Vấn Đề Phá Thai!
Thư Trả Lời Niệm Phật Cư Sĩ Diệu Âm
http://www.niemphatvangsanh.com/TroN...tVanDap15.html
Printable View
Vấn Đề Phá Thai!
Thư Trả Lời Niệm Phật Cư Sĩ Diệu Âm
http://www.niemphatvangsanh.com/TroN...tVanDap15.html
Lễ Phóng sanh 6 tấn cá cầu an cho Phật tử Diện Hiền
Lòng Hiếu Thảo của Thầy Huệ Minh đối với Thân Mẫu: Lễ Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn cầu an cho Mẹ là cụ bà Phật tử Diện Hiền - www.HoPhap.Net
Lòng Hiếu Thảo của Thầy Huệ Minh đối với Thân Mẫu: Lễ Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn cầu an cho Mẹ là cụ bà Phật tử Diện Hiền - www.HoPhap.Net
Lòng Hiếu Thảo của Thầy Huệ Minh đối với Thân Mẫu: Lễ Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn cầu an cho Mẹ là cụ bà Phật tử Diện Hiền
TT Thích Huệ Minh trụ trì chùa Cam Lồ Vương Toronto Canada và anh chị em trong gia đình đã phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn để hồi hướng cầu an cho mẹ là Phật tử Nguyễn thị Hoa PD Diệu Hiền 80 tuổi, đang nằm hôn mê, cấp cứu phải trợ thở trong khoa tim mạch bệnh viện Chợ Rẫy.
Một điều kỳ diệu thay.Sau khi thực hiện phóng sanh về.Bà cụ khỏe dần và ra khỏi phòng cấp cứu không còn dùng máy trợ thở và không còn hôn mê nữa.Bác sĩ trưởng khoa cho biết đây là một trường hợp hi hửu và các sĩ khác thì sẽ viết về luận án cho nghành.Trong dịp nầy các Phật tử chùa Thường Quang cũng phát tâm góp vào 10 triệu đồng cùng phóng sanh.Trong đó Phật tử Huỳnh Ngọc Nữ PD Diệu Hội 5 triệu đồng số còn lại do các Phật tử hiện diện góp phần.Xin tán thán công đức của quí Phật tử.
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Nam Mô Cam Lồ Vương Như Lai
Chiếc xà lan được thiết kế chuyên dùng cho việc đi phóng sanh.Có bàn thờ Phật, chuông mỏ, máy âm li, treo cờ Phật giáo như một ngôi chùa nổi di động. Tàu khỏi hành tại bến Bạch Đằng, chạy về hướng Thanh Đa, hoặc có khi qua hướng Nhà Bè.Đi về khoảng một tiếng đồng hồ. Trong thời gian đó quí thầy và Phật tử tụng một thời kinh.Từ sự góp tâm cầu nguyện của nhiều người mà có thể chiêu cảm đến tâm thức và chuyển hóa nghiệp chướng.
Cá ở dưới hầm, có oxi thở, thức ăn no, trước khi trở về gia đình nơi sông nước.
Chiếc xà lan có thể chở 200 Phật tử khắp nơi, ghi danh qua Email đi phóng sanh hằng tuần vào ngày chủ nhật. Có khi Phật tử ghi danh nhiều thì thực hiện 2 chuyến trong một ngày. Ngoài ra có thể thực hiện trong ngày thường như hôm nay. Vì quy định của ngành giao thông đường thủy nên mọi người phải mặc áo phao khi đi trên tàu, thuyền.
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Lễ Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Lễ Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
-Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Vui theo công đức với Thầy Huệ Minh nha! Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát
-Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
T.T. Chơn Tịnh đang phóng sanh cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Vì mẹ mà phát tâm Phóng sanh - T.T. Thích Huệ Minh đang phóng sanh
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
6 tấn cá vui mừng được tự do vui sống thả về sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Thầy Huệ Minh đang phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
-Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
-Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
-Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn - 2013-12-04
Phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn
Vui Theo Công Đức Phóng Sanh.
TT Thích Huệ Minh và anh chị em trong gia đình đã phóng sanh 6 tấn cá trên sông Sài Gòn để hồi hướng cầu an cho mẹ là Phật tử Nguyễn thị Hoa PD Diệu Hiền 80 tuổi.Đang nằm cấp cứu phải trợ thở trong khoa tim mạch bệnh viện Chợ Rẫy. Một điều kỳ diệu thay. Sau khi thực hiện phóng sanh về, Bà cụ khỏe dần và ra khỏi phòng cấp cứu không còn dùng máy trợ thở nữa.
Bác sĩ trưởng khoa cho biết đây là một trường hợp hi hửu và các sĩ khác thì sẽ viết về luận án cho nghành. Trong dịp nầy các Phật tử chùa Thường Quang cũng phát tâm góp vào 10 triệu đồng cùng phóng sanh. Trong đó Phật tử Huỳnh Ngọc Nữ PD Diệu Hội 5 triệu đồng số còn lại do các Phật tử hiện diện góp phần. Xin tán thán công đức của quí Phật tử.
---------------------------------------------------------
TK. Thích Chơn Tịnh
Chùa Thường Quang, Phường 16, Q. 8, Saigon
==================
Quý Thầy Tu Viện Hộ Pháp tại Hoa Kỳ và Đồng bào Phật tử Đạo Tràng Tu Viện Hộ Pháp Trên Không Gian (iTemple: HoPhap.Net) hướng tâm về Tam Bảo dâng lên một lời cầu nguyện cho Mẫu thân của T.T. Thích Huệ Minh tại Việt Nam là:
Cụ bà Phật tử DIỆU HIỀN
Nương nhờ oai thần Tam Bảo và nguyện nhờ gương hiếu thảo - công đức phóng sanh của Thầy mà cụ bà mẫu thân thân tâm thường an lạc, nghiệp bệnh dứt trừ, Bồ đề tâm tăng trưởng, niệm Phật sớm được nhất tâm bất loan, và biết trước ngày về quê hương Cực Lạc.
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai
từ bi chứng minh gia hộ
Namo Buddhaya
Nam Mô Vô Lượng Quang Phật
Nam Mô Thường Hoan Hỷ Bồ Tát
Không đơn thuần như là một trang nhà, đây là một ngôi Tu Viện "trên không gian," phòng ốc lớn nhỏ bao gồm hơn 100 gian. Tất cả ngôi Đại Tu Viện này thu lại thì nằm gọn trên màn hình computer/iPhone/iPod/iPad nhỏ chỉ bằng bàn tay; rộng ra thì lượng bằng châu sa giới, chu vi lớn bằng tận cùng của hư không pháp giới. Hằng ngày phải cần có nhiều thời gian mới có thể bao sái hết. Ngôi Tu Viện Hộ Pháp này có sự chú nguyện bằng tâm lực mỗi khi update và cầu nguyện hằng ngày của Thượng Tọa Phương Trượng và sự gia trì của Mười phương Tam Bảo và oai lực tu trì của Đại chúng trên không gian HoPhap.Net. Bằng sự tín tâm Tam Bảo Thường Trụ khắp Pháp Giới, "hữu cầu tắc ứng", nếu bạn có duyên vào trong ngôi Đạo Tràng Tu Viện Hộ Pháp Trên Không Gian này hằng ngày với tâm thanh tịnh để cầu nguyện, học, tư duy, và thực tập Chánh Pháp thì nhất định sẽ cảm nhận được sự an lạc và sự mầu nhiệm không thể nghĩ bàn thay đổi trong tâm của bạn.
Chúc bạn may mắn đầy đủ tứ duyên trên con đường Phật Pháp.
---Phương Trượng Tu Viện Hộ Pháp---
www.hophap.Net
Tỳ kheo Thích Tuệ Uy, Viện chủ Tu Viện Hộ Pháp "Trên không gian" HoPhap.Net
Tỳ kheo Thích Tuệ Nghiêm, Viện chủ Tu Viện Hộ Pháp, Los Angeles
Nam Mô Vô Lượng Quang Phật
Tu Viện Hộ Pháp
3048 Lashbrook Avenue, El Monte, CA 91733 – USA,
để trì tụng lời Kinh Phật hằng đêm từ 7:30 PM đến 9:30 p.m., 365 days/year, và nghe giảng Pháp Ðại Thừa vi diệu 3 times/week: Friday Evening, Saturday Evening, & Sunday Noon
Điện thoại liên lạc 1 (626) 453-0109, hay liên lạc qua về Tu Viện cần giúp đỡ về Phật Pháp hay E-therapy
Phòng Dâng Sớ Kỳ An -- iTemple: www.HoPhap.Net
CÁC BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ
Kỳ An Sa-Di Tâm Thọ Đang Lâm Bệnh Nặng tại Bệnh Viện (20140423)
Đại Chúng liễu tri: Xin một lời cầu nguyện cho Phật tử Diệp Minh Huy (20120420)
Bạn Nên Biết Cách Chuyển Đổi Năm Dương Lịch Sang Âm Lịch (20120207)
Đại Chúng liễu tri: Xin một lời cầu nguyện cho Phật tử Ong Đặng Như Quốc (20111107)
Thành khẩn xin một lời cầu nguyện cho Phật tử Diệu Huyền (20110706)
Xin Dâng Sớ Kỳ An $20,000 Đô la Cầu An một nữ sinh viên gốc Việt mất tích (20110601)
Thông Tư: Tuần Lễ Cầu An Chư Tôn Ðức (20110311)
Xin Dâng Sớ Kỳ An và Xin một lời cầu nguyện cho Đạo hữu Minh Nguyễn (20101118)
Phát Đại Nguyện Khiến Bạt Trừ Nghiệp Quả (20090801)
Trang: 1
http://www.hophap.net/hp/M_Default.a...9=4118&59615=4
Phóng Sanh
Sanh mạng con gì bắt được cũng phải thả đi không nên giam nhốt, sợ bị hại đến mạng sống chúng. Nên đặt bàn ngoài trời để làm lễ phóng sanh, có nước tịnh, cành dương, thủ xích… Pháp sư, thí chủ làm lễ, đại chúng đem mắt từ nhìn chúng khác loại, nghĩ thương xót cho kiếp sống trầm luân trải qua nhiều lần đọa lạc. Lại nghĩ Tam Bảo có đại oai lực hay bạt sạch sanh tử. Quán tưởng như thế xong, pháp sư cầm thủ lư lên đọc:
- Chí tâm phụng thỉnh trên hội quang minh Chư Phật, Bồ Tát, 10 phương từ phụ, Quán Thế Âm Bồ Tát quảng đại linh cảm, thiên long thần kỳ tại đạo tràng này gia trì cho nước tịnh thủy này đủ công đức dày rưới khô muôn loại, khiến thân tâm họ thanh tịnh, nhẫn nghe diệu pháp.
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
Chúng hòa theo. Tiếp tụng chú Đại Bi (3 biến), pháp sư cầm thủ lư niệm hương:
Ngưỡng bạch 10 phương Tam Bảo, Thích Ca bổn sư, Từ phụ Di Đà, Bảo Thắng Như Lai, Quan Âm Bồ Tát, cha con trưởng giả Lưu Thủy, Thiên Thai, Vĩnh Minh, các bậc đại sĩ v.v..
Ngưỡng nguyện: đức từ bi chứng tri hộ niệm, nay có các chúng sanh bị người bắt nhốt sắp đưa vào cửa tử, may gặp được…(tên người phóng sanh) tu hạnh Bồ Tát phát tâm từ bi, gieo nhân trường thọ tạo việc phóng sanh, cứu thân mạng của những con… này thả chúng ung dung tự tại.
Tỳ kheo… bèn theo Kinh Đại Thừa Phương Đẳng truyền Tam Quy, niệm 10 hiệu Phật. Lại cũng vì các chúng sanh này mà nói pháp 12 nhân duyên chỉ vì các chúng sanh này tội chướng sâu dày thần thức hôn mê. Ngưỡng cầu Tam Bảo oai đức gia bị thương xót chở che. Pháp sư đập thủ xích một cái, rồi cất tiếng thuyết 3 quy y:
Hiện giờ các chúng sanh quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.
Nói xong 3 lần, đại chúng cùng hòa theo:
Quy y Phật rồi, quy y Pháp rồi, quy y Tăng rồi; từ nay trở đi tôn Phật làm thầy, không quy y tà ma ngoại đạo, tôn Pháp là thầy không quy y kinh điển của ngoại đạo, tôn Tăng là thầy bèn không quy y bọn đảng xấu ác. Này các Phật tử, đã quy y Tam Bảo rồi, nay tôi vì các ngươi mà niệm: Nam Mô Bảo Thắng Như Lai, 10 hiệu công đức khiến các ngươi được nghe như những con cá (bơi) chim (bay) tự do liền được sanh lên cõi trời không khác.
Nam Mô quá khứ Bảo Thắng Như Lai, ứng cúng, chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện Thệ, thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều Ngự trượng phu, thiên nhơn sư, Phật Thế Tôn.
Pháp sư đập thủ xích một cái rồi nói:
Các Phật tử, nay tôi vì các ngươi mà nói 12 nhân duyên tướng sanh tướng diệt cho các ngươi hiểu pháp sanh diệt; ngộ bất sanh diệt đồng như chư Phật chứng ngộ Niết Bàn. Bởi vì do vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử, buồn thương, khổ não v.v.. vô minh diệt thời hành diệt, hành diệt thời thức diệt, thức diệt thời danh sắc diệt, danh sắc diệt thời lục nhập diệt, lục nhập diệt thời xúc diệt, xúc diệt thời thọ diệt, thọ diệt thời ái diệt, ái diệt thời thủ diệt, thủ diệt thời hữu diệt, hữu diệt thời sanh diệt, sanh diệt là lão tử, buồn thương, khổ não diệt. Nói xong, pháp sư vỗ thủ xích một cái rồi nói:
Này chư Phật tử, nay tôi dựa Kinh Đại Thừa truyền cho các ngươi 3 quy y, 10 hiệu Phật, 12 nhân duyên đã xong. Nay vì các ngươi đối trước Tam Bảo, phát lồ sám hối tội khiên cầu xin sám hối. Mong cho nghiệp tội các ngươi hết thảy đều được tiêu trừ được sanh vào xứ lành, gần Phật nghe pháp. Các ngươi phải chí tâm theo tôi mà sám hối:
Con xưa lỡ tạo các ác nghiệp,
đều do vô thỉ tham sân si
Từ thân miệng ý mà sanh ra,
hết thảy con nay xin sám hối
Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).
Bưng chén nước chú nguyện rảy lên những con vật sắp được thả, rồi mở cửa lồng cho chim (thú) bay ra. Pháp sư trở lại đọc:
Ngưỡng mong từ ngày được thả hôm nay trở về sau, hoàn toàn các ngươi không gặp ác ma nhai nuốt, lưới sập bẩy giăng, mà thong dong tự tại mãi mãi lâu dài. Nương lực Tam Bảo, Bảo Thắng Như Lai, từ lực bổn nguyện mà sau khi chết được sanh cõi trời Đao Lợi, hoặc sanh làm người, giữ giới tu hành, không tạo ác trở lại nữa. Tin tưởng niệm Phật, tùy nguyện vãng sanh. Lại cầu nguyện thí chủ… hiện đời được như ý, qua đời khác báo ứng tùy tâm Bồ Đề hạnh nguyện, niệm niệm càng sáng cứu khổ chúng sanh được như tâm nguyện. Do nhân duyên đó được sanh cõi Cực Lạc thấy Phật A Di Đà và chư Thánh chúng, chứng được vô sanh nhẫn. Phân thân vô số độ khắp hữu tình đều thành chánh giác; Nay đại chúng đồng thanh niệm Kinh Hoa Nghiêm phẩm 10 hồi hướng, thần chú vãng sanh Tịnh Độ.
Đọc xong, Duyệt chúng gõ mõ nhỏ, đại chúng đồng tụng:
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm phẩm 10 hồi hướng tùy thuận thiện căn thật kiên cố, xin hồi hướng chư Phật tử… đại Bồ Tát làm đại quốc vương, đối với pháp được tự tại, thực hành sâu rộng lời giáo huấn làm dứt trừ nghiệp sát. Trong cõi Diêm Phù Đề[6] thành ấp, xóm làng hết thảy kẻ sát sanh đều bị cấm ngăn. Chúng sanh không chân, 2 chân, 4 chân, nhiều chân, những loại sanh thân đều ban cho điều không sợ sệt; không dục xâm chiếm tâm, rộng tu các hạnh Bồ Tát, nhân từ lợi vật, không làm xâm tổn. Phát tâm trân quí để làm an ổn chúng sanh ở các cõi Phật. Lập chí sâu bền thường tu 3 môn tịnh giới và cũng làm cho chúng sanh an trụ như vậy. Các đại Bồ Tát khiến chúng sanh tu giữ 5 giới trừ dứt hẳn nghiệp sát. Đem thiện căn này hồi hướng cho hết thảy nghĩa là nguyện cho khắp mọi loài chúng sanh phát tâm Bồ Đề đầy đủ trí huệ, bảo vệ thọ mạng lâu dài không chấm dứt. Nguyện hết thảy chúng sanh trong vô lượng kiếp cùng với chư Phật cùng khuyên nhau tu học, làm tăng thêm thọ mạng. Nguyện khắp chúng sanh tu hành nghiêm túc xa lìa sanh tử, hết thảy hiểm nạn, không làm hại đến thân mạng kẻ khác. Nguyện tất cả chúng sanh được thành tựu mọi điều không bịnh, tổn hại thọ mạng tự tại đều được tùy tâm... Nguyện hết thảy chúng sanh được thọ mạng không cùng tận tới kiếp vị lai, nương hạnh Bồ Tát điều phục giáo hóa chúng sanh. Nguyện tất cả chúng sanh vì việc thọ mạng, đầy đủ thiện căn trong 10 lực tăng trưởng. Nguyện cho chúng sanh căn lành đầy đủ được thọ mạng vô tận thành tựu đại nguyện. Nguyện hết thảy chúng sanh được thấy chư Phật vâng phụng cúng dường tu tập thiện căn thọ mạng vô lượng. Nguyện cho khắp hết chúng sanh ở cõi Phật khéo học những pháp cần học, đạt được pháp an lạc thọ mạng vô cùng. Nguyện tất cả chúng sanh được không bịnh, không già, thường trong mạng căn tinh tấn dũng mãnh, nhập Phật trí tuệ. Đó là Bồ Tát ma ha tát trong 3 tụ tịnh giới dứt hẳn nghiệp sát hồi hướng thiện căn để làm cho chúng sanh đạt được 10 lực của Phật, trí tuệ viên mãn.
Tiếp tụng chú Vãng Sanh (3 lần) và Duy Na đọc:
Trở lên công đức phóng sanh để đền đáp 4 ân, 3 cõi đều nhờ. Pháp giới chúng sanh đều trọn thành chủng trí. 10 phương 3 đời chư Phật, hết thảy chư đại Bồ Tát, đạt đại bát nhã ba la mật.
Tụng hồi hướng, 3 tự quy y. Bên trên là lược nghi thức phóng sanh xong. Nếu lễ phóng sanh mà có thêm tụng kinh hoặc cúng dường trai phạn v.v.. đều xem nghi thức trước, chỉ có phần hồi hướng và sớ văn thay đổi theo việc cầu nguyện của thí chủ.
Chứng nghĩa ghi rằng, nghi phóng sanh đời Lương dịch từ Kinh Kim Cang Minh như thế. Nếu căn cứ 2 bản dịch đời Tùy-Đường đều có lời chú Kinh Phạm Võng cũng có nói việc phóng sanh. Ngoài ra, khảo cứu luật tạng, kẻ nữ sĩ trước thọ tam quy, sau truyền 5 giới không cho vượt bực. Cho nên nay phóng sanh nhưng chỉ nói Tam Quy mà không cần nói thêm 5 giới. Có người hỏi Ngài Vân Thê Liên Trì rằng:
- Thuyết pháp đối với người do người chưa tin nên khuyến khích phát tâm, súc vật làm sao hiểu được?
Sư đáp rằng:
- Tánh nơi hàm linh không thể nghĩ bàn, đặt kỳ vọng nơi loại súc vật hoàn toàn không biết được. Con linh (giống như chuồn chuồn mà không bay xa được) sống trong bầu trời, chim đại bàng biết luật, con cọp vểnh tai nấp đất nghe ngóng, con lân đổ nước mắt cảm tâm. Những loại như thế so sánh ở đây đủ biết… Giá như nghiệp nó nặng không biết cũng là một loài thiện ở vị lai. Ví như mùa đông trời lạnh xuống thấp, mùa xuân ấm áp tự nhiên cây cối nẩy mầm. Chỉ lấy tâm từ hướng đến để nói, hành giả tự có được phước, nên phải giáo hóa không phân người, súc vật, cho chí phóng sanh cảm ứng đời sống bên trong rất nhiều.
Nay lược nêu ra một số điều rất cổ như Kinh Kim Quang Minh quyển 4 nói về cha con trưởng giả Lưu Thủy trên đường đi thấy một ao nước cạn có 10,000 con cá sắp chết, 4 bề vùng vẫy. Lúc đó trưởng giả cho nước và thức ăn cho cá mà cứu được chúng rồi cá lội xuống ao. Ông trưởng giả giảng cho cá pháp 12 nhân duyên và niệm “Nam Mô Bảo Thắng Như Lai”. Về sau, 10,000 con cá ấy đều sanh lên trời Đao Lợi, chúng biết đời trước mình là cá và được cha con ông trưởng giả cho nước uống và thức ăn. Lại vì bọn chúng, ông giảng pháp 12 nhân duyên và niệm danh hiệu Phật Bảo Thắng Như Lai. Vì nhân duyên đó khiến đời sau chúng được sanh cõi trời. Đây là cách báo ân, mỗi con cá cầm một chuỗi trân châu anh lạc tới nhà ông trưởng giả Lưu Thủy dâng ngọc báu, tán hoa. Ông trưởng giả Lưu Thủy lúc đó, nay chính là Phật Thích Ca Mâu Ni; 10,000 con cá lúc đó nay là 10,000 thiên tử đều mong Phật truyền đạo Bồ Đề.
Đời Tùy Ngài Thiên Thai trí giả đại sư ở chùa Tu Thiền tại Đài Châu, lấy y mặc khuyên người bán một sở đất làm ao phóng sanh: Ngài thường ở đó giảng Kinh Kim Quang Minh, bổng một hôm thấy vô số chim hoàng tước tới trước giảng đường tụ tập về đây trong nửa ngày, rồi kêu lên tiếng buồn rồi bay đi. Đại sư thấy chim nói rằng: “đây là cá sông hóa làm chim hoàng tước tới tạ ân Ta đó, nay là chùa Đại Từ vậy.”
Lại đời Tùy, có Kế Vũ nhậm chức ở Đài Châu làm quận trưởng, thường mời Thiên Thai trí giả giảng Kinh Kim Quang Minh phẩm Lưu Thủy trên sông, ngư dân nghe pháp đều tôn trọng sanh mạng bỏ nghiệp sát hại. Vũ sau trở lại kinh đô ngồi thiền thấy mình mắc tội bị hạ ngục. Đương gặp lúc lâm nguy ấy bèn trực nhớ tới cầu đại sư, thân tới cứu hộ. Đêm đó mộng thấy đàn cá thổi bọt tung nước. Sáng sớm hôm sau, Vua ra lịnh bắt Kế Vũ hài tội. Căn cứ chuyện này lấy từ Kinh Kim Quang Minh một đoạn chỗ trưởng giả Lưu Thủy mà phóng sanh là việc điển hình sớm nhất. Cho nên Kinh Kim Quang Minh phẩm phóng sanh là pháp quan trọng đáng tin mà về sau các bậc hiền phải biết đó.
http://quangduc.com/a8716/29-phong-sanh
- Bất Động Như Lai: Đức Như Lai này khi ở Minh Đồ thì thị hiện làm Tần Quảng Minh Vương, chủ coi về lễ cúng dường tuần thất thứ nhất các vong linh.
- Thích Ca Như Lai: Ở Minh Giới thị hiện làm Sơ Giang Minh Vương, chủ coi về lễ cúng dường tuần thất thứ hai cho các vong linh.
- Văn Thù Đại Sĩ: Vị đại sĩ này thị hiện làm Tống Đế Minh Vương ở Minh Giới, để coi về lễ cúng tuần thất thứ ba các vong linh.
- Phổ Hiền Đại Sĩ: Vị Đại Sĩ này thị hiện làm Ngũ Quan Minh Vương ở địa ngục, chủ coi về lễ cúng thất thứ tư cho các vong linh.
- Địa Tạng Đại Sĩ: Vị Đại sĩ này khi ở trong địa ngục thị hiện làm Diêm Ma (cũng gọi là Diêm La) Minh Vương, chủ coi về lễ cúng dường tuần thất thứ năm cho các vong linh.
- Di Lặc Đại Sĩ: Vị Đại Sĩ này biểu hiện thân hình vào trong địa ngục làm Biến Thành Diêm Vương, chủ coi về lễ cúng tuần thất thứ sáu cho chư vong linh.
- Dược Sư Như Lai: Đức Như Lai này biểu hiện thân hình vào Minh Giới làm Thái Sơn Phủ Quân Minh Vương, chủ coi về lễ cúng tuần thất thứ bảy cho các vong linh.
- Quán Âm Đại Sỹ: Vị Đại sĩ này biểu hiện thân hình vào Minh Đồ làm Bình Đẳng Minh Vương, chủ coi về tuần bách nhật cho các vong linh.
- Đại Thế Chí Đại Sĩ: Vị Đại Sĩ này biểu hiện thân hình vào Minh Đồ làm Đô Thị Minh Vương, chủ coi về lễ cúng tuần tiểu tường cho các vong linh.
- A Di Đà Như Lai: Vị Như Lai này biểu hiện thân hình vào chốn địa ngục làm Ngũ Đạo Chuyển Luân Minh Vương để coi về lễ cúng đại tường cho các vong linh.
https://adidaphat.jimdo.com/t%C3%ADc...B%93-t%C3%A1t/
http://kimquang.free.fr/VN-Chu-LangN...s/image004.jpg
http://i52.photobucket.com/albums/g3...g/Image_54.jpg
http://blavatskyarchives.com/hartman...manntibet1.jpg
http://i.imgur.com/oBsqrVJ.png?1
https://padmakumara.files.wordpress....10/08/hrih.jpg
http://a.ecimg.tw/pic/C/A/A/O/3/C/CAAO3C-A38520075000
非想【 紇唎hrih】感應威力最強大的 唐密梵種子字
◆您一定要親身體驗能改變您命運的 會
◆「紇唎」為諸佛功德的共同種子字
阿彌陀佛種子字
如意輪觀音種子字
法波羅密菩薩種子字
金剛法菩薩種子字
大威德明王種子字
金剛軍童子法身種子字
( http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%BB%80N/page20 / http://vanhoaphuongdong.co/threads/c...t-bo-tat.2222/ / http://www.dharmawheel.net/viewtopic.php?t=6416 / https://padmakumara.wordpress.com/20...a-aksara-hrih/ / http://mall.pchome.com.tw/prod/CAAO3C-A38520075 / http://blavatskyarchives.com/hartman...rtmannbit.html )
==============
TỔNG LUẬN
Ý NGHĨA NHẤT TỰ CHÂN NGÔN HRĪH
***
Phước Nguyên
___________________________________
blank
I/ XUẤT XỨ
I.1. Hê-rị 奚哩
Theo tư tưởng Mật Tông, trong năm vị Phật thiền[1], Đức Phật A-di-đà[2] vị trí ở phía tây, bộ chủ bộ Liên hoa, biểu hiện phương tiện trí của Phật, nhân cách của trí diệu quán sát, trong năm đại là nhân cách của gió theo truyền thừa của Bất Không, hay của nước theo truyền thừa của Thiện Vô Úy.
Do giới hạn và mục tiêu của bài viết này, nên chúng ta không bàn đến chủng tử của Phật A-di-đà trong Thai Tạng giới, mà chỉ nói đến chủng tử của A-di-đà trong Kim Cương giới.
Trong Kim cương giới, chữ Hrīḥ được dùng làm chủng tử cho Phật A Di Đà. Chữ này thấy xuất hiện trong phần kết của bài tán tiếng Sanskrit về lễ bái phương tây trong Đại Tạng Kinh 18, số hiệu 0866, Kim Cương Đảnh Du Già Trung Lược Xuất Niệm Tụng Kinh 1, Đường Kim Cương Trí dịch. Chân ngôn đó ở đây đọc:
唵 薩婆怛他揭多 布穰(而佉反)鉢 囉末多那耶(轉也) 阿答摩南涅哩夜多 耶冥薩婆怛他揭多 跋折羅達摩(法 也)鉢羅伐多耶摩 含(二合願為我轉 金剛法也)奚哩( 引二合)[3].
Án tát bà đát tha yết đa bố nhưỡng bát ra mạt đa na da a đáp ma nam niết rị dạ đa ya-minh tát bà đát tha yết đa bạt chiết la đạt ma bát la phạt đa da ma hàm hê rị.
Phần kết đó là chữ hê rị奚哩 không có trong bản dịch tương đương ở Đại Tạng Kinh 18, số hiệu 0865, Kim Cương Đảnh Nhất Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Đại Giáo Vương Kinh[4], 3 quyển, Đường Bất Không dịch và Đại Tạng Kinh 18, số hiệu 0882, Phật Thuyết Nhất Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Tam Muội Đại Giáo Vương Kinh 5[5], Tống Thí Hộ đẳng dịch.
Nguyên bản Sanskrit của Đà-la-ni này chép như sau:
-Devanagari:
ॐ सर्वतथागतपूजमं प्रवर्तनाय आत्मनमं निर्यातयामि सर्व तथागत वज्रधर्म प्रवार्तय मय्हमं ह्रीहः
(Om sarvatathāgatapūjaṃ pravartanāya ātmanaṃ niryātayāmi sarva tathāgata vajradharma pravārtaya mayhaṃ hrīḥ )
Dịch: Om [6], con xin hiến thân dâng lên cúng dường hết thảy Như Lai. Nguyện hết thảy Như Lai vì con chuyển Kim cương pháp, hrīḥ.
- Bản tất đàn (được chép trong Đại Tạng Kinh 18, số hiệu 0875, Liên Hoa Bộ Tâm Niệm Tụng Nghi Quỹ, 1 quyển, mất tên người dịch) [7]:
blank
Đem chú Sanskrit Devanagari và bản Tất đàn này, đối chiếu với hai bản Tây Tạng hiện tìm được tương đương là:
(1) རྡོ རྗེ རྩེ མོ ལསདེ བྮིནགྴེགྶཔ ཐམྶཅདཀྱི དེ ཁོ ཉིདབྶྡུསཔ ཞེསབྱ བ རྒྱུདཀྱི རྒྱལཔོ ཆེནཔོ rdo rje rtse mo las de bzhin gshegs pa thams cad kyi de kho nyid bsdus pa zhes bya ba rgyud kyi rgyal po chen po và
(2) རྡོ རྗེ རྩེ མོ ལསདེ བྮིནགྴེགྶཔ ཐམྶཅདཀྱི དེ ཁོ ན ཉིདབྶྡུསཔ ཞེསབྱ བ ཐེགཔ ཆེནཔོ rdo rje rtse mo las de bzhin gshegs pa thams cad kyi de kho na nyid bsdus pa zhes bya ba theg pa chen po;
Sự sai biệt về ngôn ngữ, nội dung không đáng kể[8].
Tham chiếu bản dịch Anh ngữ The Adamantine Pinnacle Sutra, dịch bởi Giebel, Rolf W.Berkeley, chân ngôn ở đó được viết tương đồng với bản Kim Cương Đảnh Du Già Trung Lược Xuất Niệm Tụng Kinh 1, do Đường Kim Cương Trí dịch[9].
I.2. Hiệt-rị 頡哩, hột-rị 紇哩, ngật-rị 訖哩
Đại Tạng Kinh 18, số hiệu 0866, Kim Cương Đảnh Du Già Trung Lược Xuất Niệm Tụng Kinh 3, sau khi mô tả qui trình triệu thỉnh các bổn tôn, hướng dẫn phương pháp an vị các bổn tôn ấy, trong đó có việc kết khế ấn Vô Lượng Thọ danh Thắng thượng tam-ma-địa 無量壽 名勝上三摩地 [10] và đọc chân ngôn:
唵 嚧計 攝縛(二合)囉囉闍頡哩(重呼)[11]
Án lộ kế nhiếp phạ ra ra đồ hiệt rị.
Nguyên điển Sanskrit của chú này như sau:
ॐ लोकेस्वर ह्रीह्ः
Oṃ lokesvara hrīḥ.
Đại Tạng Kinh 18, số hiệu 0874, Kim Cương Đảnh Nhất Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Đại Giáo Vương Kinh, 2 quyển, Đường Bất Không dịch,[12] cũng có chân ngôn này:
唵(引)路計濕嚩 (二合)囉囉(引) 惹紇哩以(三合)[13]
Án lộ kế thấp phạ ra ra nhạ hột rị ni.
Nguyên điển Sanskrit:
ॐ लोकेसव्रजाज ह्रीह्ः
Oṃ lokesavrajāja hrīḥ.
Và ở Đại Tạng Kinh 18, số hiệu 0867, Kim Cương Phong Lâu Các Nhất Thiết Du Già Du Kì Kinh, 2 quyển, Đường Kim Cương Trí dịch cũng có xuất hiện chủng tử Hrīḥ trong các chân ngôn:
唵(引) 嚩 日囉(二合) 路 計 濕嚩 囉 囉 惹阿 儗儞 紇哩[14]
Án phạ nhật ra lộ kế thấp phạ ra ra nhạ a nghi nễ hột rị.
Chân ngôn này nguyên điển Devanagari:
ॐ वज्र लोकेश्वरराज अग्नि ह्रीहः
Oṃ vajra lokeśvararāja agni hrīḥ
Chép ở bản Tất đàn như sau:
blank
Ở trong Đại Tạng Kinh 19, số hiệu 0930, Vô Lượng Thọ Như Lai Quán Hành Cúng Dường Nghi Quỹ[15], 1 quyển, Đường Bất Không dịch gọi chân ngôn trên là Vô lượng thọ như lai tâm chân ngôn 無量壽 如來心真言 như sau:
唵(引)路計濕[口*縛](二合)囉囉惹訖哩(二合入引)[16]
Án lô kế thất phạ ra ra nhạ ngật rị.
Nguyên điển Sanskrit của chân ngôn này:
ॐ लोकेस्वरराज ह्रीहः
Oṃ lokesvararāja hrīḥ.
I.3. Chủng tử Hrīḥ trong văn hệ Bát-nhã
Ngoài sự xuất hiện của những chân ngôn trong các kinh điển thuộc Kim cương giới, chủng tử hrīḥ còn tìm thấy trong Đại Tạng Kinh 08, số hiệu 0241, Kim Cương Đảnh Du Già Lý Thú Bát Nhã Kinh[17], 1 quyển, Đường Kim Cương Trí dịch, mà bản Sanskrit của nó là अध्यर्धशतिका प्रज्ञापारमिता Adhyardhaśatikā prajñāpāramitā hiện đã tìm được[18], bản Sanskrit này còn gọi là आर्य-प्रज्ञापारमिता-नय-शतपञ्चाशतिका Ārya-prajñāpāramitā-naya-śatapañcāśatikā, tức 聖般若 波羅蜜多 理趣百五十(頌) - Thánh Bát-nhã Ba-la-mật-đa Thú Bách Ngũ Thập (Tụng), bên cạnh đó là bản Tây Tạng của kinh này cũng hiện được tìm thấy trong Tây Tạng Đại Tạng Kinh, thuộc Bát-nhã bộ, số hiệu 17, tiêu đề: འཕགས་པ་ཤེས་རབ་ཀྱ ་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ ི་ཚུལ་བརྒྱ་ལྔ་བཅ ུ་པ Ḥphags-pa śes-rab-kyi-pha-rol-tu-phyin-paḥi tshul brgya-lṅa-bcu-pa[19], cũng có đề cập chủng tử hrīḥ.
Tiếp đó, là hai bản dịch Hán ngữ của अध्यर्धशतिका प्रज्ञापारमिता Adhyardhaśatikā prajñāpāramitā gồm: Kim Cương Đảnh Du Già Lý Thú Bát Nhã Kinh và Đại Tạng Kinh 08, số hiệu 0240, Thật Tướng Bát Nhã Ba La Mật Kinh[20], 1 quyển, Đường Bồ Đề Lưu Chí dịch, đều đọc phiên âm là hiệt rị 頡唎[21].
Và ở trong nguyên điển Sanskrit आर्य-प्रज्ञापारमितानय तपञ्चशतिका Ārya –prajñā-pāramitānayaśata-pañca-śatikā, và bản dịch Tây Tạng tương đương của nó là འཕགས་པ་ཤེས་རབ་ཀྱ ་ཕ་རོལ་-ཏུ་ཕྱིན་པའི་ཚུལ་ རྒྱ་-ལྔ་བཅུ་པ Ḥphags-pa śes-rab-kyi-pha-rol-tu-phyin-paḥi tshul brgya lṅa-bcu-pa[22], thuộc Tây Tạng Đại Tạng Kinh, số hiệu 489, cũng nói đến chủng tử hrīḥ. Bản dịch Hán ngữ của आर्य-प्रज्ञापारमितानय तपञ्चशतिका Ārya –prajñā-pāramitānayaśata-pañca-śatikā, thuộc Đại Tạng Kinh 08, số hiệu 0243, Đại Lạc Kim Cương Bất Không Chân Thật Tam Ma Da Kinh[23], 1 quyển, Đường Bất Không dịch kinh phiên âm là hột rị 紇唎[24], và Đại Tạng Kinh 08, số hiệu 0244, Phật Thuyết Tối Thượng Căn Bổn Đại Lạc Kim Cương Bất Không Tam Muội Đại Giáo Vương Kinh 2[25], Tống Pháp Hiền dịch, phiên âm là hột lị 紇哩[26]
Còn riêng về Đại Tạng Kinh 08, số hiệu 0242, Phật Thuyết Biến Chiếu Bát Nhã Ba La Mật Kinh[27], 1 quyển, Tống Thí Hộ dịch, có xuất hiện phiên âm hột lăng 紇凌[28], cho ta một ấn tượng về âm Sanskrit là ह्रीम् hrīm, đây cũng chỉ là ức đoán nguyên ngữ, vì hiện tại chưa thấy bản Sanskrit hay Tây Tạng của kinh này.
Lý thú bát nhã thuộc Lý thú hội trong chín hội của mạn đà la Kim cương giới[29].
II/NGỮ NGUYÊN VÀ Ý NGHĨA
Về ý nghĩa của chủng tử Hrīḥ ấy, Đại Tạng Kinh 19, số hiệu 1003, Đại Lạc Kim Cương Bất Không Chân Thật Tam Muội Da Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Lý Thú Thích[30], 2 quyển, Đường Bất Không dịch, viết: "Chữ hột rị gồm đủ bốn chữ mà thành một chân ngôn…"[31].
Nói như vậy, có nghĩa trong tiếng Sanskrit từ Hrīḥ vừa là một chủng tử vừa là một chân ngôn, gồm có bốn chữ cái, tức:
blank
Nếu là chân ngôn thì gọi là chân ngôn một chữ, hay nhất tự chân ngôn.
II.1. Chữ H
Về ý nghĩa bốn chữ cái này, Đại Lạc Kim Cương Bất Không Chân Thật Tam Muội Da Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Lý Thú Thích viết tiếp:
- "Chữ H chỉ hết thảy các pháp nhân bất khả đắc"[32].
Xét theo ngữ pháp Sanskrit, thì đây là giải thích ý nghĩa mẫu tự H như là phụ âm căn bản của từ Sanskrit हेतु hetu: có nghĩa là nhân hay nguyên nhân. Giải thích này cũng được tìm thấy tương tự trong Đại Tạng Kinh 18, số hiệu 0848, Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì Kinh 2, Đường Thiện Vô Úy Nhất Hành dịch, hay gọi tắt là kinh Đại Nhật, phẩm Nhập mạn đồ la cù duyên chân ngôn[33]. Và ở trong nguyên điển Sanskrit của Kinh này, tiêu đề: महाव्ऐरोचनाभिसमं ोधिविकुर्विताधिष थानव्ऐपुल्यसूत्र ेन्द्रराज-नाम-धर्मपर्याय Mahāvairocanābhisaṁbodhi-vikurvitādhiṣthānavaipulyasūtrendrarāja-nāma-dharma-paryāya, và bản dịch Tây Tạng tương đương là རྣམ་པར་སྣང་མཛད་ཆ ན་པོ་མངོན་པར་རྫོ ས་པར་བྱང་ཆུབ་པ་ར ྣམ་པར་སྤྲུལ་བ་བྱ ན་-གྱིས་རློབ་པ་ཤིན་ ུ་རྒྱས་པ་མདོ་སྡེ ི་དབང་པོའི་རྒྱལ་ པོ་ཞེས་བྱ་བའི་ཆོ ་ཀྱི་རྣམ་གྲངས Rnam-par-snaṅ-mdsad chen-po mṅon-par-rdsogs-par byaṅ-chub-pa rnam-par-sprul-ba byin-gyis-rlob-pa śin-tu rgyas-pa mdo-sdeḥi dbaṅ-poḥi rgyal-po shes-bya-baḥi chos-kyi rnam-graṅs, do Dpal brtsegs và Śīlendrabodhi dịch, thuộc Đại Tạng Kinh Tây Tạng, số hiệu 494[34], cũng đều đề xuất ý nghĩa tương tự.
II.2. Chữ R
Về chữ R, Đại Lạc Kim Cương Bất Không Chân Thật Tam Muội Da Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Lý Thú Thích viết:
- “Chữ R là chỉ hết thảy các pháp lìa trần cấu”[35]. Kinh nói thêm: “Trần ở đây là năm trần cảnh, cũng chỉ cho hai loại chấp trước về năng thủ và sở thủ"[36].
Ý nghĩa chữ R này cũng được giải thích tương tợ trong Đại Tạng Kinh 18, số hiệu 0848, Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì Kinh 2, Đường Thiện Vô Úy Nhất Hành dịch, phẩm Nhập mạn đồ la cù duyên chân ngôn, theo đó thì R chỉ hết thảy các pháp vốn xa lìa tất cả nhiễm ô trần cấu[37].
Theo ngữ pháp Sanskit, khi được nói như vậy là vì khi đọc lên âm R, ta liên tưởng đến từ रजस rajas có nghĩa là bụi bặm hay trần cấu.
II.3. Chữ Ī
Về chữ Ī, Đại Lạc Kim Cương Bất Không Chân Thật Tam Muội Da Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Lý Thú Thích viết tiếp:
- "Chữ Ī là tự tại bất khả đắc"[38].
Căn cứ theo ngữ pháp Sanskrit, được giải nghĩa như thế vì chữ Ī là chữ bắt đầu của từ Īśvara, có nghĩa là đấng tự tại, īśvara còn có nghĩa là: Vị hướng dẫn tối tôn, Bậc điều khiển tối thượng, Đấng tối thượng, Đấng toàn diện, vị Chúa tể…
II.4. Chữ Ḥ.
Cuối cùng là chữ Ḥ, thường được viết trong tiếng Sanskrit bằng hai dấu chấm (visarga), Đại Lạc Kim Cương Bất Không Chân Thật Tam Muội Da Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Lý Thú Thích nói:
- "Ý nghĩa của hai chấm chữ ác, chữ ác này chỉ cho niết bàn"[39].
Dấu visarga, thuộc nhị trùng âm, tức hai chấm, mà dịch bản Hán văn thường phiên âm là ác 惡, được các kinh điển Mật giáo gọi là chấm niết bàn, nên cũng có nghĩa là Niết bàn.
II. 5. Giải thích tổng hợp
Giải thích tổng hợp cả bốn chữ cái H, R, I và ÿ, Đại Lạc Kim Cương Bất Không Chân Thật Tam Muội Da Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Lý Thú Thích viết tiếp:
- "Do giác ngộ các pháp bản lai không sinh, nên hai loại chấp trước loại trừ, chứng được pháp giới thanh tịnh"[40].
Mặt khác, căn cứ theo văn phạm tiêu chuẩn Sanskrit, nếu hiểu Hrīḥ như một từ ngữ thông dụng, thì nó có nghĩa là sự hổ thẹn.
Nên Đại Lạc Kim Cương Bất Không Chân Thật Tam Muội Da Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Lý Thú Thích giải thích tiếp: "Chữ hột rị cũng có nghĩa là xấu hổ. Nếu có đủ hổ thẹn thì không làm các việc bất thiện, tức đầy đủhết thảy pháp vô lậu. Cho nên Liên hoa bộ cũng gọi là Pháp bộ. Do sựgia trì của chữ này, nên ở thế giới Cực Lạc, nước chim cây rừng đều diễn pháp âm, chi tiết như trong kinh (A Di Đà) có nói. Nếu ai trì một chữ chân ngôn này, có thể trừ hết thảy tai họa, bệnh tật, sau khi mạng chung sẽ vãng sinh quốc độ an lạc, thượng phẩm thượng sinh"[41].
Đây là một giải thích tổng hợp kết liên tư tưởng Mật giáo với Tịnh độ giáo.
Ngoài Đại Lạc Kim Cương Bất Không Chân Thật Tam Muội Da Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Lý Thú Thích, Kim Cương Giới Mạn-đồ-la hiện đồ sao tư đề xuất một lối giải thích khác:
"Chữ hrīḥ này do bốn chữ:
blank
“Hiệp thành, chỉ cho bốn đức ở bốn phương đông tây nam bắc. Phải chăng vì Phật Di Đà nổi tiếng đầy đủ phương tiện nên đầy đủ bốn đức ấy? Nói về thể của chữ, thì nhân nghiệp là chữ Ha, trần cấu là chữ Ra, tai họa là chữ Ī, đương thể phàm phu làm rõ viễn ly là chữ Ah. Như vậy, toàn thể phàm phu là có nghĩa viễn ly, thanh tịnh, không trần cấu. Điều đó đã rõ".
Bốn đức nói đến trong giải thích này là chỉcho bốn đức thanh tịnh mô tả trong Đại Lạc Kim Cương Bất Không Chân Thật Tam Muội Da Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Lý Thú Thích, đó là:
- रागविशुद्ध rāgaviśuddha: ái nhiễm thanh tịnh;
- द्वेसविशुद्ध dvesaviśuddha: sân thanh tịnh;
- मलविशुद्ध malaviśuddha cấu uế thanh tịnh;
- पपविशुद्ध papaviśuddha: tội thanh tịnh.
Sự sai biệt trong giải thích ở đây với Đại Lạc Kim Cương Bất Không Chân Thật Tam Muội Da Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Lý Thú Thích dẫn trên là ở ý nghĩa của mẫu âm Ī.
Căn cứ theo ngữ pháp Sanskrit mẫu âm Ī được nói là có nghĩa tai họa, tức âm của chữ ईतिस् Ītis.
III. KẾT LUẬN: PHƯƠNG THỨC HÀNH TRÌ
Về việc sử dụng chủng tử này trong qui trình quán tưởng thì Đại Tạng Kinh 18, số hiệu 0874, Kim Cương Đảnh Nhất Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Đại Giáo Vương Kinh mô tả như sau: "Chữ hột rị ở nơi miệng, tức quán tưởng thành hoa sen tám cánh, quán thân mình thành hoa sen, trong thân đó có vô số vi trần, tưởng thành pháp kimcang, toàn thân dùng miệng để lạy, tay kim cương để ở đỉnh đầu, kính dâng lên đức Vô Lượng Thọ, khắp tưởng tất cả các đức Phật cùng hội lại đểchuyển pháp luân"[42].
Trong Giác thiền sao 6, của ngài Giác Thiền, thuộc Chân Ngôn Tông, Nhật Bản, có ghi thêm lối quán của Đại Tạng Kinh 19, số hiệu 1003, Đại Lạc Kim Cương Bất Không Chân Thật Tam Muội Da Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Lý Thú Thích, nói rằng: "Hoặc thời tưởng bản thân mìnhlà chữ hrīḥ hoa sen támcánh ở trong Thai tạng, rồi tưởng pháp Kim cương, ở trên tám cánh sen ấy tưởng có támvị Phật hoặc thời trên thân người khác, tưởng chữ hūm có chày kim cương năm chỉa, ở giữa đem đặt mười sáu vị đại Bồ tát được quán tưởng, để cho hai thân thể là kim cương bản thân mình và hoa sen của người kia hòa hiệp thành định tuệ. Cho nên trong Du già quảng phẩmnói một cách kín đáo là hai căn giao hội thì ngũ trần thành việc Phật lớn".
Ngoài ra, Giác thiền sao 6 còn ghi ba lối quán khác nữa liên hệ đến chữ hrīḥ, tóm tắt như sau:
-Một lối quán mệnh danh là do khẩu truyền, gần tương tự như lối quán của Đại Lạc Kim Cương Bất Không Chân Thật Tam Muội Da Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Lý Thú Thích: "Vành trăng từ tâm mình có chữ hrīḥ biến thành hoa sen tám cánh, vành trăng tha tâm thì quán chữ hūm :
blank
biến thành chày kim cương năm chỉa. Miệng hoa sen mới nở của vành trăng mình và năm chỉa kim cương của vành trăng tha tâm, nhập thành
một thể, để biến thành A Di Đà quán..."
-Về đạo tràng quán, thì sau khi kết ấn diệu quán sát, "quán tưởng trước tâm có chữ hrīḥ trở thành hoa sen lớn tám cánh biến khắp pháp giới, tức thế giới Cực Lạc, trong đó có chữ Ah biến thành cái lầu báu năm nóc tám cột. Trong cung điện ấy có chữ hrīḥ trở thành hoa sen lớn. Trên hoa sen có mạn đà la, trên mạn đà la có chữ Ah thành vành trăng tròn. Vành trăng tròn cũng có chữ hrīḥ biến thành hoa sen tám cánh, trên đó có chữ hrīḥ phóng ra những ánh sáng lớn chiếu khắp pháp giới. Hữu tình trong pháp giới ấy gặp ánh sáng đó thì không ai là không được tội chướng tiêu trừ. Chữ hrīḥ đó biến thành hoa sen đỏ tám cánh, lấy kim cang năm chỉa làm cọng và nằm ngang trên năm chỉa đó... Hoa sen ấy tràn đầy cảpháp giới, cũng phóng ánh sáng lớn, trong ánh sáng có vô lượng hóa Phật đang thuyết pháp độ sinh. Hoa sen đỏ biến thành Quán Tự Tại Vương Như Lai, thân lượng rộng lớn vô lượng do tuần, kết ấn trí diệu quán sát, thân màu vàng như vàng diêm phù đàn, từ các lỗ chân lông tuôn ra vô số ánh sáng. Cổ và lưng có hào quang. Trong hào quang có vô số hóa Phật, Quan Âm, Thế Chí v.v...hai mười lăm vị bồ tát cho đến vô lượng vô biên quyến thuộc các thánh chúng bồ tát, trước sau vây quanh. Thế giới Cực Lạc dùng bảy báu làm đất,nước, chim, cây, rừng".
-Về tự quán, Giác thiền sao 6 mô tả: "Kết A Di Đà định ấn, rồi vào tamma địa Quán Tự Tại Bồtát, trên vành trăng tâm mình có chữ hrīḥ phóng ánh sáng lớn. Chữ đó biến thành hoa sen támcánh. Đài hoa có Bồ tát Quán Tự Tại tướng hảo rõ ràng, tay trái cầm hoa sen, tay phải làm thế hoa sen nở. Trên mỗi tám cánh hoa sen có các đức NhưLai đang ngồi kết già nhập định, mặt hướng về Bồ tát Quán Tự Tại, cổ có hào quang, thân như màu vàng sáng chói rực rỡ. Tất cả hữu tình trong thân đều đầy đủ hoa sen giác ngộ ấy, thanh tịnh pháp giới không vướng phiền não. Hoa sen đó lớn dần khắp pháp giới. Ai đươc rọi chạm tới thì đều đư ợc thoát khổ đặng vui, chứng được giải thoát giống như Bồtát Quán TựTại. Rồi thì dần dần thu lại ngang với thân mình thì phép quán chấm dứt”.
Đại Tạng Kinh 18, số hiệu 0866, Kim Cương Đảnh Du Già Trung Lược Xuất Niệm Tụng Kinh 1, Đường Kim Cương Trí dịch, khi hướng dẫn qui trình quán tưởng các tôn vị trong mạn đà la Kim cương giới, thì về Liên hoa bộ đã viết: "Lại bộ Liên hoa có ba chữ chủng tử. Ở trung ương quán tưởng chữ ma hàm (मह्यम् mahyam), bên trái và phải quán tưởng chữ hột-rị-dị (hrīḥ). Dùng ba chữ chủng tử ấy kết thành bộ Liên hoa, dùng khổng tước làm tòa (...) ở phương tây có khổng tước tòa vừa nói, quán tưởng đức Phật A Di Đà ngồi ở trên"[43].
Và ở trong Đại Tạng Kinh 19, số hiệu Vô lượng thọ Như Lai Quán Hạnh Cúng Dường Nghi Quĩ[44], cũng nói đến phép quán hột-rị (hrīḥ ) sau khi thực hiện qui trình mười tám phương thức tu tập, mà thuật ngữ Trung quốc gọi là thập bát đạo. Phép quán này có những nét tương tự với phép quán đạo tràng của Giác thiền sao 6.
Đại Tạng Kinh 19, số hiệu 0932, Kim cương đỉnh kinh du già quán tự tại vương Như Lai tu hành pháp[45], do Kim Cương Trí dịch cũng sử dụng chủng tử Hrīḥ, trong khi mô tả qui trình phép tu quán Quán Tự Tại Vương Như Lai.
Trên đây giới thiệu tổng quát về các chủng tử hrīḥ của Phật A-di-đà trong Kim Cương giới Mật giáo và cách sử dụng chúng trong các phép quán.
__________________________________________________ __________________________________________________ _______________________
PHỤ LỤC I.
Bản Tây Tạng (1) རྡོ རྗེ རྩེ མོ ལསདེ བྮིནགྴེགྶཔ ཐམྶཅདཀྱི དེ ཁོ ཉིདབྶྡུསཔ ཞེསབྱ བ རྒྱུདཀྱི རྒྱལཔོ ཆེནཔོ rdo rje rtse mo las de bzhin gshegs pa thams cad kyi de kho nyid bsdus pa zhes bya ba rgyud kyi rgyal po chen po (Quyển 1-3, trang 2a~536b)
blank
Bản Tây Tạng (2) རྡོ རྗེ རྩེ མོ ལསདེ བྮིནགྴེགྶཔ ཐམྶཅདཀྱི དེ ཁོ ན ཉིདབྶྡུསཔ ཞེསབྱ བ ཐེགཔ ཆེནཔོ rdo rje rtse mo las de bzhin gshegs pa thams cad kyi de kho na nyid bsdus pa zhes bya ba theg pa chen po; (Quyển 1~2 , tr. 229a~251a)
blank
__________________________________________________ __________________________________________________ _________________
PHỤ LỤC 2
blank
Phật A-di-đà trên tòa khổng tước
(Ri đa tăng nghiệt ra ngũ bộ tâm quán)
blank
Vị trí chín hội trong Kim cang giới mạn đà la
(Lưỡng Bộ Mạn Đà La Tư Sao)
*Chú thích đồ hình 2:
1. Hội Thành thân ; 2. Hội Yết ma; 3. Hội Tammuội da
4. Hội Cúng dường ; 5. Hội Tứ ấn; 6. Hội Nhất ấn
7. Hội Lý thú ; 8. Hội Hàng tam thế yết ma
9. Hội Hàng tam thế tam muội da
Chú Thích:
[1] Skt. ध्यानिबुद्ध dhyānibuddha.
[2] Cf. A sa phược sao 53: tên Sanskrit của Phật A Di Đà ở Thai tạng giới: là आर्यामिताभायतथाग āryāmitābhāyatathāgata (Thánh Vô Lượng Quang Như Lai); Tên Tây Tạng: དེབྴིནགྶེགྶྤ ཧྥགྶཔ ཧོདདྤགམེད Debshin gśegspa ḥphags pa hod dpag med; trong Kim cương giới : là ळोकेश्वरराजतथागत Lokeśvararājatathāgata (Thế Tự Tại Vương Như Lai), tên Tạng ngữ: དེ བྴིནགྶེགྶྤ ཧྗིགྲྟེནདྦནྥྱུགར ྱལཔོ De bshin gśegspa ḥjigrten dbaṇphyug rgyal po. Tên आर्यामिताभायतथाग āryāmitābhāyatathāgata, trong A sa phược sao 53 chép bị sai, chép đúng phải là आर्यामिताभातथागत Aryāmitābhātathāgata. Cả hai vị Như Lai ấy đều có mật hiệu là Thanh Tịnh Kim cương (Cf. Thai Tạng Kim Cương giới pháp danh hiệu, Giác thiền sao 6)
[3] Đại 18, No. 0866, tr. 0225c02ff, 金剛頂瑜伽中略出念誦經卷第一, 大唐南印度三藏金剛智譯.
[4] T18n0865: 金剛頂一切如來真實攝大乘現證大教 經, 開府儀同三司特進試鴻臚, 卿肅國公食邑三千戶 賜紫贈司空諡大鑒正號大廣智大興善 三藏沙門不空奉 詔譯.
[5] T18n0882, tr. 0352b05: 佛說一切如來真實攝大乘現證三昧大 王經卷第五 , 西天譯經三藏朝奉大夫試光祿 卿傳法大師賜紫沙門臣施護等奉 詔譯
[6] Om nhiều nghĩa, không dịch. Sẽ bàn ở bài sau.
[7] Cf. T18, No. 0875: 蓮華部心念誦儀軌.
[8] Cf. Tây Tạng Đại Tạng Kinh, bộ Mật Giáo, Kyoto. Xem phụ lục 1, phía sau.
[9] Cf. The Adamantine Pinnacle Sutra, Two Esoteric Sutras, Giebel, Rolf W.Berkeley, Numata Center for Buddhist Translation and Research, 2001.
[10] T18n0866, tr. 0242b23. Có lẽ bản Hán phiên âm không chuẩn với Sanskrit, dẫn bên dưới, theo đây phải nên đọc là: 唵 嚧計 攝縛 (二合)囉頡哩(重呼) Án lô kế nhiếp phạ ra hiệt rị, bản ở Kim Cương Đảnh Du Già Trung Lược Xuất Niệm Tụng Kinh 3 dư chữ: 囉闍.
[11] Op.cit.,tr. 0242b24.
[12] T18n0874: 金剛頂一切如來真實攝大乘現證大教 經卷下 , 唐特進試鴻臚卿三藏沙門不空奉 詔譯.
[13] Op.cit., p. 0317b10,
[14] Cf. 金剛峯樓閣一切瑜伽瑜祇經卷下唐南 竺國三藏沙門金剛智譯, T18, No. 0867, tr. 0264c08.
[15] T19n0930: 無量壽如來觀行供養儀軌 , 開府儀同三司特進試鴻臚卿肅國公食 三千 戶賜紫贈司空諡大鑒正號大廣智大興 寺三藏沙門不空奉 詔譯
[16] Op.cit., p.0072b08.
[17] Cf. T08, No. 0241: 金剛頂瑜伽理趣般若經,唐南天竺三藏 剛智依梵本於中天譯
[18] Cf. Mahāyāna-sūtra-saṃgrahaḥ ( part 1) , Vaidya, The Mithila Institute of Post-Graduate Studies and Research in Sanskrit Learning , Darbhanga Year, 1961.
[19] Tây Tạng ĐTK., Kyoto, No. 17, 34Ka, p. 133a1-139b6.
[20] T08n0240, tr. 0776a04: 實相般若波羅蜜經, 唐天竺三藏菩提流志譯.
[21] Op.cit. p. 0777c06: 「頡唎(長呼)」; T08n0241, tr. 0779b22: 「頡唎(二合、長聲)」, tr. 0780b23: 「頡唎(二合、引)」.
[22] Idid., 85Ta, No.489 , p. 266a1-272a7. Tương đương: 1/Tạng Peking: Rgyud (ta)277b-284b; 2/ Tạng Nại đường:Śer-phyin sna-tshogs (ka)240a-249bRgyud (ña)466a-476b; Tham khảo thêm 德格版:Śes-phyin (ka)133a-139bRgyud-ḥbum (ta)266a-272a ; 拉薩版:Śer-phyin sna-tshogs (ka)236a-246aRgyud (ja)288a-299a 卓尼版:Rgyud (ta)300a-309a.
[23] T08, No. 243: 大樂金剛不空真實三麼耶經 開府儀同三司特進試鴻臚卿肅國公食 三千戶賜紫贈司空謚大 正監號大廣智大 興善寺三藏沙門不空奉 詔譯 , 般若波羅蜜多理趣品.
[24] Op.cit. 0785a02: 「紇唎(二合、引、入)」, nay cũng đọc là hột lợi紇唎.
[25] T08n0244, tr. 0790b03: 佛說最上根本大樂金剛不空三昧大教 經卷第二 , 西天譯經三藏朝奉大 夫試光祿卿明教大師臣法賢奉 詔譯
[26] Op.cit. p. 0791c24: 紇哩 (二合、引), p. 0792a12: …, 謂:紇哩(二合)、室哩(二合)、儗(引) 提(引).
[27] T08n0242, tr. 0781c11: 佛說遍照般若波羅蜜經 , 西天譯經三藏朝散大夫試鴻臚卿傳法 師臣施護奉 詔譯.
[28] Op.cit., p.0783c04:「唵(引)紇凌(二合)
[29] Xem phụ lục 2, phía sau.
[30] T19n1003:大樂金剛不空真實三昧經般若 羅蜜多理趣釋, 開府儀同三司特進試鴻 臚卿肅國公食邑三千戶賜紫贈司空諡 大鑒正號大廣智大興善寺三藏沙門不 奉 詔譯
[31]Op.cit., tr. 0612b20: 等同聖者紇利字具四字成一真。
[32] Op.cit., 言賀字門者 (p. 0612b21) 一切法因不可得義.
[33] T18n0848, tr. 0010b18: 訶字門一切諸法因不可得故。訶字門 切諸法因 不可得故
[34] TT.ĐTK., 86Tha , No.494 , tr. 151b2-260a7. Cf. Peking: Rgyud (tha)115b-225b. Xem thêm 奈塘版:Rgyud (ta)301a-455a; 德格版:Rgyud-ḥbum (tha)151 b-260a ; 拉薩版:Rgyud (ña)176b-341a ; 卓尼版:Rgyud (tha)142a-269b.
[35] T19n1003, tr. 0612b21: 囉字門者一切法離塵義.
[36] Op.cit. p.0612b22: 塵者所 謂五塵。亦名能取 所取二種執著。
[37] Cf. T18n0848, tr. 0010b14: 囉字門一切諸法離一切諸塵染故.
[38] T19n1003, tr. 0612b23: 伊字門者自在不可得.
[39] Op.cit.: 二點惡字義。(p. 0612b24) 惡字名為涅槃.
[40] Op.cit. 由覺悟諸 法本不生故。二種 執著皆遠離。 (p.0612b25) 證得法 界清淨.
[41] Op.cit. p0612b25:紇利字亦云慚義…- …p.0612c01: 命終已後當生安樂國土得上品上生.
[42] T18n0874, tr. 0311b26- 0311c01: hrīḥ 觀紇哩字於口 /即想八葉蓮 / 觀身為蓮華 /身中微塵數 / 想成金剛法/ 全身以口禮 / 金剛掌於頂 /奉獻無量壽 / 遍想諸佛會/ 而請轉法輪.
[43]T18, No. 0866, tr. 0227b14, tiếp theo: 又蓮花部有三種子字。於其中央想摩 (二合)字。 左右想頡唎異(三合) 以此三種子字所成蓮花部中。以孔雀 座。(…) 於其西方如上所說孔雀座。想阿彌陀 而坐其上.
[44] T19n0930, tr. 0067b23: 無量壽如來觀行供養儀軌
[45] T19n0932, tr. 0075a16: 金剛頂經瑜伽觀自在王如來修行法 , 唐南天竺國三藏金剛智譯.
http://thuvienhoasen.org/a24010/tong...u-chan-ngon-hr
Muốn cúng cơm , cúng nước cho ngạ quỷ hay các vong hồn lang thang
1. sắp 1 mâm gồm có cháo loãng (càng loãng càng tốt). bỏng ngô, ngô luộc hay khoai luộc... tùy theo điều kiện của mình.
Để ra trước cửa (người ngòi cúng ngồi trong nhà).
Đại ý khấn niệm : Hôm nay con tên ... địa chỉ..... phát tâm cúng thí thực cho các ngạ quỷ.. cô hồn các đảng, sau khi thự hưởng xong những thức ăn này con mon gmuốn các ngạ quỷ. cô hồn sẽ hết đói khổ.....(cầm 3 nén hương chắo trước ngực mà khấn nguyện). sau đó cắm hương vào mâm. đặt mâm xuống đất cũng được.
Dọc chú biến thủy- chú biến thực- chú cúng dường mỗi chú 3 lần.(tay phải kết ân kiết tường) rùi búng vào mâm thức ăn.
Sau đó bạn có thê rngồi đọc tụng các chú như đại bi- lục tự đại minh... rùi hồi hướng công đức cho các ngạ quỷ- cô hồn.
Có thể 1 tháng cúng 1 lần cũng được. cúng lâu ngày mọi việc xung quanh nhà sẽ ổn, bạn đi đâu cũng không bao giờ sợ ma quỷ vì họ nhớ ơn của bạn.
Đây là nhưng điều căn bản sơ qua bạn có thể tham khảo tài liệu có nhiều ổng diễn đàn này.
http://phuclacan.com/wp-content/uplo...9/than-chu.png
Thần Chú Giải Thoát nhờ sự Xúc Chạm
( http://phuclacan.com/y-nghia-cau-chu-om-mani-padme-hum/ )
QUANG MINH CHƠN NGÔN
Tỳ Lô Giá Na Phật Đại Quán Đỉnh Quang Chân Ngôn xưng đầy đủ là Bất Không Quyến Sách Tỳ Lô Giá Na Phật Đại Quán Đỉnh Quang Chân Ngôn, Tỳ Lô Giá Na Phật Đại Quán Đỉnh Quang Chân Ngôn, Tỳ Lô Giá Na Đỉnh Quang Diệt Ác Thú Chân Ngôn. Lại xưng là Tỳ Lô Giá Na Phật Quán Đỉnh Quang Chân Ngôn, Tỳ Lô Quán Đỉnh Quang Chân Ngôn, Bất Không Đại Quán Đỉnh Quang Chân Ngôn, Đại Quang Minh Chú, Quang Chú….thường xưng gọi là Quang Minh Chân Ngôn, tức chỉ Chân Ngôn của Đại Nhật Như Lai (Vairocana-tathāgata), Tổng Chú của tất cả chư Phật Bồ Tát Trong Đại Chính Tạng có ba bản ghi nhận Chân Ngôn này là:
THAY LỜI TỰA
1_Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Ngôn Kinh, quyển 28, Phẩm Quán Đỉnh Chân Ngôn Thành Tựu
2_Bất Không Quyến Sách Tỳ Lô Giá Na Phật Đại Quán Đỉnh Quang Chân Ngôn
3_Tỳ Lô Giá Na Phật Thuyết Kim Cương Đỉnh Kinh Quang Minh Chân Ngôn Nghi Quỹ
_Trong bản Hán dịch Tỳ Lô Giá Na Phật Thuyết Kim Cương Đỉnh Kinh Quang Minh Chân Ngôn Nghi Quỹ nói rõ bốn lý do mà bài Chú này có tên gọi là Quang Minh Chân ngôn
1_Thần Chú này là mẹ của trăm ức vô số chư Phật, mẹ của vạn ức vô số Bồ Tát Thánh Chúng. Đây là Đại Thần Chú, đây là Đại Minh Chú, đây là Vô Thượng Chú, đây là Vô Đẳng Đẳng Chú… y theo đây gọi là Quang Minh Chân Ngôn.
2_ Đây là bài Chú mà Đức Thích Ca Như Lai luôn thường cung kính, xưa kia khi tu Hạnh Tiên Nhân nhẫn nhục thường tụng Chân Ngôn Chú này thời từ đỉnh đầu hiện ra trăm ngàn ánh sáng chiếu sáng ba ngàn Thế Giới, thành Chính Giác… cho nên gọi là Quang Minh Chân Ngôn
3_ Năm Trí Như Lai hiện thân Phi Ngã. Khi đấu tranh với Đại Ma thời hiện thân Phi Ngã, từ đỉnh đầu đều phóng trăm ngàn Hỏa Diệu thiêu đốt, diệt quân loại của Ma Vương, kèm theo khi thiêu đốt diệt cung Ma Vương thời chúng Ma Vương dẫn kéo đồng loại đều bị tồi diệt. Vì Như Lai giúp cho thành các Luận, khi hiểu rõ thời liền y theo ánh sáng của trăm ngàn Hỏa Diệu. Trong ba ngàn Đại Thiên Thế Giới, đường ác, nơi đen tối, Địa ngục, tất cả nơi khổ não của nẻo ác được ánh sáng của trăm ngàn Hỏa Diệu này chiếu soi đều thành nơi rất sáng tỏ. Y theo sức của ánh sáng nên nhóm Địa Ngục, Quỷ đói, súc sinh thảy đều giải thoát nẻo ác, mau thành Chính Giác, cho nên gọi là Quang Minh Chân Ngôn
4_ Muốn khiến cho cha mẹ sinh về Tịnh Thổ Cực Lạc thì hướng về phương Tây tụng một ngàn biến ắt quyết định sinh về Tịnh Thổ Cực Lạc. Chính vì thế cho nên nơi lập mộ phần, dùng Chân Ngôn viết, giao cho chữ Phạn của Vô Lượng Thọ, an trí ở mộ phần của cha mẹ, thì vong linh ấy tuy trải qua vô lượng vô biên chẳng thể nghĩ bàn a tăng kỳ kiếp, chẳng bị đọa vào đường ác, ắt sinh về Tịnh Thổ Cực Lạc, trên tòa báu trong hoa sen. Khi thành Phật thời tam tinh phóng ra ánh sáng trắng, cho nên gọi là Quang Minh Chân Ngôn.
_Y theo sự giải thích của Nhật Bản Chân Ngôn Tăng Đạo Phạm Thượng Nhân thì Quang Minh Chân Ngôn có 4 lớp là: thiển lược (giản lược nông cạn), thâm bí (kín đáo sâu xa), bí trung thâm bí (kín đáo sâu xa trong sự kín đáo), bí bí trung thâm bí (kín đáo sâu xa trong mỗi một sự kín đáo bí mật)
1_Thiển lược: Quang Minh Chân Ngôn là Tâm Trung Bí Mật Chú của Đại Nhật Như Lai (Vairocana-tathāgata), A Di Đà Như Lai (Amitābha-tathāgata) cho nên tụng Chú này sẽ diệt tội sinh về Cực Lạc (Sukha-vatī), hiện đời được vô lượng Công
Đức thù thắng
2_Thâm bí: Mỗi một chữ của Chân Ngôn này đều là một Tâm của chúng sinh vốn đầy đủ Thể Tính của vạn Đức
3_Bí trung thâm bí: Chân Ngôn này là Tổng Chân Ngôn của Ngũ Trí Như Lai, viên mãn bốn loại Mạn Trà La (Maṇḍala)
4_Bí bí trung thâm bí: Chân Ngôn này là nguồn cội của Pháp Giới sáu Đại, sự huyền diệu cùng tột (huyền cực) của Pháp Giới, vạn Pháp đều nhiếp vào 32 chữ tức là vạn Pháp không có gì chẳng thuận theo 32 chữ này mà hiện ra, không có gì chẳng quy
trở về 32 chữ vậy (Nguyên Lộc năm thứ hai, Cao Dã Sơn Tịch Bản “Quang Minh Chân Ngôn Tứ Trùng Thích Tư Chuyết” một quyển)
_Theo Mật Giáo Sử thì tụng trì Quang Minh Chân Ngôn dùng để diệt tội, trừ bệnh, tu Bí Pháp của nhóm Tức Tai.... Pháp này dùng sự diệt tội làm chủ, lại xưng là Quang Minh Cúng, Quang Minh Chân Ngôn Pháp. Ngoài ra còn có một loại Pháp gia trì vào đất cát (sa thổ gia trì Pháp) cũng dùng sự tu trì Pháp này làm chủ
Lại y theo Tạng Bản của chùa Nhân Hòa tại Nhật Bản thì Quang Minh Chân Ngôn có đủ ba việc thù thắng, hai việc khó được .)Ba việc thù thắng là:
1_Tất cả các tội nặng mười ác, năm nghịch, bốn nặng trong quá khứ. Khi nghe Đại quán Đỉnh Quang Chân Ngôn một, ba, bảy lần thông qua lỗ tai thì tất cả tội ấy liền được trừ diệt
2_Đã gây tạo đủ các tội nhiều như số bụi nhỏ tràn đầy Thế Giới này, khi thân hoại mạng hết thì bị rơi vào trong đường ác. Nếu gia trì vào đất cát 108 biến, rải lên thi hài hoặc trên mộ của người đã chết. Hoặc vong linh ấy ở trong nẻo Địa Ngục, Quỷ đói, Tu La, bàng sinh... do uy lực thần thông của Bản Nguyện liền được ánh sáng chiếu chạm vào thân, trừ các tội báo, hóa sinh trong hoa sen cho đến Bồ Đề chẳng bị đọa lạc
3_Ở trong đời này bị bệnh tật nhiều năm nhiều tháng, gân thịt mềm nhũn không có hơi ức, da vàng vọt… chịu vạn điều khổ sở. Mỗi ngày ở trước mặt người bệnh: tụng Chân Ngôn này 1080 biến liền tiêu diệt được các nẻo khổ não .)
Hai việc khó được là:
1_Sự to lớn, đủ đại uy lực, vua trong các Chú, sự cùng tột của Kim Cương trong bản Chân Ngôn ít chữ (23 chữ)
2_Mau chứng địa vị Tam Muội Gia Đại Quán Đỉnh
_Công Đức, lợi ích tổng quát của Quang Minh Chân Ngôn:
1_Quang Minh Chân Ngôn là một Đà La Ni của Mật Giáo, là Chân Ngôn của Đại Nhật Như Lai, được tôn xưng là Tổng Chú của tất cả chư Phật Bồ Tát
2_Quang Minh Chân Ngôn thường được dùng cho các trường hợp: cầu vãng sinh, chôn cất người chết, xây mộ, cúng thí cho Quỷ đói… cũng hay trừ diệt bệnh chướng, quỷ quấy phá, bệnh đau mắt, trùng độc gây hại trong đời hiện tại
3_Nếu có chúng sinh tùy theo nơi chốn, được nghe Đại Quán Đỉnh Quang Chân Ngôn này thì tất cả các tội mười ác, năm nghịch, bốn nặng trong quá khứ được trừ diệt hết
4_Y theo Nghi Quỹ của Pháp này để tu Mật Pháp thì gọi là Quang Minh Chân Ngôn Pháp. Pháp này chủ về diệt tội, trừ bệnh, ngưng dứt tai nạn… đều là Pháp tu để diệt tội
5_Nếu có chúng sinh gây tạo đủ các tội: mười Ác, năm Nghịch, bốn nặng… giống như bụi nhỏ tràn đầy Thế Giới này. Khi thân hoại mệnh chung bị đọa vào các nẻo ác. Dùng Chân Ngôn đó gia trì vào đất, cát 108 biến rồi rải cho vong linh trong rừng Thi Đà (Śiṭavana), trên thi hài, hoặc rải trên mộ… gặp chỗ nào đều rải lên trên. Người đã chết ấy, nếu ở trong Địa Ngục, hoặc trong loài Quỷ đói, hoặc trong nẻo Tu La, hoặc mang thân Bàng sinh… dùng uy lực Thần Thông của Nhất Thiết Bất Không Như Lai Tỳ Lô Giá Na Như Lai Chân Thật Bản Nguyện Đại Quán Đỉnh Quang Chân Ngôn gia trì ức mạnh vào đất, cát … ngay lúc đó liền được ánh sáng chiếu vào thân ẽ trừ được các tội báo, buông bỏ thân đang chịu khổ, vãng sinh về quốc thổ Cực Lạc ở phương Tây, hoá sinh trong hoa sen cho đến Bồ Đề chẳng bị đọa lạc.
6_ Nếu tụng Chân Ngôn này một biến ắt tương đương với Công Đức đọc tụng trăm ức vô lượng Đà La Ni của các Kinh Điển Đại Thừa
_Tỳ Lô Cúng Dường Thứ Đệ Kệ:
“Nếu không thế lực rộng tăng ích
Trụ Pháp chỉ quán Tâm Bồ Đề
Phật nói trong đây đủ vạn Hạnh
Đầy đủ Pháp trong sạch thuần tịnh”
_Xưa nay Phật Giáo Việt Nam thường tụng bài Chú này nhằm diệt trừ tất cả tội chướng, bệnh tật do nghiệp báo đời trước, hoặc trừ khử Thần Trùng Quỷ Mỵ gây nhiễu hại. Hoặc gia trì vào đất cát rải lên phần mộ của người đã chết, hoặc ghi chép Phạn Chú lên mền Quang Minh phủ trên thân thể của người mới chết nhằm giúp cho họ được nhanh chóng thoát khỏi sự đọa lạc trong các cõi ác và vãng sinh về cõi Cực Lạc
OṂ_ AMOGHA VAIROCANA MAHĀ-MUDRA MAṆI PADMA JVALA PRAVARTĀYA HŪṂ
_Nay do ự yêu cầu của các bạn đồng tu muốn tự mình hiểu rõ hơn về nghĩa thú của bài Quang Minh Chân Ngôn; nên tôi cố gắng ưu tầm các tài liệu và phiên dịch 3 bản Kinh có liên quan đến bài Quang Minh Chân Ngôn Điều không thể tránh khỏi là bản phiên dịch này vẫn còn nhiều thiếu sót. Ngưỡng mong các Bậc Cao Tăng Đại Đức, chư vị Thiện Tri Thức hãy rũ lòng Từ Bi chỉ dạy, giúp cho tôi kịp thời sửa chữa những lỗi lầm và hoàn thiện phần ghi chép này. Mọi Công Đức có được trong tập ghi chép này, con xin kính dâng lên hương linh của Thân Phụ (Nguyễn Vũ Nhan) và Thân Mẫu (Vũ Thị Ni) là hai bậc ân nhân đầu tiên của con.
Con xin kính dâng các Công Đức có được lên Thầy Thích Quảng Trí và Thầy Thích Pháp Quang là các bậc Thầy luôn theo dõi, hỗ trợ và thúc đẩy con nghiên cứu Phật Pháp cho chính đúng.
Tôi xin cám ơn em Mật Trí (Tống Phước Khải) đã nhiệt tình vẽ các Mạn Đà La của Quang Minh Chân Ngôn theo thư pháp Siddhaṃ và Lantsa… hỗ trợ cho việc hoàn tất bản ghi chép này.
Tôi xin chân thành cám ơn người bạn đường Ngọc Hiếu (Vũ Thị Thanh Hà) đã cam chịu mọi sự khó khăn trong cuộc sống để giúp tôi an tâm trên con đường tìm hiểu Chính Pháp Giải Thoát của Đấng Phật Đà. Cuối cùng nguyện xin hồi hướng Công Đức này đến toàn thể chúng hữu tình trong ba cõi sáu đường đều mau chóng xa lìa mọi ách nạn khổ đau, thường được an vui, thọ hưởng Pháp Vị Giải Thoát của Đấng Phật Đà.
Download hình Mền Quang Minh về, sau đó mang đi in trên vải trắng tại các tiệm in màu khổ lớn. Có thể xếp mền để sẵn trên bàn thờ và dùng để đắp cho người quá vãng khi cần. Các thần chú trên mền gồm:
1) Quang Minh Chân Ngôn
2) A Di Đà Pháp Đàn
3) Đại Tùy Cầu Đà La Ni
HỘ THÂN CHÚ LUÂN - LỤC ĐẠO KIM CƯƠNG
http://phatgiaovnn.com/upload1/modul...ewst&sid=12915
Có lòng tham lam, bủn xỉn sẽ tự thiêu đốt bản thân, gào thét đau đớn biến thành ngạ quỷ (Quỷ đói). Nếu may mắn được Quan Âm đại sĩ từ bi cứu khổ sẽ thoát được kiếp nạn này.
http://media.edaily.vn/files/khampha...ia-nguc-22.jpg
http://thaicucthieugia.com/index.php...-ngc?showall=1
=============
ĐỊA NGỤC QUỶ ĐÓI
"một niệm tâm sân khởi,trăm vạn cửa chướng khai."người đọa vào ngục này đều do xan tham bỏn xẻn,ko chịu bố thí.xem các ngạ quỷ chúng sanh phải chịu khổ đói khát,lửa dữ thiêu thân,chịu nhiều khổ não,nước mắt như mưa,gào khóc thê thảm,than thở bi ai,chịu khổ đắng cay như bức tranh miêu tả.bồ tát Quán Thế Âm thương xót mang thức ăn đến cứu tế,trong khoảnh khắc này nếu kẻ nào biết ăn năn sám hối,liền được thoát ly đường ngạ quỷ..
Phù trợ người lâm chung - Page 169 - Google Books Result
https://books.google.com.vn/books?id=dw53eHLRFCAC - Translate this page
... thí dụ từ giới của bạch y (cư sĩ) bước qua giới của người xuất gia, hay là từ ... b) Bồ Tát giới và Mật giới thuộc về Đại thừa, giúp hành giả đạt đến giải thoát tối ...
https://books.google.com.vn/books?id...%C4%A9&f=false
26. Triều nhà Minh, Từ Tú Tài tự Thái Xanh là một người tài cao đức hạnh vẹn toàn, vì vậy mà từ thành thị đến thôn quê, ai cũng kính trọng Ông. Con lớn của Từ tiên sinh tên Khôn, đứa con nhỏ tên Phật Xá tự Thành Dân, tuổi vừa hai mươi mà đã là người xuất chúng, rất thông minh, lại trung trực chí hiếu. Tuy còn trẻ nhưng Thành Dân đã phát tâm thâm tín Phật pháp, trì trai niệm Phật tụng kinh, lòng từ bi có thể nói cảm đến muôn loài, cho đến đối với loài thảo mộc, côn trùng cũng không nhẫn tâm làm thương tổn. Vào đêm 12 tháng 6 năm Quý Dậu, Thành Dân được một vị Thiên Vương ở cung trời Đao Lợi mời đến. Khi Thành Dân vừa đến bảo điện Thiên vương thì Ngọc Hoàng tức khắc niềm nở nghinh tiếp. Sau khi an tọa, Thiên vương cho biết, vì công việc ở đệ ngũ điện trong Minh phủ quá nhiều, Trẩm xin cung thỉnh Ngài đến đó làm việc trong một trăm ngày. Từ ấy về sau, mỗi đêm, Thành Dân khi thì du hành các nơi dưới Minh phủ, khi thì làm việc tại bổn điện. Nhân vì mục kích những thảm cảnh trong chốn u minh mà nghĩ đến chúng sanh trong chốn dương gian đang tạo ác nghiệp, lòng Ngài càng đau đớn, muốn đem Phật lý khai hóa nhưng chẳng biết làm sao vì âm dương cách trở. Ngài nghĩ: bây giờ chỉ có cách là vận sức thần thông, hiện thân ở những nơi đó, tùy cơ thuyết pháp cho mọi người nghe để sanh tâm sợ hãi, bỏ dữ theo lành, quy hướng về Tam bảo. Thành Dân thực thi theo ý định nên mọi người đua nhau đến xem nghe, không chổ chen chân. Trong thời gian Thành Dân hiện thân thuyết pháp, Ngài diễn tả cảnh trong chốn Minh đồ vô cùng thê thảm, hình phạt của các tội nhân trong các địa ngục, nào là bị gông cùm xiềng xích, kéo lưỡi trâu cày, nấu tội nhân trong vạc dầu sôi, xay, giã, cưa xẻ, leo núi đao, rừng kiếm, ôm cột đồng sôi, nằm giường sắt nóng, v.v... ai nghe thấy cũng phải rùng mình, nhắm mắt, khi nghe tiếng gào thét của tội nhân thì phải bịt tay lại không dám nghe. Những cảnh tượng ấy, có người thì dùng miệng để kể lại, có người thì dùng bút ghi chép lại những gì Thành Dân thuật lại thành một pho sách mô tả địa ngục, được chia ra làm mười tám cảnh, hình phạt phân ra đến muôn ức thứ. Chư Bồ Tát, chư Phật không lúc nào không hiện thân vào địa ngục để cứu khổ cho chúng sanh. Tuy nhiên những tội nhân không có thiện căn từ đời trước thì dù chư Phật phóng quang minh cũng không cứu giúp họ được, dầu cho có đứng trước mặt thuyết pháp khai thị, các tội nhân đó vẫn hồn mê bất tỉnh, duy chỉ có ngày 15 tháng 7 là ngày chư Phật hoan hỉ khắp trong trời đất, nơi nào cũng có Lễ sám, lập chay đàn thí thực, nên trong ngày này đích thân Quán Thế Âm Bồ Tát thống lĩnh tất cả tội nhân đi đến đạo tràng để thọ tài thí. (Trích Ngoạt Diêm La Minh Phán Nhứt).
http://www.diendan.daitangkinhvietna...11552&start=36
70. Nghi nhơn của Tỷ Bộ Viên ngoại cũng là Quan Đẩu Thất Soái ở xã Phụng Tân Bắc, tỉnh Giang Tây, là một nữ Phật tử thâm tín Tam bảo từ lúc nhỏ. Trong Dinh Bà thường thờ cúng Quán Thế Âm Bồ Tát rất trang nghiêm, thanh tịnh. Ngày ngày Nghi Nhơn đều lễ bái cúng dường và tụng kinh Phổ Môn. Lúc tuổi trên lục tuần, Bà bị bệnh chết, gia nhân thấy ngực còn ấm nên không nở tẩn liệm. Ba ngày sau thì Bà sống dậy và thuật lại câu chuyện sau: Khi vừa đến Minh phủ thì thấy Quán Âm Đại Sĩ đối trước Diêm Vương Bồ tát mà nói rằng: “Nhà vua không biết hay sao, phu nhân đây ở dương thế tụng kinh của Quán Âm Đại Sĩ rất chí thành, lại còn làm việc công đức là ấn tống kinh Phật rất nhiều. Nhà vua nên phóng thích người này về lại dương thế và thêm tuổi thọ nửa kỷ để Bà ấy tu trì cho công đức được viên mãn.” Diêm Vương tức thì rời chổ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Bồ tát, đoạn chấp tay thưa rằng: “Con xin vâng theo lời chỉ dạy”, nói rồi truyền lệnh cho người dẫn Nghi Nhơn trở lại hồi dương. Lúc mới đến Minh Phủ, Nghi Nhơn đã mục kích thấy nam lẫn nữ chịu thống khổ vì hình phạt rất nhiều, không thể nào nhớ hết được, chỉ lược lại một số cảnh như:
(1) Bầy chim xúm mổ mắt tội nhân, máu chảy linh láng, ướt khắp thân thể. Nghi Nhơn hỏi vị Minh Quan về tội nhân này thì được biết người này lúc sanh tiền làm hại sinh mạng loài phi cầm nên sau khi bỏ thân thì vào chốn này chịu khổ báo ấy.
(2) Vỏ ốc đổ đống như núi trong khi đó bọn quỷ xúm nhau róc thịt người để bỏ vào vỏ ốc. Nghi Nhơn lại hỏi thì Minh Quan cho biết người này lúc sanh tiền mua ốc mà ăn nên lúc bỏ báo thân thì đến đây thọ khổ báo.
Những sự việc trên là do nội tư của Lãnh Thị được nghe Nghi Nhơn thuật lại. Tỷ Bộ Viên Ngoại kiêm Quan Đẩu Thất Soái cùng với mẫu thân của Lãnh Thị đồng ở gần xóm, lại là họ hàng thân thích vì thế Lãnh Thị biết việc ấy rõ ràng. (Trích Ngô Lục Học ở Phiên Dương Kính Phật).
http://www.diendan.daitangkinhvietna...11552&start=24
86. Triều đại nhà Tống ở tại Hà Dương có một vị quan tên là Thế Hanh, Ông cũng là một Phật tử thuần thành, ngày ngày đều chí thành lễ bái Quán Thế Âm Bồ tát và cung kính niệm Thánh hiệu Đại Sĩ. Niên hiệu Khánh Nguyên vào năm đầu, Ông phát nguyện tự tay mình sẽ sao chép kinh Phổ Môn hai trăm quyển để bố thí cho mọi người trì tụng. Sau khi phát nguyện xong, Ông trai giới thanh tịnh, thành kính viết chép vừa được hai mươi quyển thì bỗng đâu có một đám quạ vài mươi con đậu trên nóc nhà kêu la thảm thiết. Thế Hanh nghe tiếng quạ kêu thì đứng lên đuổi chúng đi nhưng chúng không chịu bay. Ông bèn đến trước Đại Sĩ lễ bái cầu nguyện và khi bước ra sân để đuổi chúng đi lần nữa thì lần này Ông nhìn thấy có một con quạ bị trúng tên chảy máu, những con xung quanh đang vì con quạ bị thương, cố gắng nhổ tên ra mà không được, do vậy mà chúng kêu la buồn thảm. Thế Hanh bấy giờ vội xưng niệm " Nam mô Bảo Thắng Như Lai, Nam Mô Cứu khổ Cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát ", rồi dùng cây bút mình đang chép kinh chỉ thẳng về phía con quạ, bỗng dưng mũi tên kia liền rớt khỏi thân quạ, con quạ kia liền được bình phục. Bầy quạ vui mừng, tất cả đều bay lên trời. Thế Hạnh đến trước bảo tọa để đảnh lễ Đại Sĩ thì mũi tên từ mình quạ rơi xuống sân lúc nãy đã ở bên cạnh nơi thờ Phật. Sự linh nghiệm này thật không thể nghĩ bàn. (Trích Chuyển Nhơn lục).
http://www.diendan.daitangkinhvietna...abaa6&start=12
57. Phía trước ngọn núi xã Tây Hương, huyện Hựu Nguyên tỉnh An Huy có một gia đình cư ngụ, chủ nhân tên là Hồng Trạch. Mẫu thân của Hồng Trạch là Đặng Thị, bình nhật thờ Quán Âm Đại Sĩ trong nhà và thường lễ niệm rất thành kính. Đặng Thị lại phát nguyện mỗi năm tự pha chế một thứ thuốc gọi là cứu khổ thần cao để bố thí cho dân nghèo bị tật bệnh khắp mọi nơi. Niên hiệu Đạo Quang năm thứ 17, vào lúc tháng sáu, cháu họ của Hồng Trạch mới sáu tuổi mắc chứng bệnh đậu mùa, khắp người đều đầy những nốt đậu đen bầm, mắt bên tả bị mù hẳn do tác hại của bệnh. Mẫu thân của đứa bé ấy vào ban đêm nằm mộng thấy một bà lão bước vào nhà bảo rằng: “Chứng bệnh đậu mùa này không phải thế nhơn có thể trị được, người nên thành kính cầu nguyện lễ bái Đức Quán Âm Bồ Tát để xin Ngài cứu độ cho.” Mẹ đứa bé liền hỏi phải đi đến nơi nào để cúng dường lễ bái thì bà lão đáp rằng: “Đặng Thị là người có tâm chí thành, đã ba năm nay lễ bái Đức Quan Âm và đã được Đại Sĩ cảm ứng. Tại sao ngươi không đến nhà Đặng Thị xin cứu khổ thần cao?” Người mẹ của đứa trẻ đến sáng thì liền đi đến nhà Hồng Trạch để lễ bái cầu nguyện. Trong khi ấy, ở nhà có một Thầy thuốc từ đâu đến, tự xưng tên Hứa Nguyên và nói rằng mình có thể chữa bệnh này được. Ông ta dùng đèn lửa áp vào con mắt bị mù của đứa bé để trị bệnh thì tròng mắt đứa bé đột nhiên bị lòi ra, dính tòn ten với các sợi gân và mạch máu.
Nhìn thấy vậy cả nhà đều kinh hãi, tên thầy thuốc hoảng kinh hồn vía bỏ trốn mất. Mẹ đứa bé khi về đến nhà nhìn thấy con mình như thế thì bay hồn bạt vía, tức tốc trở lại nhà Hồng Trạch, đến trước Thánh tượng Đại sĩ chí thành lễ bái cầu xin. Đêm hôm ấy, Mẹ đứa bé mộng thấy Bà lão hôm trước đến bảo: “Người phải trì niệm Tâm kinh đủ hai ngàn biến trong vòng hai ngày và phải tụng cho đủ số.” Nhưng người Mẹ này trước giờ chưa biết tụng kinh nên bà Đặng Thị nghe nói bèn phát nguyện thay Mẹ đứa bé trì niệm Tâm kinh trong suốt hai ngày cho đủ số hai ngàn biến, lại dùng thuốc cao sẳn có của mình để dán vào đôi mắt mù của đứa trẻ. Tròng mắt phía tả của đứa bé dần dần thục vào, và mắt mù trở lại sáng như thường. Ngày hôm sau, chứng bệnh đậu mùa của đứa bé cũng được hoàn toàn khỏi hẳn. (Trích Hải Nam Nhứt Chước).
PHỤ LỤC: Nếu người nào trong lúc bệnh khổ quá nguy kịch mà không thể nhẩn thọ được thì ngoài việc chuyên tâm niệm Phật, phát nguyện hồi hướng vãng sanh, nên chí thành khẩn thiết xưng niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát. Đức Quán Thế Âm hiện thân khắp vi trần sát độ trong mười phương, Ngài hằng tầm thinh cứu khổ, cứu nạn. Vì thế những ai trong lúc bị khổ nạn cấp bách, nếu chí thành trì niệm danh hiệu và lễ bái đều được cảm ứng và được Ngài thùy từ gia hộ. (Trích Ấn Quang Pháp sư phúc đáp Thơ của Phật tử Đặng Bá Thành).
http://www.diendan.daitangkinhvietna...abaa6&start=12
52. Triều nhà Thanh có quan Thái thú là Đổ Tiến Viên, người ở huyện Tiền đường, tỉnh Chiết Giang là người rất tin tưởng Phật pháp. Vào mùa Thu năm Tân Tỵ, Ông bị bệnh nguy kịch, dù chạy chữa đủ thầy, đủ thuốc cũng không hiệu quả. Đổ Thái thú tự nghĩ: nếu là bệnh xuất phát từ thân thể thì cần phải uống thuốc nhưng uống thuốc lại không có hiệu quả thì đây không phải là thân bệnh, như vậy chắc phải là bệnh nghiệp, mà đã là bệnh nghiệp thì không thể dùng thuốc bình thường để trị mà phải là thuốc công đức mới trị được lành bệnh. Sau khi nghĩ như vậy thì Ông tự phát thệ, lấy việc giúp người lợi vật làm phương pháp sám hối tiêu trừ nghiệp chướng. Không phát nguyện suông, Đổ Thái thú dốc toàn tâm lực thực hành rất tinh tấn. Một đêm nọ, Ông nằm mộng thấy Đức Quán Tự tại Bồ Tát bảo rằng: “Kiếp trước, Ông làm quan ở nước Sở, đối với việc xử lý thì Ông quá nghiêm khắc đến mức không còn lòng nhân ái, dù không cố tình nhưng đã giết hại nhiều sinh mạng khiến Ông bị giảm nhiều lộc vị ở kiếp trước rồi, mà hiện đời này chẳng những bị bệnh tật nguy hiểm mà lại còn phải bị quả báo đoản mạng. Rất may là trong lúc bị bệnh, Ông không có một mảy may oán trách Phật trời, Thánh thần, lại còn phát thệ nguyện kiên cố, lấy việc giúp người lợi vật làm bản hoài. Do phước ấy nên minh phủ lấy phước đức của Ông mà trừ giảm tất cả tội ác, nhờ vậy mà ông được tăng thêm tuổi thọ và thêm phước lộc, từ nay Ông nên cố gắng tinh tấn thực hành những điều đã phát thệ thì sẽ được nhiều phước huệ.” Sau khi thức dậy, Đổ Thái thú vô cùng vui mừng liền gọi tất cả gia nhân, vợ con đến khuyên dạy, từ đây phải cố gắng trường trai, không sát sanh, mua vật phóng sanh và phát tâm tín hướng Tam bảo, siêng năng tu trì. Qua đến mùa Xuân năm sau thì bệnh tình của Ông được lành hẳn. (Trích Phóng Sanh Lục Thủ Hậu).
http://www.diendan.daitangkinhvietna...abaa6&start=12
53. Triều nhà Thanh có Phật tử Đặng Thừa Chiếu, hiệu Thần Phong, người ở Phiên Ngung, tỉnh Quảng châu, phát tâm quy y Tam bảo, thọ Ngũ giới từ lúc nhỏ. Niên hiệu Khang Hy nhà Thanh, vào tháng 5 năm Mậu Thân, người trưởng túc của Ông là Huỳnh Thị, nơi cổ bỗng nhiên bị mọc mục ghẻ, bệnh hành hạ khốn khổ không sao nói được. Hơn tuần lễ sau, Ông gặp Hoàng Tân Hòa thượng trên đường đi ngang qua nhà, Thừa Chiếu vội vàng chạy ra xin Ngài dừng bước. Thừa Chiếu bước đến lễ bái vấn an Hoà Thượng, đoạn đem bịnh trạng nguy ngập của Huỳnh Thị bạch lên Hòa thượng và xin Ngài chỉ dạy phương pháp cứu chữa cho bệnh nhân. Sau khi nghe Thừa Chiếu tác bạch, Hòa Thượng Hoàng Tân từ bi khuyên dạy: “Lão Tăng này cũng chưa có cách gì để cứu chữa, nhưng ngươi nên biết Quán Âm Đại Sĩ oai thần bất khả tư nghì, Ngài thường đem pháp vô úy, bố thí cho chúng sanh. Nếu ai thành kính tin tưởng nơi Ngài và hết lòng cầu khẩn xin cứu giúp thì chắc chắn sẽ được cảm ứng.” Dứt lời, Hòa thượng đem quyển Quán Âm Cứu sanh Thập cú Kinh trao cho Thừa Chiếu. Thừa Chiếu mang Kinh về để trên bàn, trước giường bệnh của người chị dâu và bảo Chị tự tụng. Vì bệnh nhân không còn khả năng đứng lên được nữa, nên không thể đến trước bàn Phật, chỉ có thể ngồi trên giường bệnh xem Kinh mà tụng, tuy vậy Bà rất thành tâm tụng Kinh. Vào lúc ban đêm khi Bà tụng, thì những chữ trong Kinh dường như lớn gấp bội, giúp Bà có thể nhìn thấy dễ dàng. Qua ngày kế tiếp thì Bà thấy thân thể nhẹ nhàng, tinh thần tỉnh táo, Bà thành tâm tiếp tục trì tụng đến ngày thứ ba thì đến lúc nửa đêm, mục ghẻ trên cổ tự nhiên bể miệng, máu mủ lan tràn khắp cả người, sau đó Bà cảm thấy người nhẹ nhàng, khỏe khoắn. Quá vui mừng, Bà bật kêu lớn “Bệnh của Tôi đã khỏi rồi”. Mọi người kéo đến hỏi thăm, Bà xin người nhà cho nước súc miệng thật sạch rồi đến trước tượng Đại sĩ, chí thành lễ bái, cảm tạ ân đức Từ bi vô lượng của Ngài. Cả nhà chứng kiến sự nhiệm màu này nên đều vui mừng khôn xiết, bà con láng giềng cũng như tất cả những người xa gần nghe thấy việc ấy đều khen ngợi việc này và tán thán Từ lực vô cùng màu nhiệm của đức Quan Âm Đại sĩ. (Trích Quán Âm Từ Lâm tập
http://www.diendan.daitangkinhvietna...abaa6&start=12
===========
16. Diên Mạng Quán Âm: là Quán Thế Âm Bồ tát bảo hộ thọ mạng chúng sanh. Phẩm Phổ Môn chép: “nguyền rủa các thuốc độc, muốn hại đến thân đó, do sức niệm Quán Âm, trở hại nơi bổn nhơn”. Có thể tiêu trừ chú thuật nguyền rủa và độc dược thêm tuổi thọ, cho nên gọi là Diên Mạng Quán Âm. Ngài đội bảo quan, mặc Thiên y, anh lạc trang nghiêm, 20 cánh tay để dìu dắt và cứu hộ chúng sanh.
23. Lưu Ly Quán Âm: Tương truyền vào thời Bắc Ngụy, Tôn Kính Đức trấn giữ biên cương, ông tạo tượng Quán Thế Âm Bồ tát để tôn thờ. Sau bị Di Địch bắt xử cực hình. Ông nằm mộng thấy thầy Sa Môn dạy phải trì tụng một ngàn biến kinh “Diên Mạng Thập Cú Quán Âm”, lúc tử hình ông ba lần chém nhưng không chút thương tích, nên ông được tha chết. Vì phụng thờ lễ bái Quán Thế Âm Bồ tát mà đầu ông còn hiện ba vết sẹo. Hình tượng Ngài cầm bình lưu ly xanh, đứng trên cánh hoa sen du hóa trên mặt nước.
https://vi-vn.facebook.com/notes/min...2746282076871/
49. Trong Lời tựa của Bộ Nam Hải Từ Thuyền, Phật tử Tự Cảnh Hiền tự thuật lại câu chuyện như sau: “Hiền này trước kia đã cho rằng trong Phật giáo thường nói tụng kinh được phước là điều không có, chỉ là do những người trong Phật giáo đặt điều mà nói. Sau đó Tôi tỉnh ngộ và thấy mình hoàn toàn sai lầm khi nghĩ như vậy, nguyên nhân giúp Tôi giác ngộ là do câu chuyện sau: Tôi cưới vợ đã hơn tám năm nhưng vẫn không có con, cha mẹ vợ bảo vợ tôi phát nguyện ấn tống Kinh Quán Âm và trì trai Quán Âm thì sẽ thấy sự linh nghiệm. Vợ tôi vâng lời thực hành theo lời chỉ bảo thì sau đó nằm mộng thấy điềm lành và có thai. Lúc sắp sanh thì lại mộng thấy một bà lão mang trao cho đứa bé bảo đặt tên là Tích. Đến lúc sanh cháu bé vì thấy giấc mộng đã ứng nên vợ tôi đặt tên đứa bé là Tích. Mặc dù vậy, Tôi vẫn mỉa mai chê cười không tin, cho là sự huyễn hóa. Liên tiếp sau đó, trong nhà Tôi, mỗi khi ai bị tật bệnh tai nạn, gia đình đều thành tâm cầu đảo Đức Quan Âm thì đều được ứng nghiệm rõ ràng, nhưng Tôi vẫn ngoan cố, bán tín bán nghi cho là không có sự linh nghiệm. Đến năm Giáp Tuất thì đứa con thứ hai bị bệnh thổ tả, cho uống thuốc vào thì ói ra, nhìn đứa bé tứ chi rủ rượi, nằm thiêm thiếp trên giường khó bề qua khỏi, mẫu thân tôi vì quá thương cháu ngày đêm khóc than, chính tôi cũng không cầm được nước mắt và không biết cầu cứu nơi đâu. Lúc ấy Tôi mới đến trước Quán Âm Đại Sĩ, chí thành cầu đảo, thành tâm sám hối lỗi lầm đã báng bổ lòng tin của những người tin tưởng Đức Đại Sĩ trước kia. Tôi lại phát thệ nguyện biên tập Bộ Nam Hải Từ Thuyền để chừa bỏ lỗi xưa và thực hành tất cả các thiện sự. Vừa cầu nguyện xong thì chứng thổ tả của con tôi đột nhiên giảm sút, đứa trẻ bắt đầu đòi ăn. Có điều lạ là vợ tôi trước đó vì buồn lo do bệnh của con, bỏ ăn vài ngày nên sữa đã tắt, thế mà sau khi Tôi cầu nguyện và lập thệ thì tự nhiên sữa lại có trở lại thật nhiều. Chứng kiến sự linh nghiệm rõ ràng này, Cảnh Hiền này tự hận mình vì phước đức thiển bạc, bị vô minh che lấp nên không có tín tâm với Phật pháp, lại còn dám cả gan bắt chước bọn cuồng huệ si mê, sanh tâm chê bai, bài xích việc tụng kinh cầu phước trong Phật pháp cho đó là điều hư dối. Tội lỗi ấy nói không kể xiết nhưng than ôi! sự việc đã rồi, có hối hận cũng chẳng làm sao được nên nguyện dùng chút tâm thành này mà biên tập lại bộ Nam Hải Từ Thuyền này để khắp khuyến hóa mọi người, phát tâm hướng về đức Quán Âm Đại Sĩ để được nhiều phước lạc. Khi biên tập xong thì nguyện khắc bản in thành tập, thành kính ghi lại duyên khởi nói trên để những vị xem bộ sách này được rõ. (Trích Nam Hải Từ Thuyền).
https://vi-vn.facebook.com/notes/min...2746282076871/
50. Tại Kinh Sơn có người tên Vạn Văn Ngọc là Phật tử rất tin tưởng vào thần lực của Quan Thế Âm Bồ Tát, Ông tự thuật lại sự linh ứng của Đại Sĩ như sau: Tôi thành kính trì tụng Thần Chú Đại bi thần chú và tâm Kinh, sự linh nghiệm không sao nói hết được. Những khi gặp nguy hiểm thì hóa thành cát tường, lại có cả việc cải tử hồi sinh. Sự việc này chính tôi đã trải qua. Lúc thân sinh của tôi bị bệnh nặng, người nằm thiêm thiếp trên giường, thân thể lạnh buốt, tất cả hậu sự lo cho Cha, Tôi đều đã chuẩn bị sẳn sàng. Những giờ phút cuối cùng này khiến lòng tôi đau như cắt, nước mắt tuôn rơi như mưa, Tôi đến trước tượng Quán Âm Bồ Tát chí thành đảnh lễ, đoạn quì xuống thành kính tụng Đại bi thần chú. Vừa xong một biến thì Thân sinh của tôi hơi ấm dần trở lại, nói năng cử động trở lại như thường, sau đó thì đòi ăn uống và vài ngày sau thì được khỏe mạnh an ổn như thường. Quả đúng là “Phật từ quảng đại vô lượng vô biên” - câu tán thán ấy đúng như thật, không phải lời hư dối. (Trích Quán Âm Linh Cảm lục).
http://www.diendan.daitangkinhvietna...abaa6&start=12
35. Triều nhà Minh niên hiệu Sùng Trinh, năm Tân Tỵ, tại huyện Đương Đô, có một người từ tỉnh Sơn Đông đến, người này mắc bệnh bại liệt hai chân nên không có phương sinh kế, bèn phải dùng hai tay thay chân lết đi xin ăn trong chợ. Bất hạnh cho Ông, đa số người qua đường trông thấy Ông là người nghèo khổ, tàn tật nên đều khinh khi, xa lánh, ít người giúp đỡ mà nhiều người còn lại buôn lời nhục mạ, khiến Ông rất khổ tâm không thể chịu nổi. Có người thấy vậy mách bảo cho Ông biết: nghe nói ở Am Đường Kiều có một vị Tăng, pháp danh là Thủy Cốc rất giàu lòng thương người. Ông bèn tìm đến nơi đó để tỏ bày hoàn cảnh và nổi khổ nhục của mình. Nghe kể xong, Thầy Thủy Cốc ôn tồn khuyên bảo: “Nếu Ông phát tâm xuất gia thì có thể nương nhờ sức đại từ đại bi của Phật gia hộ, nhờ đó có thể có thí chủ phát tâm bố thí”. Người bệnh nghe xong thì vâng lời, thỉnh Thầy Thủy Cốc làm lễ tế độ cho mình và phát nguyện thọ trì trai giới. Từ ấy về sau, Ông nương nhờ nơi cửa Phật, ngày ngày an nhẫn đi khất thực dù bị người hạ nhục, và hoàn toàn không ăn mặn. Thầy Thủy Cốc thấy thế rất thương xót nên dạy Ông hàng ngày chuyên niệm Thánh hiệu của Quán Thế Âm và trì tụng chú Chuẩn Đề. Ông thọ trì hơn hai năm thì vào mùa thu năm ấy, vào lúc ban đêm, Ông nằm mộng thấy một lão bà gọi Ông đến bảo rằng: “Ngươi hãy mau đứng lên”. Ông trả lời: “Tôi là người bị bệnh bại liệt, làm sao đứng dậy được?”. Lúc ấy Ông thấy bà lão đến kéo hai chân Ông thẳng ra, thật lạ lùng là hai chân của Ông không còn bị co quắp như trước nữa. Sáng ngày sau thức dậy thì Ông thấy đôi chân mạnh hẳn lên, chứng bại liệt đã lành hẳn. Ông đi đứng đường hoàng mạnh mẽ, và tự đặt cho mình pháp hiệu là Bán Nhai. Từ ấy trở đi, có nhiều thí chủ phát tâm đến cúng dường và Ông tiếp tục con đường tu hành của mình đến ngày tạ thế. (Trích Đường Nghi Chi kỷ Cầu thơ).
http://www.diendan.daitangkinhvietna...95ca597104e9c4
NGHI THỨC CÚNG THÍ THỰC
(ÐƠN GIẢN)
Xướng:
Tựu vị -Lễ tứ bái -Bình thân -Quỳ
Tán hoặc tụng:
Cát tường hội khởi,
Cam lồ môn khai.
Cô hồn Phất tử giáng lâm lai,
Văn pháp phú hương trai.
Vĩnh thoát luân hồi,
U ám nhất thời khai.
Nam mô vân lai tập Bồ Tát (3lần)
Phổ đà lạc già thường nhập định,
Tùy duyên phú cảm mị bất châu
Tầm thanh cứu khổ độ quần mê
Thị tắc danh vi Quán tự tại.
Chủ Sám xướng:
Vận tâm bình đẳng, pháp lực vô biên; cung đối hàng lâm tiền, xưng dương báo hiệu.
Nam mô Ða Bảo Như lai, Quảng Bác Thân, Diệu sắc Tướng, Cam Lồ Vương như lai.
Nam mô bạt già phạt đế, khốc thanh trực thượng, hàng vân tiêu lộ, thiệu thiệu, La Hán sanh hoan, hôn trừ oán.
Ngạn, tô ninh tô ninh, dĩ vi nhiễu. Hộ ngạn, tật tri tất xã tả nẳng, duệ hê hê duệ hê hê, tát rị quan, một đà nẩm,de tóa ha.
Tả chức xướng:
Thu võ ngô đồng diệp lạc thời dạ thê thê. Triệu thỉnh chư âm linh cô hồn lai phú hội
Ngạn, thừa thử thừa thử, thượng liên đài.
Hộ ngạn, tất tri tất xã tả nẳng, duệ hê hê duệ hê hê, tát rị quan, một đà nẩm, de tóa ha.
Hữu chức xướng:
Kim dạ đạo tràng pháp diên khai, hội nhiên lai. Triệu thỉnh chư âm linh cô hồn lai phú hội.
Ngạn, tiêu lâu tiêu lâu, cổ giảo tất.
Hộ ngạn, tất tri tất xã tả nẳng, duệ hê hê duệ hê hê, tát rị quan, một đà nẩm, de tóa ha
Chủ lễ xướng:
Ngạn, bộ bộ đế rị, già rị đa rị, đát tha nga đa da. (3 lần)
Ðồng hòa:
Hương hoa thỉnh, hương hoa thỉnh.
Chủ lễ thỉnh:
Ư kim. . . . . . . . . . . . niên. . . . . . . . . . .nguyệt. . . . . . . .nhựt, nguyên quán Việt nam quốc. . . . . . . . . . . tỉnh. . . . . . . . . . . . . huyện. . . . . . . . . . xã. . . . . . . . . . . .thôn, hiện trú . . . . . . . . . . . . . .quốc. . . . . . . . . . tiểu bang. . . . . . . . . . .quận (hạt). Gia cư phụng Phật tu hương phúng kinh. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . đặc tiến thí thực cô hốn nhứt diên, nguyện cầu âm siêu dương thái sự.
Kim trai chủ. . . . . . . . . . . . . . . . . . . đồng gia nam nữ đại tiểu đẳng. Cẩn dĩ hương hoa đăng trà quả phẩm, phỉ lễ chi nghi, kiền trượng đạo tràng (nếu có thầy thì nói thuyền hòa) phổ triệu án tiền nhứt tâm phụng thỉnh:
Ốc Tiêu sơn hạ Diện nhiên Ðại sĩ, diệm khẩu Quỷ vương, tả Ngưu đầu, hửu Mã diện nhị vị Ðại tướng quân. Duy nguyện: thượng tuân Phật sắc, hạ mẫn phàm tình, thử (nhựt, dạ, vãng) kim thới, quang giáng đàn diên, chứng minh công đức.
Ðồng hòa:
Hương hoa thỉnh, hương hoa thỉnh
Duy na:
Nhứt tâm phụng thỉnh: Chúng sanh độ tận, phương chứng bồ đề, địa ngục vị không, thệ bất thành Phật. Ðại Thánh Ðại từ Bổn Tôn Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Duy nguyện: thượng tuân Phật sắc, hạ mẫn phàm tình, thử (nhựt, dạ, vãng) kim thời, quang giáng đàn tràng chứng minh công đức.
Ðồng hòa:
Hương hoa thỉnh, hương hoa thỉnh.
Duyệt chúng:
Nhứt tâm phụng thỉnh: Thượng, Trung, Hạ phân tam giới: thiên tào, địa phủ, nhân gian chư liệt vị Thánh Hiền.
Duy nguyện: bất vi bổn thệ, lân mẫn hửu tình, thử (nhựt, dạ, vãng) kim thời,quang giáng đạo tràng, chứng minh công đức, đăng lâm bảo tòa.
Ðồng tụng:
Ðăng bảo tọa Bồ tát Ma Ha Tát (3lần).
Tán:
Dĩ thử chơn ngôn thân triệu thỉnh,
Cô hồn bất muội diệu văn tri.
Trượng thừa Tam Bảo lực gia trì,
Thử (nhựt, dạ. . .) kim thời lai phú hội.
Cô hốn văn triệu, văn triệu, thỉnh lai lâm (trùng vỉ)
Ðồng hòa:
Hương vân thỉnh, hương vân thỉnh.
Chủ sám thỉnh:
Nhất tâm phụng thỉnh: Kim ô tợ tiển, ngọc thố như thoan, tưởng cốt nhục dĩ phân ly, đỗ âm dung nhi hà tại. Sơ nhiệt danh hương, sơ thân triệu thỉnh. Phụng vị: . . .nhất vị chánh hồn.
Duy nguyện: Thừa tam bảo lực, trượng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm pháp hội.
Ðồng hòa:
Lai thọ vô giá cam lồ pháp vị. (2 lần)
Tả chức thỉnh:
Nhất tâm triệu thỉnh: Viễn quán sơn hữu sắc, cận thính thủy vô thanh; xuân khứ hoa hoàn ngự, nhơn lai điểu bất kinh. Tái nhiệt danh hương, tái thân triệu thỉnh. Phụng vị: . . .nhất vị chánh hồn.
Duy nguyện: Thừa tam bảo lực, trượng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm pháp hội.
Ðồng hòa:
Lai thọ vô giá cam lồ pháp vị. (2 lần)
Hữu chức thỉnh: Nhất tâm triệu thỉnh: Phù sanh như mộng, huyễn chất phỉ kiên; bất bằng ngã Phật chi từ, cát toại siêu thăng chi lộ. Tam nhiệt danh hương, tam thân triệu thỉnh. Phụng vị: . . .nhất vị chánh hồn.
Duy nguyện: Thừa tam bảo lực, trượng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm pháp hội.
Ðồng hòa:
Lai thọ vô giá cam lồ pháp vị. (2 lần)
Chúng hòa:
Hương vân thỉnh, hương vân thỉnh.
Chủ lễ thỉnh:
Nhứt tâm triệu thỉnh: Pháp giới lục đạo, Tam thập lục bộ, thập nhị loại cô hốn, hà sa nam nữ.
Ða sanh phụ mẫu, tự tha tiên vong,gia thân quyến thuộc, viễn cập tha phương, cận ư thử xứ, nội gia viên trạch, ngoại gia viên cư. mê linh khô cốt, thảo mộc tà tinh, ly mị vọng lượng, trệ phách cô hồn, oan hồn uổng tử, nam nữ thương vong nhi chi đẳng loại.
Duy nguyện: Thừa Tam Bảo lực, trượng bí mật ngôn, thử (nhựt, dạ. . .) kim thời, lai lâm pháp hội, thọ thử vô giá cam lồ pháp vị.
Chúng hòa:
Hương vân thỉnh, hương vân thỉnh.
Duy na:
Nhứt tâm triệu thỉnh: Pháp giới chi nội, cửu châu dã ngoại, thập nhị loại trung. Tướng soái du hồn trận vong, binh tốt, khách thương cái giả, hình lục tù nhơn, thị, tỉnh, giang hồ, lộ đồ tán mạng, quân dân sĩ tốt, phủ huyện đồn dinh, hoặc bị đao thương, hoặc tao cơ tuế, hoặc xà thương nhi thất mạng, hoặc hổ giảo dĩ táng thân, thương vong hoạnh tử chi lưu, cơ khát cô hồn chi chúng. Duy nguyện : Thừa Tam Bảo lực, trượng bí mật ngôn, thử (nhựt, dạ. . .) kim thời lai lâm pháp hội, thọ thử vô giá cam lồ pháp vị.
Chúng hòa :
Hương vân thỉnh, hương vân thỉnh.
Duyệt chúng :
Nhứt tâm triệu thỉnh: Pháp giới chi nội, cửu u dã ngoại, thập nhị loại cô hồn. Thượng chí công hầu tể tướng, chiến tốt tử trường, hạ cập sĩ nông công thương, ngư tiều canh mục, chỉ nhơn trục vọng đọa lạc biên hương, bất ngộ chơn thường, trầm luân khổ thú, phiêu trầm thất lạc, hoặc bị thiên lôi chấn kích, hoặc bị vương pháp gia hình, trúng độc trúng dược, tự vẩn tự aỉ, phá thai đoạn noãn, sản nạn vong thân, ôn hoàng yểu thệ, chư bất thiện nghiệp cô hồn đẳng chúng.
Duy nguyện : Thừa Tam Bảo lực, trượng bí mật ngôn, thử (nhựt, dạ. . . ) kim thời, lai lâm pháp hội, thọ thử vô già cam lồ pháp vị.
Chúng hòa :
Hương vân thỉnh, hương vân thỉnh.
Chủ lễ thỉnh tông quát lại:
Nhứt tâm triệu thỉnh : Phục vị pháp giới lục đạo, tam thập lục bộ, thập nhị loại cô hồn, thế giới chiến tranh, Hoa kỳ chiến tranh, Việt Nam chiến tranh, tùng tiền chí hậu, biến cố Ất dậu, Mậu thân, Ất mão, cuồng phong lạo thủy, chiến sĩ trận vong, nhân dân nạn vong, vượt biên tử nạn, nội ngoại gia viên, chư nam nữ vô tự âm linh cô hồn liệt vị. Văn kim sơ, tái, tam triệu thỉnh, thỉnh đáo đàn diên, thính pháp văn kinh, thọ tài hưởng thực, khuông phò trai chủ dĩ bình an, bảo hộ sanh nhơn nhi khương thái.
Ðồng tụng:
Tam thỉnh Cô hồn dĩ lai lâm,
Thọ thử hương hoa phổ cúng dường.
Y diên thỉnh tọa thính kinh văn.
Diễn kinh văn Bồ tát Ma Ha Tát (3 lần).
Chủ lễ xướng :
Ðiểm trà
Ðồng tụng:
Hương cúng dường phúc úc diệu nan lương,
Duy nguyện cô hồn ai nạp thọ.
Kỳ cầu trai chủ dĩ bình an,
Thượng nguyện tại án tiền.
Chủ lễ xướng:
Ðiểm trà - Lễ nhị bái - Bình thân - quỳ
Ðồng tụng:
Diễn linh văn Bồ Tát Ma Ha Tát (3lần)
Chủ lễ xướng tuyên điệp (nếu có) :
Sở hửu điệp tiến Âm linh cô hồn án tiền tuyên độc:
“Khải kiến pháp diên, vị điệp ngưỡng sự.
Tư cứ Việt nam quốc, . . .Gia quyến hiện trú tại: . . .kiến đàn phụng Phật, tu hương hiến cúng phúng kinh: . . .(hoàn kinh, an vị, đại tường) . . .sự dĩ hoàn long, đặt tiến thí thực cô hồn nhất diên vị cầu âm siêu dương thái sự.
Kim tín trai chủ . . .hiệp toàn gia nam nữ đại tiểu chúng đẳng.
Duy nhật hương hoa, tải thiết phẩm vật cụ trần; ngưỡng vọng Phật ân phủ thùy phóng quang tiếp độ.
Thống niệm:
Pháp giới lục đạo, tam thập lục bộ hà sa nam nữ âm linh cô hồn, tự tha tiên vong gia thân quyến thuộc, cập bổn xứ, viễn cận vô tự âm linh, cô mộ hoang mộ liệt vị.
Phổ triệu thế giới chiến tranh, Việt nam chiến tranh, hoa kỳ chiến tranh, mậu thân, nhâm ngọ biến cố, chí sĩ liệt sĩ vong xứ, vượt biên tử nạn, chiến sĩ trận vong, nhân dân nạn vong, oan hồn uổng tử, nam nữ thương vong, vô tự âm linh không hành thủy lục liệt vị.
Ngôn niệm:
Chỉ nhơn trục vọng, đọa lạc biên hương, bật ngộ chơn thường trầm luân khổ thú.
Kim triêu hạnh ngộ, cam lồ môn khai; thừa tam bảo lực, triệu đáo đàn tiền, thính diệu pháp âm, thọ cam lồ vị.
Tỷ ngộ viên minh trạm tịch, chơn như diệu lý chi cơ quan; Linh tri thanh tịnh hư không, đại giác chánh tôn chi bỉ ngạn.
Bất sanh, bất diệt, vô khứ vô lai,
Trường y Bát Nhã chi hương,
Cọng chứng Bồ Ðề chi quả.
Khuông phò trai tín chủ dĩ bình an,
Bảo hộ sanh nhơn (bổn tự, toàn gia ...) nhi khương thái.
Tu chí điệp giả, hữu điệp ngưỡng:
Cung vọng:
Nam mô Diện Nhiên Vương Bồ Tát,chứng minh thị hạ.
Hà sa nam nữ vô tự âm linh cô hồn liệt vị minh trung thâu chấp.
Tuế thứ . . .niên . . .nguyệt . . .nhật . . .thời, thỉnh điệp.
Tán trạo :
Tu thiết trai diên,
A nan nhơn duyên khởi.
Cứu khổ Quan Âm,
Thị hiện Tiêu Diện Quỷ.
Niệm Phật tuyên dương,
Bí mật công đức lực.
Bạt tế cô hồn,
Lai thọ cam lồ vị.
A Di Dà Phật,
Túc hửu vô biên thệ.
Quan kiến mê đồ,
Khổ hải thường phiêu nịch.
Thùy thủ ân cần,
Ðặt giá từ hàng tế.
Phổ tải chúng sanh,
Ðồng phú liên trì hội.
Nam mô liên trì hải hội Phật Bồ Tát (3lần).
NHẬP TIỂU MÔNG SƠN
* Nam mô Diện Nhiên vương Bồ Tát ( 3 lần).
Mãnh hỏa diệm diệm chiếu thiết thành,
Thiết thành lý diệm nhiệt Cô hồn.
Cô hồn nhược yếu sanh Tịnh độ,
Thính tụng Hoa nghiêm bán kệ kinh:
Nhược nhơn dục liễu tri,
Tam Thế nhất thiết Phật.
Ưng quán pháp giới tánh,
Nhất thiết duy tâm tạo.
*Phá địa ngục chơn ngôn:
Án dà ra đế da ta bà ha. ( 3 lần )
Phổ triệu thỉnh chơn ngôn:
Nam mô bộ bộ đế rị,già rị đa rị đát đa nga đa da.(3 lần)
Giải oan kết chơn ngôn:
Án tam đà ra dà đà ta bà ha. (3 lần)
* Nam mô Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. (3 lần)
Nam mô thường trú thập phương Phật.
Nam mô thường trú thập phương pháp.
Nam mô thường trú thập phương Tăng.
Nam mô bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Ðại bi Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Minh Dương cứu khổ Ðịa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô khởi giáo A Nan Ðà Tôn giả.
* Quy y Phật, quy y Pháp, Quy y Tăng,
Quy y Phật Lưỡng Túc Tôn,
Quy y Pháp Ly Dục Tôn,
Quy y Tăng Chúng Trung Tôn.
Quy y Phật cảnh, quy y Pháp cảnh, quy y Tăng cảnh.
* Phật tử sở tạo chư ác nghiệp,
Giai do vô thủy tham sân si,
Tùng thân ngữ ý chi sở sanh,
Nhất thiết Phật tử giai sám hối.
Hửu tình sở tạo chư ác nghiệp,
Giai do vô thủy tham sân si.
Tùng thân ngữ ý chi sở sanh,
Nhất thiết Hửu tình giai sám hối.
Cô hồn sở tạo chư ác nghiệp,
Giai do vô thủy tham sân si.
Tùng thân ngữ ý chi sở sanh,
Nhất thiết Cô hồn giai sám hối.
* Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Tự tánh chúng sanh thệ nguyện độ,
Tự tánh phiền não thệ nguyện đoạn.
Tự tánh pháp môn thệ nguyện học,
Tự tánh Phật đạo thệ nguyện thành.
· Diệt định nghiệp chơn ngôn:
· Án bát ra mạt lân đà nãnh ta bà ha. (3 lần)
Diệt nghiệp chướng chơn ngôn:
Án a lổ lặc kế ta bà ha.(3 lần).
· khai yết hầu chơn ngôn:
· Án bộ bộ đế rị, dà đa rị, đát đa nga đa da. (3 lần)
Tam muội da giới chơn ngôn:
Án tam muội da tát đỏa phạm.(3 lần)
· Biến thực chơn ngôn:
· Nam mô tát phạ đát tha nga đa, phạ lô chỉ đế.
Án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng.(7 đến 21lần)
Biến thủy chơn ngôn:
Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha.
Án, tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha(7 lần)
Nhất tự thủy luân chơn ngôn:
Án, noan noan noan noan noan.(3 lần)
Nhũ hải chơn ngôn:
Nam mô tam mãn đa một đà nẩm án noan.(3 lần)
* Niệm danh hiệu Phật:
Nam mô Ða Bảo Như Lai.
Nam mô Bảo Thắng Như Lai.
Nam mô Diệu sắc thân như Lai.
Nam mô Quảng Bác thân Như Lai.
Nam mô Ly Bố Úy Như Lai.
Nam mô Cam lộ Vương Như Lai.
Nam mô A Di Ðà Như Lai.
* Thần chú gia trì tịnh pháp thực,
Phổ thí hà sa chúng Phật tử.
Nguyện giai bảo mãn xả xan tham,
Tốc thoát u minh sanh tịnh độ.
Quy y Tam Bảo phát bồ đề,
Cứu cánh đắc thành vô thượng đạo.
Công đức vô biên tận vị lai,
Nhất thiết Phật tử đồng pháp thực.
Thần chú gia trì tịnh pháp thực,
Phổ thí hà sa chúng hửu tình.
Nguyện giai bảo mãn xả xan tham,
Tốc thoát u minh sanh tịnh độ.
Quy y Tam Bảo phát bồ đề.
Cứu cánh đắc thành vô thượng đạo.
Công đức vô biên tận vị lai,
Nhất thiết hửu tình đồng pháp thực.
Thần chú gia trì cam lộ thủy,
Phổ thí hà sa chúng cô hồn.
Nguyện giai bảo mãn xả xan tham,
Tốc thoát u minh sanh tịnh độ.
Quy y Tam Bảo phát bồ đề,
Cứu cánh đắc thành vô thượng đạo.
Công đức vô biên tận vị lai,
Nhất thiết cô hồn đồng pháp thực.
Nhữ đẳng Phật tử chúng,
Ngã kim thí nhữ cúng.
Thử thực biến thập phương,
Nhất thiết Phật tử cọng.
* Nguyện dĩ thử công đức,
Phổ cập ư nhất thiết.
Ngã đẳng dử Phật tử,
Giai cọng thành Phật đạo.
Nhữ đẳng hửu tình chúng,
Ngã kim thí nhữ cúng .
Thử thực biến thập phương,
Nhất thiết hửu tình cọng.
Nguyện dĩ thử công đức,
Phổ cập ư nhất thiết.
Ngã đẳng dử hửu tình,
Giai cọng thành Phật đạo.
Nhữ đẳng cô hồn chúng,
Ngã kim thí nhữ cúng.
Thử thực biến thập phương,
Nhất thiết cô hồn cọng.
Nguyện dĩ thử công đức,
Phổ cập ư nhất thiết.
Ngã đẳng dử cô hồn,
Giai cọng thành Phật đạo.
Thí vô giá thực chơn ngôn:
Án, mục lực lăng ta bà ha.(3 lần)
Phổ cúng dường chơn ngôn:
Án, nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng.(3 lần)
Tán:
Thần chú gia trì tịnh pháp thực,
Phổ thí hà sa chúng cô hồn.
Nguyên giai bảo mãn xả xan tham,
Tốc thoát u minh sanh tịnh độ.
Nam mô phổ cúng dường Bồ tát. (3 lần)
Niệm Phật
A Di Ðà Phật thân kim sắc,
Tướng hảo quang minh vô đẳng luân.
Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di,
Cám mục trừng thanh tứ đại hải.
Quang trung hóa Phật vô số ức,
Hoá Bồ Tát chúng diệc vô biên.
Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh,
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.
Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẩn đạo sư A Di Ðà Phật.
Nam mô A Di Dà Phật.(108 lần)
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát.(3 lần)
Nam mô Ðại Thế Chí Bồ Tát.(3 lần)
Nam mô Ðịa Tạng Vương Bồ Tát.(3 lần)
Nam mô Thanh Tịnh Ðại Hải chúng Bồ Tát.(3 lần)
Xướng:
Thượng lai, hiến cúng thí thực âm linh cô hồn nhứt diên, nguyện cầu âm siêu dương thái sự dĩ hoàn long, kỉnh phụng điệp văn ( 1) trượng bằng hỏa hóa.
Tụng: BÁT NHÃ TÂM KINH - CHÚ VÃNG SANH
Phổ hồi hướng chơn ngôn:
Án, tát mọ lai, tát mọ lai, di mọ nẳng tát kháp ra, ma ha thính kháp ra hồng.(3 lần)
Nguyện trú cát tường, dạ cát tường,
Trú dạ lục thời hàng cát tường.
Nhất thiết thời trung cát tường giả,
Nguyện chư Thượng Sư ai nhiếp thọ.
Nguyện chưTam Bảo ai nhiếp thọ.
Nguyện chư Hộ Pháp thường ủng hộ.
Tứ sanh đăng ư bảo địa,
Tam hửu thác hóa liên trì.
Hà sa ngạ quỷ chứng tam hiền,
Vạn loại hửu tình đăng thập địa.
Nam mô siêu thập địa Bồ Tát Ma Ha Tát.
(3 lần)
Phát diêm mễ (gạo muối)
Thán:
Thử quốc độ, tha quốc độ, vô lượng chư quốc độ, nhứt thiết hửu tình cọng chứng chơn thường.
Thử thế giới, tha thế giới, vô lượng chư thế giới, vô tận hàm thức, tề thành Phật đạo.
Thế xuất thế gian. -Tuỳ nguyện sở thành.
(phát gạo muối)
Thế xuất thế gian. -Tuỳ nguyện sở thành. “
Thế xuất thế gian. -Tuỳ nguyện sở thành. “
Xướng:
Phục vị - Lễ tạ tứ bái.
Tụng hồi hướng:
Nguyện dĩ thử công đức,
Phổ cập ư nhất thiết.
Ngã đẳng dử chúng sanh,
Giai cọng thành phật đạo.
Xướng: Thượng lai, hiến cúng thí thực âm linh cô hồn nhứt diên, sự tất vô hạn lương nhơn, khể thủ hòa nam: Tam Tôn Thánh Chúng. Cung chúc trai chủ toàn gia nam nữ cung tâm
GIAI THỌ PHƯỚC
(Lễ tất)
Ghi chú: Thỉnh có nghĩa là mời, vậy vật cúng nhiều, đầy đủ và có thời giờ chúng ta nên thỉnh đủ 9 diên như trên, tụng thêm Dương chi..., Chú Ðại Bi, Sám Thập Phương. Nếu trung bình thì thỉnh 3 diên đầu (Thánh), 3 diên cuổi (cô hồn). Nểu đơn giản thỉnh 2 diên (một Thánh, một Cô hồn). Cũng có thể thỉnh mật niệm, rồi tụng Tiểu Mông Sơn cũng được
http://www.oocities.org/nghilephatgi...ungThiThuc.htm
不bất 空không 大đại 灌quán 頂đảnh 光quang 真chân 言ngôn
唵án (# 引dẫn )(# 一nhất )# 。 阿a (# 上thượng )# 謨mô 伽già (# 去khứ )# 吠phệ 嚧rô 左tả 曩nẵng (# 二nhị )# 。 摩ma 賀hạ (# 引dẫn )# 母mẫu 捺nại 囉ra (# 二nhị 合hợp )(# 三tam )# 。 麼ma 抳nê 缽bát 納nạp 麼ma (# 二nhị 合hợp )(# 四tứ )# 。 入nhập 嚩phạ (# 二nhị 合hợp )# 攞la (# 五ngũ )# 。 缽bát 囉ra (# 二nhị 合hợp )# 韈vạt 㗚lật 跢đa (# 二nhị 合hợp 。 引dẫn )# 野dã (# 六lục )# 。 吽hồng (# 引dẫn )(# 七thất )# 。
明minh 王vương 加gia 持trì 陁# 羅la 尼ni
唵án (# 引dẫn )(# 一nhất )# 。 阿a (# 上thượng )# 謨mô 伽già (# 去khứ )# 嚩phạ 底để (# 二nhị )# 。 左tả 囉ra 尾vĩ 左tả 囉ra (# 三tam )# 。 散tán 左tả 囉ra (# 四tứ )# 。 娑sa 嚩phạ (# 二nhị 合hợp 。 引dẫn )# 賀hạ (# 引dẫn )(# 五ngũ )# 。
http://daitangkinh.net/?f=F28n1071/1
聖Thánh 觀Quán 自Tự 在Tại 。 菩bồ [薩-產+(辛/工)]# 施thí 甘cam 露lộ 陁# 羅la 尼ni
曩nẵng 謨mô 喇lặt 怛đát 曩nẵng (# 二nhị 合hợp )# 怛đát 囉ra (# 二nhị 合hợp )# 夜dạ (# 引dẫn )# 野dã (# 一nhất )# 。 曩nẵng 莫mạc 阿a (# 去khứ 。 引dẫn )# 哩rị 野dã (# 二nhị 合hợp 。 引dẫn )# 嚩phạ 路lộ 枳chỉ 帝đế 濕thấp 嚩phạ (# 二nhị 合hợp )# 囉ra (# 引dẫn )# 野dã (# 二nhị )# 。 冐mạo (# 引dẫn )# 地địa [薩-產+(辛/工)]# 怛đát 嚩phạ (# 二nhị 合hợp 。 引dẫn )# 野dã (# 三tam )# 。 摩ma 賀hạ (# 引dẫn )# [薩-產+(辛/工)]# 怛đát 嚩phạ (# 二nhị 合hợp 。 引dẫn )# 野dã (# 四tứ )# 。 摩ma 賀hạ (# 引dẫn )# 迦ca (# 引dẫn )# 嚕rô 抳nê 迦ca (# 引dẫn )# 野dã (# 五ngũ )# 。 怛đát 你nễ 也dã (# 二nhị 合hợp )# 他tha (# 引dẫn )(# 六lục )# 。 邏la (# 去khứ )# ṭ# i# 置trí (# 上thượng )# 帝đế (# 七thất )# 。 底để 㗚lật (# 二nhị 合hợp )# 唧tức ṭ# ṭ# i# 置trí (# 八bát )# 。 阿a (# 去khứ 。 引dẫn )# 櫱nghiệt 蹉sa 阿a (# 去khứ 。 引dẫn )# 櫱nghiệt 蹉sa (# 九cửu )# 。 婆bà (# 去khứ )# 誐nga 挽vãn 阿a (# 引dẫn )# 哩rị 野dã (# 二nhị 合hợp 。 引dẫn )# 嚩phạ 路lộ 枳chỉ 帝đế 濕thấp 嚩phạ (# 二nhị 合hợp )# 囉ra (# 十thập )# 。 娑sa 銘minh 悉tất 地địa (# 十thập 一nhất )# 。 阿a (# 上thượng )# 努nỗ 缽bát 囉ra (# 二nhị 合hợp )# 拽duệ ccha# 蹉sa (# 十thập 二nhị )# 。 娑sa 嚩phạ (# 二nhị 合hợp 。 引dẫn )# 賀hạ (# 引dẫn )(# 十thập 三tam )# 。
聖Thánh 觀Quán 自Tự 在Tại 。 菩bồ [薩-產+(辛/工)]# 聞văn 持trì 甘cam 露lộ 陁# 羅la 尼ni
曩nẵng 謨mô 喇lặt 怛đát 曩nẵng (# 二nhị 合hợp )# 怛đát 囉ra (# 二nhị 合hợp )# 夜dạ (# 引dẫn )# 野dã (# 一nhất )# 。 曩nẵng 莫mạc 阿a (# 去khứ 。 引dẫn )# 哩rị 野dã (# 二nhị 合hợp 。 引dẫn )# 嚩phạ 路lộ 枳chỉ 帝đế 濕thấp 嚩phạ (# 二nhị 合hợp )# 囉ra (# 引dẫn )# 野dã (# 二nhị )# 。 冐mạo (# 引dẫn )# 地địa [薩-產+(辛/工)]# 怛đát 嚩phạ (# 二nhị 合hợp 。 引dẫn )# 野dã (# 三tam )# 。 摩ma 賀hạ (# 引dẫn )# [薩-產+(辛/工)]# 怛đát 嚩phạ (# 二nhị 合hợp 。 引dẫn )# 野dã (# 四tứ )# 。 摩ma 賀hạ (# 引dẫn )# 迦ca (# 引dẫn )# 嚕rô 抳nê 迦ca (# 引dẫn )# 野dã (# 五ngũ )# 。 怛đát 你nễ 也dã (# 二nhị 合hợp )# 他tha (# 引dẫn )(# 六lục )# 。 唵án (# 引dẫn )t# ṛ# 底để 哩rị (# 二nhị 合hợp )śū# 戍thú (# 引dẫn )# 理lý 始thỉ khi# 企xí (# 七thất )# 。 呬hê 理lý 呬hê 理lý (# 八bát )# 。 弭nhị 理lý 弭nhị 理lý (# 九cửu )# 。 阿a (# 去khứ 。 引dẫn )# 哩rị 野dã (# 二nhị 合hợp 。 引dẫn )# 嚩phạ 路lộ 枳chỉ 帝đế 濕thấp 嚩phạ (# 二nhị 合hợp )# 囉ra (# 十thập )# 。 阿a (# 上thượng )# 枳chỉ 孃nương (# 二nhị 合hợp )# 跛bả 野dã 底để (# 十thập 一nhất )# 。 馱đà 囉ra 抳nê 謎mê sm# ṛ# 娑sa 蜜mật 㗚lật (# 三tam 合hợp )ddhya# 殿điện tu# 覩đổ (# 十thập 二nhị )# 。 娑sa 嚩phạ (# 二nhị 合hợp 。 引dẫn )# 賀hạ (# 引dẫn )(# 十thập 三tam )# 。
http://daitangkinh.net/?f=F28n1071/1
金kim 剛cang 加gia 持trì 服phục 水thủy 陁# 羅la 尼ni
唵án (# 引dẫn )(# 一nhất )# 。 嚩phạ 日nhật 囉ra (# 二nhị 合hợp )# 惹nhạ 攞la (# 引dẫn )# 喻dụ (# 二nhị )# 。 娑sa 嚩phạ (# 二nhị 合hợp 。 引dẫn )# 賀hạ (# 引dẫn )(# 三tam )# 。
金kim 剛cang 解giải 脫thoát 真chân 言ngôn
唵án (# 引dẫn )(# 一nhất )# 。 嚩phạ 日nhật 囉ra (# 二nhị 合hợp )# 穆mục 乞khất 义# (# 二nhị 合hợp )mu# ḥ# 穆mục (# 二nhị )# 。
http://daitangkinh.net/?f=F28n1071/1
放生仪轨甘露妙药 (修改版)
Posted on February 23, 2013
放生仪轨甘露妙药 (修改版)
放生仪轨甘露妙药
顶礼根本上师莲足!
把所放之众生置于一处,大众一起念 :
一、皈依、发心(三遍):
诸佛正法贤圣三宝尊,从今直至菩提 皈依。
我以所修施等诸资粮,为利有情故愿 觉成。
二、发四无量心(一遍):
愿诸众生永具安乐及安乐因;
愿诸众生永离众苦及众苦因;
愿诸众生永具无苦之乐、我心怡悦;
愿诸众生远离贪嗔之心、住平等舍。
三、供养偈(一遍)并观想将此众生 养诸佛菩萨:
诸佛菩萨垂念我,乃至究竟菩提果,
此等众生作供养,祈以悲愍而纳受。
四、般若波罗蜜多心经(一遍):
观自在菩萨,行深般若波罗蜜多时, 见五蕴皆空,度一切苦厄。舍利子, 不异空,空不异色,色即是空,空即 是色。受想行识,亦复如是。舍利子 是诸法空相,不生不灭,不垢不净, 增不减,是故空中无色,无受想行识 ,无眼耳鼻舌身意,无色声香味触法 无眼界,乃至无意识界,无无明,亦 无明尽,乃至无老死,亦无老死尽, 无苦集灭道,无智亦无得,以无所得 。菩提萨埵,依般若波罗蜜多故,心 挂碍。无挂碍故,无有恐怖,远离颠 倒梦想,究竟涅槃。三世诸佛,依般 波罗蜜多故,得阿耨多罗三藐三菩提 故知般若波罗蜜多,是大神咒,是大 明咒,是无上咒,是无等等咒,能除 切苦,真实不虚。故说般若波罗蜜多 ,即说咒曰:揭谛揭谛,波罗揭谛, 波罗僧揭谛,菩提萨婆诃。
五、诵佛菩萨名号(各三遍或七遍)
顶礼、供养、皈依出有坏善逝应供正 觉本师释迦牟尼佛
顶礼、供养、皈依出有坏善逝应供正 觉善名称吉祥王如来
顶礼、供养、皈依出有坏善逝应供正 觉宝月智严光音自在王如来
顶礼、供养、皈依出有坏善逝应供正 觉金色宝光妙行成就如来
顶礼、供养、皈依出有坏善逝应供正 觉无忧最胜吉祥如来
顶礼、供养、皈依出有坏善逝应供正 觉法海雷音如来
顶礼、供养、皈依出有坏善逝应供正 觉法海胜慧游戏神通如来
顶礼、供养、皈依出有坏善逝应供正 觉药师琉璃光如来
顶礼、供养、皈依出有坏善逝应供正 觉西方极乐世界阿弥陀佛
顶礼、供养、皈依出有坏善逝应供正 觉宝髻佛
顶礼、供养、皈依文殊菩萨
顶礼、供养、皈依地藏王菩萨
顶礼、供养、皈依弥勒菩萨
顶礼、供养、皈依观世音菩萨
顶礼、供养、皈依除盖障菩萨
顶礼、供养、皈依金刚手菩萨
顶礼、供养、皈依普贤菩萨
顶礼、供养、皈依虚空藏菩萨
顶礼、供养、皈依十方三世一切佛, 切菩萨摩诃萨
六、诵咒(各十遍或一百零八遍):
释迦牟尼佛咒:嗡牟尼牟尼玛哈牟尼 索哈 om muni muni maha muni ye svaha
金刚萨埵咒:嗡班匝儿萨埵吽 om vajra sattva hung
观世音菩萨咒:嗡嘛呢叭美吽舍 om mani padme hung hri
阿弥陀佛咒:嗡阿弥德瓦阿依斯德吽 om ami dewa ayu siddhi hum hri
不动佛咒:那莫 那札雅雅 嗡刚嘎讷刚嘎讷若匝讷若匝讷卓札讷 札讷札萨讷札萨讷 札德哈那札德哈那 萨瓦嘎玛巴让m巴 讷美萨瓦萨埵难匝索哈
namo ratna trayaya om kamkani kamkani ro tza ni ro tza ni trotani trotani trasani trasani pratihana pratihana sarva karma param para ni me sarva sattva nan cha svaha
长寿佛咒:嗡 那摩巴嘎瓦得 阿坝热么大 阿耶加那 色波那则大得昨杂呀达它嘎达亚 阿哈得 萨亚桑波达亚 达亚它 嗡 本耶本耶 吗哈本耶 阿坝热 么达本耶 阿坝热 么大本耶 加那桑吧 若巴子得嗡萨瓦桑嘎巴热西达 达玛得 嘎嘎那萨梦嘎得 桑巴瓦 波西得 吗哈那亚 巴热瓦锐索哈
OM NAMO BHAGAWATI APARIMITA ARYUGYAANA SUVINI SIDDHA TE TO RAJAYA / TATHAAGATAYA /
ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAAYA/ TATYATA / OM PUNI PUNI MAHA PUNI / APARIMITA PUNYE /
APARIMITA PUNYE/ GYAANA SAMBHA ROPA TI DE / OM SARVA SANSKARA PARISHUDDHA DHARMAATE
GAGANA SAMUNGATE SVABAAWA/ VISHUDHE MAHANAYA PARIWAARE SVAHA /
往生咒:南无阿弥多婆夜 哆他伽多夜 哆地夜他 阿弥利都婆毗 阿弥利哆悉耽婆毗 阿弥利哆毗迦兰帝 阿弥利哆毗迦兰多 伽弥腻 伽伽那枳多迦利娑婆诃
缘起咒(三遍):嗡 耶达日玛 黑德 抓巴瓦 黑敦 得堪达塔嘎多 哈雅巴达得 堪匝友呢若达诶旺巴德玛哈夏日玛纳 索哈
Om, Ye Dharma Hetu Prabhava Hetun Teschan Tathagato Hey Vadat Teshan Cha Yo Nirodha Evam Vadi Maha Shramanah Ye, Soha!
偈颂(三遍):诸法从缘起,如来说 因,
彼法因缘尽,是大沙门说。
诸恶莫作,诸善奉行,
自净其意,是诸佛教。
七、回向文(一遍):
此福愿获遍知果,摧毁一切过患敌,
救度众生皆摆脱,生老病死三有海。
若时间充裕,能念诵《普贤行愿品》 偈颂部分[1]与《文殊大圆满基道果无别发愿文》 则最为殊胜。
注意事项:
① 时间:放生在每月初八、十五、二十 、三十或佛菩萨的纪念日较为殊胜, 其在神变月(农历正月)的功德更大 。但也可以不定期放生。
② 地点:宜在放生池,以及远离捕杀之 域、山林等,尽量使所放众生生存悦 且能长寿之地。
③ 类别:虫类、鱼类、飞禽、畜类等, 放众生之躯体越大,则所获之功德也 大。
④ 方式:动作轻柔,若有甘露丸、解脱 等则预先化于水中,在放生前洒在所 动物上。用密宗《系解脱》在其上方 加持,则更为殊胜。
⑤ 发心:应发利益众生之清净心,一心 意为其获得暂时之安乐及究竟之解脱 祈祷。
本来各种放生仪轨颇多,且各不相同 比如,汉地有些地方为其念香赞、水 、大悲咒、心经、往生咒、传皈依、 诵佛号、心咒、回向等;美国等西方 家放生时,多数为皈依诵咒、回向等 略仪轨;藏地有皈依后,在所放众生 之顶上以酥油画月像,以供养诸佛菩 ,然后诵六度偈,以及长寿咒后回向 此仪轨为依高僧大德之窍诀而作,简 单且又完整,适用于显宗密宗以及藏 各族,且具无量加持。
以此善根,回向无边众生,并愿诸高 大德长久住世,常转法轮!
丁丑年四月索达吉
作于五明佛学院南方摩尼宝洲
———————————————— —————————–
[1] 从“所有十方世界中,三世一切人师 ”到“普愿沉溺诸众生,速往无量光 刹”。
https://buddhism108.wordpress.com/20...4%B9%E7%89%88/
HỌC CHỮ PHẠN CỔ
[PDF]梵語初階
https://web.opendrive.com/api/v1/......hfMTU2NTAyOF8?...
Translate this page
gagana(名,男):虛空,空,天空( P.g.409) k1rta(「k1rta」. “讚嘆,稱讚”名,男):讚嘆,稱 (梵P.g.351) kare(「kara」. “作,發,生”形,於,單):在作 (梵P.g.317).
===========
蘭札文字 (Ranjana)
024 Mễ Sơn Cam Lộ
( https://dialinhdatviet.files.wordpre...thang-ngan.pdf )
Người nếu rơi vào đường Ngạ Quỷ (ma đói), sẽ rất cực khổ, có lửa
lớn thiêu cổ họng, vừa khát vừa đói, có 1 số pháp sư biết Siêu độ đại
pháp, biết “Mễ Sơn cam lộ” pháp, vừa rải nước cam lộ, hết nóng
người mát rượi, hóa thành tiêu diêu hương, 1 mễ biến thập vạn, hà sa
quỷ tăng cùng thụ hưởng, độ người và ma vô lượng. “Mễ Sơn Cam
lộ pháp” này tôi phải giải thích rõ, cái gì là siêu độ.
Siêu độ tổ tiên, cô hồn, oan hồn, cúng bái quỷ thần, không phải là
không có công đức, nhưng ngày nay nhiều người lấy cớ cúng bái, mà
bày tiệc tùng xôm tụ, mượn danh nghĩa cúng bái, nhưng thực chất là
tự bỏ túi hay no căng bụng mình, hao tài hao của, tốn công tốn sức.
Thực chất cúng bái là dâng hoa quả, nhang đèn, mì chay tiệc chay,
cúng dường gạo, đồ hộp chay…chủ yếu là thực phẩm chay, cúng tế
vong linh, siêu độ họ, trước tiên là cung thỉnh linh tổ tiên, và còn
phải cung thỉnh chư vị bồ tát chứng giám, pháp sư đăng đàn tụng
kinh, dùng “pháp lực” hợp cùng “chú lực” của chư Phật, “từ bi
nguyện lực” của chư Phật, nếu linh có tâm nguyện sám hối, sẽ được
giảm tội, đầu thai hóa kiếp hay vãng sinh cực lạc là chuyện đương
nhiên ! Cách đại hội làm lễ siêu độ này là 1 kiểu hoạt động của “Thế
giới linh hồn”, không nhất định ai cũng phải đích thân chứng kiến,
thậm chí ngay cả các vị cao tăng làm lễ, cũng không phải ai ai đều
nhìn thấy cả, cho dù làm lễ cầu siêu này, không nhất thiết chính
người pháp sư đó phải nhìn thấy, nhưng không phải là lừa gạt người
đời.
Người viết từng cùng 1 bà lão nhà làm gara sửa xe hơi, ở gần Phật
Giáo Liên Xã trên đường Dân Sinh của Đài Trung, đến Phong
Nguyên xem đại lễ cầu siêu, khung cảnh náo nhiệt của lễ hội, bà lão
nhìn thấy, người viết cũng nhìn thấy, bà lão này là 1 trong những
người có mắt âm dương hiếm thấy, có thể nhìn thấy quỷ thần, có thể
nhìn thấy các linh của linh giới.
Chúng tôi cùng nhìn thấy chư tiên, từng vị giáng phàm xuống trần,
rất nhiều vị, đếm không xuể, giống như các sao lấp lánh giữa bầu trời
về đêm của mùa hạ, các tiên từ trời hạ phạm, còn các quỷ thần ở mặt
đất thì hợp chưởng chào đoán, có rất nhiều linh hồn xếp hàng chào
đón, vỗ tay đón mừng, loại lễ hội cầu siêu này là người đời và Phật
giáo lập ra cho thế giới linh hồn, cũng có thần tiên nước ngoài đến,
tay chống gậy, tóc dài, râu dài, khoác áo choàng trắng, đó là Chúa
Jêsu của Đạo Cơ Đốc, Đức mẹ Maria cũng đến tham dự, những vị
thần tiên ngoại quốc này cũng đến tham dự lễ hội của các tiên, các vị
tiên này cưỡi mây đến, vì là linh thể, nên thoắt ẩn thoắt hiện.
Khung cảnh lễ hội vừa hoành tráng vừa náo nhiệt, người đông như
kiến, không những người đông, mà ma quỷ cũng chen chúc nhau,
hình dạng hồn ma cũng giống như người vậy, cũng có khuôn mặt
hiền lành, lịch sự nho nhã giống quân tử vậy, nhưng cũng có hồn ma
mặt mày dữ tợn, mặt mũi láo liên, cũng có hồn xấu như cóc nhái, có
linh hồn A Tu La, hình thù kỳ dị, nói chung muôn hình đủ kiểu ! Có
tướng ăn của quỷ rất lịch sự, nhưng có linh hồn thì ăn rất tùy tiện, thò
tay là lấy hết con gà quay mập ú, có con ma không đầu, thì cứ nhét
thức ăn vào cổ, bà lão vừa nhìn vừa thấy sợ, miệng cứ rên hừ hừ,
răng run lập cập. Đối với người trần mà nói, thì con gà cúng đó vẫn
vậy không hề động đậy hay mất mát miếng nào, nhưng chúng tôi
nhìn thấy được thì biết rằng, linh khí của con gà cúng đó đã bị lũ quỷ
đói ăn hết rồi, có rất nhiều quỷ dùng cây sào khiêng từng bao gạo về
nhà, người đời vẫn thấy bao gạo ở nguyên đó, nhưng chúng tôi thì
thấy linh khí của những bao gạo đó đã bị lũ quỷ khiêng đi hết, có rất
nhiều những quỷ nhỏ cứ lăng xăng đùa giỡn, khiến những quỷ trông
coi đám quỷ nhỏ này nhốn nháo chạy tìm khắp nơi, gọi nhau í ới, bà
lão có đôi mắt âm dương đó, bị đám tiểu quỷ chạy giỡn đụng phải
vào chân 1 cái, chân bà chỉ có cảm giác tê 1 lúc, rồi thôi.
Tôi đặc biệt để ý đến đám quỷ dữ, mắt họ như chuông đồng, mặt
xanh răng nanh, ăn đồ là nuốt cả thịt lẫn xương, bụng rất to, tôi nhìn
họ, họ cũng quay đầu nhìn tôi, dường như họ biết tôi nhìn thấy họ
vậy, bà lão sợ quá không dám mở mắt nhìn, bà lão mắc tiểu, tìm đến
nhà vệ sinh công cộng, vừa đẩy cửa vào, là bà ta la toáng lên, thì ra
có 1 ma đứng trong đó, trừng mắt nhìn bà lão.
87
Tôi chỉ viết 1 ít về những gì thấy được, biết được trong lễ hội cầu
siêu, độc giả chắc sẽ ngạc nhiên, cho rằng tôi khoác lác, nói quá,
trong đó biết bao nhiêu người, làm sao mà có thể nhìn thấy ma quỷ
được, nhưng trên thực tế theo tôi biết, thì hồn ma vốn không sợ
người, họ biết được người không nhìn thấy họ được, họ cứ sống dựa
vào khí, mà tan biến trong khí, nên không hề để ý đến người đời nghĩ
gì về họ, có để ý đến họ hay không, tuy họ có thể ảnh hưởng hành vi
cử chỉ của 1 người nào đó, nhưng nếu không có nguyên do gì, thì họ
cũng không muốn tự chuốc phiền phức mà ám người, nếu bị ám thì
người đó hoặc là kết oán ở tiền kiếp, hoặc là kiếp này làm quá nhiều
chuyện ác, khí lành bị tiêu giảm, ác khí, vận xui đeo bám, những
người như vậy, ác quỷ rất thích tìm đến quấy rối, ngay cả họ ngủ
cũng ngủ không yên !
Tôi nhìn thấy lũ quỷ khiêng từng bao gạo đi, phút chốc là dọn sạch
số gạo đó, còn vị pháp sư ngồi trên đàn, đầu đội nón Ngũ Phật, trang
nghiêm thành khẩn niệm chú, rải gạo, nói cũng kỳ lạ, người đời chỉ
nhìn thấy tay ông ta rải gạo là từng hạt từng hạt, nhưng tôi nhìn thấy
từng hạt gạo rải ra hóa thành từng bao gạo, từng bao gạo đó chất
từng núi cao ! Các hồn ma, cô hồn vỗ tay hoan hô, cùng nhau chen
lên để khiêng gạo về nhà.
Tội nghiệp nhất là quỷ đói, cổ rất nhỏ, mà bụng rất to, miệng cũng to
hơn các ma khác, thức ăn vừa đưa vào miệng là hóa thành chất lỏng
sôi sùng sục, có khi hóa thành nham thạch, có khi hóa thành nước
kim loại nấu chảy, lũ quỷ đói cầu xin pháp sư từ bi, nhưng chỉ thấy
pháp sư tay bưng lọ nước, 1 tay cầm cành liễu, vẫy nước cam lộ lên
không trung, mát rượi, chảy vào miệng của lũ quỷ đói, như vậy, lũ
quỷ đói mới có thể ăn uống được, lũ quỷ đói nhặt những thức ăn còn
vương vãi hay sót lại mà ăn, rồi quỳ lạy đa tạ, miệng niệm Phật.
Lúc này pháp sư cùng các tăng ni phật tử cùng hô Phật hiệu, các quỷ
thần cũng hợp chưởng hộ Phật hiệu, niệm Phật, nhưng thấy có 1 số
gà vịt heo bò dê…cùng tụ tập đến trước bảo tọa của pháp sư đòi đền
mạng. Pháp sư nói: “Các hồn nghe đây, oan nghiệp kiếp trước, kiếp
này hóa giải, các ngươi kiếp trước không thương xót mạng của loài
vật, thường hay sát sanh, kiếp này làm súc vật bị giết thịt ăn, nhân
quả luân hồi, đó là lẽ thường. Tôi thừa lệnh các vị Tôn Phật, các hồn
đều có Phật tâm, nguyện kiếp này đã xong, mau nghe lời Phật, sớm
ngày đầu thai. Đại từ bi ! Đại từ bi !
Lễ hội cầu siêu đã xong, pháp sư đi xuống, tôi chen giữa đám người
nhìn thấy 1 vị có đức hạnh đi đến, người đó nhìn tôi, tôi mỉm cười,
hình như người này mấp máy môi, giống như tôi từng quen người
này, tôi cũng mơ hồ nhận ra từng quen người này, chỉ là tôi không
nhớ ra, ở đâu từng gặp người này, có lẽ là kiếp trước không chừng.
Tôi thường cảm thấy thân quen với những người bạn từng gặp ở kiếp
trước. Bà lão đi cùng tôi nói, lần sau không dám đến xem lễ hội cầu
siêu gì nữa.
Bà lão đó đến tháng 7 âm lịch là không dám ra khỏi nhà, đôi mắt bà
sáng lấp lánh, đúng là có đôi mắt âm dương.
DU GIÀ DIỆM KHẨU THÍ THỰC KHOA NGHI
( 瑜伽集要教口施食儀 )
https://www.youtube.com/watch?v=O1zXiNXWE2o
Lễ Trai Đàn Chẩn Tế tại Pháp Viện Minh Đăng Quang - TT Thích Lệ Trang