http://www.hauhocquangkien.com/2012/03/mandala.html?m=1
Printable View
虛空庫菩薩摩訶薩。
Hư Không KHỐ Bồ Tát Ma Ha Tát.
GAGANA-GANJA BODHISATTVA MAHASATTVA / GAGANA-GANJA BODHISATTVA MAHASATTVA
GAGANAGANJA BODHISATTVA-MAHASATTVA / GAGANAGANJA BODHISATTVA-MAHASATTVA
Gagana-gañja / Gaganagañja (गगनगञ्ज) (S): Kim Cang tràng Bồ tát / Kim Cương Tràng Bồ Tát ( 金剛幢菩薩 / Vajraketu Bodhisattva : (skt)—Vị Bồ Tát cầm cờ, một trong 16 vị Bồ Tát trong nhóm Kim Cang Giới—The flag-bearer, one of the sixteen in the Vajradhatu group.) →. Name of a Bodhisattva. → Tên một vị Bồ Tát.
HƯ-KHÔNG-KHỐ BỒ TÁT ( GAGANAGANJA BODHISATTVA ) = KIM-CANG-TRÀNG BỒ TÁT / KIM-CƯƠNG-TRÀNG BỒ TÁT ( VAJRAKETU BODHISATTVA )
( Vị Bồ Tát này, có Nguồn Gốc từ KINH ĐẠI LẠC KIM CƯƠNG BẤT KHÔNG CHÂN THẬT TAM MUỘI GIA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA LÝ THÚ THÍCH : T19n1003 大樂金剛不空真實三昧耶經般若波羅 �多理趣釋| CBETA 漢文大藏經 )
====
https://text.123doc.net › document
Kinh Đại Lạc Kim Cang Bất Không Chân Thật Tam Ma Da - Tài liệu text - 123doc
Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát Ma-ha-tát, Tài Phát Tâm Chuyển Pháp Luân Bồ-tát Ma-ha-tát, 虛空庫菩薩摩訶薩。摧一切魔菩薩摩 �薩。 hư không khố Bồ Tát Ma-Ha tát ..
-
https://www.jstage.jst.go.jp › -char
金 剛 頂 経 一 切 義 成 就 品 に つ い て 八 田 幸 雄 - J-Stage
viết bởi Y Hatta · 1965 — 身會に相當するものであるが、大 日を中心に阿園、寶生等の生)、Ratna-pani (寶手)、Gagana-ganja (虚空庫 )。Akasa-. 四佛を配するに虚空藏尊を中心とし �金剛 ..
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...ng-Kinh/page25
http://tripitaka.cbeta.org/mobile/in...x=T19n1003_001
http://phatam.org/dictionary/detail/...-tat/1?key=kim
http://anphat.org/dictionary/detail/...tat/46?key=bơ
1/1. 銀庫 · ngân khố. Từ điển Nguyễn Quốc
https://tangthuphathoc.net/dinh-an/
theo Tự điển Phật học như sau:
Bảo Sanh Phật có nghĩa là:
(s: Ratna-saṃbhava, t: Rin-chen ḥbyun-ba, 寶生佛): âm dịch là La Đát Nẵng Tam Bà Phược (羅怛曩三婆縛); còn gọi là Bảo Sanh Như Lai (寶生如來), Bảo Tướng Như Lai (寶相如來); là tên gọi của một trong 5 vị Phật thuộc Kim Cang Giới (金剛界) của Mật Giáo; ngự ở ngay ở giữa của vòng Nguyệt Luân ở hướng chánh Nam. Vị Phật này lấy phước đức báu Ma Ni để tích tụ công đức, có thể làm cho hết thảy nguyện ước của chúng sanh được thành tựu viên mãn; cũng như có thể giúp cho hành giả lên đến ngôi vị Pháp Vương được dự Quán Đảnh. Ngài là chủ của Bảo Bộ (寶部) trong Ngũ Bộ, tượng trưng cho Bình Đẳng Tánh Trí (平等性智) của Ngũ Trí. Mật hiệu của vị Phật này là Bình Đẳng Kim Cang (平等金剛); chủng tử là trāḥ, hoặc ja; hình Tam Muội Da là bảo châu. Hình tượng của Ngài có khác nhau trong các hội của Kim Cang Giới, như trong Thành Thân Hội (成身會) thì toàn thân Ngài hiện sắc màu vàng kim, tay trái nắm lại đặt lên dưới bắp vế, tay phải hướng ra bên ngoài, bắt Ấn Thí Nguyện (施願印), ngồi xếp bằng trên tòa sen. Xưa nay vị Phật này thường được xem là tương đồng với Bảo Tràng Như Lai (寶幢如來) ở phương Đông của Thai Tạng Giới Mạn Trà La (胎藏界曼茶羅). Trong Kim Quang Minh Kinh (金光明經) quyển 1, Quán Phật Tam Muội Hải Kinh (觀佛三昧海經) quyển 9, Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經) quyển 10, v.v., Bảo Sanh Phật tương đương với Bảo Tướng Phật (寶相佛) ở phương Nam; hoặc tương đương với Bảo Tràng Phật (寶幢佛) ở phương Nam như trong Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明經最勝王經) quyển 8 có đề cập. Về chư vị Bồ Tát quyến thuộc của Ngài, Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修設瑜伽集要施食壇儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1081) cho biết rằng: “Bảo Sanh Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Bảo Bồ Tát, nhị Kim Cang Uy Quang Bồ Tát, tam Kim Cang Tràng Bồ Tát, tứ Kim Cang Quyến Bồ Tát (寶生佛四菩薩者、一金剛寶菩薩、二 剛威光菩薩、三金剛幢菩薩、四金剛 眷菩薩, bốn vị Bồ Tát của Bảo Sanh Phật là, một Kim Cang Bảo Bồ Tát, hai Kim Cang Uy Quang Bồ Tát, ba Kim Cang Tràng Bồ Tát, bốn Kim Cang Quyến Bồ Tát).” Trong Phật Mẫu Khổng Tước Tôn Kinh Khoa Thức (佛母孔雀尊經科式, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1479) có đoạn rằng: “Phụng thỉnh Nam phương Bảo Sanh Phật, kỳ thân xích sắc phóng quang minh, thủ ấn chấp trì Ma Ni Bảo, chúng đẳng chí tâm quy mạng lễ (奉請南方寶生佛、其身赤色放光明、 印執持摩尼寶、眾等志心歸命禮, cung thỉnh Nam phương A Súc Phật, thân Ngài sắc đỏ phóng hào quang, tay ấn cầm giữ Báu Ma Ni, chúng con chí tâm cung kính lễ).” Diệu Cát Tường Bình Đẳng Bí Mật Tối Thượng Quán Môn Đại Giáo Vương Kinh (妙吉祥平等祕密最上觀門大敎王經, Taishō Vol. 20, No. 1192) quyển 4 lại dạy rằng: “Cầu phú quý thư Bảo Sanh Phật Chủng Trí tự (求富貴書寶生佛種智字, nếu cầu giàu sang thì viết chữ Chủng Trí của Bảo Sanh Phật).” Hay trong Đại Nhạo Kim Cang Bất Không Chân Thật Tam Muội Da Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Lý Thú Thích (大樂金剛不空眞實三昧耶經般若波羅 多理趣釋, Taishō Vol. 19, No. 1003) có giải thích thêm rằng: “Nhất thiết Tam Giới chủ Như Lai giả, Bảo Sanh Phật giả, Bảo Sanh chi biến hóa, tắc Hư Không Tạng Bồ Tát thị dã (一切三界主如來者、寶生佛也、寶生 變化、則虛空藏菩薩是也, đức Như Lai làm chủ của hết thảy Ba Cõi là Bảo Sanh Phật; khi Bảo Sanh biến hóa tức chính là Hư Không Tạng Bồ Tát vậy).” Trong Kim Cang Đảnh Du Già Tam Thập Thất Tôn Lễ (金剛頂瑜伽三十七尊禮, Taishō Vol. 18, No. 879) có đảnh lễ danh hiệu của Ngài: “Nam Mô Công Đức Trang Nghiêm Tụ Thân Bảo Sanh Phật (南慕功德莊嚴聚身寶生佛, Kính Lễ Phật Bảo Sanh Thân Tập Trung Công Đức Trang Nghiêm).”
https://phatgiao.org.vn/tu-dien-phat...hat-k3374.html
Ngũ Phật có nghĩa là:
(五佛): năm vị Phật ngự ở 5 hướng khác nhau, được vẽ trong các đồ hình của Kim Cang Giới Mạn Trà La (金剛界曼荼羅) cũng như Thai Tạng Giới Mạn Trà La (胎藏界曼荼羅); còn gọi là Ngũ Trí Như Lai (五智如來), Ngũ Như Lai (五如來), Ngũ Bộ Giáo Chủ (五部敎主). Trong Kim Cang Giới Mạn Trà La có Đại Nhật Như Lai (s: Vairocana, 大日如來, tức Tỳ Lô Giá Na Phật [毘盧遮那佛]) ở trung ương, màu vàng, thuộc Thổ; A Súc Như Lai (s: Akṣbhya, 阿閦如來) ở phương Đông, màu xanh, thuộc Mộc; Bảo Sanh Như Lai (s: Ratna-saṃbhava, 寶生如來) ở phương Nam, màu hồng, thuộc Hỏa; A Di Đà Như Lai (s: Lokeśvara-rāja, 阿彌陀如來, tức Thế Tự Tại Như Lai [世自在如來]) ở phương Tây, màu trắng, thuộc Kim; Bất Không Thành Tựu Như Lai (s: Amogha-siddhi, 不空成就如來, tức Thích Ca Như Lai [釋迦如來]) ở phương Bắc, màu đen huyền, thuộc Thủy. Trong Thai Tạng Giới Mạn Trà La, ngoài Đại Nhật Như Lai ở trung ương, màu vàng, thuộc Thổ như trên; còn có Bảo Tràng Như Lai (s: Ratna-ketu, 寶幢如來) ở phương Đông, màu xanh, thuộc Mộc; Khai Phu Hoa Vương Như Lai (s: Saṃkusumita-rāja, 開敷華王如來) ở phương Nam, màu hồng, thuộc Hỏa; Vô Lượng Thọ Như Lai (s: Amitāyus, 無量壽如來) ở phương Tây, màu trắng, thuộc Kim; và Thiên Cổ Lôi Âm Như Lai (s: Dundubhi-svara, 天鼓雷音如來) ở phương Bắc, màu đen huyền, thuộc Thủy. Tu Chứng Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修設瑜伽集要施食壇儀, CBETA No. 1081) giải thích rằng Ngũ Phật hình thành Ngũ Trí: “Ngũ Phật giả, quân Giá Na Phật sở hiện, vị Giá Na Như Lai nội tâm chứng tự thọ dụng dĩ, thành ư Ngũ Trí; nhất Đại Viên Kính Trí, lưu xuất Đông phương A Súc Như Lai, chấp Kim Cang Chử; nhị Bình Đẳng Tánh Trí, lưu xuất Nam phương Bảo Sanh Như Lai, chấp Ma Ni Châu; tam Diệu Quan Sát Trí, lưu xuất Tây phương Di Đà Như Lai, chấp Diệu Liên Hoa; tứ Thành Sở Tác Trí, lưu xuất Bắc phương Thành Tựu Như Lai, thủ Luân Tướng Giao; ngũ Pháp Giới Thanh Tịnh Trí, tức trung ương Tỳ Lô Giá Na Như Lai, thủ Thiên Bức Luân (五佛者、均遮那佛所現、謂遮那如來 心證自受用已、成於五智、一大圓鏡 智、流出東方阿閦如來、執金剛杵、 平等性智、流出南方寶生如來、執摩 珠、三妙觀察智、流出西方彌陀如來 、執妙蓮華、四成所作智、流出北方 就如來、手輪相交、五法界清淨智、 中央毗盧遮那如來、手千輻輪, năm vị Phật đều do Giá Na Phật biến hiện, nghĩa là trong nội tâm của Giá Na Như Lai tự thọ dụng xong, thành ra năm loại trí; một là Đại Viên Kính Trí, lưu xuất A Súc Như Lai ở phương Đông, tay cầm Chày Kim Cang; hai là Bình Đẳng Tánh Trí, lưu xuất Bảo Sanh Như Lai ở phương Nam, tay cầm hạt châu Ma Ni; ba là Diệu Quan Sát Trí, lưu xuất Di Đà Như Lai ở phương Tây, tay cầm Hoa Sen Mầu; bốn là Thành Sở Tác Trí, lưu xuất Thành Tựu Như Lai ở phương Bắc, tay bắt ấn Luân Tướng Giao; năm là Pháp Giới Thanh Tịnh Trí, tức Tỳ Lô Giá Na Như Lai ở trung ương, tay cầm ngàn vòng bánh xe).” Cũng theo tài liệu này cho biết rằng mỗi vị Phật đều có 4 Bồ Tát tùy tùng, hộ trì: “Ngũ Phật các hữu tứ Bồ Tát, A Súc Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát, nhị Kim Cang Vương Bồ Tát, tam Kim Cang Ái Bồ Tát, tứ Kim Cang Thiện Tai Bồ Tát; Bảo Sanh Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Bảo Bồ Tát, nhị Kim Cang Uy Vương Bồ Tát, tam Kim Cang Tràng Bồ Tát, tứ Kim Cang Quyến Bồ Tát; Di Đà Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Pháp Bồ Tát, nhị Kim Cang Kiếm Bồ Tát, tam Kim Cang Nhân Bồ Tát, tứ Kim Cang Lợi Bồ Tát; Thành Tựu Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Nghiệp Bồ Tát, nhị Kim Cang Ngữ Bồ Tát, tam Kim Cang Dược Xoa Bồ Tát, tứ Kim Cang Quyền Bồ Tát; Tỳ Lô Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Ba La Mật Bồ Tát, nhị Kim Cang Bảo Ba La Mật Bồ Tát, tam Kim Cang Pháp Ba La Mật, tứ Kim Cang Yết Ba La Mật Bồ Tát (五佛各有四菩薩、阿閦佛四菩薩者、 金剛薩埵菩薩、二金剛王菩薩、三金 剛愛菩薩、四金剛善哉菩薩、寶生佛 菩薩者、一金剛寶菩薩、二金剛威光 薩、三金剛幢菩薩、四金剛眷菩薩、 彌陀佛四菩薩者、一金剛法菩薩、二 剛劍菩薩、三金剛因菩薩、四金剛利 薩、成就佛四菩薩者、一金剛業菩薩 、二金剛語菩薩、三金剛藥叉菩薩、 金剛拳菩薩、毗盧佛四菩薩者、一金 波羅密菩薩、二金剛寶波羅密菩薩、 三金剛法波羅密菩薩、四金剛羯波羅 菩薩, năm vị Phật mỗi vị đều có 4 Bồ Tát, 4 Bồ Tát của A Súc Phật gồm, một là Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát, hai là Kim Cang Vương Bồ Tát, ba là Kim Cang Ái Bồ Tát, bốn là Kim Cang Thiện Tai Bồ Tát; 4 Bồ Tát của Bảo Sanh Phật gồm, một là Kim Cang Bảo Bồ Tát, hai là Kim Cang Uy Vương Bồ Tát, ba là Kim Cang Tràng Bồ Tát, bốn là Kim Cang Quyến Bồ Tát; 4 Bồ Tát của Di Đà Phật gồm, một là Kim Cang Pháp Bồ Tát, hai là Kim Cang Kiếm Bồ Tát, ba là Kim Cang Nhân Bồ Tát, bốn là Kim Cang Lợi Bồ Tát; 4 Bồ Tát của Thành Tựu Phật gồm, một là Kim Cang Nghiệp Bồ Tát, hai là Kim Cang Ngữ Bồ Tát, ba là Kim Cang Dược Xoa Bồ Tát, bốn là Kim Cang Quyền Bồ Tát; 4 Bồ Tát của Tỳ Lô Phật gồm, một là Kim Cang Ba La Mật Bồ Tát, hai là Kim Cang Bảo Ba La Mật Bồ Tát, ba là Kim Cang Pháp Ba La Mật, bốn là Kim Cang Yết Ba La Mật Bồ Tát).”
https://phatgiao.org.vn/tu-dien-phat...hat-k4675.html
LỤC CÚNG
SIX TYPES OF OFFERING
六供
TRANH: BÙI THỊ THANH XINH
THƠ: PHĐT
HƯƠNG, HOA, QUẢ, NHẠC, TRÀ, ĐÈN
TRANG NGHIÊM DÂNG TRƯỚC ĐÀI SEN CÚNG DƯỜNG
NGƯỠNG MONG CHƯ PHẬT MƯỜI PHƯƠNG
TỪ BI TRỤ THẾ MỞ ĐƯỜNG ĐỘ SANH.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.
======
DI LẶC BỒ TÁT NGHÊNH XUÂN
BỤNG LỚN TỪ BI, TÂM HOAN HỶ
SÁU TRẺ NGHỊCH ĐÙA VỚI VÔ VI
LONG HOA MỞ HỘI, DÂN HẠNH PHÚC
THÁI BÌNH HÒA CA KHÚC XUÂN THÌ.
NAM MÔ LONG HOA GIÁO CHỦ DI LẶC TÔN PHẬT.
======
VĂN THÙ BỒ TÁT
MANJUSHRI BODHISATTVA
文殊師利菩薩
ĐẢNH TỤ HÀO QUANG NHƯ VẦNG NHẬT
DỤNG GƯƠNG TRÍ HUỆ TRẢM VÔ MINH
ĐOAN TỌA THANH SƯ DU THẬP XỨ
TRUYỀN THẾ NHƯ LAI MINH HUẤN TỪ.
NAM MÔ ĐẠI TRÍ VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT.
======
PHỔ HIỀN BỒ TÁT THẬP NGUYỆN
Samantabhadra Bodhisattva
普賢菩薩十愿
An nhiên tĩnh toạ tâm thanh tịnh
Văn hay chữ tốt sách tấn tu
Đại hạnh từ nghiêm tròn thập nguyện
Vững chí bền tâm thoát ái hà.
Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát
=======
ĐẠI KIM CANG DIỆU KHỔNG TƯỚC MINH VƯƠNG BỒ TÁT
THE GOLDEN-HUED PEACOCK KING BODHISATTVA
大金刚妙孔雀明王菩薩
TRANH: ĐINH VIỆT CƯỜNG
THƠ: THẦY T.T.T 2
KHỔNG TƯỚC CHIM THIÊNG THÂN SẮC VÀNG
LƯNG CÕNG PHẬT BÀ DẠO THẾ GIAN
CHÂN ĐẠP HÀ SA VÔ MINH GIỚI
ĐƯA NGƯỜI TRỞ LẠI CHỐN TÂY PHANG.
NAM MÔ ĐẠI KIM CANG DIỆU KHỔNG TƯỚC MINH VƯƠNG BỒ TÁT.
https://vinhan1088.wordpress.com/201...6_228605933_n/
12 BÀI THẦN CHÚ THƯỜNG TỤNG
TIN SÂU-NGUYỆN THIẾT-HẠNH CHUYÊN
Đôi điều về việc hành trì tụng niệm các bài Thần Chú:
Các hành giả hành trì thần chú phải có đủ 3 điều Tín-Nguyện-Hạnh, chúng ta CÓ CẢM thì MỚI CÓ ỨNG từ các vị Phật, Bồ tát , Chư Thiên, Kim Cương Long Thần hộ vệ. Cũng ví như chúng ta là các máy radio thu sóng “Từ Bi” của chư Phật Bồ tát hàng đêm, ai kiên trì tụng niệm thần chú NHẤT TÂM BẤT LOẠN, một lòng hướng về chư Phật, trong lòng chúng ta có Phật, thì mới có chứng, có linh ứng hiệu nghiệm, cho nên mới nói PHẬT PHÁP NHIỆM MÀU.
Dù ai nói ngã nói nghiêng, thì ta vẫn vững như kiềng 3 chân, dù cho nhiều Thầy có nhiều cách giảng mâu thuẫn khác nhau về giáo lý và về các bài thần chú, nhưng bản thân chúng ta là người quyết định cuối cùng, hãy tự thắp đuốc lên mà đi, hãy là hải đảo của tự thân và tự tìm lấy cho mình 1 lối đi riêng 1 pháp môn tu tập riêng, dù cho có ai nói tụng niệm Thần chú không linh ứng hiệu nghiệm đi chăng nữa, bởi vì họ chưa từ bỏ được Con Ma Nghi Kỵ trong Tâm mình.
Có thể có 4 lí do sau đây khiến việc hành trì Thần Chú không được như ý muốn:
1. Do chưa đủ phước báu: là do chúng ta gieo nhân chưa đủ, chưa tạo đủ Phước cho cuộc đời, mà các đức Phật lại ban phước dựa trên quy luật Nhân-Quả, các Ngài ban phước cho 1 ai đó đều xét bản thân người đó đã làm được những điều tốt đẹp gì cho mọi người xung quanh chưa? có nói lời hay, ý đẹp làm lợi lạc cho chúng sanh hay chưa? Từ đó suy ra, chúng ta nên tích cực làm nhiều việc thiện hơn, để gieo Nhân lành cho việc mong cầu như ý.
2. Do Duyên lành chưa đến, nên Quả lành chưa thể trổ được: ví như trồng cây cà chua, chúng ta phải đợi 1 khoảng thời gian nhất định, chăm sóc, tưới nước, bón phân thì quả cà chua mới lớn lên từ từ, mới đầu màu xanh, sau sẽ chín chuyển thành màu đỏ. Việc mong cầu chuyện gì đó trong cuộc đời của chúng ta cũng như vậy mà thôi, ví dụ việc mong cầu trúng số, có nhà lầu, xe hơi không thể 1 hay 2 ngày là có liền được, chúng ta nên kiên nhẫn chờ đợi và tích cực làm việc thiện nhiều hơn.
3. Mục đích của người mong cầu là gì? có lợi hay có hại? có lợi cho ai? cho 1 người, 1 cá nhân hay 1 cộng đồng, tập thể, chúng sanh. Các vị Phật không bao giờ ban phước lành cho 1 cá nhân đơn lẻ ích kỉ, biết sống chỉ riêng cho mình, mong may mắn hạnh phúc đến cho 1 mình mình thôi, nên cuối lời nguyện cầu, chúng ta nên hồi hướng công đức đến tất cả chúng sanh, biết mở tấm lòng Từ Bi đến mọi người xung quanh thì việc mong cầu sẽ được như ý muốn.
4. Do nghiệp chướng của chúng ta quá sâu dày tích lũy từ vô lượng kiếp tái sanh, hãy dùng các thần chú sau đây nhờ sự gia hộ của chư Phật và Bồ tát chuyển hóa bớt từ từ, hãy kiên nhẫn tinh tấn trên con đường tu sửa tâm từ bên trong, khi nghiệp chướng như bệnh tật, tai ách, oan gia trái chủ, nợ nần đến đòi thì tội nặng hóa thành tội nhẹ, tội nhẹ hóa thành không. Hãy dụng công phu tu hành nhờ Phật lực gia hộ chuyển hóa bớt đi từ từ thì một ngày nào đó chúng ta không đến nỗi lâm vào tình cảnh bi đát, than thân trách phận, đổ thừa vận xui rủi “phước bất trùng lai, họa vô đơn chí” hay “Quả nhồi, Nghiệp khảo” (^_^)
Là hành giả trì tụng thần chú, 1 lòng 1 dạ hướng về các đức Phật, thì nhất định các Ngài sẽ không từ bỏ chúng ta. Hàng ngày chúng ta niệm 1 câu thần chú hay 6 chữ Hồng Danh của Đức Phật A-Di-Dà như người mẹ hiền, ví như cả 2 bên, Mẹ hiền và chúng ta đều đi 1 điểm hẹn duy nhất, dù cho bao nhiêu năm xa xôi cách trở 20-30 năm nhưng nhất định, cả 2 sẽ gặp được nhau vì đều nghĩ, đều gọi tên và đều hướng về nhau. Thời gian không quan trọng, quan trọng là mỗi chúng ta đều giữ Chánh Niệm về 1 đức Phật duy nhất A-Di-Đà trong Tâm của chúng ta. Nếu mất tiền thì chúng ta có thể đi làm kiếm lại được, nhưng để mất đi Niềm Tin và Hy Vọng chúng ta sẽ đánh mất đi hết Tất Cả.
Chúc các hành giả thân tâm an lạc tự tại, xóa bỏ dần các nghiệp chướng sâu dày và vọng tưởng tạp niệm từ vô lượng kiếp, giữ vững CHÁNH NIỆM VÀ CHÁNH ĐỊNH, NHƯ Ý CÁT TƯỜNG, biến ước mơ thành hiện thực, sở cầu được toại nguyện, biết sống vì mọi người hơn nữa, làm lợi lạc cho chúng sanh đang chìm ngập trong bể khổ của 6 nẻo luân hồi và cũng để đạt được sự Màu Nhiệm của Phật Pháp trong đời sống hiện tiền. Nam mô A-Di-Đà Phật.
__________________________Ai ăn người đó No – Ai Tu người đó Chứng________________
1. THẦN CHÚ LĂNG NGHIÊM 2. CHÚ ĐẠI BI
3. TIÊU TAI KIẾT TƯỜNG 4. CÔNG ĐỨC BẢO SƠN 5. PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ 6. THÁNH VÔ LƯỢNG THỌ 7. DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH 8. QUÁN ÂM LINH CẢM 9. THẤT PHẬT DIỆT TỘI
10. VÃNG SANH TỊNH ĐỘ 11. THIỆN THIÊN NỮ CHÚ
12. NHƯ Ý BẢO LUÂN VƯƠNG ĐÀ LA NI
TỔNG KẾT:
Nên để ý các Kinh Chú của Phật để lại trong Đại Tạng thì rất nhiều, đa dạng theo mỗi vị Phật trình bày mỗi cách qua kinh nghiệm tu tập của mình. Các Thiền gia thời xưa qua kinh nghiệm của họ rút ra trong Đại tạng một số Kinh Chú theo nhu cầu phổ thông chẳng những cho quần chúng mà cho cả người xuất gia trong thời mạt pháp nghiệp trọng phước khinh ma cường pháp nhược này. Những Kinh Chú mà các Thiền gia chọn ra để trì tụng là của những vị Phật, những vị Bồ Tát rất quan hệ với các chúng sanh nơi cõi Ta bà ngũ trược ác thế này. Còn các Kinh Chú khác của các vị Phật hay của các vị Bồ Tát khác chỉ quan hệ nhiều với các chúng sanh trong các cõi khác không có ngũ trược ác thế như cõi Ta Bà này. Những Kinh Chú mà các Thiền gia chọn ra để hành trì có những mục đích như sau:
1)-Những Kinh Tụng nêu trên ngoài sự Tu Huệ của hành giả và còn nhờ sự gia hộ của chư Phật, chư Bồ Tát quan hệ giúp hành giả sớm hoàn thành hạnh nguyện đạt đạo.
2)- Còn các Kinh khác nhằm tu tập bao gồm Văn Huệ, Tư Huệ và Tu Huệ trong lãnh vực tự độ và tự giác mà không cần sự gia hộ của chư Phật, chư Bồ Tát quan hệ, được gọi là tự lực cánh sinh.
3)- Các Thần Chú nêu trên mà các Thiền gia chọn lựa được rút ra trong các Kinh Tạng của chư Phật chỉ dạy để các hành giả hành trì ngõ hầu đạt được ý nguyện mà không bị phân tâm, không bị loạn tưởng, không bị tẩu hoả nhập ma.
4)- Còn các Thần Chú khác một số không thấy trong các Kinh Phật mà chỉ thấy trong Mật Tông nếu như hành trì mà thiếu sự hướng dẫn chơn truyền qua sự kinh nghiệm của những người đi trước thì sẽ bị nguy hiểm phân tâm, loạn tưởng, tẩu hoả nhập ma.
Các Thiền gia Việt Nam cũng chọn những Kinh những Chú đã được liệt kê ở trước ngoài những mục đích và ý nghĩa vừa trình bày còn có mục đích khác là thể hiện văn hoá Phật Giáo Việt Nam mà các Thiền gia Việt Nam đem sự đạt đạo xây dựng quốc gia. Nhìn theo Văn Hoá Phật Giáo Việt Nam, Nhị Thời Khoá Tụng mà các Thiền gia Việt Nam thường sử dụng trong khoá lễ hằng ngày dành cho các Thiền sinh hành trì, ngoài sự tu tập để chứng đắc và còn tiêu biểu cho ba hệ phái Thiền đã từng đóng góp xây dựng quốc gia Việt Nam trên lãnh vực văn hoá trải dài hơn 2000 năm lịch sử. Điều đó được thấy như:
a)- Thiền phái Vô Ngôn Thông, Thiền phái Trúc Lâm Tam Tổ đã từng đóng góp xây dựng cho quốc gia Việt Nam trên lãnh vực thuần tuý thiền tập.
b)- Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã từng đóng góp xây dựng cho quốc gia ViệtNamtrên lãnh vực Thiền Mật Tổng Hợp.
c)- Thiền Phái Thảo Đường đã từng đóng góp xây dựng quốc gia ViệtNamtrên lãnh vực Thi Ca và Nghệ Thuật.
d)- Thiền phái Liễu Quán đã từng đóng góp xây dựng quốc gia ViệtNamtrên lãnh vực Thiền Tịnh Song Tu.
Từ những ý nghĩa và giá trị này, chúng ta là người Việt Nam không nên xem thường Nhị Thời Khoá Tụng mà Thiền gia Việt Nam đã chọn và cũng chứng minh rằng các Thiền gia Việt Nam nhờ Nhị Thời Khoá Tụng này được chứng đắc, cho nên mới để lại cho hậu thế hành trì.
https://vinhan1088.wordpress.com/12-...ờng-tụng/
6)- Thần Chú Phật Mẫu Chuẩn Đề:
” Khể Thủ quy y Tô tất đế, đầu diện đảnh lễ thất cu chi. Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề, duy nguyện từ bi thùy gia hộ.Nam mô tát đa nẩm tam miệu tam bồ đề, cu chi nẩm đát điệt tha. Án, chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề, ta bà ha”.
===> Câu chú này trích trong Kinh Chuẩn Đề. Bốn câu kệ đầu là: “Khể thủ quy y Tô tất Đế,” v.v… cho đến “Duy nguyện từ bi thùy gia hộ” là của Ngài Long Thọ Bồ Tát. Trong bốn câu kệ:
* Câu đầu là nói về Pháp Bảo; câu hai là nói về Phật Bảo; câu thứ ba là nói về Tăng Bảo; câu thứ tư là nói mình xin nhờ ơn sự gia hộ của Tam Bảo.
*) Khể thủ quy y Tô Tất Đế: nghĩa là cúi đầu quy kính Pháp Viên Thành (pháp nhiệm mầu). Chữ Tô Tất Đế: nguyên tiếng Phạn là Susidhi, Tàu dịch là Diệu Thành Tựu, nghĩa là một pháp có năng lực thành tựu được hết thảy sự lý và thành tựu đặng hết thảy tâm nguyện của chúng sanh rất mầu nhiệm.
*) Đầu diện đảnh lễ Thất Cu Chi (cu đê): nghĩa là thành tâm đảnh lễ bảy trăm ức Phật. Chữ “Cu Chi” hay là “Cu Đê”, nguyên tiếng Phạn là “Koti”, Tàu dịch là bách ức, nghĩa là trăm ức; cho nên trên đây nói ”thất cu chi” tức là số bảy trăm ức vậy.
*) Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề: nghĩa là tôi nay xưng tán đức Đại Chuẩn Đề. Chữ “Chuẩn Đề”, nguyên tiếng Phạn là “Candi”, Tàu dịch có hai nghĩa: 1) Thi Vi, 2) Thành Tựu.
Thi Vi: nghĩa là lời nguyện rộng lớn đúng nơi lý và dùng đại trí để dứt vọng hoặc, vì đủ các nhơn hạnh để ra làm việc lợi tha cho chúng sanh, nên gọi là Thi Vi.
Thành Tựu: nghĩa là từ nơi pháp không mà hiện ra pháp giả rồi thành tựu đặng pháp tịch diệt.
Sở dĩ Chú này xưng là “Phật Mẫu Chuẩn Đề” là nói: Pháp là thầy và thiệt trí, là mẹ của chư Phật, cho nên bảy trăm ức Phật đều dùng pháp “Chuẩn Đề Tam Muội” mà chứng đạo Bồ Đề.
Trong kinh Chuẩn Đề nói rằng: Khi Phật ở vườn Kỳ Đà vì có tứ chúng bát bộ đông đủ, Ngài nghĩ thương những chúng sanh đời mạt pháp sau này, tội dày phước mỏng, nên mới nhập “Chuẩn Đề Định” mà thuyết thần chú như vầy:
Nam Mô Tát Đa Nẩm, Tam Miệu Tam Bồ Đề, Cu Chi Nẩm, Đát Điệt Tha, Án, Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề, Ta bà Ha.
Phật nói: Nếu trì chú này mãn chín mươi vạn (900.000) biến thì diệt trừ được các tội thập ác, ngũ nghịch và tứ trọng; cho đến nhà thế tục chẳng luận tịnh hay uế, chỉ cần chí tâm trì tụng, liền được tiêu trừ tai nạn bệnh hoạn, tăng trưởng phước thọ. Khi tụng mãn 49 ngày, Bồ Tát Chuẩn Đề khiến hai vị Thánh thường theo người ấy hộ trì.
Nếu có người hoặc cầu mở trí tuệ, hoặc cầu chống tai nạn, hoặc cầu pháp thần thông, hoặc cầu đạo Chánh Giác, chỉ y theo pháp thiết lập đàn tràng, tụng đủ một trăm vạn (1.000.000) biến thì đặng đi khắp mười phương Tịnh Độ, phụng thờ chư Phật, nghe cả diệu pháp mà được chứng quả Bồ Đề.
https://vinhan1088.wordpress.com/12-...ờng-tụng/
8)- Thần Chú Dược Sư Quán Đảnh Chơn Ngôn:
DƯỢC SƯ QUÁN ĐẲNG CHƠN NGÔN (7, 21 hoặc 108 biến)
” Nam mô Bạc già phạt đế, bệ sát xã,
lũ lô thích lưu ly, bác lặc bà, hắc ra xà dã.
Đát tha yết đa tha, a ra hắc đế.
Tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha.
Án bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế toá ha.
Nam-mô Dược Sư hội thượng Phật Bồ-tát”.
===> Thần chú này được trích ra từ nơi Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức. Theo như trong kinh, đức Thích Ca Như Lai nói nếu có chứng bệnh gì mà cứ nhứt tâm trì chú này trong nước tịnh thủy đủ 108 biến rồi uống vào thì các bệnh đều lành liền.
Còn như những người mà trọn đời thọ trì chú này thì đặng khỏi bệnh tật và được sống lâu, đến lúc mạng chung lại được sanh về cõi Tịnh Lưu Ly. Nhưng phải biết rằng: chú này được gọi là “Quán Đảnh” là nói chú này do nơi đảnh quang của Phật mà thuyết ra. Người nào nếu thọ trì đọc tụng chú này mà đặng thanh tịnh ba nghiệp (thân, miệng, ý) thì hào quang Phật chiếu ngay đến nơi đảnh môn của người trì tụng ấy một cách mát mẻ như rưới nước cam lồ vậy.
Nên biết ánh quang của Phật khác hơn ánh quang của ma, nguyên vì ánh quang của ma thì chói loà khiến cho người ta sợ hãi, còn ánh quang của Phật thì mát mẻ và làm cho ta vui mừng. Vậy ai là người thọ trì chú này hoặc niệm Phật cần phải phân biệt rõ hai cái ánh quang nói trên. Chớ đừng thấy ánh quang của ma lậo lòe trước mắt như ngoại đạo nhìn nến, như kẻ nhìn nhang kia mà nhận lầm cho là thấy tánh.
https://vinhan1088.wordpress.com/12-...ờng-tụng/
法 華 揭
Pháp Hoa kệ.
Bài kệ Kinh Pháp Hoa .
六 萬 餘 言 七 軸 裝. 無 邊 妙 義 廣 含 藏.
Lục vạn dư ngôn thất trục trang. Vô biên diệu nghĩa quảng hàm tàng.
Hơn sáu vạn chữ bảy quyển vàng. Rộng chứa vô biên diệu nghĩa màu.
喉 中 甘 露 涓 涓 潤. 口 內 醍 醐 滴 滴 涼.
Hầu trung Cam-Lộ quyên quyên nhuận. Khẩu nội Đề-Hồ tích tích lương.
Cam Lộ từng giọt nhuần trong họng. Diệu Pháp từng ly mát trong miệng.
白 玉 齒 遍 流 舍 利. 紅 蓮 舌 上 放 毫 光.
Bạch Ngọc Xỉ biên lưu Xá-Lợi. Hồng Liên Thiệt thượng phóng hào quang.
Răng Ngọc trắng lưu truyền Xá Lợi. Hào Quang toả trên Lưỡi Sen hồng.
假 饒 造 罪 過 山 嶽. 不 須 妙 法 兩 三 行.
Giả nhiêu tạo tội quá sơn nhạc. Bất tu Diệu Pháp Lưỡng Tam hàng.
Giả như tạo tội hơn non Thái. Thanh Văn, Duyên Giác chưa cầu Diệu Pháp.
http://chanh-y.blogspot.com/2012/04/...m-tua.html?m=1
收 經 揭
Thu Kinh kệ.
Bài kệ thu Kinh.
三 涂 永 急 常 離 苦. 六 趣 休 隨 汨 沒 因. 河 沙 含 識 悟 真 如. 萬 類 有 情 豋 彼 岸.
Tam Đồ vĩnh tức thường ly Khổ. Lục Thú hưu tuỳ Mịch một nhân. Hà sa hàm thức ngộ Chân Như . Vạn loại Hữu Tình đăng bỉ Ngạn
Ba Đường ác dứt thường hết Khổ. Sáu Đạo ngơi nghỉ hết nổi chìm. Hà sa các Thức hiểu ‘ Chân Như ’. Vạn loại ‘Có Tình’ đăng bỉ Ngạn (Niết Bàn).
http://chanh-y.blogspot.com/2012/04/...m-tua.html?m=1
懺 悔 揭
Sám hối kệ.
Bài kệ Sám hối.
往 昔 所 造 諸 惡 業. 皆 由 無 始 貪 瞋 癡.
Vãng tích sở tạo chư ác Nghiệp. Giai do vô thủy Tham Sân Si.
Xa xưa tạo thành các Nghiệp ác. Do Tham- Sân- Si có từ lâu.
從 身 口 意 之 所 生. 今 對 佛 前 求 懺 悔.
Tòng thân khẩu ý chi sở sinh. Kim đối Phật tiền cầu Sám hối.
Được sinh ra theo Thân, Khẩu, Ý. Nay trước Phật con xin Sám hối.
罪 從 心 起 相 心 懺. 心 若 滅 時 罪 亦 亡.
Tội tòng tâm khởi tương tâm Sám. Tâm nhược diệt thời tội diệc vong.
Sám hối tội lỗi do Tâm tạo. Tội cũng mất khi mà Tâm mất.
http://chanh-y.blogspot.com/2012/04/...m-tua.html?m=1
。南 無 西 方 極 樂 世 界. 三 六 萬 億. 一 十 一 萬. 九 千 五 百. 同 名 同 號. 大 慈 大 . 阿 彌 陀 佛.
。Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, Tam Thập Lục Vạn Ức Nhất Thập Nhất Vạn Cửu Thiên Ngũ Bách Đồng Danh Đồng Hiệu Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật .
。Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, Tam Thập Lục Vạn Ức Nhất Thập Nhất Vạn Cửu Thiên Ngũ Bá Đồng Danh Đồng Hiệu Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật .
。Na mô 36 Ngàn tỷ 119 Ngàn và 500, đồng Danh đồng Hiệu A Di Đà Phật.
。Na mô 36 Ngàn tỷ 119 Ngàn và 500, đồng Danh đồng Hiệu A Mi Đà Phật.
http://chanh-y.blogspot.com/2012/04/...m-tua.html?m=1
=========
đức Đại-từ-bi tiếp dẫn cõi Tây-phương tam thập lục vạn ức, nhứt thập nhứt vạn cửu thiên ngũ bá (36.000.000.119.500) đồng danh đồng hiệu A-Di-Đà-Phật (Amitabha Buddha).
https://ô-hay.vn/giao-ly-bi-mat-ve-than-trung-am/
Kim Cang tràng Bồ tát / Kim Cương Tràng Bồ Tát ( 金剛幢菩薩 / Vajraketu Bodhisattva = Vajrakotu Bodhisattva ) (skt)—Vị Bồ Tát cầm cờ, một trong 16 vị Bồ Tát trong nhóm Kim Cang Giới—The flag-bearer, one of the sixteen in the Vajradhatu group.)
https://m.xuite.net/blog/yoketsu/ishvari/589455801
āyus [中] 生命 : Sinh Mệnh
Vajrayus ( 金剛壽 / 金剛壽命 ): Kim-Cang THỌ / Kim-Cang THỌ-MẠNG
Phật là Giác (sambuddha)
sambuddha (tự giác ngộ);
giác ngộ (sambuddha)
Saṃbuddha (S) Chánh giác.
SAMBUDDHA:[m] bậc chánh giác.
Chánh-giác-tôn ( Sambuddha)
“Chư Phật[6] quá khứ đều phân ba,
[6] Nguyên Hán: Tam-phật 三佛, phiên âm Skt. Pāli: Sambuddha, Phật chánh giác. Cũng có thể hiểu là ba Phật quá khứ: Câu-lưu-tôn, Câu-na-hàm Mâu-ni, Ca-diệp.
http://fanfoyan.com/mult/skt-2.htm
http://mahavidyanilasaraswati.blogsp...st_13.html?m=1
https://ameblo.jp/kurokuromaru3/entry-12585522129.html
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...ng-Mã/page147
https://thienphatgiao.org/kinh-tang-nhat-a-ham-tdt-p1/
九、Vibakararaja毘婆迦羅王。畢婆伽羅 この場合おそらくパールヴァティー り。山神部。
畢婆伽羅王 / 毕婆伽罗王 / 毘婆迦羅王 ( Vibhakara-raja / Vibhakararaja ) : Tất Bà Dà La Vương / Tất-bà Già-la Vương / Tất Bà Già La Vương / Hoa Bà Ca La Vương: là Nhĩ Hầu Vương ( Markada Raja ) - 1 Vị Sơn Thần trấn ngự ở Ngọn Núi to lớn Makara【 Sơn Thần Bộ là Trụ Núi ( tức đứng yên ): TRỤ ĐỊA 】
畢婆伽羅 / 毕婆伽罗 / 毘婆迦羅 ( BHIPAGARA / VIBHAKARA / HIBAKARA )
THỤ-THẦN VƯƠNG CHƠN NGÔN / THỌ-THẦN VƯƠNG CHƠN NGÔN ( 樹神王真言 / 树神王真言 ) = VUA THẦN-CÂY CHƠN NGÔN / THẦN CHÚ CỦA VUA CÁC LOÀI CÂY :
NAMO RATNA-TRAYĀYA: OṂ VIBHĀKARA SVĀHĀ
http://mahavidyanilasaraswati.blogsp...st_13.html?m=1
https://books.google.com.vn/books?id... svaha&f=false
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...ng-Mã/page148
Thiên Thủ Quan Âm Tạo Thứ Đệ Pháp Nghi Quỹ (千手觀音造次第法儀軌, Taishō Vol. 20, No. 1068)
Chuẩn Đề có nghĩa là:
(s: Cundi, t: bskul-bye-kma, 準提): âm dịch là Chuẩn Đề (准提、准胝), Chuẩn Nê (准泥), ý dịch là thanh tịnh, còn gọi là Chuẩn Đề Quan Âm (准提觀音), Chuẩn Đề Phật Mẫu (准提佛母), Phật Mẫu Chuẩn Đề (佛母准提), Thiên Nhân Trượng Phu Quan Âm (天人丈夫觀音), Thất Câu Chi Chuẩn Đề Đại Phật Mẫu (七俱胝準提大佛母); là vị Bồ Tát thường xuyên hộ trì Phật pháp, hộ mạng và làm cho những người đoản mạng được sống lâu; có sự cảm ứng rất lớn, trí tuệ cũng như phước đức của Ngài thì vô lượng. Bên cạnh đó, Ngài còn được sùng tín để cầu tiêu trừ tai nạn, cầu con, trừ tật bệnh, v.v., tùy duyên hóa hiện để cứu độ chúng sanh, làm cho thế gian và xuất thế gian tròn đầy hết thảy sự cầu nguyện. Trong Thiền Tông của Trung Quốc và Nhật Bản, Ngài được xem như là một trong những đấng chủ tôn của Quan Âm Bộ. Đặc biệt Thai Mật của Nhật Bản lấy Chuẩn Đề nhập vào Phật Mẫu, trở thành một trong những đối tượng tôn thờ của Phật bộ. Còn Đông Mật của Nhật Bản xem Chuẩn Đề là một trong 6 Quan Âm (Thiên Thủ Quan Âm, Thánh Quan Âm, Mã Đầu Quan Âm, Thập Nhất Diện Quan Âm, Chuẩn Đề Quan Âm, Như Ý Luân Quan Âm) của Liên Hoa Bộ. Ngài là thân ứng hóa của Quan Âm, phân nhập vào trong Sáu Đường để cứu độ chúng sanh. Ngài được an trí tại Biến Tri Viện (遍知院) của Hiện Đồ Thai Tạng Giới, hình tượng thường có 3 mắt với 2 tay, 4 tay, 6 tay, 8 tay, hay 18 tay, v.v. Trong Phật Thuyết Thất Câu Chi Phật Mẫu Đại Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh (佛說七俱胝佛母心大准提陀羅尼經) có thuật lại rằng khi ở tại Vườn Cấp Cô Độc (給孤獨園), thuộc nước Xá Vệ (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛), đức Phật tư duy quán sát, thương tưởng các chúng sanh trong đời tương lai, nên tuyên thuyết “Thất Câu Chi Phật Mẫu Tâm Chuẩn Đề Đà La Ni Pháp (七俱胝佛母心准提陀羅尼法)”, tức là Chuẩn Đề Chú (準提咒) được các tín đồ Phật Giáo thường trì tụng. Bản tiếng Sanskrit của thần chú này là: “Namaḥ saptānāṃ samyaksaṃbuddha-koṭīnāṃ tad yathā. Oṃ cale cule cundi svāhā.”; âm Hán dịch theo bản Thất Câu Chi Phật Mẫu Sở Thuyết Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh (七倶胝佛母所說准提陀羅尼經) của Bất Không (不空) dịch là: “Na mạc tát đa nam tam miệu tam một đà cu chi nam đát nhĩ dã tha, án, giả lễ chủ lễ chuẩn nê ta phạ ha (娜莫颯多南三藐三没駄倶胝南怛儞也 唵者禮主禮准泥娑嚩訶)”; nghĩa là “Con xin quy y theo đức Phật Chánh Đẳng Giác Thất Câu Chi (vạn ức). Tức là, Oṃ (Án). Hỡi đấng chuyển động quanh ! Hỡi đấng trên đảnh đầu ! Hỡi đức Chuẩn Đề ! Svāhā (ta phạ ha) !” Thần chú này được xem như là vua trong các thần chú, vì uy lực gia trì của nó không thể nghĩ bàn, sự cảm ứng của nó thì rất nhanh và mãnh liệt. Người trì tụng thần chú này có thể cầu được thông minh, trí tuệ, biện luận lanh lợi; chồng vợ thương kính nhau, khiến cho người khác sanh tâm kính mến; cầu được con nối dõi, kéo dài mạng sống, trị lành các bệnh tật, diệt trừ tội chướng; cầu được trời mưa, rời xa giam cầm, thoát khỏi nạn ác quỷ, ác tặc, v.v. Chuẩn Đề Phật Mẫu còn có 8 vị Bồ Tát là quyến thuộc, như Quán Tự Tại Bồ Tát (觀自在菩薩), Di Lặc Bồ Tát (彌勒菩薩), Hư Không Tạng Bồ Tát (虛空藏菩薩), Phổ Hiền Bồ Tát (普賢菩薩), Kim Cang Thủ Bồ Tát (金剛手菩薩), Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (文殊師利菩薩), Trừ Cái Chướng Bồ Tát (除蓋障菩薩) và Địa Tạng Bồ Tát (地藏菩薩).
https://phatgiao.org.vn/tu-dien-phat...80.html?keys=e