Sơ ý quên sửa chử vị và tử vị tức là mùi, tử là tý . Còn nguyên lý của nạp giáp thì có lẻ nhattam hong thèm trả lời rồi :8) , có hai thuyết một là kinh phòng một thuyết là ngu phiên cả hai đều dựa vào sự di chuyển của mặt trăng mà lập thành .
Printable View
Sách minh cảnh có lẻ bị in sai . Đọc kỷ sẽ thấy có lúc thì lấy tọa làm trạch, có lúc lấy hướng làm trạch . Tọa làm trạch mới đúng, nhưng tọa lại có 3 cái tọa một la tọa nhà, hai là tọa hướng cửa, ba là tọa phương vị cửa . Ví dụ như nhà hướng đông, cửa ở vị trí nam và xoai mặt về phía đông thì tọa nhà là tây, tọa hướng cửa là tây và tọa phương vị cửa lại là bắc ... :77: tha hồ mà chọn :D
Tôi thấy cách biến này có vẻ không ổn, mong quí vị giải thích rõ hơn.
Càn biến hào trên thành đoài -> an tham lang ở đoài (sinh khí)
Đoài biến hào giửa thành chấn -> an cự môn (thiên Y)
Chấn biến hào dưới thành khôn -> an lộc tồn (Họa Hại)
Khôn biến hào giửa thành khảm -> an văn khúc (Lục Sát)
Khảm biến hào trên thành tốn -> an liêm trinh (Ngũ Quỷ)
Tốn biến hào trung thành cấn -> an vũ khúc (diên niên)
Cấn biến hào dưới thành ly -> an phá quân (tuyệt mạng)
Ly biến hào giửa thành càn -> an phụ bậtLưu Ý: Tham lang = sinh khí, cự môn = thiên y, lộc tồn = họa hại, văn khúc = lục sát, liêm trinh = ngũ quỷ, vũ khúc = diên niên, phá quân = tuyệt mạng, phụ bật = phục vị.
Lấy ví dụ trên dùng quẻ Càn.
biến 1: Càn biến Đoài --> Sinh Khí (Đúng)
biến 2: Càn biến Chấn --> Thiên Y (Sai) phải là ngũ quỷ mới đúng.
biến 3: Càn biến Khôn --> Họa Hại? (Sai) phải là Diên niên mới đúng
biến 4: Càn biến Khảm --> Lục Sát (đúng)
biến 5: Càn biến Tốn --> Ngũ quỉ (sai) Họa Hại mói đúng
biến 6: Càn biến Cấn --> Diên niên (Sai) phải là thiên y
biến 7: Càn biến Ly --> Tuyệt mạng (đúng)
Biến 8: Càn biến Càn --> Phục Vị
Bạn HoaiViet:
- phiên quái tìm tam cát tinh Tham-Cự-Vũ phải kết hợp với nạp giáp, không dùng riêng được. Đây là cách xác định từng sơn cát trong 24 sơn.
- phiên quái an Sinh khí-Ngũ quỹ-Diên niên-Lục sát-Họa hại-Thiên y-Tuyệt mạng-Phục vị là đại du niên biến quái. Đây là cách xác định từng quái tốt trong 8 quái.
Hai thứ hoàn toàn khác nhau, có khi sơn cát nằm trong quái hung, có khi sơn hung nằm trong quái cát. Như vậy mới có chuyện chọn được quái cát vẫn gặp hung mà không biết vì sao. Bạn đã thấy được mâu thuẫn ở chổ này, nếu bạn hiểu cách kết hợp hai thứ này với nhau thì Bát Trạch đã đi lên một tầm cao hơn rồi đó.
Nếu đem hai thứ này chồng lên tinh bàn huyền không thì bạn sẽ có cách nhìn khác với tinh bàn huyền không ngay, lúc này bạn luận tinh bàn sẽ không đơn thuần chỉ là các sao sinh vượng suy tử hay ngũ hành sinh khắc các thứ nữa, vì tinh bàn lúc này có 2 bộ sao: 1 bộ sao tĩnh, một bộ sao động. Cát hung là ở đây.
Đây mới gọi là một tĩnh(Bát trạch) một động(Huyền không) mà thành vậy.
Phần còn lại tùy người lãnh hội. Chúc bạn thành công.
Thank you bạn Nhattam.
Học mà không có thầy giậy thì mấy thứ này chắc khó mà lãnh hội được. Tôi lấy ví dụ này để học tiếp xem sao.
Thí dụ quái của hướng sơn thuộc càn, hoán hào an sơn như sau:
An phụ tinh ở sơn thuộc quái càn
Càn biến hào giửa thành ly -> an vũ khúc (Diên Niên)
Ly biến hào dưới thành cấn -> an phá quân (tuyệt mạng)
Cấn biến hào giửa thành tốn -> an liêm trinh (Ngũ Quỷ)
Tốn biến hào trên thành khảm -> an tham lang (sinh khí)
Khảm biến hào giửa thành khôn -> an cự môn (thiên Y)
Khôn biến hào dưới thành chấn -> an lộc tồn (họa Hặi)
Chấn biến hào giửa thành đoài -> an văn khúc (lục sát)
Lưu Ý: Tham lang = sinh khí, cự môn = thiên y, lộc tồn = họa hại, văn khúc = lục sát, liêm trinh = ngũ quỷ, vũ khúc = diên niên, phá quân = tuyệt mạng, phụ bật = phục vị.
Can quái : sơn can 、 giáp
khôn quái : sơn khôn 、 ất
cấn quái : sơn cấn 、 bính
đoái quái : sơn đinh 、 tị 、 dậu 、 sửu
chấn quái : sơn canh 、 hợi 、 mão 、 vị
tốn quái : sơn tốn 、 tân
li quái : sơn nhâm 、 dần 、 ngọ 、 tuất
khảm quái: sơn quái 、 quý 、 thân 、 tử 、 thìn
Tam Cát Tinh = Tham, Cự, Vũ
Ở ví dụ trên, Hướng Sơn thuộc Càn.
Tham Lanh = Khảm (Quý, Thân, Tử, Thìn)
Cự Môn = Khôn (Khôn, Ất)
Vũ Khúc = Ly (nhâm 、 dần 、 ngọ 、 tuất)
Bây giờ áp dụng 24 sơn của sơn Càn
Vậy trong 3 quái
Tham Lang = Khảm , chỉ lấy Thân được, Vì Thân thuộc Tây Tứ Trạch, cho nên Sơn
Cự Môn = Khôn , lấy Khôn được, vì Khôn cũng thuộc Tây trạch, còn lại là xấu.
Vũ Khúc = Ly, lấy được Tua^t' vì cũng thuộc Tây trạch, còn lại là xấu.
Đúng như vậy không bạn NhatTam? phần này có vẻ hơi miễn cưỡng, không lẽ chỉ được có ba sơn tốt thôi?
Nếu tính như trên, áp dụng theo cách của Huyền Không thì Sơn vượng Đinh, Hướng vượng Tài.
Vậy mình phải áp dụng 1 bàn cho Sơn và Một bàn cho hướng, mới biết được tốt xấu.
Theo bài dịch của anh PTS thì Quái của hướng Sơn tính một cách riêng và Quái của Sơn tính một cách riêng.
Cửa hướng Khảm thì Sơn là Ly.
Còn quái của hướng Sơn, cái này tôi không hiểu rõ lắm. Nhà hướng Khảm thì Quái của Hướng Sơn là gì? Đây có phải ý nói là sơn (24 sơn của Hướng), như trong Huyền Không tính sơn và hướng? Nhà hướng Khảm có thể có sơn Quý Thân Tý Thìn?
Sau khi đã tìm ra được Tọa Sơn tốt, và Hướng Sơn tốt, lúc đó phải áp dụng cửu tinh của Huyền Không vào các sơn hướng đó để biết tốt xấu thật sự ra sao?
Mấy thứ bạn dùng chưa hợp lý:
1. Phụ tinh thủy phối quái: phụ, vũ, phá, liêm, tham, cự, lộc, văn là phương pháp tịnh âm tịnh dương của Liêu công dùng để định thu thuỷ, phóng thủy chứ không phải để chọn cung cát. Chọn cung cát phải phiên tham, cự, lộc, văn, liêm, vũ, phá, phụ
2. Nạp giáp chọn sơn cát trong 24 sơn Không cần phải xét đến Đông Tây mệnh.
3. Muốn kết hợp với huyền không phải nắm vững căn bản của huyền không và bát trạch trước đã. Phải nghiền ngẫm thấu đáo để hiểu Bát Trạch rất trọng Toạ; Huyền Không rất trọng Thời. Hai cái này chính là Địa và Nhân rồi đó. Tuy nhiên phong thủy phải cần có đủ Thiên-Địa-Nhân mới được.
Dịch có 3 loại:
Liên sơn xem Địa là chủ cho nên lấy Cấn làm đầu
Quy Tàng lấy Nhân làm gốc cho nên dụng Khôn
Chu dịch trọng Thiên vì vậy xem Càn cao nhất.
Đây mới chính là 3 quẻ.
Tôi thấy anh Nhattam kiến thức thật rộng nếu ko phiền anh có thể giải thích vụ nạp giáp này đc ko anh?Trích dẫn:
Can quái : sơn can 、 giáp
khôn quái : sơn khôn 、 ất
cấn quái : sơn cấn 、 bính
đoái quái : sơn đinh 、 tị 、 dậu 、 sửu
chấn quái : sơn canh 、 hợi 、 mão 、 Mùi
tốn quái : sơn tốn 、 tân
li quái : sơn nhâm 、 dần 、 ngọ 、 tuất
khảm quái: sơn quí 、 quý 、 thân 、 tý、 thìn
Xin cảm ơn anh nhé.
Bác đã hỏi đến 2 lần mà im lặng hoài thì áy náy quá, thôi thì biết được một ít cũng ráng nói vậy:
Nạp giáp bên trên là nạp giáp của phong thuỷ, có khác với nạp giáp của kinh dịch, nhưng nguyên lý thì cũng xuất từ mặt trăng, âm dương tiêu trưởng mà thôi:
Ngày mồng 3 đến 7 hoàng hôn trăng bắt đầu lên, có tượng của quẻ Chấn do dưới 1 phần sáng trên 2 phần tối, vị trí tại phương Canh. Nên CHẤN NẠP CANH và quản 5 ngày này.
Ngày mồng 8 đến 12 hoàng hôn trăng lên có tượng quẻ Đoài do trên 2 phần sáng dưới 1 phần tối, vị trí tại phương Đinh. Nên ĐOÀI NẠP ĐINH và quản 5 ngày này.
Ngày 13 đến 17 hoàng hôn trăng lên có tượng quẻ Càn do sáng toàn phần, vị trí tại phương Giáp. Nên CÀN NẠP GIÁP và quản 5 ngày này.
Đấy là dương trưởng âm tiêu.
Ngày 18 đến 22 bình minh thấy trăng có tượng quẻ Tốn do sáng 2 phần trên tối 1 phần dưới, vị trí tại phương Tân. Nên TỐN NẠP TÂN và quản 5 ngày này.
Ngày 23 đến 27 bình minh thấy trăng có tượng quẻ Cấn do sáng 1 phần trên tối 2 phần dưới, vị trí tại phương Bính. Nên CẤN NẠP BÍNH và quản 5 ngày này.
Ngày 28 đến 2 bình minh thấy trăng có tượng quẻ Khôn do gần như tối toàn phần, vị trí tại phương Ất. Nên KHÔN NẠP ẤT và quản 4(hoặc 5) ngày này.
Đây là âm trưởng dương tiêu.
Khảm, Ly vốn thụ được chính khí âm dương nên ở giữa mà không tham gia vào chu trình trên. Khảm vốn là Khôn được 1 vạch giữa của Càn mà thành Dương nên Nạp MẬU là chính dương tại trung tâm. Ly vốn là Càn được 1 vạch giữa của Khôn mà thành âm nên nạp KỶ là chính âm tại trung tâm. Khảm-Ly âm dương giao thác thành dụng ở Hậu thiên. Mà thập thiên can thì dương bắt đầu ở Giáp và cực ở Nhâm, âm bắt đầu ở Ất và cực ở Quý. Vì Khảm Ly âm dương giao thác lại ở trung tâm nên phải nạp cực của thiên can nên NHÂM MỚI NẠP VÀO LY, QUÝ MỚI NẠP VÀO KHẢM.
KHẢM, LY, CHẤN, ĐOÀI tứ chính hướng là nơi vượng của tứ cục KIM, MỘC, THUỶ, HOẢ. Khảm ở phương bắc thu lấy Thuỷ, mà thủy thì sinh ở Thân, vượng ở Tý, mộ ở Thìn nên Thân-Tý-Thìn theo về với Khảm, nên KHẢM NẠP THÂN TÝ THÌN.
Chấn ở phương đông thu lấy Mộc, mà Mộc thì sinh ở Hợi, vượng ở Mão, mộ ở Mùi nên Hợi-Mão-Mùi theo về với Chấn, nên CHẤN NẠP HỢI MÃO MÙI.
Ly ở phương Nam thu lấy Hoả, mà Hoả thì sinh ở Dần, vượng ở Ngọ, mộ ở Tuất nên Dần-Ngọ-Tuất theo về với Ly, nên LY NẠP DẦN NGỌ TUẤT.
Đoài ở phương tây thu lấy Kim, mà Kim thì sinh ở Tỵ, vượng ở Dậu, mộ ở Sửu nên Tỵ-Dậu-Sửu theo về với Đoài, nên ĐOÀI NẠP TỴ DẬU SỬU.
Huynh đệ nào xem mà thấy khó hiểu thì thứ lỗi cho nhattam nhé, không phải nhattam muốn khoe học thuật mà vì nạp giáp thực sự không phải dễ nuốt, nên lần trước anh chí phèo đã có đề cập 1 lần rồi mà nhattam làm ngơ. Thế này chắc đủ rồi nhỉ anh Chí.
Huynh đừng gọi tôi bằng Bác, Chí phèo thực không dám! Đọc bài viết, khẩu khí của huynh hẳn là người rất uyên bác và chín chắn trong hành xử. Chí phèo ít tuổi còn nhiều hồ đồ, xin cho phèo gọi anh bằng huynh xưng đệ nhé!
Huynh viết:
1>Lý thuyết về dương trưởng âm tiêu rồi quay đầu ngược trở lại của Dịch học để giải thích hiện tượng này phải nói là khá hợp lý! Xin mời huynh một chén:tee:Trích dẫn:
Ngày mồng 3 đến 7 hoàng hôn trăng bắt đầu lên, có tượng của quẻ Chấn do dưới 1 phần sáng trên 2 phần tối, vị trí tại phương Canh. Nên CHẤN NẠP CANH và quản 5 ngày này.
Ngày mồng 8 đến 12 hoàng hôn trăng lên có tượng quẻ Đoài do trên 2 phần sáng dưới 1 phần tối, vị trí tại phương Đinh. Nên ĐOÀI NẠP ĐINH và quản 5 ngày này.
Ngày 13 đến 17 hoàng hôn trăng lên có tượng quẻ Càn do sáng toàn phần, vị trí tại phương Giáp. Nên CÀN NẠP GIÁP và quản 5 ngày này.
Đấy là dương trưởng âm tiêu.
Ngày 18 đến 22 bình minh thấy trăng có tượng quẻ Tốn do sáng 2 phần trên tối 1 phần dưới, vị trí tại phương Tân. Nên TỐN NẠP TÂN và quản 5 ngày này.
Ngày 23 đến 27 bình minh thấy trăng có tượng quẻ Cấn do sáng 1 phần trên tối 2 phần dưới, vị trí tại phương Bính. Nên CẤN NẠP BÍNH và quản 5 ngày này.
Ngày 28 đến 2 bình minh thấy trăng có tượng quẻ Khôn do gần như tối toàn phần, vị trí tại phương Ất. Nên KHÔN NẠP ẤT và quản 4(hoặc 5) ngày này.
Đây là âm trưởng dương tiêu.
Nhưng đệ vẫn thắc mắc là cách giải thích này dựa vào qui luật khách quan khi quan sát hiện tượng của tự nhiên- mà cụ thể ở đây là Thiên văn học, mà Thiên văn thì cần có mốc quan sát (Ở đây là vào tháng nào trong năm ?) cũng như tọa độ quan sát khi đó mới có thể coi là chuẩn được. Ví như quan sát Mặt Trăng ở Bắc Kinh hay ở New york city thì hẳn là phải khác nhau phải không huynh?
2> Theo một số kiến thức của đệ (cũng là từ đọc một số bài của anh PTS) thì Lạc thư Cửu cung được xây dựng trên cơ sở sự vận hành của 9 hành tinh trong Thái dương hệ. Không biết có bao hàm cả mặt trăng hay không, đệ cũng ko rõ lắm/ Nhưng nếu Lấy mặt trăng làm cái chủ chốt để xây dựng Lý thuyết nạp giáp mà hầu như bỏ qua các tinh tú còn lại trong Thái dương hệ thì dường như vẫn thieus co sở thì phải ?
Thời gian cũng còn dài, huynh chắc cũng vẫn còn công tác nên bận lém phải ko? Thư thư huynh trả lờ đệ cũng ko sao mà.
chúc huynh sức khỏe, vạn sự lành.
Kính.
CP
Huynh chí phèo nói củng có lý đấy,
mặt trăng thật sự không có tối đen khi tới 30 mà chỉ là chúng ta thấy nó đen thủi thui đen . Nếu quan sát thêm thì thấy rằng nó đen là tại gì ánh sáng của mặt trời gọi vào nó bị trái đất che mất . Vì vậy cho nên tuần trăng không phải chỉ do mặt trăng quay quanh trái đất không mà còn có sự kết hợp của mặt trời nửa . Có một điều hamchoi2 không hiểu là bác nhattam nói (thí dụ như nói mùng 3-7 mặt trăng có tượng quẻ chấn) như vậy căn cứ vào đâu ? vì mặt trăng tròn khuyết tủy theo vị trí người quan sát (như huynh chí phèo nói). một người quan sát cho là tượng của quẻ chấn thì một người khác ở vị trí khác lại thấy là tượng của quẻ cấn . Lâu quá không có ngắm chị hằng nhưng mà hinh như mặt trăng khuyết ngang chứ không khuyết ở trên hay ở dưới vậy thì mình phải chọn bên nào làm dưới bên nào làm trên đây, để tối hôm sau ra ngắm chị hằng nga xem .
Về cái vụ trăng thì không biết các bậc hiền triết ngày xưa của Trung Quốc đứng ở đâu quan sát :) Việc này Trương Cửu Nghi(người chép lại cách nạp giáp) không đề cập đến. Tuy nhiên theo suy nghĩ của nhattam thì chắc cũng đứng ở đâu đó trên đỉnh các tổ sơn: côn lôn, thái sơn, tu di sơn, hằng sơn... Chính vì ở những vị trí khác nhau thì trông thấy mặt trăng khác nhau nên ai dụng địa lý giỏi đều phải cân nhắc bù trừ, cái này do tâm lãnh hội, không ai chỉ cho ai được. Nạp giáp xưa nay chỉ dựa vào mặt trăng(thái âm) không dựa vào mặt trời(thái dương) nhưng phải có mặt trời mới được, vì có mặt trời mới biết được sự sáng tối của mặt trăng để thành quẻ. Mặt trời là thể vậy(tiên thiên-quẻ thiên), mặt trăng là dụng(hậu thiên-quẻ địa), mặt trăng làm ra sự hô hấp-thăng giáng của âm dương(như thủy triều lên xuống), nhưng phải có mặt trời mới biết được từng ngày, từng nơi sự hô hấp-thăng giáng ấy ra sao...
Thiên tượng trên trời chiếu hình xuống đất. Từ đó có tượng cát hung. Mặt trời là Thái dương, mặt trăng là Thái âm.
Lạc thư cửu cung xuất từ sao Bắc đẩu(tức là chòm sao Đại hùng tinh), sao Bắc đẩu bao gồm 9 sao, hình thành như một cái gáo múc nước. Ứng với Lạc thư cửa cung như sau:
sao Thiên Khu-Tham Lang-Sinh Khí-Bắc
sao Thiên Tuyền-Cự Môn-Thiên Y-Tây Nam
sao Thiên Cơ-Lộc Tồn-Họa Hại-Đông
sao Thiên Quyền-Văn Khúc-Lục Sát-Đông Nam
sao Ngọc Hoành-Liêm Trinh-Ngũ Quỷ-giữa
sao Khai Dương-Vũ Khúc-Diên Niên-Tây Bắc
sao Dao Quang-Phá Quân-Tuyệt Mệnh-Tây
sao Tả Phụ-Tả Phụ-Phục vị-Đông Bắc
sao Hữu Bật-Hữu Bật-Phục vị-Nam
Kính chào Huynh nhattam!
Qua các bài viết của anh, tôi thấy anh am hiểu rất rộng, và tôi muốn tìm hiểu về phong thủy thì xin hỏi anh tôi phải bắt đầu từ đâu?
Bắt đầu bằng những cái ở cạnh mình, thân thuộc nhất với mình đi bạn như cái nhà, con lộ, hồ nước, cái bếp, phòng ngũ, giường ngũ..., đừng đi nghiên cứu những vấn đề cao siêu. Do đó trước hết nên đọc các sách thuộc Bát Trạch như Bát Trạch Minh Cảnh, Dương Cơ Chứng Giải, Dương Trạch Tam Yếu... sau đó đọc một vài quyển sách về Huyền Không như Thẩm Thị Huyền Không Học, Cổ Dịch Huyền Không... sau đó nên đọc tiếp Hiệp Kỷ Biện Phương Thư. Nhiêu đây thôi, còn tiếp nữa thì sau khi bạn lĩnh hội tương đối về những quyển này tự bạn sẽ có con đường đi của bạn. Chúc bạn hiểu được chữ NHÂN sau khi đọc các sách Bát Trạch, hiểu chữ THIÊN-THỜI sau khi đọc Huyền Không, hiểu chữ CÁT sau khi đọc Hiệp Kỷ Biện Phương Thư là đủ lắm rồi.
Chào huynh Nhattam,
Mấy bữa rày Chí phèo đang suy nghĩ về Vụ Nam Khôn nữ Cấn trong Bát trạch Phái.
Tại sao đùng một cái khi nhập Trung, số 5 nếu là người nam thì lấy Phi cung Khôn (tượng đàn bà) còn ngừơi nữ thì lấy cung Cấn (Người nam thiếu niên).
Huynh có cao kiên gì vụ này ko vậy?
cảm ơn huynh nhé!
Câu này của anh rất khó trả lời, trên vài diễn đàn phong thủy cũng có cao thủ trình bày nhưng nói thật Nhattam thấy chưa thuyết phục. Tuy nhiên Nhattam cũng chẳng hơn gì, khả năng chỉ có thể nói được như thế này thôi:
Trung cung Hoàng cực là nơi trú của Mậu Kỷ, vốn vô hướng nên khi quy về nam cung Khôn-nữ cung Cấn là thể DỤNG, không thể nói là lấy nam quy về cung nữ, lẫy nữ quy về cung nam được mà phải xét nguyên ủy ÂM DƯƠNG-NGŨ HÀNH của nó.
Xét ÂM DƯƠNG:
Quái phân âm dương là do Tiên thiên kết hợp với Lạc thư mà thành nên gọi tịnh âm tịnh dương.
Tiên thiên Kiền ở Nam, Khôn ở Bắc. Theo Lạc thư là 1 và 9, đều là số dương nên Kiền và Khôn là dương.
Tiên thiên Ly ở Đông, Khảm ở Tây. Số Lạc thư là 3 và 7, đều là số dương nên Ly, Khảm cũng dương.
Tiên thiên Cấn ở Tây Bắc, Đoài ở Đông Nam. Số Lạc thư là 6 và 4, đều là số âm nên Cấn, Đoài là âm.
Tiên thiên Chấn ở Đông Bắc, Tốn ở Tây Nam. Số Lạc thư là 8 và 2, đều là số âm nên Chấn, Tốn là âm.
Vậy Khôn là DƯƠNG, Cấn là ÂM.
Xét NGŨ HÀNH:
Chính ngũ hành căn cứ Lạc Thư Thiên 1 ở phương Bắc hành Thủy nên Khảm thuộc Thuỷ; Địa 2 ở Tây Nam hành Thổ nên Khôn thuộc Thổ; Thiên 3 ở phương Đông hành Mộc nên Chấn thuộc Mộc; Địa 4 ở Đông Nam hành Mộc nên Tốn thuộc Mộc;Địa 6 ở Tây Bắc hành Kim nên Kiền thuộc Kim; Thiên 7 ở phương Tây hành Kim nên Đoài thuộc Kim; Địa 8 ở Đông Bắc hành Thổ nên Cấn thuộc Thổ. Thiên 5 ở chính trung hoàng cực, vì trong ngũ hành Thổ đức lớn hơn tất cả, sinh diệt đều ở Thổ nên chính trung hành Thổ.
DO ĐÓ:
Xét Ngũ hành: chỉ có Cấn Khôn cùng hành với Thổ và là con của Thổ chính trung, Thổ chính trung vốn là mẹ các hành, có thể mà không hình nên không dùng được, do đó phải dụng 2 con Cấn Khôn.
Xét Âm dương: Khôn Dương, Cấn Âm.
Vì vậy dụng mệnh nam nữ khi gặp số 5 là NAM DƯƠNG NHẬN CUNG KHÔN, NỮ ÂM NHẬN CUNG CẤN LÀ HỢP LẼ ÂM DƯƠNG-NGŨ HÀNH như trên.
Huynh Nhattam,
Phải công nhận là anh Nhattam có kiến thức rất rộng, đáng nể thật! vấn đề này a chắc đã đặt ra từ lâu nên ko mất thì gian để phản hồi mấy.
Vấn đề a giải thích quả là khá hạp lý. phèo tôi chỉ xin hỏi thêm thế này thôi:
- Về ngũ hành anh lây Hậu thiên giải thích, nhưng khi xét Âm dương thì lại quay về lý Tiên thiên. Tôi e lý luận vậy ko đc xuyên suốt và nhất quán khi quán xét 1 vấn đề chăng?
- Nếu nói vậy thì chẳng hóa ra Âm dương có trước ngũ hành Àh. Vì tôi thấy khởi nguyên của Thái cực từ:
Thiên nhất sanh thủy , Địa lục thành chi.....
Đã ẩn tàng bên trong nó lý âm dương và cả ngũ hành rồi.
Phải ko huynh?
Thân.
CP
ÂM DƯƠNG-NGŨ HÀNH có Tiên thiên và có Hậu thiên, tùy trường hợp mà xét. Như trường hợp này vì không biết trung ngũ là khí gì, muốn biết ÂM DƯƠNG của trung Ngũ nhưng không phải lấy để dùng nên phải lấy ÂM DƯƠNG của Tiên thiên để xét. Sau khi có ÂM DƯƠNG của trung Ngũ rồi thì gia vào phương vị để dùng, lúc này mới lấy phương vị để dùng nên phải lấy hậu thiên NGŨ HÀNH để xét.
Phân Âm Dương không phải để dùng mà để chính phương vị nên xét Tiên thiên.
Nhận phương vị để dùng nên phải xét Hậu thiên.
Có câu nói nổi tiếng của phong thuỷ: "Rõ Tiên thiên mà không dùng Tiên thiên; Rõ Hậu thiên mà không dùng Hậu thiên. Mới là người hiểu Tiên Hậu thiên". Câu này rất nhiều người nói nhưng mấy người thực sự hiểu?
Âm Dương và Ngũ hành vốn dĩ cùng xuất hiện với nhau ở Thái cực. Ai nói Âm dương có trước Ngũ hành hay Ngũ hành có trước Âm dương là hoàn toàn không hiểu Âm dương-Ngũ hành; cũng như nói Tiên thiên đồ có trước Hậu thiên đồ là không hiểu Tiên-Hậu thiên, vì cả hai Tiên-Hậu thiên đồ đều có đồng thời. Để giải thích đều này một cách ngắn gọn tôi mượn lời này của Thiền: "Hỏi: mẹ và con ai có trước ai?. Trả lời: mẹ và con có cùng lúc, không trước không sau, vì có con nên người kia mới được gọi là mẹ, vì có mẹ nên mới gọi đấy là con".
Hiểu được phần hỏi đáp của Thiền bên trên sẽ hiểu được Tiên-Hậu thiên. Phải vượt trên nghĩa thông thường của câu chữ mới thấy được cái tinh vi trong dùng Tiên-Hậu thiên. Cái quan trọng là lúc nào dùng Tiên thiên, lúc nào dùng Hậu thiên thì không thể nói mà hiểu được, phải tùy Tâm mà Ngộ thôi.
(Kiến thức phong thủy Nhattam tự học, tuổi đời lại vừa mới qua 30, những cái ngộ ra có thể chưa đúng. Các cao thủ trên diễn đàn đọc nếu thấy có gì sai sót thì chỉnh giúp để các anh em mới học không bị sai, rất cảm ơn)