"Bi ơi ,đừng sợ" :1:..quên , zhuge đừng sợ :71:
Printable View
Lm. Mark, CMC
CÓ LUYỆN NGỤC KHÔNG ?
Thiên Chúa đã dựng nên loài người, ban Sự Sống thể xác và thần linh cho ông bà nguyên tổ. Nhưng ông bà đã làm mất Sự Sống thần linh ấy khi không vâng lệnh Chúa cấm mà quyết tâm ăn trái cây biết lành biết dữ. Kết quả là ông bà đã làm mất Sự Sống, con cháu ông bà cũng bị vạ lây.
http://filadelfiamatamoros.files.wor...01/14ene12.jpg
Phải chờ một thời gian lâu dài, Con Thiên Chúa xuống trần lập các Bí tích ban lại Sự Sống thần linh cho những ai Ngài nhận làm con qua Bí tích Rửa tội. Khi chết, người ta sẽ nhập hiệp với Sự Sống (hưởng phúc Thiên đàng), hoặc mất Sự Sống (bị luận phạt trong Hỏa ngục).
https://encrypted-tbn1.gstatic.com/i...WGlb37SDAXkYTH
Sau khi chết và chịu phán xét, linh hồn được lên Thiên đàng hoặc xuống Hỏa ngục là điều chắc chắn Kinh Thánh đã dạy rõ ràng (x. Mt 25,46). Nhưng có những linh hồn sau khi chết không đáng được lên thiên đàng cũng không đến nỗi phải xuống Hỏa ngục, họ sẽ đi đâu ?
Thiên Chúa công bằng vô cùng, nhưng cũng thương xót vô cùng đã lập ra một nơi đền tội và thanh tẩy, nơi đó Giáo hội Công giáo gọi là LUYỆN NGỤC, nơi thanh tẩy cuối cùng.
* Kinh Thánh Cựu Ước nói tới Luyện ngục cách gián tiếp như sau :
1. Tiên tri Mikha viết : “Nếu tôi phải ngồi trong tối tăm, thì Yavê là ánh sáng cho tôi. Tôi xin mang lấy phẫn nộ của Yavê, bởi tôi đã có lỗi với Người, Người sẽ đem tôi ra ánh sáng và tôi sẽ được thấy đức độ của Người” (Mk 7,8-9).
2. Sách Macabê 2 kể rằng : “Yuđa thu quân và đi đến thành Ôđôlam, và vì ngày thứ Bảy đến nơi rồi, họ đã thanh tẩy mình theo lệ và qua ngày Hưu lễ ở đó. Hôm sau người ta đến gặp Yuđa, xin để đi thu lượm xác những người đã thiệt mạng, mà đem về chôn cất họ với thân thuộc nơi mộ tổ. Nhưng dưới áo lót của mỗi người chết, người ta đã tìm thấy những đồ cúng cho tượng thần Yamnia, điều lệ luật cấm chỉ người Do thái, nên mọi người đều rõ vì duyên do nào mà các người ấy đã bị thiệt mạng. Bấy giờ mọi người đều chúc tụng cách xử sự của Chúa, Đấng phán xét chí công và tỏ bày ra những điều giấu kín. Và họ đã quay đầu khẩn nguyện, xin cho tội phạm được hoàn toàn tẩy xóa. Còn vị anh hùng Giuđa thì ra lời khuyên nhủ đạo quân giữ mình sạch tội, một khi họ đã thấy nhãn tiền sự xảy ra bởi tội những người đã thiệt mạng.
Đoạn ông quyên tiền nơi mỗi người và gửi về Giêrusalem lối hai ngàn quan, để dâng lễ tế đền tội : Ông đã làm một điều rất tốt lành và cao quý, bởi nghĩ đến sự sống lại, vì nếu ông không trông rằng những người bị thiệt mạng ấy sẽ sống lại, thì cầu nguyện cho người chết là việc dư thừa và ngớ ngẩn, còn nếu ông nhìn đến phần thưởng tuyệt hảo dành cho những người đã an nghỉ cách đạo đức, thì quả là ý nghĩ lành thánh và đạo hạnh; do đó ông đã xin dâng lễ tế xá tội cho những người đã chết để họ được tha thứ tội lỗi” (2 Mcb 12,38-45, Bản dịch của Lm. Nguyễn Thế Thuấn, CSsR).
* Kinh Thánh Tân Ước cũng nói tới Luyện ngục cách gián tiếp như sau :
1. Trong Phúc Âm theo Thánh Matthêu, Chúa Giêsu phán : “Anh hãy mau mau dàn xếp với đối phương, khi còn đang trên đường đi với người ấy tới cửa công, kẻo người ấy nộp anh cho quan tòa, quan tòa lại trao anh cho thuộc hạ, và anh sẽ bị tống ngục. Thầy bảo thật cho anh biết : anh sẽ không ra khỏi nơi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng” (Mt 5,25-26).
Theo lý luận của các nhà giải nghĩa Kinh Thánh : “Ra khỏi nơi đó” không thể hiểu là ra khỏi Thiên đàng, vì Thiên đàng không phải là nơi ngục tù. Ai đã được vào Thiên đàng thì không bao giờ phải loại ra. “Ra khỏi đó” cũng không thể hiểu là ra khỏi hỏa ngục, vì đã vào Hỏa ngục thì đời đời không được ra nữa. Vậy “ra khỏi nơi đó” chỉ có thể hiểu là ra khỏi Luyện ngục, nơi linh hồn đã đền tội xong.
2. Cũng Phúc âm theo Thánh Matthêu, Chúa Giêsu phán : “Bất cứ ai nói phạm đến Con Người sẽ được tha thứ, nhưng bất cứ ai nói phạm đến Thánh Thần sẽ không được tha, dù đời này dù đời sau” (Mt 12,32).
Các Thánh Tiến sĩ như Augustinô, Gregoriô Cả, Benađô, Bêđa, đều cắt nghĩa rằng lời Chúa phán “không được tha dù đời sau” không thể hiểu về Thiên đàng, nơi đó không cần sự tha thứ; cũng không thể hiểu về Hỏa ngục, nơi đó không có sự tha thứ. Vậy “được tha thứ đời sau” chỉ có thể hiểu về Luyện ngục.
3. Thư Thánh Phaolô gửi dân thành Corintô đoạn sau đây cũng thường được cắt nghĩa về Luyện ngục : “Vì không ai có thể đặt nền móng nào khác ngoài nền móng đã đặt sẵn là Đức Giêsu Kitô. Người ta có thể dùng vàng, bạc, đá quý, gỗ cỏ, rơm mà xây trên nền đó. Nhưng công việc của mỗi người sẽ được phơi bày ra ánh sáng”.
“Thật thế, ngày của Chúa sẽ cho thấy công việc đó, vì ngày ấy tỏ rạng trong lửa, chính lửa này sẽ thử nghiệm các giá trị công việc của mỗi người. Công việc xây dựng của ai tồn tại trên nền, thì người ấy sẽ được lĩnh thưởng. Còn công việc của ai bị thiêu hủy, thì người ấy sẽ bị thiệt. Tuy nhiên, bản thân người ấy sẽ được cứu, nhưng như thể băng qua lửa” (1 Cr 3,11-15).
Các Thánh Giáo phụ giải nghĩa “vàng, bạc, đá quý” là những việc lành. “Gỗ, cỏ, rơm” là những tội nhẹ, những khuyết điểm.
* Thánh Truyền Giáo Hội minh chứng Luyện ngục :
Năm 205. Giáo phụ Clêmentê thành Alexandria dạy rằng: “Những người hối cải trên giường chết mà không có giờ làm việc đền tội, thì họ sẽ được lửa thanh luyện trong đời sống mai sau”.
Trong Hang Toại đạo, nơi ẩn trốn của giáo dân Rôma thời bắt đạo, người ta đọc được trên tường một hầm mộ viết: “Con yêu dấu, nơi đây đời con chấm dứt, nhưng lạy Cha trên trời, chúng con nài xin lòng Cha thương xót, thương cứu con chúng con đang phải chịu những nỗi đớn đau. Nhờ Đức Kitô Chúa chúng con”.
http://wp.patheos.com.s3.amazonaws.c...riscilla-1.jpg
Theo Thánh Gregoriô Cả:” Ta phải tin có một thứ lửa thanh tẩy một số lỗi lầm nhẹ trước ngày Phán xét chung, căn cứ vào những gì mà Đấng là Chân lý đã dạy, khi Ngài nói rằng, bất cứ ai nói lời phạm thượng chống lại Thánh Thần, sẽ không được tha thứ cả đời này lẫn đời sau (Mt 12,31). Theo lời quyết đoán này, chúng ta có thể hiểu rằng: một số tội lỗi có thể được tha ở đời này, nhưng một số tội khác có thể tha ở đời sau”.
Thánh Gioan kim khẩu khuyên:”Chúng ta hãy cứu giúp và tưởng nhớ tới các linh hồn. Nếu các con ông Gióp đã được thanh tẩy nhờ lễ hy sinh của cha họ (x. G 1,5), tại sao chúng ta lại có thể hoài nghi rằng những của lễ của chúng ta dâng cầu cho người chết sẽ không đem lại an ủi cho họ? Vậy chúng ta đừng ngần ngại cứu giúp những người đã ra đi, và dâng những kinh nguyện cầu cho họ”.
Trong sách tự thuật của Thánh Augustinô kể về bà Thánh Monica mẹ Ngài như sau: Trước khi qua đời, bà Thánh đã nói với con mình là Thánh Augustinô rằng:”Khi mẹ chết rồi, con chôn xác mẹ ở đâu cũng được, đừng bận tâm về việc chôn táng, mẹ chỉ xin các con một điều là, bất cứ các con ở đâu, hãy nhớ tới mẹ nơi bàn thờ Chúa”.
* Các Công Đồng Giáo Hội tuyên ngôn:
Công đồng Lyon ( 1245 và 1247), Công đồng Florence (1438-1445), và nhất là Công đồng Trentô (1545-1563) trong khóa 6, số 22 và 25 dạy rằng:” Ai dám quả quyết sau khi được ơn Thánh sủng, tội lỗi được tha và hình phạt đời đời được xóa bỏ cho các hối nhân, và không có hình phạt tạm vì tội ở đời này cũng như trong Luyện ngục trước khi cửa Thiên đàng được mở, thì kẻ ấy phải vạ tuyệt thông”.
Công đồng Trentô khóa 25, ngày 4-12-1563, tuyên ngôn thêm:”Giáo Hội Công Giáo được Chúa Thánh Thần dạy dỗ, theo các văn kiện và truyền thống xa xưa của các Giáo phụ, và mới đây trong công đồng này dạy rằng: Có Luyện ngục, và các linh hồn bị thanh tẩy tại đó, được giúp đỡ nhờ những lời cầu nguyện của các tín hữu, và nhất là bởi công nghiệp Thánh lễ Misa”.
Công đồng Vaticanô 2 (năm 1962-65) trong Hiến chế Tín lý về Giáo hội đã tuyên ngôn:”Cho tới khi Chúa ngự đến trong uy nghi, có tất cả các thiên thần theo Người, và khi sự chết bị hủy diệt, mọi vật đều quy phục Người, thì trong số các môn đệ Chúa, có những kẻ còn tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế, có những kẻ đã hoàn tất cuộc sống này và đang được tinh luyện, và có những kẻ được hiển vinh đang chiêm ngưỡng rõ ràng chính Thiên Chúa duy nhất trong Ba ngôi như Ngài hằng có” (GH 49) .
Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo được ĐGH Gioan Phaolô 2 ban hành năm 1992 tuyên bố trong khoản 1030 như sau: “Những ai chết trong ân sủng và tình nghĩa Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh tẩy cách trọn vẹn, thì tuy được bảo đảm về ơn cứu độ muôn đời của mình, vẫn phải chịu một sự thanh luyện sau khi chết, hầu đạt được sự thánh thiện cần thiết để bước vào niềm vui Thiên đàng”.
Cũng sách Giáo lý Giáo hội Công giáo trên khoản 1031 viết thêm: “Giáo hội gọi Luyện ngục là cuộc thanh tẩy cuối cùng này của những người được chọn, hoàn toàn khác với hình phạt của những kẻ bị kết án trầm luân. Giáo hội đã trình bày Giáo lý đức tin về Luyện ngục, nhất là tại Công đồng Florentia năm 1439 và Công đồng Trentô năm 1563. Dựa vào một số bản văn Kinh thánh , Truyền thống Giáo hội nói đến thứ lửa thanh luyện” (1 Cr 3,15; 1 Pr 1.7).
Khoản 1032 sách Giáo lý viết tiếp: “Giáo huấn này cũng dựa vào cách cầu nguyện cho kẻ đã chết, như được nói đến trong Kinh thánh : “Đó là lý do tại sao ông Giuđa Macabê đã truyền phải dâng hy lễ đền tội cho những người đã chết, để họ được giải thoát tội lỗi mình” (2 Mcb 12,46). Ngay từ những thời gian đầu, Giáo hội đã tôn trọng việc tưởng nhớ những người đã qua đời, và dâng lời cầu khẩn cho họ, nhất là dâng Thánh lễ, để họ được thanh tẩy và tiến vào phúc chiêm ngưỡng Thiên Chúa ( Công đồng Lỳon, năm 1274). Giáo hội cũng khuyên làm việc bố thí, hưởng các ân xá và làm các việc đền tội để giúp những người đã qua đời”.
*Tâm lý con người
muốn có nơi đền tội hơn là bị đọa phạt muôn đời:
Nhiều người dân các nước trên hoàn cầu vẫn tin có nơi đền tội trước khi linh hồn được siêu thoát về nơi cực lạc.
Theo tâm lý chung, khi cha mẹ, vợ chồng,anh chị em, họ hàng, bạn hữu ta qua đời, ai trong chúng ta lại không muốn các ngài được siêu thoát, được sống trong nơi hạnh phúc, mát mẻ, an nhàn. Nhưng nếu các ngài chưa đáng được vào nơi hạnh phúc Thiên đàng ấy, nếu các ngài chưa thanh sạch để vào gặp Chúa thanh sạch vô cùng, nếu các ngài chưa thánh thiện để vào gặp Chúa thánh thiện vô cùng, tự các ngài sẽ muốn có một thời gian, một nơi để tẩy luyện, để chuẩn bị gặp Chúa. Đàng khác, vì con người yếu đuối lầm lỗi, ta không dám nghĩ rằng, người thân yêu của ta sẽ được lên Thiên đàng ngay, ta cũng không muốn nghĩ rằng người thân yêu của ta đã làm điều gian ác đến nỗi phải xuống Hỏa ngục, nếu suốt đời đã cố gắng giữ đạo Chúa. Vậy chắc các ngài còn phải đền bù tội lỗi ở một nơi nào đó, nơi đó gọi là luyện ngục.
Bằng chứng từ người quá cố: Trong sách Mạc khải của Thánh nữ Gêtrudê in năm 1875 tại Poitiers bên Pháp kể rằng: “Trong tu viện Thánh nữ có một nữ tu trẻ rất đạo đức nên được Thánh nữ yêu mến cách riêng, nữ tu này qua đời trong hương thơm thánh thiện. Khi Thánh nữ đang phó dâng linh hồn nữ tu này cho Chúa, Thánh nữ được ngất trí đi. Bà thấy nữ tu mới qua đời đang đứng trước tòa Chúa, quanh mình nữ tu có hào quang sáng láng và được mặc y phục diễm lệ. Tuy nhiên nữ tu tỏ vẻ buồn và luống cuống, mặt cúi xuống đất, xấu hổ, không dám nhìn tôn nhan Chúa. Hình như nữ tu muốn chạy trốn đi ẩn mình.
http://i1.mirror.co.uk/incoming/arti...20Bible-829830
Thánh nữ Gêtruđê rất ngạc nhiên, bà thưa cùng Bạn các Trinh nữ: “Lạy Chúa tốt lành dịu đàng vô cùng, sao Chúa không gọi bạn Chúa đến cùng Chúa, cho bạn Chúa vào nước Thiên đàng mà để bạn Chúa đứng xấu hổ, e thẹn trước nhan Chúa như vậy?” Chúa Giêsu mỉm cười, vời nữ tu lại gần, nhưng nữ tu run rẩy, kinh hãi định chạy trốn. Thánh nữ liền nói với nữ tu: “Sao Chúa gọi con mà con không đến, con lại chạy đi?” Nữ tu trả lời: “Thưa Mẹ yêu dấu, con thấy mình không đáng đến trước mặt Con Chiên trong sạch vô cùng. Con vẫn còn vài lầm lỗi. Để được đứng trước Con Chiên, con phải trong sáng như ánh mặt trời. Con chưa được trong sạch như vậy, dù cửa Thiên đàng mở sẵn cho con, con cũng không dám vào, trừ khi con được thanh tẩy hoàn toàn mọi vết nhơ. Nếu con vào bây giờ, ca đoàn trinh nữ theo sau Con Chiên sẽ kinh hãi đẩy con lại”. Thánh nữ lại nói: “Mẹ thấy quanh con đã có ánh sáng bao bọc rồi mà?” Nữ tu trả lời: “Thưa Mẹ, đó chỉ là phần ngoài của ánh vinh quang, để mặc chiếc áo vinh quang này, người ta phải sạch hết mọi vết nhơ tội lỗi” (Purgatory, tr. 70-72).
Chúng ta cùng tin như Giáo hội dạy rằng : Sau khi chết và chịu phán xét, có một nơi để thanh tẩy, để đền bù phần phạt vì tội lỗi chưa được đền bù, hoặc đền bù chưa đủ khi còn sống, nơi đó là Luyện ngục. Luyện ngục , nơi Thiên Chúa tỏ ra công bằng nhưng cũng tỏ ra thương xót con người yếu đuối, ham những cái hợp giác quan hơn những điều vô hình.
Giáo hội luôn khuyến khích con cái mình khi còn sống hãy cứu giúp các linh hồn Luyện ngục , vì khi đã phải vào nơi đó, các ngài không thể tự cứu mình được nữa, thời gian lập công đã chấm dứt.
Phúc cho người Công giáo tin vào mầu nhiệm các Thánh Thông công: Các Thánh trên Thiên đàng , các linh hồn trong Luyện ngục , và các tín hữu còn sống trên trần gian cùng thông hiệp giúp đỡ nhau. Điều đó an ủi người còn sống cũng như người đã ra đi trước chúng ta.
Chương Hai
LUYỆN NGỤC Ở ĐÂU?
* Kinh Thánh không nói rõ Luyện ngục ở đâu, nhưng chắc chắn phải có một nơi nào đó để luyện lọc các linh hồn cần thanh tẩy trước khi vào Thiên đàng .
* Giáo hội dạy: “Luyện ngục là một nơi và là một tình trạng thanh tẩy tạm thời mà nhiều linh hồn phải chịu phạt ở đó” (TCD. Tr.482).
- Luyện ngục ở trong lòng đất:
* Theo ý kiến chung các nhà thần học như các Thánh Augustinô, Bêda, Bellarminô, v.v., thì Luyện ngục ở trong lòng trái đất.
* Thánh Tôma Aquinô dạy: “Ý kiến có thể nhận được , và thấy hợp với những lời các Thánh được mạc khải tư là Luyện ngục có hai nơi: một nơi dành chung cho các linh hồn , nơi này gần hỏa ngục hơn; một nơi dành riêng cho một số trường hợp không thông thường, từ nơi này nhiều linh hồn được phép hiện về” (Purgatory,tr.9).
* Thánh nữ Têrêsa Avila thương các linh hồn Luyện ngục cách đặc biệt. Bà hay giúp các linh hồn bằng lời cầu nguyện, hi sinh và việc từ thiện. Để thưởng công, Thiên Chúa thường cho bà được thấy các linh hồn lúc ra khỏi Luyện ngục về Thiên đàng. Các linh hồn này từ lòng đất đi ra. Bà Thánh viết: “Tôi được tin một Bề trên Tỉnh dòng mà tôi quen biết đã qua đời. Khi còn sống ngài đã giúp tôi nhiều. Dù vị tu sĩ này được coi là có nhiều nhân đức, nhưng tôi thấy cần cầu nguyện cho linh hồn ngài, vì ngài làm Bề trên trong thời gian 20 năm, nên tôi e ngại nhiều về việc săn sóc các linh hồn đã được trao phó cho ngài. Rất phiền muộn, tôi đi tới nhà Nguyện dâng lên Chúa chút việc lành đã làm, và van nài công nghiệp vô cùng của Chúa, xin giải thoát linh hồn vị Bề trên này khỏi Luyện ngục .Trong khi tôi đang sốt sắng khẩn nài như vậy, tôi thấy vị Bề trên này từ lòng đất đi lên phía bên phải tôi, rồi lên thẳng Thiên đàng cách vui vẻ. Vị Bề trên này đã cao tuổi, nhưng tôi thấy dáng người như chưa tới tuổi ba mươi, vẻ mặt rạng ngời ánh sáng . Thị kiến này xảy ra rất ngắn, nhưng tôi không nghi ngờ chút nào về sự thật tôi đã được thấy. Dù ở xa chỗ Ngài qua đời, tôi cũng được biết nhiều chi tiết đặc biệt về cái chết của ngài ...
“Một nữ tu dòng tôi, qua đời chưa được hai ngày, khi chúng tôi đang đọc kinh nguyện cho chị, tôi thấy linh hồn chị đi từ lòng đất lên thẳng Thiên đàng .
http://1.bp.blogspot.com/-RdhH_XzYsH...urgatory_3.jpg
“ Cũng trong tu viện này, một nữ tu khác quãng 18 đến 20 tuổi mới qua đời. Chị thật là một mẫu gương sốt sắng, kỷ luật và nhân đức. Đời chị đã chịu nhiều đau khổ, bệnh nạn cách kiên trì. Tôi không nghi ngờ gì khi thấy cuộc sống như vậy, nghĩ rằng chắc sẽ khỏi vào Luyện ngục. Tuy nhiên, sau khi chị qua đời mười lăm phút, lúc chúng tôi đang cầu cho chị trong nhà nguyện, tôi thấy linh hồn chị từ lòng đất bay thẳng về trời” (Purgatory, tr. 11-13).
Theo hạnh tích Thánh Lu-y Bertrand, dòng Thánh Đaminh, do cha Antist cùng dòng và sống cùng thời với Thánh nhân viết trong cuốn Acta Sanctorum, kể rằng: “Ngày 10 tháng 10 năm 1557, khi Thánh Bertrand trông coi tu viện tại Valenti, cả thành phố bị ôn dịch. Cơn dịch khủng khiếp lan nhanh như vũ bão đe dọa sinh mạng mọi người. Trong tu viện của ngài có cha Clement ước ao được chết cách thật thánh thiện, đã xưng tội chung với Thánh nhân, cha còn nói: “Thưa cha, nếu con chết bây giờ, con sẽ hiện về cho cha biết tình trạng của con ở đời sau”. Cha Clement đã chết thật. Đêm hôm sau ngài hiện về với Thánh nhân. Cha nói rằng cha đang ở trong luyện ngục để đền một số tội nhẹ, và nhờ Thánh nhân xin cộng đồng tu viện cầu cho mình. Thánh Bertrand lập tức đi xin anh em cầu nguyện và dâng thánh lễ cho cha Clement. Sáu ngày sau, một người dân trong thành, không hay biết gì về cha Clement đã qua đời, đã tới xưng tội với cha Bertrand, cho biết là linh hồn cha Clement mới qua đời đã hiện về với mình. Ong thấy đất mở ra, và linh hồn cha Clement bay thẳng về trời giống như một ngôi sao rực sáng “(Purgatory, tr. 13-14).
* Trong hạnh tích bà Thánh Madalena đệ Pazzi, cha linh hồn bà là Cepari dòng Tên có ghi lại rằng :”Bà Thánh đã được chứng kiến một nữ tu trong dòng chết ít lâu trước. Một hôm, khi Thánh nữ đang quỳ chầu Mình Thánh, ngài thấy linh hồn nữ tu đã qua đời từ Luyện ngục trong lòng đất đi lên. Nữ tu khoác chiếc áo choàng lửa, bên trong là chiếc áo choàng sáng láng che chở cho nữ tu khỏi nóng rát. Nữ tu quỳ hàng giờ tại chân bàn thờ, thờ lạy Chúa ẩn mình trong hình bánh. Đây là giờ đền tội cuối cùng trước khi nữ tu được bay thẳng về trời”.
https://encrypted-tbn1.gstatic.com/i...-FTEan4ejec4-G
- Đền tội tại nơi phạm lỗi:
Ngoài nơi nhất định là trong lòng đất như trên, một vài Chân phước còn cho biết thêm: Không những bị phạt trong Luyện ngục , mà có khi còn bị phạt tại một nơi nào đó, có khi gần mồ mả, gần bàn thờ Mình Thánh Chúa, có khi trong căn phòng nơi có người cầu nguyện cho mình, có khi ngay tại nơi linh hồn đã phí phạm thời giờ khi còn sống.
* Chân phước Frances Thánh Thể đã thấy linh hồn các nữ tu chịu cực hình ngay tại phòng ngủ, tại nơi hát kinh của tu viện, nơi các nữ tu đã phạm lỗi ngày trước .
http://31.media.tumblr.com/6TiYiyNur...qijMo1_500.jpg
* Chân phước Benađô Colagno dòng Tên thấy một linh hồn bị phạt 43 năm tại một đường phố thành Rôma.
Chương Ba
Trong Luyện ngục , các linh hồn phải chịu hai thứ khổ: Khổ vì Lửa khao khát Chúa và khổ vì Lửa thiêu đốt và các hình khổ khác
1. Khổ vì tâm hồn khao khát được thấy Chúa, được kết hợp cùng Chúa trên Thiên đàng, đó là nỗi khổ lớn lao nhất, ví như lửa thiêu đốt linh hồn. Lý do vì khi ra trước tòa Chúa phán xét, linh hồn đã thấy Chúa đẹp đẽ, tốt lành, nhân từ đáng mến vô cùng, sự mong mỏi quá sức, làm linh hồn héo hon chờ đợi.
* Thánh Tôma Aquinô xác quyết: “Hình khổ nhỏ mọn nhất trong Luyện ngục cũng vượt quá mọi đau khổ trên trần gian”
* Thánh nữ Catarina thành Genova quả quyết: “ Lòng ước muốn về gặp Chúa của linh hồn, chính là ngọn lửa cực nóng nảy làm héo hắt và gây đau thương cho các ngài hơn bất cứ thứ lửa thật nào khác”.
* Thánh nữ Têrêsa Mẹ vir61t trong sách Lâu đài Tâm hồn rằng: “Hình khổ mong thấy Chúa vượt quá mọi hình khổ có thể tưởng tượng, vì linh hồn khao khát thấy Chúa mà còn bị phép công bằng Chúa giữ lại. Giống như một thủy thủ sau bao chiến đấu với sóng dữ để được vào bờ nhưng lại bị bàn tay vô hình đẩy ra xa bờ bến. Các linh hồn Luyện ngục còn đau khổ gấp ngàn lần người thủy thủ trên” (Purgatory, tr.38).
* Thánh Tôma Aquinô viết rằng: “ Lửa thiêu đốt các linh hồn trong Hỏa ngục cũng là lửa thiêu các linh hồn trong Luyện ngục. Sự đau đớn nhỏ nhất trong Luyện ngục, cũng là sự đau đớn lớn nhất ở trần gian”.
* Thánh nữ Catarina thành Genoa viết rằng : “Linh hồn Luyện ngục phải chịu cực hình quá sức không lời diễn tả, không ý niệm nào giúp cho hiểu dễ dàng một chút, nếu Chúa không giúp cho cách riêng. Không miệng lưỡi nào có thể nói lên, không tâm trí nào có thể tạo nên một ý tưởng đúng về Luyện ngục. Về các đau khổ ở đó, đúng là như trong Hỏa ngục”
3. Ngoài hình khổ về lửa thiêu, lại còn có những hình khổ khác:
* Thánh nữ Brigitta thấy có những linh hồn chịu lạnh lẽo giá buốt. Bà Thánh Hedvigê thấy kẻ kiêu ngạo bị ném vào vũng bùn và nơi nhơ nhớp, kẻ không chịu vâng lời phải cúi gò lưng xuống như đang mang đồ nặng, kẻ khác bị htuốc độc như bất tỉnh, kẻ tham ăn bị cơn đói khát cồn cào ruột gan, kẻ phạm tội lỗi trong sạch bị lửa thiêu đốt cháy khét.
* Thánh nữ Madalena đệ Pazzi có người anh sống rất đạo hạnh. Sau khi anh chết, bà Thánh được thấy anh ở trong Luyện ngục để đền một số tội nhẹ. Bà thấy rất nhiều linh hồn trong Luyện ngục đang chịu các hình khổ, nhưng các ngài vui vẻ chịu đựng . Xúc động vì đã thấy cảnh tượng rợn rùng, bà vội chạy đến cùng Mẹ Bề trên, quì gối xuống chân bà, kêu lên: ”Lạy mẹ, cảnh Luyện ngục kinh sợ chừng nào, con không thể tin được, nếu Chúa đã không tỏ cho con ... tuy nhiên con không thể gọi là nơi tàn bạo, vì từ nơi đó các linh hồn được đưa tới Thiên đàng “
* Thánh nữ Christina sinh tại nước Bỉ vào thế kỷ 12, xác ngài hiện còn giữ tại nhà thờ thành Trondô do các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế cai quản. Thánh nữ qua đời lúc 32 tuổi, xác được đặt trong nhà thờ, quan tài mở nắp theo phong tục thời ấy, khi sắp đưa đi chôn, Thánh nữ đột ngột chỗi dậy trước mặt mọi người hiện diện, kể lại rằng :
“ Khi linh hồn tôi vừa ra khỏi xác, thiên thần dẫn tôi tới một nơi u ám đầy dẫy các linh hồn. Họ phải chịu các cực hình khốn khổ quá sức, tôi không thể dùng lời nào diễn tả các hình khổ ấy được. Tôi thấy trong số đó có nhiều người tôi đã quen. Tôi rất cảm xúc trước tình trạng buồn khổ của họ. Tôi hỏi thiên thần đây là nơi nào, vì tôi nghĩ rằng đây là Hỏa ngục, nhưng thiên thần bảo: đay chính là Luyện ngục, nơi các tội nhân bị phạt, vì trước khi chết họ đã thống hối tội lỗi, nhưng chưa đền tội đủ trước mặt Chúa.
“ Từ nơi đó tôi được dẫn tới Hỏa ngục, ở đó tôi cũng nhận ra một số người tôi đã quen biết.
“ Thiên thần lại dẫn tôi vào Thiên đàng, trước tòa Thiên Chúa. Chúa nhìn tôi với vẻ mặt nhân từ, tôi rất vui mừng vì nghĩ rằng mình sẽ được ở lại với Chúa đời đời. Nhưng Cha tr6en trời thấu suốt lòng tôi, Ngài phán: “ Hỡi con cưng của Cha, con sẽ được ở với Cha, nhưng Cha cho con chọn: hoặc ở lại với Cha, hoặc trở về thế gian tiếp tục sứ mạng cứu độ của con qua những hành động bác ái và đau khổ. Để cứu các linh hồn Luyện ngục đang đau khổ, con sẽ phải chịu nhiều cực hình, con sẽ đền tội cho họ, và con còn nêu gương lôi kéo nhiều tội nhân sám hối. Khi mãn đời, con sẽ lên đây hưởng phúc đời đời”. Sau khi nghe những lời đó, tôi đáp lời ngay không do dự, tôi muốn trở về thế gian, và tôi đã chỗi dậy”.
Thánh nữ Christina lập tức bắt đầu chương trình đền tội khắc nghiệt: Từ bỏ tất cả những tiện nghi của cuộc sống, bà sống không nhà, không lửa nấu, như chim trời không tổ. Chưa hài lòng, bà còn tìm ra mọi thứ gây đau khổ. Bà lao mình vào đám lửa cháy, ở trong đó nhiều giờ chịu thiêu đốt, nhưng khi ra khỏi đó không ai thấy giấu vết bị thương. Vào mùa đông, tại sông Meuse băng giá, bà lao mình xuống sông không những hàng giờ, hàng ngày mà còn cả nhiều tuần lễ để cầu xin ơn thương xót của Chúa. Bà Thánh còn để cho bánh xe đè, cho chó cắn, cho gai đâm đến chẩy máu ... Sau 42 năm hành xác, Chúa đã đưa Thánh nữ về hưởng phúc đời đời. Truyện này đã được vị Phụ tá Tổng Giám Mục thành Cambray thuật lại, và được Thánh Bellarminô, và Đức Hồng Y Giacôbê de Vitry xác nhận
* Thánh Bêđa thuật truyện sau cũng khá rùng rợn. Truyện xảy ra tại miền Northumberland, nước Anh: Một người tên là Drythelm, ông và gia đình sống đờ đạo hạnh theo tinh thần Công giáo, ông mắc bệnh và bệnh tình ngày càng gia tăng. Kiệt lực, ông đã chết. Vợ con khóc lóc thương tiếc vô vàn. Con cái ngồi bên xác ông khóc lóc cả đêm. Nhưng hôm sau, trước khi đóng nắp quan tài, ông đột ngột chỗi dậy. Thấy chuyện lạ, mọi người hoảng hốt trốn chạy. Chỉ còn lại vợ ông, run run sợ hãi ngồi lì đấy. Ông trấn an: “Đừng sợ, chính Chúa cho phép tôi sống lại từ cõi chết. Tôi sẽ sống một đời sống mới”. Nói rồi ông đứng thẳng lên, đi tới nhà thờ, ở lại đó ông cầu nguyện lâu giờ. Ong trở về nhà gặp bà con bạn hữu, nói lên cuộc sống của ông từ nay sẽ chỉ là để dọn mình chết lại. Ong còn khuyên mọi người noi gương ông. Rồi ông chia tài sản thành ba phần: cho con cái, cho vợ và cho người nghèo khó. Xong xuôi, ông đến gõ cửa Tu viện, nài xin cha Bề trên cho ông ở đó như một tu sĩ đền tội, làm tôi tớ mọi người. Cha Bề trên cho ông một phòng nhỏ. Ong chia thời giờ làm ba khoảng: cầu nguyện, làm việc lao động và hãm mình khác thường. Ăn chay nhiệm nhặt nhất, ông vẫn cho là không có gì đáng kể. Mùa đông ông lao mình xuống hồ nước băng giá, ở đó nhiều giờ cầu nguyện, đọc đủ 150 Thánh vịnh Đavit.
Đời sống hãm mình của ông, cộng với thái độ luôn cúi mặt xuống đất và cử chỉ của ông tỏ cho thấy nỗi sợ Thiên Chúa phán xét chừng nào. Ong giữ im lặng tuyệt đối, nhưng để cho người khác hiểu những gì đã xảy ra cho ông sau khi chết, ông đã diễn tả:
“Khi linh hồn tôi lìa khỏi thân xác, có một thanh niên tốt lành bảo tôi đi theo. Mặt anh sáng láng, mình cũng có ánh sáng bao bọc. Anh dẫn tôi tới một thung lũng rộng bát ngát, tôi rất kinh sợ, run rẩy hãi hùng. Nơi này chia thành hai phía: một bên tràn ngập lửa thiêu, gió nóng hừng hực, bên kia tràn đầy băng tuyết, gió thổi tái tê. Trong thung lũng lạ lùng nàycó rất nhiều linh hồn, tôi không thể đếm được, họ đang bị nhào lộn từ vực nóng qua vực lạnh và từ vực lạnh qua vực nóng, cứ liên hồi như vậy mà không được nghỉ. Tôi tưởng như tôi đang thấy Hỏa ngục vì ở đây ghê gớm kinh hoàng quá, nhưng người thanh niên bảo tôi rằng: đó chỉ là Luyện ngục. Các linh hồn bị phạt như vậy vì đã không chịu ăn năn sám hối khi còn khỏe mạnh, mà chỉ kịp ăn năn trong phút chót trên giường bệnh nhờ lòng thương xót Chúa. Nhiều linh hồn phải chịu phạt ở đây đến ngày Phán xét chung, một số sẽ được ra khỏi đó trước , nhờ lời cầu nguyện của các giáo dân, sự làm phúc bố thí, ăn chay đền tội và nhất là công phúc Thánh lễ Misa dâng lên cầu cho họ” (Purgatory, tr.41-43).
Khi được hỏi, tại sao ông lại hãm mình quá như vậy, tại sao lại lao mình xuống hồ nước lạnh, ông mạnh mẽ trả lời: Sự khổ hạnh tôi chịu bây giờ chưa thấm vào đâu với hình khổ Luyện ngục tôi đã được thấy. Về sau ông qua đời như một vị Thánh. Gương lành của ông đã lôi kéo một số tội nhân ăn năn sám hối trở về đường lành.
* Thánh nữ Fracesca, sáng lập dòng Oblates, qua đời tại Rôma năm 1440, được Chúa soi sáng cho biết tình trạng các linh hồn Luyện ngục rất rõ ràng. Bà thấy Hỏa ngục và những hình khổ cực dữ trong đó. Bà cũng được thấy Luyện ngục nữa. Vâng lời các Bề trên, bà đã ghi lại những gì bà đã thấy theo lệnh cha linh hồn là cha đáng kính Canon Matteotti. Bà th viết:
“Sau khi thấy những hãi hùng trong Hỏa ngục, tôi được thoát ra khỏi nơi đó và thiên thần dẫn tôi vào Luyện ngục. Luyện ngục không có cảnh hãi hùng và vô trật tự, cũng không có thất vọng và tối tăm đời đời. Luyện ngục có sự hy vọng thần linh ngời sáng, nơi thanh tẩy này coi như cuộc hành trình hy vọng. Các linh hồn Luyện ngục chịu đau đớn dữ dằn, nhưng các thiên thần thăm viếng, an ủi họ. Luyện ngục được chia làm ba phần, như ba địa hạt rộng lớn trong vương quốc đau khổ. Nơi nọ ở trên nơi kia với những loại linh hồn khác nhau. Những linh hồn ở tầng sâu hơnvì có nhiều điều phải thanh tẩy hơn và phải ở đó lâu hơn. Tầng sâu nhất đầy lửa nóng hãi hùng nhưng không đen kịt như Hỏa ngục, đó là một biển lửa mênh mông, với những ngọn lửa bừng bừng. Vô số linh hồn phải lao mình vào đó. Họ là những linh hồn mắc tội trọng, đã thành thực xưng thú, nhưng chưa đền tội đủ khi còn sống. Với tất cả những tội trọng đã được tha, họ phải chịu đau đớn trong bảy năm. Thời gian này không thể đo lường cách rõ ràng, vì tội trọng có ác tính khác nhau, đó chỉ là hình phạt trung bình. Và dù các linh hồn bị lửa vây quanh, hình khổ của họ cũng không giống nhau, nó khác nhau tùy theo số lượng và bản chất mỗi tội”.
Trong tầng sâu Luyện ngục này, có những giáo dân và tu sĩ. Giáo dân tuy đã phạm tội, nhưng sống hạnh phúc sau khi ăn năn chân thành. Tu sĩ đã hiến mình cho Thiên Chúa không sống thánh thiện theo bậc mình. Bà Thánh cũng thấy linh hồn một linh mục bà đã quen biết, nhưng bà không nói tên, vị này che mặt bằng một tấm vải, tuy linh mục này có đời sống tốt lành, nhưng không luôn giữ điều độ mà còn quá tìm thỏa thích nơi bàn ăn.
Bà Thánh lại được dẫn vào tầng giữa Luyện ngục, nơi dành cho những linh hồn không phải chịu hình khổ dữ dằn. Nơi này được chia thành 3 ngăn: Ngăn nhất giống như một khu ngục băng giá, buốt giá không thể tả, ngăn hai lại là một vạc dầu sôi vĩ đại, ngăn thứ ba giống như cái hồ chứa vàng bạc lỏng “ (Purgatory, tr.15-17).
* theo Thánh nữ Madalena đệ Pazzi, nữ tu dòng kín Florence, do cha linh hồn ghi lại trong truyện đời Thánh nữ thì: “ Vào năm 1607, ít lâu trước khi Thánh nữ qua đời, một chiều kia, khi Thánh nữ đang ngồi với mấy chị em đồng tu trong khu vườn tu viện, Thánh nữ được ơn xuất thân, được thấy Luyện ngục và được mời đi thăm viếng. Thánh nữ cho biết: ngài đã đi trong khu vườn rộng lớn 2 giờ đồng hồ, đôi khi ngừng lại. Chị em thấy mặt ngài tái nhợt và đôi lúc la lên: Lạy Chúa hay thương, xin xuống, giải thoát, lạy Máu Thánh Chúa. Ôi các linh hồn khốn khó, họ chịu đau khổ dữ dằn nhưng bằng lòng và vui vẻ”.
Thánh nữ còn được dẫn xuống tầng sâu hơn nữa, ngài do dự, nhưng rồi cũng xuống, đột nhiên ngài dừng lại, rồi thở dài, kêu lên: Lạy Chúa tôi, những linh hồn tu trì phải hành hình khổ sở chừng nào! Bà Thánh không tả nỗi khổ, nhưng coi thái độ kinh hoàng của bà, người ta đóan được hình khổ hãi hùng. Bà còn được dẫn vào ngục tù của những linh hồn đơn thành, các trẻ em và những người phạm lỗi vì thiếu hiểu biết, hình khổ của họ dễ chịu hơn. Nơi đó có giá lạnh và lửa nóng. Có các thiên thần bản mạnh ở bên các linh hồn này, giúp họ can đảm chịu khổ. Bà cũng thấy quỷ dữ mặc những hình thù ghê gớm gia tăng nỗi khổ cho các linh hồn này.
Đi xa hơn, bà Thánh thấy các linh hồn bất hạnh, bà kêu lên: Oi nơi này khốn nạn chừng nào! Đầy những quỷ xấu xa ghê gớm và những hình khổ không thể tả, họ bị đâm chém và xé ra từng mảnh”. Bà Thánh cho biết, họ là những kẻ giả đạo đức.
Xa hơn chút nữa, bà Thánh thấy rất đông những linh hồn bị thương tích, bị đè dưới máy ép, bà Thánh hiểu họ là những kẻ nghiện ngập, bất nhẫn, bất vâng phục khi còn sống. Một lúc sau, bà Thánh lại kêu lên ghê sợ: Những kẻ dối trá bị giam phạt gần hỏa ngục, hình khổ của họ là bị đổ chì lỏng vào miệng và đồng thời bị run rẩy vì băng giá.
Bà cũng được dẫn đến ngục nhg4 linh hồn phạm tội vì yếu đuối, nhưng họ cũng phải bị thiêu bằng thứ lửa gay gắt.
Bà lại được đi nữa, tới nơi phạt những linh hồn quá gắn bó với những của cải đời này, họ phạm tội hà tiện, keo kiết. Bà Thánh kêu lên: Ôi, mù tối chừng nào! Mong muốn tìm những của mau qua, họ đã được giấu có mà vẫn không thỏa lòng, bây giờ ở đây chịu khổ hình lên tới cổ họng, họ bị tan chảy như nến sáp trong lò lửa.
http://upload.wikimedia.org/wikipedi...he-predell.jpg
Bà lại tới chỗ những linh hồn phạm tội thiếu trong sạch. Bà thấy họ bị giam ở nơi dơ bẩn và dịch tả làm nôn mửa. Bà vội quay mặt khỏi nơi ghê tởm đó. Bà thấy những kẻ tham lam và kiêu căng, bà nói: Đây là những kẻ muốn sáng chói trước mặt người đời, bây giờ họ bị án sống nơi tối tăm ghê rợn. Bà còn được thấy những kẻ sống vô ơn Thiên Chúa, họ bị những hình khổ không thể tả, bị ngâm trong hồ chì lỏng để đền bù những tội vô ơn.
Cuối cùng, bà được dẫn tới nơi phạt những tội nhân không có nết xấu nào đáng kể, nhưng vì thiếu lòng nhiệt thành, họ phạm đủ thứ tội lặt vặt, đôi khi họ phạm tội này tội nọ chứ không phạm theo thói quen.
Sau khi được chứng kiến Luyện ngục hãi hùng, Thánh nữ nài xin Chúa đừng bao giờ để ngài phải chứng kiến lần nữa, những hãi hùng ngài nghĩ là không đủ sức chịu đựng. Ngài thưa cùng Chúa Giêsu: Lạy Chúa, Chúa có ý gì khi tỏ cho con những hình khổ ghê sợ trong Luyện ngục như vậy, dù con chưa thấy hết và chưa hiểu tỏ, ôi lạy Chúa, Chúa muốn con hiểu là Chúa thánh thiện vô cùng, và muốn con chê ghét tội lỗi dù là tội rất nhẹ, nó cũng rất đáng ghê tởm trước mặt Chúa
* Thánh nữ Lidwina thành Schiedam qua đời ngày 11 tháng tư năm 1433. Trong tiểu sử bà do một linh mục đồng thời có thế giá viết lại rằng: Bà Thánh này thật là một mẫu gương kiên nhẫn và là một miếng mồi ngon cho mọi bệnh tật đau đớn tàn phá trong suốt 38 năm dài. Nỗi đau da diết làm cho bà không thể ngủ được. Bà đã qua đi những đêm dài thức trắng trong nguyện cầu. Bà được thiên thần bản mạnh dẫn vào Luyện ngục, nơi đó bà thấy những ngục tù, những tội nhân, những hình khổ, và gặp cả những người bà đã quen biết
http://www.kolegiata.org/_public/gal..._fegefeuer.jpg
Bà Thánh nhớ rõ ràng những nơi được dẫn đi qua. Bà tả lại rằng: Bà gặp một tội nhân mắc đủ thứ tội xấu xa ở đời, nhưng sau cùng ông ta đã xám hối, đã xưng thú thành thực và được lãnh ơn xá giải, nhưng ông ta không có đủ giờ sống để đền tội, ông ta chết một thời gian sau vì bệnh dịch. Bà Thánh đã dâng lời cầu và các đau khổ chỉ cho linh hồn ông. Bà Thánh muốn biết linh hồn ông còn ở Luyện ngục hay không, và tình trạng hiện nay thế nào? Thiên thần dẫn bà tới nơi và chỉ cho bà: Ông ta đang ở đó và rất đau đớn, thiên thần hỏi bà có muốn chịu thêm đau khổ để cứu ông ta không? Bà Thánh thưa: Có. Bà kinh hãi khi nhìn thấy những hình khổ và bà kêu lên: Đây là Hỏa ngục sao? Thiên thần trả lời rằng: không, đây là Luyện ngục nhưng ở phía trên Hỏa ngục. Nhìn quanh, bà thấy như một nhà tù rộng rãi, bao bọc bằng những bức tường rất cao, rất đen, xây bằng những viên đá khổng lồ. Bà nghe thấy những tiếng tiếng kêu la, gào thét hỗn độn, tiếng xích sắt va chạm, tiếng đập đánh, tát vả. Tiếng kêu la này còn lớn hơn những tiếng ồn ào trên thế giới, hơn tiếng reo hò xông vào trận địa, không gì có thể so sánh được. bà Thánh xin thiên thần đừng cho mình thấy cảnh này: “Xin đừng để tôi thấy cảnh kinh hãi quá sức này, tôi không thể chịu được”.
Đi tiếp, bà thấy một thiên thần ngồi buồn bã bên bờ giếng. Hỏi ra, bà được biết đó là thiên thần Bản mạnh của tội nhân đang ở dưới giấng, đó là một Luyện ngục biệt giam. Bà Thánh muốn coi, và thiên thần đã mở nắp giếng lên, tức thì một đám lửa phực cháy và tiếng la kinh hãi vang lên rùng rợn. Thiên thần hỏi: Bà có nhận ra tiếng ai không? Khổ thứ hai vì lửa thiêu đốt, để thanh tẩy linh hồn nên thanh sạch, để đền bù các hình phạt tạm chưa đền đầy đủ khi còn sống.Năm 1880, một linh hồn kể lại với bà Thánh Mech-til-đê rằng, “Tôi không cảm thấy khổ, nhưng tôi không được thấy Chúa, Đấng mà tôi nhiệt liệt khát khao, mọi sự mong ước của loài người trên trái đất hợp lại cũng không sánh được với sự khát khao của tôi”.
Các bài trên nói về các linh hồn luyện ngục ở các quốc gia khác, vậy còn ở Việt Nam các linh hồn ấy có thông điệp gì cho chúng ta không? Đây là chuyện có thật xảy ra tại Việt Nam, khi Đức Mẹ cho phép một linh hồn nơi luyện ngục về tiếp chuyện với môt Đan-sĩ dòng Xitô. Những tiết lộ nơi luyện tội mà chúng ta không thể tưởng tượng nổi...
----------
Phần 1
https://www.youtube.com/watch?v=5mVv7veobBs
Phần 8
Đoạn đầu hơi khó hiểu 1 chút, tựu trung là như vậy: -Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu phán:
”Ma đâu có xác thịt như các con đã thấy Thầy đây?” Trong giáo lý có nói về các Thiên thần,
linh hồn và trong đó có một số tà thần. Tất cả đều là các tạo vật, do Chúa dựng nên, nhưng họ
không thể tự mình muốn làm gì thì làm. Ma quỷ không phải là tự nhiên mà có, chúng không
thể tự mình làm gì thì làm. Ngài nói: ”Tôi được về đây là do Mẹ sai về, về có mục đích làm lợi
ích cho mọi người“.
-Người dân gian thường có lối giáo dục sai lầm, khi bà mẹ hay người chị ru em thì thường hù
dọa con em mình rằng: “Coi chừng, ma, kẹ kìa”. Không có ma theo nghĩa dân gian mà chỉ có
các Thiên thần, các Thánh, các linh hồn luyện tội hay các tà thần. Họ không tự lập được mà họ
lệ thuộc vào Thánh Ý Chúa.
https://www.youtube.com/watch?v=RL8HGQvrFXc
Linh hồn luyện ngục hiện về tại California
Câu chuyện dưới đây xảy ra tại vùng Orange, Cali: Linh hồn một thanh niên Công Giáo VN đã được Chúa cho hiện về nhập vào một thanh nữ chừng 20 tuổi để nói truyện với mọi người trong gia đình, có sự chứng kiến của cha già Vũ Tuấn Tú và một số người.
Anh Giuse Mai Văn Trung, con ông bà Mai Xuân Nghi. Anh bị bắn chết cách bí mật gần bên cô bồ ở San Jose, CA trước đây 10 năm (1986), cô nghe súng nổ, nhưng không biết ai bắn. Khi cô đưa anh vào bệnh viện thì anh chết.. Lý do tới nay cũng còn bí ẩn (có lẽ vì tình).
Tưởng câu truyện đã vào quá khứ, nhưng nay, ngày 8 tháng 10 năm 1996, đúng 10 năm sau, anh Trung được Chúa cho về nói truyện qua chị Bạch Thị Trâm là người ngoại giáo, đang học đạo để thành hôn với em ruột anh Trung.
Sáng hôm ấy, chị Trâm đang làm việc với mẹ là bà Bạch Vân, Giám đốc Trung Tâm băng nhạc Asia ở Garden Grove, CA. thì anh Trung nhập vào cô. Lúc đó, anh Hùng là nhân viên của Asia, anh cũng là thư ký của Cộng đồng VN Orange, cũng ở đó. Vì anh Trung nói qua cô Trâm rằng anh muốn nói chuyện với người nhà anh với sự chứng kiến của một linh mục, nên anh Hùng tới Trung Tâm Công giáo đón cha cố Vũ Tuấn Tú về Trung Tâm Asia, rồi mọi người cùng lên xe về nhà ba má anh Trung là ông bà Nghi ở gần nhà thờ Orange. Tại đây, có mẹ anh Trung, các em của anh khoảng gần 10 người, và một số bà con xóm ngõ.
Đầu tiên anh chào mọi người và cho biết mình là ai: "Con là linh hồn Giuse Trung, Chúa cho phép con về gặp gia đình". - Bà Nghi, mẹ anh hỏi: Con muốn gì, mẹ phải làm gì cho con?- Anh Trung nói: Mẹ xin cho con 5 Thánh lễ.- 5 lễ thôi à?- 5 lễ đủ rồi. Gia đình đã quên con cả 10 năm nay, không cầu nguyện cho con.-Má đâu có quên con, má vẫn cầu nguyện cho con mà.- Má cầu nguyện mà chia lòng chia trí, để ý đi đâu...
Rồi anh xin gặp từng người em. Anh đưa họ ra khoảng 5,6 thước để nói riêng với mỗi người. Sau đó anh hỏi:- Ba đâu?- Ba đi làm muộn mới về.- Con phải chờ ba về.
Và người ta gọi điện thoại mời ông về. Trong khi chờ đợi, cha Tú xin mọi người đọc 5 chục kinh mùa Thương. Gần hết 5 chục kinh thì ông Nghi về. Gặp ông, anh Trung Chào ba và nói với ba anh:
- Ba phải dự lễ và giữ ngày Chúa nhật. Ba phải xưng tội mỗi năm ít là một lần, và phải sống đức tin Công giáo.- Ông Nghi nói: Ba vẫn tin mà.
- Anh Trung: "Đức tin phải có việc làm, đức tin không việc làm là đức tin chết". Và nói tiếp: " Xin gia đình đừng tìm biết và oán hận kẻ hại con, Chúa dậy tha thứ.". "Gia đình hãy cầu nguyện và xin lễ cho linh hồn Maria Tuyết (người quen đã qua đời), Và xin lễ cầu cho linh hồn dì Maria Ngọc Bảo (Em gái bà Vân đã chết hồi 15 tuổi. Cô Bảo đã xin học đạo, nhưng bị gia đình ngăn cản, vì không muốn cho ...Cô đã chết trong thời dự tòng và cô được ơn cứu rỗi).
sau cùng anh Trung bắt tay từ giã mọi người. Rồi anh hỏi: - Còn em bé đâu
- Mẹ anh nói: Em nhỏ đang ngủ trong phòng.
Anh Trung xin gặp em, anh bế rồi hôn em. Sau đó, anh (chị Trâm) nằm xuống giường gần đó thiếp đi. Chừng gần 15 phút sau, cô Trâm tỉnh lại và tỏ vẻ thật ngỡ ngàng sao mình lại ở đây (vì cô chưa thuộc về gia đình này, còn đang học đạo để dự định thành hôn với em trai của anh Trung)! Vì từ sáng, cô vẫn làm việc với mẹ cô tại Trung Tâm băng nhạc Asia.
Khoảng một tuần sau, cha Cố Tú (hiện đã về nhà hưu) đến nhà ông bà Nghi dâng lễ, ngài thấy, ông Nghi không được đánh động bao nhiêu về việc anh Trung hiện về. ngài nói: "Thật đúng như lời Chúa phán trong Kinh Thánh: Dù kẻ chết hiện về, họ cũng chẳng tin (Lc 16,37).
ở việt nam mình cũng có đấy. ai chưa biết thì cho là bịa đặt nhưng biết và chứng kiến với tin, hoặc người nhà chứng kiến với tin là có thật.
Thiên chúa do con người sáng tạo ra, thiên đường do con người sáng tạo ra, địa ngục do con người sáng tạo ra và luyện ngục cũng vậy. Con người thật toàn năng
Thiên chúa do con người sáng tạo ra, thiên đường do con người sáng tạo ra, địa ngục do con người sáng tạo ra và luyện ngục cũng vậy. Con người thật toàn năng
Khà khà, ôm lời phật để lòi bản chất như thế à?
Có thấy xác ướp pharaon k? Dù là còn nguyen nhưng xấu xí gê gê. ĐẤY LÀ CON NGƯỜI TẠO RA. Còn xác các Thánh cứ như người đang ngủ, ĐẤY LÀ THIÊN CHÚA TẠO RA. Như người ta muốn biết nam cực thì phải liều mạng lạnh buốt đi vào. Xác pharaon muốn biết phải tìm cách chui vào mồ. Xác các Thánh đang ở đấy, ĐẾN MÀ NGHIÊN CỨU. Ngồi đâu ôm Cái thuyết SẮC SẮC TƯỞNG TƯỞNG chỏ mõm vào NỔ
Linh Hồn
1. Chúng ta có thể nói là con người có linh hồn không?
Có thể nói như vậy. Tuy nhiên, nói cho đúng, con người là một tổng hợp gồm thể xác và linh hồn, dĩ nhiên, linh hồn là phần cao quý hơn cả.
2. Xin ông chứng minh là con người có linh hồn.
Một người sống thì khác với một người chết. Sự khác biệt giữa xác chết và người sống là linh hồn. Một xác chết thì không thể ăn uống, không thể cử động, không thể biểu lộ cảm xúc. Nó tan rữa và trở về tro bụi. Nhưng có một điều gì đó ngăn chặn thể xác bạn khỏi bị tan rã, đó là linh hồn. Vì trong mỗi một hoạt động bạn đều tìm thấy một nguyên lý hậu thuẫn. Nguyên lý trong con người mà nhờ đó chúng ta biết suy nghĩ và yêu thương, biết vui buồn, là một điều rất thực. Nó không phải là hư không, không có giá trị bằng cái thể xác mà nó làm cho sinh động. Nó cũng không phải là một hoá chất. Vì không một bác sĩ nào, khi khám nghiệm thân xác, có thể nói cho bạn biết là một hoá chất nào đó đã bị mất khiến thân xác đó không sống được. Nếu chỉ là hoá chất thì các bác sĩ và khoa học gia đã có thể tổng hợp thành chất đó, và chỉ cần một tiếng hô biến của họ là thân xác sống lại. Nhưng thực sự họ không thể làm gì được. Có một điều gì đó mà hoá chất không thể đạt tới được; đó là linh hồn hoặc thần khí. Hãy nhìn vào khuôn mặt của một con người, và đằng sau những nét sống động được biểu lộ qua đôi mắt của họ, bạn sẽ nhìn thấy linh hồn.
3. Nếu linh hồn là sự khác biệt giữa một vật thể sống động và một thân xác, thì con vật, hoặc ngay cả cây cỏ cũng phải có một linh hồn.
Ðúng như vậy. Một triết thuyết lành mạnh phải công nhận thực vật có sinh hồn, động vật có giác hồn ,và linh hồn bất diệt, thiêng liêng và thông suốt của con người.
4. Chữ thần khí và linh hồn có cùng một nghĩa?
Chữ thần khí (tinh thần) có nghĩa rất rộng. Nó xuất phát từ tiếng Latinh "spiritus", có nghĩa là hơi thở. Như vậy, đối với con mắt của thể xác thì linh hồn con người vô hình như hơi thở, và hơi thở chứng minh sự hiện diện của linh hồn trong một thân xác, do đó chữ thần khí (tinh thần) có ý nghĩa hoán chuyển, nó thay thế cho chữ linh hồn. Vậy nếu chúng ta coi thần khí là nguyên lý sự sống trong một con người, nguyên lý đó giúp họ sống động, hiểu biết và yêu thương, biết vui buồn, thì thần khí là linh hồn.
Và trong một ý nghĩa rộng hơn, vì những ý định của một người là tùy thuộc linh hồn của họ, nên chúng ta dùng chữ thần khí để nói lên cá tính, và như thế là nói về tinh thần của họ. Nhưng đây chỉ là linh hồn, được thể hiện qua hành động bên ngoài của một người. Do đó, linh hồn là nguyên lý sống động giúp tạo thành sự khác biệt giữa một người sống và một xác chết, trong ý nghĩa này, thần khí và linh hồn thì giống nhau.
5. Không phải linh hồn là hơi thở của Thiên Chúa hay sao?
Không, vì Thiên Chúa là thần khí, một thực thể thuần tuý thiêng liêng, nên không có hơi thở. Sự diễn tả đó là theo lối nói của loài người. Linh hồn là một thần khí, và được gọi là hơi thở của Thiên Chúa chỉ vì nó được tạo dựng bởi Thiên Chúa trong bản chất thiêng liêng hoặc giống như hơi thở.
6. Linh hồn có trước khi được thụ thai?
Không. Thiên Chúa dựng nên linh hồn cho mỗi một thân xác đang được tạo thành. Thật khó để biết chính xác là lúc nào, nhưng quan điểm chung cho rằng ngay khi bào thai bắt đầu xuất hiện.
7. Có phải linh hồn thì bất tử?
Phải. Theo lẽ tự nhiên thân xác sẽ chết; nhưng bản chất của linh hồn thì bất tử.
8. Ông có những bằng cớ nào để biết linh hồn bất tử?
Sự kiện linh hồn bất tử có thể giải thích bởi nhiều điểm. Thứ nhất, bản chất cấu tạo của nó khiến cái chết không làm gì được. Chết là sự phân hủy các bộ phận. Chỉ một hợp chất mới có thể bị phân tán và hủy diệt. Tuy nhiên linh hồn không phải là một hợp chất. Bản chất vô hình của nó chứng tỏ nó không lệ thuộc vật chất. Nó được ban cho các khả năng tinh thần, và nó thiêng liêng giống như các khả năng mà nó đã lãnh nhận, giúp nó sống và hoạt động khi tách rời khỏi thân xác. Vì không phải là vật chất, nó không bao giờ bị tiêu hủy hay phân rã như vật chất. Thiên Chúa cũng không ban cho nó một bản chất chỉ thích hợp để sống trong một giai đoạn, và sau cùng thì bị hủy diệt.
Thứ hai, mọi người đều cảm thấy có một bó buộc về luân lý, và mỗi một ràng buộc đòi hỏi phải có sự hy sinh. Thí dụ nhà nước nói, "Ðây là luật," và tôi trả lời, "Nếu tôi không tuân theo luật thì sao?" Nếu nhà nước trả lời, "Ồ, thì đâu có sao. Tôi chỉ nói đó là luật thôi. Bạn muốn vi phạm thì vi phạm," điều đó thật lố bịch, thật khôi hài chứ không phải là luật. Tôi biết, một ngày nào đó tôi sẽ phải trả lời về thái độ của tôi đối với ý thức luân lý. Tôi có thể sống qua đời này mà không ai có quyền phán xét tôi về những gì tôi làm. Nhưng thực sự thì linh hồn tôi sẽ phải trả lời trước ngai Ðấng Chí Công. Ðiều đó có nghĩa, linh hồn phải còn sống.
Thứ ba, quan điểm tổng quát về đời sống con người cho chúng ta thấy có nhiều bất công đi ngược với ý thức công bằng. Chúng ta biết một ngày nào đó sự công bằng sẽ được thể hiện, nhưng không ở đời này mà ở đời sau. Ðiều đó có nghĩa phải có sự hiện diện của chúng ta, do đó, chúng ta vẫn sống sau khi chết.
Thứ tư, mỗi một linh hồn đều có sự khao khát không thể thỏa mãn được về hạnh phúc, hạnh phúc lâu dài. Không một điều gì trên trái đất này có thể thoả mãn được sự khát khao ấy. Tuy nhiên, khuynh hướng tự nhiên bẩm sinh này phải có mục đích chính đáng của nó. Cũng giống như đôi mắt của con người, nếu được dựng nên mà không có ánh sáng thì cũng vô ích.
Như vậy, khi suy tư về cấu tạo đơn thuần của linh hồn, về sự thưởng phạt tương lai có liên hệ đến ý thức luân lý, về việc chấn chỉnh sự bất công của thế giới, và về khuynh hướng nhắm đến cùng đích tối hảo và cuối cùng, thì từ chối sự hiện hữu của linh hồn là điều không hợp lý.
9. Quy tắc luân lý của chúng ta phải dựa trên cuộc sống mà chúng ta nhận biết – đó là cuộc sống đời này.
Không chỉ có cuộc sống đời này mà chúng ta có sự hiểu biết. Chúng ta hiểu biết qua hai cách, hiểu biết nhờ thực nghiệm, hoặc hiểu biết dựa trên lý lẽ và uy thế. Tôi có sự hiểu biết thực nghiệm về nước Hoa Kỳ là vì tôi đang sống ở Hoa Kỳ, nhưng tôi không có sự hiểu biết thực nghiệm về Phi Châu. Tuy nhiên bạn không thể nói là tôi không biết gì về Phi Châu. Chắc chắn là tôi biết nó hiện diện. Hiện giờ chúng ta có cảm nghiệm về đời này. Nhưng qua các quy tắc về lý lẽ và qua uy thế của Thiên Chúa chúng ta biết sau khi cuộc đời trần thế chấm dứt chúng ta vẫn tiếp tục hiện diện. Chúng ta không thể mong được hiểu biết thực nghiệm về một trạng thái mà bản chất của nó thuộc về tương lai. Ngoài ra, quy tắc luân lý phải giúp điều hòa cá tính của bạn trong toàn thể cuộc đời, giúp xây dựng một nền tảng luân lý tuyệt hảo như một đức tính thường xuyên của bạn cho đến chết. Nếu quy tắc luân lý bao trùm toàn thể sự sống của bạn, thì nó không thể bị giới hạn vào một giai đoạn ngắn ngủi.
10. Nếu mọi sự bất công sẽ được chấn chỉnh và bù đắp trong thế giới đời sau thì tại sao lại đề cập đến sự công bằng ngay tự bây giờ?
Có lẽ bạn quên một nguyên tắc, chúng ta phải luôn luôn làm điều ngay thẳng vì đúng là đúng. Nếu không, chúng ta sẽ bị Thiên Chúa trừng phạt chỉ vì điều đó đúng mà chúng ta không làm. Việc chấn chỉnh những bất công thì tùy thuộc Thiên Chúa ở thế giới đời sau, nhưng điều đó không có nghĩa miễn thứ cho con người nhiệm vụ phải thi hành ở đời này.
Con người phải thú nhận có những ơn huệ mà họ lãnh nhận từ Thiên Chúa, và hoàn tất các bổn phận đối với Thiên Chúa, ngay cả khi họ chu toàn bổn phận đối với người khác. Trên thực tế, không phải tất cả mọi người đều chu toàn bổn phận này, và không sớm thì muộn Thiên Chúa sẽ xét xử họ, bù đắp cho những người bị thiệt hại bởi sự bất công của đồng loại.
11. Sự bất công của đời này đòi hỏi phải có đời sau, nhưng tôi tin vào sự đầu thai.
Sự công bằng cho thấy không phải đời này là tất cả. Nhưng ý tưởng của bạn về sự đầu thai đã dựa trên điều bạn tin tưởng sai lầm rằng, ngoài trái đất này ra không thể có sự sống nào khác. Nói cho cùng trái đất này không cần đến một đời sống khác, vì nếu có, nó cũng chỉ thêm những bất công. Có một đời sống khác tốt đẹp hơn đời này, ở đời sau và một chỗ nào đó. Ðầu thai là chuyện hoang đường.
12. Học thuyết về sự bất tử của ông cho rằng sau khi chết vẫn có sự nhận thức. Tôi không tin điều ấy, nếu không linh hồn sẽ có ý thức dù người ta mê man, hoặc khi thân xác bị tai nạn và trở nên bất động.
Ðiều ông nói không làm mất hiệu lực những gì đã trình bầy ở trên, và cũng dễ giải thích. Khi linh hồn kết hợp với thân xác thì nó hoạt động qua các cơ năng của thân xác. Nếu cơ năng bị tê liệt, linh hồn không thể hoạt động cách trọn vẹn trong khi còn kết hợp với thân xác. Nhưng một khi hồn lìa khỏi xác, ngay lập tức nó có sự hiểu biết và ý chí cũng như sức mạnh yêu thương của chính nó. Giống như khí "hydro" và "oxy" tạo thành một giọt nước. Chỉ khi kết hợp với nhau chúng mới có tác dụng như nước. Khí "hydro" có ở đó nhưng nó không thể tác dụng như chất "hydro" cho đến khi tách khỏi sự kết hợp với "oxy". Linh hồn và xác làm thành một con người. Và cả hai yếu tố phải cộng tác với nhau trong các sinh hoạt của một con người. Linh hồn không thể hoạt động một cách biệt lập như đơn vị riêng biệt một khi nó vẫn còn kết hợp. Nhưng khi tách biệt, nó có thể tác dụng một cách độc lập cũng như khí "hydro" khi được tách biệt với "oxy".
13. Giác hồn động vật có bất tử không?
Không bất tử. Ðộng vật không thể sống, không thể hoạt động mà không dựa vào điều kiện vật chất. Ðộng vật không thể vượt trên tri giác để đạt đến mức khả tri. Ngoài ra chúng không có trực giác về luân lý. Do đó giác hồn động vật tùy thuộc vào vật chất vừa để sống và để hiện hữu, và chết là hết.
14. Tại sao một khi được sinh ra, chúng ta lại có quyền hiện hữu đời đời?
Không chỉ có sự kiện được sinh ra mà thôi, nhưng được sinh ra với một bản tính như vậy. Linh hồn thì rất thích hợp với bản tính tồn tại đời đời, vì một thực thể thiêng liêng không thể tàn lụi và chết được. Tại sao chúng ta được ban cho bản tính ấy? Vì Ðấng dựng nên chúng ta muốn như vậy. Chúng ta không tự tạo nên chính mình nên chúng ta không thể ban cho chính mình quyền gì cả. Quyền là do Ðấng đã sinh ra chúng ta. Nếu một nghệ nhân vẽ hình một cô gái trên tấm vải, và giả như tấm hình ấy có thể nói được, thì rất có thể cô ấy hỏi, "Ông có quyền gì vẽ tóc tôi màu nâu?" Nghệ nhân có thể trả lời, "Vì tôi tạo nên cô, tôi có quyền cho tóc cô bất cứ mầu gì tôi muốn." Thiên Chúa có quyền tạo nên các linh hồn bất tử nếu Ngài muốn. Và chúng ta có quyền sống đời đời là vì Ngài muốn ban cho chúng ta bản tính bất tử.
15. Con người không làm chủ linh hồn. Chính họ là linh hồn. Phúc Âm viết Thiên Chúa thổi hơi sự sống vào thân xác, và nó trở nên một linh hồn sống động.
Hơi sự sống hoặc là một điều gì đó có thực, hoặc không là gì cả. Nhưng không thể nào một điều không là gì cả có thể làm cho thân xác sống động. Chắc chắn phải là điều gì đó, và điều gì đó đã tạo nên trí hồn (intelligent soul) của con người. Nếu con người không có linh hồn, thì thay vì là một tổng thể của xác và hồn, nó chỉ là thể xác. Và nếu thể xác đó là linh hồn, không lẽ linh hồn lại mang giầy! Tuy nhiên vì bạn tin vào Phúc Âm, bạn sẽ thấy rằng Ðức Kitô rõ ràng đề cập đến sự khác biệt giữa thân xác vật chất và linh hồn khi Ngài nói, "Hãy sờ mà xem, vì linh hồn đâu có xương thịt, như anh em thấy Thầy có đây" (Luca 24:39 [sau khi Chúa Giêsu sống lại và gặp các tông đồ]). Một thân xác, bởi xương thịt, không thể nào trở thành một linh hồn sống động.
16. Tôi luôn được dạy rằng linh hồn và tinh thần của con người thì giống nhau, nhưng trong một vài đoạn, dường như Thánh Phaolô phân biệt hai điều này. Phải hiểu như thế nào?
Chữ "linh hồn" và "thần khí" (tinh thần) được dùng trong Phúc Âm với nhiều nghĩa khác nhau (Giáo Lý Công Giáo 363). Sách Sáng Thế 2:7 nói rằng Thiên Chúa tạo nên thân xác con người từ đất, thổi vào con người hơi (thần khí) sự sống, và bởi đó "con người trở nên một linh hồn sống động" (dịch theo nghĩa đen). Ở đây chữ "linh hồn" được dùng để chỉ toàn thể con người, gồm thân xác và linh hồn.
Trong Khải Huyền 6:9 và 20:4 lại được dùng khác đi, khi Thánh Gioan trông thấy các linh hồn của những người đã chết vì phúc âm. Chữ "linh hồn" ở đây không chỉ về toàn thể con người, bao gồm thân xác, nhưng để chỉ phần phi vật chất, là thần khí, không bị chết.
Trong hai câu Phúc Âm (1. Thess. 5:23 và Heb. 4:12) "linh hồn" và "thần khí" dường như được dùng với hai nghĩa khác nhau, nhưng điều này không chứng minh là có hai thực thể phi vật chất trong một con người. Các tác giả dùng hai chữ này song song với nhau vì tác dụng thi văn; họ không nói đến các phần tử của một con người.
Giáo Lý Công Giáo soi sáng vấn đề này: "Ðôi khi linh hồn được phân biệt với thần khí? Giáo Hội dạy rằng sự phân biệt ấy không dẫn đến tính cách nhị nguyên của linh hồn. 'Thần khí' có nghĩa là qua sự tạo dựng con người được mệnh lệnh phải đạt đến cùng đích siêu nhiên và nhờ ơn sủng linh hồn có thể được nâng lên trên tất cả để hiệp thông với Thiên Chúa" (GLCG 367).
http://www.nguoitinhuu.com/kienthuc/.../linh-hon.html
Bạn Có Một Linh Hồn Bất Tử Không?
Anh Lý : Thưa Cha, tôi đã suy nghĩ về các lý chứng có Thượng Đế của cha. Các lý chứng đó khá vững chắc, nhưng tôi biết một số bạn tôi sẽ cười nhạo.
Cha Sơn : Có thể họ sẽ cười. Nhưng nếu chúng ta không thể lý luận từ những điều lương tri hay lẽ thường chấp nhận, chúng ta sẽ không thể đàm luận với nhau.
Anh Lý : Vâng, chúng ta sẽ theo lương tri hay lẽ thường.
Cha Sơn : Được. Vậy hôm nay chúng ta phải đề cập đến một thực tại mà chúng ta không thấy, cũng không sờ mó được, nhưng chúng ta biết có thật, vì kinh nghiệm hằng ngày minh chứng hiệu quả của nó.
Anh Lý : Cái gì vậy?
Cha Sơn : Được rồi, tôi sẽ minh chứng cho anh thấy anh có một linh hồn thiêng liêng và bất tử.
Anh Lý : Xin lỗi cha, cha tin tôi có một linh hồn à?
Cha Sơn : Này anh Lý, không những tôi tin, tôi còn biết anh có linh hồn nữa.
http://k14.vcmedia.vn/k:thumb_w/600/...hien-nhien.jpg
Anh Lý : Khác nhau thế nào thưa Cha?
Cha Sơn : Tôi biết một vật gì khi tôi chấp nhận vì tôi hiểu vật ấy. Tôi biết 2 là 4. Tôi hiểu. Tôi tin một điều gì khi tôi chấp nhân, vì có người tôi biết khôn ngoan và lương thiện nói điều đó với tôi. Vì thế, không những tôi tin mà còn biết rằng anh và tôi, chúng ta có một linh hồn.
Anh Lý : Cho đến bây giờ tôi luôn luôn tin tưởng rằng người ta chỉ có thể tin có linh hồn, nhưng cha nói cha biết có linh hồn qua kinh nghiệm hằng ngày. Vậy cha biết gì về linh hồn khả dĩ cha chấp nhận có linh hồn?
Cha Sơn : Tôi thấy có sự khác biệt giữa tôi và một thanh sắt hay một phiến đá. Sắt đá là vật chất hay một phiến đá. Sắt đá là vật chất, và vật chất thì không có sự sống và bất động. Vậy, tôi cũng có một thân xác vật chất, nhưng thật thật là khác nhau. Tôi sống, tôi suy nghĩ, tôi có tự do. Tôi là một cái gì trổi vượt hơn vật chất, và cái trổi vượt hơn đó tôi gọi là linh hồn.
Anh Lý : Thưa cha, cha có chắc chắn cha có lý không?
Cha Sơn : Anh Lý, theo anh thì vật chất chỉ khác với sinh vật thôi sao? Anh biết có thể phân tích xác chúng ta ra chất nước, sắt hay muối chứ?
Anh Lý : Vâng, trong lớp tôi nghe nói và giáo sư cũng đã dạy chất sắt trong thân xác chúng ta cũng có thể làm được mấy cái đinh hai phân.
Cha Sơn : Nhưng anh chưa thấy rõ thân xác chúng ta cũng được tạo thành bằng chính vật chất không có sự sống mà chúng ta thấy quanh mình chúng ta sao?
Anh Lý : Thấy chứ. Tuy nhiên, có một sự khác biệt hiển nhiên giữa một thỏi sắt và chính tôi. Theo cha thì tại sao có sự khác nhau này?
Cha Sơn : Phải, có sự khác biệt. Giả sử anh để một thanh sắt hay một miếng gỗ ngoài trời, phơi ra ngoài nắng mưa và mọi thời tiết. anh sẽ thấy gì?
Anh Lý : Sau một thời gian nó sẽ phân tán và tan biến.
Cha Sơn : Sao vậy?
Anh Lý : Vì nó không thể đương đầu với sức phân tán của mưa và mặt trời.
Cha Sơn : Đúng, bản tính của vật chất là phân tán và hao mòn. Những phần tử phức tạp nhát của một vật thể có khuynh hướng đơn giản hóa để cuối cùng phân tích ra trong những phần tử bất động. Nhưng này, tất cả những nguyên tố trong thân xác chúng ta: nước, chất sắt, chất muối… tự chúng nó đều bất động và có huynh hướng phân hóa. Tuy nhiên, thân xác của một em bé, một con trẻ, một thanh niên không bất động. Nó sống, triển nở, lớn lên và làm thành một đơn vị lạ lùng. Tại sao khác nhau như thế? Vì trong một vật thể sống động phải có một sức mạnh khác với vật chất sức mạnh đó xây dựng thân xác và làm cho thân lớn lên.
Anh Lý : Thưa cha, tôi bắt đầu thấy trong tôi có một cái gì đó không phải chỉ là vật chất?
Cha Sơn : Và cái gì đó chúng ta gọi là linh hồn. Bây giờ chúng ta hãy nghe khoa học gia người Pháp, ông Claude Bernard. Ông ta khảo sát cùng một vấn đề dưới một khía cạnh khác. Ông nói: các phân tử cấu tạo bàn tay của anh không phải là các phân tử đã cấu tạo bàn tay của anh cách đây tám năm. Điều tôi nói với anh các phân tử cấu tạo nạo não bộ. Mỗi phân tử cấu tạo não bộ của anh đã được thay đổi trong thời hạn tám năm. Tuy nhiên, chúng ta còn nhớ nhiều việc mà chúng ta đang thấy hay nghe thấy cách đây 10 hay 20 năm. Làm sao giải thích sự kiện này? Làm sao trong trí nhớ chúng ta có rất nhiều hồi tưởng sống lại dù não bộ chúng ta thay đổi. Điều này chứng tỏ rằng: có một cái gì trong chúng ta không phải chỉ là vật chất, nhưng tồn tại. đó là linh hồn.
Anh Lý : Đó là một kết luận hợp lý. Vật chất thay đổi không ngườiừng. Nhưng trong tôi vẫn có một cài gì không thay đổi mặc dù thân xác tôi luôn biến đổi.
Cha Sơn : Phải, một cái gì bảo đảm duy nhất, hướng dẫn bảo tồn và tăng triển, cũng như tất cả mọi hành động của thân xác với mục đích lạ lùng.
Anh Lý : Nhưng nếu vậy chúng ta phải nói rằng loài vật cũng có một linh hồn.
Cha Sơn : Có thể nói như vậy. Nhưng đối với loài vật thì linh hồn không phải là tiếng chính xác, vì nếu dùng đúng nghĩa, linh hồn có nghĩa là thiêng liêng. Đôi khi cũng nói “nguyên lý sự sống” trong con vật. Nhưng chúng ta không biết rõ nguyên lý sự sống đó là gì.
Anh Lý : Nhưng thưa cha làm sao biết được linh hồn con người thiêng liêng, còn nguyên lý sự sống con vật lại không thiêng liêng. Có bằng chứng nào quả quyết điều đó? Tôi thường nghe nói không có sự khác biệt giữa con vật và con người, và con người chỉ là một con vật được tiến hòa nhiều nhất và chỉ có thế.
Cha Sơn : Anh Lý, anh nên ý tứ, đừng phê phán theo vẻ bên ngoài. Tôi chấp nhận có mọt sự giống nhau bên ngoài về thể lý, giữa con người và một vài giống vật. Nhưng giữa con người và con vật khác biệt nhau chừng nào! Giả như anh có một con chó đang đói. Anh đặt trước mặt nó một giấy bạc 100 đô la và một miếng lạp xưởng. Con chó sẽ chọn cái nào?
Anh Lý : Dĩ nhiên là miếng lạp xưởng.
Cha Sơn : Chắc không? Tấm giấy bạc không đáng giá hơn sao?
Anh Lý : Đáng giá hơn hay không, chắc chắn con chó sẽ chọn miếng lạp xưởng.
Cha Sơn : Đùng, con chó không thể không ăn miếng lạp xưởng, vì nó luôn sống theo bản năng, không thể làm cách khác, trừ khi có người nhờ tập luyện, ép buộc nó làm cách khác. Nhưng an cho phép tôi đặt anh vào một hoàn cảnh tương tự. Anh đói và tôi đưa cho anh một tấm giấy 100 đô la và một đĩa thịt bò. Anh chọn nài nào?
Anh Lý : Có lẽ tôi sẽ lấy tờ 100 đô la, có lẽ tôi sẽ chọn đĩa thịt, hoặc tôi sẽ cám ơn cha mà không lấy thứ nào cả.
Cha Sơn : Anh nói đúng, anh không chắc sẽ chọn cái nào vì anh được tự do, hoặc lấy tiền hoặc chọn đĩa thịt hay không lấy thứ nào cả. Này anh Lý, đó chính là sự khác biệt giữa anh, giữa tôi và giữa con vật. Con vật không tự do trong việc lựa chọn. Còn chúng ta, chúng ta có thể tự quyết định. Nếu chúng ta chỉ là vật chất theo định luật nhất định. Ý muốn tự do của con người phải thuộc về một trật tự khác, và trật tự này phải không lệ thuộc vào vật chất. Nói cách khác, tự do của ý muốn minh chứng linh hồn con người thiêng liêng.
Anh Lý : Tôi thấy điều cha nói đó hay thật. Và tất cả những gì cha nói đó điều do kinh nghiệm thông thường cả.
Cha Sơn : Còn có một cách khác để chứng mình linh hồn thiêng liêng.
Anh Lý : Cách nào vậy Cha?
Cha Sơn : Trí khôn. Nếu chúng ta tự quan sát kỹ lưỡng khi chúng ta suy nghĩ, chúng ta sẽ thấy chúng ta có nhièu loại ý tưởng. Chúng ta nghĩ đến phim ảnh, xe tự động, hoa… chúng ta có một loại hình ảnh trong đầu có chúng ta. Tất cả những ý tưởng đó chúng ta gọi là những ý tưởng cụ thể: ý tưởng của những vật chất riêng biệt.
Anh Lý : Phải, ngay nào tôi cũng có những ý tưởng như thế.
Cha Sơn : Nhưng có những loại ý tưởng khác. Ví dụ sự xinh đẹp, sự lương thiện, liêm chính. Những ý tương này không có hình ảnh như những ý tưởng trước. Chúng trừu tượng, được tách rời khỏi những vật thể mà chúng ta chỉ định trong thực tế. Chúng không phải là những hình ảnh như những ý tưởng cụ thể. Anh thử vẽ hình ảnh của cái đẹp của tự do, lương thiện. Tôi không vẽ được, anh vẽ được không?
Anh Lý : Thưa cha, tôi cũng chịu luôn.
Cha Sơn : Anh thấy trí khôn chúng ta có thể sản xuất những ý tưởng không kích thước hay hình dáng. Vậy thì chúng bất khả phân, đơn giản, không vật chất. Chúng ta tam gọi là những ý tưởng thiên liêng. Điều này không cho ta thấy rằng muốn sản xuất những ý tưởng trừu tượng và thiêng liêng như vậy cần phải có một cái gì vượt trên sức mạnh vật chất sao?
Anh Lý : Hình như Cha có lý.
Cha Sơn : Có lý chứ. Những ý tưởng đơn thuần và thiêng liêng cần có một sức mạnh đơn thuần và thiêng liêng. Chúng càn một cái gì thiêng liêng để sản xuất chúng. Như thế lý luận từ ý muốn tự do và những ý tưởng trừu tượng, chúng ta sẽ hiểu trong chúng ta cần có một phần thiêng liêng, một linh hồn thiêng liêng. Đó chính là cái làm cho chúng ta khác con vật, làm cho chúng ta biết nói, biết phán đoán, biết thâu thập văn hóa, những việc mà con vật không làm được.
Anh Lý : Thưa cha, bây giờ tôi biết tôi có một linh hồn thiêng liêng. Nhưng cha nói linh hồn tôi bất tử.
Cha Sơn : Tôi biết linh hồn anh không bao giờ chết. Đúng, tôi sẽ chứng minh cho anh. Này anh Lý, anh có biết chết là gì không?
Anh Lý : Chúng ta không biết sống là gì, làm sao mà biết đến sự chết.
Cha Sơn : Phải, một hiền triết Trung Hoa, cũng nói vậy (Khổng Phu Tử: Luận ngã 11, 11 tức thiên Tiên Tấn). Nhưng khi nói thế ông có một mục đích khác. Thực ra chúng ta có thể hiểu được điều đó. Chúng ta hãy nhìn cách cụ thể trong con người. Khi chết xác con người cứng đờ và lạnh, sẽ tan rữa và phân hóa. Tại sao? Vì linh hồn làm cho thân xác sống động đã rời bỏ thân xác. Chúng ta nói chết là linh hồn lìa khỏi thân xác. Nhưng lúc bấy giờ linh hồn sẽ ra sao?
Anh Lý : Đó là vấn đề.
Cha Sơn : Vâng đúng thế, Chúng ta vừa nói linh hồn đơn thuần và không bị phân chia. Vì thế linh hồn không có thành phần, cũng không thể phân hóa. Linh hồn là một cái gì thiêng liêng không lệ thuộc và vật chất. Linh hồn có hành động suy nghĩ và ý muốn riêng. Chính vì thế linh hồn không cần chấm dứt sự sống chỉ vì nó lìa bỏ thân xác. Linh hồn có khả năng bất diệt.
Anh Lý : Thế là tôi sống mãi? Nhiều người ngày nay không chấp nhận, nhưng cá nhân tôi, tôi rất khó chấp nhận hễ chết là tất cả đều chấm dứt.
Cha Sơn : Phải, có nhiều người do lý luận sai lầm tin rằng không thể nào đời sống vẫn tiếp tục sau khi thân xác chết… Có kẻ cố gắng nhắm mắt trước sự thật vì sợ đời sống vĩnh cửu của họ sẽ không được hạnh phúc. Nhưng tận trong thâm tâm của họ, cũng như chúng ta, họ đều có một khát vọng đi ngược lại với ý tưởng về một sự tiêu diệt hoàn toàn. Tất cả chúng ta, tự bản tính, đều khao khát mãnh liệt một hạnh phúc không giới hạn, phải vậy không, anh Lý?
Anh Lý : Nếu suy xét kỹ, tôi thấy rằng đó là điều chắc chắn.
Cha Sơn : Nhưng bây giờ anh có hoàn toàn hạnh phúc không?
Anh Lý : Tôi cố gắng cho được hạnh phúc, nhưng gần như mỗi ngày đều có một cái gì không được tốt đẹp.
Cha Sơn : Kinh nghiệm cho biết ngay trong lúc chúng ta hạnh phúc thì sự khát khao đó không bao giờ hoàn toàn thỏa mãn trong đời sống chúng ta. Không ai hoàn toàn hạnh phúc trên trần gian. Ông Goethe nhà thi sĩ trứ danh dù có vẻ thành công trong đời sống, trước khi chết ông ta nói trong đời sống lâu dài của ông, ông chưa được tám ngày thật hạnh phúc. Nhưng dù vậy, anh Lý, Thượng Đế đặt để trong bản tính chúng ta bản năng đó hay đúng hơn khát vọng đó. Tất cả các bản năng khác đều hành động đúng mức và được thỏa mãn. Phải chăng Thượng Đế thiếu khôn ngoan và không tốt khi ban cho ta một khát vọng mà không được thỏa mãn ở ngày trần gian này”
Anh Lý : Có lẽ như thế.
Cha Sơn : Vì không được thỏa mãn hoàn toàn ở đời sống này, nên phải có sự thỏa mãn ở một nơi khác. Nói cách khác, linh hồn phải sống sau khi thân xác chết. Linh hồn bất tử.
Anh Lý : Thạt sự bản tính nhân loại ao ước được bất tử và lý trí con người minh chứng điều đó. Tôi nghĩ rằng những ai chưa có thành kiến đều phải chấp nhận có một linh hồn bất tử
Cha Sơn : Được, hôm nay như thế là đủ.
Linh hồn và các tài năng của nó trong hành trình kết hợp với Thiên Chúa
. TÁC GIẢ & TÁC PHẨM
1. Bối cảnh và nội dung chính
Vào năm 1257, ở tuổi 40, Bonaventura (1217 – 1274) được bầu làm Tổng quản của Dòng Anh em hèn mọn. Hai năm sau (1259), trong một lần viếng thăm núi Alverno – nơi thánh Phanxicô đã được in năm dấu thánh hai năm trước khi ngài qua đời, Bonaventura có cơ hội chiêm ngắm biến cố kỳ diệu này và được tác động mạnh mẽ để viết về hành trình thiêng liêng của thánh Phanxicô trong bước đường kết hiệp với Chúa.[1] Thế là tác phẩm Itinerarium ra đời.
http://www.shrinesf.org/images/sf-easter2012.jpg
http://25.media.tumblr.com/tumblr_ma...utr7o1_400.jpg
Ngày 14 tháng 9 năm 1124, theo tự thuật, từ một khải tượng đặc biệt Francis nhận lãnh và mang trên mình các dấu nhục hình của Chúa Giê-xu khi ngài bị treo trên thập tự giá.[13] Theo lời thuật của Sư huynh Leo, người có mặt vào thời điểm ấy, "Đột nhiên ông nhìn thấy một seraph, thiên thần có sáu cánh trên một cây thập tự. Thiên thần này ban cho ông năm vết thương của Chúa Ki-tô."[13]
http://rationalwiki.org/w/images/thu...px-Francis.jpg
https://encrypted-tbn3.gstatic.com/i...WiYJ9dwuBeJma9
Được gợi hứng từ kinh nghiệm xuất thần của thánh Phanxicô về thiên thần Seraphim sáu cánh, Bonaventura chỉ ra sáu bước hay sáu nấc thang chiêm niệm để một linh hồn tiến vào “sự bình an ngang qua những biến đổi tuyệt vời của sự khôn ngoan Kitô giáo”[2]. Sáu bước ấy lại được chia thành ba cặp theo ba hướng chiêm ngắm Thiên Chúa của linh hồn như sau:[3]
http://abstractmachine.net/index/ima...ncis_jesus.jpg
i) Linh hồn nhìn ra bên ngoài nó: qua và trong những vết tích về Thiên Chúa;
ii) Linh hồn nhìn vào chính nó: qua và trong hình ảnh của Thiên Chúa;
iii) Linh hồn nhìn lên trên nó: qua Ánh sáng thần linh chiếu vào linh hồn và trong chính thứ Ánh sáng ấy.
Để hiểu hơn học thuyết của ngài, chúng tôi xin lược lại những nét chính trong từng nấc thang kia.
2. Sáu nấc thang thiêng liêng
Ở nấc thang thứ nhất, linh hồn quan sát sự vật theo ba cách. Đầu tiên nó nhìn vạn vật theo trọng lượng, số lượng và hạn độ của chúng Trong niềm tin, linh hồn lại thấy được nguồn gốc, sự tăng trưởng và cùng đích của thế giới này Và xa hơn nhờ lý trí, nó khám phá ra rằng có những vật chỉ tồn tại, vật khác thì vừa tồn tại vừa sống, vật khác nữa thì không chỉ tồn tại – sống mà còn biết phân định.Trong cách nhìn thứ nhất, linh hồn tri nhận được sức mạnh, sự khôn ngoan, và tốt lành của Đấng tạo hóa. Trong lối nhìn thứ hai, linh hồn tin vào quyền năng của một Nguyên lý tối thượng ,sự quan phòng và công minh của Thiên Chúa. Và qua sự tồn tại – sống – phân định của những hữu thể khác nhau, linh hồn nhìn ra một Thiên Chúa đang hiện hữu – sống động – tài trí, thuần thiêng, không hư hoại và không đổi thay.[4]
Thế rồi, đại vũ trụ là thế giới bên ngoài ấy đi vào trong tiểu vũ trụ là linh hồn thông qua năm cửa ngỏ giác quan (Iti.,2,2). Tuy nhiên, linh hồn chỉ nắm bắt những gì là vui thỏa và lương tri.[5] Với “bộ lọc” là sự vui thỏa và lương tri kia, linh hồn nghiệm ra đã có một chuẩn mực nhất định nào đó tồn tại trong nó. Chuẩn mực đó phải vừa không thể thay đổi theo thời gian và không gian, vừa phải là thứ chân thật nhất (Iti.,2, 8-9); nếu không linh hồn làm sao nghiệm được sự vui thỏa thật và biết phán đoán đúng. Thế là, qua sự vui thỏa này linh hồn tìm kiếm sự vui thỏa sung mãn hơn trong Chúa; và qua lương tri linh hồn ý thức hơn về một tài năng lý trí nơi mình.[6]
Tiếp đến nấc thang thứ ba, linh hồn quay nhìn vào chính nó. Nó bỡ ngỡ khám phá ra những tài năng đã có nơi chính mình: trí nhớ, trí hiểu và lòng muốn. Những tài năng này vượt xa những kinh nghiệm giác quan trên kia. Tỉ như, những nguyên lý vĩnh cửu đã được hằn khắc vào trí nhớ chắc chắn không qua cửa ngỏ giác quan, mà bằng ánh sáng không đổi từ bên trên (Iti.,3,2). Để rồi trí nhớ hướng về sự Vĩnh cửu. Với trí hiểu, linh hồn nhận biết ý nghĩa của những hạn từ, mệnh đề và kết luận.[7] Từ đó Chân lý được tỏ lộ. Còn lòng muốn là “một hoạt động của loại tài năng mang tính lựa chọn trong những dự định, phán đoán và khao khát”.[8] Đích đến của lòng muốn là Hạnh phúc.
Dẫu vậy, để tiến lên bậc thứ tư, theo Bonaventura linh hồn phải được thanh tẩy, khai sáng và hoàn thiện nhờ khoát lấy bộ ba nhân đức hướng thần.[9] Ngài còn nói thêm:
“Một người dù có được khai sáng đến cỡ nào bằng thứ ánh sáng của tự nhiên và tri thức đạt được, thì cũng không thể đi vào trong chính mình để vui thỏa trong Thiên Chúa; trừ phi phải đi qua lối nẻo của đức tin, đức cậy, đức mến với Đức Giêsu Kitô.”[10]
Như vậy, việc nhận ra những tài năng của mình nơi bước thứ ba đã làm cho linh hồn bừng tỉnh và tự hỏi: “Những thứ này đã có trong ta, nhưng nay bởi đâu ta nhìn thấy chúng?”. Hình ảnh về tấm kính màu giúp ta hiểu hơn về điều này. Giả như những tài năng của linh hồn là tấm kính kia, thì ân sủng như ánh sáng chiếu vào tấm kính, nhờ thế mà ta thấy được những màu sắc và hình ảnh có trên tấm kính. Tương tự vậy, tại bước này, linh hồn cảm thấy cần thứ ánh sáng ân sủng của Chúa để có thể thay đổi hướng nhìn: nhìn lên với chính Nguồn ánh sáng mà thôi.
Tuy nhiên, thoạt tiên khi nhìn lên Nguồn sáng hay Chính Hữu Thể,con mắt linh hồn không thể nhìn thấy gì. Trí năng trở nên mù lòa vì đã quen tri nhận những hữu thể cụ thể và phổ biến ,thuần hiện thể.Trong khi đó, Hữu Thể lại vượt xa mọi phạm trù, và là cái đầu tiên đến với linh hồn rồi qua nó mọi thứ khác hiện hữu.[12] Dần dà rồi quen, từ đó linh hồn nhận ra những yếu tính của Hữu Thể: tinh tuyền nhất, đơn giản nhất, hiện thể nhất, hoàn hảo nhất (Iti.,5,5). Nó vừa là đầu vừa là cuối, vừa là tâm vừa là chu vi đường tròn, vừa trong vừa ngoài thời gian, vừa là một nhưng lại thấm nhập trong vạn vật (Iti.,5,8).
Và cuối cùng, linh hồn không chỉ nhìn thấy những yếu tính của Chính Hữu Thể mà còn chiêm ngắm sự Tốt lành của Ba Ngôi. Sự Tốt lành ấy được thể hiện trong sáu đặc tính: siêu thông đạt, siêu đồng bản thể, siêu căn tính tự nhiên, siêu đồng đẳng, siêu đồng vĩnh cửu, siêu mật thiết.[13] Linh hồn sẽ không khỏi ngưỡng mộ khi chiêm ngắm những đặc tính của những Ngôi vị thần linh này, không chỉ trong chính chúng mà còn trong sự kết hợp tuyệt diệu giữa Thiên Chúa và con người được thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô.[14] Và khi chiêm ngắm như thế, một mặt linh hồn ta đang được ánh sáng toàn hảo chiếu soi, mặt khác nhân tính ta được kết hiệp khôn tả với Ba Ngôi Thiên Chúa (Iti.,6,7).
Ở đỉnh cao hoàn thiện này, linh hồn đã triển nở đạt mức và được nghỉ ngơi sau khi đã vất vả lao nhọc (Iti.,7,1). Trí năng đã chăm chỉ chiêm ngắm để có thể hiểu được khả dĩ là đầy đủ về Thiên Chúa, Đấng mà lòng muốn khát khao được kết hiệp.[15] Và Đấng Trung gian đã đưa linh hồn vào chốn nghỉ ngơi này không ai khác hơn là Đức Giêsu Kitô. Trong sự nghỉ ngơi kết hiệp ấy “ta hãy buông bỏ mọi giác quan, mọi hoạt động của trí năng, và mọi thứ hữu hình lẫn vô hình; hãy lãng quên đi chính mình, hãy để cho chính mình rơi rụng lại trong chừng mực có thể, hầu kết hiệp với Ngài Đấng vượt trên mọi yếu tính và mọi hiểu biết”.[16]
Như thế đó, hành trình của linh hồn trong việc tìm kết hiệp với Thiên Chúa là nơi minh chứng rõ nhất cho sự tương tác qua lại giữa tình thương từ Trời và khao khát của đất, giữa hoạt động của ân sủng và nỗ lực của con người. Thánh Bonaventura đã xuất sắc trong nỗ lực diễn tả những chuyển động của linh hồn và những tài năng của nó trước những làn gió của Chúa Thánh Thần. Để rồi cuối cùng, linh hồn được triển nở và nhuần thấm trong chính Ba Ngôi. Đấy cũng là điểm thu hút và kích thích chúng tôi tiếp tục quảng diễn trong phần tiếp sau đây.
II. LINH HỒN VÀ CÁC TÀINĂNG CỦA NÓ TRONG HÀNH TRÌNH KẾT HỢP VỚI THIÊN CHÚA
Kết hợp là một mối tương tác qua lại giữa hai hữu thể, từ những thứ bên ngoài nhất đến tận trung tâm của hữu thể là chính linh hồn. Trong tình trạng kết hợp, ba tài năng của linh hồn như được vận động và phát triển đến toàn vẹn nhất, đạt mức nhất.
Thường thường, yếu tố đầu tiên của mọi mối tương quan là lòng tin. Lòng tin có những rễ sâu trong kỷ niệm. Nên khi dùng trí nhớ lần vết theo những biến cố cuộc đời còn hằn ghi trong tâm hồn, ta vừa xâu kết lại lịch sử đời mình vừa ngờ ngợ nhận ra hướng đi cho tương lai. Phải chăng đời ta có sẵn một định mệnh – một định mệnh hạnh phúc? Đồng thời, ta cũng dần khám phá ra được bóng hình của một Người luôn đồng hành và yêu thương ta. Những kỷ niệm kia giúp củng cố niềm tin nơi ta. Từ sự tin tưởng, ta được thôi thúc tìm kiếm một định mệnh vĩnh cửu dành riêng cho ta, và chân dung đích thực của Người.
Mà ước ao xuất phát từ lòng muốn. Tuy luôn khao khát thứ hạnh phúc mang tính kết hợp đích thực, nhưng lòng muốn lại dễ vướng vào những kết hợp giả tạo với sự vật tự nhiên, hay với chính mình. Thật ra, dừng lại và quơ góp những danh – lợi – thú cũng đồng nghĩa với việc thu gom cho chính mình. Nếu chỉ xoay quanh mình ta vẫn chưa có được hạnh phúc, và sự kết hợp chỉ là bám víu. Thêm nữa, tại điểm này, nếu lòng muốn chưa vượt thoát được vòng vây của cái Tôi, thì nó cũng làm méo mó trí năng. Lý trí hoàn toàn có thể tận dụng sự khôn khéo vốn có của nó để thực hiện những toan tính hết sức tinh vi mà hướng nhắm vẫn là bảo vệ sự an toàn nhát đảm của ta mà thôi.
Ngược lại, một tình yêu kết hợp đòi hỏi phải lột bỏ chính mình và trao ban chính mình cho tha thể. Phải chăng thứ Chân lý này là một luồng sáng chiếu vào linh hồn làm lộ rõ mối giằng co nội tại nơi ta? Sự giằng co ấy minh chứng một hạnh phúc kết hiệp vẫn là một mục tiêu dang dở của linh hồn. Hơn nữa, chính trí năng cũng cảm thấy mình tầm thường khi sự vất vả suy nghĩ của nó cũng chỉ hái được những quả vô nghĩa. Tù túng. Lệ thuộc. Hạn hẹp. Ý thức khơi gợi khát khao. Khát khao thúc đẩy chọn lựa: ở lại hay ra đi, an toàn hay phiêu lưu, đóng kín hay rộng mở, bất cần hay yêu thương? Và thế là dù có phần cảm tính, ý chí lại tiếp tục đẩy trí năng đi tìm kiếm và suy tư hầu cụ thể hóa những lối nẻo để sự kết hợp nên trọn.
Thật ra, chỉ có loại lý trí muốn vươn tới Chân lý thiện hảo mới là thứ lý trí tinh tuyền, vượt thoát, và có khả năng xuyên thấu. Nhưng để đạt được điều ấy, lý trí cần buông mình cho chính Nguồn Ánh sáng. Lý trí lúc ấy đang vừa được tẩy luyện vừa được tiến bước vào lối nẻo của sự khôn ngoan thật như lời Thánh vịnh: “Gốc rễ của sự khôn ngoan là lòng kính sợ Thiên Chúa” (Tv 111,10).
Một khi quy thuận theo chuyển động của Chân lý mặc khải, lý trí sẽ rất mềm mại. Như nước, nó có thể xuyên thấu, thấm nhập vào những chiều sâu và ngóc ngách của linh hồn mình. Một mặt, nó soi chiếu và dẫn lối cho mọi chiều kích của hữu thể mình được mở ra, vươn rộng và triển nở đến tận cùng mức mà Thiên Chúa mong đợi – một định mệnh vượt quá trí tưởng ban đầu của trí nhớ. Mặt khác, nó nhận diện được những chuyển động tinh vi luôn tìm quay lại với cái Tôi an toàn của lòng muốn. Tại đây, ngược lại với giai đoạn trên, lý trí sáng suốt lại tìm cách thuyết phục, vực dậy lòng muốn đầy đam mê.
Đâu chỉ vậy, một khi được xuôi dòng cùng ân sủng, lý trí lại có thêm sự mạnh mẽ và sắc bén không phải để thêm những toan tính lắt léo mưu ích cho mình, hay để gây thương tổn cho tha nhân; mà là một sự nhạy bén đầy tình yêu để biết hy sinh hơn, nhường nhịn hơn, biết cách quan tâm tế nhị hơn đến nhu cầu của người khác, biết cách để cùng đồng hành với anh chị em mình trong cùng một kiếp người tuy mong manh mà vẫn đầy ý nghĩa. Như thế đấy, một lý trí nhuần thấm mặc khải là một thứ ánh sáng vừa có sức soi tỏ sự hữu hạn của hữu thể mình, vừa có sức chỉ đường cho linh hồn mình và tha nhân tiến đến một sự kết hiệp cao quý đầy yêu thương.
Tóm lại, thứ bình an mà thánh Bonaventura mô tả trong Itinerarium không gì khác hơn là sự hòa điệu giữa con người với Thiên Chúa. Đó là kết quả của một sự quy thuận với trọn cả hữu thể của con người trước Đấng tạo nên nó, khi nó nhìn nhận vị trí tuyệt đối của Thiên Chúa.[17] Đó cũng là thứ khôn ngoan tuyệt đỉnh mà Thần Khí ban tặng cho những ai khát khao, như ngài đã kết luận:
“Sự kết hiệp này là một điều bí nhiệm chỉ dành cho những ai khao khát nó, nhưng chẳng ai có thứ khao khát ấy ngoại trừ người được thấm đượm đến tận xương tủy ngọn lửa của Chúa Thánh Thần, Đấng mà Đức Kitô đã gởi đến thế gian.” [18]
Nguyễn Phước Bảo Ân S.J.