-
Kẻ xa thì mến đức-ân,
Làm cho người gần ganh-ghét khinh khi.
Nam mô, mô Phật từ-bi,
030 Miệng thì niệm Phật lòng thì tà-gian.
Khắp trong bá-tánh trần-hoàn,
Cùng hết xóm làng đều bỉ người Điên.
Điên nầy xưa cũng như ai,
Vào các ra đài tột bực giàu-sang.
Nghĩ suy danh-lợi chẳng màng,
Bèn lên ẩn dật lâm san tu trì.
Nhờ Trời may-mắn một khi,
Thẩn-thơ lại gặp Đức Thầy Bửu-Sơn.
Cúi đầu Điên tỏ nguồn-cơn,
040 Động lòng bác-ái ra ơn dạy truyền.
Thấy Điên tâm tánh quá thiềng,
Nội trong sáu khắc biết liền Thiên-cơ.
Chuyện nầy thôi nói sơ sơ,
Để rộng thì giờ nói chuyện chơn-tu.
Dương-trần kẻ trí người ngu,
Ham võng ham dù danh-lợi xuê-xang.
Cờ đà đến nước bất an,
Chẳng lo tu niệm tham-gian làm gì.
Phật, Trời thương kẻ nhu-mì,
050 Trọng cha, yêu Chúa kính vì Tổ-Tông.
Ngồi buồn nói chuyện bông-lông,
Khắp trong trần-hạ máu hồng nhuộm rơi.
Chừng nào mới đặng thảnh-thơi,
Dậu Phật ra đời thế-giới bình-yên.
Điên nầy Điên của Thần-Tiên,
Ở trên Non-Núi xuống miền Lục-Châu.
Đời còn chẳng có bao lâu,
Rán lo tu-niệm đặng chầu Phật-Tiên.
Thế-gian ít kẻ làm hiền,
060 Nhiều người tàn-bạo làm phiền Hóa-Công.
Thế-gian chuyện có nói không,
Đến hội Mây-Rồng thân chẳng toàn thây.
Việc đời đến lúc cấn gay,
Mà cũng tối ngày nói xéo nói xiên.
Dương-trần tội ác liên miên,
Sau xuống huỳnh-tuyền Địa-ngục khó ra.
Điên nầy nói việc gần xa,
Đặng cho lê-thứ biết mà lo tu.
Tu cho qua cửa Diêm-phù,
070 Khỏi sa Địa-ngục ngao du Thiên-đài.
Đường đời chẳng có bao dai,
Nên viết một bài cho bá-tánh coi.
Tuồng đời như pháo châm ngòi,
Bá-gia yên lặng mà coi Khùng nầy.
Khùng thời ba Tớ một Thầy,
Giảng dạy dẫy-đầy rõ việc Thiên-cơ.
Điên đây còn dại còn khờ,
Yên-lặng như tờ coi chúng làm sao.
Bá-gia kẻ thấp người cao,
080 Chừng thấy máu đào chúng mới chịu tu.
Bây giờ giả dại giả ngu,
Cũng như Nhơn-Quí ở tù ngày xưa.
Lúc nầy kẻ ghét người ưa,
Bị Điên nói bừa những việc vừa qua.
Dương-trần biếm nhẻ gần xa,
Nói quỉ nói tà đây cũng cam tâm.
Ngồi buồn nhớ chuyện xa-xăm,
Dạo trong Bảy-Núi cười thầm sư-mang.
Nói rằng lòng chẳng ham sang,
090 Sao còn ham của thế-gian làm gì ?
Việc nầy thôi quá lạ kỳ,
Cũng trong Phật-Giáo sao thì chê khen.
Lúc nầy tâm trí rối beng,
Tiếng quyển tiếng kèn mặc ý bá-gia. [1]
Hết gần rồi lại tới xa,
Dân-sự nhà nhà bàn tán cười chơi.
Chuyện nầy cũng lắm tuyệt-vời,
Giả như Hàn-Tín đợi thời lòn trôn.
Đến sau danh nổi như cồn,
100 Làm cho Hạng-Võ mất hồn mấy khi.
Chuyện xưa thanh-sử còn ghi,
Khen anh Hàn-Tín vậy thì mưu cao.
Chuyện đời phải có trước sau,
Điên Khùng khờ dại mà cao tu hành.
Bá-gia phải rán làm lành,
Niệm-Phật cho rành đặng thấy Thần-Tiên.
Thương đời trong dạ chẳng yên,
Khắp trong lê-thứ thảm phiền từ đây.
Ngày nay thế-cuộc đổi xây,
110 Rán lo tu niệm đặng Thầy cứu cho.
Mảng theo danh-lợi ốm-o,
Sẵn của hét hò đứa ở người ăn.
Đừng khi nhà lá một căn,
Mà biết niệm Phật sau bằng bạc muôn.
Giàu sang như nước trên nguồn,
Gặp cơn mưa lớn nó tuôn một giờ.
Cửu-Huyền Thất-Tổ chẳng thờ,
Để thờ những Đạo ngọn cờ trắng phau.
Dương-trần bụng dạ nhiều màu,
120 Thấy cảnh bên Tàu sao chẳng nghĩ suy.
Lời xưa người cổ còn ghi,
Những việc lạ kỳ nay có hay chưa ?
Chưa là với kẻ chẳng ưa,
Chớ người tâm đạo biết thừa tới đâu.
Bá-gia mau kíp lo âu,
Để sau đối đầu chẳng đặng toàn thây.
Việc đời nói riết thêm nhây,
Nếu muốn làm Thầy phải khổ phải lao.
Mèo kêu bá-tánh lao-xao,
130 Đến chừng rồng rắn máu đào chỉn ghê.
Con ngựa lại đá con dê,
Khắp trong trần-hạ nhiều bề gian-lao.
Khỉ kia cũng bị xáo-xào,
Canh khuya gà gáy máu đào mới ngưng.
Nói ra nước mắt rưng-rưng,
Điên biểu dân đừng làm dữ làm hung.
Việc đời nói chẳng có cùng,
Đến sau mới biết đây dùng kế hay.
Bây giờ mắc việc tà-tây,
140 Nên mới làm vầy cho khỏi ngại-nghi.
Thiên cơ số mạng biết tri,
Mà sao chẳng chịu chạy đi cho rồi ?
Những người giả đạo bồi-hồi,
Còn chi linh-thính mà ngồi mà nghe.
Việc đời như nước trong khe,
Nó tưởng đặt vè nói biếm người hung.
Điên nầy nối chí theo Khùng,
Như thể dây dùn đặng cứu bá-gia.
Sau nầy kẻ khóc người la,
150 Vài ba năm nữa biết mà tà-tinh.
Điên biết chẳng lẽ làm thinh,
Nói cho bá-tánh mặc tình nghe không.
Việc Điên, Điên xử chưa xong,
Lục-Châu chưa giáp mà lòng ủ-ê.
Người nghe đạo lý thì mê,
Kẻ lại nhún trề nói: Lão kiếm cơm.
Thấy nghèo coi thể rác-rơm,
Rồi sau mới biết rác-rơm của Trời.
Vì Điên chưa đến cái thời,
160 Nên còn ẩn dạng cho người cười chê.
Từ đây sắp đến thảm-thê,
con lìa cha mẹ, vợ kia xa chồng.
Tới chừng đến việc ngóng-trông,
Trách rằng Trời Phật không lòng từ-bi.
Di-Đà lục tự rán ghi,
Niệm cho tà-quỉ vậy thì dang ra.
Khuyên đừng xài phí xa-hoa,
Ăn cần ở kiệm đặng mà lo tu.
Đừng khinh những kẻ đui-mù,
170 Đến sau sẽ khổ gấp mười mù-đui.
Đời nay xét tới xem lui,
Chừng gặp tuổi Mùi bá-tánh biết thân.
Tu-hành sau được đức-ân,
Nhờ Trời ban bố cho gần Phật Tiên.
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
Nói ra trong dạ chẳng yên,
Điên gay chèo quế dạo miền Lục-Châu.
Tới đâu thì cũng như đâu,
Thêm thảm thêm sầu lòng dạ người xưa.
Bá-gia ai biết thì ưa,
180 Tôi chẳng nói thừa những việc Thiên-cơ.
Khi già lúc lại trẻ thơ,
Giả quê giả dốt khắp trong thị thiềng.
Đi nhiều càng thảm càng phiền,
Lên doi xuống vịnh nào yên thân Già.
Tay chèo miệng lại hát ca,
Ca cho bá-tánh biết đời loạn-ly.
A-Di-Đà Phật từ bi,
Ở bên Thiên-Trước chứng tri lòng nầy.
Từ ngày thọ giáo với Thầy,
190 Dẹp lòng vị-kỷ đầy lòng yêu dân.
Ngày nay chẳng kể tấm thân,
Miễn cho bá-tánh được gần Bồng-Lai.
Đời nầy vốn một lời hai,
Khắp trong trần-hạ mấy ai tu trì.
Đời nầy giành-giựt làm chi,
Tới việc ly-kỳ cũng thả trôi sông.
Thuyền đưa Tiên-cảnh Non-Bồng,
Mấy ai mà có thiềng lòng theo đây.
Cứ lo làm việc tà-tây,
200 Bắt ngưu bắt cầy đặng chúng làm ăn.
Chừng đau niệm Phật lăng-xăng,
Phật đâu chứng kịp lòng người ác-gian.
Thấy đời mê-muội lầm-than,
Ăn bạ nói càn tội-lỗi chỉn ghê.
Chữ tu không phải lời thề,
Mà không nhớ đến đặng kề Tiên-bang.
Nói nhiều trong dạ xốn-xang,
Cùng hết xóm làng tàn-ác nhiều hơn.
Thầy chùa như thể cây sơn,
210 Ngoài da coi chắc trong thời mối ăn.
Buồn thay cho lũ ác-tăng,
Làm điều dối thế cho hư Đạo-mầu.
Di-Đà Phật-Tổ thêm rầu,
Giận trong tăng-chúng sao lừa dối dân.
Có thân chẳng liệu lấy thân,
Tu như lối cũ mau gần Diêm-vương.
Bá-gia lầm lạc đáng thương,
Nên trước Phật đường thọ lãnh dạy dân.
Dương trần nhiều kẻ ham sân,
220 Cứ theo biếm nhẻ xa gần người Điên.
Lòng buồn mượn lấy bút nghiên,
Viết cho trần hạ bớt phiền lo tu.
Thương đời chớ chẳng kiếm xu,
Buồn cho bá-tánh hết mù tới đui.
Có chi mà gọi rằng vui,
Khắp trong bá-tánh gặp hồi gian lao.
Từ đây hay ốm hay đau,
Rán tu đem được Phật vào trong tâm.
Lời hiền nói rõ họa thâm,
230 Đặng cho bá-tánh tỉnh tâm tu hành.
Ngày nay Điên mở Đạo lành,
Khắp trong lê-thứ được rành đường tu.
Nay đà gần cuối mùa thu,
Hết ngu tới dại công-phu gần thành.
Xác trần đạo-lý chưa rành,
Mấy ai mà được lòng thành với Điên.
Điên nầy sẽ mở xích xiềng,
Dắt-dìu bá tánh gần miền Tiên-bang.
Không ham danh-lợi giàu-sang,
240 Mong cho bá-tánh được nhàn tấm thân.
Thường về chầu Phật tấu trần,
Cầu xin Phật-Tổ ban lần đức ơn.
Nay đà bày tỏ nguồn cơn,
Cho trong trần-hạ thiệt hơn tỏ tường.
Phật, Trời thấy khổ thời thương,
Muốn cho lê-thứ thường thường làm nhơn.
Đừng ham tranh-đấu thiệt hơn,
Tu niệm chớ sờn uổng lắm dân ôi !
Hồng-trần biển khổ thấy rồi,
250 Rán tu nhơn-đạo cho tròn mới hay.
Đừng ham nói đắng nói cay,
Cay đắng sau nầy đau đớn, sầu-bi.
Tu hành tâm trí rán trì,
Sau nầy sẽ thấy việc gì trên mây.
Đừng làm tàn-ác ham gây,
Sẽ có người nầy cứu vớt giùm cho.
Dương-trần lắm chuyện đôi co,
Phải dẹp vị-kỷ mà lo tu hành.
Kệ kinh tưởng-niệm cho sành,
260 Ngày sau thấy Phật đành rành chẳng sai.
Lúc nầy thế-giới bi-ai,
Chẳng nói vắn dài Phật nọ tức tâm.
Mấy lời khuyên nhủ chẳng lầm,
Từ đây đạo hạnh được mầm thanh-cao.
Hồng-trần lao-khổ xiết bao,
Khuyên trong lê-thứ bước vào đường tu.
Xưa nay đạo-hạnh quá lu,
Ngày nay sáng tỏ đền bù ngày xưa.
Mặc tình kẻ ghét người ưa,
270 Điên chẳng nói thừa lại với thứ-dân.
Quan-trường miệng nói vang rân,
Mà tâm dính chặt hồng-trần bụi nhơ.
Buồn đời nên mới làm thơ,
Cũng còn tai lấp mắt ngơ mới kỳ.
Người đời lòng dạ bất tri,
Trông cho làm bịnh dị-kỳ nó coi.
Dương-gian chậu úp được soi,
Giấu đầu rồi lại cũng lòi sau đuôi.
Nói nhiều mà dạ chẳng nguôi,
280 Việc tu bá-tánh bắn lùi như tôm.
Tưởng Phật được lúc đầu hôm,
Đêm khuya muốn giựt nồi cơm của người.
Thế-gian nhiều việc nực cười,
Tu-hành chẳng chịu, lo cười lo khinh.
Người già ham muốn gái xinh,
Đến sau chẳng biết thân mình ra sao ?
Xác thân cọp xé beo quào,
Còn người tàn bạo máu đào tuôn rơi.
Tu-hành hiền đức thảnh-thơi,
290 Ngay cha thảo Chúa Phật, Trời cứu cho.
Bá gia hãy rán mà lo,
Kiếm Lão Đưa Đò nói chuyện huyền cơ.
Bấy lâu chẳng biết làm thơ,
Nay viết ít tờ trần-hạ tỉnh tâm.
Đến sau khổ hạnh khỏi lâm,
Nhờ công tu-niệm âm-thầm quá hay.
Chừng nào chim nọ biếng bay,
Cá kia biếng lội khổ nầy mới yên.
Nhắc ra quá thảm quá phiền,
300 Bể khổ gần miền mà chẳng chịu tu.
Ngọn đèn chơn lý hết lu,
Khắp trong lê-thứ ao tù từ đây.
Thấy trong thời-cuộc đổi xây,
Đời nay trở lại khác nào đời Thương.
Nhắc ra thêm ghét Trụ-Vương,
Ham mê Đắc-Kỷ là phường bội cha.
Hết gần Điên lại nói xa,
Nói cho bá-tánh biết mà người chi.
Lời lành khuyên hãy gắn ghi.
310 Dương-trần phải rán tu-trì sớm khuya.
Đừng ham làm chức nắc-nia,
Ngày sau như khóa không chìa dân ôi !
Tu hành như thể thả trôi,
Nay lở mai bồi chẳng có thiềng tâm.
Mưu sâu thì họa cũng thâm,
Ngày sau sẽ biết thú cầm chỉn ghê.
Hùm beo tây tượng bộn bề,
Lại thêm ác thú mãng-xà, rít to.
Bá-gia ai biết thì lo,
320 Gác tai gièm siểm đôi co ích gì !
Hết đây rồi đến dị-kỳ,
Sưu cao thuế nặng vậy thì thiết-tha.
Còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
Dân nay như thể không cha,
Chẳng ai dạy-dỗ thiệt là thảm-thương.
Thứ nầy đến thứ Minh-Vương,
Nơi chốn Phật đường mặt ngọc ủ-ê.
Cảm thương trần-hạ nhiều bề,
Bởi chưng tàn-bạo khó kề Phật Tiên.
Chúng ham danh lợi điền-viên,
330 Ngày sau đến việc lụy-phiền suốt canh.
Kệ-kinh tụng niệm đêm thanh,
Ấy là châu-ngọc để dành ngày sau.
Bây giờ chưa biết vàng thau,
Đời sau kính trọng người cao tu hành.
Nam-mô miệng niệm lòng lành,
Bá gia phải rán biết rành đường tu.
Thương ai ham võng ham dù,
Cũng như những kẻ đui mù đi đêm.
Khuyên đời như vá múc thêm,
340 Mảng lo tranh đoạt thù-hềm với nhau.
Đến chừng có ốm có đau,
Vang mồm niệm Phật, Phật nào chứng cho.
Dương-trần tiếng nhỏ tiếng to,
Nói ngỗng nói cò đây cũng làm thinh.
Tưởng rằng thân nó là vinh,
Chẳng lo tu niệm cứ ghình với Điên.
Nói ra trong dạ chẳng yên,
Bây giờ nói chuyện cỡi thuyền khuyên dân.
Đêm ngày chẳng nại tấm thân,
350 Nắng mưa chẳng quản tảo-tần ai hay.
Chừng sau đến hội Rồng-Mây,
Người đời mới biết Điên nầy là ai.
Lui thuyền chèo quế tay gay,
Thuyền đi nước ngược đến rày cù lao.
Xa xa chẳng biết làng nào,
Thiệt làng Long-Khánh ít người nào tu.
Tớ Thầy liền giả đui mù,
Bèn đi ca hát kiếm xu dương-trần.
Bá-gia tựu lại rần-rần,
360 Trong nửa ngày trần chẳng có đồng chi.
Nực cười trần-hạ một khi,
Ở một đêm thì sáng lại qua sông.
Bình-minh vừa buổi chợ đông,
Bày trò bán thuốc hát ròng đời nay.
Cho thiên-hạ tựu đông vầy,
Rồi mới ra bài hát việc Thiên-cơ.
Tới đây bá-tánh làm ngơ,
Buồn cho lê-thứ kịp giờ ra đi.
Lìa xa Hồng-Ngự một khi,
370 Thẳng đường trực chỉ Điên đi Tân-Thành.
Tới đây ra mặt người rành,
Nói chuyện thiệt sành thông-lảu Đạo nho.
Nhiều người xúm lại đôi co,
Chê lão đưa đò mà biết việc chi.
Thấy đời động tánh từ-bi,
Điên chẳng bắt tì còn mách việc xa.
Khoan khoan chơn nọ bước ra,
Giáp rạch Cả-Cái rồi ra ngoài vàm.
Đoái nhìn mây nọ trắng lam,
380 Điên ra sức lực chèo chơi một giờ.
Xa nhìn sương bạc mờ mờ,
Tân-An làng nọ dân nhờ bắp khoai.
Giả người bán cá bằng nay,
Dân chúng ngày rày xúm lại mua đông.
Tới lui giá cả vừa xong,
Điên cũng bằng lòng cân đủ cho dân.
Có người chẳng chịu ngang cân,
Bỏ thêm chẳng bớt mấy lần không thôi.
Nực cười trần-hạ lắm ôi !
390 Giảng cho bá-tánh một hồi quá lâu.
Thân già thức suốt canh thâu,
Nói cho lê-thứ quày đầu mới thôi.
Nhiều người nghe hết phủi rồi,
Quày thuyền trở lại bồi-hồi sầu-bi.
Giả người tàn-tật một khi,
Xuống vàm kinh Xáng được thì chút vui.
Một người nhà lá hẩm hui,
Mà biết đạo lý mời Cùi lên chơi.
Bàn qua kim-cổ một hồi,
400 Cùi xuống giữa vời Châu-Đốc thẳng xông.
Đến nơi thiên-hạ còn đông,
Giả gái không chồng đi bán cau tươi.
Thấy dân ở chợ nực cười,
Xúm nhau trêu ghẹo đặng cười Gái Tơ.
Buồn đời lăng mạ ngẩn-ngơ,
Biến mất lên bờ liền giả cùi đui.
Phố phường nhiều kẻ tới lui,
Thấy kẻ Đui Cùi chẳng muốn ngó ngang.
Đời nay quý trọng người sang,
410 Giả ra gây lộn nói toàn tiếng Tây.
Tây, Nam, Chà, Chệt, chú, thầy,
Nó thấy làm vầy chẳng bắt ngại nghi.
Xuống thuyền quày quả một khi,
Chèo lên Vĩnh-Tế vô thì núi Sam.
Đi ngang chẳng ghé chùa am,
Xuôi dòng núi Sập đặng làm người ngu.
Xem qua đầu tóc u-xù,
Cũng như người tội ở tù mới ra.
Chèo ghe rao việc gần xa,
420 Bồng-Lai Tiên-Cảnh ai mà đi không ?
Nhiều người tâm đạo ước mong,
Nếu tôi gặp được như rồng lên mây.
Ấy là tại lịnh Phương Tây,
Cho kẻ bạo tàn kiến thấy Thần Tiên.
Có người nói xéo nói xiên,
Chú muốn kiếm tiền nói gạt bá gia.
Thoáng nghe lời nói thiết tha,
Rưng rưng nước mắt chèo về Mặc-Dưng.
Tay chèo miệng cũng rao chừng,
430 Đường đi tiên cảnh ai từng biết chưa ?
Khúc thời nhắc lại đời xưa,
Lúc chàng Lý-Phủ đổ thừa Trọng-Ngư.
Nhà anh có của tiền dư,
Sao chẳng hiền-từ thương-xót bá gia ?
Bấy giờ gặp việc thiết-tha,
Bạc vàng có cứu anh mà hay không ?
Hết tây Điên lại nói đông,
Có ai thức-tỉnh để lòng làm chi !
Mặc-Dưng mất dạng Từ-Bi,
440 Thuyền đi trở ngược về thì Vàm-Nao.
Dòm xem thiên-hạ lao-xao,
Không ghé nhà nào cũng gọi vài câu.
Con sông nước chảy vòng cầu,
Ngày sau có việc thảm-sầu thiết-tha.
Chừng ấy nổi dậy phong-ba,
Có con nghiệt-thú nuốt mà người hung.
Đến chừng thú ấy phục-tùng,
Bá-gia mới biết người Khùng là ai.
Bây giờ phải chịu tiếng tai,
450 Giảng Đạo tối ngày mà chẳng ai nghe.
Đời như màn nọ bằng the,
Hãy rán đọc vè của kẻ Khùng Điên.
Khỏi vàm Điên mới quày thuyền,
Xuống miền Cao-Lãnh lại phiền lòng thêm.
Tới đây ca hát ban đêm,
Ai có thù hềm chưởi mắng cũng cam.
Cho tiền cho bạc chẳng ham,
Quyết lòng dạy-dỗ dương-trần mà thôi.
Nghe rồi thì cũng phủi rồi,
460 Nào ai có biết đây là người chi.
Trở về Phong-Mỹ một khi,
Thuyền đi một mạch tới thì Rạch-Chanh.
Ghe chèo khúc quẹo khúc quanh,
Ở đây có một người lành mà thôi.
Nhắc ra tâm trí bồi-hồi,
Khó đứng khôn ngồi thương xót bá-gia.
Kiến-Vàng làng nọ chẳng xa,
Kíp mau tới đó vậy mà thử coi.
Xứ nầy nhà cửa ít-oi,
470 Mà trong dân sự nhiều người chơn tu.
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
Thấy người đói rách xin xu,
Ra tay cứu vớt đui mù chẳng chê.
Khỏi đây đến chỗ bộn-bề,
Rõ ràng Bến-Lức đã kề bên ghe.
Giả Người Tàn Tật đón xe,
Rồi lại nói vè ròng việc Thiên-cơ.
Hết vè rồi lại nói thơ,
Làm cho bá-tánh ngẩn-ngơ trong lòng.
Thơ vè Điên đã nói xong,
480 Đi luôn Ba-Cụm kẻo lòng ước-mơ.
Tới đây dẹp hết vè thơ,
Giả Người Bán Mắm quá khờ quá quê.
Chợ nầy thiên-hạ bộn-bề,
Kẻ nhún người trề chê mắm chẳng ngon.
Bạn hàng tiếng nói quá dòn:
Giá nầy chẳng bán còn chờ chuyện chi ?
Bưng thời kẻ níu người trì:
Ở đây không bán chị thì đi đâu ?
Dứt lời rồi lại câu-mâu,
490 Mắng: con đĩ chó khéo hầu làm khôn !
Muốn làm cho có người đồn,
Biến mất xác hồn cho chúng chỉn ghê.
Nói ra thêm thảm thêm thê,
Ông Lãnh dựa kề giả Bán Trầu Cau.
Bạn hàng xúm lại lao-xao:
Ông bán giá nào nói thử nghe coi ?
Trầu thời kẻ móc người moi,
Còn cau bẻ giấu thấy lòi tánh tham.
Thấy già bán rẻ nó ham,
500 Bị thêm quê dốt nó làm thẳng tay.
Ghe người biến mất bằng nay,
Cho chúng biết tài của kẻ Thần Tiên.
Bến Thành đến đó đậu liền,
Gặp hai thằng lính tra liền thuế thân.
Tớ Thầy nói chuyện cân-phân:
Mới lỡ một lần xin cậu thứ-tha.
Hai người tôi ở phương xa,
Bởi chưng khổ-não mới là nổi trôi.
Lính nghe vừa dứt tiếng rồi,
510 Khoát nạt một hồi rồi lại bắt giam.
Thấy đời trong dạ hết ham,
Ghe người biến mất coi làm chi đây.
Tức thời Điên giả làm thầy,
Đi coi đi bói khắp trong phố phường.
Có người tu niệm đáng thương,
Điên mới chỉ đường Tịnh-Độ vãng sanh.
Dạo cùng khắp cả Sài-Thành,
Khi ca khi lý nói rành Thiên-cơ.
Bá-gia bá-tánh làm ngơ,
520 Tưởng như những kẻ nói thơ kiếm tiền.
Văn-minh trọng bạc trọng tiền,
Khôn-ngoan độc-ác làm phiền người xưa.
Mặc ai ghét ghét ưa ưa,
Chẳng dám nói bừa cho bá-tánh nghe.
Phiền-ba ngựa ngựa xe xe,
Điên giả người què Gia-Định thẳng xông.
Què nầy đường xá lảu-thông,
Khắp trong thiềng-thị rồi thì nhà-quê.
Kêu cơm bá tánh nghe ghê,
530 Thêm nói bộn-bề những việc về sau.
Dương-trần bàn tán thấp cao,
Chẳng biết người nào rõ việc tiên-tri.
Giã từ Gia-Định một khi,
Thuyền loan trực chỉ đến thì Cần-Thơ.
Tới đây giả Kẻ Quá Khờ,
Vợ điên chồng lại đứng hờ một bên.
Phố-phường xóm dưới đầu trên,
Cùng người đi chợ xúm nhau reo cười.
Thị-thiềng hiền-đức được mười,
540 Phần nhiều xúm lại chê cười người điên.
Vợ thời ca hát huyên-thiên,
Chồng chẳng có tiền lại quán xin cơm.
Bá gia coi thể rác-rơm,
Ai cũng sẵn hờm đặng có ghẹo chơi.
Điên mà ca hát việc đời,
Với việc hiện thời khổ não Âu-Châu.
Chạy cùng chẳng sót đâu đâu,
Lòng quá thảm sầu lìa lại Vĩnh-Long.
Chợ quê giảng dạy đã xong,
550 Thuyền loan trực chỉ đến rày Bến-Tre.
Chợ nầy đậu tại nhà bè,
Giả Chị Bán Chè dạo khắp các nơi.
Giọng rao rặt tiếng kim thời,
Rước rước mời mời anh chị mua ăn.
Trẻ già qua lại lăng-xăng,
Nói nói rằng rằng những việc bướm-ong.
Gánh chè bán hết vừa xong,
Điên cũng nói ròng chuyện khổ về sau.
Nói rồi chơn bước mau mau,
560 Lìa xa thiềng-thị đến thì thôn-quê.
Đi đâu cũng bị nhún trề,
Kẻ lại chưởi thề nói: lũ bá-vơ.
Thấy đời tai lấp mắt ngơ,
Lúc ở trên bờ khi lại đi ghe.
Dạo cùng khắp tỉnh Bến-Tre,
Đủ bực thơ vè lìa lại Trà-Vinh.
Tới đây bày đặt hát kình,
Đua nhau bán thuốc mặc tình mua không.
Nói ra những chuyện bông-lông,
570 Trách trong lê-thứ không lòng từ-bi.
Gặp người đói khó khinh-khi,
Điền-viên sự sản ai thì làm cho.
Dạy rồi thuyền lại Mỹ-Tho,
Khuyên trong trần-hạ rán lo tu-trì.
Xưa nay không có mấy khi,
Dương-trần có Phật vậy thì xuống đây.
Chợ quê giáp hết thuyền quay,
Đi trở lộn về Ông-Chưởng giảng dân.
Quản chi nắng Sở mưa Tần,
580 Chèo xuôi chèo ngược mấy lần không thôi.
Thảm thương bá-tánh lắm ôi !
Bồng-Lai Tiên-Cảnh rao rồi một khi.
Nếu ai rảnh việc thì đi,
Còn mắc nợ thì ở lại dương-gian.
Có người xưng hiệu ông Quan,
Tên thiệt Vân-Trường ở dưới dinh Ông.
Thấy đời cũng bắt động lòng,
Ghé vào tệ-xá thẳng xông lên nhà.
Mình người tu-niệm vậy mà,
590 Nói chi lớn tiếng người mà khinh-khi.
Người nhà cảm tạ một khi,
Cúng năm cắc bạc tiền đi Non Bồng.
Xuống thuyền xuôi nước thẳng xông,
Ghé nhà chủ Phối xem lòng Đạo Ba.
Ngồi chơi đạo-lý bàn qua,
Mấy bà có biết lúa mà bay không ?
Có người đạo-lý hơi thông,
Xin Ông bày tỏ cho tôi hiểu rày.
Điên nghe liền mới tỏ bày:
600 Lúa bay về núi dành rày ngày sau.
Hỏi qua tu niệm âm-hao,
Không biết câu nào trái ý Đạo Ba.
Buồn đời Điên mới bước ra,
Tay gay chèo quế dạo thì khắp nơi.
Đi hoài chẳng có nghỉ ngơi,
Miệng cũng rao mời Tiên-cảnh Bồng-Lai.
Có người xuống bến bằng nay,
Mách chơi ít tiếng người rày mạng vong.
Nhà ngươi thiệt chẳng có lòng:
610 Đòi đã hai lần sao chẳng chịu đi ?
Thương đời ta luống sầu-bi,
- Đò đi tới chốn ăn thì bao nhiêu ?
Điên rằng tôi chẳng ham nhiều,
Bao nhiêu tự ý cho nhiều chẳng ham.
Điên nầy bụng chẳng có tham,
Ghe đã chở đầy chật nứt trong mui.
Già đây cũng chở cầu vui,
Vậy chú hãy ngồi ngay chỗ sau đây.
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
Thấy người lòng dạ tà-tây:
620 -Thân tôi làm vầy ông chẳng cho vô ?
Trong mui đã mát lại khô,
Tôi có đủ tiền mà trả cho ông.
Trong mui dòm thấy trống không,
Bước nhầu vào đó máu hồng trào ra.
Cho người hung bạo biết Ta,
Thuyền Người biến mất vậy mà còn chi.
Trở lên Chợ-Mới một khi,
Chèo lên chèo xuống vậy thì cũng rao.
Năm xưa đây có máu đào,
630 Mà nay chưa có người nào chơn tu.
Nào Điên có muốn kiếm xu,
Mà trong trần-hạ đui mù không hay.
Hỏi ông người ở đâu rày,
Trả lời rằng ở Non cày Vua Nghiêu.
Tới đây trong dạ buồn hiu,
Bỏ ghe Điên cũng đánh liều chưa thôi.
Giả ra một Kẻ Hàn Nồi,
Khắp trong hàng xóm đi rồi sạch trơn.
Tới đâu cũng tỏ thiệt hơn,
640 Nhà tôi vốn thiệt có đờn năm dây.
Tôi còn mắc cái nợ nầy,
Nên mới làm vầy cho giải quả-căn.
Nhà tôi đâu phải khó-khăn,
Đem theo trong xách bạc hằng tám mươi.
Nhiều người nghe nói reo cười,
Thân tôi lao-lý anh cười tôi chi ?
Giã từ Chợ-Mới một khi,
Thuyền đi xuôi ngược đến thì Ba-Răng.
Ít ai biết được đạo hằng,
650 Ghé am thầy pháp nói rằng lỡ chơn.
Trước sau bày tỏ nguồn cơn,
Vì thương lê-thứ chi sờn lòng Đây.
Có người lối xóm muốn gây,
Xin sáu trái bắp liền quày xuống ghe.
Ghe Điên vốn thiệt ghe be,
Mà lại Điên nhè nước ngược thẳng xông.
Ra oai thuyền chạy như dông,
Người nhà xuống bến trong lòng ngại nghi.
Ông nầy chẳng biết người chi,
660 Chèo quế vậy thì mạnh bạo quá tay.
Thần Tiên mà chẳng ai hay,
Cứ biếm nhẻ hoài buồn dạ Người Xưa.
Đời nay mỏng tựa màn thưa,
Khuyên trong lê-thứ chẳng thừa một câu.
Thân nầy chẳng nệ mau lâu,
Miễn cho bá-tánh gặp chầu vinh-huê.
Thương trong trần-hạ thảm-thê,
Lao-khổ nhiều bề chớ chẳng còn vui,
Nhiều người nghèo khổ hẩm-hui,
670 Không đất cặm dùi mà chẳng ai thương.
Con thuyền đương lướt gió sương,
Bỗng nghe tiếng khóc tư-lương ai-hoài.
Có người ở xóm bằng nay,
Bị mất trộm rày đồ-đạc sạch trơn.
Du-thần bày tỏ nguồn cơn:
Rằng người nghèo-khó đương hờn phận duyên.
Điên nghe vội-vã quày thuyền,
Dùng khoa coi bói giải phiền phàm nhơn.
Coi rồi bày tỏ thiệt hơn,
680 Khuyên cô đừng giận đừng hờn làm chi.
Rồi đi dạo xóm một khi,
Đi lên nhà thì giã gạo mà chơi.
Vào nhà nói chuyện một hơi,
Gặp người bán thuốc cũng thời ghé vô:
- Mua một ve uống hỡi cô,
Uống vô bổ khoẻ trị nhiều chứng phong.
Uống thì pha nước nóng trong,
Chớ đừng pha rượu nó hòng kỵ thai.
Hai thằng ở xóm bằng nay,
690 Nó nói ngày rày thuốc chẳng có hay.
Người cha đi lại thấy rầy:
-Thiệt mấy đứa nầy cãi-cọ làm chi.
Bước ra nhà nọ một khi,
Đi lên đi xuống kiếm thì xe lôi.
Gặp xe chẳng có lên ngồi,
Chạy trước đi rồi ngừng lại chỗ kia.
Xóm nầy kẻ ghét người ưa,
Ghé vào nhà nọ nhổ bừa cái răng.
Nhổ rồi lui tới lăng-xăng,
700 Liền bước xuống thuyền Thầy Tớ thả trôi.
Vàm-Nao rày đã đến rồi,
Quày thuyền ghé lại bằng nay Chợ-Đình.
Hát hai câu hát huê-tình,
Đậu xem dân chúng Chợ-Đình làm sao.
Sáng ngày chợ nhóm lao-xao,
Giả Bận Áo Màu ai cũng dòm xem.
Mấy thằng trai trẻ thấy thèm,
Đứng xa quanh-quẩn nói gièm với nhau.
Đứa nầy nói để cho tao,
710 Đứa kia xạo-xự áo màu quá ngon.
Nhắc ra động tấm lòng son,
Buồn cho lê-thứ sao còn ham vui.
Ở đây một buổi ghe lui,
Về trên Bảy-Núi ngùi-ngùi thương dân.
Thầy Trò chẳng nại tấm thân,
Rảo khắp Non Tần bận nữa thử coi.
Chơn-tu thì quá ít-oi,
Nhiều người ẩn-sĩ quá lòi tánh tham.
Đi lần ra đến núi Sam,
720 Đến nơi rảo khắp chùa am của người.
Dạy rồi bắt quá tức cười,
Thầy tu nhiều kẻ biếng lười quá tay.
Trẻ già biến hóa ai hay,
Dạo trong Bảy-Núi chẳng nài công lao.
Rú-rừng lúc thấp lúc cao,
Giả ra Nghèo Khó vào nhiều am-vân.
Tu hành nhiều kẻ tham sân,
Làm sao cho đặng mau gần Phật-Tiên.
Ai ai cũng cứ ham tiền,
730 Ấy là đem sợi xích-xiềng trói thân.
Lìa xa Bảy-Núi lần lần,
Xuống thuyền trực chỉ lên gần Hà-Tiên.
Đến đây giả Kẻ Không Tiền,
Rảo khắp thị-thiềng xin-xỏ bá-gia.
Đi rồi cũng quá thiết-tha,
Trở về non cũ đặng mà dạo chơi.
Non Tiên gió mát thảnh-thơi,
Nhưng nhớ việc đời lụy ngọc nhỏ sa.
Xuống trần lúc hát lúc ca,
740 Mà trong lê-thứ có mà biết chi.
Nam-mô hai chữ từ-bi,
Trần-hạ nói gì đây cũng làm thinh.
Tu thời nhàn hạ thân mình,
Phần Điên khuyên nhủ mặc tình ghét ưa.
Thiên-cơ ai dám nói thừa,
Mà trong bá tánh chẳng ưa Điên Khùng.
Xuống thuyền chèo quế thung-dung,
Đi dạy đủ chỗ khắp cùng thử coi.
Rạch-Giá chợ nọ thoi-loi,
750 Gần nơi ven biển cá mòi nhiều hơn.
Tới đây giả Kẻ Có Cơn,
Khi say khi tỉnh lúc hờn số căn.
Dương-trần đi lại lăng-xăng,
Chê chê nhạo nhạo cười rằng quân điên.
Ở đâu mà tới thị-thiềng,
Lính chẳng bắt xiềng nó lại bót đi.
Lòng thương vì tánh từ-bi,
Dạy-dỗ chuyện cùng mà chẳng ai nghe.
Dạy rồi Điên lại xuống ghe,
760 Long-Xuyên, Sa-Đéc nói ròng vè-thơ.
Vợ chồng nghèo khổ bơ-vơ,
Ở nơi giữa chợ lại khờ lại quê.
Buồn trong lê thứ ủ-ê,
Sóc-Trăng chợ ấy thuyền kề đến nơi.
Đến đâu thì cũng tả-tơi,
Nói rõ việc đời sắp khổ sắp lao.
Còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
Thị-thiềng thiên hạ lao-xao,
Chẳng có người nào tu niệm hiền-lương.
Thấy trong trần-hạ thảm thương,
770 Đâu có biết đường chơn chánh mà đi.
Lìa xa đô-thị một khi,
Thuyền-loan trực chỉ đến thì Bạc-Liêu.
Chợ nầy tàn ác quá nhiều,
Phố-phường dân Thổ dân Tiều nhiều hơn.
Đi cùng thành-thị ráo trơn,
Cà-Mau đến đó thiệt hơn tỏ bày.
Cho trong bá-tánh chợ nầy,
Rõ việc dẫy đầy lao-lý về sau.
Đường đi lao-khổ sá bao,
780 Miễn cho trần-hạ biết vào đường tu.
Tu hành đâu có tốn xu,
Mà sau thoát khỏi lao-tù thế-gian.
Thầy Trò lắm cảnh gian-nan,
Chừng nào hết khổ mới an tấm lòng.
Đằng-vân đến tỉnh Gò-Công,
Vì thương dân-thứ mới hòng đến đây.
Xưa kia bão-lụt tỉnh nầy,
Mà sau cảnh khổ xứ nầy gần hơn.
Yêu dân lòng nọ chẳng sờn,
790 Thầy hát Tớ đờn dạy cũng khắp nơi.
Khỏi đây Bà-Rịa tách vời,
Đến đó vậy thời trời mới sáng ra.
Chợ nầy đông-đúc người ta,
Nhiều đuông chà-là lại với nho tươi.
Đến đây Thầy Tớ hóa mười,
Nói nói cười cười bán thuốc Sơn Đông.
Ai ai đều cũng ngóng trông,
Coi lũ khách nầy hát thuật làm sao.
Hát mà trong bụng xáo-xào,
800 Nói chuyện bên Tàu máu đổ tuôn rơi.
Cả kêu dân-chúng hỡi ôi !
Sao không thức tỉnh việc đời gần bên.
Khổ đà đi đến như tên,
Rán lo tu niệm tìm nền vinh-hoa.
Vinh nầy của Đức Phật-Bà,
Của Ông Phật-Tổ ban mà cho dân.
Tu cho nhàn toại tấm thân,
Đừng làm tàn-ác xa lần Tiên bang.
Hát kêu bớ kẻ giàu sang,
810 Rán lo làm phước làm doan mới là.
Đến lâm cảnh khổ có Ta,
Với lịnh Phật Bà cứu vớt giùm cho.
Tu hành phải rán trì mò,
Gặp Lão Đưa Đò đừng có khinh-khi.
Dạy rồi Thầy Tớ liền đi,
Biên-Hòa đến đó vậy thì xem qua.
Đến đây dạy-dỗ gần xa,
Khuyên trong bá tánh vậy mà tỉnh tâm.
Ngày nay gặp Bạn Tri-Âm,
820 Rán mà trì chí đặng tầm huyền-cơ.
Tân-An dạy dỗ kịp giờ,
Chẳng dám chần chờ đi thẳng Tây-Ninh.
Tới đây vừa lúc bình minh,
Điên ra sức giảng mặc tình nghe không.
Giảng rồi Dầu-Một thẳng xông,
Thiềng-thị giáp vòng thứ chót là đây.
Thương dân giảng dạy dẫy-đầy,
Rảo khắp tối ngày chẳng có nghỉ chơn.
Nhiều người hung ác quá chừng,
830 Không biết đời khổ lo mừng lo vui.
Nhắc ra dạ nọ nào nguôi,
Từ đây Lục-Tỉnh đui cùi thiếu chi.
Nói mà trong dạ sầu-bi,
Bá-gia chậm chậm khinh-khi Điên nầy.
Đừng ham nói nọ nói nầy,
Lặng yên coi thử Điên nầy là ai.
Cảm thương Ông Lão Bán Khoai,
Vì yêu dân-chúng chẳng nài nắng mưa.
Câu nầy nhắc chuyện năm xưa,
840 Khuyên trong trần-hạ hãy chừa lòng tham.
Khùng thời quê ngụ núi Sam,
Còn Điên chẳng có chùa am dưới nầy.
Vua Nghiêu xưa mở đất cày,
Ngày nay nhường lại cảnh nầy cho Điên.
Xuống trần dạy-dỗ huyên-thiên,
Dạy rồi thì lại thảm-phiền nhiều hơn.
Cầu xin Phật-Tổ ra ơn,
Lời Điên khuyên nhủ như đờn Bá-Nha.
Thị-thiềng khắp hết gần xa,
850 Từ đây sắp đến quê nhà Điên đi.
Đừng thấy ngu dại mà khi,
Thầy thì Huệ-Lựu, Tớ thì Huệ-Tâm.
Đời cùng còn chẳng mấy năm,
Khắp trong các nước thây nằm bằng non.
Cha thì chẳng thấy mặt con,
Vợ thì chồng chẳng được còn tại gia.
Khuyên trong lê-thứ trẻ già,
Tu hành hiền đức Phật mà cứu cho.
Ấy là quí-báu thơm-tho,
860 Đừng ham gây-gổ nhỏ to làm gì.
Con thì ăn ở nhu-mì,
Học theo luân-lý kính vì mẹ cha.
Sau nầy sấu bắt hùm tha,
Xử người tàn-bạo vậy mà tại đây.
Đời xưa quả-báo thì chầy,
Đời nay quả-báo một giây nhãn tiền.
Dương-trần phải rán làm hiền,
Đừng trọng bạc tiền bỏ nghĩa bỏ nhân.
Người hung phải sửa cái thân,
870 Từ đây có kẻ Du-Thần xét soi.
Chuyện người chớ móc chớ moi,
Hãy treo gương thiện mà soi lấy mình.
Ai thương ai ghét mặc tình,
Phận mình cứ giữ tâm mình cho ngay.
Điên đây vưng lịnh Phương Tây,
Hầu hạ bên Thầy đặng cứu bá-gia.
Thấy đời lòng dạ tây-tà,
Cứ theo chế nhạo cười mà người Điên.
Ngồi buồn kể chuyện huyên-thiên,
880 Chẳng có ham tiền cũng bị ghét vơ.
Viết cho bá-tánh ít tờ,
Đi làm ruộng rẫy bỏ hờ theo xem.
Thương người nghèo khổ lấm-lem,
Thấy cảnh sung-sướng nó thèm quá tay.
Ai mà biết đặng ngày mai,
Ngày nay yên-tịnh ngày mai thảm-sầu.
Từ rày gặp cảnh buồn rầu,
Cho người tàn-bạo cứng đầu khinh-khi.
Dương-trần nay đáng sầu-bi,
890 Nên Điên mới nói chuyện ni tỏ tường.
Đêm ngày tưởng Phật cho thường,
Phải rán lo-lường kim-chỉ từ đây.
Thương đời Điên mới tỏ bày,
Dạy trong trần-hạ ngày rày rán nghe.
Đừng khi nhà lá chòi tre,
Nhà săng cột lớn bù-xè hay ăn.
Lúc nầy Điên mắc lăng-xăng,
Dương trần biết đặng đạo-hằng mới thôi.
Chẳng ham cúng kiếng chè xôi,
900 Phật Trời chẳng muốn điều tồi ấy đâu.
Muốn cho dân hiểu Đạo-mầu,
Chớ không có muốn chùa lầu cho cao.
Bao nhiêu cũng biết vàng thau,
Dạy khôn trần-thế chớ nào dạy ngu.
Sáng ngày con chó sủa tru,
Chừng heo cắn ổ hiềm thù mới yên.
Đừng ham giành-giựt của tiền,
Người hung hay gọi kẻ hiền rằng ngu.
Nay Điên chỉ rõ đường tu,
910 Ấy là đủ việc tài bù cho dân.
Thôi thôi nói riết dần lân,
912 Tới đây cũng lần ngừng lại bút nghiên.
NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT
BỬU châu công luyện chốn non Tần,
SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.
(Hiệu chính:
[1] Ghi theo ấn bản 1966: “Tiếng quyển tiếng kèn mặc ý bá-gia.” Tiếng quyển (từ cũ): âm hưởng du dương réo rắt của tiếng sáo.
Ấn bản 1958 ghi: “Tiếng huyễn tiếng kèn mặc ý bágia.”)
còn tiếp
-
QUYỂN NHÌ
Kệ Dân
Của Người Khùng
(Ðây là quyển thứ nhì mà Ðức Thầy
đã viết trong năm Kỷ-Mão 1939
tại Hòa-Hảo, dài 476 câu)
Ngồi KHÙNG trí đoái nhìn cuộc thế
Thấy dân mang sưu thuế mà thương.
Chẳng qua là Nam-Việt vô vương,
Nên tai-ách xảy ra thảm-thiết.
Bạc không cánh đổi thay chẳng biết,
Vàng bị nghèo mấy chiếc chẳng còn.
Mới mấy năm sao quá hao-mòn,
Mùa-màng thất, đói đau không thuốc.
Thương hại bấy lê-dân đứt ruột,
010 Thảm vợ con đói rách đùm-đeo.
Gẫm chữ nghèo thường mắc chữ eo,
Thêm gạo lúa lại tăng giá mắc.
Nhìn cuộc thế đổi thay quá gắt,
Máy Thiên-cơ mỗi phút mỗi thay.
Nẻo thạnh suy như thể tên bay,
Đường vinh-nhục rủi may một lát.
Ai phú-quí vào đài ra các,
Ta Điên Khùng thương hết thế-trần.
Khuyên chúng-sanh chẳng biết mấy lần,
020 Nào ai có tỉnh tâm tìm Đạo.
Trai trung-liệt đáng trai hiền-thảo,
Gái tiết-trinh mới gái Nam-trào.
Lời Thánh Hiền để lại biết bao,
Sao trai gái chẳng coi mà sửa ?
Đời tận thế mà còn lần-lựa,
Chẳng chịu mau cải dữ về lành.
Làm Phật-Nhi phải được lòng thành,
Thì mới đặng vãng-sanh Cực-Lạc.
Tương với muối cháo rau đạm bạc,
030 Nghèo lương hiền biết niệm Di-Đà.
Mà mai sau thoát khỏi tinh ma,
Lại được thấy cảnh Tiên nhàn-hạ.
Trên Bảy Núi còn nhiều báu lạ,
Rán tu tâm dưỡng tánh coi đời.
Coi là coi được Phật được Trời,
Coi phép lạ của Tiên của Thánh.
Cuộc dương-thế ngày nay mỏng-mảnh,
Mà sang giàu còn hiếp nghèo nàn.
Phải xả thân tầm Bát-Nhã thoàn,
040 Sau mới khỏi hùm tha sấu bắt.
Đến chừng đó bốn phương có giặc,
Khắp hoàn-cầu thiết thiết tha tha.
Vậy sớm mau kiếm chữ Ma-Ha,
Thì Phật cứu khỏi nơi khói lửa.
Tưởng nhớ Phật như ăn cơm bữa,
Vọng Cửu-Huyền sớm tối mới mầu.
Chữ Nam-Mô dẹp được lòng sầu,
Sau thấy được nhà Tiên cửa Thánh.
Ghét những đứa giàu-sang kiêu-hãnh,
050 Thương những người đói rách cơ-hàn.
Cảnh phồn-hoa khó sánh lâm-san,
Sau sẽ có nhiều điều vinh-hạnh.
Cõi trần-thế hết suy tới thạnh,
Hết lâm nguy đến lúc khải-hoàn.
Tuy tu hành chịu chữ nghèo-nàn,
Sau đắc đạo gặp điều cao-quí.
Mặc bá-tánh đời nầy dị-nghị,
Ta Điên Khùng mà tánh lương-hiền.
Lòng yêu dân chẳng trọng bạc tiền,
060 Mà dương-thế cứ theo biếm nhẻ.
Sau lập Hội thì già hóa trẻ,
Khắp hoàn-cầu đổi xác thay hồn.
Đức Ngọc-Hoàng mở cửa thiên-môn,
Đặng ban thưởng Phật Tiên với Thánh.
Khuyên trai gái học theo Khổng-Mạnh,
Sách Thánh Hiền dạy Đạo làm người.
Xem truyện thơ chẳng biết hổ-ngươi,
Mà làm thói Điêu-Thuyền, Lữ-Bố.
Sau kẻ ấy làm mồi mãnh-hổ,
070 Cảnh Núi-Non nhiều thú dị-kỳ.
Nó trọng ai hiền-đức nhu-mì,
Sát phạt kẻ bội cha phản chúa.
Đến chừng đó thiên-la lưới bủa,
Mới biết rằng Trời Phật công-bằng.
Nếu dương trần sớm biết ăn-năn,
Làm hiền-đức khỏi đường lao-lý.
Học tả-đạo làm điều tà-mị,
Theo dị-đoan cúng kiếng tinh-tà.
Thì sau nầy gặp chuyện thiết-tha,
080 Đừng có trách Khùng Điên chẳng cứu.
Thấy-bá tánh nghinh tân yểm cựu,
Học ai mà ngang-ngược nhiều lời.
Phụ mẹ cha khinh-dể Phật Trời.
Chẳng có kể công sanh dưỡng-dục.
Thương lê-thứ bày tường trong đục,
Mặc ý ai nghe phải thì làm.
Lời của người di-tịch Núi-Sam,
Chớ chẳng phải bày điều huyễn-hoặc.
Cảnh Thiên-Trước thơm-tho nồng-nặc,
090 Chẳng ở yên còn xuống phàm-trần.
Ấy vì thương trăm họ vạn dân,
Nên chẳng kể tấm thân lao-khổ.
Giả Quê Dốt khuyên người tỉnh-ngộ,
Giả Bán Buôn thức giấc người đời.
Rằng ngày nay có Phật có Trời,
Kẻo dân-thứ nhiều người kiêu-ngạo.
Xuống mượn xác nhằm năm Kỷ-Mão,
Buồn xóm làng cứ ghét Điên Khùng.
Nếu trẻ già ai biết thì dùng,
100 Chẳng có ép có nài bá-tánh.
Nghe Điên dạy sau nầy thơi-thảnh,
Đây chỉ đường Cực-Lạc vãng-sanh.
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
Đừng có ham lên mặt hùng-anh,
Sa địa ngục uổng thân uổng kiếp.
Theo đạo-lý nhứt tâm mới kịp,
Ngày nay đà gặp dịp tu-hành.
Niệm Di-Đà rán niệm cho rành,
Thì mới được sống coi Tiên-Thánh.
Đức Minh-Chúa chẳng ai dám sánh,
110 Xưa mạt Thương phụng gáy non Kỳ.
Bởi Võ-Vương đáng bực tu-mi,
Nay trở lại khác nào đời trước.
Kẻ gian-ác bị gươm ba thước,
Nơi pháp-tràng trị kẻ hung-đồ.
Được thảnh-thơi nhờ chữ Nam-Mô,
Khuyên bổn-đạo rán mà trì-chí.
Xưa Tây-Bá thất-niên Dũ Lý,
Huống chi ta sao khỏi tiếng đời.
Dòm biển trần cảnh khổ vơi vơi,
120 Lao với khổ, khổ lao chẳng xiết.
Ghét bạo-chúa là xưa Trụ Kiệt,
Mất cơ-đồ lại bị lửa thiêu.
Thương Minh-Vương bắt chước Thuấn Nghiêu,
Lòng hiền đức nào ai có biết.
Thương trần-thế kể sao cho xiết,
Mượn xác trần bút tả ít hàng.
Kể rõ ràng những việc lầm-than,
Mặc làng xóm muốn nghe thì chép.
Việc tu-tỉnh Khùng không có ép,
130 Cho giấy vàng Điên chẳng có nài.
Lòng yêu dân chẳng nệ vắn dài,
Cho bổn-đạo giải khuây niệm Phật.
Việc xảy đến Đây truyền sự thật,
Ấy là lời của Phật giáo-khuyên.
Rán nghe lời của kẻ Khùng-Điên,
Phật, Tiên, Thánh hãy nên trọng kỉnh.
Bịnh ôn-dịch cũng đừng mời thỉnh,
Cõi ngũ-hành chẳng khá réo-kêu.
Hãy gìn lòng chớ khá dệt-thêu,
140 Nói xiên-xỏ cũng không no béo.
Đời Nguơn-Hạ ngày nay mỏng-mẻo,
Khuyên thế-trần hãy rán kiêng-dè.
Mặc tình ai lên ngựa xuống xe,
Ta chẳng có ham nơi phú-quí.
Trong bổn-đạo từ nay kim-chỉ,
Đói với nghèo sắp đến bây giờ.
Vì thương đời nên Lão kể sơ,
Cho bá-tánh rõ lời châu ngọc.
Nước Nam-Việt ai là thằng ngốc,
150 Người đời nay như ốc mượn hồn.
Chim tìm cây mới gọi chim khôn,
Người hiền-đức mới là người trí.
Theo Phật-Giáo sau nầy cao-quí,
Được nhìn xem Ngọc-Đế xử phân.
Lại dựa kề Bệ-Ngọc Các-Lân,
Cảnh phú quí nhờ ơn Phật-Tổ.
Thấy bá-tánh nhiều điều tai-khổ,
Khùng thương dân nên phải hết lời.
Dạo Lục-Châu chẳng có nghỉ-ngơi,
160 Mà lê-thứ nào đâu có biết.
Dạy Đạo chánh vì thương Nam-Việt,
Ở Cao-Miên vì mến Tần-Hoàng.
Trở về Nam đặng có sửa-sang,
Cho thiện-tín đuợc rành chơn-lý.
Trong Sáu-Tỉnh nhiều điều tà-mị,
Tu-hành mà vị-kỷ quá chừng.
Thì làm sao thoát khỏi trầm-luân,
Khuyên bổn-đạo rán tầm nẻo chánh.
Chừng lập Hội xác thân mới rảnh,
170 Nếu không thời khó thấy Phật Trời.
Khùng dạy dân chẳng dám nghỉ-ngơi,
Đi chẳng kể tấm thân già cả.
Cảnh trần-thế mặc ai thong-thả,
Chớ lòng ta chẳng đắm hồng-trần.
Có thân thì rán giữ lấy thân,
Để đến việc ăn-năn chẳng kịp.
Yêu những kẻ tâm đầu ý hiệp,
Mến những ai biết kiếm Đạo-mầu.
Cảnh Tây-Thiên báu ngọc đầy lầu,
180 Rán tu tỉnh tìm nơi an dưỡng.
Kẻ hiền-đức sau nầy được hưởng,
Phép Thần-Linh của Đức Di-Đà.
Lại được thêm thoát khỏi Ta-Bà,
Khỏi luân chuyển trong vòng Lục Đạo.
Đức Diêm-Chúa yêu người hiền thảo,
Trọng những ai biết niệm Di-Đà.
Lại được gần Bệ-Ngọc Long-Xa,
Coi chư quốc tranh-giành châu-báu.
Trai nhỏ tuổi kính thành trưởng lão,
190 Gái bé thơ biết trọng tuổi già.
Rán tỉnh tâm dẹp được lòng tà,
Thì được thấy Phật, Tiên, Thần, Thánh.
Việc hung-dữ hãy nên xa lánh,
Theo gương hiền trau sửa làm người.
Sau tà-tinh ăn sống nuốt tươi,
Mà bá-tánh chẳng lo cải thiện.
Miệng dương-thế hay bày nói huyễn,
Sách Thánh Hiền ghét kẻ nhiều lời.
Khuyên chúng-sanh niệm Phật coi đời,
200 Cõi Hạ-Giái rồng mây chơi giỡn.
Ở chòm-xóm đừng cho nhơ-bợn,
Rán giữ gìn phong-hóa nước nhà.
Câu tam-tùng bọn gái nước ta,
Chữ hiếu-nghĩa trẻ trai cho vẹn.
Ghét những kẻ có ăn bỏn-sẻn,
Thương những người đói rách lương hiền.
Muốn tu-hành thì phải cần-chuyên,
Tưởng nhớ Phật chớ nên sái buổi,
Kẻ phú-quí đừng vong cơm nguội.
210 Sau đói lòng chẳng có mà dùng.
Ta yêu đời than-thở chẳng cùng,
Mà bá-tánh chẳng theo học hỏi.
A-Di-Đà nhìn xem khắp cõi,
Đặng trông chờ mong-mỏi chúng-sanh.
Hiện hào-quang ngũ sắc hiền lành,
Đặng tìm kiếm những người hiền-đức.
Kẻ tâm-trí mau mau tỉnh-thức,
Kiếm Đạo-mầu đặng có hưởng nhờ.
Chốn hồng-trần nhiều cảnh nhuốc-nhơ,
220 Rán hiểu rõ huyền-cơ mà tránh.
Chốn tửu-điếm ta nên xa lánh,
Tứ-đổ-tường đừng có nhiễm vào.
Người tránh xa mới gọi trí cao,
Sa bốn vách mang điều nhơ-nhuốc.
Muốn tu tỉnh nay đà gặp cuộc,
Đức Di-Đà truyền mở Đạo lành.
Bởi vì Ngài thương xót chúng-sanh,
Ra sắc lịnh bảo Ta truyền dạy.
Nên khổ-lao Khùng không có nại,
230 Miễn cho đời hiểu đặng Đạo-mầu.
Ai muốn tầm Đạo cả cao sâu,
Thì hãy dẹp tánh tình ích-kỷ.
Mau trở lại đừng theo tà-quỉ,
Tham, Sân, Si chớ để trong lòng.
Phải giữ lòng cho được sạch-trong,
Mới thoát khỏi trong vòng bịnh khổ.
Lớp đau chết kể thôi vô số,
Thêm tà-ma yêu-quái chật đường.
Chốn hồng-trần nhiều nỗi thảm-thương,
240 Làm sao cứu những người hung-ác.
Khắp thế-giới cửa nhà tan-nát,
Cùng xóm làng thưa-thớt quạnh-hiu.
Bấy lâu nay nuôi dưỡng chắt-chiu,
Nay tận-diệt lập đời trở lại.
Khắp lê-thứ biến vi thương-hải,
Dùng phép-mầu lập lại Thượng-Nguơn.
Việc Thiên-Cơ Khùng tỏ hết trơn,
Cho trần-hạ tường nơi lao-lý.
Lão nào có bày điều ma-mị,
250 Mà gạt-lường bổn-đạo chúng-sanh.
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
Đức Minh-Vương ngự chốn Nam-Thành,
Đặng phân xử những người bội nghĩa.
Trung với hiếu ta nên trau-trỉa,
Hiền với lương bổn-đạo rèn lòng.
Thường nguyện-cầu siêu-độ Tổ-Tông,
Với bá-tánh vạn dân vô sự.
Đời Nguơn-Hạ nhiều người hung-dữ,
Nên xảy ra lắm sự tai-ương.
Đức Di-Đà xem thấy xót-thương,
260 Sai chư Phật xuống miền dương-thế.
Tu kíp kíp nếu không quá trễ,
Chừng đối đầu khó kiếm Điên Khùng.
Cứu lương-hiền chẳng cứu người hung,
Kẻ gian-ác đến sau tiêu-diệt.
Nay trở lại như đời Trụ Kiệt,
Hãy tu nhơn chớ có tranh-giành.
Tuy nghèo hèn mà chí cao-thanh,
Được hồi-phục nhờ ơn chư Phật.
Hãy thương-xót những người tàn-tật,
270 Thấy nghèo hèn chớ khá khinh cười.
Trên Năm-Non rồng phụng tốt-tươi,
Miền Bảy-Núi mà sau báu-quí.
Mặc trai gái trẻ già có nghĩ,
Thì khoan cười tôi rất cám ơn.
Khùng ra đời truyền dạy thiệt hơn,
Chư bổn-đạo chớ nên khinh rẻ.
Nay Khùng đã hết già hóa trẻ,
Nên giữa đồng bỗng lại có sông.
Ở Tây-Phương chư Phật ngóng trông,
280 Chờ bá-tánh rủ nhau niệm Phật.
Làm nhơn-ái ắt tiêu bệnh-tật,
Vậy hãy mau tầm Đạo Thích-Ca.
Phật tại tâm chớ có đâu xa,
Mà tìm kiếm ở trên Non-Núi.
Chúng đục-đẽo những cây với củi,
Đắp xi-măng sơn phết đặt tên.
Ngục A-Tỳ dựa kế một bên,
Chờ những kẻ tu hành giả-dối.
Khuyên sư-vãi mau mau cải-hối,
290 Làm vô-vi chánh Đạo mới mầu.
Đạo Thích-Ca nhiều nẻo cao sâu,
Hãy tìm kiếm cái không mới có.
Ngôi Tam-Bảo hãy thờ Trần-Đỏ,
Tạo làm chi những cốt với hình.
Khùng nói cho già trẻ làm tin,
Theo Lục-Tổ chớ theo Thần-Tú.
Khuyên bổn-đạo chớ nên mê ngủ,
Thức dậy tìm Đạo chánh của Khùng.
Đặng sau xem liệt quốc tranh hùng,
300 Được sanh sống nhờ ơn Chín-Bệ.
Hóa phép lạ biết bao mà kể,
Chín từng mây nhạc trổi tiêu thiều.
Kẻ tà-gian sau bị lửa thiêu,
Người tu niệm sống đời thượng-cổ.
Khùng vưng lịnh Tây-Phương Phật-Tổ,
Nên giáo-truyền khắp cả Nam-Kỳ.
Hội Long-Hoa chọn kẻ tu-mi,
Người hiền đức đặng phò chơn Chúa.
Khuyên những kẻ giàu sang có của,
310 Hãy mở lòng thương-xót dân nghèo.
Cảnh vinh-hoa lại quá cheo-leo,
Nhà giàu có sau nhiều tai-ách.
Hỡi bá-tánh rừng sâu có mạch,
Tuy u-minh mà có đền vàng.
Lịnh Quan-Âm dạy biểu Khùng troàn,
Cho bổn-đạo rõ nguồn chơn-lý.
Lũ thầy-đám hay bày trò khỉ,
Mượn kinh luân tụng mướn lấy tiền.
Chốn Diêm-Đình ghi tội liên-miên,
320 Mà tăng-chúng nào đâu có rõ.
Theo Thần-Tú tạo nhiều chuông mõ,
Từ xưa nay có mấy ai thành ?
Phật từ-bi độ tử độ sanh,
Là độ kẻ hiền-lương nhơn-ái.
Xá với phướn là trò kỳ-quái,
Làm trai-đàn che miệng thế-gian.
Kẻ vinh-hoa phú-quí giàu sang,
Mướn tăng-chúng đặng làm chữ hiếu.
Thương bá-tánh vì không rõ hiểu,
330 Tưởng vậy là nhơn nghĩa vẹn tròn.
Thấy lạc-lầm Đây động lòng son,
Khuyên bổn-đạo hãy nên tỉnh-ngộ.
Ở dương-thế tạo nhiều cảnh khổ,
Xuống huỳnh-tuyền Địa-Ngục khảo hình.
Tuy lưới Trời thưa rộng thinh-thinh,
Chớ chẳng lọt những người hung-ác.
Khi nhắm mắt hồn lìa khỏi xác,
Quỉ Vô-Thường dắt xuống Diêm-Đình.
Sổ sách kia tội phước đinh-ninh,
340 Phạt với thưởng hai đường tỏ rõ.
Tìm Cực-Lạc, Đây rành đường ngõ,
Hãy mau mau tu tỉnh mới mầu.
Tận thế-gian còn có bao lâu,
Mà chẳng chịu làm tròn nhân-đạo.
Kẻ nghèo khó hụt tiền thiếu gạo,
Mở lòng nhơn tiếp rước mới là.
Làm hiền-lành hơn tụng hơ-hà,
Hãy tưởng Phật hay hơn ó-ré.
Đã chánh Đạo thêm còn sức khỏe,
350 Đặng nuôi cha dưỡng mẹ cho tròn.
Vẹn mười ơn mới đạo làm con,
Lúc sanh sống chớ nên phụ-bạc.
Nếu làm đám được về Cực-Lạc,
Thì giàu sang được trọn hai bề.
Ỷ tước-quyền làm ác ê-hề,
Khi bỏ xác nhiều tiền lo-lót.
Kinh với sám tụng nghe thảnh-thót,
Lũ nhưn-bông tập luyện đã rành.
Đẩu với đờn, kèn, trống, nhịp sanh,
360 Làm ăn rập đặng đòi cao giá.
Tâm trần-tục còn phân nhơn ngã,
Thì làm sao thoát khỏi luân-hồi.
Những giấy-tiền vàng-bạc cũng thôi,
Chớ có đốt tốn tiền vô lý.
Xưa Thần-Tú bày điều tà-mị,
Mà dắt-dìu bá-tánh đời Đường.
Thấy chúng-sanh lầm lạc đáng thương,
Cõi Âm-Phủ đâu ăn của hối.
Đúc Phật lớn chùa cao bối-rối,
370 Mà làm cho Phật-Giáo suy đồi.
Tu Vô-Vi chớ cúng chè xôi,
Phật chẳng muốn chúng-sanh lo lót.
Tăng với chúng ưa ăn đồ ngọt,
Nên bày ra cúng kiếng hoài hoài.
Ỷ nhiều tiền chẳng biết thương ai,
Cúng với lạy khó trừ cho đặng.
Kẻ nghèo khó tu hành ngay thẳng,
Không cầu siêu Phật bỏ hay sao ?
Lập trai đàn chạy-chọt lao xao,
380 Bôi lem mặt làm tuồng hát Phật.
Nay nhằm lúc mùa màng ngập thất,
Vậy hãy mau bỏ bớt dị-đoan.
Rán giữ-gìn luân-lý tam cang,
Tròn đức-hạnh mới là báu-quí.
Nay gần đến long phi xà vĩ,
Cảnh gian-nan bá-tánh hầu kề.
Thấy chúng sanh còn hỡi say mê,
Khùng chỉ rõ đường tà nẻo chánh.
Ta là kẻ vô hình hữu ảnh,
390 Ẩn xác phàm gìn đạoThích-Ca.
Làm gian ác là quỉ là ma,
Làm chơn chánh là Tiên là Phật.
Hiếm những kẻ không nhà không đất,
Mà sang giàu chẳng xót thương giùm.
Có lỡ-lầm chưởi mắng um-sùm,
Thêm đánh đập khác nào con vật.
Ăn không hết lo dành lo cất,
Đem bạc trăm cúng Phật làm chi ?
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
Phật Tây-Phương vốn tánh từ-bi,
400 Đâu túng thiếu mà quơ mà tởi.
Khùng cả tiếng kêu dân ơi hỡi,
Hãy giúp cho kẻ đói mới nhằm.
Đến loạn-ly khổ hạnh khỏi lâm,
Còn hơn đúc chuông đồng Phật bự.
Chẳng làm phước để làm hung dữ,
Rồi vào chùa lạy Phật mà trừ.
Phật Tây-Phương có lẽ hiểu dư,
Dụng tâm ý chớ không dụng vật.
Muốn bổn-đạo tánh tình chơn-chất,
410 Rèn lòng hiền thương xót lẫn nhau.
Kể từ rày vàng lộn với thau,
Phật, Tiên, Thánh cùng nhau xuống thế.
Cứu bá-tánh không cần lễ mễ,
Để dắt-dìu đạo lý rành đường.
Nước Nam-Việt nhằm cõi Trung-Ương,
Sau sẽ có Phật Tiên tại thế.
Khuyên sư vãi bớt dùng của thế,
Gắng công tu đặng có xem đời.
Tu thật tâm thì được thảnh-thơi,
420 Tu giả-dối thì lao thì lý,
Khùng khuyên hết kẻ ngu người trí,
Rán tĩnh tâm suy nghĩ Đạo-mầu.
Chuyện huyền-cơ bí-hiểm cao sâu,
Hãy nghiệm xét hai đường tà chánh.
Các chư Phật không khi nào rảnh,
Tâm từ-bi vẫn nhớ chúng-sanh.
Các chư Thần tuần vãng năm canh,
Về Thượng-Giái tâu qua Thượng-Đế.
Sổ tội ác thì vô số kể,
430 Còn làm nhơn thì quá ít-oi.
Hội công-đồng xem xét hẳn-hòi,
Sai chư tướng xuống răn trần-thế.
Đau nhiều chứng dị-kỳ khó kể,
Sắp từ nay lao-khổ đến cùng.
Kẻ dương gian khó nổi thung-dung,
Người bạo ác không toàn tánh mạng.
Đường đạo-lý chớ nên chán-nản,
Hãy bền lòng tầm Phật trong tâm.
Phật Tây-Phương thiệt quá xa-xăm,
440 Phải tìm kiếm ở trong não trí.
Sau đến việc sơn băng kiệt thủy,
Khùng thảm thương bá-tánh quá chừng.
Nhìn xem trần nước mắt rưng-rưng,
Cảnh áo-não kể sao cho xiết.
Ta dạy dỗ là vì tình thiệt,
Cho bá-gia rõ biết người Khùng.
Thấy dương-trần làm dữ làm hung,
Nên khuyên nhủ cho người lương-thiện.
Chữ Lục-Tự trì tâm bất viễn,
450 Thì lâm nguy có kẻ cứu mình.
Ai lòng nhơn hoặc chép hay in,
Mà truyền bá đặng nhiều phước-đức.
Trong bá-tánh từ nay buồn bực,
Khùng yêu dân chỉ rõ Đạo mầu.
Rán trì tâm tưởng niệm canh thâu,
Nằm đi đứng hay ngồi chẳng chấp.
Việc biến chuyển Thiên-Cơ rất gấp,
Khuyên chúng-sanh hãy rán tu hành.
Cầu linh-hồn cho được vãng-sanh,
460 Đây chỉ rõ đường đi nước bước.
Hãy tưởng Phật đừng làm bạo ngược,
Ta phần hồn dạo khắp thế-gian.
Vào xác-trần nước mắt chứa-chan,
Khắp lê-thứ nghe lời thì ít .
Chốn sơn-lãnh bây giờ mù mịt,
Cho nên dân dạy chẳng nghe lời.
Kể từ nay nói chuyện chiều mơi,
Chớ chẳng nói dông dài khó hiểu.
Cờ đã thất còn chờ nước chiếu,
470 Mà còn ăn con chốt làm chi.
Ai là người quân-tử tu mi ?
Phải sớm xử thân mình cho vẹn.
Còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
Chừng lập Hội khỏi thùa khỏi thẹn,
Với Phật-Tiên cũng chẳng xa chi.
Lời cao-siêu khuyên hãy gắn ghi,
476 Ta ra sức dắt-dìu bá-tánh.
NAM-MÔ TAM-GIÁO QUI NGUƠN
PHỔ-ĐỘ CHÚNG-SANH A-DI-ĐÀ PHẬT
BỬU ngọc vãng lai rõ Ðạo-mầu,
SƠN tầm hạnh Thích nẻo cao sâu.
KỲ giả thức tâm tìm Ðạo-lý,
HƯƠNG tuyệt đăng lui bãi phục cầu.
Nam Mô A Di Đà Phật
-
QUYỂN BA
SÁM GIẢNG
(Ðây là quyển thứ ba mà Ðức Thầy đã viết năm 1939 tại Hòa-Hảo, dài 612 câu)
Ngồi trên đảnh núi liên đài,
Tu hành tầm Đạo một mai cứu đời.
Lan-thiên một cõi xa chơi,
Non cao đảnh thượng thảnh-thơi vô cùng.
Hiu hiu gió thổi lạnh-lùng,
Phất-phơ liễu yếu lạnh-lùng tòng mai.
Mùa xuân hứng cảnh lầu đài,
Lúc còn xác thịt thi tài hùng-anh.
Tứ vi mây phủ nhiễu đoanh,
010 Bồng-Lai một cõi hữu danh chữ đề.
Kể từ Tiên cảnh Ta về,
Non Bồng Ta ở dựa kề mấy năm.
Dạo chơi tầm bực tri-âm,
Nay vì thương chúng trần-gian phản hồi.
Nghĩ mình trong sạch đã rồi,
Đào tiên tạm thực về ngồi cõi xa.
Phong-trần tâm đã rời ra,
Ngọc-Thanh là hiệu ai mà dám tranh.
Ngày ra chơi chốn rừng xanh,
020 Tối về kinh kệ cửi canh mặc người.
Xuống trần lỡ khóc lỡ cười,
Ham vui đào mận vuông tròn chẳng xong.
Chừng nào sấu nọ hóa long,
Trần-gian mới rõ tấm lòng Thần-Tiên.
Thương đời ta mượn bút nghiên,
Thở-than ít tiếng giải phiền lòng son.
Bắt đầu cha nọ lạc con,
Thân Nầy thương chúng hao mòn từ đây.
Minh-Hoàng chưa ngự đài mây,
030 Gẫm trong thế-sự còn đầy gian-truân.
Đò đưa cứu kẻ trầm-luân,
Đặng chờ vận đến mới mừng chúa tôi.
Thảm-thương thế sự lắm ôi,
Dẫy-đầy thê-thảm lắm hồi mê ly.
Dạo chơi Lục-Tỉnh một khi,
Rước đưa người tục tu-trì xa khơi.
No chiều rồi lại đói mơi,
Dương-trần sắp vướng bịnh Trời từ đây.
Khuyên trần sớm liệu bắp khoai,
040 Cháo rau đỡ dạ tháng ngày cho qua.
Nhắn cùng bổn-đạo gần xa,
Tu hành trì chí mới là liễu mai.
Nguyện cầu qua khỏi nạn tai,
Đặng coi Tiên-Thánh lầu-đài quốc-vương.
Niệm Phật nào đợi mùi hương,
Miễn tâm thành-kính tòa-chương cũng gần.
Lao-xao bể Bắc non Tần,
Quân Phiên tham báu xa gần cũng qua.
Tranh phân cho rõ tài ba,
050 Cùng nhau giành-giựt mới là thây phơi.
Khổ-lao đà sắp đến nơi,
Thế-gian bớt miệng kêu mời cõi âm.
Dầu cho có ở xa-xăm,
Cũng là rán tới viếng thăm dương-trần.
Ngũ-Hành cùng các chư Thần,
Từ đây sắp đến xuống gần chúng-sanh.
Chuông kia treo sợi chỉ mành,
Chẳng lo thân phận lo giành bướm ong.
Hiếu-trung hãy liệu cho xong,
060 Đến chừng gặp Chúa mới mong trở về.
Bây giờ kẻ Sở người Tề,
Hiền-lương đến Hội cũng kề với nhau.
Phật Trời chẳng luận nghèo giàu,
Ai nhiều phước đức được vào cõi Tiên.
Hữu phần thì cũng hữu duyên,
Sửa tâm hiền-đức cõi Tiên cũng gần.
Ta mang mình thịt xác trần,
Ra tay dắt chúng được gần Bồng-Lai.
Mai sau nhiều cuộc đất cày,
070 Đua nhau mà chạy lầu đài cũng xa.
Lập rồi cái Hội Long-Hoa,
Đặng coi hiền-đức được là bao nhiêu.
Gian-tà hồn xác cũng tiêu,
Thảm-thương bá-tánh chín chiều ruột đau.
Mặc ai tranh luận thấp cao,
Thương trong lê thứ xáo-xào từ đây.
Chinh chinh bóng xế về tây,
Đoái nhìn trần-thế xác thây ê-hề.
Thương trần Ta cũng rán thề,
080 Đặng cho bá-tánh liệu bề tu thân.
Tu hành chẳng được đức ân,
Thì Ta chẳng phải xác thân người đời.
Phật truyền Ta dạy mấy lời,
Đặng cho trần-thế thức thời tu-thân.
Nào là luân lý Tứ-Ân,
Phải lo đền đáp xác thân mới còn.
Ai mà sửa đặng vuông tròn,
Long-Vân đến hội lầu son dựa kề.
Thương đời văn-vật say mê,
090 Làm điều gian-ác thảm-thê sau nầy.
Kể từ hầu hạ bên Thầy,
Vào ra chầu-chực đài mây cũng gần.
Tuy là nương dựa non Tần,
Ngày sau thế cuộc xoay vần về Nam.
Qua sông nhờ được cầu Lam,
Tu hành nào đợi chùa am làm gì.
Bây giờ bạc lộn với chì,
Nữa sau lọc lại vít tì cũng chê.
Bớ dân chớ có say mê,
100 Trung-lương chánh-trực dựa kề đài mây.
Mảng lo gây gổ tối ngày,
Chẳng lo rèn đúc trí tài hiền-lương.
Thân Nầy ăn tuyết nằm sương,
Chẳng than chẳng thở vì thương thế-trần.
Theo Thầy giảng dạy nhiều lần,
Còn tiếp
NAm Mô A Di Đà Phật
-
Dương-gian nào biết thế-trần nào hay.
Cầu cho dân khỏi nạn tai,
Qua nơi khổ-não mặc ai chê cười.
Bạc đâu dám sánh vàng mười,
110 U-mê mà lại chê cười Thần Tiên.
Giã-từ sơn-lãnh lâm-tuyền,
Về đây hội hiệp sạ duyên tớ Thầy.
Ở rừng bạn với cáo-cầy,
Bây giờ xuống thế cáo-cầy lìa xa.
Thiên-cơ biến đổi can qua,
Gẫm trong thế-giới còn đôi ba phần.
Mau mau kíp kíp chuyên cần,
Chúng sanh còn có lập thân hội nầy.
Tuần huờn Thiên-Địa đổi xây,
120 Cảm thương trần-hạ lòng Đây chẳng sờn.
Cũng còn kẻ ghét người hờn,
Vì không rõ hiểu sạ duơn của Thầy.
Hổ-lang ác-thú muôn bầy,
Lớp bay lớp chạy sau nầy đa-đoan.
Ai mà ăn ở nghinh-ngang,
Đón đường nó bắt xé tan xác hồn.
Chữ rằng họa phước vô môn,
Đáo đầu cũng phải xác hồn tiêu tan.
Khuyên người hữu phước giàu sang,
130 Mau mau làm phước làm doan cho rồi.
Để sau khó đứng khôn ngồi,
Thương nhà tiếc của biết hồi nào nguôi.
Ai mà ăn ở ngược xuôi,
Bị nơi rắn rít chẳng vui đâu là.
Rắn to tên gọi mãng-xà,
Trên rừng nó xuống nó tha dương-trần.
Ai mà tu tỉnh chuyên cần,
Làm đường ngay thẳng có Thần độ cho.
Thương đời hết dạ cần lo,
140 Chẳng lo niệm Phật nhỏ to làm gì.
Tu là: tâm trí nhu mì,
Tu hiền tu thảo vậy thì cho xong.
Tu cầu cứu vớt Tổ-Tông,
Với cho bá-tánh máu hồng bớt rơi.
Tu cầu cha mẹ thảnh-thơi,
Quốc-vương thủy-thổ chiều mơi phản-hồi.
Tu đền nợ thế cho rồi,
Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen.
Người tu phải lánh hơi men,
150 Đừng ham sắc lịch lắm phen lụy mình.
Tu là sửa trọn ân tình,
Tào-khang chồng vợ bố-kình đừng phai.
Tu cầu Đức Phật Như-Lai,
Cứu dân qua khỏi nạn tai buổi nầy.
Chữ tu chớ khá trễ chầy,
Phải trau phải sửa nghe Thầy dạy khuyên.
Ra đời xưng hiệu Khùng Điên,
Nào ai có rõ Thần Tiên là gì
Tu không cần lạy cần quì,
160 Ngồi đâu cũng sửa vậy thì mới mau.
Trí hiền tâm đức chùi lau,
Ra công lọc kỹ thì thau ra vàng.
Vinh-hoa phú-quí chẳng màng,
Ra oai ra lực cỡi thoàn xa chơi.
Con sông dòng nước chiều mơi,
Dốc lòng trả nợ nước đời cho xong.
Chừng nào bổn-đạo hiểu thông,
Thiên-cơ đạo lý để lòng mới thôi.
Chữ vinh chữ nhục mấy hồi,
170 Đến khi thất vận làm mồi yêu tinh.
Tu rèn tâm trí cho minh,
Tánh kia thành kiếng phỉ tình chùi lau.
Hiểu rồi những việc lao-đao,
Ở cùng cô bác làm sao cho tròn.
Kính yêu nào phải hao mòn,
Ở cho phải nghĩa lòng son mới vừa.
Nghinh-ngang hỗn-ẩu phải chừa,
Bà con nội ngoại dạ thưa mới là.
Xóm diềng phải ở thật-thà,
còn tiếp
Nam Mô D Di Đà Phật
-
180 Dầu không quen biết cũng là như quen.
Ở cho cha mẹ ngợi khen,
Gặp người lâm nạn đua chen giúp giùm.
Xác thân là cái gông cùm,
Nếu làm chẳng trọn thú hùm xé thây.
Cho rồi nhơn-nghĩa mới hay,
Lễ-nghi phong-hóa đổi thay làm gì ?
Từ đây biến đổi dị-kỳ,
Dương-thế chuyện gì cũng có chuyển lay.
Rèn tâm cho được thẳng ngay,
190 Khỏi nơi tà quỉ một mai thấy đời.
Cũng là người ở trong Trời,
Cớ sao ăn ở nhiều lời ngổn-ngang.
Hung hăng ỷ của giàu- sang,
Chẳng kiêng Trời Phật mê-man ỷ tiền.
Dạy rồi cái đạo tu hiền,
Làm trai nhỏ tuổi tình duyên đang nồng.
Cũng đừng ghẹo gái có chồng,
Cũng đừng phá-hoại chữ đồng gái trinh.
Ra đường chọc ghẹo gái xinh,
200 Nữa sau mắc phải yêu-tinh hư mình.
Xử cho vẹn chữ nghĩa tình,
Vâng lời cha mẹ mà gìn gia-cang.
Nghiêm-đường chịu lịnh cho an,
Loạn-luân cang-kỷ hổ mang tiếng đời.
Anh em đừng có đổi dời,
Phụ-phàng dưa muối xe lơi nghĩa-tình.
Tuy là Trời đất rộng thinh,
Có Thần xem xét phân minh cho người.
Vô duyên chưa nói mà cười,
210 Chưa đi mà chạy hỡi người vô duyên.
Lớn lên phận gái cần-chuyên,
Làm ăn thì phải cho siêng mới là.
Phải gìn dục-vọng lòng tà,
Đừng chiều theo nó vậy mà hư thân !
Nghe lời cha mẹ cân phân,
Tam tùng vẹn giữ lập thân buổi nầy.
Tình duyên chẳng kíp thì chầy,
Chớ đừng cải lịnh gió mây ngoại-tình.
Đi thưa về cũng phải trình,
220 Công, dung, ngôn, hạnh, thân mình phải trau.
Công là phải sửa làm sao,
Làm ăn các việc tầm-phào chẳng nên.
Mình là gái mới lớn lên,
Đừng cho công việc hớ-hênh mới là.
Chữ dung là phận đàn bà,
Vóc hình tươi-tắn đứng đi dịu-dàng.
Dầu cho mắc chữ nghèo-nàn,
Cũng là phải sửa phải sang mới mầu.
Ngôn là lời nói mặc dầu,
230 Cũng cho nghiêm-chỉnh mới hầu khôn-ngoan.
Đừng dùng lời tiếng phang-ngang,
Thì cha với mẹ mới an tấm lòng.
Hạnh là đức tánh phải không ?
Ở cùng chòm-xóm đừng cho mất lòng.
Bốn điều nếu đã làm xong,
Cũng gìn chữ hiếu phục tòng song thân.
Dạy rồi những chuyện đức ân,
Phận làm cha mẹ xử phân lẽ nào.
Lỗi-lầm chớ có hùng-hào,
240 Đừng chưởi đừng rủa đừng cào đừng bươi.
Đem lời hiền-đức tốt tươi,
Đặng mà giáo-hóa vàng mười chẳng hơn.
Cũng đừng gây gổ giận-hờn,
Cho con bắt chước sạ duơn mới là.
Nam-Mô sáu chữ Di-Đà,
Từ-bi tế-độ vậy mà chúng sanh.
Xưa nay Sáu Chữ lạnh tanh,
Chẳng ai chịu khó niệm sành thử coi.
Trì tâm thì quá ít-oi,
250 Bây giờ dùng thử mà coi lẽ nào.
Rạch tim đem để Nó vào,
Thì là mới khỏi máu đào tuôn rơi.
Để sau đến việc tả-tơi,
Rồi tu sao kịp chiều mơi cho thành.
Ngày nay chim đã gặp cành,
Chẳng lo đậu lại cho rành gió mưa.
Tu hành nhiều kẻ chẳng ưa,
Mặc ai gièm siểm sớm trưa chẳng màng.
Gẫm trong thế-sự trần-hoàn,
260 Người hung người ác tà-gian cũng nhiều.
Thương đời ta mới đánh liều,
Mong người tu tỉnh ít nhiều cũng hay.
Muốn tu còn đợi chiều mai,
Khuyên người rèn sớm thì xài lâu hư.
Những người có của tiền dư,
Hãy nên bố-thí dành tư làm gì.
Sau đây nhiều chuyện ly-kỳ,
Kể sao cho xiết vậy thì dân ôi !
Tại sao chẳng cúng chè xôi,
270 Bởi vì tận thế Phật thôi ăn chè.
Cũng không có muốn hoa-hoè,
Lầu đài sơn phết cũng là chẳng ham.
Ai chê khờ dại cũng cam,
Chớ Tôi cũng chẳng có ham lầu đài.
Chữ tu hãy rán miệt-mài,
Đừng kể vắn dài đừng nệ mau lâu.
Giáo khuyên khắp hết đâu đâu,
Bớt điều mị-dối mới hầu thấy Ta.
Đừng theo lũ quỉ lũ ma,
280 Cúng kiếng nó mà nó phải ăn quen.
Chết rồi cũng bớt cóc ken,
Trống đờn lễ nhạc tế xen ích gì.
Đàn nhu thầy lễ cũng kỳ,
Mắc phải chuyện gì phủ phục bình hưng ?
Lại thêm đờn địch từng tưng,
Đem con heo sống mà dưng làm gì ?
Chủ gia kẻ lạy người quì,
Làm chuyện dị-kỳ giả-dối hay không ?
Nếu không thì trả lời không,
290 Bằng mà có dối thì hòng sửa đi.
Thương đời Ta luống sầu-bi,
Học nho cứ mãi làm thi ngạo đời.
Rung đùi ngâm chuyện trên Trời,
Tình-duyên cá nước vậy thời dỗ con.
Thấy đời Ta cũng héo von,
Học nho mà chẳng làm tròn nghĩa-nhơn.
Khoe mình chẳng có ai hơn,
Nhờ làm thuốc bắc đỡ cơn túng nghèo.
Hiền nhơn chẳng chịu làm theo,
300 Đợi ai có bịnh túng nghèo chẳng tha.
Hốt thời cắc bảy cắc ba,
Nó đòi năm cắc người ta hoảng hồn.
Lành bay còn ác lại tồn,
Đến chừng lập Hội xác hồn lìa xa.
Mấy anh thầy thuốc Lang-sa,
Cũng là mổ mật người ta lấy tiền.
Xin trong anh chị đừng phiền,
Đồng bạc đồng tiền là thứ phi ân.
Muốn sau dựa được Các-Lân,
310 Hãy nên trau sửa hiền-nhân mới là.
Những người quê dốt thật-thà,
Cũng nên tu niệm nhờ mà thân sau.
Lập đời mới biết thấp cao,
Bây giờ chưa biết ai thau ai chì.
Đời xưa có Ngũ-Viên-Kỳ,
Đem tài học thuốc hiến thì cho dân.
Người xưa còn chẳng cần thân,
Miễn cho trong nước chúng dân được nhờ.
Để tâm yên-lặng như tờ,
320 Nghĩ suy lời lẽ tỏ mờ thế nao.
Luận xem thế sự thấp cao,
Khuyên dân hãy bớt làm màu hiếu nhi.
Bớt bỏ rình-rang một khi,
Nếu cha mẹ chết làm y lời nầy.
Là lời truyền-giáo của Thầy,
Bông hoa cầu Phật hiệp vầy đi chôn.
Còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
Còn mình muốn đãi làng thôn,
Thì là tùy ý đáp ngôn cho người.
Gẫm trong thế sự nực cười,
330 Chẳng lo cải sửa cho người tâm ngay.
Mình làm chữ hiếu mới hay,
Chớ mướn người ngoài cầu nguyện khó siêu.
Muốn cho tội lỗi mòn tiêu,
Thành tâm cầu nguyện sớm chiều mới hay.
Mục-Liên cứu mẹ bằng nay,
Nhờ người hiếu hạnh tâm rày từ-bi.
Ai ai hãy rán mà suy,
Thương đời Ta tỏ chuyện ni rõ-ràng.
Làm tuần trà rượu xình-xoàng,
340 Rồi thì chưởi-lộn mà an nỗi gì ?
Dương-trần làm chuyện dị-kỳ,
Tạo nhiều cảnh giả chơn thì chẳng theo.
Của tiền chớ có bỏ theo,
Chết rồi tế-lễ bò heo làm gì ?
Nếu ai biết chữ tu trì,
Cha mẹ còn sống vậy thì cho ăn.
Không làm để ở lung-lăng,
Chưởi cha mắng mẹ lăng-xăng thiếu gì.
Ở cho biết nhượng biết tùy,
350 Vui lòng cha mẹ vậy thì mới ngoan.
Đạo là vốn thiệt cái đàng,
Ta ra sức dọn cho toàn chúng-sanh.
Thôi thôi bớt miệng hùng-anh,
Ở nơi cửa khẩu thiệt rành tiếng ni.
Chưng bày quân-tử làm chi,
Của đồ hổ-bịt vậy thì xưng hô.
Lũ đàng lũ điếm hồ-đồ,
Anh-hùng quân-tử xưng hô rền trời.
Gặp ai mắc nạn cười chơi,
360 Chớ không ra sức giúp đời điều chi.
Hổ mình là bực tu mi,
Chưa tròn bổn-phận mà ti tôn mình.
Kể từ thượng lộ đăng trình,
Vào Nam ra Bắc mặc tình bôn-phi.
Khuyên răn trần-thế một khi,
Tuồng đời sắp hạ bằng ni rõ ràng.
Dương-gian làm huyễn nói càn,
Cùng xóm cuối làng đâu cũng như đâu.
Hò reo giục trống nhiều câu,
370 Sai đồng khiển quỉ nói lâu nực cười.
Ta khuyên hết thảy các người,
Nhiều chuyện trò cười hãy bỏ bớt đi.
Đừng hò đừng réo làm chi,
Nghinh-ngang kêu múa có khi hại mình.
Nghe không thì cũng mặc tình,
Nói cho rõ-rệt dân tin không là.
Quan-Âm Nam-Hải Phổ-Đà,
Cùng Thầy ra lịnh nên Ta giáo-truyền.
Thánh Thần không phải thiếu tiền,
380 Mà kêu mà réo xuống trần mà sai.
Nam-Mô Quan-Âm Như-Lai,
Cầu xin chư Phật cứu nay dương-trần.
Khuyên đừng chưởi Thánh mắng Thần,
Xưa nay thứ lỗi thế-trần chẳng kiêng.
Lưỡng Thần ghi chép liên-miên,
Nào tội nào phước dưới miền trần gian.
Tâu qua Thượng-Đế Ngọc-Hoàng,
Dương trần hung ác đa đoan quá nhiều.
Chúng-sanh ngang-ngược làm liều,
390 Ngọc-Hoàng Ngài muốn xử tiêu cho rồi.
Minh-Vương khó đứng khôn ngồi,
Thảm thương lê-thứ mắc hồi gian-truân.
Trước đền mắt ngọc lụy rưng,
Quí yêu bá-tánh biết chừng nào nguôi.
Làm sao cho dạ được vui,
Cúi đầu lạy Phật cầu xin cứu trần.
Lời khuyên xưa cũng một lần,
Nay mượn xác trần xuống bút ra cơ.
Khôn-ngoan nghe nói ngẩn-ngơ,
400 Ngu-si thì tưởng như thơ biếm đời.
Ở đâu cũng Phật cũng Trời,
Tâm thành chí nguyện xem đời khó chi.
Văn-Thù Bồ-Tát từ-bi,
Chèo thuyền Bát-Nhã cứu thì trần-gian.
Gió đưa lướt sóng buồm loan,
Rước người tu niệm xuê-xang phỉ tình.
Ai mà Ta dạy chẳng gìn,
Thì sau đừng trách mất tình yêu-đương.
Bàn-môn tài phép nào tường,
410 Kêu Trời giậm Đất cũng thì dạ rân.
Nói cho trần-thế liệu toan,
Chớ theo tả-đạo mà tan xác hồn.
Nó làm nhiều phép nhiều môn,
Bùa mê thuốc lú mê hồn chúng-sanh.
Thành binh sái đậu cũng rành,
Nếu tin thời mắc tan tành về sau.
Bây giờ bất luận người nào,
Không dùng của thế sắc màu cũng không.
Nói cho bổn-đạo rõ lòng,
420 Ấy là chơn-chánh mới hòng vinh-vang.
Địa-Tiên tài phép đa đoan,
Phi đao bửu kiếm mê-man mắt trần.
Phật truyền thâu hết phép Thần,
Cứu an bá-tánh một lần nạn nguy.
Phiên-binh bốn phía tứ vi,
Kể sao cho xiết chuyện ni sau nầy.
Lớp thì thú ác dẫy-đầy,
Lớp thì tranh đấu tối ngày chẳng thôi.
Kẻ hung chừng đó làm mồi,
430 Cho bầy ác-thú đền bồi tội xưa.
Bây giờ còn mãi lọc lừa,
Chẳng lo kiếm chỗ đụt mưa sau nầy.
Hiền lành chừng đó sum vầy,
Quân-thần cộng lạc mấy ngày vui chơi.
Đến đó Ta mới mừng cười,
Nhìn xem Ngọc-Đế giữa Trời định phân.
Thiên-Hoàng mở cửa Các-Lân,
Địa-Hoàng cũng mở mấy từng ngục-môn.
Mười cửa xem thấy ghê hồn,
440 Cho trần coi thử có mà hay không.
Nhơn-Hoàng cũng lấy lẽ công,
Cũng đồng trừng-trị kẻ lòng tà-gian.
Ấy là đến lúc xuê-xang,
Tam-Hoàng trở lại là đời Thượng-nguơn.
Khuyên dân lòng chớ có sờn,
Rán tu thì được xem đờn trên mây.
Người hung chết đất chật thây,
Nhìn xem bắt thảm ngày rày cho dân.
Mấy người còn được xác thân,
450 Thì là Đài-Ngọc Các-Lân mới kề.
Bây giờ kẻ nhún người trề,
Chê Ta rằng dại rằng khờ cũng cam.
Dương-trần bỏ bớt tánh tham,
Đừng chơi cờ-bạc đừng làm ác-gian.
Để sau coi Hội coi hàng,
Coi Tiên coi Phật mới ngoan bớ trần.
Điếm-đàng đĩ-thõa chớ gần,
Để sau xem thấy non Tần xôn-xao.
Tuy nghèo dùng đỡ cháo rau,
460 Bền lòng niệm Phật thì sau thanh nhàn.
Đừng quen thói cũ làm càn,
Trộm gà cắp vịt xóm làng ghét vơ.
Khi xưa Ta cũng làm thơ,
Mà đời trần-hạ làm ngơ ít nhìn.
Dạy cho trần-thế phỉ tình,
Đàng Tiên cõi tục phân minh hai đường.
Bây giờ hát-bộ là thường,
Để sau Phật hát tỏ tường cho xem.
Cải-lương tuồng ấy cũ mèm,
470 Tốn tiền buồn ngủ lại thèm đồ ăn.
Nhảy lui nhảy tới lăng-xăng,
Làm tuồng mèo mả thêm nhăng cho đời.
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
Hạ-nguơn lòng dạ đổi dời,
Bây giờ khổ-não đến đời là đây.
Rán nghe lời dạy của Thầy,
Để chừng đến việc kiếm Thầy khó ra.
Tây-Phương Thầy lại quá xa,
Nên Ta mới nói cạn lời dân nghe.
Đừng ham lên ngựa xuống xe,
480 Ăn xài phí của lụa the làm gì.
Xuống trần Ta dạy cố lỳ,
Cốt cho trần-thế nghe thì mới thôi .
Ngày nay xe lết xe lôi,
Đúng lời truyền sấm của hồi đời Lê.
Là năm Rồng, Rắn, Ngựa, Dê,
Chúng-sanh thế-giới ê-hề thây phơi.
Trạng-Trình truyền sấm mấy lời,
Ngày nay dân-chúng vậy thời rán tri.
Hiền nhơn bổn phận tu mi.
490 Hãy mau thức tỉnh kiếm thì huyền-cơ.
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Chúng-sanh còn đợi còn chờ chuyện chi.
Trên Trời xuất hiện Tử-Vi,
Quang-minh sáng-suốt vậy thì dân ôi !
Thương dân khó đứng khôn ngồi,
Xót-xa dạ Ngọc bồi-hồi tâm Trung.
Gió dông thì cội cây rung,
Phương xa có giặc thung-dung đặng nào ?
Trời tây chúng nó hùng-hào,
500 Đem lòng gây-gổ máu đào mới tuôn.
Cầu Trời cho chúng qua truông,
Thế-gian yên-lặng hát tuồng khải-ca.
Tây-Phương tuy ở cõi xa,
Thành tâm thì có Phật mà đáo lai.
Ước mong dân khỏi nạn tai,
Dắt-dìu Tiên-cảnh Bồng-Lai nhiều người.
Xem trần khó nỗi vui cười,
Lo giàu lo lợi chẳng rồi bớ dân.
Mẹ cha là kẻ trọng ân,
510 Dưỡng nuôi báo hiếu lúc thân yếu già.
Giường linh đơm quảy mới là,
Có chi cúng nấy vậy mà dân ôi !
Ta là thân phận làm tôi,
Phải đền phải đáp cho rồi mới hay.
Mặc ai tranh luận đấu tài,
Khuyên dân nên hãy miệt-mài chữ Tu.
Giảng nầy ra cuối mùa thu,
Dạy ăn dạy ở chữ Tu vuông tròn.
Học theo mối đạo làm con,
520 Luận xem học mới mấy đon đời nầy.
Văn-minh sửa mặt sửa mày,
Áo quần láng mướt ngày rày ăn chơi.
Dọn xem hình vóc lả-lơi,
Ra đường ăn nói những lời nguyệt-hoa.
Trong tâm nhớ những điều tà,
Lời ăn tiếng nói thiệt là quá lanh.
Xưng là đầu trẻ tuổi xanh,
Chẳng trau hiền-đức học-hành làm chi?
Khôn-ngoan thời những chuyện gì,
530 Cũng là lừa dối vậy thì dân quê.
Người xưa nó lại khinh chê,
Ông cha hủ-bại u-mê hơn mình.
Tự-do trai gái kết tình,
Với lo trau sửa cho mình đẹp tươi.
Gái trai đến tuổi đôi mươi,
Chẳng kiêng cha mẹ nói cười lả-lơi.
So hình sửa sắc chiều mơi,
Đặng làm những chuyện trái đời vô liêm.
Cớ sao chê cổ trọng kim,
540 Phụ cha phản chúa lỗi niềm tôi con.
Thấy đời trần-hạ thon-von,
Ai nuôi cho lớn mà còn khinh khi.
Ông cha thuở trước ngu si
Mà ngay mà thật hơn thì đời nay.
Học hay lợi dụng tiền tài,
Lên quan xuống huyện ăn xài lả-lê.
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
Gặp ai đói rách cười chê,
Miệng kia hễ mở chưởi thề vang rân.
Chẳng lo rèn trí lập thân,
550 Để làm xảo-trá khổ thân sau nầy.
Giáo-viên các sở các thầy,
Khuyên mau tỉnh ngộ tập rày lòng nhơn.
Giúp đời đừng đợi trả ơn,
Miễn tròn bổn-phận hay hơn bạc vàng.
Đánh liều Ta cũng nói càn,
Cứu dân bất luận giàu sang khó nghèo.
Vinh-hoa như thể bọt bèo,
Hiền-lương bất luận khó nghèo cũng xinh.
Nhắc năm Gia-Tĩnh triều Minh,
560 Nàng Kiều vì hiếu bán mình chuộc cha.
Tuy là lưu-lạc bôn-ba,
Đến khi mãn hạn bạn xưa cũng nhìn.
Ghét ưa Ta cũng mặc tình,
Nghiệm kim suy cổ biện minh thế nào.
Bá-gia kẻ thấp người cao,
Hiền-thần hiếu-nghĩa rán trau cho rồi.
Giảng nầy chỉ các điều tồi,
Khuyên dân hãy rán mà ngồi mà suy.
Thân ta, Ta chẳng tiếc chi,
570 Miễn cho bá- tánh nạn gì cũng qua.
Luận xem những việc sâu xa,
Chúng-sanh tưởng Phật thì là hãy coi.
Tháng ngày như thể đưa thoi,
Nguyện cầu thế giới bớt ngòi chiến-tranh.
Ngồi buồn dân gặp chiếu manh,
Ta cho bá-tánh bức tranh vô hình.
Ai ai cũng rán xét mình,
Nếu còn tánh xấu thì rinh ra ngoài.
Cạn lời mà ý còn dài,
580 Hiến cho trần-hạ một bài ngụ-ngôn.
Tới đây Ta giã làng thôn,
Ngọc-Thanh lui gót phi bôn Nam-Kỳ.
Hiền thần sách sử nêu ghi,
Miễu son tạc để tu-mi trung thần.
Thôi thôi cảnh khổ hầu gần,
Ta khuyên dân-chúng ân-cần nhìn xem.
Ra đời dạy-dỗ anh em,
Xem qua ít bận rán đem vào lòng.
Người tu như thể bá-tòng,
590 Ai ai cũng quí cũng trông cũng nhìn.
Sửa trau là phận của mình,
Xưa nay lời lẽ sử kinh rõ-ràng.
Chừng nào ta gặp Hớn-Hoàng,
Chúng-sanh mới hết phàn nàn số căn.
Mạnh-Tông xưa cũng khóc măng,
Đất khô nẩy mụt rõ lòng hiếu nhi.
Mặc ai nhạo báng khinh khi,
Phần ta niệm chữ từ-bi độ đời.
Muốn xem được Phật được Trời,
600 Thì là phải rán nghe lời dạy răn.
Bá-gia cùng các chư tăng,
Việc tu không đợi hương đăng làm gì.
Đời cùng tu gấp kịp thì,
Đặng xem báu ngọc ly-kỳ Năm Non.
Phật thương bổn-đạo như con,
Muốn cho bổn-đạo lòng son ghi lời.
Nữa sau đến việc biết đời,
Bây giờ chưa thấy nó thời không tin.
Tới đây cũng dứt giảng kinh,
610 Nếu ai biết sửa tâm linh mới mầu.
Nam-mô lòng sở nguyện-cầu,
612 Chúc cho bá-tánh muôn sầu tiêu tan.
NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT (tam niệm)
Cầu Phật-Tổ, Phật-Thầy, quan Thượng-Đẳng Đại-Thần, chư quan Cựu-Thần, chư vị Sơn-Thần, chư vị Năm Non Bảy Núi phổ-độ bá-tánh vạn dân tiêu tai tịnh sự giải-thoát mê-ly.
Còn Tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
QUYỂN TƯ
GIÁC MÊ TÂM KỆ
(Ðây là quyển thứ tư do Ðức Thầy đã
viết ngày 20 tháng 9 năm Kỷ-Mão 1939
tại Hòa-Hảo, dài 846 câu)
Khai ngọn đuốc từ-bi chí thiện,
Tìm con lành dắt lại Phật đường.
Thương dân hiền giáo đạo Nam-phương,
Đặng chỉ ngõ làm lành lánh dữ.
Sách Thánh đạo ghi trong Tam-Tự,
Người mới sanh tánh thiện Trời dành.
Bởi lớn lên tập nhiễm lợi danh,
Nên tật xấu che mờ thiện-tánh.
Thiếu giáo-dục thiếu thêm đức-hạnh,
010 Ta quyết lòng nhắc lại tánh xưa.
Mặc tình đời gièm-siểm ghét ưa,
Rừng kinh-kệ ít người hay chữ.
Quá mắc-mỏ bởi chưng Phạn-ngữ,
Nên người đời khó kiếm cho ra.
Mõ chuông bày đọc tụng ó la,
Chớ hiếm kẻ tường thông nghĩa-lý.
Dòm trước mắt thấy điều hồ-mị,
Nên động tình bác-ái dạy răn.
Réo những ai lợi dụng làm xằng,
020 Cho suy-sụp chơn-nhơn mờ-mịt.
Nào có khác mây đen phủ bít,
Rồi dắt nhau đến chỗ dại ngây.
Lấy tinh-thần hiệp vén ngút mây,
Trong bổn-đạo tự thân phải xử.
Xuống dương thế dạo trong lê-thứ,
Thấy bá-gia gặp lúc não-nùng.
Cảnh trần-gian nhiều nỗi lao-lung,
Việc tu tỉnh ít người hiểu lý.
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
Trong bá tánh muốn nơi cao quí,
030 Phải truy tầm huyền-bí nơi cơ.
Từ sấm kinh cho đến thi thơ,
Trong chốn ấy nhiều nơi trọng yếu.
Tạo làm chi những trung với hiếu !
Ấy là người bổn-phận phải trau.
Khuyên dương-trần đừng nệ cần-lao,
Cũng rán sửa rán trau nền Đạo.
Tu đầu tóc không cần phải cạo,
Miễn cho rồi cái đạo làm người.
Kể từ nay lỡ khóc lỡ cười,
040 Vì buồn bực thấy đời biến chuyển.
Các chư Phật từ đây lựa tuyển,
Coi ai là đức-hạnh hiền-từ.
Lời sách xưa cận thủy tri ngư,
Cận sơn lãnh trần-gian tri điểu.
Trong sấm-giảng nếu ai không hiểu,
Tầm kệ nầy Ta chỉ nẻo đường.
Quyết dạy trần nên nói lời thường,
Cho sanh chúng đời nay dễ biết.
Trời dông gió sái mùa sái tiết,
050 Nắng cùng mưa cũng khác xưa rồi.
Khuyên dương-gian bỏ các việc tồi,
Đặng lo liệu cho tròn phận-sự.
Thấy trần thế hãy còn lưỡng-lự,
Muốn tu mà còn hỡi chần-chờ.
Việc thế-gian như thể cuộc cờ,
Thắng với thối một hai nước tướng.
Nào Ai có gạt dân nói bướng,
Mà dương-trần liệu lượng chánh tà.
Ta mến yêu những kẻ thiệt-thà,
060 Nghe cơ-giảng thiết-tha lo-liệu.
Học đạo-lý như đờn trúng điệu,
Hòa bản rồi thì cứ làm theo.
Lũ Tam-Bành trong bụng còn đeo,
Đoàn Lục-tặc ta mau sớm giết.
Mài gươm trí cho tinh cho khiết,
Dứt tâm trần kiếm chữ sắc không.
Đức Di-Đà Phật-Tổ ngóng trông,
Chờ dân-chúng tìm nơi diệt khổ.
Theo Phật-Giáo từ kim chí cổ,
070 Gốc ông cha ta cũng tu-hành.
Mà ngày nay cứ mãi tranh giành,
Danh với lợi, của tiền, quyền tước.
Thấy trần-thế ai ai cũng ước,
Đời sao không tới phứt cho rồi.
Nay khổ lao khó đứng khôn ngồi,
Lúc đói cơm buồn lòng ngơ ngẩn.
Làm ác đức nhiều điều quanh quẩn,
Như gà cồ ăn bẩn cối xay.
Thấy người hiền nói đắng nói cay,
080 Sau mới biết thân ai lao khổ.
Nhớ thuở trước oai-linh Phật-Tổ,
Phép thần-thông trừ lũ Ma-Vương.
Chốn rừng tòng ngồi chịu nắng sương,
Tìm đạo-lý hiến cho trần-thế.
Hiệu Lão-Sĩ ra đời thật-tế,
Đem lời vàng dạy-dỗ dương-trần.
Khuyên chúng-sanh khuya sớm chuyên-cần,
Tìm nguồn-cội diệt-trừ Tứ-Khổ.
Bịnh với Tử từ kim chí cổ,
090 Sanh với Già hai chữ hoài hoài.
Đức Thích-Ca xưa ở lầu đài,
Nghiệm Tứ-Khổ nên Ngài tầm Đạo.
Lo tu tỉnh mặc ai khinh-ngạo,
Diệt Lục-Căn đừng nhiễm Lục-Trần.
Chữ Sắc Thinh chớ có hầu gần,
Hương với Vị xác trần nên lánh.
Chữ Xúc Pháp treo gương Hiền Thánh,
Tránh Sáu Đường cũng đặng về Thần.
Từ xưa nay dạy chỉ nhiều lần,
100 Mà lê-thứ không lo chẳng liệu.
Nhãn thấy sắc thường hay bận-bịu,
Tai ưa nghe những điệu âm thinh.
Mắt với tai đều chọn đẹp xinh,
Còn lỗ mũi ưa mùi êm dịu.
Đồ thơm tho nó ưa nó chịu,
Chốn xạ hương hay lết lại gần.
Lưỡi ưa ngon là chuyện ân-cần,
Đồ ngọt béo nó ưa nó mến.
Thân tham sướng muốn tiền của đến,
110 Đặng ăn xài cho phỉ tấm tình.
Ý thì ưa sửa sắc soi hình,
Với chức phận cho cao cho quí.
Sáu đường ấy ở trong tâm ý,
Ta mau mau dứt nó cho rồi.
Nếu tỉnh tâm nào có mấy hồi,
Mượn trí-đạo đuổi ra khỏi xác.
Dứt được nó ấy là giải thoát,
Thì xác trần mới khỏi đọa-đày.
Cả tiếng kêu những kẻ trí tài,
120 Hãy yên lặng bình tâm suy-nghĩ.
Tiên xử kỷ hậu lai xử bỉ,
Bắt lỗi người phải xét lỗi mình.
Vậy mới là phải bực công-bình,
Nẻo chánh-trực chí người quân-tử.
Người biết Đạo phải gìn ngôn ngữ,
Nói với ai chớ có sai lời.
Trọng mẹ cha kính nể Phật-Trời,
Đừng nhiều tiếng nghinh-ngang mang lỗi.
Tánh ngay thẳng ta không dời đổi,
130 Dầu tan xương nát thịt chẳng màng.
Ta Khùng Điên nói đại nói càn,
Chẳng có sợ ai rầy ai mắng.
Trời còn lúc tối mưa sớm nắng,
Thì trần-gian còn mãi khổ lao.
Ở trên đời kẻ thấp người cao,
Kẻ hiền-hậu người thì gian-ác.
Không quen biết mà cao tuổi tác,
Ta cũng nên kính trọng mới là.
Tâm từ bi sánh thể ngọc-ngà,
140 Trong các báu khó bì tánh Thiện.
Phải xử thế chớ nên bày biện,
Miệng xảo ngôn thường kiện tấm thân.
Việc bán buôn phải giữ ngang cân,
Chớ tập tánh lận lường tráo đấu.
Các công cuộc của người tánh xấu,
Ta giữ-gìn chớ có nhiễm vào.
Tâm Bần Tăng chẳng mến sắc màu,
Mến những kẻ biết vào đường chánh.
Ta dạy thế mượn lời Phật Thánh,
150 Nên truyền ban cho chúng-sanh tường.
Tuy ngày nay chúng nó hùng-cường,
Chừng phân định thì Ta cao-quí.
Khuyên bổn-đạo lập thân nuôi chí,
Đặng chờ ngày yết-kiến Phật Trời.
Quá yêu dân cạn tỏ nhiều lời,
Cho trần-hạ tìm trong lánh đục.
Chẳng chịu tu mãi còn lục-thục,
Lo giàu nghèo lo cũng chẳng rành.
Ham công-danh quên chữ sanh-thành,
160 Mến phú-quí quên câu dưỡng-dục.
Rán kiếm chỗ tầm Tiên lánh tục,
Người ở đời phải được lòng trong.
Biển hồng-trần sớm gội cho xong,
Ngày lập hội mới mong trở lại.
Chữ bần-tiện khuyên dân đừng nại,
Miễn cho ta trở lại ngay đàng.
Chữ vinh-hoa giờ chớ có màng,
Bởi giả tạm của đời Nguơn-hạ.
Gắng công tu xem nhiều phép lạ,
170 Của Thần-Tiên trừ lũ hung-đồ.
Nào lụa là, lãnh nhiễu, tố sô,
Chớ ham mến mà sau lao-lý.
Ngày tiêu-diệt từ năm Bính-Tý,
Đến năm nay hao hớt đã nhiều.
Các ngoại bang đà nhuộm máu điều,
Sao trần-thế không toan chẳng liệu.
còn tiếp
Nam Mô A di Đà phật
-
Để đến việc dang lưng mà chịu,
Chớ Phật đâu cứu kịp cho người.
Khuyên chúng-sanh bỏ tánh biếng lười,
180 Phải sốt-sắng làm ăn cần-thiết.
Nghèo với đói từ đây sẽ biết,
Hàng ngoại bang bố-thiết ta hoài.
Nên bá-gia hãy rán miệt-mài,
Dầu rách rưới cũng mau cần-kiệm.
Lời Ta dạy hãy nên suy-nghiệm,
Phải phá tan Ngũ-Uẩn trong mình.
Chữ Tham trong ý muốn mặc tình,
Rán định tánh trừ cho nó tuyệt.
Chữ gây-gổ là Sân hãy diệt,
190 Cho nó đừng thấp-thoáng trong lòng.
Thêm chữ Si thiệt quá lòng-dòng,
Nên tỉnh trí tìm nơi dụt tắt.
Chữ Nhơn Ngã cũng là quá gắt,
Ta chớ nên phân biệt với người.
Dẹp năm tên được mới mừng cười,
Vô pháp-tướng mới là thiệt tướng.
Người tu hành phải trừ nghiệp-chướng,
Với bốn ma mới đặng an nhàn.
Tửu nhiễm vào thân thể bất an,
200 Sắc mến nó ngày kia lao khổ.
Ta nghiệm xét từ đời Bàn-Cổ,
Có ai dùng mà đặng thành Tiên.
Mà đời nay theo nó liên-miên,
Chữ Tài của khổ riêng một kiếp.
Bị tội cướp nào ai có tiếp,
Mà đời nay nó cứ mãi làm.
Chữ Khí hùng khuyên chớ có ham,
Mà lao-lý tấm thân trần-thế.
Kẻ nhứt dạ thường sanh bá kế,
210 Để gạt người làm thế cho mình.
Ngày sau nầy lắm nỗi tội tình,
Sao sanh-chúng chẳng lo cải sửa.
Bịnh ôn-dịch thường hay ói mửa,
Mà dương-trần chẳng chịu kiêng-dè.
Qua năm Dê đến lúc mùa hè,
Trong bá-tánh biết ai hữu chí.
Ta chịu lịnh Tây-Phương thọ ký,
Gìn Nghiệt-Long đặng cứu dương-trần.
Nên ra đời dạy-dỗ ân-cần,
220 Khuyên bá-tánh vạn dân liệu lấy.
Khổ với thảm ngày nay có mấy,
Sợ mai sau dòm thấy bay hồn.
Trừ tà-gian còn thiện chỉ tồn,
Cảnh sông máu núi xương tha-thiết.
Trần với thế bây giờ nào biết,
Chừng nhìn xem hư thiệt mới tường.
Ta bây giờ tu niệm tầm thường,
Sau danh thể xạ hương khắp chốn.
Nhà giàu có xài không sợ tốn,
230 Phải để tiền cho kẻ nghèo nàn.
Lo ăn xài trà rượu xình-xoàng,
Chừng khổ não phàn-nàn căn số.
Lời truyền sấm như bài toán đố,
Ai biết tầm thì đặng hưởng nhờ.
Ta khuyên tu dân cứ mãi ngờ,
Sợ gạt chúng kiếm xu kiếm cắc.
Bị ngoại quốc bán hàng quá gắt,
Nên dân ta chịu chữ cơ-hàn.
Ta Khùng Điên của cải chẳng màng,
240 Miễn lê-thứ được câu hạnh-phúc.
Cờ thế-giới ngày nay gần thúc,
Nên Phật Tiên phải xuống hồng-trần.
Chừng lao-xao ác thú non Tần,
Thì Nam-Quốc lương dân mới biết.
Nay dạy thế cậy cùng ngòi viết,
Với xác trần du-thuyết ít hàng.
Ai nói chi Ta cũng chẳng màng,
Sau biết đặng dân đừng có tiếc.
Con phù-du hẫng-hờ nào biết,
250 Thấy bóng đèn thì quyết chun vô.
Thảm thương thay chết héo chết khô,
Nhìn đèn nọ thấy mồ phù-dũ.
Kệ khuyên trần đã mãn mùa thu,
Đeo danh-lợi như con vật ấy.
Giống xe cát biển đông thường thấy,
Tên dã-tràng rất uổng công-trình.
Khi nước ròng nhờ lúc bình-minh,
Lúc nước lớn cát kia tan rã.
Trần phú-quí thì trần thong-thả,
260 Chớ còn Ta cứ khổ lao hoài.
Viết kệ-cơ giảng dạy ít bài,
Mặc lê-thứ làm không tự ý.
Coi rồi phải nhận cho hiểu lý,
Câu huyền sâu của kẻ Khùng nầy.
Bởi chữ Khùng của Phật của Thầy,
Chớ chẳng phải của người lãng-trí.
Mê với tỉnh nhận ra là lý,
Thấy dương-trần ngủ mãi ngủ hoài.
Thức dậy mà tầm Đạo kiếm bài,
270 Để thi-cử khỏi mang tiếng rớt.
Sách khuyến-thiện miệng kêu không ngớt,
Mà nào ai có thức dậy tầm.
Ta nghĩ suy cũng bắt hổ thầm,
Nên than-thở cùng trần ít tiếng.
Tâm sáng suốt như đài nguyệt-kiến,
Tánh trong như nước bích mùa xuân.
Nếu không tu chừng khổ cũng ưng,
Đừng có trách sao không chỉ bảo.
Từ nhỏ tuổi đến người trưởng lão,
280 Mắc trong vòng sanh tử luân hồi.
Xuống Diêm-Đình thấy tội hỡi ôi !
Đó mới biết có nơi địa-ngục.
Kỳ xả tội nay còn một lúc,
Sao chẳng tu đặng có hưởng nhờ.
Gặp giảng kinh trần cứ làm ngơ,
Trồng bông kiểng giống chi hưởng nấy.
Địa-ngục cũng tại Tâm làm quấy,
Về thiên-đàng Tâm ấy tạo ra.
Cái chữ Tâm mà Quỉ hay Ma,
290 Tiên hay Phật cũng là tại nó.
Tu với tỉnh biết làm chẳng khó,
Nếu lặng Tâm tỏ-ngộ Đạo mầu.
Cảnh dương-gian muôn thảm ngàn sầu,
Ngó vạn vật đài lầu chẳng có.
Sông với núi trước kia mắt ngó,
Khi chết rồi thấy nó đặng nào.
Ai biết đường hãy sớm tẩu-đào,
Kiếm Đạo-lý mà nhờ mà nhõi.
Chịu cay-đắng tu hành mới giỏi,
300 Ta thương đời len-lỏi xuống trần.
Đạo vô-vi của Phật ân-cần,
Nối theo chí Thích-Ca ngày trước.
Câu phú-quí Ngài không màng-ước,
Chữ bồ-đề như cội bá-tòng.
Rán dưỡng-nuôi chữ đó trong lòng,
Thì là được định chừng diệu-quả.
Lời thuyết-pháp chẳng vì nhơn-ngã,
Người nào đâu có Phật-tánh là.
Xem kệ nầy như ngọc như ngà,
310 Phải nảy nở như cơn mưa thuận.
Hạp mùa tiết giống kia bất luận,
Thảy mọc mầm trổ lá mới mầu.
Trông chúng-sanh nghĩ tận đuôi đầu,
Về Cực-Lạc mới là hết khổ.
Đạo với lý từ đây nhiều chỗ,
Phải lọc-lừa cho kỹ mà nhờ.
Chọn nơi nào đạo chánh phượng thờ,
Thì mới được thân sau cao-quí.
Nhìn Phật-Giáo mà tìm cái lý,
320 Coi tại sao ta phải tu hành.
Vì yêu dân Ta kể ngọn-ngành,
Khuyên lê-thứ làm lành mà tránh.
Cảnh Niết-Bàn là nơi cứu cánh,
Về chốn ni xa lánh hồng-trần.
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật