ai kiếm dùm tui cuốn kinh "nguyên thủy" nào có dòng chữ "Phật đã xem qua và phê duyệt" thì tui mới tin là kinh do chính Phật thuyết.
Printable View
ai kiếm dùm tui cuốn kinh "nguyên thủy" nào có dòng chữ "Phật đã xem qua và phê duyệt" thì tui mới tin là kinh do chính Phật thuyết.
có kinh nguyên thủy nào có dòng chữ "Phật đã xem qua và phê duyệt" không mọi người?
Phật giáo nguyên thủy là thích hợp cho việc tìm hiểu Phật pháp bởi nó là thực pháp, chân thực không siêu hình rất phù hợp với người hiện đại ngày nay. Cho dù có bao nhiêu là dòng phái thì giáo lý vẫn chỉ có một, vẫn chỉ là giáo lý đó mà tùy duyên, tùy trường hợp mà thành. Nếu đã biết thế thì phật giáo sẽ đại đồng.
Như trên trong bài nói là chỉ dựa trên những luận cứ, tác giả viết dựa trên những nhìn nhận căn cứ, cái bản thân mình biết mà đưa ra những kiến giải, kiến giải dựa trên kiến thức của mình nên sao tránh khỏi thiên lệch. Chúng ta học Phật xem sách, đọc văn phải suy ngẫm kỹ chớ vội tin ngay là thật. Mình không biết xem nghe người ta nói, rồi vội tin là như thế, thì sao có thể chính xác.
Không nói đến các Ngài như Mã Minh, Long Thọ... Chỉ nói đến Đường Huyền Trang chúng ta xem từ sử học, sử học là viết có căn cứ, Huyền Trang pháp sư phải qua Tây Trúc (Ấn Độ) để học pháp, nghiên cứu giáo lý ở đó. Nơi đây là cái nôi xuất phát của Phật giáo (Ấn Độ là nơi Phật du thuyết giảng kinh), Ngài Cầu học nơi Giới Hiền học về giáo pháp của Phật (Chúng ta bây giờ gọi là du học) ở đó mà học, học cái gì vậy? chính là tam tạng kinh điển, cái tam tạng kinh điển này đã bao hàm rất nhiều kinh văn kết tập, từ nơi này mới truyền sang Trung Hoa, Nhật bản, Hàn, Việt... Vậy thì cái chứng cứ sử học này giải thích cho câu 6 và 18 ở trên. các bạn đều biết nguyên tác sử này được chuyển thể thêm thắc thành Tây Du Ký... tây du ký chính là dựa trên câu chuyện có thật về vị du tăng, tham học, đến xứ Ấn Độ mà tham học và mang kinh sách từ nơi đây về để dịch thành sách kinh. Vì thế nếu dựa trên điều này và bằng chứng sử học mà lý giải thì những việc nêu của bài trên là không chính xác và không có cái gọi là Đại thừa do Trung Hoa biến tấu.
Kết luận: bài trên đã nêu rõ là chỉ dựa trên những luận cứ, nay đưa ra một số nhận định để bác cái luận cứ trên... luận cứ thì phải luận trên căn cứ. Nay đưa y cứ lịch sử ra nói, không phải dựa trên những nhận định của các tăng (vị này nói như vậy, kinh này qua thời gian đúng là phải như vậy, điều này theo nhận định là...), vài dòng chia sẻ cho quý huynh đệ xem, xem cho biết, thêm nghiên cứu kiến thức, huynh đệ trau đổi kiến giải, chứ không có ý gì khác, phàm một sự việc khi nghe phải suy tường xét kỹ, chớ vội tin, đây cũng là lời dạy của Như Lai.
Chuyện tranh cãi hơn ngàn năm nay rùi, thui về ai tu ng đó chứng, bàn thêm cũng ko phát triển thêm dc gì :D
Namo Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Mình cũng có biết chút ít về phật giáo nguyên thủy và mình có chút thắc mắc. Đức phật tu hạnh gì để thành phật, tại sao các đệ tử phật không thể đạt đến giải thoát như Đức phật thích ca, và trước khi đức phật thích Ca ra đời có đức phật nào khác không ? Các bạn có ai giải thích cho mình không
những câu hỏi còn thiếu tìm hiểu và suy nghĩ thực sự là ko nên hỏi
KHÔNG THỂ TÓM LƯỢC MÀ TRẢ LỜI CHO EM DỄ DÀNG TRONG MỘT BÀI VIẾT ĐÂU ĐỐI VỚI 1 VẤN ĐỀ RỘNG NHƯ THẾ.
EM NÊN ĐI TỪ TỪ THEO MỘT SỢI LOGIC NHƯ THẾ NÀY : TRONG KINH NGUYÊN THỦY ĐẠO PHẬT ĐÃ CHỈ RÕ :
KHỔ LÀ GÌ? NGUYÊN NHÂN CỦA KHỔ LÀ GÌ? LÀM SAO ĐỂ THOÁT KHỔ? KHÔNG CÒN KHỔ NÓ NHƯ THẾ NÀO, LIỆU CÓ THỂ NÀO NHƯ THẾ KHÔNG?
NHƯ THẾ THÌ VẤN ĐỀ NÀY EM CÓ THỂ TIN HAY KHÔNG TIN TÙY EM, NHƯNG ĐÓ LÀ VẤN ĐỀ THỜI SỰ CỦA EM VÀ TẤT NHIÊN EM PHẢI TÌM HIỂU, CÓ ĐÚNG THẾ KO?
Trong Kinh Trung Bộ 1, Đức Phật có dạy rằng:
"Ta từ bỏ khổ hạnh, hành trì thiền định, chứng được sơ thiền, thiền thứ hai, thiền thứ ba, thiền thứ tư, chứng được túc mạng minh, thiên nhãn minh và "với tâm định tỉnh, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, như nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta hướng Tâm đến lâu tận trí.
Ta biết như thật: "Ðây là khổ",
Ta biết như thật: "Ðây là khổ tập".
Ta biết như thật: "Ðây là khổ diệt".
Ta biết như thật: "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt".
Ta biết như thật: "Ðây là các lậu hoặc",
Ta biết như thật: "Ðây là lậu hoặc tập khởi".
Ta biết như thật: "Ðây là lậu hoặc diệt".
Ta biết như thật: "Ðây là con đường đưa đến lậu hoặc diệt".
Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự tâm đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Ta đã biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa".
Đức Phật trong Kinh Phật Giáo Nguyên Thủy không hề phát biểu lời tuyên bố nào để phân biệt sự khác nhau giữa Ngài và các vị A la hán ngoại trừ lời nói sau đây trong kinh Tương Ưng:
-Này các Tỳ kheo! Như Lai là vị A la hán, bậc chứng ngộ hoàn toàn. Như Lai là người đã khiến cho con đường trước kia chưa sinh khởi nay sinh khởi, đưa ra con đường trước kia chưa được đưa ra, làm hiển lộ con đường trước kia chưa từng hiển lộ, là vị nhận biết con đường, hiểu rõ con đường và là vị thiện xảo trong con đường. Và giờ đây, này các Tỳ kheo, hàng đệ tử là người đi theo con đường của Như Lai.
-Này các Tỳ kheo! Đó là nét đặc biệt, sự đặc thù để phân biệt Như Lai, bậc A la hán, vị chứng ngộ hoàn toàn với các Tỳ kheo đã giải thoát.
Như thế, dựa theo Phật giáo Nguyên thủy thì A la hán là quả vị tối thượng của người đi trên con đường giải thoát giác ngộ, nên sự giải thoát giữa Đức Phật Thích Ca và các vị A La Hán đệ tử của ngài điều y như nhau.
Dĩ nhiên là có rồi, trong Kinh Trường Bộ của Phật Giáo Nguyên Thủy, đức Phật có nói như sau:
Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Asoka (A-dục), vị này là vị thị giả đệ nhất.
Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Khemankara (Nhẫn Hành), vị này là vị thị giả đệ nhất.
Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vessabhũ, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Upasannaka (Tịch Diệt) vị này là vị thị giả đệ nhất.
Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Vuddhija (Thiện Giác), vị này là thị giả đệ nhất.
Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Sotthija (An Hòa), vị này là vị thị giả đệ nhất.
Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kassapa bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Sabbamitta (Thiện Hữu), vị này là vị thị giả đệ nhất.
Này các Tỷ-kheo, nay Ta có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Ananda (A-nan), vị này là vị thị giả đệ nhất.
vậy tu hành chỉ thành A La Hán chứ ko phải thành Phật hả bạn ở trên ơi :D, vậy tại sao lại phân biệt ra Đức Thích Ca Mâu Ni và các A La Hán hay các đức Phật khác và các A La Hán, thui gọi chung là A La Hán lun chứ nhỉ? Thế cho hỏi nhỏ thêm nhé, các A La Hán đã hành và hoàn thiện tròn đủ 10 ba la mật rùi à vì bạn nói giải thoát của 1 vị Phật giống 1 vị A La Hán? 1 vị A La Hán có đầy đủ 10 danh hiệu : Như Lai, Ứng cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn rùi à ?
Lấy ví dụ thế này cho dễ hiểu : Alahan là người lắp ráp hoàn chỉnh tất cả hoàn thiện nên 1 cái ô tô, còn Phật thì còn chế tạo ra cả những công cụ, thiết bị đó và lắp ráp ra cái ô tô. Cho nên Phật hiểu biết hơn alahan và có thể giáo hóa tất cả chúng sinh, gọi là toàn giác. Còn về mặt giải thoát thì như nhau giữa Phật và alahan, đều đã diệt trừ hết lậu hoặc và khổ đã diệt.
Tu hành để thành cái gì là do tùy theo hạnh nguyện của mỗi người bạn nhé. Nếu ai có lòng từ bi rộng lớn muốn đem giáo pháp bất tử để cứu độ chúng sanh, thì phát nguyện thành đức Phật Toàn Giác tu đầy đủ 30 Ba La Mật, sau khi thành Phật mang giáo pháp ấy thuyết để chúng sanh được cứu độ sau đó nhập Niết Bàn giải thoát chấm dứt sanh tử. Nhưng như vậy thì phải tu hành trải qua nhiều A Tăng Kỳ kiếp, còn phải bố thí đầu, mắt, tay chân, mạng sống để hoàn thiện Ba La Mật... thì mới có thể thành bật Toàn Giác được.
Còn những ai sau khi nghe đức Phật thuyết pháp, rồi tu hành và chứng ngộ A La Hán sau đó đạt được sự giải thoát Niết Bàn ngay trong đời hiện tại, hoặc chứng được ít nhất là thánh quả Dự Lưu, chỉ tái sanh trong cõi trời và người tối đa bảy kiếp nữa là thành bật A La Hán chứng đắc Niết Bàn và giải thoát luôn. Như vậy thì mau chóng được chấm khổ đau phiền não không cần phải trải qua nhiều kiếp luân hồi sanh tử.
Và dĩ nhiên một người khi chấm dứt sanh tử luân hồi, chứng ngộ được giáo pháp bất tử thì là một vị A La Hán. Vì các ngài giết sạch hết giặc phiền não trong tâm những thứ phiền não gốc ngọn gì, các Ngài cũng đều giết sạch hết. Các Ngài đã đạt được một trạng thái tâm lý yên tịnh không còn sanh diệt chấm dứt sanh tử luân hồi, và xứng đáng cho trời người cúng dường, đức Phật vẫn luôn tự xưng mình là Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng giác.
Một người vì muốn đem lại hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người nên đã phát nguyện trở thành đức Phật Toàn Giác trong tương lai phải thực hành tới 30 Ba La Mật trải qua nhiều kiếp để trở thành đức Phật Toàn Giác để mang giáo pháp bất tử thuyết cho chúng sanh được giải thoát.
Còn một người sau khi nghe lời Phật dạy và tu tập theo giáo lý của Phật sau đó đạt được giải thoát như ngài diệt trừ tất cả mọi lậu hoặc phiền não chứng đắc quả vị A La Hán để đạt được Niết Bàn và giải thoát như Đức Phật. Trong Phật Giáo Nguyên Thủy thì các vị Phật, các vị Bích Chi Phật, hay các vị A La Hán thì khi chứng ngộ giáo pháp bất tử để đoạn tận phiền não chấm dứt sanh tử luân hồi và giải thoát thì điều chỉ có hai Niết Bàn. Những gì là hai? Đó là Niết bàn có dư y và Niết bàn không dư y.
Thế nào là Niết bàn có dư y? Các vị ấy hết các lậu hoặc, hoàn thành phạm hạnh, làm xong việc nên làm , đặt xuống gánh nặng, đạt đến mục đích, hết sạch hữu kiết sử, giải thoát do chánh trí. Nơi vị ấy, 5 căn vẫn tồn tại; Vì bản thân không bị tiêu hoại nên các vị ấy lý giải điều vừa ý và điều không vừa ý, và cảm giác vui khổ. Các các vị ấy tham hết, sân hết, si hết, ấy gọi là Niết bàn có dư y.
Thế nào gọi là Niết bàn không dư y? Các vị ấy hết các lậu hoặc, hoàn thành phạm hạnh, làm xong việc nên làm, đặt xuống gánh nặng, đạt đến mục đích, hết sạch hữu kiết sử, giải thoát do chánh trí. Nơi các vị ấy tất cả cảm giác không hỷ lạc đều mát dịu; ấy gọi là Niết bàn không dư y.
Dĩ nhiên là không. Nhưng Niết Bàn thì giống nhau không sai khác.
:113: nhìn mới thấy ở đây là một biển trời chi thức, hihi
" Đừng làm rối loạn hệ thống giáo lý của bổn sư Thích Ca Mâu Ni nghe chưa , tội lắm đó người ơi !"..doc xong cau nay thay nguoi noi cau nay moi co toi....lam on nghe cac thay giang phap lai di..bay gio ko con Tieu hay Dai ma la Phat giao nguyen thuy va Phat giao phat trien......doc cai comment la da thay san si qua troi roi
haha hôm nay vui thí ghê, thấy được mục của bạn binhthuongtam, ko biết PGNT là gì mà dám nói này nọ. nói thẳng nghe, bạn này tưởng đâu mình học cao tài ba ai ngờ
ếch ngồi đáy giếng, ngu như heo mà còn lên mặt giảng đạo. haha
pháp phật để hành chứ ko phải để trên cửa miệng.