http://www.gdptquangducsaigon.org/tu...-cua-chu-phat/
http://chuatudam.org.vn/?cat_id=109&id=233
Printable View
dược sư thập nhị thần tướng
(藥師十二神將) Mười hai vị tướng thần Dược sư. Cũng gọi Thập nhị thần vương, Thập nhị thần tướng, Thập nhị Dược xoa đại tướng, quyến thuộc của đức Phật Dược sư. Tức là 12 vị Dược xoa thần tướng ủng hộ và bảo vệ những người trì tụng kinh Dược sư. Hoặc có thuyết cho 12 vị thần tướng này là những phân thân của đức Phật Dược sư. Mỗi vị thần tướng cầm đầu 7.000 Dược xoa, tổng cộng là 84.000 vị thần hộ pháp. Mười hai vị thần tướng Dược sư là : 1. Cung tì la, cũng gọi Kim tì la, nghĩa là rất sợ. Vị này thân màu vàng, tay cầm chiếc chày báu, lấy bồ tát Di lặc làm bản địa. 2. Phạt chiết la, cũng gọi Bạt chiết la, Hòa kì la, nghĩa là kim cương. Thân màu trắng, cầm gươm báu, lấy bồ tát Đại thế chí làm bản địa. 3. Mê xí la, cũng gọi Di khư la, nghĩa là chấp nghiêm. Mình màu vàng, tay cầm gậy báu hoặc chày một chĩa, lấy Phật A di đà làm bản địa. 4. An để la, cũng gọi Át nễ la, An nại la, An đà la, nghĩa là chấp tinh. Thân màu xanh lá cây, tay cầm chiếc dùi báu hoặc viên ngọc báu, lấy bồ tát Quan âm làm bản địa. 5. Át nhĩ la, cũng gọi Mạt nhĩ la, Ma ni la, nghĩa là chấp phong. Thân màu đỏ lợt, tay cầm cái chĩa hoặc mũi tên báu, lấy bồ tát Ma lợi chi làm bản địa. 6. San để la, cũng gọi Sa nễ la, Tố lam la, nghĩa là chỗ ở. Thân màu lam, tay cầm gươm hoặc tù và báu, lấy bồ tát Hư không tạng làm bản địa. 7. Nhân đạt la, cũng gọi Nhân đà la, nghĩa là chấp lực. Thân màu đỏ, tay cầm cái côn hoặc cái mâu báu, lấy bồ tát Địa tạng làm bản địa. 8. Ba di la, cũng gọi Bà da la, nghĩa là chấp ẩm. Thân màu đỏ lợt, tay cầm dùi hoặc cung tên báu, lấy bồ tát Văn thù làm bản địa. 9. Ma hổ la, cũng gọi Bạc hô la, Ma hưu la, nghĩa là chấp ngôn. Thân màu trắng, tay cầm cái rìu báu, lấy Phật Dược sư làm bản địa. 10. Chân đạt la, cũng gọi Chân trì la. Thân màu vàng, tay cầm giây lụa hoặc cây gậy báu, lấy bồ tát Phổ hiền làm bản địa. 11. Chiêu độ la, cũng gọi Chu đỗ la, Chiếu đầu la, nghĩa là chấp động. Thân màu xanh, cầm cái dùi báu, lấy bồ tát Kim cương thủ làm bản địa. 12. Tì yết la, cũng gọi Tì già la, nghĩa là viên tác. Thân màu đỏ, tay cầm bánh xe báu hoặc chày ba chẽ, lấy Phật Thích ca mâu ni làm bản địa. Có thuyết nói 12 vị thần tướng này trong 12 giờ ban ngày, 12 giờ ban đêm, 12 tháng trong bốn mùa thay phiên nhau giữ gìn ủng hộ chúng sinh. Nếu phối hợp 12 thần tướng với 12 địa chi ngược lên thì Cung tì la thuộc Hợi, Phạt chiết la thuộc Tuất, Chiêu độ la thuộc Sửu, Tì yết la thuộc Tí v.v... Quan hệ phối với 12 địa chi, bản địa và vật cầm tay của 12 vị thần tướng được đồ biểu như sau: 12 thần tướng 12 Địa chi Bản địa Vật cầm tay Tì Yết La Hợi Thần Di Lặc Chày Báu Phạt Chiết La Tuất Thần Đại Thế Chí Gươm Báu Mê Xí La Dậu Thần A Di Đà Chày Một Chĩa An Để La Thân Thần Quan Thế Âm Ngọc Báu Át Nhĩ La Mùi Thần Ma Lị Chi Mũi Tên San Để La Ngọ Thần Hư Không Tạng Tù Và Nhân Đạt La Tị Thần Địa Tạng Cây Mâu Ba Di La Thìn Thần Văn Thù Cung Tên Ma Hổ La Mão Thần Dược Sư Rìu Báu Chân Đạt La Dần Thần Phổ Hiền Gậy Báu Chiêu Độ La Sửu Thần Kim Cương Thủ Dùi Báu Tì Yết La Tí Thần Thích Ca Chày Ba Chĩa Vì trong kinh Dược sư không thấy đề cập đến thuyết phối hợp 12 địa chi với 12 Thần tướng, vả lại, trong Nhất hạnh a xà lê thuyên tập và kinh Diệu kiến bồ tát thần chú v.v... cũng không thấy có ghi chép, cho nên thuyết này đã do ai truyền thì không được rõ. E rằng con số 12 thần tướng với con số 12 địa chi phù hợp nhau, hơn nữa, kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 23 có nêu thuyết 12 con thú, bởi thế đời sau phụ họa mà đặt ra thuyết này. [X.kinh Dược sư thất Phật cúng dường nghi quĩ như ý vương; kinh Dược sư như lai bản nguyện công đức; Dược sư lưu li quang vương thất Phật bản nguyện công đức niệm tụng nghi quĩ cúng dường pháp; kinh Quán đính Q.12; kinh Đà la ni Q.2; Tịnh lưu li tịnh độ tiêu].
http://xueyushenyingyeah.wap.blog.16...ushenying@yeah
https://books.google.com.vn/books?id...0SVAHA&f=false
http://blog.sina.com.cn/s/blog_5fa20b2e0101a40t.html
http://www.kagyulibrary.hk/cms/uploa...re/file/55.pdf
http://minhtamkientanh.blogspot.com/...athan-chu.html
http://www.dharmaling.org/forums/ind...showtopic=1530
KIM CANG ĐA LA BỒ TÁT CHƠN NGÔN
{ Phúng Quán Thế Âm Bồ Tát Tuỳ Tâm Chú / Phúng Quán Âm Bồ Tát Tuỳ Tâm Chú / PHỔ-MÔN CHÚ / Quyển 7, PHẨM 25: Phẩm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát Phổ-Môn của BỘ KINH ĐẠI THỪA DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH. Có PHỔ-MÔN CHƠN NGÔN / Oai Thần Lực Quán Thế Âm Bồ Tát Tự Tại Hoá Độ Chúng Sanh Chơn Ngôn }
[ VAJRA-TARA BODHISATTVA MANTRA ]
( http://www.thientinhmat.com/index.ph...u-sao-cho-dung / http://lecongda.20fr.com/BoTatQuanTheAm.htm / http://www.b-i-a.net/d-t-m/books/book23_3_gb.html / https://books.google.com.vn/books?id...20TARA&f=false / http://rywiki.tsadra.org/index.php/The_Twenty-one_Taras )
Phục hồi Phạn Chú: Phổ Quảng
http://www.upsieutoc.com/images/2016...0_n_vy3pep.jpg
*Hán Tự:
.唵。達咧達咧。度達咧。度度達咧。 达咧。梳吓.
.嗡, 达列 达列; 都达列, 都都达列, 都达列, 梭哈.
.嗡, 达列 达列; 度达列,度度达列,度达列; 莎婆訶.
*Hán Việt:
ÁN, ĐA-RỊ ĐA-RỊ; ĐỐT ĐA-RỊ, ĐỐT ĐỐT ĐA-RỊ, ĐỐT ĐA-RỊ; TA BÀ HA.
*Phạn Chú:
OM, TARE TARE; TUTARE, TUTUTARE, TUTARE; SVAHA.
Thần Chú này do KIM CANG ĐA-LA BỒ TÁT ( VAJRA TARA BODHISATTVA ), tức là 1 Hoá Thân của Đức QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT ( AVALOKITESVARA BODHISATTVA ) tuyên nói: Đây là Vua của hết thảy mọi Chơn Ngôn khác ( Vương Chú ) và được ban cho rất nhiều oai lực thần thông vĩ đại. Kẻ nào hay trì tụng Chơn Ngôn này thì được mười Phương Chư NHƯ LAI tán thán, cúng dường và tôn trọng cùng thương yêu kẻ đó như là con đẻ ( KINH SADHANAMALA ).
Người tu Chơn Ngôn trì tụng lâu ngày Thần Chú này sẽ được THỂ NHẬP làm 1 với Đức THÁNH MẪU TARA ( ARYATARA ), tượng trưng bằng Thánh tự " TÂM " màu Vàng chói lọi. Kẻ đó sẽ chứng được 8 loại thần thông siêu việt thế gian và các quyền năng thông thường khác sẽ đến với kẻ đó như là 1 điều xác thực hiển nhiên.
Nếu thắt gút nơi chéo áo của mình sau khi đã đọc Thần Chú trên 7 lần, thì người tu Mật Chú có thể đi tới bất cứ nơi nào nguy hiểm đầy sương lam chướng khí của chốn núi cao rừng thẳm mà vẫn không sợ bị nhiễu hại. Những loài thú dữ như: sư tử, cọp, beo, voi, rắn, cá sấu, gấu, trâu rừng..v.v....cùng bọn trộm cướp đều phải trốn chạy hoặc BỊ TIÊU DIỆT TRƯỚC DANH HIỆU CỦA THẦN CHÚ vĩ đại trên.
Vi diệu Chơn Ngôn Bồ Tát này, nếu người y pháp trì tụng 1 lạc xoa số ( 100.000 lần ), người ấy có thể hàng phục Tam Giới. Các Thiên Long, A Tu La, Trì-Thiên-Minh và những kẻ nữ kia đến làm kẻ tôi bộc tuỳ tâm mình sai khiến. Người trì tụng nếu muốn làm phép Câu Triệu: Thiên - Long và những vị Nữ ấy đến, phải tưởng Thân kia sắc Đỏ nơi trong giữa Tâm ấy có KIM CANG CÂU hào quang rực rỡ Câu nơi Tâm kia. Lại tưởng Quyến Tác ( Sợi Dây ) buộc nơi Cổ Chân làm tướng sợ hãi. Phàm chỗ CÂU TRIỆU ấy tuỳ lúc trì tụng quyết định mau đến có sở cầu việc gì thảy đều được Tuỳ Tâm mình sai khiến.
( PHẬT THUYẾT NHẤT THIẾT PHẬT NHIẾP TƯƠNG ƯNG ĐẠI GIÁO VƯƠNG )
KINH THÁNH QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT NIỆM TỤNG NGHI QUỸ
Nếu lấy Lông 1 con Quạ, rồi trì Chú vào đó 32 biến, đoạn dấu kín trong nhà của kẻ có ác-ý với ta, thì ngôi nhà đó sẽ bị phá huỷ 1 cách bí mật trong vòng thời gian 1 tuần lễ. Còn nhiều công dụng khác nữa mà ở đây chúng tôi không tiện liệt kê ra để phòng ngừa những kẻ lạm dụng Thần Chú trên trong những việc bất chánh ( Lời dịch giả THANH TÂM ).
Ở đây, chúng ta không cần nêu ra những trường hợp thần hiệu điển hình mà kẻ thờ phụng ĐỨC THÁNH MẪU đã được Ngài ban cho nhiều ân-huệ cũng như nhiều cớ sự thành công 1 cách may mắn bất ngờ trong suốt cuộc đời mình. Cho nên Thần Chú này cũng còn có tên là CĂN BỔN THẬP TỰ CHƠN NGÔN và CỨU ĐỘ BÁT NẠN CHƠN NGÔN vì năng trừ mọi tai ách chướng nạn của chúng sanh như trong " KINH THÁNH CỨU ĐỘ PHẬT MẪU NHỊ THẬP NHỨT CHÚNG LỄ TÁN " đã ca ngợi không hết lời về thần lực không thể nghĩ bàn của Thần Chú này.
Bất cứ kẻ nào trì tụng Chơn Ngôn trên, rồi Thiền định tư duy về Đức Thánh Mẫu trong các Thạch-động sẽ được Ngài hiện Thân cho thấy Dung mạo mình bằng mắt trần của chính kẻ đó. Đức Thánh Mẫu sẽ ban cho kẻ tín tâm đó hơi thở và chính mạng sống của Ngài cũng như quả vị Vô Thượng Bồ Đề ( thành Phật ) là quả vị khó đạt được nhất cũng ban luôn cho kẻ ấy 1 cách rõ ràng xác thực như là trái Bồ Đào nằm trên lòng bàn tay của kẻ diễm phúc ấy.
( Trích trong KINH SADHANAMALA do Ngài STHAVIRA ANURAMA dịch từ tiếng Tây Tạng ra tiếng Anh )
TRÌ NIỆM CHƠN NGÔN LÀ 1 TIẾN TRÌNH DIỄN BIẾN VỀ MẶT TÂM LINH ĐỂ THỰC CHỨNG VỀ MẬT NGHĨA CỦA CHƠN NGÔN VÀ TỰ THỂ NHẬP LÀM 1 VỚI VỊ CHỦ CHƠN NGÔN ĐÓ.
Phật lịch 2521, MÙA THÁNH HOÁ
Dịch giả THANH TÂM
( 16-01-1971 )
----------------------------------
*Phụ Chú:
1.Thần Chú của Đức Lục Độ Mẫu ( Phật Mẫu TARA ) trên là sự tóm kết phần Kinh Văn của Quyển 7, PHẨM 25: Phẩm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát Phổ-Môn của BỘ KINH ĐẠI THỪA DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH.
2.Thần Chú của Đức Lục Độ Mẫu ( Phật Mẫu TARA ) trên thường được hành trì đồng thời với Lục Tự Đại Minh Chơn Ngôn: OM MANI PADME HUM ( ÁN MA-NI BÁT-DI HỒNG ). Khi vào Đàn nên kiết Hộ Thân Ấn, trì niệm Kim Cang Đa La Bồ Tát Chơn Ngôn trước, rồi sau đó mới trì niệm Lục Tự Đại Minh Chú.
《十二神將饒益有情結願神咒》
( http://www.bgvpr.org/ex/3/ex_13.htm / http://mypaper.pchome.com.tw/201314_uu/post/1366578797 )
拿摩喇的拿的喇牙呀
拿摩 枯毗喇 趴匝喇 美卡喇 安底喇 嗎底喇 珊底喇
因達喇 巴牙喇 嗎虎喇 親達喇 收杜喇 毗卡喇
拿摩 拔嘎乏得 排曬及牙 骨魯 懷都里牙 玻喇拔 喇加牙
打他嘎打牙 而哈得 三彌牙割三菩達牙 打笛牙他
嗡 排曬及也 排曬及也 排曬及牙 三母的嘎得 司乏哈
namo ratnatrayaya
namo kuvira pacara mekara andira madira samtira
indara bhayara mahura cindara s tura vikara
namo bhagavate bhaisajya guru vaidulya prabha rajaya
tathagataya rhate samyaksambuddha ya tadyatha
om bhaisajye bhaisajye bhaisajra samud gate svaha
药师灌顶真言
药师灌顶真言
修学药师灌顶真言是药师法门的一部 ,读诵修持有着极大的功德利益
1. 内容
南无薄伽伐帝鞞杀社
窭噜薜琉璃
跋喇婆
喝啰阇也
怛他揭多也
阿啰喝帝
三藐三勃陀耶
怛侄他
唵
鞞刹逝
鞞刹逝
鞞刹社
三没揭帝莎诃
2. 拼音读法
na mo bo qie fa di pi sha she
ju du bi liu li
bo la po
he la she ye
da tuo jie duo ye
a la he di
san miao san bo tuo ye
da zhi tuo
an
pi sha shi
pi sha shi
pi sha she
san mo jie di suo he
3. 读法
那摩波切罚地
皮杀社
句度比琉璃
波拉婆
和拉舌也
大拖接多也
艾拉和地
三秒三波拖也
大至拖
安
皮杀逝
皮杀逝
皮杀社
三摩接地缩和
4.简单释义
南无 薄伽伐帝
归命 世尊
鞞杀社 窭噜 薜琉璃 跋喇婆 喝啰阇也
药 师 琉璃 光 王
怛他揭多也 阿啰喝帝 三藐三勃陀耶
如来 应供 正等正觉
怛侄他
即说咒曰
唵 鞞刹逝 鞞刹逝 鞞刹社 三没揭帝
唵 药 药 药师 自度度他
莎诃
成就
南 na 谟 mo 薄 bo 伽 qie 伐 fa 帝 di 鞞 pi 杀 sha 社 she
窭 ju 噜 lu 薜 pi 琉 liu 璃 li 钵 bo 喇 la 婆 po
喝 he 啰 la 阇 she 也 ye 怛 da 他 tuo 揭 jie 多 duo 也 ye
阿 a 啰 la 喝 he 帝 di 三 san 藐 miao 三 san 勃 bo 陀 tuo 耶 ye
怛 da 姪 zhi 他 tuo 唵ong 鞞 pi 杀 sha 逝 shi
鞞 pi 杀 sha 逝 shi 鞞 pi 杀 sha 社 she
三 san 没 mo 揭 jie 帝 di 莎 suo 诃 he
南nan無mo薄bo伽jia伐fa帝di。鞞Pi殺sha社s he。窶jv嚕lu薜pi琉liu璃li。缽bo喇la婆po 喝he羅la闍zhe也ye。怛dan他Tuo揭jie多duo 耶ye。阿a羅La喝he帝di。三san藐miao三san bo陀tuo耶ye。怛dan侄zhi他Tuo。唵an。鞞 Pi殺sha逝shi。鞞Pi殺sha逝shi。鞞Pi殺sha she。三san沒mo揭jie帝di斯si瓦wa 訶ha。
*PHỤ Ý:
“Thế gian thường hay tin những thi quỷ, trùng tang (thây ma thành quỷ đứng dậy, hoặc ngày chết, có trùng tang liên táng, bà con hay chết theo. Các sự cố ấy là dị đoan của đời sống, của loài người, tưởng như có thật, đôi khi trường hợp trùng với sự kiện thoạt nhiên xảy đến. Vì những hư thực ấy cũng làm cho chúng sanh sống đau khổ phập phồng lo âu.
Nên Đức Đại Bi Thế Tôn tùy theo thành kiến sợ sệt của chúng sanh, chỉ dạy thêm đạo tràng, để đối pháp trị, không theo cách thức ngoại đạo ngụy tạo đa đoan làm khổ lụy chúng sanh mà không được hậu quả tốt”.
CHÁNH VĂN
Lại có một pháp khác. Khi cất đám tang đi chôn người chết, nên đặt linh cửu (thi thể người quá cố) ở ngã tư đưởng, đừng thiết trí án thờ, chỉ nên bằng cách cầu khấn tứ phương thiên thần xin đến gia hộ, thiêu hương, dâng hoa cúng dường ( lấy các sợi dây tinh luyện đọc chú pháp như trước đã nói cho các người thân nhất trong dòng họ sợ trùng tang đeo). Và đọc chú Phật Khổng Tước Chú Vương, như pháp thọ trì, cầu nguyện với tâm thành, nguyện ân đức từ bi và Hộ Pháp Thần Vương gia hộ, sẽ có kết quả tốt.
Khi an táng, hoặc hỏa thiêu xong, ban đêm , các con cháu hoặc thân thích sẽ thấy những điềm mộng như: voi, trâu mập mạnh, xe tốt, núi cao, cây nhiều hoa trái , hoặc mộng thấy tự thân báu trên cao, hoặc ngồi trong tòa nhà tốt đẹp, hoặc thấy những khách quý sang trọng, hoặc thấy cha mẹ mình, hoặc mặc áo tốt, tiếp khách, những khách trí thức, thấy đồng nam, đồng nữ tướng tốt trang nghiêm, hoặc thấy các thiên thần dạy bảo các điều hay lạ chơn thật, hoặc thấy lúa gạo nhiều, sữa tươi, vật thực nhiều, thấy chim khổng tước, ngựa tốt. Như vậy là thấy chiêm bao an lành.
Nếu thấy khác đi thì chẳng phải điềm lành vậy. Ví như thấy lừa, lạc đà, vượn, khỉ, heo, chó, rắn rít...v.v...hoặc các loài mèo, chồn, các loài chim điêu, cú mèo, quạ. Hoặc thấy lõa hình xấu xí ốm đen, kẻ không nhà cửa, thấy chết ngoài rừng bụi, sông ngòi khô cạn, đó là điềm mộng xấu.
Thế nên tác pháp theo đạo tràng trì tụng chú, để dễ thành tựu các điềm lành và điềm mộng tốt. Vả lại, nếu gặp các cảnh như sợ hãi, các bệnh khổ não, các dịch lệ tai ách, chết oan uổng, đều tiêu diệt ngay. Vì người thao tác đạo tràng và trì chú như pháp nên có hiệu lực, hoặc gặp trẻ con bệnh (mà người đời tin là quỷ bắt) thì lấy lông chim sẻ thế cho lông đuôi chim Khổng Tước nhúng vào lọ tịnh thủy để trên án thờ, phất lên mình trẻ thơ, cùng đọc chú , kết dây đeo vào cổ nó thì được lành bệnh ngay.
Có thể nói, những tác pháp của ngoại đạo trử bệnh, không được thành biện, mà đem Khổng Tước Chú Vương thi thố trong đạo tràng ra thao tác chú nguyện thì được thành tựu hiệu quả ngay.
Như Đức Thế Tôn nói: Giá như có người phạm tội ngũ nghịch, nếu hay lập được pháp đàn này, thao tác hành trì được bảy lần đạo tràng chú nguyện, ắt tội nghiệp nặng tiêu trừ và làm cho tâm kẻ có tội được an tịnh, tiêu trừ bệnh khổ. Tốt nhất phải có lòng tin thanh tịnh thì cầu nguyện được toại nguyện như ý (nhất tâm thành biện).
A Nan Đà, lại có tâm chú, ông nên thọ trì: NAM MÔ PHẬT ĐÀ DÃ, NAM MÔ ĐẠT MA GIÃ, NAM MÔ TĂNG GIÀ DÃ, NAM MÔ KIM QUANG MINH KHỔNG TƯỚC VƯƠNG, NAM MÔ MA HA MA DU LỢI MINH CHÚ VƯƠNG, ĐÁC ĐIỆT THA AN TRÍ PHẠT TRÍ, THÁCH KẾ THẠT LẶC, THÁCH KẾ ÁC YẾT TỬ, MẠC YẾT TỬ NHẤT LÝ NHỈ LỆ KỲ LỆ, HỘ LÔ LẠC THÍCH, MẠC HA HỘ LÔ LẠC THÍCH, BỘ ĐĂNG CẤP MẾ, ĐỂ MINH KỲ TÂY, MẠC HA VƯƠNG YẾT TÂY.TÓA HA.
A Nan Đà, Ma Ha Ma Du Lợi tâm chú này là chú tất cả chư Phật tuyên thuyết . Đây là chỉ lược nói chú pháp. Nếu muốn thọ trì đọc tụng thì phải kiến tạo đạo tràng như pháp thức đã nói thì những nguyện cầu chi đều được thành tựu. Nếu sự cố chẳng được toại tâm thì phải đoan tọa (ngồi nghiêm túc bán già hoặc kiết già) trì Tâm chú (Bát nhã, Đại bi), phải trước lễ bái thành tâm sám hối tội lỗi, đem thanh tịnh tâm cúng dường Phật, rồi mới tụng chú. Thân, miệng, ý cho tịnh mật tương ưng, không cho một vọng tưởng nhỏ nhặt xen vào. Nếu trong lúc ngủ nghỉ mộng thấy trượng phu tướng (người đàn ông cao lớn, vạm vỡ trang nghiêm đẹp đẽ) đến trước mặt mình, tức là tụng chú có linh ứng. Nếu thấy người nữ tướng mạo đoan nghiêm ứng đến, tức là các vị thiên thần, tiên cảm chứng thương mến sự cầu khẩn trong trạng thái tâm thành nên hiện chứng.
Có những sự sai biệt như thế, nếu dốc lòng chí tín, chí kính, tinh tấn thọ trì chú pháp để cầu mật hộ, có thể họa thêm tượng Ma Ha Du Lợi Bồ Tát. Lại trang trí trước tượng là tượng Khổng Tước Vương, cần nhất án vọng thờ phải thanh lịch để dễ dàng phát tín tâm. Khung cảnh thờ tự nghiêm túc, giúp cho hành giả sở quán được thanh tịnh, nên tất cả những hiện trạng sợ hãi và tất cả bệnh khổ từ từ giảm lần cho đến kết quả tiêu trừ. Cần chọn ngày có trăng sáng để đàn tràng được quang đãng.
( http://www.hoalinhthoai.com/buddhist...uong-Kinh.html )
TIỂU LUẬN VỀ PHẬT A DI ĐÀ
Phước Nguyên
PL. 2559 DL. 2015
http://thuvienhoasen.org/images/file...bha-buddha.jpg
Amitabha image from Tibetan
Thanka Painting (Portrayal of Mysticism)
by Pema Namdol Thaye
( http://thuvienhoasen.org/a23977/tieu...e-phat-a-di-da )
Lời Nguyện Thứ 18-19 Của Đức Phật A Di Đà
( http://thuvienhoasen.org/p27a23983/chuong-6- )
18. sacenme bhagavan bodhiprāptasya ye sattvā anyeṣu lokadhātuṣvanuttarāyāṃ samyaksaṃbodhau cittamutpādya mama nāmadheyaṃ śrutvā prasannacittā māmanusmareyuḥ, teṣāṃ cedahaṃ maraṇakālasamaye pratyupasthite bhikṣusaṃghaparivṛtaḥ puraskṛto na puratastiṣṭheyaṃ yadidaṃ cittāvikṣepatāyai, mā tāvadahamanuttarāṃ samyaksaṃbodhimabhisaṃbudhyeyam[55] ||
Bạch Thế Tôn! Nếu sau khi con thành tựu Bồ-đề, những loại chúng sanh ở nơi những thế giới khác, phát tâm A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, nghe danh hiệu[56] của con, tâm kính tín thanh tịnh[57], hành trì danh hiệu ấy[58], những chúng sanh đó trong lúc lâm chung[59], nếu họ nhớ nghĩ đến con mà chúng hội Tỷ-kheo[60] không tiếp cận[61], đứng trước mặt họ[62], vây quanh cung kính tiếp độ dẫn dắt[63] tâm sáng suốt của họ[64], thì con không thành tựu A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.
१९. सचेन्मे भगवन् बोधिप्राप्तस्य अप्रमेयासंख्येये ु बुद्धक्षेत्रेषु ये सत्त्वा मम नामधेयं श्रुत्वा तत्र बुद्धक्षेत्रे चित्तं प्रेरयेयुः, उपपत्तये कुशलमूलानि च परिणामयेयुः, ते तत्र बुद्धक्षेत्रे नोपपद्येरन्, अन्तशो दशभिश्चित्तोत्पा परिवर्तैः स्थापयित्वा आनन्तर्यकारिणः सद्धर्मप्रतिक्षे ावरणकृतांश्च सत्त्वान्, मा तावदहमनुत्तरां सम्यक्संबोधिमभिस बुध्येयम्॥
*Kinh Quán Vô Lượng Thọ:
18.Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
( https://thienphatgiao.wordpress.com/...tri-tinh-dich/ )
===
19. sacenme bhagavan bodhiprāptasya aprameyāsaṃkhyeyeṣu buddhakṣetreṣu ye sattvā mama nāmadheyaṃ śrutvā tatra buddhakṣetre cittaṃ prerayeyuḥ, upapattaye kuśalamūlāni ca pariṇāmayeyuḥ, te tatra buddhakṣetre nopapadyeran, antaśo daśabhiścittotpādaparivartaiḥ sthāpayitvā ānantaryakāriṇaḥ saddharmapratikṣepāvaraṇakṛtāṃśca sattvān, mā tāvadahamanuttarāṃ samyaksaṃbodhimabhisaṃbudhyeyam[65] ||
Bạch Thế Tôn! Nếu sau khi con thành tựu Bồ-đề, những chúng sanh ở nơi vô lượng, vô số[66] quốc độ Phật, nghe danh hiệu của con, nếu những chúng sanh nơi các quốc độ Phật ấy phát khởi thiện căn[67], tín tâm thanh tịnh, hồi hướng[68], muốn sanh đến quốc độ Phật ấy của con, niệm chừng khoảng mười niệm[69] liền được sinh về, ngoại trừ[70] những chúng sanh phạm tội ngũ nghịch[71] và tội phỉ báng chánh pháp[72]. Nếu không phải vậy, thì con không thành tựu A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.
२०. सचेन्मे भगवन् बोधिप्राप्तस्य तत्र बुद्धक्षेत्रे ये सत्त्वाः प्रत्याजाता भवेयुः, ते सर्वे नैकजातिप्रतिबद्ध ः स्युरनुत्तरायां सम्यक्संबोधौ स्थापयित्वा प्रणिधानविशेषान्, तेषामेव बोधिसत्त्वानां महासत्त्वानां महासंनाहसंनद्धान ं सर्वलोकार्थसंबुद धानां सर्वलोकाभियुक्ता ां सर्वलोकपरिनिर्वा ाभियुक्तानां सर्वलोकधातुषु बोधिसत्त्वचर्यां चरितुकामानां सर्वबुद्धानां संवर्तुकामानां
*Kinh Quán Vô Lượng Thọ:
19.Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát tâm Bồ đề tâm, tu các công đức chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước tôi. Lúc họ mạng chung, tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt họ. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
( http://thuvienhoasen.org/a16641/48-d...c-phat-a-di-da )
*GHI CHÚ:
.A Di Ðà ( 阿彌陀 ) là dịch âm chữ Amita. Hán dịch nghĩa là Vô lượng Thọ và Vô lượng Quang.
.[55] Hán văn nguyện 19: T12n0360.tr 0268a29: 設我得佛十 方衆生發菩 提心修諸功德 至心發願欲生我 國臨夀終時令假令不 與大衆圍遶現 其人前者 不取正覺: Giả sử khi con thành Phật, chúng sanh trong mười phương phát tâm bồ đề, thực hành các công đức, phát nguyện hết lòng muốn sanh về quốc độ con, đến khi họ lâm chung, bấy giờ khiến con và đại chúng không hiện ra vây quanh trước mặt người đó, thì con không chấp nhận ngôi Chánh giác.
.[56] Skt.Nāmadheyaṃ: biến cách hai, Tên, danh hiệu.
[57] Skt. Prasannacittā: prasanna, trong sạch, thanh tịnh. Hán: chí tâm phát nguyện.
.[58] Skt. Māmanusmareyuḥ: động từ căn anu + smṛ. Anu là tiền tố từ: theo; smṛ là niệm, nhớ nghĩ. Nghĩa là tùy niệm danh hiệu, hành trì danh hiệu hay chấp trì danh hiệu. Hán: tu chư công đức.
.[59] Skt. Maraṇakālasamaye: Ở trong thời gian lâm chung. Hán: lâm thọ chung thời
.[60] Skt. Bhikṣusaṃghaparivṛtaḥ: Chúng hội Tỷ-kheo cung kính vây quanh.
.[61] Skt. Pratyupasthite: Đứng bên cạnh, tiếp cận.
.[62] Skt. Puratastiṣṭheyaṃ: Đứng trước mặt, hiện tiền. Hán: hiện kỳ nhân tiền.
.[63] Skt. Puraskṛto: Tiếp độ hướng dẫn, dẫn dắt.
.[64] Skt. Cittāvikṣepatāyai: Tâm sáng suốt, tâm thông minh, tâm linh
.[65] Hán nguyện thứ 18: T12n0360, tr. 0268a26: 設我得佛十方衆 生至心信樂欲生我國乃至十念若不生 不 取正覺唯除 五逆誹謗 正法: Giả sử khi con thành Phật, chúng sanh trong mười phương tin vui hết lòng, muốn sanh đến quốc độ con, chỉ niệm cho đến mười (lần) danh hiệu, nếu họ không sinh đến đó, thì con không chấp nhận ngôi Chánh giác. Ngoại trừ những người phạm tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp.
.[66] Skt. aprameyāsaṃkhyeyeṣu: biến cách bảy, ở nơi vô lượng, vô số.
.[67] Skt. upapattaye kuśalalamūlāni: Phát khởi thiện căn.
.[68] Skt. pariṇāmayeyuḥ, Hán: Hồi hướng.
.[69] Skt. Daśabhiścittotpādaparivartaiḥ: Lặp đi, lặp lại mười niệm. Hán: nãi chí thập niệm.
.[70] Skt. sthāpayitvā: Đứng một bên, đứng ra ngoài. Hán: duy trừ.
.[71] Skt. ānantaryakāriṇaḥ: Tội vô gián. Hán: ngũ nghịch.
.[72] Skt. Saddharmapratikṣepāvaraṇakṛtāṃ: saddharma là chánh pháp; pratikṣepā là phỉ báng; varaṇakṛtāṃ là tội chướng.
.Theo Link:http://vanhoaphuongdong.co/threads/p...ang-sanh.7218/
Xưa Phật lập thệ:
"Nếu chúng sanh nào muốn về nước ta hết lòng Xưng Danh cho đến 10 Niệm, như không được sanh ta không làm Phật"
.Theo Link: http://phatam.org/dictionary/detail/...ng-tho-kinh/14
Như những câu văn trong Hạ phẩm hạ sinh nói (Đại 12, 346 thượng): Dốc lòng như thế, tiếng niệm không dứt, đầy đủ 10 niệm, xưng Nam mô A di đà Phật. Ngài Thiện đạo dựa vào những câu văn trên mà giải thích từ ngữ nãi chí thập niệm (cho đến 10 niệm) của nguyện thứ 18 trong kinh Vô lượng thọ là chỉ cho 10 tiếng xưng niệm danh hiệu Phật, nên ngài chủ trương tán tâm xưng danh là chính định nghiệp được vãng sinh của tất cả phàm phu thiện ác.
namah ratna trayaya tadyatha kunte kunte kucale kucale itri mitri svāhā
南謨喝 [口*賴]怛娜怛喇夜也 怛姪他 君睇 君睇 矩折囇 矩折囇 壹窒哩 蜜窒哩 訶
( http://tw-buddha.com/forum3/index.ph...pic=7236&st=80 )