hồi còn nhỏ,chú họ của tôi là tu sĩ trong tu viện cũng bày tôi thiền để tránh gặp mọi cảm giác sợ hãi,căng thẳng,...
và xem ra chú tôi cũng rất tôn trọng các sư sãi đạo Phật,không biết các sư sãi đạo Phật nghĩ gì về các tu sĩ TCG.
Printable View
hồi còn nhỏ,chú họ của tôi là tu sĩ trong tu viện cũng bày tôi thiền để tránh gặp mọi cảm giác sợ hãi,căng thẳng,...
và xem ra chú tôi cũng rất tôn trọng các sư sãi đạo Phật,không biết các sư sãi đạo Phật nghĩ gì về các tu sĩ TCG.
THIỀN VỚI ĐỨC KY-TÔ ?
Lm. Nguyễn Văn Thư
Phải đọc trọn vẹn cả 4 cuốn Phúc-âm trong bộ Thánh-kinh Tân-Ứơc để có thể dám trả lời câu hỏi trên đây.
Nhất là sau khi đã theo chân một số các nhà tu-đức qua Đông-phương tìm-hiểu cặn-kẽ về Thiền. Một khi ta còn đầy-đủ niềm tin vào giáo-lý của đạo Chúa, ta sẽ biết làm gì và dừng lại ở đâu, để gọi là mình có thể NGỒI THIỀN VỚI CHÚA hay không.
Ta sẽ mượn những kinh-nghiệm qúy-giá nhất từ nơi các Thiền-sư, đã thừa-hưởng gia-tài kiến-thức về việc tập-trung tư-tưởng và vận-dụng tâm-trí dể tạo niềm thanh-thóat và an-bình cho hồn mình.
Nghĩa là về lãnh-vực tôn-giáo, thay vì cái nền-tảng chối bỏ một Thượng-đế tòan năng, chối bỏ cái Ngã cá-thể của mình, chối bỏ những liên-hệ và trách-nhiệm , chối bỏ những luật-lệ thường ngày…,chúng ta sẽ đặt vào đó tòan-vẹn bộ giáo-lý Phúc-Âm làm căn-bản cho mọi sự.
Với Đức Ky-Tô, ta hiểu rằng theo Ngài, phục-vụ Ngài cũng như vâng-lời Ngài chính là tìm thấy sự tin-tưởng, an-bình và tự-do nhất cho lòng-trí, bởi vì Ngài là Đường, là Chân-lý và là Sự Sống. Cái tự-do này, cái giải-thoát khỏi mọi lo âu này, cái bình-an thảnh-thơi này, có phải là những yếu-tố lớn đưa ta vào Thiền không ?
Thế thì hãy thử ngồi xuống đi, để lòng mình lắng xuống, nhắm mắt lại, rồi đơn-giản nghĩ tới một tư-tưởng nào đó từ sách Phúc-Âm. Tha-hồ áp-dụng các kỹ-thuật cấp cao của nhà Thiền. Và hồn ta sẽ lâng-lâng với cuộc hạnh-ngộ tuyệt-vời nhờ thấy kết-hợp với chính Chúa.
Muốn gọi là mình được giác-ngộ ư ? Tốt lắm. Nằm gọn trong lòng Chúa (theo kiểu nói của thánh Au-gu-tinh) như thế, sao mà chẳng Ngộ cho được !
Trong lúc bên nhà Phật dạy rằng phải diệt dục để hết khổ, phải thấy rõ đời là vô-thường, phải tẩy sạch lòng trí khỏi mọi giáo-điều trói buộc, rồi mang những tâm-thức ấy vào cuộc tham Thiền, thì ở đây, ta mơ ước một điều duy-nhất là tìm theo thánh-ý Chúa và kết-hợp với Ngài. Thật giản-dị. Rất đơn-sơ. Thiền với Chúa như vậy khác chi ru ta vào giấc ngủ đầy hoa và mộng ?
Hãy thử bắt chước cha Sỹ-Qúy để tìm Thiền theo cách dễ-dàng đơn-giản nhất. Rồi ta sẽ quen. Thiền theo phương-thức này chắc-chắn phải là cách cầu-nguyện cấp cao nhất ( đưa tâm hồn lên gặp-gỡ và kết-hợp với Chúa ).
Nào ta mở sách Phúc-Âm ra. Tốt hơn hết là theo thứ-tự các biến-cố cuộc đời, sinh-họat và việc giảng-dạy của Chúa Giê-su.
Mở đầu với những chi-tiết về việc Ngài từ-bỏ trời cao, hạ mình xuống làm người, sinh nơi hang đá nghèo-hèn, chạy trốn qua Ai-cập, rồi về sống âm-thầm lam-lũ tại Nazareth…., chắc hẳn Thiền phái Đại-thừa bên Trung-hoa phải khâm-phục lắm. Chúa đâu có chịu thua Phật qua cái mục ‘cứu nhân độ thế’ ! Vậy là ta có bao đề tài để suy-niệm, để noi gương và để hy-vọng sẽ được đến cùng Ngài ( như lời phát-biểu của thánh-sử Gio-an : Còn những ai đón nhận Ngôi-lời thì được Ngài nâng lên hàng nghĩa-tử ).
Dịp Chúa khởi-sự cuộc rong-ruổi bước chân truyền-giáo, chắc ai cũng phải cảm-động khi đọc về các người cộng-tác và theo phục-vụ Chúa, từ Gioan tiền-hô tới các phụ-nữ thiện-nguyện, nhất là các môn-đệ và 12 tông-đồ : ai nấy đều từ-bỏ hầu như mọi sự. Đấy là cái mẫu gương tạo nên cái tự-do, khỏi bị vướng-mắc ràng-buộc trên đường tìm chân-lý. Không đáng cho ta noi gương và suy-niệm sao ?
Buổi đàm-luận của Chúa với học-giả Ni-cô-đê-mô mà không tuyệt-vời ư ? Câu chuyện ‘tái-sinh’ huyền-nhiệm trong Thánh-thần kêu gọi việc rũ-sạch mọi giá-trị và hiểu-biết cũ, để hòan-tòan ‘lột xác’ và đi vào khung-cảnh thần-linh mới. Ta tha hồ mà suy Thiền !
Có lẽ nhà học-giả này đã được ‘ngộ’ vào phút chót, để rồi đổi thay cả cuộc đời. Gần như Ni-cô-đê-mô, người thiếu-phụ xứ Samaria cũng đã tình-cờ gặp Chúa, để rồi Ngài phá vỡ cái vỏ dĩ-vãng tối-đen của bà, giúp bà bước theo hướng đi mới, hoan-hỉ với ‘nước hằng sống’ Chúa hứa ban. Thật tốt để ta đem vào suy-niệm.
Khi mở tới đọan Chúa giảng về Tám Mối Phúc Thật, ta quen gọi là Bài Giảng Trên Núi, còn các chuyên-gia Thánh-kinh gọi là Hiến-Chương Nước Trời, ta sẽ đặc biệt gặp thấy những tư-tưởng cao-vời khác lạ bậc nhất từ miệng Chúa.
Nói về 8 mối Phúc thì mối nào cũng độc-đáo gây ngạc-nhiên và bất-ngờ. Tất cả đòi người nghe phải cau đôi mày và kẻ muốn thực-hiện phải xét lại khả-năng. Như đây là lời kêu-gọi ‘lột xác’ vì Nước Trời. Nhưng cái mối Phúc đầu tiên (phúc cho ai có tinh-thần nghèo-khó) quả thật đã như bao-trùm cả 7 mối kia để mời những ai muốn theo Chúa phải lột-xác tòan-vẹn.
Chúa xuống thế không nhằm làm ta ra nghèo. Nghèo chắc gì đưa đến chữ yêu; nhưng nếu muốn thực sự yêu Chúa thì phải tập sống nghèo, như Ngài đã nên nghèo cho ta đựoc giàu no ơn-phúc. Ở đây Chúa không cấm ta sở-hữu của cải, có nhiều cũng không sao, miễn là đừng làm nô-lệ cho vật-chất, và tinh-thần không ham-mê tiền-bạc.
Suy về Thiền ở đây thật là tuyệt-vời. Nó luôn đòi ta thấy mình lúc nào cũng là trần-trụi, không làm chủ thứ gì, vì mãi ý-thức ‘của đời chóng qua’. Ngày đêm sẵn-sàng để Chúa ‘quấy rầy’ và đòi chuyển rời như Abraham xưa.
Cơ-nguyên của việc đòi-hỏi tình-nguyện nghèo ở đây là lòng phó-thác vẹn-toàn nơi Chúa. Khi ta dư-đầy, đâu cần Chúa đến giúp ! Đúng như lời mời gọi ‘Hãy lo tìm nước Trời trước, rồi Chúa sẽ lo-liệu cho mọi nhu-cầu sau’.
Nào khác chi với cái ý-niệm xa-tránh Tham Sân Si bên nhà Phật. Với đạo Chúa, nó còn vang-vọng một lời hứa ‘rồi nay mai sẽ có Nước Chúa Trời làm sản-nghiệp’, nghĩa là được chia-sẻ mọi sự cùng chính Đấng làm chủ cả vũ-trụ.
Đến đọan Chúa dậy các môn-đệ về cái nhu-cầu phải biết ‘từ bỏ mình’ mà theo Chúa thì ta lại càng tìm ra một đề-tài lý-thú nữa cho chuyện tìm Thiền. Thật tuyệt khi nghe Chúa khẳng-định rằng ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn kẻ nào sẵn-sàng bỏ mình thì sẽ giữ được ! Nghĩa là càng cho đi thì càng nhận được trở lại. Như hệt lời Chúa phán ở một nơi khác : Nếu hạt giống có rơi xuống đất, có thối đi thì mới mong có ngày nảy mầm rồi sinh ra đuợc bông lúa.
Phải chăng đây là hình-ảnh của Thiền đòi biến mình thành ra cái Vô trước, rồi mới mong nhìn ra cái Hữu ? Tới lúc Chúa lên tiếng kêu gọi mọi người phải nên như con-trẻ, thì ta lại càng thấy bầu-khí Thiền ở chỗ cần rũ bỏ những mớ kiến-thức nặng-nề, những ‘túi khôn’ rởm đầy dị-hợm ai cũng ưa khóac lên mình, nhất là khi giao-tiếp với tha-nhân. Tâm-tư con-trẻ sẽ là cái điều-kiện không thể thiếu để hướng về cõi thần-thiêng.
Bài học đừng trói buộc mình vào những lề-luật bên ngoài và vô-nghĩa cũng giúp ta một đề-tài nữa : Không nên sống gỉa-hình, nhưng cần chú-trọng vào cái Tinh-thần, cái Tâm bên trong. Chính cái Tâm này làm nên giá-trị đích thực của đời ta.
Khi thánh Gio-An tả câu truyện Chúa chữa người mù từ bẩm sinh, cùng với những lời Chúa tuyên-bố cao-siêu của Chúa, ta mới nhìn ra cái tầm quan-trọng của sự ‘giác-ngộ’ trong tâm-tư những ai muốn theo Chúa. Nhiều khi ta bị mù trong hồn, bởi u-mê lầm-lạc, mà cứ ngỡ mình sáng. Thiền đòi ta ‘tỉnh-thức’ ở chỗ này.
Hãy dành chút thời-giờ ngồi suy-niệm về chuyện này. Thử nhắm mắt tưởng-tượng ta đang mù, hầu khao-khát được Chúa ban ánh-sáng vĩnh-cửu của Ngài.
Mẩu truyện ngắn-ngủi giữa Chúa và người thanh-niên xin theo làm môn-đệ Ngài (khi Ngài đòi về bán của-cải cho kẻ nghèo, thì anh đã tiu-nghỉu bỏ đi), cũng như những điều-kiện Chúa nêu ra cho ai muốn theo chân Ngài, thật sự cho ta thấy hình-ảnh ‘rũ bụi trần’ của Thiền : Cáo có hang, chim có tổ, nhưng ‘Con Người’ không có chỗ tựa đầu. Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết. Cầm cày không được ngó lại đằng sau.
Cũng không kém thú vị khi ta đọc tới khúc Chúa ghé thăm gia-đình thân ở Bê-ta-nia-a, với cái chi-tiết bà chị là Martha phàn-nàn với Chúa về người em là Maria không chịu phụ giúp mình trong việc bếp núc, vì cô này cứ muốn ngồi nghe lời Chúa. (Phúc-âm không nói tới cậu út là Lazarô, sau này chết đã 4 ngày được Chúa cho sống lại, lúc đó đang làm gì và ở đâu). Bấy giờ Chúa mới nhẹ-nhàng trách Martha : Con lo-lắng bối-rối về nhiều thứ quá, cái điều quan-trọng nhất của đời người thì em con đã chọn được, con có biết không ?
Lại một nẻo Thiền nữa ở chỗ này. Con người ưa làm đời mình ra phức-tạp rắc-rối, bày ra lắm thứ nhu-cầu không cần-thiết, để rồi trói-buộc mình vào tối ngày sáng đêm. Không nên ham-hố của đời mà thôi vẫn chưa đủ, nhưng còn phải bớt lo-lắng ăn gì mặc gì, rồi lại phải học ‘làm tóan trừ’ nữa : phải thường xuyên giảm-thiểu cái danh-sách về những điều-kiện thế này thế nọ mới có thể ‘sống’ được.
Với kẻ tin Chúa, điều cốt-yếu vạn-thuở vẫn là lắng nghe, tìm hiểu rồi đem ra thực-hành Lời của Ngài. Bởi Lời của Chúa đem ta đến gặp được chính Ngài. Dụ-ngôn về người phú-hộ bất-nhân chỉ lo tích-trữ và hưởng-thụ của đời, mà rồi chẳng đoái-hòai chi tới anh hành-khất nghèo nằm ăn xin ngòai cửa, để rồi bị hình-phạt hỏa-ngục, cũng bổ-túc thêm cho đề-tài nói trên.
Không lâu sau, đó Chúa còn lên-tiếng cảnh-cáo những người giàu (thiếu tinh-thần khó-nghèo) như sau : Con lạc-đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người-lắm-của-cải vào nước Trời !
Gần tới dịp Chúa chịu khổ-nạn, Ngài còn dạy một bài-học để đời : Của César hãy trả cho César, còn điều gì thuộc về Thiên-Chúa thì hãy trả cho Thiên-Chúa. Ai cũng niệm-suy được rằng cảnh-vực thần-linh không thể đem hòa lẫn với những yếu-tố trần-tục chóng qua.
Liên-tục kế-tiếp là lời khẳng-định về sự sống lại của mọi nhân-sinh; Dụ-ngôn 10 cô trinh-nữ nhắc-nhở thái-độ luôn sẵn-sàng tỉnh-thức; Câu-truyện Chúa rửa chân môn-đệ để dạy bài học khiêm-hạ và phục-vụ; Dụ-ngôn cây nho và nhánh nho đòi ta liên-kết với Chúa. Nhất nhất đều cho ta những đề-mục thật quý-gía để suy Thiền.
Bài Thiền chung-cuộc có thể dựa vào sự chết hào-hùng của Chúa để cứu chuộc mọi người. Chúa đã cho đi hết. Ngài đã đón nhận sự trống -rỗng, sự hủy-diệt tòan vẹn, để sau đó đón-nhận sự Phục-sinh vinh-hiển dài lâu.
Thiền với Chúa ? Còn gì cao-đẹp, ý-nghĩa hơn !
THÁNH PHAO-LÔ NHẬP CUỘC
Giáo-hội quả thật đã rất may-mắn có được vị Tông-Đồ Dân-Ngọai này, để dạy-dỗ, hướng-dẫn và nêu những tấm gương tuyệt-vời cho các Ky-tô hữu thời sơ-khai, trong việc theo, hiểu và sống đạo của Chúa Giê-su.
Hầu như mỗi Thánh-lễ Chủ-nhật đều có một bài đọc đo Ngài làm tác-giả để khích-lệ các giáo-dân tin, cậy và yêu-mến Chúa. Thánh-Kinh Tân-Ước, qua tập sách Tông đồ Công-vụ, lần đầu cho ta gặp Ngài là một chàng thanh-niên xuất-hiện trong việc cổ-võ ném đá tới chết thánh Tê-pha-nô, vị Tử-đạo tiên-khởi của đạo Chúa. Sau đó là chuyện ông, nhân danh là một thành-viên Pha-ri-siêu đầy nhiệt-huyết, dùng trát tòa đi khủng-bố và bắt giam những kẻ dám theo ‘Đấng chịu đóng đinh’.
Gốc-gác Ngài thuộc gia-đình Do-thái di-cư qua sống bằng nghề dệt lều vải tại thị-trấn Tar-sô, nay nằm trên bản-đồ xứ Thổ-nhĩ-kỳ, không xa biên giới Syria bao nhiêu. Vì mang giòng máu chi-tộc Ben-gia-min hăng-nồng trong nguời, Sao-lê, tên cúng cơm thời trai trẻ của Ngài, đã quyết-tâm về Giê-ru-sa-lem thụ-huấn với vị tôn-sư nổi tiếng là Ga-ma-li-el, trong hướng-đi truyền-thống tuyệt-đối của đạo ‘Giu-dêu’, dựa trên lề-luật đã được Mai-sen ban-bố.
Có lẽ Phao-lô chưa một lần được diện-kiến Đức Giê-su sau khi tới Palestina. Nhưng trên đường ‘công-tác’ về hướng Damascus, thủ-đô Syria, Ngài đã hạnh-ngộ với Chúa khi bị chính Chúa quật-ngã khỏi yên ngựa. Chúa trách Phao-lô bách-hại Ngài qua việc bách-hại các Ky-tô hữu, rồi khiến ông bị mù mắt. Ông đã sợ-hãi bối-rối hỏi xem Chúa là ai và muốn ông làm gì.
Thế là lịch-sử đời ông đổi-thay hoàn-tòan. Ông đã vào thành, được một thày tư-tế hướng-dẫn, chữa khỏi mù, rửa tội, và hỗ-trợ trong quá-trình ‘làm lại cuộc đời’ với Chúa. Chính vị tư-tế này đã được Chúa mạc-khải” Người này sẽ được thấy tất cả những đau-khổ rồi đây sẽ hứng-chịu vì danh Ta”.
Dĩ-nhiên, cùng với huyết-thống hăng-nồng, Phao-lô bắt đầu rao-giảng về Đức Ky-tô ngay. Nhưng người Do-thái căm-giận thấy ngài phản-bội họ, nên nhất định tìm mưu ám-hại. Thế là ngài vào ‘tĩnh-tâm’ 3 năm liền ở sa-mạc Arabia để tu-luyện theo mẫu của Mai-sen cũng như tiên-tri E-li-sê.
Sau khi ra mắt và được chuẩn-nhận bởi các tông-đồ Chúa tại Giê-ru-sa-lem, ngài từ từ khẳng-định hướng-đi là rao-giảng chuyên-biệt cho dân ngoại (không thuộc gốc Do-thái). Đặc biệt ngài được Bar-na-ba hỗ-trợ qua việc giới-thiệu để sinh-họat tại giáo-đòan An-ti-ô-chi-a, thuộc Syria, sau khi bênh-vực ngài mạnh-mẽ trước mặt các tông-đồ.
Từ căn-cứ giáo-đòan nổi-danh này, Phao-lô đã ‘ra quân’ liên-tiếp 3 cuộc hành-trình truyền-giáo thời-danh, không dựa vào cái ‘mác’ công-dân La-mã của mình, nhưng vào niềm tin mến tuyệt-đối vào ân-sủng và tình-thương vô-bờ của Chúa, để rồi đem về cho nước Chúa biết bao linh-hồn, cũng như nêu những tấm gương độc-nhất-vô-nhị về lòng trung-kiên cũng như nhiệt-thành của một vị đại Tông-đồ của Chúa.
Phao-lô đã hướng-dẫn dân Chúa qua một khung-khổ Thần-học vững-vàng, và ở đây chúng ta biết ơn ngài về một nền-tảng Tu-đức tuyệt-hảo, chẳng những qua lời giảng-dạy, mà còn bằng chính gương sáng ngài thực-hành trong suốt quãng đời anh-hùng, với hình-ảnh một chiến-sĩ can-trường luôn sẵn-sàng với thanh kiếm thiêng-liêng chiến-đấu mở rộng nước Chúa.
Nền-tảng Tu-đức nói trên cho chúng ta những mẫu-mực cụ-thể để bàn về câu chuyện suy Thiền trên đường tìm và gặp Chúa trong những trang giấy này.
Chính thánh Phao-lô đã là người duy-nhất trong lịch-sử Ky-tô giáo dám lên tiếng với giáo-dân : Anh chị em hãy bắt chước tôi như tôi đã bắt chước Đức Ky-tô. Phao-lô nói điều này với cả cõi lòng chân-thành và khiêm-tốn nhất, bởi ngài đã thực-hiện được điều này : Tôi sống, nhưng thật ra không phải là tôi, mà là chính Chúa Giê-su sống trong tôi.
Theo ngôn-ngữ Thiền thì Phao-lô đã thành Phật vì ngài đã đồng-hoá mình hòan-toàn với cái mẫu-mực tối-thượng mình đang tìm về. Thánh-nhân đã coi như là bản ‘copy’ in-hệt bản gốc với nguyên-vẹn hình-hài của thày Chí Thánh, và sao-chép từ Ngài trọn-vẹn từng hơi thở và từng ý-nghĩ dù lớn hay nhỏ.
Đi vào chi-tiết, Phao-lô đã mời gọi chúng ta từ-bỏ con người cũ mà mặc lấy con người mới, là con người của chính Đức Ky-tô. Phải dứt-bỏ con-người theo cái khuôn A-dong xưa, bằng cuộc chiến-đấu truờng-kỳ chống lại những mê-muội lầm-lạc, bóng-dáng của tội-lỗi, của ham-mê xác-thịt cũng như của việc nô-lệ ý riêng.
Ngài mong mỏi các tín-hữu phải cởi-mở cõi lòng cho Thần-linh của Chúa, trong một tâm-thức đơn-sơ khiêm-hạ của những con-cái nhỏ bé của Chúa, sao cho mỗi ngày mỗi được biến-đổi nên giống như Ngài. Khi hiểu rõ về Phao-lô, ta cũng thấy nơi ngài có một điểm khá độc-đáo và rất gần với Thiền : Ngài luôn mở rộng cõi lòng mình cho tất-cả, không trừ một ai : Tôi trở nên mọi sự cho mọi người. Muốn thông-hiệp với tất-cả. Muốn xây-đắp cho một thân-thể mầu-nhiệm rộng lớn của Chúa trong tòan-thể gia-đình nhân-loại, trước khi đề-cập tới giáo-hội Công-giáo riêng-rẽ.
Cũng chính bới cái ý-hướng chỉ-đạo này mà ngài hăm-hở ra đi mang tình-yêu và ân-sủng của Chúa đến cho mọi linh-hồn ‘dân ngọai’. Ngay trong lá thơ đầu gửi cho tín-hữu Ro-ma, Phao-lô đã đề cập ngay tới chuyện đa số nhân-lọai sống trong u-mê lầm-lạc, mất lương-tri và thích làm điều bất-chính. Riêng với dân Do-thái cũng chẳng khá gì hơn, bởi lòng họ đã ra chai-đá, bất tuân sự thật và chạy theo điều xấu. Quen với Thiền thì đây là lúc phải tỉnh-thức và tu-sửa.
Thế là cần có ơn Giác-ngộ, không theo sức riêng, nhưng là dựa vào Thần-linh Chúa để được giải-thóat và tái-sinh dài lâu. Ơn cứu-độ đã trải rộng ra nhờ việc Đức Ky-tô chết cho mọi người.
Khi nói với dân Co-rin-tô (nay thuộc lãnh-thổ Hy-lạp), Phao-lô nhắc ngay tới câu chuyện ‘sự khôn-ngoan chân-thật’ ta cần học biết : Bao nhân-thế đeo-đuổi sự khôn-ngoan giả-tạo qua những công việc hão-huyền, trong khi lại khinh-rể, lại cho là điên-rồ, sự khôn-ngoan thật trong Lời của Chúa, qua sự rao-giảng về một Đấng Ky-tô chịu đóng đinh.
Phảng-phất đâu đó bầu khí Thiền khi chúng ta đọc tiếp : Thiên-Chúa đã chọn những điều trần-gian cho là yếu-kém để đánh bại và hạ nhục những gì họ coi như hùng-mạnh, cũng như Ngài thích dùng cái không có, cái không đáng kể, để hủy-diệt những cái đang có nơi họ !
Thế là Phao-lô sung-sướng khi bị chê là tông-đồ hạng bét, hãnh-diện khi được gọi là kẻ dại-khờ, bình-thản khi trở thành trò cười cho nhân-thế. Đi xa thêm, ngài tuyên-bố tuy mình là một kẻ tự-do, nhưng tình-nguyện trở thành nô-lệ để làm tôi mọi người. Cái tâm-thức chịu làm nô-lệ cũng như cái thái-độ tự ý đón-nhận những hy-sinh kham-khổ ấy thực ra nhằm để thóat khỏi một chuyện rất đáng sợ, chuyện mà ngài đã thành-thật tâm-sự với các con chiên của giáo-đòan Co-rin-tô, đó là : “Kẻo mà sau khi rao giảng cho người khác, cuối cùng chính tôi lại bị loại ra !”
Ngài đón-nhận tha-nhân, ôm-ấp mọi thiếu-sót của họ làm như của mình : Có ai yếu đuối mà chính tôi không cảm thấy yếu-đuối với họ ? Và tôi cũng luôn tự-hào về những yếu-hèn của chính mình, bởi nhờ đó mà sức mạnh của Chúa sẽ được biểu-lộ trọn-vẹn trong tôi : Khi tôi yếu nhất, chính là lúc tôi được mạnh nhất.
Phao-lô đã thoát ra được cái ‘tôi’ nặng-nề để đồng hóa cùng tất cả, biến mình thành con số không, để mong được đầy tràn, viên-mãn. Thiền-sư nào dám coi nhẹ Phao-lô ?
Dân Ga-la-tia ( có giòng máu Gaulois, tổ-tiên người Pháp, lúc đó di-cư tới miền Tiểu-Á ) đã nhận được lời khuyên qúy-giá của Phao-lô về giá-trị của tình-trạng tự-do thiêng-liêng Chúa ban cho chúng ta, sau khi ngài giải-thóat mọi người khỏi ách nô-lệ : Vì thế chớ ai dại-dột mà quay trở lại tình-trạng tồi-tệ cũ, qua việc dong-dưỡng xác-thân cũng như nuôi hận chuốc thù. Hệ trọng nhất là không được quên điều này : Ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy. Đâu có xa là bao khi trao-đổi đề-tài với nhà Phật, cửa Thiền !
Khi chia-sẻ với giáo-đòan Ê-phê-sô ( nay cũng thuộc đất Thổ-nhĩ-kỳ ), thánh Phao-lô chú-tâm đặc-biệt tới cái mục biến đổi nên giống Chúa (tu thiền cho mau thành Phật !) : Bởi Đức Ky-tô đã tự hạ sâu-thẳm tận cùng, nên Ngài được nâng lên cao tối thượng để làm cho vũ-trụ được viên-mãn, và có quyền-phép đưa chúng ta lên theo, đạt tình-trạng trưởng-thành, rồi sẽ tới tầm-vóc viên-mãn như Ngài.
Để được thế, ta cần xa-tránh sự tối-tăm mê-muội, nhưng phải bừng-tỉnh theo ánh-sáng mới :
Tỉnh thức đi những ai còn mê ngủ,
Từ chốn tử vong chỗi dậy đi nào…
Giác-ngộ chứ là chi nữa ?
Ngài nói chi-tiết nhiều hơn khi viết thơ cho dân Phi-líp-phê (quê đại-đế A-lịch-sơn, nay là xứ Macedonia), yêu cầu họ theo gương ngài để đành mất hết, đành chịu những thiệt-thòi nhất, đành coi mọi sự như đồ bỏ, rác rến : “Những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay tôi cho là thua thiệt, để được Đức Ky-tô”.
Ta cũng gặp cái đòi-hỏi rũ sạch con người cũ nơi Thiền khi đọc tới chỗ Phao-lô khuyên tín-hữu Co-lô-xê ( gần thành Ê-phê-sô ) : Hãy nhớ anh em đã cởi bỏ con người cũ đi rồi. Hết còn phân-biệt và chia-cách Do-thái hay dân ngọai, nô-lệ hay tự-do…Dĩ nhiên còn lại tinh-thần của Đức Ky-tô mà thôi. Chính qua Ngài mà chúng ta được giải-thóat khỏi quyền-lực tối-tăm, cho ta nên xứng-đáng chung hưởng phấn gia-nghiệp của các Thánh, trong cõi đầy ánh sáng.
Khi tâm-sự với dân thành Thê-xa-lô-ni-ca (xưa là thủ-phủ xứ Macedonia), Phao-lô mượn ý của chính Chúa Giê-su khi khuyên dân chúng phải luôn sống trong tỉnh-thức và sẵn-sàng để được về kết-hợp với Thiên-Chúa : Chúa sẽ đến gọi ta như ‘kẻ trộm’, vào giờ ta không biết, vào ngày ta chẳng hay; đặc-biệt chớ sống trong bóng tối, kẻo ngày ấy như tên trộm bắt chợt mình. Không nên ngủ mê và say-sưa. Vẫn lại là ý Thiền mong ta hoà làm một cùng Phật đại-đồng : Dẫu là thức hay ngủ, ta hãy sống trong Chúa.
Lần thứ hai, ngài mong-ước giáo-dân cố giữ cho tinh-thần không bị giao-động hay hoảng-sợ, cũng không dại-dột để kẻ khác phỉnh-gạt lừa-dối. Vẫn là nẻo đường tránh u-mê, luôn tỉnh-thức.
Cũng với những ý-tưởng đó mà Phao-lô khuyến-cáo khi gửi thơ cho đồ-đệ là Ti-mô-thê : Con đừng để ai khinh-thường mình là còn ‘non người trẻ dạ’. Cũng chớ bận-tâm vì những chuyện hoang-đường nhảm-nhí, những điều thêu-dệt bày-đặt trong đám phàm-phu. Hãy tập-trung tâm-tư, thay vì để nó bị phân-hóa và chi-phối cuồng-lọan.
Đồ-đệ Ti-mô-thê cũng được nhắc phải hướng-dẫn các tín-hữu tập xa lánh những chuyện viển- vông lệch-lạc, bởi họ thường-xuyên bị cám-dỗ ngoảnh tai đi không nghe chân-lý, do ảnh-hưởng của các việc trần-tục cũng như do dục-vọng của xác-thân.
Một ví-dụ nữa của việc thiếu-sót tinh-thần Giác-ngộ theo hướng đi của Thiền.
Với môn-đồ Ti-tô, Phao-lô khích-lệ về chuyện cần luôn sống và nêu gương cho giáo-dân với cái thái-độ tỉnh-thức : Chúng ta xưa kia khờ-khạo u-mê và lầm-lạc, lại thêm những hành-vi gian-ác thù-hận, nay được ơn tái-sinh đổi mới rồi, hãy gắng bước lên mong đạt phúc trường-sinh.
Trong thơ gừi cho chính các tín-hữu gốc Do-thái (rất đông các nhà Thánh-kinh tin cũng là do Phao-lô viết), tư-tưởng rũ-bỏ những hình-thức truyền-thống nơi các hy-lễ, tế-tự cũ rất được chú-trọng. Cần ngước lên chính Đức Ky-tô mà canh-tân tất cả. Kèm theo đó là tấm lòng khiêm-tốn cởi-mở chân-thành.
Với giòng-dõi dân riêng của Chúa, điều tối cần thiết là kiên-trì trong tinh-thần mới, đừng để tâm-tư bị xao-xuyến hay rung-động. Ánh sáng từ trên cao sẽ ngập-tràn, và ngày vinh-hiển dài-lâu sẽ chẳng còn bao xa.
KẾT LUẬN THỰC HÀNH
Đây là phần cuối của tác phẩm TÌM THIỀN TRONG ĐẠO CHÚA của Linh mục NGUYỄN VĂN THƯ .
………………………………………… ………………………………………… …..
Từ lúc lịch-sử và văn-hoá xứ Ấn-độ còn mịt-mùng khói-sương, người ta đã biết tới YOGA, cái ‘tiền thân’ yêu-qúy của THIỀN. Yoga cũng liên-hệ tới chuyện đạo-giáo, nhưng xem ra chú-trọng đến mục luyện thân thể nhiều hơn. Cái ‘thân’ này luôn được tin giữ vai-trò đắc-lực hỗ-trợ tái ‘tâm’ trong con người.
Qua bao ngàn năm, các bậc thày bên xứ ‘Thiên-trúc’ đã gìn-giữ và đào sâu thêm cái kỹ-thuật và truyền-thống cao-cả trong việc ‘Nhập Nội’ của mình, khiến gây kinh-ngạc cho khách từ phương xa.
Người ta hãnh-diện bởi tin rằng Yoga cũng như Thiền có năng -lực giúp con người, sau khi luyện Thân và luyện Tâm, còn hỗ-trợ chuyện luyện Đức. Thế là, theo ngôn-ngữ nhà Phật, chúng ta có sức tiến tới chỗ Đại-giác, Đại-độ, Đại-thông và dần-dà đi vào Hạnh-phúc viên-mãn ( nhờ tình-trạng Tự Ngã Tự Thân : Hoàn toàn làm chủ mình để chuẩn bị bước vào cõi siêu-nhiên, hiệp-nhất với ‘siêu-việt-thể’ ).
Nhà đại tư-tưởng và triết-gia J.Krishnamurti đã từng lên tiếng mời gọi như sau : “Cùng nhau chúng ta hãy trầm-tư, hãy nhẹ bước trên con đường nhỏ tịch-mịch, thinh-lặng và xinh-đẹp, rồi ngước mắt nhìn lên ngọn núi với tuyết phủ trắng xoá…và đây, trong một thoáng, bạn thấy như quên cả chính mình, quên mọi muộn-phiền, quên mọi thứ trong cả quá-khứ lẫn hiện-tại. Hồn bạn sẽ bị cuốn-hút và hoà-nhập vào cả vũ-trụ bao-la : hết còn bản-ngã, chẳng còn cái Tôi. Và sau đó hãy từ-tốn bước vào đời trong cái tâm-trạng này, với lòng trí đơn-sơ và thuần-khiết, bỏ lại sau lưng cái mớ kiến-thức được tích-lũy từ lâu nay. Đầu óc bạn sẽ thanh-thản, tự-do và tâm-hồn bạn sẽ được linh-hoạt và sống-động, cũng như cả con người bạn sẽ tràn đầy năng-lực khác thường “.
Tuy nhiên, ngó vào hành-trang của những vị Thiền-sư ‘thứ thiệt’, ta sẽ thấy cái mục tìm an-vui được Krishnamurti giới-thiệu trên đây chỉ là cái bước sơ-khởi ở bậc ‘mẫu-giáo’. Muốn đặt chân vào lãnh-vực Thiền cho đúng nghĩa, như chúng ta đã nói ở chương đầu, ta phải lãnh-hội cho thấu-đáo tâm-tư của Phật-tổ khi ngài tham-thiền dưới gốc cây Bồ-đề hơn 2 ngàn năm trước.
Muốn tẩy sạch lòng trí khỏi mọi ham-muốn và ước-mơ, cũng như giã-từ mọi bóng-dáng của cái Ngã nặng-nề ư ? Ta phải đi vào khuôn-khổ của giáo-lý nhà Phật.
Thế nghiã là ta không được hiểu Thiền chỉ đơn-thuần mang ý-nghĩa cuả chuyện tìm ‘nghỉ mệt’. Nó cũng không chỉ là việc lên chùa dự khoá tu thiền như đi tới phòng mạch bác-sĩ thần-kinh. Các bài-học qua sách vở bày bán khắp nơi may ra chỉ có giá-trị bằng vài viên thuốc an-thần có công-hiệu nhất thời, đặc biệt cho những con bệnh đang gặp trục-trặc tâm-lý vì cuộc sống đang quá ‘vọng động’.
Thiền chân-chính đòi một nấc thang đã có khả-năng ‘chứng-nhập thực-tại tuyệt-đối’ theo giáo-thuyết của Đức Như-Lai. Ở nấc thang này, con người không cần lo vượt qua những ràng-buộc hay biến-động nữa, cũng chẳng cần kiềm-chế cho cái Tâm được yên-nghỉ thêm, cũng không phải lo giải-trừ phiền-não. Bởi ta và vũ-trụ đã thành một thực-thể không phân-biệt, không biên-giới. Đây chính là hính-bóng của một trí-tuệ siêu-việt sẵn-sàng chờ chuyện giải-thoát.
Vậy vẫn là chuyện đã rõ từ ban đầu : Thiền là việc đưa ta đến mục-tiêu trở thành Phật. Chuyện nắm được cái ‘vô biên vô tận’ cũng như chuyện đạt đích ‘giải-thoát tối hậu’ theo Phật-tổ nó khác xa với việc ta trải qua vài giờ đồng hồ để mong giữ cho thân tâm được ‘nghỉ ngơi’.
Thành ra, ta phải kết-luận dứt-khoát : Thiền đến từ nhà Phật. Nó quấn-quýt lấy giáo-lý không đề-cập chi tới một đấng Tạo-hóa tối-cao có sức chi-phối mọi sinh-hoạt và biến-chuyển của vũ-trụ cũng như nhân-loại. Có thể Đức Thích-Ca chưa muốn nhắc tới Thiên-Chúa vì chỉ tạm nhằm giúp
con người mau thoát ‘bể khổ’ trần gian. Tuy nhiên, giáo-lý đạo Chúa nêu lên cái điều khác biệt từ căn-bản gốc-rễ, lớn lao và nghiêm-trọng khi phải nói về một Tôn-giáo. Người ta không thoải-mái khi dùng từ-ngữ ‘Vô Thần’, nhưng thực-sự đạo Phật không ( hoặc chưa ) công-nhận sự hiện-diện của một đấng Tối-cao như bên đạo Chúa.
Câu chuyện chúng ta bàn-bạc trong tập sách bé nhỏ này là chuyện THIỀN : Nó đang được nói trên cửa miệng mọi giới. Nó cũng gây sức hấp-dẫn cuốn-lôi bao cá-nhân cũng như đoàn-thể. Chúng ta đã phải công-nhận nó đang là cái ‘mốt’ thời-thượng hôm nay.
Cái tin vui là truyền-thống Thiền đã gây ấn-tượng và ảnh-hưởng tích-cực không nhỏ qua bao thế-hệ. Nó đã từng là động-cơ phát-triển cho bao tổ-chức và cơ-sở Phật-giáo, nhất là tại Việt-Nam ( tìm lên nương-náu cửa Thiền !). Phương-thức và kỹ-thuật của Thiền quả thật cao siêu, không mấy ai tranh-biện hay chối cãi.
Thế là, trong cái khung-cảnh của xã-hội ồn-ào náo-nhiệt ngày nay, chúng ta cùng nhau ‘mạo-muội’ ( hay táo-bạo ) đi tìm một lối đi ‘đại-kết tân-thời’ : Mượn cái ‘bao’ (vỏ) của Thiền, với những kinh-nghiệm về phương-pháp và kỹ-thuật dồi-dào, rồi thay vào bên trong (cái ruột) bằng những nội-dung, những giáo-lý, những tâm-tình đạo Chúa.
Nói khác đi, ta dùng toàn chất-liệu căn-bản Ky-tô giáo được lồng trong cái hình-thức Thiển theo nhà Phật. Tất cả chỉ là mượn cách tập-trung hơi thở, định-hướng nội-tâm, học thế đứng ngồi…để tiến tới trạng-thái ‘tâm an thần định’. Nó còn kèm theo cách-thức làm chủ trí tưởng-tượng và mọi cảm-quan, trước khi tìm về bậc thuần-nhất và đơn-giản-hoá cái đối-tượng ta suy-niệm, và cuối cùng siêu-thoát, không còn thấy cái ta lẻ-loi nữa : Sẽ biến tan làm một với Chúa và trở thành hư không trước thánh nhan Chúa (bên Phật gọi là tới chỗ ‘định hư’).
Cái yếu-tố quan-trọng hàng đầu của Thiền chính là hơi thở. Ở đây, ta thở ra hít vào chính Thần-Linh của Chúa, làm như hít thở chính khí trời. Chính việc tác-động của Thần-Linh này sẽ cho phép ta bàn tới môn ‘Thiền Ky-tô giáo’.
Thiền Đông-phương đã từng chú-ý một cách đặc-biệt vào mục làm chủ hơi thở : Thở chậm và đúng cách sẽ giúp làm thể-chất cũng như tinh-thần chúng ta hoạt-động hăng-say hữu-hiệu hơn, kể cả chuyện giúp các bệnh-nhân mau hồi-phục sức khỏe. Giống như bên Lão giáo dùng chuyện này để tiếp-nhận những khí-lực cuả trời đất, nhà Phật thích dùng nó để làm trọng-tâm cho công-tác Thiền-Định.
Thở ‘đúng cách’ thực ra là thở bằng bụng : Hít khí trời vào thật chậm và lâu rồi dồn khí xuống bụng ( đan điền ) thay vì chỉ ‘khơi khơi’ đưa vào phổi. Sau đó lại thong-thả thở ra bằng miệng. Bầu khí dồi-dào này sẽ bồi-bổ toàn thân cũng như làm trong-sáng tâm-linh : Nó giúp ta bình-thản nhìn ra thực-tại trong trí lòng mình cũng như ngoại cảnh. Cách riêng nó giúp làm bớt tâm-trạng căng-thẳng và lo-sợ cũng như sầu-buồn.
Lời khuyên tổng-quát cho việc thực-tập Thiền là như sau : Cần chuẩn-bị tâm-tư trước, cần gạt bỏ những ý-nghĩ giận-dữ bực-bội hay muộn-phiền, rồi tìm một khung-cảnh thanh-tịnh với làn-khí êm-nhẹ thoải-mái. Thời-gian nên ở vào lúc ta ít bị chia trí hoặc lo-lắng nhất ( ít ra để khỏi phải cố-gắng quá mức khi muốn tập-trung tư-tưởng ), và dĩ nhiên nên tránh lúc vừa ăn no hay uống nhiều rượu.
Riêng về tư-thế của thân-thể, ta có thể Thiền cả khi nằm, đứng, ngồi hay qùy. Tuy nhiên thế ngồi thường là thuận-lợi và phổ-thông nhất. Đa số ngồi ‘xếp bằng’ (kiết già) và có thể kê một chiếc gối ở dưới ( nếu cần có thể ngồi trên một ghế bình-thuờng ). Tuy-nhiên luôn phải giữ cho lưng thật thẳng ( có thể bắt đầu bằng cách ngồi dựa lưng sát vào tường ).
Riêng về hai tay, ta có thể để ngửa hoặc úp lên đầu gối, mà cũng có thể đặt hai bàn tay ngửa lên nhau ở giữa lòng. Còn về hai mắt thì tốt nhất nên ‘lim dim’ ( mở mắt dễ chia trí từ ngoại cảnh, và nhắm mắt dễ chia trí từ nội tâm ).
Lý tưởng là ta nên bắt đầu ‘tham thiền’ mỗi ngày nửa tiếng đồng hồ. Dĩ nhiên khi mới thử sẽ thấy khó ‘cầm trí’ lắm. Nhưng ta cứ phải kiên-trì dài lâu. Rồi cũng sẽ quen.
Nào mời các bạn cùng nhập cuộc nhé. Ta ngồi thoải-mái và hít vào Thần-khí của Thiên-Chúa cho tràn ngập thân xác và tâm tư mình. Giữ thái-độ rất dịu-dàng và mở rộng, không gò bó hay gượng gạo chi hết. Hãy để cho Thần-khí này thống-lãnh và hướng-dẫn trí lòng ta, sẵn-sàng cho con người mình tan-biến trong sự hiện-diện tuyệt-đối của Chúa trong ta.
Rồi tự-nhiên một tư-tưởng bất-thần xuất-hiện trong tâm-tư ta ( hoặc ta có thể tự khơi ra ), ví dụ nhớ lời Chúa nói với Martha ‘con lo-lắng bối-rối về nhiều chuyện quá, chỉ có một điều cần-thiết trên đời….’ Ta bắt đẩu để cho Thần-khí Chuá tác động giúp ta hoà-nhập vào tinh-thần của Đức Ky-tô khi Ngài phán lời này.
Tiến-trình tĩnh-tâm, suy-gẫm và chiêm-niệm cứ thế mà trôi đi, nó đem đến cái mục ý-thức và chứng-nghiệm cá-nhân rõ-ràng : Đó chính là trạng-thái Tỉnh-thức và Giác-ngộ chân-lý của Thiền. Nó thấu-nhập vào hồn ta và hướng ta tới chỗ đem ra sống. Thiền Đông-phương cho ta kinh-nghiệm về chuyện ‘cầu-nguyện tập-trung’ được ‘rửa tội’.
Trong việc này, ta không hề mở miệng đọc một lời kinh, không một lần xin sỏ thứ gì, cũng chẳng ước mơ chuyện chi. Một cách nào đó, ta quên hết không-gian lẫn thời gian, và đóng tất cả mọi giác-quan, mọi xúc-cảm, mọi suy-nghĩ, mọi lo-lắng và ràng-buộc : thế là ta chìm vào cõi im-lặng tựa-hồ của cõi hư-vô, nhưng chính là cõi ‘trời mới đất mới’ bên Chúa. Và cùng một lúc, ta vẫn ý-thức mình đang được kết-hợp với Ngài.
Trong thực-hành, ta ‘an-trú’ bình-yên trong tình-thương ấp-ủ của Chúa, là đấng ẩn-giấu trong cõi im-lặng. Qua chuyện ‘Thiền trong Chúa’ như vậy, ta gặp được Chúa trong cái trống-vắng nhiệm-mầu, không thể tả bằng bút hay nói ra bằng lời, nhưng chỉ bằng cảm-nghiệm cá-nhân, thật giản-dị và đơn-sơ. Tất cả nhờ vào chỗ hoàn-toàn phó mặc và tin-tưởng vào tình-yêu của Ngài.
Linh-mục Chu-Công, cũng là bạn đồng-môn của cha Thomas Merton, đã đồng-ý với nhà tu-đức thời danh này để phát-biểu rằng : Lúc đó, ta không chủ trương đi tìm cái gì cho mình hết ( dù là sự bình-an ), mà cũng chẳng xử-dụng tới lý-trí hay suy-luận, nhưng chỉ đi tới động-tác là có một kinh-nghiệm ‘vui sống’ trong sự hiện-diện của Chúa. Nhớ lại rằng Chúa đã tạo-dựng linh-hồn chúng ta qua việc thở hơi vào xác-phàm con người : Sự sống đến nhờ hơi thở của Thiên-Chúa. Thế là ta cứ ngồi im-lặng mà hít thở chính Thần-khí của Ngài.
Nơi đây là lãnh-địa của niềm tin và khiêm-hạ.
Ta trao-hiến trọn-vẹn cho tình yêu thương của Chúa, không đòi-hỏi hay giữ lại điều chi cho mình.
Chính những buổi chiêm-niệm ‘Định-An’ ( theo từ-ngữ của cha Hoàng-sỹ-Qúy ) như trên sẽ cho ta một ngày sống với tình-yêu sung-mãn của Chúa tràn-ngập và bao-phủ tâm-hồn ta liên-tục. Còn nếu ta Thiền vào buổi tối, ta sẽ được hưởng một giấc ngủ an-bình tuyệt-hảo. Chính vị Linh-mục này xác-quyết rằng, sau một thời-gian thực-hành, ngài đã thấy tác-động tỏ-tường của Thần-khí Chúa khi Ngài lấy những gì Chúa dạy bằng ngôn-ngữ bên ngoài để dạy lại bằng kinh-nghiệm bên trong cho ta.
Đây là lúc chúng ta biết vượt qua ‘Đêm đen’ tâm-hồn như thánh Gio-an Thánh-giá đề-cập : Ta phải rơi vào cõi ‘chân-không’ huyền-nhiệm, phải vượt ra khỏi cái điểm tựa xưa nay thường dành cho cảm-năng, lý-trí cũng như ký-ức, bởi hết còn thấy bóng-dáng cái Tôi của bản-thân mình. Thế là cái đầu tầu sẽ phải là chính ‘máy phản-lực’ của Chúa Thánh-Thần.
Khi ta ngồi Thiền mà suy-gẫm về lời Chúa “Ai đi tìm mạng sống mình thì sẽ mất, nhưng ai đành mất thì sẽ gặp đuợc nó”, chúng ta sẽ thấm hiểu rằng đây là lúc phải tập cho buông-rơi cái Tôi cố-hữu của mình, cùng với mọi sở-thích và ý riêng : Chối bỏ nó để rồi nhận lại cái Tôi mở rộng bao la trong Chúa. Cái tinh-thần của chuyện ‘bỏ mạng sống mình’ ở đây là biến đời ta thành ‘loài người mới’, với trời mới đất mới theo sách Khải-huyền Tân-Ước.
Nói cho rành mạch hơn, nếu Ấn-giáo bảo đời là một giấc mơ, Phật-giáo nói đời là sắc tướng, Lão-giáo nghĩ đời là khung cảnh cho ta siêu-thoát, thì Đạo Chúa luôn nhắc-nhở ta đời chỉ là cõi phù-vân : Mọi sự mau qua chóng hết. Thế là ta cần học cách quên mình để sống theo mẫu Thày Chí Thánh, lồng trong khung-cảnh yêu-thương vượt lên trên mọi hiểu-biết bình-thường.
Ky-tô giáo gặp gỡ Đông-phương nơi cái kinh-nghiệm về sự huyền-nhiệm : Khi ý-thức rằng Thiên-Chúa cao và sâu hơn chỗ cao và sâu nhất của tôi, thành ra tôi cần đồng-hoá với Ngài, nhất là khi sung-sướng biết rằng Ngài đã đến với nhân-loại chúng ta, và lại chết để cứu-chuộc loài người cũng như đã phục-sinh hiển-vinh.
Trước sau cũng cần tiến tới bậc thang thánh Phao-lô đã từng đề ra : Tôi sống, nhưng không phải tôi, mà là chính Đức Ky-tô sống trong tôi. Với cái kỹ-thuật của Thiền, ta tập nhìn và tìm gặp Thiên-Chúa ở ‘trong’ ta thay vì ở ‘trên’ ta như trước đây ( Nước Trời ở trong tâm-hồn chúng con ). Chúng ta cũng sẽ đi theo lối đào sâu vào nội tâm để ‘đạt ngộ’ nhiều ít tùy theo khả năng chúng ta được biến-đổi và kết-hợp với Chúa. Và dĩ-nhiên một khi các mầu-nhiệm về Chúa cũng như các lời Ngài giảng-dạy, nhờ được suy-gẫm và ăn sâu vào tâm-tư ta, chúng sẽ tuần-tự được ta đem ra ứng-dụng trong đời sống thường ngày.
Lúc đó nền-tảng Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến của chúng ta mới thực sự có bề sâu vững-chắc, để rồi, theo lời Chúa nói, dù có mưa tuôn gió cuốn, căn nhà thiêng-liêng của chúng ta vẫn đứng vững. Ngược lại, một khi chúng ta chỉ đọc thoáng qua mấy câu kinh hay chỉ nghe vội-vã vài đoạn sách, Thần-khí của Chúa chưa có cơ-hội thấm-nhập sâu vào trí lòng ta, căn-bản linh-thiêng lúc đó sẽ chỉ là hời-hợt và nông-cạn.
Đầu mối câu chuyện ở đây là chính cái sự kiện chúng ta ngồi tĩnh-lặng, dẹp bỏ hết mọi trở-ngại lớn nhỏ để tạo nên một khung trời thuận-lợi cho việc tác-động của Chúa Thánh-Thần. Cái khung trời đó bao gồm cái mục lòng trí ta trở nên mềm nhũn, tựa hồ khoảng trống hấp-dẫn gọi mời thánh-ân Chúa tiến vào. Ở đây ta thấy được sự cần-thiết phải ra khỏi cái Tôi ( nhà Phật bảo phải chối bỏ cái Ngã ) theo ý-nghĩa của một cái ‘mặt nạ’ mình thường đeo trong sinh-hoạt xã-hội hàng ngày. Thế là cần có sự Thức Tỉnh trong tình-yêu, sau cuộc hạnh-ngộ lớn với Thần-khí Chúa, tựa như một cú va-chạm cực mạnh, để ta có thể Giác-ngộ về mình. Lúc đó ‘mình’ cũng gần như là con số không.
Cha Sỹ-Qúy có nêu lên một cách Thiền bắt chước các anh chị em Phật tử khi liên-tục niệm lời ‘Nam mô A di đà Phật’ : Sau khi ngồi thanh-thản và thở cho đều-đặn nhẹ-nhàng, ta bắt đầu đọc nhẹ tên Giê-su, hoặc chỉ nhẩm thầm trong trí, bằng tất cả lòng thành-kính và phó-thác. Sau đó dần dần đẩy sâu cái âm-thanh đầy trìu-mến ấy vào trong trái-tim mình. Cần giữ cho lời niệm luôn ăn nhịp với hơi thở.
Ta có thể đổi lời niệm ‘Giê-su’ bằng một câu khác dài hơn, nhưng không nên dài quá để phải gắng công nhớ. Ví dụ “ xin Chúa biến đổi lòng con”, hoặc “ con muốn nên giống Giê-su”….Cứ niệm khoan-thai theo nhịp thở cho tới khi mệt thì nghỉ. Tới một khoảnh-khắc nào đó, ta sẽ thấy bùng lên ngọn lửa lạ trong hồn, bất thần làm ta trở thành con người cơ-hồ hoàn-toàn mới lạ.
Xin nhắc lại ở đây : có lẽ cái chuyện sơ-đẳng nhưng hệ-trọng nhất cho những ai muốn mon-men đi vào ‘làng Thiền’ chính là việc tập hít thở, sao cho chậm rãi và dài hơi, nhất là hít khí và dồn xuống tận bụng thay vì chỉ vào phổi. Nơi ‘đan-điền’ này là chỗ tập-trung của mọi luồng sức. Các võ sư, đạo sĩ cũng như các bậc thày Yoga đều biết xử-dụng ý và hơi thở để đả thông các huyệt-đạo, để dẫn khí đã tụ sẵn ở đan-điền đi các nơi trong cơ thể.
Hít thở như trên sẽ giúp ta tập trung tư-tưởng và năng-lực. Chuyện này là khởi-sự cho cái tiến-trình tham-thiền của chúng ta. Lúc đó năng-lực của xác-thân sẽ tạo nên một sức trợ-giúp hữu-hiệu cho việc chinh-phục nội-giới.
Cha Sỹ-Qúy cũng nhắn-nhủ thêm thế này :”Dù cố-gắng đến đâu chăng nữa trong việc Thiền, việc gặp-gỡ để yêu-mến và kết-hợp với Thiên-Chúa cao-vời trong tâm-tư của chúng ta hoàn-toàn tùy thuộc vào tác-động của Thần-khí Chúa.
Thành ra, trong khi cố-gắng áp-dụng phương-pháp, ta phải nhìn-nhận sự yếu-đuối của chính mình, để tín-thác toàn-vẹn nơi Chúa.
Thế là, chúng ta cùng khích-lệ nhau trong cái chuyện cầu-nguyện và suy-gẫm, tuy có vẻ mới lạ nhưng đầy thành-qủa này. Thay vì phải ‘lên Chùa’ để tìm an-vui qua các lớp tu-thiền theo định-hướng nhà Phật, chúng ta cứ ở nhà và hướng-dẫn nhau TÌM THIỀN TRONG ĐẠO CHÚA.
Cố-gắng tập làm quen với thinh-lặng và chiêm-niệm ( có lẽ Chúa ưa tỏ mình ra trong lặng-lẽ hơn giữa chốn ồn-ào ). Ta không tìm trốn tránh trần-đời, nhưng Thiền như thế sẽ giúp ta nhập-thế đầy ý-nghĩa và giá-trị hơn. Chả thế mà Chúa Giê-su thường-xuyên khuyên các môn-đệ phải tìm nơi vắng-vẻ mà cầu-nguyện.
Thiển-trong-Chúa cũng giúp ta trưởng-thành và chín-chắn hơn trong thái-độ và cung-cách sống. Nó cũng tạo cơ-hội cho ta biết Chúa và biết mình hơn. Cũng nhờ lối sống Thiền-trong-Chúa mà chúng ta sẽ luôn an-bình, cũng như biết làm chủ những buồn vui thường dễ gây xáo-trộn trí lòng. Bản-thân cũng như gia-đình chúng ta sẽ được sung-mãn trong tinh-thần và ân-sủng Chúa.
Nguyện chúc ai nấy đạt được ý-nguyện.
Thánh Giuse THINH LẶNG. Đức Mẹ GHI NHỚ VÀ LUÔN SUY NIỆM TRONG LÒNG
thiền định (tôi nói đến thiền thực sự) chỉ dành cho những bậc căn tánh cực cao, vì thiền có đến 50 ngũ ấm ma lặc vào e khó trở lại (ngũ ấm ma như ảo ảnh vậy) . như trong lịch sử có bồ đề đạt ma ,huê năng,..chứng dc thiền
lại nữa thiền phật giáo có thê giết chết dc sầu ,ưu ,bi , khổ não....nên đạt dc lợi lạc rất lớn ngay trong đời sống hiện tại.
Anh Ma nói với họ làm gì, hihi, tui nói muốn rát cổ họng luôn mà chẳng ai thèm nghe nè, về nhà chơi điện tử đi anh Ma, há há
Hít hít thở thở để thiền, XÁC CHẾT NGẮC LẤY J MÀ HIT THỞ MÀ THIỀN MÀ TRỐN THOÁT? LINH HỒN LIÊN KẾT VỚI CHÚA, NHƯ CHÚA CON LIÊN KẾT CHÚA CHA, CHÚA CON NÓI KO PHẢI TỰ MÌNH NÓI RA MÀ LÀ NÓI NHỮNG J CHÚA CHA "TRUYỀN ĐẠT" BỞI SỰ "LIÊN KẾT" . Cũng như các máy tính phải biết liên kết với MÁY CHỦ
NN thông minh thế nhỉ, giờ mình mới biết ý nghĩa của cái thanks của mình :D
Yoga - Thiền trên thế giới và với Kitô giáo ngày nay (1)
Hoành Sơn Hoàng Sỹ Quý
T5, 03/03/2011 - 10:23
Giêsu YogiTừ nửa thế kỷ nay, Yoga và Thiền được phổ biến rộng khắp bên Âu Mỹ và bắt đầu hội nhập Việt Nam rồi. Vâng, tại chính Việt Nam chúng ta, sách Yoga được dịch, in bán ngày càng nhiều, đồng thời những khóa Thiền hay Yoga được tổ chức đó đây (Cả trên kênh truyền hình HTV2, cũng có lớp Yoga do thày Ấn Độ dạy), và lác đác có những nhóm hay cá nhân tu sỹ Công giáo đến thọ giáo ở Trúc Lâm Thiền Viện Đà Lạt.
Do đó, không thể không tìm hiểu những kỹ thuật tu luyện rất đông phương ấy, xem ở ngọn của chúng hiện nay trên thế giới ra sao, đồng thời ở gốc là Ấn Độ và Phật giáo, bản chất và hướng nhắm của chúng là gì, có thế mới biết ứng dụng thế nào cho phù hợp với đức tin và lối sống đạo Kitô giáo được.
Thiền và Yoga trên thế giới xưa
Ngay từ thế kỷ III trước công nguyên, từ nước Ấn nhiều đoàn truyền (Phật) giáo đã được hoàng đế Asoka (304-232 tcn) phái đi về hướng Tây đến Ba Tư…, về hướng Đông đến Đông Á và Đông Nam Á. Riêng ở Việt Nam thì miền Bắc tiếp nhận Đại thừa từ Trung Quốc tới, miền Nam đón Tiểu thừa từ Thái Lan, Myanmar… truyền sang. Cũng tại Việt Nam, người Chăm được Ấn hóa (cùng với nhiều nước Đông Nam Á khác) từ rất sớm cũng theo Ấn giáo và Phật giáo (riêng người Chăm Châu Đốc sau này ngả theo đạo Hồi). Chính qua Phật giáo, nhất là Thiền tông, mà việc tham thiền trở thành quen thuộc đối với chúng ta. Chỉ có Yoga (tôi có ý nói Hatha-yoga) là món ăn còn tương đối mới lạ, dù Yoga rất gần gũi với Thiền, như sẽ nói sau này.
Ở Trung Quốc xưa, không thấy ai nhắc đến Yoga, nhưng xem ra Yoga và Tantra đã ngầm ảnh hưởng rất mạnh đến y học và luyện công qua lý thuyết về huyệt (chakra hay luân xa) và lực đạo (nadi). Riêng việc luyện nội lực của một hai phái Đạo giáo : đưa tinh lực từ dưới dọc theo xương sống đi lên về phía huyệt bách hội, thì đó là cách làm quen thuộc của ai tu theo Sakti-giáo (Tantra) ở Bắc Ấn hay Phật giáo mật tông (tantrika) ở Tây Tạng xưa. Vâng, cứ đọc sách Thái nhất kim hoa tông chỉ của Đạo giáo (nói về cách tu luyện kiểu ấy), người không biết có thể tưởng đó là một kinh thư của Tantra (Mật giáo) Ấn Độ. Việc luyện nội lực và luyện phép (cũng là của Yoga) rồi sẽ được khai thác triệt để trong các truyện tiên (luyện phép) và truyện chưởng với người khởi xướng là Kim Dung. Kim Dung cũng đả động đến “thiên lý nhĩ” (nghe xa ngàn dặm), trong khi các truyện như Phong thần thì nói nhiều đến các phép khác như “đằng vân giá vũ” đã được vẽ trong đồ họa cổ về yogi (người tu Yoga).
Về phía Tây, Thiền và Yoga cũng được truyền sang Trung Đông và Đông Âu khá sớm. Dấu vết nay còn tìm thấy trong lời cầu Định an (Hêsukhia) bên Giáo hội đông phương. Đây là lời kinh Xin Chúa thương xót (kurie eleison), lời kinh ấy có thể ngồi mà đọc, vừa đọc vừa tập trung vào rốn mà dùng ý đưa lên trái tim. (x. Hoành Sơn, Niệm tên Giêsu trong an định, ng.s. CGvDT số 108 (th.12/03), tr.75-77). Và đây là phưong pháp Yoga nói đến trong Chú giải-Yoga III.1.
Bẵng đi một thời gian, nay Thiền và Yoga tái xuất hiện gần đây, với một bề thế khác hẳn, bắt đầu từ Âu-Mỹ.
Thiền và Yoga bên Âu Mỹ gần đây
Yoga, và trước hết là Thiền, được Âu châu tái khám phá kể từ thế kỷ XVII qua giới nhà tu KTG. Số là những người như Di Nobili (1577-1656), rồi Monchanin và Henri Le Saux (thế kỷ XIX-XX) đã sang Tây trúc phổ đạo và phổ đạo bằng con đường hội nhập văn hóa. Họ hội nhập bằng cách tu theo kiểu các tu sỹ bỏ đời (samnyasin) bà-la-môn. Mà tu như thế thì cần cả sự hợp tác của thân thể nữa. Và đây là các tọa thế (âsana) và việc điều tiết hơi thở (prânâ-yâma).
Nhờ những nhà tiên phong này, KTG trời Âu mới hiểu được cái lợi của Thiền và Yoga. Thế là nhũng người can đảm nhất bèn mời đón các guru (sư phụ Ấn) và thiền sư Phật giáo sang dạy. Cùng lúc ấy, thấy có thị trường xuất khẩu, nhiều bậc tôn sư khác cũng tự động sang mở các khóa thiền, mở luôn thiền viện hay tu viện nữa. Trong số phải kể trước tiên đến các tu viện của tân Ấn giáo Ramakrisna Mission ở Pháp, Anh, Hoa kỳ…, trong đó người ta vừa thuyết pháp, vừa mở cửa cho những ai muốn vào tu tập một thời gian.
Từ Đông Á, một số thiền sư cũng sang thuyết pháp, dạy thiền và lập chùa. Trong số những vị được Âu Mỹ mến mộ, phải kể đến hòa thượng Thích Thanh Từ của Trúc Lâm thiền viện Đà Lạt.
Sau khi đã thụ giáo với các guru hay thiền sư rồi, một số tu sỹ Công giáo bắt đầu biến chế thiền để đưa thiền vào chiêm niệm chính thức KTG, trong số đó phải kể đến Thomas Merton, John Main, James Finley.
Riêng Yoga -tôi có ý nói Hatha-yoga quen thuộc- thì phổ biến nhanh và được tiếp đón nồng nhiệt như một môn thể thao (và chữa bệnh theo kiểu vật lý trị liệu) kể từ giữa thế kỷ XX. Tại Paris trong thập niên 60, hình như chỉ có những khóa Yoga do Trung tâm văn hóa Ấn Độ tổ chức, mà tôi có đến tập mấy tháng. Thế mà nay đã xuất hiện hàng chục lớp Yoga khác nhau, và có cả một Liên đoàn Yoga Pháp quốc được pháp luật công nhận.
Thật ra, các lớp Yoga, với nhiều cấp khác nhau, được mở trong khắp các thành phố lớn Âu Mỹ, và những thành phố như New York, thì các studio yoga được lập rất rất nhiều, các studio ấy được chính phủ công nhận và những người dạy trong đó được những tổ chức như Yoga Alliance, Yoga Education Instiutute cấp chứng chỉ hành nghề thày dạy Yoga. Điều ấy chứng tỏ rất đông người thích Yoga, học Yoga, luyện Yoga hằng ngày, chuyên gia bơi lội thì để cơ bắp dẻo dai, người khác để có sức khỏe bền và thân thể tráng kiện.
Thế nhưng nếu chỉ nhắm sức khỏe suông, thì ý nghĩa tôn giáo của Yoga bị quên lãng. Cũng như nếu chỉ luyện thiền để tránh stress mà không tuân giữ các quy tắc sống kèm theo, thì ích lợi sẽ rất hạn chế. Ngoài ra, có tu sỹ ngồi thiền mà lại quán (suy niệm) theo kiểu Tây, thì rút cuộc thiền chỉ là cái áo khoác không kém không hơn.
Chính vì thế, trước khi dấn thân vào những kỹ thuật ấy, cần tìm hiểu đúng bản chất của chúng cùng với cả mớ những đòi hỏi kèm theo, nhờ đó xem cái gì phù hợp để khai triển, cái gì chưa phù hợp để biến chế, làm sao cho tất cả thích ứng được với niềm tin và đường lối Phúc âm của chúng ta.
Nhưng trước hết, hãy xem thực sự Thiền và Yoga đang được ứng dụng trên thế giới như thế nào đã.
Thiền và Yoga bắt đầu xâm nhập mạnh vào Phương Tây từ giữa thế kỷ XX, lúc mà giới trẻ học thức ở đó vùng lên trong các phong trào phản biện (contestation), chống lại xu hướng duy lý và những khuôn sống cứng nhắc xưa cũ, cũng như sự ngự trị của những xu hướng tân đại khác, như duy vật chất, duy kinh tế và duy hưởng thụ. Trước tiên, đó là đám hippy bên Mỹ muốn một cuộc sống phóng khoáng, không gò bó nhưng hưng phấn. Đó là đám sinh viên bất mãn thích đập phá bên Âu Châu, bắt đầu từ Paris năm 1968. Họ đập phá vì họ mong muốn một cái gì mới hẳn, nhưng lại không xác định được là gì. Riêng những nhà trí thức thì muốn phá bỏ những nền tảng cũ của văn minh tân đại, và đây là triết học duy lý khởi sụ với Descartes nó khai sinh cho khoa học và giúp phát triển nhanh công nghiệp và kinh tế Tây phương. Chống triết học duy lý nữa, một đằng thì có triết lý hiện sinh nó đề cao con người cụ thể, ở đây và lúc này (dasein), chỉ con người ấy mới có vấn đề như áo cơm, nhà ở để bận tâm (souci), chứ không phải con người trừu tượng. Đằng khác, có thuyết Mác xít nó lấy hạ tầng Nghiệm tác (Praxis) làm cơ sở, chứ không đặt cơ sở từ cao ở lý thuyết nữa. Vâng, Praxis, đó là hành động cách mạng : cứ lao mình vào cách mạng xã hội, thì rồi người ta sẽ phát hiện đúng lẽ phải và công lý nằm ở đâu.
Lúc Tây phương không còn tin vào thế mạnh của mình nữa, cũng là lúc những con rồng và cọp Châu Á bừng thức, hiểu rằng mình cũng có những cái hay để xuất khẩu sang Âu Mỹ: cái hay ấy không nằm ở súng ống và máy móc, nhưng ở cái nó giúp con người tìm ra chân hạnh phúc của mình, và đây là minh triết (wisdom) và các kỹ thuật tu luyện đông phương. Quả thề, giàu có và quyền lực làm gì, khi mà người ta luôn bức xúc, âu lo, nhàm chán, đến nỗi phải chạy trốn bản thân (tức khỏi nội tâm) bằng cách lao mình vào hoạt động và các cuộc truy hoan, kể cả rượu và ma túy nữa! Cái mà thiền và minh triết Á đông có thể mang lại cho họ, đó là sự an lạc “mà thế gian không cho được” (Ga 14, 27).
Sự an lạc này, phải tìm ở chính mình, tức ở nội tâm, chứ không phải từ những gì tích góp từ bên ngoài. Cho nên phẳi vét rỗng khỏi mọi ham muốn, bằng lòng (santosa) với những gì đơn giản thôi (Yoga), và đây cũng là “Tri túc giả phú” của Đạo đức kinh Lão tử. Minh triết phương đông còn chỉ cho thấy rằng thân xác không phải chỉ là phương thế để thụ hưởng, để rồi đi tu không thụ hưởng nữa thì buông bỏ nó đi. Vâng, để tìm an lạc bên trong, thậm chí để thoát khỏi thân xác như Yoga chủ trương, thì thân xác cũng đóng một vai trò quan trọng : và đây là những tọa thế (âsana, do AS có nghĩa là ngồi) và sự điều hòa hơi thở (prânâ-yâma) chúng khiến tâm an định, nhờ đó có thể định thần.
Bắt đầu hiểu ra đâu mới là giá trị thật của nhửng món hàng đông phương ấy, các cô cậu hippy không còn thích Yoga vì cái dáng vẻ rừng rú là lạ của nó nữa, và người ta nghiêm túc đi vào Yoga vì một cuộc sống tốt đẹp hơn (wellness), cũng như đi vào Thiền để tránh những cơn “stress” mà sự âu lo trong cuộc sống làm phát sinh quá dễ.
Như thế, bắt đầu được coi như một cái “mốt” là lạ, nay Yoga đã có một chỗ đứng vững vàng trong xã hội Âu Mỹ. Các lớp, trường dạy Yoga mọc lên như nấm; dạy Yoga trở thành một nghề nghiệp, và người làm thầy được cấp chứng chỉ do những tổ chức như Liên đoàn (Fédération) Yoga, Liên minh (Alliance) Yoga, Viện (Institut) Yoga…có uy tín và được pháp luật công nhận. Chả hạn như bên Pháp năm 1967, các liên đoàn huấn luyện Yoga (fédérations d’enseignement du Yoga) được chính thức nhìn nhận như những hiệp hội (associations) theo qui định của đạo luật 1901. (Ysé Tardan-Masquelier, La réinvention du Yoga par l’Occident, tạp chí Etudes, janv.2002, tr. 48)
Dẫu sao chăng nữa, từ một phương trời xa xăm được nhổ sang trồng nơi đất lạ, Yoga và Thiền không thể không biến dạng rất nhiều. Do đó, để áp dụng chúng một cách hiệu quả hơn, nên tìm lại tận gốc nguồn của chúng, Yoga thì bên Ấn Độ, Thiền thì trong các thiền viện ở Á Châu.
Yoga là gì ở nền tảng của nó
Yoga là một danh từ xuất phát từ động từ Yuj, Yunakti, Yuyoga…, có nghĩa là Buộc (buộc ách vào cổ bò), là Nối với, Đạt tới, Kết hợp. Nên xem ra nó do cùng một nguồn với những chữ có gốc Ấn-Âu như Jungere tiếng la tinh, Joindre tiếng Pháp, To join tiếng Anh. Cụ thể, Yoga biểu thị Con đường (để đạt tới), và đây là đường (hay phương cách) tu luyện. Nói cách khác, Yoga là Đạo.
Còn tiếng Yoga quen thuộc đối với người thường, nhất là người nước ngoài, thì đó là Hatha-yoga hay Yoga mãnh-vận, phải gồng mình lên mới làm nổi. Hatha-yoga có một trong những mục tiêu là luyện cho có một sức khoẻ lành mạnh và dẻo dai. Dẫu sao chăng nữa, mục đích tối hậu của mọi thứ Yoga, kể cả Hatha-yoga hay Kundalini-yoga, đều là tôn giáo : và đây là giải thoát Tinh thần (Purusa) khỏi xiềng xích của vật chất (prakriti) nói chung, đồng thời hiệp nhất hồn với Chúa (Isvara) nếu đây là Yoga chính thống.
Chính vì có nhiều loại Yoga nhưng chúng lại có những điểm tương tự, nên vào đầu công nguyên, Patanjali đã tập hợp những con đường tu luyện quen thuộc nhất thời ấy vào cuốn sách Yoga kinh điển gọi là Kinh Yoga (Yoga-sutra). Thế nhưng vì Kinh Yoga quá vắn tắt nên khó hiểu, Vyâsa phải viết tập Chú giải (Yoga-Bhâsya) vào thế kỷ IV; rồi vào thế kỷ IX Vâcaspati Misra lại viết cuốn Tattva-vaisâradi giải thích rộng hơn chính bản Bhâsya này; và càng bàn giải rộng hơn rất nhiều có bản Phụ chú của Vijnânabhiksu gọi là Yoga-vârttika viết trong thế kỷ XVI.
Trong bài này, để diễn giải vắn tắt nhưng có cơ sở về Yoga, chúng tôi sử dụng vừa Yoga-sutra với ký hiệu YS., vừa bản Yoga-Bhâsya với ký hiệu YBh., và bản Phụ chú với ký hiệu YV..
Trên lý thuyết, Yoga được coi như kỹ thuật giúp thực hiện mục tiêu mà học thuyết nhị nguyên của Sâmkhya đề ra. Theo học thuyết này thì nơi chúng ta có hai thực thể đối đầu nhau, và đây là Tinh thần Purusa bị phong tỏa bởi Vật chất Prakriti (Pra-kriti có nghĩa là cái còn nguyên sơ, chưa làm thành gì cả, nên có gì giống như Materia prima của triết học thánh Tôma, do đó chúng tôi xin phép dịch là Bản nhiên, Thuần nhiên). Chính vì thế, mỗi người phải tìm cách giải phóng Tinh thần, và đây gọi là Cô lập, Kaivalya (cô lập Tinh thần, tách nó ra khỏi mối liên hệ với Bản nhiên). Yoga cùng chủ trương nhị nguyên và cùng nhắm mục tiêu Kaivalya như thế. Chỉ trong cấu trúc tâm lý, để biểu thị tâm trí, họ lại dùng tiếng Citta thay vì tiếng Mahat (Đại) hay Buddhi của Sâmkhya. Thêm vào đấy, nếu Sâmkhya chủ trương vô thần, thì họ lại đề cao Đức Chúa thiêng liêng (Isvâra) và dạy phải sùng mộ Ngài, đặt hết tin tưởng vào Ngài để Ngài giải thoát ta bằng ơn tuệ giác. Đồng thời, tuy không nói đến con đường Thiền (Dhyâna-yoga) của Phật giáo, nhưng trong số những điều kiện luân lý, họ lại đưa Từ-Bi-Hỉ-Xả của Phật môn vô (YS.I.33).
Nói cho đúng ra, tuy kinh thư Yoga tập trung vào Vương-đạo (Râja-yoga) vốn lấy con đường tri thức (Jnâna) cùng với tôn sùng (Bhakti) làm căn bản, nhưng cũng kể thêm làm thí dụ một số các Yoga khác. Thế rồi, tuy không nêu đích danh Hatha-yoga, những tập sách ấy cũng nói đến việc điều tức và kể ra một số các tọa thế của Hatha-yoga.
Kinh Yoga chia thành bốn tập (và các sách Chú giải hay Phụ chú… cũng chia theo như thế) : tập 1 bàn về Đại định (Samâdhi), tập 2 bàn về tu hạnh (đạo đức) và các chuẩn bị khác, tập 3 nói về Nhập định (tức Tập trung tâm trí), và tập 4 nói về việc Giải thoát gọi là Cô lập.
Tất cả những phương thức sử dụng được Kinh Yoga gồm vô trong Bát chi (Asta-anga) : 1) Giới (yama), 2) Giữ (ni-yama), 3) Thế (tọa thế, âsana), 4) Điều tức (Prânâyâma), 5) Thoái giác (pratyâhara), 6) Định thần (Dhyâna), 7) Quán (Dhârana), 8) Đại định (samâdhi). Năm chi đầu là phương thế gián tiếp và cố gắng bên ngoài, trong khi ba chi cuối là con đường chính nó thuộc cố gắng bên trong.
(còn tiếp)
Nguồn: vietwellness.net
vậy đó,yoga đâu phải chỉ những động tác asana ?
@ bé Nhi: Tham khao nhe!
BỊ MA NHẬP VÌ TÙY TIỆN MỞ LUÂN XA
http://www.nhantrachoc.net.vn/showth...-lu%C3%A2n-xa&
Tôi viết bài này với mục đích trình bày một sự thật đau lòng đã và đang xảy đến cho gia đình tôi và mong bạn đọc nếu có thể được thì phổ biến tin tức này cho người thân quen dùm để tránh những đau thương tuơng tự có thể xảy đến cho người khác.
Tôi không mong mỏi bạn tin tưởng một phần hay hoàn toàn vào những điều tôi viết sau đây vì những điều này quả thật khó tin. Tôi cũng không có đủ khả năng, thời gian, và công sức để dấn thân vào một cuộc tranh luận về những điều tôi viết là sự thật, hay mê tín, là một vấn đề về thuộc bệnh tâm thần chứ chẳng phải vấn đề tâm linh. Tôi chỉ là một nguời băn khoăn với sự an nguy của hai đứa em gái thân yêu trong gia đình hiện đang phải đối phó với những kẻ thù ma mãnh, có hồn mà chẳng có thân xác, đang chiếm ngự thân xác của 2 em. Tôi cũng rất quan tâm đến sự an nguy của những nguời có thể là nạn nhân tuơng lai của việc học nhân điện khoa tự động mà đánh liều viết bài này với tất cả tâm thành. Tôi cố gắng trình bày chuyện đã xảy ra trong gia đình, hy vọng bạn đọc qua kinh nghiệm đau thuơng của gia đình tôi mà không buớc vào vết xe đổ này nữa. Những chuyện tôi viết sau đây là chuyện thật sự xảy ra, không một lời thêm bớt, theo trí hiểu biết hạn hẹp của tôi.
Khỏang đầu tháng 4 năm 2007, qua lời giới thiệu của một nguời cháu ruột, hai em gái của tôi (tạm gọi là em A và em B) đã đến thọ giáo với thày Mai viết Nhự, địa chỉ 151/31 C, khu phố 2, Phuớng Tam Hòa, Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, điên thọai 061-3811-956 . Thày Nhự dạy học trò môn Nhân Điện Khoa Tự Đông, thày không có tính tiền học phí gì cả. Thày chỉ dạy học trò trong 6 ngày, chứ không như các môn phái nhân điện khác thuờng phải mất nhiều thời gian hơn, có thể đến 6 tháng. Khi đến học, thày sẽ để tay lên đầu,lên trán để mở luân xa số 7 và số 6 bằng nhân điện của chính thày. Thày cũng mở những luân xa 5,4, 3, 2 và 1 bằng cách để tay lên vị trí những luân xa này trên sống lưng. (Quý vị có thể tìm hiêu thêm về nhừng luân xa này qua quyển Journey to the East của giáo sư Spalding--Bản dịch rất hay của Nguyên Phong là Hành Trình Về Phuơng Đông, chapter 8 hay 9 nói về Cõi Giới Vô Hình. Thày CE Hằng Truờng cũng có giảng về những luân xa này trong số các băng giảng của Thày mà tôi không nhớ được tên)
Luân xa số 6 và số 7 là cửa ngõ để thể xác của con nguời có thể tiếp xúc đuợc với thế giới tâm linh và cõi giới vô hình mà mình không thấy đuợc. Theo tôi hiểu, đó cũng là cánh cữa bảo vệ những người đang sống trong thế giới này khỏi phải tiếp xúc với những hồn ma bóng quế của thế giới những nguời đã chết.
Trong truờng hợp em B của tôi, chỉ 5 phút sau khi thày Nhự dùng nhân điện của thày để mở luân xa cho em, B rùng mình một cái rồi 2 tay B tự động chắp lại, không hề theo sự điều khiển của B, vái lạy tứ phuơng và B có thể quay nguời dẻo dai như nguời lên đồng, múa lên những đông tác mà B, môt nguời thường bị đau lưng kinh niên, không bao giờ có thể làm đuợc. Bệnh đau lưng, mệt mỏi trong B do đi làm vất vả lại thêm cuộc hành trình xuống nhà thày Nhự từ Saigon trên cái xe không êm ái, trên đọan đuờng kẹt xe như nêm như cối thốt nhiên biến sạch. Còn em A, thì sau 4 ngày tập luyện, sang đến ngày thứ 5 thì em cũng thấy tự nhiên 2 tay em chắp lại, vái lạy tứ phuơng rồi đi vào những điệu múa mà dù em đang tỉnh táo 100% vẫn không sao chủ động ngừng lại đuợc. Cần nhắc lại la em A của tôi đã bị mổ gai cột sống vài tháng truớc và 2 tay đang bị hiên tuợng như Carpel Tunnel Syndrome và Tennis Elbow, khong cử động đuợc 2 bàn tay, 2 cổ tay, đau nhức dần lan tới 2 vai, bác sì Tây Y đã đề nghị phải mổ cả 2 tay rồi. Với nhân điên học đuợc, cả 2 em gái tôi tuy mới đầu cùng cảm thấy lạnh tóc gáy, sởn gai ốc vì việc vái lạy tự động cùng các động tác siêu nhiên mà 2 em không làm chủ dược-- nhưng vẫn đủ sáng suốt để tự quan sát những động tác quái lạ này, vẫn cảm thấy rất hài lòng với những kết quả y học thần kỳ trên cơ thể của 2 em. Hai em rất vui vẻ, sung suớng nghe lời thày Nhự dạy bảo là khi muốn chữa bệnh cho mình hoặc nguời khác là chỉ cần kêu "6,7 hãy chữa bệnh này đi!" là 6,7 (luân xa 6 và 7) sẽ làm đúng y như vậy. Em A còn hân hoan khoe với tôi qua điện thọai là 6, 7 của em rất giỏi; có 1 hôm em sơ ý bị một hộp thịt đã mở cắt đứt tay rất sâu, máu chảy dầm dề. Em bèn kêu 6, 7 cầm máu lại, là máu ngưng chảy liền ; em kể cho tôi nghe rất hăng hái, khuyên tôi nên về Việt Nam để đi học nhân điện ở thày Nhự để chữa bệnh tiểu đuờng vốn đã làm bạn đồng hành với tôi từ lâu năm. Thú thật với các bạn, tôi nghe những thông tin này mà chỉ cuời thầm là sao 2 em tôi, có ăn học tử tế, là những nguời tốt nghiệp đại học hoặc tuơng đuơng, rất thành công trong công ăn việc làm với chủ nhân là những công ty nuớc ngoài, lại có thể nói những chuyện không tuởng như thế này. Nhưng tôi biết cả 2 em tôi là những nguời rất thẳng thắn, không nói trăng nói cuội, không mê tín dị đoan , do đó tôi không bài bác gì cả, chỉ im lặng lắng nghe, và nghĩ thầm, "Muốn chữa bệnh họan thi` phải thay đổi lối sống của mình, phải ăn đồ ăn tốt, nhiều rau cỏ, bớt thịt đỏ, mỡ màng, tập thể dục đều đặn, đi bác sĩ khám định kỳ chứ sao lại có cái vụ Nhân Điện Khoa Tự Đông cứ như chuyện Liêu Trai Chí Dị thế này!"
Bẵng đi đến khỏang cuối tháng 6, năm 2007, em trai tôi ở Saigon bỗng gởi E mail cho cả đại gia đình bên Mỹ rằng em A và em B nay đã phát hiện ra rằng 6,7 của 2 em thực chất ra là 2 hồn ma vất vuởng vốn đã chết từ mấy chục năm nay, qua sự mở luân xa 6,7 của thày Nhự, mà xâm nhập thân thể của 2 em, và đang mở chiến dịch chiếm hữu đầu óc rồi dần dần thân xác của 2 em. Em B hiện đang rất vất vả đối phó với con ma trong B; còn con ma trong A thì êm ả hơn nhưng dùng chiến dịch nói ngọt như mía lùi để chiếm hữu lòng tin của em A.
Đọc thơ em trai mà tôi ngỡ như trong mơ. Ông xã và tôi lập tức xin nghỉ phép ở sở, và mua vé về VN để xem tình hình thế nào. Trong lúc chờ đợi visa và vé máy bay, tôi vào internet và đọc tất cả các tài liệu hoặc nghe băng giảng của các thày Hằng Truờng về Thân Trung Hữu, thày Nhật Từ về Quyết Nghi về Ngọai Cảm và Cõi Âm; Cận Tử Nghiệp của thày Tâm Thiện, những bài nói chuyện của nhà ngọai cảm Phan Thị Bích Hằng, sách Hành Trình Về Phuơng Đông của Nguyên Phong dịch từ cuốn Journey To The East như đã nói ở phần trên. Sau này, về tới Saigon tôi đọc thêm sách Hiệu Ứng Sinh Học của Kỹ Sư Đỗ Thanh Hải (tôi xin lỗi không nhớ rõ tên lót của Kỹ Sư Hải, một kỹ sư tài ba và dồi dào kiến thức về vấn đề này), sách "con Người Thóat Thai Từ Đâu của 1 nhà khoa học Nga tôi không nhớ tên, vv... để tìm hiểu về thế giới của những nguời đã khuất, và hồn ma bóng quế là gì. Theo những gì tôi góp nhặt được từ những nguồn tài liệu vừa nêu, thì con người chúng ta đuợc câu tạo bởi phần xác (physical body--hay khung cộng huởng sinh học theo chữ dùng của Kỹ Sư Hải) và phần hồn (mind--sóng sinh học theo Kỹ Sư Hải). Khi chúng ta chết đi, thì chỉ có phần xác tan rã thôi, nhưng phần sóng sinh học vẫn còn hiện diện duới dạng các sóng năng lượng. Với những nguời khi chết đi với tấm lòng thanh thản, không có gì nuối tiếc lưu luyến với cõi trần vừa tạm sống, các sóng sinh học của nguời mới chết sẽ dễ dàng siêu thoát để đi đầu thai kiếp khác, hay lên cõi thiên Đàng, cõi Trời nào đó. Còn những nguời chết oan ức, chết bất đắc kỳ tử, chết trong đau đớn hay lo sợ, trong tiếc nuối về nhừng công chuyện còn dở dang trên trần thế thì sóng sinh học của họ sẽ không bay cao đuợc mà cứ là là trên mặt đất, thành những hồn ma vất vuởng lang thang, thân xác đã mất mà lòng ham muốn, tham sân si, ngã, mạn vẫn còn đó. Cho đến khi các sóng sinh học hay vong linh này hiêu ra rằng mình đã chết và tất cả các mong muốn trần tục của mình chỉ là không thì họ sẽ bay cao lên các tầng trên để trở lại đâu thai cho kiếp mới. Thế nhưng cũng có nhừng vong linh dù đã chết hàng trăm năm hay vài chục thế kỷ vần không giác ngộ đuợc lý vô thuờng của cuộc đời, lại muốn tìm đuờng tắt mà đi, bèn tìm cách nhập vào thân xác của nhừng người còn sống đã bị mở luân xa 6, 7 như 2 cô em của tôi, hoặc có vong linh có sóng sinh học cộng huởng với sóng sinh học của nguời còn sống thì sẽ nhập vào thân xác của nhừng nguời này, và tìm cách chiếm hữu trí não của nguời bị xâm nhập truớc rồi từ đó sẽ sai khiến các hành động của nguời này theo ý của vong linh. Các vong linh này là ma ác, rất khó giác ngộ và người bị xâm nhập sẽ rất vất vả để đánh đuổi quân xâm luợc này ra khỏi cơ thể của họ. Các vong linh có tính khí hệt như tính khí của họ lúc còn sống, dù đã chết cách đây bao nhiêu năm. Đa số các vong linh thì hiền lành hơn, không hề có ý định xâm nhập cơ thể của bất kỳ ai. Cũng có nhưng vong linh, nếu có xâm nhập một cơ thể nguời sống nào, thì cũng chỉ ở tạm trong 1 thơi gian rất ngắn để nhờ nguời này giúp mình hòan thành tâm nguyện mà vong linh đã không hòan thành đuợc khi còn sống rồi vui vẻ ra đi khi tâm nguyện đã thành.
Khi tôi về Saigon, tôi quan sát cả 2 cô em và hiểu rõ ràng rằng mỗi em đã bị một hồn ma xâm nhập. Trong môi truờng làm việc bên Mỹ của tôi, tôi cũng đã có dịp tiếp xúc với một số bệnh nhân có bênh tâm thần, do đó, đây là điều tôi để ý truớc khi làm việc với 2 em của tôi để xem coi hai em có bị chứng Disassociative Identity Disorder (formerly Multiple Personality Disorder) duờng như dịch sang tiếng Việt là bệnh tâm thần phân liệt dạng hoang tuởng hay sao đó? Một trong những criteria của bệnh này theo DSM-IV (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders--Fourth Edition) là bệnh nhân không nhớ đuợc những đuợc những gì mình đã làm khi nhân cách thứ hai chiếm hữu thần trí và cơ thể họ. Thí dụ chị Jane có 2 nhân cách trong người chi Jane mà thuờng xuất hiện nhiều lần: một là chị Jane hiền lành, nhút nhát, không thích đi shopping; và nhân cách thứ hai là anh John thì rất ư là kiêu ngạo, thích sắm đồ thể thao. Khi John xuất hiện trong thể xác của chi Jane, thì John đi Big 5 sắm nào là quần áo bơi, kiếng lặn, ống lặn, vân vân. Đến khi chị Jane trở lại làm chủ bản thân của chị thì chị cứ ngẩn ngơ ra, không thể hiểu tại sao tự nhiên trong nhà mình lại có mấy cái đồ mua từ Big 5 như vậy. Cá nhân chị Jane thuờng xuyên bị những lúc quên đi, không nhớ nổi những chuyên mình đã làm khi hành động với nhân cách thứ hai của mình (Inability to recall important personal information that is too extensive to be explained by ordinary forgetfulness).
Truờng hợp của hai em tôi thì khác hẳn, cả hai đều biết rất rõ mình là ai, không hề bị lẫn lộn nhân cách ngay cả khi người âm trong 2 em nói chuyện với hai em bằng tư tuởng. Xin nói rõ hơn là nguời âm trong hai em tôi không hề lên tiếng nói đuợc trong đầu (no voice), mà họ chỉ gởi tư tuởng chạy trong đầu như kiểu E mail, tôi gọi la E thoughts (electrical thoughts) cho hai em hiểu; con ma trong em B thi rất lắm mồm, nói huyên thuyên suốt ngày tòan chuyện hắn ta và gia đình bị giết như thế nào ở Cambodia trong thời ky Khmer Đỏ 1975 và cũng dùng những ngôn ngữ thô tục để sách nhiễu tình dục em B. Em B rất cuơng quyết chống đối lại những sách nhiều này và cương quyết không tham dự vào bất cứ cuộc nói chuyện nào của con ma trong em. Do đó hắn ta rất giận dữ và thuờng phản ứng lại bằng cách gởi những luồng điện mạnh vào khỏang 1.5 volt để châm chích vào những huyệt đạo trong ngườI em B để tạo những cảm giác nhức nhối như bị kiến cắn trong vòng 1/2 tới 1 giây (second) đồng hồ; sau đó hắn ta cũng hết điện phải recharge lại khỏang vài giờ sau mới có thể tấn công tiếp. Qua thông tin của hăn, em B kể lại cho tôi biết rằng con ma này bị bè lũ PonPot bắn chết hoặc cắt cổ chết (hắn không nhớ rõ đuợc hắn chết như thế nào, vì có lẽ quá kinh hòang khi bị giết) năm 1975 khi mới 24 tuổi cùng với ngừoi vợ khi đó dang có thai 4 tháng. Trong 32 năm qua, hắn đã nhập vào 7 nguời trong đó em B tôi là nạn nhân thứ 7. Chúng tôi đã nhờ nhiều sư tăng, ni sư và cả một cha bên Công giáo nói chuyện với hắn bằng bút đàm để khuyên nhủ và hỏi xem chúng tôi có thể làm gì để giúp hăn siêu thóat. Thọat đầu hăn còn đóng vai trò tử tế nào xin lễ cầu siêu ở chùa, rồi lễ rửa tội ơ nhà thờ. Chúng tôi đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu này cho hắn thì cuối cùng hắn tuyên bố là hắn chỉ đòi hỏi thế để câu giờ mà thôi chứ hắn hòan tòan không có 1 ý định nào để xuất ra khỏi nguơi em B cả. Hiện nay chúng tôi đang nhờ chị K. theo Công giáo ở Houston Texas hàng đêm gọi điên thọai trừ tà qua phone theo lời giới thiệu của 1 vị linh mục khả kính chuyên lo việc trừ tà. Linh mục này tên là T.. Cha T sống và làm việc ở 1 nhà thờ VN, nhưng cha hiện đang công tác dài ngày bên Mỹ. Khi chúng tôi liên lạc đuợc với cha để nhờ giúp đỡ thì cha giới thiệu chị K. sẽ giúp em B hàng đêm qua phone. Thực tình khi nghe cha T nói như thế, tôi rất thất vọng và lẩm bẩm làm sao mà có thể trừ tà qua phone đuợc, nghe cứ như chuyện hoang đuờng. Ấy thế mà lại là sự thực đấy các bạn ạ. Chị K. đã giúp em B qua phone bằng cầu nguyện, đọc kinh Tân Uớc, xức dầu thánh, uống nuớc tha'nh và con ma trong B ngày càng yếu dần đi đến độ không thể gởi E thoughts cùng như năng luợng của hắn cùng như số lần châm chích em B ngày càng giảm dần đi. Chị K. tin tuởng rằng em B sẽ đánh bật kẻ xâm luợc ra khỏi cơ thể em trong 1 thơi gian ngắn, hy vọng thơi gian chữa trị không quá 20 ngày. Chi K. cũng cho tôi biết răng thời gian vừa qua, có một số nữ tu công giáo từ Mỹ về VN, cũng đến học nhân điện với thày Nhự ở Biên Hòa. Khi về tới Mỹ, tất cả các nữ tu này đều có hiện tuợng ma nhập, từ chối vào giáo đuờng, la hét, ói mửa khi đọc kinh hoặc lên cơn động kinh, múa may những động tác supernatural trong nhà thờ. Cha T, Chị K và một nguời nữa có khả năng trừ tà đã và đang giúp số nữ tu này bình phục trở lại. Do đó chi K. có rất nhiều kinh nghiệm đối phó với những hồn ma không hiểu vô tình hay cố ý mà thày Nhự đã tạo cơ hôi cho nhừng hôn ma này nhập vào các nạn nhân ngây thơ đến nộp mình cho quỷ mà lúc đâu các nạn nhân này tưởng rằng chỉ đi học nhân điện để mong tự trị bịnh cho mình. Xin Chúa ban phuớc lành cho những người như chị K. Chúng tôi rất cảm kích truớc sự giúp đỡ nhiệt thành của chi K. và cha T.
Về phần em A thì chúng tôi có khó khăn hơn nhiều so với em B. Lý do là con ma nhập vào em A tự xưng là 1 vong nữ có tên rất đẹp, tôi không tiện nêu lên ở đây. Con ma này nói rằng cô ta sinh năm 1901, la con một của 1 gia đình gốc Việt giàu có bên Cam Bốt. Cô ta là nữ sinh truờng Marie Curie, nói tiếng Pháp rất giỏi. Thuở sinh tiền, cô thuộc lọai con gái nhà giàu hư hỏng, dùng tiền cha mẹ ăn chơi nhảy đầm trác táng, cuối cùng chết vì bịnh hen suyễn (hay ho lao?) năm 1943 trong sự tiếc thuơng của cha mẹ cô. Cô ta nói chuyện hết sức ngọt ngào, rất nịnh hót em A của tôi, nào là em A tử tế, tốt bụng, nào là các con của em thông minh, học giỏi, ngoan ngõan, lại hết sức chăm sóc sức khoẻ cho em A mỗi khi trái nắng trở trời. Khi tôi về Saigon, cô ta cũng dùng bút đàm khen tôi nào là hay là tốt đủ kiểu. Cô ta ngọt ngào dến nỗi em rể của tôi, chồng của A, cũng thấy rằng sự hiên diện của cô trong em A chỉ là điều tốt cho gia đình vì sức khoẻ của A rõ ràng đuọc cải thiện. Rất khó cho tôi để thuyết phục em A la em đang bị con ma nữ này dùng chiến thuật mật ngọt chết ruồi để dần dần chiếm trọn đầu óc A rồi 1 ngày nào đó các con của A sẽ chỉ có cái xác là mẹ A mà hồn và hành động sẽ là của con ma ấy. Mỗi lần nói chuyện này với em A là em lại nổi nóng lên cho rằng em hòan tòan làm chủ thân xác và ý tuởng của em, còn con ma thì hiền lành giống như "1 bà tiên" vậy. Nhìn em và nghe em nói như thế, tôi chỉ âm thầm khóc và lo sợ mà chả biết làm gì khi cả gia đình riêng của em tôi không hề coi đó là chuyện quan trọng. Em A rất thuơng và lo lắng cho em B trong việc đánh đuối kẻ xâm luợc trong B, nhưng chưa hề có ý định nào để đánh đuổi cái vong nữ trong người của em A cả.
Phuớc nhà còn dày cho nên vào khỏang đêm thứ 4 sau khi chị K. từ Texas bắt đâu giúp em B đánh đuổi tà ma trong nguời em, chị K. than phiền vơi gia đình tôi là tại sao qua phone, chi đã đánh con ma trong B tơi tả và nó đang yếu đi rõ ràng thì tự nhiên lại có một sức mạnh ngọai nhập ở đâu giúp con ma trong B mạnh trở lại. Chúng tôi bèn dùng phuơng pháp lọai suy xem những nguời nào hiện diện với em B khi em đang nhận điên thọai từ chi K. Chúng tôi phát hiện ra rằng, khi con ma trong B kêu rên khóc lóc (tức là em B kêu khóc 1 chút xíu, rôi em B lại trở lại là em B 100%), tức thì em A lại lo đấm bóp cho B 1 cách không bình thuờng như kiểu ma nhập, tức là mặt A hơi dại đi, tay chân dẻo quẹo xoa bóp cho B. Lúc đó tôi có bảo sao A lại làm vậy thì em trả lời là 6,7 của em ghét con ma trong B lắm và muốn xoa bóp giúp B đỡ mệt. Chúng tôi có ngờ đâu là con ma nữ này đang truyên nhân diện giúp con ma trong B hồi phục lại. Khi nghe chi K. than phiền, tôi bèn nói A không đuợc phép ở trong phòng B và đụng chạm vào nguời B nữa. Em A bực mình bèn hạch hỏi con ma nữ trong em. Con ma này bèn viết 1 lá thư dài 2 trang giấy xin lỗi cả gia đình tôi là quả thật nó có giúp đỡ con ma trong B vì thấy con ma này bị chi K. đánh tả tơi, nó cầm lòng không đậu nên ra tay tiếp thêm nội lực cho nó. Con ma nữ xin lỗi cả nhà tôi, đặc biệt là với tôi, vì nó nói tôi vẫn đối xử với nó lich sự lắm, không ngờ nó lại làm tôi thất vọng như vậy. Nó cũng hứa là sẽ xuất khỏi A nêu chúng tôi đưa nó lên tịnh xá Linh Quang ở 40/60 Nguyễn Khoái, Quận 4 Saigon để nó xuất gia đầu Phật vào thứ bảy July 28, 2007, 2 ngày sau đó. Em trai tôi cho biết là truớc đó, con ma nữ này cũng đã hứa nhăng hứa cuội nhiều lần là đưa nó lên chùa này chùa nọ để nó xuất ra mà lần nào cùng chỉ tòan dối trá, nhưng vấn đề là em A của tôi vẫn 1 mực tin yêu và cho rằng con ma này có tâm hồn nhân hậu, chỉ 1 phút yếu lòng mà giúp đỡ con ma trong B thôi. Tôi bèn nhân cơ hội này bảo với em A rằng, thôi đuợc rồi, tôi tin lời hứa của con ma, tôi vẫn tiếp tục đối xử tử tế với nó, sẽ tha thứ lỗi lâm của nó nếu như nó giừ đúng lời hứa là sẽ ra đi vào thứ bảy July 28. Riêng bản thân tôi, tôi hứa sẽ trọn đời cầu nguyện cho linh hồn của cô ta hàng đêm sau khi cô ta thực hiện lời hứa của cô. Nhưng nếu đến thư 7 đó, sau khi mình đã làm đủ theo yên câu của cô ta mà cô ta cũng không đi thi em A phải quyết tâm đánh đuổi con ma ra và cắt đứt mọi liên lạc vơi nó. Em A bằng lòng như thế với tôi. Còn con ma cũng ra vẻ rất nhiệt tình và rất cảm đông truớc lời hứa này.
Hai ngày sau, tôi đua em A lên chùa Linh Quang. Chúng tôi đến từ lúc 10:30 sáng, dự lễ cầu an cho người sống tới 11 giờ, rồi ăn cơm chay tại chùa. Rất nhiều người ta đến chùa để đuợc chữa bênh, có nguời thì bệnh vật lý như ung thư, nhức mỏi; có người bị bệnh tâm thần nhưng cũng có rất nhiều người bị ma ám như em A (thái độ của nguơi bị ma ám rất khác với nguời bệnh tâm thân, tôi cảm nhận đuợc nhưng không diễn tả đuợc). Đến 12:30 trưa, người có bệnh đã xếp hàng ngồi thành 2 hàng trong đại điện dài đằng dặc, dễ có đến hơn 150 nguời chứ không ít.Tôi quỳ ngay sau lưng em A, đợi khỏang hơn nử tiếng đồng hồ thì tới phiên em A đuợc vị sư già mặc áo tăng bào vàng hơi đỏ, vai áo bên phải để trần(chắc là vị sư này thuộc phái Nam Tông), chữa bệnh. Tôi quỳ ngay sau lưng em A, nghe lóang thóang em vắn tắt thưa với Thày là có 1 vong nữ trong em, có nhờ em đưa lên chùa này hôm nay vì vong nữ này muốn xuất khỏi nguời em hôm nay, mong thày giúp đỡ. Vị sư này bèn để 3 ngón tay lên đầu em, miệng lâm râm niệm chú, rồi để 1 cái mõ nhỏ lên đầu em, gõ lóc cóc vài cái. Xong Người quay sang bên cạnh, lấy 1 ly nuớc nhỏ do người đệ tử bên cạnh trao cho, co mấy ngón tay lại trên miêng cốc, lẩm nhẩm chú niệm gì đó trong miệng rồi đưa cốc nuớc cho em tôi uống. Thế là xong, em tôi ra khỏi hàng đến quỳ ngay truớc bàn thờ Phật Bà Quan Âm ngay cạnh đó. Tôi bèn nhảy ra khỏi hàng, hỏi em A là chuyện gì xảy ra vậy, con ma đã xuất ra chưa? Thốt nhiên tôi thấy em tôi xoè bàn tay phải ra, giơ thẳng bàn tay ra truớc mặt rồi dùng hết sức lực đấm thình thịch vào ngực, đỉnh đầu và trán của em liên tiếp mấy chục cái. Sức đấm mạnh đến nỗi nguời em tôi lảo đảo sau từng cú đấm. Tôi kinh hòang, hỏi em, "Em ơi, chuyện gì vây, sao em lại tự đánh em như thế?" Em trả lời tôi, "Bà ấy muốn ra, em đang làm thế để giúp bà ấy ra." Tôi nhìn nét mặt của em tôi, tôi thật tình không biết lúc đó em tôi là em tôi hay là con ma nữa. Tôi chỉ cảm thấy tòan thân tôi đau đớn như đang bị đánh, những cú đánh của em tôi mạnh mẽ vang lên trong tim trong óc tôi. Cả bao nhiêu nguời trong đại điện, cả vị sư già ngôi cách em tôi chừng nửa thuớc, chả ai thèm để ý đến em cả, duờng như những sự việc ma nhập,tự hành hạ thân xác như thế đã diễn ra quá thuờng xuyên ở đây. Không biết làm gì, tôi nhảy trở vào hàng người đang xếp hàng, bây giờ đã ngắn đi rất nhiều để hỏi vị sư già trị bịnh đâu đuôi câu chuyện. Chỉ khỏang 5 phút sau, đã đến phiên tôi, tôi bèn quỳ chắp tay hỏi rằng, "thưa Thày, em gái của con vừa rồi có thưa với thày là cái vong nữ trong người nó có nói rằng nhờ đưa lên chùa hôm nay để vong nữ này xuất ra; con em của con đã đuợc gặp thầy và đang ngồi kia--tôi chỉ tay về phía em A; xin Thầy giảng cho con biết chuyện gì đang xảy ra vậy?" Vị thầy nhìn tôi cuời, tôi không thể xác định đó là nụ cuời thuơng hại hay mai mỉa, bảo tôi rằng, "cô không biết là người ta đã nói là nói dối như ma à. Nguời ta đã nói dối với cô va đang lừa dối em cô đó. Muốn chữa khỏi bệnh này, em cô phải đi chùa rất nhiều lần, chứ 1 lần làm sao hết."" Nói xong, Thây quay qua chữa bệnh cho người kế tôi. Tôi quay sang em tôi và hỏi, "Em có nghe thày nói chưa, mình lại bị lừa dối nữa đó". Nhìn vẻ mặt đau đớn của em, tôi không cầm đuợc nuớc mắt, tôi biết em tôi vừa cảm nhận đuợc sự thật phũ phàng là "bà tiên" trong nó thực chất chỉ là một ma nữ thâm trâm, nham hiểm, nói dối như cuội, và vừa rồi, con ma nữ đã lợi dụng lòng tin của em tôi để đánh em tôi 1 trận nhừ tử bằng chính bàn tay của em. Cầm tay tôi, em A bảo, "Chị đừng lo, em sẽ quyết đánh cho con ma nữ giảo họat, dối trá ra khỏi nguơi em. Em sẽ nhất quyết không cho nó nói chuyện hay viết lách gì cho em nữa. " Nhìn vẻ mặt của em, tôi biết em đã cuơng quyết lập chí dành lại độc lâp cho thân xác mình. Tôi vừa đau đớn vừa mừng rỡ rằng ít nhất em tôi đã vuợt qua đuợc 1 giai đọan khó khăn trong cuộc chiến tranh với ma quỷ này là lập quyết tâm đánh đuổi quân thù. Hiên nay em tôi hàng ngày lên chùa Linh Quang để con ma có cơ hội nghe kinh kệ và nhờ thần lực, tín tâm của sư tăng trong chùa và trong chính em để kêu gọi con ma xuất khỏi em tôi. Em A cùng hứa rằng nếu sau 3 tuần đi chùa mà con ma vẫn không nhúc nhích di chuyển gì cả thì em sẽ đổi qua biện pháp mạnh hơn để trục ma .
Tôi xin tóm luợc những ý chính tôi muốn nêu lên trong bài này mà trong lúc xúc động tôi đã không viết đuợc rõ ràng và mạch lạc như sau :
1. Xin hết sức cẩn thận khi đi học nhân điện khoa tự đông ở những người thầy như thầy Mai Viết Nhự. Tôi không đủ dữ kiện để kết luận là thày Nhự có liên quan trực tiếp đến vấn đề tạo cầu nối giúp các hồn ma nhập vào cơ thể các học viên của Thày hay không; tôi chỉ biết là 2 cô em gái của tôi đều bị ma nhập ngay trong lúc đang học nhân điện vơi thày, sau khi thày mở luân xa số 6 và 7 cho 2 em. Chị K. cũng cho tôi biết là 1 số nữ tu công giáo cùng bị hiện tuợng ma nhập sau chuyến du hành từ Mỹ về VN sau khi cũng học khóa nhân điện với thày Nhự. Sao lại có sự trùng lập đặc biệt như thế?
2. Tôi sẽ không bao giờ để ai sờ lên đầu lên cổ của mình, ai biết đuợc là họ có khả năng mở luân xa 6,7 hay không?
3. Đến thời điểm mình phải lìa cõi trần ra đi, xin hãy ra đi với lòng thanh thản, dù có còn bổn phận trách nhiệm với nguời còn sống cũng hãy xin hiểu rằng phận sự của mình đến thời điểm đó là hết, đừng nuối tiếc gì cả, để phần tâm linh của mình có thể nhẹ nhàng siêu thóat, không trở thành vong linh vất vuởng lang thang . Phần nguời sống, xin đừng khóc than níu kéo người đã ra đi, xin hãy nói cho người hấp hối biết là họ đã làm xong nhiệm vụ của họ trên trần thế, mình là người ở lại cũng sẽ OK, để nguời chết yên tâm mà đi.
4. Xin hãy đối xử với những nguơi bị ma nhập tử tế, đừng xa lánh họ. Con ma chẳng có nhiều quyền lực gì cả trừ truờng hợp người bị ma nhập không hiểu đuợc bản chất của ma thì sẽ rất sợ hãi truớc nhừng lơi hăm dọa của ma chẳng hạn như "Tao sẽ giết mày nếu mày không nghe lời tao" Những lời hăm dọa đó chỉ là lời hăm dọa xuông, con ma vốn chỉ là nhừng sóng sinh học âm, sức lực chỉ bằng cục pin rechargeable 1.5 volt. Con ma sẽ rất mạnh mẽ khi tâm hồn và thể xác của nguơi bị nhập yếu đuối, sợ hãi và không có đuợc sự giúp đỡ thuơng yêu của gia đình và bạn bè. Con ma sẽ dùng chiến thuật tâm lý, ngọt bùi cay đăng có cả để thọat đầu mua chuộc lòng tin của người bị nhập, để dần dần chiếm tòan bộ lý trí của họ và tiến đến khống chế thể xác vì bản thân con ma chỉ là phần tinh thần của nguời đã chết, nay mong muốn chiếm đọat thân xác và tâm trí của người còn sống để hành xử theo ý riêng của mình. Con ma cũng sẽ nhăn răng, múa vuốt (qua cử chỉ của nguơi bị nhập) như kiểu trong phim Exorcist nhưng cuờng độ yếu hơn nhiêu chứ không như kỹ xảo Hollywood để hăm dọa người chung quanh, làm cho họ cảm thấy sợ hãi mà xa lánh người bị ma nhập. Những kỹ xảo này của con ma chỉ làm tôi bật cuời, thuơng hại cho kẻ lực bất tòng tâm, và yêu thuơng em tôi hơn.
5. Phải có lòng tin nơi Thuợng Đế, Chúa hay Phật để đối phó với các thế lực đen tối của thế giới bên kia. Chính nghĩa bao giờ cũng thắng tà ma; tôi đã mục kich con ma trong em B rất sợ những câu trong Kinh thánh cũng như các câu niệm Phật Bà Quan Âm hay mật chú Tây tạng.
Hy vọng các bạn đọc bài viết này của tôi và rút tỉa đuợc vài điều nào đó mà có thể giúp ích cho bạn bè hay nguơi thân thêm ít thông tin về thế giới bên kia, một thế giới mà ta không hiêu rõ. Tôi mong bài viết này có thể đóng góp chút nào trong việc ngăn ngừa những trường hợp không may có thể xảy ra sau khi học nhân điện khoa tự động.Xin các bạn, nếu có thể, post bài viết này của tôi ở bất cứ website hay báo chí nào trong hoặc ngoài nuớc để hy vọng thông tin này sẽ giúp ích cho nguời đọc chút nào chăng. Xin cảm ơn các bạn.
Bác Mù
http://dactrung.net/phorum/tm.aspx?m=321084
thing lặng, ồn ào, náo nhiệt ... c húng ta đều có thể gặp Chúa,mỗi người có cách gặp Chúa khác nhau.
cái vụ luân xa nói nghe thấy ghê quá. Đúng là thời buổi này không có sự giúp sức của Đấng Phù Trợ thì khó sống ghê
Học biết thinh lặng để lắng nghe Thiên Chúa và tha nhân
Sáng thứ tư 7-3-2012 đã có khoảng 40.000 tín hữu và du khách hương năm châu tham dự buổi gặp gỡ chung hàng tuần với Đức Thánh Cha, trong đó cũng có Đức Thượng Phụ Nerses Bedros XIX Tarmouni, Thượng phụ Celicia của các tín hữu công giáo Armeni và các Giám Mục thuộc nhiều lục địa về Roma tham dự Công nghị.
Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã trình bầy về sự thinh lặng của Chúa Giêsu trên thập giá. ”Ngôi Lời im tiếng trở thành cái thinh lặng của sự chết, vì Người ”đã được nói” cho tới nín lặng, và không giữ lại gì cả từ những gì Người phải thông truyền cho chúng ta” (Verbum Dei 12). ”Ngôi lời của Thiên Chúa Cha không lời, Đấng đã làm ra mọi thụ tạo có tiếng nói; không còn sự sống nơi đôi mắt của Đấng, mà mọi sự sống đều di động theo lời nói và dấu hiệu của Người” (La vita di Maria, s. 89: Testi mariani del primo millenio, 2, Roma 1989, p. 253). Đức Thánh Cha nói:
Thập giá Chúa Kitô không chỉ cho thấy sự thinh lặng của Đức Giêsu như lời nói cuối cùng của Thiên Chúa Cha, mà cũng vén mở cho thấy Thiên Chúa nói qua thinh lặng: sự thinh lặng của Thiên Chúa, kinh nghiệm sự xa cách của Đấng Toàn Năng và Thiên Chúa Cha là chặng định đoạt nhất trên con đường dương thế của Con Thiên Chúa, Ngôi Lời nhập thể. Bị treo trên thập giá, Người đã than van đau đớn về sự thinh lặng đó: ”Lậy Chúa con, lậy Chúa con, tại sao Chúa bỏ con?” (Mc 15,34; Mt 27,46). Tiến bước trong sự vâng phục cho đến hơi thở tột cùng, trong cái tối tăm của sự chết Đức Giêsu đã kêu lên Thiên Chúa Cha. Người đã tín thác nơi Thiên Chúa Cha trong lúc từ cái chết bước vào cuộc sống vĩnh cửu: ”Lậy Cha con phó hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46) (Dei Verbum, 21). Kinh nghiệm của Đức Giêsu trên thập giá vén mở cho thấy một cách sâu xa tình trạng của người cầu nguyện và tột đỉnh của lời cầu: sau khi đã lắng nghe và nhận biết Lời Chúa, chúng ta cũng phải đọ mình với sự thinh lặng của Thiên Chúa, là kiểu diễn tả quan trọng của chính Ngôi Lời Thiên Chúa.
Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha nói: Lời nói và sự thinh lặng ghi dấu lời cầu nguyện của Đức Giêsu trong suốt cuộc đời dương thế của Người, nhất là trên thập giá, cũng đụng chạm tới cuộc sống chúng ta trong hai chiều hướng.
Chiều hướng thứ nhất liên quan tới việc tiếp đón Lời của Thiên Chúa. Cần có thinh lặng bên trong và bên ngoài để có thể lắng nghe được lời đó. Đây là điểm đặc biệt khó đối với con người thời đại chúng ta. Thật thế, thời đại chúng ta là một thời đại, trong đó người ta không tạo thuận tiện cho việc cầm trí; trái lại nhiều khi người ta có cảm tưởng con người sợ hãi tách rời mình, dù chỉ trong một lát, khỏi dòng sông lời nói và hình ảnh ghi dấu và làm đầy các ngày sống. Vì thế cần phải giáo dục sống thinh lặng.
”Tái khám phá ra Lời Chúa trong cuộc sống Giáo Hội cũng có nghĩa là tái khám phá ra ý nghĩa sự cầm trí và thinh lặng nội tâm. Truyền thống giáo phụ dậy chúng ta rằng các mầu nhiệm của Chúa Kitô gắn liền với sự thinh lặng, và chỉ trong thinh lặng Ngôi Lời mới có thể tìm ra chỗ ở trong chúng ta, như đã xảy ra với Đức Mẹ Maria, người phụ nữ của Ngôi Lời và sự thinh lặng không thể tách rời nhau” (Verbum Domini, 21). Nguyên tắc không có thinh lặng không thể cảm, không thể lắng nghe, không thể tiếp nhận một lời nói này cũng có giá trị, nhất là đối với lời cầu nguyện cá nhân, mà cũng có giá trị đối với các buổi cử hành phụng vụ nữa. Để thuận tiện cho việc lắng nghe chăm chú, các buổi cử hành phụng vụ phải có các lúc thinh lặng và cầm trí không lời. Vì thế điều thánh Agostino nói vẫn còn có giá trị: ”Khi Ngôi Lời của Thiên Chúa lớn lên, thì các lời nói của con người giảm xuống” (x. Sermo 288,5; PL38,1307; Sermo 120,2; Pl 38, 677). Các Phúc Âm thường cho thấy, đặc biệt trong những lúc định đoạt, Đức Giêsu một mình rút lui vào trong một nơi xa cách đám đông và cả các môn đệ để cầu nguyện trong thinh lặng; và để đào sâu trong mội tâm của chính chúng ta một nơi để làm cho Thiên Chúa ở trong đó, để lời Chúa ở lại trong chúng ta, để cho tình yêu đối với Người đâm rễ sâu trong tâm trí và linh hoạt cuộc sống chúng ta. Như vậy chiều hướng thứ nhất là tái học thinh lặng và rộng mở để lắng nghe tha nhân và lời Chúa.
Liên quan tới chiều hướng thứ hai Đức Thánh Cha nói:
Thường khi trong lời cầu, chúng ta đứng trước sự thinh lặng của Thiên Chúa, chúng ta như cảm thấy bị bỏ rơi, xem ra Thiên Chúa không lắng nghe và không trả lời. Nhưng như đã xảy ra với Đức Giêsu, sự thinh lặng đó của Thiên Chúa không ghi dấu sự vắng bóng của Người. Tín hữu kitô biết rõ rằng Thiên Chúa hiện diện và lắng nghe, cả trong đêm đen của khổ đau, khước từ và cô đơn. Chúa Giêsu bảo đảm với các môn đệ và từng người trong chúng ta rằng Thiên Chúa biết rõ các nhu cầu của chúng ta trong bất cứ lúc nào của cuộc sống. Và Người dậy các môn đệ: ”Khi cầu nguyện các con đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha các con đã biết rõ các con cần gì, trước khi các con xin” (Mt 6,7-8). Một con tim chú ý, thinh lặng cởi mở quan trọng hơn biết bao nhiêu lời nói. Thiên Chúa biết chúng ta rõ hơn chính chúng ta, và Người yêu thương chúng ta: biết như thế phải đủ cho chúng ta.
Trong Thánh Kinh kinh nghiệm của ông Giốp đặc biệt có ý nghĩa. Chỉ trong một thời gian ngắn ông Giốp bị mất tất cả người thân, của cải, bạn bè, sức khỏe. Xem ra thái độ của Thiên Chúa đối với ông là thái độ bỏ rơi và hoàn toàn thinh lặng. Nhưng trong tương quan với Thiên Chúa ông Giốp nói với Thiên Chúa, kêu lên Người trong lời cầu nguyện, và mặc dù mọi sự, ông duy trì được tinh tuyền đức tin của mình, và sau cùng khám phá ra giá trị kinh nghiệm của mình và giá trị sự thinh lặng của Thiên Chúa. Và chính vì thế sau cùng ông Giốp mới có thể thưa lên với Thiên Chúa: ”Con chỉ biết Ngài vì nghe nói, nhưng giờ đầy mắt con đã được trông thấy Chúa” (G 42,5).
Sách Giáo Lý Công Giáo dậy chúng ta rằng: ”Biến cố của lời cầu nguyện được vén mở cho chúng ta một cách tràn đầy nơi Ngôi Lời, là Đấng đã nhập thể và ở giữa chúng ta. Tìm hiểu lời cầu nguyện của Người qua những gì các nhân chứng của Người nói với chúng ta trong Phúc Âm, là tới gần Chúa Giêsu thánh thiện, như tới gần bụi gai cháy: trước tiên là để chiêm ngưỡng Người trong khi Người cầu nguyện, rồi lắng nghe Người dậy chúng ta cầu nguyện, sau cùng nhận biết Người chấp nhận lời cầu của chúng ta như thế nào” (GLGHCG 2598).
Đức Thánh Cha nói thêm trong bài huấn dụ: Chúa Giêsu dậy chúng ta cầu nguyện không chỉ với kinh Lậy Cha là hành động trung tâm của việc giảng dậy, nhưng cả khi chính Người cầu nguyện nữa. Như thế ngoài nội dung Người còn chỉ cho chúng ta thấy các thái độ cần có cho một lời cầu nguyện đích thực: sự trong sạch của con tim kiếm tìm Nước Thiên Chúa và tha thứ cho các kẻ thù nghịch; niền tin tưởng táo bạo và con thảo vượt qua những gì chúng ta cảm thấy và hiểu được; sự tỉnh thức che chở người môn đệ khỏi chước cám dỗ (GLGHCG 544).
Lần dở các Phúc âm chúng ta đã thấy Chúa là người đối thoại, là bạn, chứng nhân và thầy dậy đối với lời cầu nguyện của chúng ta như thế nào. Nơi Đức Giêsu được vén mở lên sự mới mẻ của cuộc đối thoại của chúng ta với Thiên Chúa: lời cầu con thảo mà Thiên Chúa Cha chờ đợi nơi các con cái Người. Và từ Đức Giêsu chúng ta học biết lời cầu nguyện liên lỉ giúp chúng ta giải thích cuộc sống của mình thế nào, có các lựa chọn ra sao, thừa nhận và tiếp đón ơn gọi của chúng ta, khám phá ra các tài năng Thiên Chúa ban cho chúng ta và chu toàn ý muốn của Người mỗi ngày, là con đường duy nhất giúp chúng ta thực hiện cuộc sống. Đức Thánh Cha giải thích thêm điểm này như sau:
Chúng ta thường lo lắng về sự hữu hiệu và các kết qủa cụ thể chúng ta theo đuổi, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta biết rằng cần phải dừng lại, sống các lúc thân tình với Thiên Chúa, tách rời mình khỏi tiếng động ồn ào thường ngày, để lắng nghe, để đi về nguồn cội nâng đỡ và dưỡng nuôi cuộc sống. Một trong những lúc đẹp nhất trong lời cầu nguyện của Chúa Giêsu là khi Người đối diện với các tật bệnh, khổ đau và hạn hẹp của dân chúng, Ngừơi hướng về Thiên Chúa Cha trong lời cầu nguyện và như thế dậy cho những ai đứng quanh Người biết phải tìm suối nguồn để có niềm hy vọng và ơn cứu rỗi như thế nào. Đứng trước mồ của ông Ladarô Chúa Giêsu ngước mắt lên trời cầu nguyện như sau: ”Lậy Cha, con tạ ơn Cha vì Cha đã nhận lời con. Phần con con biết Cha luôn luôn lắng nghe lời con, nhưng vì dân chúng quanh đây nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con. Nói xong Người kêu lớn tiếng: ”Ladarô hãy ra khỏi mồ!” (Ga 11,41-43). Nhưng điển sâu xa nhất trong lời cầu nguyện của Chúa Giêsu là trong lúc chịu khổ nạn và cái chết, trong đó Người nói lên tiếng ”xin vâng” với chương trình của Thiên Chúa, và cho thấy ý muốn của con người tìm thấy sự thành toàn của nó trong việc hoàn toàn gắn bó với ý muốn của Thiện Chúa như thế nào, chứ không phải trong sự chống lại. Chúng ta hãy xin Thiên Chúa giúp chúng ta biết sống con đường cầu nguyện và hằng ngày học nơi Đức Giêsu Con Ngài để biết hướng về Thiên Chúa như Người.
Sau khi chào các tín hữu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau Đức Thánh Cha chúc họ những ngày hành hương sốt sắng và bổ ích, rồi người cất kinh Lậy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.
Linh Tiến Khải
Nguồn: vietvatican.net
Xin cho tôi nhiều chuyện một chúc nghe, :feeling_beat_up:
Các bạn Thiền seo củng được, Phương pháp nào củng ok . Môn phái nào củng không quan trọng ..............Miển seo, làm seo giử cho lòng mình yên tịnh, trong vòng 10 phúc mà trong đầu không có suy nghĩ, nhớ , lo chi ráo
Đức Thánh linh sẽ ngự trị , và sẽ có sự thông công ngay trước mặt .....................
Học chi củng được nhưng không nên tập, học theo những môn nén hơi xuống đơn điền, không dùng ngoại lực mở luân xa. Khi mình đủ lực thì nó sẽ tự nhiên mở .
Một cái trứng mà con gà chưa đủ sức mà bạn đập vỏ thì con gà như thế nào ? Khi đủ sức nó sẽ biết cách phá vỏ mà ra .
Bạn nào nói Thiền là của ngoại đạo ..........Thì mở Kinh Thánh ra xem trước khi Chúa đi rao giảng người tự cô lập mình trong đồng vắng mấy chục ngày làm gì nhỉ ? . Ngắm trăng chăng ? . ngắm mây chăng ? Cho muỗi đốt chăng ? :tongue:
Đôi hàng chia sẽ mong các bạn vui vẽ, trẻ mãi không già :tongue: , Còn người già, tà tà chờ đi qua phà :tongue:
Nhờ bài viết nè mà em biết thêm đó. Em cũng đang rất băn khoăn, tìm hiểu để nhận ra thêm đc sự ưu việt của dòng tu nè mà chưa thấy cái nào cả vì Luân Hồi thì họ ko có. Bi h thì có Thiền rùi, em sẽ đọc kỹ hơn nữa để hiểu hơn về đạo này. Cảm ơn chủ topic vì bài viết.
Thấy bạn tìm hiểu đạo mình cũng mừng, MD nghĩ trong đạo Công giáo không nói tới luân hồi chắc là Chúa quá sốt ruột rồi :) Người muốn chúng ta hiểu chỉ có 1 kiếp duy nhất để tu thôi, không còn kiếp nào khác nữa để mà hẹn lần hẹn lượt, phải tu sửa rốt ráo hơn vì chỉ có 2 con đường hoặc lên Thiên đường hoặc xuống hỏa ngục thôi.