CÚNG TRẢ NỢ THIÊN-KHỐI LÀ GÌ ?
https://youtube.com/shorts/Cdlk0b7FK...M9POZ_Be3SFYQB
Printable View
CÚNG TRẢ NỢ THIÊN-KHỐI LÀ GÌ ?
https://youtube.com/shorts/Cdlk0b7FK...M9POZ_Be3SFYQB
「南無上行無辺行菩薩/南無浄行安立行菩薩」
https://blog.goo.ne.jp/bosatu2014/e/...4f67ca87fbf153
https://youtu.be/wWRt9rLoFXY?si=LE3UFEF6H4sS7B-W
Thỉnh Tượng Phật Có Cần Chú Nguyện Không - Vấn Đáp HT.Từ Thông
(https://www.youtube.com/watch?v=wWRt9rLoFXY / https://youtu.be/wWRt9rLoFXY?si=LE3UFEF6H4sS7B-W)
Trưởng minh y khoa.
Hương yên nhất chuyên, liêu nhiều hoa đàn trưởng minh y sứ giả, thiên ban pháp ngoại biến chung gian, tiết thuộc vu lan, chúng đẳng tiết trai bồn.
Nam mô hương vân cái bồ tát ma ha tát (3 lần)
Thần công cự trắc diêu dung thiên ban.
Địa chúng chí thành kiền thân tán lễ.
Tài mã liêm tư tán chủ viện
Chiêu chiêu thiệu lễ chú tiêu tiêu
Mặc y trưởng ngũ sắc la sàng thượng.
Khí dụng thiên ban mãn tọa tiền,
Ngoại quỷ vô danh lao tắc mục,
Gian tà quỷ mị khứ thùy duyên.
U hồn ngưỡng trượng tư thần đức
Phúc khiên duyên trường thế bất tiên.
- Thiết dĩ pháp duy sơ khải, tịnh cúng phu trần, lự bài biện dĩ trang nghiêm, khũng vãng lai tri uế trược, tư bằng bì chú, biến sái hoa duyên giáo hữu tịnh uế chân ngôn cẩn đương trì tụng, án triệu lệ chủ lệ chuẩn đề sa ba ha (7 lần)
Nam môi li cấu địa bồ tát ma ha tát.
- Thiết dĩ thần linh bất muội, phàm hữu cảm, dĩ giai thông, thám giám phi giao cố hà cầu nhi tất ứng, dục vọng quang âm chi tứ, tu gia trì, thỉnh chi thành hoa đàn chú lực chuyển thanh lương, bảo án tâm hương quỳnh phúc úc, ngưỡng mông, thần đức phủ gián ngụ trung, cẩn tấu vì Việt Nam quốc (tên trai chủ) Khai kiến trai đàn nhất duyên, từ lực hoàng thẩm vong linh (tên vong) thụ độ truwongj thử công đức, tịnh dĩ chu viên sở, sở cầu minh y thức triệu, đan khổn dụng bằng hỏa pháp, cấp phó cẩn cáo chi linh (tên vong). Chính hồn, thực lai biến hóa chi công dĩ phó cẩn cáo chí ý, giáo hữu triệu thỉnh, chân ngôn cẩn đường trì tụng.
Dĩ thử linh thanh thân triệu thỉnh
Trưởng minh y sứ tất văn chi
Ngưỡng bằng tam bảo lực gia trì
Kim nhật kim thời giáng phó.
Nam mô bộ bộ đế lỵ giá ly đá lỵ đát đá nga đá gia (7 lần)
- Thượng lai triệu thỉnh chân ngôn, tuyên dương dĩ kính chúng đăng kiền thành hương bái thỉnh.
* Nhất tâm phụng thỉnh. Chức âm tự giới, quyền chưởng minh y. Chí công thao tý, đoạt nhị quyền bất dung hào phát, khuất kỳ biện chính tà dạng nhược phán vị kinh trạch tà dạng nhược phán vị kinh trạch thấu quần sinh, uy gia ngoại đạo, địa phủ viện chưởng minh ý sứ giả trí miễn, long phong hỏa tướng thần, quan vũ lâm giám độ đại thần, trúc lâm tế duyên thượng tướng. Sam chỉ tầm đường, nhân giao cung nghĩa trọng, ư lý cảnh công đương niên thao hoa phúc chi quyền, đương cảnh tác thôn, cập nhất thiết bộ thuộc đẳng chúng.
Duy nguyện: Bất vi bản thệ, lân mẫn hữu tình chứng minh công đức.
Thượng lai triệu thỉnh, ký hạ quang lâm giáo hữu an tọa chân ngôn cẩn đương trì tụng
- Thánh đức tòng không lai giáng hạ
- Nguyên kỳ từ khổn phó hương duyên
- Tài văn nhất biến diệu chân ngôn
- Bộ dáng pháp đàn an vị tọa
Án cha ma cha ha (7 lần)
An tọa chân ngôn, tuyên dương dĩ kính, nhiếp bị bài ly, thượng biến đàn tiền phủ giám nạp thụ, tín chủ kiền thành thượng hương phụng hiến, giáo hữu biến thực chân ngôn cẩn dương trì tụng.
(Chú biến thực, chú cam lộ, chú phổ cúng giàng)
- Cúng giàng dĩ tất, Sở hữu trạng văn tuyên đọc, (đọc trạng xong đọc tiếp). Tư giả cảm bằng sứ giả, chưởng minh y chiệu tường tiếp, trạng nội hỏa tốc phụng hành, tài phát hảo nghi khí dụng đằng vật, đương đàn phó họa, cấp chân linh (tên vong) chính hồn thu chấp, nhược ngoại quỷ vô danh, bất đắc vọng hành chiếm đoạt, sở hữu minh y tài mã, dụng bằng hỏa hóa.
(Mồm đọc tay bấm huyệt)
Bách biến thiên (Mão) thiên biến vạn (Dỗn), vạn biến ức (Thìn), ức biến hắng sa số (Tỵ) tốc tốc thành tựu sa hạ (ngọ)
Nam mô tam mãn đá một đà nẫm, án độ nộ, dà na, tỳ nư, chi ninh sa hạ (3 lần)
Nam mô Phật Đà na, nam mô đạt ma da nam mô tăng đà da, án tất đế hộ, tô rô tất tô rô chỉ ri ba cát lỵ tất đạt lỵ đá rô rị sa bà ha, án hô lô hô lô ra mục, chiết sa ha (7 lần)
Hoàng lục viện địa phủ trưởng minh y phát đàn kim cứ Việt nam quốc (địa chỉ, số nhà, tên lính chủ kim vì trung nguyên lệnh tiết, sở hữu minh y tài mã, khí cụ đằng vật, y nhi sinh thời nhất nhất kê khai, chính hồn thu chấp, tương hồi âm cung, vĩnh vi dĩ vật kê khai, nhược ngoại quỷ vô danh, bất đắc vọng hành chiếm đoạt, tư cấp phó, vũ lam sứ giả, đại thần Nam mô địa tạng vương bồ tát đại chứng minh.
Hóa y nghĩa
Triệu thỉnh vong hồn về tới đây, cháu con nay lại hóa minh y. Thánh cảnh mục niên lai giám cách, vú lâm thần tướng chưởng minh y. Cấp phó vong linh lai thụ dụng , cấm các loài quỷ vô danh không được vọng hành chiếm đoạt hoặc hồn về tây phương cực lạc, hoặc hồn nên tới đất gia trì cho bõ lòng sinh quý tử quy hộ con cháu phúc y trường thọ.
Vong linh thu chấp minh y tài mã khí cụ đằng vật tương hồi âm cung sử dụng, cấm những loài quỷ không được vọng hành chiếm đoạt.
Nam mô sinh tịnh độ bồ tát ma ha tát (3 lần)
https://www.facebook.com/photo.php?f...16289685192373
Điệp - Cấp - Phó 7 | PDF
Nhược ngoại quỷ vô danh. Bất đắc vọng hành chiếm đoạt. ĐIỆP – CẤP – PHÓ ĐỊA PHỦ CHỨNG MINH. Kính lậy hoàng thiên hậu thổ chư vị tôn thần,. vũ lâm xứ giả viện
https://fr.scribd.com/document/42797...E-P-CA-P-PHO-7
Từ đó, người ta gọi ngọn núi Một là núi Bà Đênh, đọc trại dần thành Bà Đen (?).
釋日光超集
Nam mô an vị toạ bồ tát ma ha tát... Trai nghi đã sắp,. Cơm canh phô bày ... Nam mô Linh Tự Tại Bồ Tát. - TẢ BẠCH XƯỚNG: Sơ hiến trà - Lễ ba lạy -
https://share.google/i3J8S5sBddx6tJd6H
TÌM HIỂU 12 CUNG HOÀNG ĐẠO
VỊ THẦN NÀO BẢO TRỢ CHO BẠN ?
https://hoangnguyen1608.wordpress.co...-mang-cho-ban/
鎮 Trấn: Chỗ chợ đông đúc, khu vực hành chánh dưới cấp Huyện.
定 Định: Yên ổn, không thay đổi.
祥 Tường: Tốt, lành.
定祥鎮: Định Tường Trấn
-
省 Tỉnh
定 Định: Yên ổn, không thay đổi
祥 Tường: Tốt, lành
定祥省: Định Tường Tỉnh
(Chữ “Nhiếp”: 攝 có nghĩa “Thay quyền để thống trị, kiêm quyền”)
https://tiengiang.baohiemxahoi.gov.v...1970-BTGTU.pdf
THUỐC TRỊ BỊNH TỨC LÓI
(NKĐP, số 01, tr.15)
Thường con nhà học trò mà siêng năng, thì nghe người hay bị tức lói; khi không nó bắt đánh trống ngực, trái tim quạt lia, làm cho mệt đuối sức.- Có bài thuốc gia truyền rất hiệu nghiệm mà trị chứng ấy, là lúc bị như vậy thì mỗi ngày sớm mai bụng đói lấy chừng mươi hột tiêu sọ, mà nhai biến đi và nuốt hết (ngày nào biết có công việc phải lao lực nhiều hơn thì ăn chừng mươi lăm hột). Cứ làm vậy ít bữa thì yên tâm. Đã dễ, lại rẻ tiền: Hãy thử mà coi.
https://buicongthuan.com/nam-ky-dia-...ui-cong-thuan/
TÁN
BÁT-NHÃ TÂM-KINH
(tụng Tâm-Kinh, là đoạn rút gọn của chú Bát-Nhã Ba-La Mật-Đa Tâm-kinh)
觀自在故,
心無罣礙,
越超苦海,
大明神咒滅除災,
五藴空法體周沙界,
五藴空法體周沙界。
Quán Tự Tại cố,
Tâm vô quái ngại,
Việt siêu khổ hải,
Đại minh thần chú, diệt trừ tai,
Ngũ uẩn không, pháp thể chu sa giới,
Ngũ uẩn không, pháp thể chu sa giới.
https://www.facebook.com/share/p/1HT1iLBKdZ/
https://thuvienphatquang.com/khoa-cu...-ta-long-than/
https://triamquan.forumvi.com/t257-topic
https://www.facebook.com/thayquycoct...6260105195331/
CHỨC-NĂNG CỦA CÁC-VỊ QUỶ-VƯƠNG TRONG KINH ĐỊA-TẠNG
地藏本願經講記(八)
【閻羅王眾讚歎品第八】
此品也是度眾生之緣,即燒香、 經、造幡、造像、齋僧、供眾等,種 善緣也。
閻羅王,此雲雙,苦樂雙受故。 論本跡,則難思議。
漢益州刺史,郭徐安病重,其妻 歡喜天。天言:“可發願一日中造地 菩薩像。”安即發是願。一日,忽悶 絕,經三時,安醒,自言入地獄。閻 告曰:“公依婦恩,發願造大王像, 為令眾生償罪業,現閻王身,實是法 王。若有眾生,歸依地藏,滿足所求 公急還人間,畢其願。”
觀此文,則閻羅王也是菩薩化身 與無數鬼王,治惡人之罪,令其改惡 善也。
今日既至天宮,乘此因緣,在佛 讚歎地藏菩薩教化地獄眾生之豐功偉 也。
【爾時,鐵圍山內有無量鬼王與 羅天子,俱詣忉利,來到佛所。】
天有天王、人有人王、地府有閻 王,亦稱閻羅天子,與無數鬼王,在 府教化罪人,使令修善。
“爾時”者,指佛在天宮為母說 畢,放無量光明雲,即仗佛力,與地 菩薩同來天宮聞法之時也。
【所謂惡毒鬼王、】
人有三毒、十惡。此鬼王以毒攻 ,以惡出惡,故名。
【多惡鬼王、】
一念心具諸惡,何況念念。此鬼 忿怒之相,令人見之,不敢複起惡念 故名。
【大諍鬼王、】
大諍者無諍也。此鬼王令人解怨 結,故名。
【白虎鬼王、血虎鬼王、赤虎鬼 、】
此三鬼王,皆以獸形得名。
【散殃鬼王、】
此鬼王令人莫作諸惡--如不孝 母、不敬師尊等,否則災禍臨身。
【飛身鬼王、】
即飛行夜叉之帥。
【電光鬼王、】
眼如閃電。
【狼牙鬼王、】
口露凶牙。
【千眼鬼王、】
全身千眼,瘟疫神也。
【□獸鬼王、】
主獸。
【負石鬼王、】
令小鬼負石、擔沙,填河、塞海
【主耗鬼王、】
百物耗損。
【主禍鬼王、】
橫禍降臨。
【主食鬼王、】
即面然大士,分衣施食。
【主財鬼王、】
護人得財。
【主畜鬼王、】
主六畜。
【主禽鬼王、主獸鬼王、主魅鬼 、】
可以名思知。
【主產鬼王、】
即送生、保產者。
【主命鬼王、】
主人生死之命。
【主疾鬼王、】
主人種種病。
【主險鬼王、】
高山峻嶺、大海深淵,由他主理
【三目鬼王、四目鬼王、五目鬼 、】
可以名知其義。
【祁利失王、大祁利失王、】
有翻大力。
【祁利叉王、大祁利叉王、】
有翻火神。
【阿那吒王、】
可能那吒太子,統領群鬼。
【大阿那吒王,】
可能多聞天王手下大將,統領一 鬼神。
【如是等大鬼王,各各與百千諸 鬼王,盡居閻浮提,各有所執,各有 主。】
鬼王率領小鬼,盡居閻浮提。“ 有所執”,執領權柄;“各有所主” 主理職務。所謂鬼有鬼世界啊!【是 諸鬼王與閻羅天子,承佛威神及地藏 薩摩訶薩力,俱詣忉利,在一面立。
陰陽路別,天地懸隔,閻羅與鬼 ,能上天宮者,皆賴佛威神力,及地 菩薩願力,俱詣忉利天宮,在一面立 ,聽佛說法。
【爾時,閻羅天子,胡跪合掌白 言:世尊!我等今者與諸鬼王,承佛 神及地藏菩薩摩訶薩力,方得詣此忉 利大會,亦是我等獲善利故。我今有 疑事敢問世尊,唯願世尊慈悲宣說。
閻王疑問之文。
有疑在心,今日見佛,豈不請問 決己所疑。
“爾時”者,無量鬼神聞法發菩 心之時。閻羅乘機請佛決疑,胡跪合 ,白佛言:“世尊,我等難得有機會 上天宮,今既仗佛威神及地藏菩薩大 力,帶我等來天宮,我等非常歡喜, 是我等見佛聞法,修行獲出世善利故 。但我心中有小疑問,若不解決,恐 對修無上菩提之事有所障礙。故我今 ,大膽敢問世尊,唯願世尊垂慈為我 宣說。”
【佛告閻羅天子:恣汝所問,吾 汝說。】
我佛大慈,如鐘高懸,有叩即鳴 佛一切智,無一事不徹,故雲“恣汝 問”。
【是時閻羅天子瞻禮世尊及回視 藏菩薩,】
既佛許答,即行禮儀,一瞻一禮 尊,同時回眸熟視地藏菩薩,望表同 。因地藏是閻羅王之師啊!
【而白佛言:世尊!我觀地藏菩 在六道中百千方便而度罪苦眾生,不 疲倦。是大菩薩有如是不可思議神通 之事。然諸眾生,脫獲罪報,未久之 ,又墮惡道。】
閻羅白佛言:“世尊,我已觀到 藏菩薩在六道中,百千方便,度脫罪 眾生,不知費了多少精神,處處教化 、時時救度,而不辭疲倦。菩薩既有 是不可思議神通拔眾生罪,令離三途 ,得人間樂。既生人道,自應廣修善 法,以報菩薩救度之恩。而所度眾生 大不如然,不久之間,又入三途,再 惡道。”因人間百年,就是地獄一日 ,菩薩度罪人,早晨出地獄,晚上又 其再來,豈不令閻羅王懷疑:怎麼這 快又回地獄來呢?
【世尊!是地藏菩薩既有如是不 思議神力,雲何眾生而不依止善道, 取解脫?唯願世尊為我解說。】
此是疑點。“世尊,地藏菩薩有 可思議神力,度眾生出地獄上生善道 眾生既受菩薩教化,自應依止善道, 修無漏法,得出三界,永取涅槃,解 泥犁。今不儘然,不久又見其再入地 ,莫非菩薩神力不足令其依止善道, 抑或眾生立志不堅,不能安住善道呢 ”
【佛告閻羅天子:南閻浮提眾生 其性剛強,難調難伏。】
“眾生習惡,且性剛強,種子起 行,其力猛利,不但菩薩難調,就是 自己亦難制伏。”
“把手相牽行不得,為人自肯乃 親”,所以菩薩難調,惡習種子起現 ,自無斷腕之勇,又無自克之志,是 以自亦難伏。
【是大菩薩于百千劫,頭頭救拔 是眾生,早令解脫。是罪報人,乃至 大惡趣,菩薩以方便力,拔出根本業 緣,而遣悟宿世之事。】
此乃輕重俱救之文。
世尊說:“地藏大士,對造罪之 ,曆百千劫,頭頭救拔”。此頭造罪 即向此頭救;那頭造罪,又向那頭救 。處處造罪,處處救;刻刻造罪,刻 救,故雲“頭頭救拔”,乃至有罪必 。如是令造罪之人,早令解脫,菩薩 那時才心安。菩薩如是救造罪之人, 假若作大重罪,墮大惡趣者,菩薩亦 巧妙方便,為作釜底抽薪辦法,拔出 其根本造罪之緣”。三毒是造罪之緣 成實論雲:“樹根不拔,其樹猶生; 根不拔,苦樹常在。故知生死,貪愛 為本,若滅貪欲,名第三諦。”無明 雲:“明眼無過慧,黑暗不過癡。” 根本業緣既拔,而令自悟宿世之事, 翻然不再造罪,上生人天。”
【自是閻浮眾生結惡習重,旋出 入。勞斯菩薩,久經劫數,而作度脫 】
菩薩既然如是刻苦度眾生,拔其 本罪根,使出三途上生人間。怎奈閻 眾生,結惡結得多,其習氣種子特別 重;種子內薰,不知不覺又去造罪, 令暫出三途,不久又入地獄,菩薩又 度。菩薩有願力,不退心,致令經久 遠劫而作度脫之事。
【譬如有人迷失本家,誤入險道 其險道中,多諸夜叉及虎狼師子、[蟲+元]蛇蝮蠍,如是迷人在險道中,須臾之 ,即遭諸毒。】
世尊設譬喻之文。
“譬如有人”,指一切眾生。“ 失本家”,指眾生迷真起妄,背覺合 ,舍父逃走,而入三界火宅。“誤入 險道”,三界六道,三善道是夷路, 惡道是險道,指眾生從人天路誤入三 險道。“其險道中,多諸夜叉”。三 惡道眾生,噁心所特別多,大煩惱八 、隨煩惱十個。總而言之,不離見、 二惑。見惑五利使(身、邊、邪、戒 、取)起時捷疾,能傷慧命,故雲“ 諸夜叉”。
“及虎、狼、師子、[蟲+元]蛇、蝮蠍”,指五鈍使(貪、嗔、癡 慢、疑)起與斷俱遲鈍,故名五鈍使 三惡道眾生,五鈍使特別重,能傷法 身。如虎喻慢、如狼譬貪、師子譬愚 、[蟲+元]蛇譬嗔、蝮蠍譬疑。“如是迷人”, 迷理起惑之人。“在險道中”,迷理 則惑薄,是人天道;迷理重則惑厚, 是三惡道。“須臾之間”,指一時不 ,煩惱叢生,見思熾盛。“即遭諸毒 ,將造罪業,欲去地獄。
【有一知識,】
指地藏菩薩。
【多解大術,】
二乘只有定慧而無方便,菩薩不 ,既具般若,又有方便,故雲“多解 術”。
【善禁是毒,】
既降伏自己的煩惱,又有方便能 別人的煩惱,故雲“善禁是毒”。
【乃及夜叉,】
菩薩有大方便,能教人破見惑五 使。
【諸惡毒等。】
又能教人降伏五鈍使煩惱。
【忽逢迷人,欲進險道,】
菩薩權智鑒機,有先見之明,知 惱熾盛的迷人欲作罪。
【而語之言:咄哉男子!】
菩薩權智,防微杜漸,制之于未 。“咄哉”者,警覺之詞,汝是男兒 丈夫,豈可起惑造罪耶。
【為何事故,】
為何事業。
【而入此路?】
而入地獄。
【有何異術,】
異術指方便權智。汝有方便智否 有則雖入惡道。
【能制諸毒?】
能制伏見、思煩惱,則不為所害
【是迷路人,忽聞是語,】
欲作惡的迷人,忽聞菩薩開導, 示自己的迷津,方知隨煩惱作業,是 地獄受苦,非入地獄遊觀。
【方知險道。即便退步,】
即時止惡不作,不造罪、不起惑 是名退步。
【求出此路。】
廣修眾善,求出三途。
【是善知識,】
菩薩以同事攝,與迷人同修。
【提攜接手,】
勉其精進向善。
【引出險道,】
滅惡不作,即出惡道。
【免諸惡毒,】
免受三惡道苦,保全法身慧命。
【至於好道,】
既生人天好道,教其做人之法。
【令得安樂。】
知禮識義,身安心樂。
【而語之言:咄哉迷人!自今已 ,勿履是道。】
知識又勉之言:“咄哉!大丈夫 時時覺照,刻刻留神。更莫起惑造罪 從今覺悟,重新做人,勿陷前轍,再 去造罪,而入惡道。”
【此路入者,卒難得出,】
三惡道時長,入易出難,一失人 ,萬劫難複。
【複損性命。】
在三惡道受諸劇苦,且損自己的 身慧命。
【是迷路人亦生感重。】
迷人聞法覺悟,心生感謝,尊重 教,銘刻五內。
【臨別之時,】
菩薩教化已畢,臨別贈言,叮嚀 囑。
【知識又言:】
囑令化他。
【若見親知,】
囑令先度六親眷屬。
【及諸路人,】
後及疏友,乃至初相識者。
【若男若女,】
無論他是男、是女,皆是法器, 應為說。
【言于此路,】
為言:切莫隨自己的煩惱惑,去 十惡之罪。
【多諸毒惡,喪失性命。】
墮落三惡道時,受諸劇苦複損性 。
【無令是眾,】
常以佛法勸人,無令眾生,自迷 誤。
【自取其死。】
抱石沈淵,自取其死。
【是故地藏菩薩具大慈悲,救拔 苦眾生,生人天中,令受妙樂。是諸 眾,知業道苦,脫得出離,永不再曆 。】
此乃合法之文。
因是上來譬喻之故,地藏菩薩亦 如是,具足大慈悲度生之願,常常在 惡道中,救拔造罪受苦的眾生上升人 天路上,令其知仁行義、止惡修善, 享受身心輕安的妙樂。是諸罪眾,既 三惡業之苦,又蒙地藏教化,減罪、 赦罪,脫得出離,永不再造惡業而歷 道。“知過能改,堪稱健兒”,受教 人啊!
【如迷路人誤入險道,遇善知識 接令出,永不復入。】
複說喻文。
如譬喻中的迷人,誤闖入險惡之 ,遇善知識,教化引出險道,永不再 。
【逢見他人,複勸莫入。自言因 迷故,得解脫竟,更不復入。】
複說合法。
地藏菩薩度出地獄之後,勸其轉 別人,莫作罪墮苦。應對人言,自己 迷,起惑、造業、墮獄,幸蒙地藏救 拔,今出地獄,更不敢造罪,複入惡 。
【若再履踐,猶尚迷誤,不覺舊 所落險道,或致失命,如墮惡趣,】
再標譬喻。
此乃譬喻中迷人出離險道,轉過 來,又忘記善知識的教訓--囑其莫 險道--猶尚如前一樣的迷誤,忘記 舊時所行的險道。此次再入,罪上加 ,致令喪身失命,如同墮在地獄不能 出。
【地藏菩薩方便力故,使令解脫 生人天中,旋又再入。若業結重,永 地獄,無解脫時。】
再標合法。
地藏菩薩用方便力,將墮地獄的 ,救拔其罪苦,使解脫苦道,上生人 路。但此人無定性,不久又起惑作罪 ,旋又再入地獄。若其罪輕,菩薩依 接引;假若此人造罪,作得太深,結 太重,永處無間獄,經歷多劫,無解 脫時,則地藏菩薩救不了。
【爾時,惡毒鬼王合掌恭敬白佛 :世尊!我等諸鬼王,其數無量。在 浮提,或利益人,或損害人,各各不 同。然是業報,使我眷屬,遊行世界 多惡少善。】
鬼王述職之文。
“爾時”者,世尊說畢之時。惡 鬼王為大眾之首,代眾陳述鬼王之職 合掌恭敬,敬白佛言:“世尊,我等 鬼王,其數無量,總都住在閻浮提, 的住山、有的住水、有的住空、有的 地府。我們的職責,各有所執,各有 所主,有的專門利益人,有的專門損 人;或損、或益,各各不同。然而皆 眾生業報所感,使我眷屬司各種職業 ,作損人、益人之事。我等眷屬遊行 界,每每觀察世人,惡者必定罹禍, 者必定獲福。但是,觀來觀去,總是 惡人多善人少啊!”
【過人家庭或城邑聚落、莊園房 ,或有男子女人修毛髮善事,乃至懸 幡一蓋,少香少華,供養佛像及菩薩 像。或轉讀尊經,燒香供養,一句一 。】
護人修善之文。
一切鬼神皆受佛付囑,有的護法 有的護戒、有的護禪綏、有的護行善 。
鬼王又說:“我的眷屬遊行世界 過人家庭、或城市縣邑、聚落鄉村、 麗莊園、大小房舍,或見男子女人, 能修一毛髮善緣之事,建立伽藍,造 聖像,乃至懸一幡、一蓋,供養三寶 少香、少華,奉獻佛像及菩薩像。”
印度散花、中國獻花,風俗不同 大品雲:“一華散空,乃至畢苦,其 不盡。”
釋迦滅度之後,印度有一優婆塞 上得一庵摩羅花,入波羅提木叉寺, 釋迦佛像相好,念佛功德,即時心熱 毛豎,上華供佛。
出問知客師:“一華供佛,得福 何?”答言:“不知,汝問讀經者。 讀經說:“我未得天眼神通,不能知 見果報,汝問坐禪阿羅漢。”羅漢入 ,觀其捨身次第,天上人間,八萬大 享人天福,而其福不盡,再觀不知。 羅漢上升兜率天宮問彌勒。彌勒曰: 佛福田無量,最為殊勝,種種果報無 ,我亦不知。假如千萬補處菩薩,亦 不能知,唯佛乃知。”可知一花至誠 佛,乃至畢生死苦,其福不盡,直至 佛。或轉讀大乘佛經,佛理漸漸明, 惑業漸漸消,惑消理明,功德甚大。 燒香供養經中一句、經中一偈,皆是 來法身舍利。法華經雲:“于諸過去 佛,在世或滅後,若有聞是法,皆已 佛道。”觀此文,則鬼王尊重少香、 華,供佛、供法之人,非無因也。
【我等鬼王敬禮是人,如過去現 未來諸佛。敕諸小鬼,各有大力及土 分,便令衛護,不令惡事橫事、惡病 橫病乃至不如意事,近於此舍等處, 況入門。】
敕令衛護之文。
“我等鬼王敬禮敬佛之人,如過 莊嚴劫千佛、現在賢劫千佛、未來星 劫千佛一樣恭敬。因為此人敬佛,現 前當來,必定見佛;見佛聞法,必定 佛,所以鬼王最敬供養三寶之人。因 鬼王敕令小鬼,各有大力,及其所管 轄土地之分,方便衛護。不令世間惡 (傷人傷物之事)、橫事(橫禍飛來 事)、惡病(難醫之病)、橫病(外 來流行症、傳染病等),乃至小小不 意事,近於此舍等處,何況入門。我 保其身心安樂,好向三寶中,種菩提 之因,將來結菩提之果啊!”
【佛贊鬼王:善哉!善哉!汝等 與閻羅能如是擁護善男女等,吾亦告 王帝釋,令衛護汝。】
佛贊善哉之文。
佛贊鬼王:“善哉善哉!”稱讚 詞。鬼王啊!汝能這樣擁護,則令最 發心學佛之人不退心啊!汝這樣一護 ,又令無數小鬼仰慕學佛,間接發道 啊!汝一舉而兩得,故贊“善哉善哉 !
汝等鬼王及與閻羅,能如是擁護 佛男女等,吾亦告梵王、帝釋,衛護 等早脫鬼倫,逕生天宮。“梵王”統 大千界,“帝釋”治一四天下,鬼王 其所管,故雲“吾亦告”。
【說是語時,會中有一鬼王,名 主命,】
鬼王各有所執、各有所主,“執 是權柄,主理一事。此鬼王主理人生 、死時之命,亦含保護生死之意。
【白佛言:世尊!我本業緣,主 浮人命。生時死時,我皆主之。】
述職之文。
“我因過去所種之業,今日緣熟 主理此洲人命--生時、死時,由我 理其事。”
【在我本願,甚欲利益。自是眾 不會我意,致令生死俱不得安。】
“既業緣所系,要我主理此職務 在我本昔之願,也是利益眾生,我就 此機會,用此職務,去做利生之事, 滿我度生之願。但眾生不會我意,不 我合作,致令生時、死時俱不得安穩 ”
【何以故?是閻浮提人初生之時 不問男女,或欲生時,但作善事,增 舍宅,自令土地無量歡喜,擁護子母 ,得大安樂,利益眷屬。】
“何以故”,解釋之詞。凡是閻 提人,初生之時,不問生男、生女, 未生以前,應該作三寶善事,或世間 利生之事。利人有福、供佛有福,以 福力,增益舍宅威光。因為凡是舍宅 皆有宅神,當方亦有土地神。如是汝 能向三寶作福,土地神歡喜無量,預 擁護子母,臨生之時,外邪不侵,母 子安,阿父添丁,合門歡喜,眷屬增 益。
【或已生下,慎勿殺害,取諸鮮 供給產母,及廣聚眷屬,飲酒食肉, 樂弦管,能令子母不得安樂。】
作殃自受之文。
天地有好生之德。自古放生,體 行慈,名之為仁。自古殺生,背天作 ,名曰殘忍。人畜雖殊,愛子之心一 也。雲何慶我子生而殺飛禽走獸眷屬 傷其母子之情呢?
昔日周豫學士,嘗煮鱔除蓋,見 鞠身向上,而以首尾就湯。剖之見腹 有子,乃知鞠身避湯煮愛子之故。所 以主命鬼王曰:“未生之前,或已生 ,慎勿殺害生靈,取其鮮味,供給產 。”及已生下,小兒滿月時,廣邀眷 屬、親友敘歡,可設素菜,慎勿飲酒 肉--酒能亂神,肉由殺命。飲酒, 智慧種;食肉,斷慈悲種,我佛五戒 ,早令人持。更莫“歌樂弦管”,唱 間之樂蕩情而逸志。如是違天地之仁 ;乖主命之願心;減舍宅之威光;觸 土地之護意,致令子母俱不得安樂, 過也將誰歸?
【何以故?是產難時,有無數惡 及魍魎精魅,欲食腥血。】
示其禍緣之文。
何故子母不安?因為臨產時,有 數惡鬼及魍魎、精魅,候食腥血。生 惡露之血,好多鬼來爭食,稍微無福 者,鬼得其便,連母子皆犯之,致令 子不安。護淨經雲:“餓鬼常守捕婦 ,產藏血不淨,以為飲食。”
【是我早令舍宅土地靈祗,荷護 母,使令安樂而得利益。】
主命護安之文。
主命自謂:“我既主人之命,人 將生,干係在我,故先令土地、宅神 護子母,使安穩而生”。聽呱呱之聲 ,父有添丁之喜,家無斷火之憂,土 等荷護,實主命之使令。
准道藏:“人間生男女時,九天 女遣天神於空中稱唱奉恭。生男,唱 一千六百聲,欲其在家奉親,出仕奉 君;生女,唱恭一千六百聲,令其歸 家時,恭敬翁姑與夫也。”炎口雲: 奉恭欲唱,吉凶只在片時。”
【如是之人,見安樂故,便合設 ,答諸土地。翻為殺害,聚集眷屬。 是之故,犯殃自受,子母俱損。】
犯殃自損之文。
如是產家男女之人,見產育安樂 應思安樂之故,功由土地,便合設福 經、放生等善事,酬答宅神、土地之 恩;今翻殺害生靈,聚集眷屬歌樂弦 、飲酒食肉,多作諸罪,背神之護。 是之故,作殃自受其報,子母俱損, 非主命不護啊!
【又閻浮提臨命終人,不問善惡 我欲令是命終之人,不落惡道。何況 修善根,增我力者。】
護命終之文。
主命說:“閻浮提人,命終之時 不問是善、是惡,在我本願,總令其 終之後,不落惡道受苦。何況其人自 有善根,增我助彼之力,則生善道矣 ”
人生無不死者。法句經雲:“命 華果熟,常恐會零落,已生皆有苦, 能致不死?”
此偈人命無常啊!
法句經雲:“人作善惡,殃福隨 ,雖更生死,不可得免。”
此偈殃福難免。主命鬼王菩薩心 ,總想其脫苦得樂。
【是閻浮提行善之人,臨命終時 亦有百千惡道鬼神,或變作父母乃至 眷屬,引接亡人,令落惡道,何況本 造惡者。】
惡鬼誘引之文。
物以類聚,無不欲其眷屬增多, 之常情,鬼道亦然。自己作鬼,想人 鬼。所以閻浮提行善之人,有大福力 ,其臨命終,百千惡鬼,便想辦法。 神有五通,假若其人想念父母,鬼即 其父母形像去迎接他;若起兄弟姊妹 、夫妻姑姨之念,鬼即隨其所念,變 種形去迎接他。亡人不覺,一念生著 隨念即生鬼道,為鬼眷屬。因此人有 福,做有福鬼,其餘惡鬼,皆佔便宜 有福尚令其墮落做鬼,何況本造惡業 鬼道報者,難脫其倫矣!
何以有福之人墮落鬼道呢?
分別業經佛告阿難:“行惡人, 處生;行善人,惡處生。”阿難曰: 是事雲何?”佛言:“惡人,今生罪 業未熟,宿世善業已熟,故今生雖為 ,而生好處;或臨死時,善心心數法 ,亦生好處。”
“行善人,生惡處者,今世善未 ,過去惡已熟,故今雖為善,而生惡 ;或臨死時,不善心心數法生,亦生 惡處。”
觀此文,善人臨死,被鬼神變其 愛眷屬形像,彼不了故,一念生著, 生鬼趣,非無因也。所以臨終慎勿起 邪念,否則墮惡道;要正念現前,心 顛倒,方能生淨土啊!
【世尊!如是閻浮提男子女人, 命終時,神識昏昧,不辨善惡,乃至 耳更無見聞。】
神識昏昧之文。
世尊,我觀閻浮提,男子也可, 人也可,臨命終時,總是神識昏昧。 命終人,四大分散,一口氣不來,身 虛體冷,眼、耳、鼻、舌、身五識先 。壞故,雖有眼,不能見;有耳不能 ;鼻不嗅香;舌不能言;身無覺觸。 五情既壞,則無法塵,流落意地。意 不起作用,所以不辨善惡,唯有隨業 報。所謂:“一旦無常到,方知夢裏 人。萬般將不去,唯有業隨身。”
【是諸眷屬,當須設大供養,轉 尊經,念佛菩薩名號。如是善緣,能 亡者離諸惡道。諸魔鬼神,悉皆退散 。】
善緣不墮之文。
生死關頭,最為要緊。遇善則善 遇惡則惡。因人死而未生,前陰已謝 後陰未至,中陰現前,遇善緣則善, 而生善道,遇惡緣則惡,而墮惡道。
所以“陽間眷屬,當須設大供, 養三寶,仗三寶之威光,以資神識, 生善道;或轉讀世尊所說之經,如無 量壽經、金剛、法華等經,法力無量 能令亡者,識神不落惡道;或念佛名 、菩薩名號,名含萬德,仗佛萬德之 力,能令亡者,離諸惡道。善緣既來 惡緣即謝;光明來,黑暗謝,一切諸 鬼神,悉皆退散,無能為力。”仗三 寶之力,決生善道矣!
【世尊!一切眾生臨命終時,若 聞一佛名、一菩薩名,或大乘經典一 一偈,我觀如是輩人,除五無間殺害 之罪,小小惡業,合墮惡趣者,尋即 脫。】
主命鬼王白佛言:世尊,一切眾 臨命終時,事急心專,其心猛利,若 得聞佛名號,即時將佛名號,種在八 識田中,牢不可破。
名能招德,無量佛德在其中,且 心猛利,乘此心數,速生善趣,不墮 道,此事無疑。“一菩薩名”亦然, 如觀音、普賢、文殊、地藏等大菩薩 。或聞“大乘經典,一句一偈”。其 猛利,執持一句一偈念念不放、念念 相續,如墮大海,執一木板,牢不放 ;仗此一偈一句功德,能破地獄苦。 以小小惡業,合墮惡趣者,仗此念念 執持一句一偈,或一佛名號功德,如 消冰,尋即解脫。
除五無間殺害之罪。因五無間殺 父母、和尚、阿闍黎、阿羅漢,此罪 惡極,臨終之時,不經中陰,不隔異 熟,一刹那間,直入阿鼻地獄,無暇 佛名、一句經典。所以慎勿作五無間 害之罪。
【佛告主命鬼王:汝大慈故,能 如是大願,於生死中護諸眾生。若未 世中,有男子女人,至生死時,汝莫 退是願,總令解脫,永得安樂。】
佛贊勸勉之文。
死而未生,以其中間,心性猛利 心性最靈。所謂非陰非陽者也,此時 善根,最容易得力。
因此佛告鬼王:“主命,汝有大 心,能發如是大慈願。於生而未生, 而未死之時,救護眾生,最容易得力 。望汝未來之世,一切眾生,至生死 ,汝莫退是願,利益有情。不論有罪 罪,總令解脫,令生者、亡者,永得 安樂。”
【鬼王白佛言:願不有慮。我畢 形,念念擁護閻浮眾生。生時死時, 得安樂。但願諸眾生于生死時,信受 我語,無不解脫,獲大利益。】
不忘本願之文。
願力最大,願力最難忘,依願而 ,利益眾生,便是菩薩人。今主命鬼 白佛言:“願不有慮,我畢是一生之 力,念念擁護閻浮眾生,生時死時, 得安樂。只要眾生在生死關頭,緊急 時,信受我語,與我合作,聽我的話 去作,無有不得解脫三惡道,而獲生 天大利益者。”
【爾時,佛告地藏菩薩:是大鬼 主命者,已曾經百千生作大鬼王,於 死中,擁護眾生。是大士慈悲願故, 現大鬼身,實非鬼也。】
此乃開跡顯本之文。
開示現鬼王之跡,而顯實是菩薩 本。法華經雲“內秘菩薩行,外現聲 身”是也。況且非本無以示鬼王度生 之跡,非跡無以顯菩薩慈悲願力之本 本跡雖殊,不思議一也。識得跡,就 下化眾生;識得本,就能上求佛道。 故菩薩現種種身而度眾生,豈獨鬼王 乎!
觀此文,則閻羅王及諸鬼王,皆 菩薩;各承願力,現鬼王身,在幽冥 ,行菩薩道,利益眾生。但能利益眾 生,便是菩薩,利生功德圓滿,即證 提。在天上、在人間、在地府,皆能 菩薩道,功德圓滿,皆證菩提。因度 生為因,菩提為果,故欲取菩提者, 度眾生。普賢行願品雲:“諸佛如來 以大慈心為體故,因于眾生而起大悲 ;因於大悲生菩提心;因菩提心成等 覺。譬如曠野沙磧之中,有大樹王, 根得水,枝葉華果悉皆繁茂。生死曠 野,菩提樹王,亦複如是。一切眾生 為樹根,諸佛菩薩而為華果,以大悲 饒益眾生,則能成就諸佛菩薩智慧華 果。”
觀此文,鬼王百千生作鬼王身, 生死中,用大悲水饒益眾生,宜乎其 記,當來作佛了。
【卻後過一百七十劫,當得成佛 號曰無相如來,劫名安樂,世界名淨 。其佛壽命不可計劫。】
鬼王受記成佛之文。
觀因記果,故名受記。如來有三 智:一、智慧知過去世無礙。二、智 知現在世無礙。三、智慧知未來世無 礙。所以鬼王成佛之事,如來一一備 ,為其授記,令其歡喜,堅其心志, 令一切鬼王歡喜;鬼王可以行菩薩道 故,亦令一切眾生歡喜。鬼身尚且成 ,何況人身,天身耶!
佛金口記鬼王,“卻後過一百七 劫,其度生功德圓滿,當得成佛,號 無相如來”。“無相”是其別號,通 號是如來。無相者,無有相,無無相 離一切相,故名無相。其成佛時,“ 名安樂”,其時人民,身心安樂;“ 世界名淨住”,其國人民,清淨共住 ;“其佛壽命不可計劫”,長壽說法 生故。
【地藏!是大鬼王,其事如是不 思議。所度天人,亦不可限量。】
佛告地藏:“主命鬼王今日修因 將來成佛是果。佛因佛果其事如是, 亦想不到,誰亦說不到。以鬼王身行 菩薩道,真是不可思議。鬼王現在結 結得多,將來成佛,所度人、天悟道 不可限量。”
https://www.lama.com.tw/content/msg/...l.aspx?Id=4936
• BÁCH-TÍNH (100 Họ).
• TẾ: là giúp-đỡ, cứu-giúp rộng-khắp tất-cả mọi-người.
https://cand.com.vn/Khoa-hoc-Van-Min...-than-i316153/
* Nguyên trong thế-giới, có 4 võ-khí siêu-vật là:
1) jirāvudha: BÁNH-XE NGỌC của Đức Trời Đế-Thích (Sakra/ Indra);
2) gadāvudha: CÂY-CÔN của Đại Thiên-Vương Vessavaṇa/Vai'sravana;
3) nayanāvudha: MẮT của Diêm-Vương (Yama-raja);
4) dussāvudha: CHIẾC-Y buộc-đầu của Quỉ-Vương Alavaka Yakkha.
Bốn loại võ-khí ấy, phát sanh do phước-báu, chẳng có chi đương cự nổi.
https://phatgiaonguyenthuy.com/artic...g-van-dao.html
TÀI-THỦ BỒ-TÁT
(財首菩薩)
七種聖財
信、戒、多聞、捨、智慧、慚、愧, 都是修行所應有的財寶。
《地藏經》中有位財首菩薩,他是無毒鬼王所修成的。財首菩薩修行七聖財,就 七種財寶:
(一)信。這是修行的一種財寶。
(二)戒。這是修行的一種財寶;尤 是在末法時代,傳戒受戒都是稀有的 ,而出家人一定要受戒,才是完整的 出家人。
(三)多聞。這是修行的一種財寶。
(四)捨。布施也是修行的財寶。
(五)智慧。要有智慧,這也是修行 財寶。
(六)慚。這也是修行的財寶。
(七)愧。本來「慚愧」兩字是合在 起,但在這裏兩個字是分開。
這些都是修行所應有的財寶,因有信 戒、多聞、捨、智慧、慚、愧這七種 寶,所以叫財首菩薩。
久遠劫前,當時住世之佛亦名「釋迦 尼」,於世間弘揚佛法,教化百姓。 陀入滅後,有位王子名為「金幢」, 傲慢自大,不信佛法。一日,定自在 丘向金幢王子說:「佛塔中有供奉佛 ,是由眾多珠寶裝飾雕刻而成,王子 可前往瞻仰。」聽了比丘的話後,王 即去佛塔瞻仰佛像。
王子見到佛像面如滿月,目如青蓮, 好莊嚴,即向定自在比丘說:「佛像 能如此圓滿相好,更何況是佛陀的真 身呢?」定自在比丘回答:「王子今 見到佛像若無法禮拜,也應當合掌稱 『南無佛』。」於是,王子聽從定自 在比丘的建議,合掌稱念「南無佛」
金幢王子返回王宮後,仍繫念著佛像 相好莊嚴,所以晚上睡覺時又夢見佛 ,醒來後十分歡喜,便捨離邪見,皈 依三寶。由於王子在佛塔中稱念「南 佛」的善根功德,命終後得以值遇九 萬億那由他佛,並在諸佛的教化下, 常勤精進,證得甚深念佛三昧;亦因 昧力故,諸佛現前為其授記,從此以 ,百萬阿僧祇劫不墮惡道,最終證得 甚深首楞嚴定,即是財首菩薩。
https://ruimei0912302160.pixnet.net/blog/post/225264065
https://www.drbachinese.org/online_r...3/volume62.htm
Ý NGHĨA 108 HẠT CỦA TRÀNG HẠT PHẬT CHÂU
https://iili.io/K74Xh1s.md.jpg
https://i.ibb.co/Df3V08mg/548313374-...21910907-n.jpg
Trong Phật giáo, con số 108 biểu thị 108 phiền não (kleshas) mà con người cần đoạn trừ.
Trong Phật giáo Đông Á, còn có thể hiểu là 108 phép thiền hoặc 108 vị Phật trong Kim Cương Mạn-đà-la .
Trong cả Phật giáo, Hindu giáo và yoga, số 108 là biểu tượng của sự viên mãn vũ trụ.
Trong truyền thống yoga, có 108 đường năng lượng (nadis) hội tụ tại luân xa tim;
Từ thiên văn, khoảng cách giữa Trái Đất và Mặt Trời xấp xỉ 108 lần đường kính Mặt Trời;
Trong bảng chữ cái Sanskrit gồm 54 ký tự, mỗi ký tự mang khía cạnh âm/dương (Shiva–Shakti) → 54 × 2 = 108.
Con số 108 hạt giúp gợi nhớ đến 108 dục vọng, khuyết điểm mà con người nên vượt qua .
Một phép tính phổ biến: sáu giác quan (thị, thính, khứu, vị, xúc, ý) × ba cảm thọ (dễ chịu, khó chịu, trung tính) = 18; mỗi cảm thọ lại phân loại thành hai: gắn liền hoặc tách rời; rồi nhân với ba thời (quá khứ, hiện tại, tương lai) → tổng là 108 trạng thái cảm thọ
Sau đây là giải nghĩa của từng hạt:
* Hạt 1 (Thủ Lăng Nghiêm): Lòng từ bi là vũ khí tốt nhất của bạn.
* Hạt 2 (Bảo Ấn): Học Phật chính là học cách làm người.
* Hạt 3 (Sư Tử Hý): Im lặng là cách đáp trả tốt nhất đối với những lời phỉ báng.
* Hạt 4 (Diệu Nguyệt): Bạn cần biết ơn những người đã chỉ ra khuyết điểm của bạn.
* Hạt 5 (Nguyệt Tràng Tướng): Nói được mà không làm được, đó không phải là trí tuệ thật sự.
* Hạt 6 (Xuất Chư Pháp): Bạn phải luôn chấp nhận số phận, bởi vì bạn là con người.
* Hạt 7 (Quan Đảnh): Mỗi vết thương đều là một sự trưởng thành.
* Hạt 8 (Tất Pháp Tính): Khi bạn tôn trọng người khác, bạn cũng đang tự làm cho mình trở nên trang nghiêm.
* Hạt 9 (Tất Tràng Tướng): Tu hành trong thuận cảnh sẽ không bao giờ thành Phật.
* Hạt 10 (Kim Cương): Tu hành chính là sửa đổi những quan niệm sai lầm của bản thân.
* Hạt 11 (Nhập Pháp Ấn): Bạn phải luôn biết ơn những chúng sinh đã mang đến nghịch cảnh cho bạn.
* Hạt 12 (Tam Muội Vương An Lập): Người biết nghĩ cho người khác sẽ không bao giờ cảm thấy cô đơn.
* Hạt 13 (Phóng Quang): Chỉ khi đối diện với thực tại, bạn mới có thể vượt qua thực tại.
* Hạt 14 (Lực Tiến): Đạo lý đối nhân xử thế nằm ở sự nhẫn nại vô hạn.
* Hạt 15 (Cao Xuất): Thế gian này chỉ có sự trôi chảy, không có sự viên mãn.
* Hạt 16 (Tất Nhập Biện Tài): Sự cố chấp của ngày hôm nay sẽ tạo nên sự hối hận của ngày mai.
* Hạt 17 (Thích Danh Tự): Kẻ ngông cuồng còn có thể cứu, kẻ tự ti thì vô phương cứu chữa.
* Hạt 18 (Quan Phương): Hãy tự răn dạy bản thân thật tốt, đừng lo quản việc của người khác.
* Hạt 19 (Đà La Ni Ấn): Oán ghét người khác là một tổn thất lớn cho chính mình.
* Hạt 20 (Vô Cuống): Khi trong tâm không còn sự phân biệt, đó chính là sự tu khổ chân chính.
* Hạt 21 (Nhiếp Chư Pháp Hải): Người luôn bóp méo thiện ý của người khác sẽ không có thuốc chữa.
* Hạt 22 (Biến Phục Hư Không): Phật Bồ Tát chỉ bảo vệ những người chịu giúp đỡ chính mình.
* Hạt 23 (Kim Cương Luân): Sở hữu một trái tim yêu thương vô tư, bạn sẽ có tất cả.
* Hạt 24 (Đoạn Bảo): Chân lý của cuộc đời chỉ ẩn giấu trong những điều bình dị, vô vị.
* Hạt 25 (Năng Chiếu): Con người đau khổ là vì theo đuổi những thứ sai lầm.
* Hạt 26 (Bất Cầu): Thế giới này vốn dĩ là khổ đau, không có gì là ngoại lệ.
* Hạt 27 (Vô Trụ): Người yêu cái đẹp thật ra chỉ đang yêu chính bản thân họ mà thôi.
* Hạt 28 (Vô Tâm): Kết nhiều duyên lành, tức là không làm tổn thương bất kỳ ai.
* Hạt 29 (Tịnh Đăng): Khi nào bạn buông bỏ, khi đó bạn sẽ không còn phiền não.
* Hạt 30 (Vô Biên Minh): Công nhận sự vĩ đại của bản thân cũng chính là thừa nhận sự ngu muội của chính mình.
* Hạt 31 (Năng Tác Minh): Tu hành phải có sự kiên nhẫn, phải biết an vui trong sự đạm bạc và cô độc.
* Hạt 32 (Phổ Chiếu Minh): Thầy thuốc khó chữa người sắp chết, Phật khó độ chúng sinh vô duyên.
* Hạt 33 (Kiên Tịnh Chư): Không khoan dung chúng sinh, không tha thứ chúng sinh là làm khổ chính mình.
* Hạt 34 (Vô Cấu Minh): Thời gian sẽ trôi qua, và cũng sẽ mang đi phiền não của bạn.
* Hạt 35 (Hoan Hỷ): Tu hành để cầu sự tán dương cũng như bông hoa thơm bị giẫm đạp.
* Hạt 36 (Điện Quang): Người khác luôn đúng, tôi luôn sai, nghĩ như vậy thì sẽ bớt phiền não.
* Hạt 37 (Vô Tận): Đừng quá khẳng định quan điểm của mình, sẽ ít phải hối hận hơn.
* Hạt 38 (Uy Đức): Người biết tự hạ mình xuống, đó mới là sự cao quý thật sự.
* Hạt 39 (Ly Tận): Người tự cho mình là giàu có, kỳ thực đang bị chính tài sản đó sở hữu.
* Hạt 40 (Bất Động): Người tạo ra cơ hội là dũng cảm, người chờ đợi cơ hội là ngu dốt.
* Hạt 41 (Bất Thối): Đừng lãng phí cuộc đời mình ở nơi mà bạn sẽ hối hận.
* Hạt 42 (Nhật Đăng): Học Phật là để đối mặt với lương tâm của chính mình, chứ không phải để cho người khác thấy.
* Hạt 43 (Nguyệt Tịnh): Âm thầm quan tâm và chúc phúc cho người khác là một hình thức bố thí vô hình.
* Hạt 44 (Tịnh Minh): Học cách nhận ra chính mình, chế ngự chính mình và thay đổi chính mình, thì mới có thể thay đổi người khác.
* Hạt 45 (Năng Tác Minh): Bạn có thể có tình yêu, nhưng đừng chấp trước, vì chia ly là kết quả tất yếu.
* Hạt 46 (Tác Hành): Thay vì nói người khác làm bạn đau khổ, tốt hơn hãy nói rằng sự tu dưỡng của bạn chưa đủ.
* Hạt 47 (Tri Tướng): Một lời nói dối phải dùng mười lời nói dối để bù đắp, sao phải khổ như vậy?
* Hạt 48 (Như Kim Cương): Tha thứ cho người khác là dành cho mình một khoảng không gian để thở và để quay đầu nhìn lại.
* Hạt 49 (Tâm Trụ): Sống một ngày vô vị, chẳng làm được việc gì, cũng giống như phạm tội ăn trộm vậy.
* Hạt 50 (Phổ Minh): Chấp trước vào tình cảm là nguyên nhân của phiền não. Buông bỏ tình chấp mới có được sự tự tại.
* Hạt 51 (An Lập): Đến là ngẫu nhiên, đi cũng là tất yếu, mọi việc hãy tùy duyên.
* Hạt 52 (Bảo Tụ): Tùy duyên không phải là sống qua ngày, mà là nỗ lực hết mình và phó mặc cho số phận.
* Hạt 53 (Diệu Pháp Ấn): Thật đáng xấu hổ khi dùng cách làm tổn thương người khác để che đậy khuyết điểm của bản thân.
* Hạt 54 (Pháp Đẳng): Người đời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, người tu hành phải chịu trách nhiệm trước nhân quả.
* Hạt 55 (Đoạn Hỷ): Nếu bạn nghĩ một việc đơn giản trở nên phức tạp, bạn sẽ cảm thấy rất đau khổ.
* Hạt 56 (Đáo Pháp Đảnh): Đừng bao giờ lãng phí một giây phút nào của bạn để nghĩ về những người mà bạn không thích.
* Hạt 57 (Năng Tán): Khi bạn thành thật với chính mình, không ai trên thế gian này có thể lừa dối bạn.
* Hạt 58 (Phân Biệt Chư Pháp Cú): Hãy dành nhiều tâm tư để lắng nghe người khác nói, đừng vội vàng bày tỏ quan điểm của mình.
* Hạt 59 (Thủ Đẳng Tướng): Đừng cảm thấy mình bất hạnh, trên đời này còn có nhiều người khổ hơn chúng ta.
* Hạt 60 (Ly Tự): Hãy kể thêm những câu chuyện cười, dùng thái độ hài hước để giải quyết mọi việc, cuộc sống sẽ dễ dàng hơn.
* Hạt 61 (Đoạn Duyên): Dành nhiều tâm sức chú ý đến người khác, thì sẽ ít tâm sức để tự vấn bản thân, bạn có hiểu không?
* Hạt 62 (Bất Phôi): Đừng để sự kiêu ngạo xen lẫn vào trí tuệ của bạn. Đừng để sự khiêm tốn của bạn thiếu đi trí tuệ.
* Hạt 63 (Vô Chủng Tướng): Người trong lòng đầy ắp ý kiến và suy nghĩ của mình, sẽ mãi mãi không nghe được tiếng lòng của người khác.
* Hạt 64 (Vô Xứ Hành): Thay vì phủ nhận những sự thật đã rồi, bạn nên chấp nhận nó, đó gọi là chấp nhận số phận.
* Hạt 65 (Ly Mông Muội): Một người nếu không thể tha thứ cho người khác từ sâu thẳm trong lòng, thì sẽ không bao giờ cảm thấy thanh thản.
* Hạt 66 (Vô Khứ): Hủy hoại một người chỉ cần một câu nói, nhưng bồi đắp một người lại cần hàng ngàn câu. Xin hãy nói năng cẩn trọng hơn.
* Hạt 67 (Bất Biến Dị): Đôi mắt đừng lúc nào cũng mở to như vậy. Tôi hỏi bạn, sau một trăm năm nữa, còn điều gì là của bạn?
* Hạt 68 (Độ Duyên): Khi bạn biết mình đang mê muội thì không đáng thương, khi bạn không biết mình đang mê muội, đó mới là đáng thương nhất.
* Hạt 69 (Tập Chư Công Đức): Hận thù không bao giờ hóa giải được hận thù, chỉ có lòng từ bi mới hóa giải được hận thù. Đây là chân lý vĩnh hằng.
* Hạt 70 (Trụ Vô Tâm): Người ngu dốt chỉ muốn người khác hiểu mình. Người trí tuệ lại nỗ lực để hiểu chính mình.
* Hạt 71 (Diệu Tịnh Hoa): Nếu mỗi ngày bạn đều nhìn thấy lỗi lầm và chuyện thị phi của chúng sinh, bạn phải nhanh chóng hối hận. Đó chính là tu hành.
* Hạt 72 (Giác Ý): Nghịch cảnh là quá trình tất yếu để trưởng thành. Người dũng cảm chấp nhận nghịch cảnh, cuộc sống sẽ ngày càng mạnh mẽ.
* Hạt 73 (Vô Lượng Biện): Đừng nói người khác đáng thương, bạn còn đáng thương hơn. Bản thân tu hành thế nào? Lại hiểu được bao nhiêu về cuộc đời?
* Hạt 74 (Vô Đẳng Đẳng): Khi bạn phiền não, bạn phải tự nhủ với bản thân rằng tất cả chỉ là giả, bạn phiền não vì điều gì?
* Hạt 75 (Độ Chư Pháp): Người mà nội tâm đầy ghen tị, lòng không ngay thẳng, lời nói bất chính, thì không thể được coi là một người chính trực.
* Hạt 76 (Phân Biệt Chư Pháp): Khi bạn khuyên nhủ người khác, nếu không quan tâm đến lòng tự trọng của họ, thì dù lời nói có hay đến mấy cũng vô ích.
* Hạt 77 (Tán Nghi): Có bao nhiêu người khi rời bỏ thế giới này đều nói cùng một câu: "Thế giới này thật vô vị và đáng thương!"
* Hạt 78 (Vô Trụ Xứ): Khi bạn chưa học Phật, bạn nhìn mọi thứ đều không thuận mắt. Khi bạn học Phật, bạn sẽ thấy mọi thứ đều thuận mắt.
* Hạt 79 (Nhất Trang Nghiêm): Xin bạn hãy dùng lòng từ bi và thái độ ôn hòa để nói ra những bất mãn và uất ức của mình, người khác sẽ dễ dàng chấp nhận hơn.
* Hạt 80 (Sinh Hạnh): Bạn đừng mãi bất mãn với người khác, mà nên luôn tự kiểm điểm bản thân. Bất mãn với người khác là làm khổ chính mình.
* Hạt 81 (Nhất Hạnh): Cùng một cái chai, tại sao bạn lại muốn đổ thuốc độc vào? Cùng một tâm lý, tại sao bạn lại muốn chất đầy phiền não?
* Hạt 82 (Bất Nhất Hạnh): Khi bạn vui, hãy nghĩ rằng niềm vui này không phải là vĩnh cửu. Khi bạn đau khổ, hãy nghĩ rằng nỗi đau này cũng không phải là vĩnh cửu.
* Hạt 83 (Diệu Hạnh): Ghen tỵ với người khác không mang lại lợi ích gì cho bạn. Ghen tỵ với người khác cũng không thể làm giảm đi thành tựu của họ.
* Hạt 84 (Đạt Nhất Thiết Hữu Đề Tán): Để hiểu một người, chỉ cần xem xuất phát điểm và mục đích của họ có giống với bạn không, là bạn có thể biết họ có chân thành hay không.
* Hạt 85 (Nhập Danh Ngữ): Nếu bạn không tự mang phiền não đến cho mình, người khác sẽ không bao giờ có thể gây phiền não cho bạn.
* Hạt 86 (Ly Âm Thanh Tự Ngữ): Đừng cố ý đoán suy nghĩ của người khác. Nếu bạn không có trí tuệ và kinh nghiệm để phán đoán đúng, thường sẽ mắc lỗi.
* Hạt 87 (Nhiên Cự): Chấp nhận số phận tốt hơn là than phiền. Đối với những sự thật không thể thay đổi, bạn không còn cách nào khác tốt hơn ngoài việc chấp nhận.
* Hạt 88 (Tịnh Tướng): Đừng vì sự ngu dốt của chúng sinh mà mang phiền não về cho mình. Đừng vì sự vô tri của chúng sinh mà làm khổ bản thân.
* Hạt 89 (Phá Tướng): Người không tắm, xịt nước hoa cũng không thơm. Danh tiếng và sự cao quý đến từ tài năng và đức độ thực sự. Người có đức, tự nhiên sẽ tỏa hương!
* Hạt 90 (Nhất Thiết Chủng Diệu Túc): Nếu bạn có thể nhận ra khuyết điểm của bản thân một cách chính xác như khi bạn thấy khuyết điểm của người khác, cuộc đời bạn sẽ trở nên phi thường.
* Hạt 91 (Bất Hỷ Khổ Lạc): Tất cả những gì bạn có rồi sẽ theo cái chết mà trở thành của người khác, vậy tại sao không bố thí ngay bây giờ cho những người thực sự cần?
* Hạt 92 (Vô Tận Tướng): Khi bạn nghèo khó, hãy dùng thân thể để bố thí, ví dụ như quét dọn, rót nước, khuân vác, v.v. Đây cũng là một cách bố thí.
* Hạt 93 (Đà La Ni): Sống thêm một ngày là có thêm phúc khí, nên phải biết trân trọng. Khi tôi khóc vì không có giày để đi, tôi chợt nhận ra có những người thậm chí không có chân.
* Hạt 94 (Nhiếp Chư Tà Chính Tướng): Người thiếu phúc báo sẽ thường xuyên nghe thấy thị phi; người đủ phúc báo sẽ không bao giờ nghe thấy thị phi.
* Hạt 95 (Diệt Tăng Ái): Bạn phải luôn khoan dung với chúng sinh, dù họ có xấu xa đến đâu. Thậm chí nếu họ đã làm tổn thương bạn, bạn nhất định phải buông bỏ mới có được hạnh phúc thực sự.
* Hạt 96 (Nghịch Thuận): Người nghiệp chướng sâu nặng luôn chỉ nhìn thấy lỗi lầm và khuyết điểm của người khác. Người tu hành chân chính thì không bao giờ nhìn vào lỗi lầm của người khác.
* Hạt 97 (Tịnh Quang): Tất cả những pháp ác đều là hư ảo, bạn đừng quá tự ti. Tất cả những pháp thiện cũng là hư ảo, bạn đừng quá ngông cuồng.
* Hạt 98 (Kiên Cố): Không cần phải quay đầu lại xem ai đang chửi mắng mình. Nếu một con chó dại cắn bạn một miếng, lẽ nào bạn cũng phải cắn trả nó một miếng?
* Hạt 99 (Mãn Nguyệt Tịnh Quang): Quan niệm đầu tiên khi học Phật là mãi mãi không nhìn vào lỗi lầm của chúng sinh. Nếu bạn cứ nhìn vào lỗi lầm của chúng sinh, bạn sẽ tự làm ô nhiễm bản thân và không thể tu hành.
* Hạt 100 (Đại Trang Nghiêm): Khi người khác nói chúng ta không tốt, không cần phải tức giận hay buồn bã. Khi người khác nói chúng ta tốt, cũng không cần phải vui mừng. Điều xấu có mặt tốt, điều tốt có mặt xấu, quan trọng là bạn có biết cách sử dụng hay không!
* Hạt 101 (Năng Chiếu Nhất Thiết Thế): Hãy mỉm cười đối mặt và đừng oán trách. Hãy sống thong dong, tùy tâm, tùy tính và tùy duyên. Điều duy nhất có thể thay đổi cuộc đời bạn là khoảng thời gian khi bạn nở rộ vào trăm năm sau.
* Hạt 102 (Tam Muội Đẳng): Những người khen ngợi và tán dương chúng ta không phải là danh sư. Những người phê bình và chỉ dẫn chúng ta mới là thiện tri thức, có họ thì chúng ta mới tiến bộ.
* Hạt 103 (Nhiếp Nhất Thiết Hữu Tránh Vô Tránh): Muốn biết kiếp nạn đao binh trên thế gian, hãy lắng nghe tiếng kêu của loài vật vào nửa đêm. Đừng chỉ oán trách bản thân hay gặp bệnh tật, tai ương, mà hãy nhìn xem có bao nhiêu chúng sinh chết thảm dưới lưỡi dao của bạn.
* Hạt 104 (Bất Lạc Nhất Thiết Trú Xứ): Mỗi người đều có sinh mệnh, nhưng không phải ai cũng hiểu và trân trọng nó. Đối với những người không hiểu sinh mệnh, cuộc sống với họ là một sự trừng phạt.
* Hạt 105 (Như Trụ Định): Tình yêu không phải là sự nghiệp từ thiện, không thể tùy tiện bố thí. Tình cảm không có công thức, không có nguyên tắc, không có đạo lý nào để tuân theo. Thế nhưng con người vẫn cứ chấp niệm và theo đuổi nó cho đến chết.
* Hạt 106 (Hoại Thân Suy): Con người không phải là xấu, chỉ là có những thói quen xấu. Mỗi người đều có thói quen, chỉ là nông sâu khác nhau. Chỉ cần họ có lòng hướng đạo, hãy tha thứ cho họ, đừng xem họ là người xấu.
* Hạt 107 (Hoại Ngữ Như Hư Không): Bạn phải bao dung những người có ý kiến khác với bạn. Nếu bạn cứ muốn thay đổi họ, bạn sẽ rất đau khổ. Bạn nên học cách nhẫn chịu và bao dung họ.
* Hạt 108 (Ly Chấp Hư Không Bất Nhiễm): Những thứ không đạt được thường rất đẹp, đó là vì bạn hiểu biết quá ít và không có thời gian tiếp xúc với chúng. Khi bạn hiểu sâu hơn, bạn sẽ nhận ra chúng không đẹp như bạn tưởng tượng.
St và TH
https://www.facebook.com/share/p/1EvKXykfb1/
Tín ngưỡng thờ các vị Phật,Thần-Thánh bảo hộ
* Trong gia đình, người Hoa. Ví dụ, trong ly nước-trắng đặt trên bàn-thờ:
• Người Hoa Quảng-Đông có 1 chiếc Lá-Bưởi tươi được thả vào nhằm nói lên sự tinh-khiết, trong-sạch.
• Người Hoa Triều-Châu thì lại thả Lá Thuộc-Bài (Trắc Bách-Diệp) nhằm diệt-trừ ma-quỷ.
• Còn, Người Hoa Phúc-Kiến, Hải-Nam và Hẹ thì chỉ đặt 1 ly nước-trắng.
https://share.google/p8KbdHSkcJPLeqN9K
======================
“SỨC MẠNH” CỦA LÁ BƯỞI [ 碌柚葉 ]
https://iili.io/K7Lgydv.md.jpg
https://i.ibb.co/sJpswgbD/481268378-...51550220-n.jpg
(https://www.facebook.com/photo.php?f...82733997362464)
Lá Bưởi tưởng bình thường nhưng trong văn hoá người Hoa Quảng Đông lại là một loại lá rất quan trọng, quan trọng nhất là những lúc cảm thấy mình xui rủi, không may mắn.
Khi không may mắn thuận lợi, người khác thường đi cần thần khấn Phật, cúng bái để tai qua nạn khỏi - nhưng người Quảng Đông thì đi hái, đi mua lá bưởi về để “xả xui”!
Nhưng mà tại sao là lá Bưởi chứ không phải lá khác?
Người xưa thường nói Lá Bưởi không chỉ có tác dụng diệt nấm mốc, khử trùng, xua đuổi tà ma, phòng bệnh mà quan trọng nhất là có tác dụng cầu may mắn, cát tường.
Lá Bưởi tiếng Quảng đọc là “Lúk Dẫu Dịp” (碌柚葉), chữ “Lúc Dẫu” (碌柚) sẽ phát âm nghe như “Lụk Dậu” (禄有) - có nghĩa là “Có Lộc”, cho nên lá Bưởi được người Quảng Đông từ xưa tin là sẽ mang lại may mắn, phúc lộc.
Truyền thuyết dân gian nói về việc Lá Bưởi có tác dụng xua đuổi tà ma vốn đã có từ thời xa xưa. Tinh dầu lá Bưởi rất thơm và khuếch tán xa có tác dụng an thần, giảm căng thẳng và mệt mỏi. Lá Bưởi xua tan hàn khí, đặc biệt nếu nhà có trẻ nhỏ thì việc tắm bằng nước lá bưởi ấm có thể giúp con trẻ tránh xa những thứ không sạch sẽ.
Khi dọn nhà, nhất là dịp cuối năm người ta nhất định phải có lá Bưởi, dùng để tẩy trừ những thứ không sạch, những xui rủi, những điều không hay trong nhà để đón một năm mới bình an./.
=====================
Một số ví dụ cụ thể về việc sử dụng lá bưởi trong nghi lễ truyền thống:
– Tại miền Bắc Việt Nam, trong lễ cúng Rằm tháng Giêng (ngày rằm đầu tiên của năm mới), nhiều gia đình đặt lá bưởi tươi lên bàn thờ như một biểu tượng của sự thanh khiết và may mắn.
– Ở nhiều vùng nông thôn, người dân vẫn giữ tục lệ đun nước lá bưởi rảy khắp nhà vào các dịp như khi có người mới mất trong nhà, sau khi có người bệnh nặng hồi phục, hoặc khi chuyển đến nhà mới.
– Tại một số địa phương ven biển miền Trung, ngư dân thường treo lá bưởi trên thuyền trước khi ra khơi với niềm tin sẽ được bảo vệ và đánh bắt được nhiều cá.
– Trong y học cổ truyền, các thầy thuốc xưa thường kết hợp lá bưởi với các bài thuốc trừ tà, giúp bệnh nhân trấn an tinh thần và phục hồi năng lượng.
Giá trị văn hóa của lá bưởi đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ và vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt Nam hiện đại. Ngay cả khi khoa học đã giải thích được cơ chế tác động của các thành phần hóa học trong lá bưởi, những giá trị văn hóa và tâm linh này vẫn được tôn trọng và gìn giữ như một phần không thể thiếu của bản sắc dân tộc.
https://topcargo.vn/la-buoi-y-nghia-...a-so-sanh-2025
Hệ thống tín ngưỡng dân gian của người Khmer vùng đất Nam Bộ khá phong
phú với quan niệm vạn vật hữu linh. Vì thế những lực lượng siêu nhiên có thể ban
phước lành hoặc giáng họa cho con người. Người Khmer tin rằng trong cuộc sống,
sản xuất của cá nhân, gia đình, dòng họ muốn được bình yên phải được lực lượng
siêu nhiên đầy quyền năng che chở, bảo hộ. Đó là Arak (thần bảo hộ dòng họ), Neak
Ta (thần bảo hộ) luôn ngự trị trong tâm thức của họ. Người Khmer luôn tìm chỗ dựa
tinh thần vào tổ tiên của dòng họ, vào những vị thần bảo hộ thôn làng để xin được
cứu giúp khi gặp thiên tai, dịch bệnh, mất mùa, tai nạn.
Thờ cúng trong gia đình, dòng họ
Tín-ngưỡng thờ Arak
Người Khmer Nam Bộ quan niệm Arak là vị thần giữ gìn, bảo vệ; có nguồn gốc
là linh hồn người chết nhưng hiển linh được tôn làm thần để bảo vệ, che chở cho sự
bình an, sức khỏe, ổn định và phát triển của mỗi cá nhân, gia đình, dòng họ. Do vậy
tín ngưỡng Arak được hiểu là tín ngưỡng về vị thần bảo vệ của gia đình, dòng họ;
trong phạm vi rộng hơn có thể là một phum srok. Có nhiều loại Arak như Arak
choubuo (Arak của dòng họ); Arak bảo vệ khu đất (Arak phum); Arak giữ rừng
(Arak preay); Arak bảo vệ nhà (Arak phteah)… Trước đây mỗi dòng họ của người
Khmer có một hoặc nhiều Arak, những gia đình có cùng một bà tổ tính theo phía mẹ
đều có chung một Arak.
Về nguồn gốc, tập tục thờ cúng Arak là một hình thái tín ngưỡng cổ xưa của
người Khmer ở Campuchia khi còn theo Bà La Môn giáo và Phật giáo chưa du nhập
vào vương quốc này; sau đó tín ngưỡng này theo chân những cư dân nhập cư vào
khu vực Nam Bộ của Việt Nam. Thờ cúng Arak liên quan đến thuyết vật linh
(Animisim) và Shaman giáo có mặt trong hầu hết đời sống tinh thần của các tộc
người thuở sơ khai.
Về đặc điểm cơ sở thờ tự, người Khmer thờ Arak ở nhà hoặc trong miếu của
phum srok. Trong phạm vi gia đình thì Arak được thờ với hình thức chòi nhỏ ngoài
sân hoặc trang thờ treo trên vách nhà mô phỏng theo kiểu dáng nhà sàn, vách và mái
được làm từ lá dừa nước, bên trong có bệ thờ bày trí một khúc thân chuối hoặc một
tái dừa để cắm nhang, một cái đĩa bằng bẹ chuối hoặc một cái tháp bằng cây1
. Trong
phạm vi phum srok thì Arak được thờ tại các thala (sala). Thala ban đầu mang ý
nghĩa nơi dừng chân trú nắng dành cho khách đi đường, sau này một số nơi kết hợp
thờ Arak hoặc Neak Ta. Thala thường nằm ven đường hay ngã ba đường, cũng có
thể gần bến sông, ở góc vườn hay khuôn viên chùa; được lợp bằng tre hoặc lá. Tuy
nhiên hiện nay thờ cúng Arak không còn được người Khmer quá chú trọng, một số
nơi thờ Arak trong cộng đồng trở thành nơi thờ Neak Ta.
Về hình thức cúng Arak có hai dạng, cúng khi gia đình có sự việc và cúng định
kỳ hàng năm.
Cúng khi gia đình có việc: người Khmer tin rằng việc mắc bệnh lâu ngày, gặp
tai nạn bất ngờ, làm ăn xui xẻo là do người trong nhà đã làm gì sai quấy nên bị thần
linh trách phạt. Để chuộc lại lỗi lầm đó thì gia đình phải mời thầy cúng về tổ chức
cúng vái và chọn ngày lành dâng cúng lễ vật. Sau khi định ngày thì người trong gia
đình đó phải hỏi Kruteay (thầy bói) là cúng Arak nào. Thầy bói sẽ hướng dẫn sắm
sửa lễ vật cần thiết và dựng một chòi nhỏ trước nhà, lập một bàn cúng dài rồi phủ
vải trắng lên mặt bàn và để lễ vật cúng lên đó. Có nhiều kiểu cúng Arak với quy mô,
các bài tụng, vật cúng khác nhau. Tùy từng Arak và nhận thức của mỗi gia đình mà
lễ vật có thể là thịt ếch, thịt bò, đầu heo, gà luộc, vịt luộc, trái cây,... Hình thức cúng
Arak của người Khmer là một dạng lễ nhập đồng mà họ gọi là “Liêng Arak” hoặc
“Chôl Arak”. Tham gia cuộc lễ này sẽ có thầy bói Krutaey, Rub Arak, thân nhân
trong gia đình, những người trong thân tộc hoặc phum srok và ban nhạc (chơi các
nhạc cụ dân gian). Khi nhập đồng, linh hồn người chết sẽ nhập vào Rub để trò
chuyện với thân nhân đang sống về những gì linh hồn Arak cần và biểu lộ thái độ
của Arak. Rub là vị trung gian kết nối thế giới con người và thế giới tâm linh với
chức năng cầu xin bình an cho gia đình, chữa khỏi bệnh tật cho người bệnh. Rub
thường là phụ nữ nhưng cũng có thể là đàn ông, tuy nhiên phải là người có khả năng
đặc biệt, có bóng vía hợp với Arak. Người này thường được chọn trong số những
người bị tật nguyền hay dị dạng và phải biết múa khi nhập đồng, phải có đức độ
đàng hoàng tử tế, tính nết tốt lành. Trước đây, mỗi dòng họ có một phụ nữ làm Rub
Arak - người đại diện cho dòng họ nhập đồng khi cúng Arak. Về sau xuất hiện
những người chuyên hành nghề Rub Arak.
Trình tự một buổi lễ thường như sau, thầy cúng chuẩn bị lễ sau đó sẽ làm động
tác rót rượu mời thần, mong thần về nhập xác để chỉ bảo cách chữa bệnh cho người
ốm hay một việc gì đó. Rub đốt nhang và vái lạy rồi ngồi nhắm mắt, chắp tay trước
bàn cúng trong tiếng nhạc tiếng cổ vũ của mọi người xung quan. Sau 10 đến 30 phút
khi Arak nhập vào Rub lắc lư, nhún nhảy và múa liên tục, thay y phục đã được
chuẩn bị sẵn. Đối với việc trị bệnh thì người bệnh đeo tấm vải trắng ngồi kế bên
Rub, khi Arak nhập vào Rub thì sẽ cầm kiếm đi vòng quanh và chạm nhẹ thanh
kiếm cào người bệnh; rồi phun nước vào người bệnh và tiếp tục đốt nhang vái. Khi
Arak xuất ra thì Rub trở lại bình thường.
Cúng định kỳ hàng năm: mỗi năm người dân trong một phum srok tụ họp tại
một miếu thờ để cúng Arak và Neak Ta, cầu xin những điều thuận lợi, tốt lành cho
năm đó. Đây không chỉ là lúc bày tỏ lòng biết ơn đối với sự phù trợ của các vị thần
bảo hộ Arak và Neak Ta, mà còn là dịp để bà con trong phum srok đoàn tụ, thăm hỏi
lẫn nhau và sinh hoạt chung, nhằm thắt chặt tình đoàn kết cộng đồng.
Hiện nay, tín ngưỡng thờ Arak của người Khmer có xu hướng mai một vì
nhiều nguyên nhân. Khi đời sống ngày càng được nâng cao thì nhận thức của người
dân ngày càng thực tế, họ sẽ đến bệnh viện, uống thuốc nếu mắc bệnh, ốm đau chứ ít
còn kỳ vọng vào sự bảo trợ sức khỏe từ các lực lượng siêu nhiên. Tuy việc thờ cúng
có sự suy giảm nhưng trong tâm thức người Khmer vẫn còn ghi nhớ về Arak; đồng
thời trong sinh hoạt hàng ngày họ đã lồng ghép cúng Arak vào những dịp lễ hội hoặc
đám tiệc trong gia đình với lễ vật là bánh trái, mâm cơm; còn nghi thức nhập đồng
đã bị lược bỏ.
https://share.google/p8KbdHSkcJPLeqN9K
Làm nghi thức Chlon Bun tức là lấy 1 cành-hoa nhỏ nhúng dầu-dừa trong chén rồi quét lên tay từng người một, họ lấy tay dính dầu lau lên đầu xem như cuộc lễ.
https://share.google/p8KbdHSkcJPLeqN9K
Lễ-vật cúng Thần-Lúa thường là 1 mâm-cơm, 1 khay-trầu, 1 ly-nước và vài 3 nhúm-lúa. Trong lễ-cúng, 1 người phụ-nữ trong gia-đình đầu-đội thúng-lúa, cúng-xong, đổ-lúa vào bồ trước.
https://share.google/p8KbdHSkcJPLeqN9K
Văn bia (bi văn 碑文)
Sách Chính trung hình âm nghĩa tổng hợp đại tự điển 正中形音義綜合大字
典 của Cao Thụ Phiên 高樹藩, do Chính Trung thư cục 正中書局 ấn hành năm
2012 tại Đài Loan giải thích về nguồn gốc việc dựng bia và soạn khắc văn bia như
sau: “Bia 碑 (Chữ hình thanh, hội ý). Giáp cốt văn, Kim văn không có chữ bi. Chữ
Tiểu triện viết chữ ti (卑) bên chữ thạch (石), đọc là bi, nghĩa gốc là “dựng đá”, giải
thích rằng (thấy Thuyết văn ghi: Thời xưa, trong cung dựng bia để đo ánh sáng mặt
trời, nơi tông miếu dựng bia để trói buộc vật tế, nơi mộ táng dựng bia (đúng ra là
làm bằng thanh gỗ lớn, để buộc dây ròng rọc, hình dạng giống như bia cho nên có
tên gọi như vậy) để hạ quan tài, dựng đá để làm, cho nên có bộ thạch (石). Lại dùng
ti (卑) để thể hiện sự khiêm nhường, bia ban đầu được dựng bằng khối đá thấp để
tiện việc thờ cúng, cho nên có bộ thạch và âm ti. Chỉ có Lưu Hy cho rằng: bi (bia)
nghĩa là bì (埤) vậy, vua thời thượng cổ ghi việc tế trời đất thì dựng đá ở núi thấp
khắc hiệu Phong thiền, cho nên gọi là bi vậy, (chữ ) bi ấy có chữ bì 埤, viết lược để
ghi âm. Giải thích như vậy cũng có thể thông, dẫn cả ra để tham chứng…”. Bi - 碑
(Hình thanh, Hội ý). Giáp văn, Kim văn bi tự khuyết. Tiểu triện: Bi tòng thạch, ti
thanh, bản nghĩa tác “thụ thạch”, giải (kiến Thuyết văn Hứa trứ) cổ thời, cung
trung lập bi dĩ thức nhật cảnh, tông miếu lập bi dĩ kế tế tính, mộ sở lập bi (thực vi
đại mộc bản, thí lộc lô bị thằng sách giả, dĩ kỳ hình như bi, cố xưng) dĩ hạ quan,
Đại đô thụ thạch vi chi, cố tòng thạch. Hựu dĩ ti hữu đê hạ chi ý, tối sơ chi bi, vi thụ
đê thạch dĩ tiện sự giả, cố tòng bi thanh. Duy Lưu Hy dĩ vi (bi giả, bì dã, thượng cổ
Đế hoàng, kỷ hiệu Phong Thiền thụ thạch bì nhạc, cố viết bi dã) thị bi tòng bị tỉnh
thanh, thuyết diệc khả thông, tịnh dẫn tham chứng2
[310-1155].
Về nghĩa của chữ bi (碑), sách giải thích, chú dẫn khá kỹ với chức năng là
danh từ và động từ: “Danh từ: 1. Dựng ở trong cung để đo bóng mặt trời, khối đá
không có chữ gọi là bi. Ví dụ: Mặt hướng phía đông, phần trên hướng phía bắc, phía
trên được gọi là bi. Trịnh chú: “Trong cung tất có bi, vì dùng để đo bóng mặt trời,
dẫn khí âm dương vậy” (Nghi lễ - Sính lễ); 2. Dựng ở miếu đình (sân miếu) để buộc
ngựa, khối đá không khắc chữ gọi là bi. Ví dụ: “Người dắt vật tế đã vào cửa miếu,
buộc ở bi”. Giải thích: “Dắt - buộc, bảo rằng vật tế vào trong miếu, rõ ràng dắt buộc
vào bi trong sân vậy” (Lễ ký - Tế nghĩa); 3. Dựng để hạ quan tài, dùng khối gỗ lớn
đại khái giống như bia đá gọi là bi. Ví dụ: “Nơi chôn cất quan lại thấy nhiều bi”.
Giải thích: Phong bi - chặt đẽo cây gỗ lớn làm bi, giống như bia đá, ở hai bên phía
trước sau và 4 góc quách đều dựng bi, khoảng giữa có lỗ thủng làm con lăn (ròng
rọc) buộc dây để hạ quan tài. Bậc thiên tử dùng 6 dây 4 bi, trước sau đều có con lăn
(ròng rọc) vậy. Chư hầu 4 dây 2 bi; Bậc đại phu 2 dây 2 bi; Quan lại 2 dây không có
bi (Lễ ký - Đàn cung); 4. Dựng đá khắc văn tự để ca tụng công đức nên gọi là bi;
Trước thời Tần đa số gọi là khắc thạch, thời Hán mới quen gọi là bi. Ví dụ: 1. “Bi
Nghiêu, kiệt Vũ thời xa xưa không rõ” (Phục Thao - Thuật công đức minh); 2.
“Nước Ngụy vâng dựng bia thiền, gồm: Văn hay nổi tiếng có Vương Lãng, viết chữ
đẹp nổi tiếng có Lương Hộc, khắc chữ nổi tiếng có Chung Diêu, cho rằng đó là tam
tuyệt” (Tập cổ lục); 5. Dựng đá khắc văn tự để tỏ bày nỗi niềm của người chết khi
sinh thời mà thể hiện việc nghĩa nên gọi là bia;... ghi danh, giải thích điển nghệ
chính là bia vậy, gốc gác của việc này có từ thời Vương Mãng đặt ra vậy… Ví dụ,
1. “Thái tự Lâm Tông cất quân có đạo nhưng không có người hưởng ứng, năm Kiến
Ninh thứ 2 mất, bè bạn cùng khắc thạch dựng bia, Sái Ung làm văn” (Hậu Hán thư -
Quách Thái truyện); 2. “Hỗ mất, trăm họ thành Tương Dương ở trên núi dựng bia,
nước mắt chảy thành dòng” (Tấn thư - Dương Hỗ truyện);… 6. Khắc văn tự để ghi
danh, thuật sự cùng làm tiêu thức mà dựng thạch, gọi là bia. Ví dụ: “Bia cắm mốc,
bia lý trình, bia đảng nhân”. Lại thấy: 1. “ Chu Mục ghi dấu trên đá ở Yểm Sơn lại
Học giả cuối đời nhà Thanh (Trung Quốc) là Hiệp Xương Thức 叶昌識 khi
nghiên cứu thể bi ký đã phân chia văn bia khá chi tiết, kỹ lưỡng thành 42 loại.
Dương Điện Tuần 楊殿珣 (Trung Quốc) phân chia văn bia thành 7 nhóm chính,
dưới các nhóm được chia nhỏ thành nhiều tiểu loại [66].
Trong Kim thạch học 金石學, học giả Chu Kiếm Tâm 朱劍心 (Trung Quốc)
đã phân chia văn bia khắc trên đá thành 11 loại (10 loại chính và 01 tạp loại), gồm
có: Khắc thạch 刻石, bi kiệt 碑碣3, mộ chí 墓誌, tháp minh 塔銘, phù đồ 浮图,
kinh chàng 經幢, tạo tượng 造像, thạch khuyết 石闕, ma nhai 摩崖, địa biệt 地別
và tạp loại 雜類 (gồm văn tự khắc trên lư hương 香爐, thần vị 神位, trụ cầu 橋柱,
thành giếng 井闌...) và đưa ra nhận xét “tất cả nội dung khắc trên bia đá đều gọi là
văn bia bắt đầu từ đời Hán về sau”, “từ Hậu Hán về sau mới có văn bia, tìm văn bia
trong bia thời Tiền Hán chưa thể thấy được” [90- 19] [92-10].
Đến thế kỷ X, thời Ngô, Đinh, Tiền Lê (939 - 1009) chúng ta mới phát hiện
được các cột đá khắc kinh Phật đỉnh tôn thắng gia cú linh nghiệm Đà la ni 佛頂尊
勝加句靈驗陀羅尼 ở cố đô Hoa Lư, t. Ninh Bình và đến nay chưa có phát hiện mới
[124-786].
Đó là những danh từ
ghi lễ vật như: Cỗ 具, xôi 吹, oản 菀, bánh 餅, trầu cau 芙蔞…: ghi các lượng từ,
danh từ như: Mẫu 畝, sào 高, thửa 所, mâm 盤, hũ 圬, vò 圩; ghi các địa danh, xứ
đồng như: Đồng Trước 同畧, Đồng Sau 同婁, Cửa Đình 舉 亭, Cửa Chùa 舉㕑,
Cửa Làng 舉廊, Dộc Cả 淯奇, mương 茫, máng 漫…
https://gass.edu.vn/Uploads/File/2016/5/LuananPhong.pdf
Cổ Miếu Long-Vương - Xứ Biên-Trấn xưa
https://i.ibb.co/yjHQPjw/1.webp
https://i.ibb.co/yjHQPjw/1.webp
Lê Ngọc Quốc[*]
Trong thư tịch, miếu Long Vương được nhắc đến và tính đến hiện nay, có lịch sử hơn 300 năm kể từ khi Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu kinh lược xứ Đồng Nai, thiết lập hành chính đầu tiên trên vùng đất phương Nam vào năm Mậu Dần – 1698. Hiện nay, ngôi miếu thuộc khu phố Thái Bình, phường Long Bình, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Miếu Long Vương xưa thuộc dinh Trấn Biên, huyện Phước Long và sau này thuộc tỉnh tỉnh Biên Hoà.
Miếu Long Vương trong thư tịch
Ba nguồn thư tịch của Việt Nam đề cập miều Long Vương: Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định (1806), Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1820) và Đại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn (1865). Trong hồ sơ quân sự của người Pháp trong kế hoạch tiến đánh Biên Hòa do chuẩn Đô đốc Bonard soạn thảo (cuối năm 1861) và sau đó được tuần báo Illustration số ra ngày 01/3/1862 đăng tin, kèm bản đồ chi tiết có nhắc đến. Miếu Long Vương xuất hiện trong bản đồ địa hình Hạt tham biện Sài Gòn năm 1885 sau khi đã chiếm toàn bộ Nam kỳ, Pháp thành lập bộ máy cai trị.
– Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (皇越一統輿地志) là sách địa chí do Lê Quang Định (1759-1813), Thượng thư bộ Binh biên soạn xong năm 1806. Đây là bộ địa chí đầu tiên của nhà Nguyễn, mở đầu cho các bộ địa chí có quy mô lớn và những phương chí sau này. Nét nổi bật nhất của bộ sách chính là việc ghi chép một cách tường tận về hệ thống giao thông đường bộ lẫn đường thủy của nước ta vào đầu thế kỷ XIX.
Trong ghi chép về Doanh Trấn Biên cho biết:“100 tầm (khoảng 230m) hai bên bờ đều có ruộng vườn và dân cư thưa thớt, đến chùa cổ Vãi Lượng, chùa ở trên gò đất bên bờ nam, ngày xưa có ni cô tên là Vãi Lượng dựng chùa này, ngày nay đã bị hư hỏng, phong cảnh chùa khá đẹp… 120 tầm, hai bên đều có ruộng vườn và dân cư thưa thớt, đến rạch Cai Quý [Quới], rạch ở bên bờ nam, rộng 10 tầm, chảy xuống hướng nam 947 tầm thì giáp ngả ba hai nhánh Mụ Lộ và Đồng Tròn, hai bên bờ đều có ruộng vườn và dân cư thưa thớt… 150 tầm, hai bên đều có ruộng vườn và dân cư thưa thớt, đến miếu Long Vương (龍王廟) thôn Phước Hòa, miếu ở bên bờ nam, tương truyền vào thời tiền triều khi Vân Long hầu [tức danh tướng Nguyễn Cửu Vân] đem quân đi chinh phạt Cao Miên, thuyền lương qua đến bến này thì bỗng dưng nổi sóng gió không tài nào đi được, Vân Long hầu bèn đến cầu đảo Long Vương linh thần thì liền có ứng nghiệm, sau khi xong việc bèn lập miếu thờ…”1.
– Gia Định thành thông chí (嘉 定 城 通 志) hay Gia Định thông chí (嘉 定 通 志) là một quyển địa chí của Trịnh Hoài Đức (1765- 1825) Hiệp Biện Đại học sĩ, sách viết về miền đất Gia Định bằng chữ Nho và chữ Nôm, là một sử liệu quan trọng về Nam Bộ thời nhà Nguyễn.
Quyển 6, Thành trì chí, Trấn Biên Hoà có đoạn ghi chép: “Đền Long Vương (龍王𡑴), ở bờ nam sông Phước Giang, cách thành về phía đông 15 dặm. Đời Hiển Tông (1691-1725), Chánh thống suất Nguyễn Vân [tức danh tướng Nguyễn Cửu Vân] đi đánh Cao Miên, khi quân đến đây thấy vực sâu hiểm, dưới lòng sông có đá ngầm, nước xoáy mạnh, sóng dữ, bỗng gió to mưa lớn, rất nguy cấp, chiến thuyền hầu như khó an toàn. Bỗng thấy có ngôi đền tranh nhỏ vắng vẻ trong lùm cây bên bờ sông, hỏi ra mới đó là nơi thờ thần Long Vương. Vân Thống suất bèn cầu đảo thầm, trong chốc lát trời lại tạnh sáng, thuyền đi qua đều yên ổn. Lần đi này chỉ một trận là thành, nên ngày khải hoàn Ngài cho cho tu bổ lớn lao để đền ơn, nay đền vẫn còn nguy nga, trông rất trang nghiêm”2
– Đại Nam nhất thống chí (大南一統志) là bộ sách dư địa chí, của Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn thời vua Tự Đức. Đây là bộ sách lớn nhất và quan trọng nhất về địa chí nước ta dưới thời nhà Nguyễn. Tập 2, Tỉnh Biên Hoà, mục Đền Miếu ghi: “Đền Long Vương (龍王𡑴): Ở thôn Long Sơn huyện Long Thành, bờ nam sông Phước Long; thờ Nhất, Nhị, Tam lang Long Vương. Đời vua Hiển Tông bản triều, suất thống Nguyễn Cửu Vân đi đánh Cao Man, đến chỗ này, thấy dưới vực sâu có gành đá nước xô sóng mạnh, giây lát lại nổi lên mưa mù gió dữ rất nguy hiểm; Ông cầu khấn liền được yên lặng, quân đi đến đâu đánh thắng đến đó, nên sau Ông dựng Đền để đền đáp, nay dân gian cầu đảo đều được linh ứng. Ở bên đền có nhiều cây cổ thụ, cây cao nhất thường có giống dơi vàng, lớn bằng con chim (dơi quạ), cánh dài đến 2 thước[thước ta khoảng 70-80cm], đến đậu cả trăm con, ai muốn bắn phải cầu khẩn mới bắn được”3.
– Tài liệu của Pháp thời kỳ đầu Chiến tranh Pháp – Đại Nam
Ngày 01/09/1858, liên quân Pháp và Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc xâm lược Đại Nam. Ngày 02/02/1859, tướng De Genouilly kéo đại quân tiến xuống Nam kỳ. Ngày 18/02/1859, liên quân chiếm được thành Gia Định. Sau đó lần lượt đại đồn Chí Hoà (25/02/1861), rồi Định Tường (12/4/1861) cũng thất thủ…Lúc này trước nguy cơ chiến sự, triều đình nhà Nguyễn cho lập nhiều đồn lũy xung quanh bảo vệ thành Biên Hoà: Mỹ Hoà, Gò Công- Trau Trảu, Suối Sâu, Bình Thuận, Bình Chuẩn… Trên sông Đồng Nai, từ ngã ba Nhà Bè đến phía trước cửa thành Biên Hoà có chín cản gỗ và một cản đá. Dọc hai bờ sông có một số pháo đài bố trí súng thần công, dưới sông có một số thuyền chứa chất cháy dùng chiến thuật đánh hỏa công khi địch lọt vào trận địa.
Theo “Bản đồ chiến trường tác chiến mới nhất ở Nam Kỳ Tuần báo Illustration số ra ngày 1/3/1862” thì khu vực Miếu Long Vương lúc bấy giờ có bố trí một pháo đài, được ghi chú là “Fort Rectangulaire de Long-Young” [Pháo đài hình chữ nhật – Long Vương].
Diễn biến trận Biên Hoà (1861) dược miêu thuật: Ngày 13-12-1861, tướng Bonard, chỉ huy trưởng quân Pháp ở Sài Gòn đã ký huấn lệnh về kế hoạch đánh chiếm Biên Hòa. Theo huấn lệnh này, lực lượng đánh chiếm Biên Hòa gồm đại đội khinh binh, do đại tá Foucault chỉ huy; đạo quân trù bị gồm 300 lính thủy quân lục chiến, 100 quân Tây Ban Nha và hai đại bác do đại tá Domenech Diego chỉ huy, đạo quân thứ ba gồm hạm thuyền (2 hạm thuyền) và lực lượng đổ bộ do thiếu tá Lebris chỉ huy. Trong kế hoạch, địch chia làm ba bước, trong đó có việc đánh chiếm Bến Gỗ để làm bàn đạp tiến quân về Biên Hòa. Ngày 14-12-1861, quân Pháp tiến đánh tỉnh Biên Hòa bằng cả đường bộ và đường thủy. 7 giờ 30 cùng ngày, Gò Công Trao Trảo rơi vào tay giặc (đại tá Comte chỉ huy). Ngày 15-12-1861, quân Pháp do Comte và Diego tiến lên đồn Mỹ Hòa, quân triều đình rút chạy. Trên đường sông Đồng Nai, hai cánh quân do Lebris và Harel chỉ huy gặp sự chống trả khá quyết liệt của quân triều đình. Tàu Alarme trúng 54 phát thần công, gẫy cả cột buồm. Phá được cản, quân Pháp tiến đánh phá các pháo đài ven sông [trong đó có đồn Long Vương], quân triều đình chống trả đến giữa đêm thì rút chạy. Sáng ngày 17-12-1861, quân thủy bộ của Pháp đã đến trước tỉnh thành Biên Hòa. Đích thân đô đốc Bonard theo chiến hạm Ondine chỉ huy trận tấn công. Chỉ sau ba loạt đạn pháo bắn rất quyết liệt, tuần phủ Nguyễn Đức Hoan và án sát Lê Khai Cẩn đã bỏ thành rút chạy, khâm sai đại thần Nguyễn Bá Nghi mang quân chạy ra Bình Thuận.4 ngày 18/12/1861, Liên quân tiến chiếm Thành Biên Hoà.
Miếu Long Vương qua địa danh hành chính
Thời điểm 1698 đánh dấu mốc quan trọng trong cơ cấu hành chính của vùng đất phương Nam khi Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh thiết lập bộ máy quản lý đầu tiên, ổn định dân tình, hoạch định cương giới xóm làng “ Chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn”5. Chưa rõ miếu Long Vương được xây dựng từ khi nào và lúc ấy địa danh hành chính tên gì, nhưng Miếu được xây dựng không thể trễ hơn năm 1705 – là thời điểm danh tướng Nguyễn Cửu Vân vâng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu, thống lĩnh quân thuỷ bộ Gia Định, tiến đánh quân Cao Miên đang cầu viện Xiêm La vào quấy rối phủ Gia Định.
Đến năm 1806, trong ghi chép của Hoàng Việt nhất thống dư địa chí thì Miếu Long Vương thuộc thôn Phước Hoà, bên bờ nam sông Phước Long [sông Đồng Nai]. Trong Gia Định thành thông chí (1820), thời Gia Long; mục cương vực chí, chúng ta thấy có tên: thôn Phước Hoà thuộc tổng Long Vĩnh, huyện Long Thành, phủ Phước Long, Trấn Biên Hoà.
Trong địa bạ Minh Mạng (1836) tỉnh Biên Hoà, huyện Long Thành, tổng Long Vĩnh Hạ, bờ nam sông Đồng Nai khu vực rạch Cai Quí [Quới], có ghi: thôn Long Thành- xứ Cai Quới [trong bản đồ hạt tham biện Sài Gòn năm 1885 ghi là R. Cai Quí-làng Long Sơn]. Địa giới làng Long Thành như sau: “Đông giáp thôn Bình Dương (Long Vĩnh Thượng), giáp thôn Long An, đều lấy lòng sông làm giới [sông Đồng Nai]. Tây giáp hai thôn Bình Thắng Đông, Bình Thắng Tây (tổng An Thuỷ Đông, huyện Bình An) đều lấy bờ ruộng làm giới. Nam giáp thôn Vĩnh Thuận, lấy lòng rạch làm giới [trong bản đồ hạt tham biện Sài Gòn ghi là R. Đồng Tròn]. Bắc giáp chân núi [Núi Vãi Lượng]”.
Trong Đại Nam nhất thống chí (1865) ghi: Đền Long Vương ở thôn Long Sơn huyện Long Thành, bờ nam sông Phước Long [sông Đồng Nai]. Bản đồ địa hình Hạt tham biện Sài Gòn năm 1885 (Plan topographique de l’arrondissement de Saïgon 1885) cho thấy miếu Long Vương thuộc làng Long Sơn, tổng An Thuỷ, hạt Tham biện Sài Gòn. Cũng cần thông tin thêm, từ năm 1867, thực dân Pháp chiếm trọn 6 tỉnh Nam Kỳ. Sau đó, Pháp chia Nam Kỳ ra làm 6 tỉnh là Sài Gòn, Mỹ Tho, Biên Hòa, Vĩnh Long, Châu Đốc và Hà Tiên, đồng thời đặt ra 24 sở Tham biện để cai quản. Miếu Long Vương nằm ở làng Long Sơn có ranh giới bốn phía giáp tương ứng với thôn Long Thành trong địa bạ Minh Mạng (1836).
Trong sách Địa danh hành chính Nam Bộ của Nguyễn Đình Tư, Thôn Long Sơn thuộc tổng Long Vĩnh Hạ, huyện Long Thành, phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Hoà, triều Tự Trị, Tự Đức. Đầu thời Pháp vẫn thuộc tổng cũ. Đặt thuộc hạt thanh tra Long Thành, rồi Sài Gòn. Từ ngày 05/01/1876 gọi là làng, đổi thuộc hạt tham biện Sài Gòn, Bình Hoà, rồi Gia Định. Từ ngày 01/01/1900 thuộc tỉnh Gia Định. Từ 01/01/1918 thuộc quận Thủ Đức, cùng tỉnh. Ngày 01/01/1928 làng Long Sơn hợp với làng Vĩnh Thuận thành làng Thái Bình. Đến ngày 09/12/1939 hợp với làng Long Bửu, đổi tên thành làng Long Bình [quận Thủ Đức tỉnh Gia Định]. Sau 1956 gọi là xã Long Bình, vẫn tổng cũ, đổi thuộc quận Dĩ An, tỉnh Biên Hoà. Ngày 10/10/1962 đổi thuộc quận Thủ Đức tỉnh Gia Định. Sau 30/4/1975, thuộc huyện Thủ Đức, thành phố Sài Gòn – Gia Định6. Ngày 02/7/1976, Tp Sài Gòn – Gia Định chính thức đổi tên thành thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 06/01/1997, huyện Thủ Đức giải thể, tách làm 3 quận: Thủ Đức, quận 2, quận 9; xã Long Bình thuộc quận 9, thành phố Hồ Chí Minh. Đến 2019 đổi thành phường Long Bình. Ngày 01/01/2021, chính thức thành lập thành phố Thủ Đức thuộc thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở sáp nhập toàn bộ diện tích và dân số của quận 2, quận 9 và quận Thủ Đức.
Hiện tại (2023), Miếu Long Vương thuộc khu phố Thái Bình, phường Long Bình, thành phố Thủ Đức. Phường Long Bình có diện tích 17,61 km², dân số năm 2021 là 25.614 người, mật độ dân số đạt 1.454 người/km². Phường nằm ở phía đông bắc thành phố Thủ Đức, có vị trí địa lý: Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai với ranh giới là sông Đồng Nai; phía Tây giáp các phường Long Thạnh Mỹ, Tân Phú và Linh Trung; phía Nam giáp phường Long Phước và phía bắc giáp tỉnh Bình Dương.
Tục thờ Thủy thần ở Nam Bộ
3.1. Tín ngưỡng
Theo các tài liệu xưa, từ đầu thế kỷ XVII đã xuất hiện lưu dân từ miền Trung vào vùng đất Đồng Nai sinh sống. Những lớp di dân khai phá vùng hoang địa, tạo dựng cuộc sống mới trước những khó khăn, hiểm nguy của đầm lầy, sông nước, rừng hoang, thú dữ “Đến đây xứ sở lạ lùng. Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng kinh” (Ca dao). Trước vùng đất hoang sơ mênh mông sông nước, lưu dân đang đem theo tín ngưỡng thờ thuỷ thần từ quê hương bổn quán vào vùng đất mới, cầu mong thần nước gia ơn cho họ được nguồn nước trong lành để sử dụng trong cuộc sống, người làm nghề nông thì cầu mưa thuận gió hoà cho mùa màng tốt tươi, người làm nghề hạ bạc (đánh bắt thuỷ sản), nghề thương hồ thì cầu xin thần phù hộ sóng yên, gió lặng…
Tín ngưỡng Thuỷ thần được lưu dân đưa vào miền đất mới phổ biến như: thần ao đầm, thần giếng, thần Rái Cá, thần Rắn, Hà Bá, Đại Càn Tứ vị Thánh nương, Thuỷ Long tôn thần… đặt điệt là tục thờ Long Vương. Long Vương là tên gọi chung cho các vị thần cai quản các vùng biển và đại dương trong thần thoại Trung Hoa và ở Việt Nam, từ xưa dân gian xem nơi nào có nước như ao, hồ, đầm, phá, sông, biển đều có Long Vương. Tục thờ Long Vương có thể là một trong các tục thờ thuỷ thần xưa nhất ở nước ta: Phú Thọ nơi được coi là đất tổ của người Việt và Lạc Long Quân cũng được xem là 1 vị Long Vương. Trong Đại Nam nhất thống chí ghi chép các nơi có miếu Long Vương, cả nước ta lúc bấy giờ chỉ có 5 tỉnh có miếu thờ Long Vương: Hưng Hoá, Hà Tĩnh, Quảng Bình,Biên Hoà, Định Tường.
3.2. Miếu thờ Long Vương
Chưa có nghiên cứu khảo sát rõ các địa phương Nam Bộ hiện tại, còn có bao nhiêu cơ sở thờ thuỷ thần Long Vương. Theo Đại Nam nhất thống chí thì Nam Bộ chỉ có 2 tỉnh là có miếu thờ Long Vương.
Tỉnh Định Tường: Miếu Long Vương thờ Nam Hải Long Vương, ở thôn Từ Linh huyện Kiến Hoà. Nam Hải Long Vương, Vua rồng ở biển Nam – một trong Tứ hải Long Vương của người Trung Hoa cũng được người Việt cổ thờ phụng. Theo khảo sát của chúng tôi, thôn Từ Linh xưa kia, nay là ấp Pháo Đài, Phú Tân, Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang (Cù lao Lợi Quản – cửa Tiểu). Nơi này hiện có miếu Lăng Ông thờ 18 bộ cốt cá Ông. Các nhà nghiên cứu: tục thờ cá Ông (tức cá voi, cá heo, cá nhà táng và các loại cá lớn nói chung) là một tín ngưỡng dân gian vùng duyên hải miền Trung và miền Nam Việt Nam từ Thanh Hóa đến toàn bộ các tỉnh ven biển miền Nam. Đây là tín ngưỡng của cư dân vùng biển, hay còn gọi là vạn chài. Cá Ông ở đây là những con cá voi mà theo ngư dân chính là thần Nam Hải. Có thể đây chính là di tích Miếu Long Vương ở Định Tường xưa, sau bao biến thiên thăng trầm lịch sử, được người dân gìn giữ tôn tạo thờ tự, và đặt lại tên mới là Lăng Ông.
Tỉnh Biên Hoà: Miếu Long Vương thờ Đệ nhất lang, Đệ nhị lang và Đệ tam lang Long Vương. Tục thờ Tam Vị Long Vương có từ rất xưa ở miền ngoài. Vùng La Phù, Đào Xá ở Phú Thọ, vùng Ngã Ba Hạc Thái Bình… Hà Tĩnh hiện có khá nhiều nơi thờ Tam Lang Long Vương. Về Tam Vị Long Vương, sách Nghệ An phong thổ ký chép: “Xưa ở Chỉ Châu có hai vợ chồng ông Mái, mụ Mái đã luống tuổi mà chưa có con. Một hôm người vợ nhặt được ba quả trứng về nhà, chồng đem bỏ vào cái chậu. Ít lâu sau ba quả trứng nở thành ba con rắn, ông bèn thả xuống ngã ba sông, bỗng mưa gió nổi lên ầm ầm lúc sau mới lặng. Nhưng hôm sau thì ba con rắn trở về quấn quýt bên ông bà, ông đi đâu rắn cũng theo đi. Một hôm, ông ra bờ cuốc ruộng, ba con rắn bò lượn xung quanh tỏ ý rất vui vẻ, nhưng không may ông vô tình cuốc nhằm một con làm đứt đuôi. Ba con rắn cùng bỏ đi ẩn dưới vực Đan Hai. Về sau ba con rắn thành Thần được dân Chỉ Châu lập Miếu thờ gọi là Tam Lang Long vương” và đền Tam Lang Long Vương ở Chỉ Châu nay thuộc xã Thạch Lạc, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Di tích này được biết với tên đền Sắc vì tới nay còn lưu giữ được 86 đạo sắc, phần lớn phong cho các vị thần là Ông Cả, Ông Hai, Ông Ba Long Vương. Các sắc phong này có niên đại từ năm Thịnh Đức thứ 5 (1657) thời Hậu Lê đến năm Thành Thái thứ 13 (1901) thời Nguyễn. Ở Nam Bộ, tại Công Thần miếu tỉnh Vĩnh Long, nguyên là miếu Hội đồng tỉnh còn lưu trữ 85 sắc phong cổ; trong đó có 6 sắc phong Trung Đẳng thần cho ba vị: Đệ Nhất, Đệ Nhị và Đệ Tam Long Vương8
Hiện nay, miếu Long Vương thuộc địa giới của khu phố Thái Bình, phường Long Bình, thành phố Thủ Đức, quanh miếu không có cư dân. Việc quản lý và duy trì các lễ thức tế tự được ban quản lý đình Thái Bình đảm trách (đình Thái Bình vốn là đình làng Vĩnh Thuận xưa), cách đó khoảng 1 km đường chim bay. Trong đình Thái Bình hiện nay, khu hội đồng nội có hương án Long Vương và bài vị Hoàng Đế. Theo hồi cố của các vị cao niên của địa phương, vào ngày 16/12 âm lịch hàng năm, người dân trong làng cùng long trọng tổ chức nghi lễ rước bài vị Thần cùng sắc phong, đi bộ từ đình làng ra tới cầu Đồng Tròn, sau đó xuống ghe di chuyển từ rạch Đồng Tròn ra sông Đồng Nai, rồi ngược dòng lên miếu Long Vương. Sau cúng bái, tế lễ rồi canh con nước để trở về làng vì thời ấy miếu nằm biệt lập, không có đường bộ để vào nên đi đường sông và phải phụ thuộc vào con nước. Sau bao năm, hiện nay khu đất quanh miếu đã được quy hoạch, và có con đường mòn nhỏ dẫn vào miếu, nên dịp cúng tế bà con đi đường bộ cũng tiện lợi hơn xưa.
Tạm kết
Tín ngưỡng thờ Long Vương là loại hình tín ngưỡng đặc biệt của người Việt. Miếu Long Vương tại Biên Hòa xưa – nay thuộc địa phận thành phố Thủ Đức là một trong những nơi hiếm hoi ở Nam Bộ còn lưu giữ tín ngưỡng này. Miếu Long Vương được xây dựng khá sớm, gắn với những sự kiện hình thành và phát triển từng thôn làng ở các địa bàn cư trú nói riêng và vùng đất Đồng Nai – Gia Định nói chung; trong đó có những sự kiện quan trọng trong lịch sử giữ an vùng đất phía Nam và kháng chiến chống Pháp xâm lược lần thứ nhất. Cơ sở tín ngưỡng này gắn với tập quán, tín ngưỡng và duy trì trong các hoạt động tâm linh, tinh thần trong đời sống của cư dân hiện nay. Miếu Long Vương tọa lạc trong cảnh quan mang dấu ấn đặc biệt của thiết chế tín ngưỡng cộng đồng với hàng cây cổ thụ, không gian u nhã, thâm nghiêm và sông nước. Dấu ấn tín ngưỡng và dấu tích kiến trúc hiện tồn của miếu Long Vương cần được các cơ quan về lịch sử, văn hóa nghiên cứu xếp hạng di tích lịch sử nhằm bảo tồn di sản của Nam Bộ./.
Chú thích và tài liệu tham khảo:
Lê Quang Định (2003), Hoàng Việt nhất thống dư địa chí – dịch giả Phan Đăng, Nhà xuất bản Thuận Hóa, tr 301, 302.
Trịnh Hoài Đức (2005), Gia Định thành thông chí (dịch giả Lý Việt Dũng, Huỳnh Văn Tới hiệu đính), Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai, tr 236.
Quốc sử quan triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống chí(bản dịch Hoàng Văn Lâu) Nhà xuất bản Lao Động, tập 2 tr 1657.
Biên Hoà- Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển (1998)- Ban chỉ đạo lễ kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hoà Đồng Nai. Nhà xuất bản Đồng Nai, chương VII trang 241.
Quốc sử quan triều Nguyễn (2007), Đại Nam Thực Lục (tổ phiên dịch Viện Sử Học phiên dịch) Nhà xuất bản Giáo Dục, Tập 1, tr 111.
Nguyễn Đình Tư (2008), Địa danh hành chính Nam Bộ, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr.596-597.
https://congdankhuyenhoc.vn/tam-lang...214000902.htm; (truy cập ngày 20/11/2023)
8. https://ttltls.vinhlong.gov.vn/xem-c...-tuc/id/212850 (truy cập ngày 21/11/2023)
Bản đồ diễn tiến hoạt động quân sự mới nhất ở Nam Kỳ – Tuần báo Illustration số ra ngày 01/3/1862
https://www.flickr.com/photos/134764...7665005366349/
Carte Generale de la Cochinchine Francaise, ca 1873 (General Map of French Cochinchina):
https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/52937130104
Arrondissement de Saïgon 1885 – Bản đồ địa hình Hạt tham biện SAIGON 1885
https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/49047362738
https://nghiencuulichsu.com/2024/01/...bien-tran-xua/
Số 12. Kệ niệm lần chuỗi la-hán
Của Đức Trụ-Trì Bồ-Tát giáng cơ tại Kiên Giang, đêm 21 tháng 6 nhuần, năm Canh Ngũ.(10)
Vận chuyển kiền khôn tóm một xâu
Ba ngàn thế giái trọn tay thâu
*Bồ đề mười tám thiền tâm định
*Sáu chữ Di Đà báu tợ châu.
Nam mô Định Tâm Vương Phật
https://thuvienhactrang.vn/uploads/T...c/Le%20Bon.pdf
11. Nam mô Cửu U Chủ Tể Phong Đô Diêm La Thiên Tể.
13. Nam mô thưởng thiện phạt ác Đông Nhạc Đại Đế Quân.
14. Nam mô đại thiên củ sát thất thập nhị địa âm cảnh giải tội Quan Thánh Đế Quân.
24. Nam mô Đông Tây Nam Bắc Tứ Đại Thiên Vương.
27. Nam mô thiên lý thuận phong nhị Đại Tướng Quân.
29. Nam mô tuần du tế sát Đại Linh Quan.
31. Nam mô ngũ phương kệ đế Đại Linh Quan.
32. Nam mô tá hựu công quả nhị Đại Phán Quan.
33. Nam mô *Tứ Trị Công Tào Sứ Giả.
34. Nam mô dương cảnh Thổ Địa Tôn Thần.
35. Nam mô Thành Hoàng Bổn Cảnh Chánh Trực Tôn Thần.
36. Nam mô Thiên Địa Nhựt Nguyệt Tinh Tú phổ chiếu Minh Lãng Thần.
https://thuvienhactrang.vn/uploads/T...c/Le%20Bon.pdf
Quán-tẩy 灌洗: Rót nước rửa sạch. Khi nghe lời xướng Quán-tẩy lần lượt mỗi vị chức sắc thò tay vào thau nước rồi đưa lên mặt giả động tác rửa-mặt.
Tam-Quan Đại-Đế 三官大帝: Gồm Thiên-Quan 天官 (vua Nghiêu), Địa-Quan 地官 (vua Thuấn), và Thủy-Quan水官 (vua Vũ)
Thất tịch 七夕: Đêm mồng 7 tháng 7 âm lịch là lúc Ngưu Lang 牛郎 và Chức Nữ 織女 gặp nhau. Chức Nữ chuyên về dệt vải. Ngày xưa vào đêm này phụ nữ bày hoa quả giữa sân và xỏ kim để cầu xin được khéo léo thêu thùa may vá. Lễ này gọi là khất xảo 乞巧 (cầu xin khéo tay).
Kiều ô: Tức là ô thước kiều 烏鵲橋 (cầu ô thước). Ô là chim quạ, thước là chim khách. Theo truyền thuyết, vào đêm thất tịch 七夕 (mồng 7 tháng 7 âm lịch) chim quạ và chim khách dang cánh kết thành cây cầu (gọi là cầu ô thước) cho Ngưu Lang 牛郎 và Chức Nữ 織女 gặp nhau sau một năm xa cách vì kẻ ở bờ đông, người sống bờ tây sông Ngân Hà.
Tứ Trị Công Tào 四治公曹: 4 vị thần quản lý Năm, Tháng, Ngày, Giờ (tên là Trị Niên 治年, Trị Nguyệt 治月, Trị Nhật 治日, Trị Thời 治時).
Tam thập tam thiên thế giái (giới) vân (văn) 三十三千世界聞: 33.000 thế giới đều nghe thấy. (Chữ văn 聞 còn đọc là vấn, có nghĩa tiếng động vang tới. Thí dụ, thanh vấn vu thiên 聲聞于天: tiếng động đến trời.)
Tam Giang 三江: Tiền Giang, Hậu Giang, Trung Giang.
Quải: Cúng cơm.
Phật tiền 佛前: Ở trước mặt Phật.
Phổ Đà (sơn) 普陀山: Núi trên hòn đảo là nơi ngụ của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Non Bồng: Bồng Lai 蓬萊, Bồng Doanh 蓬瀛, Bồng Đảo 蓬島, cảnh tiên.
Oan trái 冤債: Món nợ (trái) oan uổng
Ngũ bá a la hán 五百阿羅漢: Ngày xưa Phật Thích Ca thuyết pháp, ở bên cạnh Phật luôn có năm trăm vị la hán (arhat). La hán hay a la hán là các vị tu đắc quả nên không còn sai lầm, được giải thoát.
Nhang tốc: Nhang thơm. (Tốc 速 là loại cây có mùi thơm, do đó nói hương tốc là nhang thơm, trầm tốc là trầm thơm.)
Long Thần 龍神: Vị thần mang hình rồng (nāga), thường là các vị hộ pháp, trợ giúp người tu, bảo vệ nơi tu hành.
Linh-quang 靈光: Mỗi đứa-trẻ chào-đời là 1 điểm tiểu linh-quang từ Đức Thượng-Đế (Đại Linh-Quang) đi vào đời để tiến-hóa.
Khai thiên tịch địa 開天辟地: Tạo lập trời đất, tạo lập vũ trụ. (Tịch và khai đồng nghĩa là mở mang, tạo tác.)
Hoằng khai 弘開: Phát triển, mở mang rộng lớn.
Đề huề 提攜: Nắm tay nhau cùng đi; đông đủ, vui vẻ.
Điểm trà 點茶: Rót trà.
Đăng chúc 燈燭: Đèn và nến.
Diêu (dao) đài 瑶臺: Đài bằng ngọc dao, cõi Tiên.
Diêm đài 閻臺: Địa ngục, địa phủ, cõi âm.
Cửu thiên 九天: Chín tầng trời.
Cù lao 劬勞: Mệt nhọc và vất vả. Xem cù lao cúc dục.
Cù lao cúc dục 劬勞鞠育: Cha mẹ nuôi con vất vả, tóm tắt bằng chín chữ cù lao: Sinh生 (đẻ con), cúc 鞠 (nuôi con), phủ 拊 (vỗ về), súc 畜 (cho bú), trưởng 長 (nuôi cho lớn), dục 育 (dạy dỗ, cho học hành), cố 顧 (trông nom), phục 復 (nâng đỡ), phúc 腹 (ẵm bồng). Chín chữ này có ở bài Lục Nga 蓼莪 trong Kinh Thi: 父兮生我; 母兮鞠我; 拊我畜我;長我育我; 顧我復我; 出入腹我; 欲報之德; 昊天罔極. Phụ hề sinh ngã; mẫu hề cúc ngã; phủ ngã súc ngã; trưởng ngã dục ngã; cố ngã phục ngã; xuất nhập phúc ngã; dục báo chi đức; hạo thiên võng cực (Cha thời sinh ta; mẹ thời dưỡng ta; vuốt ve cho bú; nuôi lớn dạy dỗ; trông nom nâng đỡ; ra vô ẵm bồng; muốn báo ơn đức; trời cao lồng lộng).
Cúc cung 鞠躬: Cúi mình.
Cúc cung bái 鞠躬拜: Cúi lạy
Cúng dường (cung dưỡng 供養): Kính cẩn dâng vật thực, quần áo, v.v... để nuôi người xuất gia tu hành.
Nam Tào 南曹: Ông Tiên coi sổ sanh (mạng sống) của con người trần gian. Xem Bắc Đẩu.
Bắc Đẩu 北斗: Ông Tiên coi sổ tử (số chết) của con người trần gian. Xem Nam Tào.
Án tiền 案前: Trước bàn thờ.
Âm Tào 陰曹: Tòa án cõi âm.
Bá tánh (bách tính) 百姓: Trăm họ, dân chúng.
Bái 拜: Lạy
Bàn Cổ 盤古: Nhiệm Phưởng 任昉 (thế kỷ VI đã viết huyền thoại Bàn Cổ trong quyển Thuật Dị Ký 述異記 như sau: Khi Bàn Cổ chết, đầu biến thành 4 ngọn núi, hai mắt biến thành mặt trời và mặt trăng, mỡ biến thành sông biển, râu tóc biến thành thảo mộc. Thời Tần và Hán, dân gian kể rằng đầu của Bàn Cổ là (núi) Đông Nhạc, bụng là Trung Nhạc, tay trái là Nam Nhạc, tay phải là Bắc Nhạc, và hai chân là Tây Nhạc. Các văn nhân ngày xưa kể rằng nước mắt của Bàn Cổ là sông, hơi thở là gió, giọng nói là sấm, đồng tử trong hai mắt là ánh sáng.
Bòng: Loại bưởi nhỏ trái, thường gọi chung là bưởi bòng.
Bố đức 布德: Ban bố ơn đức.
Tích phước (tứ phúc) 錫福: Ban phước.
Phong Đô 豐都: Địa-ngục. Kẻ phong ñô: Các vong hồn nơi địa ngục.
Phong niên 豐年: Năm được mùa.
https://thuvienhactrang.vn/uploads/T...c/Le%20Bon.pdf
Hà Bá Chiêu Hồn Khoa
https://fr.scribd.com/document/87214...eu-h%E1%BB%93n
NGHI CÚNG THÍ THỰC CÔ HỒN
Lưu ý: trước khi muốn tổ chức nghi cúng Thí thực cô hồn tại tư gia, phải chuẩn bị mua sắm như sau: Hương, đèn, hoa, trà, rượu, muối, gạo, ngủ cốc (khoai, sắn, đậu phụng, bắp, mía), nổ, bánh, kẹo, trầu, cau, thuốc lá, chè, xôi, bộ đồ cúng đất (giấy tiền, vàng bạc) và một mâm cơm chay.
Bắt đầu vào lễ:
Chủ lễ vái: Ư kim Ất Mùi niên- Chánh ngoạt- Thập nhứt nhựt
(Năm Ất mùi tháng giêng ngày mười một)
Tấu vì Việt nam quốc, Bình Dương tỉnh… Quận…Xã…Khu phố…đường…số nhà.
Trai chủ , vợ
Hiệp toàn gia quyến nam nữ đại tiểu đẳng
Hiệp toàn gia quyến nam nữ tử tôn hôn tế nội ngoại thượng hạ đại tiểu đẳng
Nhân vì :
Nếu cúng tất niên thì vái: tất niên lễ lệ
Chạp mã thì vái: Tu tảo phần mộ chư tiên linh chi phái
Đám giổ thì vái: Chánh kỵ ông bà hay cha mẹ
Cúng đưa thì vái: Tiền tam xuân nhựt cung tiễn chư tiên linh hồi quy bổn xứ
Toàn gia thân quyến chúng con thành tâm thiết lễ trai nghi: Hương-Đăng-Hoa-Qủa-Trà-Tửu-Thanh chước-Diêm mễ-Ngủ cốc- Trầu cau-Thuốc lá- Chè xôi-Kim ngân-Quan đới-Hải lạp-Minh Y, trai bàn, thứ phẩm chi nghi cảm chiêu cáo vu
Thành tâm cung thỉnh chư vị tôn thần:
Đức đương kiển thổ địa chánh thần
Đức phước đức tài thần
Bá nghệ tiên sư chi tôn thần
Tặng hậu tế chi tôn thần
Thổ công, phổ hóa thần quân tôn thần
Quới nhơn xứ sở chi tôn thần
Ngủ phương đạo lộ thần quân tôn thần
Ngủ tự gia đường chư vị tôn thần
Đông trù tư mạng táo phủ thần quân
Thành hoàng bổn xứ liệt vị đẳng thần
Thỉnh quang lâm hội nghệ áng tiền chứng minh nạp thọ.
Chúng con thành tâm bái thỉnh:
Đức Tiêu Diện Đại Sĩ Diệm Khẩu Quỹ Vương quang giáng đàn tràng chứng minh công đức.
Lại mời: Vong linh chư vị tiền chủ hậu chủ trong khu đất này, vong linh chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, oan hồn uổng tử, nam nữ thương vong, mê linh khổ cốt, châm chợ mọi rợ man di, y thảo phụ mộc, lị mị vọng lượng, trệ phách âm linh, cô hồn liệt vị, nội gia viên trạch, ngoại gia viên cư. Thỉnh quang lâm giáng phó diên tiền chứng minh nạp thọ, đồng thời phò trì gia quyến chúng con điều lành đem đến, điều dữ xua đi, gia đạo bình an khương thái.
Lại cúi xin chư tôn thần đệ dẫn chư tiên linh chúng con: Nguyễn môn đường thượng chi phái đồng tôn cung liệt vị <đọc từ ông cố trở xuống>
Thượng niệm chư tiên linh: Tằng tổ khảo, tằng tổ tỷ, tằng tổ bá khảo tỷ, tằng tổ thúc tỷ, tằng tổ cô chi linh liệt vị
Đệ dẫn: Hiển tổ khảo, hiển tổ tỷ, hiển tổ bá khảo tỷ, hiển tổ thúc tỷ, hiển tổ cô chi linh liệt vị
Đệ dẫn: Hiển khảo, hiển tỷ, cập bá thúc huynh đệ cô di tỷ muội tử tôn hôn điệt, hữu danh vô vị, hữu vị vô danh, chánh tiến tùng tiến, sút sảo tảo vong, xiêu mồ lạc mã. Hết thảy chư tiên linh Đồng lai đáo gia đường thọ tư hiến thực, gia hộ độ trì cho con cháu bình an khương thái. Thành tâm bái thỉnh
https://vietnamgiapha.com/XemGhiChu/10771/ghi_ghu.html
KINH TẬN-ĐỘ
Linh Quang 靈 光: Điểm Linh-quang, tức là linh-hồn. Thượng-Đế là 1 khối Đại Linh-quang trong Càn-khôn Vũtrụ. Ngài mới chiết từng Tiểu Linh-quang ban cho ...
https://share.google/MxYxKdG8lPO7T0K2U
THẤT TINH NƯƠNG NƯƠNG
Phương nam Trung Quốc và vùng Đài Loan, dân gian từng thịnh hành sùng bái Thất Tinh Nương Nương 七星娘娘. Thất Tinh Nương Nương còn được gọi là Thất Nương Ma 七娘妈, Thất Tinh Ma 七星妈, Thất Nương phu nhân 七娘夫人, Thất Tinh phu nhân 七星夫人, tượng hoặc hình vẽ là 7 phụ nữ hiền hoà đoan trang.
Thất Tinh Nương Nương vốn là sao Chức Nữ, Chức Nữ được cho là con gái hoặc cháu ngoại của Thiên Đế, là vị nữ thần chuyên lo việc chăn tằm dệt vải. Sau khi sao Chức Nữ được thần hoá và nhân cách hoá, câu chuyện tình yêu giữa Chức Nữ và Ngưu Lang được lan truyền ai ai cũng biết. Sao Chức Nữ tại chòm Thiên Cầm 天琴, tổng cộng có 3 sao. Nhưng tại sao sao Chức Nữ lại phân thành 7 sao, trở thành Thất Tinh Nương Nương? Có lẽ là do câu chuyện 7 tiên nữ lưu truyền trong dân gian phụ vào mà thành.
Trong dân gian, Thất Tinh Nương Nương được tôn làm thần bảo hộ sự bình an và sức khoẻ cho em bé. Y học thời cổ không phát triển như ngày nay, sức đề kháng của em bé yếu, thường bị các loại bệnh tật. Để bảo hộ em bé trưởng thành, dân gian đem hi vọng gởi gắm vào thần minh. Như vậy, Thất Tinh Nương Nương được xem là một trong những cát thần, rất được mọi người sùng bái. Khi em bé đau ốm, người ta liền đến quỳ trước thần tượng Thất Tinh Nương Nương cầu khấn, có người còn để em bé nhận Thất Tinh Nương Nương làm “mẹ nuôi”, cầu mong được bảo hộ, để bé được bình an vô sự. Có gia trưởng còn mua cho bé “khoá bản mệnh” có danh hiệu Thất Tinh Nương Nương, hoặc viết đại danh “Can ma” 乾妈 (mẹ nuôi) lên miếng bùa hộ thân đeo vào cổ em bé để mong được cát lợi.
Mọi người cảm thấy Thất Tinh Nương Nương giống như cha mẹ chốn nhân gian giữ em bé lại, còn giúp chúng giải quyết chung thân đại sự, cho nên dân gian lại có cách nói Thất Tinh Nương Nương đem những nam nữ thanh niên nơi trần thế mà chưa lập gia đình phân loại ra. Truyền thuyết kể rằng, hàng năm sau ngày mồng 7 tháng 7, Thất Tinh Nương Nương sẽ đem danh sách nam nữ thanh niên chưa lập gia đình do mình lập ra giao cho ông tơ bà nguyệt. Ông tơ bà nguyệt sau khi kiểm điểm liền thẩm tra kĩ lưỡng tướng mạo nhân phẩm, tính khí của từng người, sau đó phối hợp họ thành đôi tốt đẹp, rồi đăng nhập vào sổ nhân duyên, đồng thời ông tơ bà nguyệt còn dùng đất sét nặn thành tượng cặp đôi đó, dùng chỉ đỏ buộc chân cặp tượng lại, sau đó phơi khô rồi đặt vào “phối ngẫu đường” 配偶堂, đến đây coi như là đã hoàn thành nhiệm vụ.
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 01/01/2016
Nguyên tác Trung văn
THẤT TINH NƯƠNG NƯƠNG
七星娘娘
Trong quyển
CÁT TƯỜNG ĐÍCH TRUNG QUỐC
吉祥的中國
Bản công ti biên tập bộ biên soạn
Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti, năm Dân Quốc thứ 90.
https://www.chuonghung.com/2016/01/d...ong-nuong.html
Long mẫu VƯƠNG NƯƠNG
http://www.cantholib.org.vn:84/View....6677D92A959657
西tây 北bắc 方phương 華hoa 德đức 佛Phật 。 北bắc 方phương 相tương/tướng 德đức 佛Phật 。 東đông 北bắc 方phương 三tam 乘thừa 行hành 佛Phật 。 上thượng 方Phương 廣 ...
https://kinhsach.chuakhainguyen.com/?f=T53n2122/13
Tác phẩm Chú Sanh Thần Bộ do hoạ sĩ Nam Ngọc Đoàn Thành Lộc cẩn hoạ Tam Tiêu Nương Nương và Thập Nhị Vị Hoa Nương. Chư vị là những nữ thần bảo hộ việc thai sản, giáo dưỡng con trẻ nên người. Họ được thờ phụng nhiều trong văn hóa miền Nam xưa, nhưng nay đã ít thấy hơn.
Tam Tiêu Nương Nương, tương truyền là con của Lê Sơn Lão Mẫu. Lớn tuổi nhất là Vân Tiêu Nương Nương, vận áo thiên thanh; kế đến là Bích Tiêu Nương Nương áo xanh lá; trẻ nhất là Quỳnh Tiêu Nương Nương áo đỏ. Dân gian quen gọi chư vị là Mẹ Sanh, Mẹ Dưỡng, Mẹ Độ. Trong tranh, trang phục của ba vị gợi nhắc đến các món áo mão dâng Bà, dâng Mẫu; một món đồ lễ phổ biến trong đời sống tâm linh Nam bộ. Trên áo nổi rõ hoa văn Kim Hoa – hoa vàng. Tranh vẽ có phần lấy cảm hứng từ phong cách tranh kiếng Nam Bộ Việt Nam.
Dưới quyền Tam Tiêu Nương Nương là Thập Nhị Hoa Nương, dân gian quen gọi bằng cái tên thân thương là Mười Hai Bà Mụ. Trong tranh Chú Sanh Thần Bộ, nếu Tam Tiêu Nương Nương ngự trên trời mây, quản cai từ chốn cao xa; thì 12 vị Hoa Nương cùng ngồi trên tấm chiếu gần gũi với đời sống trần gian. Tấm chiếu dệt chữ Thọ, thể hiện mong muốn rằng những đứa trẻ sinh ra sẽ luôn có cuộc sống khỏe mạnh, trường thọ. Các Bà Mụ chăm sóc cuộc sống của con trẻ với những công việc khác nhau: vui đùa với trẻ, cho bú, ẵm bồng, dạy dỗ, tắm táp, chăm bệnh thuốc thang, lo ăn lo mặc. Đến ngày nay, trong dịp mừng đầy tháng của trẻ, cha mẹ vẫn có lễ cúng 12 Bà Mụ.
Trang phục các vị Hoa Nương đều là những nếp áo quen thuộc trong văn hóa Việt Nam: áo ngũ thân, áo tứ thân, áo bà ba, áo vá quàng. Mỗi vị một bộ khác nhau. Có vị vấn khăn vành; có vị chít khăn kiểu Bắc, kiểu Huế; có vị trùm khăn mỏ quạ; có vị búi tóc bánh lái, v.v.
Hình ảnh các Bà Mụ trong tranh tuy đa dạng mà lại thân quen. Người xem cảm giác tựa hồ như đã từng được thấy họ đâu đó. Có lẽ là trong hình bóng những người bà, người mẹ, cô dì hay thậm chí là những thầy thuốc đã từng ẵm bồng, chăm chút mình khi tuổi còn thơ.
Thừa quyền trời cao để chú thai; để bảo hộ cho mẹ tròn con vuông; để đứa trẻ trưởng thành khôn lớn; đó là nhờ tất cả các vị trong Chú Sanh Thần Bộ chung tay góp sức. Một con người sống giữa nhân gian, không chỉ do cha mẹ sinh thành; mà còn có sự trợ duyên của Tam Tiêu Nương Nương nhào nặn, hun đúc, có Thập Nhị Hoa Nương chăm sóc từ lúc nhập thai đến ngày trưởng thành.
https://fourpalacestuphu.com/2024/08...a-nuong-ba-mu/
HIỆN-TRẠNG THỰC-TẾ HIỆN-NAY CỦA NGƯỜI-TU
(HAY)
https://youtu.be/e7OQPfX6zdA?si=zV8lw0wfPCHDqDLg
Ai Hay Đi Chùa, Niệm Phật Hàng Đêm Phải Nghe Gấp Bài Pháp Này | Thiền Sư An Lạc Hạnh
(https://www.youtube.com/watch?v=e7OQPfX6zdA / https://youtu.be/e7OQPfX6zdA?si=zV8lw0wfPCHDqDLg)
Phụng thỉnh Thầy Tế Công Hoạt Phật từ bi tiếp dẫn hương linh Ông/ Bà …
đến bên trong nhà địa chỉ …
trước Đàn Tam Bảo để lắng nghe kinh pháp, lãnh triêm kinh chú, hưởng thụ vị cam lộ pháp ngữ và thọ trai cúng dường.
Các vị hiếu quyến lễ lạy 3 lạy.
Phụng thỉnh Thầy Tế Công Hoạt Phật từ bi gia hộ cho các Hiếu Quyến mỗi vị ra ngoài đều phùng hung hoá cát, sự nghiệp được thuận lợi, thân thể khoẻ mạnh, thêm phước thêm thọ
và cũng phù hộ cho các đạo thân đến để trợ niệm hôm nay trên đường về nhà đều được bình an cát tường. ( 3 lạy )
Mời Người Vãng Sanh đến nghe kinh
Một nén tâm nhang, Phật quang tiếp dẫn
Hương linh Cụ Bà…
Đến trước Đàn Tam Bảo nghe kinh
Hưởng vị cam lộ kinh chú Phật
Thọ trai cúng dường, th`ăm quyến thân.
Buông xả hết duyên trần vướng bận
Về tánh không, thanh tịnh pháp thân
Theo Tiên Phật tu bàn trợ đạo
Công đức viên mãn, đạo quả thành. ( Gia đình quyến thuộc lễ 3 lạy. )
Biến-Ức Chú
Úm, tam bạt nhạ,
Tam bạt nhạ
Ba mã nạp tát nhạ
Ma ha Tạng ba ba
Hồng phạ đắc sa ha. ( 7 biến )
https://bachduongky.net/nghi-thuc-cung-that/amp
Nhất-Tâm Cung-thỉnh:
Na mô Đại-Từ Đại-Bi Cứu-Khổ Cứu-Nạn Pháp-Thân TẾ-CÔNG HOẠT-PHẬT,
từ-bi làm-chủ.
https://bachduongky.net/nghi-thuc-cung-that/amp