ơ hay ta thấy lạ thì hỏi ................lạ cơ..............mà ai con ai................lả nhỉ..........ta có mẹ rùi mà
Printable View
ơ hay ta thấy lạ thì hỏi ................lạ cơ..............mà ai con ai................lả nhỉ..........ta có mẹ rùi mà
Tam cang thường ngũ phải gắng gìn
Giáo hóa muôn dân giữ niềm tin
Đạo lý luôn gìn dù dâu bể
Tràng giang công đức một lòng in
Mở rộng tầm nhìn cho sanh chúng
Mang bầu tri thức,nhớ cội chung
Trí giác dồi trau mau sáng tỏ
Tuệ căn càng sáng tỏa bao dung
BÀI THỨ BA dạy cơ tiến hóa,
Cho các con mở khóa diệu minh;
Lối xưa Tiên Phật trọn gìn,
Là trường “công quả, công trình, công phu”.
Để vượt qua trần tù lao khổ,
Định thân tâm điều độ chơn nguơn;
Suốt thông lý ứng tuần huờn,
Đoạt cơ siêu thoát linh đơn kiết thành.
“Công Phu” vốn nguồn sanh mạch cả,
Đức, Trí, Nhơn tiếp họa nên hình;
Tứ thời luyện giữ cao minh,
Nuôi hồn theo nhịp câu kinh tiếng lành.
Giờ phút thiêng niệm danh Tiên Phật,
Cảm kích lòng như khất như xin;
Như dâng hết cả chân tình,
Như nguyền đến cửa Thần linh thọ truyền.
Nhờ công phu con siêng học Đạo.
Nhờ công phu con bảo toàn căn;
Mới mong sửa đổi tánh hèn,
Mới thâu vọng tưởng, mới tăng an hòa.
Giữa biển khổ hồn pha sắc tục,
Sóng nhấp nhô cuộn thúc bầu không;
Miên man nhồi kiếp trần hồng,
Biết đâu bờ bến con mong thoát nàn.
Kìa huyết lệ trần gian sôi nổi,
Sớm, mai, chiều thúc hối thân sanh;
Mồi ngon vật chất câu giành,
Hơn thua còn mất chạy quanh nghiệp đời.
Nếu con chẳng kíp thời tu tỉnh,
Chẳng công phu ổn định tinh thần;
Khó mà tiếp mối đường chân,
Rồi ra Thiên tánh khi gần khi xa.
Thấy các con chưa gia công khó,
Việc kệ kinh chưa rõ sao sao;
Từ nay chăm chỉ lần vào,
Lập cơ nuôi dưỡng hống giao diên hòa.
Tiếp theo bài luận qua “Công Quả”,
Là trường thi khai hóa nghĩa đường;
Là tiền cất để lên đường,
Trong ngày chung kết hồi hương cảnh nhàn.
Con chớ tưởng giàu sang thế cuộc,
Hỏi đời ưa bó buộc mà chi?
Trăm năm không hẹn đúng kỳ.
Thạch Sùng, Vương Khải còn gì thế gian?
Hay một giấc mơ màng mộng điệp,
Nợ phù tang nối tiếp gia truyền;
Để rồi tạo những oan khiên,
Nhồi căn ích kỷ đường Tiên khó về.
Sao chẳng biết đổi mê làm tỉnh?
Chút quả công sùng kính thể Trời;
Tạo thành cơ sở sáng ngời,
Từng khi phước thiện, từng nơi Đạo truyền.
Giúp vùa nhau ở yên thù tạc,
Cùng bạn hiền đạm bạc làm vui;
Phước duyên hưởng thú thanh mùi,
Khi chung nghĩa hiệp, khi nuôi chơn thần.
Việc công quả khi phần hình thức,
Nhưng cũng đồng lãnh vực linh thông;
Dặn con nhớ giữ không không,
Đừng lên tiếng cả, đừng mong tôn vì.
Con hữu duyên gặp kỳ Đạo hóa,
Hồn Nam Bang họp cả giác thần;
Tiền đồ lắm vẻ thanh tân,
Điểm trang thể thống con lần nêu cao.
Theo lối thẳng góp vào chương sự,
Bước “Công Trình” hội dự nữ nam;
Thì giờ rỗi rảnh con làm,
Dạy nhau lập chí lần đam đức hiền.
Bỏ thối xấu tư riêng tật đố,
Dạy cho nhau yếu tố yêu thương;
Bỏ đi những nỗi cang cường,
Dạy truyền hòa nhẫn nêu gương thuận tùng.
Bỏ những lúc nhàn dung đôi mách,
Dạy từng lời tư cách tiếp giao,
Bỏ xa thế lực phú hào,
Dạy tôn phẩm vị đặt vào nhơn phong.
Bỏ lối nói dài dòng tục tĩu,
Dạy học lời êm dịu thanh bai;
Bỏ khi lêu lỏng chiều mai,
Dạy nên cần mẫn giồi mài điểm linh.
Tạo cảnh lạc hành trình đây đó,
Đem đức tài hóa độ trần vơi;
Công dư con giúp cho Trời,
Công dư con giúp cho người thôn lân.
Trước cửa Ngọc muôn tầng sáng chiếu,
Nếp tu trì chánh hiệu cao minh;
Ba công sắp để chương trình,
Đừng cho thiếu sót diệu linh rõ ràng.
Vạch lối đi khuôn vàng trao lại.
Đúc hồn thiên điểm sái kỳ ba;
Ngàn năm con gặp Đạo nhà,
Khai nguồn vô tận, tinh hoa độ đời.
DIÊU động lòng Già nhớ đến con,
TRÌ trầm nên phải điểm linh mòn;
KIM thành Mẹ chuyển ban kinh sám
MẪU mạng mong sao trẻ giữ tròn.
Xét nguyên nhân người trong thế hạ,
Phải ngẫu nhiên sanh hóa vô thường;
Rõ ràng chuyển hiệp âm dương,
Linh quang nhất điểm mở đường lý chân.
Mượn bảy thể giả trần thân xác,
Tá ngũ hành hợp tác ngũ quang;
Để mà xây cuộc dinh hoàn,
Tiến lên phẩm vị cao ban pháp đồ.
Nhưng vì bởi nhiễm ô trược chất,
Khí Hậu Thiên chiếm mất Tiên Thiên;
Làm cho linh tánh đảo huyền,
Tưởng đây là chốn lưu truyền muôn thu.
Bởi thế nên tăng phù tội lỗi,
Bởi thế nên Giáo Hội hoằng khai;
Trời Cha thương đám nhân loài,
Bao phen chiết thể Ngôi Hai xuống phàm.
Khêu đuốc sáng dắt đem trở lại,
Định phương châm luận giải đường tu;
Lần hồi vẹt tỏa sương mù,
Cho hồn nghịch chuyển thượng phù vị xưa.
Truyền tập lấy muối dưa thanh khiết,
Luyện kim thân bí quyết giác mê;
Tránh xa vật chất nặng nề,
Chơn Thần tụ đảnh hướng về Long môn.
Phần căn bản bảo tồn phước huệ,
Phật, Thánh, Tiên, nhứt thể ban đồng;
Trai minh thủ giới đầu công,
Để cho thể chất hiệp dòng huyền quang.
Có như thế mới an tâm tại.
Mới nhẹ nhàng khỏi phải trì lôi;
Vượt tầng ác khí nén nhồi;
Tránh xa oan nghiệt tanh hôi lửa lò.
Nhưng người mãi bo bo tục cũ,
Lại luận tranh quyến rủ vào đàng;
Dại khôn lập thuyết nói càng;
Sống ăn, sống mặc, dở dang thiệt thòi.
Khôn sao chẳng tìm tòi nguyên lý?
Đời lấn xô, ích kỷ vì đâu?
Ngày đêm biến cảnh âu sầu;
Phải do ăn mặc khởi đầu hại nhau.
Con tu học vàng thau phân chất,
Há màng chi xác vật nằm trơ!
Lạt chay giữ dạ thô sơ,
Mà lòng nhơn nghĩa đón chờ thân sanh.
Đây, mặt luật ban hành sáng tỏ,Tùy căn duyên tiếp trong ngày nguyện đương.
Pháp môn truyền kim cổ không sai;
Nuôi hồn phải thọ minh trai,
Cao Đài Giáo đề chương sang tập,
Dạy các con từ thấp lên cao;
“Lục Trai” sơ độ bước vào,
Từ nay con chớ lãng sao tấc lòng.
Rồi “Thập Trai” mới mong trực tiếp.
Trước cửa Trời chuyển hiệp chánh tông;
Thập Lục” hành Đạo lập công,
“Trường Trai”, “giới sát” vào dòng điểm đơn.
Tu mà chẳng thu huờn tánh thiện,
Chẳng ăn chay, chẳng luyện cái tâm;
Khác nào kẻ bói đi thầm,
Đường ngay chẳng cứ thẳng ầm vực sâu.
Nền Đại Đạo nhiệm mầu cứu thế,
Việc ở ăn chớ để sai ngoa;
Lời vàng Mẹ đã thông qua,
Con lo ôn tập còn ra đại đồng.
Còn ngày trở lại cảnh Bồng.
****************
Bồng lai muốn đến phải dày công,
Luyện thể khinh thanh học chữ không;
Tửu, khí, sắc, tài, xa tánh tục,
Minh trai đắc pháp sưởi hương lòng.
LÝ đào đua nở trước vườn Xuân.
ĐẠI thể sum sê tỏa mấy từng,
TIÊN Thánh hội đàm truyền mối cả.
TRƯỞNG ân sắp để bóng chơn thần.
BÀI THỨ NĂM: dạy nên Lập Chí,
Lập chí là nuôi kỹ lối đi.
Biết phương lợi ích những gì?
Quyết lòng thực hiện cho kỳ được công.
Một yếu tố hợp đồng vạn thể,
Một thành công thực tế sáng ngời,
Chẳng phân lớn nhỏ Đạo đời,
Quyết rằng lập chí đúng thời nên danh.
Xưa TRÌNH TỬ muốn thành Á Thánh,
Lo luyện trau tâm tánh chẳng rời,
Trắng, đen kiểm lại đậu rơi,
Chế điều sai quấy không ngơi ý thành.
Và ĐẠT TA biết rành đời khổ.
Muốn cứu đời trước độ lập thân,
Bao phen mờ xoá tinh thần,
Quyết thành một thuở thông tầng huệ khai.
Người khoa học nuôi dày chí cả,
Mới phát sinh mở khóa đồ phương,
Để mà điều hiệp âm dương.
Tìm cơ động tịnh khai trương nghiệp đời.
Một sử gia kịp thời luận giải,
Lập chí nên quảng đại công truyền,
Lần qua bấy cuộc biến thiên,
Mới tường thuật sự mối giềng việc chung.
Công lập chí để cùng học Đạo,
Học cho thông cải tạo cho người,
Tiền trình kể biết mấy mươi,
Gặp cơ lao lý vui cười lướt qua.
Người có chí mới ra phẩm cách.
Nếu mà không, như mạch lạc dòng,
Nửa đường gặp lối chảy rong,
Đâu thành nước mát, sông trong cho đời.
Ngày nay đã thờ Trời chân lý,
Làm làm sao yếu chỉ phân rành?
Rõ ràng biểu hiện nguồn lành,
Từ cơ tiếp xử tu hành đừng sai.
Đạo thể một đường dài dặm thẳng,
Ngày nhịp nhàng đều đặn bước đi,
Nắng mưa đâu quản ngại gì,
Đã nhờ lập chí kiên trì sớm trưa.
Muốn lập chí phải thừa nghị lực,
Trí chia đôi lãnh vực phải không,
Đừng cho luốt yếu cõi lòng,
Nếu mà dụ dự khó mong đạt thành.
Vượt trở đương mới rành nghĩa Đạo,
Nuôi chí cao mới bảo toàn công,
Kiên trinh quyết đoán cõi lòng,
Cõi lòng sáng suốt lưu thông quảng hành,
Xét phần đông chưa thành chí cả,
Tu theo chiều phước quả cầu may,
Nên chi biếng nhác trong ngày,
Mĩa mai mặc để dỡ hay tiếng đời.
Trọng danh đạo kịp thời vận chuyển,
Dạy chúng sanh phương tiện tạo nên,
Mong sao tất cả đừng quên,
Từ nay lập chí vững bền công tu.
NGUYỄN triều Nam Việt tiếng còn khen,
THỊ lập minh oan để biết rằng:
TRINH liệt mở đường khai quốc tuý,
NỮ hiền luyện tánh định nhơn căn.
HIỆP đồng thể chất trong sanh mạng,
QUANG khởi thần linh trước huệ đăng,
CHÍ dốc truyền thành soi cảnh giới,
THÁNH chơn triều hiện phẩm cao đăng.
BÀI THỨ SÁU: tiếp đề Trinh Liệt,
Bạn nữ lưu cần biết cho rành,
Để mà luyện chí cao thanh,
Khai trương phẩm Đạo đắc thành vinh quang.
Người sanh ra hai đàng tương hiệp,
Xác với hồn thừa tiếp song song;
Xác sao đáng mặt má hồng,
Hồn sao trong sáng nơi dòng mạch thiên.
Xét cho kỹ đầu tiên trinh tiết,
Nữ giới ta nhứt thiết phải đồng,
Có trinh mới tạo phước hồng,
Một đời tươi đẹp lòng không hận lòng.
Giữ được trinh thuộc trong quí phẩm,
Chọn tay trao phúc ấm hòa duyên,
Trăm năm giữa cuộc trần miền,
Đã không tiếng xấu, lại yên lòng chồng.
Chữ trinh ấy linh thông đức cả,
Thắm tươi màu cảnh hoạ thân sanh,
Nữ phong truyền để lưu hành,
Muôn đời mến chuộng cái danh từ hiền,
Về thể chất trinh kiên giá ngọc,
Đối tinh thần trinh lọc giác quang,
Tiết trinh đưa lối dẫn đàng,
Hóa sanh tánh thiện chứng hàng Thánh Tiên.
Trước chức vụ Thiêng Liêng vĩnh cố,
Lập thế gian nữ độ giống nhà,
Hiệp trong thể thống tinh ba,
Quang minh chánh đại đậm đà lý sâu.
Dòng trinh liệt nuôi bầu huyết lệ
Đủ vai tuồng tiết thể phong nghi,
Làm con trinh mới trọn nghì
Ra đời trinh mới tôn vì tơ duyên.
Đường kế hậu đẹp yên dạ trẻ,
Một mẹ cha hợp lẽ phụng thờ,
Tình nhà đượm sắc thần thơ,
Quốc dân tô điểm cõi bờ Nam Phong.
Bởi đời nay sống trong xác thịt,
Nên trí mờ bưng bít thần quang,
Rủ nhau xua đuổi vào đàng,
Lẳng lơ trắc nết lang bang quá nhiều.
Đâu còn biết hướng chiều trinh liệt,
Gái lớn lên tha thiết tình yêu,
Rõ ràng nhắm mắt đi liều,
Đẩy đưa gang tấc đắm xiêu tinh thần.
Tệ hại bấy muôn tầng sóng bạc,
Cuộn trào cho đá nát vàng phai,
Quần thoa cũng thể râu mày,
Buông rồi chí dũng xuôi tay dặm ngàn.
Hỡi các em mơ màng chi nữa!
Đây nước Trời gội rửa tâm linh,
Để cho giá phẩm tiết trinh,
Đi về bạn với thơ sinh nữ truyền.
Muốn đức trinh an nhiên vóc ngọc,
Nơi Đạo tràng quyết học công tu,
Vượt qua bao lớp sương mù,
Cho đời quang đảng thượng phù cảnh thanh.
Đem tiết trinh vá lành hủ tục,
Dụng thần phương bài độc mê ly;
Sáng trưng đường lối Tam Kỳ,
Xác hồn tương đắc phong nghi đủ đầy.
GIÁC thế từ xưa đã mấy lần,
MINH hành mới rõ lý cao tân,
THÁNH tâm đem lại đời Nghiêu, Thuấn,
ĐỨC hạnh nêu lên đạo tử thần.
ĐOÀN thể hiệp hòa khai quốc túy,
THỊ thành an lạc trưởng hồn chân,
ĐIỂM thông cơ hóa Trời ban sẵn,
BÀI THỨ BẢY: tiếp đề dạy Đạo,
Lý Tam Tùng truyền bảo cho nhau,
Dặn lòng chị trước em sau,
Hội thần tiết tháo họa màu kiên trinh.
Ôn trở lại quá trình khoa liệu,
Lý Tam Tùng có thiếu chi đâu,
Ngặt vì mưa nắng dãi dầu,
Nhạt phai tấc dạ nên câu bất thành.
Nay các em đề danh nữ phái,
Trong Đạo Trời âu phải chánh minh,
Nếp truyền vẽ lại cho in,
Còn ngày khai triển muôn nghìn cảnh quang.
Xét “Tùng Phụ” là đàng khởi thủy,
Còn tại gia yếu chỉ tập rèn:
Nhờ tàng cội cả bủa giăng,
Nhờ phương tiến hóa thần đăng dẫn đàng.
Ngày một nên khai trương thể cách,
Lời mẹ cha bảo mách nghiêm trang,
Ấy là thước ngọc khuôn vàng,
Vâng thừa trọn Đạo đừng ngang trái chìu.
Còn đi học thu nhiều mỹ cảm,
Quyết nên công bảo đảm thành tài,
Bạn bè phân biệt gái trai,
Tiếng khen cha mẹ khỏi hoài công sanh.
Công sanh dưỡng tập tành ngày tháng,
Nợ áo cơm chưa hẳn đáp đền,
Hiếu thân sớm tối đừng quên,
Quạt nồng ấp lạnh cho nên thảo hiền
Việc ở ăn thường xuyên vui vẻ,
Cha mẹ già mọi lẽ đảm đương,
Viếng thăm, cơm thuốc, lo lường,
Nhớ câu dưỡng tử niềm thương đậm đà.
Muôn việc chi đừng qua phụ mạng,
Trọng gia thinh chánh đáng trong ngày,
Từ hòa dung hạnh đừng sai,
Đừng cho tiếng xấu bên ngoài rêu rao.
Đêm tăm tối tiếp giao phải cách,
Chốn khuê phòng mượn sách làm vui.
Học cho đạo lý biết mùi,
Biết điều sai quấy dưỡng nuôi đức hiền.
Kịp lớn khôn tơ duyên định mạng,
Đợi mẹ cha phân đoán mới rằng,
Hay vì tang bộc dưới trăng,
Trâm cài trước lễ bao phen đổi đời.
Bến mười hai tùy nơi chọn lựa.
Do tôn đường gia hứa câu thân,
Đã trao nghĩa cả Tấn Tần,
Tùng phu trọn Đạo so cân ở đời.
Đạo “Tùng Phu” nguyện lời son sắt,
Chữ nghi gia qui tắc đành rành,
Phước đời tạo cảnh an lành,
Xướng tùy đúng nhịp âm thanh rập ràng.
Dầu sang cả nghèo nàn chung hưởng,
Dầu nhỏ nhen, độ lượng riêng nhờ,
Tránh điều hỗn độn nói quơ,
Vì rằng tai vách ai ngờ có không.
Vợ Mãi Thần xưa trông đã chán,
Thói bạc đen ngao ngán lắm thay!
Sao cho đáng mặt nữ tài,
Như nàng Tô Huệ dệt bài cẩm văn.
Đem tất cả cơ năng phụng sự,
Nếp đạo truyền vĩnh tự là đây,
Hương trời trước gió thơm lây,
Nhà Đông ngào ngạt, nhà Tây nực nồng.
Quyền nội tướng truyền thông thắng cảnh,
Việc tiếp thu nữ hạnh khôn ngoan,
Thờ cha kính mẹ chu toàn,
Sớm thăm tối viếng thay chàng khi xa.
Cùng thân tộc an hòa đủ lễ,
Cùng chị em chia xẻ ngọt bùi,
Nữ hiền trinh thuận làm vui,
Giúp chồng trọn nghĩa đủ mùi vị thơm.
Kìa Châu Long đai cơm nuôi bạn
Cho thành công mới hản là duyên,
Thủy chung đáp lại lời nguyền,
Nay còn mấy kẻ điểm khuyên hạnh đời.
Gương quí giá chiều mơi soi kỹ,
Học lần theo tỷ mỷ từng câu,
Tùng phu đề mục nhiệm mầu,
Các em cố gắng giải bầu nhiệt tâm.
Nếu rủi ro trăm năm chẳng trọn,
Điểm canh sầu giữa ngón hoàng lang,
Ngửa nghiêng gối chích bên màn,
Ôm lòng trung liệt thuận đàng nuôi con.
Đạo “Tùng Tử” vuông tròn mẫu mạng,
Dạy con nên xứng đáng trên đời,
Đặt thành trách nhiệm không rời.
Dò lần tánh trẻ để lời nhủ khuyên.
Tích Mẫu Mạnh đức hiền sáng rỡ
Đoạn trữ cơ một thuở răn lòng,
Tinh thần gạn đục lóng trong,
Lập nên thế Đạo truyền tông lâu dài.
So tiếng nói không sai gan tấc,
Đối hành vi tư thất rõ ràng,
Trẻ thơ tập tánh làm ngoan,
Nên hư tại mẹ thành đàng thói quen.
Đem trung nghĩa cân bằng Đạo trọng,
Một niềm thương hâm nóng đời con,
Từ khi chiu chít lòng son,
Đến cơ thành đạt xử tròn mẫu ân.
Trước chức vụ gọi phần đền đáp,
Học cho rành thích hạp phong nghi,
Làm con, làm mẹ trọn nghì,
Gia bần càng rõ lương tri đức tài.
Tài liệt nữ tương lai tươi sáng,
Hỡi các em mẫn cán lần lên,
Quốc dân xây dựng móng nền,
Móng nền đạo đức tuổi tên phổ đồng.
Lý “Tam Tùng” tả không xiết hết,
Bởi vì đời đã chết thần quang,
Sống ăn, sống mặc, sống càng,
Đâu còn biết lý trần gian sống đời.
Kìa trước mắt con thời tự chủ,
Xem mẹ cha như cụ láng giềng,
Vợ thì ngang dọc ngữa nghiêng,
Xem chồng là kẻ tình riêng lúc buồn.
Còn nói chi cái tuồng tệ bạc,
Con tay bồng vội sát niềm thương,
Sớm trưa lả lướt ngoài đường,
Mặc người chín suối can trường xốn sang,
Để đối chiếu thau, vàng, đời, Đạo,
Để chấn hưng cải tạo cho nhau,
Điểm trang sắc thái tươi màu,
Các em hồi tưởng trước sau mỗi người,
Điều sai quấy vui cười tự hối,
Nơi Đạo tràng tắm gội ánh chân,
Tam tùng nhuận tập từng phần,
Tạo nên gương sáng cho trần gian soi.
BÀI THỨ TÁM: xương minh “Tứ Đức”.
Ấy vốn là thiên chức nữ lưu;
Nhẹ nhàng thanh thoát mỹ miều,
Rõ trang thần hội dệt thêu duyên Trời.
Này các em thân đời bồ liễu!
Phải rằng sao đúng kiểu môn my;
Thế gian cảm mến duy trì.
Chỉ trong bốn đức thông tri đủ đầy.
“Công” là thợ dựng gầy cơ nghiệp,
Công mở đề trực tiếp đời ta;
Lao tâm, lao lực cũng là.
Tùy theo cảnh ngộ xoay ra việc làm.
Người phụ nữ biết ham khéo léo,
Học rành nghề mềm dẽo tay quen,
Dệt, thêu, may, vá lẽ hằng,
Nuôi con dọn dẹp nấu ăn là thường,
Từ công cán khuếch trương thương mại,
Đến nông tang cấy hái am tường,
Đói no trái phải lo lường,
Bánh quà tặng phẩm đủ phương thức làm.
Tánh siêng năng mới đam công khó,
Đời có làm mới rõ nên thân,
Không riêng chi kẻ phú bần,
Tùy nghi xử dụng tinh thần gia phong.
Người vợ hiền biết trong nhiệm vụ,
Sống cuộc đời lý thú vui say;
Tỏ ra thạo việc đủ đầy,
Giúp chồng phương tiện dựng xây nghiệp nhà.
Bậc Tiểu Thừa thông qua chừng ấy,
Mỗi các em lập lấy cho thường,
Rồi còn tiến bước đôi chương,
Công tôn nghĩa Đạo, công tường quốc dân.
Muốn đức công trọn phần thể hiện,
Em gắng lên vui tiến cõi lòng,
Xa lìa cái bịnh ngồi không,
Tính toan từng việc, ngoài trong gọn gàng.
“Ngôn” là nói, nói càng ai kể,
Lời ôn tồn cụ thể nghiêm trang.
Nói ra cho được hảo toàn,
Nói minh lẽ thiệt vỗ an lòng người.
Đừng tập tánh nói cười khe khắt,
Cậy sang giàu bắt chặt thế cô,
Lả lơi biếm nhẽ hồ đồ,
Vẻ vời thêm chuyện điểm tô rắn rồng.
Một tiếng nói giúp chồng trọn đạo,
Một lời ra đáp thảo mẹ cha,
Dạy con đúng cách từ hòa,
Nói trong nhân lễ văn khoa nhẹ nhàng.
Muốn đức Ngôn công bằng thừa nhận,
Hãy nghiệm suy cho tận trước lời,
Có ai nhắc nhở chiều mơi,
Tiếng lành lẽ phải ta thời biết ơn.
Bởi đời nay thua hơn hỗn luận,
Mất đức hiền mâu thuẫn sanh đoan,
Giờ đây thuyết hóa Đạo tràng,
Các em kiểm nhận kỹ càng đức Ngôn.
“Dung” là dáng thể hồn đạo đức,
Tượng bên ngoài hình thức nghiêm trang,
Không ham lòe loẹt sửa sang,
Mà ra tư cách gọn gàng tự nhiên.
Công việc làm cần chuyên thứ lớp,
Đưa tay chân ăn khớp nhẹ nhàng,
Tránh điều cục mịch dở dang,
Múa vung ủ dột châu chan mặt mày.
Lời nói năng thẳng ngay hòa dịu,
Vẻ đẹp tươi khuôn kiểu tánh Trời,
Có đâu những giọng lã lơi,
Nặng nề quạu quọ một đời hư ngôn.
Cách đi đứng không bôn không chậm,
Xem trước sau khỏi dẫm lên đồ,
Dịu dàng nhịp điệu diễn phô,
Nằm ngồi phải cách liễu bồ thân sanh.
Việc trang sức đã dành bạn gái,
Nhưng nhớ rằng không phải se sua,
Cái duyên thật chẳng tiền mua,
Mặn mà vốn sẵn, lòng tua giữ gìn.
Đừng có tưởng đẹp xinh màu sắc,
Như tục đời nắm chắc thời trang.
Thiếu chi những kẻ giàu sang,
Đức Dung không có như nàng nộm tranh.
Muốn đức Dung trưởng thành em phải,
Tập thói quen mềm mại đường hoàng,
Học lời giáo huấn kỹ cang,
Hình dung trước cảnh mở đàng dáng duyên.
“Hạnh” là nết, nết truyền cử chỉ,
Từ bên trong thuần túy mà ra,
Hạnh là thiên tánh giao hòa,
Chơn dương hàm thụ chuyển qua xác hình.
Người có hạnh cao minh thấy rõ,
Đức độ khai sáng tỏ mọi điều,
Công, ngôn, dung hiệp mơi chiều,
Thể theo lý Đạo cao nêu từng phần.
Trong bốn đức chủ phần đức Hạnh,
Hạnh trưởng thành chi nhánh lưu thông,
Nếu mà hạnh chẳng ở trong,
Dù cho gò ép cũng không trường kỳ.
Bởi đời ưa những gì sang cả,
Tưởng phẩm người ở bả lợi danh,
Nên không đạt chỗ chí thành,
Nết hư tật xấu biến sanh loạn thường.
Xem thì thấy chán chường đủ cảnh,
Còn chi là pháp chánh nữ lưu?
Tự do sôi nổi một chiều,
Theo đà vật chất đắm xiêu tinh thần.
Trọng màu sắc hơn cần phẩm hạnh,
Ưa đẹp vay hơn mảnh đẹp thần;
Thét gào giữa biển sóng dâng,
Chôn vùi đáy cát một vầng trăng trong.
Nền Đại Đạo xoay vòng bánh phép,
Gọi hồn thiêng lần tiếp hương nguyền,
Cho người rõ lý hồi nguyên,
Nữ phong, nữ hạnh chủ quyền nhân sanh.
Để đức hạnh an lành trọn đủ,
Trước của Trời thực thụ lý chân,
Các em nuôi dưỡng tinh thần,
Theo phương tu niệm thoát lần lối mê.
Bốn đức cả chương đề tận giải,
Hoạch bản đồ nữ phái minh tra,
Học hành suy diễn rộng ra,
Khai thông nguồn sáng truyền ra hóa đời.
TÔN nghiêm truyền để bóng nhân hoàng,
LINH diệu xưa nay chẳng thế an,
THÁNH hóa Tam Kỳ soi đuốc ngọc,
ĐỨC thành chung hội tiếp cao ban.
BÀI THỨ CHÍN: tiếp đề Bát Bửu,
Tám báu truyền qui tựu nhơn căn,
Ấy là lẽ sống lòng hằng,
Hóa Công ban đủ cơ năng phổ đồng.
Đem khái niệm Tây Đông truyền lại,
Đều một đường quảng đại đây thôi,
Xưa nay thừa tiếp bao hồi,
Hiển u chỉ tại dòng trôi tục đời.
Thật lẽ sống hợp thời ai cũng,
“Hiếu” để mà thừa phụng nghĩa thân,
Nuôi con đợi thuở quá tuần,
Sương mai nhờ bóng tử thần tựa nương.
Hiếu đạo vốn cang thường số một,
Luận cho thông, cho tột lẽ mầu,
Để đền đáp lại ân sâu,
Công sanh, công dưỡng dãi dầu biết bao.
Việc thảo thân đi vào chi tiết.
Đủ hai phần thuần khiết mới nên,
Tinh thần vật chất vững bền,
Phú, bần cảnh ngộ đối trên lập trường.
Ngày tiếp xử kính thương trọn cả,
Bữa uống ăn cung hạ bảo toàn
Nhỏ còn đi học phải ngoan,
Học cho thành đạt mở mang nghiệp nhà.
Kịp lớn khôn lần qua nhiệm vụ,
Nuôi mẹ cha chí thú đêm ngày,
Noi gương Thánh triết thảo ngay,
Nhị Thập Tứ Hiếu giải bày tâm cang.
Đem thân sống bảo toàn hiếu đạo,
Nguyễn Ánh xưa đuổi báo cứu cha,
Mạch lòng chảy suốt phu bì,
Tử sanh nguyện đáp ân vì tạo đoan,
Trước Thiên trách mở mang trần hạ.
Ích lợi chung cho cả quần sanh,
Kìa gương KHỔNG THÁNH lưu hành,
Suốt đời truyền Đạo định thành hiếu thân.
Nếp gia thinh muôn tầng không sánh,
Dễ mang câu bất chánh bất nhân,
Nếu mà cha mẹ bần thần.
Đâu còn hiếu đạo, nghĩa thân trọn gìn.
Học thấu đáo tường minh yếu lý,
Nữ như nam nghiệm kỹ suy cùng,
Hoàn thành nhiệm vụ thủy chung,
Hiếu mà giữ trọn mới tùng nghĩa phương.
Người thế gian phải tường chữ hiếu,
Nơi Đạo tràng mở khiếu lên cao,
Hiếu thân truyền cảm rạc rào,
Ấy đường chánh đại Trời trao lẽ thường.
“Đễ” là thuận lập trường hòa ái,
Cùng đệ huynh phải trái luận bàn,
Thuận rồi rõ lý vinh quang,
Phước nhà đầm ấm cơ hàn có nhau.
Trong gia đình đượm màu son sắt,
Giữa nhân quần siết chặt tình thương,
Thuận hiền tiếp mối chơn dương,
Hỏa tình khỏi động nhiễu nhương đêm ngày,
“Đễ” không phải xuôi tay chìu quấy,
Thuận đây là giữ lấy ôn lương,
Quảng hành độ hướng khai trương,
Từ trong nghịch cảnh mở đường thuận thân.
Bởi thế nên người cần chữ đễ,
Việc xử giao mới thể hảo toàn,
Đạo đời tương đắc hòa an,
Xác hồn trực tiếp bên màn thiên lương.
“Trung” là ngay can trường lập chí,
Ngay thẳng lòng nuôi kỹ lý chân,
Đức Trung, ai cũng thấy cần,
Nhưng vì bả lợi khó gần được Trung.
Trung ấy được thủy chung như nhứt,
Trung để cho trọn chức vụ người,
Trung thành đượm vẻ thắm tươi,
Quốc dân niềm nở vui cười thân yêu.
Xưa Bình Trọng không xiêu thần sắc,
Cùng Triệu, Trưng cân quắc so bì,
Cam La còn tiếng sử ghi,
Cái gương trung, nghĩa duy trì muôn năm.
Trung đối cảnh suy tầm cội rể,
Trung vì dân há dễ vì ai.
Xưa nay biết mấy anh tài,
Giúp người sai Đạo bỏ hoài công phu.
Chữ Trung để đền bù nghĩa cả,
Đạo phu thê như lá với cành,
Trọn lời nguyện hiệp duyên lành,
Vợ hiền tiếng tốt mới thành tiết trung.
Lời can gián thẳng dùn phải cách,
Cho người trên phân tách hiểu rành,
Tránh xa tội lỗi hư danh,
Ấy trung biểu lộ thực hành dạ ngay.
Trong cửa Đạo càng dày đức cả,
Đối hồn thiêng như cá nước hồ,
Phỏng mà nắng hạn nước khô,
Nước khô cá phải lần vô cảnh cùng.
Đây chữ Trung đem dùng thực tại,
Mỗi nhơn sanh còn phải học hành,
Để cho thể ngọc long lanh,
Đạo nhà tô điểm, trung thành lý đương.
Trung tóm lại là phương hướng thẳng,
Người có trung mới đặng toàn danh,
Chữ trung đi với chữ thành,
Trung thành tươi đẹp như tranh trong tường.
“Tín” là tin, tin thường hay mất,
Vì người nay chưa thật lòng tin,
Đúng ra tin quý vô cùng,
Thánh hiền còn để đức tin lâu dài.
Tín đâu có lời sai qua lại,
Tín nơi mình nói phải làm ngay,
Không ham danh lợi tiền tài,
Để cho thất tín ngày mai khó tìm.
Mình trọn tin, tin thâm người khác,
Có tin người mới đạt lòng nhau,
Tạo nên truyền cảm sang giàu,
Giữa người chung sống một màu thiệt ngay.
Chữ Tín ấy sao hay ho quá,
Thu phục rồi chí cả lên cao,
Vì rằng tín thật dồi dào,
Dễ ai đã dám xen vào thất ngôn.
Nên chữ Tín bảo tồn thân lập,
Muốn lập thân phải tập tín thành,
Một đời chân thật nên danh,
Nghiêm trang thể cách thông hành gần xa.
Trọng chữ Tín đời ta tươi đẹp,
Lời thốt ra như chép ghi lòng,
Dầu cho muôn lượng vàng ròng.
Không mua được cái “ừ” xong đã rồi.
Bởi đời nay lôi thôi quá lẽ,
Trong một giờ chia xẻ nhiều nơi,
Nói ra ít nhớ lại lời,
Vui, buồn, sai khiến quảng đời éo le.
Nạn thất tín cười khè bên khóc,
Giữa lớp người hằn hộc giả tâm,
Lưỡi môi đưa đẩy lầm thầm,
Mà lòng chẳng thiệt, mưu tầm kế gian.
Nay chữ Tín đạo tràng đem lại.
Để cùng nhau điểm sái tâm linh,
Dầu cho người có giả tình,
Ta đem chữ Tín mà chinh phục đời.
Quyết cho đặng sáng ngời chữ Tín,
Có tin rồi mới định phẩm cao,
Phẩm đời đã trọn thân giao,
Phẩm Tiên tiếp mối bước vào thiền tâm.
DIỆU giải cho nhau một cõi lòng,
LINH truyền cao độ pháp tinh thông,
THÁNH nhơn khai hóa cơ thường lạc,
ĐỨC hiệp hòa minh lý chánh tông,
“Lễ” là cái phương châm tiếp xử,
Cho thế gian vinh dự sống đời,
Giữa người hội diện chiều mơi,
Tôn ty phải cách sáng ngời nhơn phong.
Lý trật tự họp đồng đại thể,
Sống điều hòa do lễ mà ra,
Lễ nghi vốn thiệt báu nhà,
Đông Tây hảo hiệp đậm đà sắc giao.
Người có lễ tăng cao phẩm giá,
Lễ trọng người, người trả lễ an,
Kính nhơn, nhơn kính rõ ràng.
Tùy cơ thủ xử thuận đàng dưới trên.
Lễ giữ Đạo không quên sùng bái,
Thờ mẹ cha lễ giải trọng tôn,
Đệ huynh thừa tiếp ôn tồn,
Phu thê tùy xướng ngữ ngôn thuận hiền.
Ngoài xã hội, lễ yên định hướng,
Việc tiếp giao lễ trưởng đức thành,
Xưa nay mấy bực trứ danh,
Sống trong lễ nghĩa phân ranh tục đời.
Nếu thiếu lễ Phật Trời chẳng kính.
Chẳng tôn ti liều lĩnh sang ngang,
Khác nào bánh vẽ trên bàn,
Đói ăn không được, dở dang thay là.
Người đời nay bôn ba vật chất,
Lễ báu truyền xem mất phần đông,
Lại cho phép Đạo không thông,
Đưa người vào chỗ cuồng ngông thấp hèn.
Cũng bởi thế đua chen sôi nổi,
Mất lịch xinh giữa hội cao đàm;
Múa men nóng nẩy sân tham,
Dung nghi hỗn độn nâu chàm sắc pha.
Nay yếu lý truyền ra dạy kỷ,
Lễ trước tiên tỷ mỷ tập tành,
Tề gia, xử thế hội thành,
Là phần căn bản chúng sanh phải làm.
Đem chữ lễ luận đàm mọi lẽ,
Từng cơ vi tiết thể ngoài lòng,
Cho nhau tất cả thuộc lòng,
Nhứt ngôn, nhứt động hợp dòng lễ nghi.
“Nghĩa” vụ ấy tường tri yếu giải,
Nghĩa đây là việc phải cần làm,
Mới tròn trách nhiệm thế gian,
Tinh thần nghĩa khí dẫn đàng lối chung.
Người thượng nghĩa biết dùng sức mạnh,
Biết đem thân trước cảnh xâm lăng,
Ra tay giúp kẻ yếu hèn,
Làm nên việc nghĩa so bằng vàng muôn.
Vợ biết nghĩa không buồn tủi phận,
Trước tình nhà lận đận khổ đau,
Bạn bè chẳng kể sang giàu,
Nghĩa hành chung thủy có nhau buổi cùng.
Nghĩa đượm cả hình dung thần sắc,
Cho thế gian siết chặt niềm thân,
Xưa nay nghĩa trọn vô ngần,
Tùy thời xử dụng nghĩa lần hiện sanh.
Bởi thế nên, nghĩa thành đại thế,
Người sanh ra nghĩa để sống đời,
Nghĩa làm nhiệm vụ chiều mơi,
Nghĩa trong chí cả giúp người nên danh.
Người thiếu nghĩa như tranh thiếu cảnh,
Chẳng vị tha chỉ lãnh phần mình,
Thiệt là mờ mịt nan minh,
Quên Thầy, quên bạn, quên tình cha con.
Thử xét nay nghĩa còn hay mất,
Nếu nghĩa đồng đời thật tốt thay,
Hay là chỉ ở bên ngoài,
Mà lòng nhợt nhạt mặc ai nghĩa tình.
Đây trường Đạo khai minh đại thể,
Truyền cho nhau góp để nghĩa nồng,
Trong ngày lập chí đề công,
Mở mang phước thiện gọi lòng phát sanh.
Dạy cho nhau học thành nghĩa cả,
Giữa Đạo nhà một dạ thương yêu,
Đệ huynh lớn nhỏ dắt dìu,
Giúp vừa đạm bạc cao nêu tinh thần,
Làm được nghĩa trọn phần nhơn phẩm,
Nghĩa có làm mới ấm hòa phong,
Mới nêu danh thể cao tông,
Còn ngày dự thưởng phước hồng ân Thiên.
“Liêm” tận giải mối giềng thanh bạch,
Liêm suốt đời trong sạch không tham,
Tánh liêm ai cũng muốn làm,
Ngặt vì bả lợi còn ham khó thành.
Làm được liêm, thanh danh rạng tiếng,
Liêm giữ tròn phát triển lòng nhân.
Xưa kia mấy bực Thánh, Thần,
Một đời liêm khiết trong ngần sáng soi,
Đứng trước cảnh vàng thoi bạc nén,
Lòng thản nhiên mới vẹn hiếu trung,
Sống trong quyền tước nói chung,
Chữ liêm thiệt quý vô cùng khó mua.
Liêm ví tợ lá bùa hộ mạng,
Người có liêm mới hản là Thiên,
Xưa kia có Lỗ Trọng Liêng.
Không dùng của Lễ định yên lòng người.
Liêm tư chất vốn Trời ban sẵn,
Cho thế gian hưởng đặng thanh bình,
Ở ăn là việc thường tình,
Liêm không buộc lận giữ mình phần hơn.
Xét đời nay lòng nhơn đã thiếu,
Nên tiết liêm khó hiểu được rành,
Tưởng rằng sống để cạnh tranh,
Thua hơn quyền tước đủ vành tham gian.
Bởi thiếu liêm, người toan làm dữ,
Sương hơi mồi chẳng cứ lòng nhân;
Muốn cho ổn định cuộc trần,
Chữ liêm truyền để đôi vần thô sơ.
Trong cửa Đạo tôn thờ đại nghĩa,
Quyết từ nay gieo tỉa giống lành,
Tu thân đề khởi thực hành,
Cho liêm đức sáng truyền thành giác linh.
“Sỉ” là hổ, hổ mình quấy quá,
Biết hổ hem chơn giả mới rành,
Hổ vì chưa trọn đức lành,
Chưa thông đạo lý, chưa thành lương tri.
Thiếu thảo thân so bì tủi nhục,
Mất thuận hòa một khúc càng đau,
Chưa trung dạ héo gan xào,
Một lời thất tín trước sau hổ thầm.
Lễ chẳng trọn trầm ngâm thô bỉ,
Nghĩa chưa thành khắc kỷ xấu xa.
Liêm còn ẩn ánh lòng ta,
Sỉ đời thấp kém khó mà nên thân.
Người biết sỉ học lần tiến hóa,
Kẻ không ngơ như đã mất hồn,
Đường đời bao lớp dại khôn,
Nghiệm suy cho rõ bảo tồn lương năng.
Đạo luận giải sỉ tăng cao độ,
Tu luyện nên khỏi hổ công truyền,
Lý Trời đem lại cho nguyên,
Trong ngày mẫn cán thường xuyên trau giồi.
Tám báu linh thu hồi toàn diện,
Làm pháp môn vận chuyển linh căn,
Noi theo đại lộ hóa hoằng,
Theo nguồn quang tuyến huệ đăng sưởi hồn.
Ở đời của báu thật nhiều
Nhưng có tám báu hòa điều nhân sinh
Hiếu đễ phải giữ bên mình
Trung tín mới giúp vô minh bớt dần
Lễ nghĩa mới tạo tân dân
Liêm sỉ lại cũng rất cần cho ta
Phải đâu tìm kiếm cho xa
Tám báu trọn đủ giúp ta trở về
Tiên cảnh mới thật là quê
Trần gian quán tục ủ ê tình đời
Tham lam tranh đấu ngàn đời
Nổi trôi cảnh tạm,biết nơi nào về
Đâu cần kinh sách bộn bề
Thực hành tám báu mẹ phê hạnh lành
Có duyên tám báu tập tành
Đủ đức thì chẳng ai dành với ta
Vàng bạc dù chất đầy nhà
Kẻ gian dòm ngó tự ta hại mình
Tám báu thật đẹp,thật xinh
Ai đủ tám báu,vô minh phải lìa
Tám báu càng xẻ càng chia
Càng giàu nhân nghĩa,dựng bia nhân tình
Chẳng cầu mà đắc cao minh
Chẳng xin mà thấy trong mình luôn vui
QUAN khai đối cảnh tiếp trần tâm,
THÁNH hóa đồ thiên tối thượng thâm,
ĐẾ hiệp chơn ngôn phương yếu giải,
QUÂN thừa minh hạ nghiệm nhi khâm.
BÀI THỨ MƯỜI: khai trường Chánh Lý,
Tại vì sao khắc kỷ tu nhân?
Lý chi nuôi dưỡng tinh thần,
Ở đâu tìm kiếm, kiếm gần hay xa?
Muốn thấu đáo xét qua mọi lẽ,
Người thế gian sanh để mà chi?
Xác hồn liên hệ những gì?
Lý đời, lý Đạo trí tri tận tường.
Người, ấy vốn chơn dương phân hóa,
Hiệp xác thân đôi ngả tương quan,
Sánh cùng Thiên, Địa, Nhơn hoàn,
Tam tài một cõi thế gian lập đời.
Tất nhiên phải sáng ngời linh tánh,
Đức háo sanh thuận cảnh lý Trời,
Tạo nên nghiệp cả trên đời,
An hòa mọi lẽ nơi nơi thảo hiền.
Đạo thuần chơn đương nhiên sáng rở,
Từ Tam Hoàng rộng mở lần đi,
Thuận tùng Thiên mạng chánh nghi,
Âu ca lạc Đạo tôn vì đức nhân.
Người thuở ấy không bần thể cách,
Trí thảnh thơi thanh bạch cõi lòng,
Lâng lâng mát tợ trăng trong,
Vui trong cảnh ngộ hòa giòng pháp luân.
Bởi đời nay không tuân Thiên lý,
Ngày dẫn tràn ích kỷ tôn nhân,
Sóng trào vật chất cuộn dâng,
Đâu còn sáng suốt tinh thần như xưa.
Đời lầm lạc, đời ưa tội lỗi,
Đời ngổn ngang giả dối bạo tàn,
Đời này chẳng một giờ an,
Đời lo chiến đấu, đời càng diệt vong.
Đời vướng chặt trong vòng tứ khổ,
Đời sân tham hỷ nộ đủ điều,
Đời không lấy Đạo làm phiêu,
Đời ham vọng tưởng mơi chiều gắt gao.
Đời như giấc chiêm bao oan trái,
Đời vỡ tan lẽ phải đâu rồi,
Đời này sao quá tanh hôi,
Đời đi cỏ chán, đời ngồi cỏ chê.
Đời ong bướm, mận lê, tráo chác,
Đời đắm lần khó thoát lên cao,
Đời chôn linh tánh phương nào,
Đời đem oán ghét thay vào nghĩa nhân.
Đời như thế an thân sao được,
Biết thương đời phải trước tầm tu,
Bước ra khỏi cảnh trần tù,
Lên đường chân lý thâm u diệu huyền.
Tu cho rõ căn tiên cốt phật.
Tu sửa lòng ngay thật hiền lương,
Tu cho đúng lý cang thường,
Cha lành, con thảo yêu thương nhân loài.
Tu bỏ hết điều sai đã biết,
Tu cái “Tâm” tận diệt lòng tà,
Tu hành khoan luận cao xa,
Tu lời ăn nói, tu qua việc làm.
Tu cốt để luyện đam tánh tốt.
Tu đây là then chốt do ta,
Tu không bỏ cửa bỏ nhà,
Tu trong thân tộc, tu hòa đệ huynh.
Tu hạn chế dục tình sai khiến,
Tu trau giồi phát triển lương năng,
Tu đem bác ái, công bằng,
Tu điều không muốn chớ tăng cho người.
Tu giữa cảnh vàng mười bạc chục,
Tu đừng làm sĩ nhục tông môn,
Tu cho thường bửa ôn tồn,
Tu thành nhơn phẩm cao tôn quảng truyền.
Tu tránh lối tước quyền xu mị,
Tu không lòng đố kỵ thấp cao,
Tu cho thần trí dồi dào,
Tu nên từ ái coi nhau bạn hiền.
Tu thân trước an nhiên vẹn giữ,
Tu độ đời tiếp xử thân giao,
Tu đem lẽ phải hô hào,
Gọi lòng tất cả bước vào đường ngay.
Tu lập chí cho ngày an lạc,
Tu đại đồng mở hoát lối đi,
Tu hành đúng hướng Tam Kỳ,
Là đường cứu thế mầu vi buổi này.
Tu còn để đắp xây nền Đạo,
Tu tìm ra Tam Giáo đồng nguyên,
Tu vầy mới đắc chơn truyền,
Tu tầm chánh lý phổ truyền thế gian.
********
Thế gian bình phục biết tu thân,
Tu mới gội xong những nghiệp trần,
Tu tánh an hòa thâu “ái, ố”,
Tu tâm khiết tịnh phục “tham, sân”.
Tu còn phổ hóa đời mê khổ,
Tu để hoàn dương Đạo giác chân,
Tu thắng dục tình trong cảnh giới,
Tu tầm chánh lý trưởng tinh thần.
Thời mạt pháp khổ bày trước mắt
Nhờ ơn Trời khúc mắc tỏ bày
Thần tiên thánh phật ra tay
Giúp cho bá tánh hiểu tày lý chơn
Đã mười bài lời hơn tiếng thiệt
Giúp những trang hào kiệt hiểu rành
Tam kỳ đã mở đạo lành
Đại đạo chờ đón hùng anh cứu đời
Người kém hiểu nói lời nghi ngại
Người đủ duyên phải trái phân rành
Mở mang trí tuệ nhanh nhanh
Niềm tin giữ trọn,điển thanh chan hòa
Nhân đạo vững sáng lòa thiên đạo
Lo cứu đời ráng tạo đức công
Song tu đời đạo rõ thông
Tu còn tham luyến chắc không được gì
DIÊU TRÌ chuyển bút ngự đàn trung,
Mừng trẻ từ nay được hiệp tùng,
Chân lý Tiểu Thừa noi bước tiến,
Hóa hoằng chung tạo tiếp đề công.
Điển lành Mẹ bố ban chung,
Lời vàng truyền lại vô cùng thiết tha,
Mong sao giữ được Đạo nhà,
Giữ tròn phẩm hạnh tinh ba pháp truyền.
Hạnh đường điểm nhuận ân thiên,
Mỗi con thu nhận mối giềng lý chân,
Rồi đây con được vui mừng,
Theo cơ tiến hóa thanh chân đắc truyền,
Dặn lòng Mẹ đã nhủ khuyên,
Ban ân mỗi trẻ, cung Tiên Mẹ về.
NGỌC thể Thầy khai chốn hạ trần,
HOÀNG môn phân hóa điểm chơn thân;
THƯỢNG đồ Tam Giáo tôn truyền pháp
ĐẾ Đạo nhứt nguyên tổng giác thần,
Để thế gian phục hồi lý Đạo,
Thầy chuyển cơ lập Giáo Cao Đài;
Chấn hưng chánh pháp truyền khai,
Cổ kim dung hiệp đề tài giác linh.
Nêu tôn chỉ xương minh nguồn sáng,
Tam giáo quy căn bản hội thần;
Mở đường thế giới canh tân:
Đại đồng thiết lập chọn phần tinh ba.
Con hữu duyên Đạo nhà trước gặp,
Lập thân tu xây đắp thống đồ;
Khuếch trương nền tảng quy mô,
Theo cơ linh chuyển lần vô Đức Thành.
Trao Thiên mạng Thầy dành ban phước,
Chỉ lối đi mực thước con làm;
Chương trình Hiệp Ngũ Qui Tam
Bản đồ Thiên hóa tiếp đam hội nầy.
Con nhận thức đủ đầy hư thiệt,
Bước công trình chi tiết lưu thông;
Còn ngày gặp gỡ Tây Đông,
Nêu cao đại thể từ trong thực hành.
Để khái niệm trọn lành chung cả,
Phẩm Trung Thừa Thầy hạ sắc phê;
Trước tiên dẫn khởi nhập đề
Tường Minh Tôn Chỉ luận về căn nguyên.
Kể nhân loại đầu tiên từ thuở
Người sanh ra ghi nhớ thiện từ
Hồn nhiên một khối vô tư,
Năm châu tản mát định cư từng vùng.
Vui lẽ Đạo thung dung nhàn lạc
Thú thiên nhiên thuần phát cõi lòng,
Lần hồi tập nhiễm phần đông
Mưu cầu lẽ sống tầm trong lợi quyền.
Chinh phục nhau đặt riêng giai cấp
Giữa phú bần cao thấp phân tranh;
Làm cho mất vẻ thiên thành
Cảnh đời mâu thuẫn biến sanh dục tình.
Thầy: THƯỢNG ĐẾ dưỡng sanh vạn loại
Thấy nhơn sanh đi sái công truyền.
Nhứt kỳ chuyển lập phước duyên
Đạo trường đem lại hương nguyền vạn linh.
Chiết dương quang mượn hình giả thể,
Tam Giáo đồng đại để nêu lên;
NHIÊN ĐĂNG PHẬT độ tạo nền:
Định cơ siêu thoát vượt trên cảnh đời.
Tiếp hư vô sáng ngời bửu phẩm,
Nếp Tiên phong sưởi ấm chơn hồn;
THÁI THƯỢNG thuyết hóa cao tôn;
Minh minh diệu diệu Càn khôn hiệp thành.
Hoạch Bát quái đồ sanh biến hoá,
Chưởng Thánh thơ giải tỏa nhơn tình;
PHỤC HY khai sáng Đạo Huỳnh,
Truyền cơ nhân bản khai sinh giác đồ.
Miền Đông Á điểm tô ba nhánh
Phương Tây Âu một cảnh sơn hà;
MOISE Thánh thể lập ra,
Mở đường cứu thế thông qua lý Trời.
Ba giải pháp một thời sáng tỏ,
Dạy thế gian lần bỏ tà tâm;
Cải trang từ chỗ sai lầm,
Định chơn thần huệ phương châm lưu hành.
Qua ngươn hội nguồn sanh dinh trưởng,
Cơ tiêu hao đối tượng theo ngày;
Theo đà vật dục chuyển xoay,
Lý đương mòn mõi thay vô giả hình.
Trước trạng thái điêu linh chơn tánh.
Giữa màn trần tranh cạnh xôn xao,
Nhấp nhô biển khổ sóng gào
Vợi hồn nhân loại bước vào sông mê.
Nhị kỳ chuyển tiếp đề phổ hoá,
Cho kỷ ngươn thừa hạ minh khai
THÍCH CA chấn chỉnh Phật đài:
LÃO ĐAM điều dưỡng thoát thai Tiên hành.
Trên thực tế lưu thanh phẩm độ,
Sau định thành công bổ Thần quang,
TRỌNG NI Thánh đức dẫn đàng;
JÉSUS tiếp chuyển cứu an tục đời.
Đem Giáo lý nơi nơi cảnh tĩnh,
Tùy cơ năng phân định giác đồ,
Lập thành thể thống qui mô
Phổ thông chánh pháp diễn phô chơn truyền.
Thầy biện giải căn nguyên con rõ:
Lý Tam Tông hóa độ xưa nay
Để còn hội lãnh trong ngày
Khỏi điều sai lạc dở hay hiểu lầm
Tiếp Phật độ cao thâm huệ mạng,
Minh tâm rồi chánh đáng giải mê:
Tiên gia siêu việt đường về:
Tu tâm luyện tánh mở đề HƯ VÔ.
Phật Tiên vốn khởi hồ thượng đẳng,
Phải minh trai mới đặng kim đơn;
Mới thông hư thiệt tuần huờn,
Chơn hồn trực tiếp linh sơn điểm thành.
Lòng bác ái từ sanh vạn loại
Kịp thú cầm trang trải niềm thương,
Nuôi cơ cảm ứng thông thường
Từ bi phổ cập âm dương vận hành.
Đường Thánh Đạo phân ranh xử thế,
Chỉnh phong cương lập thể Đại đồng;
Chí thành dưỡng tánh tồn tâm
Thứ trung, tinh nhất uyên thâm phước đời.
Phần Thánh Đạo sáng ngời nhân phẩm
Định cang thường tưới tẩm thiên lương;
Hiếu, trung, tín, nghĩa lập trường
Dựng xây nền tảng trên đường tu thân.
Sống giữa cuộc trọng phần hòa lạc,
Đúc nên người thuần phát thế gian;
Chánh danh ngôn thuận đoan trang,
Công bình xử sự một đàng lối chung.
Thoáng nhận thức hình dung ranh giới,
Nhưng tinh thần tiến tới không hai;
Vì rằng nhân đạo cao dày:
Mới mong Thiên đạo còn ngày linh thông.
Cơ nhập thế nếu không trọn cả
Mà vội cầu điểm họa kim thân,
Khác nào lầu cất chín tầng
Móng khơi bải cát bao lần tốn công.
Nhưng trái lại nếu không Phật pháp,
Không đoạt cơ linh tháp Tiên gia,
Thì đâu chứng hưởng Bửu tòa;
Vô vi nhi hiện vượt qua lý đời.
Bởi thế nên đồng thời sứ mạng,
Phật, Thánh, Tiên nhứt bản cơ vi;
Hễ là cách vật trí tri
Xử thông thế Đạo đúng kỳ luyện phanh.
Nhưng yếu tố nay thành nan giải,
Giữa môn đồ biện cãi thấp cao,
Trọng phần ngã chấp hô hào,
Không nhìn toàn diện tiếp giao tinh thần.
Thêm một nỗi chơn thân tiêu tứ,
Phương thực hành khó giữ vẹn nguyên;
Bên trong không đạt chí thiền
Bên ngoài thủ lệ lệch thiên giả trần.
Thử xét kỹ từng phần nêu rõ:
Lời giáo truyền bày tỏ còn ghi,
Rồi nay thể hiện những gì?
Gọi rằng cứu cánh mầu vi độ hồn?
Phật không dạy cao tôn lễ bái,
Tiên đâu bày tệ hại sát sanh;
Thánh môn sao chẳng đức thành,
Ôi, thời mạt pháp phải đành tổn thương!
Theo màu sắc biến thường cõi tục,
Bụi trần nhơ pha đục nguồn Thiên;
Nổi sôi vật chất kim tiền:
Làm cho hương vị Đạo nguyên lặng tờ;
Thầy đau đớn con thơ có biết;
Mỗi một phen phải chiết Linh quang
Vì con, con quá bạo tàn,
Chôn vùi ngọc thể diễn màn trái oan.
Nay giữa cuộc thương tang kỷ hạ,
Cả toàn cầu san phả nghĩa nhân;
Vòng quanh theo bóng hung thần
Giục lòng sát phạt giữ phần lợi danh.
Danh lợi khổ rấp ranh giờ phút,
Ác khí tăng từng khúc lên cao;
Bên đài nghiệt cảnh thét gào
Tiếng than đồng loại dẫm màu máu xương.
Đời đã lắm tai ương dồn dập,
Đạo còn mang tranh chấp giả hình
Duy nguy Đời Đạo nan minh
Sông mê nhồi khúc, sóng tình nhiễu nhương.
Đâu tìm thấy an bường cảnh lạc,
Hỏi này con đài cát mà chi?
Màn trần nhuộm vẻ ai bi,
Sầu đông càng lắc, càng khi dẫy đầy.
Tam kỳ chuyển hội này cảnh tỉnh;
Đưa nhã thoàn ổn định căn duyên,
CAO ĐÀI Thầy lập Nam miền,
Chấn hưng thuyết hóa khai nguyên mạch hồng.
Vẹt thành kiến Tây Đông từ thuở,
Hiệp ngã đường rộng mở năm chi,
Truyền thông đẳng cấp tu trì:
Phục hồi lý đạo cho y thống đồ.
Với sứ mạng thể hồ trọng đại,
Nên trước tiên Thầy giải rõ ràng:
Qui nguyên Tam Giáo chánh đoan,
Mở đường ái chủng nhân hoàn soi chung.
Khuyên con gắng nấu nung chí cả,
Học cho rành phước họa vô môn,
Để còn nuôi dưỡng linh hồn,
Để còn giữ trọn thần hôn thiện từ.
Con có biết, con hư Thầy khổ;
Khổ vì con chưa độ lập thân,
Mỗi khi xao xuyến tinh thần,
Là cơ xúc động chơn thân Bửu đồ.
Thầy không dạy Hớn Hồ phân niệm,
Mà mở đầu trang điểm tâm linh;
Dạy con trên quảng hành trình:
Chung đồng nhứt trí xương minh giác thần.
Con rõ biết đừng phân đây đó,
Việc phái chi dứt bỏ tục thường;
Dung hòa sắc Giáo truyền phương:
Tạo nên đường lối thông thường gặp nhau.
Ánh chân lý điểm màu tươi cảnh,
Chuông giải hồn lanh lảnh hồi ngân;
Công tu sắp để trọn phần,
Chương trình năm lớp con lần học thông.
Nhơn, Thần, Thánh hiệp giòng Tiên Phật
Phẩm Trung Thừa xây cất Thầy ban;
Chỉ phương hướng thẳng một đàng:
Giải chơn giả thể nghiêm trang phổ đồng.
Học thấu đáo ra công dìu bạn,
Cãi tục đời bỏ dạng thức mê
Tu cho yên lặng bốn bề,
Dẹp tan nhĩ ngã chấp nê sắc màu.
Tránh những lối ban giao tranh luận.
Bỏ những điều mâu thuẫn sanh đoan;
Luyện nên hạnh Đạo hảo toàn:
Thể hành đại nghĩa thuận đàng hòa thân.
Gương chơn thật trong ngần sáng chiếu.
Con lo Tu mà hiệu vô cùng;
Là cơ chỉnh hóa trường chung,
Là cơ xúc tiến hội phùng tương quan.
Thầy vận chuyển ngày vàng đem lại,
Con quyết lên trọng đại nghĩa hành;
Lo phần tôn giáo hoàn thành
Chuyển sang Đại Đạo truyền thanh lý đồng.
Con sẽ thấy không không hình tướng,
Trên Cha Trời độ lượng chư linh;
Trần gian hết nỗi bất bình,
Tự nhiên sắc giáo biến hình cơ Trung.
Chỉ còn biết qui tùng lý Đạo,
Đạo thuần chơn chí bảo công truyền,
Nào là chưởng phúc tầm duyên;
Nào là Tiên, Phật, Thánh, Hiền nhàn dung.
Trước ngôi tam bảo con quỳ
Ba ngôi con nguyện cung di trở về
Phật là độ khắp nơi mê
Pháp là thuyết rỏ đường về cho thông
Tăng là trì tụng cứu trong
Ba ngôi tam bảo luyện rèn nhựt quang
Đạo là duy diệu mênh mang
Tìm ra chánh pháp là lòng mới an
Tự tu tự tịnh khỏi nàn
Cứu độ thân xát an nhàn thảnh thơi
LÝ hội quần sanh thuyết hóa lai,
THÁI đồng chơn mạng ngưỡng hồng oai,
BẠCH đồ hoán thể hồi Thiên phước,
GIÁO pháp truyền phương chuyển Thánh hài,
TÔNG diễn trọng đề minh giác phẩm,
ĐẠI khai chánh niệm chưởng linh đài,
ĐẠO kỳ phổ tận tôn nhân bản,
GIÁNG điểm chơn kinh vạn cổ hoài.
Người có sanh rồi có tử,
Tử và sanh, sanh tử lý mầu vi;
Thử xét câu: sanh giả ký, tử giả quy,
Quy giữ ký thị thùy tri yếu lý.
Đã rằng sống, sống sao thân còn hoại hủy?
Mà thác rồi thần trí gởi về đâu?
Kiếp trần gian phỏng lại có bao lâu!
Vô thường ấy cơ cầu ôi máy tạo!
Kìa võ trụ cổ kim thiên vạn hảo,
Nhựt, nguyệt, tinh, sơn thảo tứ thời tân,
Để mà chi, hay Tạo hóa khéo xoay vần,
Trêu khách tục tưởng phần theo cát bụi,
Máy âm dương nhiệm mầu thay một túi!
Pháp thường hành dung ruổi bánh Thiên luân.
Tại người mê chẳng tỉnh trí xem chừng:
Bươn bả tục, mãi vươn chân mà đắm đuối;
Bao Thánh triết ngàn xưa đâu phận tủi,
Đâu phải là lầm lũi với thương tang,
Đã hiệp thành nguồn sống với Linh quang;
Đem thần huệ truyền dâng cùng máy tạo,
Chuyển tam huê, triều ngũ khí, hành chơn Đạo,
Định luân thường thiện bảo lý nguyên hanh,
Vì lãm thông vạn thức tổng thiên thành,
Nhơn loại ấy trưởng sanh hàm bửu phẩm,
Lò cừ đúc điểm linh hồn phúc ấm,
Lập thế gian vẻ đậm nét phong quang,
Nương xác thân giả thể chịu cơ hàn,
Vun cội phúc sửa sang cho hậu quả;
Lập trường sống nghĩa nhơn gầy mối cả,
Tiếp nguồn thiên khai hóa nghiệp tâm cơ,
Mặc dầu cho cảnh gởi cũng nên thơ,
Đưa bước tiến trên cõi bờ giác niệm.
Thân hữu hoại đã tạo nên công thượng điểm,
Khí triều ngươn hội chiếm khúc minh châu,
Lý hư vô hiệp đủ một tay thâu,
Sanh tử thị chung bầu dinh dưỡng trưởng.
Tinh thần ấy chơn dương truyền định hướng,
Vĩnh thiên thu căn chưởng tử mà sanh,
Chữ sắc không quy ký pháp minh hành,
Cơ vi diệu chuyển thành cơ chánh hiện.
Vì thường tục hiểu lầm theo thể biến,
Thể dục tình tiếp diễn nợ oan ương,
Đem kiếp người hãm chặt nơi tứ tường,
Trí mờ tối không phương xem trời lộng,
Tưởng là đầy giang san chung thủy trọng,
Một đời lo tôn thống những gia truyền,
Có biết đâu khổ hải với tang điền,
Do sống tục lợi quyền gây thảm trạng.
Mồi vật chất nhử câu người trí đãng,
Rồi vỡ tan chớp nhoáng tợ phù vân,
Kìa cổ kim bao lớp nợ phong trần,
Sanh thị tử, tử thần đưa lối sẵn,
Hỏi đời nay ai là người đã chẳng?
Chẳng tham gian bã cặn, chẳng công danh?
Mùi vinh hoa chung cuộc có chi thành,
Xem lối cũ trường sanh ai thọ hưởng?
Hay một kiếp đã rồi không sống gượng!
Nấm mồ trơ cỏ vướng lối sương phong?
Ba tấc hơi trút lại cảnh gian hồng,
Mai danh cốt chung đồng trong số phận,
Giây truyền cảm xác hồn cơ chuyển vận,
Xác trược ô nên trực dẫn đắm mê hồn,
Rồi biết đâu lãnh vực cõi linh thông,
Cam sầu khổ lộn vòng trong ác khí.
Sơ luận giải chương đề đôi yếu lý,
Cuộc giả chơn quy ký tử và sanh,
Đây tiếng chuông Đạo Đức gọi tu hành,
Dưỡng tánh mạng trở thành ngôi giá bửu.
Người sanh trong cõi dương trần
Bịnh già sống thác bao lần thoáng qua
Trẻ thơ cho đến tuổi già
Trăm năm ba vạn, tính ra bao ngày
Hỏi ai biết kiếp đọa đày
Cái thân giả hóa trả vay nghiệp đời
Phần đông luyến ái chẳng rời
Thị phi đổi lấy tấc hơi thở cùng
Tranh dành đoạt lợi hành hung
Đồ vương trục bá vẫy vùng sớm trưa
Chung quy một mảnh sống thừa
Sống mồi xác thịt thớt thưa tinh thần.
Làm cho mòn mỏi chơn thân
Như Lai bản tánh tập lần lần sai.
Đa mang nặng nợ sắc tài
Biển trần vùi dập khó hoài vọng ra
Rõ là một giấc Nam Kha
Miên man kẻ tục cười khà nụ mơ
Vì rằng chẳng hiểu Thiên cơ
Chẳng phân áo lý cõi bờ giả chơn
Quên mình sẵn có kim đơn
Sơ khai thượng phẩm chí nhơn chí từ
Nỡ đam danh xấu tục hư
Âm u theo dạng lớp người lại qua
Cổ kim mấy cuộc sơn hà
Nhân tình tráo chác, Trời Già vẫn nguyên
Trời đâu tạo cảnh ảo huyền
Kiếp người vô định ghen phiền thế gian
Bao phen đuốc tuệ truyền sang
Phật, Tiên đưa lối dẫn đàng phước dương
Ngày nay cơ vận tuần hườn
Tam kỳ Thượng Đế giải cơn muội trần
Dạy người học chữ Tu thân
Dạy người hồi phục tinh thần Thượng nguơn
Tinh thần chí chánh chí chơn
Minh khai nguồn sáng nghĩa nhơn sống đời
Không làm việc quấy trò chơi
Noi theo Pháp Đạo Thầy Trời bố ban
Từ cơ tiếp xử Nhơn hoàng
Lợi tha ái chủng bảo toàn ân Thiên
Biết đường tạo Phật tác Tiên
Biết phương tiến hóa mối giềng Tạo đoan
Dạy người thoát lớp mơ màng
Lời ra văn vẻ tâm hàng nghiệt oan.
Chương trình tu học tuyển san
Ấn hành bửu phẩm nghiêm trang giáo truyền
Trung thừa biện giải căn nguyên
Trọng phần thực tập nối liền công tu
Vén màn tình tục lao tù
Đem về thức niệm ngàn thu thưởng nhàn
Tiền trình giác hóa mở mang
Gọi người trách nhiệm vẹn toàn lương năng
Chủ tâm nguồn cội giáng thăng
Tiếp đề độ dẫn khai tằng lương tri
Lý chơn nhứt quán truyền y
Luyện gìn Thiên tước lần đi Thượng thừa.
QUAN NIỆM TU HÀNH
Nầy các con! Ðối với sự tu của các con không phải là một đôi ngày, năm, tháng, mà sự tu phải trót đời của các con.
Ví như sự hành Ðạo cũng vậy, chẳng phải lựa lần ngày này qua tháng nọ, năm kia, mà phải thực hành mãi mãi.
Ðạo Thầy mở ra, các con cũng nhìn thấy rõ ngọn đuốc chơn-lý sáng soi để dẫn hướng cho các con đi, thì sự tu của các con không phải thuở ấu-thời chẳng tu, đợi kiếp già cằn-cỗi rồi mới chịu tu hay sao?
Sự tu có nghĩa là sửa. Sửa đục nên trong, sửa dữ ra lành, sửa quấy ra phải, sửa xấu ra tốt. Như thế, sự tu dù bé, lớn, phải tự trau lấy thân để được thuần lương đạo-đức. Mà ở thế-gian này bao giờ cũng tôn-trọng đạo-đức.
Ví như các con hiện nay đã bước vào đường Ðạo rồi, các con không trường-trai, hoặc giả trường-trai, đều là chơn-linh của Thầy ban bố.
Bởi vậy, Thầy Mẹ mở rộng đường tu cho các con tùy theo tam-thừa, cửu-phẩm mà đi đúng với cơ-nguyên của Thầy Mẹ vạch ra.
Nếu các con trường-trai mà tâm các con không được trọn lành, nghĩa là không chay, thà là các con không ăn chay là còn hơn trường-trai mà tâm không được trọn lành.
Tuy không trường-trai mà giữ đặng tâm chay, tức là tâm lành cũng quý vô ngần.
Vì Ðạo mở ra mục tiêu là khuyến thiện, sau khuyến thiện là đường giải thoát, siêu phàm nhập Thánh. Nên con nào giữ đặng trường-trai và tâm chay, đó là đường sẵn vạch phục về quê xưa.
Trường-trai như vạch một lối đi, chông gai phủi sạch, để cho các con tiến mãi. Nhưng sự trường-trai là dọn đường gai-góc mà tâm không trọn lành thì gây thêm hố thẳm, hang sâu, khó mà phục-hồi nguyên-vị.
Tuy không trường-trai, nhưng tâm trọn lành cũng được rõ thấy đường xưa, lối cũ mà về. Nhưng trong khi bước lên hoạn lộ hồi quê gặp nhiều chướng ngại, ấy là trả bớt tiền-căn, nghiệt-chướng, hoặc dứt khoát ở thế-trần mà phục-bổn ngôi xưa.
Nay bệnh trầm-kha của trần-gian, bao nhiêu Thần, Tiên, Thánh, Phật đã nói rõ căn bệnh nan-y, nhưng chưa có một thực hành trọn vẹn đặng. Nếu hiểu căn bệnh mà không trị thuốc thì cũng vô ích mà thôi!
Cũng như các con biết đời là ảo-mộng, là đau-khổ, mà các con không học đạo-đức chơn-lý để giải-thoát khổ nạn, thì hoài công lắm ru?
Tóm lại, với sự đời hay Ðạo trên thế-gian này, ai cũng biết thốt lời hiền-lương, nhân-đạo, che lớp vỏ bề ngoài, nhưng thân tâm không trọn lành, trọn tốt.
Muốn chứng tỏ con có điều tốt, không gì bằng một cách chân-thành đạo-đức thì mới kết quả hiển hiện.
DIÊU-TRÌ KIM-MẪU
DIÊU-Ðiện thương con giáng điển hồng,
TRÌ chí khẩn cầu rõ phép công,
KIM cổ lời truyền ai lắng nhủ,
MẪU tử thâm tình dạ luống trông,
VÔ lượng độ đời công đức cả,
CỰC lòng vì nỗi kẻ tây đông,
TỪ rày vui bấy qui đường Ðạo,
TÔN kỉnh luật Trời rõ phép công.
Mẹ giáng đàn ghi công con trẻ,
Mẹ vui mừng gánh nhẹ nhờ con,
Lâu nay Mẹ luống mỏi mòn,
Ngày nay Tam Giáo mới tròn qui nguyên.
Ðạo Cao-Ðài còn riêng chia rẽ,
Lúc lâm nguy lặng lẽ ngồi nhìn,
Nào ai nặng gánh giữ gìn,
Ðể cho Thiên-Ðạo gập ghình nguy vong.
Các phái nay xin đồng nhứt thể,
Biết những ngày biến hệ lâm nguy,
Thương vì đời Ðạo suy vi,
Thương giòng Rồng Phượng buổi nguy khốn nàn.
Con hỡi con: hồng trần dâu bể,
Trời nỡ đâu chuyên chế nhân sinh,
Cũng vì nhân thế chưa lành,
Khuyên tu chưa đặng, cạnh tranh lại càng.
Ðời hay lo cho đàng danh lợi,
Ðạo cũng vì quyền quới trọng khinh,
Quan quyền cũng chuộng lợi danh,
Chúa Vua cũng muốn một mình tham tâm.
Ðời ích kỷ nên lầm nạn khổ,
Thương kẻ lành cùng số chịu chung,
Thương đời ứa lụy đôi tròng,
Thương thay con dại buổi cùng khổ đau.
Ðường giải thoát khó âu tìm đến,
Cõi âm thành trìu mến giác tâm,
Hôm nay mới hết lạc lầm,
Ðạo đời âu cũng sa hầm quỉ-vương.
Nay các con biết đường soi sáng,
Phải chung tay cứu nạn giống màu,
Cùng chung hiệp tác tu cầu,
Ðừng vì lạc cảnh Á Âu cách Trời.
Xin hiệp sức Ðạo đời chung bước,
Bước lên đàng lũ lượt về ngôi,
Ðức tu ma quỉ rạt rời,
Tu lo đoàn kết chớ lơi tấc lòng.
Thương giống nòi cũng đồng bào thể,
Riêng chi mình gánh nhẹ mà vui,
Vui chi lòng Mẹ ngậm ngùi,
Vui chi có kẻ phương trời khổ đau!
Rán tu cầu cho mau hạnh hưởng,
Cho đồng bào dinh dưỡng ấm no,
Cầu cho mưa thuận gió hòa,
Cho đời no ấm thoát qua cơn sầu.
Con đói lòng Mẹ đâu an dạ,
Con no lòng Mẹ đã yên vui,
Cầu cho mưa nắng thuận thời,
Cho hoa kết nhụy cho đời ấm no.
Con biết thời lần dò bước Ðạo,
Có Mẹ hiền chỉ bảo từng câu,
Mẹ khuyên tu chỉnh kịp cầu,
Mẹ dìu dắt trẻ thì đâu lạc lầm.
Nữ phái là phần âm nhơn loại,
Nữ ấy là trọng tải gia đình,
Nữ là nguồn cội an sinh,
Mới là un đúc thạnh tình phái nam.
Khuyên con, chồng năng làm việc phải,
Dẫn dắt dìu nhân ngãi thiện lương,
Con đường tu sửa noi gương,
Làm sao cho đặng phong cương Ðạo người.
Phần trách nhiệm vẹn mười là nữ,
Nữ gắng lo vẹn chữ chung tình,
Nữ hiền là bực trang đình,
Nữ còn nặng gánh công trình đắp xây.
Nhờ công nữ dựng gầy nên cuộc,
Bực đài-trang là đuốc soi chung,
Gái tròn đời Ðạo: gái hùng,
Gái đừng giục khiến con, chồng bất lương.
Gái xin đừng phấn hương lạc lỏng,
Thói lăng loàn ong bướm ngoại dâm,
Si phường đổ bác loạn thâm,
Phá tàn gia nghiệp con, chồng khổ đau.
Phận tề gia một màu son thắm,
Ðạo phu tùng êm ấm trọn niềm,
Chồng yêu, vợ kính lại thêm,
Gia môn hạnh hữu, mái thềm vinh quang.
Vậy mới gọi là trang nữ liệt,
Mới rỡ ràng Ðạo biến đời vinh,
Tiếng thơm lây nức mùi xinh,
Tiếng nhơ vạn thuở đời khinh rõ nào.
Một kiếp người giồi trau thanh sạch,
Còn tiếng thơm xa cách vạn niên,
Sống mang một kiếp lăng loàn,
Danh bia muôn thuở xương tan tiếng còn.
Thân phận gái dại khôn lừa lọc,
Ðừng tham sang phụ khó vong tình,
Phu tùng là Ðạo tam sinh,
Phú bần cũng ở Thiên-Ðình định phân.
Niềm gia phong khả cần nắm giữ,
Chồng trọn yêu, vợ kính mới hay,
Gái hiền sánh bực chương đài,
Cát đằng tựa bóng anh tài gương chung.
Gái phúc đức phải tùng chữ hạnh,
Ðạo tề gia phải tránh tiếng đời,
Tỏ rằng ta thiệt là người,
Biết tôn Ðạo-lý ở đời mới ngoan.
Nên gia thất chung đàng đạo đức,
Nên cột rường nhờ phúc mới nên,
Người hung ví tợ mũi tên,
Người hiền như thể cánh sen trong hồ.
Tên dầu độc nhấp nhô lại rớt,
Ðường bay nhanh hết sức lụy mau,
Rèn tâm như cánh liễu đào,
Dịu hiền phận gái soi cầu bóng gương.
Danh nữ liệt trên đường hạnh đức,
Khéo nhờ tay nhiệm nhặt nữ hiền,
Nên danh lấn tước cao quyền,
Cũng nhờ đức hạnh thê hiền dày công.
Giờ Tiên bút gót hồng mây tủa,
Mẹ lui chân phụng múa Tây-Cung,
Hạc đà chấp cánh đàn trung,
Giã từ con thảo Tây-Cung Mẹ hồi.
Cơ duyên trước đã định rồi,
Biết lo tu niệm được ngồi tòa sen.
Kìa thế cuộc như đèn trước gió,
Nọ chúng sanh cá rọ chim lồng,
Bao nhiêu cảnh khổ trần hồng,
Đã từng diễn biến trong vòng thế nhân.
Mỗi con đều riêng phần dành sẵn,
Điểm linh quang xưa đặng phát ban,
Từ trên Thượng Đế Ngọc Hoàng,
Rải gieo lập thế tạo đoan vạn loài.
Cõi Nam Bang ngày nay hữu phúc,
Giống Tiên Rồng mấy chục năm qua,
Đạo Trời mở rộng gần xa,
Nấc thang tiến hóa con ta hành trình.
Dầu vạn loại cũng tình Tạo Hóa,
Dầu muôn dòng biển cả lưu thông,
Từ tiểu dị lập đại đồng,
Từ không hóa có, có không nhiệm mầu.
Nay các con đến chầu bên Mẹ,
Mẹ ân ban mỗi trẻ hồng ân,
Tâm tư gác bỏ bụi trần,
Tấm gương minh cảnh lâng lâng soi vào.
Để thấy con Thiên Tào thuở nọ,
Cõi hư không một ngõ ra vào,
Vì chưng sứ mạng phó trao,
Đến trần lập vị chớ nào trầm luân.
Mỗi sứ mạng mỗi phần mỗi có,
Mỗi con đều một ngõ liệu lo,
Biển trần một Bát Nhã đò,
Vạn linh muôn nẻo lần dò bến xưa.
Dầu sớm tối chiều trưa chớ quản,
Dầu thân con nhẹ nặng gian lao,
Hễ sanh trong lúc ba đào,
Phải cam gánh lấy phong trào đổi thay.
Mẹ nhắc nhở nam tài nữ liệt,
Hỡi con ôi! muôn việc đều do,
Hóa Công sắp sẵn một lò,
Muôn hình vạn trạng quanh co thẳng dùn.
Con giữ đặng chánh trung duy nhất,
Sẽ tịnh lòng thấy được Mẫu Nghi,
Luôn luôn dưỡng dục hộ trì,
Cho toàn con cái được về vị xưa.
Trước những cảnh sống thừa ảm đạm,
Nơi lòng con thiện cảm phát sanh,
Nghiêng vai gánh Đạo nhọc nhành,
Dưới tay Từ Mẫu ân lành rưới chan.
Con nam phái giữ hàng nam tử,
Phận mày râu xử sự nghiêm minh,
Đừng cho những thói thường tình,
Lăm le quyến rũ rập rình khen chê.
Phần nữ phái trăm bề khổ cực,
Kiếp quần thoa sớm trực trưa chầu,
Con ôi! học lấy Đạo mầu,
Thoát qua cái kiếp dãi dầu phong vân.
Dầu nam nữ đồng phần trách nhiệm,
Gặp thời cơ rán chiếm đầu công,
Dặn con con nhớ để lòng,
Chờ ngày kết quả trùng phùng đoàn viên.
DIÊU TRÌ KIM MẪU VÔ CỰC TỪ TÔN là ai ?
Theo Vũ Trụ Quan của Đạo CAO ĐÀI thì trước khi tạo sanh Trời Đất trong cõi không gian còn ở trong tình trạng hỗn độn: chỉ có đám bụi Hồng Mông mịt mịt mờ mờ bao phủ với hai năng lực tiềm tàng, một cái nguyên lý tuyệt diệu, tuyệt huyền gọi là Thái Hư và một cái là nguyên khí tự nhiên gọi là Vô Cực.
Thái Hư và Vô Cực được gọi chung là Khí Hư Vô, và Hư Vô chi khí là Đạo.
Hữu vật hỗn thành (nghĩa là) :
Có vật hỗn độn mà nên
Tiên Thiên Địa sanh “
Sanh trước Trời Đất
Tịch hề liêu hề “
Yên lặng trống không
Độc lập bất cải “
Đứng riêng mà không đổi
Châu hành nhi bất đãi “
Đi khắp mà không mỏi
Khả dĩ vị thiên hạ mẫu “
Khả dĩ là Mẹ thiên hạ
Ngô bất tri kỳ danh “
Ta không biết tên cái đó
Tự chi viết Đạo “
Gọi đó là Đạo
Cưỡng vi chi danh viết Đại “
Gương cho là lớn.
Cái vật hỗn độn có trước Trời Đất là Khí Hư Vô (gồm hai năng lực Thái Hư và Vô Cực như nói ở trên). Sở dĩ khí Hư Vô là Mẹ thiên hạ vì theo Kinh Đại Thừa Chơn Giáo, cái Hư và cái Vô tức Lý, Khí lâu đời nhiều kiếp ngưng kết với nhau thành một Thánh Thai gồm tụ tất cả các tinh hoa trong Vũ Trụ rồi Thánh Thai ấy nổ tung làm xuất hiện Đấng Hoàng Thiên tức là Ngôi Thái Cực. Rồi Thái Cực mới tạo dựng nên Trời Đất muôn vật.
Có nhiều người tưởng lầm Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn là Hư Vô chi khí đã sanh ra ngôi Thái Cực, nhưng thật ra trong buổi hỗn độn sơ khai chưa có một Đấng Thiêng Liêng nào cả mà chỉ có LÝ và KHÍ,
nghĩa là những năng lực để tạo ra Linh Thần và Sự sống.
Trong kinh Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Đức Chí Tôn có cho biết:
“Khí Hư Vô sanh có một Thầy. Nếu không Thầy thì không có chi trong Càn Khôn Thế Giới này, mà nếu không có Hư Vô chi khí thì không có Thầy”.
Do đó, Đấng Thiêng Liêng đầu tiên xuất hiện trong không gian là Thái Cực Thánh Hoàng. Ngôi Thái Cực tập trung tất cả các tinh hoa của Vũ Trụ có đủ âm dương, thủy hỏa phát hiện dưới ba bản thể khác nhau là:
HUYỀN KHUNG CAO THƯỢNG ĐẾ làm chủ chơn Tánh thuộc Lý và tạo ra Chơn Như.
DIÊU TRÌ KIM MẪU làm chủ chơn Tình (thuộc Khí).
HỒNG QUÂN LÃO TỔ do chơn Tánh, chơn Tình hiệp thành làm chủ Trí Huệ và cái Đạo sinh hóa. (Hòang Cực)
Sở dĩ phát hiện ra ba cái bản thể của ngôi Độc Nhứt vì Thái Cực vận chuyển sanh Lưỡng Nghi rồi hiệp Lưỡng Nghi biến thành Tứ Tượng. Thành ra Diêu Trì Kim Mẫu là Lưỡng Nghi (âm dương).
Điểm này được nói rõ như sau trong Diêu Minh Kinh:
“Vận Thái Cực Lưỡng Nghi sanh hóa,
Tứ Tượng phân mối cả Đất Trời;
Cân phân có Đạo có đời,
Diêu Trì Kim Mẫu tức thời âm dương.”
Giải nghĩa danh từ từng chữ thì DIÊU là vi diệu, TỪ là ao, KIM MẪU là bà Mẹ ở Tây Phương. VÔ CỰC ám chỉ các bản thể nguyên khí, TỪ TÔN là bực Tổ đầy lòng hiền ái. Thành ra danh từ Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn ngụ ý cái nguồn gốc linh khí vi diệu ở cõi Tây Phương Cực Lạc đã tạo ra sự sống tình cảm của chúng sanh và do đó, là Mẹ linh hồn luôn luôn thương xót và dẫn dắt chúng sanh về con đường tình cảm cao thượng chơn chính để thoát khổ nạn.
Bởi thế cho nên trong Ngọc Minh Kinh có câu:
“Ác vàng xế cơ Trời tương khắc,
Vẫn Đông Tây Nam Bắc ly kỳ;
Tây Cung Kim Mẫu Diêu Trì,
Độ siêu linh dục, thoát ly khổ nàn.”
Nghĩa là đến buổi đời Mạt Kiếp như trời chiều ác xế, ngũ hành tương khắc gây ra các tai họa dữ dằn thì Đức Diêu Trì Kim Mẫu bố điển linh độ cho nhơn loại biết cải tà qui chánh hướng thượng mà tránh khỏi cuộc thương hải tang điền.
Người tu hành thường nói Trời Cha, Đất Mẹ, để ám chỉ Thượng Đế và Diêu Trì Kim Mẫu. Đức Thượng Đế ban chơn như để gây sự sống, và tạo ra linh hồn chúng sanh, còn Đức Diêu Trì Kim Mẫu ban linh khí để nuôi dưỡng sự sống của mọi vật, từ thể chất đến linh hồn. Sự kiện này có thể chứng minh bằng toán pháp là một khoa học có ý nghĩa huyền bí vì tượng trưng muôn vật trong Càn Khôn Vũ Trụ bằng những con số.
Đầu các con là số dê-rô (số không 0) tượng trưng cho cái Hư Vô trong buổi hỗn độn sơ khai. Sau số không đến số 1 là Hư Vô sanh ra Lý đơn nhứt hay Ngôi Thái Cực. Rồi do sự vận chuyển, số 1 mới biến ra 2,3 và tạo sanh ra muôn muôn vạn vạn số.
Tất cả các con số đều chứa 1 và 2, tức là mỗi chúng sanh đều thọ bẩm cái Chơn Như của Thượng Đế (số 1) và cái Chơn Khí của Diêu Trì Kim Mẫu (số 2).
Do đó tất cả chúng sanh tượng trưng bằng số đều là con của Thượng Đế và Diêu Trì Kim Mẫu và cũng vì lẽ đó mà ta gọi Kim Mẫu là Đức Mẹ.
Số chẵn tượng trưng cho Nữ Phái chia được với số 2, ám chỉ nữ phái thọ bẩm phần chơn khí tình cảm của đức Diêu Trì Kim Mẫu rất nhiều. Còn những số lẽ tượng trưng cho Nam Phái chính là số chẵn gia thêm 1 (2 + 1), nghĩa là có trội hơn nữ phái phần lý trí của Thượng Đế ban cấp (1), nhưng thiếu tình cảm hơn phái nữ.
Vì thế cho nên Đức Diêu Trì Kim Mẫu khi giáng cơ chú ý dạy nữ phái hơn là nam phái cũng như thể là Mẹ hiền thường lưu luyến với các ái nữ hơn là với các con trai.
II._ Ý NGHĨA NGÀY VÍA DIÊU TRÌ KIM MẪU:
Một khi chúng ta đã nhìn nhận được có Bà Mẹ linh hồn ở trong cõi vô hình xuống cõi trần để bố điện cho tâm linh ta bớt sôi nổi trên trường danh lợi đấu tranh và biết tô bồi thâm hạnh đức cao siêu, thì ta cũng cần phải tìm hiểu ý nghĩa của ngày Vía Đức Mẹ trong dịp Trung Thu.
Tiết Trung Thu thuộc quẻ Phong Địa Quan vì chuỗi thời tiết trong 12 tháng âm lịch thì đi theo sự luân chuyển của lục âm lục dương. Quẻ Phong Địa Quan ám chỉ thời gian cả thịnh của khí âm đang lấn át khí dương để dẹp hết những cái nóng nảy oi bức và đem lại cảnh mát mẻ êm dịu trong Trời Đất. Chữ QUAN (đúng ra đấy là QUÁN) có nghĩa là ngắm, ở dưới ngắm nhìn lên trên khi cái dương còn có hai hào đã hết gắt gao thành trong sáng dịu dàng. Cho nên đêm thu trời trong trăng sáng khiến cho con người ưa ngẩn nhìn lên cõi bao la để thưởng thức cảnh đẹp đẽ của Trung Thu trăng tỏ. Lúc đó cũng là lúc có một nguồn chơn khí diệu huyền đem sự mát mẻ êm dịu chan rưới xuống thế gian, để làm cho tâm tình con người tươi mát lạc quan.
Nguồn chơn khí diệu huyền đó là Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn, Đức Mẹ linh hồn của chúng sanh.
Thành ra ngày Vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu mà khắp nơi trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ cử hành rất trọng thể là một ngày lễ bao hàm ý nghĩa đón tiếp một lực lượng thiêng liêng huyền bí đến trong tâm hồn mỗi người để làm cho tiêu tan những mối sầu bi uất hận và đem lại một tâm tình êm dịu hòa ái, hàn gắn lại những hố chia rẽ giữa người và người.
Vậy đối với các anh chị em trong Cao Đài Giáo đã cùng nhau làm lễ tiếp rước Đức Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu trong dịp lễ Trung thu này, trước cảnh đời đang biến chuyển đến chỗ Liên Tôn, chúng ta hãy nhứt định hưởng ứng luồng điển thiêng liêng mà Đức Mẹ chan rưới cho các con để mở thêm tình thương yêu và mạnh tiến đến chỗ đoàn kết qui nguyên thực sự hầu Đạo Cao Đài có thể đứng ra làm gạch nối giữa chư giáo phái và sớm đem lại sự liên hiệp giữa đồng bào.
"Sanh" ra mang lấy chiếc thân phàm,
Lăn lóc bể trần,dục ái tham,
Thân ấy là đời nhiều hệ lụy,
Vô minh quả nghiệp trả không kham.
"Lão": vốn từ đâu đến bản thân ?
Chào đời tươi trẻ tợ Thiên Thần,
Ðời lên từng tuổi thân mòn mỏi;
Hết hạn xác hư trả lại trần.
"Bịnh": đến vày vò khổ tấm thân,
Người không tu tỉnh loạn tinh thần,
Cơ nguy đáo hạn, sống rồi chết;
Quí tiện hèn sang xuống mộ phần.
" Tử ": là đoạn kết kiếp trần gian,
Vạn ức sanh linh diễn một màn,
Sống chết, người đời cam chịu vậy;
Mấy ai thay đổi kiếp lầm than ?.
Sanh để mang thân trả nợ đời
Lão rồi còn lại chút tàn hơi
Bệnh cho biết cảnh đời là khổ
Chết là xong một kiếp con người
1.- Thượng Đế là Đấng tạo ra Càn Khôn, Vũ Trụ và hóa sanh vạn vật. Nhân loại phải tín ngưỡng kính trọng Thượng Đế và trong các hành động nhất nhất phải tùng Thiên Luật.
"Càn khôn chúa tể là Trời
Linh quang xuống thế vốn người nữ nam
Vạn linh Tạo hóa (Trời) sẵn làm
Tùy cơ tiến hóa phi phàm lần lên"...
2.- Là Đại Từ Phụ, Thượng Đế không bao giờ hành phạt chúng sanh toàn là con cái yêu thương của Người. Nhưng vì phép công bình, Thượng Đế lập luật “Nhơn Quả” làm cân thưởng phạt Thiêng Liêng. Chúng sanh do chỗ hành động mình mà rước lấy hoạ phước.
"...Người làm phước có khi mắc nạn
Kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang
Ấy là nợ trước còn mang
Duyên kia chưa dứt,còn đang thưởng đền"...
3.- Lòng từ bi của Thượng Đế không nỡ để chúng sanh không rõ Thiên Điều mà phạm tội nên từ thượng cổ Người đã phân tánh giáng trần lập Đạo đặng dạy dỗ chúng sanh biết điều thiện mà làm, điều ác mà tránh, và dìu dắt bát phẩm chơn hồn tiến hóa lên đến chỗ cực điểm. Nhưng nếu lòng người mê muội, không hồi đầu giác ngộ thì hình phạt phải cam.
Chúng ta chỉ Một đạo Trời
Tạo ra tôn giáo để thời dạy ta
Tìm về nguồn cội cho ra
Chớ có chia rẽ còn là phàm nhân
4.- Thượng Đế chưởng quản Càn Khôn võ trụ.
5.- Luân hồi là cơ tấn hóa của bát phẩm chơn hồn. Trong mỗi kiếp tái sanh các chơn linh gây ra nghiệp duyên, nên tái sanh buộc phải thọ quả. Vì vậy mà luân hồi và quả báo đi đôi.
Một chu trình học thật dài
Luân hồi bao kiếp đúng sai mới tường
Công bình là luật phải nương
Gieo thương gặt mến chớ vương lòng phàm
6.- Thần, Thánh, Tiên, Phật, trước vốn là người phàm nhờ tu mà đắc quả. Vậy thì tất cả phàm nhơn ai cũng có thể làm Tiên, Phật nếu biết tu, Nhất là gặp “Tam Kỳ Phổ Độ” ban hành luật Đại Ân Xá, chúng sanh được may mắn “tu nhất kiếp, ngộ nhất thời”.
Thiên đường mở khóa tình thương
Địa ngục vô lối lạ thường lại đông
Bởi do ái dục thành sông
Để cho Khổ hải mênh mông sóng tình
7.- Phàm nhơn là Hồn tại thế. Âm nhơn là Hồn giải thể cho nên Phàm nhơn và Âm nhơn có thể thông công bằng cơ bút, đồng cốt, hoặc phương thế nào khác. Người tu luyện đến bực cao siêu có thể xuất chơn thần thông công với các Đấng Thiêng Liêng hoặc luyện đắc “Nhãn thông” và “Nhĩ thông” mà thấy và nghe được.
Sống sao cho thật trong lành
Chớ đừng sống đục, ngục hành âm nhơn
Tịnh tâm dưỡng trí là hơn
Thông công học đạo,tạo đơn trong mình
8.- Vật chất tan rã rồi hợp thành một thể khác, duy chơn hồn là trường tồn và tuần tự tấn hóa đến mực cuối cùng là chỗ chí thiện.
Trời trao ta tiểu linh quang
Nhờ phật mẫu tạo ta mang chơn thần
Mê hồn là bởi xác thân
Chuyển mê thành giác,ta cần tu tâm
9.- Âm nhơn là hồn mới giải thể còn quyến luyến hồng trần, chưa thoát được buồn vui đau khổ, bởi còn mang cái chơn thần là chan chứa tình cảm. Âm nhơn cần có thân nhơn tụng kinh cầu nguyện cho họ được an ủi mà bớt đau khổ. Kinh Cầu Siêu rất linh nghiệm, vì mỗi tiếng tụng lên vốn có sức rung động huyền diệu vô cùng. Sức rung động đó hiệp với sức tư tưởng mạnh mẽ và thành kính của người tụng kinh gây thành một mãnh lực phi thường, đánh tan chơn thần của Âm nhơn giúp họ mau giải thoát đau khổ và hình phạt Thiêng Liêng.
Phàm nhân còn vướng chữ mê
Chơn thần giải thể nặng nề biết bao
Cầu siêu kinh tụng đi nào
Chơn thần thanh nhẹ mới vào thiên môn
10.- Con người thọ sanh tại thế đều có số mạng định đoạt, do nghiệp duyên của mình đã tạo ra trong kiếp trước. Cho nên người biết Đạo bao giờ cũng an phận tùy duyên, chẳng vì nghèo túng mà trễ nải việc Đạo.
Nếu con người biết chuyên làm lành lánh dữ cùng tu âm chất trong kiếp dương sanh, thì có thể chuyển hoạ ra phước. Định mạng là Trời, mà lập mạng là ta vậy.
Công bình là luật Trời ra
Do ta tạo quả mới ra thế này
Hiểu rồi học đạo hăng say
Hành đạo tinh tấn có ngày thành công
11.- Tân Luật có ảnh hưởng rất lớn lao về Tiên phong Phật sắc của người tu trong Đại Đạo, chẳng giữ “Tân Luật” là trái phép Đạo mà trái phép Đạo không bao giờ vào được Bạch Ngọc Kinh.
Kỳ ba tân luật đổi rồi
Phải mau cập nhật ,không thôi lạc đề
Ôm chặt kinh sách mà mê
Đề thi một nẻo,giải đề một nơi
12.- Muốn đắc quả, phải dự thi ở trường thi “công quả” nghĩa là phải phổ độ chúng sanh không làm đặng thế này phải tìm thế khác mà làm âm chất, thì cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt được phẩm vị Thiêng Liêng.
Đạo thì hiển hiện bằng đời
Công trình gắng tạo ở nơi mê hồn
Lập công,lập đức,lập ngôn
Cùng nhau tiến tới phật môn lãnh bằng
Phàm làm người sanh trên cõi trần cũng bởi có tiền-duyên nghiệp-quả gây tạo với nhau, để đền tội oan-khiên cho dứt, bởi vậy mới có người giàu-sang phú-quí, kẻ bần-tiện cố-cùng, tàn-tật đui-mù, đầu đàng góc chợ, còn người sao nhà cao cửa rộng, kiều thê mỹ thiếp, tôi-tớ đông đầy, lên xe xuống ngựa, bao nhiêu sự lạc-thú trên đời đều hưởng không hết; người sao cơm ăn không no dạ, áo mặc chẳng đặng lành, há chẳng phải tiền-duyên gây tạo đó sao? Người tích-đức dẫy đầy nên hưởng vinh-hoa phú-quí, đó là làm phước gặp phước, còn những kẻ nghèo nàn khổ-sở, tàn-tật vất-vả, không nhà cửa, cô thân, vất-vơ đầu đường góc chợ, vái lạy van lơn xin từ thửa đồng tiền, ôi thảm-trạng biết bao điều oan-gia trái chủ! Nếu kiếp nầy mới ra thế thì xác phàm tan-rã ra thể-chất,
còn linh-hồn dun-rủi lại cõi trung-giới, chờ đúng thời giờ để lại thế-gian, mượn xác thân khác đặng trả vay tiền-nghiệp. Bởi vậy, người không biết Đạo thì đâu biết quả báo là gì, tưởng chết rồi là mất nên dám làm dữ, mà hễ càng làm dữ chừng nào thì linh-hồn càng mê-muội đọa-đày chừng nấy, cứ mãi mãi xây vần trong bánh xe luân-hồi lục-đạo,
hết sanh rồi tử, hết tử rồi sanh, chìm đắm mãi giữa sông mê bể khổ,
biết bao giờ trở gót động Đào-nguyên.
Nhứt tâm nhứt đức nhứt tâm linh,
Nhứt đạo tiên thiên thoát ngục hình,
Nhứt kiếp tu đơn siêu bất diệt,
Nhứt thân thanh tịnh xuất chơn linh.
Thân rèn tạo đức thêm xinh
Tâm kia hướng tới theo hình phật tiên
Linh hồn xây cất nhà thiên
Tam hồn hòa hiệp an nhiên tại trần
"Mấy con nghe.
Những sự phàm tục đều là mưu kế cuả Tà-Mị Yêu-Quái cốt để ngăn trở bước đường Thánh-Ðạo cuả các con. Những mưu qủi quyệt ấy do lịnh Thầy dùng để thử các con. Thầy đã nói thầy thả một lũ hổ-lang ở lộn cùng các con; nó hằng thừa dịp mà cắn xé các con, song trước Thầy đã cho con mặc một bộ thiết-giáp, chúng nó chẳng hề thấy đặng là đạo-đức của các con. Thầy lại khuyên các con gìn-giữ bộ thiết-giáp ấy cho tới ngày hội hiệp cùng Thầy. Ấy vậy Ðạo là vật rất hữu ích như giáp hữu ích cho thân các con; nếu các con bỏ giáp thì thân các con ra trần lỗ; còn bỏ Ðạo thì các con ở dưới phép Tà-Thần.
... Các con chớ ngại. Ngày nay Ðạo đã khai tức là Tà khởi. Vậy thì các con phải hết lòng, hết sức mà gìn giữ lấy thân mình; đã chẳng phải giữ mình cho các con mà thôi, lại còn gìn giữ cả Môn-đệ Thầy nữa.
Thầy nói cho các con hiểu trước rằng: Cả Môn-đệ Thầy đã lựa chọn lọc lừa, còn phần nữa vì Thầy cho Yêu quái lấy danh Thầy mà cám dỗ... Cười... Ði bao nhiêu đều mất bấy nhiêu. Các con chớ buồn vì Thiên-Cơ phải vậy. Thi nhiều đậu ít lá lẽ hằng. Các con liệu phương thức mà nâng đỡ đức-tín của Môn-đệ cao lên hàng ngày; ấy là công quả đầu hết. "
Đạo khởi thì tà phải khai
Một trường thử thách hỏi ai qua nào
Diễn đàn là chốn lược thao
Bên tà bên chánh bên nào tài hơn
Đo lường đạo đức giả chơn
Công bình vẹn vẻ công ơn phật trời
Trường thi công quả là đời
Thi nhiều đậu ít ai ơi đạo hành
Kỳ ba đề mở học nhanh
Công bình=bác ái đạo thành mấy ai
VẠN giáo đồng nguyên tự bổn lai,
HẠNH duyên khải ngộ Đạo minh khai;
THIỀN đường nhựt nhựt năng tu dưỡng,
SƯ đệ trùng hoan tại Bửu Đài.
Chư đạo hữu ôi! Nói đến chữ Đạo, có người liên tưởng đến Chùa, Thất, Am tự, Thánh Thất, Thánh Đường, hoặc thí phát qui y, phế đời hành Đạo, hoặc nói đến chữ Đạo, có nhiều người liên tưởng đến mặc áo bã nâu sồng, trường trai giới sát, vào Chùa gõ mõ tụng kinh, quì hương bái sám,cắt đứt mọi sự sanh hoạt ở thế gian. Nói đến chữ Đạo, có nhiều người lại liên tưởng xa hơn nữa, đó là lập cơ xây bàn cầu Tiên Thánh Phật để thỏa mãn những gì mình muốn do các Đấng Thiêng Liêng mách bảo chỉ giúp cho mọi phương diện nhu cầu.
Chư đạo hữu ôi! Nếu tất cả những quan niệm mà Bần Tăng vừa kể bên trên đó là đúng thì chữ Đạo không còn ý nghĩa gì với nó nữa. Bởi vì thế gian chưa vào một Đạo nào hết mà người ta còn nói được câu “Đạo quân thần, đạo phụ tử, đạo phu thê, đạo huynh đệ, đạo bằng hữu” hoặc là “Thị Đạo tắc tấn, phi Đạo tắc thối” hoặc câu “Minh Vương Thánh Đạo” hoặc câu “Lãnh đạo tinh thần, lãnh đạo tôn giáo” hoặc “Lãnh đạo quốc gia” hoặc “Đoàn hướng đạo sinh”, v.v... và .v.v...
Ở lãnh vực nào cũng có kèm theo chữ Đạo trong danh từ hoặc từ ngữ ấy. Như vậy, người thế gian đã hòa mình trong các lãnh vực Đạo nhưng vô ý thức. Vì bởi vô ý thức cho nên không theo đuổi để khai thác cùng phát triển cho đến chỗ tận thiện, tận mỹ cái Đạo của lãnh vực đó. Vì bởi vô ý thức cho nên có lắm người rớt trong cái hố sâu tội lỗi, làm trái tôn chỉ mục đích cùng đường lối của tổ chức đó. Vì vô ý thức cho nên thiên hạ mới gây ra những điều tàn bạo tội lỗi nhưng lúc nào cũng nhân danh cái Đạo, như lãnh đạo tinh thần, lãnh đạo tôn giáo, lãnh đạo quốc gia ,v.v...
Tiền nhân đã dùng chữ Đạo ghép trong các từ ngữ trong khắp các lãnh vực là đã có dụng ý rằng bất cứ một hành động nào dầu ở lãnh vực nào cũng không nên tách rời cái Đạo, mà phải thuận Đạo. Thuận Đạo tức là thuận Thiên. Hễ thuận Thiên thì còn, nghịch Thiên thì mất. Như vậy chữ Đạo đâu phải nhứt thiết đóng khung trong lãnh vực Chùa, Thất, Am tự , v.v... mà chữ Đạo nó có cái lý huyền nhiệm ẩn tàng trong khắp cả các lãnh vực từ lớn hết sức lớn, đến nhỏ hết sức nhỏ, không chỗ nào là không có cái Đạo. Vì Đạo là lẽ phải, là nguồn sống, là an bày cho vạn vật.
Thí dụ: Đạo mà lồng trong quân thần, thì quân có minh, thần có trung. Đạo lồng trong phụ tử thì phụ có từ, tử có hiếu. Đạo lồng trong phu thê, thì phu thê tương ái, trọn đạo thỉ chung, xây dựng hạnh phúc gia đình, dưỡng nuôi con cái nên người hữu ích trong quốc gia xã hội, nhỏ nhứt là gia đình. Đạo nếu lồng trong tình bằng hữu thì bằng hữu tương thân, tương kính. Đạo lồng trong huynh đệ thì huynh tắc hữu, đệ tắc cung. Đạo lồng trong người lãnh đạo quốc gia thì người ấy phải xem mình như cha như mẹ, còn quần chúng như con cháu ruột rà. Mẹ cha lúc nào cũng nhường và xem sự an nguy của con trước hơn là bản thân mình. Đạo lồng trong đoàn thể thì người lãnh đạo đoàn thể ấy phải được chí đức, chí nhân, chí công, chí trực, chí minh, chí chánh. Đạo mà lồng trong giới lãnh đạo quân binh tướng sĩ thì người lãnh đạo ấy phải đem thân mình ra trước để che chở mạng sống muôn binh, xem sự đói no ấm lạnh buồn vui sướng khổ của thuộc hạ như chính mình. Đạo lồng trong đoàn thể tôn giáo thì người lãnh đạo tinh thần tôn giáo đó phải có hai thái độ trong hai lãnh vực: thái độ thứ nhứt là xả thân, khi nói về xả thân thì đem thân mình ra trước quán xuyến tất cả sự khổ cực khó khăn kiên nhẫn hy sinh để làm cây cầu cho hàng tín hữu bước trên đó đi đến đường Đạo; thái độ thứ hai là danh vọng quyền hành và thụ hưởng. Người lãnh đạo ở khung cảnh nầy phải để mình ra sau và núp trong bóng tối để xiển dương khích lệ ngợi khen nung đúc tinh thần cho hàng tín hữu hoan hỉ hăng hái trên đường tu học.
Tóm lại, bậc lãnh đạo tinh thần tôn giáo, khi cực khổ thì xung phong đảm nhận làm trước, lúc thụ hưởng phải đặt mình ở chót phía sau. Dầu trong lãnh vực nào cũng thế, gương khiêm tốn, lòng nhẫn nại, đức hy sinh, công quán xuyến, làm nên cho người, kết quả vấn đề đó là gây tình thương yêu hòa ái cho mọi người. Dù muốn dù không, cái phản ứng tốt đẹp sẽ hướng về cho nơi xuất phát. Nhân tâm là yếu tố làm đầu, tình thương là căn bản thành công cho mọi việc. Như vậy, chữ Đạo bây giờ không còn bị đóng khung trong chật hẹp nữa.
Bần Tăng muốn nói thêm: Thú dữ như cọp, gấu, beo, sư tử, tuy là loài ăn thịt, nhưng không nỡ ăn con. Đó là Đạo. Người nhân thế mỗi lần bịnh hoạn sanh sản, đến lương y, bác sĩ hoặc nữ hộ sinh, nhưng loài thượng cầm hạ thú cho đến loài hạ ngư nào đâu cần lương y, bác sĩ, vẫn sống, vẫn sanh, vẫn được an bày. Đó là Đạo. Cây, cành, lá xanh giống nhau, nhưng tại sao không trổ cùng một thứ hoa, sanh cùng một sắc hoa, kết thành một loài trái, mà lại có thứ hoa hường, hoa tím, hoa trắng, hoa nâu, hoa vàng, hoa đỏ. Còn trái thì đắng trái lại ngọt, trái lại chua, trái lại cay. Tại sao không chua từ đầu chí cuối, tại sao không chát từ nhỏ đến lớn, mà tại sao chua lúc đầu ngọt lúc cuối như trái xoài, chát lúc nhỏ như chuối non, ngọt lúc lớn như chuối chín, v.v... Đó là Đạo.
BÀI CHÚC TỤNG NGỌC-HOÀNG
Lạy mừng TỪ-PHỤ CHÍ-TÔN,
Xuống ơn phổ tế khắp trong cõi trần.
Chúng con gội đức Thiên-Ân,
Tam-Kỳ Phổ-Ðộ cứu dân khỏi nàn.
Người tu vượt cảnh Thiên-Ðàng,
Người gìn nhân đạo hưởng an cõi trần.
Biết Thầy, biết Ðạo, biết ơn,
Biết lo qui hiệp Hạ-nguơn đến kỳ.
Nhờ Thầy cứu khỏi nạn tai,
Kỳ Ba Phổ-Ðộ Cao-Ðài hiệp chung.
Ơn Thầy lượng cả thương cùng,
Ra tay cứu vớt nạn chung nhơn loài.
Chúng con thành khẩn lạy Thầy,
Cầu cho nhơn loại gặp ngày Thuấn, Nghiêu.
Chúng con gắng sức mai chiều,
Chung tâm đoàn kết dắt dìu lẫn nhau.
HUYỀN-KHUNG xin bố phép mầu,
Ban ơn cứu tử khắp bầu nhân gian.
Cầu xin phúc tải vạn bang,
Cầu Trời ban phước cứu an đại đồng.
Cứu đời thoát khỏi diệt vong,
Ma-Ha Thánh-dược tẩy lòng trần duyên.
Cứu con thoát cảnh não phiền,
Dạy con tu luyện lánh miền trầm kha.
Xin cầu chánh pháp truyền ra,
Ðộ con lánh khỏi phong ba đời cùng.
Cúi xin khẩn lạy Chí-Tôn,
Giúp cho nhân loại sinh tồn khương ninh.
..." Đại Bàng Điểu là một sinh vật Tiên Thiên, sanh ra từ thời hỗn độn, cánh của nó che khuất Mặt Trời, che khuất cả Trí Huệ của Như Lai. Nó là chánh vị của Tà Thần. Bực Bồ Tát, La Hán, Cửu Phẩm Thần Tiên ít ai thấy được nó là gì. Thấy, biết được nó là cả vấn đề khó khăn. Hàng phục được nó chỉ có Như Lai mới đặng. Nó dữ hơn Tề Thiên Đại Thánh. Đó chính là lòng ngã mạn, là tính tự tôn tự đại của Như Lai đó con. Vậy con hãy lãnh ý Thầy mà dạy lại cho môn nhơn đệ tử chúng nó hiểu đặng mà đề phòng. Vậy Sư Phụ có mấy lời con khá hiểu.
Riêng Đàn Thanh nơi đây, Thầy rất mừng thấy các con biết tự xét mà hối cải tiền phi, gia công tu tiến. Thầy sở dĩ nhiều lời răn dạy là muốn cho con đừng chểnh mảng, đừng vì sự sống mà bê trễ công phu, đó là Thầy muốn cho các con nên Đạo, chớ không phải Thầy khó khăn với các con để làm gì. “ Tử bất thành, Sư Phụ tất ưu” con khá hiểu.
Các con rõ , việc tu pháp chẳng khó, nhưng khó chỉ một cái Tâm mà thôi. Các con cố gắng làm chủ được Tâm mình thì luyện pháp mới mong kết quả. Tâm phải yên tịnh, không động, không không, đừng sợ, đừng lo, đừng rầu, đừng tưởng, đừng tính, thì luyện pháp mới kết quả. Phải tập tánh nghiêm minh, giữ lời giữ ý, vì học Đạo bất khả hý ngôn, chẳng đặng nói chơi, chẳng đặng nói dối. Tóm lại, việc gì cũng phải sửa đổi cho hoàn mỹ mới gọi là người tu, chớ các con đừng tự chủ quan rằng: Chỉ cần công phu tu luyện như vậy là được rồi chứ chẳng còn điều chi nữa. Các con khá hiểu.
Tu mà sân nộ vẫn còn, lòng phàm chưa dứt, động loạn như thế tục kia, có khác chi Triệt giáo thuở Phong Thần, Tu mà thiếu Hạnh, khó thành Tiên tác Phật.
Triệt giáo chẳng thành chỉ vì không chủ được cái Tâm, để sân hỏa đốt tiêu âm đức,
thành Tiên Phật chẳng đặng nên phải bị Phong Thần,
uổng thay! Vậy các con khá noi đó mà làm gương cho mình"...
Lời Thầy dạy dỗ hay thay
Ngã mạn đáng sợ,thiệt tay đáng gờm
Tự cao tự đại đâu thơm
Như lai không gặp ,hao cơm được gì
Theo thầy cứu độ mà chi
Người bảo ngã mạn sân si bao lần
Hay đời cũng lắm loại sân
Đâu thanh đâu trược đâu chân đâu tà
Ích người lại hại đến ta
Làm sao bản ngã phải xa chẳng gần
Làm sao chủ được cái tâm
Người chê không chán,người châm không sờn
Giúp người chẳng nghĩ đến ơn
Tùy duyên cứu độ keo sơn một lòng
Cùng nhau cập được bến trong
Cùng lên bờ giác ,cùng mong chí thành
Không không đừng nhiễm mới nhanh
Đại bàng hàng phục bến lành như lai
Ngày đêm phấn đấu miệt mài
Mà trong tâm trí chẳng hai lối về
..."VẠN PHÁP THIÊN TÔN chiếu điển đồng
TAM THANH GIÁO CHỦ chuyển huyền công
Thầy trên bố điển ban con trẻ
Hậu nhựt con Ta hưởng phước hồng.
Thầy mừng các con, Thầy miễn phép, các con an tọa. Từ buổi Khai Thiên Ư Tý, Lập Địa Ư Sửu, Sanh Nhơn Ư Dần, Thượng Đế hóa thân lâm phàm giáo Đạo, giáo hóa con trần Ba Ngôi Xích Tử. Đạo là tình thương âm dương hiệp nhứt. Thầy là Thượng Đế chủ quyền Chơn Tể Thái Cực Thánh Hoàng, muốn độ các con Thầy phải dụng “ Ngôi Hai Chủ Quyền Đạo Khí” để độ Ngôi Ba là các con trở lại cùng Thầy, phụ tử đoàn viên, Nhơn – Thiên Hiệp Nhứt.
Thế thường người có ba hồn ấy là Nhứt Thể Tam Thân, Người có Tam Hồn là: Mê Hồn – Giác Hồn – Linh Hồn.
Mê Hồn là Tinh
Giác Hồn là Khí
Linh Hồn là Thần
Người có Tam Bửu Tinh – Khí – Thần
Thần cư tại mục, đảnh thượng chi trung
Chơn Như Phật tại Linh Quang, ấy là Ngôi Một
Thầy ban Ngôi Hai là Tiên Thiên Vô Cực Hạo Nhiên Chi Khí, tại Trung Tâm Chi Đạo, cũng gọi là Nhứt Nguyên Mẫu Khí Diêu Trì, hằng tại nơi con.
Ngôi Ba là Ngươn Tinh, thường cư hạ giới tức thị phàm trần, là Mê Hồn, là chúng sanh. Là Ngôi Ba nếu biết Tu Luyện thì Tinh kia hóa Phật, không tu thì Tinh ấy tức thị yêu ma. Bởi thế Bản Thể con người là một khối: Phật –Ma, Tiên –Tục, Thánh - Phàm, Thiên Đàng – Địa Ngục thể hiện đủ đầy Tạo Hóa Chơn Cơ.
Muốn giáo Đạo quần sanh, Thầy chiết Tánh hạ trần, tá danh Ngôi Hai Giáo Đạo xưa nay vẫn thế, các vị Giáo Chủ xưa nay vẫn là Ngôi Hai đồng thể. Bởi lẽ, thương con Cha phải dạy, xưng Thầy để huấn Đạo các con. Thế nên tình phụ tử nặng như non, nghĩa Thầy trò sâu tợ biển.
Đàn nay nhân dịp ngày kỷ niệm Thập ngũ nhị ngoạt (15.02AL) lễ giáng sanh của Thái Thượng Đạo Tổ, Thầy nhơn tiện giải bày ít đoạn huyền vi cho các con học hỏi Thái Thượng Thị Ngã, cũng chính là Thầy đây. Xưa kia Thầy dụng Huyền Pháp gầy dựng Tiên gia, dùng Đạo Đức – Cảm Ứng – Huỳnh Đình mà giáo Đạo, sau đó có Trang Tử thông huyền diễn giải Nam Hoa, đến Liệt Tử diễn kinh Xung Hư nhiệm mầu, dầu mỗi Kinh điển xưa nay vốn cao thâm vi diệu, bực thường nhơn hạ trí khó nổi tri cơ.
Nay đến buổi Tam Kỳ Hạ Ngươn hầu mãn chuyển lập Thượng Ngươn cận đại, Thầy đem điển tích xưa phổ cập giáo hóa môn đồ, rèn luyện đức độ bực nhơn quần để trở nên bậc Chí Thánh Quân Tử"...
Đội ơn thầy gội ơn nhuần
Cho sáng lẽ đạo cho thân lẽ đời
Ba ngôi mà một người ơi
Ngôi ba ta sẽ luyện nơi ta bà
Sao cho gần phật lánh ma
Gần tiên xa tục ,lòng ta thiên đường
Thánh tâm nảy mực chỉ đường
Phàm thân gắng luyện thiên đường lần theo
Địa ngục xa lánh mừng reo
Ngôi hai Mẫu đã gọi theo hằng ngày
Lần theo mẫu dạy hay thay
Linh quang một khối tỏ bày chơn như
Con nguyện thân chẳng có hư
Khí an thần tịnh chơn như lần về
Ba ngôi hòa một hết mê
Nhơn Thiên hợp nhứt tình quê mặn nồng
Nghe lời thầy dạy con thông
Ngôi ba con muốn được đồng như lai
Nam Mô Diêu Trì Cửu Cơ Đại Định Phái Vàng Cứu Khổ Cứu Nạn Ta Bà Tận Độ Đại Đồng Vạn Linh .
Táo Quân gồm ba vị Thần: Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ.
Ba Thần Táo nầy gọi chung là: Định Phúc Táo Quân.
(Ba vị Thần Táo định đoạt phước đức cho gia đình, phước đức nầy do việc làm đúng đạo lý của gia chủ và những người trong nhà).
Danh hiệu của 3 vị Táo Quân là:
● Thổ Công: Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân.
● Thổ Địa: Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần.
● Thổ Kỳ: Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần.
Bài vị thờ Táo Quân, phải viết bằng chữ Hán: trên hết là hai chữ BẢN GIA, kế dưới là danh hiệu của ba vị Táo Quân.
本家
東廚司命
灶府神君
土地龍
脈尊神
五方五土
福德正神
Hai bên bài vị thờ Táo Quân thường có đôi liễn:
Hữu đức năng tư hỏa,
有德能司火
Vô tư khả đạt Thiên.
無思可達天
Nghĩa là: Có đức trông coi việc lửa,
Vô tư có thể lên Trời.
Theo tục lệ của người Việt Nam, hễ đến ngày 23 tháng chạp (tháng 12 âm lịch) hằng năm, nhà nhà đều lập một mâm cúng gồm: nhang, đèn, rượu, trà, bông, bánh, trái cây, đặt nơi giữa sân nhà để cúng đưa Ông Táo chầu Trời.
Khi Ông Táo chầu Trời, Ông Táo sẽ đem các việc xảy ra trong nhà trong một năm báo cáo lên Thượng Đế, để Thượng Đế phán xét, ban phước hay gieo họa cho nhà đó (!).
Sau đó, đến đêm Giao thừa, cũng làm một mâm cúng tương tợ như vậy để cúng rước Ông Táo trở về nhà.
Sống mà đủ đức đủ nhân
Đến khi thác xuống phong thần mừng thay
Định phúc gia chủ có hay
Hằng ngày tạo phúc có ngày phúc lai
Chẳng nên tạo ác bi ai
Đừng cho có cớ họa tai gần mình
Trước thần một dạ đinh ninh
Nguyện gieo phúc đức xin thần chứng cho
Cầu cho niên mới ấm no
Họa đi phước tới đến cho mọi nhà
Cám ơn Thầy , vậy mà lâu nay con nghĩ Ông táo là thần lửa trong bếp chớ .
Chúc Thầy năm mới vạn sự như ý
Nay vì lễ hết năm Tân Mão, các Đấng Phật Tiên Thánh Thần trở về chầu Đức Chí Tôn tại Ngọc Hư Cung.
Các Chức sắc Thiên phong hiệp với các tín đồ, nghiêm trang lập đàn cúng tế gồm: nhang đèn bông trà trái cây, rượu tinh khiết, lập nên nghi thức, lòng thành dâng lễ.
Ngưỡng vọng các Đấng thiêng liêng, từ bi tâu rõ lên Đức Chí Tôn ban bố hồng ân, đổi họa làm phước, gom điều tốt, đón điều lành, xoay cuộc chiến tranh thế giới, sớm được hòa bình, cứu giúp tất cả chúng sanh, giải thoát khỏi các tai nạn đau khổ do chiến tranh gây ra, phục hưng nền Quốc Đạo tiến hóa thạnh hành, phổ độ nhơn sanh, nhập môn vào làm môn đệ, vĩnh viễn sùng bái chánh giáo, muôn loài hoà bình, an cư lạc nghiệp, lập thành đời Minh đức Tân dân, cùng hưởng trời Nghiêu ngày Thuấn.
Chư đệ tử đồng thành tâm cúi lạy kính cẩn dâng sớ tâu lên. Kính trình
Nam mô vô thượng hư không
Dưỡng sanh bảo mạng ngóng trông con hiền
Ngày mai phật thánh triều thiên
Về chầu cha mẹ điện tiền cung nghinh
Tam bảo lễ lạy thịnh tình
Cầu xin phật thánh chứng minh cửa thiền
Chỉ đường cứu khổ bao niên
Trình báo họa phước nơi miền trần gian
Chúng sanh đau khổ khốn nàn
Lòng thành sám hối ,cầu an mọi bề
Tân Mão đến lúc lùi về
Nhâm Thìn đang tới giải mê cho trần
Tam giáo hợp nhất giải phân
Mở đường chỉ lối muôn dân tìm về
Cùng nhau qua khỏi bến mê
Cùng lên bờ giác mọi bề hanh thông
Trời nghiêu ngày Thuấn chờ trông
Tân dân minh đức người đông nhập trường
Tam bảo cung kính yêu thương
Chí tôn,Phật Mẫu chỉ đường chúng con
Cỗi lốt phàm phu, tục hóa Tiên,
Công phu, công quả đắc tâm thiền,
Công trình lập hạnh, đời siêu thoát;
Hàm lượng vô vi dưỡng bổn nguyên.
Trong phạm vi bài nầy, tác giả chỉ xin đề cập đến "Một vài khía cạnh về phép Công phu Tu luyện theo Tam Giáo".
I.- Công phu là gì?
Công phu là phần tu tánh luyện mạng,khai mở giác năng, xung phá Thiên môn, vén màn vô minh cho Thiên tánh qui chơn, nghịch hành phản bổn.
Ði theo con đường trần là "thuận hành" ,nghĩa là suốt đời chỉ lục đục theo thói phàm. Ði theo con đường siêu thoát về cõi tâm linh là " nghịch hành ".
Linh hồn có hai lối đi,
Xuống trần "đi thuận" tên ghi sổ trần.
Vào trần mang nặng xác thân,
Nhơn dục lôi cuốn mất phần linh thiêng.
Muốn về cửa Phật nhà Tiên,
"Ði nghịch" phản bổn hồi nguyên trở về.
Công phu, tánh mạng làm đề;
Linh hồn quyết định hồi quê Thiên Ðàng.
Công phu là phát động năng lực rèn luyện thân tâm, giải trừ tội nghiệp, tận diệt tánh phàm cho thánh tâm hiển lộ, chuyển hóa nhơn dục cho thiên lý lưu hành, mới đắc thành đại giác, chánh giác.
Trong nhiều Thánh giáo Thượng Ðế có dạy:
"Con có "Thánh Tâm" sẽ có Thầy,
Thầy là Cha cả của Ðông Tậy,
Tây Ðông, dầu biết hay không biết;
Thì đức háo sanh cũng thế nầy".
Muốn có "Thánh Tâm" để cảm ứng cùng Thầy thì người tín đồ phải tích cực công phu rèn luyện thế nào cho linh khiếu khai mở, nhiên hậu mới tiếp được thanh quang điển lành của Thầy ban bố. Trong một Thánh giáo xưa Thầy đã dạy:
"Các trẻ muốn gặp Thầy cũng dễ,
Dẹp "tâm phàm" đừng để dây dưa,
Thiệt hư quấy phải ngăn ngừa;
Tham, sân, ái, ố rán chừa cho xa.
Các trẻ muốn gần Cha thì vậy,
Cha vui lòng tin cậy hằng ngày,
Lựa điều, lựa việc Cha sai,
Con đừng biếng nhác cải Thầy nghe con.