bảo 已dĩ 。 今kim 當đương 為vì 汝nhữ 稱xưng 揚dương 。
寶Bảo 勝Thắng 如Như 來Lai 。 十thập 號hiệu 功công 德đức 。 令linh 汝nhữ 得đắc 聞văn 。 如như 彼bỉ 十thập 千thiên 遊du 魚ngư 。 即tức 得đắc 生sanh 天thiên 。 等đẳng 無vô 有hữu 異dị 。
南Nam 無mô 寶Bảo 勝Thắng 如Như 來Lai 。 應Ứng 供Cúng 。 正chánh 遍biến 知tri 。 明Minh 行Hạnh 足Túc 。 善Thiện 逝Thệ 。 世Thế 間Gian 解Giải 。 無Vô 上Thượng 士Sĩ 。 調Điều 御Ngự 丈Trượng 夫Phu 。 天Thiên 人Nhân 師Sư 。 佛Phật 。 世Thế 尊Tôn (# 三tam 說thuyết )# 。
諸chư 佛Phật 子tử 。 我ngã 今kim 更cánh 為vi 說thuyết 十Thập 二Nhị 因Nhân 緣Duyên 。 生sanh 相tướng 滅diệt 相tướng 。 令linh 汝nhữ 了liễu 知tri 。 生sanh 滅diệt 之chi 法pháp 。 悟ngộ 不bất 生sanh 滅diệt 。 同đồng 於ư 諸chư 佛Phật 。 證chứng 大đại 涅Niết 槃Bàn 。 所sở 謂vị 無vô 明minh 緣duyên 行hành 。 行hành 緣duyên 識thức 。 識thức 緣duyên 名danh 色sắc 。 名danh 色sắc 緣duyên 六lục 入nhập 。 六lục 入nhập 緣duyên 觸xúc 。 觸xúc 緣duyên 受thọ 。 受thọ 緣duyên 愛ái 。 愛ái 緣duyên 取thủ 。 取thủ 緣duyên 有hữu 。 有hữu 緣duyên 生sanh 。 生sanh 緣duyên 老lão 死tử 。 憂ưu 悲bi 苦khổ 惱não 。
所sở 謂vị 無vô 明minh 。 滅diệt 則tắc 行hành 滅diệt 。 行hành 滅diệt 則tắc 識thức 滅diệt 。 識thức 滅diệt 則tắc 名danh 色sắc 滅diệt 。 名danh 色sắc 滅diệt 則tắc 六lục 入nhập 滅diệt 。 六lục 入nhập 滅diệt 則tắc 觸xúc 滅diệt 。 觸xúc 滅diệt 則tắc 受thọ 滅diệt 。 受thọ 滅diệt 則tắc 愛ái 滅diệt 。 愛ái 滅diệt 則tắc 取thủ 滅diệt 。 取thủ 滅diệt 則tắc 有hữu 滅diệt 。 有hữu 滅diệt 則tắc 生sanh 滅diệt 。 生sanh 滅diệt 則tắc 老lão 死tử 。 憂ưu 悲bi 苦khổ 惱não 滅diệt 。
諸chư 佛Phật 子tử 。 我ngã 今kim 依y 大Đại 乘Thừa 經Kinh 。 授thọ 汝nhữ 三Tam 歸Quy 十thập 號hiệu 十Thập 二Nhị 因Nhân 緣Duyên 已dĩ 竟cánh 。 今kim 當đương 為vì 汝nhữ 。 對đối 三Tam 寶Bảo 前tiền 。 發phát 露lộ 罪tội 愆khiên 。 求cầu 哀ai 懺sám 悔hối 。 願nguyện 汝nhữ 罪tội 業nghiệp 。 一nhất 念niệm 消tiêu 除trừ 。 得đắc 生sanh 善thiện 處xứ 。 近cận 佛Phật 授thọ 記ký 。 汝nhữ 當đương 至chí 心tâm 。 隨tùy 我ngã 懺sám 悔hối 。
我ngã 昔tích 所sở 造tạo 諸chư 惡ác 業nghiệp 。 皆giai 由do 無vô 始thỉ 貪tham 嗔sân 癡si 。
從tùng 身thân 語ngữ 意ý 之chi 所sở 生sanh 。 一nhất 切thiết 我ngã 今kim 皆giai 懺sám 悔hối 。 (# 三tam 說thuyết )# 。
清thanh 涼lương 地địa 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 (# 三tam 說thuyết )# 。
唯duy 願nguyện 。 放phóng 生sanh 以dĩ 後hậu 。 永vĩnh 不bất 遭tao 遇ngộ 惡ác 魔ma 。 吞thôn 噉đạm 網võng 捕bộ 。 優ưu 游du 自tự 在tại 。 獲hoạch 盡tận 天thiên 年niên 。 命mạng 終chung 之chi 後hậu 。 乘thừa 三Tam 寶Bảo 力lực 。 寶Bảo 勝Thắng 如Như 來Lai 。 本bổn 願nguyện 慈từ 力lực 。 或hoặc 生sanh 忉Đao 利Lợi 。 或hoặc 生sanh 人nhân 間gian 。 持trì 戒giới 修tu 行hành 。 不bất 復phục 造tạo 惡ác 。 信tín 心tâm 念niệm 佛Phật 。 隨tùy 願nguyện 往vãng 生sanh 。 更cánh 冀ký 放phóng 生sanh 弟đệ 子tử (# 某mỗ 甲giáp )# 等đẳng 。 從tùng 今kim 日nhật 後hậu 。 菩Bồ 提Đề 行hạnh 願nguyện 。 念niệm 念niệm 增tăng 明minh 。 救cứu 苦khổ 眾chúng 生sanh 。 當đương 如như 己kỷ 想tưởng 。 以dĩ 是thị 因nhân 緣duyên 。 得đắc 生sanh 安an 養dưỡng 。 見kiến 阿A 彌Di 陀Đà 佛Phật 。 及cập 諸chư 聖thánh 眾chúng 。 證chứng 無Vô 生Sanh 忍Nhẫn 。 分phân 身thân 塵trần 剎sát 。 廣quảng 度độ 有hữu 情tình 。 俱câu 成thành 正chánh 覺giác 。 現hiện 前tiền 大đại 眾chúng 。 齊tề 聲thanh 誦tụng 念niệm 。 華hoa 嚴nghiêm 回hồi 向hướng 妙diệu 章chương 。 往vãng 生sanh 淨tịnh 土độ 神thần 咒chú 。
大đại 方Phương 廣Quảng 佛Phật 華hoa 嚴nghiêm 經kinh 十thập 回hồi 向hướng 品phẩm 隨tùy 順thuận 堅kiên 固cố 一nhất 切thiết 善thiện 根căn 回hồi 向hướng 。
佛Phật 子tử 。 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 作tác 大đại 國quốc 王vương 。 於ư 法pháp 自tự 在tại 。 普phổ 行hành 教giáo 命mệnh 。 令linh 除trừ 殺sát 業nghiệp 。 閻Diêm 浮Phù 提Đề 內nội 。 城thành 邑ấp 聚tụ 落lạc 。 一nhất 切thiết 屠đồ 殺sát 。 皆giai 令linh 禁cấm 斷đoạn 。 無vô 足túc 。 二nhị 足túc 。 四tứ 足túc 。 多đa 足túc 。 種chủng 種chủng 生sanh 類loại 。 普phổ 施thí 無vô 畏úy 。 無vô 欲dục 奪đoạt 心tâm 。 廣quảng 修tu 一nhất 切thiết 菩Bồ 薩Tát 諸chư 行hành 。 仁nhân 慈từ 蒞# 物vật 。 不bất 行hành 侵xâm 惱não 。 發phát 妙diệu 寶bảo 心tâm 。 安an 隱ẩn 眾chúng 生sanh 。 於ư 諸chư 佛Phật 所sở 。 立lập 深thâm 志chí 樂nhạo 。 常thường 自tự 安an 住trụ 三tam 種chủng 淨tịnh 戒giới 。 亦diệc 令linh 眾chúng 生sanh 。 如như 是thị 安an 住trụ 。 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 令linh 諸chư 眾chúng 生sanh 。 住trụ 於ư 五Ngũ 戒Giới 。 永vĩnh 斷đoạn 殺sát 業nghiệp 。 以dĩ 此thử 善thiện 根căn 。 如như 是thị 回hồi 向hướng 。 所sở 謂vị 願nguyện 一nhất 切thiết 眾chúng 生sanh 。 發phát 菩Bồ 提Đề 心tâm 。 具cụ 足túc 智trí 慧tuệ 。 永vĩnh 保bảo 壽thọ 命mạng 。 無vô 有hữu 終chung 盡tận 。 願nguyện 一nhất 切thiết 眾chúng 生sanh 。 住trụ 無vô 量lượng 劫kiếp 。 供cung 一nhất 切thiết 佛Phật 。 恭cung 敬kính 勤cần 修tu 。 更cánh 增tăng 壽thọ 命mạng 。 願nguyện 一nhất 切thiết 眾chúng 生sanh 。 具cụ 足túc 修tu 行hành 。 離ly 老lão 死tử 法pháp 。 一nhất 切thiết 災tai 毒độc 。 不bất 害hại 其kỳ 命mạng 。 願nguyện 一nhất 切thiết 眾chúng 生sanh 。 具cụ 足túc 成thành 就tựu 。 無vô 病bệnh 惱não 身thân 。 壽thọ 命mạng 自tự 在tại 。 能năng 隨tùy 意ý 住trụ 。 願nguyện 一nhất 切thiết 眾chúng 生sanh 。 得đắc 無vô 盡tận 命mạng 。 窮cùng 未vị 來lai 劫kiếp 。 住trụ 菩Bồ 薩Tát 行hạnh 。 教giáo 化hóa 調điều 伏phục 。 一nhất 切thiết 眾chúng 生sanh 。 願nguyện 一nhất 切thiết 眾chúng 生sanh 。 為vi 壽thọ 命mạng 門môn 。 十Thập 力Lực 善thiện 根căn 。 於ư 中trung 增tăng 長trưởng 。 願nguyện 一nhất 切thiết 眾chúng 生sanh 。 善thiện 根căn 具cụ 足túc 。 得đắc 無vô 盡tận 命mạng 。 成thành 滿mãn 大đại 願nguyện 。 願nguyện 一nhất 切thiết 眾chúng 生sanh 。 悉tất 見kiến 諸chư 佛Phật 。 供cúng 養dường 承thừa 事sự 。 住trụ 無vô 盡tận 壽thọ 。 修tu 習tập 善thiện 根căn 。 願nguyện 一nhất 切thiết 眾chúng 生sanh 。 於ư 如Như 來Lai 處xứ 。 善thiện 學học 所sở 學học 。 得đắc 聖thánh 法Pháp 喜hỷ 。 無vô 盡tận 壽thọ 命mạng 。 願nguyện 一nhất 切thiết 眾chúng 生sanh 。 得đắc 不bất 老lão 不bất 病bệnh 。 常thường 住trụ 命mạng 根căn 。 勇dũng 猛mãnh 精tinh 進tấn 。 入nhập 佛Phật 智trí 慧tuệ 。 是thị 為vi 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 住trụ 三Tam 聚Tụ 淨Tịnh 戒Giới 。 永vĩnh 斷đoạn 殺sát 業nghiệp 。 善thiện 根căn 回hồi 向hướng 。 為vì 令linh 眾chúng 生sanh 。 得đắc 佛Phật 十Thập 力Lực 圓viên 滿mãn 智trí 故cố 。
(# 次thứ 誦tụng 往vãng 生sanh 咒chú 三tam 遍biến 。 誦tụng 畢tất 白bạch 言ngôn )# 。
上thượng 來lai 放phóng 生sanh 功công 德đức 。 四Tứ 恩Ân 普phổ 報báo 。 三tam 有hữu 均quân 資tư 。 法Pháp 界Giới 眾chúng 生sanh 。 同đồng 圓viên 種chủng 智trí 。 十thập 方phương 三tam 世thế 一nhất 切thiết 佛Phật 。 一nhất 切thiết 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 摩Ma 訶Ha 般Bát 若Nhã 波Ba 羅La 蜜Mật 。
放phóng 生sanh 儀nghi (# 終chung )#
===============
*Tại nơi phóng sinh, bày hương án trang nghiêm, có cành dương và nước sạch. Những người tham gia phóng sinh đều phát khởi tâm từ, dùng ánh mắt từ hòa mà nhìn những con vật được phóng sinh, trong tâm quán niệm đến sự chìm đắm luân hồi của chúng, liền khởi lòng thương xót sâu xa, rồi lại quán niệm Tam bảo có oai lực hết sức lớn lao, có thể cứu thoát khổ nạn cho chúng. Quán niệm như vậy rồi, tay bưng chén nước, trong tâm thầm niệm:
“Nhất tâm phụng thỉnh Thập phương Từ phụ Quảng Đại Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát, xin giáng lâm đạo tràng, gia trì cho chén nước này có đủ công năng lớn lao, vừa rảy lên thân thể chúng sinh vật loại liền khiến cho chúng đều được thanh tịnh thân tâm, đủ sức lắng nghe Chánh pháp nhiệm mầu.”
Nguyện thầm như vậy rồi, liền bắt đầu tụng Thần Chú Đại Bi một lượt, sau đó dùng Nước Sạch trong Chén ấy rảy lên thân thể những con vật được Phóng Sanh 3 lần.
( https://rongmotamhon.net/thu-phong_N...w.html?chiso=5 )
*Khấn nguyện theo như vầy:
" Na mô quảng đại linh cảm ứng Quán Thế Âm Bồ tát giáng lâm đạo tràng, gia trì thử thủy, cụ đại công huân. Sái triêm vị lại, linh bỉ thân tâm thanh tịnh, khâm văn diệu pháp.
Na mô Thập Phương Từ Phụ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, tác đại chứng minh. "
( http://vanhoaphuongdong.co/threads/n...ong-sanh.2993/ )
Vậy:
.Chánh Văn:
一心奉請大慈大悲觀世音菩薩,降臨 場,加持此水,具大功勳,沾洒所放 生,令彼身心清淨,堪聞妙法。
.Dịch âm:
" NHẤT-TÂM PHỤNG-THỈNH THẬP-PHƯƠNG TỪ-PHỤ: NA-MÔ ĐẠI-TỪ ĐẠI-BI CỨU-KHỔ CỨU-NẠN QUẢNG-ĐẠI LINH-CẢM ỨNG BẠCH-Y QUÁN-THẾ-ÂM BỒ-TÁT giáng lâm Đạo Tràng, gia trì Thử Thủy, cụ đại Công Huân. Sái triêm Dị Loại, linh bỉ Thân Tâm thanh tịnh, kham văn Diệu Pháp. "
.Dịch Nghĩa:
“Nhất tâm phụng thỉnh Thập Phương Từ Phụ: NA-MÔ ĐẠI-TỪ ĐẠI-BI CỨU-KHỔ CỨU-NẠN QUẢNG-ĐẠI LINH-CẢM ỨNG BẠCH-Y QUÁN-THẾ-ÂM BỒ-TÁT, Xin giáng lâm Đạo Tràng, gia trì cho Chén Nước này có đủ Công Năng lớn lao, vừa Rảy lên thân thể Chúng Sinh Vật Loại liền khiến cho Chúng đều được Thanh Tịnh Thân Tâm, đủ sức lắng nghe Chánh Pháp nhiệm mầu.”
*THEO " TÁN THÁN PHẬT VÀ CHÚ NIỆM " TRÍCH TỪ " LƯƠNG HOÀNG SÁM ":
.多陀阿伽度。阿羅訶。三藐三佛陀。 ��號具足。度人無量。拔生死苦。
.Đa già a già độ, a la ha, tam miệu tam Phật đà. Mười hiệu đầy đủ; độ người vô lượng, dứt sạch sanh tử.
.Đa-đà-a-già-độ, A-la-ha, Tam-miệu Tam-phật-đà. Mười hiệu đầy đủ; độ người vô lượng, dứt sạch sanh tử.
.Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri. Mười hiệu đầy đủ; độ người vô lượng, dứt sạch sanh tử.
.TATHAGATA ARAHAN SAMYAKSAMBUDDHA. Mười hiệu đầy đủ; Độ chúng vô lượng, diệt khổ sanh tử.
A DI ÐÀ KINH HỢP GIẢI - Bửu Quang tự đệ tử Như Hòa hợp dịch
( http://quangduc.com/a29594/a-di-da-k...u-hoa-hop-dich )
Phụ Lục
A Di Đà Chân Ngôn
(theo Nguyên Âm thượng sư)
Những người tu theo đường lối Tịnh Mật Song Tu, ngoài việc trì danh, có thể kiêm tụng các chân ngôn sau:
1. Nhất Tự Chân Ngôn:
a) Kinh Bất Không Thần Biến, quyển 28 chép: “Biến Giải Thoát Nhất Tự Chân Ngôn là: “Án, ác, sa phạ ha” (Om, Ah, svaha).Nếu có kẻ sáu thời theo đúng pháp trì tụng đủ số một lạc xoa (100 ngàn lần) thì nghiệp (1) này thành tựu. Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân kim sắc, sẽ diệt được hết thảy trọng tội căn bản từ vô thỉ. Nếu Bồ Tát chẳng hiện thì càng tinh tấn tụng niệm bội phần, đủ số hai lạc xoa hoặc ba lạc xoa thì nghiệp này sẽ thành tựu, Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ hiện thân, cầm tay chỉ bày đức Phật A Di Đà ngồi trên tòa sư tử hoa sen báu nơi cõi Tây Phương Tịnh Độ, lại được A Di Đà xoa đầu”.
b) Sách Lý Thú Thích chép: “Chữ Hất Rị (Hrih) gồm có bốn chữ cái ghép thành câu chân ngôn một chữ... Nếu ai trì Nhất Tự Chân Ngôn sẽ có thể trừ được hết thảy tai họa, tật bệnh. Sau khi mạng chung, sẽ sanh về cõi nước An Lạc, được Thượng Phẩm Thượng Sanh”.
2. Tâm Chú(còn gọi là Vô Lượng Thọ Như Lai Tâm Chân Ngôn):
Kinh Vô Lượng Thọ Tu Nguyện Hạnh Cúng Dường Nghi Quỹ chép:
“Vô Lượng Thọ Như Lai Tâm Chân Ngôn là: ‘Án, A mật lật đa đế tế hạ ra hồng’ (Om, amrte teje hara hum). Nếu tụng chân ngôn đủ mười vạn biến thì được thấy A Di Đà Như Lai, mạng chung quyết định được sanh về Cực Lạc”.
(1) Chữ Nghiệp (karma) ở đây chỉ pháp tu. Đôi khi còn phiên là Yết Ma.
Mật Tạng Bộ 2_ No.1002 (Tr.606_ Tr.607)
BẤT KHÔNG QUYẾN SÁCH TỲ LÔ GIÁ NA PHẬT
ĐẠI QUÁN ĐỈNH QUANG CHÂN NGÔN
_MỘT QUYỂN_
(Trích trong Bất Không Quyến Sách Kinh, quyển 28)
Cát Tường Chân Ngôn:
“Án (1) y mộ già bát đầu-mễ (2) tố bát đầu-ễ (3) bố lạt noa ca lệ (4) nhĩ lợi nhĩ
lợi (5) ca ma lệ, toa phộc ha (6)”
*)OṂ_ AMOGHA-PADME SUPADME PŪRṆA-KARE, MILI MILI,
KAMALE SVĀHĀ
_Hàm Hương (hương dùng để ngậm) Chân Ngôn:
“Án (1) y mộ già (2) kiện đà phộc để (3) tố lỗ tố lỗ (4) bả-la tắc phổ lỗ (5)
ninh danh-dã, kiện đễ (6) bát đầu-ma bát-la bễ (7) toa phộc ha (8)”
*)OṂ_ AMOGHA GANDHA-VATI, SURU SURU, PRA-SPHURU,
NIDHYA-GANDHI-PADMA PRABHĪ SVĀHĀ
_Nhãn Dược Chân Ngôn:
“Án (1) y mộ kì, bát đầu-ma lô giả nê (2) ninh danh-dã ninh-lý sắt trưng (3)
bả lý thú đễ (4) tố lỗ tố lỗ (5) bát đầu-ma khất-sử (6) bộ lỗ bộ lỗ (7) sai mạn đả (8)
danh-dã bà lộ chỉ ninh (9) toa phộc ha (10)”
*)OṂ_ AGRIYE PADMA-LOCANE NI-VYĀ NṚ-SAVĪ PARIŚUDDHE ,
SURU SURU, PADMĀKṢI BHURU BHURU, SAMANTA VYĀVALOKINI
SVĀHĀ
“Chân Ngôn Tam Muội Gia như vậy
Hùng Hoàng, Ngưu Hoàng đều một phần
Hoa Ưu Bát La xanh, Hải Mạt
Hai vật đều số mười hai phần
Nghiền kỹ rồi hòa với Thạch Mật
Hòa nước trong, nghiền gia trì dùng
Chấm mắt, trừ: mắt ghèn, màng tối
Chư Phật, Quán Âm đều vui vẻ
Các Quỷ Thần ác chẳng gây chướng
Mộng thấy tốt lành, nhãn căn tịnh”
QUẢNG ĐẠI MINH VƯƠNG A GIÀ ĐÀ DƯỢC
_PHẨM THỨ NĂM MƯƠI LĂM_
_Bạch Đức Thế Tôn! Thuốc A Già Đà (Agada) của Quảng Đại Minh Vương trừ
tất cả chướng tật của các hữu tình
Nói Dược Tụng là:
“Thuốc Tam Muội Gia Già Đà (Samaya-agada) này
Xông, chấm bôi, đeo ba sai biệt
Kiền Đà La Sa, cỏ Mã Tiên (cỏ roi ngựa ở Châu Âu)
Tán Chiết La Bà Chú La Ca
Dược Cật Sái Mẫu La, Đương Quy
Hạt Mạn Đà La, trấu lúa đậu
Thuốc Bà La Ca, cỏ Ký Sinh
Kim Nha, Đinh Hương, Thạch Xương Bồ
Tiểu Bách, Khương Hoàng, hương An Tất
Thuốc Ngu Tất Đả, hạt bề Ma (Thầu Dầu, đu đủ tía)
Mạt Xả Tất Đả kèm Hùng Hoàng
Thư Hoàng… số lượng ngang bằng nhau
Chân Ngôn gia trì, kèm hợp trị
Dùng Tự Độc Tử Mẫu Đắc La
Điều hòa nước hương, bôi đất hợp
Quảng Đại Minh Vương Ương Câu xả
Chân Ngôn gia trì thuốc, ngàn biến (1000 lần)
Đốt, xông nhóm Cao Thần Ngược Tật
Bệnh não đã hợp, đều trừ khỏi
_Thuốc Tam Muội Nhãn (Samaya-netra): Tiểu Bách Tiên
Khương Hoàng, Tất Bạt, Hồ Tiêu trắng
Gừng khô, Thương Thư, Ha Lê Lặc
Quả Tỳ Hề Lạc, hạt cam khác
Hoa Ưu Bát La xanh, Hùng Hoàng
Muối Tiên Đà Bà, hương Uất Kim
Quặng Hải Mạt Ngân, hương Cam Tùng
Số lượng phân đều, kèm hợp trị
Thêm nhóm hương Long Não, hương Xạ
Trong mười sáu số, đều một phân
Lại hòa hợp nữa, mài nghiền trị
Quảng Đại Minh Vương Ương Câu xả
Chân Ngôn: thuốc ấy số ngàn biến (1000 lần)
Đem thuốc chấm mắt, được vô úy
Chẳng bị các Quỷ Thần quấy nhiễu
Màn mắt mờ đục, lệ nóng lạnh
Mắt Phong Xích Tước đều trừ khỏi
Con mắt sáng tỏ, diệt mọi tội
Nếu nơi đi đến, vui như Nguyện
Cũng lại chẳng bị các tai hoạnh
Nạn: cấm, nhốt, hình phạt, nước, lửa
Tất cả thú ác, rắn, trùng độc
Tất cả chẳng thể gây tai hại
_Thuốc Tối Thắng Tam Muội Già Đà
Hương Đâu Lâu Bà, hương Thanh Mộc
Hương Đả Nga La, vỏ vẩy cây
Hương Bát Đắc La, Nhạ Mạc Ca
Hoa Uất Bát La, lá Xa Di
Quả Ha Lê Lặc, rễ Mao Hương
Quả A Ma Lặc, Hồ Tiêu trắng
Tất Bạt, gừng khô, Tỳ Hê Lặc
Thuốc Mạn Nhĩ Sắt Tha Ế
Tiểu Bách, Khương Hoàng, Tố Ca Lợi
Hương Tất Lật Ca, hương Bạch Giao
Hương Trầm Thủy khô, hương Uất Kim
Lượng bằng nhau, Thạch Mật làm viên
Thanh tịnh xoa tô Đàn, hợp trị
Chân Ngôn gia trì số ngàn biến (1000 lần)
Phơi khô trong mát rồi đeo đội
Nơi đã đi đến đều vui vẻ
Trừ các tai chướng, Quỷ Thần sợ
Ngưu Hoàng Chân Ngôn:
“Án (1) bột đình-dạ bột đình-dạ (2) bát đầu-ma mộ già mục khí (3) giả la giả
la (4) phộc la nê, toa phộc ha (5)”
*)OṂ_ BODHYA BODHYA, PADMA AMOGHA-MUKHE CALA CALA
VARAṆE SVĀHĀ
_Huyền Phan (treo Phan) Chân Ngôn:
“Án (1) nhĩ chỉ đát-la, mộ già phộc tắc đát-la, na na, lăng già (3) nhĩ thú đà
dã (4) chỉ nê chỉ nê (5) hồng (6)”
*)OṂ_ VICITRA AMOGHA-VASTRA NĀNĀ RAṄGA VIŚUDDHĀYA
KIṆI KIṆI HŪṂ
Pháp này, nếu khi treo Phan, lúc vẽ Phan thời đều gia trì, rồi liền treo lên
_Tịnh Hoa Chân Ngôn:
“Án (1) na na nhĩ chất đát-la mộ già (2) bổ sáp ba, phả la (3) la đá, chỉ lạt
noa, bổ la dã (4) bà la bà la (5) hồng (6)”
*)OṂ_ NĀNĀ VICITRA AMOGHA-PUṢPA PHALA RATA KĪRAṆA
PŪRAYA, BHARA BHARA HŪṂ
Pháp này gia trì vào mọi loại cành nhánh, hoa, lá… cắm trong miệng bình. Lại
dùng chỉ năm màu cột buộc trên miệng bình, lại gia trì rồi bố trí bên trong Đàn.
_Hương Lô (lò hương) Chân Ngôn:
“Án (1) y mộ già lạt đát-na nhĩ ma na (2) ca tra trấp phộc địa sắt-sỉ đa (3)
ninh danh-dã kiện độ (4) nhập phộc la tắc phả la noa (5) sai mạn để na (6) nhập
phộc la (7) toa phộc ha (8)”
*)OṂ_ AMOGHA-RATNA VIMANA-KAṬHA JVALA-ADHIṢṬITA NIVYĀ
GAṆṬU JVALA SPHARAṆA SAMANTENA-JVALA SVĀHĀ
Pháp này gia trì vào lò hương rồi cầm để bên trong Đàn, đốt hương cúng dường.
_Bảo Bình (cái bình báu) Chân Ngôn:
“Án (1) nhạ la phộc để (2) lạt đát na già trá (3) sa lý nê (4) đỗ trưng đổ trưng
(5) toa phộc ha (8)”
*)OṂ_ JALA-VATI RATNA-GHAṬA SĀRIṆĪ DHUVI DHUVI SVĀHĀ
Pháp này gia trì vào cái bình báu chứa đầy bơ, sữa, lạc, cơm… rồi bày trí cúng
dường
_Bảo Khí (vật khí báu) Chân Ngôn:
“Án (1) ninh danh-dã bà nhạ na, mộ già (2) bát đầu-ma phộc lệ (3) bổ la dã
bổ la dã (4) hồng (5)”
*)OṂ_ NIVYĀ-BHAJANA AMOGHA-PADMA VĀRE, PŪRAYA
PŪRAYA HŪṂ
Tam Muội Gia này gia trì vào vật khí bằng sành sứ rồi nên dùng cúng dường.
_Át Già Chân Ngôn:
“Án (1) y mộ già tam bổ la nê (2) nột-lô noa kiện đà phộc để (3) toa phộc ha
(4)”
*)OṂ_ AMOGHA SAṂPŪRṆE DROṆA-GANDHA VATI SVĀHĀ
Pháp này gia trì vào Át Già (Argha: nước hương hoa, nước Công Đức) nên dùng
cúng dường
_Thằng Giới (giới hạn giăng dây) Chân Ngôn:
“Án (1) y mộ già lạt đát-na (2) tố đát-la phộc lệ (3) chỉ nê chỉ nê (4) toa phộc
ha (5)”
*)OṂ_ AMOGHA-RATNA-SŪTRA VĀRE KIṆI KIṆI SVĀHĀ
Pháp này gia trì vào sợi dây năm màu, ở trên đàn ấy, vòng quanh bao quát tất cả
vị trí giới hạn. Hoặc ở trên vách tường, trên vải lụa trắng, khi muốn vẽ tượng đều đem
sợi dây đó hòa với màu đỏ thắm rồi bao quát, vì các Hiền Thánh xưng tán Công Đức.
_Ẩm Thực Chân Ngôn:
“Án (1) nhĩ nhĩ đà (2) lỗ bả, khả lỗ bá ca la noa (3) giả la giả la (4) y mộ già
phộc để (5) toa phộc ha (6)”
*)OṂ_ VIVIDHA RŪPA ARŪPA KARAṆA CALA CALA, AMOGHAVATI
SVĀHĀ
Tam Muội Gia này gia trì vào mọi loại thức ăn uống ngon ngọt, chứa đầy rồi cúng
dường.
_Phiếm Hoa (hoa nổi trên nước) Chân Ngôn:
“Án (1) ninh danh-dã kiện đà (2) nỗ sa lý nê (3) y mộ già nhạ lệ (4) đà la đà la
(5) toa phộc ha (6)”
*)OṂ_ NIVYĀ-GAṆDĪṆĀṂ BHĀRINE, AMOGHA-JALE DHARA
DHARA SVĀHĀ
Pháp này gia trì vào mọi thứ hoa nổi trên nước, rồi làm cúng dường.
_Thiêu Hương Chân Ngôn;
“Án (1) kiện đà, tắc phả-la nê (2) sai mạn đả mễ già (3) bả-la tắc phổ la (4)
hồng (5)”.
*)OṂ_ GANDHA SPHARAṆE SAMANTA-MEGHA VRĀ-SPHURA HŪṂ
Pháp này, mỗi thời gia trì vào hương thiêu đốt, cúng dường tất cả chư Phật, Bồ
Tát, Kim Cương, chư Thiên
_Mạt Hương Chân Ngôn:
“Án (1) kiện đà, chủ lạt noa (2) bả-la bố la nê (3) chủ lỗ chủ lỗ (4) toa phộc ha
(5)”
*)OṂ_ GANDHA-CŪRṆA PRAPŪRṆE CURU CURU SVĀHĀ
Pháp này gia trì vào hương bột, rải bày bên trong Đàn mà cúng dường
_Đồ Hương Chân Ngôn:
“Án (1) sai ma, sai mạn để na (2) nhĩ ma lê (3) kiện độ đá lê (4) toa phộc ha
(5)”
*)OṂ_ SAMA SAMANTENA VIMALE-GANDHA-UTTARE SVĀHĀ
Tam Muội Gia này gia trì vào hương xoa bôi (đồ hương) khi tắm xong thời xoa
bôi trên thân
_Thịnh Thực Chân Ngôn:
“Án (1) la sai la sai (2) nga la phộc để (3) tát phộc bật-đỉnh dạ (4) địa sắt sỉ để
(5) tam bố la dã (6) hồng (7)”
*)OṂ_ RASA RASA GARA-VATI_ SARVA VIDYA ADHIṢṬITE SAṂ-
PŪRAYA HŪṂ
Tam Muội Gia này, nếu khi chứa đầy thức ăn thời tụng trì Thịnh Thực
_Hiến Thực Chân Ngôn:
“Án (1) ninh danh-dã bộ nhạ nẵng (2) tam bố la dã (3) nhĩ bổ la, bả-la bễ (4)
toa phộc ha (5)”
*)OṂ_ NIVYĀ_PŪJANAṂ SA-PŪRAYA VIPULA-PRABHE SVĀHĀ
Tam Muội Gia này gia trì vào thức ăn uống, rồi cầm cúng dường
_Tam Bạch Thực Chân Ngôn:
“Án (1) trất-lý thúc ca-la (2) bộ nhạ nẵng (3) phộc lý, nhĩ bổ la, sa-khất la
phộc để (5) tố la, ba-la tố la (6) hồng (7)”
*)OṂ_ TRI-ŚUKLA PŪJANAṂ VĀRE VIPULA SKHALA-VATI SURA
PRASURA HŪṂ
Tam Muội Gia này gia trì vào bơ, sữa, váng sữa đặc (lạc) rồi cầm cúng dường
_Quả Tử Chân Ngôn:
“Án (1) phả la phộc để (2) sa la phộc để (3) ninh danh-dã phộc na tắc bá để
(4) đá la đá la đổ(5) toa phộc ha (6)”
*)OṂ_ PHALA-VATI SĀRAVAT NIVYĀ_VĀNASPATI DHARA DṚḌHO
SVĀHĀ
Tam Muội Gia này gia trì vào quả trái rồi cầm cúng dường
_Tịnh Hoa Chân Ngôn:
“Án (1) ninh danh-dã củ tố một bá la (2) na na, bổ sáp ba (3) bà-la phộc lợi
sái nê (4) bà phộc bà phộc (5) toa phộc ha (6)”
_Thiêu Hương Chân Ngôn:
“Án (1) ma ha độ bá mễ già (2) bá tra la (3) tán xả na gia (4) sai mạn để na
(5) hồng hồng (6) toa phộc ha (7)”
*)OṂ_ MAHĀ-DHŪPA-MEGHA PĀṬALA ŚAṂSANĀYA SAMANTENA
HŪṂ HŪṂ SVĀHĀ
Pháp này, khi làm Hộ Ma thời gia trì vào hương rồi thiêu đốt cúng dường tất cả
chư Phật, Bồ Tát, chư Thiên
_Thỉnh Hỏa Thiên Chân Ngôn:
“Án (1) y thát phộc nê (2) nhập-phộc la nhập-phộc la (3) nê bà, mục khí (4)
toa phộc ha (5)”
*)A-SVANE JVALA JVALA DEVA-MUKHE SVĀHĀ
Pháp này, thỉnh triệu Hỏa Thiên tức liền cúng dường
_Trang Nghiêm Chân Ngôn:
“Án (1) nhĩ nhĩ đà, ma nê (2) ca na ca (3) lạt đát nỗ nhập-phộc la (4) bộ sái
noa (5) ma nê ma nê (6) y mộ già ma nê (7) toa phộc ha (8)
*)OṂ_ VIVIDHA MAṆI KANAKA RATNO-JVALA BHŪṢAṆA_ MAṆI
MAṆI AMOGHA-MAṆI SVĀHĀ
Pháp này gia trì vào tất cả ngọc báu, vòng, xuyến, anh lạc, phướng, lọng trang
điểm xếp bày cúng dường các hình tượng ấy. Nếu dùng vòng, xuyến, anh lạc tự
nghiêm sức thì cũng gia trì vào.
Thỉnh Hoán Hỏa Thiên Chân Ngôn là:
“Án (1) nhập-phộc la, nhập-phộc la (2) bả la nhập-phộc la (3) để sắt tha, sai
ma diệm (4) hổ lỗ hổ lỗ (5) hồng, phất (6), toa-phộc ha (7)”
*)OṂ_ JVALA JVALA PRAJVALA TIṢṬHA SAMAYAṂ_ HURU HURU_
HŪṂ PHAṬ SVĀHĀ
_Sổ Châu Chân Ngôn:
“Án, y bá lý nhĩ đả (1) nhập phộc la (2) bát đầu-mễ (3) hồng (4)’
*)OṂ_ APARIMITA-JVALA-PADME HŪṂ
Chân Ngôn như vậy tụng 3 biến gia trì vào tràng hạt, lấy hạt châu bấm giữ
_Tam Bạch Thực Chân Ngôn:
“Án, tố lỗ tố lỗ (1) cấm bà vạt để (2) toa-phộc ha (3)”
*)OṂ_ SURU SURU_ KAMPA-VĀRTTI SVĀHĀ
Chân Ngôn như vậy tụng 3 biến gia trì vào 3 loại cơm, thức ăn màu trắng… hiến
cúng dường
_Phạn Chân Ngôn:
“Án, bát đầu-ma (1) thất lợi nê, sa đà dã (2) hồng (3)”
*)OṂ_ PADMA-ŚRĪṆI SĀDHAYA HŪṂ
Chân Ngôn như vậy tụng 3 biến gia trì vào các thứ cơm… hiến cúng dường
_Quả Tử Chân Ngôn:
“Án, phả la, nhĩ thú đễ (1) bà la, sai la (2) hồng (3)”
*)OṂ_ PHALA VIŚUDDHE_ BHARA SARA HŪṂ
Chân Ngôn như vậy tụng 3 biến gia trì vào tất cả quả trái… hiến cúng dường
https://kinhmatgiao.files.wordpress....no-1092_25.pdf
https://kinhmatgiao.files.wordpress....no-1092_19.pdf
https://vi-vn.facebook.com/MatGiaoKinh/
https://kinhmatgiao.files.wordpress....no-1092_19.pdf
https://kinhmatgiao.wordpress.com/20...n-chan-ngon-5/
https://kinhmatgiao.files.wordpress....no-1092_-2.pdf
https://kinhmatgiao.files.wordpress....07/no-1002.pdf
_Thập Tự Chân Ngôn là:
“Án (1) bát (2) đầu-mộ (3) sắt-nê (4) sái (5) nhĩ (6) ma (7) lê (8) hồng (9) phất
(10)”
*)OṂ_ PADMOṢṆĪṢA VIMALE HŪṂ PHAṬ
Chân Ngôn như vậy, dùng Tâm Đại Bi quán Quán Thế Âm, như Pháp thọ trì, cần
phải viên mãn 12 loại Pháp. Nhóm nào là mười hai?”
1_Nên viên mãn nhiếp thọ tất cả Đại Nguyện trong vô biên xứ sở, tùy có ước
nguyện đều khiến cho viên mãn. Vì để tu đủ 6 Ba La Mật Đa rất viên mãn. Hoặc vì
nghiêm tịnh cõi nước của chư Phật, hoặc vì thành thục các loài hữu tình… tùy theo
Tâm đã nguyện đều được viên mãn
2_Nên viên mãn Trí biết âm thanh khác loài của các hàng Trời, Rồng, Dược
Xoa, La Sát, Càn Thát Bà, a Tố Lạc, Nghiệt Lỗ Trà, Khẩn Na La, Ma Hô La Già,
người, Phi Nhân… nghĩa là vì tu tập ngôn từ thù thắng, hiểu biết không có ngăn ngại,
khéo biết ngôn âm khác biệt của hữu tình
3_ Nên viên mãn Vô Ngại Biện Trí, nghĩa là tu tập biện bác thù thắng, hiểu biết
không có ngăn ngại, vì các hữu tình hay nói không có cùng tận
4_Nên viên mãn Nhập Thai Cụ Túc, nghĩa là tuy tất cả nơi sinh ra, nhưng thật
luôn hóa sinh. Vì lợi ích hữu tình nên hiện nhập vào bào thai, ở bên trong đầy đủ mọi
loại việc thù thắng
5_Nên viên mãn Xuất Sinh Cụ Túc, nghĩa là khi ra khỏi thai thời hiện bày mọi
loại việc thù thắng hiếm có, khiến các hữu tình nhìn thấy đều vui vẻ, được đại an lạc
6_Nên viên mãn Gia Tộc Cụ Túc, nghĩa là sinh trong nhà Đại Tộc Tính Sát Đế
Lợi, hoặc sinh trong nhà Đại Tộc Tính Bà La Môn, vâng thuận cha mẹ, không thể quở
trách, nghi ngờ
7_Nên viên mãn Chủng Tính Cụ Túc, nghĩa là thường chuẩn bị sinh trong dòng
tộc của các Đại Bồ Tát quá khứ
8_Nên viên mãn Quyến Thuộc Cụ Túc, nghĩa là thuần dùng vô lượng vô số Bồ
Tát để làm quyến thuộc, chẳng phải là các loại tạp
9_Nên viên mãn Sinh Thân Cụ Túc, nghĩa là khi mới sinh ra, thời thân ấy đầy đủ
tất cả tướng tốt, phóng ánh sáng lớn chiêu khắp vô biên Thế Giới của chư Phật, cũng
khiến cho cõi ấy biến động theo 6 cách, hữu tình gặp được thì không có ai chẳng được
lợi ích
10_Nên viên mãn Xuất Gia Cụ Túc, nghĩa là khi xuất gia thời vô lượng vô số
hàng Trời, Rồng, Dược Xoa, La Sát, Càn Thát Bà, a Tố Lạc, Nghiệt Lỗ Trà, Khẩn Na
La, Ma Hô La Già, người, Phi Nhân…đi theo hầu cận. Đi đến Đạo Trường cắt bỏ râu
tóc, mặc 3 áo Pháp, thọ trì Ứng Khí (Pātra: vật khí đựng thức ăn ứng với Pháp), dẫn
đường cho vô lượng vô số hữu tình khiến nương vào 3 Thừa mà hướng đến Viên Tịch
(Parinirvāṇa: vào Niết Bàn)
11_Nên viên mãn Trang Nghiêm Bồ Đề Thụ Cụ Túc, nghĩa là đối với căn lành
thù thắng, Nguyện lực rộng lớn, cảm được cây Bồ Đề (Bodhi-vṛkṣa) màu nhiệm như
vầy: dùng báu Lưu Ly làm gốc cây, báu chân Kim Cương làm rễ, 7 báu thượng diệu
làm cành, là, mọi loại hoa quả. Cây ấy cao rộng che trùm khắp 3 ngàn Đại Thiên cõi
Phật, tỏa ánh sáng chiếu soi vòng khắp căng già sa đẳng Thế Giới của chư Phật ở 10
phương
12_Nên viên mãn Nhất Thiết Công Đức Thành Biện Cụ Túc, nghĩa là nơi viên
mãn tất cả tư lương Phước Tuệ thù thắng, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật
Như vậy,người mỗi mỗi tu trì đầy đủ Chân Ngôn này sẽ được tất cả Như Lai Ứng
Chính Đẳng Giác trong vô lượng căng già sa câu chi na dữu đa cõi nước ở 10
phương… làm mọi loại Thần Thông, cùng một lúc hiện ra trước mặt, bảo rằng: “Lành
thay! Lành thay! Thiện Nam Tử thường vì tất cả 8 Bộ Thiên Tiên Long Thần, người
dân trong Thế Gian… bày kính vô lượng. Được Liên Hoa Đỉnh Chân Ngôn Minh
Tiên này, cho đến Vô Thượng Chính Đẳng Bồ Đề, trụ Pháp Vân Địa (Dharmamegha-bhūmi),
tùy theo phương sở phát triển Phật Sự”
_Này Bí Mật Chủ! Ông hỏi tu hành Đà La Ni Chân Ngôn này, mỗi mỗi hay thành
Tất Địa tối thượng. Tôi đều diễn nói Pháp bậc thượng, Pháp bậc trung, Pháp bậc hạ
của Bất Không Quyến Sách Tâm Vương Đà La Ni Chân Ngôn Tam Muội Gia này
Như vậy, người đọc tụng, thọ trì thường tắm gội sạch sẽ, dùng hương xoa bôi
thân, mặc quần áo sạch. Đối với các hữu tình khởi Tâm Đại Bi, nói lời chân thật, tin
sâu Tam Bảo, kính sự cúng dường Hòa Thượng, Xà Lê, cha mẹ, bạn thiện lành, trì đủ
Luật Nghi, thọ trì Pháp này. Như vậy phát hành thì gọi là người Chân Thọ Trì Chân
Ngôn, ắt sẽ quyết định được chứng Vô Thượng Chính Đẳng Bồ đề”
( https://kinhmatgiao.files.wordpress....no-1092_18.pdf )
_Cam Lộ Chân Ngôn:
“Án, nhĩ lý nhĩ dã (1) thú đễ (2) hồng (3)”
*)OṂ_ VIRI VIYĀ ŚUDDHE HŪṂ
Chân Ngôn như vậy tụng 3 biến gia trì vào sữa, lạc, bơ, mật cúng dường kèm với
uống vào
( https://kinhmatgiao.files.wordpress....no-1092_19.pdf )
Tịnh Thủ Chân Ngôn:
“Án, y mộ già (1) nhạ la nhĩ ma lệ (2) tố lỗ tố lỗ (3) toa-phộc ha (4)”
*)OṂ_ AMOGHA-JALA VIMALE_ SURU SURU SVĀHĀ
Chân Ngôn này dùng ánh sáng Thần Biến của Phấn Nộ Vương gia trì vào nước
rồi rửa tay, lau rửa thân
( https://kinhmatgiao.files.wordpress....no-1092_16.pdf )
CHỦNG TỰ
Thành Tựu Nhất Thiết Minh Chân Ngôn là:
Án, tra tra tra-ô, trí trí trí trí tra-ô, tra-ô tra-ô tra-ô, phộc nhật-la tát đátphôc,
nhạ hồng noan hộc, hột-lị, hạc, hồng phán tra, hồng
*)OṂ_ ṬA ṬĀ ṬU, ṬI ṬĪ ṬI ṬĪ, ṬU ṬU ṬU ṬU, VAJRASADVO JJAḤ
HŪṂ VAṂ HOḤ, HRĪḤ HAḤ HŪṂ PHAṬ HŪṂ
(Bản khác ghi là: OṂ _ ṬA ṬĀ , ṬU ṬŪ, ṬI ṬĪ , ṬI ṬĪ , ṬU ṬŪ ṬU ṬŪ,
VAJRA-SATVA JAḤ HŪṂ VAṂ HOḤ, HRĪḤ HAḤ HŪṂ PHAṬ HŪṂ)
https://kinhmatgiao.files.wordpress....5/no-867_2.pdf
https://kinhmatgiao.files.wordpress....5/no-867_1.pdf
https://kinhmatgiao.files.wordpress....no-1092_13.pdf
https://vi-vn.facebook.com/MatGiaoKinh/
https://kinhmatgiao.files.wordpress....no-1092_14.pdf