http://kyniem.easyvn.com/_easyweb/id...LE_TO_TIEN.htm
Printable View
Du Già Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni
Du Già Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni
Huệ Lộc Biên Soạn
2/20/2010
I. Phần Chuẩn Bị
Chú Mặc áo:
Nhược trước thượng y,
Đương nguyện chúng sanh,
Hoạch đẳng thiện căn,
Chí pháp bỉ ngạn
Chú Đốt Đèn:
Nhược điểm đăng thời
Đương nguyện chúng sanh,
Phổ chiếu chư Thiên,
Mãn đường quang minh.
Nam mô Nhiên Đăng Vương Phật Bồ Tát (3)
Chú Đốt Hương:
Hương yên kiết thể xuất thông tam giới,
Ngủ Uẩn thanh tịnh, tam độc liễu nhiên
“Án Phóng Ba Tra Tá Ha”
II. Phần Lễ Sám: (Quỳ đọc)
Nguyện mây hương mầu nầy . Hiện khắp mười phương cỏi
Vô số các Phật độ. Vô lượng hương trang nghiêm
Đầy đủ Bồ Tát đạo, Th nh tựu Như Lai hương
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Bồ Tát Ma Ha Tát (3) (1 lạy)
@
Đại Từ cứu Thế Tôn, Thiện đạo Nhất Thiết Chúng
Phước trì công đức hải, Ngã kim quy mạng lễ (1 lạy)
@
Chơn như xá ma pháp, Năng diệt tham-sân độc.
Thiện trừ chư ác thú, Ngã kim qui mạng lễ (1 lạy)
@
Đắc pháp giải thoát tăng Thiện trụ chư học địa
Thắng thượng phước đức nhân Ngã kim quy mạng lễ (1 lạy)
@
Tây Phương Cực Lạc giới Tiếp Dẩn Tam Thánh Tôn
Khải Tịnh Độ quyền môn Ngã kim quy mạng lễ (1 lạy)
@
Ta Bà Thế Giới Chủ Điều Ngự Thích Ca Văn
Ai mẫn ư chúng sanh Thuyết đại pháp Phật Đảnh
Tôn Thắng Đà-la-ni Vi diệu đại pháp môn
Thành tựu chư chúng sanh Ngã kim quy mạng lễ (1 lạy)
Án phổ lễ chơn ngôn: Ấn Phổ Lễ- 2 bàn tay chấp lại (BMT, 615)
Om Vajra mud (21)
1. Nhất tâm đảnh lễ: Trung phương thế giới Tỳ Lô Giá Na Mâu Ni Thế Tôn, Đông phương thế giới A Súc Bệ Thế Tôn, Nam phương thế giới Bảo Sanh Thế Tôn, Tây Phương thế giới A Di Đà Thế Tôn, Bắc phương thế giới Bắc Không Thành Tựu Thế Tôn. Tận hư không biến pháp giới, thập phương tam thế nhất thiết chư Phật. (1 lạy)
2. Nhất tâm đảnh lễ: Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh
Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa kinh, Ma-ha Bát Nhả Ba La Mật Đa kinh, Tu Đa La Tạng Nhất Thiết Đà-Ra-Ni môn, Tỳ Lô Giá Na thần biến gia trì kinh, Kim Cang đảnh kinh. Tận hư không biến pháp giới, thập phương tam thế nhát thiết tôn pháp. (1 lạy)
3. Nhất tâm đảnh lễ: Tổng Trì Vương Bồ Tát, Đà-Ra-Ni Tự Tại Vương Bồ Tát, Bí mật Vương Bồ Tát, Chư Kim Cang Tạng Vương Bồ Tát. Tận hư không biến pháp giới, thập phương tam thế nhất thiết chư đại bồ tát, chư hiền thánh tăng. (1 lạy)
4. Nhất tâm đảnh lễ: Ta Bà giáo chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lạc tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi bồ tát, Đại Hạnh Phổ Hiền bồ tát, Hộ Pháp Chư Tôn bồ tát, Linh Sơn hội thượng Phật bồ tát. (1 lạy)
5. Nhất tâm đảnh lễ: Tây Phương Cực Lạc thế giói, đại từ đại bi Tiếp Dẩn đạo sư A Di Đà Phật, Đại bi Quán Thế Âm bồ tát, Đại lực Đại Thế Chí bồ tát, Đại nguyện Địa Tạng Vương bồ tát, Phước trí nhị nghiêm Thanh Tịnh Đại Hải chúng bồ tát. (1 lạy)
6. Nhất tâm đảnh lễ: Trúc Lâm đạo tràng, Bổn Sư Thích Ca Văn Như Lai, cập sở thuyết Phật Đảnh Tôn Thắng Đà –La-Ni kinh.(1 lạy)
7. Nhất tâm đảnh lễ: Bản môn bát đại bồ tát: Di Lặc bồ tát, Mạn Thù Thất Lỵ bồ tát, Phổ Hiền bồ tát, Quán Tự Tại bồ tát, Kim cang Thủ bồ tát, Địa Tạng bồ tát, Hư Không Tạng bồ tát, Trừ Cái Chướng bồ tát. (1 lạy)
8. Nhất tâm đảnh lễ: Bảo tạng bồ tát, Đại Trang Nghiêm bồ tát, Đắc Đại Thế bồ tát, Thắng Liên Hoa Tạng bồ tát. (1 lạy)
9. Nhất tâm đảnh lễ: Chấp Kim Cang bồ tát, Trì Địa bồ tát, Tịnh Trừ Nhất Thiết Chướng bồ tát, Thường Tinh Tấn bồ tát. (1 lạy)
10. Nhất tâm đảnh lễ: Ma-ha Ca Diếp tôn giả, A Nan Đà tôn giả, vô lượng vô số đại thanh văn tăng, cập sở thuyết ủng hộ hành giả, nhất thiết hộ pháp thiện thần vương. (1 lạy)
III. Phần Sám Hối
Đại từ đại bi mẫn chúng sanh
Đại hỉ đại xả tế hàm thức
Tướng hảo quang minh dỉ tự nghiêm
Đệ tử nhất tâm quy mạng lễ (1 lạy)
1. Nhất tâm đảnh lễ:
Đông phương giải thoát, chủ thế giới hư không, Công đức mục tịnh vô cấu vi trần, Đẵng đoan chánh công đức tướng, Quang minh hoa ba đầu ma, Điểm lưu ly quang sắc, Bảo thể hương, Tối thượng hương, Diệu cúng dường, Chủng chủng diệu thái trang nghiêm, Đảnh kế diệu tướng, Vô lượng vô biên, Nhựt nguyệt quang minh, nguyện lực trang nghiêm, Biến hoá trang nghiêm, Quảng đại trang nghiêm, Pháp giới cao thắng, VÔ NHIỄM BẢO VƯƠNG NHƯ LAI. (1 lạy)
2. Nhất tâm đảnh lễ:
Hảo tướng thù thắng như nhật nguyệt quang minh diệm, Bảo liên hoa quang sắc thân kiên như kim cang, Tỳ lô giá na vô chướng ngại nhãn, viên mãn thập phương, Phóng quang phổ chiếu, Nhứt thiết Phật sát TƯỚNG VƯƠNG NHƯ LAI. (1 lạy)
3. Nhứt tâm đảnh lễ:
Nhất thiết trang nghiêm VÔ CẤU QUANG NHƯ LAI. ( 1 lạy)
4. Nhứt tâm đảnh lễ:
Nam phương thế giới BIỆN TÀI ANH LẠC TƯ NIỆM NHƯ LAI (1 lạy)
5. Nhứt tâm đảnh lễ:
Tây phương thế giới VÔ CẤU NGUYỆT TRÀNG TƯỚNG VƯƠNG DANH XƯNG NHƯ LAI (1 lạy)
6. Nhứt tâm đảnh lễ:
Bắc phương thế giới HOA TRANG NGHIÊM TÁC QUANG MINH NHƯ LAI (1 lạy)
7. Nhứt tâm đảnh lễ:
Đông nam phương thế giới TÁC ĐĂNG MINH NHƯ LAI (1 lạy)
8. Nhứt tâm đảnh lễ:
Tây nam phương thế giới BẢO THƯỢNG TƯỚNG DANH XƯNG NHƯ LAI (1 lạy)
9. Nhứt tâm đảnh lễ:
Tây bắc phương thế giới VÔ UÝ QUÁN NHƯ LAI (1 lạy)
10. Nhứt tâm đảnh lễ:
Đông bắc phương thế giới VÔ UÝ VÔ KHIẾP MAO KHỔNG BẤT THỤ DANH XƯNG NHƯ LAI (1 lạy)
11. Nhứt tâm đảnh lễ:
Hạ phương thế giới SƯ TỬ PHẤN TẤN CĂN NHƯ LAI (1 lạy)
12. Nhứt tâm đảnh lễ:
Thượng phương thế giới KIM QUANG OAI ĐỨC TƯỚNG VƯƠNG NHƯ LAI (1 lạy)
Đức phật bảo Di Lạc Bồ Tát:
Nếu có thiện nam tử, thiện nử nhân nào phạm các tội Tứ trọng, Ngũ nghịch, Thập ác phỉ báng Tam Bảo, hàng tăng ni phạm tội Tứ khí, Bát khí, người ấy tội nặng giả sử như đem cỏi Diêm Phù Đề nầy nghiền nát thành bụi nhỏ, mỗi hạt bụi là một kiếp tội, chỉ xưng lễ danh hiệu một vị Phật đầu tiên một lạy, thì bao nhiêu vi trần kiếp tội ấy đều được tiêu trừ. Huống chi ngày đêm đọc tụng, thọ trì nhớ niệm không quên, kẽ đó sẽ được công đức không thể nghĩ bàn.
Lại nếu xưng lễ 12 lạy danh hiệu của chư Phật trên đây trong vòng 10 ngày sám hối tất cả tội. Khuyến thỉnh chư Phật trụ thế, chuyển pháp luân, tùy hỉ tất cả công đức của tất cả chúng sanh, đem các căn lành mình tu hồi hướng về giải thoát, hành trì như thế sẽ diệt được tất cả tội, sẽ trừ đuợc tất cả nghiệp chướng, sẽ được trang nghiệm đầy đủ Phật độ, đức vô úy, đầy đủ tướng hảo, đấy đủ hạnh Bồ Tát, quyến thuộc vây quanh, đầy đủ vô lượng tam muội, đầy đủ cỏi Phật trang nghiêm như ý, cho đến đầy đủ quả báo tốt đẹp đáng ưa thích của quả Vô Thượng Bồ Đề.
Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Nếu có thiện nam tử, Cùng với thiện nữ nhân
Xưng lễ hiệu Phật trên Trong đời đời kiếp kiếp
Sẽ được người yêu kính Tuỳ chổ sanh ngôi vị
Cao quý hơn tất cả Ánh sáng oai lực lớn
Thành tựu đạo Bồ Đề
Nam mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo (3)
III. Ấn Chú Nghi Lễ
Ấn Nhập Đàn-Kim Cang Đại Luân Ấn: (BMT, 610) 2 tay bên trong tréo nhau, 2 ngón trỏ đứng thẳng, 2 ngón tay giữa quấn vào 2 ngón trỏ ở truớc lóng thứ nhất, 2 ngón cái giáp lại đứng thẳng. Dùng ấn, chú nầy tức được vào vòng đàn làm các phép tắc thì không thành tội trộm pháp.
Kim Cang Đại Luân Đà La Ni:
Nô mô si ti li gia,
Ti mi ca năng,
Thạc ta gia thạc năng,
Ản pi la ni, pi la ni,
Ma kha tchêch cà la,
Ma di li,
Sa thạc,sa thạc,
Sa la ti, sa la ti,
Thạc ta ý, thạc ta ý,
Pi thạc ma ni,
Sam bà già ni,
Thạc la ma ni,
Si tạ mi li da,
Thạc nắng, sa va kha (3 biến)
Tịnh pháp giới ấn: Trước lấy tay trái, ngón trỏ , nhón vô danh và ngón út để trong lòng bàn tay, ngón tay cái nắm trên đầu ngón trỏ, vô dang và ngón út. Tay mặt cũng vậy, hiệp lại bằng nhau, hai ngón tay giữa đứng thẳng vịn đầu nhau. (BMT, 326)
Tịnh Pháp Giới Chơn Ngôn:
Aum Ram (Ú m Ram) (21)
Aum, svabhava suddha sarva dharma svabhava suddha ham (7)
(Um soa pha va súd đa, sạt va đạt mạ, soa pha va súd đa hàm)
Hộ thân ấn lần một: Hai tay chấp lại, 2 ngón tay trỏ hướng ngoại tréo nhau, 2 ngón tay cái nắm trên tiết giữa của 2 ngón tay trỏ, từ ngón tay giữa xuống 3 ngón đứng thẳng hiệp lại. An ấn nơi đảnh, trán, vai mặt,vai trái, nơi tâm,miệng rồi xả ấn trên đảnh đầu. (BMT,614)
Hộ Thân Chơn Ngôn:
Aum sram (Úm xỉ rảm) (21)
Aum, vajra agni pra nambidháya svaha (7)
(Um, va j ra át ni, pra nàm bi đa ya-xóa ha)
Thỉnh Chư Thiên
Cách dùng bell và vajra:
T ụng: Om Ah Hum, Vajra Guru Padme siddhi hùm (7)
Tay trái cầm bell v à vajra trong hình chử thập. Tay mặt kết bảo ấn: Đầu ngón trỏ vịn vào đầu ngón giữa , ngón trỏ và ngón út thẳng ngang, ngón vô danh thẳng chỉ xuống như ngòi bút, vẽ 3 chử Om, Ah, Hùm vào chính giữa bell và vajra.
Chú rung bell:
Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới,
Thiết Vi u ám tất giai văn,
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông,
Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác
Văn chung thinh phiền não khinh
Trí huệ trưởng Bồ Đề sanh,
Ly địa ngục xuất hỏa khanh
Nguyện thành Phật độ chúng sanh
Án dà ra đế da ta bà ha (3)
Kết ấn hộ thân lần hai: 2 bàn tay tréo nhau đâu lưng lại ngón cái nắm ngón trỏ. (Soạn giả: từ ấn đó tay trái cầm bell, tay mặt cầm vajra)
Ðạo tràng thanh tịnh bồ đề
Mười phương thiên chúng hội về nghe kinh
Pháp mầu diệt tận vô minh
Pháp mầu cứu khổ sinh linh vạn loài
Từ dục giới vân đài sáu cõi
Ðến thiên cung sắc giới hữu hình (rung bell qua lại 3 lần)
Duyên xưa đã tạo nghiệp lành
Kết thành phúc quả thiện sanh đến giờ
Ngự khắp chốn bến bờ đồng ruộng
Hoặc hư không châu quận thị phường
Non xanh rừng rậm đất bằng
Hoặc nơi quán cảnh xóm làng gần xa
Xin đồng thỉnh Dạ Xoa chư chúng (rung bell qua lại 3 lần)
Càn thát bà, Long chủng nơi nơi
Miếu đền thành quách lâu đời
Sông hồ, hoang đảo, biển khơi trùng trùng
Pháp vi diệu nghìn thân nan ngộ
Phước nhân thiên muôn thuở khó cầu
Ngày tàn tháng lụn qua mau
Ðắm say trần cảnh vùi đầu tử sinh
Ðây là giờ chuyển kinh vô thượng
Ðây là giờ đọc tụng pháp âm
Lời vàng lý nghĩa cao thâm
Xin chư hiền giả lắng tâm thọ trì (rung bell 3 lần)
Hộ Pháp Chơn Ngôn: (rung bell liên tục đến hết)
Nam mô susidhi tari tari, manda manda svaha (21)
(Nam mô su sít đi tari tari măng đa măng đa xóa ha)
1. Tu Kính Điền: (Bộ Mật Tông page 568)
A. Kiết Kim Cang bộ Tam Muội Da ấn (Bộ Mật Tông, page 425)
Chú: Om , Phạ Nhựt Ra Vật (7)
Tụng rồi xả ấn trên đảnh ( xem giải thích Bộ Mật Tông , page 569)
B. Kiết Kiết Tường ấn (Bộ Mật Tông, page 569)
Chú pháp giới chơn ngôn: Om Ram (21)
C. Chấp hai tay tụng Biến Thực chơn ngôn:
Nẳng mồ tát phạ đát tha,
Nghiệt đa phạt lồ chỉ đế,
Om, tam bạt ra,
Tam bạt ra hùm (21)
4. Kiết Xuất Sanh Cúng Dường ấn: 2 tay chấp lại, 10 ngón ngoài tréo nhau, để trên đảnh đầu.
Xuất Sanh Cúng Dường chơn ngôn: OM (21)
B. Tu Bi Điền (Thí Thực) (Bộ Mật Tông, page 571)
1. Thí thực cho chư Tiên: (Thức ăn chứa trong chén sạch)
Nẳng mồ tát phạ đát tha,
Nghiệt đa phạt lồ chỉ đế,
Om, tam bạt ra,
Tam bạt ra hùm (21)
Tay trái cầm chén đựng đồ cúng, tay mặt kiết Bảo ấn (Ngón tay cái, ngón tay trỏ, ngón giữa, ngón út mở ra , lấy ngón tay vô danh khoáy vào trên đồ ăn Xong ném thức ăn vào dòng nước sạch, tức biến thức ăn thành món ăn mỹ diệu của Thiên Tiên.
2. Thí Thực cho ngạ quỷ (bất cứ lúc nào, thức ăn chứa trong chén sạch, để nước,cơm, bánh… chung vào). Tay trái cầm chén, tay mặt kiết Bảo ấn (Ngón tay cái, ngón tay trỏ, ngón giữa, ngón út mở ra , lấy ngón tay vô danh khoáy vào trên đồ ăn.
2.1 Chấp tay tụng Biến Thực chơn ngôn:
Nẳng mồ tát phạ đát tha,
Nghiệt đa phạt lồ chỉ đế,
Om, tam bạt ra,
Tam bạt ra hùm (7)
Nam mô Đa Bảo Như Lai
Nam m ô B ảo Thắng Nh ư Lai
Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai
Nam mô Quảng Bát Thân Như Lai
Nam mô Ly Bố Úy Như Lai
Nam mô Cam Lồ Vương Như Lai
Nam mô A Di Đà Như Lai (3)
Khảy móng tay 7 lần, dùng tay mặt rải đồ cúng nơi chổ sạch
2.2 Cam Lồ Chơn Ngôn: (1 chén nước sạch)
Nam mô tô rô bá da,
Đát tha nga đa da,
Đát điệt tha.
Om, tô rô, tô rô
Bá ra tô rô, bá ra tô rô,
Ta phạ ha (7)
Dùng tay mặt (dùng 1 cái bông hay búng ngón tay vô danh) rải nước 10 phương.
2.3 Kết Địa Giới ấn: (BMT, 428)Hai tay tréo nhau bên trong, đứng thẳng 2 ngón cái, 2 ngón trỏ và 2 ngón út. Co ngón tay trỏ bên trái như hình móc câu kéo 3 lần, ngón tay cái chỉ xuống đất tức thành. Khi kéo một cái, tụng 1 biến chơn ngôn: (Thanh tịnh địa giới-thẳng xuống thủy tế như Kim cang tòa)
Kết Địa Giới chơn ngôn:
Om, Chuẩn nể nể chỉ, lã giả, ta phạ ha (3)
(Tưởng Hoa sen 8 cánh chứa các tòa báu sư tử có lầu báu, món ăn…)
Dĩ ngã công đức lực. Bởi con sức công đức
Như Lai gia trì lực, Gia trì sức Như Lai,
Cập dĩ pháp giới lực, Cùng do sức pháp giới,
Phổ cúng dường nhi trụ. Khắp cúng dường mà trụ
2.4 Hư Không Tạng ấn: (BMT,431) Hai tay chấp lại, 2 ngón giữa nằm xuống áp chéo lưng nhau. 2 ngón trỏ đụng lại hơi cong như bảo bình. Ấn lưu xuất vô lượng các món cúng dường)
Cúng Dường chơn ngôn ( Hư Không Tạng chơn ngôn)
Om, nga nga nẵng, tam bà phạ, phiệt nhựt ra hộc (3)
2.5 Bảo Xa Lộ ấn: (BMT, 434) Ngón út, vô danh , giữa tréo nhau. 2 ngón trỏ đứng thẳng dụm đầu nhau, 2 ngón cái vịn vào tiết dưới 2 ngón trỏ. (Tưởng xe lớn 7 báu Phật bộ và sứ giả đang đến)
Bảo Xa Lộ chơn ngôn:
Om, đô rô đô rô hùm (3)
2.6 Thỉnh Xa Lộ ấn: (BMT,439)Như Bảo Xa lộ ấn, 2 ngón cái hướng vào thân ,xong xoay lại hai đầu ngón tay giữa. (Phật Bộ và sứ giả trên xe báu hạ xuống đạo tràng.)
Thỉnh Xa Lộ chơn ngôn:
Nẳng ma tất để lị
Dả địa vĩ ca nẫm,
Đát tha nghiệt đa nẫm.
Om. Phạ nhựt tăng nghỉ nể dã,
Yết lị tệ dã
Ta phạ ha.
2.7 Kết ấn Bổn Tôn (Tôn Thắng hay Chuẩn Đề tùy theo buổi lể)
Kết ấn Bổn Tôn rồi, 2 ngón cái hướng vào thân chiêu mời
Chuẩn Đề chơn ngôn: Om. Giả lệ chủ lễ chuẩn nê ế ê duệ hê bà chiến phạ để ta phạ hạ (3) (Bộ Mật Tông, page 441)
Tôn Thắng chơn ngôn: (Quảng Đức.org -Mật Tông)
Om Brum So Ha.
Om Amrita Ayuh Dade Soha. (3)
(Om Ah Hum Tram Hrih
Am Ah Raksia Raksia
Mam Sarva
Satvanamica So Ha.)
2.8 Kết Vi Khiển ấn: (BMT, 443) 10 ngón tay chấp lại co sát tréo nhau, 2 ngón giữa mở thẳng đứng áp vào nhau (Soạn giả:có thể kẹp chày Kim Cang nơi 2 ngón giữa) chuyển ấn theo chiều kim đồng hồ 3 lân.(Các ác quỷ thần chạy xa nơi khác)
Vi Khiển chơn ngôn:
Nẳng mồ tam mãn đa một đà nẫm
Om, hộ rô , hộ rô
Chiến na lị mạ đắng,
Kỳ ta phạ hạ (3)
2.9 Kết Kiết Tường giới ấn: (BMT,444) Theo như Địa Giới ấn trước, co đầu ngón tay mặt, mở đầu ngón tay trái, xoay bên hữu (theo chiều kim đồng hồ) 3 vòng, tuỳ tâm gần xa, tức thành một cái thành Kim Cang kiên cố.
Kiết Tường Giới chơn ngôn:
Om, chuẩn nể nỉnh bát ra, ca ra da, ta phạ ha (3)
2.10 Kết Thượng Phương Võng Giới ấn: (BMT, 445) Như Tường giới ấn ở trước, mở ngữa ra, ngón cái mặt nắm đầu ngón trỏ bên trái, nón cái bên trái nắm đầu ngón trỏ bên mặt, 2 ngón út đứng thẳng như củ. (Phương trên che lưới kim cang kiên cố, các cỏi Trời Tha Hóa Tự Tại không thể làm chướng nạn)
Thượng Phương võng chơn ngôn:
Om, Chuẩn nể nỉnh bán nhạ ta phạ hạ (3)
2.11 Hỏa Viện Phùng Mật ấn: Lấy lòng tay trái đậy tréo lên lưng tay phải. Thẳng đứng 2 ngón cáí tức thành. Tụng chơn ngôn 3 biến xoay ấn theo chiều kim đồng hồ 3 vòng. Tưởng ngoài vách tường kim cang có đại kim cang hỏa diệm vây chung quanh.
Hỏa Viện Phùng Mật chú:
Om. A tam mãn nghỉ nể hùm phấn tra (3)
2.12 Kiết Ứ Già ấn: 2 tay tréo nhau bên trong, dựng 2 ngón tay giữa, đầu ngón dính sát nhau, lấy 2 ngón tay trỏ vịn lưng 2 ngón giữa. 2 ngón cái vịn sát dưới lóng cuối cùng của 2 ngón trỏ tức thành căn bản ấn. Theo như ấn căn bản trước co 2 ngón tay cái vào bàn tay, tức thành Ứ Già ấn. Tụng chơn ngôn ba biến. (Cúng ứ già hương thủy, rửa chân Thánh chúng khiến hành giả 3 nghiệp thanh tịnh. Ứ già hương thủy trở thành thánh thủy, ưống vào trừ các bịnh tật)
Ứ Già chơn ngôn:
Gỉa lễ chủ lễ chuẩn nê
hát kim bát ra để
tha bà nga phạ để
ta phạ ha (3)
2.13 Kiết Liên Hoa Tòa Ấn (BMT, 450)
Từ căn bản ấn, 2 ngón tay cái hướng thân, đứng thẳng, vận tưởng từ ấn nầy, lưu xuất ra vô luợng sư tử tòa, phụng hiến tất cả thánh chúng, mỗi vị đều ngồi.
Liên Hoa Tòa chơn ngôn:
Om, ca ma la ta phạ hạ (3)
Đọc: Xin nguyện Thánh chúng, chổ tòa nầy đả xong, quý Ngài an trụ nơi đạo tràng, thọ sự cúng dường của chúng con.
2.14 Kết Tháo Dục ấn ( BMT, page 452)
Từ căn bản ấn, 2 đầu ngón cái nắm đốt giữa 2 ngón tay giữa tức thành. Tụng chơn ngôn 3 biến. (Ấn lưu xuất muôn đạo hào quang, trong mổi hào quang có vô số bình báu chứa thiên diệu hương thủy rót tắm rửa Thánh chúng và có vô số thiên nhạc cúng dường…)
Tháo Dục chơn ngôn: Om. Giả ta phạ hạ (3)
2.15. Kiết Đồ Hương ấn: Từ căn bản ấn, 2 ngón cái đưa qua mặt ngón trỏ dưới đốt cuối cùng một bên. (Vô lượng quang minh, mổi quang minh có vô lượng hương thoa, hương bột…)
Đồ Hương chơn ngôn: Om. Lễ ta phạ hạ (3)
2.16 Kiết Hoa ấn: (BMT,455)
Từ căn bản ấn, 2 ngón cái đưa qua đốt cuối cùng của 2 ngón trỏ một bên tức thành. (Vô lượng quang minh, mỗi quang minh có vô luợng thiên diệu hoa vân hải)
Hoa ấn chơn ngôn: Om. Chủ ta phạ hạ (3)
2.17 Kiết Thiêu Hương ấn: (BMT, 457)
Từ căn bản ấn, co ngón tay trỏ bên mặt, nắm 2 đầu ngón cái tức thành. (Vô lượng quang minh, mỗi quang minh có vô lượng thiên diệu hương đốt thắp khói như mây che)
Thiêu hương chơn ngôn: Om Lễ ta phạ hạ (3)
2.18 Kiết Ẩm Thực ấn:(BMT,458)(Vô lượng ẩm thực cúng)
Từ căn bản ấn, ngón tay trỏ bên trái nắm 2 đầu ngón cái tức thành.
Ẩm Thực chơn ngôn: Om. Chuẩn ta phạ hạ
2.19 Kiết Đăng ấn: (BMT,462) Từ căn bản ấn, 2 đầu ngón trỏ, mỗi ngón nắm đầu ngón cái.( Vô lượng đèn đuốc như mây bay)
Đăng chơn ngôn: Om. Nê ta phạ hạ
Cúng Dường Mandala (Pháp Giới)
Ấn cúng dường
Om Vajra Bhumi Ah Hum!
Từ nền móng bất hoại đại địa biến thành vàng ròng.
Om Vajra Rekhe Ah Hum!
Bên ngoài là vòng thành Kim Cang Giới.
Nơi trung tâm Mandala là Tu-Di Sơn vương,
Đông Thắng Thần châu, Nam Thiệm Bộ châu,
Tây Ngưu Hóa châu, Bắc Cu Lô châu.
Và các phụ châu: Tịnh Thân châu, Vô Ngưu châu,
Động Chuyển Cao Bộ châu,
Bất Thanh châu, Nguyệt Bất Thanh châu,
Bảo Sơn, Như Ý Mộc, Như Ý Ngưu, Như Ý Điền.
Bảo Luân, Bảo Châu, Bảo Nữ, Bảo Quang, Bảo Tượng, Bảo Mã, Bảo Tướng, Bảo Bình.
Diệu Nguyện Thiên Nữ (Lady of Grace),
Diệu Tràng Thiên Nữ (Lady of Garlands)
Diệu Nhạc Thiên Nữ (Lady of Song),
Diệu Thế Thiên Nữ (Lady of Dance)
Diệu Hoa Thiên Nữ (Lady of Flowwer),
Diệu Trầm Thiên Nữ (Lady of Incence),
Diệu Quang Thiên Nữ (Lady of Lamp),
Diệu Hương Thiên Nữ (Lady of Perfume)
Tám Thiên Nữ cùng tám món báu.
Mặt Trời, Mặt Trăng, Bảo, Lọng, mỗi báu vật thắng hiệu thần kỳ phất phới khắp 10 phương.
Nơi trung tâm vô lượng báu vật của Nhân, Thiên.
Nay con xin cúng dường lên vô lượng Chư Phật, các Bồ Tát, Thánh Chúng, và toàn thể chư vị Lịch Đại Tổ Sư.
Xin các Ngài Từ Bi hoan hỉ chấp nhận những lể vật cúng dường nầy.
Nguyện cho chúng con và tất cả chúng sanh sanh về Cực Lạc Quốc Độ.
Om Gaganam Sambhava Vajra Hoh (21 lần)
Om Idam Guru Ratna Mandalakam Nirya Tayami (3 lần)
Om Mandala Puja Megha Samudra Saparana Samaye Ah Hum (3 lần)
III. Phần Trì Niệm
Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni
(Hai tay kiết ấn Tôn Thắng)
1. Namo Bagabhaté 1. Na mô ba ga pha tê
2. Sarvatadran lokiya 2. Sạt hoa tát răn lô ki da
3. Pradi vitistraya 3. Bơ ra di vi ti sắc tra da
4. Buddhaya bagabhàté 4. Bút đà da, ba ga phê tê
5. Tadyatha! 5. Tát đi da tha!
6. Aum, Bhrum bhrum, bhrum 6. Um, Bút rum, bút rum, bút rum
7. Suddhàya suddhàya 7. Suýt đà da, suýt đà da
8. Visuddhàya visuddhàya 8. Vi suýt đà da, vi suýt đà da
9. Á sàma sàma 9. Á sá ma sá ma
10. Samanta bhàvasad 10.Sa man tá, phạ hoa sát
11. Sabharana gati gagàna 11. Sa phả ra na, ga ti ga gạ na
12. Svabhava visuddhi 12. Xoa phạ hoa, vi suýt đi
13. Á vicanya dumam 13. Á vi chuân da đu măn
14. Survàtathà gadà 14. Sạt hoa tát thá, ga đá
15. Sùgada 15. Sú ga đa
16. Bharà Bhàcanà 16. Pha ra, phạ ca nã
17. Amitá pisàku 17. A mi rị tá, bi sá cu
18.Maha mùdra mandara pana 18.Maha muýt đơ ra,măn đa ra pa na
19. Aum! áhàra áhàra 19. Um! Á hạ ra, á hạ ra
20. Ayusăn dhàrani 20. A du săn, đà ra ni
21. Suddhàya suddhaya 21. Suýt đà da, suýt đà da
22. Gagana Svabhava visuddhi 22.Ga ga na,xoa phạ hoa vi suýt đi
23. Usnisá vicaya visuddhi 23.U sắc ni sá,vi ca da,vi suýt đi
24. Sáhàsara rasami santonité 24. Sá hạ sa ra,ra sa mi,săn tô ni tê
25. Sàrava tatthàgada 2 5. Sa ra hoa, tát thá ga đa
26. Avalokini 26. A hoa lô ki ni
27. Sarvatatthàgada matte 27. Sạt hoa tát thá ga mát tê
28. Sátra paramità 28. Sá tra pá ra mi tá
29. Bari pùrani 29. Ba rị, bủ ra ni
30. Nasà bùmipra dissité 30. Na sá bủ mi bơ ra đi sắc si tê
31. Sàrana tatthagada h’ridhàya 31. Sá ra hoa tát thá ga đa hất rị đà da
32. Dissàna 32. Đi sắc sá na
33. Dissité 33. Đi sắc si tê
34. Aum! Mùdri mùdri maha 34. Um! Muýt đơ ri, muýt đơ ri, mùdri ma ha muýt đờ ri
35. Vajra caya 35. Hoa ri ra, ca da
36. Samhàdanà visuddhi 36. Săn hạ đa nã, vi suýt đi
37. Sàrava kama, bhàrana 37. Sá ra hoa ca ma, phạ ra na, vi suý t đi
38. Para durukati biri visudhi 38. Ba ra đu ri ca ti, bi ri vi suýt đi
39.Pratina varadhàya ayùsuddhi 39. Bơ ra ti na,hoa ra đá da, a dục s uýt đi
40.Samayà dissàna dissité 40. Sam ma dã, đi sắc sá na, đi sắc si tê
41.Aum! mani mani màha mani 41. Um! Ma ni ma ni ma ha ma ni
42. Ámani , ámani 42. Á ma ni, á ma ni
43. Vimani vimani màhà vimani 43. Vĩ ma ni,vĩ ma ni, mạ hạ vĩ ma ni
44. Matdi matdi màhà matdi 44. Mát đi mát đi ma ha mát đi
45. Tatthàdà bùdhà 45. Tát that đá, bủ đa
46. Kuthi virisuddhi 46. Cu thi, vi ri suýt đi
47. Visaphora buddhi visuddhi 47. Vĩ sa phổ ra, bút đi,vi suýt đi
48. Aum! Hyhy 48. Um! Hi hi
49. Jàya jàya 49. Dá ra, dá ra
50. Vijàya vijàya 50. Vĩ dá ra,vĩ dá ra
51. Samara samara 51. Sam ma ra, sa ma ra
52.Sabhàra sabhàra 52. Sa phạ ra, sa phạ ra
53. Sárapha Buddha 53 . Sá ra phạ bút đa
54. Dissàna 54. Đi sắc sá na
55. Dissité 55. Đi sắc si tế
56. Suddhi suddhi 56. Suýt đi suýt đi
57. Vajri vajri mahavajri 57. Họa di ri, họa di ri, ma hạ họa di ri
58. Á vajri 58. Á họa di ri
59. Vajra gabi 59. Họa di ra gạ bi
60. Jàya gàbi 60. Dá ra gạ bi
61. Vijàya gàbi 61. Vĩ dá ra gạ bi
62. Vàjra jvàlà gàbi 62. Họa dir a, rít họa lã, gạ bi
63. Vàjro nagaté 63. Họa di rô, na ga tê
64. Vàjro nabàvé 64. Họa di rô, na bà vê
65. Vàjra sambàvé 65. Họa di ra, sam bà vê
66. Vàjro vàjrina 66. Họa di rô, họa di rị na
67. Vàjram vabhà dumama 67. Họa di rảm, hoa phạ đô mạ mạ
68. Sàriram sàrabhà 68. Sá rị rảm, sá ra phạ, sát ta phạ sattabhànaim năng
69. Tácaya biri visuddhi 69. Tả ca da, bi ri, vi suýt đi
70. S’ya vabhà dumi satna 70. Sất da, hoa phạ đô mi sát na
71. Sàrabhà gati birisuddhi 71. Sá ra phạ, ga ti, bi ri suýt đi
72. Sàrabhà tatthagana s’yami 72.Sá ra phạ,tát tha gạ đa,sất da mi
73. Sàma sabhà sadyantu 73. Sá ma sa phạ, sát dăn tu
74. Sarva tatthagada 74. Sạt va tát tha ga đa
75. Sáma sàbhasa dissité 75. Sá ma sá phạ sa đi sắc si tế
76. Aum! S’diya s’diya 76. Um! sất đi dà, sất đi dà
77. Buddhiya buddhiya 77. Bút đi dà, bút đi dà
78. Vibuddhiya vibuddhiya 78. Vi bút đi dà, vi bút đi dà
79. Boddhàya boddhàya 79. Bồ đà da, bồ đà da
80. Viboddhàya viboddhàya 80. Vi bồ đà da, vi bồ đà da
81. Mocaya mocaya 81 . Mô ca da, mô ca da
82. Vimocaya vimocaya 82. Vi mô ca da, vi mô ca da
83. Suddhàya, suddhàya 83. Suýt đà da, suýt đà da
84. Visuddhàya, visuddhàya 84. Vi suýt đà da, vi suýt đà da
85. Samàntá tatbiri mocaya 85. Sa măn tá, tát bi ri mô ca da
86.Samandhàya sami birisuddhi 86.Sa năm đá da,sa mi,bi ri suýt đi
87. Sàrabhà tatthàgadà samaỳa 87. Sá ra phạ, tát tha ga đa, sam h’ridhàya ma da, hất rị đà da
88. Dissàna dissité 88. Đi sắc sá na, đi sắc si tế
89. Aum! Mùdri mùdri màhà 89. Um! Muýt đờ ri, muýt đờ ri
mùdra mạ hạ muýt đờ ra
90. Mandara pana 90. Mạn đà ra, pá na
91. Dissité 91. Đi sắc si tê
92. Aum! Brum Hùm Svàhà 92. Um! Brum Hùm sóa ha
93. 93. Um! sất ri tray đi vê
94. 94. Sạt va tát tha ga tá
95. 95. Hất rị đà da ga bê
96. 96. Jít vạ lã đạt mạ đà tô ga bê
97. 97. Săn hạ rạ, a du săn, suýt đà da panh bá
98. 98.Sạ t va tát thá ga tá, sa manh tô
99. 99. U sắc ni sá, vi má la, vi suýt dê sóa ha, Brum
IV. Niệm Phật Phát Nguyện
(Quỳ gối chấp tay phát nguyện)
Ngã kim phổ vị tứ ân tam hữu, cập pháp giới chúng sanh, cầu ư chư Phật, nhứt thừa vô thượng Bồ Đề đạo cố, chuyên tâm trì niệm A Di Đà Phật, vạn đức hồng danh, cầu sanh Cực Lạc. Duy nguyện từ phụ A Di đà Phật từ bi gia hộ ai lân nhiếp thọ.(1 lạy)
A Di Đà Phật thân kim sắc,
Tướng hảo quang minh vô đẳng luân
Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di
Cám mục trừng thanh tứ đại hải.
Quang trung hóa Phật vô số ức,
Hóa Bồ Tát chúng diệt vô biên
Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh,
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn
Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi, Tiếp Dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Nam mô A Di Đà Phật (108)
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3)
Nam mô Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát (3)
Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát (3)
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (3)
Nam mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát (3)
Nam mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ tát (3)
Vô Lượng Thọ Như Lai Darani
Ấn Thiền Định
1. Namo ratratrayaya 1. Nam mô rát na tờ da da
2. Namo arya 2. Nam mô a ri da
3. Amitábaya 3. A mi ta bà da
4. Tatthagatáya 4. Tát tha ga ta da
5. Arahati 5. A ra ha ti
6. Samyaksam buddhàya 6. Sam dắt sam bút đà da
7. Tadyatha 7. Tát da tha
8. Aum, Amirti 8. Um, A mi ri ti
9. Amirito nabàvé 9. A mi ri tô na bà vê
10. Amirita gabé 10. A mi ri tá ga bê
11. Amirita suddhé 11. A mi ri tá sút đê
12. Amirita sité 12. A mi ri tá sít tê
13. Amiritá vicalanté 13. A mi ri tá, vi ca lăn tê
14. Amiritá vicalanta gàmini14.A mi ri tá,vica lăn tá,ga mi ni
15. Amiritá gànana 15. A mi ri tá, gà na na
16. Kiti cali 16. Kít ti ca li
17. Amiritá lodo visadhàli 17. A mi ri tá lô dô vi sa phà li
18. Sarvarithá sadhàni 18. Sạt va ri tha sa đà ni
19. Sarva macali 19. Sạt va ma ca li
20. Saksá yùcali 20. Sa khắt sá du ca li
21. Svàhà 21. Sóa ha
22. Aum, Brum Hum 22. Um, Brum Hùm (3 biến)
V. Kỳ Nguyện (Kiết Tam Bộ Ma Da ấn (BMT, 494))
Ngã kim phổ vị tứ ân, tam hữu, cập pháp giới chúng sanh, tất nguyện đoạn trừ tam chướng, chí tâm quy mạng sám hối.
1. Đệ tử… Chí tâm sám hối
Cúi lạy 10 phương Phật
Tôn Pháp hiền thánh tăng,
Tam Thánh cỏi Cực Lạc
Bát Bộ chư hiền thánh
Thảy đều thấy biết con
Đời nầy và đời trước
Con tạo các nghiệp ác
Nay đem tâm chí thành
Phát lồ cầu sám hối.
Nguyện nhờ sức gia trì
Thân tâm được thanh tịnh
Do sám nguyện hôm nay
Mình người được vô cấu
Nam mô Cầu Sám Hối Bồ Tát (3)
2. Đệ tử…chí tâm khuyến thỉnh
Mười phương tất cả Phật
Hiện tại thành chánh giác
Con thỉnh chuyển pháp luân,
An vui cho chúng sanh
Mười phương tất cả Phật,
Sắp muốn nhập Niết Bàn
Con cúi đầu khuyến thỉnh
Xin trụ lâu nơi đời (1 lạy)
3. Đệ tử…chí tâm tuỳ hỉ
Chư Phật trong ba đời
Các Bồ Tát, Thanh Văn
Bậc tu tập tam thừa
Cho đến hàng phàm phu
Có bao nhiêu phước lành
Thí, giới, nhẫn, tinh tấn,
Thiền định, tịnh , trí huệ,
Con đều xin tuỳ hỷ (1 lạy)
4. Đệ tử…chí tâm phát nguyện
Nguyện cho các chúng sanh
Đều phát lòng Bồ Đề
Xa lìa các phiền não
Đặng thành nhất thiết trí.
Lại nguyện nay con tu,
Thập nhị danh lễ sám
Tất cả các nghiệp chướng
Thảy đều được tiêu trừ (1 lạy)
5. Đệ tử…chí tâm hồi hướng
Xin đem công đức tu,
Hạnh trì chú niệm Phật
Sám hối cùng khuyến thỉnh,
Tùy hỷ cập phát nguyện
Phổ thí khắp chúng sanh
Cùng bốn ân ba cỏi
Đều xa lìa các khổ
Thân tâm hằng thanh tịnh
Sanh về cỏi Cực Lạc
Đồng tu Bồ Tát hạnh
Thành tựu đạo Bồ Đề
Nam mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ Tát tác đại chứng minh. (3 lần- 1 lạy)
Ma Ha Bát Nhả Ba La Mật Đa tâm kinh
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhả Ba La Mật Đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách
Xá Lợi Phất” Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệt phục như thị.
Xá Lợi Phất! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhản nhỉ tỷ, thiệt thân ý; vô sắc, thinh hương, vị, xúc ,pháp; vô nhản giới nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệt, vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệt, vô lão tử tận;vô khổ ,tập, diệt , đạo, vô trí diệc vô đắc.
Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề tát đỏa y Bát Nhả Ba La Mật Đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viển ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật y Bát Nhả Ba La Mật Đa cố đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
Cố tri Bát Nhả Ba La Mật Đa, thi đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thương chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thế khổ, chơn thiệt bất hư. Cố thuyết Bát Nhả Ba La Mật Đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết Đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha. Ma Ha Bát Nhả Ba La Mât Đa (3)
Vãng Sanh Quyết Định Chơn Ngôn
Ấn Thiền Định
Nam mô a di đa bà dạ
Đa tha đà đa dạ
Đa địa dạ tha
A di rị đô bà tỳ
A di rị đa tất đam bà tỳ
A di rị đa tì ca lan đế
A di rị đa tỳ ca lan đa
Dà di nị dà dà na
Chỉ đa ca lệ ta bà ha. (3)
VI. Hồi Hướng (Bell giao chử thập với Vajra)
Ngã kim trì chú xưng niệm Phật,
Tức phát Bồ Đề quảng đại nguyện:
Nguyện ngã định huệ tốc viên minh,
Nguyện ngã công đức giai thành tựu
Nguyện ngã thắng phước biến trang nghiêm,
Nguyện cộng chúng sanh thành Phật đạo. (1 lạy)
Quá hiện sở tạo chư ác nghiệp,
Giai do vô thỉ tham, sân, si.
Tùng thân khẩu ý chi sở sanh,
Nhất thiết ngã kim giai sám hối (1 lạy)
Nguyện ngã lâm chung dự tri thời,
Tận trừ nhất thiết chư chướng ngại,
Diện kiến Tây Phương Tam Thánh Tôn,
Tức đắc vãng sanh Cực Lạc quốc. (1 lạy)
Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành. (1 lạy)
Nguyện sanh Tây Phương Tịnh Độ trung,
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu.
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh
Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ (1 lạy)
Nguyện tương dĩ thử thắng công đức,
Hối hướng tứ ân cập tam hữu.
Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh,
Đồng sanh Cực Lạc thành Phật đạo
Nam mô A Di Đà Phật (1 lạy)
Cúng Dường Mandala (Pháp Giới)
Ấn Cúng Dường
Om Vajra Bhumi Ah Hum!
Từ nền móng bất hoại đại địa biến thành vàng ròng.
Om Vajra Rekhe Ah Hum!
Bên ngoài là vòng thành Kim Cang Giới.
Nơi trung tâm Mandala là Tu-Di Sơn vương,
Đông Thắng Thần châu, Nam Thiệm Bộ châu,
Tây Ngưu Hóa châu, Bắc Cu Lô châu.
Và các phụ châu: Tịnh Thân châu, Vô Ngưu châu,
Động Chuyển Cao Bộ châu,
Bất Thanh châu, Nguyệt Bất Thanh châu,
Bảo Sơn, Như Ý Mộc, Như Ý Ngưu, Như Ý Điền.
Bảo Luân, Bảo Châu, Bảo Nữ, Bảo Quang, Bảo Tượng, Bảo Mã, Bảo Tướng, Bảo Bình.
Diệu Nguyện Thiên Nữ (Lady of Grace),
Diệu Tràng Thiên Nữ (Lady of Garlands)
Diệu Nhạc Thiên Nữ (Lady of Song),
Diệu Thế Thiên Nữ (Lady of Dance)
Diệu Hoa Thiên Nữ (Lady of Flowwer),
Diệu Trầm Thiên Nữ (Lady of Incence),
Diệu Quang Thiên Nữ (Lady of Lamp),
Diệu Hương Thiên Nữ (Lady of Perfume)
Tám Thiên Nữ cùng tám món báu.
Mặt Trời, Mặt Trăng, Bảo, Lọng, mỗi báu vật thắng hiệu thần kỳ phất phới khắp 10 phương.
Nơi trung tâm vô lượng báu vật của Nhân, Thiên.
Nay con xin cúng dường lên vô lượng Chư Phật, các Bồ Tát, Thánh Chúng, và toàn thể chư vị Lịch Đại Tổ Sư.
Xin các Ngài Từ Bi hoan hỉ chấp nhận những lể vật cúng dường nầy.
Nguyện cho chúng con và tất cả chúng sanh sanh về Cực Lạc Quốc Độ.
Om Gaganam Sambhava Vajra Hoh (21 lần)
Om Idam Guru Ratna Mandalakam Nirya Tayami (3 lần)
Om Mandala Puja Megha Samudra Saparana Samaye Ah Hum (3 lần)
Kiết Bảo Xa Lộ ấn: (BMT, 493) Từ căn bản ấn, mở 2 đầu ngón giữa ra, đưa 2 ngón cái hướng ra ngoài. Phụng tống Thánh giả trở về bổn cung.
Phụng tống chơn ngôn:
Om. Chiết lệ chủ lệ
Chuẩn nê nghiệt xa nghiệt
xa bà nga phạ
để bà phạ, bà phạ
nẫm bổ noa ra
nga ma na
giả ta phạ hạ
Tự Tam Quy Y
Tự quy y Phật đương nguyện chúng sanh thế giới đại đạo phát vô thượng tâm. (1 lạy)
Tự quy y Pháp đương nguyện chúng sanh thông nhập kinh tạng trí huệ như hải. (1 lạy)
Tự quy y Tăng đương nguyện chúng sanh thống ly đại chúng nhất thiết vô ngại. (1 lạy)
Hoà nam thánh chúng,
Nguyện đem công đức nầy,
Hướng về khắp tất cả,
Đệ tử và chúng sanh đồng trọn thành Phật Đạo.
http://manidrop.blogspot.com/2014/01...la-ni.html?m=1
* DƯỢC-THƯỢNG BỒ TÁT ( 藥上菩薩 / 药上菩薩 / 薬上菩薩 ) = DƯỢC-THÔNG BỒ TÁT ( 薬通菩薩 ) : 梵語 / skt.: भैषज्यसमुद्गत , Bhaisajyaraja-samudgata / Bhaiṣajyasamudgata = Bhaisajyottama
薬通菩薩はこれ古い訳にいう薬上菩 なり。
バァイシャジャサンドガタBhaisajyasamud gataこれサム全てウドガタ上がりたる れば全て上り終えたる、全て渡り終 えたるの義なり。通の義これ通じる 渡る、至る、全て知り尽くすなれば ンドガタこれ通なり。
http://mahavidyanilasaraswati.blogsp...st_13.html?m=1
https://archive.org/stream/mattang/S...ocana_djvu.txt
https://tangthuphathoc.net/kinh-thie...i-huyen-thanh/
https://forsharingknowledge.blogspot...1/002.html?m=1
https://archive.kaskus.co.id/thread/3933370/423#8448
https://www.majalahharmoni.com/artik...va-pranidhana/
https://sutrabuddhablog.wordpress.co...bhaisajyaguru/
https://agama.forumakers.com/t114-bh...hayana-suttram
藥 師 灌 頂 真 言 :
Yao Shi Kuan Tin Cen Yen :
(Mantra abhiseka Bhaisajya Guru)
南 謨 薄 伽 伐 帝 . 鞞 殺 社 窶 魯 . 薛 琉 璃 .
Na Mo Bo Cia Wa Ti . Pi Sa Shi Ci Lu . Pi Liu Li .
砵 喇 婆 . 喝 囉 闍 也 . 怛 他 揭 多 耶 . 阿 囉 喝 帝 .
Bo La Bo . He La Cie Ye . Ta Da Ye Tuo Ye . A La He Ti .
三 藐 三 勃 陀 耶 . 怛 姪 他 . 唵 . 鞞 殺 逝 .
San Miao San Bu Tuo Ye . Ta Zhi Ta . Om . Pi Sa Shi .
鞞 殺 逝 . 鞞 殺 社 . 三 沒 揭 諦 . 娑 訶 .
Pi Sa Shi . Pi Sa Se . San Mo Cie Ti . So Ha .
解 冤 咒 :
Cie Yen Cou :
(Melepaskan simpul musuh)
解 結 解 結 解 冤 結 . 解 了 多 生 冤 和 業 .
Cie Cie Cie Cie Cie Yen Cie . Cie Liao Tuo Sen Yen He Ye .
(Melepaskan simpul, melepaskan simpul, melepaskan simpul musuh. Melepaskan musuh dan karma beberapa kali masa hidup.)
洗 心 滌 慮 發 虔 誠 . 今 對 佛 前 求 解 結 .
Si Sin Ti Lu Fa Jien Jen . Cin Tui Fo Jien Jiu Cie Cie .
(Membersihkan hati mencuci kegelisahan mengembangkan ketulusan. Kini di depan Buddha memohon melepaskan simpul.)
藥 師 佛 . 藥 師 佛 消 災 延 壽 藥 師 佛 .
Yao Shi Fo . Yao Shi Fo Siao Cai Yen Sou Yao Shi Fo .
(Bhaisajya Guru, Bhaisajya Guru pelepas malapetaka memperpanjang umur Bhaisajya Guru.)
隨 心 滿 願 藥 師 佛 .
Sui Sin Man Yen Yao Shi Fo .
(Sesuai dengan hati memenuhi permintaan Bhaisajya Guru.)
消 解 病 咒 :
Siao Cie Pin Cou :
(Mantra Menghilangkan Penyakit)
唵 室 哩 哆 . 室 哩 哆 軍 . 吒 唎 . 莎 婆 訶 .
Om Si Li Tuo . Si Li Tuo Cin . Ca Li . Sa Bo He .
BHAISAJYAGURU TATHAGATASATYAKRIYA
Sumber: Bhaisajyaguru-vaidurya-prabhasa-tathagata-purva-pranidhana Sutra
BHAIṢAJYA-GURU VAIḌŪRYA PRABHASA TATHĀGATĀ ABHISECANI DHĀRAṆĪ
(The Medicine Master Lapis Lazuli Radiant Tathagata Consecration True Words)
[藥師灌頂真言: YAO SHI GUAN DING ZHEN YAN]
Bhaisajya Guru Vaidurya Prabha Raja Abhisecani Dharani
Namo Bhagavate Bhaisajya Guru Vaidurya Prabharajaya Tathagataya Arhate SamyakSamBuddhaya tadyatha Om Bhaisajye Bhaisajye Bhaisajya Samudgate Svaha.
Namo Bhagavate bhaiṣajyaguru
Vaiḍūryaprabharājāya Tathāgatāya
Arhate Samyaksambuddhāya Tadyathā:
Oṃ Bhaiṣajye Bhaiṣajye Mahābhaiṣajya-Samudgate Svāhā.
NAMO BHAGAVATE BHAISAJYAGURU VAIDURYAPRABHARAJAYA TATHAGATAYA ARHATE SAMYAKSAMBUDDHAYA. TADYATHA: OM BHAISAJYE BHAISAJYE BHAISAJYA SAMUDGATE. SVAHA.
(Dharani ini bermanfaat untuk memusnahkan segala malapetaka, penyakit parah, serta memperpanjang usia kehidupan umat yang membacanya dengan hati tulus. Sumber : Bhaisajyaguru – vaidurya – prabhasa – tathagata – purva – pranidhana Sutra).
汉字及汉语拼音注音
Paritta Maha Dharani dari Bhaisajya Guru Buddha
藥 師 灌 頂 真 言 :
YAO SHI KUAN TIN CEN YEN :
( Mantra Abhiseka Bhaisajya Guru )
nā mó bó qié fá dì。pí shā shè。jù lǔ bì liú lí。
南谟薄伽伐帝。鞞杀社。窭噜薛琉璃
bō lá pó。hé là shé yě。dá tuō jiē duō yě。
钵喇婆。喝啰阇也。怛他揭多也。
ā là hē dì。sān miǎo sān bó tuó yě。dá zhí tuō。
阿啰喝帝。三藐三勃陀耶。怛侄他。
ān。pí shā shì。pí shā shì。pí shā shè。sān mó jiē dì suō hē。
唵。鞞杀逝。鞞杀逝。鞞杀社。三没 帝莎诃。
南 謨 薄 伽 伐 帝 . 鞞 殺 社 . 窶 嚕 薜 琉 璃 .
NA MO BO CIA WA TI . PI SA SHI . CI LU PI LIU LI .
缽 喇 婆 . 喝 囉 闍 也 . 怛 他 揭 多 耶 . 阿 囉 喝 帝 .
PO LA BO . HE LA CE YE . TA DA YE TUO YE . A LA HE TI .
三 藐 三 勃 陀 耶 . 怛 姪 他 . 唵 . 鞞 殺 逝 .
SAN MIAO SAN BU DUO YE . TA ZHI TA . OM . PI SA SHI .
鞞 殺 逝 . 鞞 殺 社 . 三 沒 揭 帝 娑 訶 .
PI SA SHI . PI SA SE . SAN MO CIE TI SO HA .
6. 药师灌顶真言 (YAU SE KUAN TING CENG YEN)
南谟薄伽伐帝。鞞杀社。窭噜薛琉璃 钵喇婆。喝啰阇也。怛他揭多也。阿 喝帝。三藐三勃陀耶。怛侄他。唵。 鞞杀逝。鞞杀逝。鞞杀社。三没揭帝 诃。
NA MO PO CHIE FA TI 。 PHI SA SE 。 CI LU PI LIU LI 。 PO LA PHO 。 HE LA SE YE 。 TA THA CIE TUO YE 。 O LA HE TI 。 SAN MIAU SAN PO THUO YE 。 TA CE THA 。 OM 。 PHI SA SE 。 PHI SA SE 。 PHI SA SE 。 SAN MO CIE TI SA HO 。
https://forsharingknowledge.blogspot...uddha.html?m=1
http://mantrapahalabuddhapengobatan.....com/2013/?m=1
http://88buddha.blogspot.com/2012/06...-guru.html?m=1
https://agama.forumakers.com/t114-bh...hayana-suttram
https://www.dharmawheel.net/viewtopic.php?t=235
http://www.buddhamountain.ca/Ten_Small_Mantras.php
http://koleksikoin.blogspot.com/2011...endek.html?m=1
https://thebuddhistmantra.blogspot.c...-dasa.html?m=1
. Ratna-Candana-Kusuma Bodhisattva: Bảo-Đàn-Hoa Bồ Tát
. Apavarga Bodhisattva: Cứu-Thoát Bồ Tát
. Suryaprabhasana: Nhật-Quang Biến-Chiếu Bồ Tát
. Candraprabhasana: Nguyệt-Quang Biến-Chiếu Bồ Tát
. Jenderal Sandilam: San-Để-La Đại Tướng
https://books.google.com.vn/books?id...ottama&f=false
http://88buddha.blogspot.com/2012/06...-guru.html?m=1
KINH DƯỢC SƯ
( Bằng PHẠN-VĂN )
http://homepage.ntu.edu.tw › ...PDF
梵 《藥師經》研讀
藥師灌頂真言(bhaiṣajya-guru-dhāraṇī):. 1 namo bhagavate bhaiṣajya-guru-vaiḍūrya-prabha-rājāya tathāgatāya arhate samyak- saṃbuddhāya. tad-yathā
Hibakara (畢婆 迦羅).
Thập Nhị Dược Xoa Đại Tướng
(十二藥叉大將): 12 vị Dược Xoa Đại Tướng, còn gọi là Dược Sư Thập Nhị Thần Tướng (藥師十二神將), Thập Nhị Thần Vương (十二神王), Thập Nhị Thần Tướng (十二神將), là quyến thuộc của đức Phật Dược Sư, những vị phát nguyện hộ trì người nào trì tụng Dược Sư Kinh. Đôi khi họ cũng được xem như là phân thân của Phật Dược Sư để hộ trì 12 lời nguyện của Ngài. Như trong Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh (藥師瑠璃光如來本願功德經) có nêu rõ tên của 12 vị Đại Tướng này, gồm:
(1) Cung Tỳ La (s: Kumbhīra, 宮毘羅), còn gọi là Kim Tỳ La (金毘羅), ý dịch là Cực Úy (極畏); thân màu vàng, tay cầm cây chày báu, thuộc chi Hợi, lấy Bồ Tát Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒) làm bản địa.
(2) Phạt Chiết La (s: Vajra, 伐折羅), còn gọi là Bạt Chiết La (跋折羅), Hòa Kì La (和耆羅), ý dịch là Kim Cang (金剛), thân màu trắng, tay cầm kiếm báu, chi Tuất, lấy Bồ Tát Đại Thế Chí (s: Mahāsthāmaprāpta, 大勢至) làm bản địa.
(3) Mê Xí La (s: Mihira, 迷企羅), còn gọi là Di Khư La (彌佉羅), ý dịch là Chấp Nghiêm (執嚴), thân màu vàng, tay cầm cây gậy báu hay Độc Cô (獨鈷), chi Dậu, lấy Phật A Di Đà (s: Amitābha; 阿彌陀佛) làm bản địa.
(4) An Để La (s: Aṇḍīra, 安底羅), còn gọi là Át Nễ La (頞儞羅), An Nại La (安捺羅), An Đà La (安陀羅); ý dịch là Chấp Tinh (執星), thân màu xanh, tay cầm chùy hay hạt châu báu, chi Thân, lấy Bồ Tát Quan Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音) làm bản địa.
(5) Ngạch Nễ La (s: Anila, 額儞羅), còn gọi là Mạt Nhĩ La (末爾羅), Ma Ni La (摩尼羅), ý dịch là Chấp Phong (執風), thân màu hồng, tay cầm cây xoa báu hay cái nỏ, chi Mùi, lấy Bồ Tát Ma Lợi Chi (摩利支) làm bản địa.
(6) San Để La (s: Śaṇḍila, 珊底羅), còn gọi là Ta Nễ La (娑儞羅), Tố Lam La (素藍羅); ý dịch là Cư Xứ (居處); thân màu khói lam, tay cầm bảo kiếm hay vỏ sò; chi Ngọ, lấy Bồ Tát Hư Không Tạng (s: Ākāśagarbha, 虛空藏) làm bản địa.
(7) Nhân Đạt La (s: Indra, 因達羅), còn gọi là Nhân Đà La (因陀羅); ý dịch là Chấp Lực (執力), thân màu hồng, tay cầm côn báu hay cái mâu, chi Tỵ, lấy Bồ Tát Địa Tạng (s: Kṣitigarbha, 地藏) làm bản địa.
(8) Ba Di La (s: Pajra, 波夷羅), còn gọi là Bà Da La (婆耶羅); ý dịch là Chấp Ẩm (執飲); thân màu hồng, tay cầm chùy báu hay cung tên, chi Thìn, lấy Bồ Tát Văn Thù (s: Mañjuśrī, 文殊) làm bản địa.
(9) Ma Hổ La (s: Mahoraga, 摩虎羅), còn gọi là Bạc Hô La (薄呼羅), Ma Hưu La (摩休羅); ý dịch là Chấp Ngôn (執言); thân màu trắng, tay cầm búa báu, chi Mão; lấy Phật Dược Sư (s: Bhaiṣajyaguru, 藥師) làm bản địa.
(10) Chơn Đạt La (s: Kinnara, 眞達羅), còn gọi là Chơn Trì La (眞持羅); ý dịch là Chấp Tưởng (執想); thân màu vàng, tay cầm cây Quyên Sách (羂索) hay gậy báu, chi Dần; lấy Bồ Tát Phổ Hiền (s: Samantabhadra, 普賢) làm bản địa.
(11) Chiêu Đỗ La (s: Catura, 招杜羅), còn gọi là Chiêu Độ La (招度羅), Châu Đỗ La (朱杜羅), Chiếu Đầu La (照頭羅); ý dịch là Chấp Động (執動); thân màu xanh, tay cầm chùy báu; chi Sửu, lấy Bồ Tát Kim Cang Thủ (金剛手) làm bản địa.
(12) Tỳ Yết La (s: Vikarāla, 毘羯羅), còn gọi là Tỳ Già La (毘伽羅); ý dịch là Viên Tác (圓作), thân màu hồng; tay cầm vòng tròn báu; chi Tý, lấy Phật Thích Ca Mâu Ni (s: Śākyamuni, p: Sakyamuni, 釋迦牟尼) làm bản địa.
Cho nên, 12 vị Thần Tướng này cũng là tên gọi của Kinh Dược Sư như trong Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh cho biết rằng: “Thử pháp môn danh thuyết Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức, diệc danh thuyết Thập Nhị Thần Tướng Nhiêu Ích Hữu Tình Kết Nguyện Thần Chú, diệc danh Bạt Trừ Nhất Thiết Nghiệp Chướng (此法門名說藥師琉璃光如來本願功德 亦名說十二神將饒益有情結願神咒、 亦名拔除一切業障, pháp môn này có tên là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức, cũng gọi là Thập Nhị Thần Tướng Nhiêu Ích Hữu Tình Kết Nguyện Thần Chú, cũng gọi là Bạt Trừ Nhất Thiết Nghiệp Chướng).”
http://anphat.org/dictionary/detail/...oa-dai-tuong/1
https://phatgiao.org.vn/tu-dien-phat...17.html?keys=t
( 千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大 心陀羅尼經 )
我遣畢婆伽羅王。
我遣毕婆伽罗王。
畢婆伽羅王 / 毕婆伽罗王
畢婆伽羅 / 毕婆伽罗
KINH THIÊN THỦ THIÊN NHÃN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT QUẢNG ĐẠI VIÊN MÃN VÔ NGẠI ĐẠI BI TÂM ĐÀ LA NI ( KINH ĐẠI BI TÂM ĐÀ RA NI )
Ta sai Tất Bà Dà La Vương (41), / Ta sai Tất-bà Già-la Vương / Ta sai Tất Bà Già La Vương
(41) Tất bà già la vương: tức là thọ thần vương, vị thần làm chủ các loài cây.
畢婆伽羅王 / 毕婆伽罗王 ( Markada-raja ) : Tất Bà Dà La Vương / Tất-bà Già-la Vương / Tất Bà Già La Vương
畢婆伽羅 / 毕婆伽罗 ( BHIPAGARA / VIBHAKARA / HIBAKARA )
=) THỤ-THẦN VƯƠNG CHƠN NGÔN / THỌ-THẦN VƯƠNG CHƠN NGÔN ( 樹神王真言 / 树神王真言 ) = VUA THẦN-CÂY CHƠN NGÔN / THẦN CHÚ CỦA VUA CÁC LOÀI CÂY :
NAMO RATNATRAYAYA: OM HIBAKARA SVAHA
http://www.drbachinese.org/online_re...araniSutra.htm
http://xhsr.fosss.org/sutra_explanat...araniSutra.htm
https://www.niemphat.vn/kinh-dai-bi-tam-da-ra-ni/
https://daitangkinh.net/?f=Kinh-Thie...i-Tam-Tong-Tri
https://tangthuphathoc.net/kinh-thie...i-huyen-thanh/
https://www.niemphat.com/kinhdien/en...ranisutra.html
http://mahavidyanilasaraswati.blogsp...st_13.html?m=1
https://books.google.com.vn/books?id... svaha&f=false
https://www.butsuzou.com/jiten/8busyu.html
http://www.buddhism-dict.net/ddb/ind...ead-ja-hb.html
https://religion-eikyou.wixsite.com/...study-s-step-4
https://kinhsach.chuakhainguyen.com/...Loc-2&m=awviet
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...-Pháp/page12
* CHÚ CÚNG DƯỜNG NƯỚC CHO CHƯ PHẬT, CHƯ BỒ TÁT, CHƯ THÁNH TĂNG:
OM AMRTE HUM PHAT ( 3 lần )
https://online.pubhtml5.com/wvhg/kpqz/#p=11
https://pubhtml5.com/wvhg/kpqz/basic
南無樹神王。
NA MÔ THỌ-THẦN VƯƠNG / NA MÔ THỤ-THẦN VƯƠNG
南無樹神王尊天。
NA MÔ THỌ-THẦN VƯƠNG TÔN THIÊN / NA MÔ THỤ-THẦN VƯƠNG TÔN THIÊN
南無樹神王尊菩薩。
NA MÔ THỌ-THẦN VƯƠNG TÔN BỒ TÁT / NA MÔ THỤ-THẦN VƯƠNG TÔN BỒ TÁT
南無樹神王尊天菩薩。
NA MÔ THỌ-THẦN VƯƠNG TÔN THIÊN BỒ TÁT / NA MÔ THỤ-THẦN VƯƠNG TÔN THIÊN BỒ TÁT
https://m.facebook.com/Hoihoangphapg...&locale2=vi_VN
南無福德活佛 (財神菩薩)
http://www.jdwkco.co/草屯慈德宮/
" 光世音"( Abhalokasvara )
* abhalokasvara (“the sound of the world of light”)
* Kuang-shih-yin (“Abhalokasvara,” Sound-Illuminator of the World).
QUANG Thế Âm ( 光世音 / Abhalokasvara )
BỒ TÁT QUÁN ÂM
Vị Bồ Tát Chuyên Cứu Khổ Cứu Nạn
Một trong những bộ kinh quan trọng tuyên xưng vai trò của Bồ Tát Quán Âm là kinh Pháp Hoa. Bộ kinh này đã được dịch sang Hán văn cả thảy sáu lần trong đó ba dịch bản vẫn còn tồn tại đến bây giờ. Năm 1992 nhà học giả Nhật Bản Karashima Seishi đã đem đối chiếu những bản dịch Hán Văn này với nguyên bản Phạn ngữ và những bản dịch Tạng văn. Bản dịch đầu tiên là của ngài Đàm Ma La Sát, người xứ Nhục Chi, vào năm 286 mang tựa đề là Chánh Pháp Hoa Kinh. Phẩm thứ 23 của bộ kinh này có tên là Phổ Môn dành riêng để nói về Bồ Tát Avalokitesvara, dưới danh hiệu là Quang Thế Âm (Abhalokasvara). Đây là vị Bồ Tát chuyên cứu khổ ban vui, có năng lực cứu vớt con người ra khỏi bảy khổ nạn, giải phóng họ ra khỏi tam độc tham, sân, si cũng như giúp những người sinh đẻ hiếm muộn được toại nguyện khi muốn cầu xin con trai hay con gái.
Cảnh giới của Quang Thế Âm là vô cùng vô tận vì ở đó có đầy đủ năng lực siêu phàm của Bồ Tát. Bởi Ngài tràn đầy ánh sáng (quang), do nhân duyên đó mà có tên gọi là Quang Thế Âm.
Bản dịch Pháp Hoa đầu tiên này đã cho thấy một điều rất rõ rằng nghe và niệm đến danh hiệu của Bồ Tát là lý do chính để những người tin vào Ngài sẽ được cứu độ và vì Bồ Tát có liên hệ rất mật thiết với ánh sáng, thế nên Ngài đã được gọi là “Quang Thế Âm”. John Holt trong “Buddha in the Crown” đã đưa ra nhận xét rằng, một trong những nét đặc trưng nổi bật trong các kinh điển nói về Bồ Tát Avalokitesvara là biểu tượng ánh sáng. Mối quan hệ giữa Bồ Tát và “âm thanh” đã không được đề cập đến. Honda Yoshihide đã đưa ra một luận cứ khả tín rằng danh hiệu Quang Thế Âm có ý nghĩa tương tự như “Tiên Âm Sanh”. Ðây là danh hiệu của một vị Bồ Tát tương ứng với Bồ Tát Avalokitesvara trong Phóng Quang Bát Nhã kinh do nhà sư xứ Vu Ðiền, Vô La Xoa (Moksala), dịch vào năm 291, năm năm sau bộ Chánh Pháp Hoa kinh. Trong cả hai bộ kinh đều có đề cập đến việc Bồ Tát phóng quang hoặc giải thoát thế gian thông qua ngôn ngữ hoặc âm thanh vi diệu. Âm thanh mang năng lực giải thoát là một phẩm chất đặc biệt của Bồ Tát không phải là loại “âm thanh” thông thường thốt ra bởi những than thở khổ đau của nhân thế.
Sau đây là đoạn kinh văn liên hệ đến danh hiệu Bồ Tát:
Phật bảo ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát: " Nếu có chúng sanh đối diện với vô lượng trăm nghìn muôn ức các khổ não, hoạn nạn, nghe đến danh hiệu Quang-Thế-Âm Bồ-Tát tức thì liền được giải thoát, xa rời mọi khổ nạn. Do nhân duyên đó mà gọi là Quang-Thế-Âm.
Nếu có người nhớ tưởng đến danh hiệu Quang-Thế-Âm Bồ-Tát này, dầu rớt vào trong biển lửa lớn, phủ trùm hết thảy đồi núi ruộng đồng, đốt cháy hết rừng bụi, nhà cửa, ngọn lửa kia sẽ chẳng cháy được khi y nghe đến danh hiệu Bồ-Tát Quang Thế Âm.
Nếu có người đi vào sông lớn, đang kinh hoàng trước giòng cuồng lưu chảy xiết, khi niệm đến danh hiệu Quang Thế Âm này và nhất tâm tìm về nương tựa vào Bồ Tát, năng lực siêu phàm của Ngài liền cứu giúp cho khỏi chìm đắm và đưa đến nơi chốn an toàn.
Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm san-hô, hổ-phách, trân châu các thứ báu… vào trong biển lớn, giả sử gió lớn thổi ghe thuyền của kia sắp bị nhận chìm bởi quỉ La-sát, trong ấy nếu có nhẫn đến một người thầm nghĩ đến năng lực của Bồ Tát và xưng danh hiệu của Ngài, thì các người đó đều được thoát nạn. (Ðoạn tiếp theo mô tả năng lực của Bồ Tát cứu độ con người ra khỏi các ác nạn: Gió bảo, khí giới, quỷ mị, tù đày, và đạo tặc, tất cả đều do niệm đến danh hiệu của Bồ Tát).
http://lecongda.20fr.com/main.htm
http://lecongda.20fr.com/BoTatQuanTheAm2.htm
ĐI VÀO BẢN NGUYỆN DƯỢC SƯ
Chùa A Di Đà | 1/11/2016 | 0 Bình luận
Trong Phật giáo nói chung, và Phật giáo ở Tây Tạng nói riêng, việc hành trì phương pháp phát triển theo đức Phật Dược Sư, đấng chúa tể chữa lành mọi vết thương, không chỉ là một phương pháp rất mạnh mẽ để chữa lành bệnh tật
1/Phẩm cách Dược sư
Thế gian luôn bị nhận chìm trong sự nguy hiểm, con người luôn bị phủ vây bởi những căn bệnh trầm kha, thấp hèn và đê tiện của cuộc đời, cho nên hình ảnh một vị Phật lý tưởng, một phẩm tính phổ quát có năng lực chữa lành những căn bệnh hiểm nghèo, vớt thế gian ra khỏi lầy sinh tử, cần được xuất hiện “vì thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho phần đông, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và nhân loại”. Đó là phẩm cách Dược Sư, lý tưởng chữa lành nỗi khổ niềm đau cho nhân loại.
Dược Sư, là danh hiệu đọc theo tiếng Hán, nguyên ngữ Sanskrit gọi là Bhaiṣajya-guru-vaiḍūrya-prabhā-rāja, hay ngắn gọn hơn: Bhaiṣajyaguru, chúng ta có thể tìm hiểu về ngữ học của danh hiệu này như sau:
Từ Bhaiṣajyai: có nghĩa là thuốc chữa bệnh, có năng lực trị bệnh; khi dùng như động từ có nghĩa chữa bệnh, hay chữa lành vết thương, v.v.. tiếng Anh dịch là curativeness, healing efficacy; Guru: đạo sư, bậc Thầy, vị hướng dẫn;vaiḍūrya: tên một loại ngọc quý, Hán dịch là lưu ly để chỉ cho thể tính trong suốt, không váy bẩn của loại ngọc này;prabhā: do thành lập từ động từ căn pra-√bhā: chiếu rọi, soi sáng, rực rỡ… Cho nên prabhā: tinh diệu, sáng tỏ, huy hoàng, ánh sáng chói lọi, v.v.. Anh dịch là light, splendour, radiance; Và rāja: có nghiã vua, chúa tể, thủ lãnh, quốc vương, Anh dịch là Kings. Vậy thì, Bhaiṣajya-guru-vaiḍūrya-prabhā-rāja có nghĩa là ‘Vị vua của các thầy thuốc và phẩm tính tinh diệu như ngọc lưu ly’ hay khác hơn “Vị thầy có năng lực chữa lành vết thương và chứng nghiệm thể tính sáng trong như ngọc lưu ly’, Hán dịch là ‘Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai’, Anh dịch là ‘King of Medicine Master and Lapis Lazuli Light’.
Hình ảnh của đức Phật Dược Sư thường được thể hiện dưới hình thức một vị Phật như kinh điển mô tả: tay cầm một lọ nhỏ chứa thuốc cam lồ, và trong một số truyền bản, ngài còn được nói là có làn da màu xanh. Mặc dù ngài cũng được xem là một vị thượng thủ của phương Đông, nhưng trong hầu hết các kinh điển đức Phật Akshobhya (A-súc-bệ) mới là người giữ vị trí thượng thủ đó. Cho nên, ở đây điều này thuộc vào trường hợp đặc biệt cần nên lưu ý.
2/ Văn bản kinh Dược Sư
Danh hiệu Sanskrit này, hiện nay vẫn còn đọc được ở trong nguyên bản Sanskrit của kinh Dược Sư, nhan đề là:Bhaiṣajyaguruvaidūryaprabharājasūtram, được lưu giữ trong Buddhist Sanskrit Texts No. 17, Mahāyāna-sūtra-saṁgrahaḥ (part 1)[1]; bản Sanskrit này cũng được tìm thấy ở trong Gilgit Manuscript do Dutta và Nalinaksa biên tập[2].
Bản Sanskrit thứ 2 của kinh Dược Sư, nhan đề là Bhaiṣajyagrurvaiḍūryaprabhātathāgata-sūtra, trong bản này pha tạp nhiều thổ ngữ sogdian, thường được gọi là tiếng Xôcđiana, được sử dụng bởi người Iran, và một bận phận người Xôcđiana ở Trung á; bản này do Benveniste biên tập, xuất bản lần đầu năm 1940[3], có tham khảo tư liệu của David A. Utz[4].
Bản dịch tương đương bằng tiếng Tây Tạng của kinh Dược sư, tựa đề là: འཕགས་པ་བཅོམ་ལྡན་ དས་སྨན་གྱི་བླ་བེ ་ཌཱུརྱའི་འོད་ཀྱི ་སྔོན་གྱི་སྨོན་ལ ་གྱི་ཁྱད་པར་རྒྱས པ་ཞེས་བྱ་བ་ཐེག་པ ་ཆེན་པོའི་མདོ Ḥphags-pa bcom-ldan-ḥdas sman-gyi bla-bai-ḍūryaḥi ḥod-kyi sṅon-gyi smon-lam-gyi khyad-par rgyas-pa shes-bya-ba theg-pa chen-poḥi mdo: Thánh Bạc-già-phạm Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Sai Biệt Quảng Đại Đại Thừa Kinh (聖薄伽梵藥師毗琉璃光本願差別 大大乘經), được lưu trữ trong Đại Tạng Kinh Tây Tạng, thông trật đệ 87Da, No.504, trang 274a1-283b7[5]. Được dịch bởi dịch sư Tây Tạng: Ye-śes sde và các dịch sư Ấn độ: Jinamitra, Dānasīla, và Śīlendrabodhi. Căn cứ theo đề kinh trong bản dịch Tây Tạng, có thể khôi phục đề kinh Sanskrit như sau: ‘Ārya-bhagavato bhaiṣajyaguruvaiḍūryaprabhasya pūrvapraṇidhānaviśeṣavistāra-nāma-mahāyānasūtra’.
Hán văn của Kinh Dược Sư, hiện còn bảo tồn trong Taishō Tripiṭaka (Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh), hiện có bốn bản dịch:
- Taisho14, số hiệu 449: Phật thuyết Dược Sư Như Lai Bổn Nguyện kinh 佛說藥師如來本願經, đời Tuỳ, ngài Dharmagupta (Đạt-ma Cấp-đa) dịch năm 615 Tây lịch[6].
-Taisho 14, số hiệu 450: Phật thuyết Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức kinh藥師琉璃光如來本願功德經, Đại Đường, Huyền Trang dịch năm 650 Tây lịch[7].
- Taisho 14, số hiệu 451: Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức kinh 藥師琉璃光七佛本願功德經, 2 quyển, Đại Đường, Nghĩa Tịnh dịch vào năm 707, tại nội tự Phật Quang[8].
-Taisho 21, số hiệu 1331: Phật thuyết Quán Đảnh Bạt Trừ Quá Tội Sanh Tử Đắc Độ Kinh quyển đệ thập nhị 佛說灌頂拔除過罪 生死得度經卷第十 二 , Đông Tấn, Thiên Trúc Tam Tạng Bạch-thi-lê-mật-đa-la dịch, tức quyển thứ 12 củaPhật thuyết Quán Đảnh kinh 佛說灌頂經.[9]
Kinh Dược Sư, cũng được dịch qua tiếng Anh và tiếng Pháp. Có thể thấy các bản dịch tiếng Anh như sau:
- Liebenthal, Walter dịch từ bản Hán của Huyền Trang (T14n0450), tựa đề: The Sutra of the Lord of Healing(Bhaishajyaguru Vaiduryaprabha Tathagata): Kinh Chúa tể chữa lành vết thương[10].
- Sen, S. dịch tựa đề: Two medical texts in Chinese translations, Hai văn bản Dược Sư Trong các bản dịch Trung Quốc[11].
- Birnbaum, Raoul, nhan đề: The Lapis Lazuli Radiance Buddha, Master of Healing: A Study in Iconography and Meaning, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Phật, Vị Thầy Chữa Bệnh: Một nghiên cứu mô tả bằng tranh vẽ và ý nghĩa. Luận án Ph.D. (tiến sĩ) của Columbia University (New York), 1976. Trong luận án đó dịch đầy đủ các bản T14n0450, T14n0451, T20n1161 và Tự phần của T14n0449 sau đó được xuất bản với tựa đề Birnbaum, Raoul:The Healing Buddha, Shambala, 1979. (Luận văn này cũng được dịch sang tiếng Đức: Birnbaum, Raoul: Der heilende Buddha - Heilung und Selbstheilung im Buddhismus. Bern/München/Wien: Otto Wilhelm Barth, 1982.)
- Hsing Yun, tựa đề: The Sutra of the Medicine Buddha with an Introduction, Comments and Prayers, Kinh đức Phật Dược Sư, giới thiệu, chú giải và cầu nguyện[12].
- Bản dịch tiếp theo được hiệu đính bởi Shen Shou-Liang, dịch bởi các vị: Chow Su-Chia, v.v.. tựa đề: The Sutra of the Master of Healing.
-Bản dịch được chú ý hơn hết, vì dịch từ nguyên bản Sanskrit, là bản dịch của Dutt, Nalinaksha (ed.), tồn trữ trongGilgit Manuscripts. Vol. I.[13]
Ngoài ra hiện tìm thấy một bản dịch tiếng Pháp có thể là duy nhất và sớm nhất của Kinh Dược Sư, tựa đề: Le Bhaiṣajyaguru, dịch bởi Pelliot, Paul[14].
3/ Bản nguyện Dược Sư
a/Xuất xứ đại nguyện
Phật Dược Sư được giới thiệu và mô tả trong kinh Bhaiṣajyagrurvaiḍūryaprabhātathāgata, mà chúng ta có thể đọc được nguyên bản Sanskrit hiện còn đầy đủ, hay đọc qua bản Hán dịch của Huyền Trang, thường được gọi là KinhDược Sư. Khi ngài còn là một vị Bồ-tát, đã phát lập 12 đại nguyện.
Khi ngài chứng nghiệm sự cao tuyệt của giác ngộ viên mãn, ngài đã trở thành đức Phật thượng thủ của tịnh độ đông phương, với thể tính “Vaiḍūryanirbhāsa”: “Sáng trong không váy bẩn như ngọc lưu ly”[15]. Tại quốc độ đó, ngài có hai vị Bồ-tát ‘chỉ còn bị trói buộc bởi một lần tái sinh’ (Nhất sinh sở hệ= Nhất sinh bổ xứ), tượng trưng cho ánh sáng của mặt trời và ánh sáng của mặt trăng:
Một là, Bồ-tát Suryaprabha: Sự soi chiếu cùng khắp như ánh sáng của mặt trời, Hán dịch là Nhật Quang Biến Chiếu.
Hai là, Bồ-tát Candraprabha: Sự soi chiếu cùng khắp như ánh sáng của mặt trăng, Hán dịch là Nguyệt Quang Biến Chiếu.
Thủ bản Sanskrit của kinh Bhaiṣajyagrurvaiḍūryaprabhātathāgata đã được phát hiện, là một trong những văn bản chứng thực sự phổ biến của tín ngưỡng Phật Dược Sư tại vùng tây bắc Ấn Độ, mà xưa kia là Gandhāra[16]. Thủ bản này, được xác định niên đại hình thành vào khoảng trước thế kỷ thứ VII Tây lịch, và được viết trên các trụ đá Gupta[17].
Huyền Trang, một nhà hành giả và chiêm bái “vô tiền khoáng hậu” của Phật giáo Trung Quốc, đã đến thăm một tu viện thuộc hệ phái Mahāsāṃghika (Đại chúng bộ) tại Bamiyan, Afghanistan, vào khoảng thế kỷ thứ 7, hiện nay vị trí chính xác của tu viện này đã được phát hiển bởi nhà khảo cổ học[18]. Nhiều thủ bản kinh điển Đại thừa được viết trên các đoạn phiến trên vỏ cây bu-lô (Birchbark) đã được phát hiện tại khu vực này, bao gồm cả thủ bản Sanskrit của kinhDược Sư: Bhaiṣajyagrurvaiḍūryaprabhātathāgata-sūtra (MS 2385)[19].
b/Toát yếu 12 lời nguyện theo bản Sanskrit
1.Chiếu sáng vô số quốc độ với sự rạng ngời của ngài, và nhiếp hộ cho bất cứ ai muốn trở thành một vị Phật giống như ngài.
2. Đánh thức tâm trí của chúng sinh thông qua ánh sáng như ngọc lưu ly của ngài.
3. Cung cấp cho chúng sanh bất cứ phẩm vật gì mà họ cần phải có.
4. Chỉ rõ và chuyển hoá những quan điểm sai lầm, hay nhận thức chủ quan và khơi nguồn cảm hứng cho chúng sinh về chí hướng khởi hành trên con đường Bồ-tát.
5. Hướng dẫn dìu dắt chúng sinh làm theo các điều khoản phẩm cách đạo đức, thậm chí nếu họ đã huỷ phạm trước đó.
6. Chữa lành cho những chúng sinh đã sinh ra mà bị dị tật, bệnh hoạn, hoặc những khổ đau khác về thể xác.
7. Xoa dịu, an ủi vỗ về những người khốn khổ, những người bị bệnh tật phủ vây.
8. Giúp đỡ những người phụ nữ có ước muốn được chuyển sinh làm đàn ông, để họ đạt được sự chuyển sinh như mong muốn.
9. Chữa lành những phiền não nhiễm ô, các ảo tưởng, hay những ‘tri giác bị lộn ngược’.
10. Giúp đỡ những người bị áp bức được tự do, thoát khỏi đau khổ.
11. Làm giảm thiểu những người bị nạn đói khủng khiếp và những cơn khát cháy bỏng.
12. Hỗ trợ y phục cho những người nghèo hèn túng khổ, bị lạnh buốt và muỗi mòng cắn đốt.
c/ Dharani và Mantra
Trong kinh Bhaiṣajyagrurvaiḍūryaprabhātathāgata, đức Phật Dược Sư, được mô tả là thể nghiệm vào trạng thái thiền định gọi là "loại trừ tất cả những đau khổ và phiền não của chúng sinh." Từ trạng thái thiền định này, ngài công bố dharani:
Nguyên văn Sanskrit:
“namo bhagavate bhaiṣajyaguru vaiḍūryaprabharājāya
tathāgatāya arahate samyaksambuddhāya tadyathā:
oṃ bhaiṣajye bhaiṣajye bhaiṣajya-samudgate svāhā”[20].
Dịch:
“Kính lễ Đức Thế Tôn DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG Như Lai, bậc A-la-hán, bậc trực tiếp giác ngộ viên mãn đích thực - Như vậy liền nói chú rằng:
Xin Ngài hãy ban cho con thuốc phòng ngừa bệnh tật, thuốc chữa lành vết thương, thuốc diệt trừ mọi thương tật, và thuốc để cho con mau chóng phát sinh được đạo quả Bồ-đề cao tuyệt.”
Dòng cuối cùng của Dharani này: “oṃ bhaiṣajye bhaiṣajye bhaiṣajya-samudgate svāhā”, mới đích thực là thần chú của đức Phật Dược Sư, còn lại các câu ở trên chỉ là phần xưng tán đức Dược Sư chứ không phải thần chú.
Ngoài ra, còn có một số thần chú khác thuộc về đức Phật Dược Sư được sử dụng trong các hệ phái Mật tông và Phật giáo Kim Cương thừa.
d/ Bản nguyện biểu hiện qua hình tượng
Phật Dược Sư thường được miêu tả trong tư thế ngồi kiết già, khoát ba y của tu sĩ Phật giáo, tay trái cầm một bình lưu ly chứa thuốc cam lồ (bất tử) và bàn tay phải đặt trên đầu gối phải; hoặc có khi tay giữ cuống quả Aruna hoặc Myrobalan giữa ngón tay cái và ngón trỏ.
Trong kinh, ngài cũng được miêu tả có ánh sáng chiếu soi giống như ánh sáng của ngọc lưu ly. Trong miêu tả theo truyền thống Trung Quốc, ngài có một ngôi tháp, tượng trưng cho mười ngàn vị Phật của ba thời kỳ.
Hình tượng của ngài cũng được khắc trên đá, cùng với hai vị Bồ-tát Suryaprabha và Candraprabha, và có khắc thêm bảy vị Phật Dược Sư khác ở bên trong vòng hào quang của ngài. Bức tranh khắc trên đá này, có niên đại được xác định vào thời Bắc Ngụy, khoảng năm 500 Tây lịch, hiện bia đá đặt tại Bảo tàng nghệ thuật Metropolitan.
4. Tiểu kết
Trong Phật giáo nói chung, và Phật giáo ở Tây Tạng nói riêng, việc hành trì phương pháp phát triển theo đức Phật Dược Sư, đấng chúa tể chữa lành mọi vết thương, không chỉ là một phương pháp rất mạnh mẽ để chữa lành bệnh tật và tăng cường phòng bệnh cho cả bản thân và những người khác, mà còn điều phục những căn bệnh trầm kha, trong sự trói buộc của phiền não, hận thù, sự thấp kém, sự đê tiện và thiếu hiểu biết. Do đó, sự chiêm nghiệm và hành trì theo đức Phật Dược Sư có thể giúp giảm thiểu bệnh tật về thể xác và khổ đau về tinh thần.
Câu thần chú đức Phật Dược Sư, có mãnh lực là vô cùng cho việc chữa lành bệnh thể chất và nhổ sạch các tập nghiệp xấu ác. Một hình thức thực hành theo đức Phật Dược Sư được thực hiện khi bị những bệnh tật phủ vây, đó là bệnh nhân trì tụng chú này 108 lần vào một ly nước tinh sạch. Ngữ âm của thần chú sẽ là công cụ hướng dẫn chúng ta vượt qua những giai đoạn hiểm nghèo của cuộc đời, là phương thuốc chữa lành mọi bệnh tật, ta có thể xem nó như thần chú thật với đầy phép lạ cũng được, hoặc coi nó không phải thần chú, cũng không có phép lạ gì hết cũng chẳng sao, quan trọng là tụng đọc nó bằng tất cả tâm tư, đọc như nước chảy mây trôi, để rồi mọi sự sẽ vận hành một cách đều đặn, mọi sự trôi đi một cách an toàn, như cây trôi giữa dòng không bị dính mắc đúng như cái lẽ huyền vi của sự sống: “Gate, gate…..”.
Đồi Tiêu Dao, Am Tâm Không,
PL.2560. Chiều gió lộng, 30.9. Nhâm Thân.
Ngày vía đức Dược Sư, vị chữa lành vết thương cho nhân loại.
Phước Nguyên
[1] Vaidya, Dr. P.L ed., Darbhanga: The Mithila Institute, 1961;
[2] Dutta, Nalinaksa ed., Gilgit Manuscript, Vol I. Delhi : Sri Satguru Publication, 1984, 1-32.
[3] Benveniste, Texts sogdiens, Mission Pelliot en Asie centrale: Série in-Quarto, 3. Paris, 1940, 82-92
[4] David A. Utz, A Survey of Buddhist Sogdian Studies (Bibliographia Philologica Buddhica Series Minor III), Tokyo: The reiyukai Library 1980.
[5] Cf. Trong các bộ ĐTK.TT., Peking: Rgyud (da)255b- 263a; Nại-đường bản: Rgyud (tha)470a- 484a; Dege bản:Rgyud- ḥbum (da) 274a-283b; Lasa bản:Rgyud (ta)419a- 433b; Trác-ni bản:Rgyad (da)304a- 315b
[6] T14n0449, tr. 401b04: 佛說藥師如來本願經隋天竺三藏達摩 多譯.
[7] T14n0450, tr. 0404c15: 藥師琉璃光如來本願功德經 大唐、三藏法師玄奘奉 詔譯.
[8] T14n0451, tr. 0409a08: 藥師琉璃光七佛本願功德經, 大唐三藏沙門義淨於佛光內寺譯.
[9] T21n1331_012, tr. 0532b11: 佛說灌頂經 第12卷, 佛說灌頂拔除過罪生死得度經卷第十 , 東晉天竺三藏帛尸梨蜜多羅譯.
[10] Peking: The Society of Chinese Buddhists, Nien Hua Szŭ (Sales Agent: The French Bookstore), 1936.
[11] Visva-Bharati Annals no.1 (1945), 70-95.
[12] Buddha’s Light Publishing, 2002. 192 pgs.
[13] Srinagar-Kashmir: 1939. 51-57.
[14] Bulletin de l'École Francaise d'Extrême-Orient. 3 (1903), 33-37.
[15] Birnbaum, Raoul (2003). The Healing Buddha. p. 64.
[16] Bakshi, S.R. Kashmir: History and People. 1998. p. 194
[17] ibid., p.194.
[18] "Schøyen Collection: Buddhism". Retrieved 23 June 2012.
[19] "Schøyen Collection: Buddhism". Retrieved 23 June 2012.
[20] Dutta, Nalinaksa ed., Gilgit Manuscript,Vol I. Delhi : Sri Satguru Publication, 1984, 1-32.
https://chuaadida.com/chi-tiet-di-va...-duoc-su-8154/
DƯỢC SƯ BẢN NGUYỆN BẢO QUYỂN / DƯỢC SƯ BỔN NGUYỆN BẢO QUYỂN ( 藥師本願寶卷 / 药师本愿宝卷 )
DƯỢC SƯ BẢN NGUYỆN CÔNG ĐỨC BẢO QUYỂN / DƯỢC SƯ BỔN NGUYỆN CÔNG ĐỨC BẢO QUYỂN ( 藥師本願功德寶卷 / 药师本愿功德宝卷 )
Bảo quyển Phật giáo có thể chia làm hai loại là kinh văn khuyên đời và truyện cổ Phật giáo. Ở thời kì đầu, bảo quyển thường được gọi là Kinh. Như bảo quyển Dược sư bản nguyện công đức là hoàn toàn diễn kinh Dược sư bản nguyện chứ không thuật kĩ truyện cổ.
=====
bảo quyển
(寶卷) Là loại văn học diễn biến từ thể văn biến đời Đường. Sản sinh vào khoảng đời Tống, Nguyên và lưu hành ở khoảng năm Chính đức (1506-1521) đời Vũ tôn nhà Minh đến cuối đời Thanh, đầu thời Dân quốc. Thời vua Chân tôn nhà Tống, các tăng sĩ bị cấm không được giảng tụng bằng văn biến thể, từ đó văn biến thể biến thành hình thức Đàm kinh, Thuyết kinh, Thuyết tham thỉnh, cũng tức là cái biến tướng của văn biến thể được phát triển, bảo quyển cũng nhân thời vận đó mà sản sinh. Nội dung kết cấu của bảo quyển với văn biến thể đại khái chỉ khác nhau chút ít, phần nhiều ngôn ngữ thông tục dễ hiểu, phối hợp âm nhạc, thêm giọng ngâm tụng nhằm mục đích thông tục hóa. Cái được tụng giảng là bảo quyền Phật giáo lấy nhân quả báo ứng, sự tích trong đạo Phật làm chủ yếu, cũng có khi lấy bảo quyển phi Phật giáo như truyện cổ dân gian, truyện cổ Thần đạo làm chủ yếu. Tương truyền bảo quyền đầu tiên là bảo quyển Hương sơn, do Thiền sư Phổ minh đời Tống viết. Nhưng khảo sát thực tế thì cho thấy, bảo quyển Hương sơn, bảo quyển Tiêu thích chân không, bảo quyển Mục liên cứu mẫu xuất li địa ngục thăng thiên v.v... là những bảo quyển sớm nhất. Bảo quyển Phật giáo có thể chia làm hai loại là kinh văn khuyên đời và truyện cổ Phật giáo. Ở thời kì đầu, bảo quyển thường được gọi là Kinh. Như bảo quyển Dược sư bản nguyện công đức là hoàn toàn diễn kinh Dược sư bản nguyện chứ không thuật kĩ truyện cổ. Những bảo quyển phi Phật giáo tương đối nổi tiếng thì có bảo quyển Trân châu tháp, bảo quyển Mạnh khương nữ, bảo quyển Anh đài v.v... Những bảo quyền kể truyện cổ Phật giáo rất được dân gian hoan nghênh, và bảo quyển Mục liên cứu mẹ thoát khỏi địa ngục sinh lên cõi trời là thí dụ đẹp nhất. Ngoài ra còn có bảo quyển Mục liên (khác với bảo quyển Thăng thiên), bảo quyển Hương sơn, bảo quyển Diệu anh v.v... hoặc tườngthuật về sự tu đạo cứu đời của Bồ tát, hoặc nói về quá trình tu hành của thiệnnam tín nữ dân gian, đối với phụ nữ rấtcó ảnh hưởng.Danh từ bảo quyển chỉ là tên gọi chung cho loại sách này, chứ tên sách riêng biệt thì chưa chắc đã có hai chữ bảo quyển, mà chỉ gọi là quyển, làkinh, cũng có khi gọi là chân kinh, khoa nghi, bảo sám, bảo truyện v.v... Tuyêngiảng bảo quyển, gọi là Tuyên quyển.Khi tuyên quyển, trước hết phải thắphương thỉnh Phật, bao hàm sắc thái tôn giáo đậm đà, khác với sự giảng diễn thông thường.Thể lệ của bảo quyển lấy văn vần làm chủ, dùng văn xuôi thuyết minh bổ sung. Thông thường mỗi bản chia làm hai mươi bốn phẩm, trong mỗi phẩm lại tách ra làmbốn phần: 1. Phần nghi thức, mở đầu và kết thúc đều phải thắp hương nghinh thỉnh, nghinh tống Phật Bồ tát Thần linh, những bài kệ đọc lúc này là kệ khai kinh, kệ tán hương, kệ thu kinh. 2. Phần tâu bạch, trước văn vần trong mỗi phẩm, dùng văn xuôi nói miệng để tâu bạch. 3. Phần ngâm tụng, là thể thường của bảo quyển, phần nhiều dùng văn vần thể bảy chữ hoặc mười chữ để ngâm tụng. 4. Phần ca xướng, dùng các bài hát thêm vào giữa phẩm hoặc cuối phẩm. Các bài thông dụng hơn cả là Trú vân phi, Hoàng oanh nhi, Sơn pha dương, Nhạn nhi lạc, Bàn trang đài (áng mây bay, chim hoàng oanh, con dê dốc núi, con nhạn lạc, bên đài trang), hoặc phối với các sênh tre, điệu đàn để dễ xướng tụng. Bảo quyển thường bị lạm dụng thành tôn giáo dân gian bí mật, làm công cụ tổ chức của các hội đoàn bí mật, các tôn giáo dân gian như Bạch liên giáo, La giáo, Hoằng dương giáo, Văn hương giáo trong đời nhà Minh, đều dùng bảo quyển làm kinh quyển phụng trì, cho nên bảo quyển thường bị các thế lực chính trị cấm lưu truyền. Những tác phẩm hiện còn không được bao nhiêu, theo những người sưu tập gần đây thì tổng số ước chừng chỉ còn độ một trăm bản mà thôi. [X. Trung quốc tục văn học sử (Trịnh chấn đạc); Bảo quyển chi nghiên cứu (Trạch điền thụy huệ)].
http://phatam.org/dictionary/detail/...y=thất bảo
https://tangthuphathoc.net/tudien/bao-quyen/
http://anphat.org/dictionary/detail/...y=thất bảo
https://www.originofself.com › ...PDF
药师琉璃光七佛本愿功德经 - Origin of Self
宝 tán. 檀 huá. 华 pú. 菩 sà. 薩 ná. 南 mó. 无 yào. 药 wáng. 王 pú. 菩 sà. 薩 ná. 南 mó. 无 yào. 药 shàng. 上 ... 药师琉璃光七佛本愿功德经卷上. 1 yào. 药 shī. 师 liú. 琉.
CHƠN NGÔN 42 THỦ NHÃN QUÁN ÂM ( PHẠN CHÚ )
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...ng-Kinh/page21
* ĐẠI-LUÂN NHẤT-TỰ CHƠN NGÔN 【 大轮一字真言】:
唵• 勃隆• 吽(念诵21 遍)
Om • Bhrum • Hong ( 21×)
OM BHRUM HUM ( 21lần )
(Om Bhrum Hum!) added effects of any mantra!
===
* VĂN-THÙ BỒ-TÁT HỘ-THÂN CHƠN NGÔN【文殊菩萨护身真言】:
唵• 齿临(念诵21 遍)
Om • shirim ( 21x )
OM SHIRIM ( 21 lần )
===
* PHÁP-GIỚI CHƠN NGÔN【法界真言】:
唵• 嚩日囉• 驮都•鑁(念诵21 遍)
Om • vajra • dhatu • vam
OM VAJRADHATU VAM ( 21lần )
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...ng-Kinh/page24
NGHI THỨC HÀNH TRÌ CHÉP KINH, IN KINH,... - Tủ sách Khai Tâm ...
See more of Tủ sách Khai Tâm on Facebook. Log In. Forgot account? or ... OM VAJRADHATU GARBHE SVAHA (3 đến 7 lần). Đây là tập hợp của Kim Cang ...