http://vnlogistics.vn/vn/truyen-tam-...-cd27-cm8.html
Printable View
https://www.youtube.com/watch?v=sOWayvcGLKY
CÚNG THÍ - TT. THÍCH LỆ TRANG thuyết giảng ngày ngày 12.06.2016
觀世音菩薩開智慧咒
https://www.mercyandwisdom.com/6
http://www.nanputuo.com/nptupfile/pi...5516194315.jpg
http://www.nanputuo.com/nptupfile/pi...0551033867.jpg
http://image91.360doc.com/DownloadIm...1414433_53.jpg
http://www.nanputuo.com/nptupfile/pi...4152722452.jpg
( http://www.nanputuo.com/wz/html/200912/31154.html / http://www.360doc.com/content/15/111...12445259.shtml / http://www.nanputuo.com/wz/html/200912/31148.html / http://www.nanputuo.com/wz/html/200912/31154.html )
Nghi lễ miền nam : Chú Phổ Am - TT. Thích Lệ Trang - Nhạc lễ
Tào khê thủy, nhứt phái hướng Đông lưu,
Quan Âm bình nội trừ tai cửu.
Đề hồ quán đảnh địch trần cấu,
Dương chi sái xứ nhuận tiêu khô.
Yết hầu trung cam lộ, tự hữu quỳnh tương thấu,
Yết hầu trung cam lộ, tự hữu quỳnh tương thấu.
Nam mô Thanh Lương Địa Địa Bồ Tát (Ma ha tát)
Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát (Ma ha tát)
NGÀN – KIA KIA KIA NGHIÊNG GIÀI
CHE CHE CHE XẺNG NHÈ
TRA TRA TRA THẠC NÒ
TÔ TÔ TÔ THẠN NÒ
BO BO BO PHẠM MÒ
* MÒ PHẠM BO BÒ BO
* NÒ THẠN TÔ TỒ TÔ
* NÒ THẠC TRA TRÀ TRA
* NHÈ XẺNG CHE CHÈ CHE
* GIAI NGHIỄNG KIA KÌA KIA
KIA KÌA KÍA NGHIỄNG GIAI
- KIA KIA KÊ, KÊ CÚ, CU KỀ, CÚ KỀ CU, KIỂM KIỂU KÊ, KIÊU KÊ KIỀM.
GIAI NGHIỄNG KIA KÌA KIA, KIA KÌA KÍA NGHIỄNG GIAI./..
- CHE CHE CHI, CHI CHÚ, CHU CHÌ, CHÚ CHÌ CHU, CHIỂM CHIỂU CHI, CHIÊU CHI CHIỀM.
NHÈ XẺNG CHE CHÈ CHE, CHE CHÈ CHÉ XẺNG NHE./..
- TRA TRA THƯ, THƯ THỐ, THÔ THỪ, THỐ THỪ THÔ, THIỂM THÔ THI, THÔ THI THIỀM.
NÒ THẠC TRA TRÀ TRA, TRA TRÀ TRÁ THẠC NO./..
- TÔ TÔ TI, TI TỐ, TÔ TÌ, TỐ TÌ TÔ, THẢM TỔ TI, TÔ TI THÀM.
NÒ THẠN TÔ TỒ TÔ, TÔ TỒ TỐ THẠN NO./..
- BO BO BÂY, BÂY BÓ BO BẦY, BÓ BẦY BO, PHẠM BO BÂY, BO BÂY PHÀM.
MÒ PHẠM BO BÒ BO, BO BÒ BÓ PHẠM MO./..
MÒ PHẠM BO BÒ BO
NÒ THẠN TÔ TỒ TÔ
NÒ THẠC TRA TRÀ TRA
NHÈ XẺNG CHE CHÈ CHE
GIAI NGHIỄNG KIA KÌA KIA
KIA KÌA KÍA NGHIỄNG GIAI
- KIA KIA KÊ, KỀ CU, CU KẾ, KIỀU KIỀM. KIỀM. KIỀM. KIM KIỀM KIM
NGHIỄNG NGHIÊU NGHÊ, NGHIÊU NGHÊ NGHIỀM.
GIAI NGHIỄNG KIA KÌA KIA, KIA KÌA KÍA NGHIỄNG GIAI./..
- CHE CHE CHI, CHÌ CHU, CHU CHÍ, CHIÊU CHIỀM. CHIỀM. CHIỀM. CHIM CHIỀM CHIÊM.
NGHIỄM NGHIÊU NGHÊ, NGHIÊU NGHÊ NGHIỀM.
NHE XẼNG CHE CHÈ CHE, CHE CHÈ CHÉ XẼNG NHE./..
- TRA TRA THƯ, THỪ THÔ, THÔ THỨ, THÔ THIỀM. THIỀM. THIỀM. THIM THIỀM THIM.
NẪM NO NÊ, NO NÊ NẦM.
NÒ THẠC TRA TRÀ TRA, TRA TRÀ TRÁ THẠC NO./..
- TÔ TÔ TI, TÌ TÔ, TÔ TÍ, TÔ THÀM. THÀM. THÀM. THAM THÀM THAM.
NẪM NO NÊ, NO NÊ NẦM
NÒ THẠN TÔ TỒ TÔ, TÔ TỒ TỐ THẢN NO./..
- BO BO BÂY, BẦY BO, BO BẤY, BO PHÀM. PHÀM. PHÀM. PHAM PHẠM PHAM.
PHẠM MO MÊ, MO MÊ PHÀM.
MÒ PHẠM BO BÒ BO, BO BÒ BÓ PHẠM MO./..
Ø MÒ PHẠM BO BÒ BO
Ø NÒ THẠN TÔ TÔ TÔ
Ø NÒ THẠC TRA TRÀ TRA
Ø NHÈ XẼNG CHE CHÈ CHE
Ø GIAI NGHIỄNG KIA KÌA KIA
KIA KÌA KÍA NGHIỄNG GIAI.
- KIA KIA KÊ, KÊ CÚ, CU DÈ.
DỊU DÌU, DỊU DÌU, DỊU DÌU, DIU DỊU DIU.
GIAI NGHIỄNG KIA KÌA KIA, KIA KÌA KÍA NGHIỄNG GIAI./..
- CHE CHE CHI, CHI CHÚ, CHU DÈ.
DỊU DÌU, DỊU DÌU, DỊU DÌU, DIU DỊU DIU.
NHÈ XẼNG CHE CHÈ CHE, CHE CHÈ CHÉ XẼNG NHE./..
- TRA TRA THƯ, THƯ THỐ, THÔ DÈ,
NẬU NẦU, NẬU NẦU, NẬU NẦU. NÂU NẦU NÂU.
NÒ THẠC TRA TRÀ TRA, TRA TRÀ TRÁ THẠC NO./..
- TÔ TÔ TI, TI TỐ, TÔ DÈ,
NẬU NẦU, NẬU NẦU, NẬU NẦU, NÂU NẦU NÂU.
NÒ THẠN TÔ TỒ TÔ, TÔ TỒ TỐ THẠN NO./..
- BO BO BÂY, BÂY BÓ, BO DÈ,
MẬU MẦU, MẬU MẦU, MẬU MẦU. MÂU MẦU MÂU.
MÒ PHẠM BO BÒ BO, BO BÒ BÓ PHẠM MO./..
o MÒ PHẠM BO BÒ BO
o NÒ THẠN TÔ TỒ TÔ
o NÒ THẠC TRA TRÀ TRA
o NHE XẼNG CHE CHÈ CHE
o GIAI NGHIỄNG KIA KÌA KIA
ü KIA KIA KIA NGHIỄNG GIAI
ü CHE CHE CHE XẼNG NHÈ
ü TRA TRA TRA THẠC NÒ
ü TÔ TÔ TÔ THẠN NÒ
ü BO BO BO PHẠM MÒ
NGÀN BA TÔ CHA, CHE KIA DE, DẠ LAN HO, A SẮC TRA. TẤT HẢI TRA. LỤ LÔ LỤ LÔ TRA,
CHE KIA DE TÓA HA./..
========
CHÚ PHỔ AM
1.Sơ lược tiểu sử:
Ngài Thiền Sư Phổ Am họ Dư, tên thật là Ấn Túc (1115 – 1169), được tôn xưng là Thiền
Sư Phổ Am, Tổ Sư Phổ Am… Trong nhân gian thường viết “Phổ Án”. Ngài sinh năm
1115 niên hiệu Tống Vi Tông Chánh Hòa năm thứ 5, quê tại Viên Châu, Nghi Xuân
(nay là Khu Viên Châu, Thành Phố Nghi Xuân, Tỉnh Giang Tây, Trung Quốc). Ngài
là cao tăng đời thứ 13 thuộc phái Thiền Lâm Tế, xuất gia năm 1134 – niên hiệu
Tống Cao Tông Thiệu Hưng năm thứ 4. Một ngày nọ Ngài tụng kinh Hoa Nghiêm đến
câu: “Đạt bổn tình vong tri tâm thể hợp” Ngài hoát nhiên đại ngộ nhập vào được
các quốc độ của chư Phật. Trong thời gian tại thế Ngài đã sọạn ra bài chú Phổ
Am nhưng nguyên nhân sáng tác không rõ. Đến năm Hiếu Tông Càn Đạo thứ 5 (1169)
ngày 21 tháng 7 Ngài tắm gội, thay quần áo, đắp y hậu ngồi kiết già phu tọa thị
chúng rồi thâu thần thị tịch. Thọ thế 55 tuổi, tăng lạp 28 hạ.
2. Tước hiệu:
Năm Nguyên Thành Tông Đại Đức thứ tư (1300) phong Thụy Đại Đức Tuệ Khánh, năm Minh
Thành Tổ Vĩnh Lạc 18 (1420) phong tặng “Phổ Am Chí Thiện Hoằng Nhân Viên Thông
Trí Huệ Tịch Cảm Diệu Ứng Từ Tế Chơn Giác Chiêu Huống Tuệ Khánh Hộ Quốc Tuyên
Giáo Đại Đức Bồ Tát.
3. Những chuyện kỳ lạ:
Sau khi Ngài viên tịch, sự linh hiển của Ngài khiến cho nhân dân ai muốn cầu gì
cũng ứng, nhất là dùng bài Chú trong mọi trường hợp để được an bình. Bài chú
nguyên có tên là: “Phổ Am Đại Đức Thiền Sư Thích Đàm Chương Thần Chú” hay còn
gọi “Thích Đàm chương” chữ Thích Đàm tức Tất Đàm, chữ phiêm âm từ Phạn ngữ
Siddam qua tiếng Trung quốc. Ở Trung quốc lúc bấy giờ người ta ít thấy Bài Chú
của Tổ Sư sáng tác. Cho nên có một số người nhận định rằng vì sự tu hành của
Ngài đã đạt đến cảm nhận được Phạn Chú và phỏng theo Phạn Âm hoặc theo chủng tử
tự mẫu Kinh Hoa Nghiêm mà sáng tác ra. Dựa trên thực tế, chữ đầu của chú nầy là
chữ “Án” còn đọc “Úm, Om”, chữ nầy là chủng tử tự thường thấy trong kinh chú
Phật Giáo đều có tính cách linh thiêng. Chú ngữ trong Kim cang giới dùng chữ Án
(Úm) đứng đầu, còn trong Thai tạng giới dùng chữ Nẵng mồ (Nam Mô) như Chú Lục
Tự Đại Minh “Án, ma ni bát mê hồng” hay “Nẵng mồ tam mãn đà…...”
Theo truyền thuyết, Thiền Sư Phổ Am có rất nhiều chuyện tích linh nghiệm:
-Vào năm Thiệu Hưng 26 (1156), một lần nọ Ngài Thiền Sư cung hành Pháp hội nhưng
quan địa phương có hiềm khích nên cho rằng đó là mê hoặc quần chúng, liền phái
lính tuần phủ đến điều tra trước, đột nhiên gió to mưa lớn nỗi lên, trên trời
hiện ra hình tượng một con rồng lớn, tuần phủ thấy vậy không dám điều tra phải
quay về.
- Có một lần Ngài Thiền Sư Phổ Am đáp lời mời một tín đồ tên là Trần Thiên Chương
đến nhà để cử hành pháp sự, Ngài hướng dẫn tăng chúng đi theo chỉ tụng một biến
Kinh Kim Cang là kết thúc buổi lễ. Ông Trần Thiên Chương tỏ vẻ không vui, cho
rằng Ngài Thiền Sư Phổ Am quá qua loa lấy lệ, vì thế mà Ngài Phổ Am lại tụng
thêm một lần nữa.
Sau đó Ông Trần Thiên Chương tự nhiên bị chết đột ngột, nhưng 3 ngày sau sống lại.
Ông kể rằng: Ông bị dẫn xuống địa phủ và vị Phán Quan quở trách “Ông đã có thái
độ bất kính khi đối xử với Ngài Phổ Am, làm cho Ngài phải tụng 2 biến Kinh Kim
Cang.” Về sau Trần Thiên Chương mang 1 cây bút lớn, dầu mè, tiền đem đến cúng
dường Ngài Phổ Am, Ngài Thiền Sư Phổ Am liền viết trên lưng Ông Trần Thiên
Chương 4 chữ: “Thí Tài Công Cứ” khiến người ta tấm tắc khen ngợi . Sau nầy khi
Ông Trần Thiên Chương tạ thế, trong gia đình Họ Cam có người sanh một hài nhi
trên lưng tự nhiên có vết sẹo đúng như 4 chữ “Thí Tài Công Cứ”.
4. Công năng của Thần Chú:
- Tín ngưỡng nhân gian (Trung Quốc)
Đặc biệt chú Phổ Am tương truyền rất linh nghiệm, dân gian đều công nhận có khả
năng “phổ an thập phương, an định tùng lâm, yêu cầu côn trùng, súc vật như:
chuột, kiến, muỗi, ve, gián, thằn lằn… hoặc tà ma quỷ mị … đi nơi khác, có thần
lực tiêu tai giải ách, trấn sát an thai, trừ uế v.v… Do đó mà các cơ sở buôn
bán Phật cụ Đài Loan đã thâu CD tụng, nhạc không lời bài Chú Phổ Am để dân
chúng thỉnh về nghe vừa thoải mái tinh thần lại vừa làm cho các loài côn trùng
tránh xa. Tín ngưỡng nhân gian ở Đài Loan còn truyền thuyết dùng giấy màu đỏ
hoặc vàng viết 8 chữ của câu cuối trong bài chú “Phổ Am đáo thử bách vô cấm kỵ
= Ngài Phổ Am đến đây trăm sự không kiêng kỵ” dán trong nhà có khả năng hoán
đổi được phong thủy (địa lý) của ngôi nhà.
Dân chúng làm nghề đánh cá hay hàng hải thường thờ Thần Vị Ngài trên thuyền để cầu
xin biển yên sóng lặng luôn được bình an. Đối với người dân đi biển Ngài được
xem như một vị Hải Thần. Ngài Thiền Sư Phổ Am còn được một số Đạo Sĩ Trung Quốc
tôn thờ như một vị Tổ Sư, Giáo Chủ tức “Phái Phổ Am”, họ thờ phụng, tạo tượng
đủ hình tướng như: Tỳ kheo, Đạo sĩ, Đế vương, Tướng quân…
- Phật Giáo:
* Phật Giáo Trung Quốc và Nhật Bản các chùa thuộc phái Lâm Tế thường có thờ Thần
Vị Ngài tại hậu điện (hậu liêu) để hàng ma, phục quỷ…
* Phật Giáo Việt Nam trong các chùa không thấy thờ Tôn tượng hay Thần vị Ngài kể
cả tín ngưỡng nhân gian. Tuy nhiên trong hành trì quý Thầy đều có học và tụng,
đặc biệt là Phật Giáo miền Trung - Thừa Thiên - Huế quý Thầy đều phải học thuộc
lòng và thường tụng trong các Lễ Khai Kinh sái tịnh, kết giới đại trai đàn: Bạt
Độ, Chẩn tế, Lạc thành, Đại lễ Quy y Linh trong đám tang…
- Bài Chú:
Bài chú nầy (âm Hán Việt) có in trong cuốn Tang Lễ cho người tại gia do Tôn Giả
Liễu Tạng soạn, bản in tại Huế (rất tiếc không nhớ được tên của người âm) và
trên mạng lưới toàn cầu Hán văn http://www.buddhanet.net/có bản Phạn văn.
Sau đây là toàn văn Bài Chú gồm cả phần đầu – phần chú ngữ - phần kết.
Trì tụng Bài Phổ Am:
Án, ca ca ca nghiên giới. Giá
giá giá thần gia. Tra tra tra đát na . Đa đa đa đàn na. Ba ba ba phạm ma.
Ma phạm ba ba ba. Na đàn đa
đa, na đát tra tra tra. Già thần giá giá giá, giới nghiên ca ca ca.
Ca ca ca nghiên giới, ca ca
kê kê cu cu, cu kê cu. Kiêm kiêu kê -, kiêu kê kiêm, giới nghiên ca ca ca, ca
ca ca nghiên giới, giá giá chi chi châu châu, châu chi châu, chiêm chiêu chi -
chiêu chi chiêm già thần giá giá giá. Già giá giá thần già, tra tra tri tri đô
đô, đô tri đô, đảm đa tri - đa tri đảm. Na đát tra tra tra - tra tra tra đát na
- đa đa đê đê đa đa, đê đa đàm, đàm đa đê - đê đa đàm, na đát đa đa đa, đa đa
đa đàn na, ba ba bi bi ba ba, bi ba phạm, phạm ba bi - ba bi phạm. Ma phạm ba
ba ba. Ba ba ba phạm ma. Ma phạm ba ba ba, na đàn đa đa đa, Na đát tra tra tra,
già thần giá giá giá, giới nghiên ca ca ca, ca ca ca nghiên giới. Ca ca kê kê
cu cu, kê kiêu kiêm. Kiêm kiêm kiêm kiêm kiêm. Nghiễm nghiêu nghê, nghiêu nghê
nghiễm. Giới nghiên ca ca ca, ca ca ca nghiên giới, giá giá chi chi châu châu,
chi chiêu chiêm, chiêm chiêm chiêm chiêm chiêm. Nghiễm nghiêu nghê; nghiêu nghê
nghiễm. Già thần giá giá giá, giá giá giá thần gia - Tra tra tri tri đô đô, tri
đa đàm, đàm đàm đàm đàm đàm. Nẫm na nê na nê nẫm. Na đát tra tra tra, tra tra
tra đát na, đa đa đê đê đa đa, đê đa đàm, đàm đàm đàm đàm đàm, Nẫm na nê - na
nê nẫm. Na đàn đa đa đa, đa đa đa đàn na, ba ba bi bi ba ba. Ba bi phạm, phạm
phạm phạm phạm phạm, phạm ma mê - ma mê phạm. Ma phạm ba ba ba, ba ba ba phạm
ma. Ma phạm ba ba ba, na đàn đa đa đa, na đát tra tra tra, già thần giá giá
giá, giới nghiên ca ca ca, ca ca ca nghiên giới, ca ca kê kê cu cu dè, dụ du,
dụ du du du du du du. Giới nghiên ca ca ca, ca ca ca nghiên giới. Giá giá chi
chi châu châu dè. Dụ du dụ du, du du du du du, già thần giá giá giá, giá giá
giá thần gia. Tra tra tri tri đô đô dè, nộ nô, nộ nô, nô nô nô nô nô. Na đát
tra tra tra, tra tra tra đát na. Đa đa đê đê đa đa dè. Nộ nô, nộ nô, nô nô nô
nô nô. Na đàn đa đa đa, đa đa đa đàn na, ba ba bi bi ba ba dè. Mẫu mâu mẫu mâu,
mâu mâu mâu mâu mâu. Ma phạm ba ba ba. Ba ba ba phạm ma, ma phạm ba ba ba, na
đàn đa đa đa, na đát tra tra tra, già thần giá giá giá, giới nghiên ca ca ca,
ca ca ca nghiên giới. Án, ba đa tra, giá ca da, dạ lan ha, a sắc tra, tát hải
tra, lậu lô lậu lô tra. Giá ca dạ tóa ha.
Vô số Thiên long Bát bộ, bách
vạn Hỏa Thủ Kim cang, sạ nhật phương ngung, kim nhật Phật địa - Phổ Am đáo thử,
bách vô cấm kỵ.
https://www.youtube.com/watch?v=Kqde2NiMkXg
https://www.youtube.com/watch?v=AJ0RE7WqM-4
Trai Đàn Chẩn Tế Tại Rừng Dầu Long An
https://www.youtube.com/watch?v=z-Zqfu-iHxA
Đại Lễ Cầu Siêu Trai Đàn Bạc Độ Hương Linh - Chùa Tiên Châu
https://www.youtube.com/watch?v=8wXyaHyD2HA
Chẩn Tế Mông Sơn Thí Thức - Chùa Thiện Mỹ
https://www.youtube.com/watch?v=xGX-x5OMREA&t=14s
Lễ Trai Đàn Chẩn Tế - Chùa Giác Long - Vĩnh Long
https://www.youtube.com/watch?v=2DUu7WZtNP4
Trai Đàn Chẩn Tế Bạc Độ Cầu Siêu cho Ông Lê Văn Góp. Pháp Danh: MInh Đức. Tổ Chức Tại CHÙA TÂY CẢNH
https://www.youtube.com/watch?v=en0a1gru_P8
NHẬT KÍ ĐỜI TÔI (THÍCH HUỆ THÔNG RA MẮT CẢ ĐÀN CHẨN TẾ) ĐÀN TRANH, ORGAN, SẾN, CÒ 1A
*Cam lồ thủy chơn ngôn : (lấy hương khoanh 2 vòng tròn theo chiều phải trên chén nước và viết chữ Lam)
-Nam Mô Tô Rô Bà Da, Đát tha nga đa da, Đát điệt tha, Án, Tô rô Tô rô, Bát ra tô rô, Bát ra tô rô, Ta Bà Ha. (3 lần)
http://www.tuvienquangduc.com.au/kin...46matchu4.html
CHÚ NGUYỆN
(Mang sinh vật ra ngoài, chủ lễ mật niệm)
Nguyện cho (các) ngươi (chim, cá, rùa...)
đời đời tội diệt phước sanh, bỏ thân này, đời sau gặp gỡ Ngôi Tam Bảo tu hành, chứng quả Bồ Đề.
Tôi và các vị đời đời kết thành thiện hữu tri thức, cùng nhau tu tập, chóng thành đạo quả.
Na mô Quán Thế Âm Bồ Tát cứu thoát chúng sanh, kiếp mãn viên trần, chứng vi viên tướng, Bồ Đề Đạo độ chúng sanh.
(Niệm 3 lần, chủ lễ thả sinh vật. Trở lại bàn Phật để hồi hướng)
PHỤC NGUYỆN
Na mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, tác đại chứng minh.
Hôm nay, chúng con một dạ chí thành, trì tụng Kinh, Chú, niệm Phật công đức, cầu nguyện cho Phật tử
Tên..................., Pháp danh.................
đương đời phiền não dứt sạch, nghiệp chướng tiêu tan, tật bịnh bình an, thân tâm thường lạc, gia đình thịnh đạt, hưởng cảnh an nhàn, thiên thượng nhân gian, đều thành Phật quả. (o)
Phóng Sanh ( Chim, Cá )
Giải trừ được Đau Bệnh và Tai Nạn, tăng Tuổi Thọ, Tư Tưởng được Vui Vẻ Thoải Mái.
*Cách Phóng Sanh:
Phải Phóng Sanh đều đặn Mỗi Tháng; bỡi vì, Nghiệp Ta tạo Mỗi Ngày, nên phải Phóng Sanh. Như vậy, mới tiêu trừ được Bệnh và Tai Nạn, kéo dài Tuổi Thọ.
=========
Nghi Thức THẢ CÁ để Giải Nạn, Đau Bệnh, Nghiệp Chướng
Na mô 9 Phương Trời, 10 Phương Chư Phật
Na mô A Mi Đà Phật
Con tên là:..........................Sinh Năm:.................................
Nay, Con thả Số Cá này để Giải Nghiệp Chướng cho:.............................................. .
Na mô 9 Phương Trời, 10 Phương Chư Phật
Na mô A Mi Đà Phật chứng minh
毗卢遮那佛大灌顶光真言(金光明沙金 明沙)_网上赌博:http://www ...
http://www.baihuasheqiceng.com/a/wan.../.../3025.html
Translate this page
Dec 6, 2014 - 因长期休息不好引起心脏病及多种病 已有1年多来每天睡不着,在屋里 .... 若以胡椒、多讹啰香、青木香、小柏 、黄啰娑惹娜[唐言小柏汁]等数末
http://ccubk14.brinkster.net/greatbook/V19/1002_001.htm
https://www.youtube.com/watch?v=G0_IOOK5xo4
海濤法師弘法集錦0779【如何在佛前供 ��以及供水的功德】
https://www.youtube.com/watch?v=EGMI0iLGe18
《小和尚供水》●供水的方法
https://www.youtube.com/watch?v=jk6el75Rmbs
【E1580-03】海濤法師 佛說救面然餓鬼陀羅尼神咒經及善妙 德
https://www.youtube.com/watch?v=M1I-kVAdgbo
【A111】海濤法師 放下執念當下成佛
https://www.youtube.com/watch?v=wyiwLskyo-U
【E1581】海濤法師 愛的平等與慈悲
https://www.youtube.com/watch?v=r-QISduuWOg
THÍ THỰC
( 海濤法師弘法集錦0838 每天簡單水米施食 廣結善緣 福樂無邊 )
Ốc lác là loại ốc hình dạng tròn, vỏ đen (thỉnh thoảng có vân), sống ở ruộng và ao nước ngọt. Con ốc lác lớn nhứt cũng chỉ bằng trái chanh Đà Lạt. Mẹ tôi thường mua ốc lác lớn cỡ ngón chân cái về nhà ăn, bà nói con lớn quá thịt cứng mà nhiều nhớt, ăn không ngon, cỡ ngón chân cái thịt vừa mềm, vừa giòn mà lại ít nhớt. Ốc nhỏ người ta thường xúc mỗi lần cả rổ, cho vịt ăn. Thịt ốc lác màu vàng, vị ngọt và giòn. Hồi nhỏ, tôi đọc sách thấy ông Thạch Lam, Khái Hưng ca ngợi món bún ốc Hà Nội quá trời mà thèm ơi là thèm. Bún ốc (của hai ông mô tả) nấu bằng ốc nhồi. Tôi không biết con ốc nhồi nó ra làm sao mà hai ông nhà văn này ca ngợi dữ vậy, thắc mắc hoài nhưng không ai giải thích được. Khi tôi học đại học năm thứ 2, tôi mới đem thắc mắc của mình ra hỏi con bạn quê Đà Nẵng, nó mới hứa rằng sẽ dẫn tôi đi “coi mắt” ốc nhồi, và nấu bún ốc cho tôi ăn thử cho biết. Một bữa nọ, nó lôi tôi ra chợ Bình Triệu, chỉ vào rổ ốc của bà bán ốc và nói: “Ốc nhồi đó mậy. Để tao mua ốc này nấu bún cho mày ăn.” Tôi nhìn vào rổ ốc thì té ngửa, hóa ra ốc nhồi là ốc lác. Tôi mới nói: “Thôi khỏi đi, mất công mày lắm. Tao tưởng ốc nhồi là ốc gì lạ, chớ ốc này xứ tao kêu là ốc lác, tao ăn đến mòn răng hết rồi.
Ốc bươu đen còn có tên gọi là ốc lác, ốc nhồi. Trước đây, ốc bươu đen sinh sống rất nhiều trong tự nhiên
( http://thegioitinhoc.vn/an-choi-nhau...ua-oc-lac.html/ http://nghenong.com/ky-thuat-nuoi-oc...ham-17540.html / http://nongnghiep.vn/lao-nong-say-me...ost139655.html )
( https://www.facebook.com/50753587261...927725/?type=3 / http://www.chuanxi.com.cn/Article/Content/9706 )
Phật dạy tánh hiền lành
Thương yêu cả chúng sanh
Dầu là loài vật mọn
Cũng Phật tánh như mình.
Con tập lòng từ ái
Nay mua vật phóng sanh
Nguyện ơn trên Phật chứng
Con tạo chút duyên lành.
Phước đức xin hồi hướng
Về cho cả chúng sanh
Nguyện cầu đời hết khổ
Dứt tuyệt nạn đao binh.
Thân mạng nay tồn tại
Do nhờ Phật pháp linh,
Vậy từ nay ráng nhớ
Câu niệm Phật tu hành. O
(Đọc như vậy 3, 7, 9, hoặc 12 biến, để trì tụng khi có Phóng Sanh)
Thọ Sanh Kinh là một kinh do Đạo giáo ngụy tạo. Nội dung kinh nói năm Trinh Quán thứ 13 đời Đường, ngài Huyền Trang duyệt Đại Tạng Kinh, thấy nói rõ mỗi người khi được đầu thai làm người đều thiếu một khoản nợ lớn tại âm phủ, vị quan chủ mạng của âm phủ sẽ truy tìm người ấy trong nhân gian để đòi nợ. Người nào không chịu trả khoản nợ ấy bằng cách đốt tiền giấy, vàng mã trả nợ cho âm phủ, đêm ngủ sẽ gặp nhiều ác mộng, ba hồn bảy phách vất vưởng, suy bại, sẽ bị mười tám thứ tai ương như đi đường bị trộm cắp, sanh nở khó khăn, chết bất đắc kỳ tử, bị trúng phong mà chết, bị chết vì dịch tật, tai nạn xe cộ, bị vu cáo, bắt bớ, giam cầm, tàn tật v.v… Nếu người nào siêng năng trả tiền nợ thọ sanh sẽ được đủ mọi sung sướng, không tai dịch, không bị sao xấu chiếu, ba đời giàu sang, không bao giờ bị nghèo khổ, khẩu thiệt v.v…
( http://www.niemphat.net/Luan/aqvstucbien/aqvstb1.htm / http://thegioivohinh.com/diendan/sho...M%C3%A3/page38 )
============
* Hỏi: Ở trong chùa, tôi từng thấy có một cuốn sách nhan đề Phật Thuyết Thọ Sanh Kinh, trong ấy có nói đến chuyện phải đóng tiền thọ sanh[29], chẳng biết tiền thọ sanh là vật gì, và cách đóng tiền ra sao? (Trương Tấn Thiêm hỏi)
Đáp: Đây là do kẻ chẳng hiểu Phật pháp, lầm tưởng mắt cá là trân châu. Trong Đại Tạng Kinh nhà Phật chẳng có cuốn kinh ấy, chớ nên mê tín! Cư sĩ vừa nhập Phật môn, cần phải phân biệt rõ chân, giả, tà, chánh. Nếu không, đường rẽ lắm ngõ, sẽ sa hầm, sẩy hố, chẳng thể vãn hồi được!
[29] Đây là một tục lệ mê tín, xuất phát từ ngụy kinh Thọ Sanh. Theo kinh ấy, vào năm thứ mười ba niên hiệu Trinh Quán đời Đường, ngài Huyền Trang đã thâu thập được kinh Thọ Sanh trên đường sang Thiên Trúc thỉnh kinh. Kinh dạy mỗi chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề thọ sanh trong cõi này đều thiếu tiền đầu thai ở chốn âm phủ. Do vậy, phải đốt tiền Thọ Sanh để trả nợ (việc này gọi là “hoàn khố thọ sanh”). Nếu không làm, sẽ gặp mười tám thứ tai ách. Theo các nhà nghiên cứu, bản kinh này vốn có tên là Thái Thượng Lão Quân Thuyết Ngũ Đấu Kim Chương Thọ Sanh Kinh của Đạo giáo, về sau, các tà sư đã đổi tên thành Phật Thuyết Thọ Sanh Kinh cũng như bịa chuyện bản kinh này do ngài Huyền Trang đem về Trung Hoa. Theo niềm tin đó, người đốt tiền thọ sanh phải tụng chú Thọ Sanh như sau “thiên la chú, địa la chú, nhật nguyệt hoàng la chú, nhất thiết oán gia ly ngã thân, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật”. Họ quy định tùy theo mỗi tuổi mà thiếu nợ bao nhiêu tiền, chẳng hạn tuổi Tân Sửu thiếu nợ mười một vạn quan, phải tụng ba mươi bảy vạn biến kinh Thọ Sanh, đồng thời cúng vào kho do viên quan họ Cát quản lý. Mỗi tờ tiền thọ sanh là một quan. Các đạo sĩ, thậm chí các “tụng kinh đoàn” ở Đài Loan, Hương Cảng, Mã Lai v.v... và một số tự viện thường có những nghi thức rườm rà để tụng kinh Thọ Sanh và đốt tiền. Hủ tục này cũng du nhập vào Việt Nam và khá thịnh hành tại miền Bắc.
( http://www.niemphat.net/Luan/phathoc...ai8.htm#_ftn23 )
壽生神咒 解冤親ㄉ神咒 (簡短)
這是比較沒時間
冤親多ㄉ時候可以念ㄉ咒語
但真誠ㄉ心 還是很重要喔!
沒真誠心 持十萬次 都是在唸而已
恭請(自己ㄉ主)
作主將一切咒化為千萬咒,普照光明
多誦此神咒,能解冤孽債。
壽生神咒
日光、月光、圓光普照於十方,天佛 福。
無上甚深微妙法,百千萬劫難遭遇,
我今讀誦壽生咒,願解業障盡消除。
一解冤經、二延壽真言、三滅五逆之 ,
天羅咒、地羅咒、日月黃羅咒,
一切冤家離我身,摩訶般若波羅蜜。
( http://blog.xuite.net/liang1965/twbl...A5%9E%E5%92%92 / http://blog.xuite.net/liang1965/twbl...0%A1%E7%9F%AD) )
===========
THỌ SANH THẦN CHÚ
Nhật Quang, Nguyệt Quang, Viên Quang Phổ Chiếu Ư Thập Phương, Thiên Phật Tứ Phúc.
Vô Thượng Thâm Thâm Vi Diệu Pháp, Bá Thiên Vạn Kiếp Nan Tao Ngộ
Ngã Kim Đọc Tụng Thọ Sanh Chú, Nguyện Giải Nghiệp Chướng Tận Tiêu Trừ.
Nhất: Giải Oan Kinh, Nhị: Diên Thọ Chơn Ngôn, Tam: Diệt Ngũ Nghịch Chi Tội
Thiên-La Chú, Địa-La Chú, Nhật-Nguyệt Hoàng-La Chú
Nhất Thiết Oan Gia Ly Ngã Thân, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.
( http://thegioivohinh.com/diendan/sho...M%C3%A3/page38 )
* Hỏi: Ở trong chùa, tôi từng thấy có một cuốn sách nhan đề Phật Thuyết Thọ Sanh Kinh, trong ấy có nói đến chuyện phải đóng tiền thọ sanh[29], chẳng biết tiền thọ sanh là vật gì, và cách đóng tiền ra sao? (Trương Tấn Thiêm hỏi)
Đáp: Đây là do kẻ chẳng hiểu Phật pháp, lầm tưởng mắt cá là trân châu. Trong Đại Tạng Kinh nhà Phật chẳng có cuốn kinh ấy, chớ nên mê tín! Cư sĩ vừa nhập Phật môn, cần phải phân biệt rõ chân, giả, tà, chánh. Nếu không, đường rẽ lắm ngõ, sẽ sa hầm, sẩy hố, chẳng thể vãn hồi được!
==========
[29] Đây là một tục lệ mê tín, xuất phát từ ngụy kinh Thọ Sanh. Theo kinh ấy, vào năm thứ mười ba niên hiệu Trinh Quán đời Đường, ngài Huyền Trang đã thâu thập được kinh Thọ Sanh trên đường sang Thiên Trúc thỉnh kinh. Kinh dạy mỗi chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề thọ sanh trong cõi này đều thiếu tiền đầu thai ở chốn âm phủ. Do vậy, phải đốt tiền Thọ Sanh để trả nợ (việc này gọi là “hoàn khố thọ sanh”). Nếu không làm, sẽ gặp mười tám thứ tai ách. Theo các nhà nghiên cứu, bản kinh này vốn có tên là Thái Thượng Lão Quân Thuyết Ngũ Đấu Kim Chương Thọ Sanh Kinh của Đạo giáo, về sau, các tà sư đã đổi tên thành Phật Thuyết Thọ Sanh Kinh cũng như bịa chuyện bản kinh này do ngài Huyền Trang đem về Trung Hoa. Theo niềm tin đó, người đốt tiền thọ sanh phải tụng chú Thọ Sanh như sau “thiên la chú, địa la chú, nhật nguyệt hoàng la chú, nhất thiết oán gia ly ngã thân, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật”. Họ quy định tùy theo mỗi tuổi mà thiếu nợ bao nhiêu tiền, chẳng hạn tuổi Tân Sửu thiếu nợ mười một vạn quan, phải tụng ba mươi bảy vạn biến kinh Thọ Sanh, đồng thời cúng vào kho do viên quan họ Cát quản lý. Mỗi tờ tiền thọ sanh là một quan. Các đạo sĩ, thậm chí các “tụng kinh đoàn” ở Đài Loan, Hương Cảng, Mã Lai v.v... và một số tự viện thường có những nghi thức rườm rà để tụng kinh Thọ Sanh và đốt tiền. Hủ tục này cũng du nhập vào Việt Nam và khá thịnh hành tại miền Bắc.
( http://www.niemphat.net/Luan/phathoc...ai8.htm#_ftn23 )
佛Phật 說Thuyết 壽Thọ 生Sanh 經Kinh
Kinh Thọ Sanh
貞trinh 觀quán 十thập 三tam 年niên 有hữu 唐đường 三Tam 藏Tạng 法Pháp 師sư 。 往vãng 西tây 天thiên 求cầu 教giáo 因nhân 檢kiểm 大Đại 藏Tạng 經Kinh 見kiến 壽thọ 生sanh 經kinh 一nhất 卷quyển 有hữu 十thập 二nhị 相tương/tướng 屬thuộc 南Nam 贍Thiệm 部Bộ 洲Châu 。 生sanh 下hạ 為vi 人nhân 先tiên 於ư 冥minh 司ty 下hạ 各các 借tá 壽thọ 生sanh 錢tiền 有hữu 注chú 命mạng 官quan 秪# 揖ấp 人nhân 道đạo 見kiến 今kim 庫khố 藏tạng 空không 閑nhàn 催thôi 南Nam 贍Thiệm 部Bộ 洲Châu 。 眾chúng 生sanh 交giao 納nạp 壽thọ 生sanh 錢tiền 阿A 難Nan 又hựu 問vấn 世Thế 尊Tôn 南Nam 贍Thiệm 部Bộ 洲Châu 。 眾chúng 生sanh 多đa 有hữu 大đại 願nguyện 不bất 能năng 納nạp 得đắc 佛Phật 言ngôn 道Đạo 教giáo 看khán 金kim 剛cang 經kinh 壽thọ 生sanh 經kinh 能năng 折chiết 本bổn 命mạng 錢tiền 為vi 秪# 證chứng 經Kinh 力lực 甚thậm 大đại 若nhược 眾chúng 生sanh 不bất 納nạp 壽thọ 生sanh 錢tiền 睡thụy 中trung 驚kinh 恐khủng 眠miên 夢mộng 顛điên 倒đảo 三tam 魂hồn 杳# 杳# 七thất 魄phách 幽u 幽u 微vi 生sanh 空không 中trung 共cộng 亡vong 人nhân 語ngữ 話thoại 相tương/tướng 逐trục 攝nhiếp 人nhân 魂hồn 魄phách 滅diệt 人nhân 精tinh 神thần 為vi 欠khiếm 壽thọ 生sanh 錢tiền 若nhược 有hữu 善thiện 男nam 子tử 善thiện 女nữ 人nhân 。 破phá 旁bàng 納nạp 得đắc 壽thọ 生sanh 錢tiền 免miễn 得đắc 身thân 邊biên 一nhất 十thập 八bát 般bát 橫hoạnh/hoành 災tai 第đệ 一nhất 遠viễn 路lộ 陂bi 泊bạc 內nội 被bị 惡ác 人nhân 窺khuy 算toán 之chi 災tai 第đệ 二nhị 遠viễn 路lộ 風phong 雹bạc 雨vũ 打đả 之chi 災tai 第đệ 三tam 過quá 江giang 度độ 河hà 落lạc 水thủy 之chi 災tai 第đệ 四tứ 墻tường 倒đảo 屋ốc 塌# 之chi 災tai 第đệ 五ngũ 火hỏa 光quang 之chi 災tai 第đệ 六lục 血huyết 光quang 之chi 災tai 第đệ 七thất 勞lao 病bệnh 之chi 災tai 第đệ 八bát 疥giới 癩lại 之chi 災tai 第đệ 九cửu 咽yết 喉hầu 閉bế 塞tắc 之chi 災tai 第đệ 十thập 落lạc 馬mã 傷thương 人nhân 之chi 災tai 第đệ 十thập 一nhất 車xa 碾niễn 之chi 災tai 第đệ 十thập 二nhị 破phá 傷thương 風phong 死tử 之chi 災tai 第đệ 十thập 三tam 產sản 難nạn/nan 之chi 災tai 第đệ 十thập 四tứ 橫hoạnh 死tử 之chi 災tai 第đệ 十thập 五ngũ 卒thốt 中trung 風phong 病bệnh 之chi 災tai 第đệ 十thập 六lục 天thiên 行hành 時thời 氣khí 之chi 災tai 第đệ 十thập 七thất 投đầu 井tỉnh 自tự 繫hệ 之chi 災tai 第đệ 十thập 八bát 官quan 事sự 口khẩu 舌thiệt 之chi 災tai 若nhược 有hữu 善thiện 男nam 子tử 善thiện 女nữ 人nhân 。 納nạp 得đắc 壽thọ 生sanh 錢tiền 免miễn 了liễu 身thân 邊biên 一nhất 十thập 八bát 般bát 橫hoạnh/hoành 災tai 若nhược 有hữu 人nhân 不bất 納nạp 不bất 折chiết 壽thọ 生sanh 錢tiền 後hậu 世thế 為vi 人nhân 多đa 注chú 貧bần 賤tiện 壽thọ 命mạng 不bất 長trường/trưởng 醜xú 陋lậu 不bất 堪kham 多đa 饒nhiêu 殘tàn 疾tật 但đãn 看khán 注chú 壽thọ 生sanh 經kinh 又hựu 名danh 受thọ 生sanh 經kinh 真chân 經kinh 不bất 虗hư 除trừ 了liễu 身thân 邊biên 災tai 免miễn 了liễu 身thân 邊biên 禍họa 又hựu 說thuyết 十Thập 地Địa 菩Bồ 薩Tát 。 長trường 壽thọ 王vương 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 延diên 壽thọ 王vương 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 增tăng 福phước 壽thọ 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 消tiêu 災tai 障chướng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 救cứu 苦khổ 難nạn 觀Quán 世Thế 音Âm 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 長trường/trưởng 安an 樂lạc 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 長trường/trưởng 歡hoan 喜hỷ 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 解giải 冤oan 結kết 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 福phước 壽thọ 王vương 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 延diên 壽thọ 長trường/trưởng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 本bổn 宅trạch 龍long 神thần 土thổ/độ 地địa 罪tội 消tiêu 滅diệt 滿mãn 宅trạch 家gia 眷quyến 罪tội 消tiêu 滅diệt 惡ác 口khẩu 浪lãng 舌thiệt 罪tội 消tiêu 滅diệt 殺sát 生sanh 害hại 命mạng 。 罪tội 消tiêu 滅diệt 前tiền 生sanh 冤oan 業nghiệp 罪tội 消tiêu 滅diệt 今kim 生sanh 冤oan 業nghiệp 罪tội 消tiêu 滅diệt 前tiền 生sanh 父phụ 母mẫu 罪tội 消tiêu 滅diệt 今kim 生sanh 父phụ 母mẫu 罪tội 消tiêu 滅diệt 又hựu 說thuyết 災tai 星tinh 金kim 星tinh 木mộc 星tinh 水thủy 星tinh 火hỏa 星tinh 土thổ/độ 星tinh 太thái 陽dương 星tinh 太thái 陰ấm 星tinh 羅la 睺hầu 星tinh 計kế 都đô 星tinh 紫tử 炁# 星tinh 月nguyệt 孛bột 星tinh 懺sám 悔hối 已dĩ 後hậu 願nguyện 災tai 星tinh 不bất 照chiếu 福phước 曜diệu 長trường/trưởng 臨lâm 四tứ 時thời 無vô 病bệnh 八bát 節tiết 無vô 災tai 若nhược 有hữu 善thiện 男nam 子tử 善thiện 女nữ 人nhân 。 早tảo 納nạp 壽thọ 生sanh 錢tiền 分phân 明minh 解giải 說thuyết 漏lậu 貫quán 薄bạc 小tiểu 納nạp 在tại 庫khố 中trung 庫khố 官quan 收thu 付phó 至chí 百bách 年niên 命mạng 終chung 之chi 後hậu 。 七thất 七thất 已dĩ 前tiền 早tảo 燒thiêu 取thủ 壽thọ 生sanh 經kinh 救cứu 度độ 三tam 世thế 父phụ 母mẫu 七thất 代đại 先tiên 亡vong 九cửu 族tộc 冤oan 魂hồn 皆giai 得đắc 生sanh 天thiên 。 儒nho 流lưu 學học 士sĩ 僧Tăng 尼Ni 道đạo 俗tục 。 或hoặc 貴quý 或hoặc 賤tiện 若nhược 有hữu 善thiện 男nam 子tử 善thiện 女nữ 人nhân 。 今kim 生sanh 早tảo 燒thiêu 壽thọ 生sanh 錢tiền 三tam 世thế 富phú 貴quý 今kim 生sanh 不bất 燒thiêu 三tam 世thế 貧bần 賤tiện 後hậu 世thế 難nan 得đắc 人nhân 身thân 。 縱túng 得đắc 為vi 人nhân 。 瘸# 手thủ 瘸# 足túc 無vô 目mục 跛bả 腰yêu 癡si 聾lung 瘖âm 瘂á 衣y 不bất 葢# 形hình 食thực 不bất 充sung 口khẩu 。 被bị 人nhân 輕khinh 賤tiện 若nhược 早tảo 燒thiêu 壽thọ 生sanh 錢tiền 注chú 衣y 注chú 食thực 注chú 命mạng 注chú 祿lộc 本bổn 命mạng 星tinh 官quan 本bổn 命mạng 判phán 官quan 修tu 羅la 王vương 事sự 天thiên 龍long 八bát 部bộ 。 聞văn 佛Phật 所sở 說thuyết 。 皆giai 大đại 歡hoan 喜hỷ 信tín 受thọ 奉phụng 行hành 。 佛Phật 說thuyết 壽thọ 生sanh 經kinh 即tức 說thuyết 咒chú 曰viết 。
天Thiên 羅La 咒Chú 地Địa 羅La 咒Chú 日Nhật 月Nguyệt 黃Hoàng 羅La 咒Chú 一Nhất 切Thiết 冤Oan 家Gia 。 離Ly 我Ngã 身Thân 摩Ma 訶Ha 般Bát 若Nhã 波Ba 羅La 蜜Mật 。 一Nhất 解Giải 冤Oan 經Kinh 二Nhị 延Diên 壽Thọ 真Chân 言Ngôn 三Tam 滅Diệt 五Ngũ 逆Nghịch 之Chi 罪Tội 誦Tụng 此Thử 經Kinh 免Miễn 地Địa 獄Ngục 之Chi 罪Tội 。 便Tiện 得Đắc 生Sanh 天Thiên 不Bất 虗Hư 矣Hĩ
Thiên La Chú Địa La Chú Nhật Nguyệt Hoàng La Chú Nhất Thiết Oan Gia Ly Ngã Thân Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Nhất Giải Oan Kinh Nhị Diên Thọ Chân Ngôn Tam Diệt Ngũ Nghịch Chi Tội Tụng Thử Kinh Miễn Địa Ngục Chi Tội Tiện Đắc Sanh Thiên Bất Hư Hĩ
佛Phật 說Thuyết 壽Thọ 生Sanh 經Kinh
Kinh Thọ Sanh
( http://namobuddha.net/?f=X01n0024&m=awviet )
http://s2.upanh123.com/2017/02/16/co...le-28018f8.jpg
http://phatgiaoaluoi.com/uploads/new...itangle-31.jpg
http://phatgiaoaluoi.com/uploads/new...itangle-30.jpg
Công tác chuẩn bị Tang lễ Hòa Thượng Thích Chơn Thiện: những hình ảnh đầu tiên
( http://www.nguoiaolam.net/2016/11/co...oa-thuong.html )