-
TÂM ĐỐ KỴ, GIẢ DỐI SẼ LÀM TỔN GIẢM ÂM ĐỨC
AUGUST 18, 2015 VÔ DANH LEAVE A COMMENT
Tôi học “Đệ Tử Quy” quá trễ, cho nên tôi còn nhớ lúc tôi làm bài thi, bạn học thi cao điểm hơn tôi, trong lòng tôi cảm thấy không vui, “có gì hay đâu chứ, chẳng qua là may thôi mà”. Tuy trong lòng nghĩ như vậy, nhưng trên mặt thì vẫn mang vẻ tươi cười nói: “Chúc mừng bạn, bạn làm bài giỏi quá!”. Đó cũng chỉ là lời nói suông ngoài miệng, là giả dối. Giả dối sẽ tổn âm đức! Nhìn thấy bạn học mà thi không bằng tôi, tôi rất là thích thú, sau đó còn cầm bài thi đưa qua đưa lại vài lần và nói: “Hôm qua tôi chẳng có ôn gì hết, vô tình mà lại thi còn cao điểm hơn bạn”.
Cho nên các bạn thấy, người mà chua ngoa, gian xảo thì rồi sẽ như thế nào? Hình thể của họ thường gầy còm, có phải không? Bởi vì cái ý niệm không tốt sẽ làm tổn thương họ trước, chưa kịp hại người khác thì đã hại mình rồi. Một ý niệm xấu khởi lên thì 80 ngàn tỉ tế bào bị đầu độc cả. Các bạn hãy xem Tần Cối hoặc là Nghiêm Tung, những người này có dáng người đều là dáng của kẻ gian thần. Các bạn đều chưa thấy qua gian thần à? Các bạn cứ nhìn lên trên này thì sẽ biết, đây là mười mấy năm trước, tâm thái của tôi không đúng mà bây giờ thành ra như vầy. Vì vậy các bạn cũng nên khích lệ cho tôi. Mười lăm năm nữa, tôi sẽ nỗ lực cố gắng cho giống với dáng của Bồ Tát Di Lặc, khỏe mạnh, tâm rộng lớn.
Điều này xác thực tâm thái đã quyết định sự thành bại của việc mà chúng ta làm. Chúng ta phải thật cảm thấy là đức hạnh quan trọng, đã đến lúc không còn có thể chậm trễ, giống như bác sĩ trị bệnh, giả như bệnh nhân đã nguy kịch thì có dễ trị không? Không dễ trị! Bác sĩ chỉ trị cái bệnh của thân thể. Chúng ta trong ngành giáo dục là trị cái tâm bệnh của học trò, mài giũa cái trí huệ của chúng, chỉnh sửa cái tư tưởng sai của người, vì thế mà xã hội đều nói, thầy cô giáo là kỹ sư tâm hồn của nhân loại. Nghề nghiệp này là vô cùng thiêng liêng.
http://senvangtv.com/2015/08/18/tam-...n-giam-am-duc/
-
-
Vô Cực Lão Mẫu là Vô Cực Lão Mẫu
“Thứ ba, tượng thần phật đều bắt buộc phải làm lễ điểm nhãn, không
làm được không ?
( Đáp: Thờ tượng thần phật, lễ làm phép điểm nhãn thì là cung thỉnh
thần phật hạ thế hiển linh, là 1 lễ nghi, cũng là quá trình và thủ tục.
Nếu như tự mình cung phụng tượng thờ, nếu có thành tâm lễ bái, thì
cũng giống như chưa được làm lễ điểm nhãn vậy, người xem đó là
Phật, thì đó là Phật, người xem đó là tượng thì đó là tượng. Ví dụ tôi
soi gương, trong gương có tôi, tôi lấy gương đi chỗ khác, còn tôi nữa
không ? Đương nhiên là vẫn còn ! Cho nên đôi khi tôi không có thờ
tượng thần phật, vì tôi biết rằng giữa không trung có Phật, trong lòng
tôi có Phật, nếu người lễ Phật, cứ ngửa lên trời sẽ gặp Phật. Đến lúc
đó, điểm nhãn hay không đều như nhau.)
“Thứ ba, tượng thần phật đều bắt buộc phải làm lễ điểm nhãn, không
làm được không ?
( Đáp: Thờ tượng thần phật, lễ làm phép điểm nhãn thì là cung thỉnh
thần phật hạ thế hiển linh, là 1 lễ nghi, cũng là quá trình và thủ tục.
Nếu như tự mình cung phụng tượng thờ, nếu có thành tâm lễ bái, thì
cũng giống như chưa được làm lễ điểm nhãn vậy, người xem đó là
Phật, thì đó là Phật, người xem đó là tượng thì đó là tượng. Ví dụ tôi
soi gương, trong gương có tôi, tôi lấy gương đi chỗ khác, còn tôi nữa
không ? Đương nhiên là vẫn còn ! Cho nên đôi khi tôi không có thờ
tượng thần phật, vì tôi biết rằng giữa không trung có Phật, trong lòng
tôi có Phật, nếu người lễ Phật, cứ ngửa lên trời sẽ gặp Phật. Đến lúc
đó, điểm nhãn hay không đều như nhau.)
https://dialinhdatviet.files.wordpre...thang-ngan.pdf
-
035. Chỉ yếu lúc lâm chung
Đời người, từ khi sinh ra đến lúc chết, nhiều nhất là trăm năm, 60
tuổi đã là toàn thọ rồi, có người còn chết yểu nữa, chưa đi hết nửa
cuộc đời là phải xuống âm phủ. Con người khi đã đi đến trạm cuối
cùng của cuộc đời, không cần nói, cũng là chỉ có con đường chết, 1
khi người đã chết thì mọi thứ danh vọng tiền tài đều trở thành vô
nghĩa, trong đó bao gồm cả thân xác tội nghiệp của mình, nếu xác
hỏa táng thì sẽ trở thành khí, nếu đem chôn thì hòa vào đất, tất cả đều
tan biến hết.
Những người bình thường không có tín ngưỡng, đến nước này, đa số
là rơi vào thế giới đáng sợ của chốn hư vô, xung quanh bị màn đen
bao phủ khắp mình, tai thì nghe thấy tiếng vợ con khóc lóc, bạn bè
kêu gọi, trong lòng trăn trở khó dứt, trong cõi hư vô, không thể trú
ngụ, đủ hiểu là đáng thương đến chừng nào. 1 khi con người ngưng
thở, thì linh mạng ở “thần cốc huyệt” sẽ vùng vẫy đòi ra, đem theo
thiện nghiệp ác nghiệp của cả đời, tìm kiếm nơi khác để nương tựa.
nhưng người không có tôn giáo tín ngưỡng, linh mạng không nơi
nương tựa, nếu sinh thời làm nhiều việc thiện, tích thiện nghiệp thì
linh sẽ nhẹ bay lên thiên giới, còn nếu thiện nghiệp cũng bằng với ác
nghiệp, thì có thể hóa kiếp đầu thai hoặc chuyển xuống âm giới, còn
nếu làm việc ác thì nhiều, việc thiện thì ít, sẽ bị đày xuống tam ác
đạo, nếu là người đại ác thì chắc chắn đày vào vô gián địa ngục khó
mà siêu thoát hay đầu thai !
Lúc người sắp chết, linh mạng tự động xuất ra, những gì nhìn thấy
cũng gần giống như người có linh sống vậy, lúc này thần trí tuy còn
tỉnh táo, nhưng nhìn thấy toàn là người cõi âm (những bà con bạn bè
đã chết), lúc này sẽ có hiện tượng kỳ dị xảy ra, cũng có thể nói,
chẳng có gì kỳ lạ, chẳng qua là thấy người cõi âm xuất hiện, vì lúc
này 1 nửa chân người đó đã bước xuống cõi âm rồi, cũng không sao,
nếu thấy cũng là tốt, là điềm may, biểu thị mình sắp được đến 1 thế
giới vãng sinh khác, đến 1 nơi khác tốt hơn. Nhà Phật từng nói, nếu
người sắp chết trong lòng không ngừng niệm Phật, Tây Phương Tam
Thánh, A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát sẽ
124
hiện thân để đón chào, ban cho Cửu phẩm đài sen chính quả, người
đó sẽ được đi sang Tây Phương cực lạc.
Lúc người chết, 1 số bạn bè người thân khóc to, chảy nước mắt nước
mũi, lúc này kỵ nhất là kêu gào khóc thét, vì lúc người chết, tâm thần
không yên ổn, thần thức đã hiện, mọi thứ đều không còn biết được,
nhưng thiên ma dạ xoa đang đợi thời cơ, trong thoáng chốc, có thể
khiến người vừa chết mất hết tự tin, rối trí, lúc này quan trọng nhất là
tập trung niệm Phật, cầu được vãng sinh ở Tây Phương, những người
khác phụ giúp họ niệm cũng được, mượn phật pháp nhân duyên,
đồng lòng chuyển động tâm luận, đưa nghiệp vãng sinh sang Tây
Phương, lúc này linh mạng nếu “định” được thì tốt nhất, còn nếu
“loạn” thì rắc rối ! Khóc là nguyên nhân khiến loạn, khóc cũng vô
ích, hãy đợi người chết sau khi chết được 8 tiếng lúc đó mới khóc !
Khóc đến long trời lở đất cũng không sao !
Tôi khuyên người đời, nên đặt trong phòng người bệnh, hay người
sắp chết tượng của Tây Phương Tam Thánh, cúng hương hoa, để
trong lòng người bệnh thoải mái, đừng quên niệm Phật, để họ tưởng
tượng về thế giới Tây Phương cực lạc, tự khắc sẽ được lợi lớn. Phàm
lúc lâm chung, người sân đa số vãng sinh vào a tu la đạo, người ngu
vào súc sinh đạo, người tham đày làm quỷ đói, người ác xuống địa
ngục, do tạo nghiệp nên phải chịu khổ. Nếu 1 lòng sám hối, buông hạ
đồ đao, lập địa thành Phật, thì sẽ được quay đầu là bờ.
Người học tu linh, nếu đến mức có linh giác, thì sẽ biết trước được
giờ viên tịch, bởi vì linh mạng của mình là sống, phật linh của ngoại
giới vốn có bản lĩnh túc mệnh thần thông, nên đương nhiên là biết
trước khi nào đến lúc phải chết. Do đó, người tu linh biết trước được
giờ sinh giờ tử, tắm rửa sạch sẽ, chuẩn bị hậu sự, tĩnh tọa ngồi trong
phòng thiền, ngồi xếp bằng, tập trung linh hồn nơi thiên khiếu, chờ
đợi chư Phật đến đón, là có thể vãng sinh, linh xuất khỏi thiên khiếu,
ra ngoài tam giới, đến thẳng Phật giới, thành Phật. Như vậy, linh
mạng mới tự do tự tại, so với những “linh chết” bị điều khiển ở phàm
trần, hơn gấp trăm ngàn lần, 1 người có linh sống, có thể đoán trước
được giờ khắc ra đi của mình, bởi vì “linh mạng” là thiên nhân hợp
nhất.
125
Người sắp chết, gặp chuyện lạ về linh là thường, lấy ví dụ người bạn
của tôi tên Lưu Thiên Thuận, ông ta mắc bệnh ung thư gan, chết ở
bệnh viện Cao Hùng, trước lúc lâm chung, tôi nhìn thấy cặp mắt ông
ta rũ xuống, nhưng thần trí còn tỉnh táo, lúc đó mẹ, em gái của ông ta
và tôi đều có mặt, còn có chú của ông ta và vài người bạn thân (cha
của ông ta đã chết lúc ông ta lên 5), Lưu Thiên Thuận chỉ tay vào góc
nhà nói: “Mẹ ! Cha đứng ở góc nhà nhìn con.”
Mẹ ông ấy đau buồn vô cùng, trong lòng chúng tôi cũng cảm thấy kỳ
lạ.
“Con nhìn thấy thiệt hả ?”
“Nhìn thấy thiệt, giống hệt như trong ảnh.”
Mẹ hỏi ông ấy: “Cha con mặc áo gì ?”
“Mặc đồ vest, trên túi áo trước ngực trái, có cắm 1 cây bút, trên tay
còn cầm 1 quyển sách.”
“Đúng rồi, Thiên Thuận nhìn thấy cha nó thiệt rồi, tôi đặt trong quan
tài quyển sách Phong Thần diễn nghĩa mà lúc sinh thời ông ta thích
đọc nhất, trên túi áo vest đúng là có giắt 1 cây bút.”
Chú của Thiên Thuận nói: “Anh hai vốn hay kể chuyện Phong Thần
Bảng.”
“Ông ấy có dặn dò gì không ?”
“Không có, chỉ là vẫy tay với tôi, rồi cười, tôi rất mệt, sao thế giới
này càng ngày càng u ám vậy, cha đến dắt tôi đi…”
Tại thời khắc đó, Lưu Thiên Thuận nhìn thấy cha của ông ta, cũng
nhìn thấy 1 người bạn chết do tai nạn giao thông, còn có 1 số người
đứng trước cửa phòng bệnh, có quen, có lạ, ông ta kể tên từng người
một, toàn là những người đã chết, những gì Lưu Thiên Thuận kể, đều
phù hợp với đặc điểm cử chỉ của họ lúc còn sống, như ông ta kể đến
1 ông lão chân có tật, đó là ông ngoại của Thiên Thuận, vì ông ngoại
ông ta đúng là chân có tật.
Mấy người có mặt tại đó đều sởn tóc gáy, nổi hết da gà.
Còn tôi thì cho rằng: người chết, linh sống; người sống, linh chết, đó
là vòng tuần hoàn, nếu phá được vòng tuần hoàn đó, thì mới thoát
khỏi luân hồi được, không bị trói buộc, tự do tự tại, giải thoát sinh tử.
126
Lúc Thiên Thuận qua đời, tôi chưa gặp được kỳ duyên, nên chỉ cảm
thấy sự việc này vô cùng kỳ lạ, khi tôi hiểu được và tôi tin, hôm đó
Thuận Thiên chắc chắn là nhìn thấy họ, con người ta trước khi chết,
không thể nào nói dối lừa gạt bạn bè. ( Nho giáo có câu: Xương cốt
về với đất, hồn khí bay đi, tuy biết là trở thành linh hồn, nhưng ở đời
có mấy ai hiểu thấu chuyện sinh tử, tức là không phải ai cũng biết
được chân nghĩa của linh hồn. Phàm là có sinh thì ắt có tử, có tử thì
ắt có sinh, sinh sinh tử tử là 1 vòng luân hồi, nội lấy thức làm chủ,
còn ngoại là giả duyên thân xác, nếu duyên đã tận, thì tứ đại giả hợp
phân tán đi, sinh chỉ còn có mỗi linh, linh này, đạo Phật gọi là A Lại
Gia Thức, còn gọi là Tàng Thức. Người viết biết được: Từ nay thành
Phật, thành tiên, thành thần, hơn nữa thành quỷ đói, vào địa ngục,
đày làm súc sinh, cũng bắt đầu tại đây.
https://dialinhdatviet.files.wordpre...thang-ngan.pdf
-
Trước tiên phải chọn 1 ngày là Trời đất âm dương giao thái hay là
đất trời khai độn, ngày âm dương giao thái chính là ngày Tết Đoan
ngọ, còn ngày trời đất khai độn đó là ngày Tết mồng 1 âm lịch.
https://dialinhdatviet.files.wordpre...thang-ngan.pdf
-
-
-
-
Trang phục, quần áo không những chỉ để che thân, ngày nay chúng còn là những thứ phụ mà con người không thể thiếu được dùng để thể hiện phong cách đứng đắn đáng tin cậy của mình trong cuộc sống, làm việc và giao tiếp, cũng như trong công việc làm ăn ở xã hội hiện nay.
Trang sức, trang điểm còn đem lại cho người mang nó lòng tự tin và tăng thêm nét đẹp. Trang trí, màu sắc trong nhà ở, phòng làm việc làm cho gia chủ sinh hoạt nơi đó cảm thấy thoải mái như cá trong nước. Vậy khi chọn lựa mua một trang phục hay trang sức, hoặc trang trí nội thất, phòng làm việc tại sao ta không chọn những màu sắc tương sinh, hợp với ngũ hành mạng của mình?
Ngũ hành mạng cũng có nhiều loại, nên khi dùng màu của Mạng trùng với màu của Hành thì phải cân nhắc cẩn thận vì "lưỡng" hành là con dao hai lưỡi, tùy theo mạng mà đôi khi tốt, đôi khi lại xấu. Thí dụ: Lưỡng Kim thành khí, tức là tốt chỉ cho những người mạng kim nguyên thủy chưa chế biến như Hải Trung Kim; Sa Trung Kim; Bạch Lạp Kim. Các mạng Kim khác thì lại hóa ra "lưỡng kim, kim khuyết" tức là hai kim khí chạm nhau có thể gây sức mẻ, hư hại cho nhau. Cho nên nếu không biết chắc chắn thì tránh mặc, đeo, mang những màu cùng Mạng của mình!
- Người mạng Hỏa nên dùng màu tương sinh, hành Mộc tức là xanh lá cây.
Có thể dùng màu tương hợp đỏ, hồng, cam nhưng phải cẩn thận, "lưỡng hỏa thành viên" tức là trở thành trọn vẹn, đầy đủ, thành tựu. Nhưng quá nhiều năng lượng thì hóa ra nóng nảy, dễ gây stress, nóng tánh, lên máu, sinh mụn nhọt, lở loét, đau bao tử. Ngoài ra nên đề phòng mạng Hỏa hợp màu hành Hỏa sinh ra "lưỡng hỏa, hỏa diệt" tức bị tàn lụi, thất bại, diệt vong.
Cũng có thể dùng màu mạng Kim như vàng, trắng vì chỉ có lửa mới khống chế, nấu chảy được kim thành chất loảng mà thôi. Những màu Kim rất thích hợp cho những người mạng Hỏa thường hay bị stress.
Không nên dùng màu đen, xanh nước biển, tím-xanh (màu tím nghiêng về xanh, màu tím lạnh, là màu hành thủy).
- Mạng Thổ nên dùng màu đỏ, hồng, cam
Có thể dùng màu của hành Thổ tức là màu nâu đậm thì rất tốt vì "lưỡng thổ thành sơn" tức là thành núi, giúp địa vị được vững chắc, bảo vệ tiền tài không bị thất thoát. Nhưng cũng phải đề phòng Mạng hợp với màu hành Thổ hóa ra "lưỡng thổ, thổ kiệt" đất bị khô cằn, thể chất kiệt huệ.
Nên tránh màu hành Thủy: đen, xanh nước biển và tím xanh. Kỵ nhứt là màu xanh lá cây, cây rút chất bổ từ đất mà sống, người mạng Thổ dùng màu hành Mộc tức ngày càng suy yếu về sức khỏe, thể lực cũng như tiền tài, vật chất.
- Mạng Kim tốt nhứt nên dùng màu vàng đậm đến nâu, trang sức đeo đá như gỗ hóa thạch, nâu đậm như ngọc mắt cọp. Có thể đeo đá màu trắng như hột xoàn, đá màu bạc hoặc vàng tươi, trân châu hột bẹt vì "lưỡng kim thành khí" tức là thành đồ dùng, khí cụ trở thành vật trợ giúp cho người mạng Kim đạt nhiều mục đích hữu ích, người sang càng sang thêm, người tài phát huy được tài của mình, như rồng thêm cánh vậy. Đề phòng trường hợp "lưỡng kim, kim khuyết" như thí dụ ở trên.
Nên tránh màu xanh lá cây vì chúng không đem lại lợi ích gì.
Kiêng kỵ những màu hành Hỏa như đỏ, hồng, cam.
- Mạng Thủy tốt nhứt dùng màu bạc, trắng, vàng.
Có thể dùng màu đen, xanh nước biển, tím xanh vì "lưỡng Thủy thành Giang" tức là dòng sông, giúp người mạng Thủy bành trướng, nhân gấp nhiều lần những gì tốt đẹp người đó đang có về vật chất cũng như tinh thần. Cũng tùy theo Mạng thuộc loại "Thủy" gì, nên tránh trường hợp Mạng và màu của Hành hợp lại thành "lưỡng thủy, thủy kiệt" tức là nước cạn, sạch hết nước, vào con đường không lối thoát ví như đánh cờ "hết nước" để đi.
Thủy có thể chế khắc được Hỏa nên cũng có thể dùng đá màu đỏ, hồng, cam.
Kỵ màu vàng đậm, nâu, bởi vì đất (đê) có thể trấn áp, chận được nước, nước chảy không suông, mọi sự bế tắc ( màu tím nghiêng về đỏ hồng, màu tím ấm, là màu hành hỏa).
- Mạng Mộc nên dùng màu xanh nước biển, đen, tím xanh.
"Lưỡng mộc thành lâm", nhiều cây thành rừng nên mạng Mộc rất hợp với màu xanh lá cây, trang sức như gỗ hóa thạch. Tránh trường hợp những Mạng hợp cùng màu của Hành sinh ra "lưỡng mộc, mộc chiết" tức là bị đổ gãy, giống như con đường công danh, sự nghiệp bị chặt đứt đôi vậy!
Mộc chế khắc được Thổ nên có thể dùng màu nâu, vàng đậm.
Tuyệt đối không nên dùng màu của Kim như vàng tươi, trắng và bạc, ví như cây bị cưa, búa, rìu chặc thành khúc vậy.
-
-
Điện Ngọc Hoàng nơi cầu con, cầu tự
( http://quakhu.net/dien-ngoc-hoang-cau-con.jsp )
Điện Ngọc Hoàng (HCM) từ lâu là địa chỉ đỏ của những người hiếm muộn đến xin con.
Điện Ngọc Hoàng nơi cầu con, cầu tự
Ngôi chùa vốn là một điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế do một người tên Lưu Minh (pháp danh là Lưu Đạo Nguyên, người Quảng Đông, Trung Quốc) xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ 20. Theo học giả Vương Hồng Sển, thì Lưu Minh là người "ăn chay ròng, giữ đạo Minh Sư, lập chí quyết lật đổ nhà Mãn Thanh, xuất tiền tạo lập chùa vừa để thờ phượng vừa để làm nơi hội kín"...
Năm 1982, Hòa thượng Thích Vĩnh Khương đến tiếp quản điện thờ. Kể từ đó điện thờ này thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đến năm 1984, thì điện Ngọc Hoàng được đổi tên là "Phước Hải Tự".
Giữa sân chùa rộng là một bể cá đủ loại, bên phải là bể rùa. Bể nào cũng đầy ắp cá, rùa nhiều con to quá cỡ. Chúng do những người đến khấn nguyện thả vào.
Nhìn bể rùa đông đúc và các tiệm hoặc những người bưng thúng bán rùa la liệt ở ngoài cổng đủ biết số lượng người cầu con đến chùa đông như thế nào.
Ở phía bên trái chánh điện có một phòng nhỏ treo biển “Kim Hoa thánh mẫu” và 12 bà mụ. Có một cụ già hoặc một bà lão thay phiên nhau trực, chuyển lời khấn nguyện lên bề trên.
Bà lão dáng người mảnh khảnh, tóc bạc phân tích sở dĩ có sự linh thiêng ứng nghiệm là vì Kim Hoa thánh mẫu là vị thánh coi về việc sinh đẻ trên chốn nhân gian. Bên dưới bà là 12 bà mụ, mỗi bên 6 người tư thế khác nhau. Mỗi bà lo một việc, người nắn tay, kẻ nắn chân, người nắn đầu, kẻ nắn mắt, người dạy trẻ tập bước, tập nói…
Chùa Ngọc Hoàng
“Chỉ cần thành tâm khấn nguyện, những ai sinh khó hay hiếm muộn khi cầu khẩn đến tai các bà sẽ được bà cứu khổ cứu nạn, dùng phép tiên cho được như ý” __một người già trong chùa nói
Lễ Cầu Con
- Lấy một dây chỉ màu đỏ đeo vào tay
- Thắp hương khấn nguyện trình bày nguyện vọng xin con.
Nếu cầu con trai thì khấn nguyện xong treo vòng chỉ vào các bức tượng bên phải, nữ thì bên trái. Sau đó xoa vào bụng bà mụ 3 cái rồi xoa vào bụng mình 3 cái.
Tiếp đến là xoa vào bụng đứa con nít dưới chân bà mụ 3 cái rồi lại xoa vào bụng mình 3 cái nữa.
Nghi thức trên vừa xong, thì sẽ có người ởi điện châm dầu vào các ngọn đèn, vừa châm vừa đọc thật to tên tuổi, mong muốn của người đến khấn nguyện.
Hàng ngày khách trong và ngoài nước đến chiêm bái chùa rất đông. Lễ hội lớn nhất là Vía Ngọc Hoàng diễn ra ngày 9 tháng Giêng (âm lịch) hàng năm. Ngày 15 tháng 10 năm 1994, chùa Ngọc Hoàng được công nhận là một di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
-
-
-
-
-
-
Tây Tạng ám ảnh suốt đời trên “miền đất chư thiên”…
01/04/2012
Chia sẻ Facebook Tweet
Nóc nhà của thế giới, đỉnh Everest cao tới 8.850m so với mực nước biển. Nơi ấy cao vời, hoang vắng, giá lạnh và nhẫn tâm từ chối sự hiện diện của phần đông cư dân trên địa cầu này. Tôi chỉ biết ngửa cổ nhìn Everest với lời hẹn kiếp sau hoặc kiếp sau sau nữa con sẽ có mặt trên đỉnh để viếng thăm “ngài”. Kiếp này cứ hẵng tạm le ve chạy quanh khắp các quốc gia có phần lãnh thổ liên quan đến dãy Himalaya và đỉnh Everest đã. Đi khắp Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal, rồi đi dọc 6 quốc gia có dòng Mekong sinh ra từ các đỉnh tuyết sơn vĩnh cửu của Tây Tạng, tôi mới chợt nhận ra: cái ám ảnh bởi thiên nhiên kỳ diệu và lòng mộ đạo vô biên của người Tạng chắc sẽ đeo đẳng, trở đi trở lại trong tôi đến suốt đời. Người ta gọi Tây Tạng là “miền đất chư thiên”, “xứ sở thánh thần”, “thánh mẫu của vũ trụ”, “nóc nhà thế giới”, “cực thứ ba của địa cầu”, “thành phố ánh sáng”. Tây Tạng khiến bạn chết đi sống lại bởi hội chứng độ cao, Tây Tạng cũng làm bạn sửng sốt, kinh ngạc, nghiêng mình kính phục trước thế giới chuyện của thiên nhiên và tôn giáo.
tay-tang-8
Gắng sức mình mà đi giữa sa mạc mênh mông khắc nghiệt
Dù bạn muốn đi “bụi” cỡ nào thì sang Tây Tạng bạn vẫn phải làm việc với các công ty du lịch để mua tour. Đó là cách quản lý du khách rất chặt chẽ. Ngoài visa đi Trung Quốc, bạn còn phải xin cả giấy phép đặc biệt để vào Khu tự trị Tây Tạng, mà (vì nhiều lý do!) không phải thời điểm nào “nóc nhà thế giới” cũng mở cửa đón du khách. Tôi bay từ Sài Gòn sang Thẩm Quyến, ngược một lần cất cánh nữa tới Thành Đô (Tứ Xuyên, Trung Quốc); mãi rồi mới chuyển cái máy bay nữa, phi chĩa chếch mãi lên nóc nhà thế giới. Bay loằng ngoằng, vòng vèo và… tốn kém. Tuy nhiên, khi thiếu nữ Tạng lý lơi múa hát, rồi quàng cho mỗi du khách một chiếc khăn dài, trắng muốt tinh khôi (một biểu tượng chúc phúc của người Tạng) thì tôi rưng rưng xúc động. Có cảm giác, họ là tiên nữ đang bay lượn trong phủ của Thánh Mẫu vũ trụ. Bao rề rà, đắt đỏ của “đường trời thiên lý” đều tan biến. Chợt mỉm cười. Người ta thu tiền của mình, mình chỉ cần bay trên bầu trời tuyệt sắc này rồi thậm chí máy bay “cài số lùi” về lại Việt Nam cũng vẫn đã xứng đồng tiền bát gạo. Bởi sơn nữ Tạng đẹp quá, bởi tuyết dưới chân Himalaya kỳ lạ quá. Leo lên tàu bay, ngồi vài giờ ngắm các đỉnh tuyết sơn triệu triệu năm câm lặng giữa hoang vu, giữa những dòng sông băng bất tận hàng ngàn cây số, như thế chưa đủ sung sướng sao? Bên cạnh tôi, những người đàn bà Tạng âm u rền rĩ đọc kinh, tay lần tràng hạt giữa đỉnh trời bát ngát…
tay-tang-1
Ở Nepal, tôi thấy người ta còn thiết kế cả một chuyến bay chiêm ngưỡng nóc nhà thế giới Everest. Con chim sắt với cửa kính trong vắt tuồn đi trong sương mù, bay đến lúc mây hửng rồi lại lâm ly cảm khái từ trên đỉnh trời nhìn xuống đỉnh núi cao nhất quả đất đang lộng lẫy giữa nắng vàng in vào tuyết trắng. Bạn sẽ được bay qua thiên nhiên lạ lùng, mầu nhiệm, như một cõi của thánh thần. Điều thú vị hơn là bạn được bay bằng chuyên cơ của hãng hàng không Đức Phật (Air Buddha), đi trên đại lộ Niết Bàn. Ngẫm vậy, tôi vỗ vai người bạn đồng hành: mình mua cái vé máy bay đi Tây Tạng, thế là một viên đạn trúng hai đích, vừa được ngắm Himalaya và Everest từ trên cao, vừa được chìm mình trong thế giới của 16 ngàn đền đài tu viện, của những hồ xanh như thiên đường và lòng mộ đạo vô biên của những cư dân dũng mãnh ở nơi cao nhất hành tinh.
Khi tiếng hát buông lơi bay lượn cùng khăn trắng chúc phúc và bốn bề mây trinh tuyết trắng vừa dứt, thì sân bay “chuồng gà” của Tây Tạng đã hiện ra. Sông Áp Lục (Yarlung Tsangpo) xòe ra các đường nước xanh lơ, chúng ỏn sót chút tốt tươi giữa rợn ngợp sa mạc cát mênh mông xám ngoét. Có cảm giác, chỉ vài chớp mắt nữa thôi, cát và đá của sa mạc bất tận kia sẽ hút hết sạch nước của con sông đang chảy như mấy sợi gân xanh trên cơ thể nó. Sân bay Lhasa ở thủ phủ Tây Tạng được ví như cái chuồng gà vuông vắn, các nan bê-tông nhỏ xíu giữa thung lũng trơ đá xám, xa xa là tuyết trắng kéo mãi về chân trời.
tay-tang-7
Những ngày ở Tây Tạng, tôi luôn có cảm giác sự sống của mình cạn dần trông thấy, bởi hội chứng độ cao do không khí loãng. Đau đầu, chóng mặt, người bồng bềnh không biết ngày hay đêm, khó ngủ nhưng hễ chợp mắt là mộng mị miên man. Đôi lúc cố gắng sức mình, thở lấy một hơi trên đỉnh đèo Campala ở vào hàng cao nhất thế giới. Thở được rồi, tay cầm bình oxy mà vẫn không dám tin Đức Phật còn cho mình được thở thêm một lần nữa để… tìm đường về quê mẹ. Trên xe có bao nhiêu người là có bấy nhiêu bình oxy (như phao cứu sinh với người đi tàu thủy!). Trong khách sạn, phòng nào cũng có đủ bình oxy cho mỗi vị khách. Trên bàn nào cũng có lọ nước hoa hồng, rồi các loại thuốc chống lại hội chứng độ cao.
tay-tang-5
Tuy nhiên, cảm giác “sốc độ cao” đó vẫn không sợ bằng việc ngày nọ ngày kia cứ đi miết trong sa mạc mênh mông. Nhìn ngay rìa cung điện nổi tiếng ở Shigates rồi Lhasa, chỗ nào cũng thấy đá lớn đá bé chồm hổm, đá to như gian nhà như chỉ chờ cơ hội để lăn mình phá hủy tất cả. Đá nào cũng xám gan gà. Trời nắng như các phiến đá sắp nổ tung, song không khí thì chỉ 3-4 độ C. Môi ai nấy nứt nẻ như cái ruộng cày. Đền đài, thành quách ở Tạng, kể cả cung điện Di sản văn hóa thế giới ở nơi cao nhất quả đất Potala (cao 13 tầng với 1.000 phòng ốc) ở Lhasa, cũng luôn là những “tổ chim tổ kiến” khảm mình vào vô cùng vô tận núi đá và núi tuyết. Thiên nhiên khắc nghiệt và chế ngự tất cả ở nơi này. Con đường từ Lhasa sang Shigate 300km, toàn đèo dốc khiếp vía, tuyết trắng nhức mắt, sự hiểm nguy lên đến tận cùng. Xe cứ len lỏi, cảnh vật mở ra như trong tiểu thuyết chương hồi Khổng Minh đi bắt Mạnh Hoạch. Cả trăm cây số không thấy bóng dáng của cây cỏ. Núi cao, da núi xám, không một loài thảo mộc hay muông thú gì sinh sống nổi, trừ con trâu yak lông dài nửa mét và những con người kiên cường.
tay-tang-2
Cảnh đẹp như không có thật ở trên đời
Nhưng bù lại, khi những hồ nước trong xanh hiện ra thì bất kỳ ai cũng vỡ òa sung sướng. Có lẽ thế giới này rất khó để người ta có thể bắt gặp những cái hồ xanh như Yamdrok-tso mang hình con bọ cạp uốn lượn quanh các đỉnh đèo và hoang mạc nối thủ phủ Lhasa với thành phố cổ kính đông dân thứ nhì Tây Tạng, Shigates. Rộng cả ngàn cây số vuông, dài dằng dặc, hồ Yamdrok-tso cứ xanh như miếng ngọc bích khổng lồ. Xanh như không có thật trên đời. Nhiều người đã phải nhao xuống sát mép nước để sờ vào hồ xanh xem nó là nước hay đích thị là ngọc bích của thượng đế đánh rơi.
Không ít nhà khoa học đã chính thức mang nước ở hồ này về xét nghiệm xem nó chứa cái gì mà xanh đến thế (người ta nghi là vì chứa quá nhiều chất magiê nên nước của hồ Yamdrok- tso hầu như không sử dụng trong sinh hoạt của người dân được). Có người bảo, hồ trong vắt, hồ xanh là do da trời ven đỉnh núi cao vào hàng nhất nhì ba của cả thế giới mà chúng tôi đang có mặt nó xanh thăm thẳm, xanh ngăn ngắt, xanh lộng lẫy và diệu kỳ quá. Da trời in vào thành miếng ngọc bích hồ Con Bọ Cạp. Nhưng chẳng phải, bởi đợi đến lúc trời hết xanh thì nước vẫn cứ xanh. Tuyết trắng quanh hồ in sắc tinh khôi của mình xuống, khiến mặt hồ như càng xanh hơn. Đây là hồ nước ngọt ở nơi cao nhất thế giới. Đúng là một biển nước ngọt. Ừ thì giữa khô khát tột độ, khắc nghiệt hãi hùng đó, băng đăng vĩnh cửu tan chảy ra thành hồ nước ngọt mênh mông. Thế còn có thể hình dung được. Song, nghĩ vậy rồi thì không ai lý giải nổi: vì sao, ở Tây Tạng lại có những hồ nước mặn rộng như… biển.
tay-tang-3
Hai cái hồ của Thánh Thần (tên gọi do người Tạng đặt), hồ ở tít tịt nóc nhà thế giới, mà nước hồ lại mặn rộng lớn đến mức, hễ ai có mặt đều phải xem lại kiến thức hiểu biết lâu nay của mình, rằng: có lẽ, thế giới này không phải chỉ có 5 châu 4 biển đâu nhé. Mà phải cộng thêm hai hồ nước mặn của Tây Tạng nữa thành có 6 biển! (Nam-tso là hồ nước mặn cao nhất thế giới rộng… như biển, tới 1.940km2!; bên cạnh các hồ thiêng khác như Rakastal, Manasarovar, là nơi hành hương tuyệt bích và tối linh thiêng của người Tạng). Cao nguyên Thanh Hải được đặt tên như bây giờ là bởi vì người ta gặp những cái hồ rộng lớn đến mức ai cũng nghĩ nó là biển xanh (thanh hải). Bây giờ nhiều người bảo, phải bổ sung thêm lý do nữa: là vì xứ Tạng có những cái hồ xanh không chỉ rộng đến mức nhìn mãi không thấy bờ, mà quan trọng hơn, nước các hồ ấy còn mặn như nước biển.
Bài học để sống bình yên và nhân ái
Thiên nhiên Tây Tạng dễ làm người ta choáng ngợp. Bạn vừa ngất xỉu trên đỉnh đèo vào loại cao nhất thế giới, khoảng 5.200m so với mực nước biển; bạn lại chìm đắm trong cảm giác thần tiên ở hồ Con Bọ Cạp, rồi Rakastal, Manasarovar; vừa ngơ ngác trước am thất lạ lùng, nhỏ bé, đắp đất, dựng đá của một vị đạo sĩ tham thiền kính Phật, lại trầm trồ lạc vào cung điện Potala hơn 1.000 phòng với những pho tượng bằng vàng ròng mà mỗi ngày Phật tử lại đem vàng lá ra rát mãi cho ông bà tượng “vĩ đại” thêm theo đúng nghĩa đen. Thiên nhiên kỳ diệu và cực kỳ khắc nghiệt ở Tạng đã khiến con người nơi này dũng mãnh hơn, đắm đuối hơn với niềm tin tôn giáo. Khi mà Hà Nội là 21 giờ đêm thì trên nóc nhà thế giới Lhasa vẫn chói chang nắng nỏ. Người ta ở sa mạc khô cằn, không có gỗ, không có củi, phải nhặt phân bò yak về làm chất đốt chính. Họ sống cho kiếp phận này của họ, chấp nhận mọi khổ đau để hướng tới niềm kính Phật, để hướng tới một kiếp sau như họ hằng mong nước. Họ sống kiếp này, đau đớn thế nào cũng vẫn cam chịu, để bình yên và nhân ái hướng tới đức Tối Cao, bởi với họ, kiếp này chẳng qua chỉ là sự trả nghiệp cho duyên nợ của kiếp trước. Cái món ấy trước sau cũng vẫn phải vui vẻ mà trả.
tay-tang-4
Ngũ thể nhập địa
Lịch sử Tây Tạng từng ghi nhận: có vị Thánh tăng vừa đi vừa quỳ lạy đấng Tối Cao theo kiểu cứ ba bước lại một lần nằm rạp để toàn bộ 5 vị trí dọc cơ thể mình áp xuống mặt đất, mặt đá, xuống mưa tuyết dọc đường hành hương (nguyên tắc tam bộ nhất bái để ngũ thể nhập địa); ông đã đi suốt mấy chục năm trời, vượt qua 2.500km theo cách đó để đến được đỉnh núi thiêng Ngân Sơn. Chúng tôi gặp nhiều người Tạng quỳ lạy “khổ hạnh nhất thế giới” như thế, họ cứ miệt mài nằm rạp rồi lại đứng dậy, lại nằm rạp. Quần áo họ rách bươm vì lăn lê bò toài. Ngực họ phủ một tấm da thú sờn cũ thủng lỗ chỗ do quỳ lạy nằm rạp quá nhiều. Tay họ lồng vào đôi guốc gỗ vì nó đã tứa máu do mài vào đất lạnh giữa mưa tuyết, bão cát. Sử sách chép rõ: nhiều người đã chết vì đói rét và giặc cướp trên đường hành hương. Tôi chứng kiến có người suốt ngày đêm đi quanh cung điện Potala. Có người miệt mài quỳ lạy từ sáng đến tối, chỉ nghỉ để ăn uống và vệ sinh tối thiểu.
Một nhan sắc Tây Tạng ở Lhasa
Một nhan sắc Tây Tạng ở Lhasa
Khắp nơi, dù phố xá hay đỉnh đèo khe núi, dù trên quốc lộ hay ven các vở nước xa xôi, chỗ nào cũng bạt ngàn cờ phướn và những quả chuông chuyển kinh. Họ quay quả chuông to như cái thùng phuy, hoặc bé như một quả ru-bích, quay suốt đêm ngày. Cờ treo hàng vạn hàng triệu lá với đủ xanh đỏ tím vàng sặc sỡ. Cờ phủ kín núi tuyết, chăng ngang thành từng hàng dài, từng búi lớn dọc đường quốc lộ. Họ muốn nhờ gió kiêu hãnh chuyển lời mật chú thiêng liêng của họ lên Trời. Tôi đã đi nhiều quốc gia có đạo Phật khác (như Ấn Độ, Nepal, Sri Lanka chẳng hạn), hễ nơi nào có người Tạng là ở đó rực rỡ cờ phướn. Cờ phướn chăng dọc, xếp ngang, sắc màu rộn rịp tới mức, khi đến “liên hợp quốc các ngôi chùa” ở Nepal và Ấn Độ, tôi đã phải hỏi các vị sư, rằng: thứ cờ phướn treo ở khắp mọi đỉnh núi, mọi di tích của mọi quốc gia kia là của nhà Phật nói chung giữa “hợp chủng quốc các ngôi chùa” hay là cờ của riêng người Tạng? Câu trả lời là: người Tạng đã treo cờ ở tất cả những nơi mà họ đến lễ với niềm sùng kính kỳ lạ. Cờ như những chiếc “lông ngỗng” theo sau bước đi của mỗi người Tạng xả thân vì Đấng Tối Cao. Các gò đá xếp hình kim tự tháp cao ngất ngưởng (manidoi) cũng được nhân bản, “loang” mãi theo phương cách kể trên.
8Người mộ đạo đi quanh các tu viện suốt ngày đêm
8Người mộ đạo đi quanh các tu viện suốt ngày đêm
Lòng mộ đạo vô biên của người Tạng, cũng lại là một thứ ám ảnh đeo đẳng mãi với tôi. Thế giới người ta thường bình chọn nhiều địa điểm, thắng tích, đền đài mà bạn nên đến trước khi… chết. Tôi luôn nghĩ, Tây Tạng với tôi là một duyên nghiệp. Và, tôi khuyên: một trong những điểm đáng đến nhất của bạn nếu có ý định du lịch thế giới, xin hãy bắt đầu bằng miền đất chư thiên, thánh mẫu của vũ trụ Tây Tạng. Cả hội chứng độ cao chết đi sống lại, cả vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên và bản sắc con người mộ đạo xứ Tạng, đều là những thứ đã gặp là không thể nào quên.
http://www.phunungaynay.vn/du-lich/t...chu-thien.html
-
Do lời cầu khẩn của Đức Bồ-tát mà Vasundari (vị chư thiên cai quản Quả Đất, hay Địa Mẫu) đã làm cho Ma Vương và thuộc hạ của y bị nhấn chìm trong một trận hồng thuỷ và điều này cho thấy sự thiếu từ bi của Đức Bồ-tát. Nhưng câu chuyện ấy hoàn toàn vô lý và người ta không tìm thấy nhân vật Vasundari hay Địa Mẫu ở đâu trong văn học Thượng Toạ Bộ(Theravāda).
Trì Thế Bồ Tát có tên Phạn là Ārya Sutāre (Thánh Thiện Cứu Độ) hay
Sudhāre (Thiện Trì), Dhāra-loka-jvala (Trì Thế Quang Minh), nhưng trong các Kinh
bản thì thường dùng tên gọi là Vasudhāra hoặc Vasudhāri (Danh xưng này tương
đương với các vị Thần Đất hay bảo vệ mùa màng thuộc truyền thống Ấn Độ)
Vasudhāri nguyên là vị Nữ Thần Tài Phú (tiền của giàu sang) của Ấn Độ Giáo,
( http://www.thienvienphuocson.net/hom...phap&Itemid=86 / https://kinhmatgiao.files.wordpress..../no-901_11.pdf / https://kinhmatgiao.files.wordpress....-phap-kinh.pdf )
-
------------
Aditi* 阿底提 六或八阿底提群神之母
Agni 阿耆尼 火神, 三腳七手三頭,統攝地界
Anila 阿尼祿 風神,婆蘇群神之一
Apa 阿婆 水神,婆蘇群神之一
Aryaman 阿厘耶門 無所不在之友善和賜福神,阿底提群 之一
Aruna 阿魯諾 黎明神,其母毗那陀未待其長大便打 其卵
Asvin 雙馬童/阿須雲 孿生兄弟,常伴隨太陽神
Bhaga 跋伽 賦予財富之神,阿底提群神之一
Brhaspati 祈禱主/毗訶跋提 掌祈禱祭祀之神,神力之源
Budha 布陀 水星,蘇摩之子
Chamunda* 恰門陀 黑色女神,難近母額中生出的降魔女
Daksa 達刹 參與創世的早期老神,阿底提群神之
Devi* 提毗 濕婆之妻,有多種化生的大神
Dhanvantari 檀凡陀厘 醫神,或毗濕奴化身
Dhruva 陀魯婆 北極星,堅定苦修之神,婆蘇群神之
Diti* 底提 達刹長女,迦葉波之妻,阿修羅始祖
Dyaus 帝奧斯 天宇神,早期諸神之父,最初萌生神 與地神Prthivi為配偶神
Durga* 難近母 雪山神女化身,女戰神,世界守護和 滅神,十手騎獅
Ganga* 恒河女神 恒河下凡與福生王生毗濕摩
Gayatri* 迦耶德麗 大梵天之妻,《吠陀》之母
Ida* 伊陀 畜牧和祭奠儀式之女神
Indra 因陀羅 眾神之王, 天空, 暴風, 雨水之神(帝釋天),統攝空界
Kala 迦羅 時光之神
Kalaka* 迦羅迦 達刹之女,迦葉波之妻,生六萬檀那
Kali* 迦梨女神 濕婆妻化身之一,即黑身形象的難近 破壞之神, 三眼四手
Kama 迦摩 愛神,主宰欲望,天女和仙女的主宰
Khatvanga 迦希吉夜 戰神,即“室犍陀”
Kubera 俱毗羅 財富之神,夜叉、緊那羅、俱希耶迦 領
Lakshmi* 吉祥天女 財富之女神, Visnu 之妻, 騎金蓮
Maruts 魔錄多 一組風神,常與火比擬,代表以伐由為 者的不同種類之風
Manyu 摩尼尤 憤怒之神,因陀羅之怒中產生
Mitra 密多羅 契約神,後與伐樓那成為偶神“密多 -伐樓那”
Narayana 那羅衍那 毗濕奴化身“世界精神”
Parjanya 波伽尼耶 濃雲和雨神,後附于因陀羅
Parvati* 雪山神女 濕婆妻
Purusa 普魯沙 創世的原人,“生命本源”,後與其 神混同
Prsni* 波利濕尼 天牛之神,神之滋養者,樓陀羅妻
Prthivi* 波里提毗 地母,大地化身,最初萌生神
Rahu 羅睺 魔神,流星之王,四手蛇尾,常吞噬 月行星
Rudra 樓陀羅 風暴,憤怒和毀滅之神,濕婆的前身
Sandhya* 商底耶 曙光女神,梵天之女,濕婆之妻
Sani 娑尼 土星神
Sanjna* 商耆娜 毗首竭摩之女,蘇利耶之妻
Sarasvati* 娑羅室伐底 智慧和優雅女神,娑羅室伐底河女神
Savitr 薩維陀利 太陽神,行于晝夜交接時
Savitri* 莎維德麗 聰敏賢慧女神,大梵天或蘇裏耶女, 梵天之妻,凡人故事甚著
Surara* 蘇羅娑 眾那迦之母
Skanda 室犍陀 戰神,天界神軍統率者,六頭十二手 濕婆之子
Soma 蘇摩 酒神,月神,
Surya 蘇利耶 太陽神, 三眼四手
Trita Aptya 陀利陀.阿婆提耶 空間之神
Tvastar 陀濕多 製造與創造之神,匠神技術神
Urvasi* 廣延天女 洪呼王之妻
Ushas* 烏莎斯 霞光女神
Vac* 波耆 語言女神
Varuna 伐樓那 秩序和誠諾之神,宇宙之水化身,地 與因陀羅並列
Vata 伐多 風神,與伐由近似,有時兼醫療神
Vayu 伐由 清晨之風神,哈奴曼之父
Visvakarman 毗首竭摩 創造神,詩神,智者“無所不見者, 一切者”
Vivasvat 毗婆濕婆 “遍照者”,光明神,阿底提群神之
Yama 閻摩 冥界主宰,死亡之神, 騎水牛
八方天王
---------------
東方 天帝 因陀羅
東南方 日神 蘇利耶
南方 死神 閻摩
西南方 火神 阿耆尼
西方 法神 伐樓那
西北方 風神 伐由
北方 財神 俱毗羅
東北方 月神 蘇摩
八部眾
---------------
天 Deva
龍 Naga
夜叉 Yaksa
乾達婆 Gandharra
阿修羅 Asura
迦樓羅 Garuda
緊那羅 Kimnara
摩候羅伽 Mahoraga
天龍八部
天龍八部,又叫“龍神八部”、“八 眾”,是佛教八大護法神,數量很多
具體如下:
一、天眾。“天”就是神。著名的護 二十諸天的大梵天、帝釋天、四大天 、
韋馱、閻王等皆是。二十諸天常被供 在大雄寶殿兩側,如杭洲的靈隱寺、
北京大慧寺、大同華嚴寺、普陀山慧 寺等。
二、龍眾。佛經上說,有無數龍王, 管興雲降雨。這與中國的龍王傳說十 相
似。
三、夜叉。飛天者又名羅刹。
四、乾闥婆。是香神,又是樂神,多 6000多位。他們在佛面前彈琴唱讚歌時 ,
‘三千世界皆為震動”。這是佛國的 央民族樂團。
五、迦樓羅。就是金翅鳥神,大得不 了,兩隻翅膀張開,就有 336萬里!他以
蛇為食,可除掉世間各種毒蛇,益于 生。中國的神魔小說中,把他說成是
在佛爺頭上護法的大鵬金翅鳥。
六、緊那羅。歌神。與乾闥婆各有分 ,乾閱婆專管演唱俗樂,是流行歌曲 樂
家,緊那羅則專門演奏法樂,是專業 樂家。
七、阿修羅,本為古印度神話中的一 惡神。其容貌醜陋,佛教收為護法。
八、摩侯羅迦。是大蟒神,古印度是 多蛇並崇拜蛇的國家。大蟒神也被吸 為
護法神。
以上八部分,以天眾和龍眾最為重要 故統稱“天龍八部”。
天眾:Deva
天即神,著名的大梵天(原為婆羅門 的創世神)、帝釋天(原為雷雨神兼 神)、多
聞天、持國天、增長天、廣目天、大 在天、吉祥天等等皆屬於天眾。
龍眾:Naga
梵語稱為那迦,是護衛佛法的有功之 ,專司興雲降雨。在佛經裏,龍王有 數,而龍
擁有大量的珠寶,是海裏的富豪。
夜叉:Yaksa
是梵文的音譯,意譯為“能啖鬼”、 捷疾鬼”、“勇健”、“輕捷”等。 教中,北
方毗沙門天王即率領夜叉八大將,護 生界。在古印度神話中,夜叉是一種 神,有關
其來源,說法不一。據《毗濕奴往世 》所述,夜叉與羅刹同時由大梵天的 掌中生出
,雙方通常相互敵對。夜叉與羅刹不 ,對人類持友善態度,因而被稱為“ 誠者”。
其形象有時被描述為美貌健壯的青年 有時又被描述為腹部下垂的侏儒。
阿修羅:Ashura,
意思是無端,容貌醜陋之意,阿修羅 的極醜,女的是絕色佳人。阿修羅王 常和帝釋
天戰鬥,因阿修羅有美女而無美食, 帝釋天有美食而無美女,相互妒忌搶 ,相互爭
戰。人們把他們爭戰的戰場叫「修羅 」。
乾闥婆:Gandharva
是香神或樂神。原為婆羅門教崇拜的 神,據稱是侍奉帝釋天而司奏伎樂之 。乾闥婆
是佛教中歡樂吉祥的象徵。大多被描 為少女形象,體態豐滿,飄帶飛揚, 空飄蕩,
極為優美。在古印度神話中,他們屬 半神,熟諳並揭示上天的奧秘和聖理 被視為太
陽光焰的化身。相傳,他們為天神備 蘇摩酒。乾闥婆在神話中是帝釋天的 師,而且
與蘇摩極有淵源。
迦樓羅:Garuda
金翅鳥。在古印度神話中是大神毗濕 的坐騎,眾鳥之王。其形象為半人半 ,生有鷹
首、利爪和喙,身軀和四肢則與人無 。金翅鳥碩大無比,兩翅張開達數百 裏,據稱
每天要食龍王一條,諸龍五百。
緊那羅:Kinnara
歌樂神。據《羅摩衍那》所述,為人 馬首,或馬軀人首,又說為人首鳥軀 是帝釋天
的樂神之一,乾闥婆專奏俗樂,而緊 羅專門演奏法樂。
摩喉羅迦:Mahiraga
大蟒神。人身蛇頭。
十二阿底提·八婆蘇 ·十一樓陀羅
12阿底提,8婆蘇,11樓陀羅
阿底提十二子--迦葉波 與 阿底提*[Aditi,達刹第三女]所生
------------------------------------------------------
1. 陀陀 Dhata
2. 友善神 阿厘耶門 Aryaman
3. 契約神 密多羅 Mitra
4. 天帝 因陀羅/帝釋天 Indra/Sakra
5. 水神 伐樓那 Varuna
6. 鴦舍 Amsa 【大約與祭祀儀理相關】
7. 財富神 跋伽 Bhaga
8. 太陽神 毗婆濕婆 Vivasvan 【遍照者,後和蘇裏耶合併】
9. 道路神 普善 Pusa 【太陽-豐饒-通路神】
10.太陽神 薩維陀利 Savitr 【晝夜交接之太陽】
11.匠神 陀濕多 Tvastar
12.守護神 毗濕奴 Visnu
八婆蘇 Vasus 【八種自然現象的代表神,也說是迦 波後代】
-----------------------------------------------------
1. 大地支撐者 陀羅 Dhara 或 地母 波里提毗* Prthivi
2. 北極星之主 陀魯婆 Dhruva
3. 月神 蘇摩 Soma
4. 水神/晝神 阿訶濕 Ahas 或 天宇神 帝奧斯 Dyaus
5. 風神 阿尼祿 Anila 或 風神 伐由 Vayu
6. 曙光之神 波羅底優娑 Pratyusa
7. 金星 波羅婆娑 Prabhasa
8. 火神 阿耆尼Agni/阿那羅Anala 【神通最大者,為眾婆蘇首領】
十一樓陀羅 Rudras【風暴/毀滅相關神,濕婆前身】
----------------------------------------------------
1. 阿者迦波陀 Ajaikapat
2. 阿希哩布陀尼耶 Ahirbudhnya
3. 毗魯伯刹 Virupaksa
4. 蘇哩濕波羅 Suresvara
5. 結耶恩陀 Jayanta
6. 波胡魯波 Bahurupa
7. 阿波羅耆陀 Aparajita
8. 娑維陀羅 Savitra
9. 陀哩耶波迦 Tryambaka
10.毗婆私婆多 Vaicasvata
11.訶羅 Hara
http://omahhum.yebi.tw/blog/board.as...d=1&topic_id=9
-