Hãy click chuột phải lên hình biểu tượngDownloadrồi chọn Save Target As để tải về máy
Printable View
http://i70.photobucket.com/albums/i1...2/IMG_0980.jpg
Hãy click chuột phải lên hình biểu tượngDownloadrồi chọn Save Target As để tải về máy
Dao Huu CanDy,Do Anh Tuan,Soon,Lovely,Header
luon luon luon vui ve vui ve vui ve vui ve vui ve luon luon may man
luon luon luon luon yeu Hoa Hoa trong Tim Dao Huu .
Xin Chao Dao Huu
vui ve
Thương Nhớ Hoàng Lan
Truyện Ngắn của Trần Thùy Mai
http://www.truongviet.net/music/22007/3_1170876396.jpg
Tôi sinh ra dưới một mái chùa. Nghe kể rằng sư phụ tôi khi ấy còn trẻ, một hôm đi ngang bỗng động tâm hỏi: "Mô Phật, sao sau chùa lại phơi tã lót?" Nghe chuyện đời cha tôi, thầy bảo: "Hãy nhớ ngày này. Nếu có cơ duyên, mười năm sau ta sẽ trở lại". Trở về thầy bỏ tăng viện, lên một ngọn núi hẻo lánh trong rú xa, dựng mấy nếp nhà cổ. Từ ấy, thầy ẩn tu, hiếm khi xuống núi.
Lớn lên, tôi giống cha tôi như đúc và rất được mẹ yêu chiều. Cha tôi mắt sáng, mũi cao, tiếng nói trầm ấm, tính tình hiền hoà trung thực. Khi còn là một chú tiểu đầu để chỏm, người đã nổi tiếng thông minh, mười lăm tuổi chép rành kinh chữ Hán. Rồi vì học giỏi, được cử làm giáo sư ở trường Trung học Bồ Đề, một trường phổ thông tư thục của Giáo hội. Lúc người sắp được phong Đại Đức thì gặp cô bé nữ sinh tinh nghịch, có đôi mắt hút hồn, đôi môi đầy đam mê và cái tính thích gì thì làm cho bằng được. Ban đầu, cô bé chỉ định quấy phá chơi để thử bản lĩnh của thầy. Nhưng rồi tình yêu là lửa, chính người muốn đốt lại cháy. Cả chùa ngẩn ngơ khi người thanh niên đạo hạnh vòng tay trước sư cụ trụ trì: "Yến bệnh nặng đã bốn tháng rồi, sợ rằng cô ấy chết. Thầy dạy con tu hành để cứu chúng sinh. Nay con có thể cứu một sinh linh, sao lại khước từ?" Cha tôi rời chùa, cô Yến khỏi bệnh rồi hai người thành vợ thành chồng. Ông bà tôi để lại một ngôi nhà, cha tôi cho dỡ đi, xây vào chỗ đó một ngôi chùa tư. Đã không bỏ đời theo đạo được, thì ông đem đạo về giữa đời. Sau khi đã có con, ông vẫn ăn chay, mặc áo nâu và tụng kinh sớm chiều. Có lần mẹ tôi đi chợ mua một xâu ếch, những con ếch theo phản xạ cứ chắp hai chân trước vái lia lịa. Một bà đi ngang bảo mẹ tôi: "Mấy con ếch lạy khéo không thưa thầy M.H" Rồi bà cười ha hả: "Đi tu mà chẳng chót đời, làm thân con ếch cho người lột da". Tính mẹ tôi mau nước mắt, cứ vừa đi vừa khóc thút thít cho đến lúc tới nhà. Tối đó bà kèo nhèo mãi, năn nỉ mãi cha tôi tội gì không để tóc, ngả mặn, làm người trần cho sướng cái thân. Tu kiểu này, người ta nói không chịu nổi. Cha tôi chỉ cười, dường như chẳng để tâm. Cả đời người không tranh giành với ai mà như có phép thần thông, chạm vao đâu thì phất lên đến đó. Cơ sở làm hương trầm của người càng phát triển, mẹ tôi càng béo đẹp ra thì lời đàm tiếu của thiên hạ càng rần rần. Cuối cùng, chẳng hiểu vì sao, mẹ bỗng đột ngột bỏ đi mất tăm...
Cô ruột tôi giận lắm, bảo: "Mẹ mi là con yêu tinh, khi trước đã phá đời tu của cha mi, chừ lại phá luôn đời tục của ổng." Ai cũng khuyên đăng báo tìm, nhưng cha tôi chỉ nói "Đừng". Ông không trách móc gì, nhưng có lẽ ông buồn, tiếng tụng kinh đêm khuya nghe chừng khắc khoải. Chao ôi, với những con thuyền khắc khoải ấy, kiếp nào cha mới đến Tây Phương?
Cơ sở làm hương từ đó phó mặc cho cô tôi. Cô tôi cho chặt cây, nhổ cỏ, sửa sang lại khu vườn sáng sủa. "Thiệt là hư sự, ai đời lập chùa mà lại trồng hoàng lan trong sân. Mùi hoàng lan là mùi ma, hèn chi ma chướng nó phá cho như thế ni."
Tôi dân dấn nước mắt nhìn người ta chặt cây hoàng lan, cành lá vứt bừa bãi trên mặt đất. Ngày xưa, gội đầu xong mẹ tôi thường hái hoa giấu vào búi tóc cho thơm. Bây giờ người đã đi, hoa cũng không còn...
Năm tôi mười tuổi, có vị Đại Đức trên núi về thuyết pháp ở chùa Diệu Đế. Tôi đi theo cô tôi đến nghe. Khi trở về tôi xin xuất gia. Cha tôi bảo: "Kinh sách ở đây, chuông mõ ở đây, con còn đi đâu?" Tôi chỉ lắc đầu...
Nơi thầy tôi ẩn tu là Bích Vân am - am Mây Biếc. Mười năm khai sơn, thầy đã cùng đồ đệ trồng hơn hai chục mẫu bạch đàn và ba ngàn giò phong lan đủ loại. Các sư huynh dạy tôi chăm hoa, tưới cây mỗi sáng. Buổi chiều đi học ở trường Nam Giao. Năm mười lăm tuổi tôi bắt đầu chướng tính. Sư huynh hạch tôi: "Bạch thầy, Đăng Ninh trốn học, la cà ở quán cà phê Tím. Người quanh đó ai cũng chê cười, họ nói cô ruột Ninh làm hương giàu có, cúng dường nhiều tiền nên thầy thả cho Ninh tha hồ tự tung tự tác". Tôi ức, lầm lì không nói, thầy cũng không quở. Tính thầy rất nghiêm, không mấy khi la rầy mà đồ đệ ai nấy tuân lời răm rắp. Chỉ riêng với tôi, không hiểu sao thầy đặc biệt khoan thứ. Sợ thầy phạt, đợi lúc sắp tụng kinh, tôi biện bạch: "Bạch thầy, ngày xưa cha con thường bảo: tu trên núi, tu giữa chợ mới là khó. Không ở giữa đời, làm sao hiểu đời đục mà tránh?" Thầy hỏi: "Ai bảo con là đời đục? Đời không đục, không trong." Tôi hụt hẫng, không hiểu ý thầy định nói gì.
Tu trên non bây giờ thật ra cũng không phải dễ. Thầy tôi tránh đời vào núi sâu nhưng rồi vườn lan Mây Biếc nổi tiếng quá nên người trần lại kéo lên thưởng ngoạn. Thứ bảy, chủ nhật, học trò đạp xe lác đác trắng trên con đường mòn tới thảo am. Mấy cô nữ sinh nhỏ tuổi mê hoa ngẩn ngơ ngắm bông súng tím trong hồ, chạy vào tới tận hiên, chỗ thầy ngồi viết sách. Thầy không quở, cũng không ngẩng lên nhìn. Một cô bé chạy đến gần tôi, nhìn những làn sương li ti mà tôi đang xịt lên những chồi đang đơm nụ. Cô hỏi tôi tên hoa, tôi giảng: "Đây là giống Tiểu Hồ điệp, nghĩa là bươm bướm nhỏ. Em thấy không, trông xa chấp chới như đàn bướm cải màu vàng". Cô chìa tay với những ngón búp măng, hứng sương. Tôi cau mày: "Này, đừng nghịch". Cô bé cứ đùa với những bụi nước, chẳng để ý lời tôi. "Anh cứ tưới đi, em cũng là Lan". Tôi cáu, xịt cho nước rơi ướt cả tóc, cả áo cô bé. Mấy cô bạn cười rúc rích, khi về có cô còn nói vọng lại: "Con Lan hên quá, gặp chú tiểu vừa đẹp trai vừa quậy". Tôi tủm tỉm cười. Sư huynh tôi cáu kỉnh: "Mấy con Thị Màu đời nay quá quắt lắm. Bay không biết quyến rũ sư tăng là tội đoạ địa ngục hử?" Tôi cự: "Người ta chỉ đùa thế, có gì mà gọi là quyến rũ".
Từ đó, vài hôm một lần, Lan lại đến giúp tôi tưới hoa. Tôi dạy cho cô biết về phong lan, đây là cả một thế giới còn đa dạng hơn thế giới người. Phượng Vĩ đỏ rực, Tuyết Điểm thì trắng, Vũ Nữ thì như đang múa trước giò. Lan phụng phịu: "Hoa nào cũng có tên riêng, chỉ em không có". Tôi nhìn khuôn mặt cô, đôi mắt trong trẻo với cái miệng hồn nhiên như trẻ thơ. "Vậy tôi đặt cho cô
một cái tên. Tên cô là Tinh Khôi".
Thầy biết tình thân giữa tôi và Lan. Sư huynh không vui lòng, thầy chỉ bảo: "Không can gì". "Bạch thầy, người này có bạn thì người kia có bạn, rồi con gái kéo đến đầy thảo am, còn cái thể thống gì nữa?" Thầy gật đầu. Chiều lại, tôi mài mực hầu thầy, thầy đem cho tôi xem bộ tranh mười bức vẽ mục đồng chăn trâu. "Đây là thập mục ngưu đồ, cũng là quá trình tu học của một con người. Trâu không là trâu, mà chính là cái tâm ta đó". Tôi động lòng, hỏi: "Bạch thầy, con xem bức vẽ cuối cùng, không còn trâu, chẳng còn người, chỉ còn trăng soi. Vậy cớ gì phải sống trong dây trói. Ngày xưa Tuệ Trung Thượng Sĩ là bậc ngộ đạo mà không kiêng rượu thịt, vì chay mặn chỉ là hình tướng bên ngoài, không can hệ đến sự giác ngộ bên trong". Thầy cười: "Đúng, con ạ, với bậc đắc đạo là thế. Nhưng khi ta còn là một người phàm, thì cũng như con trâu kia, phải có sợi dây buộc, có người chăn dắt. Đến khi cái tâm vững rồi, sáng rồi mới có thể như trâu đen thành trâu trắng, không ràng không buộc, chẳng những nhởn nhơ trên cỏ xanh mà còn bay lên chín rầng mây". Tôi vái thầy mà thưa: "Con hiểu rồi, nhưng nhà chùa chẳng thể xua đuổi ai. Từ mai con xin thôi không giữ vườn lan nữa."
Mấy hôm sau, Lan thấy sư huynh ra tưới vườn, còn tôi thì chẻ củi. "Anh không thích phong lan nữa sao?". "Không. Muôn hồng nghìn tía, chẳng qua cũng chỉ để nhìn trong chốc lát. Một đời tôi chỉ riêng nhớ hoàng lan". Tôi giảng cho cô bé biết hoa hoàng lan cánh mảnh mai, vàng như màu chim hoàng yến. Thuở trước, cứ rằm, mồng một, các bà hàng hoa lại đến mua, họ gói hoa trong lá chuối, từng gói nhỏ xinh xinh toả thơm ngây ngất. Lan bảo: "Thích ghê, em chưa thấy bao giờ". Ừ, loài cây ấy có lẽ giờ đây đã tiệt giống rồi hay sao, nhiều lần theo sư huynh đi chợ mua bông chuối, tôi để ý tìm mà không thấy nữa. Tôi lớn lên, lòng bâng khuâng như thiếu vắng một thứ gì, cứ mơ hồ nhớ nhớ, thương thương...
Cuối năm, anh em tôi kẻ kéo người đẩy, chở phong lan xuống phố đổi gạo. Ông chủ tịch hội hoa cảnh hài lòng lắm khi thấy những giò mũm mĩm với chồi xanh đầy nụ. Ba bao gạo lớn được bưng ra. "Cha ơi, con có làm một ít bánh trái cây để cúng dường".Tôi nghe tiếng, quay lại, sững người vì thấy Lan. Ông chủ tịch âu yếm bảo: "Cúng dường thì phải cung kính. Con phải tự lên chùa lạy Phật mà dâng". Tôi hãi hồn, vội nói: "Thôi thôi, khỏi phiền nữ thí chủ. Nhận ngay ở đây". Lan bật cười, lại cái cười tinh khôi. Rồi Lan nhìn tôi buồn thiu: "Sao lâu nay anh không ra vườn? Em lên chùa, biết anh trong bếp mà mấy chú không cho vào. Riết rồi em buồn không muốn đến nữa".
Mấy buổi sau, tôi theo các bạn cùng lớp vào quán. Lan ngồi ở đó, sau chiếc bàn con bên cửa sổ. Các bạn tôi ai cũng nhìn về phía Lan, còn cô bé thì chẳng nhìn ai, cứ lặng lẽ một mình. Ngồi ở một bàn xa mà tôi như thấy cả bầu trời hoàng hôn tím, tím ngát ngoài kia đang in trong đôi mắt Lan. Mãi đến khi chúng tôi ra về, Lan mới ngoái nhìn, ánh mắt thơ ngây mà não nùng. Bỗng dưng đỏ mặt, rồi tôi thấy hoảng sợ vì mình đã đỏ mặt...
Một người con gái chiều nào cũng ngồi ở quán Tím, chẳng bao lâu đã thành đề tài để bọn con trai bàn tán.
"Con Lan sữa tươi trông xinh vậy chứ nó mắc bệnh sợ đàn ông. Đếch thằng nào đến gần được, nó tránh như tránh tà". "Không phải đâu, nó giữ giá để chờ lấy Việt kiều, thằng Hùng ở Cali về ngày nào cũng trực ở nhà nó". "Giữ giá cái gì, nó ưa thằng Quắn chạy bàn ở cà phê Tím. Tao thấy nó ngồi một bàn với thằng Quắn, khóc rưng rức". Tôi im lặng, một lát sau mới bảo: "Khó tin". "Ở đời chuyện gì mà chẳng có thể xảy ra - bạn tôi nói, vẻ ông cụ non - Chiều qua chính mắt tao thấy nó chạy ra sau quầy đưa bức thư cho thằng Quắn".
Đạp xe về đã đến quá lăng Tự Đức, tự nhiên tôi bứt rứt không chịu được. Tôi quay xe, đạp về nhà Lan. Mưa phùn lướt thướt trên con đường về Bao Vinh xa tắp. Mẹ Lan hỏi: "Nhà chùa có việc gì mà nhắc cháu lên? Thấy Quắn về nhắn, tôi cho cháu đi ngay rồi". Tôi tái mặt, không kịp chào, đạp xe đi như tên bắn. Tim tôi dội thình thịch vì âm vang những lời nói của sư huynh khi Lan mới lên thảo am lần đầu: "Cô gái này đẹp đẽ thanh tú nhưng đuôi mắt quá dài, môi mỏng, cổ cao, tai nhỏ. Đấy là tướng hồng nhan mệnh yểu."... Trời chập choạng tối, tới Nam Giao. Nhìn dáo dác hai bên đường, tình cờ thấy Quắn và Lan cùng ngồi trong quán ốc. Quắn gọi rượu, đang ép Lan uống, Lan lắc đầu, Quắn cố nài. Tôi đi vào, đấm mạnh vào mũi Quắn: "Đồ lừa đảo. Từ nay chừa cái thói dỗ gái đi". Quay sang Lan, tôi nạt: "Đi về!" Không biết Lan có bị một thứ thuốc mê gì không, mặt ngây ngây như bị bỏ bùa. Tôi chở Lan đi. Quắn biết tôi có võ Thiếu lâm nên đành chịu phép, hậm hực chùi máu mũi nhìn theo, cái nhìn của một con thú mất mồi...
Trên đường về, Lan tỉnh lại, gục mặt vào lưng tôi, khóc: "Em nhờ Quắn chuyển đến anh nhiều thư, anh có nhận được không?" Tôi cau mặt: "Em khờ lắm, sao lại đi với thằng Quắn?" "Quắn bảo em uống vài chén cho ấm rồi lên đàn Nam Giao chờ Ninh đến". "Em đừng quên, tên em là Tinh Khôi. Đừng dại dột để bọn lưu manh làm nhơ bẩn". Nước mắt Lan chảy thấm qua chiếc áo lam của tôi, thấm vào đến da thịt. Dừng xe, tôi ngồi xuống vệ cỏ ven đường. Lan ngồi bên tôi. "Đêm nào nằm mơ cũng thấy anh dắt em đi thăm vườn phong lan. Mình về trồng lan trong sân nhà em đi, có thích hơn không?" Tôi không trả lời, ngắt những cọng cỏ, vò nát trong đôi tay run run. Trên kia, trăng sáng quá, tròn và rực rỡ như chiếc mâm vàng giữa trời. Bỗng nhiên lòng tôi miên man nhớ những câu chuyện cha tôi vẫn kể ngày xưa... "Em có thích nghe chuyện cổ tích không?" "Thích". Tôi kể cho Lan nghe chuyện người tử tù đội chiếc mâm vàng đầy nước đi từ cổng hoàng cung vào trước ngai vua mà không sánh ra ngoài một giọt, Lan nghi ngờ: "Sao có người làm được như thế?" Tôi gật đầu: "Ngày ấy, nhà vua cũng đã hỏi như vầy. Vị thiền sư trả lời: "Bệ hạ hứa nếu y làm được thì sẽ tha tội chết. Vì lẽ sống chết của y, nên dù việc khó vô cùng mà y vẫn chăm chăm làm bằng được. Nay nếu bệ hạ cầu giải thoát cũng như người này cầu sống thì việc tu hành dù khó mấy cũng có thể vượt qua". Lan ngước nhìn tôi, lần đầu tiên tôi nhận ra trong hai cái giếng êm như nhung của mắt cô bé những tia sáng ương ngạnh lạ lùng. "Em hiểu rồi. Anh xem tu hành là chuyện sinh tử của anh. Vậy nếu em lại xem anh là chuyện sinh tử của em thì sao? Anh và em, ai đi trọn đường, ai bỏ cuộc?" Tôi bảo: "Em nói gì thế? Chuyện sống chết mà nghe cứ như là trò chơi sấp ngửa của trẻ con". Lan cười... Bàn tay nhỏ nắm lấy tay tôi, ngón thon vuôn vuốt như cánh hoa ngậm sữa. Vẻ đẹp này có phải phù du? Vẻ đẹp này là sắc hay không? Chỉ thấy ngợp vì trăng. Trăng sáng quá. "Thôi, về đi em". Tôi đạp xe, trước mặt tôi chập chờn lấp loá những con đường. Những mê lộ giữa đạo và đời, giữa ma và Phật...
Việc lộn xộn ở quán ốc chẳng mấy ngày đã đồn đến chùa. Cô tôi biết, tốc lên ngay. Tôi bảo: "Cô đừng lo. Chẳng có chuyện gì đâu". "Không có lửa làm sao có khói. Ăn ốc, đánh lộn, dành gái. Thế còn gì là tu hành? Tau mà gặp con ma nữ đó, tau tước từ dưới tước lên". Tôi ngẩn người một lúc rồi hiểu ra, không nín được cười. Cô bực tức: "Cháu tưởng chuyện gì cũng cười là xong sao?"
Quả là chuyện không thể cười mà xong. Mấy hôm sau, gia đình Lan mời tôi về.
"Con ma nữ" đã uống hai mươi viên Sedusen, may sao nhà biết được, chở đi cấp cứu. Mẹ Lan chắp tay lạy tôi như lạy Bồ Tát: "Bác biết tính con Lan lắm, từ nhỏ nó đã nói là làm, đã làm là làm tới cùng. Sợ e cứu thoát lần này, nó lại tự sát lần nữa. Con cứu nó cho bác đi con". Tôi cuống quýt: "Bác bảo con làm sao được?" "Con cứ giả vờ ừ đi, bây giờ nó mới lớn, tính còn ngông cuồng, vài ba năm nữa chững chạc rồi tự nhiên nó hiểu ra". Ông chủ tịch hội hoa cảnh mắt đỏ au, nhìn tôi chờ đợi một lúc rồi bảo vợ: "Nói như bà cũng khó. Chú Ninh đây tướng mạo khôi ngô, trước sau rồi sẽ có phước được che lọng vàng. Lẽ nào vì con mình mà để người ta mang tai mang tiếng". Tôi thở dài: "Cháu đi tu không phải là mong lọng vàng che đầu. Chỉ vì nguyện giữ thân trong sạch để tụng cho mẹ cháu một nghìn lần kinh Thuỷ Sám". Nhớ tới mẹ, tôi bất giác đau đớn trong lòng, đứng dậy đi...
Tôi về chùa, từ ấy không đi đâu. Thầy bảo: "Sao con bỏ học?" Tôi nói: "Suối ở xa, con muốn ra triền núi đào giếng". Tôi tự đày mình trong những nhát cuốc trên sỏi đá, đêm về tụng kinh, vẫn đôi khi chợt nghe tiếng mình khắc khoải. Có lúc nửa đêm chợt tỉnh, thấy thầy ngồi bên giường, lâm râm niệm chú. Tôi hốt hoảng vùng dậy: "Bạch thầy". Thầy tôi bảo: "Con giật mình, nói mê luôn, hất tung cả chăn." Tôi nói: "Con tỉnh rồi. Rước thầy đi nghỉ, con xin ra bệ Phật niệm Cầu An". Thầy lặng lẽ một lúc rồi bảo tôi: "Tâm không an, có cầu cũng vô ích". Tôi gật đầu thú nhận. Bao nhiêu đêm, cứ chợp mắt là thấy Lan hiện ra, mảnh dẻ, thanh thoát, đầu đội chiếc mâm vàng sóng sánh nước đi thẳng đến bờ vực. Tôi nghe tiếng thét của nàng vang động cả giấc mơ, nàng nhào xuống rơi thẳng vào không gian mênh mông như chiếc lá lìa cành trước gió. "Thầy ơi, nếu vào Niết bàn mà phải đạp lên một chiếc lá, Phật có làm không? Xin thầy cho con hay, trời đất nặng hơn hay chiếc lá nặng hơn?" Thầy nhìn vào mắt tôi: "Chỉ có con tự trả lời được thôi. Ngày mai con hãy về, cứ nhìn thẳng vào nghiệp duyên mà tự quyết định lòng mình." Tôi lắc đầu: "Thầy quên sao? Con đã thề khi nào đào xong giếng mới xuống núi".
Ra xuân, đường lên núi khô ráo. Hai tay tôi ướt bùn đỏ, những giọt nước đầu tiên đã úa ra từ lòng đất sâu. Tôi chạy về chùa, định vào trình thầy nhưng người đang làm lễ. Có người thí chủ dâng hương trong bệ Phật, mùi trầm mới thơm thơm trong không gian.
Đang dội nước rửa tay, tôi nghe có người bước đến: "Chú Ninh!"
Tôi ngẩng lên. Mẹ của Lan. "Bác lên chùa cầu cho em đi bình an..." Bà đưa cho tôi một cái túi nhỏ, rồi vừa quay đi vừa đưa khăn lau mắt.
Những dòng chữ trong thư, mảnh mai và run run như những cánh lan:
"Bốn trăm ngày chờ anh ở quán Tím, cuối cùng em cũng hiểu ra là mình thua cuộc. Đã đi mà chẳng tới, lẽ ra thì phải chết. Nhưng em chết thì anh làm sao yên lòng đi trọn con đường tu. Vì vậy, em đã quyết định lấy chồng xa xứ. Trong cái túi này là cây hoàng lan con, em nguyện tìm cho anh bằng được rồi mới ra đi. Em vẫn nhớ lời anh nói, một đời anh chỉ thích hoàng lan...
Người ta cứ bảo em khôn, lấy ông Việt kiều đi Tây đi Mỹ cho sướng chứ theo chi chú tiểu trọc đầu. Nhưng đi Tây đi Mỹ không phải là chí nguyện của em. Lấy một người mình không thương, đến một nơi xa lạ với em còn khổ hơn là chết. Xin anh hãy tụng cho em một lần kinh cầu siêu thoát, một lần thôi..."
Bất giác, tôi oà khóc. Nước mắt theo nhau lăn trên má tôi như ép cho hết những dòng tục luỵ cuối cùng. "Cứ khóc đi con" - Thầy vỗ về khi thấy tôi luống cuống che mặt - "Thầy chưa nghe nói gỗ đá thành Phật bao giờ". Tôi nức nở: "Bạch thầy, thầy có cho con trồng cây Hoàng Lan không?"
Thầy bảo: "Cỏ cây vô tội, sao mình không thể bao dung?" Rồi một tay dắt tôi, một tay cầm túi cây đến bên góc vườn, thầy tự mình trồng xuống.
Tôi tưới cây bằng nước giếng chùa. Hoàng lan lớn lên, năm này qua năm khác, nở hoa vàng mong manh. Mong manh như tất cả những gì đẹp trên thế gian.
Tôi cầm lòng thôi thương, thôi nhớ.
Candy xin mến chào bác SooN và bác vuive đã ghé thăm Vườn Hoa nhà em ạ :), và xin cảm ơn những đóa hoa thật đẹp và một câu truyện cảm động của bác SooN, em cũng đã ghé sang thăm trang nhà của bác SooN rồi ạ, xin chúc trang nhà của bác ngày càng đông vui hơn bác nhé, và Candy xin cảm ơn những lời chúc quí hóa của bác vuive. Chúc hai bác mọi điều an lành!
1- KHÁI NIỆM VỀ TƯ TƯỞNG CHƠN CHÁNH
Đọc Đoạn “Ảnh Hưởng của Tư Tưởng Tốt” chắc chắn quý bạn đã hiểu Tư Tưởng Chơn Chánh là thế nào rồi. Tôi xin nói vài lời thêm.
Tư Tưởng Chơn Chánh là tư tưởng từ bi, bác ái, cao thượng, tốt đẹp, khoan dung, đại độ, can đảm, hy sanh, ngay thật, trung trực, không bao giờ tính toán gạt gẫm ai, hãm hại ai, dầu cho được lợi lộc cho mình bao nhiêu cũng vậy, tức là vô tư lợi; nói tóm lại là quên mình, chỉ lo mưu cầu hạnh phúc cho Quần Sanh để Phục Hưng Tinh Thần của Nhân Loại.
2- CÁCH XUA ĐUỔI MỘT TƯ TƯỞNG XẤU
Xin nhắc lại: Muốn có Tư Tưởng Chơn Chánh cần phải xua đuổi tư tưởng thấp hèn, sai quấy ra khỏi Trí.
Phải tập luyện có phương pháp và bền chí, bởi vì sự luyện tập đòi hỏi một thời gian dài lâu và vô cùng khó nhọc, không kiên nhẫn sẽ thất bại.
Có ba giai đoạn:
- Giai đoạn thứ Nhứt: Đầu tiên, việc dễ làm hơn hết là đổi chiều hướng của tư tưởng hay là suy nghĩ đến việc khác.
- Giai đoạn thứ Nhì: Về sau, không cho tư tưởng xấu vô Trí nữa. Nhưng trước khi Sinh Viên có đủ sức mạnh cần thiết để đóng cửa Cái Trí, giữ được bình tĩnh và thăng bằng, không bị ảnh hưởng bên ngoài chi phối, anh phải lấy một ý tưởng nầy để thay thế cho một ý tưởng khác.
Anh phải luôn luôn lấy một tư tưởng cao thượng có đặc tánh trường tồn thay thế cho một tư tưởng thấp hèn, phù phiếm.
Thí dụ như tư tưởng chơn chánh đánh đổ tư tưởng xảo trá, tư tưởng hiền lương hất ra ngoài Trí ta tư tưởng hung bạo, v.v…
Phương pháp nầy có hai điều lợi:
- Một là xua đuổi một tư tưởng xấu.
- Hai là tập cho Cái Trí đứng vững vàng nơi Cảnh Giới trường tồn, khiến cho nó nhận định được hiện tại luôn luôn trôi đi mất, không đáng cho ta quan tâm đến.
Sự luyện tập nầy thêm sức mạnh cho Linh Hồn trong Lãnh Vực những vấn đề trường tồn, nó khiến cho Linh Hồn chăm chú vào cái vô thuỷ vô chung. Đó là bí quyết của mọi sự an lạc thiệt thọ trong Cõi Trần cũng như trong các Cõi khác.
- Giai đoạn thứ Ba: Tới Giai Đoạn thứ Ba nầy, khi Thí Sinh khá vững bước rồi, anh cảm thấy trong tâm anh có một sức mạnh đương phát triển, sức mạnh nầy phát sanh từ cái Tinh Thần vững chắc. Bây giờ anh trở nên khá mạnh mẽ, có thể tập trung tư tưởng vào một ý nào anh muốn và Tâm Trí cứ định ở đó mãi, bất di bất dịch, dầu xung quanh anh dông tố nổi lên dữ dội đến thế nào cũng mặc. Sự Định Trí nầy mạnh mẽ, không hề bị lay chuyển, đến đỗi không một sức mạnh nào ở bên ngoài có thể đến khuấy rối anh được.
Anh đạt đến một trình độ vinh diệu, không cần phải lấy ý chí diệt trừ những tư tưởng xấu xa nữa.
Một khi chạm tới Thánh Điện của Linh Hồn những tư tưởng đó rơi xuống tan tành, không khác nào những mũi tên bắn vào vách thành đồng phải gãy ngang và rớt xuống tả tơi như lá rụng.
Cái Trí không còn cần phải bị kềm hãm nữa, nó đã trở nên tinh khiết, trong suốt, biết vâng lời.
Sự Định Trí nầy được tượng trưng như một ngọn đèn để ở chỗ kín đáo nên không có một luồng gió nào làm cho nó chập chờn.
Chính nhờ chỗ nghỉ ngơi nầy mà thí sinh bắt đầu hiểu được ý chí là gì? Và chính ở nơi đó anh tìm thấy sự an lạc hoàn toàn.
Đó là một nơi yên ổn, ở dưới bóng mát của những bức tường của Thánh Điện mà Kinh Kathopanishad (II - 2) của Ấn Độ đã nói đến như sau đây:
“Thoát khỏi dục vọng, thoát khỏi sự đau khổ, Con Người trong sự yên tịnh của giác quan Chiêm Ngưỡng vẻ tôn nghiêm của Linh Hồn mình.”
3- ĐỀ PHÒNG NHỮNG SỰ CÁM DỖ VÀ NHỮNG
SỰ TẤN CÔNG CỦA KẺ NGHỊCH
Khi Sinh Viên tiến bước lần lần từng chặng thì những sự cám dỗ tế nhị đến tấn công anh. Chúng không đá động đến Bản Ngã thấp hèn của anh, mà mạnh bạo chống lại với Bản Ngã cao siêu của anh. Vì không thể thành công với những dục vọng và những cám dỗ thấp hèn thô tục của Xác Thân, chúng tìm cách dùng Cái Trí Khôn của kẻ Đệ Tử để tiêu diệt anh, những sự cám dỗ của Cõi Trí Tuệ ào tới tấn công anh từng đám, hết đám nầy tới đám kia. Chúng gài bẫy Linh Hồn.
Trong khi anh bước đi trên Con Đường Đạo gian lao hiểm trở, chúng từ tứ phía chạy lại bao vây anh. Người Đệ Tử phải hoàn toàn làm chủ những Hình Tư Tưởng do chính anh đã tạo ra, trước khi anh có thể tiếp tục lên đường.
Lãnh đạm, trầm tĩnh, trơ như đá, vững như đồng giữa cái đám tư tưởng linh động, mãnh liệt tựa bầy ong bay nhanh đó. Không phải là Cái Trí thông minh yếu ớt của người thường nơi Hạ giới đã nuôi dưỡng những tư tưởng nầy mà chính là một năng lực kinh khủng, thuộc về Bản Chất những Thần Lực của Cảnh Giới thiêng liêng, dĩ nhiên thuộc về khía cạnh tối tăm, chớ không phải khía cạnh sáng sủa, vì những mãnh lực tàn phá nầy phát sanh từ những kẻ muốn giết chết Linh Hồn, chớ không phải những kẻ sẵn lòng cứu vớt nó.
Ở Sân Ngoài, Thí Sinh đương đầu với những tư tưởng đó và chúng tấn công với tất cả sức mạnh của những lực ghê gớm, ác độc. Nếu trong Sân Ngoài, Thí Sinh không làm chủ được Cái Trí Khôn của mình, nếu anh chưa được luyện tập cho quen để chống đối với những sự tấn công ti tiện ở ngoài đời thường, thì làm sao anh có thể đương đầu với những Đạo Quân của Ma Vương. Làm sao anh có thể vượt qua Giai Đoạn Cuối Cùng của Sân Ngoài, chung quanh đó, những kẻ tử thù của Linh Hồn tụ họp đông đúc, chúng không bao giờ để ai đi lọt qua nơi đó, nếu không phải là Người Hoàn Toàn Giữ Được Sự An Tịnh Nơi Mình.
B- LỜI NÓI CHƠN CHÁNH
1- BA ĐỨC TÁNH CỦA LỜI NÓI CHƠN CHÁNH
Thế nào là Lời Nói Chơn Chánh?
Lời Nói Chơn Chánh phải có đủ ba đức tánh nầy:
- - Một là: Có cần thiết không?
- - Hai là: Có đúng với sự thật không?
- - Ba là: Có từ thiện không?
a- CÓ CẦN THIẾT KHÔNG ?
Cần thiết đây có nghĩa là: Đúng lúc và hữu ích. Lời nói chỉ có hiệu quả tốt đẹp là khi nào nói có suy xét và cố ý chớ không phải nói suồng sã, tầm ruồng, đụng đâu nói đó, một cách vô tâm. Lời nói phải từ nội tâm phát ra. Âm điệu du dương chỉ có thể nảy sanh trong khi vắng tiếng rầy rà, ồn ào.
Lời nói chơn chánh phải có tính cách giúp đỡ phá tan những đau khổ, giải quyết những sự khó khăn, và đem hạnh phúc lại cho Con Người. Ngạn ngữ Tây Phương:
“Phải uốn lưỡi bảy lần trước khi nói,” thật đúng lắm vậy.
Một lời nói có thể gầy dựng giang sơn, mà một lời nói cũng có thể làm tan tành sự nghiệp và mang tai họa vào thân. Những gương nầy, từ xưa đến nay, đã xảy ra không biết bao nhiêu lần rồi, nhưng vẫn ít có người thận trọng.
b- CÓ ĐÚNG SỰ THẬT KHÔNG ?
Trong Đạo Bát Chánh của Phật Giáo, Chánh Ngữ tức là Lời Nói Chơn Chánh được sắp vào Hàng thứ Ba, sau Chánh Kiến (Thấy Chánh hay là Phân Biện), và Chánh Tư Duy (Tư Tưởng Chơn Chánh).
Muốn cho Lời Nói Chơn Chánh thì phải nói cho thật đúng, hết sức đúng. Chớ thật đúng một cách tầm thường như người ngoài đời thì chưa thật là đủ. Song được bao nhiêu đó cũng đã khá lắm rồi.
Người Đệ Tử phải nói hết sức đúng với sự thật. Phải nói thật một cách tuyệt đối.
Đây là một đức tánh cần thiết nhất cho những ai muốn đi theo Con Đường Huyền Bí Học.
Phải thật đúng trong khi nhận xét.
Phải thật đúng trong khi tường thuật lại mọi việc.
Phải thật đúng trong tư tưởng.
Phải thật đúng trong lời nói, trong việc làm, trong lúc hành động.
Nếu không ngớt tìm kiếm sự thật, nếu không chí quyết trở thành một người tự mình đúng với sự thật, không thể nào đi theo Con Đường Huyền Bí Học.
Huyền Bí Học sẽ là một sự nguy hiểm, một sự sa ngã mà thôi. Sự sa ngã nầy càng đáng sợ, càng đau thương khi Sinh Viên càng lên cao. Tại sao thế?
Bởi vì đối với Nhà Huyền Bí Học, sự thật vừa là một người chỉ đường đưa lối, một người hướng đạo, vừa là một bộ áo giáp để che chở họ.
Sự thật đúng là người hướng đạo, vì nhờ nó mà Nhà Huyền Bí Học có được Trực giác, khiến anh có thể phân biệt con đường chơn chánh và con đường sai lầm: Chánh đạo và Tà đạo. Nó là một bộ áo giáp, vì nếu Nhà Huyền Bí Học không mặc bộ áo giáp Chơn Thật đó thì không thể nào tránh khỏi cạm bẫy của kẻ nghịch đưa ra. Anh sẽ là nạn nhân của những ảo ảnh và những hình thù quái đản của những Cảnh Giới mà anh phải đi qua.
Áp dụng sự thật đúng trong Tư Tưởng, Lời Nói và Việc Làm sẽ lần lần thức tỉnh được cái Trực Giác Tinh Thần, nó thọc lủng tất cả những tấm màn ảo tưởng và không khi nào bị một thế lực gì ở đời lừa dối được. Những tấm màn che mắt giăng khắp mọi nơi.
Trong Cõi Đời ảo tưởng nầy, những hình dáng giả dối từ tứ phía nổi lên, cho đến ngày nào mà Trực Giác Tinh Thần với tia mắt nhìn thẳng thắn và không sai lầm của nó đi xuyên qua được mặt nạ che giấu sự vật thì ngày đó Nhà Huyền Bí Học mới vững bước trên con đường đầy chông gai nầy.
Ta không thể đạt được Trực giác đó nếu không tập luyện để có được Sự Thật Đúng trong Tánh Tình, Sự Thật Đúng trong Trí Não, Sự Thật Đúng trong Tâm Địa mình.
Không có Sự Thật Đúng, Ta sẽ thất bại, Ta sẽ lầm lạc, không bao giờ tránh khỏi điều nầy được.
Về Sự Thật, đức Leadbeater nói cho chúng ta biết rằng những danh từ chính xác và cụ thể cái nghĩa của Sự Thật trong ngôn ngữ là:
Đúng đắn, danh từ chọn lựa kỹ lưỡng rõ ràng, không chuốt ngót.
Trong Ấn Độ Giáo có một quan niệm rất quen thuộc với chúng ta là: Âm Thanh tạo lập Vũ Trụ. Âm Thanh đây có nghĩa là: Mọi thứ rung động. Đó là lý do khiến người ta qui cho nó một năng lực đặc biệt. Khi chúng ta nói, chúng ta phát ra một cái gì đó mà không thể thay đổi được nữa. Lời nói chúng ta tượng trưng cho tất cả những kết quả do chúng ta gây ra và những động tác hành vi, đủ hết các thứ. Theo nghĩa tổng quát nầy, chúng ta tập sao cho mỗi khi nói, làm vang lên âm điệu trong trẻo và đích xác, thật đúng điệu. Đó là một lý tưởng cao thật, nhưng trong khi hoài bão những lý tưởng của chúng ta và gắng sức làm cho đời sống của chúng ta phù hợp theo đó, ta không nên “Quên nghĩ đến Sự Thật.” Đừng để có sự thỏa hiệp với khuynh hướng trì độn, ngăn trở sự cố gắng và giảm bớt sự hy sinh của chúng ta.
c- CÓ TỪ THIỆN KHÔNG ?
Quyển “Ánh Sáng Trên Đường Đạo” đã dạy:
“Trước khi được nói trước mặt Chơn Sư, lời nói phải mất năng lực làm thương tổn.”
Nói một cách khác dễ hiểu, Lời Nói phải dịu dàng, không nhục mạ ai, không làm đau lòng ai. Sự dịu dàng và sự Thật Đúng không chống đối nhau như người ta thường lầm tưởng như vậy. Lời Nói có thể Thật Đúng trọn vẹn mà hết sức dịu dàng, nhã nhặn và từ ái. Và khi nó càng Thật Đúng bao nhiêu thì nó càng phải dịu dàng bấy nhiêu, mà chính ngay trong Trung Tâm của Sự Vật, Chơn Lý và Lòng Từ Bi vẫn hằng sống đời đời bên cạnh nhau.
Vì bởi Lời Nói phản chiếu cái Tinh Hoa sâu kín nhất của Vũ trụ, ta không nên vô cớ làm mích lòng người, hay sanh ra một chút ngờ vực nào cả. Vậy Lời Nói phải Thật Đúng, phải dịu dàng, và nhã nhặn. Đó là sự khắc kỷ về Lời Nói, sự thiệt thọ hãm mình trong ngôn ngữ, sự hy sinh mà mỗi người Chí Nguyện phải thực hành.
Quý bạn sẽ hỏi: Nếu phải cảnh cáo hay khiển trách thì phải làm thế nào?
Nếu cảnh cáo hoặc khiển trách là những điều có khi phải cần đến, kết quả của nó phải có phần bổ ích.
Nó phải thức tỉnh, khuyến khích, xây dựng, chớ đừng làm cho người có lỗi ở trong tình trạng ngã lòng, rủn chí.
Đôi khi Chơn Sư có thể tỏ ra nghiêm khắc trong lời nói, nhưng ấy là Ngài muốn cho Đệ Tử hiểu cái lỗi đã phạm một cách rành mạch và rõ ràng hơn. Đồng thời Ngài cũng làm cho Tâm Hồn Đệ Tử được thêm phần mạnh mẽ và đầy nghị lực.
2- SỰ KHÁC NHAU GIỮA LỜI NÓI THẬT ĐÚNG
VÀ SỰ NÓI HÀNH
Tuy nhiên chớ nên hiểu lầm sự nói Thật Đúng với sự nói hành.
Không phải phanh phui những tật xấu của thiên hạ hay là dùng lời lẽ nặng rồi viện lẽ rằng: “Mình nói Sự Thật.” Không nên đem những sự bí mật trong nghề nghiệp, trong gia đình, trong xã hội, trong nước nhà nói trắng ra để tỏ ra mình là tay thạo đời, thành thật.
Điều đó là khờ dại, là đần độn và chuốc lấy tai họa vào thân. Ngạn ngữ Tây Phương có câu:
“Không nên Nói ra tất cả những Sự Thật.”
Thật là đúng lắm vậy. Phải sáng suốt, phải biết phân biện, phải thận trọng từng chút, vì có nhiều việc dầu biết rõ cũng phải giữ thái độ im lặng, vì đó là điều hay hơn hết để tránh những phiền phức về sau có thể xảy ra.
C- VIỆC LÀM CHƠN CHÁNH
1- KHÁI NIỆM VỀ VIỆC LÀM CHƠN CHÁNH
Việc Làm Chơn Chánh (Chánh Nghiệp) đứng vào Hàng thứ Tư của Đạo Bát Chánh.
Nếu Tư Tưởng Chơn Chánh và Lời Nói Chơn Chánh, lẽ dĩ nhiên Việc Làm cũng sẽ thành Chơn Chánh vậy.
Cái Nhân đã như thế, Cái Quả cũng sẽ như thế, không sao khác được. Vì hành động tức là sự biểu lộ của sức mạnh nội tâm và khi nào tư tưởng đã trong sạch, khi lời nói đã thật đúng và ngay thẳng thì sự hành động sẽ tất nhiên là cao thượng.
Phát nguyên từ ngọn suối êm đềm, ngon ngọt, dòng nước cũng phải êm đềm, ngon ngọt, chớ không thế nào khác hơn được. Phát sanh từ một tấm lòng và một khối óc tinh khiết, hành động chỉ có thể là chơn chánh và từ thiện mà thôi.
Tư Tưởng Chơn Chánh, Lời Nói Chơn Chánh, Việc Làm Chơn Chánh là ba sợi dây liên kết Người Chí Nguyện một mặt với Nhân Loại trong việc Phụng Sự cao siêu, một mặt với Sư Phụ anh. Ba sợi dây nầy không thể nào cắt đứt được.
Trong các Tôn Giáo lớn, Ba sợi dây nầy là dấu hiệu của sự hoàn toàn tự chủ; tự chủ về Tư Tưởng, Lời Nói và Việc Làm.
Và sau hết thì mọi sự sẽ ra sao? Về ngôn ngữ, Con Người thật là bất lực, không sao miêu tả được đoạn chót của sự Lập Hạnh nầy. Những màu sắc tối tăm của Trái Đất không sao miêu tả nổi cái vẻ mỹ lệ của Lý Tưởng hoàn toàn ấy mà chúng ta hy vọng một ngày kia sẽ đạt được, khi chúng ta biết rõ rằng một ngày kia sẽ thành tựu được. Có bao giờ Lý Tưởng nầy đã hiện ra với Chư Huynh trong những lúc lặng lẽ không? Chư Huynh có bao giờ trông thấy cái phản ảnh của nó trong sự an tịnh của Trái Đất cũng như trong sự tịch mịch của Bầu Trời không?
Chư Huynh đã bao giờ trông thấy các vị Tiên Thánh còn sống và hoạt động không? Các Vị trước kia là Người và bây giờ đã vượt qua trình độ của Con Người, đã trở thành những vị Siêu Nhân cao cả oai nghiêm. Sau nầy Nhân Loại cũng sẽ được như các Ngài, tuy bây giờ chưa đi đến trình độ ấy, trừ ra ở những vòng trong của Thánh Điện.
2- NHỮNG ĐỨC TÁNH PHẢI TẬP
12 Đức Tánh phải tập là:
1)- Từ Bi, Bác Ái.
2)- Nhẫn Nại.
3)- Khoan Dung.
4)- Điềm Tĩnh.
5)- Tinh Tấn.
6)- An Phận.
7)- Thành Thật.
8)- Thiệp Thế.
9)- Thiện Cảm.
10)- Can Đảm.
11)- Hy Sinh.
12)- Phụng Sự.
Mỗi tháng tập một Đức Tánh, 12 Đức Tánh trọn 12 tháng. Rồi trở lại Tánh thứ Nhứt. Phải tập trọn 7 năm như vậy không gián đoạn, chúng sẽ thành ra những phần tử của Tánh Nết của ta và theo ta từ kiếp nầy qua kiếp kia.
Đức Tánh thứ Tám: Thiệp Thế nghĩa là xét đoán và hành động chín chắn luôn luôn đúng với tập quán, sở thích và nghi lễ của người đời. Có thể nói là xử sự khéo léo.
III- LÃNH ĐẠM
Tuy nhiên, quý bạn hãy tập Tánh Lãnh Đạm, Lãnh Đạm đối với những nỗi vui buồn, Lãnh Đạm đối với những kết quả, Lãnh Đạm đối với những lời khen hay chê bai, Lãnh Đạm đối với những sự yêu thương hay ghen ghét, Lãnh Đạm đối với thế thái nhân tình, Lãnh Đạm đối với sự thành công hay thất bại, Lãnh Đạm đối với những sự thử thách, hầu giữ vững thăng bằng, vì quý bạn đánh đúng giá trị của chúng.
Không nên tưởng rằng: Lãnh Đạm là trở nên vô tri vô giác không còn biết cảm động nữa. Trái lại, càng ngày Sinh Viên càng cảm thấy một cách rõ rệt những sự rung động nhỏ nhặt của Sự Sống trong người anh và ở ngoại cảnh. Anh càng ngày càng tự điều hòa với Thiên Nhiên, cho nên càng ngày anh càng trở nên nhạy cảm đối với mọi sự thay đổi nhẹ nhàng của mỗi tiết điệu trong Vạn Vật.
Quý bạn hãy thực hành tánh Lãnh Đạm không phải bằng cách trở nên cứng rắn, nhưng bằng cách tăng trưởng lòng thiện cảm của mình, không phải bằng cách ẩn mình trong một cái vỏ cứng ngắt, khiến cho bạn phải xa cách Đồng Loại, nhưng bằng cách ứng đáp với những sự rung động nhỏ nhất ở bên ngoài, cùng trong một lúc, quý bạn giữ lấy một sự thăng bằng nội tâm mà không có sự gì có thể ảnh hưởng tới, dù sự rung động cố làm lay chuyển đến cả đáy lòng.
Nói tóm lại, Lãnh Đạm là cứ lo làm cho tròn bổn phận, còn cái chi xảy đến cũng mặc, không hề nao núng, cứ bình thản và phẳng lặng như mặt nước hồ thu. Tâm thức Sinh Viên càng ngày càng phát triển, càng ngày càng thấy rõ rệt sự hợp nhất của nó với Đại Thể, Tâm Thức của Thượng Đế mà nó là một thành phần.
Từ tánh tự chủ và tánh lãnh đạm bỗng nảy sanh ra tánh không thù ghét ai, người ta nhấn mạnh nhiều lần về đức tánh nầy trong khi Người Chí Nguyện lập hạnh trở nên Đệ Tử.
Không được thù ghét một điều gì. Phải thâu gồm tất cả trong phạm vi của Tình Yêu Thương. Dù bề ngoài của Mọi Vật có đáng ghê tởm đến đâu chăng nữa, điều đó cũng không quan hệ gì, vì Sự Sống và Tình Thương ngự trị nơi Trung Tâm của Vạn Vật. Vì vậy người Đệ Tử đang học hỏi không loại trừ Một Vật Gì ra ngoài Lòng Từ Bi của mình. Anh bao hàm Mọi Sinh Linh trong Tấm Lòng Thương Yêu của mình và chú ý đến sự nhạy cảm của chúng. Anh thành Người Bạn của Vạn Vật, anh Thương Yêu tất cả những Sinh Vật, dầu là những Sinh Vật mà người đời gọi là Vô Tri, Vô Giác, vì tất cả đồng là Con của Đức Thượng Đế, ngày nay ở vào trình độ Kim Thạch, rồi sau tiến lên Thảo Mộc, rồi tới Cầm Thú và Con Người như chúng ta hiện thời vậy.
IV- OAI LỰC CỦA LÒNG TỪ BI
Con Người đầy lòng dạ Nhân Từ có thể đi qua rừng sâu mà không bị nguy hiểm. Y có thể đi vào hang thú dữ mà không bị vồ, có thể lấy tay mà bắt rắn, vì tấm lòng tràn ngập Tình Thương nên không nhìn thấy ở đâu là thù hận cả. Tình Thương phóng những tia sáng ra khắp cõi đời và thu hút mọi vật để phụng sự chúng, chớ không phải để làm hại chúng, vì do sự thu hút nầy làm thức tỉnh Tình Yêu chớ không phải lòng thù hận nơi Vạn Vật.
Vì vậy con cọp lăn mình dưới chân Nhà Tu Sĩ Yogui (Dô ghi) như một người bạn thân, con vật hung dữ nhất mang con đến gởi cho vị Thánh Nhân nhờ Ngài che chở và cứu giúp, vì thế cho nên tất cả mọi Sinh Vật đều đến với Người Có Lòng Nhân Đức Thương Yêu, vì Vạn Vật cũng có Một Nguồn Cội Thiêng Liêng. Tình Yêu là Thiêng Liêng và khi nào Con Người Thương Yêu trọn vẹn y sẽ thu hút Vạn Vật.
Có bạn hoài nghi, khi đọc Đoạn nầy sẽ nói: Đây là lý luận mà thôi. Tôi xin trình bày hai bằng chứng cụ thể: Một thuộc về đời xưa và một mới xảy ra năm ngoái, năm 1970 tại Ấn Độ.
A- CHUYỆN THỨ NHỨT
VUỐT VE RẮN HỔ MANG
Trong quyển “Đông Phương Huyền Bí” trang 227 ông Paul Brunton có thuật chuyện ông gặp một con rắn trong chòi của ông như sau đây:
“Khi vừa mở khóa cánh cửa lớn, tôi sắp sửa bước vào thì có một vật cựa quậy dưới đất và ngừng lại cách chân tôi trong gang tấc. Những cử động im lặng của nó và một tiếng huýt nhỏ như tiếng sáo mà tôi nghe thoáng qua trong bóng tối trước khi tôi nhìn thấy rõ đó là vật gì, nhắc nhở cho tôi biết rằng có một Con Rắn ở trong chòi. Trong một lúc, tôi cảm thấy trong lòng rối loạn vì sợ hãi và không biết phải làm thế nào. Thần kinh tôi bị căng thẳng đến cực độ. Tôi nhìn Con Rắn không chớp mắt, và nó cũng vừa phùng mang vừa giương hai mắt nhìn lại tôi.
Sau cùng, tôi định tỉnh tinh thần và hối hả rút lui. Tôi định đi tìm một cây gậy lớn để đập cho nó một gậy dập xương sống, bỗng đâu người khách lạ ngày hôm qua thình lình xuất hiện ở ngoài sân. Gương mặt trầm tĩnh và đôi mắt nhìn yên lặng của y làm cho tôi bớt sợ hãi và lấy lại sự bình tĩnh. Y đến gần chòi tranh với cái nhìn thoáng qua của y đã thấu rõ tình hình và thản nhiên bước vào chòi. Tôi bèn la lớn để báo động nhưng y không màng để ý đến tiếng kêu của tôi. Một lần nữa tôi lại băn khoăn sợ hãi, vì mặc dầu y không có khí giới y vẫn đưa hai tay về phía con rắn.
Con Rắn há miệng và le cái lưỡi dài như hình mũi chĩa thò ra thụt vào, nhưng không định mổ vào người kia. Trong khi đó có hai người đang tắm dưới ao gần bên, nghe tiếng kêu của tôi bèn vội vã chạy tới. Trước khi họ đến gần chòi tranh người khách lạ đã khom lưng ngồi gần bên Con Rắn và lấy tay nhẹ vuốt trên lưng nó trong khi Con Rắn cúi đầu sát đất và nằm êm!
Nó không còn phùng mang le lưỡi một cách dữ tợn như trước nữa, cho đến khi hai người kia bước đến gần và làm cho nó giựt mình. Khi ấy, nó bèn quẫy đuôi dường như sực tỉnh, và trước bốn cặp mắt của chúng tôi, nó nhanh nhẹn bò ra khỏi chòi tranh và trong khoảnh khắc đã biến mất dạng trong khu rừng rậm.
- “Đó là một Con Rắn Hổ Mang!” một trong hai người mới đến sau bình phẩm. Người nầy là một Thương Gia ở thành phố gần bên, thường đến thăm Đạo Viện để chiêm ngưỡng đức Tôn Sư hoặc đàm đạo với tôi. Tôi bày tỏ sự ngạc nhiên về việc người khách lạ giỡn với Con Rắn một cách không chút sợ sệt. Y bèn giải thích:
- “À, đó là Đạo Sĩ Ramiah, y là một trong những Đệ Tử cao cấp nhứt của đức Maharichi. Y là một tay có bản lĩnh khá lắm!”
Trước khi từ giã, tôi hỏi y (đạo sĩ Ramiah) về chuyện Con Rắn Hổ Mang hôm trước. Y mỉm cười và viết bút đàm câu trả lời:
“Có gì mà phải sợ! Tôi đến gần nó với Tấm Lòng Lành, không nuôi tư tưởng ác, và với một Tình Bác Ái đối với tất cả Chúng Sinh.”
B- CHUYỆN THỨ NHÌ
MỘT CHUYỆN PHI THƯỜNG
Trong số xuất bản ngày 9 Janvier 1970 (mồng 9 tháng Giêng 1970), tờ Ấn Độ Thời Báo (Hindustan Times) có đăng hình một du khách lại gần chuồng của một Con Cọp Trắng tên Rajah trong Vườn Bách Thú Delhi, thò tay vô song sắt vuốt ve Con Cọp nó liền hết gầm gừ.
Phóng viên tờ Ấn Độ Thời Báo nói: Du khách mỉm cười và kêu tên Con Cọp: “Nầy Rajah”.
Du khách bước sang qua chuồng hai Con Cọp Vàng, chúng giành nhau để cho anh mơn trớn, không khác nào hai con chó con. Rồi du khách đến chuồng một Con Báo Nam Mỹ (Jaguar). Con Báo lại gần anh để cho anh rờ rẫm nó, nó cạ mình vào song sắt coi bộ thích thú lắm.
Phóng viên tờ Ấn Độ Thời Báo lại nói: Khi tôi thử đụng tới Con Báo thì nó quay đầu lại, rống lên một tiếng dữ tợn hăm he.
Các bạn muốn biết du khách đó là ai?
Ấy là ông Francis Brunel, cả nước Pháp và nhiều nơi đều biết tiếng, ông là cựu Tổng Thơ Ký Hội Thông Thiên Học Pháp Quốc.
Ông giải thích rằng: Loài Dã Thú có một thái độ như thế là nhờ Tình Thương của ông ban rải cho chúng và chúng cảm biết Tình Thương nầy. Ông nói: “Không có sự sợ sệt giữa tôi và chúng. Tôi không sợ chúng mà chúng cũng không sợ tôi.” Đi tới đâu ông cũng đề cao sự kính trọng Thiên Nhiên và bất cứ Sự Sống nào, ông cũng nói về sự cần thiết cấp bách chận đứng sự bóc lột vô liêm sỉ mà người ta đương thực hiện bây giờ đây.
Theo lời Phóng Viên thì ông Francis Brunel dự định lập ở Ấn và ở Pháp một Trường Đại Học kiểu mới gọi là Trường Đại Học của Sự Sống chuyên khảo cứu về Thiên Nhiên.
(Thanh Liên Tạp chí - Le Lotus Bleu của Hội Thông Thiên Học Pháp, tháng Chạp 1970 - Décembre 1970 - trích dịch Bài “Người Đứng Canh” - La Vigie của đức Sri Ram đăng trong tạp chí The Théosophist (Người Thông Thiên Học) - tháng Ba 1970 - Mars 1970).
Về sự luyện mình Sinh Viên có trước mặt một thời gian vô tận vô biên để thực hành Lý Tưởng của mình.
Quý bạn biết rằng Định Luật Thiên Nhiên vốn bất di bất dịch. Sức mạnh của quý bạn tung ra nhất định thế nào cũng phát sanh những kết quả và mỗi hạt giống mà quý bạn đã gieo trồng chắc chắn là sẽ đơm bông kết trái loại nào theo loại nấy và sau nầy quý bạn sẽ gặt hái được cái kết quả tương đương chớ không có gì khác được.
Candy xin cảm ơn tấm lòng của bạn vuive đã mang đến Vườn Hoa của Candy một món quà tuyệt vời, và từ nay Vườn Hoa của Candy sẽ mãi mang cái tên mới đó là Vườn Hoa Vui Vẻ mà thôi :). Xin tặng bạn vuive bông hoa này thay cho lòng cảm ơn của Candy nhé bạn và chúc bạn Tâm Thân An Lạc!!!
http://i268.photobucket.com/albums/j...t_album/25.jpg
Thoảng thơm mùi hương bưởi cuối tháng giêng.
Tặng chùm hoa bưởi cho Vườn hoa của Candy thêm nồng nàn, quyến rũ!
http://i269.photobucket.com/albums/j...flower0251.jpg
hoa nay cung giong mai chieu thuy that
Uhm, đúng rồi hoa này là hoa Mai Chiếu Thủy mọi người ạ, dù sao thì Candy cũng cảm ơn tỷ Header đã tặng một bông hoa rất đẹp cho Candy (Candy thì rất thích hoa màu trắng lắm!) :)
@ Hữu Hình: Xin chào bạn đã đến thăm Vườn Hoa của Candy! Chúc bạn và mọi người Tâm Thân An Lạc.
Ánh Hồng
http://i268.photobucket.com/albums/j...um/anhhong.jpghttp://i268.photobucket.com/albums/j..._jpg_thumb.jpg
Bách Hợp
http://i268.photobucket.com/albums/j...bachhopdo1.jpghttp://i268.photobucket.com/albums/j...m/bachhpo1.jpg
Bướm BạcBồ Công Anhhttp://i268.photobucket.com/albums/j...um/buombac.jpg http://i268.photobucket.com/albums/j.../boconganh.jpg