http://thuvienhoasen.org/a11736/a-di...y-a-mi-da-phat
http://www.phattuvietnam.net/diendan...C3%A1o-vn.html
http://www.daophatngaynay.com/vn/pha...t-giao-VN.html
Printable View
HƯƠNG SEN VẠN ĐỨC
HT. Thích Trí Tịnh
Nhà Xuất Bản Phương Đông TP. HCM 2006
http://thuvienhoasen.org/p27a5327/ph...-mon-niem-phat
2.1 A Di Đà Phật 阿彌陀佛
Câu niệm rất phổ thông trong các môn phái phật giáo Á Châu, dẫn tên đức Phật A Di Đà, cũng là kí âm từ tiếng Phạn Amitābha, अमिताभ. Chữ này thành lập từ tiền tố a- (không, dịch là vô 無) và mita मित (đo lường, dịch là lượng 量) với phụ tố ābhā (sáng, dịch là quang 光). Do đó, Amitābha dịch là Vô Lượng Quang (Phật). Tuy nhiên, Amita- cũng là thành phần đầu của chữ Amitāyus với ayus आयुस् (đời sống dài, dịch là thọ 壽), cho nên A Di Đà Phật còn có nghĩa là Vô Lượng Thọ (Phật)8 hay A Di Đà Sưu Tư 阿彌陀廋斯 …
Từ trục không gian, đức Phật (lý tưởng) là nguồn sáng vô cùng vô tận; từ trục thời gian tuổi thọ ngài cũng vô lượng vô biên. Các chữ Phạn ghép với amita như kratu (năng lượng) tạo thành amitakratu (năng lượng vô hạn/unbounded energy), guna (công đức) ghép với amita trở nên amitaguna (công đức vô lường), amitatman (trí óc vô lường) ...
Tuy câu niệm A Di Đà Phật bằng tiếng Phạn không hiện diện trong các kinh nguyên thủy của pháp môn Tịnh Độ9, nhưng phần đầu của Vô Lượng Thọ Kinh có câu Namo'mitābhāya (dấu phẩy chỉ cách đọc nhanh hay liên âm /sandhi) và Namo Amitābhāya được phát âm như sau
[nɐmoːɐmit̪ɑːbʱɑːjɐ] ------- đọc theo tiếng Việt bây giờ gần như là ----- ‘na mô a mita ba da’
http://giacngo.vn/phathoc/2011/10/08/5AE64A/
http://nigioikhatsi.net/tinh-do/niem...-dung-hon.html
HỌC HỎI PHẬT PHÁP - Niệm "Nam Mô A Di Đà Phât hay Nam Mô A Mi Đà Phật" ?
( http://www.nhanduyenbatnha.com/2014/...o-di-phat.html )
Bạn Diệu Xuân hỏi:
Nam Mô A Di Đà Phật. Kính thưa Sư Cô Tiểu Ni Diệu Hân, con được 1 số người hỏi Niệm danh hiệu Phật "NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT" hay niệm "NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT"? Vì họ nói Hòa Thượng Thích Trí Tịnh chỉ dạy niệm danh hiệu "NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT", họ nói Hòa Thượng nói do có lần nhìn lên bầu trời thấy danh hiệu "NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT" hiện ra. Nên từ ngày đó Hòa Thượng khuyên mọi người niệm "NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT". Con không biết phải giải thích như thế nào để họ hiểu mà niệm Phật cho đúng. Mong sư cô Tiểu Ni Diệu Hân mở lòng từ bi chỉ dạy, để phật tử hiện nay và các phật tử sau này niệm Phật cho đúng. NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!
Cô Diệu Hân:
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT...Tiểu tôi xin phép trả lời bạn Diệu Xuân...
DIỆU XUÂN thân mến, Sáu câu niệm PHẬT lục tự là NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT từ thời VIỆT NAM, PHẬT GIÁO phát khởi niệm PHẬT, đã có từ lâu, 6 câu niệm phật rất chuẩn là “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” không sai lệch, tiếng niệm A Mi Đà Phật, tiểu tôi mới biết đây từ ngày có phong trào niệm PHẬT xuất phát từ bên Trung Quốc. Có một vị tăng yêu mến vị ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG TĂNG HIỀN có pháp môn dạy người NIỆM PHẬT, VỊ TĂNG đến nước HỒNG KÔNG tìm vị đại trưởng lão TỊNH KHÔNG bái sư pháp môn NIỆM PHẬT, vị tăng thỉnh chiếc áo cà sa trao tay HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG sau đó HÒA THƯỢNG trao lại trước mặt phật tử HỒNG KÔNG việt kiều Việt Nam. Vị tăng mặc áo và nhiều pháp phục hoa tông tịnh độ đem về VIỆT NAM phát lên gầy dựng đạo tràng niệm PHẬT tắt là “A MI ĐÀ PHẬT” phật tử có quay phim lại quá trình trao đổi với vị tăng ấy.
Từ đó vị tăng mở đạo tràng hướng nhân dân phật tử NIỆM A MI ĐÀ PHẬT, theo xu hướng nửa Hoa nửa Việt. Việt là “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” nửa Hoa nửa Việt niệm là “A MI ĐÀ PHẬT” cho nên nhân dân và phật tử đa số theo xu hướng niệm A MI ĐÀ PHẬT .
Tiểu tôi xin khuyên niệm gì cũng được, trước khi ta học và hành bất cứ pháp môn nào trong bao nhiêu ngàn pháp môn, tốt nhứt chúng ta nên tu THÂN – TÂM - KHẨU - Ý tốt đẹp là tốt nhứt, vì Thân Tâm Khẩu Ý khinh chê bè giễu, mạn nghi không giúp cho ta đi về thế giới vô vô nghì được.
Tiểu xin mời các vị vào mạng youtube xem “Niệm Phật Về Đâu và Thân Tâm Khẩu Ý phần 17 và 18 - Tiểu Ni Diệu Hân” các bạn sẽ hiểu rõ...
Còn riêng bản thân Tiểu Ni Diệu Hân tiền khiên kiếp tiểu thấy tiểu có ở xứ Trung Quốc là tăng xuất gia, niệm phật là NA MO A MI PHÒ PHÒ, kiếp này...Tiểu là con dân của VIỆT NAM, Tiểu cũng là người xuất gia Tiểu niệm là NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT, Tiểu phải niệm theo phát âm bản quốc VIỆT NAM, Tiểu không thể phát âm theo ngoại ngữ Trung dù biết rằng trong tiền kiên kiếp Tiểu có mặt trong xứ Trung.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT...Tiểu xin kính lời..
DANH HIỆU A DI ĐÀ PHẬT CÁC NƯỚC.
A DI ĐÀ PHẬT (A MI ĐÀ PHẬT) - Tiếng Việt Nam (Vietnamese)
阿彌陀佛 (A MI TUO FO) - Tiếng Trung Hoa (Chinese)
아미타불 (A MI TA BUL) - Tiếng Hàn Quốc (Korean)
अमिताभ (AMITABHA) - Tiếng Phạn Ấn Độ Cổ (Sanskrit)
阿弥陀仏 (A MI DA BUTSU) - Tiếng Nhật Bản (Japanese)
Xin thường niệm A DI ĐÀ PHẬT (A MI ĐÀ PHẬT), giữ tâm thiện thế giới hòa bình.
https://vi-vn.facebook.com/NanmoAmit...73012169434229
https://www.wattpad.com/9584844-t%E1...%BA%ADt/page/3
http://www.chuabavang.com.vn/tin-tuc...i-da-phat.html
NIỆM PHẬT TAM MUỘI
QUÁN TƯỚNG BẠCH HÀO
Pháp quán tướng bạch hào của Phật
Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật nói: “Nếu người muốn sinh về Tây Phương Tịnh độ thì nên quán tượng Phật một trượng sáu ở trên hồ nước”.
Lại chép: “Tướng tốt trên thân rất nhiều, không thể quán khắp hết, nên cần phải quán một tướng mà thôi. Đó là chuyên tâm quán tướng lông trắng, hễ quán thành thục, thì các tướng còn lại sẽ tự nhiên hiển hiện”.
Lông trắng đó dài một trượng rưỡi, xoáy tròn chu vi năm tấc, bên ngoài có tám cạnh, bên trong rỗng thông như ống thủy tinh. Vị trí của lông này nằm ngay giữa hai chặng mày, biểu thị cho lý Trung đạo. Lông ấy mềm mại, uyển chuyển xoáy vòng theo phía phải, trắng như ngọc, sáng sạch trong suốt, ánh chiếu đến toàn thân sắc vàng ròng của đức Phật. Khi quán tưởng, tâm phải an trú kiên cố. Nếu tâm hôn mê tán loạn, liền chế phục khiến tâm trở lại sáng suốt, lặng lẽ. Bởi vì sáng suốt thì không mê muội; lặng lẽ thì không tán loạn. Nên biết, sáng suốt lặng lẽ chính là kết quả của Chỉ Quán. Thể tánh Định Tuệ cũng chính là bản thể của tâm. Chỉ Quán là công phu, Định Tuệ là nhân hạnh, sáng suốt lặng lẽ là kết quả. Sáng suốt lặng lẽ đến tột cùng thì liền hợp với bản thể. Nếu đạt đến quả vị cao tột, tức thành tựu phước trí trang nghiêm. Thân tâm đã được tịch định, đó là Chỉ; quán tưởng tướng bạch hào của Phật, đó là Quán; tướng bạch hào hiển bày rõ ràng đó là sáng suốt; trụ tâm kiên cố không động, đó là lặng lẽ, nghĩa là nương nơi thân tướng đức Phật mà huân tập tâm tánh của mình. Nếu trí quán thành thục, tự nhiên sẽ hiện bày chính là nghĩa này vậy. Nhưng muốn tu tập pháp quán này, trước hết cần phải hiểu rõ vạn pháp đều do tâm.
Kinh dạy: “Tâm như họa sĩ giỏi, tạo các thân năm ấm; tất cả pháp thế gian, thảy đều do tâm tạo”.
Do đó, nên biết rằng tướng bạch hào của đức Phật A-di-đà vốn đầy đủ nơi tâm ta, những tướng hiện ra trong định cũng đều từ tâm ta biến hiện. Tâm ấy làm tướng bạch hào, tấm ấy là tướng bạch hào, không từ nơi khác mà có, không phải tìm cầu bên ngoài mà được. Hiểu được như thế mới gọi là tu quán đúng pháp.
Tóm lại, Trí hay quán là Nhất tâm tam quán[1]; còn tướng lông trắng được quán là Nhất cảnh tam đế[2]. Vì sao? Vì tướng lông trắng trong định tuy hiện ra trước mắt, nhưng đều do tưởng niệm mà có, không phải tướng thật, tánh thật. Pháp được sinh ra do nhân duyên này vốn không có tự tánh, không có tha tánh, không có cộng tánh, không phải không có nhân tánh. Bốn tánh đều không, cho nên không có thật tánh. Tướng bạch do quán tưởng mà có này không chỉ tánh không mà tướng cũng không, như bóng trong gương, như trăng dưới nước, nên không có thật. Tánh tướng đều không thật, nên ngay nơi không tức là chân; tùy theo niệm mà thấy, nên ngay nơi giả tức là tục. Ngay nơi giả tức là tục, nên chẳng phải chân, chẳng phải không; ngay nơi không tức là chân, nên chẳng phải tục, chẳng phải giả. Như thế, khởi một niệm đồng thời phá dẹp chấp trước và chiếu soi (già chiếu), lìa tức là lìa chẳng phải, lìa tức là mà chẳng phải tức là, cho nên đó là cảnh quán Trung đạo không thể nghĩ bàn tam nhất viên dung. Toàn đế khởi quán, quán trở lại chiếu soi đế. Cảnh và quan không hai, chỉ là một tâm. Cho nên, người xưa có bài tụng:
Cảnh là diệu giả, quán là không,
Cảnh quán đều không tức là Trung.
Bạch chiếu, trước sau chưa từng có
Nhất tâm dung hợp, vết không còn.
Văn trong bài tụng này quá vắn tắt, nên cần phải giải thích sơ lược. Nói “cảnh là diệu giả”, tức chỉ cho cảnh có đủ không và trung ở trong đó. Nếu chẳng có không và trung thì đâu được gọi là diệu giả? Nói “quán là không”, tức diệu không mà có đầy đủ trung và giả ở trong đó. Nói “cảnh quán đều không”, tức đã có song chiếu ở trong đó. Đều không tức chẳng phải không, chẳng phải giả; song chiếu là ngay nơi không tức là giả. Không dính mắc hai bên, nhưng cũng không lìa hai bên, cho nên gọi là Trung đạo. Hai câu dưới thì nói bạch chiếu đồng thời nhất tâm dung hợp. Vì cảnh tuy đủ ba, nhưng thuộc về cảnh được quán, nên chỉ gọi là diệu giả. Quán tuy đủ ba, nhưng thuộc về quán của trí hay quán, nên chỉ gọi là diệu không. Cảnh và quán, tuy mỗi thứ đều đủ cả ba, nhưng đã dùng diệu quán song vong song chiếu, nên thầm hợp với diệu cảnh song phi song tích. Nhưng diệu trung này, do đưa ra một tức đủ cả ba, nói đến ba tức là một. Ba và một chẳng đồng, ba và ba chẳng khác. Không thể dùng ý thức để suy lường, không thể dùng ngôn ngữ để phân biệt, cho nên nói “bạch chiếu, trước sau chưa từng có; nhất tâm dung hợp, vết không còn”. Lý nhiệm mầu cảnh quán viên dung này, chỉ dùng bốn câu kệ tóm thâu trọn vẹn. Thấu rõ bài kệ nhiệm mầu này hơn đọc cả mấy trăm quyển sách của tông Thiên Thai. Nhưng nếu chẳng phải người hiểu rõ lý nhất tâm, thấu triệt giáo nghĩa tông Thiên Thai, e rằng không dễ gì thông đạt được.
Kinh chép rằng: “Chỉ nghe được danh từ bạch hào, cũng diệt được vô lượng tội”, huống gì chuyên tâm hành trì đúng pháp. Pháp này chính đức Phật Thích-ca chỉ dạy, ngài Trí Giả ân cần khuyên bảo chuyên tu, gần đây chỉ có Hòa thượng U Khê thường tu tập. Nay, người tu Tịnh nghiệp nếu có thể nhất tâm trì danh hiệu Phật, thì bảo đảm được vãng sinh; lại kết hợp tu diệu quán này, nhất định sẽ đạt được phẩm cao, bậc thượng sĩ căn cơ lanh lợi, sao không dốc sức mà hành trì?
__________________________________________________ ____________________
Bạch Hào ( Urna ) (bạch = trắng; hào = lông dài và nhọn), là cái chùm lông trắng thường chiếu sáng, mọc giữa 2 Chân Mày, lông ấy xoay tròn quanh qua phía hữu, mềm mại như tơ đỗ-la-miên (tơ cõi trời),trắng ngần như Tuyết, tươi trắng sáng suốt như ngọc “Kha-tuyết”, dài 1 trượng 5 thước ( thước tấc Trung Hoa ), lớn bằng 5 hòn núi Tu-Di ( SuMeru ) ( " Bạch Hào uyển chuyển ngũ Tu-Di " ). Đây là Tướng thứ 31/ 32 Tướng của Đức Phật Thế Tôn. Vì thế có Kệ xưng tán rằng:
"....Lông trắng chặng mày chói rực-rỡ,
Ánh sáng chiếu suốt như vầng trăng...."
Quán tưởng tướng Bạch Hào của Phật thì không bức tượng nào có tướng Bạch Hào, tất nhiên mình chỉ thấy lời của Phật ghi lại trong Kinh về tướng Bạch Hào, rồi mình phải tự quán tưởng sao cho tướng Bạch Hào hiện ra theo ý của mình hiểu và muốn như vậy đó. Và ý nghĩ của mình từ lúc ban sơ về tướng Bạch Hào như thế nào, mình phải nắm chắc cái đó, không được thay đổi. Quán làm sao cho hiện ra đúng như chỗ thấy hiểu của mình. Đó là Quán Tưởng Niệm Phật.
Tướng Bạch Hào quan trọng, có 8 gốc, bọng, trong suốt như pha lê, xoay quanh qua bên hữu thành hình tròn như nửa hạt châu úp xuống, bề chu vi 5 tấc, kéo dài ra thì dài tới gót chân Phật. Bình thường, nó xoắn lại như trôn ốc ở giữa 2 Chặn Mày, gọi là Ấn Đường, luôn luôn có ánh sáng phát ra. Phải quán làm sao cho thành, gọi là Quán Tưởng.
Niệm tưởng tướng Bạch Hào của Phật, thì Tâm mới phấn trấn, như thế mới phá được " Hôn ám chướng " ( Tâm trầm ). Tướng Bạch Hào (lông trắng giữa Chặn Mày) - Do tán-thán Công-Đức của người khác mà được.
Người muốn quán tướng Phật, nên quán tướng Bạch Hào, vì nếu quán tướng Bạch Hào được thì tất cả tướng khác đều hiện ra. Phép này rất là Bậc Thượng, nghĩa là khi Tâm tưởng Phật, tức nhiên Tâm này là Phật. Lại có thắng phần hơn Miệng niệm vậy. Thân đời sau ( Hậu thân ) chắc chắn sẽ sanh về Bậc Thượng Phẩm Thượng Sanh.
*Phương Pháp Tu Trì ( Theo Long Thơ Tịnh Độ ):
1.Phương Pháp 1:
Nếu vừa tưởng tướng Bạch Hào vừa to tiếng xưng Hiệu Phật, thì chắc chắn khế hợp với ý Phật, được Định-Tuệ quân bình, và vào được cảnh giới Phật.
2.Phương Pháp 2:
Trai giới sạch mình, yên lòng đừng vọng tưởng ( thanh tâm tịnh lự ).
Ngồi quay mặt về hướng Tây, nhắm mắt lim dim, quán tưởng Đức Phật A Di Đà ở Tây phương có chân thân sắc Vàng, trong ao Thất Bảo, Ngồi trên 1 Hoa Sen rất lớn, mình cao 1 trượng 6 (10m60), ở chặn giữa chân mày, có 1 đường hào quang chiếu sáng, Mặt sắc Vàng, Thân cũng sắc Vàng.
Kế, lặng lòng chuyên tưởng nơi Hào Quang Trắng, chẳng đặng vọng động có chút mảy niệm khác, phải nhắm mắt hơi hơi (hí hí) thảy đều thấy Phật. Như thế muốn mỗi niệm, mỗi niệm đừng quên vậy. Như thế lâu lâu, tâm niệm thuần thục, tự nhiên cảm ứng được thấy toàn thân Phật.
3.Phương Pháp 3:
Quán tưởng thân Đức Phật A Di Đà rất cao rất lớn. Ngồi trên hoa sen, cũng cao lớn xứng nhau.
Lại chuyên tưởng giữa chặn mày, có1đường hào quang trắng xẹt ra ( Linh Quang này như cái đèn rọi cực mạnh để có thể quét sạch ô trược ). Mỗi mỗi như bài trước đã nói.
Phép quán tưởng này thật là Bậc Thượng. Vì khi Tâm tưởng Phật, Tâm này tức là Phật. Lòng tưởng Lớn, thời Niệm Lành cũng Lớn. Không vậy, thời lại quán tưởng tượng nhỏ cũng đặng. Nhưng phải chuyên tinh, đứng cho tán loạn vọng niệm xen vào.
Cứ trong Kinh Thập Lục Quán: Quán Phật A Di Đà cả thân tướng và hào quang, rực rỡ như trăm nghìn muôn ức Vàng Diêm Phù Đàn ( thứ Vàng tốt nhất trong các thứ Vàng ). Thân Phật cao 60 vạn ức na do tha ( Con số vô cùng vô tận ), hằng hà sa do tuần. Hào quang trắng giữa chặn mày, khắp trùm 5 hòn núi Tu Di. Mắt Ngài trong như nước bốn biển lớn, trắng, xanh rõ ràng, dùng lòng từ vô duyên nhiếp độ chúng sinh.
*Dẫn Truyện Quán Tướng Bạch Hào:
1.Ðức Như Lai từng ở “ Kinh Tam Muội Hải ” nói với Phụ Vương rằng:
Xưa có 4 Tỳ-Kheo phạm Luật vì hổ thẹn muốn buông xuôi không tu niệm, bỗng nghe trong hư không có tiếng nói:
“ Chỗ các ngươi vi phạm cho rằng không cứu được là điều sai lầm. Ðức Không Vương Như Lai tuy đã vào Niết bàn nhưng hình tượng vẫn còn. Các người hãy vào Tháp nhứt tâm quán tưởng tướng Bạch Hào ( lông trắng giữa 2 Chân Mày ) của Thánh Tượng! ”.
Các Tỳ-Kheo liền rơi lệ khóc nói rằng “ Tượng Phật còn có năng lực kỳ diệu như vậy huống hồ chân dung của ngài ( hình dáng chân thật ) ”, rồi gieo mình xuống đất đảnh lễ như núi lớn ngã đổ.
Các Đấng Chánh Giác ở 4 Phương hiện nay như A Súc Phật ở phương Ðông, Bửu Tướng Phật ở phương Nam, Vô Lượng Thọ Phật ở phương Tây và Vi Diệu Thinh Phật ở phương Bắc tức là 4 Tỳ-Kheo phá Giới đó vậy ”.
Vì thế nên Như Lai gọi pháp Quán Phật Tam Muội này là Ðại Bảo Vương Giới Phẩm Hải có thể dùng để tẩy trừ tội nhơ phá Giới, chứng đắc sự thanh tịnh trong cõi trần lụy. 4 Tỳ-Kheo ấy chỉ nhất tâm quán tưởng Bửu Tượng mà tất cả đều thành Ðấng Thế Tôn. Người niệm Phật há có thể sanh tâm nghi hoặc khinh thường đối với thầy Tăng phá Giới ư?.
Nhưng vì không muốn bỏ công đức đặc biệt của Quán Pháp, nên Cổ Nhơn đã thể dụng trong 16 Phép Quán, lựa cách thức dễ tu tập nhứt, lấy Trì Danh làm Chánh, Quán Phật làm Phụ, gọi là Quán Phật Trì Danh.
Hành giả mỗi ngày sau khi niệm Phật, lại để riêng một thời tịnh tâm quán tưởng sắc tướng quanh minh của Phật A Di Đà. Cách quán Phật này rút lựa phép quán 13 trong Quán Kinh, tưởng đức A Di Đà thân cao 1 trượng 6, sắc Vàng ròng, đứng bên bờ ao Thất Bảo. Nếu chưa quán tưởng được ao Thất Bảo, hành giả có thể tưởng Đức Phật đứng trong vầng ánh sáng giữa hư không trước mắt mình, tay trái đưa ngang ngực bắt ấn kiết tường, tay mặt buông sè xuống theo thế tiếp dẫn.
Muốn quán Phật cho thành tựu, trước tiên nên Quán đại khái Toàn Thân, kế chỉ Chuyên Tâm quán tướng lông trắng giữa đôi mày. Tướng bạch hào này rỗng không trong suốt như bạch ngọc, có tám cạnh, xoay về bên hữu cao thành năm vòng. Bạch hào là tướng cãn bản trong 32 tướng, khi tướng này quán thành, do sự cơ cảm, các tướng kia đều lần lượt hiện rõ. Tuy nhiên, muốn được phần chắc chắn hành giả cũng nên duyệt xem trong kinh, để ghi nhớ rõ 32 tướng tốt của Phật trước khi dụng công.
Phương pháp trên đây sở dĩ để Trì Danh vào phần Chánh, vì nếu quán tưởng không thành vẫn còn phần Trì Danh để bảo đảm cho sự Vầng Sanh. Nhưng thật ra, Trì Danh cũng giúp quán tưởng, quán tưởng lại phụ dực cho Trì Danh, 2 phần này hổ tương đưa hành giả đến chỗ song song thành tựu. Pháp thức này tuy có phần khó hơn các lối trên, song nếu thành tựu thì công đức to rộng vô biên, nên xin đưa ra sau cùng để làm duyên khuyến tấn.
Thân tâm tịch định là Chỉ. Quán tướng lông trắng giữa hai mày của Phật là Quán. Tướng bạch hào rạng rỡ là Minh. Giữ chắc chẳng động là Tịnh. Nghĩa là: nhờ vào thân tướng của Phật để huân tập tâm tánh của ta. Nếu quán trí thành tựu thì sẽ tự nhiên hiển hiện.
ĐỜI ĐƯỜNG ĐẤT PHÂN CHÂU ÔNG TĂNG
TÊN KHẢI PHƯƠNG VÀ VIÊN QUẢ
Ông Khải Phương và ông Viên Quả là 2 vị Pháp sư, chuyên tâm quán tưởng Tịnh độ. Kế 5 Tháng, trong khi quán tưởng, đồng biết thân mình đến ao Thất Bảo đại trì. Trong ao có tấm màn báu lớn, thân 2 ông liền vào trong ấy, thấy Đức Quan Âm và Thế Chí, 2 vị Bồ Tát đang ngồi trên 2 bửu tòa đài Liên Hoa, còn dưới tòa có nghìn vạn hoa sen đầy dẫy.
Đức Phật A Di Đà từ hướng Tây lại ngồi trên 1 cái Hoa Sen rất lớn, cả phóng hào quang chiếu suốt 10 Phương. Ông Khải Phương và ông Viên Quả lễ Phật và bạch Phật Thưa Đức Đại Từ! Giả sử chúng sinh cõi Diêm phù (cõi Ta bà), này y theo Kinh dạy Niệm Phật có được sinh về đây không ?
Phật dạy Như niệm Danh Hiệu Ta đều đặng sinh về nước Ta, không có 1 người nào là Người Niệm Phật, mà không sinh về được bao giờ.
Hai ông Khải Phương và Viên Quả lại thấy quốc độ kia, đất đai bằng phẳng, tràng báu lưới ngọc trên dưới xen pha. Lại có 1 ông Tăng, từ xa đi lại bảo Khải Phương và Viên Quả rằng Ta đây là Pháp Tạng vậy (tiền thân Phật Di Đà). Bởi do nguyện đời trước của ta nên nay đến đây rước 2 nhà ngươi.
Khải Phương và Viên Quả, cũng cứ ngồi trên xa báu đi tới trước, lại biết thân mình ngồi trên Hoa Sen Báu. Lại nghe Phật Thích Ca và Đức Văn Thù Bồ Tát, khen ngợi cõi Tịnh độ. Đi tới trước, lại có 1 Bửu điện rất lớn. Điện ấy có 3 cấp đường bằng Ngọc. Cấp đường thứ nhất toàn Người thế tục đi. Cấp đường thứ 2 Tăng và tục phân nửa (nửa Tăng nửa tục). Bước qua cấp đường thứ 3 duy có Tăng chứ không có tục. Đức Phật chỉ đó mà bảo hai ông Khải Phương và Viên Quả rằng Phong cảnh đây, để dành cho những chúng sinh cõi Diêm phù đề (cõi Ta bà), người nào niệm Phật, thời sinh về ở đây. Vậy 2 người hãy tự gắng.
Bấy giờ Khải Phương, Viên Quả trực giác thức dậy (xuất Định), kể chuyện cho các đồ đệ (đệ tử) nghe sự tích này. Qua 5 ngày sau, 2 ông không bệnh tự nhiên nghe tiếng Chuông, thế mà các người khác không nghe. Ông Khải Phương và Viên Quả nói Tiếng Chuông ấy là cái việc của ta, nói rồi vui vẻ trong giây lát 2 ông đồng lâm chung 1 lượt (vì đồng một tịnh nghiệp).
http://adidaphat.jimdo.com/ni%E1%BB%...A1ch-h%C3%A0o/
*Hồng Hoa:
Liều lượng: 1- 3 chỉ.
CHÚ GIẢI VỀ P’HOWA
Hướng Dẫn về Pháp Môn Chuyển Di Thần Thức Siêu Sinh Tịnh Độ
theo Truyền Giảng của Rigdzin Longsal Nyingpo
Tác giả: Chagdud Khadro - Dịch giả: Cư sĩ Nguyên Giác
http://quangduc.com/p1244a34256/2/chu-giai-ve-p-howa
KHÔNG HIẾU SẮC, CŨNG LÀ 1 TÍNH THIỆN
( CỰ SẮC DIỆC THỊ NHẤT THIỆN )
Nguồn: http://kba-tx.org/files/vn/phat/ConDuongSang.pdf
Nguyên tác: Đạo Sư Lian Sheng
Dịch giả: Liên Hoa Văn Hải
http://s1.upanh123.com/2016/12/15/sanshenhuabea2a.jpg
Liên Hoa Thanh Sơn khi qua đời, do “Không Hành Mẫu” mang hồn phách của ông ta đến chỗ tôi đóng cửa ẩn cư.
Tôi suy tính thì chợt sợ hãi. Tôi nói: “Thanh Sơn, tuy ông là đệ tử của tôi, nhưng ngay 1 Pháp cũng chưa tu, ngay 1 Câu Chú cũng chưa tụng đọc, 5 Giới cũng chưa thủ giữ nữa, 1 việc Thiện cũng chưa làm. Sinh thời chỉ miệt mài, loanh quanh ở những khối tiền, lăn lóc, ông bảo tôi dẫn đưa ông đi đâu bây giờ mới tốt đây?” Liên Hoa Thanh Sơn cúi đầu không nói.
Lúc bấy giờ, bên ngoài chỗ ở của tôi đến rất nhiều quỷ Dịch Lại, tay cầm lệnh bắt giữ và còng khóa sắt, chỉ muốn vào bắt Thanh Sơn, gây rất ồn ào ở ngoài cửa, bởi chưa vào được bên trong nhà để bắt.
Liên Hoa Thanh Sơn thấy tình huống rất khẩn cấp, trong lòng sợ sệt bèn kêu to: “Sư Tôn! Cần phải cứu con, Sư Tôn! Cần phải cứu con.”
Tôi trong lòng suy nghĩ: “Đưa Thanh Sơn đến “Ma Ha Song Liên Trì” là việc không thể làm được. Nhân vì “Di Đà Kinh” đã nói: “Xá Lợi Phất, không thể thiếu nhân duyên thiện căn phúc đức để đến được Bỉ Quốc (nước Phật)”.
Nếu như Thanh Sơn bị Dịch Lại bắt đi, dùng còng sắt khóa lại rồi áp giải vào địa ngục thì tâm tôi nghĩ chẳng đành! Tôi bị rơi vào tình trạng khó xử.
Sau đó, tôi nói với Liên Hoa Thanh Sơn: “Ông phải ghi nhớ câu chú OM. A MI DIE WA. XIE, lại phải ghi nhớ điều tôi dặn dò đây, nếu trông thấy một quán rượu, cần nhớ, không được uống rượu; nếu trông thấy gái hầu rượu dụ dỗ phải nghiêm trang cự tuyệt, như thế tôi mới có thể cứu ông được.”
Liên Hoa Thanh Sơn gật đầu ưng thuận. Do đó tôi mới mở cửa để quỷ Dịch Lại bắt ông ta đi. Quỷ lính khóa tay Thanh Sơn để tiện việc giải đi. Đi đến nửa đường, quả nhiên gặp một quán rượu, bọn quỷ lính vào quán nghỉ mệt.
Liên Hoa Thanh Sơn trông thấy người nữ hầu rượu xinh đẹp mang rượu đến mời Thanh Sơn uống rượu. Ông ta nhớ lời tôi dặn nên không uống. Bọn gái hầu rượu tranh nhau tiến lại dụ dỗ Thanh Sơn. Ông ta ghi nhớ lời tôi dặn: “Không mở miệng nói, không động đậy tay chân, không động lòng, đứng như như bất động.
Kết quả, nghe “ẦM” một tiếng, quán rượu chẳng trông thấy đâu nữa, bọn quỷ Dịch lại cũng biến mất, dây xích còng trên thân xác cũng không còn. Bản thân ở ngay tại cánh đồng rộng rãi tối om, lủi thủi một mình đi, đến âm phủ. Phán Quan âm phủ, kiểm tra nhân quả của Thanh Sơn, thoạt đầu lắc đầu, sau lại gật đầu.
Phán Quan nói: “Người này, căn bản không làm một việc thiện, nhưng sau này hắn không uống rượu là một điều thiện, nghiêm trang cự tuyệt sự dụ dỗ của sắc, lại là một điều thiện nữa.”
Phán Quan hỏi: “Ông quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thì có thể niệm Chú được không?”
Thanh Sơn nhớ câu chú tôi đã dạy nên đọc: “Om. A Mi Die Wa. Xie” Liên Hoa Thanh Sơn niệm chưa dứt câu chú thì đột nhiên trước mắt ông ta hiện ra 7 tòa núi, 7 toà núi này đều là núi to lớn, trong đó 6 toà đã có Sơn Thần, chỉ một tòa là trống không, chưa có Sơn Thần.”
Phán Quan nói: “Đi thôi! Tòa núi kia là của ông đó.” Do đó Liên Hoa Thanh Sơn làm Sơn Thần của ngọn núi ấy.
Vì sao Liên Hoa Thanh Sơn phải làm Sơn Thần vậy?
Nguyên do, không uống rượu là một điều thiện, cự tuyệt sắc dục là một điều thiện nữa, lại thêm ông ta niệm được Di Đà Tâm Chú, thì được vãng sanh đến chỗ cư trú của Sơn Thần.
Nhưng vì sao ông ta không được siêu thăng lên “Ma Ha Song Liên Trì”? (hai hồ sen vĩ đại trên thế giới Cực Lạc A Di Đà) Câu trả lời rất đơn giản, vì rằng tâm của Thanh Sơn không hề có ý niệm Tịnh Thổ Phật Quốc, cho nên ông ta không thể vãng sanh Tịnh Thổ Phật Quốc được. Sự quy y quán đỉnh của Thanh Sơn chỉ là theo người mà đến và theo người mà đi theo, thực sự vô tâm. (Vô tâm ở đây có nghĩa là không có tâm tu hành). Hơn nữa Pháp hiệu của ông ta là Liên Hoa Thanh Sơn, nên có duyên tại “thanh sơn” (núi xanh) làm Sơn Thần cũng đúng!
Vấn đề đốt vàng mã đã có từ xa xưa .... muốn thấu hiểu nó thì ta cần có cái nhìn tổng thế , ta hãy quan sát sơ đồ sau
http://www.minhtrietmoi.org/Bailey/T...s/image003.png
Từ trước tới nay nhiều người không biết rằng cõi vô hình có nhiều cõi chứ không chỉ có duy nhất 1 cõi . Ngoài âm giới mà ta quen thuộc thì còn có các cõi vô hình khác nữa như cõi thiên giới , cõi bồ đề , cõi niết bàn , cõi đại niết bàn v.v....... Mỗi cõi lại chia làm bảy tầng . VD như cấu tạo cõi trần của chúng ta thì 3 tầng thấp nhất là chất đặc , chất lỏng , chất khí và 4 tầng dĩ thái cao hơn (*) . Các cõi giới càng cao ( cõi thánh , cõi tiên , cõi phật v.v ....) thì chất liệu càng thanh nhẹ , chúng sinh trong các cõi đó họ chỉ cần tác ý là họ có được thứ họ muốn cho nên họ về cơ bản họ không cần tới vàng mã của chúng ta , phương thức sinh hoạt của họ cũng khác hẳn với chúng ta ( nhiều người đi chùa đốt vàng mã dâng lên phật là sự nhầm lẫn và hoang phí vì phật đâu có cần mấy thứ đó....!!! ).... Gần với cõi trần của chúng ta nhất là 3 tầng thấp nhất của âm giới là những tầng mà người ta hay gọi là
- Tầng súc sinh (tiếng Phạn: tiracchānayoni)
- Tầng ngạ quỷ (quỷ đói) (tiếng Phạn: petta)
- Tầng địa ngục (tiếng Phạn: niraya)
Vì cõi này còn gần với cõi trần nên chúng sinh trong các cõi này có phương thức sinh hoạt gần giống với cõi trần chúng ta nhất ( thường là khi sống họ làm nhiều điều bất thiện nên mới bị đọa vào các cõi đó ) .... Nói như thế là để thấy là chúng ta đốt vàng mã là để cho chúng sinh trong các tầng thấp cõi âm chứ các vị thánh , tiên , phật có bao giờ xài hàng mã đâu mà dâng cho các ngài làm gì ......
-----------------------------------------------------------------------------------
(*) khi nhà phật hay thuyết cái xác thân con người là sự kết hợp của tứ đại giả hiệp (địa [đất] - thủy [nước] - phong [gió] - hỏa [lửa]) thì chúng ta nên hiểu đây là cách dùng ngôn ngữ biểu tượng chứ không nên hiểu máy mọc theo nghĩa đen rồi la lối kêu la là vô lý rồi nhảy dựng lên phản đối... ta đi vào cụ thẻ hơn
Tứ đại------------Ý nghĩa đại diện-----------------Trong cơ thể tương ứng với
ĐỊA ------------ CHẤT RẮN ---------------------- XƯƠNG CỐT
THỦY ------------- CHẤT LỎNG------------------ HUYẾT DỊCH
PHONG------------ CHẤT KHÍ -------------------- HƠI THỞ
HỎA ----------- CHẤT DĨ THÁI -------------- HÀO QUANG SINH HỌC
KHAI THỊ PHÁP MÔN NIỆM PHẬT
( Trích từ HƯƠNG SEN VẠN ĐỨC của HT. Thích Trí Tịnh, Nhà Xuất Bản Phương Đông TP. HCM 2006 )
http://s1.upanh123.com/2016/12/16/hi...dep-1c4224.jpg
*Tại sao lại niệm “ Nam mô A-MI - ĐÀ PHẬT ?”
6 Chữ Hồng Danh đây nguyên là Phạn âm (tiếng Thiên Trúc).
2 Chữ đầu (Nam Mô) nguyên âm là NAMO, ta quen đọc liền vần Nam mô, là lời tỏ lòng thành kính, có nghĩa là Quy Y (về nương) và Quy Mạng (đem thân mạng gởi về).
Chữ thứ 6 (Phật) nguyên âm là Buddha (Bụt Đa hay Bụt Thô), ta quen đọc gọn là Phật, chỉ cho đấng hoàn toàn giác ngộ (Đấng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).
3 Chữ Giữa (A Mi Đà) là biệt danh của Đấng Cực Lạc giáo chủ, dịch nghĩa là Vô Lượng (Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ) Như trong kinh, Đức Bổn Sư tự giải thích rằng: “Đức Phật ấy, quang minh vô lượng, soi suốt các cõi nước ở mười phương không bị cách ngại. Đức Phật Ấy và nhơn dân trong nước của Ngài thọ mạng vô lượng vô biên vô số kiếp “.
Trong Quán Kinh nói : “ Nếu người chí tâm xưng Danh Hiệu của Đức Phật đây, thời trong mỗi niệm diệt được tội sanh tử trong 80 ức kiếp và được Vãng Sanh …”
Trong Kinh Chư Phật Hộ Niệm nói: “Nếu người nghe Danh Hiệu của Đức Phật đây mà chấp trì trong 1 Ngày đến 7 Ngày, nhất tâm bất loạn thời được thành tựu nhiều thiện căn phước đức. Đức Phật ấy và Thánh Chúng sẽ hiện đến nghênh tiếp… “
Kinh Văn Thù Bát Nhã nói: “Nếu người chuyên xưng Danh Hiệu thời đặng chứng Nhất Hạnh Tam muội và chóng thành Phật…”.
Xem như lời của Đức Bổn Sư Thích Ca, đấng chân thật ngữ phán trên đây, thời thấy rằng 3 tiếng Hồng Danh của Đức Giáo chủ Cực Lạc có những năng lực bất khả tư nghị. Muốn được kết quả to tát như lời trong Kinh, hành nhơn phải chí tâm xưng niệm, và phải xưng niệm đúng âm vận, chớ không nên như người Pháp goi Chợ Lớn là Sôlông, hay Bà Rịa là Baria.
3 chữ A- MI- ĐÀ nguyên là Phạn âm. Người Tàu đọc là A- MI- THÔ, và họ tụng xuôi là Á- MI -THỒ. Danh hiệu ấy truyền qua xứ Việt ta bằng chữ Tàu, biên sẵn trong các pho kinh sách Tàu. Người Việt ta cứ theo lệ phổ thông, chữ đâu đọc đó nên đọc là A-Di-Đà. Như đọc Nã Phá Luân để kêu Hoàng đế Napoleon (Na-po-lê-ông), cùng đọc Ba-Lê để kêu kinh đô Paris (Pari).
Với sự phiên âm bằng chữ Tàu, người Tàu đọc giống gần với Nguyên âm, mà người Việt ta đọc sai quá xa. Giá như ta gặp hoàng đế Pháp mà gọi ông ta là Nã Phá Luân thời thật là đáng buồn cười. Với A-Di-Đà để gọi Đức Giáo Chủ Cực Lạc cũng theo lệ đó.
Nhiều năm về trước, trong thời gian niệm Phật theo thông lệ Nam Mô A Di Đà Phật, khi chuyên nhiệm nhiều (mỗi ngày từ 2 vạn Câu trở lên = 2 X 1 vạn = 2 X 10 nghìn = 2 X 10.000 = 20.000 Nghìn Câu ), tôi bị sự chướng là trệ tiếng trong lúc niệm ra tiếng và lờ mờ trong lúc niệm thầm. Giữa lúc đó tiếng “Di” là chủ của sự chướng. Vì thế, tôi mới để ý đến chính âm vận của 6 tiếng Hồng Danh. Đồng thời lời của Tổ Vân Thê trong Sớ Sao nói: “ Hồng Danh Nam mô A-MI-ĐÀ PHẬT toàn là tiếng Phạn, chuyên trì không quên, thời cùng với pháp trì Chú của Mật Tông đồng nhau”, lại thúc đẩy tôi vào sự khảo cứu.
Với vần La Tinh, người Anh ghép Amita, mà tôi được thấy ở bộ Phật Học Đại Tự Điển.
Tôi đem 3 Chữ A-MI-ĐÀ ra hỏi, thời các Sư Tàu cũng như Cư sĩ Tàu đều đọc gằn từng tiếng một trước mặt tôi : A-MI-THÔ.
2 tiếng đầu “A”và “Mi” đã nhất định, và đồng thời quyết chắc đọc “Di” là sai. Tôi còn thắc mắc ở tiếng thứ 3, vì nếu đọc Amita như vần Anh, cùng A-MI-THÔ như người Tàu thời với tiếng Việt có 2 điều bất tiện:
1. Nghe không nghiêm và không êm.
2. Khác với thông lệ từ xưa.
Một học giả Bali và Phạn ngữ giải thích: chữ “Đà” của Tàu dùng phiên âm Phạn ngữ có 2 Giọng:
1. Thô như danh từ “Bụt Thô” mà người tàu đọc xuôi là “Bù Thồ”.
2. Đa cũng như danh từ “Bụt Đa” (Buddha)
Với giọng “Đa” để đọc chữ “Thô”, nó mở đường cho tôi ghép 3 Chữ lại: A-MI-ĐA và theo cách đọc xuôi đánh dấu huyền: A-MI-ĐÀ.
Ghép luôn cả 6 tiếng Nam mô A-MI-ĐÀ PHẬT, tôi nhận thấy rằng tránh khỏi cái lỗi quá khác với Nguyên Âm, dù vẫn chưa được hoàn toàn, nhưng có thể gọi là nhiều phần đúng và không quá cách biệt với cách đọc phổ thông theo cổ lệ, vì trong 6 tiếng đây chỉ có đổi “Di” thành “MI” mà thôi.
Sau khi tham cứu như trên xong, tôi bắt đầu chuyên chí niệm Nam mô A-MI-ĐÀ PHẬT, và cũng bắt đầu từ đó tôi liền nhận được kết quả.
1. Sáu tiếng Hồng Danh đây nổi rõ nơi Tai cũng như nơi Tâm, khác hẳn sự mờ mờ lọt sót của tiếng “Di” trong thời trước.
2. Khi niệm ra tiếng, từ 5 Ngàn Câu mỗi thời trở lên, Môi Lưỡi càng lúc càng nhại, càng chuyên, càng lanh. Khác hẳn sự trệ Môi cứng Lưỡi của những ngày niệm khi xưa.
3. Niệm ra tiếng với A-MI khỏe hơi hơn Niệm ra tiếng của A-Di khi trước, nhờ vậy mà mỗi thời niệm được lâu và nhiều.
Người chuyên niệm Danh Hiệu của Phật, tầng cấp đầu tiên là đến mức bất niệm tự niệm, hay niệm lực tương tục. Nếu khi niệm mà bị trệ, và tiếng Phật lại lờ mờ không nổi rõ nơi Tâm thời khó mong được kết quả trên. Còn nếu trái lại thời mới có hy vọng đến đích.
Biết rằng niệm A-MI-ĐÀ được nhiều phần đúng với Nguyên âm, nó sẽ đem đến cho mình cái mãnh lực bất tư nghì, diệt vô số kiếp tội thành đại thiện căn phước đức giống như pháp trì Chơn Ngôn (Thần Chú) của Mật Tông mà Tổ Vân Thê đã phán. Nó sẽ đưa mình đến mức bất niệm tự niệm, vì tiếng niệm không bị trệ lụt và nổi rõ nơi Tâm. Nhất là niệm A-MI-ĐÀ được khỏe hơi, nhờ đó nên được Niệm lâu và nhiều. Niệm Phật được thuần thục là nhờ Niệm nhiều Câu, nhiều Giờ và tiếng Niệm nhấn rõ nơi Tâm. Và mức bất niệm tự niệm đây là phần bảo đảm Vãng Sanh Tịnh Độ cho người chuyên niệm. Tôi tin rằng Niệm gần với Nguyên âm, tức là gần đúng với thật danh của Đức Giáo Chủ Cực Lạc, tất dễ được tương ưng và chóng được cảm thông với Phật. Và tôi đã tự cảm thấy có lẽ đúng như thế.
Nhưng trong kỳ kiết thất 49 Ngày ở Tịnh Thất nơi chùa Linh Sơn Cổ Tự, một hôm tôi bỗng có ý nghĩ: “Mình dù thiển trí bạc đức, song cũng là người tai mắt trong Tăng Giới, và cũng có đôi phần uy tín đối với gần xa, riêng mình tự tu đã đành không ngại gì, song rồi đây, tất có người tin tưởng nơi mình, mà họ sẽ tự noi theo chỗ làm của mình, nghĩa là họ sẽ niệm Nam mô A-MI-ĐÀ PHẬT. Một người như thế, lần lần sẽ có nhiều người như thế, tất sau này khó khỏi đôi điều thắc mắc:
1. Bàng quang sẽ cho mình lập dị, riêng phái, phá sự đã phổ thông của cổ lệ.
2. Đem sự ngờ vực cho người đã Niệm A-Di khi những người này chưa hiểu thế nào là A-Di và thế nào là A-MI. Và sự ngờ là điều rất chướng của Pháp môn Niệm Phật
Tôi tự giải thích: “ Cổ lệ đã sai thời sự sửa đổi là điều cần(tôi tự sửa đổi riêng tôi). Mình không có quan niệm lập Phái riêng hay lập dị, thời cũng không ngại gì với chuyên thị phi phê bình của bàng quan”. Và với sự ngờ của những người chưa nhận chơn, sẽ giúp họ tìm tòi khảo cứu, nhờ tìm xét họ sẽ thấu rõ sự sai với đúng, và họ sẽ thâu hoạch được kết quả tốt cũng như mình.
Mặc dù tôi tự giải thích với tôi như thế, nhưng trong thâm tâm vẫn mãi băn khoăn gần suốt ngày.
Chiều hôm ấy, khi đứng dựa cửa sổ ngó mong về phía mặt trời sắp lặn, tôi bỗng thấy chữ A-MI nổi bật giữa khung trời xanh sáng, gần như chữ điện ở trước cửa của những hiệu buôn chiếu sáng trong đêm. Tôi thử ngó qua hướng khác thời không thấy, khi ngó trở lại hướng Tây thời Chữ A-MI vẫn nổi y nơi chỗ cũ, khổ chữ lớn lối bốn tất Tây bề cao, và hiện mãi đến trên 30 phút mới ẩn..
Tối hôm ấy, tôi chiêm bao thấy mình đi vào một khu vườn cây cao cảnh đẹp. Giữa vườn, một dãy nhà cất theo kiểu trường học, và nghe rõ trong ấy một người xướng và số đông người hòa: Nam mô A-MI-ĐÀ PHẬT! Tôi tự bảo: “Ủa lạ! Câu Nam mô A-MI-ĐÀ PHẬT tưởng là chỉ của riêng mình cải cách, riêng mình tín hướng và riêng mình chuyên niệm. Bất ngờ ở đây, người ta cũng đồng niệm như vậy rồi”. Tôi đứng dừng trước ngõ trường chăm chú nghe xướng hòa như thế hơn 10 lần mới choàng tỉnh. Bấy giờ mới biết là mình nằm mơ.
Do 2 Điềm trên đây ( Chữ A-MI hiện giữa trời và chiêm bao nghe xướng hòa Nam mô A-MI-ĐÀ PHẬT ), bao nhiêu nổi thắc mắc và băn khoăn nơi lòng tôi đều tan rã như khối tuyết dưới ánh nắng trưa hè…
Từ hồi nào, dù với hàng đệ tử, tôi chưa từng bảo ai bỏ niệm A-Di mà niệm A-MI. Song, do ảnh hưởng ngấm ngầm mà lần lần có một số đông người Xuất Gia cũng như hàng Tại Gia niệm A-MI-ĐÀ. Đó phải chăng là do cơ duyên thời tiết nó nên như thế! Và cũng vì cớ ấy mà hôm nay có bài thuyết minh và tự thuật này.
Tôi viết bài này chỉ với mục đích gíup thêm sự nhận chơn về câu Nam mô A-MI-ĐÀ PHẬT cùng lịch sử của nó, cho các bạn đồng tu đã chuyên niệm như thế. Và bài này cũng chỉ truyền bá trong phạm vi các bạn đây thôi.
Tôi xin khuyên nhắc các bạn, đối với những vị đã quen niệm hay đã sẵn tín tâm nơi câu Nam mô A-Di-Đà Phật, nhất là người ở trong hoàn cảnh thiếu tiện lợi, các vị nên để yên cho các vị ấy niệm theo sự phổ thông cổ lệ để tránh sự ngoại chướng cho họ và cho họ khỏi sự do dự trên đường hành trì mà họ có thể vướng phải.
************************************************** ***
*GHI CHÚ:
HỌC HỎI PHẬT PHÁP - Niệm "Nam Mô A Di Đà Phật hay Nam Mô A Mi Đà Phật" ?
Bạn Diệu Xuân hỏi:
Nam Mô A Di Đà Phật. Kính thưa Sư Cô Tiểu Ni Diệu Hân, con được 1 số người hỏi Niệm danh hiệu Phật "NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT" hay niệm "NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT"? Vì họ nói Hòa Thượng Thích Trí Tịnh chỉ dạy niệm danh hiệu "NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT", họ nói Hòa Thượng nói do có lần nhìn lên bầu trời thấy danh hiệu "NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT" hiện ra. Nên từ ngày đó Hòa Thượng khuyên mọi người niệm "NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT". Con không biết phải giải thích như thế nào để họ hiểu mà niệm Phật cho đúng. Mong sư cô Tiểu Ni Diệu Hân mở lòng từ bi chỉ dạy, để phật tử hiện nay và các phật tử sau này niệm Phật cho đúng. NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!
Cô Diệu Hân:
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT...Tiểu tôi xin phép trả lời bạn Diệu Xuân...
DIỆU XUÂN thân mến, Sáu câu niệm PHẬT lục tự là NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT từ thời VIỆT NAM, PHẬT GIÁO phát khởi niệm PHẬT, đã có từ lâu, 6 câu niệm phật rất chuẩn là “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” không sai lệch, tiếng niệm A Mi Đà Phật, tiểu tôi mới biết đây từ ngày có phong trào niệm PHẬT xuất phát từ bên Trung Quốc. Có một vị tăng yêu mến vị ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG TĂNG HIỀN có pháp môn dạy người NIỆM PHẬT, VỊ TĂNG đến nước HỒNG KÔNG tìm vị đại trưởng lão TỊNH KHÔNG bái sư pháp môn NIỆM PHẬT, vị tăng thỉnh chiếc áo cà sa trao tay HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG sau đó HÒA THƯỢNG trao lại trước mặt phật tử HỒNG KÔNG việt kiều Việt Nam. Vị tăng mặc áo và nhiều pháp phục hoa tông tịnh độ đem về VIỆT NAM phát lên gầy dựng đạo tràng niệm PHẬT tắt là “A MI ĐÀ PHẬT” phật tử có quay phim lại quá trình trao đổi với vị tăng ấy.
Từ đó vị tăng mở đạo tràng hướng nhân dân phật tử NIỆM A MI ĐÀ PHẬT, theo xu hướng nửa Hoa nửa Việt. Việt là “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” nửa Hoa nửa Việt niệm là “A MI ĐÀ PHẬT” cho nên nhân dân và phật tử đa số theo xu hướng niệm A MI ĐÀ PHẬT .
Tiểu tôi xin khuyên niệm gì cũng được, trước khi ta học và hành bất cứ pháp môn nào trong bao nhiêu ngàn pháp môn, tốt nhứt chúng ta nên tu THÂN – TÂM - KHẨU - Ý tốt đẹp là tốt nhứt, vì Thân Tâm Khẩu Ý khinh chê bè giễu, mạn nghi không giúp cho ta đi về thế giới vô vô nghì được.
Tiểu xin mời các vị vào mạng youtube xem “Niệm Phật Về Đâu và Thân Tâm Khẩu Ý phần 17 và 18 - Tiểu Ni Diệu Hân” các bạn sẽ hiểu rõ...
Còn riêng bản thân Tiểu Ni Diệu Hân tiền khiên kiếp tiểu thấy tiểu có ở xứ Trung Quốc là tăng xuất gia, niệm phật là NA MO A MI PHÒ PHÒ, kiếp này...Tiểu là con dân của VIỆT NAM, Tiểu cũng là người xuất gia Tiểu niệm là NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT, Tiểu phải niệm theo phát âm bản quốc VIỆT NAM, Tiểu không thể phát âm theo ngoại ngữ Trung dù biết rằng trong tiền kiên kiếp Tiểu có mặt trong xứ Trung.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT...Tiểu xin kính lời..
MỀN "GIẢI THOÁT" THEO TRUYỀN THỐNG TÂY TẠNG
Sáu Pháp Giải Thoát mà đức Liên Hoa Sanh đã giảng dạy, gồm có:
1. Giải thoát qua cái nghe (liberation through hearing)
2. Giải thoát qua cái mặc (liberation through wearing)
3. Giải thoát qua cái thấy (liberation through seeing)
4. Giải thoát qua sự hồi nhớ (liberation through remembering)
5. Giải thoát qua vị nếm (liberation through tasting)
6. Giải thoát qua sự chạm xúc (liberation through touching)
Người Tây Tạng gọi “Mền Quang Minh” mà chúng ta thường
dùng để đắp cho người đã qua đời là Tag-drol, nghĩa là “giải thoát qua cái mặc” (liberation through wearing). “Mền Giải Thoát” (hay “Áo Giải Thoát”) ở đây được kiến tạo dựa trên sự kết hợp của các câu chú nguyện, các biểu tượng và đồ hình. Trên thực tế, đây, là sự thiết lập của một mạn đà la tâm linh.
Nguồn: Giới Thiệu về “Mền Quang Minh” hay “Mền Giải Thoát”
theo Truyền Thống Phật Giáo Tây Tạng.
Ảnh: Kalachakra Mandala
https://www.facebook.com/vietrigpabardo.org/?fref=nf
===========
PHÁP TU PHOWA
Qua sự kết hợp của hơi thở, tụng thần chú và pháp quán tưởng vào thời điểm chết, giọt tâm thức được thoát ra từ lỗ thoát trên đỉnh đầu, vượt qua các giai đoạn trung ấm và tránh tái sanh vào sáu nẻo luân hồi.
Nguồn & Ảnh: Sưu tầm
==========
KHI NÀO THẦN THỨC CỦA NGƯỜI MỚI RA KHỎI THỂ XÁC
Chưa thể xác định rằng một người bình thường chết thần thức của họ rời khỏi xác trong ba ngày sau đó. Nhiều người lưu lại lâu hơn, nhưng một số người khác thì trụ lại thời gian ngắn hơn. Có nhiều ví dụ điển hình trong số các vị Lama Tây Tạng. Như đức Lama Ling Rinpoche, thầy dạy học của đức Dalai Lama, thần thức của ngài đã trụ lại trong xác thân cả tuần lễ sau khi viên tịch. Ở trong cộng đồng người Tây Tạng, những trường hợp tương tự vẫn thường xảy ra.
Tóm lại, việc hỏa táng hoặc tiến hành tang lễ hay di chuyển thể xác tốt nhất phải đợi ba ngày sau. Tuy nhiên, ngày nay điều này khó thực hiện được vì người ta sợ ô nhiễm, do vậy, nên làm phép chuyển di tâm thức trước khi động đến thể xác của quá cố.
Nguồn & Ảnh: Đức Garje Khamtrul Rinpoche
=========
QUÁN TƯỞNG CHO NGƯỜI HẤP HỐI
Cách tốt nhất để giúp cho người hấp hối là lời nói và hành động của mình phải được thúc đẩy bởi lòng từ bi. Nếu có thể thì cung thỉnh Lama đức hạnh đến để làm pháp chuyển đi tâm thức (transference of consciousness) cho người hấp hối. Pháp này Tạng ngữ gọi là Powa, được xem là một pháp tu đặc biệt có giá trị và hiệu quả nhất để giúp cho người hấp hối.
Bạn quán tưởng hình ảnh đức Phật ở trên đầu người hấp hối. Quán tưởng những tia sáng chiếu rọi vào người sắp lâm chung làm sạch bản thể của họ, và quán thấy họ tan thành ánh sáng, hòa nhập vào ánh sáng của chư Phật. Việc chuyển di tâm thức có thành công hay không là còn tùy thuộc vào sức thiền định của người đang thực hiện pháp tu nàỵ Pháp tu đặc biệt này không những dành cho người sắp chết mà còn có thể giúp tịnh hóa và chữa lành bệnh cho người còn sống. Các vị Lama vẫn thường dùng pháp này để cầu an thọ mạng cho người già yếu. Một số vị thầy cho rằng nên thực hiện pháp chuyển di tâm thức vào khoảng ngừng lại giữa hơi thở vào và hơi thở ra. Nhiều người khác thì nói rằng nên thọ trì pháp này càng nhiều càng tốt sau khi người đó chết để hộ trì cho thân trung ấm của họ dễ dàng tái sinh.
Theo giáo nghĩa của Luật Tông thì nên hỏa táng thi thể càng sớm càng tốt sau khi chết. Nhưng theo Mật Tông thì tốt nhất là đừng di dời thân thể sau khi chết trong vòng ba ngàỵ
Nguồn và ảnh: Đức Diglo Khyentse Rinpoche.
=======
TUYỆT ĐỐI TRÁNH QUẤY RẦY NGƯỜI ĐANG HẤP HỐI
"Khi gặp người đang hấp hối tuyệt đối tránh quấy rầy họ. Đặc biệt là không làm cho họ nổi giận hoặc khóc lóc để họ sanh tâm quyến luyến. Ngược lại, phải nhắc nhở để họ hành trì, tu tập vào giờ phút cuối, ví dụ như quán tưởng hình ảnh của chư Phật, các vị thầy đức hạnh, Chúa Jesus, hoặc một lời dạy nào đó tùy theo tín ngưỡng của họ. Nếu người ấy không theo một tôn giáo nào, nên giúp đỡ cho họ chết trong thanh thản và yên bình.
Khi người ấy trở nên hôn mê, nếu là hành giả, thì nhắc nhở pháp môn mà họ công phu thường ngày, đặc biệt là lúc họ sắp ra đi. Kế đó tụng một số bài cầu nguyện. Nếu thân nhân muốn tốt cho người đang hấp hối thì tự tụng niệm hoặc cung thỉnh chư tăng về nhà để cầu nguyện cho họ. Trường hợp không có chư Tăng tiếp dẫn, người thân trong gia đình có thể tụng thần chú Om mani padme hum, hoặc những thần chú khác mà họ biết, để tiếp dẫn cho người chết. Sau tang lễ, gia đình tiếp tục thọ trì, tụng niệm đến ngày thứ 49 cho hương linh dễ dàng tìm lối tái sinh vào cõi lành." - Đức Dalai Lama thứ 14.
Nguồn: Sưu tầm.
Ảnh: Đức Dalai Lama thứ 14.
==========
CON RẬN TRONG ÁO CÀ SA
Trong thời Phật còn tại thế, một vị Tỳ Kheo Tăng được Phật tử may cho một áo cà sa mới. Vị Tỳ Kheo mặc áo cà sa mới chỉ được vài hôm, thì viên tịch. Chiếc áo cà sa đó được cúng dường lại cho một vị Tỳ Kheo khác. Một hôm, cả đại chúng tăng ngồi trước Phật tại giảng đường trong tư thế để chuẩn bị lắng nghe Phật thuyết pháp. Trước khi Phật thuyết pháp, Phật gọi vị Tỳ Kheo được mặc chiếc áo cà sa của vị Tỳ Kheo đã viên tịch và nói rằng: “Trong bâu áo cà sa của thầy đang mặc ở phần vai, có con rận trong đó. Thầy hãy lật ra xem ngay bây giờ”.
Quả nhiên có một con rận duy nhất nằm im trong bâu áo. Sau khi vị Tỳ Kheo đó lật ra xem và báo cáo với Phật là có con rận. Sau đó đức Phật dạy: “Thầy hãy bảo vệ con rận đó được sống cho đến khi nào nó được thoát kiếp” và Phật nói pháp hóa độ cho con rận được siêu thoát.
Phật nói tiếp: “Con rận đó chính là vị Tỳ Kheo đã viên tịch cách nay vài tháng bị tái sanh làm thân con rận, do vì cái tâm còn luyến ái cái áo cà sa mới, nên làm thân rận để giữ áo cà sa”.
Trích: Vén bức màn bên kia cái chết
Tác giả: Đức Hạnh Lê Bảo Kỳ
Ảnh: Bardo Thodol
===========
TỰ TIN TRƯỚC CÁI CHẾT
Nếu con tu tập pháp môn Phowa thì khi cái chết gần kề, con sẽ chẳng biết tuyệt vọng là gì. Nếu trước đó con đã thành thạo pháp tu này thì vào thời điểm chết, con sẽ có niềm tin tràn trề, phấn khởi’
Nguồn: Sưu tầm.
Ảnh: Đức Phật Milarepa
========
THÂN TRUNG ẤM
Những ai có thiên nhãn, nhìn vào ánh sáng phát ra từ mỗi người, họ có thể đoán định được người đó thiện hay ác. Trung ấm cũng thế, tùy theo nghiệp thiện hoặc ác mà mỗi loài đều có những ánh sáng phát ra khác nhau. Trung ấm của kẻ tạo nghiệp ác ánh ra sắc đen hay xám, trung ấm của kẻ tạo nghiệp thiện ánh ra sắc trắng như điện sáng. Còn về màu sắc, trung ấm của địa ngục sắc đen như than. Trung ấm của bàng sanh sắc xám như khói. Trung ấm của ngạ quỷ sắc đạm như nước. Trung ấm người và trời Dục giới sắc như vàng ròng. Trung ấm của chư Thiên Sắc giới rất đẹp màu tươi trắng, sáng tỏ như ánh trăng rằm.
Nguồn: Sưu tầm.
Ảnh: Đức Phật A Di Đà.
==========
THỈNH VẤN ĐỨC GARCHEN RINPOCHE VỀ P'HOWA
Câu hỏi: Làm sao con có thể biết được khi nào con có thể bắt đầu sử dụng phương pháp này đối với người đang hấp hối hoặc đã chết – người và động vật?
Rinpoche trả lời: Nếu con có tâm đại bi vô cùng đối với người chết thì tự nhiên con phát khởi được một liên kết mạnh mẽ giữa thức của người chết và bi tâm của con. Vào lúc bi tâm phát khởi, con có thể sử dụng phương pháp này để giúp người chết hoặc người hấp hối.
Nguồn: Sưu tầm
Ảnh: Đức Garchen Rinpoche
==========
LỢI LẠC CỦA THỰC HÀNH PHÁP P'HOWA
Khả năng thực hiện pháp môn p’howa bảo đảm rằng ngay cả nếu cái chết can thiệp và cắt ngắn cơ hội tu tập trong kiếp này, người ta vẫn có thể tiếp tục đường tu trong các điều kiện thù thắng. Ngay cả khi với nghiệp lực chưa thanh tịnh, học nhân cũng không bị kéo lùi vào cõi luân hồi quanh co và bất trắc.
Nguồn: P’howa: Để Chủ Động Trong Sự Sống, Chết, Và Tái Sinh
Tác giả: Đức Chagdud Khadro
Dịch giả: Cư sĩ Nguyên Giác
Ảnh: Đức Phật A Di Đà
=============
KHI THOÁT RA KHỎI CƠ THỂ, THẦN THỨC SẼ ĐI VỀ ĐÂU
Có 9 cửa ngõ mà thần thức thoát ra khỏi cơ thể:
Nếu thần thức thoát ra ngoài từ nơi rốn, thần thức sẽ được dẫn đi đầu thai vào cõi Trời Dục giới, đây không phải là sự lựa chọn tốt. Dục giới chính là cõi Trời nơi chư thiên cư ngụ.
Nếu thần thức thoát ra ngoài ở trán, cửa ngõ này sẽ dẫn thần thức vào trong cõi Sắc giới. Đây cũng là cõi Trời và vẫn là luân hồi nơi thời gian kéo dài, vì vậy chúng ta không nên lựa chọn cửa ngõ này.
Thần thức cũng có thể thoát ra ngoài ở thóp nằm giữa trán và đỉnh đầu là phần rất mỏng và mềm của hộp sọ, có thể được nhận biết một cách rõ ràng khi bạn còn là đứa trẻ sơ sinh. Nếu thần thức thoát ra ngoài theo vị trí này, bạn sẽ được dẫn tới cõi Vô sắc giới, cũng là một trong số các cõi Trời của chư thiên.
Nếu thần thức thoát ra ngoài theo lỗ mũi bên phải, nó sẽ được dẫn tới cõi nergin, là nơi của chư thiên chủ về của cải. Cõi này vẫn nằm trong luân hồi, cho nên, chúng ta không mong muốn thần thức sẽ thoát ra từ đây.
Nếu thần thức thoát ra ngoài theo lỗ mũi bên trái, nó sẽ được dẫn đến cõi miumgi, một cõi Trời khá giống với cõi Người, đây cũng không phải là nơi chúng ta nên lựa chọn. Vì vậy chúng ta phải thiền định đóng tất cả các cửa này lại.
Nếu thần thức thoát ra ngoài theo tai phải, nơi đó cũng sẽ dẫn tới cõi trời và không phải là nơi mong đợi.
Nếu thần thức thoát ra ngoài bằng tai trái, nó sẽ được dẫn đến cõi mihamgi, cõi Trời đặc biệt của các nữ thần. Đây cũng không phải là nơi ta cần đến.
Nếu thần thức thoát ra ngoài từ mắt, thần thức sẽ được dẫn tới cõi Người. Nếu là mắt phải, đó sẽ là cõi Người thông thường. Nếu là mắt trái, thần thức sẽ sinh làm người thuộc đẳng cấp cao quý, được trọng vọng, vì vậy, đây cũng không nên là đích đến cần lựa chọn.
Nếu thần thức thoát ra ngoài theo hai cửa phía dưới, nếu là lỗ hậu môn, thần thức sẽ bị đọa vào cõi Súc sinh, còn nếu là lỗ sinh dục, thần thức sẽ bị đọa địa ngục. Đây là hai cửa ngõ cần khoá chặt bởi chủng tử tự Hung.
Nếu thần thức thoát ra ngoài từ miệng, bạn sẽ bị đọa vào cõi Ngạ quỷ, đương nhiên đây cũng hoàn toàn là nơi chúng ta không muốn đến.
By: www.vietrigpabardo.org
Ảnh: Đức Gyalwang Drukpa Rinpoche
==============
Đại sư Naropa đã dạy rằng: ‘Có tất cả 9 cánh cửa, (lỗ thoát bình thường gọi là Buga) thuộc về trần thế nhưng chỉ có duy nhất một cánh cửa của Đại Thủ Ấn, tức Niết bàn. Nếu con đóng 9 cánh cửa này lại thì chắn chắn con sẽ được đặt chân đến con đường giải thoát, không còn nghi ngờ gì cả’.
Nguồn: Sưu tầm.
Ảnh: Six Yogas Heart Practice
==========
LỢI LẠC CỦA THỰC HÀNH PHÁP P'HOWA
Khả năng thực hiện pháp môn p’howa bảo đảm rằng ngay cả nếu cái chết can thiệp và cắt ngắn cơ hội tu tập trong kiếp này, người ta vẫn có thể tiếp tục đường tu trong các điều kiện thù thắng. Ngay cả khi với nghiệp lực chưa thanh tịnh, học nhân cũng không bị kéo lùi vào cõi luân hồi quanh co và bất trắc.
Nguồn: P’howa: Để Chủ Động Trong Sự Sống, Chết, Và Tái Sinh
Tác giả: Đức Chagdud Khadro
Dịch giả: Cư sĩ Nguyên Giác
Ảnh: Đức Phật A Di Đà
Lục Đạo Kim Cang Chú là câu thần chú có sáu âm cũng, phổ biến như Lục Tự Minh Chú (Om Mani Padme Hum).
Sáu âm của câu Lục Đạo Kim Cang Chú đọc là: A AH SHA SA MA HA
Sau đây là một số đồ hình có câu Lục Đạo Kim Cang Chú:
Câu Lục Đạo Kim Cang Chú được viết tay bởi Lama Zopa Rinpoche, với dòng chữ giải thích bằng tiếng Anh: “Chỉ cần nhìn thấy câu chú này, bạn sẽ đạt được sự giác ngộ. Thật là lợi ích biết bao!”
http://i1250.photobucket.com/albums/...01323_ud-2.jpg
http://s1.upanh123.com/2016/12/16/d3...e705faaa51.jpg
HA A HA SHA SA MA
( https://www.pinterest.com/pin/412642384583650512/ / http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=5497.0 )
http://s1.upanh123.com/2016/12/16/ad...dala268607.jpg
( https://neozen888.wordpress.com/cate...itual-healing/ / https://neozen888.files.wordpress.co...ntra-sheet.pdf )
Helpful Bardo Prayers
4 Votes
I wanted to compose something beneficial for those people that have a loved one that has died or is in the process of dying. Since it is never easy to find what you need at the last minute, I figured it would be proper to put all the texts and information in one place.
This yantra (image at right) is depicted in the classic text called the Tibetan Book of the Dead. It was also passed down from Yogi C. M. Chen to his disciples. It belongs to a class of blessing objects called “Liberation through Touch”, meaning that one will gain liberation merely by wearing it.
The central deity is Adi Buddha or Samantabhadra Buddha the supreme dharmakaya buddha. He is surrounded by all the 100 peaceful and wrathful deities. The surrounding mantras are associated with the deities in the mandala and the buddhas of the six realms at the outermost circle.
Click here to receive instructions on how to fold it and place it properly on the dying family member’s body: Adi Buddha Mandala Mantra Sheet
The Bardo Teachings:
The following info was prepared by Buz & Joanie Overbeck:
Many westerners, having received teachings on the Bardo states, wonder how these might be applied at the time of their death or the death of others. Basically, the teachings say that, rather than fearing death, one should approach the Bardo states as opportunities for enlightenment and, in order to be open to these opportunities, one should have prepared through practice during one’s lifetime.
“However, even with no experience whatsoever, if one can die a ‘conscious death’ — calmly and openly with no fear, anger, or attachment—one can still create the conditions for enlightenment or a fortunate rebirth.”
These notes were compiled to help all practitioners attain that goal.
Click here: Bardo Information
Bardo Prayers:
These are the actual root verses that a Tibetan Lama would recite next to the bedside of a dying person. This is a very important text. It is called Bardo Thodal or “Liberation upon Hearing” in the Bardo.
This text has four sections:
Prayer requesting assistance from the Buddhas and Bodhisattvas
Root verses of the Bardo Thodal
Prayer for the deliverance from the Bardo’s narrow passage
The prayer that protects from fears in the bardos
Click here to download: Bardo Prayers
Five Powerful Mantras:
These mantras are chanted at the time of death. This text was arranged by Lama Zopa Rinpoche. These mantras can be chanted for the dying person so that they receive blessings. It doesn’t matter how close or far away you are. You can still direct energy and transfer merits to them in this skillful way.
Fortunately, there is one bonus within this text. There is a special Tibetan script which you can print and then cut out. Once you have it, then you can place it on the body of the one who is dying. It will benefit them tremendously so they will have a peaceful death and a higher rebirth in the next life.
*KẾT THÚC VIỆC ĐỌC NHỮNG LỜI CẦU NGUYỆN BARDO, BẰNG ĐỌC VIỆC ĐỌC CHÚ:
1. SARVA DHARMA MANGALAM SHRI YO BHAVANTU
2. QUY KÍNH: OM KURUM GHINI SOHA
3. OM VAJRASATTVA HUM / A AH SHA SA MA HA / OM SUPRATISTHA VAJRAYE SVAHA
https://neozen888.files.wordpress.co...do_prayers.pdf / https://neozen888.wordpress.com/cate...itual-healing/
Giải thoát qua Sự Chạm Xúc (liberation through touching) / Giải thoát thông qua Sự Xúc Chạm (Regdrol)
Adi Buddha Mandala Mantra Sheet
Under the guidance of Dr. Yutang Lin
Written by Stanley Lam
( https://neozen888.files.wordpress.co...ntra-sheet.pdf / http://www.yogichen.org/gurulin/b5files/f0/f0988.html )
http://www.yogichen.org/gurulin/grap...adimandala.jpg
http://s1.upanh123.com/2016/12/16/856157188_mb768c.jpg
Adi Buddha Mandala Mantra Sheet
佩戴解脫——忿寂百尊護輪! 14世紀由噶瑪林巴( Karma Lingpa )所取出之伏藏。
http://blog.xuite.net/lifeks799/twbl...BC%AA%E9%9B%86
This mantra sheet was passed down from Yogi C. M. Chen. It belongs to a class of
blessing objects called "Liberation through Touch", meaning that one will gain
liberation merely by wearing it. (In Nyingma lineage there are five types of "SelfLiberation
without Practice," the other four are through sight, hearing, smell, and
taste.) The central deity is Adi Buddha or Samantabhadra Buddha, with surrounding
mantras representing the deities in the mandala, probably including all 100 peaceful
and wrathful Yidams.
Yogi C. M. Chen often distributed this mantra sheet freely, and those who wear it as
an amulet often have inspirational experiences. In order to wear it, the sheet first
needs to be folded one-third horizontally and vertically into a small square, such that
the image and halo at the center is completely on the square's outside surface facing
the body. For use as an amulet, one could put it in a small (preferably blue) cloth bag
and hang it around the neck. Position of this amulet should not be lower than that of
the heart. When one needs to have a needle injection, it is necessary to hold the
amulet slightly above the body, so as to indicate that it is only the Karmic body that
gets the needle. The amulet could also be hanged inside a car for protection, or the
entire sheet may be framed and worshipped on the altar. One can also burn it to
receive blessings. When put on a deceased body, the deceased could gain rebirth in
Pureland. The image of this sheet can be printed out for use in the above ways. Do
not sell this sheet for profit.
====
普賢王如來壇城符
簡繁轉換 - 繁體
林鈺堂博士指導
林成穗敬述
此符是由陳健民上師傳下,為觸解脫 ,意指以此符佩身即能得到解脫(此 寧瑪傳承五不修自解脫法之一,餘四 為見、聞、嗅、嚐,此其未贅)。中 主尊是普賢王如來,環繞的多種咒文 表其壇城中各尊聖眾,可能忿寂百尊 全部包括。
陳上師常以此符贈人結緣,佩戴者屢 感應。佩戴此符應先將之摺成九宮, 中央之佛像(包括身光)成為九宮之 中宮而朝外。佩戴作護身符時以布袋 藍色為宜)盛之掛頸上。配戴時佛像 朝自身以加被之,高度不低於心為合 。若遇就醫打針時,應將符略為舉高 身以示受針者只是業報身。亦可掛於 上祈保交通安全,或將整張裝框供於 佛壇,也可以將之火化領加持。死時 於屍體上,可得往生。此符圖像可以 行印出使用。不可售賣圖利。
二○○四年五月
http://s1.upanh123.com/2016/12/16/li...n_2_263056.jpg
( http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=5518.0 )
Đồ hình trên bao gồm các câu chú có khả năng thanh tịnh nghiệp của chúng sinh thông qua sự nhìn thấy, đó là:
1. Lục Đạo Kim Cang Chú: A Ah Sha Sa Ma Ha.
2. Câu chú Hanu: Om Hanu Pasha Bhara He Ye Soha.
3. Chú Luân Xa Như Ý: Om Padmo Ushnisha Vimale Hum Phat.
4. "Terma Giải Thoát Thông Qua Sự Thấy" được khám phá bởi Terton Mingyur Dorje ở thế kỷ 17.
Nguyện đem công đức này hồi hướng cho tất cả mọi chúng sinh mong họ thoát khỏi mọi nỗi khổ đau.
Đồ hình giải thoát thông qua sự đeo được cung cấp bởi Kyabje Kangyur Rinpoche
( http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=5375.0 )
Đồ hình này là một Tagdrol (Người Tây Tạng gọi là giải thoát thông qua sự đeo). Tagdrol được biết đến như là một trong sáu phương cách để giải thoát mà không thông qua thiền định, bao gồm: giải thoát thông qua sự nghe (Thodrol), giải thoát thông qua sự thấy (Tongdrol), giải thoát thông qua sự nhớ nghĩ đến (Drendrol), giải thoát thông qua sự xúc chạm (Regdrol), giải thoát thông qua sự đeo (Tagdrol), và giải thoát thông qua sự nếm (Nyongdrol). Đồ hình này được vẽ bởi Kyabje Kangyur Rinpoche dựa vào Terma thực hành về Akshobhya Vajrasattva.
Những linh tự và biểu tượng trong đồ hình này tượng trưng cho những thần chú của các vị trì minh vương, các vị thần an bình và phẫn nộ. Nhằm để giúp làm giảm nhẹ những nỗi khổ đau suốt thời gian trong trạng thái thân trung ấm (trạng thái trung gian giữa sự chết và sự tái sinh). Đồ hình này thường được đặt trên cơ thể của người chết và cũng như được chôn hoặc hỏa táng theo cùng với cơ thể của người chết.
Đồ hình này nên được in ra không quá nhỏ và cũng không nên quá lớn, trong một kích thước mà các chủng tự có thể nhìn thấy được rõ ràng. Tốt nhất là trên giấy màu vàng, hoặc nếu giấy màu trắng thì sau khi in xong nên sơn lên một lớp nước nghệ và sấy khô. Đồ hình được đặt trên ngực của cơ thể người chết, không thấp hơn vị trí của trái tim, và đồng thời phải úp mặt giấy có in các câu thần chú lên cơ thể người chết, tiếp xúc được với cơ thể của người chết. Ngoài ra, phải tránh đặt lộn ngược các câu thần chú, đối với những người không đọc được tiếng Tây Tạng để đặt được đúng chiều thì lưu ý ở điểm : mũi của thanh kiếm ở góc trên bên phải của hình vuông phải chỉ về phía đầu của người chết.
http://s1.upanh123.com/2016/12/16/Ta...poche13c18.jpg
https://vi.scribd.com/document/15803...RinpocheYantra
Xin giới thiệu các câu thần chú dùng để đặt trên cơ thể người đang hấp hối hoặc đã chết. Các câu thần chú trên được Lama Zopa Rinpoche khuyến khích sử dụng. Lưu ý là mặt giấy có in câu thần chú phải được úp trên cơ thể tiếp xúc với làn da người đang hấp hối hoặc đã chết.
Các bạn có thể tải về từ địa chỉ sau:
http://fpmt.org/wp-content/uploads/t...2005tmlttr.pdf
=========
Cám ơn bạn, một cách khác mà đức Lạt ma giô ba rin bô che có khuyên chúng ta nên dùng những hình phù này. Hai câu chú trong hình do Đức Phật thuyết trong Kinh Thủy Truyền Dõng và Kinh Thác Nước.
Trong kinh Thuỷ Tuyền Dõng, việc nhìn qua thần chú này có tác dụng diệt từ tội chướng của 300 triệu kiếp. Cũng được gọi là thần chú giải thoát qua sự nhìn ngắm. Nếu thần chú này được treo trên cửa, có khả năng tịnh hoá mọi ô nhiễm mỗi khi có ai đi qua. Kẻ vô cùng may mắn đó sẽ không phải tái sinh trong địa ngục, quỷ đói, súc sinh.
Hàng Trên: ÔM BÁT MÔ U NI SA VI MA LÊ HÙM PHÁT
Hàng Dưới: ÔM HA NU BÁT SA BA RA HI DÊ SÔ HA
Ở Tây Tạng thường thì nhiều người viết 2 chú này lên vải và đắp trên người chết để khiến họ sanh lên cõi lành không đọa vào 3 đường giữ.
2 thần chú này làm lợi ích cho chúng sanh không thể nghĩ bàn được. Người trì tụng niệm bảy lần mỗi ngày, thì người đó sẽ được tái sanh ở cõi tốt lành.
Trì 2 chú này 108 lần vào quần áo, mang vào người thì sẽ giúp cho thân mình luôn luôn được thanh tịnh, và khi đụng người khác cũng sẽ được thanh tịnh như vậy.
Viết 2 câu thần chú này lên vải lụa hoặc giấy v.vv và treo trước cửa thì những người vừa mới nhìn qua lập tức diệt từ tội chướng của 300 triệu kiếp và tịnh hoá mọi ô nhiễm mỗi khi có ai đi qua. Kẻ vô cùng may mắn đó sẽ không phải tái sinh trong địa ngục, quỷ đói, súc sinh.
Tụng 2 thần chú này chỉ cần một lần sẽ được công đức vô lượng và vô biên, ngay cả năm nghiệp đều được tiêu diệt hết.
2 Thần chú này giúp ngăn ngừa tái sanh vào địa ngục a tỳ, địa ngục a tỳ là địa ngục phải chịu khổ nhiều nhất trong tất cả địa ngục. Người trì tụng sẽ diệt trừ được tất cả nghiệp chướng và vĩnh viễn không bao giờ tái sanh vào cõi hẹn hạ v.vv
Khi trì lâu sẽ khiến biết được các việc quá khứ, hiện tại, vị lai.
Người trì tụng niệm 2 thần chú này bảy lần mỗi ngày thì bạn sẽ bằng tích lũy công đức lạy hằng hà sa số chư phật như số cát sông hằng. Và đời sau sẽ được tái sanh vào chốn thanh tịnh.
Nếu có ai niệm 2 thần chú này 1008 lần và thổi vào cát và ném cát đó vào xác chết, thì người chết đó các tội liền được tiêu diệt các tội và sanh về cõi phật. Nếu ai niệm thần chú này 108 lần và thổi vào dầu thơm hoặc nhang, ai mà hưởi được mùi dầu thơm hay mùi hương sẽ thanh tịnh các nghiệp tiêu cực và chữa khỏi những bệnh truyền nhiễm. Thần chú đó giúp những người trì tụng đạt được những phẩm chất của một vị phật.
Hoặc có thể làm theo cách phương pháp tán sa của thầy viên đức như sau:
Lấy cát giữa lòng sông đem về phơi khô, trộn vào ít châu sa, thần sa, để trong chén nước sạch. Tay kiết ấn Bảo Thủ bưng chén cát, còn tay mặt kiết ấn Cát Tường (nếu không cũng không sao, nhưng nếu kiết ấn thì tốt hơn). Mắt ngó vào chén cát, miệng tụng Thần chú Tỳ Lô 108 biến làm chừng, gia trì cho được ba đêm rồi đem cát ấy rải lên mồ mả hay thi hài của người chết trùng, hay chết bất đắc kỳ tử mà vong nhơn không siêu được, làm phương pháp này liền được siêu sanh. Hoặc viết Thần chú này trên vải vàng hoặc giấy vàng rồi đắp lên thi hài người chết, vong họ sẽ nhờ chú lực được siêu sanh cõi Phật.
Chú: Án A Mộ Già Vĩ Lô Tả Nẵng Ma Hạ Mẫu Nại Ra. Mạ Nỉ Bát Nạp Mạ Nhập Phạ Ra Bát Ra Mạt Ða Dã Hồng.
==========
Nguyên bản Phạn âm là:
Om Amoga Vairochana Mahamudra Manipadme Juvara Phurabharatya Hum
Thần chú này thật sự là bất khả tư nghì và vô cùng hữu dụng. Trong Phật giáo khi người thân qua đời, thường gia quyến hay ra chùa thỉnh mền Quang Minh để đắp lên thân người chết. Công năng diệu dụng cũng y như cát tán sa.
Ngoài ra còn một thứ khác nữa để giúp đỡ người chết. Đó là cát mandala, các hạt cát làm mandala sau khi sử dụng xong thường được các Lama phân phát cho đại chúng. Cát mandala quý báu và diệu dụng như xá lợi. Thông thường bỏ cát mandala vào túi áo người chết cũng tương tự như đắp cho họ mền Quang Minh.
==========
TB thì được chỉ dạy dùng cát Mandala để xoa lên đỉnh đầu người quá cố, bỏ 1 ít vào miệng họ kèm thêm để cho tăng lợi lạc.
TB có biết công dụng của cát Mandala nhưng chưa dùng thử cho ai cả vì hầu như những ông bà của TB đều qua đời rất lâu trước khi TB biết và có cát Mandala quý báu này, nên cũng chưa chứng thực hiệu quả của cát. Cách đây 1 năm, gần nhà TB có 1 cụ bà lớn tuổi bệnh nằm liệt giường. Cô con dâu của cụ có tín tâm với Phật Pháp rất lớn và hành trì theo Tịnh Độ Tông. TB có tặng cô ấy 1 ít cát và dặn cách sử dụng sơ sơ, vì quả tình TB cũng chẳng biết dùng sao cho hoàn toàn đúng. TB chỉ dặn là khi cụ bà qua đời thì nên xoa đỉnh đầu bà bằng cát này sẽ rất tốt cho hậu kiếp của bà. Không may là khi cụ bà lâm chung thì cô con dâu đang đi công việc ở xa. Người con gái của bà cụ cũng từng nghe TB nhắc nhở cô con dâu về cát vì sợ cô ta quên, thế là cô con gái nhớ và lên bàn thờ lục tìm ra 1 gói cát. Không nhiều mà cũng không ít, gói cát đó dùng chắc cũng vài chục lần hộ niệm. Thế là cô con gái bà cụ chẳng biết làm sao, xoa hết đầy đầu bà cụ, cô con gái bà cụ còn kể cho TB nghe rằng bà con ai đến thăm bà cụ đều hỏi sao đầu bà đầy cát, cô con gái đó nói cát Thánh chứ không phải cát thường hihihi . Bà cụ tắt thở lúc 7h15 sáng, cho tới 12h khuya cùng ngày mà tay chân bà cụ mềm dẻo, không giống như người chết bình thường. Chờ đợi mãi không được nên người cao tuổi trong dòng họ quyết định tẩng liệm cho cụ. Và 1 cụ bà ở xa 1 chút, gia đình cụ bà này bán cháo chay. Cũng được 1 cô khác chia 1 ít cát Mandala mà TB cho cô nọ khá lâu, cũng xoa lên đỉnh đầu bà cụ và sau 8 tiếng đồng hồ giữ nguyên thi hài hộ niệm và chuẩn bị tẩng liệm thì cũng thấy thi hài cụ bà mềm mại. TB cũng chẳng hiểu hiện tượng thân thể mềm mại như vậy là tốt hay xấu. Vì TB chưa từng nghe nói về biểu hiện này khi dùng cát. Có vài bài viết ngắn hình như của bác Kim Cang viết khá lâu nói về cách dùng cát thì chỉ nói công năng diệu dụng của cát mà thôi, có chỉ sơ qua cách sử dụng. Nhân dịp thấy Thiện Duyên nhắc qua về Cát Mandala thì TB cũng chia xẻ 1 ít điều nghe qua để làm tăng tín tâm vào nhiệm mầu bất khả tư nghì của Pháp Bảo của Phật Giáo Tây Tạng chính truyền !
=========
The Tibetan Book Of Living And Dying
...Một hàng giả đã chứng đắc thường tiếp tục an trú sự trực nhận tính giác bản tâm vào lúc chết, và tỉnh thức để thể nhập Ánh sáng Căn bản khi nó xuất hiện. Vị ấy còn có thể trú trong trạng thái ấy một vài ngày. Một vài hành giả và bậc thầy chết trong tư thế ngồi thiền, lưng thẳng, hoặc nằm như “dáng nằm sư tử ngủ”. Ngoài sự tuyệt đối tự chủ, còn những dấu hiệu khác chứng tỏ vị ấy đang an trú trong trạng thái Ánh sáng Căn bản : gương mặt họ vẫn còn có sắc sáng, mũi không lún vào, da vẫn mềm mại, thân thể không cứng đờ, đôi mắt vẫn giữ một ánh sáng hiền hậu, từ bi, và tim vẫn còn hơi ấm. Người ta phải rất thận trọng đừng chạm đến nhục thể của bậc thầy, và giữ im lặng cho đến khi vị ấy ra khỏi trạng thái thiền định này.
Gyalwang Karmapa, một bậc thầy vĩ đại, chưởng môn một trong bốn tông phái lớn của Phật giáo Tây Tạng, đã chết trong một bệnh viện tại Hoa Kỳ vào năm 1981. Ngài gây một cảm hứng kỳ diệu cho tất cả mọi người xung quanh, vì ngài luôn luôn vui tươi và đầy bi mẫn. Bác sĩ Ranulfo Sanchez, trưởng khoa giải phẫu đã viết :
“Tôi cảm thấy tự thâm tâm rằng ngài không phải người phàm. Khi ngài nhìn bạn, thì giống như đang xoáy sâu vào bản thể bạn, ngài dường như thấy suốt con người bạn. Tôi rất kinh ngạc trước cái cách ngài nhìn tôi, như thể là ngài biết chuyện gì đang xảy đến. Ngài làm cho hầu hết mọi người trong bệnh viện phải cảm động, bất cứ ai tiếp xúc với ngài. Nhiều lần khi chúng tôi cảm thấy ngài gần kề cái chết, thì ngài lại nhìn chúng tôi mà mỉm cười, và bảo chúng tôi nói sai, và sau đó sức khỏe ngài lại khá hơn.
Ngài không bao giờ dùng thuốc giảm đau. Chúng tôi, những bác sĩ, trông thấy ngài và biết ngài phải đau đớn lắm, nên hỏi : “Có phải hôm nay ngài đau nhiều lắm không ?”. Nhưng ngài bảo : “Không” . Khi chúng tôi biết gần tới giây phút cuối cùng, ngài có thể cảm thấy sự lo lắng của chúng tôi, và điều ấy trở thành một trò đùa. Chúng tôi sẽ hỏi : “Ngài có đau không ?” , ngài lại mỉm cười thật từ bi và nói : “Không” .
Mọi dấu hiệu của sự sống nơi ngài đã gần chấm dứt. Tôi chích cho ngài một mũi thuốc, chỉ để ngài có thể nói chuyện vào giây phút cuối. Tôi từ giã căn phòng vài phút để cho ngài trao đổi với các vị tái sanh (tulkus) ; ngài trấn an họ rằng ngài không định chết vào ngày hôm ấy. Khi tôi trở lại chừng năm phút sau, thì ngài đã ngồi thẳng dậy, mắt mở lớn và nói thật rõ : “Hello, how are you ?” . Mọi dấu hiệu sống nơi ngài đã trở ngược lại, ngài ngồi nửa tiếng trên giường, nói chuyện, cười lớn. Trên phương diện y học thì điều này người ta chưa từng nghe thấy bao giờ. Các cô điều dưỡng tái mặt, một cô dở cánh tay cho tôi xem họ đã nổi da gà như thế nào”.
Ban điều dưỡng để ý thi hài của Karmapa không theo tiến trình thông thường của thây chết như cứng và hôi thối, mà vẫn như tình trạng lúc ngài mới chết. Sau một lúc, họ mới để ý vùng tim ngài còn ấm. Bác sĩ Sanchez viết :
“Họ đưa tôi vào phòng 36 tiếng đồng hồ sau khi ngài chết. Tôi sờ vùng bên phải, trên trái tim ngài và thấy nó nóng hơn các chỗ khác. Ðấy là một điều mà y học không thể giải thích được”.
Một vài bậc thầy chết trong tư thế ngồi thiền, thân thể tự thẳng đứng. Kalu Rinpoche chết năm 1989 trong tu viện của ngài ở dãy núi tuyết, xung quanh có nhiều bậc thầy và các bác sĩ , y tá điều dưỡng. Ðệ tử hầu cận ngài đã viết :
“Ngài cố ngồi dậy, nhưng hơi khó khăn. Lama Gyaltsen cảm thấy có lẽ đã đến thời, và nếu không ngồi dậy thì sẽ chướng ngại cho ngài, nên đã đỡ lưng ngài khi ngài ngồi. Ngài duỗi tay tới nơi tôi, và tôi cũng giúp ngài ngồi thẳng. Ngài ngõ ý muốn ngồi thật thẳng, vừa bằng lời vừa ra dấu. Bác sĩ và y tá cuống lên trước cảnh tượng ấy, nên ngài hơi thư giãn lại, nhưng vẫn để chân tay theo thế ngồi thiền... Mắt ngài mở nhìn ra, kiểu nhìn trong lúc thiền quán, và môi ngài khẽ mấp máy. Một cảm giác thanh bình, an lạc ngự trị trên tất cả chúng tôi, lan tràn qua tâm chúng tôi. Tất cả mọi người hiện diện lúc ấy đều cảm thấy rằng niềm phúc lạc dâng tràn trong chúng tôi chính là phản ảnh yếu ớt của niềm phúc lạc trào dâng trong tâm ngài... Dần dần tia nhìn và mi mắt Rinpoche hạ xuống, và hơi thở chấm dứt” .
Tôi nhớ mãi cái chết của thầy tôi, Jamyang Khientse vào mùa hạ năm 1959. Vào khoảng cuối đời, ngài cố càng ít rời tu viện càng tốt. Những bậc thầy đủ mọi truyền thống thường tụ họp lại để được sự giáo thọ, những người giữ gìn các hệ phái truyền thừa cũng đến xin ngài chỉ dẫn, vì ngài biết tận nguồn gốc của các hệ phái ấy. Tu viện Dzongsar, nơi ngài cư trú trở thành một trong những trung tâm sinh hoạt tâm linh sống động nhất Tây Tạng, ở đấy tất cả những Lạt-ma cao cấp thường lui tới. Lời ngài là pháp là luật ở trong vùng ; ngài là bậc thầy vĩ đại và hầu như tất cả mọi người đều là đệ tử của ngài, tới nỗi ngài có năng lực ngăn chận nội chiến chỉ bằng cách hăm dọa ngài sẽ rút lui sự gia trì tâm linh của ngài cho cả hai phe.
Rủi thay, khi gọng kềm của quân xâm lược Trung Quốc siết chặt, thì tình huống ở tỉnh Kham trở nên tồi tệ một cách nhanh chóng. Dù còn bé, tôi cũng có thể linh cả sự đe dọa của những gì sắp xảy ra. Vào năm 1955, thầy tôi đã có vài dấu hiệu chứng tỏ ngài sẽ từ giã Tây Tạng. Trước tiên, ngài hành hương đến những thánh tích ở miền Trung và Nam Tây Tạng, rồi để làm tròn lời nguyện tha thiết của thầy ngài, ngài làm một chuyến hành hương chiêm bái thánh tích tại đất Ấn, có tôi đi theo. Chúng tôi đều hy vọng tình hình ở miền Ðông sẽ khá hơn trong khi chúng tôi đi xa. Hóa ra - về sau tôi mới biết - nhiều Lạt-ma khác, và dân thường, đã xem cái quyết định du hành của thầy tôi như là một điềm báo trước Tây Tạng sẽ lâm nguy, nhờ thế họ đã kịp thời thoát nạn.
Thầy tôi từ lâu đã muốn viếng thăm Sikkim, một nước nhỏ trong dãy Hy Mã Lạp Sơn, một trong những vùng đất thiêng của Padmasambhava. Jamyang Khientse là nhập thể của bậc thánh thiêng liêng nhất của Sikkim, nên vị vua ở đấy đã yêu cầu ngài đến giảng dạy và ban phước cho xứ ấy bằng sự hiện diện của ngài. Khi được tin ngài đã đến Sikkim, nhiều bậc thầy từ Tây Tạng cũng đến đấy để thọ giáo với ngài, mang theo những bản kinh quý hiếm, nhờ vậy mới khỏi bị phá hủy. Jamyang Khientse là bậc thầy của những bậc thầy, và đến lượt chùa, cung điện nơi ngài ở trở thành một trung tâm tu học lớn. Khi tình hình Tây Tạng càng lúc càng kinh khủng, thì có thêm nhiều Lạt-ma đến tụ tập quanh ngài.
Người ta bảo nếu những bậc thầy vĩ đại giảng dạy quá nhiều, thì không sống lâu ; như thể là họ gánh lấy những chướng ngại xảy ra cho nền giáo lý. Có những lời tiên đoán, nếu thầy tôi đừng giảng dạy mà chỉ du hành như một ẩn sĩ đến những nơi xa xôi hẻo lánh, thì ngài có thể sống lâu nhiều năm nữa. Quả thế, ngài cũng đã cố làm điều này : Khi chúng tôi khởi hành từ tỉnh Kham lần cuối, ngài đã để lại tất cả sở hữu và ra đi trong vòng bí mật hoàn toàn. Nhưng khi khám phá ra tông tích ngài, thì đâu đâu người ta cũng liền đến xin ngài giảng dạy và làm phép quán đảnh. Lòng từ bi của ngài lớn rộng tới nỗi dù biết nguy hiểm đến tánh mạng, ngài vẫn tiếp tục giảng dạy.
Và chính tại Sikkim mà Jamyang Khientse ngã bệnh, đúng vào lúc nhận được hung tin Tây Tạng cuối cùng đã gục ngã. Tất cả những vị Lạt-ma lớn nhất, trưởng các hệ phái, lần lượt tấp nập đến viếng thăm thầy tôi. Lễ cầu an diên mạng cho ngài được tổ chức suốt ngày suốt đêm. Mợi người đều tham dự. Tất cả chúng tôi đều yếu cầu ngài sống thêm, vì một bậc thầy vĩ đại như ngài thì có năng lực quyết định thời gian để lìa bỏ thể xác. Ngài cứ nằm trên giường, nhận tất cả những đồ dâng cúng, cười lớn mà bảo : “Ðược rồi, chỉ để chứng tỏ điềm lành, tôi nói là tôi sẽ sống” .
Dấu hiệu đầu tiên chúng tôi biết được là qua Gyalwang Karmapa. Ngài bảo Karmapa rằng ngài đã hoàn tất công việc ngài phải làm trong đời, và ngài đã quyết định từ giã thế gian. Một trong những thị giả thân tín của thầy tôi bật lên khóc vừa khi nghe Karmapa tiết lộ điều này, sau đó chúng tôi đều biết. Cái chết của ngài cuối cùng đã xảy đến ngay sau khi chúng tôi nghe ba tu viện lớn nhất Tây Tạng là Sera, Drepung và Gaden đã bị quân Trung Quốc chiếm đóng. Dường như đấy là một biểu tượng bi đát khi Tây Tạng sụp đổ thì con người vĩ đại ấy, linh hồn của Phật giáo Tây Tạng, cũng từ trần.
Jamyang Khientse Chokyi Lodro mất lúc 3 giờ sáng, vào ngày mồng 6 tháng 5, lịch Tây Tạng. Mười ngày trước đấy, trong khi chúng tôi đang có cuộc lễ cầu diên thọ suốt đêm cho ngài, thình lình đất rung chuyển vì một trận động đất lớn. Theo kinh điển Phật giáo, thì đấy là triệu chứng một bậc giác ngộ sắp từ trần.
Trong 3 ngày, sau khi ngài đã viên tịch, sự bí mật được giữ tuyệt đối không ai được biết Khientse đã chết. Tôi chỉ được bảo cho biết sức khỏe của ngài đang biến đổi tệ hơn, và thay vì ngủ trong phòng ngài như thường lệ, tôi được bảo phải ngủ phòng khác. Thị giả thân cận nhất của thầy tôi và Lama Chokden, vị thầy nghi lễ, ở lại với thầy tôi lâu hơn tất cả mọi người. Ông là một nhà khổ hạnh lặng lẽ nghiêm trang với đôi mắt nhìn sâu thẳm và đôi má hóp, phong độ nhã nhặn khiêm cung. Chokden nổi tiếng vì tính trung thực, đàng hoàng, lịch sự, và có trí nhớ phi thường. Ông nhớ từng chữ lời thầy tôi dặn, thuộc từng mẩu chuyện, và biết rõ từng chi tiết của mọi lễ lạc phức tạp nhất, cùng ý nghĩa của chúng. Ông cũng là một hành giả gương mẫu và một thầy giáo trong lĩnh vực của ông.
Lúc ấy chúng tôi nhìn Lama Chokden tiếp tục mang những bữa ăn của thầy tôi vào phòng, nhưng mặt ông trông rất buồn thảm. Chúng tôi không ngớt hỏi thầy Khientse tôi ra sao, nhưng Chokden chỉ nói : “Ngài vẫn thế” . Trong vài truyền thống, sau khi một bậc thầy qua đời, và suốt thời gian ngài an trú trong thiền định sau khi chết, điều quan trọng là phải giữ bí mật. Chỉ 3 ngày sau đó chúng tôi mới được nghe thầy đã chết.
Chính phủ Ấn đã đánh một điện tín qua Bắc kinh, từ đấy tin được đưa đến tu viện Dzongsar của thầy tôi ở Tây Tạng, ở đấy nhiều thầy tu đã khóc trước khi hay tin, vì họ đã biết ngài sẽ chết bằng cách nào đó. Trước khi thầy tôi và tôi ra đi, thầy Khientse đã làm một lời hứa huyền bí rằng thầy sẽ trở lại một lần trước khi chết. Và thầy đã trở lại. Vào ngày Tết năm ấy, sáu tháng trước khi ngài từ trần, trong khi đang cử hành một điệu vũ cổ truyền, nhiều vị sư già đã thấy hình ảnh ngài xuất hiện trên nền trời. Tại tu viện, thầy tôi đã lập một trường học nổi tiếng vì đã đào tạo được nhiều học giả xuất sắc của thời cận đại. Trong ngôi chánh điện của trường, có một tượng Phật Di Lặc khổng lồ. Vào một buổi sáng sớm, ngay sau ngày linh kiến xuất hiện trên trời, khi người giữ chánh điện mở cửa thì thấy Khientse đang ngồi trên vế đức Phật Di Lặc.
Thầy tôi từ trần trong tư thế “sư tử nằm ngủ”. Mọi triệu tướng đều chứng tỏ ngài vẫn đang trong thiền định, không ai động tới thi thể trong suốt 3 ngày. Cái lúc ngài xuất định là một kỷ niệm tôi sẽ nhớ suốt đời : Lỗ mũi ngài thình lình xẹp xuống, màu sắc trên gương mặt không còn, và đầu ngài hơi ngoẻo về một phía. Cho tới lúc ấy, luôn luôn vẫn còn một mức tự chủ nào đó, một sức mạnh, một sự sống nào đó ở trên xác thầy.
Vào chiều tối chúng tôi tắm rửa cái xác, mặc y phục và đưa xác từ phòng ngủ của thầy lên ngôi chánh điện của cung đình. Từng đám đông người lũ lượt kéo đến xếp hàng quanh ngôi đền để lễ bái. Khi ấy, một điều dị thường xảy ra. Một ánh sáng rực rỡ màu sữa, trông như một đám mù mỏng và sáng bắt đầu xuất hiện và dần dần tỏa khắp. Ngôi chánh điện của cung đình có 4 bóng điện bên ngoài, thông thường vào giờ ấy chúng chiếu sáng rực. Nhưng lúc ấy chúng bị mờ đi vì ánh sáng huyền bí ấy. Apa Pant lúc ấy là sĩ quan chính trị ở Sikkim, là người đầu tiên điện thoại đến hỏi có việc gì xảy ra. Nhiều người khác cũng khởi sự gọi đến hỏi thăm : hiện tượng lạ lùng phi phàm ấy đã được hàng trăm người trông thấy. Một trong những bậc thầy lúc ấy đã cho chúng tôi biết đấy là dấu hiệu có người đang chứng đắc Phật quả....
===========
Đây là bản thần chú Tỳ lô giá na quán đỉnh quang minh bằng tiếng phạn,của thầy kim cang dịch bên hinhdongphatgiao.org:ÔM A MÔ GA VAJ RÔ CHA NA MA HA MU RA MA NI BAT MA GIA LA RA VA TA DA HUM,chúng ta nên tụng thần chú băng tiếng phạn thì sẽ hiệu nghiệm hơn là tiếng việt vì :
tiếng phạn là tiếng đã được chư phật,bồ tát gia trì các vị đạo sư thường khuyên các đệ tử tụng chú bằng tiếng phạn sẽ tốt hơn.
http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=3495.0
Five practices of enlightenment without meditation無修成佛五法
The five practices of enlightenment without meditation (Wyl. ma sgom sangs rgyas chos lnga) are sometimes given as:
(མ་སྒོམ་སངས་རྒྱས ཆོས་་ལྔ་):見解脫、聞解 、嚐解脫、配解脫、念解脫(頗瓦往 生法)
· liberation through seeing (chakras) (Tib. tongdrol; Wyl. mthong grol); 見咒輪得解脫
· liberation on hearing (mantras and dharanis) (Tib.tödrol, Wyl. thos grol); 聞咒音(咒語和陀羅尼)得解
· liberation by tasting (amrita) (Tib. nyongdrol, Wyl.myong grol); 嚐甘露得解脫
· liberation by touch[1] (mudra) (Tib. takdrol, Wyl.btags grol); and 觸手印得解脫
· liberation by recollection or thinking (which includes the practice of phowa) (Tib. drendrol)[2] 念(憶及或思及)得解脫,頗瓦法也 之
Alternative Lists
· liberation by touching (Tib. regdrol, Wyl. reg grol) is sometimes added to the list, making six methods that lead to liberation.[3]
Notes
1. Jump up↑ or 'wearing' 或說是配戴得解脫
2. Jump up↑ Also called liberation through meditation (Tib. gomdrol, Wyl. bsgom grol) 又稱為觀修得解脫
3. Jump up↑ Source: Songtsen: Kyabje Kangyur Rinpoche’s Tagdröl yantra. Link here
http://serena-lotus.blogspot.com/201...t-without.html
==========
Five practices of enlightenment without meditation無修成佛五法
The five practices of enlightenment without meditation (Wyl. ma sgom sangs rgyas chos lnga) are sometimes given as:
(མ་སྒོམ་སངས་རྒྱས ཆོས་་ལྔ་):見解脫、聞解 、嚐解脫、配解脫、念解脫(頗瓦往 生法)
· liberation through seeing (chakras) (Tib. tongdrol; Wyl. mthong grol); 見咒輪得解脫
· liberation on hearing (mantras and dharanis) (Tib.tödrol, Wyl. thos grol); 聞咒音(咒語和陀羅尼)得解
· liberation by tasting (amrita) (Tib. nyongdrol, Wyl.myong grol); 嚐甘露得解脫
· liberation by touch[1] (mudra) (Tib. takdrol, Wyl.btags grol); and 觸手印得解脫
· liberation by recollection or thinking (which includes the practice of phowa) (Tib. drendrol)[2] 念(憶及或思及)得解脫,頗瓦法也 之
Alternative Lists
· liberation by touching (Tib. regdrol, Wyl. reg grol) is sometimes added to the list, making six methods that lead to liberation.[3]
Notes
1. Jump up↑ or 'wearing' 或說是配戴得解脫
2. Jump up↑ Also called liberation through meditation (Tib. gomdrol, Wyl. bsgom grol) 又稱為觀修得解脫
3. Jump up↑ Source: Songtsen: Kyabje Kangyur Rinpoche’s Tagdröl yantra. Link here
http://blog.xuite.net/yeshi_tsogyal/...BA%94%E6%B3%95
********************
ĐẠI GIẢI THOÁT THÔNG QUA ĐEO ĐỒ HÌNH
( http://hocthuatphuongdong.vn/index.p...Posts;start=15 )
Trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng, có những đồ hình mà người ta tin là khi đeo nó (chỉ đeo từ ngực trở lên) sẽ tạo một nghiệp tích cực trong giai đoạn thân trung ấm (bardo) và thuận lợi cho việc tái sinh vào cõi tịnh độ của các vị Phật.
Xin giới thiệu hai đồ hình còn được lưu giữ lại từ các bản khắc gỗ cổ. Các đồ hình này có thể in ra trên giấy vàng (được gia trì qua bởi một vị Thầy càng tốt) và đặt trên đỉnh đầu hoặc giữa ngực của người đang hấp hối.
Nguyện hồi hướng công đức cho tất cả chúng sanh, mong tất cả chúng sanh thoát khỏi mọi nỗi khổ.
Chakra of Liberation through Wearing
"Fortunate ones who wear this chakra
Will be liberated from the suffering of the six realms.
They will block the door of the four types of birth
And instantly traverse the ten bhumis and five paths.
In this life, auspiciousness and bodhichitta will increase.
At the time of their bodies fading away
Rainbows and rains of flowers will appear.
Dakinis and heroes from the Mount Potala
Will meet them with offerings and the music of cymbals.
Different marvelous signs will occur.
They will be reborn in Sambhogakaya Realm,
Manifesting supreme, amazing emanations,
Bodhisattvas who accomplish the benefit of beings."
Padmasambhava
The instructions and description of this chakra were discovered by Terchen Tsasum Lingpa (18th century) as part of the cycle of Avalokiteshvara "The Great Compassionate One, Subjugating Samsara and Nirvana."
The drawing was recreated by Alex Chernoguzov and Anna Orlova under the guidance of Khenchen Palden Sherab Rinpoche.
http://s1.upanh123.com/2016/12/16/2l9ad82.gif
http://s1.upanh123.com/2016/12/16/2sc4709d.gif
http://budda.net.pl/images/Drowa_Kun...rol_chakra.jpg
https://s-media-cache-ak0.pinimg.com...2681ff2220.jpg
http://s1.upanh123.com/2016/12/16/124ff5.jpg
Chakra of Liberation through Wearing discovered by Terchen Tsasum Lingpa
Đồ hình trên được khám phá bởi Terchen Tsasum Lingpa (thế kỷ thứ 18)
佩佩戴解脫——18世紀由Terchen Tsasum Lingpa取出之伏藏
http://s1.upanh123.com/2016/12/16/3l1ecc7.gif
http://www.skydancerpress.com/gal/khorlo/3sc.gif
http://s1.upanh123.com/2016/12/16/3scafd11.gif
http://s1.upanh123.com/2016/12/16/2b54fb.jpg
Đồ hình trên được khám phá bởi Jamyang Khyentse Wangpo (thế kỷ thứ 19)
觸(或佩帶)得解脫咒輪—宗薩蔣揚 西旺波之伏藏
http://blog.xuite.net/lifeks799/twbl...BC%AA%E9%9B%86
http://s1.upanh123.com/2016/11/19/46...3t56Haee42.jpg
( http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%C3%81T/page48 )
=========
MẬT GIÁO A DI ĐÀ PHẬT TRẤN ĐÀN PHÙ
( 密教阿彌陀佛鎮壇符 )
http://s1.upanh123.com/2016/12/20/20f4ab5.jpg
http://s1.upanh123.com/2016/12/20/TranDanPhudc774.jpg
真佛宗符籙】密教阿彌陀佛鎮壇符
20阿彌陀佛鎮壇符在「蓮生活佛」的心 中,尚流露出許多密教的鎮壇符籙, 中有一最具漂亮的符式,這就是「阿 陀佛鎮壇符」。
此符懸掛密壇上方,非常莊嚴。
蓮生活佛畫此符時,心中非常的感動 好像自心迸射了大光芒,連眼睛也無 張開,我知道阿彌陀佛的十二天光明 下降,這十二光明正是:
無量光、無邊光、無礙光、無對光、 王光、清淨光、歡喜光、智慧光、不 光、難思光、無稱光、超日月光。
這些光,化為符號,就在符籙的下方 現。
而符式的中央是阿彌陀佛的一字真言 「乞哩」,也就是:「些」。
蓮生活佛畫此符時,其符頭,符邊, 展現了西方的意境,非常的不可思議
此鎮壇符有一字真言。
此鎮壇符有西方境。
此鎮壇符有十二大光明。
密壇的大光明無量無盡。
蓮生活佛的「先天符筆」,可謂符法 邊,佛法無邊,秘中秘,奇中奇,法 法,佛中佛。
Đây là Trấn đàn phù của Mật Giáo "A Di Đà Phật Trấn Đàn Phù" treo trên mật đàn vô cùng trang nghiêm. Phù tượng trưng cho 12 Quang Minh của A Di Đà Phật hạ giáng. 12 Quang Minh đó là:
1. Vô Lượng Quang
2. Vô Biên Quang
3. Vô Ngại Quang
4. Vô Đối Quang
5. Diêm Vương Quang
6. Thanh Tịnh Quang
7. Hoan Hỷ Quang
8. Trí Tuệ Quang
9. Bất Đoạn Quang
10. Nan Tư Quang
11. Vô Xưng Quang
12. Siêu Nhật Nguyệt Quang
Những đạo quang này hóa thành phù hiệu, ở trung ương phù, phát ra từ nhất tự chân ngôn của A Di Đà Phật là Hrih (hật rị), tức là ta. Phù hiện ra ý nghĩa của cảnh giới Tây Phương rất khó nghĩ bàn. Tóm lại trấn đàn phù này có một chữ chân ngôn. Trấn đàn phù này có cảnh giới Tây Phương. Trấn đàn phù này có 12 Đại Quang Minh.
( http://www.famingtemple.tw/3795/no77-23 / http://phatgiaovnn.com/upload1/modul...iewst&sid=9981 )
=====================
http://s1.upanh123.com/2016/11/26/show_preview9b55d.jpg
http://s1.upanh123.com/2016/12/20/-5004ddba.jpg
http://s1.upanh123.com/2016/12/20/47..._1031e5e60.jpg
=========
http://s1.upanh123.com/2016/12/20/ho...-phata3b76.png
http://s1.upanh123.com/2016/12/20/MTLotusRed6f13f.png
http://i.imgur.com/t5ZSAva.jpg
http://s1.upanh123.com/2016/12/15/Lu...-Thuac3585.jpg
http://s1.upanh123.com/2016/12/15/thumbefeac.jpg
TRANG THỨ 16 PHOTOBUCKET
( http://www.360doc.com/content/14/112...29189952.shtml / http://mychannel.pchome.com.tw/chann...fn=main&view=1 / http://www.famingtemple.tw/about )
Linh phu o dau
https://lh3.googleusercontent.com/RM...20-h1080-rw-no
http://tuyenphap.com/wp-content/uplo...hongsinh_3.jpg
========
Linh Phu o nguc
https://lh3.googleusercontent.com/Lx...20-h1080-rw-no
http://tuyenphap.com/wp-content/uplo...hongsinh_4.jpg
( https://get.google.com/albumarchive/...cEYj6QQtWPJfnD )
https://www.youtube.com/watch?v=ctoBspftu2E
Thiện Giải Disk 5 (Oct 29/2014):TT Thích Thông Lai-Gia Trì Mật Pháp Phowa & Nhập Xác Về Đẻ Tạ Ơn
Published on Feb 23, 2015
Sư Phụ khai thị các tầng Địa Ngục mà Thiện Giải đã “thấy” và kể cho vợ nghe trước khi mất và bắt đầu gia trì Mật Pháp “Phowa” để cứu Thiện Giải ra khỏi Địa Ngục. Trong lúc đang làm Phowa thì “Thiện Giải” đã xuất ra và nhập vào Dì Sáu đang ngồi ở phòng khách niệm Phật để lạy tạ Sư Phụ ân triêm công cứu độ. Thiện Giải tiếp tục nhập lần thứ 2 trong lúc Sư Phụ và quý Tăng đang tắm rửa và thay Y áo cho Thiện Giải để lạy tạ và van xin về Cực Lạc.
Ni Sư Thích Nữ Tâm Nguyện Chia Sẻ Kinh Nghiệm Tu Tập Pháp Môn Phowa
Cái chết, trạng thái trung ấm và sự tái sinh
( https://www.phatan.org/p189a1555/cai...va-su-tai-sinh )
Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV
TỔNG QUAN VỀ CÁC PHÁP MÔN
TRONG PHẬT GIÁO TÂY TẠNG
Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải
Nhà xuất bản Tôn Giáo 2016
Cái chết, trạng thái trung ấm và sự tái sinh
Vì sự tu tập Tối thượng Du-già Mật thừa là nhằm mang lại lợi lạc cho hành giả, vốn sẵn có cấu trúc thân thể với 6 yếu tố, nên những tiến trình tu tập đều tương tự như các kinh nghiệm thông thường và có các đặc điểm tương đồng với những kinh nghiệm của cái chết, trạng thái trung ấm và sự tái sinh.
Nhờ vào cấu trúc thân thể độc đáo của mình, nên con người luôn tự nhiên trải qua 3 giai đoạn: cái chết, trạng thái trung ấm và sự tái sinh. Cái chết là một trạng thái khi tất cả các tầng bậc thô trược của tâm thức và năng lượng đều mất đi hay tan hòa vào những tầng bậc tâm thức và năng lượng vi tế nhất. Chính vào thời điểm đó, chúng ta kinh nghiệm được tâm thức tịnh quang của sự chết. Sau đó, chúng ta nhận lấy một thân vi tế được biết như là trạng thái trung ấm, và khi một chúng sinh trung ấm nhận lấy một thân thô trược hơn, có thể được nhìn thấy bởi những chúng sinh khác, thì chúng sinh ấy đã tái sinh vào một đời sống mới.
Mặc dù chúng ta trải qua những trạng thái này một cách tự nhiên, nhưng các ngài Long Thụ và Thánh Thiên có mô tả trong các luận giải những kỹ năng và phương pháp độc đáo mà nhờ đó hành giả có thể vận dụng những kinh nghiệm này một cách tích cực. Thay vì trải qua những trạng thái ấy một cách hoàn toàn thụ động, hành giả có thể đạt đến sự kiểm soát và sử dụng chính ba trạng thái này để đạt đến sự thành tựu Phật quả.
Những tiến trình để đạt đến ba thân Phật - Pháp thân, Báo thân và Ứng hóa thân - có những đặc điểm tương tự với các trạng thái chết, trung ấm và tái sinh. Vì thế khả năng sử dụng chính những trạng thái này để đạt đến ba thân Phật là điều có thể được.
Theo sự giảng giải của Tối thượng Du-già Mật thừa về tu tập thiền quán ba thân Phật, bất kỳ sự tu tập nào thuộc giai đoạn phát khởi trong Tối thượng Du-già Mật thừa cũng đều phải kết hợp với ba trạng thái này.
Các bản văn của dòng Nyingma mô tả tiến trình này bằng các thuật ngữ khác, đề cập đến ba pháp định thay vì sự thiền quán về ba thân Phật, bao gồm chân như định, hiện khởi định và nhân quả định. Các pháp định này tương đương với các tu tập trong giai đoạn phát khởi của Du-già Mật thừa cũng như Tối thượng Du-già Mật thừa, bao gồm thiền định phát khởi, thiền định mạn-đà-la chiến thắng và thiền định thắng hạnh.
Thiền quán về ba thân Phật chỉ cho pháp thiền mà hành giả vận dụng cái chết, trạng thái trung ấm và sự tái sinh vào tiến trình tu tập. Chẳng hạn, việc vận dụng cái chết vào tiến trình tu tập như Pháp thân là khi hành giả chuyển hóa điều kiện của sự chết bằng sự quán tưởng hay hình dung trong suốt tiến trình của sự chết. Trên bình diện quán tưởng, hành giả trút bỏ hoặc hòa tan toàn bộ các tiến trình của tâm thức và năng lượng. Tiến trình chết bắt đầu với sự tan rã các yếu tố bên trong cơ thể, do đó mà có 8 giai đoạn, khởi đầu với sự tan rã của bốn đại là đất, nước, lửa và gió, tiếp theo là 4 giai đoạn mà về mặt thuật ngữ được gọi là các kinh nghiệm tâm thức màn trắng hiện hành, tâm thức màn đỏ tăng tiến, tâm thức màn đen cận mãn và tâm thức tịnh quang của sự chết.
Trong giai đoạn phát khởi, hành giả chỉ trải nghiệm sự tan rã trên bình diện tưởng tượng, còn những kinh nghiệm sâu xa hơn được khởi sinh khi hành giả tiếp tục tiến trình tu tập và tăng tiến sự nhận hiểu của mình trong giai đoạn thành tựu. Cuối cùng thì sự tu tập sẽ giúp hành giả đạt đến khả năng trải qua toàn bộ kinh nghiệm của tiến trình chết thực sự.
Ngày nay, các nhà khoa học đã và đang tiến hành các cuộc thử nghiệm để khảo sát tiến trình chết, nhằm hiểu được về sự vận hành của cái chết. Tiến trình tan rã sẽ [được nhận biết] rõ rệt hơn ở người có tiến trình chết dần dần, chẳng hạn như người bị bệnh trong một thời gian dài, và trong trường hợp này [người quan sát] có thể đạt được những kết quả xác định hơn.
Hành giả Mật thừa đạt đến một trạng thái chứng ngộ bậc cao sẽ có khả năng nhận biết kinh nghiệm của sự chết là gì và sẽ có khả năng vận dụng tích cực kinh nghiệm đó, duy trì được sự tỉnh giác và không bị khống chế hoàn toàn bởi kinh nghiệm của sự chết. Nói chung, những người bình thường chỉ có thể ở trong tâm thức tịnh quang của sự chết tối đa là 3 ngày, nhưng một số thiền giả có thể an trú trong đó lâu đến một tuần hay hơn nữa. Dấu hiệu cho thấy một người [sau khi chết] vẫn đang ở trong tâm thức tịnh quang của sự chết là thân thể người ấy không bị phân hủy, cho dù mọi dấu hiệu bên ngoài có thể cho thấy là họ đã chết hẳn.
Trong giai đoạn phát khởi, khi hành giả trải qua kinh nghiệm tịnh quang trên bình diện quán tưởng, đó cũng là lúc mà vị ấy sẽ nhập vào Không định.
Cũng giống như một người bình thường [chết đi rồi] vào trạng thái trung ấm và sau khi trải qua kinh nghiệm tịnh quang của sự chết thì nhận lấy một thân rất vi tế, trong giai đoạn phát khởi, hành giả sau khi xuất khỏi trạng thái Không định này sẽ nhận lấy một thân vi tế trên bình diện quán tưởng, vốn là yếu tố làm thuần thục trạng thái trung ấm. Đây là pháp thiền quán về Báo thân.
Và cũng giống như trên bình diện thông thường một chúng sinh trong trạng thái trung ấm sẽ nhận lấy một thân thô trược, là dấu hiệu của sự tái sinh vào một đời sống mới, thì một hành giả trong giai đoạn phát khởi, sau khi đã nhận một Báo thân, sẽ tiếp tục nhận lấy một Ứng hóa thân.
Có nhiều tài liệu hướng dẫn mô tả các pháp thiền quán trong giai đoạn phát khởi để hành giả tự phát khởi như một bổn tôn. Trong một số pháp tu, hành giả trước tiên tự khởi như một vị kim cang trì nhân, và sau đó là một vị kim cang trì quả. Trong những trường hợp khác, hành giả tự khởi thành vị bổn tôn thông qua một tiến trình được biết như là “ngũ quán thành tựu” v.v...
Trong giai đoạn phát khởi, mặc dù có rất nhiều cách tự quán tưởng mình như một vị bổn tôn theo các pháp tu được xem là rất quan trọng, nhưng phần quan trọng nhất trong thiền tập là khi hành giả đặc biệt nhấn mạnh vào thiền quán về sự rộng lớn [của phương tiện] và thâm diệu [của trí tuệ] bằng cách nuôi dưỡng sự trong sáng rõ ràng của hình ảnh quán tưởng [về bổn tôn] và niềm tự hào thiêng liêng. Tôi đã từng đề cập đến điều này khi giải thích rằng hành giả cần phải nuôi dưỡng sự trong sáng rõ ràng của hình ảnh quán tưởng về bổn tôn và niềm tự hào thiêng liêng dựa trên sự quán tưởng [thành tựu] ấy.
Là một hành giả nghiêm túc, quý vị phải cố gắng thực hành tất cả các pháp thiền này, bao giờ cũng liên hệ thiền tập với những trạng thái tinh thần của chính mình và mức độ nhận thức, cũng như luôn quan sát sự thiền tập của chính mình xem có thoát được ra khỏi những ảnh hưởng của sự hôn trầm giải đãi và phấn khích [thái quá] hay không. Những pháp thiền như vậy cần phải được thực hành theo một cách thức kiên trì và phối hợp [lẫn nhau].
Để đạt đến và duy trì trạng thái định nhất tâm thì chướng ngại lớn nhất là sự xao lãng tinh thần. Sự xao lãng này bao gồm nhiều trạng thái tinh thần khác nhau, chẳng hạn như phân tán tư tưởng... Nhưng trong số các trạng thái khác nhau đó thì sự phấn khích tinh thần thái quá, hay trạo cử, là chướng ngại ghê gớm nhất. Trạo cử phát sinh khi tâm thức [bị thu hút và trở nên] xao lãng bởi một đối tượng được ưa thích. Để vượt qua và đối trị những trường hợp trạo cử như thế, thiền giả được khuyến khích hãy thử buông lỏng cường độ thiền tập, hoặc từ bỏ sự chú ý vào các đối tượng bên ngoài v.v... để giúp tâm thức có thể lắng dịu và an tĩnh trở lại.
Vì trạo cử xuất hiện khi tâm thức quá cảnh giác hoặc thiền tập quá căng thẳng, nên việc quán chiếu về [những điều như] bản chất khổ đau của luân hồi v.v... có thể sẽ hữu ích. Điều này sẽ giúp giảm nhẹ đi sự căng thẳng và cảnh giác thái quá.
Điều cần thiết để phát triển định lực nhất tâm vững chãi là phải có sự sáng rõ trong tâm thức cũng như sự sáng rõ của đối tượng, vì nếu không có sự sáng rõ thì cho dù hành giả có thể từ bỏ sự chú ý vào các đối tượng bên ngoài nhưng vẫn không có khả năng đạt đến [trạng thái] nhất tâm. Ở đây, sự sáng rõ có hai loại, sự sáng rõ của hình ảnh quán tưởng và sự sáng rõ của bản thân kinh nghiệm chủ quan. Yếu tố hủy hoại sự sáng rõ trong tâm thức chính là tâm trạng hôn trầm. Tâm trạng hôn trầm có thể vượt qua bằng cách nâng cao mức độ tỉnh giác.
Khi dấn thân vào thiền tập để phát triển định lực nhất tâm, hành giả cần phải tự quán xét để xem liệu tâm thức mình có quá căng thẳng hay quá buông lỏng v.v... Nhận biết đúng mức độ của tâm thức chính mình, hành giả sẽ có thể phát triển định lực nhất tâm một cách đúng đắn.
Vì đối tượng của thiền trong tu tập Tối thượng Du-già Mật thừa là chính bản thân hành giả trong hình thức của một vị bổn tôn, và cũng vì sự tu tập định lực nhất tâm hướng sự chú ý của hành giả vào những điểm nhất định nào đó trong cơ thể, nên hành giả có được khả năng tạo ra sự chuyển dịch các yếu tố trong cơ thể. Một số thiền giả đã thuật lại với tôi những kinh nghiệm loại này. Khi hành giả có khả năng duy trì sự nhất tâm với một hình ảnh quán tưởng rõ rệt của vị bổn tôn trong một thời gian dài, điều này ngăn chặn cảm nhận thông thường của hành giả về sự tầm thường [của bản thân mình], và do đó đưa đến một cảm giác tự hào thiêng liêng. Tuy nhiên, trong suốt các giai đoạn thiền tập này, việc hành giả liên tục củng cố nhận thức tỉnh giác về tánh Không là rất quan trọng.
Khi tu tập đúng đắn theo phương thức này, hành giả sẽ đạt đến trình độ có được một hình ảnh quán tưởng rất rõ ràng của toàn bộ đồ hình mạn-đà-la và các vị bổn tôn trong đó, với sự sống động đến mức như thể là hành giả có thể gặp gỡ và sờ chạm vào các vị. Điều này cho thấy sự thành tựu của giai đoạn phát khởi đầu tiên.
Nếu sự thiền tập tiến xa hơn nữa và giúp hành giả có khả năng đạt đến trình độ chỉ trong một lúc có thể có được hình ảnh quán tưởng rõ ràng về các vị bổn tôn tinh tế được sinh khởi từ những phần khác nhau trong cơ thể mình, đó là hành giả đã đạt đến cấp độ thứ hai của giai đoạn phát khởi.
Khi hành giả đạt đến định lực vững chãi, [vị thầy sẽ] giảng giải về các pháp thiền khác, chẳng hạn như bổn tôn hóa thân, hay hòa nhập trở lại vào tim hành giả v.v... để giúp hành giả tự rèn luyện nhằm đạt đến sự kiểm soát nhiều hơn đối với trạng thái nhất tâm của mình. Những pháp thiền này bao gồm việc quán tưởng biểu tượng bàn tay tinh tế ở điểm mở ra nơi phần trên cùng của kinh mạch trung tâm và quán tưởng những giọt tinh tế với các âm tiết [mẫu tự] ở phần cuối bên dưới. Và nếu hành giả cảm thấy quá mệt mỏi vì toàn bộ pháp thiền tập này thì bước kế tiếp là trì tụng mật chú.
Sự trì tụng mật chú trong Tối thượng Du-già Mật thừa có rất nhiều dạng, như trì tụng mật chú theo sự phát nguyện, trì tụng mật chú cho đủ số biến (số lần) nhất định, hoặc trì tụng mật chú hung nộ v.v...
=======
1. Tu Kỉnh Điền
Hành giả Du già muốn được định huệ tăng trưởng, phước trí viên minh, cần phải tu hai môn Bi và Kỉnh. Tu tập hai môn nầy cũng như gieo vào ruộng tâm chứa nhóm công đức.
Trên hết cúng dường 10 phương Tam bảo, dưới cứu khổ lục đạo chúng sanh, hạnh tu này làm nền tảng cho định huệ, căn bản của sự giác ngộ. Nếu người hành đạo, trên không cúng dường chư Phật và Bồ tát, dưới không cứu giúp chư thiên và ngạ quỷ thì không thể có được hạnh từ bi[71].
Như muốn tu Kỉnh Điền, hành giả phải kiết Ngũ Cúng Dường ấn, tụng Căn Bản chơn ngôn, vận tưởng cúng dường Bổn Tôn, chư Phật và Thánh chúng thì sẽ được thành tựu phước trí viên mãn.
Trường hợp không thể nhập đàn pháp làm đủ các phép tắc, hành giả nên kiết Kim Cang ấn và tụng Ngũ Tự Đà La Ni chơn ngôn 7 biến cũng được đầy đủ hạnh Kỉnh Điền[72].
Kim Cang Ấn
Trước tiên, hành giả dùng 2 bàn tay đôi lưng nhau, hai ngón út và hai ngón cái câu móc với nhau là thành ấn.
Tụng Ngũ Tự chơn ngôn:
- Úm, Phạ Nhựt Ra Vật.
Tụng rồi xả ấn trên đảnh đầu. Do chơn ngôn và ấn pháp này có oai lực không thể nghĩ bàn, tự nhiên được biến khắp pháp giới vô tận Tam bảo. Lúc đó thân của hành giả sẽ tự hiện ra đến lễ bái phụng sự cúng dường tất cả chư Phật.
Tiếp theo hành giả tùy sức chưng bày hiến cúng vật phẩm để trong đồ Ứ Già thanh tịnh. Hành giả dùng tay phải kiết Phổ Thông Kiết Tường ấn.
* Trang 127 *
device
Phổ Thông Cúng Dường Ấn Hành giả dùng tay phải, ngón cái và ngón vô danh bấm lại với nhau. Ba ngón tay khác mở thẳng ra là thành ấn.
phẩm, hương hoa, v.v… khi vẽ chữ Lãm vào sẽ phóng ra ánh sáng sắc trắng, làm cho hết sạch các xú uế biến thành vật cúng dường thanh tịnh[73].
Tiếp theo hành giả tụng Vô Lượng Oai Đức Tự Tại Quang Minh Thắng Lực Biến Thực chơn ngôn 21 biến:
- Nam Mô Tác Phạ Đát Tha, Nga Đa Phạ Lồ Chỉ Đế. Úm, Tam Bạt Ra, Tam Bạt Ra Hồng.
Do sức gia trì của chơn ngôn nầy, các thực phẩm hiến cúng đều biến thành đồ ăn uống ngon như cam lồ thượng vị của chư thiên dâng hiến đến khắp 10 phương Tam bảo.
Kế đến kiết Xuất Sanh Cúng Dường ấn.
Xuất Sanh Cúng Dường Ấn
Hành giả hai tay chấp lại, 10 ngón bên ngoài tréo nhau, hai lóng đầu của các ngón giao nhau. Để ấn trên đảnh đầu tụng Xuất Sanh Cúng Dường chơn ngôn 21 biến:
- Úm.
Do kiết ấn và tụng chơn ngôn có oai lực không thể nghĩ bàn này, những đồ hành giả mong muốn cúng dường tự nhiên biến khắp pháp giới và vô tận các thứ hương hoa, đèn nến, lọng lụa, tràng phan, bảo cái, y phục, ngọa cụ, y dược, lầu các, âm nhạc, v.v… Các món cúng dường biến hiện đầy đủ khắp pháp giới vô tận Tam bảo. Nếu hành giả không có các món ẩm thực, hương hoa thì chỉ kiết ấn tụng chú như trên, cũng tự nhiên xuất sanh được các món cúng dường đến Tam bảo khắp pháp giới.
2. Tu Bi Điền
Hành giả tu hạnh Du già thường ngày nên làm phép cúng thí đồ ăn cho chư thiên.
Trước tiên nên dùng chén hoặc bát để đầy các thứ ăn uống, tụng Biến thực chơn ngôn 21 biến vào phẩm vật cúng thí. Sau đó đổ thức ăn uống xuống dòng nước sạch, sẽ được biến thành các món ăn uống thượng diệu chư thiên, cúng dường đủ đến hằng hà sa số chư thiên. Tất cả chư thiên khi nhận thực phẩm này cũng được thành tựu sở nguyện.
* Trang 130 *
device
Hành giả muốn cứu tế các loài ngạ quỷ, nên thực hiện việc cúng thí mỗi buổi sáng chiều hoặc các thời khác đều được. Hành giả lấy chén hoặc tô đựng ít nước sạch, bỏ vào ít cơm và các thứ đồ ăn như bánh. Hành giả dùng tay phải kiết Bảo ấn[74].
Muốn kiết ấn nầy, hành giả dùng ngón tay cái, ngón tay trỏ, ngón tay giữa, ngón tay út mở ra.
Lấy ngón vô danh dùng khuấy vào trong đồ ăn.
Tụng Biến thực chơn ngôn 7 biến, gia trì vào thức ăn:
Biến thực chơn ngôn:
- Nam Mô Tát Phạ Đát Tha, Nga Đa Phạ Lồ Chỉ Đế. Án, Tam Bạt Ra, Tam Bạt Ra Hồng.
Hành giả tiếp xưng danh hiệu của bốn đức Như Lai:
Nam Mô Đa Bảo Như Lai
Nam Mô Diệu Sắc Thân Như Lai
Nam Mô Quảng Bát Thân Như Lai
Nam Mô Ly Bố Úy Như Lai
Xưng Như Lai danh hiệu rồi, hành giả gảy móng tay 7 lần, lấy đồ ăn để lên trên chỗ đất sạch, hoặc trên đá sạch, lá cây, đồ sành sứ đều được. Hành giả tiếp mở các ngón tay của Bảo ấn ra, nhúng vào
* Trang 131 *
device
nước, vẩy nước lên trên các món thức ăn đó.
Gia trì Đa La Ni nầy 7 biến, sẽ làm tất cả các món ăn uống biến thành cam lồ thượng diệu, biến khắp pháp giới có thể làm no đủ cho trăm ngàn muôn ức na do tha hằng hà sa số quỷ thần và tất cả các loài ngạ quỷ. Lúc đó mỗi ngạ quỷ đều được 49 hộc lớn đồ ăn uống như hộc đựng của dân xứ Ma Già Đà. Các loại ngạ quỷ một khi thọ dụng phẩm vật này đều gieo nhân thánh quả, tương lai thoát khỏi khổ thân, sanh về Tịnh độ.
Tiếp đến hành giả nên dùng một bát nước, niệm Cam lồ chơn ngôn gia trì 7 biến rồi tán rải trong hư không, mỗi giọt nước lúc đó sẽ biến thành 10 hộc nước vị cam lồ, làm cho tất cả ngạ quỷ đều được hết khát.
Người hay cúng thí pháp này hiện đời đầy đủ vô lượng phước đức và công đức này cũng đồng như cúng dường trăm ngàn ức đức Như Lai. Tất cả loài Dạ xoa, La sát, các ác quỷ thần cho đến nhân và phi nhân… đều kính nể không dám làm những việc xâm hại.
Thực hành pháp này hành giả hiện đời tăng trưởng phước thọ, tâm được thanh tịnh, thấy nghe chánh giải, đầy đủ Phạm Thiên oai đức và tất cả những oán thù đều được hóa giải.
* Trang 132 *
device
Những điều cần làm khi có người thân qua đời (cập nhật hoàn chỉnh phần còn lại)
( http://monchaythanhtinh.blogspot.com...-than-qua.html )
TRƯỜNG HỢP CHẾT VÌ BỆNH MÀ KHÔNG PHẢI DO CHẾT HOẠNH TỬ
Người thân bị bệnh lâu ngày và qua đời tại nhà:
Qua đời tại nhà khác nhiều lắm so với qua đời tại bệnh viện, có những người họ bị bệnh nan y rồi bệnh viện đưa ra những choice: một là đưa về nursing home, hai là đưa về gia đình để take care, ba là để trong bệnh viện và đóng tiền để cho nó lo ở trong đó nữa
Tôi chỉ nêu trường hợp người thân bị bệnh nan y và qua đời tại nhà của quý vị:
Thứ nhất phần nào là đáng lo? đa số chúng ta cứ lầm là lo cho phần thể xác, có nhiều người thấy bà mẹ của mình khi chết không được đẹp thì lo sửa tay, sửa chân, lo mặc quần áo tắm rửa có không? cái thể xác là không quan trọnq vì đi qua bên kia thế giới, vãng sanh về cõi Phật, vãng sanh về cõi trời hay các cõi khác thì đi bằng phần linh hồn, bằng phần thần thức, phần hồn chứ không phải đi bằng xác thúi 50 kg này, mà chúng ta đa số tập trung lo về cái xác là chúng ta lo sai, lo về thể xác và lo về tinh thần cái nào quan trọng? Phần tinh thần rất quan trọng, bây giờ tôi nói trước khi chết khoảng từ nửa tiếng đồng hồ đến một tiếng đồng hồ thì phải sám hối, quy y và di chúc
TRƯỚC KHI CHẾT KHOẢNG TỪ NỬA TIẾNG ĐỒNG HỒ ĐẾN MỘT TIẾNG ĐỒNG HỒ:
1.Sám hối: Trước khi chết từ nửa tiếng đến 1 tiếng đồng hồ, quý vị phải coi người thân của mình khi còn sống họ có những hành nghiệp gì?
Nếu người đó sát sanh nhiều thì quý vị nên bắt họ sám hối giới sát, nhớ điểm là sám hối giới sát vì họ đã phạm vào giới đầu tiên của người Phật tử, mà nếu phạm giới rồi mà không sám hối thì người đó qua đời rồi chúng ta phải tụng Lương Hoàng Sám, chúng ta phải tụng 1 bộ Lương Hoàng Sám để hồi hướng cho người đó không bằng tự người đó ở phút lâm chung phát lồ sám hối, quý vị nhớ nếu người đó phạm giới sát nhiều: cắt cổ gà, nhổ lông vịt, thọc huyết heo v.v..thì bắt họ phải sám giới rất trân trọng sám hối cái giới sát.
Người này chuyên môn trộm cướp, tham lam thì chúng ta phải nói họ sám hối: đem hình tượng Phật Di Đà lại nếu có, không có Di Đà có Thích Ca, không có Thích Ca thì có Địa Tạng, không có Địa Tạng có đức Quan Âm, bất cứ hình tượng phật và Bồ Tát nào cũng được, có phải trong Kinh Địa Tạng Phật có giảng: người phút lâm chung mà chỉ cần chí thành sám hối trước hình tượng Phật và Bồ Tát, một câu sám hối, một câu niệm Phật hiệu lọt qua lỗ tai, trừ ngũ tội vô gián ngoài ra các tội nhẹ đều được tiêu diệt có không? có thì quý vị phải làm
Người chuyên môn nói láo, vọng ngữ, chửi rủa thì quý vị phải nói họ sám hối cái khẩu nghiệp của họ v.v…
Người đó sau khi ngũ giới (sát sanh, trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ, uống rượu) coi phạm cái gì đã sám hối hết rồi, người đó mà chuyên môn cả đời không biết bố thí, bỏn sẻn giữ gìn tiền bạc, khuyên người đó còn có nửa tiếng nửa là cha hay mẹ, chồng hay vợ đã mất hết tất cả rồi, thay vì ngay phút này nên khởi một cái tâm, phát tâm bố thí những tài sản nào mà mình quý nhất, trong kinh Điạ Tạng nói vật gì mà người sắp chết quý thì nên đem cúng dường Tam Bảo, đem bố thí in kinh, ấn tống, đó là cái quý vị cần phải khai thị cho người thân, lúc đó quý vị tìm một vị Thầy thì đến lẹ nhất cũng phải mất khoảng 1 tiếng đồng hồ phải không? do đó mình phải khai thị cho người thân mình, làm một thiện hữu tri thức khai thị ngay lúc hấp hối đó thì giúp ích rất nhiều cho người đó
Xem mẫu clip khai thị sám hối ngũ giới do Thầy Thông Lai hướng dẫn @ link này:
http://monchaythanhtinh.blogspot.com...ai-thi-va.html
2.Quy y: Cái cuối cùng nếu người đó chưa quy y thì nên quy y người đó với Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát ngay trong lúc đó, vì người này chưa quy y nên sẽ có cơ may nhiều để đi vào ác đạo, mà trong kinh Địa Tạng nói giờ phút chót chỉ cần quy y với Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát thì người đó coi như đóng bít được 3 đường ác vì nhờ nguyện lực của Đức Địa Tạng
3.Di chúc Phần trăn trối lại những điều gì nên làm, người đó muốn chết chôn, chết thiêu, chưa làm di chúc, người đó muốn cái gì, những gì người đó còn tiếc nuối trong lòng chưa thực hiện xong, đừng để họ còn nuối gì đó trong lòng của họ, thành ra phải nói cho họ giải tỏa hết những gì họ còn ấp ủ, những sự việc gì họ làm chưa xong, họ sẽ di chúc lại cho quý vị, đó là khi người đó còn nghe được
TRONG VÒNG 8 TIẾNG ĐỒNG HỒ:
Tiếng đồng hồ đầu tiên là Mắt chết trước (không còn thấy nữa), tiếng thứ 2 đến Tai (không còn nghe được nữa), tiếng thứ 3 là Mũi, tiếng thứ 4 là Miệng, tiếng thứ 5 là Thân, tiếng thứ 6 là thức Ngã chấp, thức thứ 7 là Ý, thức cuối cùng là Tạng thức hay a Lại Da Thức là thức ra sau cùng (nóng ở đâu sau cùng) quyết định nơi tái sanh về cõi nào (cái này P đánh thêm từ bài giảng khác, có thể P nhớ không chính xác tên các thức... nhưng để giúp cho một số bạn thắc mắc được hiểu rõ hơn tại sao phải cần 8 tiếng)
PHẦN HỒN (tinh thần) rất quan trọng cho nên trong vòng 8 giờ đầu tiên (từ 1 phút cho đến 8 tiếng) quý vị nên làm những điều sau đây:
Xin quý vị đừng lưu tâm đến phần thể xác mà hãy quan tâm đến phần tinh thần của người thân nhân mới qua đời. Tôi xin hỏi quý vị, nếu quí vị có người thân như cha mẹ, vợ con ruột thịt vừa mới qua đời vì bệnh mà chết tại nhà thì quý vị cần làm những việc gì theo thứ tự ưu tiên để giúp cho thần thức của người chết được thác sanh về cõi lành, tôi không nói về cõi cực lạc mà tôi nói về các cõi trời, cõi người hiểu chưa?
Điều phải nên làm:
1.Kể từ khi người thân tắt thở liên tục trong 8 tiếng đồng hồ phải chí tâm niệm Phật để hộ niệm cho thần thức người chết, quý vị phải nhớ kể từ khi người đó tắt hơi thở cuối cùng là phải chí tâm niệm Phật, không đợi rước Thầy, nhiều vị gọi điện thoại lại chùa này chùa kia để thỉnh Thầy gặp lúc đó một hai giờ sáng, vị Thầy nào mà họ bắt điện thoại là quý vị may mắn, nếu không họ để cái message là trễ rồi, thành ra quý vị phải làm ngay người trợ niệm cho người thân của quý vị
2.Phải liên lạc ngay với một vị Thầy có kinh nghiệm về trợ niệm vãng sanh cho người mới chết, nếu người bệnh lúc còn sống tu theo tịnh độ thì phải thỉnh một vị Thầy chuyên tu về pháp môn Tịnh độ (đừng thỉnh vị Thầy thiền, vị Thầy thiền lại họ khai thị làm cho người thân mình không bắt được và thần thức của người thân mình sẽ đi vào cảnh giới xấu) để vị Thầy này khai thị cho thần thức của người mới chết và vị Thầy này sẽ hướng dẫn cho quý vị biết cách trợ niệm theo phương pháp nào có hiệu quả nhất để giúp cho người vừa mới chết được vãng sanh về cõi lành, tốt nhất là được vãng sanh về Tịnh Độ, nếu người bệnh lúc còn sống tu theo pháp môn thiền thì phải thỉnh một vị Thầy chuyên tu về thiền tông để khai thị cho thần thức của người mới chết để giúp cho người chết khỏi đọa vào ác đạo: địa ngục, ngả quỷ, súc sanh
Điều cần lưu ý: nếu nơi phòng của người bệnh vừa mới chết không có tôn tượng Đức Phật Di Đà, đâu phải ai cũng có tượng Đức Di Đà sẵn đó đâu quý vị, mà chỉ có tôn tượng Đức Thích Ca Mâu Ni Phật hoặc tượng của đức Quan Thế Âm Bồ Tát hoặc tượng của đức Địa Tạng Vương Bồ Tát thì quí vị đừng câu nệ chấp trước là phải chờ đi vô chùa mượn, thỉnh tượng Phật A Di Đà, lúc đó nó trễ rồi, nhớ không cần…đức Phật không có chấp, chờ cho quý vị đi thỉnh, mượn được tượng Phật thì sẽ mất một hai tiếng đồng hồ trợ niệm quan trọng của người thân quý vị, người vừa mới qua đời phải niệm Phật ngay càng sớm càng tốt, quý vị nên nhớ chư Phật không còn chấp nhất, chỉ có chúng sanh mới còn tâm phân biệt Phật Quan Âm, Phật Thích ca, Phật Địa Tạng, Phật Di Đà mà thôi
Tất cả người thân còn sống không được khóc lóc, lưu luyến, thương tiếc, nếu quả thật thương tiếc thì hãy niệm Phật trợ niệm cho người chết được vãng sanh, đừng khóc lóc làm động tâm và nhất là không được để nước mắt nhiễu vào người họ, vì nếu người đó mà đọa vào loài ngã quỷ, thì những giọt nước mắt này chạm vào thân họ trong khi A Lại Da Thức chưa xuất ra, mới xuất có mấy thức trước, thì họ cũng có cảm giác như là lửa nhiễu trên người của họ, làm hại cho việc vãng sanh. Trong một cái đoạn Thầy nghe một vị tôn túc giảng thế này: người mà đã chết rồi khi mà nước mắt nhỏ lên người họ đó, nếu người chết đó đã tái sinh vào loài ngã quỹ thì họ thấy nước mắt của mình nhiễu lên người họ đó, dưới cái nghiệp của loài ngả quỷ họ thấy nước là lửa, họ thấy lửa nhiễu lên người họ có cảm giác đau đớn như là lửa phỏng từ đó họ nổi sân, họ không được tái sanh vào các cõi lành, do đó khi khóc làm cho tâm thần họ bị bấn loạn, bây giờ chúng ta đang nghe pháp đây mà một đứa bé khóc lên… tâm quý vị chưa bị đau, chưa bị lúc lâm chung nè… mà quý vị cảm thấy khó chịu, một đứa bé khóc cũng làm cho hai vợ chồng cãi lộn, trong khi người lâm chung nghe tiếng khóc của quý vị họ sẽ bấn loạn tinh thần và họ mất chánh niệm và sẽ đi vào cõi xấu
Nếu trong thời gian cấp bách này mà không mời thỉnh được một vị Thầy để làm chủ lễ hộ niệm cho người thân mới qua đời thì đừng chờ đợi nữa mà tất cả thân quyến hãy tập trung chung quanh giường của người thân mới chết mà chấp tay niệm lớn danh hiệu A Di Đà Phật (tôi nghĩ không ai đã từng đi chùa mà con cháu lại không thuộc được 6 chữ: “Nam Mô A Di Đà Phật” không cần lấy Kinh, lúc đó đừng có dại mà chạy đi kiếm kinh Địa Tạng, đừng có dại mà tụng kinh Pháp Hoa, lúc đo trong thời gian này từ 1 phút đồng hồ sau khi chết cho đến 8 tiếng chỉ niệm Phật hiệu A Di Đà và nhớ càng đông chừng nào càng tốt chừng đó) để trợ niệm cho người chết, càng tụng nhiều, tụng sớm bao nhiêu thì sự trợ niệm cho người chết càng có kết quả tốt đẹp bấy nhiêu
3.Nếu lúc người chết còn sống có thói quen niệm 6 chữ: “Nam Mô A Di Đà Phật” thì ngay lúc này quý vị phải niệm đủ 6 chữ “Nam Mô A Di Đà Phật”
Nếu lúc còn sống người chết có thói quen niệm 4 chữ “A Di Đà Phật” thì ngay lúc này quý vị phải niệm đúng 4 chữ “A Di Đà Phật”. Tại sao? Tại vì khi người đó niệm 6 chữ mà quý vị niệm 4 chữ làm cho họ mất chánh niệm, bằng chứng là khi quý vị theo gen của Thầy, đầu tiên Thầy cho nửa tiếng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” nhẹ nhàng rồi sau đó Thầy cho niệm nhanh vừa, rồi nửa tiếng nữa Thầy cho đi kinh hành, nửa tiếng nữa Thầy cho lạy hải triều âm thì quý vị thấy nó an lạc lắm, nhưng theo rơ của những vị tu theo Pháp Sư Ngộ Thông là niệm A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật liên tục rất nhanh thì quý vị niệm không được, tại vì nó khác với tập khí bình thường của quý vị, lúc này còn tỉnh táo mà quý vị niệm không được thành ra quý vị chớ dại, mình thích niệm 4 tiếng mà người đã chết niệm 6 tiếng thì phải tùy thuận người đó mà niệm cho họ vãng sanh
4.Nếu người chết lúc còn sống có thói quen khi niệm Phật hiệu theo kiểu chậm rãi, nhẹ nhàng, khoan thai, rõ ràng thì lúc trợ niệm quý vị phải niệm theo đúng kiểu người chết lúc còn sống thường hay áp dụng, nếu quý vị làm trái lại sẽ có hại cho người chết hơn là có lợi cho người chết
5.Nếu người chết lúc còn sống có thói quen khi niệm Phật hiệu thật nhanh thì quý vị phải theo đó mà trợ niệm thì mới có kết quả, quý vị phải biết căn cơ của mỗi người đều khác nhau cho nên đừng lấy cách niệm Phật của mình mà áp dụng cho kẻ khác thì có lợi không thấy đâu mà chỉ thấy hại. Quý vị phải biết mục đích niệm Phật là gì? là để cho tâm được an lạc, nếu cách niệm Phật của mình không hợp với căn cơ của người mới chết thì dễ làm cho thần thức của người mới chết không được hoan hỷ thì cảnh xấu sẽ đến mà cảnh tốt sẽ không được đến
6.Trong lúc hộ niệm đọc danh hiệu Phật trợ niệm cho người mới chết không cần có chuông mõ, lúc này là lúc 8 tiếng chạy đua với thời gian, ngoại trừ trường hợp lúc nguời chết còn sống có di chúc thích trợ niệm đi kèm với tiếng khánh hay mõ thì mình mới áp dụng
7.Sau khi trợ niệm đủ 8 tiếng đồng hồ kể từ khi người thân qua đời, quý vị bắt đầu dùng hai ngón tay chạm nhẹ vào lòng bàn chân của người mới chết để xác nhận xem thần thức của người chết tái sanh về cõi nào. Nếu hai ngón tay của quý vị chạm vào lòng bàn chân mà có cảm giác nóng ấm thì đây là triệu chứng cho biết người mới chết thần hồn của họ bị sa đọa vào địa ngục, nhớ sau 8 tiếng là cơ thể bắt buộc bị lạnh, mà rờ trước 8 tiếng cũng không đúng nữa, mà phải sau 8 tiếng quý vị set dùm Thầy cái đồng hồ reo: thí dụ chết lúc 1 giờ thì set một đồng hồ reo 8 tiếng exactly, vừa đúng 8 tiếng xong là ngưng niệm Phật đánh 3 tiếng chuông, rồi bắt đầu lấy 2 ngón tay, cái điểm rờ là lòng bàn chân của người chết mà “Nam tả nữ hữu”, người nữ thì rờ vào lòng bàn chân bên phải của họ, người nam thì rờ vào lòng bàn chân bên trái. Nếu hai ngón tay của quý vị chạm vào lòng bàn chân mà có cảm giác nóng ấm thì đây là triệu chứng cho biết người mới chết thần hồn của họ bị sa đọa vào địa ngục, nếu hai ngón tay chạm vào lòng bàn chân của người chết mà có cảm giác lạnh giá, lạnh buốt thì hãy tiếp tục dùng 2 ngón tay này chạm vào đầu gối của người mới chết, chạm vào cả hai bên trái phải luôn, nếu hai đầu ngón tay có cảm giác nóng ấm thì thần hồn của người chết tái sanh vào cõi súc sanh: trâu, bò, heo, chó, gà, vịt…nếu hai đầu ngón tay có cảm giác lạnh giá khi chạm vào đầu gối của người mới chết thì hãy dùng hai đầu ngón tay này chạm vào vùng bụng của người mới chết, vị trí chính xác nhất mà hai đầu ngón tay phải chạm vào thân thể người mới qua đời là cái lỗ rốn, sờ bàn tay không chính xác, nếu hai đầu ngon tay có cảm giác nóng ấm thì thần hồn của người chết đã đọa vào cảnh quỹ đói, nếu ngay lỗ rốn của người chết mà lạnh giá thì quý vị hãy tiếp tục dùng hai đầu ngón tay này chạm vào ngực của người mới chết, điểm chính xác nhất mà hai đầu ngón tay phải chạm vào tử thi là vị trí của quả tim (ngay cái ấc chỗ chấn thủy), nếu hai đầu ngón tay có cảm giác ấm ngay chấn thủy thì thần hồn của người chết được tái sanh vào nhân đạo hay cõi người, còn nếu hai đầu ngón tay có cảm giác lạnh giá ngay chấn thủy thì tiếp tục dùng hai đầu ngón tay chạm vào hai vai, nếu hai đầu ngón tay có cảm giác ấm ngay vai thì thần hồn người chết đã tái sanh vào cõi A Tu La, nếu hai đầu ngón tay có cảm giác lạnh giá ngay vai thì hãy tiếp tục dùng hai đầu ngón tay chạm vào mí mắt của người mới chết, nếu hai mí mắt của người mới chết có cảm giác nóng ấm thì thần hồn của người mới chết được thác sanh vào một trong 6 cõi của tầng trời Dục giới là cõi trời có vợ, có chồng gồm cõi trời thấp nhất là Tứ Thiên Vương, thứ hai là Đao Lợi Thiên, thứ ba là Dạ Ma Thiên, thứ 4 là Đâu Suất Đà Thiên, thứ 5 là Hoá Lạc Thiên, thứ 6 là Tha Hóa Tự Tại Thiên. Nếu hai mí mắt của người chết có cảm giác lạnh lẽo thì quý vị hãy tiếp tục dùng hai ngón tay này chạm vào trán của người mới chết, nếu quý vị có cảm giác trán của người mới chết nóng và ấm thì thần hồn của người mới chết được thác sanh vào 18 cõi trời sắc giới, còn hình tướng nhưng hết dâm dục vợ chồng, nếu trán của người chết lạnh giá thì quý vị hãy dùng hai ngón tay chạm vào chân tóc của người mới chết, nếu chân tóc của người mới chết có cảm giác nóng ấm thì thần hồn của người mới chết được tái sanh vào các cõi trời vô sắc giới (cõi trời chỉ có tâm thức mà không có thân tướng, là những cõi trời thuộc về Phi tưởng, Phi phi tưởng cao lắm), nếu chân tóc của người mới chết có cảm giác lạnh giá thì quý vị hãy tiếp tục dùng hai đầu ngón tay chạm vào đảnh, quý vị thấy đảnh của đức Phật Di Đà, Phật Thích Ca có cục thịt cao không, nếu chỗ này có cảm giác nóng ấm thì thần hồn của người chết chắc chắn 100% là được cửu phẩm liên hoa trong 9 phẩm ở Tây Phương Cực Lạc được vãng sanh, hoa nở thấy Phật rồi đó
8.Nếu người chết quá 8 giờ đồng hồ toàn thân đều giá lạnh khó tìm ra chỗ nóng lạnh sau cùng ở đâu để biết được thần hồn của người chết tái sanh về cõi nào, bởi vậy Thầy dạy là phải set đồng hồ reo, qua khỏi giờ đó là bị trật, chết 1 giờ thì phải set 9 giờ, còn nếu dùng tay thử trước 6 tiếng đồng hồ thì sẽ không được chính xác, vì trong thời gian này cơ thể sẽ còn nhiều chỗ còn hơi ấm, nhất là quả tim, cho nên muốn chính xác phải chờ hơn 6 tiếng cũng đừng để quá 8 tiếng, mà phải chính xác nhất là 8 tiếng đồng hồ theo như trong Kinh dạy thì mới chẩn đoán chính xác người đó được
9.Tại sao ta phải chẩn đoán người mới chết đó xem thần hồn người chết thác sanh về cõi nào, điều này rất quan trọng, mời quý vị theo dõi trường hợp người mới chết đó thần hồn bị sa đoạ vào Địa Ngục Vô Gián, mà lúc còn sống người đó không làm được chút phước thiện nào cả, lại còn phạm vào một trong ngũ tội vô gián: giết cha, giết mẹ, giết thánh tăng A La Hán, làm thân Phật chạy máu và phá hòa hợp tăng với lực của phàm tăng thời mạt pháp này tôi nghĩ không ai có thể cứu người đó thoát khỏi được Địa Ngục Vô Gián, ngay cả ngài Mục Kiền Liên là vị thần thông số 1 mà không cứu được ngài Mục Liên Thanh Đề thì thời này những phàm tăng như Thầy Thông Lai lấy tư cách gì mà cứu cho các người đó nhưng nếu thân quyến của người mới chết có thần hồn sa đọa vào chốn địa ngục, biết làm theo lời của Kinh Địa Tạng Bồ Tát bổn nguyện dạy, biết làm phước, in kinh đại thừa ấn tống, phóng sanh, tụng Kinh Địa Tạng hồi hướng cho người mới chết đó thì những tội kia cũng từ từ thuyên giảm và sau khi hết nghiệp Địa Ngục, nếu có tái sanh vào cõi người nhờ nhân lành này mà được gặp Phật pháp, có cơ hội được tu hành để được thoát khỏi điạ ngục, ngã quỷ, súc sanh và nhất là có thể vãng sanh về 10 phương cõi Phật
Còn nếu người mới chết bị đọa vào loài ngả quỷ do lúc còn sống gieo nhân bỏn sẻn, tham lam, không biết bố thí giờ chết đi bị đọa vào loài ngã quỷ, nếu lúc lâm chung trong khoảng từ 1 giờ cho đến 8 giờ thân quyến nhất tâm vì người mới chết đó đọc tụng Kinh điển Đại Thừa (có phải trong kinh Pháp Hoa: dù cho tạo tội hơn núi cả, chẳng nhọc Diệu Pháp vài ba hàng, rồi trong kinh Địa tạng trừ 5 tội vô gián ngoài ra đọc danh hiệu Đức Địa Tạng mà lọt qua lỗ tai có phải được 100 lần sanh lên cõi trời Đao Lợi không? Tôi không nói vãng sanh về Cực Lạc mà tôi nói thoát khỏi đường ác sanh lên các cõi trời hay cõi người), niệm danh Phật hiệu, dùng tài sản, vật báo của người mới chết đó đem in kinh, ấn tống, tu bổ chùa tháp, mua chim, cá phóng sanh, bố thí cho kẻ nghèo khổ, nhờ phước lực này thì phần hồn của người chết đó có thể thoát khỏi kiếp sống đói khổ của loài ngã quỷ, được tái sanh vào cõi trời cõi người, nhưng về cõi Cực Lạc thì chưa đủ, tại sao tôi nói là được? loài ngã quỷ là loài hóa sanh hay thai sanh? loài hóa sanh…. mà loài hóa sanh họ chỉ cần phước báo là họ hóa sanh rất là dễ, có phải đức Phật Thích Ca có lễ tắm Phật: Nam Mô Ban Sơ A Tỳ Ngục Tốt Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật hong, ngài bị đọa làm tên ngục tốt trong địa ngục do tội đánh mẹ sau này ngài mới phát tâm lãnh hết tội của những đứa bất hiếu, từ đó ngài bay lên cõi trời trong nháy mắt
Còn nếu thần hồn của người mới chết sa vào loài súc sanh mang lông đội sừng khổ sợ, nếu thân quyến của người đó có làm phước đức in kinh, tu sửa chùa tháp, phóng sanh bố thí, thần hồn của người mới chết đó chưa thể thoát kiếp súc sanh ngay, tại sao, vì thai sanh, nó phải trả cho hết nhưng mạng sống của con vật bao lâu quý vị? ngắn lắm có nhiều con heo sinh ra thì nuôi đến 6 tháng đem vô trại heo bán, mà có con heo nuôi chừng hai tháng mới lớn lớn bị bò cạp cắn có hông? thì do trên này con cháu làm phước thành ra coi như bị con bò cạp cắn cái chết, bà chủ heo nói ông trời ở không có mắt, nhưng người có thiên nhãn thì thấy rõ ràng là có mắt đó, vì sao? vì loài thú là loài thai sanh, phải chui vô bụng mẹ có thân tứ đại cho nên phải chờ cho đến khi thọ mạng thân thai sanh chấm dứt mới được tái sanh vào cõi trời cõi người
Còn loài địa ngục và loài ngã quỷ là loài biến hóa sanh, cho nên có thể hóa sanh từ cảnh giới địa ngục, ngã quỷ lên cõi người trong chớp mắt, Còn nếu thần hồn người chết tái sanh vào cõi người thì thân quyến của người mới chết đó có làm phước thiện gì thì người đó sẽ hưởng được những phước báo hiện tiền của cõi người như làm ăn phát tài giàu sang, đang làm ăn suy sụp, con cháu ở tiền kiếp đang cúng chẳng hạn như hồi sáng này gia đình cô Diệu Hương, Diệu Lý làm và hồi hướng cúng vậy thì thân quyến của cô đang ở nước Ấn Độ - đại khái như vậy…ở đó đang thiếu thốn tự nhiên ra mua vé số là trúng số, đại khái như vậy họ hưởng những phước báo khác không phải xả báo thân cõi người liền
10.Nếu có người thân qua đời mà dùng hai ngón tay chẩn đoán xem thần hồn người chết tái sanh vào đâu, nếu sau khi chẩn đoán thần hồn người mới chết đó bị đọa vào 3 đường ác: Địa Ngục, Ngã Quỷ, Súc Sanh thì quý vị chỉ có thời gian làm phước hồi hướng cho người đó trong vòng 49 ngày mà thôi, đó là thời gian quyết định 49 ngày, nếu quý vị để quá 49 ngày thì không cứu được cho người đó
11.Trong thời gian có người thân qua đời (nếu người đó đầu thai vào loài người, loài trời hong nói rồi, còn địa ngục, ngã quỷ, súc sanh chỉ trong vòng 49 ngày để người đó cứu, thí dụ: họ đầu thai làm con chó đi, trong thời gian thân trung ấm đi tìm chỗ thọ sanh thì tự động quý vị làm phước hồi hướng do đó thân trung ấm được hưởng phước là nó đang từ màu đen đổi thành màu vàng, màu trắng để nó đi lên các cảnh giới cao hơn. Bây giờ cái bong bong mới bơm vô khoảng chừng một ký lô hidro bay được 50 mét, khi bơm 100 kg bay lên tới mây xanh, bơm 200 kg bay ra tuốt ngoài chân không luôn, thành ra quý vị làm phước trong vòng 49 ngày thân trung ấm của người quá vãng sẽ được lợi rất nhiều
12.Trong thời gian qua đời chúng ta nên chọn loại kinh nào tụng để hồi hướng cho thân nhân? Niệm Phật hiệu A Di Đà chỉ niệm trong khoảng thời gian 8 tiếng khẩn cấp đầu tiên, không tụng kinh nào hết vì lúc đó hy vọng cho A Lại Gia Thức người đó được vãng sanh, sau đó những thời khóa cầu siêu cho hương linh người mới mất như: lễ phát tan, lễ nhập quan, lễ động quan, quý vị nên tụng kinh nào cho hương linh người mới chết đây? Trong những tuần thất cho đến 49 ngày ngoài kinh Địa Tạng, Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ con cháu người quá cố nên tụng Kinh Lương Hoàng Sám và Kinh Từ Bi Thủy Sám vì lý do một cái tích là bà Hy Thị, vợ của vua Lương Võ Đế, lúc còn sống vua xuất kho xây 72 ngôi chùa nuôi tăng bố thí làm cho bà mất đi tài sản, bà ghét Thầy chùa, ghét bố thí cúng dường vì làm hao tổn tài sản kho của nhà vua cho nên với tâm đó bà chết bà đoạ thành con mạng xà, khi chết rồi bà mới về báo mộng cho vua Lương Võ Đế hãy nghĩ tình phu thê, vua mới nhờ ngài Chí Công là một Cao Tăng thời đó, ngài mới soạn ra bộ kinh Lương Hoàng Sám, tức là bộ Kinh sám cho ông vua họ Lương, sám hối dùm mà bà kia được thoát, vua là chồng sám hối dùm mà còn được, quý vị là con ruột sám hối có tác dụng không? được quá đi chớ, bây giờ bà già lạy không được mà thân này còn 50% là máu quý vị đó, quý vị lạy một lạy là trong này mẹ được nửa lạy, cha được nửa lạy rồi, vợ chồng như áo, anh em như thủ túc, cha mẹ còn hơn tay chân là máu là mủ, ráng tụng 2 bộ kinh này để cho hương linh sám hối tội lỗi đã tạo khi còn sống, ngoài 2 bộ kinh A Di Đà, Địa Tạng, Lương Hoàng Sám và Thủy Sám nếu quý con, quý cháu của hương linh vừa mới qua đời có lòng thành tâm thì tụng bất cứ bộ kinh Đại Thừa nào của Phật cũng đều có ích lợi như kinh Hoa Nghiêm, kinh Pháp Hoa, kinh Đại Bát Niết Bàn, kinh Bát Nhã, kinh Kim Cang rồi hồi hướng công đức cho hương linh thì kẻ còn người mất đều được ích lợi cả, kể cả kinh Pháp Hoa. Vì sao? chỗ nào có quyển Kinh này không cần cất tăng phường, không cần dựng tháp thờ xá lợi vì đã có toàn thân của Như Lai ở trong bộ Kinh này rồi, có phải có phước nào bằng tụng kinh Pháp Hoa không? Nuôi cho 1 triệu người từ trẻ nhỏ cho đến 80 tuổi, rồi mặt già, mặt nhăn, độ cho họ chứng A La Hán hết rồi mà không bằng người thứ 50 trong pháp hội trì Kinh Pháp Hoa thì quý vị thấy Kinh Pháp Hoa có phước báo kinh khủng lắm quý vị nhìn thấy chùa của mình đây, hằng ngày Thầy đều tụng Kinh Pháp Hoa, khi tụng rồi thì Phật tử không nở bề ngang cũng nở bề dọc, đều phát tướng hết, người trẻ thì sổ sữa, người già thì sổ máu ra, thành ra đều ngồi dựa vách tường hết, Thầy có mở rộng ra cũng vẫn chật hết trọi à
13.Nếu thỉnh được vị Tăng tu hành thanh tịnh lại làm lễ cho hương linh vừa mới qua đời thì quý vị và người qua đời có đại phước, nhưng mà thời buổi giờ kiếm làm sao được thanh tịnh Tăng đây quý vị? Tôi không nói Thánh Tăng, tôi chỉ nói thanh tịnh Tăng. Ở thời mạt pháp chỉ có 3 loại: ác Tăng, hiền Tăng và thanh tịnh Tăng, chớ thánh tăng thì không có.
Định nghĩa thánh tăng là gì? là người chứng một trong 4 quả thanh văn: Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm và A La Hán, tôi không nói những quả vị đó, tôi nói đến thanht tịnh tăng. Trong này quý vị định nghĩa thế nào là thanh tịnh tăng?
Cô Phật tử ở Missouri nói là vị Tăng giữ giới nhưng giải nghĩa ra: nói giữ giới thì làm sao biết ổng phá giới, ổng lại có 1 tiếng đồng hồ làm sao biết ổng phá giới được, ổng lại phải y áo đàng hoàng, như tôi phá giới làm sao tôi nói với cô được, trừ khi cô có ngũ nhãn như HT.Tuyên Hóa đi phải hong?
Phật tử Diệu Trung: thưa Thầy với con mắt thường của chúng con làm sao mà biết được tâm của vị Thầy đó, chỉ cần vị Thầy đó giữ tam nghiệp thanh tịnh, đem hết lòng của mình ra mà hộ niệm cho người đó thì đương nhiên có nhiều phước báo hơn, nên chúng con gọi đó là thanh tịnh tăng. A Di Đà Phật...
Hạnh Phước: nói ông thanh tịnh tăng lại tụng mà hổng nói gì hết, không chào, không đọc Pháp Danh của người chết, cũng không hỏi người đó sanh tuổi gì, chết ngày nào, mấy giờ phải hong?
Cô Phật tử nói dựa vào thân khẩu ý, dựa vào tư cách tụng kinh, oai nghi của vị Thầy đó để đánh giá thanh tịnh tăng
Diệu Tịnh: vị Thầy không có ra giá...
Thầy: Nếu thỉnh được 1 vị tu hành thanh tịnh đến làm lễ cho hương linh vừa mới qua đời thì tốt, còn nếu không thỉnh được vị tăng thanh tịnh thì tự con cháu của hương linh phải thành tâm tụng lấy rồi hồi hướng cho hương linh còn có lợi ích hơn, tại vì chẳng có ai thương cha mẹ bằng chính mấy đứa con, mà nói cái đó thì tâm ông Thầy đâu có thương đâu, làm ơn đọc trong kinh Địa Tạng chưa thấy ông Thầy nào tụng dùm hết mà chính là ngài Quan Mục, bà thánh nữ Bà La Môn tự tụng, là tiền thân của đức Phật Địa Tạng thì mình áp dụng theo kinh mà nói, làm sao mà biết thanh tịnh tăng thì nãy giờ nhiều vị góp ý: giữ giới thanh tịnh, thân khẩu ý không tham, sân, si, không ra giá, không tham tiền....điều này không khó, vị tăng thanh tịnh không bao giờ đặt điều kiện thù lao khi đến tụng kinh, tức là đến tụng vô điều kiện vậy thôi hà, với tinh thần của một tổ chức Phật giáo bất vụ lợi mà lấy tiền làm gì, người mà nhiếp được Ý, người đó là thánh. Tuyệt đối đừng bao giờ mướn Thầy tụng chuyên nghiệp.
Danh từ Thầy tụng khác với nhà sư và Tỳ Kheo, có nhiều người lầm lắm. Ở Việt Nam có những người khóc mướn, gia đình nào thiếu con cháu thì họ thuê khóc mướn, họ khóc hay lắm: "Ối dzời ơi, cha mẹ của người ta ơi...chớ hong phải bố mẹ của tôi…
Định nghĩa Thầy tụng: là những người học thuộc một số Kinh kệ cầu siêu rồi ra hành nghề Thầy tụng để kiếm cơm, họ tụng kinh cầu siêu để lấy tiền và xem đó là một nghề để nuôi vợ, nuôi con, họ ăn thịt và uống rượu, có vợ con như người thế tục, họ cũng cạo đầu mặc áo cà sa nhưng chưa thọ giới Tỳ Kheo cho nên nhân gian gọi loại người hành nghề thợ tụng này là Thợ tụng hay Thầy tụng Kinh mướn
14.Khi có thân nhân qua đời nếu muốn cho thân nhân đừng bị vạ lây thì chớ bao giờ giết hại sinh vật cúng tế quỷ thần để cầu siêu cho người chết vì làm như vậy chỉ làm khổ cho thần hồn của người mới chết phải bị vạ lây, tốt nhất là nên cúng chay và vì người chết mà ăn chay trong vòng 49 ngày, đó là quý vị thương người thân mới chết và làm đúng theo lời Phật dạy
PHẦN THỂ XÁC:
1.Nếu người chết có làm di chúc về hậu sự tang gia thì thân nhân người mới chết phải theo đúng như di chúc mà thực hiện, không được làm trái ý sẽ làm cho họ nổi sân, giận hờn mà phần hồn sẽ bị đọa vào ác đạo
2.Nên làm đám tang đơn giản, không nên tổ chức linh đình, xa xí làm hao tổn phước báo của người chết, giả sử người đó đòi hỏi có một triệu đô la phước báo để sanh về cõi Phật, quý vị mướn kèn tây, rước ca sĩ, hát nhạc tùm lum sẽ làm hao tổn phước báo của họ, làm cho họ không đủ phước báo để về cõi Phật
3.Trong lúc làm lễ nhập quan, tận lịm cho thân xác của người mới qua đời, quý vị phải yêu cầu vị Thầy lo tế lễ, phải mặc cho người quá cố áo Đà La Ni, tại vì trong kinh Phật có dạy chúng sanh tạo tội vô lượng, phạm ngũ giới, tứ giới, tỳ kheo, sau khi chết vị Thầy đó dùng Phạn âm tiếng Pali hay tiếng sankrit mà viết thần chú Tỳ Lư Quán Đảnh lên áo Đà La Ni, mặc cho người chết, nhờ oai lực của thần chú khiến cho người mới chết không bị đọa vào 3 ác đạo, Thầy không nói là vãng sanh mà không đọa vào đường ác vì trên bài chú đó có một quy luật, nhớ bộ áo, bộ chú đó không phải tự nhiên mà mặc, lấy một áo màu vàng người ta mới vẽ lên (tất cả các sớ, điệp đều viết trên màu vàng chứ không viết trên màu đen, do đó cái áo đà la ni có màu vàng), viết chú Tỳ Lư Quán Đảnh lên vải, vị Thầy đó viết xong phải để lên bàn Phật và trì đúng 108 biến chú Tỳ Lư Quán Đảnh, rồi lấy nước đó rải lên áo đó thì áo đó mới có năng lực bảo vệ cho người chết không bị đọa vào ác đạo, đó là năng lực của thần chú mà có chớ không phải năng lực của người chết mà chỉ mặc áo nhờ bài chú này do 62 ức hằng hà sa chư Phật đời quá khứ đã nói để cứu cho chúng sanh trong phút lâm chung
4.Nếu người chết khi còn sống có di chúc lúc họ chết phải đốt giấy tiền vàng bạc thì phải làm vui lòng họ vì họ còn chấp nhất, đốt này không phải siêu mà để làm vui lòng họ, nếu không có di chúc đốt giấy tiền vàng bạc thì tốt hơn hết là không nên đốt vì việc đốt này sẽ rơi vào 2 trường hợp:
Trường hợp 1: Nếu đốt giấy tiền vàng bạc mà có thể tiêu xài dưới âm phủ thì sẽ làm cho họ ham xài tiền vàng mã mà quên đi chuyện đến chùa nghe kinh nghe kệ để giải thoát khỏi 3 đường ác
Trường hợp 2: Nếu đốt tiền vàng bạc mà không xài được ở dưới âm phủ thì quý vị đã đốt phước của người chết vì số tiền vài chục đô la, vài trăm đô la để mua tiền vàng bạc giả có thể mua gạo giúp cho người nghèo ăn trong mấy ngày có phải hong?
Tại sao Thầy nói người đó có di chúc là phải đốt vì đốt giấy tiền vàng bạc tốn có 50 đô, mà để cho họ nổi sân lên đó...một chút lửa sân đốt hết rừng công đức của họ lúc họ còn sống, thành ra Thầy dùng 50 đô để giữ lại kho tàng của họ
Còn nếu không di chút thì không nên đốt, giả sử mà xài được như vừa rồi MT đốt cho ba nó nào là người hầu, xe, người đẹp, giả sử mấy thứ này xài được thì khi Thầy cầu siêu cho, ổng đâu có thèm về cõi Phật đâu, ổng ở dưới mà xài, sang năm MT đốt tiếp nữa, mà xài được cũng không nên đốt, mà xài hong được đốt xuống thì vô ích, làm việc vô ý nghĩa
5.Có nên để tang người quá cố không và thời gian để tang là bao lâu?
Trong lịch sử Phật giáo, khi Phật qua đời quý vị có thấy ai để tang Phật hong? Thật ra phong tục người Ấn và Hoa hoàn toàn khác biệt, chúng ta không thể lấy phong tục Ấn Độ mà so sánh với phong tục của người Trung Hoa được. Người Việt Nam chúng ta bị ảnh hưởng văn hóa của người Trung Hoa, quý vị có biết áo mũ rơm cây gậy hong? Cái tích là ngày xưa có một ông đậu Trạng nguyên bên Tàu, ngày ông thi đậu được vua mời vào Cung ban áo, mũ, cân đai để về làm quan, trên đường về quê để chuẩn bị nhận chức quan tri huyện thì được tin mẹ qua đời, ổng khóc lăn khóc lóc làm mất mũ của vua ban, áo của vua ban ông làm rách hết trọi, sau khi lo đám tang xong ông tỉnh táo: chết rồi mũ tui đâu? lính nói thượng quan khóc la trong mấy ngày nay làm rách áo và mũ đâu mất rồi con cũng không biết nữa, mà mặc bộ đồ này vô triều thì bị vua chém là khi quân phạm thượng, khi lo cho mẹ xong, ong sai mấy người trong gia đình lấy vải tang, những tấm phướng trắng may thành áo mặc, và chống cây gậy vì ổng khóc quá đi hong nổi ổng xỉu phải chống gậy, mũ quan hong có mới lấy rơm bện làm cái mão quan, bữa đó ổng đi vô triều trình thì các quan đại thần mới họp lại là ông này mặc gì, thì ổng mới kể là ổng vì thương mẹ quá mà khóc rách cái mũ, ông không muốn mang tội khi quân thành ra lấy rơm làm thành cái mão quan, lấy áo trắng mặc, cũng có đai đầy đủ hết, đức vua nói ông này có hiếu quá mới tha cho ông tội chết và ban lại cho ông cái áo quan và mũ quan, thành ra quý vị thấy trưởng nam cho mặc áo đó, đó là cái tích của người Tàu là vậy, chứ không phải của đạo Phật mình đâu, mà vì chúng ta ảnh hưởng của đạo Lão, đạo Nho, tam giáo đồng nguyên cho nên chúng ta mới có những phong tục
Mặc khăn tang, quấn khăn tang để tưởng nhớ công ơn cha mẹ sinh thành hay tưởng nhớ đến tình vợ chồng, người bạn đời của mình đã có mấy chục năm lo chia sẽ ngọt bùi với mình, trong nghi lễ Phật giáo Ấn độ không có phong tục này, nhưng khi đạo Phật được truyền qua Trung Hoa do ảnh hưởng của đạo Lão, đạo Khổng nên chư Tăng mới phương tiện cho lễ phát tan cho thân nhân phật tử mới qua đời, theo quan niệm của tôi thì để tang là một phong tục trả hiếu tốt cho nên tùy theo sự tự nguyện của thân nhân mà làm lễ phát tang và xả tang. Người có hiếu nhiều thì để tang tưởng nhớ cha mẹ 3 năm. (HT.Tuyên Hóa khi mẹ ngài mất, ngài ngủ ngoài mộ mấy năm để tang đó quý vị). Người có hiếu ít một chút thì 1 năm hoặc ít hơn nữa là có người thì 49 ngày và có người để tan 3 ngày. Tui có làm một lễ xả tang vừa ra ngoài huyệt, vừa bỏ hàm xuống là họ nói Thầy ơi làm lễ xả tang, xả tang tại đó, lột tang luôn, hỏi sao vậy? Con chuẩn bị về VN làm hôn thú cưới vợ rồi thành ra để tang cưới vợ không tốt, đó là người có đại hiếu đó, vừa đạp xuống lỗ coi như lột giấy tang giục luôn. Đến ngày hạ huyệt xong thì làm lễ xả tang ngay tại huyệt vì họ sợ mang tang xui xẻo và khó cưới vợ thành ra kêu là cưới vợ chạy tang.
6.Có nên rước ban nhạc tây, nhạc ta về làm rình rang cho người quá cố không? xin thưa là không vì làm như vậy chẳng giúp ít gì được cho người mới chết cả mà chỉ làm tổn phước của người đó mà thôi
7.Nếu người chết có di chúc là thiêu và mua hòm thật tốt để thiêu thì phải làm theo lời di chúc của họ. Ông N chọn chương trình thiêu, Ổng hỏi tôi xem hòm nào số 1. Tui hỏi chi vậy? ổng nói để thiêu cho nó sướng. Tui nói chết thiêu rồi thuê bà cho rồi đi. Mình mướn của nhà quàn xong rồi đến khi mình chết á, kêu MH đóng dùm cho cái hộp, rồi tôi khiêng bỏ vô đốt cho nó đỡ tốn hong, để tiền đó đi bố thí cho người nghèo có lợi hơn, Ông N chọn chết thiêu, mà ổng mua supper hòm luôn, mắc nhất trong đó, ổng nói mắc công khiêng từ hòm giả qua hòm thiệt nó lạnh lẽo lắm. Tui nói vô đó bấm nút một cái là tui tụng chú, lửa đốt lên đến 1800 độ không có lạnh đâu. Ổng chết mà còn sợ lạnh đó quý vị. Ông này sang đó, đa số người ta chết thiêu là thuê cái hòm, rồi đặt cái học trong này là xong.
Hỏi: Năm ngoái về dự lễ tang của nhạc gia, khi đưa quan tài từ chùa ra đến nghĩa địa, Các Thầy biểu người nào để tang thì cởi dép ra, đi bộ từ trong chùa ra đến nghĩa trang rồi xả tan tại chỗ luôn, con không hiểu tại sao?
Đó là tập tục của địa phương, của từng vùng ở bên Tàu, cũng như là Thầy đã từng làm đám mà một số Phật tử, người ta bắt Thầy phải mua cái siêu sắc thuốc, chuẩn bị làm lễ động quan rồi đó Thầy phải cầm tay đập cái bốp, để chi vậy? họ nói là đặng cho siêu, cầu siêu mà hong có siêu sắc thuốc là hong có siêu, tôi đã đập rồi đó, tôi có đi đám đập đó.
Diệu Trung phát biểu: “Hồi xưa gần nhà con có người đó bệnh, sắc thuốc uống rồi khi người đó đi thì đập bỏ để cho cái siêu đi theo người đó”
Thầy giảng: đám này tui không nói tên, còn thờ trên này nè, họ mua cái siêu mới, tui phải đập cái siêu mới toanh à, hỏi chi vậy? mấy bà nói đặng cho siêu, tại vì Thầy tụng cầu siêu mà hong có cái siêu là hong siêu về Cực Lạc, trời ơi tưởng vậy rẻ quá cái siêu có mấy đô... tui đâu cần mở Phật thất đâu, chùa tôi 50 tên, mua 50 cái siêu tui đập là siêu hết, đâu cần cất chùa, giảng kinh thuyết Pháp để mà nó sửa đổi tâm ý, tui đập cái siêu đó...tui hỏi đập làm gì? họ nói Thầy cứ đập đi, Thầy tụng cầu siêu mà hong đập là hong được, tui nói: vậy phải đập cái cầu nữa chứ, ra cầu Bình Lợi ở VN mình đập cái cầu, còn ở đây mình ra cầu I-90 đập cái cầu một cái rồi đập cái siêu nữa thì mới siêu chứ, đó không phải là của Phật đâu mà là những tập tục
Nếu người chết có di chúc sau khi chết đem xác đi thiêu mà không có ghi rõ là mua quan tài hay thuê quan tài thì tốt nhất là nên thuê vì như vậy sẽ đỡ tốn phước của người chết. Tôi bảo đảm khi còn sống họ nghĩ như vậy nhưng khi đến họ chết rồi đó. trong kinh Địa Tạng nói họ ở dưới các ty sở, họ thấy làm phước là tốt, đốt phước là họ khổ, thành ra ngày đêm trông ngóng thân nhân làm phước, thành ra lúc này họ đã thấy địa ngục họ đã sợ rồi
8.Có nên làm lễ mở cửa mạ cho người chết chôn hay không?
Chết thiêu không có làm lễ mở cửa mạ, chết chôn có mở cửa mạ.
Phật tử Minh Sơn phát biểu: Một vị Thầy giảng Nghi thức mở cửa mạ như sau:
Cây mía lao: tượng trưng cho công lao cha mẹ
Thang 9 nấc
5 loại đậu theo phong tục của Tàu thì tượng trưng cho ngũ thường: nhân, lễ, nghĩa, trí, tính
4 gốc mời ông thổ địa cho phép để sau này cho đi lên 4 nấc thang
Con gà trống: kéo chạy dòng dòng, con gà gáy để cho thần thức của người đó tỉnh dậy
Diệu Trung phát biểu: Bạch Thầy theo lời đức Phật nói thì khi mình chết đi thì phần hồn đã đi rồi mà sao còn mở cửa mạ cho cái hồn ở dưới lên là sao? Con không hiểu chỗ đó à. A Di Đà Phật
Thầy: chết sau khi 8 tiếng, khi mà chôn 3 ngày là thần thức nếu về cõi trời đã bay mất rồi, còn về Cực Lạc cũng đi mất rồi đâu phải chờ 9 nấc thang mới đi lên được, từ đây lên cõi Cực Lạc 10 muôn ức cõi Phật, cái thang có chút xíu à làm sao đi, mua mía lao là nhớ đến công lao mẹ già, như vậy mấy thằng bất hiếu coi như đám giỗ của mẹ mua 10 cây mía là hết tội phải hong?
Tôi giải thích cho nghe:
Tôi cũng phải học qua cái đó, ở đây tôi cũng đã từng làm lễ, có những người họ chôn, họ nói ông Thầy mở cửa mạ cho họ mà mình mang tiếng ông Thầy mà hong biết nghi thức đó thì họ nói là ông Thầy dỏm. Vì chúng sanh mê tín nên tôi mê tín, từ đó họ mới đến chùa và nghe pháp, nếu mình không làm cái đó thì ông Thầy này dở quá mở cửa mạ mà cũng không biết, thì không thèm nghe nữa, quý vị có hiểu Thầy nói hong? trước là dùng dục câu vắt, sau là dùng trí huệ để nhổ, dùng phương tiện đó còn đỡ hơn, đức Phật nói Nan Đà em tu đi rồi anh sẽ cưới vợ trời cho, thành ra cái đó là phương tiện
Nghi thức mở cửa mạ:
a.Thang có 2 loại: loại 3 nấc và 9 nấc
3 nấc tượng trưng cho 3 cõi: giục giới, sắc giới và vô sắc giới, dành cho người tu thiền, người tu thiền phải có 3 nấc thang, họ thoát ra ngoài 3 cõi mà không về Tịnh Độ
9 nấc tượng trưng cho 9 phẩm hoa sen, dành cho người tu Tịnh Độ
b.Năm loại đậu biểu tượng cho thân ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức còn bên Đạo Nho giải thích là ngũ thường: nhân, lễ, nghĩa, trí, tính
c.Mía lao tượng trưng cho, họ nói là từng con người chúng ta như từng mắt mía, chúng ta lột hết cái này nó lên cái khác, từng mắt mía, từng mắt mía tức là về cái luân hồi đó, hết kiếp này rồi đến kiếp khác, coi như bữa nay ông này đã đi hết ngọn mía rồi, thành ra bữa nay ông chống gậy đi lên 3 cõi và đi về 9 phẩm
d.Con gà (phải là gà trống) họ kêu là túc kê là con thần gà, nó có tiếng gáy đánh thức người ta dậy, họ kéo con gà đi 3 vòng mở cửa mạ rồi con gà hổng đi đâu nữa, 5 loại đậu khi cúng xong họ đổ ra, thì con gà ăn đậu đó nó no say rồi, nó lẩn quẩn ngay mạ đó, rồi ngày mai nó gáy đánh thức người đó hãy tỉnh dậy đi. Đó là giải thích như vậy, chứ Phật giáo không có cái đó
Nó có trường hợp thế này: có nhiều người chết chưa siêu, họ sanh vào cảnh giới cô hồn, gọi là nhân phi nhân: là người mà mất thân người rồi, chưa đi đầu thai, loại đó là loại nào, thay vì tới 80 tuổi mới chết nhưng mới 45 tuổi họ bị tai nạn chết đi, họ chưa có tới số, ở dưới âm phủ thì không có bắt, về cõi trời thì chưa về, thành ra họ nằm trong loại kêu là cô hồn lang thang uổng tử đó, họ lang thang về cái gò mạ của họ, bám vào thân là của họ, cái mạ là cái nhà, thành ra có rất nhiều ma ở ngoài nghĩa địa quý vị à, thành ra người ta mới cúng là cúng cho những oan hồn uổng tử.
Ngoài ra, còn có bộ Tam Sơn nữa là cúng cho mấy ma cũ, giống như ở tù mình nhập gia phải mời ăn tân gia đó, thành ra cúng Tam Sơn là cúng cho các thổ thần Hoàng, đất đai, không phải là cúng cho cái vong, phải làm đủ như vậy...
Đối với đạo Phật mình ra đó chỉ cần đọc chú phá địa ngục chơn ngôn: "Án dà ra đế da ta bà ha", rồi dẫn họ về thôi, phổ triệu thỉnh chơn ngôn: "Nam mô bộ bộ đế rị dà rị đa rị đát đa nga đa da" đọc 3 lần là xong, đâu cần tốn mía, tốn gà gì đâu, cái đó không phải của Phật giáo, nhưng...nếu Phật tử yêu cầu vị Thầy đó cũng phải làm cho đúng để chi? 5 loại đậu, 4 gốc 4 cái loại đậu để cắm 4 bó nhang, ở giữa một cái, bên Việt Nam hồi đó các loại đậu rải mà gà không ăn hết, thì họ coi đậu xanh lên thế nào? đậu đỏ lên thế nào? đậu đen lên thế nào? Họ coi mộng đó ông Thầy cho biết ông này về cõi nào nữa, họ có bài kệ mà Thầy quên rồi, qua đây Phật tử thiêu riếc Thầy lục nghề rồi
Nó có chứ không phải là không, thật ra cái đó chỉ là những oan hồn chưa siêu thì họ bám vào nghi thức đó, có phải khi mở cửa mạ là quý vị cắm nhang hết tất cả các mạ không, rải gạo muối, rồi dĩa Tam Sơn, coi như thần Hoàng, thổ Địa với mấy quỷ sứ ở đó hưởng và họ cho phép, quý vị có hối lộ rồi đó, ma cũ ăn hiếp ma mới, phải có lễ nghĩa đầy đủ hong thôi tao nhốt mày ở đây
9.Nếu có thân nhân qua đời có nên theo tục lễ cúng tuần thất, cúng 100 ngày, cúng giáp năm, cúng giỗ hàng năm hay không?
Điều này có phải làm đó quý vị
Thứ nhất, thân trung ấm sau 7 ngày đi tìm chỗ thọ sanh mà tìm không ra thì họ phải nhờ phước lực của thân nhân cúng xuống sau 7 ngày, chẳng hạn như đi kiếm gia đình đó có tài sản 1 triệu đô la, mà người chết lúc còn sống chỉ mới tích được 900 ngàn đô la, nhờ thân nhân làm phước, in kinh ấn tống được 100 ngàn đô la thì chui vô để mà nhập thai nếu làm người, còn về cõi trời thì họ về ngay trong lúc đó chứ không chờ, chỉ có cõi người thì có thời gian là 49 ngày để chọn, còn họ đã lên cõi trời nếu quý vị cúng thì họ có thân đẹp hơn, mùi thơm hơn, cung điện nguy nga hơn thôi chớ hong có gì hết, còn cực lạc thì họ không bao giờ thèm đến ba cái đồ trong cõi tam giới này hết, quý vị để ý một cái
Cúng 100 ngày là sao?
Trong vòng 49 ngày mà quý vị làm không siêu được thì còn có lễ 100 ngày quý vị thỉnh chư tăng đọc kinh đại thừa, làm phước phóng sanh, bố thí để vớt thêm lần nữa, 100 ngày mà không được nữa thì cúng giáp năm cứu một lần nữa, nếu chưa chắc ăn thì Vu Lan làm một lần nữa, một ngày một đêm ở dưới địa ngục mà ngắn nhất là bằng 16 triệu năm ở dưới này, một ngày ở đây chỉ bằng mấy giây ở địa ngục, do đó mới vừa thả nó ra trại nó lại xách túi xuống dưới nhập trại nữa rồi, nên mấy quỷ sứ rất ghét nên đánh hoài
Ích lợi của những thời cúng cơm hàng năm là gì?
Con cháu của Diệu Nguyện có khi cả năm nó không đến chùa, nhưng mà ngày lễ ông Nội/Ngoại thì nó phải lạy đúng hong? Ít ra nó cũng lạy Phật, ít nhiều nó cũng lạy được chục lạy rồi, cũng nghe Kinh, nghe Pháp, nó cũng đã gieo duyên rồi, rồi ít ra cũng cúng cơm, Diệu Nguyện bỏ ra 50-100 mua cơm cúng cho đại chúng, mà cho 100 người ác ăn không bằng cho 1 người thiện ăn, cho 100 người thiện ăn không bằng cho một người giữ ngũ giới ăn, mà trong này có đến 50-60 người giữ ngũ giới, có phải là do cái phước đó mà thành ra mỗi năm đến như vậy đều gieo duyên cho con cháu đến với Tam Bảo, có phải hong, trong Kinh Pháp Hoa, một người tâm tán loạn vào trong tháp, co một ngón tay xá Phật cũng được phước, cũng được thọ ký thành Phật, huống gì nó vô đây quỳ lạy cả tiếng rưỡi, cả thời kinh 2 tiếng đồng hồ, nhờ nhân duyên đó mà con cháu của người đó đến chùa, mà thân nhân của người đó nếu còn trong đó thì được phước đó mà thác sanh về cõi lành.
TRƯỜNG HỢP CHẾT VÌ TAI NẠN:
Trường hợp người thân qua đời mà chết vì tai nạn: chẳng hạn như chết trên free way, chết bị bắn súng do băng đãng thì đầu tiên cảnh sát kéo dây cô lập cả mấy tiếng đồng hồ nên không có cơ hội để đến tụng kinh cho người chết như vậy, còn chết trên free way thì 911 đưa vô bệnh viện mà chết nó kêu quý vị rồi đưa vào nhà sát là quý vị đến đã bị trễ rồi phải hong? Quý vị làm gì để cứu cho người bị chết hoạnh tử thì nó là một bài Pháp khác nữa Thầy sẽ giảng trong tương lai
Trích “Điều cần làm cho người vừa mất” do TT. Thích Thông Lai thuyết giảng
Người thân bệnh và chết tại bệnh viện:
Khi có người thân hấp hối đang nằm ở phòng ICU trong bệnh viện, bị bệnh ung thư thời kỳ thứ tư, đã hết thuốc chữa rồi, bệnh viện nói chỉ còn một tuần nữa là chết hoặc 2 tuần nữa là chết hoặc 3 tuần nữa là chết
Trường hợp còn một tuần nữa chết, chúng ta sẽ làm gì?
Nó sẽ đưa ra 3 cái options:
Thứ nhất: rút dây, đa số những người còn một tuần nữa chết họ sống nhờ máy trợ tim, nhờ máy thở oxy và nhờ những live support: nước biển, syrum, truyền máu v.v…nếu mà rút hệ thống đó ra thông thường không quá 24 tiếng là người đó chết, tức là quyết định rút dây, nhưng mà trong trường hợp này quí vị có dám trong gia đình 5-7 người con có dám đưa ý kiến để cho bà già chết hong trong khi Bà còn một tuần nữa mới chết. Có dám hong? Không ai dám làm chuyện đó.Theo kinh nghiệm của Thầy làm chuyện đó thì đứa đó sẽ bị toàn bộ gia đình lên án sau khi Bà chết là bất hiếu, có không? đó là trường hợp bà không có di chúc và người bệnh ở trạng thái hôn mê, không nói được bị á khẩu, nếu người đó còn tỉnh, mình sẽ hỏi người đó, còn một tuần nữa mẹ chết mẹ muốn đi về đâu để tụi con làm thủ tục trợ niệm, nếu quí vị có nhà bà sẽ nói bà đi về nhà nằm chờ chết chứ hong muốn chết trong bệnh viện thì chúng ta lập tức đưa về nhà thì từ giai đoạn bệnh viện nó đầu hàng nó sẽ chuyển qua hospice, là một cơ quan medical của liên bang và tiểu bang, có y tá lại chăm sóc hằng ngày, nếu bị ung thư thì y tá mỗi ngày 2 lần lại cho uống thuốc mofin giảm đau, theo dõi tình trạng sức khỏe.Tụi hospice mỗi ngày đến 2 lần 3 lần để chăm sóc để coi, nó phụ, nó clean up, nó thay tã và khi người đó chết nó là người ký giấy để chuyển cho Bác sĩ và nhà Quàn xác nhận đây là người chết vì bệnh chứ hong phải vì tự tử hay bị ai giết hiểu chưa? Thường thường đã giao cho hospice là không có sống được lâu, tôi kinh nghiệm là chỉ trong vòng 1 tuần thôi không có quá đâu hoặc nhiều lắm là 2 tuần mà chết tại nhà, đó là trường hợp bà cụ còn tỉnh táo, còn bà không tỉnh táo phải coi bà có tờ di chúc không? Lấy tờ di chúc ra và làm theo tờ di chúc, không có bà già nào mà dám đòi vào nursing home hết tôi bảo đảm, trừ trường hợp con cháu, bất cứ người già nào trước khi chết họ cũng muốn gần gũi con cái trước khi trút hơi thở cuối cùng
Trường hợp nói như vậy nhưng đùng một cái còn có 3 tiếng nữa chết: nếu mà người bệnh lúc còn sống có trăn trối là khi mẹ chết mẹ muốn được Thầy Thông Lai qua hộ niệm thì từ làng Di Đà ở Texas Tui phải mất 4 tiếng mới bay qua được đến Phila, trong thời gian chờ Tui qua thì con cái phải niệm A Di Đà thì khi Tôi qua đến đây Bà chỉ mới chết được có một tiếng đồng hồ thôi, Tôi còn 7 tiếng để hộ niệm cho Bà, thành ra vẫn còn thời gian để cứu cho bà về các cõi lành, kế đó nếu mà nó nói chết liền, còn một tiếng nữa chết đồng thời Tui đang ở miền Nam Cali, từ đó qua đây mất 6 tiếng đồng hồ, Tui tới nơi, rồi chở đến bệnh viện mất thêm 1 tiếng nữa, coi như là 7 tiếng thì người này Tôi tới nơi chưa chắc kịp thời gian 8 tiếng để cứu, quý vị phải làm gì? Trường hợp này thì phải tụng Chú Lăng Nghiêm, Chú này có năng lực duy trì thọ mạng từ 1 tuần cho đến 10 tháng
Mới đây Tôi có 2 đám hấp hối cùng một lúc, cùng là đệ tử của Tôi hết: một đám ở Cali và một đám ở Arizona. Tôi làm sao mà phân thân ở hai nơi cùng một lúc đây? Tôi mới hỏi có biết tụng Lăng Nghiêm không? Đám ở Arizona biết nên lập bàn thờ Phật tụng Lăng Nghiêm, còn đám ở Cali không biết nên Tôi phải bay qua đó liền, đám này chắc chắn là bị ma quỷ kéo trước, thiệt đúng... Tôi qua chưa tới nơi thì Bà đã chết, còn cái đám tụng Lăng Nghiêm tới giờ nó chưa chịu chết, đó là thần lực của Chú Lăng Nghiêm mà 10 đám Tôi đã có kinh nghiệm rồi, người đó chết không phải vì bệnh mà người đó thấy oan gia trái chủ đến bóp cổ, khi tụng Lăng Nghiêm rồi các loại ma quỷ cách xa 12 do tuần, còn quý vị tụng các thần Chú khác kêu Chư Thiên lại á, thì Chư Thiên là ở cõi trời Đao Lợi, trong khi ma vương ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại (cõi trời thứ 6) thành ra hong làm gì được ma vương hết, thành ra quý vị Phải tụng Lăng Nghiêm, thì Bồ Tát Kim Cang Tạng lại hộ vệ quý vị, do đó ráng tụng Lăng Nghiêm thứ nhất là để duy trì thọ mạng của mình, bản thân mình sau khi lâm chung nhớ được câu Tâm Chú thôi (dành cho những người phút cuối lâm chung mà không nhớ hết 5 đệ) cũng giữ thọ mạng của quý vị được từ 1 tuần cho đến 10 tháng, mai mốt Tôi sẽ chỉ quý vị tụng tiếng Phạn Âm nó sẽ mạnh hơn, tụng theo âm người Tàu dịch ra nó chỉ còn 50% công lực. Tại sao âm Phạn mạnh hơn, mình nói cho chư Thiên là cõi trời Phạm Thiên họ sử dụng tiếng Phạm Thiên. Thí dụ: mình đọc tiếng Phạn How are You là How are You, còn mình đọc tiếng Việt thì How are you là Hu a Dao :) thành ra ông trời hong biết mình muốn cái gì, hơi lạc đề một chút, giống như mình nói tiếng bồi vậy á
Thầy có đệ tử tại New Jersey, cách đây 2 năm bà bị bệnh hấp hối nằm viện, toàn nước vàng, máu mủ chảy đầy người, nhờ có con gái tên Phương đi tu gieo duyên (Thầy nói với công đức xuất gia, mẹ con sẽ khỏe lại được vài năm mà đúng y như vậy), nên bà đã đứng dậy khỏi giường bệnh và khỏe lại cho đến bây giờ. Bà mới bệnh lại, trước khi bà qua đời bà nhìn xung quanh đâu cũng là vòi, trên đầu, trên cổ bà vòi bò đầy, mà người khác hong thấy, bà phải thò tay, ngắt vòi giục, bà thấy những tên đầu trâu mặt ngựa kéo bà đi, tức là thoại tướng về Địa ngục đó quý vị, Thầy bay qua đây hộ niệm, trên đường từ sân bay tới bệnh viện thì trong xe luôn mở máy niệm Phật, sắp đến nơi thì ông NT nói vậy là mình thắng được ma vương rồi, vừa nói xong tự dưng máy chỉ dẫn đường, máy niệm Phật, điện thoại tay, xe tắt hết không làm gì được phải gọi người nhà ra dẫn đến bệnh viện, người nhà vừa đến nơi thì tất cả máy móc đều trở lại bình thường, điều này không lý giải được. Sau khi đã niệm Phật 10 tiếng rồi bà vẫn nóng ở ngực, hỏi ra thì mới biết bà còn đứa con trai Út tại Việt Nam bà nhớ thương không chịu đi nên nóng ở ngực, sau cùng Thầy phải để cái tay lên trán dùng phương pháp Fo-wa của Mật tông và tụng Chú vãng sanh, 30 phút sau tất cả điện tâm đồ work lại, máy đo tim, đo máu nhảy lại, nhịp tim là 109, high pressure là 170, low pressure là 95, nó nhảy lại như là người sống vậy, lúc đó Tui rất là lo... mấy đứa này tưởng mẹ nó sống lại, nó nhào lại ôm, mà lúc đó nếu y tá trực nó thấy vậy, nó sẽ vô đuổi mình ra, nhào lại cứu bà rồi đó, nếu bà được cứu sống lại như vậy mà trong 10 tiếng đồng hồ cái não đã hư rồi, bà sẽ trở thành người thực vật, nằm đó ỉ tri, đái dầm 10 năm chưa chết đó quý vị, mà hên chúng Tôi đã lock cửa lại, mà lúc đó đã chết 9, 10 tiếng rồi y tá nghĩ đâu có nghĩ là làm sao sống lại được, nên y tá không vô. Tui rất là lo vì đây là phút cuối dùng Fo-wa để nóng đỉnh đầu, đưa bà về Cực Lạc, thì lúc đó cái A Lại Da thức của bà nóng lên toàn bộ cái điện tâm đồ work lại hết, bữa đó ông TQN có máy quay phim mà không chịu quay vì Ổng sợ chuyện privacy của bà mà con cái kiện Ổng, rất là uổng, lần đầu tiên Tôi hộ niệm tại một phòng ICU, khi người đó nóng ở đầu rồi thì tất cả điện tâm đồ đều nhảy hết, có gia đình bà thấy, vợ chồng ông TQN thấy, MQ và một số Phật tử hộ niệm hôm đó thấy, nóng từ ngực lên trán, thoại tướng rất mềm mại, mỗi lần có chuyện là Thầy biểu Phương tụng Lăng Nghiêm mà nó không biết chữ, nó vái Phật vậy mà nó đọc được đó quý vị, ở nhà nó tụng Lăng Nghiêm mà mẹ nó trong bệnh viện đứng dậy được bình thường đó quý vị và hy hữu nữa là có đứa cháu kêu Bà bằng Cô, tên Tuệ Chiếu vào bệnh viện tụng Chú Lăng Nhiêm khi bà bị bệnh và bà đã tỉnh dậy và khỏe luôn mấy tháng trời, hai ông này Tôi gặp Ổng mà Ổng chịu Quy Y, cả đời đi câu cá, sát sanh, nhậu nhẹt mà giờ Quy Y đến đây tu gieo duyên để hồi hướng công đức cho mẹ vì từ khi mẹ con được cái vi diệu như vậy con tin có Phật phải hong? mà bây giờ đã bỏ sát sanh, câu cá, bỏ nhậu và còn ăn chay nữa, còn một tuần nữa là ăn được 49 ngày
Muốn trì Chú nào linh nghiệm thì quí vị phải trì Chú Lăng Nghiêm vì nó là tâm Chú, tụng Chú mà không có tâm Chú đưa vô thì nó không có chất xúc tác để linh hiệu, phải tụng ít nhất là 3 năm chú Lăng Nghiêm thì câu Chú nào mình tụng cũng linh hết mới dùng Fo-wa được mà trong 3 năm đó phải cử ăn hành, hẹ, tỏi ,nén, riềng, bô rô, làm thiên thần hộ Pháp không dám lại gần, quí vị cứ tụng liên tục mỗi ngày một thời trong 3 năm là bước vào level một, level 2 là tụng Tâm Chú không hà, mỗi một ngày trì 108 lần, trì như vậy đủ một triệu lần thì lúc đó có thể cứu người thân quý vị đang nằm đó bằng phương pháp Fo-wa, nhưng quí vị phải qua sự hướng dẫn của Thầy, nếu không khi kéo thần thức người đó đi ra mà quý vị không connect được với Phật Di Đà thì thần thức đó sẽ ở vô người quý vị thành bị ma nhập đó, khi Thầy kéo thần thức người đó đi ra khỏi xác chết, là quý vị phải connect được với Đức Phật Di Đà, tụng câu Chú đó và phải nhiếp tâm nhìn tượng A Di Đà mà tụng, lúc đó quý vị để cái tay này là tay của đức Phật Di Đà rờ trên xác đó chứ không phải tay Thầy Thông Lai, khi tụng cái đó mắt quý vị phải nhắm lại, phải qua cái giai đoạn là quán Vô Lượng Thọ Kinh: nhìn tượng Phật nhắm mắt lại mà hình ảnh đức Phật vẫn hiện trong tâm quý vị ít nhất phải được nửa tiếng đồng hồ, đó là level 2 của Fo-wa, bữa nay Tôi xì đó...kêu là quán Vô Lượng Thọ nhưng mà cái cuối cùng Tôi giấu nghề chờ khi nào tu thiệt thì Tôi chỉ (vì cái này không được truyền nhiều vì người ta lạm dụng, ỷ vào Fo-wa, người ta không tu, chỉ một người biết Fo-wa trong một hệ thống nào đó thôi vì lý do đó Tôi không thể truyền bá cái này được. Cái này kêu là cứu ngặt chứ không cứu nghèo, cái người đó phải có lúa mới cho mượn gạo, phải có công phu tu hành mới được sử dụng, chứ không ỷ lại, quý vị phải có học, yếu một chút, thiếu chút điểm Tôi dùng Fo-wa kéo lên, còn nóng dưới chân Tui đầu hàng luôn
Quý vị phải tụng Chú Lăng Nghiêm cho Thầy, không kẹt vào thời gian, rãnh lúc nào tụng lúc đó, không tụng được thì download xuống dĩa nghe, nghe riết thì nó quen
Trở lại giai đoạn Quán Vô Lượng Thọ Kinh: buổi chiều mặt trời gần lặn xuống màu đỏ đỏ á, quý vị ngồi đó mở mắt nhìn cho đến khi mình nhắm mắt lại mà hình ảnh mặt trời vẫn hiện trong trí mình là qua level một, tức là quán cái tướng phương Tây, bước tiếp theo khi nào có tuyết đổ nhiều mà bao phủ trắng xóa hết, khi buổi sáng mặt trời lên chiếu xuống tuyết óng ánh, mình ngồi đó mở mắt nhìn cảnh trắng này và quán đây là đất lưu ly trên cõi Cực Lạc (trong Kinh Vô Lượng Thọ có nói chứ không phải Thầy chế nhe) quán cho đến khi nào mà nhắm mắt lại vẫn thấy được hình ảnh tuyết trắng là qua giai đoạn thứ hai, level thứ 3 là lấy bất cứ hình tượng Phật A Di Đà nào ở trong nhà mà không có niệm phật, mỗi một ngày thắp một cây nhang, ngồi đó mở mắt nhìn hình ảnh Phật làm sao trong một cây nhang (kêu là một hương, thường cháy được khoảng 1 tiếng đồng hồ) đó mà quý vị không nháy mắt, nếu nháy mắt là không tính, phải làm lại, rồi nhìn tới 2 cây nhang không nháy mắt và tăng lên cho đến 10 cây nhang không nháy mắt (phải mất khoảng 8 tháng mới đạt được, phải nhập thất yên tĩnh) sau đó không nhìn tượng Phật nữa, lên tượng Phật lạy Phật, phát nguyện vãng sanh, rồi nhắm mắt lại mà hình ảnh đức Phật Di Đà nó sẽ nằm trong đầu của quý vị được một cây nhang như là in trong trí quý vị đó, dưới trình độ này, nếu hộ niệm mà giờ chót không nóng ở đỉnh đầu như trường hợp ở New Jerey vừa rồi, thì dùng Fowa, rờ cái tay lên, rồi nhìn đức Phật Di Đà và Thầy nhắm mắt lại niệm Chú và nhìn hình ảnh đức Phật Di Đà, lúc đó nó móc từ Tạng thức, quý vị đã đưa được 10 cây nhang rồi, nó đã in vào cái memory của mình rồi, khi nhìn lên hình ảnh Phật Di Đà giống như cái chìa khóa touch vào Tạng thức quý vị thì lúc đó hình ảnh Phật Di Đà được lấy ra, mà quý vị giữ được hình ảnh đức Phật trong đầu từ nửa tiếng trở lên là người đó bắt đầu được vãng sanh ngay, đó là phương pháp Fo-wa bữa nay Tui nói ra nhưng cách hành trì là tùy quý vị đó, Phương pháp Fo-wa là sử dụng thần chú Vãng Sanh và Kinh Quán Vô Lượng Thọ cộng với đạo lực của Thủ Lăng Nghiêm do đó vị này connect được với cảnh giới Cực Lạc, tại sao vậy, khi người đó chết không sử dụng thân tứ đại nữa mà còn tâm thức (thức thứ 8 quyết định tất cả những việc thiện ác trong cuộc đời), có 3 loại tu Tịnh độ : niệm Phật, trì danh và quán tượng tướng hảo, khi Thầy nhìn hình ảnh Phật và nhắm mắt lại, hình ảnh Phật hiện trong đầu của Thầy, Thầy rờ cái tay này vô và nói với cái người kia, con hãy sử dụng cái gì của Thầy thì khi Thầy touch vô một cái, Thầy đụng vào chỗ nào , chỗ đó có cảm giác thì thần thức người đó biết, đi lên cái đầu, chạm vào cái tay, thì người này đang sử dụng hình ảnh Đức Phật A Di Đà ở trong tâm của Thầy, người đó thấy được Phật, lúc đó Thầy tụng Vãng Sanh quyết định chơn ngôn thì lúc đó thần lực phật Di Đà kéo người đó chứ không phải Thầy, Tôi đã chỉ một người huynh đệ của Tui làm Fo-wa này, Ổng chưa làm đủ 10 cây nhang mới làm được có 6 cây nhang thôi thì bữa đó có người thân qua đời và ông sử dụng Fo-wa để cứu, tới giờ này trong người Ông có đến hai người vì hình ảnh đức Phật trong đầu ông chỉ nằm có 5 phút rồi bị mất đi, không có định lực, khi ông tụng xong chú Vãng Sanh mà thần thức người em chưa ra khỏi cơ thể mà hình ảnh Phật trong đầu người anh mình bị mất đi, người em mất phương hướng nên ở lại thể xác của ông anh, hiện giờ còn sống, có khi buổi sáng là người anh, buổi tối là ngưòi em, hai cái thần thức nằm trong một thân hình đó quý vị, không có ông Thầy nào trục cái này ra được hết, Tui đã làm rồi, để mõ trên đầu tụng Lăng Nghiêm hổng làm được vì họ không phải là ma vì không phải là bị ma nhập mà là họ đi theo lực của thần Chú mà mình tụng và kéo họ vô, cũng như kéo tới đây mới lọt vô, nhưng mà mới kéo tới đó thì rớt bỏ, họ bị loạn tâm á thì họ ở trong người mình liền, thì họ không chịu đi nữa thành ra hai cái thần thức ở trong một thân tứ đại, mà hai ông này 20 năm rồi vẫn còn ở đó quý vị, rất là đau khổ, không có ai trị được, cái ông ma vô chiếm nhà quý vị thì quý vị trục ra được, đằng này anh dùng Chú kéo người em cho vô mà, mình kéo mình đẩy không được thì nó ở trong người mình
TRƯỜNG HỢP NGƯỜI CHẾT VÌ TAI NẠN:
Người chết vì tai nạn xe hơi thì không niệm Phật được, 90% là không hộ niệm được, khi bị như vậy nó đưa về nhà sát khám nghiệm tử thi làm đủ thứ chuyện vì nó sợ thưa ra tòa, rồi cái case này phải chờ cảnh sát điều tra mọi thứ, nó đo lường rồi kết thì cũng hết thời gian hộ niệm rồi, cái người này không có cơ hội vãng sanh đâu, người mà chết hoạnh tử là người đã hết phước rồi mới bị chết như vậy đó, trong thời gian đó họ trở thành loại không được siêu
Hỏi: hằng ngày trước khi đi làm con đều trì Chú Lăng Nghiêm và niệm Phật, trên đường đi dự khóa tu con cũng trì trú liên tục, nếu lỡ con bị tai nạn chết thì con sẽ đi về đâu?
Nếu trong lúc con trì Chú Lăng Nghiêm mà tai nạn xảy ra: cho thấy đây là một cái nghiệp ác mà con phải trả vì khi con trì Chú là có 84000 Kim Cang Tạng Vương Bồ Tát hộ con, con tụng Chú là con đang ở trong chánh niệm, con bị đụng cái rầm như vậy thì sẽ không có cảm giác đau đớn và vì con tụng chú Lăng Nghiêm nên các vị Kim Cang Tạng Bồ Tát đẩy thân trung ấm của con lên, con sẽ ra ở đỉnh đầu (người có trì Chú thì Thân Trung Ấm đi lên, không có trì Chú thì Thân Trung Ấm đi xuống) mà con chưa có phát nguyện tu Tịnh độ thì thần thức con sẽ về cõi trời Tịnh Cư Thiên (là cõi trời cao lắm gần như cõi trời của A La Hán lẫn), ở đó có một thời gian ngắn từ một đến 7 ngày cho con niệm Phật trong trạng thái của một ông thiên tử cõi trời và con sẽ hóa sanh về cõi Cực Lạc
Nếu con có tụng Chú, niệm Phật và phát nguyện vãng sanh thì khi con bị đụng cái rầm sẽ không bị đau đớn con đi rất nhẹ nhàng, lúc đó con không có điên đảo vì con đang tụng Chú, con sẽ thấy Phật Di Đà ngay và vãng sanh về Cực Lạc, vì Phật lúc nào cũng phóng quang mà tại sao mình không thấy vì mình bị kẹt thân tứ đại này nè. Còn nếu mà con đang điên đảo, đang nghĩ đến việc khác mà không niệm Phật, đùng cái bị đụng chết thì đi xuống, người tụng Chú tâm thần không điên đảo nên người đó đi về 10 phương cõi Phật
Con bị chết như vậy là con trả một cận tử nghiệp kinh khủng lắm.
Mình có 3 phước báo:
Phước báo về tài sản: những người bankrupcy là bị nghiệp nhẹ.
Nặng chút nữa là bị bệnh, gãy tay gãy chân cũng còn nhẹ hơn là người bị bệnh mà đụng một cái chấn thương sọ não, bể một mạch máu chúng ta trở thành người thực vật, thì người đó tuy thân thể không bị thương nhưng bị mất hết trí huệ, làm sao tu để mà giữ được cái trí huệ là cái quan trọng đó quý vị, vì muốn vãng sanh lúc chết tâm thần không điên đảo
TRƯỜNG HỢP NGƯỜI CHẾT VÌ TỰ TỬ
Còn người tự tử: nhảy sông, uống thuốc rày v.v...thì người này tâm hồn điên đảo, không cứu được vãng sanh chỉ cứu thoát khỏi được 3 đường ác: địa ngục, ngả quỷ, súc sanh, người đó sẽ thành một loại quỷ, tự tử là phạm vào giới đầu tiên: giới sát sanh mà mình giết thân thể do cha mẹ mình sinh ra là đã bất hiếu rồi, một là chỉ tụng Kinh Thủy Sám, hai là tụng Kinh Lương Hoàng Sám và ba là tụng Kinh Địa Tạng trong vòng 49 ngày để cứu họ thoát khỏi 3 đường ác, cái chuyện vãng sanh là không có đâu quý vị
PHOWA (PHÁP CHUYỀN DI TÂM THỨC)
Thời gian đăng 21.10.2015 bởi tác giả: PATRUL RINPOCHE trong Khai thị ngộ nhập // 0 phản hồi // 2454
( http://thientrithuc.vn/powa-phap-chuyen-di-tam-thuc/ )
http://thientrithuc.vn/wp-content/up...l_Rinpoche.jpg
Ngày nay, nhiều người thực hành các nghi lễ chuyển di cho dù họ chỉ là các Lạt Ma hay tulku** trên danh nghĩa. Nếu họ thực hiện các pháp chuyển di này với lòng từ bi của Bồ Đề Tâm và không có chút tính toán vị kỷ nào, thì may ra chân tánh của họ sẽ không bị ngăn che khiến họ có thể thực sự giúp đỡ người chết. Điều này chỉ có thể được thực hiện với động lực của Bồ Đề Tâm. Còn bất kỳ ai khác thực hiện pháp chuyển di vì lợi ích cá nhân, chỉ biết cách đọc tụng một mớ chữ nghĩa rồi sau đó nhận thù lao là một con ngựa hay một thứ gì đáng giá khác, thì những kẻ ấy thật đáng khinh miệt. **sprul sku, nghĩa đen: Hoá Thân. Một Lạt Ma hoá thân. Những Lạt Ma như thế thường được coi như là hiện thân của một Đại Bồ Tát. Tuy nhiên, có nhiều ảnh hưởng xã hội trong việc tuyển chọn một tulku, và có nhiều trường hợp mà tính xác thực của việc tuyển chọn rất đáng nghi ngờ.
Cao cả thay hành động bi mẫn của Ngài đối với chúng sinh vô minh.
Cao cả thay cách thức Ngài gia hộ những kẻ đại ác như chung đệ tử.
Cao cả thay phương pháp thiện xảo
Ngài ban cho những kẻ khó điều phục.
Đạo Sư Vô Song, con đảnh lễ dưới chân Ngài.
I. PHÂN LOẠI NĂM PHÁP CHUYỂN DI
Có năm loại chuyển di tâm thức khác nhau:
1. Chuyển di siêu việt tới Pháp Thân nhờ dấu ấn của cái thấy (kiến)
2. Chuyển di trung bình tới Báo Thân nhờ hợp nhất các giai đoạn phát triển và toàn thiện.
3. Chuyển di thấp tới Hoá Thân nhờ lòng bi mẫn vô lượng.
4. Chuyển di thông thường nương vào ba ẩn dụ.
5. Chuyển di thực hiện cho người chết với cái móc của lòng bi mẫn.
1. Chuyển Di Siêu Việt Tới Pháp Thân Nhờ Dấu Ấn Của Cái Thấy(Kiến)
Đối với những người khi còn sống đã tu tập thuần thục và kinh qua được một cái thấy (kiến) không hề sai lầm về chân tánh vô tạo tác, thì vào lúc lìa đời, họ có thể đưa không gian (space) và tánh giác (awareness) vào con đường tu tập ẩn mật của pháp trekcho thuần tịnh nguyên sơ, và có thể chuyển di tâm thức của họ vào đại-phương quảng-trí của Pháp Thân.[308]
2. Chuyển Di Trung Bình Tới Báo Thân Nhờ Hợp Nhất Hai Giai Đoạn Phát Triển Và Toàn Thiện
Đối với những người đã quen thuộc với công phu hành trì các pháp tu của hai giai đoạn phát triển và toàn thiện, kết hợp cả hai như một pháp môn du già bất khả phân, cũng như đã tu tập thuần thục để có thể nhìn thấy sắc tướng của vị Hộ Phật (deity) chẳng khác gì một cảnh trí hoá hiện thần diệu, thì khi những ảo giác của trạng thái trung ấm xuất hiện vào giây phút lìa đời, họ có thể chuyển hoá tâm thức của họ thành Thân trí tuệ hợp nhất (the union wisdom kāya).[309]
3. Chuyển Di Thấp Tới Hoá Thân Nhờ Lòng Bi Mẫn Vô Lượng
Những người đã nhận các lễ gia lực của Kim Cương – Mật Thừa, những người đã trì giữ mật nguyện không hề sai trái, những người có thiên hướng nghiêng về các pháp tu trong hai giai đoạn phát triển và toàn thiện, và những người đã thọ lãnh những giáo huấn về trạng thái trung ấm, họ có thể:
Hãy gián đoạn việc nhập thai, hãy nhớ quay ngược lại:*
Đây là lúc đòi hỏi một quyết định và thị kiến thuần tịnh.
* Điều này ở đây có nghĩa là quay ngược lại trước khi thần thức nhập thai.
Những người đang thực hành pháp chuyển di này phải chặn đứng bất kỳ lòng tham cầu muốn nhập vào một thai tạng bất tịnh nào. Được lòng đại bi dẫn dắt cũng như mong muốn thực hiện được ước nguyện tái sinh như một Hoá Thân, họ chuyển di tâm thức và tái sinh vào một trong những cõi tịnh độ.[310]
4. Chuyển Di Thông Thường Nuơng Vào Ba Ẩn Dụ
Người ta cũng có thể thực hành pháp chuyển di này bằng cách tưởng tượng đường khí mạch trung ương (trong thân thể) như con đường, giọt tinh chất (bindu) của tâm thức như người lữ khách, và cõi tịnh độ Cực Lạc như là đích đến.[311]
5. Chuyển Di Thực Hiện Cho Người Chết Với Cái Móc
Của Lòng Bi Mẫn
Pháp chuyển di này cũng được thực hiện cho người đang hấp hối, hay cho người đã ở trong trạng thái trung ấm. Pháp này có thể được thực hiện bởi một hành giả du già (yogi) với mức độ tu chứng sâu dầy, có khả năng làm chủ được tâm và tri giác, và có khả năng nhận ra được tâm thức của người chết trong trạng thái trung ấm. Nói chung, để thực hiện pháp chuyển di cho người chết, ta cần phải chứng đắc được Kiến Đạo, Con đường của Cái Thấy (Path of Seeing). Như ngài Jetsun Mila có nói:
Không được thực hành pháp chuyển di cho người chết,
Trừ phi đã trực nhận được chân lý của Kiến Đạo.
Tuy nhiên, bất cứ những ai là người thực sự biết được đích xác thời điểm nào là thời điểm để thực hiện pháp chuyển di — là khi hơi thở bên ngoài (outer breath) đã ngưng và hơi thở bên trong (inner breath) vẫn còn tiếp tục312 – thì họ cũng đều có thể thực hiện pháp chuyển di ngay vào lúc ấy nếu như họ có được chút ít kinh nghiệm về các giáo huấn chuyển di. Điều này cực kỳ lợi lạc cho người đang hấp hối, và giống như một lữ khách được bạn mình dẫn đi trên đúng con đường, việc ấy có khả năng ngăn chặn việc tái sinh vào các cõi thấp.
Sẽ khó khăn hơn để có thể thực hiện pháp chuyển di một khi tâm và thân đã hoàn toàn tách rời. Vì thế, cần có một hành giả du già (yogi) có khả năng làm chủ được bản tâm, có thể nhận ra được người chết trong trạng thái trung ấm. Tác động tới người không còn thân xác vật lý nữa là điều dễ dàng, và khi được thực hiện bởi một hành giả du già như thế thì tự việc chuyển di ra khỏi trạng thái trung ấm cũng có năng lực chuyển đẩy tâm thức chúng sinh tới một cõi tịnh độ. Tuy nhiên, thật là một điều hoàn toàn vô nghĩa khi cho rằng pháp chuyển di có thể được thực hiện bằng cách triệu thỉnh tâm thức quay trở lại thân xác sau khi chết.[313]
Ngày nay, nhiều người thực hành các nghi lễ chuyển di cho dù họ chỉ là các Lạt Ma hay tulku** trên danh nghĩa. Nếu họ thực hiện các pháp chuyển di này với lòng từ bi của Bồ Đề Tâm và không có chút tính toán vị kỷ nào, thì may ra chân tánh của họ sẽ không bị ngăn che khiến họ có thể thực sự giúp đỡ người chết. Điều này chỉ có thể được thực hiện với động lực của Bồ Đề Tâm. Còn bất kỳ ai khác thực hiện pháp chuyển di vì lợi ích cá nhân, chỉ biết cách đọc tụng một mớ chữ nghĩa rồi sau đó nhận thù lao là một con ngựa hay một thứ gì đáng giá khác, thì những kẻ ấy thật đáng khinh miệt. **sprul sku, nghĩa đen: Hoá Thân. Một Lạt Ma hoá thân. Những Lạt Ma như thế thường được coi như là hiện thân của một Đại Bồ Tát. Tuy nhiên, có nhiều ảnh hưởng xã hội trong việc tuyển chọn một tulku, và có nhiều trường hợp mà tính xác thực của việc tuyển chọn rất đáng nghi ngờ.
Là người chỉ đạo và bậc Thầy của kẻ khác,
Mà tự bản thân chưa tới được bến bờ giải thoát,
Thì cũng mâu thuẫn như đưa tay cho người chết đuối
Trong khi chính mình đang bị nước lũ cuốn trôi.
Một lần kia, khi đại Đạo Sư Tendzin Chopel đang ở Tsari, Ngài có một thị kiến về một người mà có lần ngài thực hành pháp chuyển di cho ông ta và nhận thù lao một con ngựa. Tất cả những gì Ngài có thể thấy là cái đầu người nhô lên từ một cái hồ máu đỏ thẫm. Vật ấy gọi tên Tendzin Chopel và yêu cầu Ngài làm một điều gì đó.
Tendzin Chopel cảm thấy sợ hãi. Ngài đáp lại: “Ta tặng ngươi cuộc hành hương tới Tsari của ta,”* và ảo cảnh biến mất. * Đó là công đức của cuộc hành hương của ngài.
Ngay cả đối với một vị Thầy vĩ đại có mức độ chứng ngộ sâu dầy, việc nhận các món cúng dường nhân danh người chết mà không thực hiện một nghi lễ hay một việc gì đó tương tự để đem lại lợi lạc cho người đã chết thì việc này sẽ gây nên những trở ngại trên con đường tu.
Khi vị Hoá Thân Tu Viện Trưởng Dzogchen, Ngài Gyurme Thekchok Tendzin thị tịch, thì Ngài Trime Shingkyong Gonpo được mời tới dự tang lễ. Suốt cả ngày Ngài chỉ cử hành các nghi lễ tịnh hoá và triệu thỉnh thần thức, cử hành đi cử hành lại pháp chuyển di, giống như Ngài đã làm sau cái chết của một người bình thường. Các nhà sư hỏi Ngài tại sao làm vậy.
Ngài giải thích: “Cách đây đã lâu, Dzogchen Rinpoche quên không cử hành các nghi lễ và cầu nguyện hồi hướng cho một người quá cố trong khi có một con ngựa đen đã được đem đến cúng dường cho Ngài nhân danh người đó. Người quá cố đó là một kẻ đại ác và vì thế Rinpoche đã gặp phải một ít chướng ngại trên các địa (trên quả vị tu chứng của Bồ Tát) và trên con đường tu. Giờ đây Ngài và ta đã phối hợp năng lực và giải quyết vấn đề xong rồi.” Kẻ đại ác được kể trong câu chuyện này có tên là Golok Tendzin.
Thật là sai lầm khi những người ở địa vị đại Lạt Ma hay Hoá Thân lại đón nhận cúng dường nhân danh người quá cố, suy nghĩ một cách đơn thuần rằng: “Ta là một bậc vĩ đại nào đó,” mà không áp dụng Bồ Đề Tâm hay không thực hiện việc cầu nguyện, thực hiện các nghi lễ cùng hồi hướng một cách đúng đắn và có hiệu quả. Các vị tulku quan trọng được tuyên nhận là những Hoá Thân chính thức của các bậc Thầy vĩ đại trong quá khứ, họ vẫn cần phải học đọc lại từ đầu, và phải bắt đầu trở lại học các mẫu chữ cái như những người bình thường. Bởi các Ngài đã quên mất cách đọc mà các Ngài đã biết từ những đời trước nên chắc chắn là các Ngài cũng đã quên mất mọi thứ mà các Ngài đã từng biết về các pháp tu du già của hai giai đoạn phát triển và toàn thiện. Tôi tự hỏi không biết các Ngài có thể khá được ra hơn không nếu như các Ngài chịu khó bỏ chút thời giờ ra để rèn luyện tâm Bồ Đề và học hỏi về các pháp môn tu tập và đi nhập thất, hơn là đi tới đi lui tìm kiếm cúng dường vừa ngay khi các Ngài [đủ lớn] để leo lên cưỡi trên một con ngựa.
II. CHUYỂN DI THÔNG THƯỜNG NƯƠNG VÀO BA ẨN DỤ
Bây giờ tôi sẽ mô tả về loại chuyển di được gọi là “chuyển di thông thường nương vào ba ẩn dụ” hay “chuyển di tâm thức vào tâm thức của Đạo Sư.” Pháp chuyển di này cũng phù hợp với điều mà Diệt Tội Trang Nghiêm Sám Hối Mật Điển gọi là “pháp chuyển di trái cầu ánh sáng (ball of light) nương vào âm thanh vào lúc lìa đời.” Đối với những vị hành giả đã có một mức độ chứng đắc sâu dầy thì pháp chuyển di này không cần thiết. Đối với những vị này, như trong Mật điển đã có nói:
Điều gọi là cái chết chỉ là một ý niệm,
Đưa dẫn tới các cõi tịnh.314
Và, trong đó cũng còn nói,
Cái chết, hay cái mà chúng ta biết tựa hồ như cái chết,
Là một tiểu ngộ đối với một hành giả du già.
Đối với những vị đã đạt được kinh nghiệm tối thượng một cách thật vững chãi trong khi họ còn sống và có thể làm chủ được sinh tử thì những vị ấy vẫn phải trải qua một cái gì có vẻ tựa hồ giống như là cái chết. Nhưng đối với họ, cái chết không khác gì việc di chuyển từ một nơi này sang nơi khác. Như chúng ta đã có đề cập đến trước đây, đối với những vị đã có kinh nghiệm về các pháp tu tâm yếu trong các giai đoạn phát triển và toàn thiện, các vị này có thể vận dụng một trong ba pháp tu liên hệ đến ba giai đoạn của (1) cái chết, (2) thân trung ấm hoặc (3) tái sinh, để chuyển di tâm thức của họ tới một trong ba Thân (kāya). Ngược lại:
Những kẻ không dầy công tu tập vẫn có thể được đón nhận nhờ vào pháp chuyển di.
Pháp môn này vô cùng cần yếu đối với những hành giả không có được thành tựu vững chắc trên con đường tu, hay đối với những người đã phạm phải nhiều ác hạnh. Đối với bất kỳ ai nắm giữ được những giáo huấn đặc biệt này thì cánh cửa dẫn tới các cõi thấp sẽ được đóng lại cho dù những ác hạnh mà họ đã tạo có nặng nề tới đâu chăng nữa. Thậm chí đối với những kẻ đã từng phạm phải một trong những ác nghiệp bị quả báo tức thời, và lẽ ra phải bị đoạ thẳng xuống địa ngục thì chắc chắn kẻ ấy cũng sẽ không phải bị tái sinh trong các cõi thấp nếu họ biết vận dụng Giáo Pháp này. Các tài liệu Mật điển có nói:
Bạn có thể từng giết mỗi ngày một vị Bà la môn
Hay từng phạm phải năm ác hạnh bị quả báo tức thời,
Nhưng bạn vẫn sẽ được giải thoát nhờ con đường này.
Sẽ không có tội lỗi nào làm ô nhiễm bạn.
Và:
Bất kỳ ai thực hành pháp chuyển di,
Tập trung nơi cửa Phạm Thiên cao hơn chín cửa kia*
Thì sẽ không ác hạnh nào làm cho ô nhiễm,
Và sẽ được tái sinh trong một cõi Phật thanh tịnh.
* Cửa Phạm Thiên (Brahma) hay lỗ thoát trên đỉnh đầu nơi tâm thức có thể thoát ra ngoài khi lìa đời.
Và thêm nữa:
Dưới chân vị cha già — bậc Thầy đầy đủ phẩm hạnh Được tôn vinh trên pháp toà nhật nguyệt nơi đỉnh đầu bạn, Hãy bước theo con đường lụa trắng là đường kinh mạch trung ương,
Và bạn sẽ được giải thoát, cho dù đã từng mắc phạm ngũ nghịch trọng tội với quả báo tức thì.
Do đó, những giáo huấn về con đường chuyển di sâu xa là phương cách dẫn tới Phật Quả mà không cần thiền định, một con đường bí mật đem đến giải thoát một cách quyết liệt, ngay cả cho những kẻ phạm trọng tội. Đức Phật Kim Cang Trì (Vajradhara) đã nói:
Bạn có thể từng giết mỗi ngày một người Bà la môn Hoặc mắc phạm năm ác hạnh bị quả báo tức thời, Nhưng một khi bạn được thọ nhận giáo huấn này Thì không cần nghi ngờ nữa, bạn sẽ được giải thoát.
Và chính Đại Đạo sư xứ Oddiyāna đã nói:
Mọi người đều thấu suốt Phật Quả nhờ thiền định Nhưng ta thấu suốt một con đường phi thiền định.
Đại học giả Naropa có nói:
Chín cánh cửa (chín khiếu) mở ra sinh tử luân hồi
Nhưng một cửa khai mở lối vào Đại Thủ Ấn (Mahāmudrā).
Hãy đóng lại chín cửa và mở ra một cửa;
Chớ nghi ngờ cửa ấy sẽ đưa đến giải thoát.
Và Marpa, đại dịch giả xứ Lhodrak có nói:
Cho tới nay ta đã từng thực hành pháp chuyển di,
Miên mật, miên mật và miên mật thêm nữa.
Ta có thể chết một cái chết bình thường, nhưng chẳng
cần lo lắng; Công phu thuần thục đem lại cho ta niềm xác tín tuyệt hảo.
Jetsun Shepa Dorje cũng nói:
Những giáo huấn này, hợp nhất, chuyển di và nối kết,*
Là cẩm nang để vượt qua thân trung ấm.
Ai có được một con đường như thế?
Kẻ ấy sẽ hạnh phúc biết bao khi sinh lực đi vào đường khí mạch trung ương –
Kỳ diệu thay! Đã đi đến một Pháp Giới viên mãn!
*Chúng ta nối kết với các cõi tịnh độ nương vào phápï chuyển di tâm thức bằng cách hợp nhất với vị thầy.
Các giáo huấn này có hai phần: phần đầu là thực tập [khi còn sống], và sau đó là phần thực hành thực sự [vào lúc lìa đời].
1. Thực Tập Pháp Chuyển Di
Khi nương vào những hướng dẫn về pháp chuyển di mà bạn đã được thọ nhận, bản thân bạn hãy miên mật tu tập và hãy tinh tấn thực hành pháp chuyển di cho tới khi có những dấu hiệu thành tựu xuất hiện.
Hiện nay, trong khi toàn thể các đường khí mạch, năng lực và tinh chất của bạn vẫn còn nguyên vẹn và sung mãn, bạn sẽ thấy rằng việc chuyển di thực sự rất khó khăn. Nhưng một khi đã tới giờ phút cuối cùng của cuộc đời, hay vào lúc đã quá già yếu, thì việc chuyển di sẽ trở nên rất dễ dàng. Giống như trái cây trên cành, khó hái vào mùa hè khi trái non ấy còn đang phát triển. Nhưng vào mùa thu, một khi nó đã chín nhũn và sẵn sàng rụng xuống, thì chỉ cần áo quần của bạn chạm nhẹ vào thôi là cũng đủ làm cho nó rụng xuống rồi.
2. Chuyển Di Thực sự
Thời điểm để thực sự thực hành pháp chuyển di là sau khi những dấu hiệu hấp hối của cái chết bắt đầu xuất hiện, khi mà bạn có thể biết chắc rằng không còn có thể quay ngược lại nữa và tiến trình tan rã đã bắt đầu. Không được làm như vậy vào bất kỳ thời điểm nào khác. Như trong các Mật điển có nói:
Chỉ thực hành pháp chuyển di khi thời điểm thích hợp đã đến, Nếu không, chẳng khác nào giết chết các Bổn Tôn.** ** Theo Kim Cương Thừa, thân thể con người được coi như một mạn đà la thần diệu của các Bổn Tôn. Trong ý nghĩa này, thu ngắn mạng sống của ta bằng cách thực hành pháp chuyển di sớm hơn thời điểm đồng nghiã với việc phá huỷ mạn đà la của các Bổn Tôn.
Có nhiều giai đoạn trong tiến trình tan rã hay phân tán nhưng để cho dễ hiểu thì tiến trình này có thể được chia ra thành bốn giai đoạn: giai đoạn tan rã của năm giác quan, giai đoạn tan rã của tứ đại (đất, nước, gió, lửa), và thêm ba giai đoạn của tánh sáng (clarity), tăng trưởng (increase) và thành tựu (attainment).
Giai đoạn tan rã của năm giác quan bắt đầu, ví dụ như khi tiếng trì tụng của chư tăng tụ họp quanh tử sàng của bạn chỉ còn là những âm thanh giống như một thứ tiếng rì rầm lộn xộn rối rắm. Bạn không còn có thể phân biệt được các âm tiết. Hoặc ví dụ như khi bạn nghe âm thanh giọng nói của con người như thể đến từ rất xa, và không thể nhận ra được lời lẽ gì nữa. Đó là khi nhĩ thức của bạn đến lúc chấm dứt. Nhãn thức của bạn cũng đến lúc kết thúc khi bạn chỉ có thể nhìn thấy cảnh tượng lờ mờ thay vì nhìn thấy hình tướng thật sự của mọi vật. Khi những kinh nghiệm của khứu giác, nếm biết, và xúc chạm cũng chấm dứt và đi tới giai đoạn phân rã sau cùng thì dứt khoát là đã tới thời điểm thích hợp để có thể tiến hành pháp chuyển di.
Sau đó, khi yếu tố bên trong của da thịt tan rã thành yếu tố bên ngoài của đất,315 bạn sẽ kinh nghiệm một cảm giác giống như rơi xuống một cái hố. Bạn cảm thấy nặng nề, như thể bị đè bẹp bởi sức nặng của một trái núi. Đôi khi, người hấp hối yêu cầu hãy nâng người họ lên hay yêu cầu hãy đỡ cao chiếc gối của họ lên. Khi máu tan rã thành yếu tố nước bên ngoài, bạn sẽ chảy nước miếng và nước mũi. Khi yếu tố nhiệt của thân tan rã thành yếu tố lửa bên ngoài, miệng và lỗ mũi bạn cảm thấy ráo khô và thân bạn bắt đầu mất nhiệt, bắt đầu từ chân, tay (starting with the extremeties).*
Extremeties là một thuật ngữ tiếng Anh có nghĩa là chân, tay, các bộ phận nhô ra ngoài của thân thể. Trong một vài trường hợp, hơi (vapour) bốc lên từø đỉnh đầu vào giai đoạn này. Khi hơi thở bên trong, tức yếu tố năng lực (energy) tan rã thành yếu tố khí (air) bên ngoài, thì các năng lực khác nhau của bạn – năng lực đi lên (ascending energy), năng lực bài tiết (energy of evacuation), năng lực nồng nhiệt (fiery energy) và năng lực tỏa khắp (pervading energy) – tất cả đều tan hoà vào năng lực hỗ trợ sinh lực (life-supporting energy). Thở vào trở nên rất khó khăn. Thở ra thì hổn hển, giống như đang đổ dôàn hết cả hai lá phổi qua cổ họng. Rồi tất cả máu trong thân bạn hội tụ lại trong đường khí sinh lực và có ba giọt tinh chất sẽ nhỏ giọt vào trung tâm của trái tim bạn, giọt này sau giọt kia. Rồi với ba hơi thở hắt thì sau đó hơi thở ra của bạn sẽ đột nhiên tắt ngúm.
Vào lúc đó, dù yếu tố trắng hay “tinh dịch” mà bạn đã nhận được từ cha sẽ nhanh chóng từ đỉnh đầu bạn di chuyển xuống phía dưới [xuống đến luân xa tim]. Như một dấu hiệu bên ngoài, bạn trải qua một kinh nghiệm màu trắng giống như một bầu trời không mây được ánh trăng chiếu sáng. Như một dấu hiệu bên trong, bạn kinh nghiệm tánh sáng (clarity) trong tâm thức bạn và ba mươi ba loại thức (niệm tưởng) liên hệ đến tâm thù nghịch sẽ tuyệt dứt. Trạng thái này được gọi là “tánh sáng.”
Yếu tố đỏ hay “máu” mà bạn đã nhận được từ mẹ sẽ nhanh chóng từ vùng rốn (đan điền) của bạn di chuyển lên trên [lên đến luân xa tim]. Như một dấu hiệu bên ngoài, bạn nhận thức kinh nghiệm màu đỏ giống như một bầu trời trong trẻo được ánh sáng rực rỡ của mặt trời thắp sáng. Như một dấu hiệu bên trong, bạn sẽ có một kinh nghiệm hỉ lạc rất lớn lao trong tâm thức và bốn mươi loại thức (niệm tưởng) liên hệ đến tham dục sẽ tuyệât dứt. Trạng thái này được gọi là “tăng trưởng.”
Khi hai yếu tố đỏ và trắng hội tụ lại nơi [luân xa] tim của bạn, thì giọt tâm thức của bạn sẽ tiến vào nằm ở giữa hai yếu tố trắng và đỏ kia. Dấu hiệu bên ngoài là một nhận thức về màu đen giống như màu đen của một bầu trời trong trẻo hoàn toàn ngập trong bóng tối. Dấu hiệu bên trong là tâm thức bạn kinh nghiệm một trạng thái vô niệm, vắng bặt mọi niệm tưởng, và bạn ngất đi, rơi vào một trạng thái hoàn toàn tối nghịt. Điều này được gọi là giai đoạn “thành tựu.”
Sau đó, bạn sẽ bước ra khỏi trạng thái kích ngất và bước vào một kinh nghiệm giống như kinh nghiệm về một bầu trời, nhưng bầu trời này hoàn toàn không bị ảnh hưởng gì của ba bầu trời mà bạn đã kinh nghiệm qua trước đây. Đây chính là khi “thanh tịnh quang của chân tánh”316 đang xuất hiện. Việc nhận thức ra được rằng thanh tịnh quang này chính là chân tánh của bạn và an trụ trong trạng thái đó, điều này được gọi là “chuyển di siêu việt tới Pháp Thân.” Đây là Phật Quả không kinh qua bất kỳ trạng thái trung gian nào [của thân trung ấm].
Sau thời điểm trên thì giai đoạn trung ấm của chân tánh và giai đoạn trung ấm của sự hình thành sẽ tuần tự hiển lộ, nhưng những giai đoạn đó sẽ không được miêu tả ở đây bởi những giai đoạn này sẽ được thuật lại trong các giáo huấn của phần thực hành chính yếu.
Đối với những người không có kinh nghiệm gì đáng kể về con đường tu chứng 317 thì giây phút tốt đẹp nhất để thực hiện pháp chuyển di là lúc tiến trình tan rã vừa mới bắt đầu. Vào lúc đó, hãy hoàn toàn cắt đứt mọi bám luyến với cuộc đời này và hãy làm sống dậy lòng can đảm của bạn bằng cách nghĩ tưởng như sau: “Bây giờ tôi đang hấp hối, tôi sẽ nương cậy vào các giáo huấn của thầy tôi và bay vút tới các cõi tịnh độ giống như một mũi tên được kẻ khổng lồ bắn vọt ra. Điều này thật là hỉ lạc biết bao!”
Vào lúc đó, bạn sẽ khó có thể nhớ lại một cách rõ ràng tất cả những đề mục và những gì phải quán tưởng trong pháp chuyển di, vì thế nếu bạn có một bằng hữu nào đó có thể nhắc nhở bạn về những điều này thì hãy yêu cầu người ấy làm công việc đó. Nhưng dù sao đi nữa, vào thời điểm đó, khi biết nương cậy vào công phu tu tập trước đây của bạn và biết đem giáo huấn của pháp tu sâu xa này vào thực hành, thì nay đã tới lúc bạn phải thực sự làm sao để cho pháp chuyển di này đem lại kết quả hữu hiệu!
Và sau đây là những bước thực hành chính yếu của pháp chuyển di; cho dù là bạn tu tập cho bản thân bạn [khi đang còn sống] hay là đem pháp tu này vào thực hành [khi lìa đời] thì những bước thực hành cũng đều giống như nhau.
3. Trình tự của pháp thiền định chuyển di
Hãy ngồi thoải mái trên một tấm nệm, chân bắt chéo trong tư thế kim cương, giữ cho lưng hoàn toàn thẳng.
1.1 PHÁP CHUẨN BỊ
Trước tiên, hãy hoàn tất toàn thể các pháp tu dự bị cho thật rõ ràng, chi tiết, bắt đầu bằng bài tụng đọc Gọi Thầy Từ Chốn Xa và tiếp tục cho tới phần tan hoà (dissolution) trong pháp Bổn Sư Du Già (Guru Yoga).
1.2 PHÁP QUÁN TƯỞNG CHÍNH YẾU
Hãy quán tưởng xác thân phàm của bạn,318 trong một khoảnh khắc, trở thành thân tướng của Nữ Kim Cang Du Già (Vajra Yoginī). Vajra Yoginī mang sắc màu đỏ, có một khuôn mặt và hai cánh tay, đang đứng bằng cả hai chân, bàn chân phải giở lên trong “tư thế đang bước.” Ba con mắt của Vajra Yoginī nhìn lên trời. Những hướng dẫn này nhằm mục đích chuyển di nên hãy quán tưởng Ngài với nét quyến rũ, an bình đồng thời hơi phẫn nộ. Bàn tay phải của Ngài giơ lên trong không trung, khua lách cách một cái trống nhỏ làm bằng sọ người đánh thức chúng sinh khỏi giấc ngủ của vô minh và lầm lạc. Trong bàn tay trái, Ngài cầm một lưỡi dao lưỡi liềm ngang hông để cắt đứt tận gốc tam độc tham sân si. Thân mình của Ngài trần trụi ngoại trừ một vòng hoa và các vật trang sức bằng xương [đeo trên người]. Như một căn lều bằng lụa đỏ, Ngài hiển lộ nhưng không có thực chất hay thực sự có ở đó. Tất cả những điều này là áo giáp hư huyễn bên ngoài (outer empty enclosure) của thân tướng.
Ở ngay trung tâm, suốt dọc thân thẳng đứng của bạn [nay trong hình tướng của Vajra Yoginī], hãy quán tưởng đường kinh mạch trung ương giống như một cây cột trong một ngôi nhà trống. Được gọi là kinh mạch “trung ương” bởi đường khí ấy nằm ngay nơi trục của thân, không nghiêng sang trái hay sang phải. Đường kinh mạch trung ương có bốn đặc tính. Thứ nhất, mang màu xanh biếc như một phim ảnh màu chàm (indigo), tượng trưng cho Pháp Thân bất biến. Thứ nhì, kết cấu của đường khí ấy vi tế giống như một cánh hoa sen, tượng trưng cho tính chất mỏng manh của những bức màn che chắn xuất hiện từ những thói quen huân tập. Thứ ba, đường khí ấy sáng như ngọn lửa của một cây đèn dầu mè, tượng trưng cho bóng tối vô minh đã được xua tan. Thứ tư, đường khí ấy thẳng như một khúc tre, là biểu hiện sẽ không bao giờ dẫn tới những con đường xấu thấp hoặc sai lạc. Đầu trên của đường kinh trung ương mở thẳng vào cửa Phạm Thiên nơi đỉnh đầu [nơi tâm thức có thể thoát ra], giống như một cửa sổ mở toang trên mái nhà, biểu hiệu cho con đường đưa tới giải thoát và những cõi tái sinh cao hơn, trong khi đầu dưới của đường kinh trung ương đóng kín lại không có lỗ mở nào, dưới rốn khoảng bốn ngón tay, biểu hiện rằng những lối trở lại vào vòng luân hồi sinh tử và các cõi tái sinh thấp đã được đóng kín. Tất cả những điều này là áo giáp rỗng rang bên ngoài (outer empty enclosure) của đường kinh mạch trung ương.
Bây giờ hãy quán tưởng bên trong đường kinh mạch trung ương ở khoảng ngang tầm trái tim, chỗ đó như hơi phồng ra, giống như một cái mắt trong một thân tre. Phía trên chỗ cái mắt phồng ra này, hãy quán tưởng giọt tinh chất (bindu) của năng lực, màu xanh lá cây nhạt, sống động và mạnh mẽ. Ngay trên đó là tinh tuý của tâm thức của bạn, một chữ hrih màu đỏ, với dấu nguyên âm dài và hai chấm nhỏ thay thế cho visarga,* lay động và rung rinh như một lá cờ trong gió.
* Đây là một dấu hiệu của Phạn ngữ được phát âm như một âm “h” nặng. Theo cách phát âm của tiếng Tây Tạng thì chỉ cần kéo dài âm tiết, và được viết bằng hai vòng tròn nho,û cái này trên cái kia, tượng trưng cho trí tuệ và phương tiện.
(Chữ hrih được quán tưởng theo cách này) tượng trưng cho Giác tánh của bạn.[319]
Trong không gian trên đầu bạn một cubit (khoảng 46 cm), hãy quán tưởng một chiếc ngai báu, được tám con công vĩ đại nâng lên. Trên đó là một hoa sen nhiều màu, cùng với hai đĩa mặt trời và mặt trăng, cái này nằm trên cái kia, tạo thành một tấm nệm ba lớp [xếp chồng lên nhau]. An toạ trên toạ cụ ấy là Bổn Sư vinh quang của bạn, là kho tàng bi mẫn không gì sánh bằng, hiển lộ trong thân tướng cửa tất cả chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai, và trong thân tướng của đức Phật Thế Tôn và đức Hộ Phật A Di Đà (Amitabha). Ngài mang sắc màu đỏ, giống như một trái núi bằng hồng ngọc được một ngàn mặt trời bao bọc. Ngài có một khuôn mặt, hai bàn tay nghỉ ngơi trong tư thế thiền định, cầm một bình bát chứa đầy chất cam lồ bất tử của trí tuệ. Ngài đắp tam y, là y phục của một Hoá Thân siêu phàm320 tuân giữ phạm hạnh thanh tịnh. Thân Ngài mang ba mươi hai tướng chính và tám mươi tướng phụ, chẳng hạn như nhục kế nhô cao (usnisa) trên đỉnh đầu và các luân xa in dấu trên lòng bàn chân– toàn thân Ngài được bao phủ trong ánh hào quang rực rỡ đến từ muôn ngàn tia ánh sáng đang phóng toả.
Bên phải đức A Di Đà là đấng Quán Thế Âm (Avalokitesvara) cao quý, hiện thân của lòng bi mẫn của tất cả chư Phật — đức Quán Thế Âm mang sắc trắng, với một khuôn mặt và bốn cánh tay. Đôi bàn tay ở phía trên chắp lại nơi tim, lòng bàn tay úp vào nhau. Bàn tay phải ở phiá dưới đang lần một chuỗi tràng pha lê màu trắng, và bàn tay trái phiá dưới đang cầm một cành sen trắng, bông hoa nằm sát tai Ngài, tất cả các cánh hoa đều nở bung ra.
Bên trái đức A Di Đà là Kim Cương Thủ (Vajrapani), Pháp Vương của các pháp ẩn mật, hiện thân của thần uy và oai lực của tất cả chư Phật. Ngài mang sắc màu xanh dương, hai bàn tay bắt chéo trước ngực; trong tay Ngài cầm một cái chày kim cang và một cái chuông.
Cả hai vị Bổn Tôn (Quán Thế Âm và Kim Cương Thủ) đều mang mười ba vật trang sức** Xem Phần Hai, Chương Ba, Mục III. của Báo Thân. Đức Phật A Di Đà an tọa, hai chân xếp chéo trong tư thế Kim Cương. Điều này tượng trưng cho việc Ngài luôn an trụ mà không rơi vào những cực đoan của cả sinh tử lẫn Niết Bàn. Còn hai vị Bồ Tát (Quán Thế Âm và Kim Cương Thủ) trong tư thế đang đứng thẳng, điều này tượng trưng việc các Ngài không bao giờ mệt mỏi khi làm việc vì lợi ích của chúng sinh.
Xung quanh ba vị Hộ Phật và Bổn Tôn chính yếu này, là tất cả các bậc Thầy của dòng truyền thừa của pháp chuyển di thâm diệu. Tất cả các Ngài hội tụ lại như những đám mây trong một bầu trời trong trẻo. Các Ngài hướng khuôn mặt tràn đầy lòng từ ái về phía bạn và tất cả các chúng sinh khác. Các Ngài chăm chú nhìn bạn với những đôi mắt ánh lên nụ cười, nghĩ tưởng về bạn với niềm hoan hỉ. Hãy nhớ tưởng tới các Ngài như những người đưa đường vĩ đại giúp giải thoát bạn và tất cả chúng sinh khỏi những thống khổ của vòng sinh tử và các cõi thấp, đưa dẫn bạn tới cõi thuần tịnh của đại lạc. Hãy quán tưởng theo văn bản, bắt đầu từ câu:
Thân xác phàm [318] của con trở thành sắc tướng của Thánh Nữ Kim Cang Du Già (Vajra Yoginī)…
xuống tới câu:
...Ba con mắt Ngài ngước nhìn lên bầu trời.
Rồi từ câu:
Đường khí mạch trung ương chạy dọc suốt giữa
thân Ngài…
cho tới câu:
…Thân Ngài thật toàn mỹ với tất cả các tướng chính và phụ…
Sau đó, với tất cả niềm tin và kỳ vọng, toàn thân bạn như bừng bừng lên và nước mắt tuôn rơi, hãy lập lại càng nhiều lần càng tốt lời khẩn nguyện sau đây:
Đức Thế Tôn, Như Lai, A La Hán, Đức Phật Toàn Giác, đấng Hộ Phật A Di Đà, con xin quy mạng lễ. Con xin cúng dường lên Ngài. Con xin nương tựa nơi Ngài.
Rồi hãy tụng đọc đầy đủ bài cầu nguyện kế tiếp ba lần, bắt đầu từ câu:
Emaho (Kỳ diệu thay)! Nơi chốn này, cõi Sắc Cứu Cánh Thiên viên mãn đã hiển hiện tự nhiên…
cho tới câu:
... Nguyện cho con nắm giữ được đại-phương quảng-trí của Pháp Thân!
Kế đó hãy tụng ba lần phẩm cuối cùng, bắt đầu từ câu:
Với lòng quy ngưỡng trong tâm…
Cuối cùng, tụng ba lần dòng cuối cùng sau đây:
… Nguyện cho con an trụ trong đại-phương quảng-trí của Pháp Thân!
Trong khi bạn cầu nguyện, hãy chỉ chú tâm vào chữ hrīh, là biểu tượng của Giác tánh của bạn, và cầu nguyện với lòng quy ngưỡng hướng về bậc Thầy và đấng Hộ Phật của bạn, tức đức Phật A Di Đà, tới nỗi đôi mắt bạn trở nên đẫm lệ.
Sau đây là đến phần nghi thức phóng xuất thần thức. Khi bạn tụng “Hrīh, Hrīh,” năm lần từ phía sau vòm miệng, chữ hrīh màu đỏ, tượng trưng cho Giác tánh của bạn, được giọt tinh lực (bindu of energy) rung động màu xanh lá cây nhạt [321] nâng bổng lên, càng lúc càng được nâng bổng lên cao và luôn luôn rung động [tất cả đều nằm ở giữa đường khí mạch trung ương]. Khi giọt tinh lực hiện ra ở cửa Phạm Thiên trên đỉnh đầu bạn, hãy hô lớn “Hik!” và quán tưởng giọt tinh lực ấy phóng vút lên, giống như một mũi tên được tên khổng lồø bắn đi, và tan hoà vào trái tim đức Phật A Di Đà.
Hãy thực hành nghi thức trên bảy lần, hai mươi mốt lần hoặc nhiều hơn nữa, trong khi quán tưởng chữ hrīh trong tim bạn và lập lại tiếng hô “Hik!” như trước đó. Trong các truyền thống khác, người ta hô “Hik!” khi phóng tâm thức lên và hô “Ka” khi thả cho thần thức rơi trở xuống, nhưng theo truyền thống này chúng ta không hô “Ka” khi thả cho thần thức rơi trở xuống.
Sau đó, hãy hành trì nghi thức như trên càng nhiều lần càng tốt, số lần nhiều ít tuỳ nghi sao cho phù hợp với bạn, và bắt đầu với câu:
Đức Thế Tôn… Đấng Hộ Phật A Di Đà…
Sau đó tụng những lời cầu nguyện và thực hành kỹ thuật phóng xuất tâm thức và những nghi thức còn lại. Rồi một lần nữa, hãy tụng ba hay bảy lần câu:
Đức Thế Tôn… Đấng Hộ Phật A Di Đà…
xuống tới câu:
…Con xin cúng dường lên Ngài. Con xin nương tựa nơi Ngài.
Hãy thực hành theo nghi thức này với lời khẩn nguyện chuyển di cô đọng được gọi là Cắm Cọng Cỏ, được vị tôn giả khai quật tàng kinh Nyi da Sangye [322] biên soạn và trao truyền qua dòng truyền thừa của Tu viện Dzogchen:
Đức Phật A Di Đà, con xin quy mạng lễ trước Pháp toà;
Đức Liên Hoa Sanh xứ Oddiyāna, con khẩn cầu Ngài;
Bổn Sư từ ái, xin che chở con bằng lòng bi mẫn của Ngài!
Chư vị Bổn Sư và Tôn Sư thuộc dòng truyền thừa, xin dẫn dắt con trên con đường tu.
Xin gia hộ cho con để con có thể thành tựu con đường chuyển di thâm diệu.
Xin gia hộ cho con để con đường chuyển di thần tốc này có thể đưa con tới cõi tịnh độ.323
Xin gia hộ cho con và những chúng sinh khác để ngay khi cuộc đời này chấm dứt,
Xin cho chúng con được vãng sinh nơi cõi Cực Lạc!
Hãy tụng lời cầu nguyện này ba lần, và sau đó lập lại ba lần dòng cuối cùng. Hãy tiếp tục thực hành kỹ thuật phóng xuất thần thức như đã được giảng dạy trước đây, trong một khoảng thời gian lâu hay mau sao cho phù hợp với bạn. Rồi lại bắt đầu từ câu:
Đức Thế Tôn, Như Lai...
và tụng đọc lời cầu nguyện chuyển di theo Giáo Lý Hư Không, được truyền dạy qua dòng truyền thừa của Tu viện Palyul [324]:
Emaho! Đức Phật A Di Đà, đấng Hộ Phật kỳ diệu nhất,
Đức Quán Thế Âm Đại Từ Đại Bi và đức Kim Cang Thủ đầy uy lực,
Vì lợi lạc của bản thân cùng những chúng sinh khác, con
xin chí tâm chí thành khẩn cầu chư vị:
Xin gia hộ cho chúng con để chúng con có thể thành tựu
con đường chuyển di thâm diệu.
Xin gia hộ cho chúng con để vào giây phút lìa đời,
Tâm thức của chúng con sẽ được chuyển di tới Pháp Giới Cực Lạc!
Hãy tụng đọc lời cầu nguyện này ba lần, lập lại hai dòng sau cùng thêm ba lần nữa. Rồi hãy thực hành kỹ thuật phóng xuất tâm thức như đã được giảng dạy trước đó.
Hai lời cầu nguyện sau cùng này không có trong những văn bản ghi chép giáo huấn Tâm-Yếu của Đại-Quảng-Trí và không được Ngaiø Rigdzin Jigme Lingpa truyền dạy, nhưng được truyền xuống từ Ngài Dzogchen Rinpoche qua Tu viện Gochen, và qua các vị Đạo Sư kế thừa khác. Những lời cầu nguyện trên trở thành một phần trong những khẩu truyền được Ngài Kyabe Dodrup Chen Rinpoche thọ nhận, và Ngài đã hợp nhất tất cả những lời cầu nguyện thành một dòng pháp duy nhất. Bản thân Ngài đã sử dụng những lời cầu nguyện này, cũng giống như Bổn Sư tôn kính của tôi đã làm. Dodrup Chen Rinpoche cũng được kế thừa những giáo huấn về pháp chuyển di được truyền xuống từ Ngài Gampopa thuộc dòng Kagyu. Bởi thế, một số lời cầu nguyện của Ngài Gampopa được tìm thấy trong bản văn cầu nguyện chuyển di do Dodrup Chen Rinpoche biên soạn, mặc dù những lời cầu nguyện đặc biệt này không phải là những gì Bổn Sư của tôi thường trì tụng. Dù sao đi nữa, tiến trình quán tưởng của tất cả những truyền thống khác nhau vẫn hoàn toàn giống nhau, nên không còn phải nghi ngờ gì nữa mà phải hiểu là những suối nguồn giáo huấn này đã được hợp nhất để trở thành một con sông lớn. Vị Thầy tôn kính của tôi đã nhiều lần thọ nhận những giáo huấn này từ Kyabje Dodrup Chen Rinpoche. Tôi cho rằng tất cả những ai đã từng thọ nhận những giáo huấn chuyển di này từ Ngài cũng đã đồng lúc nhận được những giáo huấn về pháp chuyển di của truyền thống Kagyu, và vì thế, được cho phép trì tụng những lời cầu nguyện của dòng truyền thưà tương ứng cùng với những lời cầu nguyện khác. Cho dù hai lời cầu nguyện cô đọng được tôi ghi ra ở đây có đồng nhất với những lời cầu nguyện được ghi trong tuyển tập cầu nguyện của Ngài Dodrup Chen Rinpoche hay không chăng nữa, thì chúng cũng chỉ khác biệt rất tối thiểu nếu đem so với những văn bản khác, và vì thế tôi đã ghi lại theo đúng hệt như những gì mà vị Thầy tôn kính của tôi đã giảng dạy.
Có lần Thầy tôi đang truyền dạy pháp chuyển di theo truyền thống của Giáo Lý Hư Không. Trong khi Ngài đang thực hành (hướng dẫn) pháp chuyển di cho một đám đông khổng lồ thì một vài người đã không bắt kịp được câu sau đây mà Ngài đã thêm vào “…tất cả những điều này (di nam), khi giây phút lìa đời đến với họ;” và vì thế mà bây giờ một vài người thường nói: “…những nhận thức của cuộc đời này (dir nang)..,” và những người khác thì lại nói “…bởi thế (di ne)..,” nhưng theo ý kiến của tôi thì cả hai lối nói trên đều có phần hơi sai trật.
Khi bạn đã hoàn tất pháp môn chuyển di nhiều lần và đến lúc kết thúc thời khóa, hãy niêm phong pháp môn lại trong đại-phương quảng-trí của năm Thân (expanse of the five kāyas) bằng cách hô lên tiếng “P’et” năm lần. Sau đó, hãy an trú trong trạng thái an tịch tự nhiên không tạo tác bất kỳ điều gì.
Sau đó, tất cả những vị Thầy của dòng truyền thừa trên đỉnh đầu bạn sẽ tan hòa vào ba vị thượng thủ (A Di Đà, Quán Thế Âm và Kim Cương Thủ); rồi hai vị Bồ Tát Quán Thế Âm và Kim Cương Thủ tan hòa vào đức Phật A Di Đà; và đức Phật A Di Đà (Vô Lượng Quang)ø tan thành ánh sáng và sau đó tan hòa vào bạn. Hãy quán tưởng chính bạn ngay lập tức hoá hiện thành ra vị Hộ Phật Vô Lượng Thọ (Amitayus) trong sắc màu đỏ, với một khuôn mặt, hai tay và hai chân. Ngài toạ thiền trong tư thế Kim Cương (Vajra). Hai tay ngài bắt ấn thiền định, cầm một bình bát sinh lực tràn đầy cam lồ của trí tuệ bất tử và trên đỉnh bình bát có một nhánh cây như ý. Ngài mang trên mình mười ba bảo vật trang sức của Báo Thân.
Hãy tụng câu “Om Amarani Jīvantiye Svāhā” (minh chú của đức Amitayus Vô Lượng Thọ) một trăm lần, sau đó hãy tụng đà ra ni trường thọ và những câu minh chú khác. Điều này ngăn ngừa giúp cho thọ mạng của bạn không bị ảnh hưởng bởi pháp thực hành chuyển diø – và nhờ vào chân lý của duyên tương khởi này – sẽ tẩy trừ bất kỳ chướng ngại nào có thể đe dọa đến thọ mạng của bạn.[325] Phần hành trì minh chú và quán tưởng Vô Lượng Thọ này không cần thiết khi bạn thực hành pháp chuyển di tâm thức cho một người hấp hối hay cho người đã chết, và cũng không cần thiết khi bạn đang thực sự thực hành pháp chuyển di cho chính bản thân bạn vào lúc lìa đời.
Những dấu hiệu thành tựu trong pháp chuyển di được mô tả trong bản chánh văn như sau:
Đầu đau nhức; một giọt huyết thanh (serum) lóng lánh như sương xuất hiện; Có thể từ từ cắm sâu một cọng cỏ [vào trên đỉnh đầu].
Hãy miên mật hành trì cho đến khi những dấu hiệu này xuất hiện.
Để kết thúc, hãy hồi hướng công đức và trì tụng Bài Nguyện Vãng Sanh Tây Phương Cực Lạc và những bài nguyện khác. Khác với những pháp môn hành trì khác của hai giai đoạn phát triển và toàn thiện, những giáo huấn về con đường thâm diệu của pháp chuyển di không đòi hỏi thời gian tu tập lâu dài. Những dấu hiệu thành tựu nhất định sẽ xảy đến sau một tuần lễ thực tập miên mật. Đó là điều tại sao phương pháp này được gọi là “Giáo Pháp đem lại Phật Quả phi thiền định,” và đó là điều tại sao mọi người nên lấy con đường tắt vô song này làm pháp môn hành trì hằng ngày.
Không thể tự lo cho mình, con lảm nhảm lung tung với người quá cố.
Không tu hành, nhưng con trải rộng vòm Giáo Pháp vô tận.
Xin từ bi gia hộ cho con và những kẻ gian xảo như con,
Để chúng con có thể tinh tấn, hành trì miên mật.
Các hang động gần Tu Viện Dzogchen
Tại những hang động này, Patrul Rinpoche đã trải qua nhiều năm trong thiền định. Hang động phía dưới mang tên “Cung Điện Kinh Hoàng của Yamantaka” là nơi đại sư Patrul Rinpoche đã trú ngụ trong thời gian biên soạn tác phẩm “Lời Vàng Của Thầy Tôi.”
KẾT LUẬN
Những giáo huấn dưới đây, gồm mười hai đề mục chính yếu, với sáu đề mục đầu tiên liên quan tới những pháp tu dự bị thông thường bên ngoài:
1. Sử dụng đời người cho những điều thật sự quan trọng bằng cách quán chiếu về những điều kiện tự do và những thuận duyên rất khó tìm.
2. Tự thôi thúc mình phải tinh tấn bằng cách quán chiếu về lẽ vô thường của cuộc đời.
3. Phát khởi quyết tâm cầu tìm giải thoát cùng với tâm từ bi nhờ vào việc nhận biết ra được bản chất của toàn bộ vòng sinh tử luân hồi là đau khổ.
4. Từ bỏ những điều xấu ác và noi theo những điều tốt lành trong bất kỳ việc gì nhờ vào những hiểu biết rốt ráo về những hậu quả của việc làm của mình.
5. Càng ngày càng thiết tha với kết quả thành tựu bằng cách nhớ đến những lợi lạc của giải thoát.
6. Bằng cách theo chân một vị Thầy tâm linh chân chính, tự rèn luyện bản thân để tích cực theo gương những chứng nghiệm và thiện hạnh của Ngài.
Năm đề mục kế tiếp bao gồm những pháp tu dự bị phi thường hay những chuẩn bị bên trong:
1. Đặt ý nguyện tìm cầu giải thoát trên nền tảng của quy y Tam Bảo.
2. Thiết lập một cái khung vững chắc cho vô lượng công hạnh của một vị Bồ Tát bằng cách khơi dậy tâm Bồ Đề tối thượng.
3. Sám hối những ác hạnh và những vi phạm giới hạnh, là gốc rễ của tất cả những gì bất thiện, và nương vào bốn lực tịnh hoá nghiệp, thực hành thiền định và trì tụng về Đức Kim Cang Tát Đỏa (Vajrasattva).
4. Tích lũy công đức và trí tuệ, là suối nguồn của tất cả những tiến triển tâm linh, bằng cách cúng dường những cõi Tịnh Độ của ba Thân (kāyas) trong hình thức của một mạn đà la.
5. Tự khơi dậy tuệ giác tối thượng trong bản thân bằng cách khẩn nguyện Bổn Sư, là suối nguồn của mọi năng lực gia trì.
Cuối cùng, trong trường hợp cái chết đột ngột xảy đến trước khi bạn có thể hoàn tất con đường tu, hãy nương vào pháp chuyển di tâm thức để nối kết với các cõi tịnh độ, dẫn đến Phật Quả mà không cần thiền định.
Những pháp tu dự bị này cũng có thể được trình bày như sau. (1) Nhờ vào bốn tư tưởng quán chiếu chuyển tâm giúp bạn quay lưng lại với cõi sinh tử luân hồi và nhờ vào những hiểu biết về lợi ích của giải thoát, bạn có thể làm sống dậy lòng cương quyết tìm cầu giải thoát, và chính lòng cương quyết chí thành này sẽ mở ra một lối vào cho toàn bộ con đường tu. (2) Nhờ theo chân một vị Thầy tâm linh, suối nguồn của mọi phẩm hạnh tốt lành, bạn sẽ tạo được những thuận duyên cho con đường tu. (3) Nhờ quy y Tam Bảo làm nền tảng, và nhờ khơi dậy được tâm Bồ Đề, tu tập hành trì theo sáu pháp toàn thiện siêu việt (lục độ ba la mật) mà bạn sẽ được dẫn dắt đi trên con đường chánh đạo của chư Phật Toàn Trí Toàn Giác.
Có những giáo huấn khác cũng được biết tới qua những giải thích dựa trên ba loại tri giác,326 ba loại căn cơ của chúng sinh, hoặc dựa trên pháp tu Đại Thủ Ấn theo truyền thống Kinh điển327… nhưng tất cả những điểm trọng yếu của những con đường đó đều được hợp nhất ở đây trong tác phẩm luận giải này.
Tuy nhiên, tất cả những Giáo Pháp như pháp tịnh hóa và tích lũy (hai bồ phước tuệ), vận dụng hai phương pháp tối cao là (1) pháp môn hành trì Kim Cang Tát Đỏa (Vajrasattva) và (2) pháp cúng dường Mạn đà la; (3) pháp Bổn Sư Du Già (Guru Yoga), con đường bí mật dẫn đến năng lực gia trì thâm diệu; và (4) những giáo huấn về pháp chuyển di tâm thức dẫn đến Phật Quả mà không cần thiền định – tất cả những Giáo Pháp trên đều là những Giáo Pháp vô song, được cắt nghĩa giảng giải một cách đặc biệt theo đúng truyền thống tu tập của riêng dòng truyền thừa này.
Sau những pháp môn hành trì này, ta sẽ bước vào con đường chính yếu phi thường, là tinh tuý của Giáo Pháp kim cương Tâm-Yếu (Heart Essence), gồm có những pháp tu dự bị đặc biệt dẫn đến ba Thân (kāya), đến chân tâm, và đến giác tánh. Sau đó, một khi nương vào pháp gia trì của giác tánh năng hoạt 328 mà ta được chỉ cho thấy lối vào chân như, thì rồi ta cũng sẽ nhận được thêm những hướng dẫn trực chỉ chân tâm, dựa trên chính những kinh nghiệm tuần tự tu chứng của riêng ta.* Đoạn này ám chỉ các pháp thiền đặc biệt của Đại Viên Mãn.
Khi biên soạn những giáo huấn này, tôi gần như không để cho những cân nhắc về mỹ học hay văn chương lôi kéo. Mục đích chính của tôi là chỉ ghi chép một cách trung thực những giáo huấn truyền khẩu của vị Thầy tôn kính của tôi theo một cách trình bày dễ hiểu và có lợi lạc cho tâm thức. Tôi đã cố gắng bằng hết khả năng của mình để không làm hư hoại những giáo huấn ấy bằng cách pha trộn vào đó những ngôn từ và ý tưởng của riêng tôi.
Trong một số trường hợp riêng biệt, Thầy tôi cũng thường ban nhiều giáo huấn đặc biệt chỉ dạy cách phơi bày những lỗi lầm tiềm ẩn, và tôi đã thêm vào bất kỳ những gì tôi nhớ được về những điều này trong những đoạn văn thích hợp nhất. Đừng nên coi những giáo huấn phơi bày lỗi lầm này như một cánh cửa sổ để qua đó bạn có thể xem xét lỗi lầm của người khác, mà phải coi đó là một tấm gương để quán sát chính bạn. Hãy xem xét kỹ lưỡng trong bản thân bạn để xem mình có hay không có những lỗi lầm tiềm ẩn đó. Nếu có, hãy nhận ra chúng và hãy trục xuất chúng. Hãy chỉnh sửa tâm bạn và thanh thản đặt tâm ấy trên con đường tu đúng đắn. Như Ngài Atisa đã nói:
Vị Thầy tâm linh tuyệt vời nhất là người tấn công vào những lỗi lầm tiềm ẩn của bạn. Giáo huấn xuất sắc nhất là giáo huấn đánh trúng vào những lỗi lầm đó. Những người bạn tuyệt hảo nhất là chánh niệm và tỉnh giác. Sự khích lệ tốt lành nhất là kẻ thù, chướng ngại và đau khổ của bệnh tật. Phương pháp thiện xảo nhất là không tạo tác bất kỳ điều gì.
Điều cực kỳ quan trọng là hãy làm sao để cho những giáo huấn ấy tác động được tới những lỗi lầm tiềm ẩn của bạn, vận dụng Giáo Pháp để sửa chữa tâm bạn, luôn luôn duy trì chánh niệm và tỉnh giác, nhận về mình toàn bộ trách nhiệm khi có bất kỳ điều gì xảy ra, thậm chí không bao giờ để cho dù chỉ một tư tưởng bất thiện phát khởi, và hãy nương vào Giáo Pháp để điều phục tâm bạn. Nếu bạn có thể làm được tất cả những điều này, bạn sẽ ban cho chính bạn một đặc ân. Giáo Pháp sẽ trở nên vô cùng lợi lạc cho tâm bạn, và việc bạn theo chân một vị Thầy sẽ bắt đầu có ý nghĩa thật sự. Ngài Atisa cũng có nói:
Cách tốt nhất bạn có thể giúp đỡ người khác là dẫn dắt họ đến với Pháp. Cách tốt nhất họ có thể đón nhận sự giúp đỡ là chuyển tâm hướng về Pháp.
Tóm lại, giờ đây bạn đã có được những điều kiện tự do và thuận lợi của đời người. Bạn đã gặp một vị chân sư và nhận được những giáo huấn thâm diệu. Duyên may để đạt được Phật Quả bằng cách đưa giáo pháp của chín thừa vào thực hành giờ đây là của bạn. Bây giờ là lúc bạn có thể vạch ra một con đường cho tất cả những đời vị lai của bạn – hoặc bây giờ cũng là lúc bạn có thể phó mặc đời mình cho định mệnh. Giờ đây là lúc bạn có thể chuyển tâm hướng về những điều thiện – hoặc giờ đây là lúc bạn từ bỏ điều thiện để đến với những gì xấu ác. Chính giây phút này là bước ngoặt giữa hai hướng đúng và sai của toàn bộ sự sống của bạn. Phước duyên này giống như việc bạn tìm được một chút thức ăn khi bạn chỉ mới ăn được một bữa trong một trăm bữa suốt cuộc đời bạn. Vì thế hãy tận dụng Giáo Pháp để tự giải thoát bản thân trong khi bạn còn có thể làm được điều đó, hãy để cho cái chết trở thành một thôi thúc, (thúc đẩy bạn tu tập) trong bất kỳ giờ phút nào. Hãy cắt bớt những hoạch định thế tục của bạn trong đời này, và hãy tinh tấn thực hành những thiện hạnh và từ bỏ những ác hạnh – cho dù phải trả giá bằng cả cuôc đời mình. Hãy theo học một vị Thầy chân chính và chấp nhận không chút do dự bất cứ điều gì Ngài khuyên bảo bạn. Hãy dâng hiến thân và tâm của bạn cho Tam Bảo. Khi hạnh phúc đến, hãy nhận ra đó là lòng từ bi của các Ngài. Khi đau khổ xảy ra, hãy nhận ra đó là kết quả của những nghiệp đã tạo trong quá khứ của chính bạn. Hãy chuyên chú hành trì các pháp tích tập công đức và pháp tịnh hóa với tác ý hoàn toàn thanh tịnh của Bồ Đề Tâm. Cuối cùng, nhờ vào lòng quy ngưỡng và mật nguyện thanh tịnh, hãy hợp nhất tâm bạn với tâm của vị Thầy cao cả của dòng truyền thừa chân chính, mãi mãi hợp nhất, không bao giờ chia cắt. Hãy chiếm giữ thành lũy của chân như ngay trong đời này, can đảm nhận lãnh trách nhiệm giải thoát tất cả chúng sinh, là những bà mẹ già nua của chúng ta ra khỏi ngục tối luân hồi. Điều này bao gồm tất cả những giáo huấn cốt tủy trọng yếu nhất.
Giáo huấn cốt tủy của dòng truyền thừa ba chi phái
giữa con sông cam lồ,
Hương vị dịu ngọt từ môi Thầy thuộc truyền thống chân
chính,
Những điểm trọng yếu trong các pháp tu của chín thừa,
Tất cả được đúc kết ở đây, không lỗi lầm hay pha tạp.
Những lời tốt lành này giống như thực phẩm khéo nấu,
Mọi hí luận của lời lẽ hoa mỹ đều đã được sàng lọc,
Được nêm bằng tinh túy thơm ngon của pháp hành trì
thâm diệu nhất,
Trong nước cốt của giáo huấn đặt trên nền kinh nghiệm.
Những lời tốt đẹp này giống như một nông dân thiện nghệ
Khắp mảnh đất hoang của tâm xấu ác, tam độc mọc tràn lan,
Đã đào xới mọi lỗi lầm tiềm ẩn bằng lưỡi cày kim cương của giáo lý,
Và khéo léo tưới tẩm đất hoang bằng nước mát của Chân Pháp.
Những lời tốt đẹp này giống như một vụ mùa bội thu.
Trên mảnh đất phì nhiêu của quyết tâm thoát khỏi luân hồi,
Hạt giống Bồ Đề Tâm được gieo trồng cẩn thận,
Được nuôi dưỡng bằng công đức, cùng tẩy tịnh, sinh ra
trái quả của thành tựu tâm linh.
Những lời tốt đẹp này giống một vú em tử tế.
Xem xét lỗi lầm tiềm ẩn và nhổ bật tận gốc rễ,
Khéo léo thúc đẩy hãy tốt lành hơn một trăm lần như thế,
Luôn quan tâm giúp đỡ chỉ vì muốn trẻ thơ thêm toàn thiện.
Không chỉ là ngôn từ mà là yếu nghĩa thâm sâu;
Còn nồng ấm hơi thở của vị Thầy vô song của tôi.
Ai coi những lời này như viên ngọc quý trong tâm họ
Chắc chắn đang bước đi trên con đường thuần khiết chân chính.
Những giáo huấn tốt lành này là phương tiện thiện xảo
đặc biệt của chư Bồ Tát,
Một bản văn linh hiển được viết ra, không tao nhã, không văn thơ
Mà sử dụng ngôn ngữ thông thường để giảng dạy con đường chân chính,
Để mọi lợi lạc và các pháp tu có thể thâm nhập đáy lòng.
Những bình giảng rộng rãi đầy ắp chi tiết Không dễ thích hợp trong không gian tù túng của tâm thức hạn hẹp. Những luận giảng cao xa về các quan điểm triết học và giáo thuyết thâm sâu Khó đưa vào thực hành đối với những kẻ trí tuệ thấp kém trong thời đại suy đồi.
Đó là lý do tại sao bản văn này cô đọng và dễ hiểu,
Là thần dược quý báu thấm nhập khe hở tí hon trong tâm trí chật hẹp,
Một ngọn đèn soi sáng bóng tối cho những kẻ độn căn,
Một ông giáo điềm tĩnh, tự truyền đạt rõ ràng yếu nghĩa đúng đắn.
Đối với bậc thông thái yêu thích luận thuyết dông dài,
Đối với vị thầy vĩ đại không tìm được điều gì để áp dụng cho chính mình, trong văn bản, và trong truyền thống khẩu truyền,
Khi được uống giòng cam lồ giáo huấn tâm yếu tuyệt hảo này
Sẽ làm hồi sinh tinh túy của công phu hành trì, không còn gì nghi ngại.
Đối với người ẩn tu, thiền định thiếu hướng dẫn như thể ném đá vào bóng tối,
Đối với kẻ lão luyện, kiêu căng về tất cả các pháp hành trì,
Đối với những kẻ thành tựu hư giả chưa từng đương đầu với giới hạn của bản thân,
Con đường này sẽ chữa lành tật bệnh trong tâm họ.
Bản văn này không pha chế những câu cú vẽ vời, phức tạp,
Không là cầu vồng tô vẽ khéo léo bằng ngôn từ kỳ dị
Bởi một số kẻ tinh thông uyên bác nhưng hời hợt trong văn điển,
Chúng chẳng là gì cả so với những lời vàng của vị Thầy từ ái của tôi.
Chư huynh đệ kim cương của tôi vẫn còn có thể làm chứng,
Về thời đại hiện hữu của bậc Toàn Giác, vị Thầy vô song
của tôi Bởi thời đại tốt đẹp đó đâu đã là một quá khứ xa xăm,
Một thời đại may mắn cho cả Tây Tạng và thế giới –
Công hạnh của bậc tôn quý ấy là nguồn cảm hứng cho tôi,
Để biên soạn một trước tác những lời chân thật của Ngài.
Là dấu ấn của lòng quy ngưỡng và thiện ý của tôi,
Đáng được chư huynh đệ và ngay cả chư Thiên hoan hỉ tán thán.
Những kẻ may mắn sống trong đời vị lai cũng thế:
Hãy phát khởi lòng quy kính tương tự khi đọc bản văn này
Chẳng khác nào được giáp mặt vị Thầy giác ngộ của tôi,
Tôi tin rằng những lời này chuyên chở tinh hoa giáo huấn của
Ngài không sai lạc.
Bất kỳ công đức nào có được từ tác phẩm này
Tôi hồi hướng đến tất cả chúng sinh, những bà mẹ của tôi
trong quá khứ,
Nguyện xin họ được một vị Thầy tâm linh tối thắng gia hộ,
Đem giáo huấn toàn hảo của Ngài vào thực hành, và hưởng được quả lành.
Đặc biệt nguyện cho tất cả những ai được nuôi dưỡng bằng cam lồ này,
Đến từ đôi môi của vị Phật toàn giác, bậc Thầy vô song của tôi,
Nguyện tất cả đồng trọn thành Phật Quả viên mãn;
Nguyện thấy họ lên đường và dẫn dắt chúng sinh.
Nguyện những bậc Trưởng Tử của vị Thầy từ ái nhất của tôi,
Những vị đã uống lời cam lồ toàn thiện của Ngài,
Đã thu phục những kẻ may mắn, làm cho họ say đắm những bài ca giáo huấn.
Nguyện xin gót sen của chư vị an tru bền vững tren toà kim cương.*
Từ nay trở đi, nguyện xin trong mọi kiếp vị lai của tôi
Được phụng dưỡng Thầy tôi và những ai theo bước chân Ngài;
Nguyện đáp ứng bất kỳ những gì được yêu cầu, làm vui lòng tất cả.
Nguyện cho tôi được Ngài dẫn dắt như đệ tử.
Cho tới khi luân hồi tuyệt dứt, đối với mỗi một chúng sinh,
Nguyện cho tôi tích lũy thân thể, vật dụng và công đức;
Nguyện cho tôi phụng dưỡng chúng sinh, những bà mẹ già
chìm đắm trong đau khổ,
Và nguyện cho họ cùng tu tập Giáo Pháp của đấng Thế Tôn.
Trong khi đó, nguyện cho lực gia hộ của dòng truyền thừa tôn quý
Ló rạng trong tâm chúng sinh như vầng dương tuyệt hảo.
Sau khi hiến dâng cuộc đời hành trì nơi ẩn thất,
Nguyện cho họ đời đời núp dưới bóng của vị Thầy vô
song.
*Một biểu lộ thi vị thường được dùng để cầu chúc các vị Thầy tâm linh được trường thọ và dồi dào sức khoẻ.
Những hướng dẫn tổng quát bên ngoài và bên trong dẫn đến Tâm-Yếu của Đại-Quảng-Trí (Longchen Nyingtik), tất cả đều rất trung thực với những lời giảng dạy của vị Thầy vô song của tôi. Trước tác này đã xuất hiện do sự khẩn cầu bền bỉ của Dronma Tsering, một đệ tử tinh tấn và nghiêm trì giới luật, là người đã đưa tặng lại một số ghi chép mà ông đã ghi lại những gì có thể nhớ được. Ông ta nài nỉ tôi viết một giảng văn dựa trên những ghi chú này, ghi chép thật trung thực những giảng dạy của Thầy của chúng tôi. Ngoài ra, Kunzang Thekchok Dorje, một vị Hoá Thân tôn quý, là người đại diện của Đạo sư tôn quý và là bậc nắm giữ giáo lý tăng trưởng và giải thoát này, đã lập đi lập lại hai ba lần lời khẩn nài tương tự – thậm chí còn cung cấp cho tôi rất nhiều tấm giấy để ghi chép.
Sau này lại tới phiên Ngài Kushab Rinpoche Changchub Dorje329 – vị Pháp Vương của tất cả mọi giáo thuyết, bậc lỗi lạc nhất trong tất cả những trưởng tử tâm linh là những bậc nắm giữ dòng truyền thừa của truyền thống khẩu truyền của vị Thầy siêu phàm của tôi – Ngài Kushab Rinpoche đã khuyến khích tôi, nói rằng tôi phải dứt khoát viết ra những lời dạy của vị Thầy đáng kính của chúng tôi đúng như những lời mà Ngài đã dạy các vị ấyï, bởi điều đó sẽ giúp tất cả chúng tôi giữ được Ngài trong tâm tưởng và làm sống lại lòng sùng kính quy ngưỡng của chúng tôi đối với Ngài. Tôi cũng được một số pháp hữu kim cương thân yêu khuyến khích và truyền cảm hứng; đây là những người bạn mà tôi yêu quý chẳng khác nào chính đôi mắt của mình, và chắc chắc họ sẽ vẫn tiếp tục gần gũi thân thiết với tôi như ngọn lửa và tim đèn, cho tới khi tất cả chúng tôi cùng đến được bên kia bờ giác.
Vì thế, đây là nguyên bản của trước tác này, được viết ra bởi một người mà Ngài Rigdzin Changchub Dorje,330 bậc trưởng tử của hàng trăm vị thành tựu giả vô song, đã ban cho danh hiệu Orgyen Jigme Chokyi Wangpo – tuy nhiên, phía sau danh hiệu đẹp đẽ đó, thực ra chỉ là Abu Rách Rưới,331 thô lỗ, và đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của năm độc.
Bản văn này được hoàn tất tại nơi ẩn tu, còn hẻo lánh hơn cả tu viện trực thuộc tên là Rudam Samten Choling* hẻo lánh. Nơi đây được gọi là Cung Điện Kinh Hoàng Của Yamantaka – một nơi tráng lệ được trang hoàng bằng tất cả những dáng vẻ cô tịch; ở đó những tàng cây tắm mình trong tinh chất ấm áp của ánh nắng mặt trời, trong lúc bộ rễ của chúng hấp thụ những giọt cam lồ mát lạnh; nơi mà những giàn cây, những lùm rậm, những bụi thấp, những cành, lá, những hoa và trái, cùng với những tràng hoa, đủ mọi loại trải dài sặc sỡ, chắt lọc chất cam lồ từ nụ cười rạng rỡ của Thiên Nữ Cung Trời Xanh Biếc** khi giòng cam lồ ấy chảy xuống làm cho trái tim cực kỳ mãn nguyện.
Nhờ công đức của việc hoàn thành tốt đẹp tác phẩm này, nguyện tất cả vô lượng chúng sinh sẽ đi theo con đường tối thượng này và hoàn toàn được giải thoát vào pháp giới nền tảng của Đức Phật nguyên sơ!
* Tu viện Dzogchen
** Mặt trời. Cách hành văn trau chuốt ở đây được mượn từ truyền thống thi ca Ấn Độ, dùng để làm lời bạt ở cuối tập sách theo đúng truyền thống thông thường.
Thung lũng nhìn xuống Tu Viện Dzogchen
Là nơi Patrul Rinpoche thường ngồi trên một tảng đá lớn (gần địa điểm trong hình này) trong khi biên soạn Lời Vàng Của Thầy Tôi.
LỜI BẠT
Của Jamgon Kongtrul Lodro Thaye [332]
Om Swasti Siddham
Kho tàng trí tuệ Phổ Hiền này, với sáu phương pháp giải thoát,[333]
Được hiển lộ nương vào đại ấn Du Già Pháp Giới của + Đại-Phương Quảng-Trí.
Lừng lẫy với danh hiệu Tâm-Yếu của Đại- Quảng-Trí, vinh quang với hai quả vị thành tựu,
Năng lực vĩ đại sẽ gia hộ cho mọi ước nguyện viên thành.
Chỉ cần nghe giảng giải về giáo lý của những pháp tu dự bị,
Là có đủ năng lực để bất thần chuyển hoá tâm thức chúng sinh.
Tuân theo những khẩu truyền của Đạo Sư Jigme Gyalwai Nyugu,
Về tất cả những điều mà Ngài Orgyen Chokyi Wangpo đã khai thị, ấy là điều tâm yếu.
Hãy hiến tặng món quà Giáo Pháp này, không đắm nhiễm ý niệm về chủ thể, đối tượng và hành động,
Pema Lekdrup, sở hữu tín tâm lẫn tài sản hoàn hảo,
+ klong chen nam mkha’i rnal ‘byor, tức Jigme Lingpa.
Vị thượng thư tâm linh và thế tục của xứ Dergé cao
quý, nơi có bốn vùng và mười thiện hạnh,
Qua tác phẩm này, Ngài đã trút xuống một trận mưa
Pháp vô tận.
Nhờ công đức này, nguyện giáo lý tịnh quang kim cương tột bậc
Sẽ tồn tại lâu dài, lan truyền và trải rộng khắp ba cõi.
Nguyện tất cả chúng sinh có thiện duyên với giáo lý
này, sẽ nhanh chóng thọ hưởng vương quốc
nguyên sơ vĩ đại,
Và thoạt nhiên đạt được thành tựu phúc lạc cho mình và cho người.
Vào lúc hoàn tất bản hiệu đính đầu tiên của tác phẩm này, Ngài Lodro Thaye – người có tri kiến thanh tịnh về tất cả những bậc Đạo Sư, tâm không mảy may có chút thành kiến nào về các bộ phái – đã soạn ra lời bạt trên đây. Nguyện thiện hạnh tăng trưởng!
LỜI VÀNG CỦA THẦY TÔI
Patrul Rinpoche
https://www.youtube.com/watch?v=ZuMQA94BeNg
Giới thiệu khóa Chuyên tu Phowa - Pháp tu chuyển di tâm thức
Phowa là một phương tiện thiện xảo của Kim Cương Thừa để chuyển di tâm thức vào lúc lâm chung. Cũng có thể gọi đây là pháp "thực hành chết một cách tỉnh giác", "di chuyển dòng tâm thức", hay "giác ngộ không mất nhiều công phu thiền định". Đây là một phương pháp chứng đạt giác ngộ đơn giản, trực tiếp và đầy năng lực nhất.
Phowa là một trong Sáu Pháp Yoga của Đức Naropa. Đại dịch giả Marpa từng dạy "Nếu bạn thực hành Phowa thì vào thời điểm khi cái chết cận kể, bạn sẽ không bao giờ tuyệt vọng. Nếu bạn đã thực hành thuần thục Phowa thì khi cái chết xảy đến, bạn sẽ tràn ngập lòng tin đầy hỷ lạc." Giáo pháp có dạy, thực hành chuyển di tâm thức có thể vãng sinh thẳng đến cõi Tịnh độ mà không qua trung ấm, và thành tựu giác ngộ ngay tại đây, không phải quay trở lại luân hồi.
Việc thực hành Phowa đặc biệt thích hợp trong thời hiện đại khi mà hầu hết chúng ta đều không đủ phúc duyên để nhập thất tu tập hay tham gia những khóa thiền định miên mật. Pháp thực hành Phowa sẽ giúp chúng ta cắt bỏ sự bám chấp huyễn ảo và đánh thức tự tính Phật sẵn có trong mỗi người. Mạng sống vốn vô thường mỏng manh, có thể chấm dứt bất kỳ lúc nào mà không báo trước. Bởi vậy không gì có thể giúp chúng ta đạt được chân hạnh phúc giải thoát ngoài sựthực hành Phật Pháp.
Khóa chuyên tu Phowa sắp tới được tổ chức vào ngày 05-10 tháng 3 tại Tự viện Druk Amitabha do Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa cùng hai Pháp tử chân truyền, Nhiếp Chính Vương Gyalwa Dokhampa và Nhiếp Chính Vương Thuksey Rinpoche chủ trì. Trong khóa tu này cũng có chương trình giảng pháp và khẩu truyền Sengey Tsewa Chod -- Pháp Thí thân Bát nhã Ba la mật.
Khóa Tu Pháp Môn Phowa
http://thuvienhoasen.org/images/file...g-viet-pdf.pdf
http://thuvienhoasen.org/a25565/khoa...mon-phowa-2016
http://www.chualongdau.vn/gioi-thieu...n-di-tam-thuc/
https://vi-vn.facebook.com/phowaviet...5437627588535/
https://vi-vn.facebook.com/phowavietnam/
http://www.amitayus.net/vn/?p=321
http://thu-vien-karma-kagyu.org/tin-...sing-rinpoche/
http://chanhtuduy.com/thu-tro-mien-t...guyen-thi-lao/
http://diendan.tuvien.com/viewtopic.php?f=26&t=287
http://www.drikungdharmasurya.org/VIET/glossary/phowa/
http://cotuong.thanglongkydao.com/ar...p/t-38268.html
http://vanhoaphuongdong.co/threads/p...-tinh-do.6590/
====================
Trong Mật Tông cũng có sự Niệm Phật.
Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị
Gửi bài trả lời
Tìm kiếm trong chủ đề này…
Tìm kiếm
1 bài viết • Bạn đang xem trang 1 / 1 trang
Trong Mật Tông cũng có sự Niệm Phật.
Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Chủ nhật 08 Tháng 11, 2009 6:22 am
Hình ảnh
( http://diendan.tuvien.com/viewtopic.php?f=26&t=287 )
QUAN ÂM BỐN TAY, A DI ĐÀ PHẬT, ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT
AO BÁT CÔNG ĐỨC THỦY
Trong Mật Tông tin tưởng vào nguyện lực cứu độ Viên Mãn của Phật A Di Đà và tôn xưng ngài là CHỦ LIÊN HOA BỘ phương Tây - và là một trong Ngũ Trí Như Lai.
Mật tông và Tịnh tông là một tông phái dựa vào Tha Lực, lấy năng lực bổn nguyện của chư Phật làm cửa ngõ để tu hành.
Danh hiệu Phật A Di Đà cũng là một trong những cửa ngõ giải thoát của Mật Tông, theo Mật giáo thì sự niệm Phật có tác dụng hóa giải những oán chướng nghiệp báo, oan gia giúp cho hành giả siêu sanh Tịnh Độ.
Niệm Phật thành tâm, nhờ tha lực của chư Phật cùng với sự tự lực của bản thân sẽ giúp cho những bất thiện nghiệp của ta tiêu tan dần theo năm tháng.
Phát tâm quy ngưỡng Phật, tôn kính Phật, lễ Phật và niệm danh hiệu Phật là pháp tu phổ thông để tội diệt phước sanh, là một phương pháp rất mạnh mẽ để hóa giải những chướng ngại gây ra phiền não khổ đau cho chúng ta trong đời sống này.
Người tu Tịnh và Tu Mật đều hồi hướng vãng sanh về cõi Tịnh Độ.
Tịnh Độ nương vào sức Niệm Phật, người tu Mật Thì lấy trì chú quán tưởng làm Phương Tiện.
Có rất nhiều người tu các Mật Pháp để cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc. như pháp Quán Đảnh Đại Cực Lạc, khi đó người tu sẽ chắc chắn được vãng sanh trong đời này hoặc tu các Mật Pháp A Di Đà, Quán Thế Âm, Kim Cang Thủ, Liên Hoa Thủ, Tara Trắng, Tôn Thắng Phật Mẫu ...
Câu Niệm Phật chính là một câu Chân Ngôn trong pháp tu A Di Đà : NAMO AMITABHAYE
Trong Mật Pháp Du Dà Chuyển Di Thần Thức Siêu Sinh Tịnh Độ PHOWA có chép rõ rằng chỉ truyền PHOWA cho ai đã tu trì đủ 100.000 biến danh hiệu Phật A Di Đà.
Người tu Tịnh Độ vẫn thường trì các chú Vãng Sanh, Đại Bi ....
Cho nên có thể nói người tu Tịnh Độ mà biết khéo léo kết hợp với việc trì chú làm trợ hạnh sẽ đem lại rất nhiều công đức diệu dụng thù thắng, ví như hổ mọc thêm cánh vậy.
Mỗi ngày niệm Phật thật nhiều rồi kèm thêm 21 lần chú Vãng Sanh, 1 biến Đại Bi, như vậy chẳng những mau chóng thành tựu nhất tâm mà lại có thêm phương tiện độ sanh cho người khác nhờ công dụng thù thắng của thần chú.
Người trì chú lại càng nên Niệm Phật vì sự giải thoát khỏi những ám chướng và sức gia trì của Bổn Tôn A DI Đà.
Tu trì chú mà mong cầu tái sanh về Cực Lạc có các pháp sau:
A DI Đà Đại Cực Lạc, Quán Đảnh A Di Đà, Quán Đảnh Quán Thế Âm, A Di Đà Phật Tâm Căn Bản chú, Lục Tự Đại Minh chú, Kim Cang Thủ chú, Bạch Độ Mẫu chú, Quan Âm Thập Nhất Diện Đà La Ni , Đại Bi Chú ....
Tựu chung, Tu Tịnh cũng chính là Tu Mật, tu Mật cũng chính là Tu Tịnh, ngoại trừ các pháp Tối Thượng Du Dà Mật - vì Pháp Tối Thượng Du Dà giúp hành giả hiện đời thành Phật.
Một hành giả Tu Tịnh đã thọ quán đảnh thì khi niệm Phật cũng chính là Trì Chú không khác biệt.
Một hành giả tu Mật khi chết sẽ nương vào oai thần Phật nguyện mà siêu sanh về Tịnh Độ nếu như không chứng quả Phật trong hiện đời.
NAMO AMITABHA
http://hoibongsen.com/diendan/showthread.php?t=6613
Hết thẩy là khảo nghiệm,
Coi thử mình ra sao,
Ðối cảnh lầm không biết,
Phải luyện lại từ đầu.
Hòa Thượng Tuyên Hóa
http://www.dharmasite.net/
Chuyển Di Thần Thức (Phowa)/ thần chú Vô Lượng Thọ Phật
( http://ptdvo.blogspot.com/2012/04/ch...an-chu-vo.html )
Hôm qua đi nghe Sư Migmar Rinpoche thuyết về Phowa... tưởng gì khác mà mình từng đã học thì ra cái mà Sư nói là phần trong căn bản thiền mà mình đã học qua trong án Nhân Huệ, giải căn nghiệp và dẫn dắt trong mấy năm qua. Nhưng cũng hay là biết thêm về thần chú Vô Lượng Thọ Phật.
Phowa là gì? Phowa là pháp chuyển di thần thức vãng sinh tịnh độ, được coi là diệu pháp để đạt đến Phật qủa mà chẳng phải dụng công tu tập nhiều. Hành giả tu pháp Phowa có thể ngay lúc lâm chung đưa thần thức mình đến thẳng tịnh độ Cực Lạc của Phật A Di Đà mà khỏi phải trải qua giai đoạn vào thân trung ấm. Đây là pháp môn thiện xảo mau chóng đưa đến giải thoát cho những ai có niềm tin mạnh mẽ.
Để tập pháp Phowa, hành giả cần nhận lễ quán đảnh A Di Đà. Lễ quán đảnh này sẽ gieo trồng trong tâm thức hành giả những chủng tử cần thiết để khi lâm chung có thể vãng sinh tịnh độ trong sự tỉnh thức
Đại Pháp Phowa Chuyển Di Thần Thức được vãng sinh về cõi Tịnh Độ được truyền bởi Đức Phật A Di Đà qua bậc Đại Đạo Sư Padma Sambhava (Liên Hoa Sanh Bồ Tát), người đã mang Phật Giáo Mật Tông truyền bá tại Tây Tạng.
Đại Pháp Phowa được truyền thừa từ Đại Sĩ Liên Hoa Sinh xuống qua dòng Drikung một các toàn vẹn. Dòng Drikung nổi danh với pháp môn Phowa vì những hành giả tuyệt bậc chứng ngộ pháp môn này.
Những lợi ích tối thắng của hành giả khi tu tập Đại Pháp Phowa, tức Pháp Chuyển Di Thần Thức để được vãng sinh về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà:
1. Khai mở luân Xa (Chakras) kinh mạch trung ương trong thân thể.
2. Tẩy tịnh các lầm lỗi và tâm ô nhiễm đã huân tập trong nhiều kiếp.
3. Phước đức được tăng trưởng.
4. Hiện đời được bình an hạnh phúc.
5. Lúc lâm chung không sợ bị đọa lạc hay gặp phải cái chết cực kỳ đau khổ. Hành giả có thể giúp đỡ thân nhân và bạn hữu chuyễn di thần thức vào lúc lâm chung.
6. Nếu hành giả tu tập với tâm thành khẩn và thành công, thần thức sẽ được vãng sinh thần tốc về Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, tức được giải thoát ra khỏi giòng sinh tử ngay trong kiếp này. Và tại Tây Phương Cực Lạc, Hành Giả sẽ đ được Đức Phật A Di Đà, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, Đức Đại Thế Chí Bồ Tát, cùng chư Đại Bồ Tát dìu dắt cho đến khi thành tựu Phật Quả.
7. Hành giả tái sanh Cực Lạc Thượng Phẩm Thượng Sinh.
Dòng Drikung Kagyu (Kagyupa), một dòng được thành lập hơn 850 năm, được truyền thừa từ Đức Phật Thích Ca (Sakyamuni Buddha) và Kim Cang Thủ Bồ Tát (Vajradhara) đến Gampopa qua 3 hệ thống:
1. Từ Kim Cang Thủ Bồ Tát truyền đến Đại Đạo Sư Tilopa, Naropa, Marpa, Milarepa, và Gampopa.
2. Từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni truyền đến Bồ Tát Long Thọ (Nagarjuna), Bồ Tát Nguyệt Xứng (Chandrakirti), Đại Đạo Sư Atisa và Gampopa.
3. Từ Đức Phật Thích Ca (Sakyamuni Buddh) đến ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Bồ Tát Di Lặc, Bồ Tát Vô Trước (Ashanga) và Gampopa.
Theo sự hiểu biết thì ngoài chú Vãng Sanh mà Đức A Di Đà nhiếp dẫn cho chúng ta về cảnh giới Tây Phương Cực Lạc do Ngài Phổ Hiền Bồ Tát vì thương tưởng chúng sinh nơi thời mạt pháp, khi ấy kiếp giảm, thọ mạng ngắn ngủi, phước đức kém thiếu, loạn trược tăng nhiều, kẻ chân thật tu hành rất ít. Ngài Phổ Hiền Bồ ban cho Người NIỆM PHẬT thần chú đà ra ni này, để thủ hộ thân tâm, nhổ tận gốc rễ nghiệp chướng, trừ sạch phiền não, được mau chóng sinh về CỰC LẠC. Gọi là BẠT NHẤT THIẾT NGHIỆP CHƯỚNG CĂN BẢN ĐẮC SINH TỊNH ĐỘ ĐÀ RA NI còn gọi là chú Vãng Sanh Cực Lạc Thần Chú::
NAM MÔ A DI ĐA BÀ DẠ, ĐA THA DÀ ĐA DẠ, ĐA ĐIỆT DẠ THA, A DI RỊ ĐÔ BÀ TỲ, A DI RỊ ĐA TẤT ĐAM BÀ TỲ, A DI RỊ ĐA TÌ CA LAN ĐẾ, A DI RỊ ĐA, TÌ CA LAN ĐA, DÀ DI NỊ DÀ DÀ NA, CHỈ ĐA CA LỆ TA BÀ HA.
thì Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát cũng phát nguyện hạnh cao hơn nếu ai trì chú Vô Lượng Thọ Phật thì tiêu nghiệp oan trừ. Chú còn gọi là Bạt Nhất Thiết Khinh Trọng Nghiệp Chướng, Ðắc Sinh Tịnh Ðộ Ðà Ra Ni (dịch theo âm Ấn Ðộ ra chữ La tin), nương uy thần của Đức Phật A DI ĐÀ, mà ban cho chúng sinh quyết chí niệm Phật thời mạt pháp, một CHÂN NGÔN gọi là: VÔ LƯỢNG THỌ NHƯ LAI CHÂN NGÔN. Đây là Tạng Pháp Bí Mật của Phật A DI ĐÀ, ẩn chứa vô biên thần lực tự tại bất tư nghị. Nếu hàng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, hoặc Ưu bà tắc, Ưu bà di lỡ phạm giới căn bản, tụng xong bảy biến liền trở lại được giới phẩm thanh tịnh. Tụng hai mươi mốt biến, tiêu diệt các tội Tứ Trọng, Ngũ Nghịch, Thập Ác và tất cả chướng ngại trên bước tu hành đều trừ sạch. Hiện đời an lạc, thuận lợi, được sự nhiếp thọ của Vô Lượng Thọ Như Lai. Tụng một muôn biến, tâm Bồ Đề hiển hiện nơi thân không quên mất. Thấy Đức Phật phóng quang tụ trên đỉnh đầu. Người niệm Phật lần lần thể nhập tịnh tâm tròn sáng, mát mẻ, tiêu tan tất cả phiền não. Khi lâm chung, hành giả niệm Phật liền thấy Phật A DI ĐÀ cùng vô lượng muôn ức Bồ Tát vây quanh, an ủi, tiếp dẫn. Người niệm Phật tức khắc được sinh về THƯỢNG PHẨM Ở CỰC LẠC Vô Lượng Thọ Quang Như Lai căn bản chân ngôn:
Namo Ratnatrayàya ( Quy mệnh Tam Bảo )
Namahï ( Kính lễ ) Àrya ( Thánh ) Amitabhàya ( Vô Lượng Quang ) Tathàgatàya ( Như Lai ) Arhate ( Ứng Cúng, Sát Tặc, A La Hán ) Samyaksamïbuddhàya ( Chính Đẳng Chính Giác )
Tadyathà ( Như vậy, liền nói Chú là )
Omï ( Cảnh giác )
Amrïte ( Cam lộ )
Amrïta ( Cam Lộ ) Udbhave ( Hiện lên )
Amrïta ( Cam Lộ ) Sambhave ( Phát sinh )
Amrïta ( Cam Lộ ) Garbhe ( Tạng, kho tàng )
Amrïta ( Cam Lộ ) Siddhe ( Thành tựu )
Amrïta ( Cam Lộ ) Teje ( Uy quang, uy đức )
Amrïta ( Cam Lộ ) Vikrànte ( Dũng mãnh )
Amrïta ( Cam Lộ ) Vikrànta ( Dũng mãnh ) Gamine ( Đạt đến được )
Amrïta ( Cam Lộ ) Gagana ( Hư Không ) Kìrti ( Tương xứng ) Kare ( Tác làm , tạo tác )
Amrïta ( Cam Lộ ) Dunïdïubhi ( Cổ, cái trống ) Svare ( Âm Thanh )
Sarvàrtha ( Tất cả nghĩa lợi ) Sàdhane ( Nghi thức thành tựu )
Sarva Karma ( Tất cả nghiệp ) Kle’sa ( Phiền não ) Ksïayamï ( Vô tận, không còn sót ) Kare ( Tạo tác )
Svàhà ( Quyết định thành tựu, thọ hưởng mùi vị an lạc của Đại Niết Bàn )
còn đọc theo âm tiếng Pha Lị theo nghĩa tiếng Việt là:
01. Nam mô rát na tờ gia gia gia
02. Na mắc a ri gia
03. A mi ta pha gia
04. Ta tha gà ta gia
05. A rờ ha tê
06. Sam giác sam bút đa gia
07. Ta đi gia tha
08. Om
09. A mờ rật tê
10. A mờ rật tô đờ pha vê
11. A mờ rật ta sam pha vê
12. A mờ rật ta ga ri phê
13. A mờ rật ta sít đê
14. A mờ rật ta tê rê.
15. A mờ rật ta vi hờ rim tê
16. A mờ rật ta vi hờ rim ta
17. Ga mi nê
18. A mờ rật ta ga ga na
19. Ki ti ka rê
20. A mờ rật ta đun đa phí sờ va rê
21. Sạc va rờ tha sa đa nê
22. Sạc va kác ma
23. Ka lê sa
24. Ka sa
25. Giam ka lê
26. Sờ va ha.
còn chú Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Chơn Ngôn Đà La Ni:
Án, (Om)
Nại ma ba cát ngỏa đế, A ba ra mật đạp,A ưu rị a nạp, Tô tất nể, Thiệt chấp đạp, Ðiệp tả ra tể dã, Ðát tháp cả đạt dã, A ra ha đế, Tam dược tam bất đạt dã,
Ðát nể dã tháp.
Án, Tát rị ba, Tang tư cát rị, Bót rị thuật đạp, Ðạt ra mã đế, Cả cả nại, Tang mã ngột cả đế, Ta ba ngỏa, Tỷ thuật đế, Mã hắt nại dã, Bát rị ngỏa rị tá hắt.
theo tieng Sanskrit là:
Sanskrit
OM NAMO BHAGAVATE, APARAMITA, AJURJNÀNA, SUVINE, SCITA TEJA RÀJAYA, TATHÀGATÀYA, ARHATE, SAMYAKSAMBUDDHÀYA, OM SARVA SAMSKÀRA PARI’SUDDHA, DHARMATE, GAGANA, SAMUDGATE SVÀBHAVA, VISUDDHE, MAHÀ NAYA, PARIVERE, SVÀHÀ.
Đức THÍCH CA MÂU NI Thế Tôn nói nơi thời kỳ chính pháp cuối cùng, hoặc về sau nữa, nếu có người nào tin nhận, ghi nhớ rõ ràng nghĩa thú của kinh NIỆM PHẬT BA LA MẬT này, rồi nương theo đó mà xưng niệm Danh Hiệu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT. Dẫu một niệm, hai niệm, cho tới mười niệm hoặc nhiều lần của mười niệm thì các ngươi phải biết người ấy chắc chắn được Phật thọ ký, hiển phát năng lực của TÁNH KHÔNG, tỏ ngộ Tri Kiến NHƯ LAI, và bước thẳng vào Cảnh Giới THÁNH TRÍ TỰ CHỨNG
công năng đại chú a di đà
nếu ai tụng chú này, vừa tụng một biến, tức thì diệt trừ được 10 ác, 4 trọng và năm tội vô gián ở trong tâm, hết thảy các nghiệp chướng đều được tiêu diệt sạch, nếu có tỳ kheo, tỳ kheo ni, phạm tội căn bản, đối trước tam bảo, thành tâm phát lời sám hối và chí thành tụng chú 7 biến, liền được trở lại giới phẩm thanh tịnh, tụng một vạn biến, vĩnh viễn không thối tâm bồ đề, sau khi lâm chung sẽ thấy phật a di đà và vô lượng bồ tát cùng thánh chúng vây quanh nghênh tiếp hành giả, an ủi thân tâm, tức sanh về thế giới cực lạc, bất thối chuyển, hàng thượng phẩm thượng sanh, chứng bồ tát vị.
công năng chú vãng sanh, ai tụng chú này, phật a di đà thường trụ trên đảnh đầu, sau khi mạng chung, tự nhiên được vãng sanh, tụng chú này thường xuyên, diệt được các tội tứ trọng, năm nghịch, thập ác, bài bác phương đẳng và diệt trừ được hết sự nhiễu hại của quỷ thần, ma quỷ trong hiện tại, công đức chú này bất khả tư nghị.
công năng a di đà tâm chú, thường xuyên thọ trì, đọc tụng được tăng trưởng phước đức, tăng ích trí huệ. biện tài vô ngại, thọ mạng và sắc lực càng được lâu dài, tiêu trừ nghiệp chướng, tiêu diệt vạn bịnh, bi, ái, ngữ tăng trưởng, mọi sự đều tốt đẹp, vĩnh viễn thoát khỏi nhà lửa tam giới, người thọ trì được vãng sanh hàng thượng phẩm thượng sanh. đây là tâm chú bí mật của đức a di đà.
Mặc khác Đức Quán Thế Âm cũng chú nguyện cho bài Thần Chú Phước Vô Lượng, Vô Biên là thần chú làm pháp một lần phước mãi mãi không bao giờ hết. Bạn trì chú vào sông, hồ vừa cứu độ các loài thuỷ tộc. Khi hơi nước trong sông, hồ bốc lên tạo thành mây, mưa xuống cứu độ tất cả chúng sanh. Các hạt nước lại chảy ra sông, hồ. Tạo nên một vòng tuần hoàn. Và phước đức, đạo hạnh của bạn cứ nhiều lên đời đời kiếp kiếp không bao giờ hết. Thần chú đó là :
QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT CAM LỒ CHƠN NGÔN
Kinh Quán Tự Tại Bồ-tát Ðà-la-ni nói: Nếu người tụng chú này, đời quá khứ, hiện tại đã tạo tứ trọng, ngũ nghịch, hủy báng kinh Phương Ðẳng, tội nhứt xiển đề, hết thảy các tội đều được tiêu diệt không còn dư sót, thân tâm nhẹ nhàng, trí huệ minh mẫn. Nếu thân hoặc lời nói thảy hay lợi lạc tất cả hữu tình. Nếu có chúng sanh rộng tạo tất cả các tội Vô gián, nếu được gặp người trì chú này, hình bóng chói vào thân của người kia, thoạt được cùng nói chuyện, hoặc nghe tiếng nói người kia, tội chướng thảy đều tiêu diệt. Nếu muốn lợi ích tất cả hữu tình, mỗi khi trời mưa khởi đại bi tâm, ngửa mặt hướng hư không tụng Chân ngôn này 21 biến, mỗi giọt mưa kia thấm nhuần tất cả hữu tình, diệt hết tất cả nghiệp trọng tội, đều được lợi lạc.
Chân ngôn: Nẵng mồ ra đát nẵng, đát ra dạ dả, nẵng mồ a lị dã, phạ lồ chỉ đế thấp phạ ra dả, mạo địa tát đát phạ dả, ma hạ tát đát phạ dả, ma ha ca rô nĩ ca dả, đát nễ dã tha. Úm Ðộ Nĩnh Ðộ Nĩnh, Ca Ðộ Nĩnh Ta Phạ Hạ.
GIẢI: Nếu muốn lược tụng, chỉ trì từ chữ Úm trở xuống, chữ Úm trở lên là lời quy kính, chánh chú là từ chữ Úm. Nếu chép Chân ngôn Phạn tự này trên chuông, trống, khánh v.v… tất cả những vật có ra tiếng, các chúng sanh nghe tiếng kia thảy đều thanh tịnh, mạng chung được sanh về Tây phương Tịnh độ.
Nẵng mồ ra đát nẵng, đát ra dạ dả, nẵng mồ a lị dã, phạ lồ chỉ đế thấp phạ ra dả, mạo địa tát đát phạ dả, ma hạ tát đát phạ dả, ma ha ca rô nĩ ca dả, đát nễ dã tha. Úm Ðộ Nĩnh Ðộ Nĩnh, Ca Ðộ Nĩnh Ta Phạ Hạ.
Theo HT Thích Giác Quang, "Cả hai thần chú đều có những hạnh lành tương đối đa dạng phong phú, có những thú hướng đặc biệt giúp cho chúng sanh thoát khổ, giải thoát sanh tử luân hồi. Ở Việt Nam đều có tụng đủ cả hai thần chú Vãng sanh và Vô Lượng Tho, thần chú Vô Lượng Thọ không xa lạ với những người tu pháp môn Tịnh Độ niệm Phật. Tuy nhiên chú vãng sanh sở dĩ được nhắc đến nhiều hơn là do bài kinh ngắn gọn, được đưa vào hai thời khóa tụng hằng ngày, còn chú Vô Lượng Thọ dành cho liên hữu tu kết thất 7 ngày, 21 ngày, 49 ngày hay 100 ngày tụng niệm. Như vậy Phật tử có thể dùng thần chú Vô Lượng thọ làm pháp tu gia hạnh cho mình trong các thời gian nhập thất niệm Phật rất có hiệu quả.
Việc tu hành cần tránh tu tạp pháp, người Phật tử tâm chưa chuyên nhất, không nên nay tu pháp nầy, mai tu pháp nọ làm rối tâm linh, khi đã rối thì dù đó là pháp Phật đi nữa, cũng chỉ là mở cửa cho nghiệp lực xen vào, ma phiền não quấy nhiễu.
Phật tử thực tập pháp môn tu Tịnh thì niệm Phật khi nào đạt chánh niệm, hoặc tu từ một đến 03 năm, có thể phát tâm gia hạnh thêm một vài pháp môn khác như là Mật, hay Thiền, chừng đó tâm không bị rối loạn.
Nhìn chung, pháp môn tu nào cũng từ Đức Phật giáo hóa cho người đệ tử, khi có nhân duyên được trao pháp nào thì ta trân quý pháp đó mà tu tập cho hiệu quả."
Thành ra đừng thấy người ta vác ô mà chạy mà mình chạy theo, phải coi nguyện lực của mình. Đường về Niết Bàn chỉ một, cứ từ từ mà trì tụng cái nhẹ nhàng rồi cũng tới Niết Bàn như hai con thỏ và rùa chạy đua vậy. Cứ thủng thẳng mà đi, có lòng thành thì Phật A Di Đà sẽ hóa độ.
Posted by Thanh-Dương at 12:31 AM
Pháp môn Phowa - thỉnh vấn Garchen Triptrul Rinpoche!
( http://omahhung108.blogspot.com/2015...n-garchen.html )
Nhập môn Phowa
Ngày I – Thời khoá 1 - Nhập môn Phowa.
Chúng ta sắp thực hành pháp Phowa. Toàn bộ giáo pháp đều bao gồm trong giáo huấn Phowa. Đó là phương pháp giải thoát khỏi nỗi khổ trong luân hồi. Có nhiều pháp Phowa khác nhau. Đầu tiên là Phowa trên quan kiến từ sự giác ngộ Đại Ấn và Đại Viên Mãn. Loại trung bình là pháp Phowa Báo thân bao gồm các cấp sinh khởi và toàn thiện của thiền định. Và loại thấp nhất là Phowa báo thân, tức là sử dụng thân và các đường mạch để điều khiển giọt thần thức.
Trong thực hành Phowa, có hai yếu tố chính – thân (kinh mạch) và tâm. Kinh mạch có hai loại – tịnh và uế. Tâm cũng có hai trạng thái – tịnh và uế. Tâm uế do các cảm xúc phiền não, và tâm tịnh từ Bồ đề tâm mà ra. Để có thể biến đường mạch xú uế trở nên thanh tịnh, để chuẩn bị điều này, chúng ta sẽ thực hành Kim Cương Tát Đoả (trang 6 – giáo huấn về chuyển di tâm thức).
Khi thầy nói “uế”, không có nghĩa rằng có một loại uế tạp nào vốn sẵn có trong ta. Trạng thái uế nghĩa là chưa thành thục, trạng thái tịnh là trạng thái đã thành thục. Ví dụ, một quả táo chín nó chỉ tạm thời trong điều kiện đó, nhưng nếu đặt quả táo đó dưới ánh nắng, nó sẽ chín. Cũng như vậy, dù chúng ta có những tạp nhiễm, chúng cũng chỉ là tạm thời. Từ ban đầu chúng ta luôn thanh tịnh.
Kim Cương Tát Đoả chính là Kim Cương Trì hay Phổ Hiền. Các ngài hoá hiện ra hình tướng thanh tịnh căn bản của tâm chúng ta. Các con có thể nghĩ rằng các Bản tôn này và các con vốn không khác nhau. Các con như một cái cây và một Bản tôn như Kim Cương Tát Đoả giống như bông hoa trên cây đó. Về bản thể, sự thanh tịnh của tâm là một chuỗi liên tục không gián đoạn từ chúng ta tới các vị Bản tôn. Thực hành Kim Cương Tát Đoả là phương pháp để nhanh chóng làm cho dòng tâm thức chúng ta trở nên thuần thục thông qua năng lực từ Bi và Trí bất nhị mang lại.
Khi thực hành Kim Cương Tát Đoả, các con nên quán tưởng rằng có một thân tướng Kim Cương Tát Đoả khổng lồ trong không gian trước mặt các con. Thân tướng này hiển lộ từ Pháp thân rộng lớn như hư không của ngài. Trên đỉnh đầu, con nên quán tưởng Đức Kim Cương Tát Đoả đang ngồi trong một vòng hào quang màu cầu vồng như trong thangka về Đức Độ Mẫu. Những tia sáng này chiếu tới chúng sinh hàm thức trong sáu đạo luân hồi, và mỗi chúng sinh đó trên đầu đều có một thân tướng Đức Kim Cương Tát Đoả như con vậy.
Ví dụ, chúng ta có một bức tượng Phật ở đây. Nếu chúng ta đặt hàng trăm mảnh pha lê trước nó, từ một bức tượng duy nhất sẽ phản chiếu trong tấm pha lê thành hàng trăm hình bức tượng Phật. Cũng như vậy, khi các tia sáng toả ra từ đỉnh đầu con, từ thân Đức Kim Cương Tát Đoả, Đức Kim Cương Tát Đoả tương tự sẽ phản chiếu trên đầu của tất cả chúng hữu tình trong sáu cõi luân hồi.
Khi thực hành, con có thể tưởng tượng rằng thân con như một cái cây, các cành cây toả ra xung quanh như một cái dù, như hình dáng một cái ô. Giữa đỉnh đầu con là cửa mở của đường mạch giữa. Có một đoá sen trắng, cuống của nó ở bên trong cửa mở này. Tương tự như những cành cây, đường mạch giữa có nhiều mạch nhánh và điểm cuối cùng của các đường mạch nhánh này được nối với các lỗ chân lông trên người. Khi con thực hành, con nên quán tưởng rằng tất cả những đường mạch này trở nên trong sáng và chúng được giải thoát khỏi những chướng ngại bên trong. Chúng luôn sẵn sàng chảy cho bất cứ thứ gì cần chảy qua chúng.
Nói chung, có bốn loại năng lượng được đề cập đến để tiêu trừ ác nghiệp và chướng ngại, nhưng bốn loại có thể đơn giản hoá thành ba. Đầu tiên là sức từ bi của tất cả chư Phật. Thứ hai là sức của sùng tín. Thứ ba là sức của Phật tính – hay còn gọi là Pháp giới.
Khi con trì tụng, hãy quán tưởng rằng Đức Kim Cương Tát Đoả ở trên đỉnh đầu con nhận được năng lực, dưới dạng nước cam lộ, của chư Phật khắp mười phương, và thân ngài tràn đầy cam lộ. Qua ngón chân cái của Đức Kim Cương Tát Đoả, cam lộ chảy xuống thân con qua cửa mở trên đỉnh đầu. Đầu tiên nó chảy đầy đường mạch giữa, và sau đó dần dần thấm ra toàn thân thông qua các đường mạch nhánh, đến các lỗ chân lông trên thân. Như thế, hình tướng phàm phu của con, thân thể phàm phu hỗn tạp của con trở nên thanh tịnh và trở thành thân cầu vồng.
Về mặt bề nổi thì có sự khác biệt giữa tịnh và uế. Nhưng về mặt bản chất thì thân luôn thanh tịnh. Bởi chấp ngã, năm độc gia tăng. Có thể tổng hợp chúng thành ba độc hay ba phiền não – tham chấp, sân hận và ngu si. Ví dụ, xương trong người được cấu thành từ sân hận, máu từ tham chấp, và thịt từ ngu si. Vì thế nên trong vài pháp môn, chúng ta cúng dường thịt và máu đến các Bản tôn phẫn nộ. Chúng ta cúng như vậy để giải thoát khỏi ba tâm. Khi giải thoát khỏi ba độc này, thân trở nên thanh tịnh nguyên thuỷ trong dạng tướng thân cầu vồng.
Chúng ta có khái niệm về “ngã”, và chúng ta gắn tâm vào cái ngã này, nhưng “ngã” vốn không tồn tại. Vào cuối cuộc đời, tâm và thức chúng ta sẽ tách xa nhau. Vì vậy, “Ba mươi bảy hạnh Phật tử” giảng rằng thân ta như nhà trọ và thức như khách. Vào cuối ngày, khách sẽ rời nhà trọ. Chỉ vì cho rằng thân này chính là “tôi”, nên chúng ta đã tạo nghiệp bởi tham chấp. Và vì vậy nên chúng ta lang thang trong cõi luân hồi. Nếu các con nhận ra thân này chính là một bản ngã không thực sự tồn tại, hoặc con nhận ra bản thể của tự ngã, con có thể giải thoát được khỏi chấp ngã.
Bài nguyện mở đầu của dòng Drikung và Tứ vô lượng tâm
Trong bài nguyện mở đầu mà chúng ta vừa tụng (Giáo huấn về chuyển di tâm thức, trang 2), đối tượng chính của lòng từ chính là kẻ thù của chúng ta. Chúng ta cảm thấy căm hận kẻ thù của mình, nhưng cần phải hiểu rằng những kẻ thù này đã từng là cha mẹ, thân quyến và bằng hữu trong những kiếp quá khứ. Họ đã từng là người mà chúng ta đã dành tặng cả tình yêu thương, trìu mến. Chúng ta nên hiểu rằng chính bởi những lỗi lầm trên con đường đi cùng nhau, bằng cách nào đó chúng ta đã cảm thấy căm hận họ và họ trở thành kẻ thù của chúng ta. Vậy nên hãy hiểu rằng chính các con phải có trách nhiệm về điều này. Nếu con có thể khởi lòng từ bi với kẻ thù, thì khởi lòng từ bi với tất cả chúng sinh hàm thức sẽ trở nên dễ dàng hơn. Đó là phương pháp đặc biệt mà Đức Jigten Sumgon đã dạy. Đó là phương pháp duy nhất.
Trong bài nguyện Tứ vô lượng tâm chúng ta vừa tụng (Giáo huấn về chuyển di tâm thức, trang 5), ở đó có đoạn: “Nguyện họ được lạc.” Đầu tiên, chúng ta phải biết được lạc là gì. Lạc chủ yếu chỉ là từ bi. Câu sau đó “Thoát khỏi khổ” – khổ là nỗi đau khổ không thôi của khái niệm “ngã”. Chúng ta luôn suy nghĩ và cảm nhận về “Ngã, ngã, ngã”. Việc làm không dứt này chính là khổ. Ngã kiến hay chấp ngã càng giảm thiểu được bao nhiêu thì ý thức về lòng từ bi của chúng ta càng tăng trưởng được bấy nhiêu. Không thể thiếu động lực này trong mọi thực hành. Tinh tiến trong việc thực hành Pháp phụ thuộc vào động cơ thực hành.
(Sau đó là phần thực hành Kim Cương Tát Đoả)
===========
Phowa - Buông xả và phúc báo cõi Cực Lạc!
Ngày II – Thời khoá 2 - Buông xả và phúc báo cõi Cực Lạc!
Trong thời khoá vừa rồi, thầy đã nói sơ qua về cách quán tưởng trong pháp tu Phowa. Nhờ pháp môn này, chúng ta có thể đi tới những cõi khác không phải cõi Cực Lạc. Vì sau khi được vãng sinh Cực Lạc, ở đó chúng ta có thần túc để đi tới bất cứ cõi Tịnh độ nào. Cõi Cực Lạc có nhiều phúc báo thù thắng sinh ra từ lời nguyện vãng sinh của chúng ta. Vì đã huân tập nhiều công đức trong các kiếp trước đây, giờ đây chúng ta được khoẻ mạnh và không có riêng nỗi khổ nào trong tâm. Chúng ta có bằng hữu tốt, gia sản và sự an lạc. Nếu chúng ta bám luyến vào những thứ chúng ta có trong cuộc sống, chúng sẽ trở thành chướng ngại cho việc vãng sinh. Vậy nên buông xả tham chấp vào những thứ đó là điều vô cùng quan trọng.
Nếu con quán sát tâm con và đọc bài nguyện vãng sinh Cực Lạc, con có thể thấy được rằng con sẽ có thể vãng sinh hay không. Đa phần các con sẽ thấy rất khó khăn vì có vẻ như trong tâm, chúng ta vẫn luôn bám chấp vào phúc báo hữu lậu. Nếu các con thấy mình quá tham luyến luân hồi thì các con có thể suy nghĩ xem luân hồi có đáng được như vậy không.
Cái chết có thể tới bất cứ khi nào. Tử bất kì, và lí do tử bất kì thì vô khối. Đức Phật đã dạy rằng vào cuối đời, tiền bạc và mọi thứ khác không thể đi cùng với ta. Nhưng nghiệp thì luôn đồng hành, dù cả sau khi chết, như hình với bóng. Vậy khi cái chết xảy đến bất ngờ, chúng ta sẽ phải tuân theo định luật nhân quả. Và nhiều khi vì tam độc quá lớn, chúng ta sẽ đoạ lạc vào ba cõi ác.
Khi giờ chết đã tới, chúng ta chẳng có cách nào chống lại cái chết được. Trong khi đó, pháp Phowa là pháp môn đại uy lực và vô cùng hữu ích khi lìa đời. Trong thân chúng ta có những đường mạch và nhờ những đường mạch này, các luồng năng lượng mới được lưu thông. Nếu thức chúng ta thoát khỏi thân khi ta chết, nếu năng lượng mở các khiếu thoát ở dưới thấp, năng lượng sẽ lưu thông. Nếu năng lượng đưa thức ta thoát ra từ các khiếu thấp khi ta chết, do năng lượng khí mang nghiệp chướng đưa đẩy, thức ta sẽ đầu thai vào ba ác đạo. Nếu tâm chúng ta đầy bám chấp, ưa thích và ghét bỏ thì thức chúng ta sẽ luôn theo đuổi những tham chấp đó mà không thể làm gì hơn. Và sau đó thức sẽ tái sinh trong các ác đạo. Ví dụ, Đức Khenpo Jigme Phuntsog quá cố đã kể nhiều chuyện về những người tham đắm tài sản như vậy trong các tác phẩm của ngài. Bởi quá tham đắm vàng bạc, thức của người đó đã tái sinh trong một loài động vật nào đó ngồi trên đống vàng tuỳ táng.
Con không cần thiết gì mà phải tham đắm tài sản và những thứ khác nữa vì nếu con tái sinh nơi Cực Lạc, thì tiền bạc, sức khoẻ, bằng hữu… đều tự nhiên đầy đủ ở đó. Đó là quả lành của Bồ đề tâm. Chúng ta có thể tái sinh trong một đoá sen, rồi sau đó tất cả những đồ nhu yếu như tài sản… sẽ tự nhiên sinh khởi. Nhưng nếu tâm con tham đắm vào bạn bè, thân quyến, tài sản, bất cứ thứ gì, nếu con chết mà vẫn tham đắm như vậy, không những con không được giải thoát mà tham ái còn nguy hại với cả bạn bè thân quyến của con vậy.
Nếu con tham đắm tài sản và bạn bè trong đời này, con nên nghĩ về những phúc báo tối thượng của cõi Cực Lạc. Nếu con tái sinh Tây phương, ngay khi con sinh ra, con sẽ có thể chứng bậc Hoan Hỉ địa, địa đầu tiên trong Thánh quả Bồ Tát. Nếu con đạt được quả vị này, con sẽ hoàn toàn có thể làm lợi cho gia đình, bạn bè hay bất cứ ai khác. Khi họ chết và ở trong thân trung ấm, con có thể xuất hiện trước mặt họ trong cảnh giới đó và hướng đạo cho họ được tái sinh Cực Lạc, như đón khách ở sân bay. Nhưng bây giờ các con tham đắm bạn bè và người thân, con sẽ không có khả năng thực sự làm lợi lạc cho họ. Nếu tái sinh ở Cực Lạc, các con không những làm lợi lạc cho chính mình mà còn cho nhiều chúng sinh khác nữa.
Ngay khi tái sinh cõi Cực Lạc, từ đó các con có thể du hành tới bất cứ cõi Phật nào, đỉnh lễ chư Phật và nhận giáo huấn từ các ngài. Đây là một phúc báo đặc biệt của cõi Cực Lạc. Như thầy đã nói, các cõi Phật khác thì ta không thể đến được nếu như chưa đạt Bất Động địa. Nhưng trong cõi Tây phương, chúng sinh ở đó có thể tái sinh đơn giản nhờ cầu nguyện. Thầy nói thế không có nghĩa là các con có thể tạo đủ mọi ác nghiệp rồi cứ cầu nguyện là được vãng sinh Tây phương tịnh độ.
Ở Cực Lạc, đạt giác ngộ sớm hay muộn còn phụ thuộc vào thiện hạnh tích luỹ nhiều hay ít trước kia. Nếu con đã tích luỹ nhiều công đức trước khi vãng sinh, con sẽ đạt toàn giác sớm thôi, và sẽ có những hoạt động làm lợi lạc cho chúng hữu tình. Vậy nên con nên tinh tiến tích tập công đức càng nhiều càng tốt và thanh tịnh ác hạnh, chướng ngại trong chừng mực tối đa con làm được.
Có thể vài đệ tử sẽ tự hỏi rằng: “Liệu Phowa có thể giúp mình tái sinh ở cõi nào đó không phải Cực Lạc được không?” Tái sinh Cự Lạc dễ hơn. Tuy nhiên, các cõi Phật không khác biệt nhau nhiều. Nếu con đặc biệt quen thuộc với một Bản tôn nào đó không phải Đức A Di Đà, khi con quán tưởng Phowa, thay vì Phật A Di Đà con sẽ quán tưởng vị Bản tôn ấy ngự trên đầu. Nếu con chuyển di thần thức như thế, thức của con sẽ được tái sinh trong Phật độ của vị Bản tôn mà con thân tquen. Thức của con và tâm của Bản tôn sẽ tan hoà như những thanh nam châm hút nhau vậy.
Có bốn nhân để tái sinh Cực Lạc mà trong bản văn nhắc tới. Đầu tiên là quán tưởng phúc điền. Phúc điền bao gồm quán tưởng Phật A Di Đà và cõi Cực Lạc. Các con phải nhớ những phúc báo vô thượng của Đức A Di Đà. Các con có thể nhớ niệm đại trí tuệ của ngài, hay tâm từ bi không điều kiện ngài dành cho chúng sinh. Các con có thể nghĩ về các phúc báo bất khả tư nghị và khả năng gia hộ cho chúng sinh của ngài.
Trong cõi Cực Lạc, Đức Phật A Di Đà hiện diện một cách thần diệu như cầu vồng minh triết và không thực. Thân tướng ngài nguy nguy trải khắp. Các con có thể tưởng tượng rằng Đức Phật A Di Đà có thể thấy bất cứ nguyện gì trong tâm của các con nhờ vào sức đại trí tuệ của ngài. Ngài có tâm đại từ bi vô ngã cho tất cả chúng sinh, như một bà mẹ có tình thương vô bờ bến cho đứa con độc nhất của bà. Đức Phật A Di Đà như kho tàng của lòng từ bi vô ngã dành cho hết thảy chúng sinh. Nơi nào có hư không, nơi đó có chúng sinh; nơi nào có chúng sinh, nơi đó có tâm, phiền não và nghiệp. Bi tâm của Đức A Di Đà đã đến độ toàn vẹn. Vậy nên từ tâm của ngài lớn hơn rất nhiều so với từ tâm của một người mẹ, vì một người mẹ chỉ có từ tâm với con bà chứ không từ bi với tất cả chúng hữu tình. Nhưng Đức Phật A Di Đà ngài từ bi với tất cả chúng sinh.
Khi các con hiểu được điều này, tự nhiên các con sẽ có thể cảm nhận được mối liên hệ gần gũi của các con với Phật A Di Đà. Như trong bản văn có ghi, chúng ta nên nghĩ rằng Đức Phật A Di Đà thực ra chính là bản sư trong thân tướng Đức Phật A Di Đà. Nếu nhận thức được về lòng từ bi và Bồ đề tâm thì hoàn toàn có thể sinh khởi mối liên hệ vô cùng gần gũi này.
Các con nên thường xuyên nỗ lực trụ thiền, luôn luôn cố gắng quán tưởng Đức Phật A Di Đà trên đầu và cố gắng duy trì quán tưởng này như đã được dạy. Thế nên khi thầy đi vào hay đi ra, các con không cần đứng dậy, vì nó sẽ làm thiền định của các con bị rối loạn. Các con có thể tiếp tục ngồi đó và trụ thiền. Các con không phải đứng lên để làm cho chính mình bị nhiễu loạn. Các con có thể quán tưởng rằng có một thân tướng Đức Phật A Di Đà nhỏ như người ta vẽ trong các thangka đang trụ trên đầu tất cả chúng sinh. Nếu thế thì thậm chí khi thở, các con cũng nên cố gắng thiền định.
============
Ngày III – Thời khoá 1
Có khá nhiều câu hỏi và thầy sẽ cố gắng trả lời càng nhiều càng tốt. Khi các con nghe thầy trả lời, các con có thể thầm tụng Oṃ Amideva Hrīḥ (thần chú của Đức Phật A Di Đà)
Câu hỏi 1: Để đạt giác ngộ cần lìa chấp với mọi thứ. Đức Phật đã có “nguyện thành tựu Phật quả”. Vậy nguyện này không phải là bám chấp hay sao?
Rinpoche: Nguyện đạt giác ngộ cũng là một dạng tham, nhưng nó cần thiết với người sơ học. Nhưng khi thành tựu giác ngộ rồi thì điều này sẽ biến mất.
Câu hỏi 2: Làm sao để chúng ta có thể biết được chúng ta đã thành tựu Phowa?
Rinpoche: Có vài dấu hiệu. Dấu hiệu bên ngoài là con thấy ngứa và mềm ở đỉnh đầu. Dấu hiệu bên trong là con cảm thấy muốn rời bỏ luân hồi một cách mạnh mẽ. Con sẽ cảm thấy chắc chắn con sẽ được giải thoát khỏi luân hồi. Dấu hiệu bí mật là con càng ngày càng ít xao lãng và phiền não. Đó là kết quả của việc năng lượng khí và thức đi vào đường mạch giữa.
Câu hỏi 3: Các dấu hiệu này sẽ xuất hiện trong một khoảng thời gian nào đó phải không?
Rinpoche: Có thể mất khoảng hai tuần hoặc hai tháng, tuỳ thuộc vào từng hành giả.
Câu hỏi 4: Khi thực hành Phowa con có cần phải tụng tất cả các bài nguyện, đặc biệt là bài nguyện chư đạo sư dòng Phowa hay không?
Rinpoche: Nếu không có thời gian con có thể tụng bản ngắn bài nguyện chư đạo sư dòng truyền thừa Phowa ở trang 34, đoạn có cả phần phiên âm tiếng Tạng. Sau đó con có thể quán tưởng đơn giản. Quán tưởng rất cần thiết. Con nên tập trung vào quán tưởng. Những phần quan trọng khác trong thực hành là tâm thành kính của con với Đức Phật A Di Đà, và nguyện chân thật được vãng sinh của con. Nếu con cầu nguyện với những niệm này thì thế là đủ rồi.
Câu hỏi 5: Con thấy rằng thầy không tụng hai dòng cuối ở trang 35 đúng không ạ?
Rinpoche: Dòng cuối trang 35 là phần bản quyền. Đương nhiên con không phải tụng nó. Ngoài ra thầy nghĩ thầy đã đọc hết rồi.
Câu hỏi 6: Phát âm chuẩn là thiết yếu phải không?
Rinpoche: Miễn là con trì tụng với lòng thành kính, với thiện tâm thì con có thể cố gắng hết sức để phát âm chuẩn. Nhưng điều này không quan trọng lắm.
Câu hỏi 7: Có phải tổ Jigten Sumgon đã tái sinh vào cõi Diệu Hỉ của Đức Phật A Súc Bệ thay vì cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà sau khi ngài tịch diệt hay không? Tổ Jigten Sumgon đã tái sinh cõi Phật nào sau khi ngài tịch diệt?
Rinpoche: Trong mỗi quốc độ đều có một hoá thân của tổ Jigten Sumgon. Khi ngài viên tịch, các đệ tử đã hỏi ngài: “Sau kiếp sống này thầy sẽ tái sinh về đâu? Về cõi Phật nào? Chúng con nên cầu nguyện đến cõi nào?” Tổ Jigten Sumgon trả lời: “Bản tính thật của tâm con là Đại thủ ấn. Vậy nên ta đi đến nơi nào thì nơi đó là cõi Tịnh độ.”
Câu hỏi 8: Hôm qua thầy có dạy rằng nếu chúng ta có liên kết mạnh với vị Bản tôn khác thì chúng ta có thể quán tưởng vị đó thay cho Đức Phật A Di Đà. Ví dụ như con có nhiều liên kết với Đức Lục Độ Mẫu. Trong thực hành hằng ngày, liệu con có thể quán tưởng Đức Độ Mẫu thay vì Đức Phật A Di Đà không? Vì nghi quỹ chúng ta dùng ở đây là nghi quỹ thực hành Phowa, mà dòng truyền thừa Phowa bắt nguồn từ Đức Phật A Di Đà. Vậy hằng ngày con nên thực hành như thế nào? Còn nữa, Đức Độ Mẫu ngồi một chân co và một chân duỗi. Con có thể quán tưởng ngài ngồi giống Đức Phật Di Lặc được không?
Rinpoche: Về bản chất, Đức Độ Mẫu không sai khác với Đức A Di Đà. Nếu con quen thuộc với Đức Độ Mẫu hơn, con có thể quán tưởng ngài ngồi trên đỉnh đầu con giống như Đức Phật Di Lặc và con vẫn dùng nghi quỹ này được. Con có thể quán tưởng Đức Phật A Di Đà, Đức Độ Mẫu và con lần lượt từ trên xuống dưới. Con phải biết rằng hai ngài không khác biệt.
Câu hỏi 9: Nếu con có thời gian trì tụng thần chú Hồng Quan Thế Âm, con có thể quán tưởng con là Đức Hồng Quan Âm và tụng Lục tự đại minh được không? Khi con trì tụng, con có cần quán tưởng năm tia sáng phóng ra từ chủng tự HRĪḤ màu đỏ chiếu đến sáu cõi để giải thoát chúng sinh khỏi khổ đau hay không?
Rinpoche: Được. Con có thể trì tụng Lục tự đại minh thần chú. Con có khả năng giải thoát chúng sinh hay không còn tuỳ thuộc vào con có tâm từ bi hay không. Những tia sáng sẽ luôn ở đó nếu con có tâm từ bi. Mặt khác, chẳng có tia sáng nào phát ra cả. Vậy nên nếu con có tâm từ bi thì điều này sẽ tẩy trừ được ác nghiệp và chướng ngại của con, cũng như con có thể giúp đỡ người khác cũng làm được như vậy.
Câu hỏi 10: Làm sao con có thể biết được khi nào con có thể bắt đầu sử dụng phương pháp này đối với người đang hấp hối hoặc đã chết – người và động vật?
Rinpoche: Nếu con có tâm đại bi vô cùng đối với người chết thì tự nhiên con phát khởi được một liên kết mạnh mẽ giữa thức của người chết và bi tâm của con. Vào lúc bi tâm phát khởi, con có thể sử dụng phương pháp này để giúp người chết hoặc người hấp hối.
Câu hỏi 11: Khi hành giả Phowa bị hôn mê hoặc gặp tai nạn như ô tô đâm hay rơi máy bay, họ có thể thực hành Phowa hay không?
Rinpoche: Nếu tâm con hoàn toàn thuần thục với pháp tu Phowa, thì nếu như chết do tai nạn, khi đó ngay lập tức các con rơi vào trạng thái thân trung ấm, con có thể nhớ lại kĩ thuật chuyển di thức và tìm ra con đường vì con đã có nhiều liên hệ với Đức Phật A Di Đà và pháp tu Phowa. Đặc biệt trong trạng thái trung ấm, thức có năng lực vô cùng sáng suốt. Vậy nên nếu con đã thực hành rất rất tốt, nó sẽ phóng lên ngay tức thì.
Câu hỏi 12: Điều chắc chắn để được vãng sinh Cực Lạc trong đời này là gì? Chúng con đã nhận quán đỉnh từ Người và chúng con đã thực hành Phowa. Vậy đã đủ để chúng con được tái sinh Cực Lạc hay chưa?
Rinpoche: Bồ đề tâm là giới nguyện của pháp tu Phowa. Vậy nên điều đó còn tuỳ thuộc vào một người có Bồ đề tâm hay không. Nếu có, thì tâm chấp ngã sẽ được hạn chế hoặc chữa trị. Khi tâm chấp ngã không còn thì sẽ được tái sinh Cực Lạc.
Câu hỏi 13: Khi nào chúng ta có thể bắt đầu thực hành Phowa khi cái chết đến gần?
Rinpoche: Đó là lúc hơi thở ngoài đã ngưng nhưng hơi thở trong vẫn còn. Vào lúc đó nên thực hành Pháp này. Nhưng trong trường hợp này, người ta phải phụ thuộc vào sự hộ niệm của người khác và phải thực hành kĩ thuật chuyển thức rất thuần thục. Phải có một tín tâm không suy suyển vào khái niệm Phowa A Di Đà và các kĩ thuật của nó. Đó là tất cả những yếu tố cần thiết, sau đó sẽ được vãng sinh. Tóm lại, thời gian mà chư đạo sư giảng là: Khi hơi thở ngoài đã ngưng và hơi thở trong vẫn tiếp tục.
Câu hỏi 14: Nếu người chết không thể ngồi trong tư thế thiền định thì chúng ta có thể đặt ở tư thế như thế nào trong thực hành cuối cùng này? Tư thế nằm có được không?
Rinpoche: Tư thế tốt là nằm nghiêng về bên phải.
Câu hỏi 15: Cơ thể có thể giữ nguyên tư thế thiền vào lúc chết trong bao lâu?
(Khenpo: Nếu tôi hiểu đúng câu hỏi, tức là sau khi chết, có một số người nhập định. Người đó có thể trụ trong định bao lâu?)
Rinpoche: Còn tuỳ thuộc vào thực hành của từng người. Không có một thời lượng định sẵn. Nếu con hoàn thành toàn bộ phần tu tập khi sống, thì con không phải trụ trong trạng thái đó nữa. Ngay khi con chết, con sẽ đạt Pháp thân.
Câu hỏi 16: Chúng ta sẽ làm gì khi thức thoát ra khỏi huyệt Phạm thiên? Chúng ta sẽ lang thang đây đó phải không?
Rinpoche: Đầu tiên, con quán tưởng Đức Phật A Di Đà ở trên đỉnh đầu ngồi trong tư thế Đức Phật Di Lặc và ngón chân cái bên phải của ngài bít lại huyệt Phạm thiên. Khi thức phải rời khỏi thân xác, ngón chân đó không còn ở đó nữa, nó mở ra. Khi thức bị tống xuất, nó tan hoà vào tâm Đức Phật A Di Đà. Đức Phật A Di Đà nhỏ tan hoà vào Đức Phật A Di Đà lớn tràn khắp hư không. Vậy thì con chẳng lang thang ở đâu cả, con sẽ thẳng tới Tịnh độ.
Câu hỏi 17: Sau khoá nhập thất này chúng con sẽ thực hành như thế nào?
Rinpoche: Nếu có thời gian, các con có thể thực hành theo cách mà chúng ta đang làm. Nếu không có nhiều thời gian, các con có thể tụng đơn giản bài nguyện dòng truyền thừa Phowa ở trang 34 và quán tưởng thật rõ ràng như nghi quỹ đã nói, như là quán tưởng các con là Vajrayogini, v.v. Hãy thực hành và sau đó hồi hướng ngắn vào cuối thời khoá. Các con có thể thực hành như vậy ít nhất một lần mỗi tuần.
Câu hỏi 18: Rinpoche có thể giải thích về biểu tượng và các đồ trang sức của Vajrayogini trong nghi quỹ Phowa có nói khi chúng con đang ở giai đoạn tự sinh khởi?
Rinpoche: Đồ trang sức của Đức Vajrayogini biểu hiện phẩm tính nguyên sơ của ngài, phẩm tính của tâm ngài. Ví dụ, ngài có sáu loại trang sức bằng xương tượng trưng cho Lục độ Ba la mật đa. Trên đầu ngài đội mũ có năm chiếc đầu lâu tượng trưng ngũ trí. Ngài cầm tam xoa kích có ba nhánh là biểu tượng của thanh tịnh ba độc. Ba nhánh của tam xoa kích là sự thành tựu tam thân. Tương tự thế, mỗi phần và mọi phần trong hình tướng ngài đều biểu hiện một vài phẩm tính nào đó. Nhưng quan trọng là hình tướng Vajrayogini là phẩm tính của Bồ đề tâm hạnh.
Câu hỏi 19: Thưa Rinpoche, ngài đã vô cùng từ bi khi ban cho chúng con giáo huấn về Đại ấn vài ngày trước đây. Vậy con muốn thỉnh cầu ngài ban cho chúng con “Chỉ huấn tâm yếu vĩ đại của dòng Dagpo Kagyu”.
Rinpoche: Bằng chính niệm và tỉnh giác, con có thể thấy những ý nghĩ đang khởi lên trong tâm. Ngay khi chúng khởi lên, chúng sẽ biến mất. Khi con tiếp tục làm vậy, tâm con trở nên hoàn toàn giải thoát khỏi tạp niệm. Nếu các con nhìn trực tiếp chính niệm thoát khỏi tạp niệm này theo cách tâm đang quán sát chính tâm, đó là Đại ấn. Về bản, giữa Đại ấn, Đại viên mãn hay Trung đạo không khác nhau, như một người có ba cái tên.
Câu hỏi 20: Chúng con cần lập tức làm gì nếu chúng con đang lâm trọng bệnh hay hấp hối? Hay gặp tai nạn bất ngờ?
Rinpoche: Nếu các con thực hành tốt Phowa, thói quen thực hành sẽ khởi lên. Ví dụ, nếu có người chết vì gặp tai nạn, ngay sau khi chết họ sẽ thấy quen thuộc. Kiểu quen thuộc này sẽ khởi lên và con sẽ ngay tức khắc nhớ về Đức Phật A Di Đà như vừa tỉnh giấc ngủ.
Câu hỏi 21: Chúng con có thể giúp đỡ cha mẹ chúng con như thế nào nếu họ đang mệt nặng hoặc hấp hối?
Rinpoche: Để giúp đỡ được người chết thì yếu tố quan trọng nhất là Bồ đề tâm. Nếu các con có Bồ đề tâm, các con có thể quán tưởng người hấp hối đó là Đức Vajrayogini. Các con có thể quán tưởng như thế đối với người hấp hối. Các con có thể quán tưởng đường mạch giữa và quả cầu sáng. Các con có thể dùng phương pháp này để giúp đỡ người đó. Nhưng tất cả còn tuỳ thuộc vào tâm từ bi và tâm Bồ đề của các con.
Câu hỏi 22: Nếu chúng con thực hành Phowa mà chưa nhận quán đỉnh Vajrayogini thì có được tụng thần chú của ngài khôn?
Rinpoche: Có thể tụng nhưng nếu con nhận quán đỉnh thì năng lượng sẽ mạnh mẽ hơn. Sức gia trì lớn hơn là không nhận.
Khenpo: Vẫn còn khá nhiều câu hỏi. Ngài sẽ cố gắng trả lời sau.
Thời khoá tiếp tục với các giáo huấn Phowa.
Thực hành Phowa
Trong thời khoá này, tất cả mọi người phải hô HIK. Bình thường, chúng ta hô HIK ba đến bảy lần. Khi các con ngồi xuống và quán tưởng, các con không nên nghĩ về người đang ngồi xuống bên cạnh hay đằng sau mình. Tâm các con không nên nghĩ tới chính mình nữa. Tâm các con nên tập trung vào cơ sở của thức, tức là quả cầu sáng.
Âm HIK đẩy thức lên cao. Giống như năng lượng khí đẩy thức lên đỉnh đầu. Thức như một mũi tên và năng lượng khí như chiếc cung tên. Vậy nên khi con kéo cung và phóng tên, mũi tên sẽ bắn đi. Như vậy khi con hô HIK, năng lượng khí sẽ đẩy thức, là quả cầu ánh sáng, lên và nó cứ đi lên thế và rồi chạm đỉnh đầu. Sau đó khi con hô GAR, thức trở về đài sen. Các con có thể chọn hô ba hay bảy lần HIK. Nhưng lần đầu nên hô nhỏ, lần sau to hơn, lần cuối cùng rất to.
====
Ngày III – Thời khoá 3
Câu hỏi 23: Chúng con có thể thực hành Phowa như thế nào với những người thân yêu của chúng con khi họ sắp mất? Chúng con có thể dạy họ pháp môn Phowa này không?
Rinpoche: Nếu các con có lòng đại bi, thì nhờ năng lực của bi tâm đó, các con có thể kết nối rất mạnh bi tâm của các con và thức của người thân các con đang hấp hối hoặc đã chết. Như thế là có thể giúp được. Các con có thể quán tưởng thân của người hấp hối hoặc người chết như hình tướng mà con quán tưởng mỗi thời khoá thực hành, và các con có thể đưa thức của người chết theo đường mạch giữa. Chỉ có thể làm được với tâm đại bi. Nếu các con biết các kĩ thuật Phowa và làm thế nào có thể thực hành tốt pháp này, đương nhiên các con có thể dạy lại cho những người các con yêu.
Câu hỏi 24: Ý nghĩa của quán tưởng tự thân là Đức Kim Cương Du Già Mẫu trong Pháp tu Phowa là gì?
Rinpoche: Chúng ta bám chấp thân xác của ta rất mạnh, và đó thực sự là một ảo tưởng. Để trừ bỏ bám chấp vào thân, trừ bỏ những cảm xúc uế nhiễm, chúng ta quán tưởng ta là Đức Vajrayogini. Pháp tu Phowa này thuộc về dòng Kagyu. Trong dòng Kagyu, Vajrayogini là một trong những vị Bản tôn chính và ngài nắm giữ đường mạch giữa. Vậy nên chúng ta quán tưởng chúng ta là Vajrayogini.
Câu hỏi 25: Sau này chúng con có cần nhận quán đỉnh Vajrayogini để thực hành không?
Rinpoche: Nếu các con nhận quán đỉnh được thì tốt hơn.
Câu hỏi 26: Chúng con có thể quán tưởng một hình tướng Đức A Di Đà khác được không? Ví dụ như Đức A Di Đà như trong truyền thống Đại thừa ở Trung Quốc.
Rinpoche: Được, các con có thể quán tưởng Đức Phật A Di Đà theo truyền thống của Trung Quốc hay truyền thống nào khác cũng được.
Câu hỏi 27: Quả cầu đỏ ở đường mạch giữa là một với thức chúng ta phải không? Xin ngài hãy giải thích kĩ lưỡng hơn về quả cầu đỏ đại diện cho thức.
Rinpoche: Quả cầu đỏ là căn bản của thức. Khi con dồn hết tâm con vào đó, nó trở thành điểm dừng cho thức, nó trở thành đối tượng để tập trung. Nhưng quả cầu đỏ đó tượng trưng cho thức. Nó rất trong và cũng không thực. Điều này đại diện cho bản thể của tâm – tức là sự hợp nhất của tính sáng và tính không.
Câu hỏi 28: Chúng con có thể thực hành Phowa với những trái chủ của chúng con được không? Nếu có, chúng con có thể làm như thế nào? Chúng con có thể được giải thoát khỏi oan gia trái chủ được không?
Rinpoche: Trong pháp môn Phowa, Bồ đề tâm là thứ cốt yếu. Nếu có Bồ đề tâm, nhờ uy lực của Bồ đề tâm và vận đường mạch giữa, khí, v.v.. duyên nợ có thể bị tiêu trừ không một sát na.
Câu hỏi 29: Ngài Drubwang Rinpoche đã dạy rằng pháp tu trì tụng chú Lục tự có thể khép lại sáu đạo luân hồi và giúp hành giả vãng sinh Tịnh độ Cực Lạc. Vậy xin ngài nói thêm về liên hệ giữa pháp trì tụng chú Lục tự và pháp Phowa. Làm như thế nào có thể kết hợp cả hai lại? Nếu con chỉ có thời gian thực hành một pháp, con nên tập trung vào pháp nào?
Rinpoche: Chú Lục tự đại minh, mỗi âm đại diện một trong sáu Ba la mật. Và tu sáu Ba la mật là tất cả của Bồ đề tâm. Vậy nên Bồ đề tâm không thể thiếu trong cả hai pháp trì tụng chú Lục tự và pháp Phowa. Đó là liên hệ giữa hai pháp. Nhờ trì tụng chú Lục tự, dần dần cũng có thể (hoặc không) vãng sinh Cực Lạc. Thế nhưng pháp Phowa có kĩ thuật đặc biệt bao gồm các được mạch và năng lượng khí… Đây có thể coi là con đường ngắn hơn. Vậy nên con có thể thực hành cả hai.
Câu hỏi 30: Trong thời Mạt này, chúng con nên học theo các giáo pháp và thực hành Đại thủ ấn hoặc Đại viên mãn hay không hay tập trung vào trì tụng chú Lục tự hoặc Phowa?
Rinpoche: Các con nên thực hành Phowa cùng với Đại thủ ấn hoặc Đại viên mãn. Các con nên hợp nhất chúng thành một.
Câu hỏi 31: Liệu con có thể dạy Phowa cho mẹ già của con không tham dự pháp hội hôm nay được không?
Rinpoche: Được.
Câu hỏi 32: Tưởng tượng rằng một ngày khi mẹ con qua đời, nếu không có vị lama nào bên cạnh khi bà chết, con có thể tụng bài nguyện Phowa để giúp bà vãng sinh Tịnh độ được không?
Rinpoche: Được. Nhờ tâm đại bi con có thể làm được.
Câu hỏi 33: Con bị đau đầu và cảm thấy buồn nôn khi thực hành Phowa. Cảm giác đó sau này sẽ biến mất hay sẽ tiếp tục đến chừng nào con vẫn thực hành Phowa? Xin hãy ban con lời khuyên rằng con nên kiểm soát các triệu chứng này khi con tu trì như thế nào.
Rinpoche: Cảm giác đau đầu và buồn nôn là những dấu hiệu cho thấy đường mạch đang mở, thế nên đây là điềm lành. Trong trường hợp này con nên hô “HIK” nhỏ hơn một chút.
Câu hỏi 34: Nếu không thấu hiểu tính Không, có thể thực hành Phowa để tái sinh Tây phương Cực Lạc được không?
Rinpoche: Có thể tái sinh ở cõi Tây phương Cực Lạc nhờ Bồ đề tâm tương đối. Vậy nên dù không hiểu được tính Không, với Bồ đề tâm tương đối thì vẫn có thể tái sinh.
Câu hỏi 35: Tâm từ bi là liều thuốc cho tâm chấp ngã. Ngã chấp sẽ bị xua tan khi Phật tính hiển lộ. Nếu nói rằng khi Phật tính hiển lộ thì sẽ đạt giác ngộ thì có đúng không? Khi giác ngộ sẽ thành Phật. Khi thành Phật thì có còn Phật tính nữa hay không?
Rinpoche: Các con càng trưởng dưỡng tâm từ bi được bao nhiêu thì Phật tính sẽ càng hiển lộ nhiều bấy nhiêu. Tâm bây giờ như một mảnh băng. Tâm của chúng sinh như một mảnh băng. Khi băng tan, băng thành nước. Như vậy nhờ uy lực của tâm từ bi hay vào lúc ngã chấp biến mất, tâm trở thành Phật.
Câu hỏi 36: Trong pháp Phowa, sau bảy tiếng “HIK”, chúng con có cần cảm thấy được thức chạm ngón chân cái Đức A Di Đà không?
Rinpoche: Có. Các con nên cảm thấy được quả cầu sáng chạm ngón chân cái khổng lồ của Đức A Di Đà sau bảy tiếng “HIK”. Ban đầu chúng ta cần hô bảy lần “HIK”. Sau đó giảm xuống ba và cuối cùng không cần hô tiếng “HIK” nào nữa. Pháp thực hành hô “HIK” cũng giống như bước chuẩn bị một con đường để thức đi. Nó giống như tạo một con đường cho thức đi trên đó.
Câu hỏi 37: Khi thức phóng lên và tới đỉnh đầu, chúng con có nên quán tưởng tự mình ở trong đường mạch giữa như quả cầu đỏ phóng lên tới khiếu trên đỉnh đầu không?
Rinpoche: Không giống như con ở trong đường mạch giữa và phóng lên. Thức phóng lên và nó có năng lượng khí dùng làm tốc độ rất lớn. Nó lấy năng lượng khí và phóng lên trên đường mạch giữa. Con tập trung ở bất cứ điểm nào thì thức vẫn ở đó. Nó không giống con là một con người đang ở trong đường mạch giữa. Khi con nghĩ tới bất kì nơi nào, thức sẽ tới đó ngay. Vậy nên từ đáy tim con, nếu các con phát nguyện vãng sinh Cực Lạc của Đức A Di Đà, thì thức các con tự động tới đó thậm chí cả khi con không muốn điều đó xảy ra.
Câu hỏi 38: Sau thời khoá Phowa này, chúng con cần thực hành mỗi ngày như thế nào để tiếp tục trưởng dưỡng Phowa của chúng con?
Rinpoche: Các con nên thực hành mỗi tuần một lần. Điều chính là các con nên tự chuyển hoá mình khi quán tưởng. Các con có thể dùng bài nguyện ngắn nếu không có thời gian. Bài nguyện ngắn ở trang 34 – cầu nguyện chư đạo sư dòng truyền thừa. Sau đố các con quán tưởng. Hãy làm sao cho các con cảm thấy quen với việc này.
Câu hỏi 39: Làm thế nào để chúng con biết rằng chúng con tu trì tiến bộ?
Rinpoche: Điều này thầy đã giảng trong thời khoá trước rồi. Phương diện vật lí, dấu hiệu biên ngoài là các con cảm thấy ngứa ở huyệt Phạm. Các con thấy mình từ bi hơn, và có ít tạp niệm hơn. Các con cảm thấy đầu mình trở nên rất nặng, hơi buồn nôn. Đó là một vài dấu hiệu cho thấy các con đang tiến bộ.
Câu hỏi 40: Tại sao chú Lục tự có chữ HRĪḤ khác với chữ HRĪḤ trong chú Oṃ Amideva Hrīḥ ở các kí tự chữ Tạng?
Rinpoche: Cả hai câu thì chữ HRĪḤ đều biểu hiện tâm từ bi và HRĪḤ nói rằng chư vị Bản tôn ta đang kết nối thuộc về Liên hoa bộ. Nhưng tại sao nó phát âm khác nhau và viết cũng khác nhau thế thì con nên hỏi thêm ai đó giỏi phát âm. Thầy không giỏi phát âm lắm.
Câu hỏi 41: Con có thể quán tưởng con là Đức Quan Thế Âm thay vì Đức Vajrayogini khi thực hành Phowa được không?
Rinpoche: Được. Thực ra trong dòng Nyingma có pháp tu mà con quán tưởng con là Đức Quan Thế Âm.
Câu hỏi 42: Làm thế nào để đưa được thức vốn rất tinh vi lên tới luân xa đầu? Con quán tưởng hơi khó.
Rinpoche: Khi sợ hãi luân hồi, nếu các con thực sự tin tưởng và xác quyết – tin tưởng Đức Phật A Di Đà và xác quyết nguyện tái sinh Cực Lạc thì có thể đưa thức lên tới luân xa đầu dễ thôi.
Câu hỏi 43: Bồ đề tâm là gì? Chúng con có phải đặt một cái gì đó trong lòng bàn tay khi cúng dường mạn đà la hay không?
Rinpoche: Bồ đề tâm là gì? Câu trả lời chính là nếu các con từ bỏ chấp ngã, nếu các con phát khởi nguyện làm lợi lạc chúng sinh thì dần dần nếu các con vượt qua được chấp hai và thành tựu trí tuệ bản sơ bất nhị, đó là Bồ đề tâm viên mãn. Khi các con cúng mạn đà la, nếu có gì đặt vào tay được thì tốt. Nếu không, các con có thể quán tưởng rằng thủ ấn ở tay con tượng trưng cho toàn bộ vũ trụ, và con chúng dường trong tưởng tượng.
Câu hỏi 44: Mỗi khi sau thời khoá Phowa, chúng con nên trì tụng bao nhiêu biến chú Vô Lượng Thọ? Có phải chúng con sẽ bị giảm thọ sau khi tu Phowa không?
Rinpoche: Nếu các con thực hành Phowa đúng cách thì các con sẽ sống thọ hơn. Nếu năng lượng khí và thức có thể đi vào trong đường mạch giữa, phiền não thường sẽ giảm và từ bỏ chấp ngã sẽ dễ hơn. Vì vậy, cuộc đời con sẽ kéo dài hơn và tuổi thọ sẽ tăng. Còn đối với thần chú Vô Lượng Thọ, các con có thể trì tụng bao nhiêu biến mà các con làm được. Mười, hai mươi, năm mươi, một trăm hay bất cứ bao nhiêu biến mà các con có thể hoàn thành.
Thời khoá tiếp tục với bài giảng.
Quán tưởng Phowa và giai đoạn viên mãn
Trong pháp tu Phowa, chúng ta quán tưởng thân ta là Đức Vajrayogini vì chúng ta phải quán tưởng đường mạch giữa. Vajrayogini là cửa của đường mạch giữa. Ngài như chủ tể của đường mạch giữa. Thân vật lí mà chúng ta có đây là sự kết hợp của nhiều yếu tố. Nó rất dễ tàn hoại. Nó tàn hoại và cuối cùng sẽ tan rã, vậy nên các con mang thân tướng Vajrayogini. Ngài đại diện cho sự hợp nhất của không và sắc. Thân Vajrayogini là bức hoạ vẽ lại tâm các con. Đó là một thân vi tế không có tứ đại hoà hợp, sáng và không thực như cầu vồng. Thân chúng ta được tạo thành từ các uẩn như sắc, thụ, tưởng… Thân của Đức Vajrayogini thì không giống thế. Khi các con quán tưởng các con trong thân Vajrayogini, các con có thể nghĩ rằng thân mình bên trong rỗng rang. Ngay chính giữa thân có đường mạch giữa. Đường mạch giữa xanh bên ngoài và đỏ bên trong. Giống như đường mạch cầu vồng trong và không thực. Các con có thể xem qua thangka và quán tưởng như vậy.
Trong đường mạch giữa không có cái đốt nào cả, đó là một mẩu. Trong nghi quỹ nói rằng có một đốt nhưng thực ra đốt đó là đoá sen. Giữa đoá sen có một quả cầu sáng. Quả cầu ấm, sáng nhưng các con không thể cầm nó được. Nó được tạo thành từ ánh sáng. Bề rộng của đường mạch giữa tương đương với ngón nhẫn của các con.
Khi các con hô “HIK”, năng lượng khí sẽ đẩy quả cầu lên. Nó lên và lên. Khi quả cầu sáng chạm tới phần trên cùng của cổ họng, các con hô tiếng “HIK” cuối cùng và lúc đó thức phóng thẳng lên tới ngón chân Đức Phật A Di Đà. Vậy nên khi lên đến cổ họng sẽ có năng lượng khí. Sau họng, thức tiếp tục lên tới ngón chân Đức Phật A Di Đà. Năng lượng khí với âm “HIK” đẩy quả cầu sáng lên tới cổ họng. Ở cổ họng, chúng ta đẩy thức lần cuối cùng và nó chạm tới ngón chân Phật, như một tráng sĩ bắn tên.
Vào lúc chết, thức sẽ tan hoà. Khi nó phóng ra khỏi đỉnh đầu, nó tan hoà với tâm và ý Đức Phật A Di Đà, như gặp lửa, như lửa và lửa tan hoà. Nhưng khi thực hành, khi các con đang trong giai đoạn tan rã và viên mãn, các con có thể quán tưởng rằng trên hư không có một Đức Phật A Di Đà khổng lồ, xung quanh ngài là vô lượng chư Phật ba thời. Tất cả các ngài tan thành ánh sáng. Ngay trên đỉnh đầu mình có một Đức Phật A Di Đà rất nhỏ đang ngồi như Đức Phật Di Lặc. Ánh sáng tan vào trong Đức Phật A Di Đà nhỏ đó, ngài lại biến thành ánh sáng và ánh sáng chảy xuống đường mạch giữa của các con qua khiếu ở đỉnh đầu. Ánh sáng chảy xuống tới tận tim nằm trong đường mạch giữa. Sau đó nó biến thành Đức Phật Vô Lượng Thọ, và như thế, các con trì tụng thần chú của Đức Vô Lượng Thọ: “Oṃ amārani jīvantīye svāhā”.
Đầu tiên các con phải thực hành nghi quỹ đủ các bài nguyện và quán tưởng. Nhưng khi con quen hơn, Đức Phật A Di Đà trở thành một phần của tâm các con và các con luôn nhớ đến ngài. Thế thì khi đó thực hành, các con không thể quên Đức Phật A Di Đà. Ngài luôn ở đó. Nếu các con đã có thể quen thuộc với pháp tu này như vậy, ngay cả khi con chết vì tai nạn, tự nhiên chết hay chết bất ngờ, các con sẽ nhớ nghĩ ngay Đức Phật A Di Đà và thức sẽ chuyển di thẳng tới trái tim Đức Phật A Di Đà như tên bắn. Như vậy các con không cần ngồi xuống và thực hành quán tưởng.
Khi các con muốn hộ niệm người chết hoặc hấp hối cũng như vậy, các con có thể quán tưởng người đó là Đức Vajrayogini và trên đỉnh đầu, các con quán tưởng Đức Phật A Di Đà ngồi như Đức Di Lặc. Các con có thể tụng bài nguyện và thực hành tất cả các bước Phowa. Các con có thể quán tưởng rằng thức của người chết phóng thẳng tới tim Đức Phật A Di Đà như tên bắn và tan hoà làm một.
Khi các con quen hơn với pháp tu này, các con không cần hô “HIK”, các con không cần âm này nữa, các con có thể chỉ cần chuyển thức mà không hô “HIK”. Ngay khi các con nghĩ tới việc phóng thức đi trong đường mạch giữa, nó đã sẵn sàng phóng đi rồi. Thậm chí các con có thể cảm nhận được ngay một số cảm giác ở đỉnh đầu mỗi lúc thực hành vậy. Đó là dấu hiệu tiến bộ.
Tín tâm và chí thành
Trong pháp tu Phowa có một điều cần thiết mà nếu không có nó thì Phowa không thể thành tựu. Đó là tín tâm và chí thành nơi Đức Phật A Di Đà, như tín tâm giữa mẹ và đứa con độc nhất. Tín tâm này thực sự là một loại tình cảm với Đức A Di Đà, nhưng vì dành cho Đức A Di Đà nên ta gọi nó là tín tâm và chí thành. Ví dụ, nếu các con có một người bạn ở xa và các con có nhiều tình cảm với anh bạn đó, bạn con sẽ trở nên rất gần gũi trong tâm các con vì các con có tình yêu và cảm xúc.
Cũng như vậy, nếu tâm chí thành của các con với Đức Phật A Di Đà không có chút nghi ngờ nào, nếu nó rất mạnh mẽ và xác quyết, ngay khi các con cảm nhận được cái chết đang đến gần, các con tự nhiên sẽ nhớ nghĩ Đức A Di Đà. Các con sẽ cảm nhận được rằng không có chốn quy y nào khác ngoài Đức Phật A Di Đà. Tâm các con sẽ được giải thoát khỏi mọi quái ngại và tham chấp. Vậy đó là con đường tốt nhất chuyển di thức.
Lời nhắn nhủ cuối cùng của Rinpoche
Trong pháp quán tưởng Phowa, nghi quỹ nói rằng Đức Phật A Di Đà thực ra chính là bản sư của con. Đây là điểm mấu chốt. Trong nghi quỹ có nói “Đức A Di Đà, bản thể của Bản sư”. Bây giờ, giữa bản sư và con là Đức Phật A Di Đà. Nên khởi mối liên hệ giữa tâm chí thành và từ bi. Tâm chí thành của con đối với Đức Phật A Di Đà, và tâm từ bi của Đức Phật A Di Đà. Tâm chí thành cũng là một dạng của từ tâm. Vậy nên từ tâm phát khởi giữa hai bên, hai tâm sẽ tự nhiên tan hoà vào nhau. Mối liên hệ liền phát sinh.
Nếu các con muốn hộ niệm cho người đang hấp hối, quan trọng nhất là các con cần có tâm từ bi. Nếu được vậy, dù người đó ở bất cứ nơi đâu, hộ niệm vẫn có thể giúp đỡ họ nhờ sức từ tâm. Còn nếu không có tâm từ bi, liên kết sẽ bị gián đoạn. Từ tâm là yếu tố mấu chốt. Thầy nhắc đi nhắc lại với các con rằng tâm từ bi rất quan trọng, tâm từ bi rất quan trọng. Đây là nhân. Vì thế nên Bồ đề tâm được gọi là Bồ đề tâm cao quý. Nếu có từ tâm, các con có thể chuyển di thức và được viên mãn mọi ước nguyện hiện đời và lâu dài.
Thời khoá tiếp tục với phần thực hành Phowa.
Hết.
Tác giả Sonam Gyatso
Gửi email bài đăng này
BlogThis!
Chia sẻ lên Twitter
Chia sẻ lên Facebook
Chia sẻ lên Pinterest
Nhãn: Pháp môn Phowa
Suy Niệm Về Sự Chết
Posted by TiengNoiLuongTri on Wednesday, September 3, 2014 · Leave a Comment
mindfulness_meditation
Giới Nghiêm Đặng Tấn Hậu
( http://tiengnoiluongtri.com/2014/09/...em-ve-su-chet/ )
Ngày rằm tháng bảy âm lịch nhằm tháng tám dương lịch, dân gian có tục lệ cúng cô hồn hay cúng những vong linh vừa mới mất còn trên con đường tìm chổ “tái sinh” vào cảnh giới kế tiếp. Do đó, bài viết “suy niệm về sự chết” trong tháng tám nghĩ cũng thích hợp cho đề tài trong tháng. Mặc dù chúng ta không có tự do quyết định về sự sinh ra đời, nhưng chúng ta có thể làm chủ được sự chết vì chúng ta biết trước sự chết sẽ đến với chúng ta. Nếu chúng ta có chuẩn bị tinh thần thì khi thần chết đến, chúng ta sẽ nhẹ nhàng, thanh thản ra đi. Tâm lo sợ, luyến tiếc lúc chết sẽ là lực gây trở ngại cho thần thức trên con đường tìm đường “tái sinh” vào kiếp sống vị lai.
Hầu hết các tôn giáo đều tin con người gồm có hai phần: tinh thần và thể xác. Đa số hiểu tinh thần là linh hồn nên khi chết, linh hồn lìa khỏi thể xác vì linh hồn không bị tiêu diệt, còn thể xác sẽ bị tiêu hoa.i. Phật giáo nam tông giải thích không nhiều về sự chết; đại khái khi tim vừa ngừng đập thì “linh hồn” (nhà Phật gọi là thần thức) liền tái sanh vào cảnh giới khác do chính nghiệp lực của mình. Phật giáo bắc tông giải thích thần thức “tái sinh” vào “thân trung ấm” trong vòng 49 ngày nên có tục lệ cúng bảy thất tại các chùa đại thừa Trung Hoa và Việt Nam.
Phật giáo mật tông trình bày chi tiết hơn về các hiện tượng lúc lâm chung, lúc mang thân trung ấm và lúc tái sanh. Tông phái “cổ mật” (nyinmapa) lấy lời dạy trong kinh Bardo Thodol (Kinh tử thư) giải thích về sự xuất hiện của các vị bồ tát, thần, quỷ v.v do ảo tưởng của tâm gây ra. Tông phái “áo vải” (kagyupa) chỉ dạy về pháp chuyển tâm (phowa) để giúp thần thức của người chết vãng sinh mau chóng về cõi Tịnh Độ sau khi chết. Tông phái “giới đức” (gelupa) đề cập đến các hiện tượng tâm-vật lý xảy ra lúc chết và lúc tái sanh.
Bài viết thử tìm hiểu về các giai đoạn lúc chết, lúc mang thân trung ấm và lúc tái sanh để chúng ta, người chết cũng như người sống, chuẩn bị tinh thần lúc ra đi cũng như chỉ dẫn cho người hộ niệm phải làm gì đối với người sắp chết. Bài viết dựa trên nền tảng đại cương của Phật giáo; đặc biệt là Phật giáo mật tông với lời dạy của 3 tông phái “cổ mật”, “áo vải” và “giới đức”. Tinh thần bấn loạn khi chúng ta gặp chuyện bất ngờ; ngược lại, tâm không có sợ hãi nếu chúng ta biết trước và chuẩn bị cho những gì sắp xảy ra cho chính mình hay cho thân nhân.
THÂN TRUNG ẤM
Một số người giảng con người có 3 thân là tiền ấm, trung ấm và hậu ấm. Tiền ấm là thân hiện tại của chúng ta (lúc sống), trung ấm là thân ở giai đoạn từ lúc chết đến lúc tái sanh và hậu ấm là thân tái sanh vào kiếp kế. Thông thường, chúng ta hiểu thân trung ấm dịch từ chữ Bardo của Phật giáo mật tông. Thực ra, danh từ Bardo có nghĩa là giai đoạn từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc; thí dụ, chương trình xây cât nhà cũng là Bardo. Do đó, chúng ta có nhiều bardo (chương trình) tùy theo trường hơ.p.
“Thân trung ấm” chỉ là một trong những thí dụ nhỏ để nói về “bardo”. Vì bài viết chỉ đề cập về sự chết nên chúng ta tạm liệt kê 6 giai đoạn “bardo”: 3 giai đoạn áp dụng trong khi mang thân xác (lúc sống) và 3 giai đoạn sau khi chết. Ba giai đoạn “bardo” trong khi sống gồm có:
• giai đoạn từ lúc sinh đến khi chết;
• giai đoạn trong khi ngủ (hay nằm mơ);
• giai đoạn trong khi thiền đi.nh.
Ba giai đoạn sau khi chết gồm có:
• giai đoạn lúc lâm chung;
• giai đoạn 49 ngày;
• giai đoạn lúc tái sanh.
Mặc dù bài viết chỉ đề cập 3 giai đoạn sau khi chết, nhưng chính nhờ kinh nghiệm của 3 giai đoạn lúc sống mà chúng ta có thể hiểu được phần nào những gì lúc chết. Thí dụ, tái sanh là gì? Nếu chết hiểu là “thân-tâm” chấm dứt và “tái sanh” là “thân-tâm” thành hình thì chúng ta có rất nhiều kinh nghiệm để hiểu về sự chết và tái sanh trong khi sống. Chứng cớ là các tế bào trong cơ thể của chúng ta thay đổi hoàn toàn 7 năm 1 lần. Nếu đúng thì cơ thể lúc mới sinh ở 0 tuổi và ở 8 tuổi phải khác nhau (hay nói đúng hơn là đã tái sinh vào cơ thể mới vào lúc 8 tuổi).
Nếu luận cho chính xác hơn thì mỗi phút, mỗi giây, hơi thở vào ra trong cơ thể của chúng ta cũng đủ chứng minh có sự sinh tử của cơ thể vì không khí ra vào trong buồng phổi khác nhau từng phút, từng giây. Sự thay đổi về tinh thần còn nhanh chóng hơn nữa. Thông thường, sự thay đổi của vật chất (các nguyên tử) bằng 17 chập tư tưởng; còn gọi là 17 tâm sát na “cittakhana”; tức là tinh thần biến đổi rất nhanh.
Điều cần biết, chỉ có tốc hành tâm (javana) nằm trong 17 tâm sát na là gây ra “tâm quả” vì có tác ý (hành) nên tạo ra thọ cảm (feeling) vui buồn và tạo ra nghiệp đẩy thần thức sinh vào cảnh giới kế tiếp mà 2 chập cuối cùng trong tốc hành tâm được biết là “cận tử nghiệp” ảnh hưởng đến đời sống vị lai. Do đó, nếu cận tử nghiệp vui thì thần thức “tái sanh” vào cảnh an lạc; nếu buồn thì tái sanh vào cảnh giới “không an vui”. Điều này cũng có thể hiểu, cái vui hiện tại ảnh hưởng đến tâm hạnh phúc tương lai (ví như tái sanh vào cõi trời), cái buồn hiện tại ảnh hưởng đến tâm không an lạc tương lai (ví như tái sanh vào cõi địa ngục).
Lâm Chung
Theo Phật giáo mật tông, một người rơi vào tình trạng lâm chung (dù tự tử hay bị tai nạn) cũng đều phải trãi qua các giai đoạn giống nhau trước khi chết như sau (chỉ khác là tiến trình của các giai đoạn xảy ra nhanh hay chậm):
Tứ đại (đất, nước, lửa, gió) ngưng hoạt động theo thứ tự. Đất (xương, da thịt) xảy ra trước, kế tiếp là nước (máu, nước tiểu), tiếp theo là lửa (hơi nóng lạnh), cuối cùng là gió (hơi thở) chấm dứt. Vì thế, người sắp chết thấy các hiện tượng tâm-vật lý thường xảy ra tuần tự như sau:
• cơ thể (đất) ngưng hoạt động nên chúng ta cảm thấy cơ thể cứng lại, nhưng vì còn có hiện tượng nước (nổi bật) làm cho chúng ta thấy “ảo giác” về các sự vật ví như người đi trong sa mạc thấy “nước” do ảo ảnh gây ra.
• chất nước chấm dứt nên miệng khô, lưỡi cứng, nhưng vì hiện tượng “lửa” (chất nóng) vẫn còn nên chúng ta có ảo giác thấy khói bốc lên.
• chất nóng (lửa) chấm dứt, cơ thể lạnh đi, nhưng vì hiện tượng “gió” (hơi thở) vẫn còn nên chúng ta có ảo giác thấy các tia lửa.
• chất gió (hơi thở) dần dần chấm dứt làm cho chúng ta có cảm giác thấy ngọn đèn lung lay sắp tắt.
Đó là các hiện tượng ảo giác “thô” (gross) do thể xác mang lại; tiếp theo là 3 hiện tượng vi tế (subtle) xảy ra. Thông thường, tứ đại “thô” liên hệ với lục thức như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý; còn các giọt vi tế (drop) liên hệ với mạt na thức (tiềm thức) và “thần thức” thật vi tế là “a lại da thức” của con người. [Tưởng cần nhắc lại, khoa tâm lý học (psychology) lấy từ chữ “psyche” tức là “cái ta” nên chỉ nghiên cứu đến phần vi tế gọi là “tiềm thức” (tương đương với mạt na thức chấp vào cái ta),nhưng chưa tìm hiểu đến phần “thật vi tế” là tạng thức còn gọi là “a lại da thức” trong nhà Phật.]
• 1 giọt khí mầu trắng từ đỉnh đầu chạy xuống tới tim nên người sắp chết thấy ánh sáng trắng bao trùm cả cơ thể.
• 1 giọt khí (drop) mầu đỏ từ hạ bộ lên tới tim nên người sắp chết thấy ánh sáng mầu đỏ hiện ra.
• cả hai giọt “trắng” và “đỏ” hòa hợp với nhau tại tim làm cho người lâm chung có kinh nghiệm đầu tiên về trạng thái “không” (sunyata) rồi mới ngất đi. Lúc bây giờ, người này thấy tất cả đều tối đen như mư.c. Bây giờ mới thực sự kể như chết vì thần thức “thật vi tế” đã xuất ra khỏi thể xác.
[ Tưởng cần nhắc lại, mục đích chính của PG là chấm dứt sanh tử luân hồi vì cõi sa bà đầy khổ đau; kể cả hạnh phúc cũng là khổ đau, bất toại nguyê.n. Thí dụ, ăn ngon, nhưng ăn nhiều bị tức bụng phát sinh đau khổ. Muốn chấm dứt tái sanh, hành giả phải diệt trừ “cái ta” (ego) nên mới có giáo lý về “vô ngã” hay “tánh không”. Có 3 trình độ hiểu biết về “vô ngã” (hay tánh không) từ dễ hiểu đến khó hiểu như sau:
• thứ nhất là thời gian vô thường vì không có cái gì là “thường còn” (cái ta lúc trước khác với cái ta bây giờ);
• thứ hai là không gian duyên hợp vì các yếu tố hợp lại tạm giả danh mà có tên (anh A chỉ là tổng hợp của 5 uẩn mà giả danh gọi là anh A);
• thứ ba là vạn pháp đều không; kể cả nhân quả, nhân duyên. Thí dụ,
Nhân là con ngựa thì tại sao không sinh ra quả là con bò mà lại sinh ra con ngựa? Vì nhân đã có quả chăng? nên nhân “con ngựa” mới sinh ra quả “con ngựa”? Nếu nhân đã có quả thì nhân không cần sinh ra quả vì quả đã có rồi trong nhân (kinh 12 cửa không của bồ tát Long Thọ) nên tất cả đều là “không”. PG mật tông chỉ dạy nếu thần thức nhận chân được “tánh không” trong lúc lâm chung, người này có thể chứng ngộ Niết Bàn ngay tức khắc. Do đó, cái chết là dịp may cho người chết đắc đạo nhanh chóng vì chứng ngộ “tánh không” lúc lâm chung.]
Trở lại đề tài, một người có kinh nghiệm về cơ thể học, họ có thể kiểm chứng một người sắp lâm chung có chết thực sự hay không? Họ không cần dùng máy đo tim hay đo bộ não mà chỉ cần quan sát máu đỏ có chảy ra từ mũi hay khí trắng có tiết ra từ hạ bộ hay không? Thời gian từ lúc sắp lâm chung tới khi chết thực sự có thể kéo dài vài giờ hay đôi ba ngày; chứ không nhất thiết là ba ngày như một số người nghĩ.
Với tính cẩn thận, các vị lạt ma khuyên thân nhân không nên đụng đến cơ thể của người lâm chung khoảng 8 tiếng (nếu có thể được 3 ngày thì tốt hơn) vì “thần thức” (rất vi tế) nằm trong sự hợp nhất giữa hai giọt trắngđdỏ có thể xuất ra bất kỳ nơi nào trong cơ thể từ nơi tim. Theo đức tin, nếu người thân đụng cơ thể của người lâm chung, thần thức “thật vi tế” rất nhạy cảm có thể xuất ra từ nơi gần đó như ở các cửa “ô uế” (nằm ở hạ bộ) thì vị này sẽ tái sanh vào “khổ cảnh” nên tông phái “áo vải” mới có kỷ thuật “phowa” (chuyển đưa thần thức” về cõi Tịnh Độ của Đức Phật Di Đà lúc lâm chung).
[Điều cần biết, cõi Tịnh Độ không phải là Niết Bàn vì theo định nghĩa, Niết Bàn là trạng thái, nơi chốn cực lạc an vui và chấm dứt sanh tử luân hồi, chấm dứt tam độc tham-sân-si; còn cõi Tịnh Đồ chỉ là nơi chốn “tạm” do hạnh nguyện của Đức Phật Di Đà tạo ra để những người có đức tin về ngài có thể “tái sinh” về nơi đây nhằm tiếp tục tu học chứng đạo quả giải thoát Niết Bàn. Lẽ tất nhiên, kinh kể cảnh này chỉ có “tu” chứ không có cơ hội đàn ca, hát xướng, nhậu nhẹt cho những người “không có duyên với Phật Pháp”.]
Theo “cổ mật”, tứ đại gồm có đất nước gió lửa hiện ra trước khi chết tượng trưng qua 4 vị “thần nữ” ; đó là ngài Buđhalocana tượng trưng cho yếu tố đất, ngài Mamaki là yếu tố nước, ngài Pandaravasini là yếu tố lửa và ngài Samyatara là yếu tố gió. Nếu người lâm chúng thấy hình tượng của các ngài hiện ra, chúng ta không có gì phải sợ hãi vì hình ảnh này luôn luôn ẩn hiện trong tứ đa.i. Nếu sợ hãi thì nghĩ đây chỉ là giả tướng, ảo ảnh để giữ tâm bình thản lúc ra đi.
PG thường đề cập Phật có 3 thân: sắc thân (nirmakaya) là thân 5 uẩn còn gọi là đường đi mầu trắng, báo thân (sambhogakaya) là thân biến hóa còn gọi là đường đi mầu đỏ và pháp thân (dharmakaya) là Phật tánh còn gọi là đường đi mầu đen. Ánh sáng trắng trong (clear light) có người dịch là “thanh tịnh quang”biểu tượng cho sự chứng ngộ hoàn toàn về “tánh không”. Người chết nhận chân được thanh tịnh quang lúc lâm chung thì kể như chấm dứt sanh tử luân hồi vì đạt vào trạng thái Niết Bàn “cực lạc”, không còn “cái ta” do vô minh tạo ra.
49 Ngày
Chuyện gì xảy ra sau khi chết và trước khi tái sanh vào cảnh giới mới; đó là giai đoạn 49 ngày mà thần thức sẽ “chết đi sống lại 7 lần trong 49 ngày”. Người sống trong giai đoạn này thường được hiểu là mang thân trung ấm; nghĩa là không cần ăn uống như người sống vì không có xác phàm “thô” mà chỉ có thân “vi tế”. Vị này có thể nghe, ngữi, thấy cảnh vật chung quanh và có thể đi đến bất cứ nơi nào trong tích tắc đồng hồ vì thân không bị không gian cản trở.
Do đó, người sống thường cúng cho người mang thân trung ấm các thức ăn nóng hay đốt nhang khói là lý do đó. Lẽ tất nhiên, có gia đình không thích đốt nhang hay đèn vì sợ khói mà thay thế bằng loại nhang đèn điện thì kể như người chết không được hưởng mà chỉ có ích lợi cho người sống vì họ có cảm tưởng đã làm xong bổn phận đối với vong linh người đã chết.
[Tưởng cần nhắc lại, theo mật tông, tất cả thể xác và tinh thần đều là “chân thật” (nature), là pháp (dharma); chỉ khác là phàm nhân có xác phàm hay tinh thần ô nhiểm vì vô minh và tà kiến (hiểu biết sai lầm); do đó, nguời biết nhận chân “sự thật” thì giác ngộ tánh không, chấm dứt sanh tử luân hồi. Vì thế, mật tông thường dùng kỷ thuật “thiện xảo” (phương tiện) để diễn tả các yếu tố qua hình tướng Phâ.t.
PG có công thức một người muốn thành Phật cần có 2 yếu tố “từ bi” và “trí tuệ”. Lòng từ bi tượng trưng cho “dương” vì đặc tính “động” và trí tuệ tượng trưng cho “âm” vì đặc tính “tịnh” nên mới có hình ảnh hợp nhất giữa âm và dương (union). Cùng thế đó, mật tông đã ví phương tiện đạt tới cứu cánh giải thoát là “dương” và trí tuệ tánh không là “âm” nên mới có hình tượng qua “cây tầm sét” tượng trưng cho phương tiện và “chuông” tượng trưng cho trí tuệ. Vì sự hợp nhất cứng rắn như kim cương giữa “phương tiện” và “trí tuệ”nên mật tông còn có tên là kim cương thừạ]
Giai đoạn “thân trung ấm” thường chia ra làm 3 giai đoạn “nhỏ” gồm có giai đoạn chư Phật hiện ra cùng lúc với 6 cõi sa bà, giai đoạn thứ hai là các vị thần “hiền” và “dữ” hiện ra và giai đoạn thứ ba, người mang thân trung ấm bắt buộc phải đi “tái sinh” do nghiệp lực, không còn con đường lựa chọn tái sanh như hai giai đoạn trước.
giai đoạn #1
Ngày thứ nhất, người mang thân trung ấm thấy Đại Nhật Quang Như Lai (Varocana) hiện ra với mầu xanh dương sáng chói; đồng thời lại thấy mầu trắng nhẹ của cõi trời. Nếu người này chọn con đường mầu xanh dương (blue) thì về cõi Phâ.t. Nếu sợ mầu xanh sáng chói, lại đi theo mầu trắng nhạt thì tái sanh vào cõi trời. Nếu vị này không chọn một trong hai con đường thì tiếp tục trải qua ngày thứ hai.
Ngày thứ hai, vị này sẽ thấy Đức Phật Kim Cang (Vajrasattva) mầu trắng sáng chói hiện ra; đồng thời là mầu đen của cảnh giới địa ngu.c. Nếu vị này không chọn một trong hai con đường thì sẽ trải qua ngày thứ ba.
Ngày thứ ba, vị này sẽ thấy Bảo Sinh Như Lai (Ratnasambhava) mầu vàng sáng chói hiện ra; đồng thời là mầu xanh dương (blue) của cảnh người. Nếu vị này không chọn một trong hai con đường thì sẽ trải qua ngày thứ tư.
Ngày thứ tư, vị này sẽ thấy Đức Phật A Di Đà (Amitabha) mầu đỏ sáng chói hiện ra; đồng thời là mầu vàng của cảnh giới ngạ quỷ. Nếu vị này không chọn một trong hai con đường thì sẽ trải qua ngày thứ năm.
Ngày thứ năm, vị này sẽ thấy Bất Không Thành Tựu Như Lai (Amoghasiđhi) mầu xanh lá cây hiện ra; đồng thời là mầu đỏ của cảnh giới thú và thần “a tu la”. Nếu vị này không chọn một trong hai con đường thì sẽ trải qua ngày thứ sáu.
Ngày thứ sáu, tất cả Ngủ Trí Như Lai Phật gồm có Đại Nhật Quang Như Lai, Kim Cang Phật, Bảo Sinh Như Lai, Vô Lượng Quang Như Lai và Bất Không Thành Tựu Như Lai cùng hiện ra; đồng thời có tất cả 6 cảnh giới của cõi sa bà là trời, thần, người, ngạ quỷ, súc sanh và địa ngục để thần thức của người mang thân trung ấm chọn lựa con đường “thích hợp” cho đời sống kế tiếp. [Tưởng cần biết, “Ngũ Trí Như Lai Phật” tượng trưng cho 5 uẩn của Chư Phật.]
Bài viết dựa trên lời chỉ dạy của đại sư Bokar Rinpoche trong sách “Mort et Art de Mourir” (Chết và Nghệ Thuật Chết) nên các mầu hào quang của các vị Phật được tôn trọng theo lời dạy của ngài. Đại sư Thrangu Rinpoche lại chỉ dạy trong sách “The Five Buđha Families and the Eight Consciousness” (Ngũ Trí Như Lai và Tám Thức) về hào quang của chư Phật có phần khác. Thí dụ,
• Đại Nhật Quang Như Lai có công năng diệt trừ vô minh nên có hào quang mầu trắng,
• Bất Động Như Lai có công năng diệt trừ sân hận nên có hào quang mầu xanh dương,
• Bảo Sinh Như Lai có công năng diệt trừ tánh kiêu ngạo nên có hào quang mầu vàng,
• Bất Không Thành Tựu Như Lai có công năng diệt trừ tánh ganh tỵ nên có hào quang mầu xanh lá cây,
• Vô Lượng Quang Như Lai có công năng diệt trừ tâm tham ái nên có hào quang mầu đỏ.
Cả hai có điểm chung là hào quang của chư Phật sáng chói và ánh sáng của các cảnh giới khác có mầu nhạt nên thần thức của người mới mất thường sợ hãi trước hào quang tươi sáng và cảm thấy gần gũi thích hợp với mầu nhạt nên thường chọn con đường tái sanh vào 6 cảnh giới trong cõi sa bà. Đó là lý do tại sao lúc sống, chúng ta cần “quán tưởng” thường xuyên hình ảnh của chư Phật để khi lâm chung, tâm của chúng ta đã quen thuộc, không sợ hãi trước hào quang sáng chói của chư Phật ví như người con trở về nhà gặp lại đấng cha lành.
giai đoạn #2
Nếu không có sự quyết định tái sanh trong giai đoạn #1 thì các tuần lễ sau có sự xuất hiện của 42 vị thần có hình tướng hiền hiện ra, tiếp theo là 58 vị thần có hình tướng dữ. Tất cả sự xuất hiện của các vị thần trong vòng 3 tuần. Điều cần biết, sự xuất hiện của các vị thần chỉ là hình ảnh do tâm tạo tùy theo nghiệp lực của người mang thân trung ấm. Nếu chúng ta vững tâm, không lo sợ và chọn con đường tái sanh ngay lúc này thì không phải trãi qua giai đoạn thứ ba là giai đoạn tái sinh hoàn toàn dựa vào nghiệp lực, không còn có sự lựa chọn lúc này (vì 49 ngày của thân trung ấm sắp hết).
giai đoạn #3
Lúc bây giờ, “thần thức” rất nhạy cảm và lo sợ vì các hình ảnh dữ tợn, cộng thêm âm thanh, mầu sắc làm cho thần thức bị đảo điên. Đó là chưa kể “thần thức” không tâm sự được với thân nhân vì những người này không thấy được “thân trung ấm” của người chết nên làm cho “thần thức” của người chết trở nên bực tức, khó chịu; chính tâm bực tức đưa họ tái sanh vào khổ cảnh (vì cận tử nghiệp của thân trung ấm). [Điều cần nhớ, đời sống của thân trung ấm gồm có 7 kiếp; mỗi kiếp có đời sống 7 ngày; tổng cộng là 49 ngày (7×7).]
Nghiệp lực thúc đẩy thần thức “thân trung ấm” tái sanh vào cảnh giới khác nên các điều kiện hiện tại dần dần phai nhạt; nghĩa là sự liên hệ giữa cha con, vợ chồng của đời sống trước mất đi và các điều kiện tương lai ảnh hưởng đến; tức là “thần thức” thấy sự giao hợp của cha mẹ “tương lai” nên thần thức gá vào tinh trùng và minh châu của cha mẹ. Từ đó sanh ra bào thai mới, tức là thần thức tái sanh vào cảnh giới mới là một trong sáu cảnh giới của cõi sa bà và quên đi đời sống của kiếp trước.
TÁI SANH
Tiến trình của sự tái sanh đi ngược chiều lại với tiến trình của sự chết. Bước đầu là thần thức “thật vi tế “ (a lại da thức) hợp cùng với tinh khí và minh châu của cha mẹ tại trung tâm (ở tim) tạo thành bào thai. Thần thức thật vi tế bể ra làm hai tại tim, phân ra làm thần thức “vi tế” tượng trưng cho “giọt mầu trắng” (dương) lên não và “giọt mầu đỏ” (âm) xuống hạ bộ. Từ nơi đó, thần thức “vi tế” liên hệ với các dây thần kinh trong cơ thể mà chúng ta có 6 thức “thô” liên hệ với 6 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Căn mắt chỉ thấy sự vật nên có “nhãn thức”, tai chỉ có nghe âm thanh nên chỉ có “nhĩ thức” v.v.
Thời gian của giai đoạn #1 có thể kể là tốt nhất cho con đường tái sanh vì có sự lựa chọn của thần thức trong tinh thần còn minh mẫn. Giai đoạn này thường kéo dài khoảng 1 tuần lễ đầu. Giai đoạn #2 có sự khủng hoảng tinh thần vì có sự xuất hiện của các vị thần dữ, nhưng vẫn còn có sự lựa chọn con đường tái sanh. Giai đoạn này kéo dài khoảng 3 tuần. Giai đoạn #3 là giai đoạn không có sự lựa chọn mà bắt buộc phải tái sanh do nghiệp lực thường kéo dài 3 tuần; tổng cộng là 7 tuần, còn gọi là bảy thất.
Tóm lại, muốn cho sự ra đi được thanh thản, người chết cần biết giáo pháp, suy niệm thường xuyên về sự chết để tâm không lo sợ; đặc biệt là biết bố thí để tâm không còn luyến tiếc của cải và hiểu được bản chất tự nhiên về sự chết. Có ba cách chuẩn bị cho sự chết:
• thứ nhất là cầu vãng sanh về cõi Tịnh Độ;
• thứ hai là suy niệm về “pháp nhận và cho” tức là nhận khổ đau của chúng sanh và hồi hướng phần tốt đẹp cho chúng sanh vì pháp này tạo ra thiện nghiệp, giúp thần thức “tái sanh” về nhàn cảnh;
• thứ ba là học và hành giáo pháp để hiểu vạn pháp đều là không. Cái ta không có thì làm gì có “cái ta” sinh hay diệt, làm gì có tái sanh luân hồi.
HÔ NIÊM
Chim chóc lẻ bạn còn kêu khóc, con người không khóc than lúc bạn lìa đời hay cha mẹ, anh em ra đi thì có quá vô tình chăng? nên đạo Khổng thường chủ trương nghi lễ ma chay rất trịnh tro.ng. Người Trung Hoa thường có tục lệ “khóc mướn” để tỏ lòng thương tiếc người ra đi. Nhưng đạo Phật lại chỉ dạy “thương khóc” chỉ làm thần thức người chết khó ra đi, càng kéo dài thời gian mang “thân trung ấm” 49 ngày nên chúng ta cần giữ tâm bình thản để thần thức của người ra đi được dễ dàng, nhất là mau được vãng sanh về cõi Tịnh Độ là nơi chỉ có tu mà không có đau khổ. Do đó, người hộ niệm hay ban hộ niệm đóng vai trò rất quan trọng trong lúc ma chay.
Người hộ niệm (phần nhiều là người thân trong gia đình) cần giữ tâm bình tỉnh, kính trọng sự ra đi của người thân; đó là cách tỏ lòng thương tiếc người thân; chứ không nhất thiết phải khóc than lớn tiếng mới gọi là người con có hiếu hay biết buồn thương sự ra đi của người thân. Theo Phật giáo, khóc than chỉ làm cho người lâm chung khó chịu, trìu mến, khó ra đi vì thương tiếc người ở lại nên gây trở ngại cho thần thức của người lâm chung để có sự quyết định sáng suốt, nhanh chóng trên con đường tìm đường tái sanh.
Người “hộ niệm” thấy người lâm chung đau đớn vì tử thần đến, người này nên suy niệm và nguyện cầu thầm trong tâm là người lâm chung cần nhận thức đời sống khổ đau của kiếp người và nguyện cầu cho người lâm chung mau vãng sanh về cõi Phật để không phải tái sanh luân hồi mãi mãi mà tiếp tục chịu khổ đau. Lời cầu nguyện giúp cho thần thức vững tin để từ bỏ cõi giả tạm đầy khổ đau trong cõi sa bà. Theo kinh tử thư, người hộ niệm nên nói nhỏ bên tai của người lâm chung (trước khi chết thật sự) là xin quy y Tam Bảo, nhắc nhở hạnh bố thí của người lâm chung lúc sinh tiền (để vị này có tâm hoan hỷ mà tái sanh vào nhàn cảnh).
Thân nhân có thể thành tâm làm việc bố thí và hồi hướng phước báu cho người chết trong giai đoạn thân trung ấm 49 ngày như xây tháp, xây chùa, in kinh hay niệm Phật vì tất cả việc này đều mang lại sự lợi lạc cho người chết trong giai đoạn 49 ngày. Khi nhờ nhà chùa hay bất cứ ai cúng “cầu siêu”, chúng ta nhớ đưa tên họ, ngày giờ chết và tấm hình vì lời cầu kinh của các sư (hay ban hộ niệm) sẽ giúp cho thần thức của thân trung ấm hiểu được sự vô thường, khổ não trên thế gian và chân lý vạn pháp của tánh không. Điều cần nhớ, người mang thân trung ấm có thể nghe, ngữi và đi đến bất cứ nơi nào có tiếng gọi đến tên của họ.
Một số người nghĩ không cần cúng thức ăn cho người mang thân trung ấm vì có cơ thể đâu mà ăn. Theo mật tông, người có thân trung ấm có thể ngữi được thức ăn và cảm thấy no nên có tục lệ cúng thức ăn nóng, có mùi vị. Điều quan trọng là cúng 3 thời sáng, trưa, chiều y như người này ăn lúc sanh tiền. Chúng ta không cần mời vị sư làm lễ cúng thực phẩm cho người chết. Chúng ta chỉ cần để thức ăn nóng trên bàn, đọc tên người chết và mời vong linh người chết về thọ thực phẩm là đủ, nếu cần, chúng ta đọc kinh Di Đà hay niệm Phật tiếp độ và nhắc nhở cho hương linh mau chóng vãng sanh về cõi Tịnh Độ.
Các vị lạt ma thuộc tông phái “áo vải” (kagyu) có pháp “chuyển thần thức” (phowa). Chư vị thực hành kỷ thuật phowa để đóng các cửa “ô uế” trên thân của người lâm chung và giúp cho thần thức của người này xuất ra khỏi xác từ đỉnh đầu vì có sự tin tưởng thần thức đi ra từ đỉnh đầu sẽ vãng sanh thẳng về cõi Tịnh Độ. Người lâm chung có thể tự mình thực hành kỷ thuật phowa nếu lúc sanh tiền có thực tập kỷ thuật này.
Ngày nay, một số cư sĩ VN ở hải ngoại tu theo tông phái “áo vải” cũng thường thực tập phowa để lập hạnh từ bi hộ niệm cho người lâm chung. Kỷ thuật này là con dao 2 lưỡi vì làm sao chúng ta biết người này sắp chết hay chỉ nằm yên rồi sống lại vì nghiệp lực chưa hết. Do đó, người xử dụng phowa có thể phạm trọng tội “giết người” là tội rất nặng trong PG. Điều cần biết, PG không chấp nhận “trợ tử” (euthanasia) vì đây là hình thức sát sanh, tạo ra nghiệp ác rất nă.ng.
Người hộ niệm cũng có thể để cát mạn đà la, lá chú (có ghi kinh Phật), tấm vải có viết lời kinh đắp trên cơ thể người lâm chung hay để trong hòm của người chết (còn trong vòng 49 ngày). Mật tông có tục lệ đốt lá chú và dùng tro của lá chú để trên ngực của người chết. Đó là cách trợ duyên qua thân (contact). Còn trợ duyên qua âm thanh là người hộ niệm đọc kinh hay chỉ dẫn cho người lâm chung trãi qua các giai đoạn trong thân trung ấm 49 ngày. Đây là hình thức được chỉ dẫn đầy đủ trong “kinh tử thư” (Bardo Thodol) của phái cổ mâ.t.
KẾT LUẬN
Tất cả ba tông phái PG (nam tông, bắc tông và mật tông) đều chỉ dạy “cận tử nghiệp” là chập tư tưởng cuối cùng ảnh hưởng đến “tâm quả” kế tiếp (tức là tái sanh vào kiếp kế) nên “cận tử nghiệp” rất quan trọng trong lúc lâm chung. Vì thế, người hộ niệm cũng như người lâm chung cần có tâm “bình tỉnh”, không sợ hãi, không luyến tiếc lúc tử thần đến vì “cận tử nghiệp” không tốt sẽ đưa thần thức của người chết về cõi không an lành dù vị này có làm nhiều việc thiện trong lúc sống.
Ngược lại, một người làm ác trong lúc sống, nhưng khi chết, họ có “cận tử nghiệp” tốt thì họ vẫn có thể tái sanh vào nhàn cảnh. Do đó, chúng ta không lấy làm lạ có người chết yểu khi tái sanh vào kiếp người vì kiếp này được coi là cõi tốt, nhưng vì nghiệp ác đã tạo quá nhiều trong quá khứ nên đời sống hiện tại không lâu dài. Cách hay nhất là chúng ta thường xuyên suy niệm về vấn đề sinh tử (mà chúng ta có thể nghiệm trong đời sống hiện tại) và quy y tam bảo, cũng như lạy các hình tượng Phật để khi lâm chung, tâm đã không sợ hãi lại còn luôn tưởng nghĩ đến Phật thì chắc chắn, vị này sẽ có “cận tử nghiệp” tốt đe.p.
PG đại thừa thường nói đến “thân trung ấm” và chỉ dạy hình thức cầu siêu cho người chết mau được vãng sanh về cõi Tịnh Độ nên có tục lệ cúng thức ăn nóng và nhắc nhở vong linh người chết sớm vãng sanh về cõi Tịnh Độ. Ngược lại, phật tử đại chúng có hình thức cầu siêu cúng ngọ cho vong linh người thân với bát cơm đôi đủa, còn các bát khác chỉ có 1 chiếc đủa với lập luận sợ vong linh của người chết khác dành lấy thức ăn của người thân của mình (vì họ chỉ có 1 chiếc đủa thì làm sao gấp thức ăn cho kịp). Tôi thiết tưởng hành động này quá ích kỷ, không vị tha; trái với giáo lý “cho và nhận” trong tinh thần “từ bi” của PG đại thừa. Chúng ta nên bỏ tập tục này.
PG mật tông giải thích chi tiết về sự sống và sự chết nên chúng ta có thể áp dụng vào chính đời sống của mình trong khi sống. Thí dụ, suy niệm về “thuyết tái sanh” trong khi sống để có đức tin vững chắc về thuyết tái sanh luân hồi hay thiền định về tiến trình của sự tử để chuẩn bị đối đầu với thần chết hoặc theo dõi tiến trình của danh-sắc trong khi ngủ vì đây là dịp chúng ta có thể có kinh nghiệm về lục thức, mạt na thức và a lại da thức, cũng như trãi qua kinh nghiệm về ảo giác mà nhận chân được “tánh không”, vô ngã trong lúc ngủ và trong khi thiền đi.nh. Lẽ tất nhiên, đây là kỷ thuật “thiền” mà chúng ta cần có vị thầy có kinh nghiệm chỉ dẫn tu tâ.p.
Nguyện cầu tất cả chúng sanh đều được an vui và hạnh phúc!
ĐTH (1.8.2014)
http://s1.upanh123.com/2016/12/21/le...u-29-74988.jpg
http://hoavouu.com/images/file/4xDDD...e-chieu-8-.jpg
http://s1.upanh123.com/2016/12/21/le...u-13-bfd89.jpg
http://s1.upanh123.com/2016/12/21/le...u-16-70381.jpg
http://s1.upanh123.com/2016/12/21/le...u-14-ad3c3.jpg
http://s1.upanh123.com/2016/12/21/1fad73.jpg
http://hoavouu.com/images/file/VNEKI...-chieu-40-.jpg
http://hoavouu.com/images/file/Hj6AI...-chieu-44-.jpg
http://hoavouu.com/images/file/u_0fJ...-chieu-45-.jpg
http://hoavouu.com/images/file/rhvCJ...-chieu-46-.jpg
http://hoavouu.com/images/file/fhqHJ...-chieu-49-.jpg
Lễ Nhập Kim Quan Hòa Thượng Thích Tuệ Chiếu
Tại chùa Phước Long, tiểu bang Connecticut - Miền Đông Bắc Hoa Kỳ
( http://hoavouu.com/a39940/tin-ht-thi...hieu-vien-tich )
https://www.youtube.com/watch?v=iXXYLuZi0q8
Cụ bà 93 tuổi, niệm Phật bốn năm tự tại vãng sanh Lão cư sĩ Lý Phúc Duyên vãng sanh ký
TỊNH ĐỘ DỂ HÀNH ĐẠO, VẠN NGƯỜI TU VẠN NGƯỜI ĐI.
Kính mời chư vị đồng tu Tịnh Độ dành chút thời gian xem đoạn phim này để xây dựng tín tâm nguyện tâm. Lão cư sĩ Lý Phúc Duyên 93 tuổi là một cụ già nhà quê không biết chữ, chỉ chuyên niệm một câu A Di Đà Phật trong bốn năm liền tiêu hết nghiệp chướng, biết trước ngày đi, tự tại vãng sanh không một chút bệnh khổ khiến cho hơn ba trăm người hộ niệm cho bà chứng kiến hiện tượng vi diệu vô cùng thù thắng
Đúng như đại lão hòa thượng Tịnh Không đã giảng. "Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn cực khó và cực dể. Nói khó tức là đại triệt đại ngộ, kẻ thâm nhập kinh tạng còn không tin. Nói là dể, tức hạng ngu phu ngu phụ chí thành khẩn thiết mà niệm thì có thể lúc lâm chung, hiện ra tướng lành vãng sanh Tây Phương, so với kẻ đại triệt đại ngộ thông sâu kinh luận kia còn chẳng theo kịp."
Một người nhà quê không biết chữ, một câu Phật hiệu niệm đến cùng liền vược ra tam giới thoát khỏi lục đạo đắc thành Phật quả thật là không thể nghĩ bàn. Đúng như lời tổ sư đại đức đã nói: Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn tổng trì độ hết ba căn "thượng căn-trung căn và hạ căn". Ngoài pháp môn trì danh niệm Phật này ra không còn pháp môn nào khác có thể cứu hạng người "ngu phu ngu phụ" thoát khỏi tam giới lục đạo trong thời kỳ mạt pháp.
Người chỉ cần chân tín chân nguyện lão thật niệm Phật đúng như lý y như pháp thì vạn người tu vạn người đi. Cụ bà Lý Phúc Duyên đã làm tấm gương biểu pháp cho người niệm Phật chúng ta. Người niệm Phật chúng ta nhất định phải giữ vững lòng tin kiên định, tinh tấn niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, đoạn tất cả ác tu tất cả thiện, tích công trữ đức, đừng vội hưởng phước mà để dành phước đức đến lúc lâm chung rồi hưởng giống như cụ bà Lý Phúc Duyên
. Hàng mấy trăm người đến hộ niệm cho bà, tiễn đưa bà đến thế giới Cực Lạc giải quyết xong vấn đề sanh tử ngay trong một đời mà từ đời đời kiếp kiếp trong vô lượng kiếp qua đã trôi lăn trong lục đạo.
Nguyện cho ai nghe ai thấy đoạn phim này đều phát khởi tâm Bồ Đề rộng lớn, bỏ dữ làm lành, quy y Tam Bảo, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Nguyện cho hết thảy chúng sanh trong mười phương pháp giới, phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, hết một báo thân này cùng đồng vãng sanh về Thế Giới Tây Phương Cực Lạc đắc thành Phật quả độ tận chúng sanh.
Nam Mô A Di Đà Phật!
Người Niệm Phật
giọng đọc : Cư Sĩ Diệu Âm
Tịnh Tông Học Hội Houston