-
PHẬT THUYẾT VÔ THƯỜNG KINH
(Đường Tam Tạng Pháp Sư Nghĩa Tịnh Dịch)
Như thị ngã văn, nhất thời Bạc già phạm tại Thất la phiệt thành, Thệ đa lâm, Cấp cô độc viên.
Nhĩ thời Phật cáo chư bậc sô hữu tam chủng pháp, ư chư thế gian thị bất khả ái, thị bất quang trạch, thị bất khả niệm, thị bất xứng ý. Hà giả vi tam? Vị lão, bệnh, tử. Nhữ chư bậc sô thử lão bệnh tử thế gian vô giả, Như Lai ứng chính đẳng giác bất xuất ư thế vị chư chúng sinh thuyết sở chứng pháp cập điều phục sự. Thị cố ưng tri thử lão bệnh tử ư chư thế gian thị bất khả ái, thị bất quang trạch, thị bất khả niệm, thị bất xứng ý. Do thử tam sự Như Lai ứng chính đẳng giác xuất hiện ư thế vị chư chúng sinh thuyết sở chứng pháp cập điều phục sự.
Nhĩ thời Thế Tôn trùng thuyết tụng viết:
Ngoại sự trang thể hàm qui hoại
Nội thân lý biến diệc đồng nhiên.
Duy hữu thắng pháp bất diệt vong,
Tri hữu trí nhân ưng thiện sát,
Thử lão bệnh tử giai cộng hiền
Hình nghi xú ác cực khả yếm
Thiếu niên dung mạo tạm thời đình,
Bất cửu hàm tất thành khô toái.
Giả sử thụ mệnh mãn bách niên,
Chung qui bất miễn vô thường bức,
Lão bệnh tử khổ thường tùy trục,
Hằng dữ chúng sinh tác vô lợi.
Nhĩ thời Thế Tôn thuyết thị kinh dĩ chư bậc sô chúng, thiên, long, dược xoa càn thát bà, a tu la đẳng giai đại hoan hỷ tín thụ phụng hành.
Phật thuyết vô thường kinh.(chung
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...BB%80N/page189
-
-
-
-
https://www.youtube.com/watch?v=zox-S9kmql0
Bí Ẩn.Đốt vàng mã (giấy tiền vàng bạc)người chết có nhận được không? phần 2.
-
https://www.youtube.com/watch?v=BHBt--CT2RU
Bí Ẩn.Đốt vàng mã (giấy tiền vàng bạc ) người chết có nhận được không ? (Bổ sung thêm phần 3)
-
-
發光的金沙 “kim sa” (cát vàng) óng ánh.
金礦 “quặng vàng”
http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=2902.75
-----------
2 Quặng vàng Huángjīn kuàng 黄金矿
3 vàng sa khoáng shā jīn kuàng 砂金矿
vàng sa khoáng, 砂金矿, shā jīn kuàng.
vàng sa khoáng shā jīn kuàng 砂金矿
Quặng vàng Huángjīn kuàng 黄金矿
vàng sa khoáng shā jīn kuàng 砂金矿
==============
金沙
https://picnew14.photophoto.cn/20191...36160002_1.jpg
https://www.photophoto.cn/tupian/jinsha-36160002.html
===============================
Khi tu học Mật Giáo Tối Thượng có nhiều phương cách để lập ra THẦN PHÙ như sau :
1. Từ KHÔNG thành CÓ
2. Từ CÓ thành KHÔNG
Tôi đưa cho bạn PHOQUANG câu khẩu quyết này để bạn tham khảo qua :
HOÀNG QUANG PHẬT ĐẢNH
KIM THẦN PHỔ CHIẾU
KIM SA mà bạn đang thắc mắc nằm trong các vùng có mỏ sa khoáng được các người thợ sa khoáng gọi là L.T.C.V . Tôi viết tắt 4 chữ trên bằng tiếng Việt để bạn tự đoán ra hai chữ " Kim Sa " mà bạn đang gút mắc . Còn cách chuẩn bị " Kim Sa " ra sao trước khi rắc vào các THẦN PHÙ thì xin bạn thông cảm cho vì mỗi dòng phái đều có những điều bí mật riêng .
Riêng 9 chữ THẦN PHÙ QUAN ÂM mà Sư Tỷ bạn sử dụng thì chỉ nằm trong một phần của Sắc Ấn Lệnh Quyết và Lệnh của Sư Tỷ bạn chưa có sự hộ trì ... Tôi thấy theo cái sự hiểu biết nông cạn của bản thân , có gì không phải mong bạn bỏ quá cho .
Nam Mô Ma Ha Tỳ Lô Giá Na Phật .
SHANGASUNLUM .
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...CC%80-gi%CC%80
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...T%C3%80I/page2
---------------------------------------------
Vàng sa khoáng là gì?
Vàng mịn, các hạt bụi vàng hay mạt vàng là kim loại thường được tìm thấy trong sa khoáng bên cạnh các kim loại khác, đặc biệt là sa khoáng tại các vùng đại dương và thềm lục địa và mỏ sa khoáng. Có rất nhiều kỹ thuật khai thác vàng sa khoáng từ thủ công đến chuyên môn hóa tùy vào trình độ, phương pháp phổ biến nhất có thể kể đến là sử dụng thủy lực, một dòng nước áp suất mạnh để đẩy các khối quặng tách ra khỏi đất cát. Ngoài ra còn các hình thức khai thác vàng sa khoáng thủ công khác như nạo vét sông suối đang bị cấm vì phá hoại môi trường tự nhiên và hệ sinh thái.
http://vangbac24h.vn/vang-sa-khoang-la-gi/
-
-
Chu Sa (Thần Sa) là khoáng chất có nhiều hình dạng khác nhau như hình mảnh, sợi, cục, màu đỏ hoặc nâu hồng, có những vết bóng sáng, rắn nhưng rất giòn.
Chu Sa thường ở thể bột đỏ, Thần Sa thường là các khối óng ánh, màu đỏ tối hay đỏ tươi, nâu hồng.
Thành phần hoá học
Thuỷ ngân sulfua, selenua thuỷ ngân (trong Thần sa nhiều gấp 10 lần Chu Sa).
https://thaythuocvietnam.vn/wp-conte...sa-300x180.jpg
Chu Sa (Thần Sa) khi nung nóng sinh ra Thủy ngân (là một chất rất độc)…
https://i.imgur.com/tPN6MLM.jpg
Chu Sa (Thần Sa) khi nung nóng sinh ra Thủy ngân (là một chất rất độc)…
https://thaythuocvietnam.vn/chu-sa-sa/
===================
Chu sa thần sa
POSTED ON BY NHANGTHIENHITA
Tên tiếng Việt: Chu sa thần sa, Châu sa, Đơn sa
Tên khoa học: Cinnabaris.
Họ: Cinnabaris
Công dụng: trấn tĩnh, an thần
A. Tính chất
Chu sa thường ở thể bột đỏ, thần sa thường ở thể cục thành khối óng ánh, to nhỏ không nhất định, màu đỏ tối hay đỏ tươi, chất nặng nhưng dễ vỡ vụn, không mùi, vị nhạt. Khi nghiền bằng tay, tay không bị bắt màu đỏ là loại tốt.
Chu sa và thần sa hiện nay ta đều còn phải nhập cả, tuy nhiên chu sa và thần sa đều là những vị thuốc rất thông dụng.
B. Thành phần hoá học
Thành phần chủ yếu của chu sa hay thần sa là sunfua thuỷ ngân thiên nhiên. Nguyên chất có thuỷ ngân (Hg) 86,2%, sunfua (S) 13,8%. Thuờng lẫn một số tạp chất khác như chất hữu cơ. Khi cho vào ống nghiệm đun nóng sẽ cho HgS đen, cuối cùng SO2 bốc lên và thuỷ ngân bám vào thành ống. HgS + O, -> S02 + Hg
Từ trước cho đến năm 1963, người ta chưa rõ thành phần hoạt chất của chu sa hay thần sa là gì. Vì nói chung Sunfua thuỷ ngân không tan trong nước, là dạng thường sử dụng trong đông y. Năm 1963, Hoàng Như Tố và Phạm Hải Tùng (Trường đại học dược khoa Hà Nội) đã tách được bằng sắc ký một hợp chất chưa xác định được có tác dụng dược lý giống thần sa. Cùng năm, Đàm Trung Bảo (Trường đại học dược khoa Hà Nội) chiết được dưới dạng tinh khiết và xác định là selenua thuỷ ngân, selenua thuỷ ngân chế bằng cách này có tác dụng của thần sa. Năm 1964, Đàm Trung Bảo còn lấy bụi táng ở đáy bể đựng axit sunfuric ở nhà máy supelân Lâm Thao Việt Nam và ở đất quanh đó rồi chiết lấy selen với tỉ lệ 6 đến 9% rồi chế thành selenua thủy ngân, selenua thủy ngân chế bằng cách này cũng có tác dụng giống hệt như selenua thuỷ ngân chế từ thần sa.
Tỷ lệ selenua thuỷ ngân trong thần sa từ 2,5 đến 3%, trong khi trong chu sa chỉ có rất ít, chừng 2%. Nếu chỉ tính riêng selen thì trong thần sa có chừng 3,5 đến 4,5%. Trong chu sa tỷ lệ rất thấp, chỉ có vết.
Có thể bạn quan tâm: Quy
C. Tác dụng dược lý
Năm 1962, Ngô Ứng Long (Trường sĩ quan quân y Việt Nam) đã thí nghiệm thấy dịch chiết của chu sa thần sa mặc dù không có vết thuỷ ngân nhưng có tác dụng như chu sa thần sa.
Năm 1964, Hoàng Tích Huyền (Bô môn dược lý trường đại học y khoa Hà Nội) thí nghiệm các muối selenua natri, kali, muối selenit và muối selenua thuỷ ngân do Đàm Trung Bảo tổng hợp từ selen trong chu sa, thần sa hay từ bụi và đất quanh nhà máy supelân Lâm Thao đã đi đến kết luận sau đây:
1. Các muối selenua natri, kali, muối selenit, selenat rất độc không dùng làm thuốc được.
2. Muối HgSe dưới dạng keo có trong chu sa hay thần sa hoặc tổng hợp được rất ít độc và có tính chất:
– An thần rất mạnh, chống co giật mạnh hơn hẳn các chất an thần thường dùng như bromua v.v… Tác dụng ở vỏ não, không làm thay đổi nhịp tim và không chống được nôn do apomocphin.
– Kéo dài giấc ngủ do các bacbituric lên 2 đến 3 lần và kéo dài thời gian mê do pentothal cũng 2 đến 3 lần. Theo các tạp chí nước ngoài, một số hợp chất selen được dùng với những công dụng gần như chu sa thần sa.
– Một số hợp chất hữu cơ của selen (Anh, Ấn Độ) được dùng làm thuốc an thần.
– Hợp chất selen được các nhà nghiên cứu Liên Xô cũ thí nghiệm thấy có tác dụng diệt nấm, chữa một số bệnh ngoài da. Ba Lan, Nhật Bản dùng loại selenosemicabazon chữa lao, chống vi khuẩn.
– Hợp chất selemecaptopurin dùng chống sự phát triển tế bào.
Trong năm 1964, Mỹ dùng tới 5,5% sản lượng selen làm thuốc, tức là vào khoảng 30 tấn.
Qua những thí nghiệm và một số tài liệu nước ngoài, chúng ta thấy một số kinh nghiệm nhân dân dùng chu sa, thần sa đã được chứng minh và hoạt chất chủ yếu nhiều phần là do muối selen, một tạp chất có ở một tỷ lệ rất thấp trong chu sa, thần sa. Trong thần sa tỷ lệ cao hơn, nhân dân cũng coi thần sa tốt hơn chu sa mặc dù trước đây chưa rõ lý do.
Có thể bạn quan tâm: Cá nóc
D. Công dụng và liều dùng
Tây y hiện nay gần như không dùng sunfua thuỷ ngân làm thuốc. Trước kia có dùng trị bệnh giang mai nhưng thường chỉ dùng dưới dạng thuốc mỡ 10%. ít dùng để uống. Trái lại đông y coi chu sa, thần sa là một vị thuốc thông thường có tác dụng trấn tĩnh, an thần, chữa hoảng hốt, mất ngủ, ngủ hay mê, giật mình hoảng sợ, trẻ con hay khóc đêm. Còn dùng làm bột bao thuốc viên chống mốc của thuốc viên.
Tính chất của chu sa thần sa ghi trong các sách cổ như sau: Vị ngọt, hơi hàn, vào tâm kinh, có tác dụng yên hồn phách, định kinh giản, sáng mắt, giải độc, chữa các chứng hình (gân thịt co giật) và bệnh giang mai mới phát. Dùng trong mọi bệnh của ngũ tạng, thông huyết mạch, làm bớt phiền muộn, ích tinh thần, trừ độc khí trong bụng và ghẻ lở. Người không thực nhiệt không dùng được.
Thường dùng với liều 0,04 đến 1g một ngày dưới dạng bột hay thuốc viên hoặc hấp với tim lợn cho ăn. Dùng ngoài tuỳ theo nơi rắc thuốc to hay nhỏ. Trong các sách cổ đều nói chu sa, thần sa phải dùng sống tuyệt đối, không dùng lửa có thể gây chết người (do sức nóng biến thành muối thuỷ ngân tan nhiều). Không được dùng lâu và dùng nhiều có thể làm cho người thành si ngốc.
Cách bào chế như sau: Mài thần sa hay chu sa trong cối đá hay bát sứ thêm ít nước mưa hay nước cất, dùng đá nam châm hút hết mùn sắt, rồi thêm nước khuấy cho đều, để lắng gạn bỏ nước trong hay có màng ở trên, lại thêm nước vào khuấy cho đều, khi nước trên trong thì thôi (thuỷ phi). Cặn còn lại trong chậu được che kín (dùng giấy bản bịt miệng) rồi đem ra phơi nắng cho tới khi khô thì lấy dùng.
Có thể bạn quan tâm: Quế quan
Chú thích:
Trên thị trường có khi có bán loại chu sa nhân tạo (Vermilion), nhân dân cho không tốt bằng chu sa thiên nhiên. Có lẽ vì không có tạp chất có tác dụng là muối selenua.
Đơn thuốc có chu sa thần sa dùng trong nhân dân
Giải đậu độc lúc sắp mọc hay mới mọc: Chu sa 1g (3 phân) tán nhỏ hoà với mật mà uống.
Chữa di tinh: Chu sa (thuỷ phi) cho vào quả tim lợn, lấy chỉ buộc quả tim lợn lại nấu chín mà ăn.
https://www.nhangthaoduoc.net/chu-sa-than-sa/
-
Bài giảng về THỦY NGÂN - Tài liệu text - 123doctext.123doc.net › ... › Cao đẳng - Đại học
Selenua thủy ngân (II): chất bán dẫn Telurua thủy ngân (II): chất bán dẫn Telurua cadmi thủy ngân là những vật liệu dùng làm đầu dò tia hồng ngoại. II.
https://123doc.net//document/2622385...-thuy-ngan.htm
-
HgSe (Thủy ngân(II) selenua)
Tên Tiếng Anh: Mercury(II) selenide; Tiemannite
Nguyên tử / Phân tử khối (g/mol): 279.5500
https://cunghocvui.com/chat-hoa-hoc/HgSe
=============
Thủy ngân fulminat, (ngòi nổ sử dụng rộng rãi trong thuốc nổ),
Sulfua thủy ngân (II) (màu đỏ thần sa là chất màu chất lượng cao),
Selenua thủy ngân (II) chất bán dẫn,
https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A7y_ng%C3%A2n
-
Mối nguy hại từ thủy ngân
06:06 28/06/2009 GMT+7
Thủy ngân (TN) ký hiệu hóa học là Hg, xuất xứ từ tiếng Hy Lạp: Hydrargyrum (trong đó Hydros: nước và argyros: bạc). Đó là một trong 3 kim loại (TN, chì, cadmium) được coi là nguy hiểm nhất đối với con người, đã thế nó còn là một chất không có chức năng gì đối với cơ thể.
Thủy ngân (TN) ký hiệu hóa học là Hg, xuất xứ từ tiếng Hy Lạp: Hydrargyrum (trong đó Hydros: nước và argyros: bạc). Đó là một trong 3 kim loại (TN, chì, cadmium) được coi là nguy hiểm nhất đối với con người, đã thế nó còn là một chất không có chức năng gì đối với cơ thể.
TN có mặt ở khắp nơi và mức độ gây hại đang ngày một nghiêm trọng hơn những gì các nhà khoa học từng đánh giá về nó cách đây vài năm. ở dạng nguyên chất, mức độc chỉ ở dạng trung bình vì nó lưu chuyển nhanh, khắp cơ thể khiến cho ít bộ phận nào kịp có thời gian hấp thu nó. Nguy hiểm là nó làm nhiễm bẩn không khí, chuyển thành dạng methyl TN, bền vững và bám dính trong quá trình chuyển hóa một thời gian dài trong cơ thể. Methyl TN là chất độc thần kinh rất mạnh. Người bị nhiễm độc TN thường có những triệu chứng lâm sàng như:
- Thể nhẹ: nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi, khó ngủ, tanh mùi kim loại ở miệng, khó thở, đau thắt ngực. Khám thấy: viêm lợi, mi mắt co giật liên tục, tính tình cáu gắt, hưng phấn khác thường.
- Thể vừa: Tổn thương viêm tủy sống hay các dây thần kinh, nếu nặng sẽ bị viêm não, viêm tủy sống, viêm dây thần kinh, có khi liệt tứ chi. Trí nhớ bị giảm sút, tập trung tư tưởng kém, lao động suy yếu, ăn mất ngon, không ngủ được. Cuối cùng dẫn tới hội chứng bệnh não.
- Thể mạn: rối loạn thần kinh thực vật và tim mạch. Chức năng chống độc của gan giảm, hàm lượng TN trong nước tiểu tăng: 0,04 - 0,10mg/l.
TN còn ảnh hưởng rõ rệt đến thai nhi: mù, điếc, dị dạng, trí thông minh giảm sút...
Những trường hợp ngộ độc thủy ngân
Trong mỹ phẩm
Thời trung cổ, nhiều phụ nữ đã chết một cách kỳ lạ mà không ai hiểu tại sao. Ngày nay, khoa học, sau khi đã phân tích kỹ và chính xác - đã kết luận nạn nhân bị tử vong do đã sử dụng các mỹ phẩm trong đó có chứa các chất độc: TN, chì, asen... Việc phân tích các mẫu xương còn lại của một số nữ hoàng, công chúa, công tước được lưu lại tại các hầm mộ từ thế kỷ 15 ở Nga cho thấy mức độ tập trung TN và chì cao gấp hàng trăm lần so với mức bình thường. Một trong những nghi án lớn nhất của lịch sử Nga là cái chết của Sa hậu Anatassia Romanova (vợ Ivan bạo chúa) qua đời khi mới ở tuổi 25, nổi tiếng lạm dụng mỹ phẩm. Phân chất trong bím tóc màu nâu của bà, thấy muối thuỷ ngân có tỷ lệ cao (4,8mg/g). Bà chết vào năm 1560, khi còn rất trẻ và gây tai họa cho nhiều người vì Ivan bạo chúa cho rằng có kẻ đã ám sát vợ mình (!). Những cuộc khai quật hầm mộ ở Ai Cập, thu được những túi nhỏ mỹ phẩm trong mộ phần của nhiều phụ nữ, phân tích thấy có chứa nhiều TN, chì...
Trong các thuốc tráng dương, trường sinh bất tử
Các vua chúa và các nhà quyền quý ưa chuộng các loại tân dược được chế tạo từ khoáng vật, thực vật... nhằm kéo dài tuổi thọ, tăng cường khoái cảm, tráng kiện, hoạt động tình dục không biết mỏi mệt. Cái chết của Hán Thành tổ Lưu Ngao (thế kỷ I trước CN) được coi là ông vua đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa băng hà vì lạm dụng đan dược, được chính sử ghi chép lại. Nguyên liệu luyện đan thường có các khoáng thạch: hùng hoàng, tiêu thạch, vân mẫu, chu sa, thần sa... Trong các thuốc này có chứa hàm lượng cao: TN, chì, asen..., như chu sa chứa selenua thủy ngân.
Trong động vật
Tiến hành thử nghiệm trên các loài chim di trú ở miền Đông Bắc nước Mỹ, các nhà nghiên cứu phát hiện mức thủy ngân tiềm ẩn trong máu của hơn 175 loài từng được coi là "chim sạch". TN còn tồn tại trong cơ thể gấu Bắc cực, chồn nước, rái cá, báo. Các nhà khoa học Hokkaido (Nhật Bản) đã phát hiện trên 26 mẫu gan cá voi, lượng TN trung bình cao hơn 900 lần lượng cho phép (0,4mcg/g).
Bác sĩ Jane Hightower (California - Mỹ) đã đưa ra nhận xét: Qua xét nghiệm máu của 123 người, có triệu chứng tóc rụng, mệt mỏi, nhức đầu, mất trí nhớ, do thường ăn cá biển loại to (cá mũi kiếm, cá ngừ), nhận thấy 90% có hàm lượng TN cao hơn mức cho phép của Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (EPA), trong đó hơn 50% cao gấp đôi, gấp 3 hoặc 4 lần. Ngừng ăn các loại cá to này một thời gian dài các triệu chứng khó chịu trên sẽ biến mất.
Cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc của Mỹ (FDA) khuyến cáo: các bà mẹ mang thai hay đang có dự định mang thai, không nên ăn các loại cá: mũi kiếm, ngừ, thu, mập... hoặc hạn chế ăn cá (dưới 200g một tuần). Khuyến cáo này đã được phổ biến tại 45 tiểu bang, các quầy bán cá phải có bảng cảnh báo về TN có trong cá bán.
Trong một số hóa chất bảo quản
Ở Pakistan, năm 1971 có hơn 6.000 người chết vì thóc bảo quản bằng chất có chứa oxyd TN. Đáng tiếc hơn là sau sự kiện trên không được rút kinh nghiệm, nên năm 1972 lại gây cho 300 người dân Irak chết vì lý do tương tự.
Trong nha khoa và một số dụng cụ y khoa
Việc dùng Amalgam để trám răng đã có từ 1833 do hai anh em người Pháp tên là Crawcowz tìm ra: hợp chất độn amalgam bằng bạc có chứa tới 50% TN. Qua khảo sát thấy trong máu một số nha sĩ có tỷ lệ TN cao hơn mức bình thường, một số ít có biểu hiện rối loạn thần kinh trung ương và ngoại biên. Còn với người bệnh được trám răng, có ý kiến cho rằng: các miếng trám amalgam đã được nhốt kín trong chất này nên an toàn nhưng nếu không làm đúng quy trình kỹ thuật thì TN sẽ rò rỉ, ngấm trực tiếp vào máu và gây hại. Có ý kiến là các nha sĩ nên lưu ý bệnh nhân sau trám amalgam nên nhai kẹo cao su để có thể lấy đi phần nào TN phóng thích từ răng trám. Một nghiên cứu ở Đức năm 1996 thấy nước bọt của 90% bệnh nhân trám răng bằng loại amalgam trên có tỷ lệ TN cao gấp 5 lần tiêu chuẩn cho phép TN có trong nước uống của châu Âu. ở Pháp đã có một số nha sĩ bị bệnh nhân kiện vì họ có triệu chứng nhiễm độc TN. ở một số nước Đức, Canada, Úc, Thụy Điển... đã cấm dùng loại amalgam trên và thay bằng các loại nhựa tổng hợp. Sự thay thế này còn gây nhiều tranh cãi vì dùng loại nhựa này đắt gấp 5 lần và phải thay trong vòng 2-3 năm nhất là tính vô hại của chúng chưa được chứng minh.
TN có trong một số dụng cụ y khoa: Huyết áp kế, nhiệt kế. Riêng nhiệt kế do thân làm bằng thủy tinh nên dễ vỡ, làm TN có trong đó thoát ra ngoài thành những hạt tròn nhỏ lăn tròn trên mặt đất. Nếu không sớm thu hồi, xử lý thì chúng sẽ bốc hơi vào không khí, xâm nhập vào cơ thể người bằng con đường hô hấp, thấm qua da, gây độc.
Kiểm soát nguồn tạo TN
Thủ phạm gây ô nhiễm TN còn xuất xứ từ các xưởng hóa chất, từ các bãi khai thác vàng, từ các nhà máy điện chạy bằng than đá, từ các vùng rừng đầm lầy, các lò thiêu, các đồ phế thải ở các bãi rác (pin, bình điện, đèn huỳnh quang, hộp đựng sơn...).
Mỹ là quốc gia đứng đầu thế giới gây ra nạn ô nhiễm TN. Với 440 nhà máy chạy điện bằng than đá đã tạo ra khoảng 48 tấn TN/năm, các lò thiêu và ngành công nghiệp khai thác đã phun vào bầu khí quyển khoảng 150 tấn TN/năm. Thấy được vấn đề này, cuối nhiệm kỳ của B. Clinton, chính phủ nước này đã đưa ra kế hoạch cắt giảm 50% lượng TN thải ra từ các nhà máy điện vào năm 2008. Nhiều chính quyền ở các tiểu bang nước Mỹ cũng đặt ra luật riêng nhằm kiểm soát ô nhiễm của TN. Nhiều quốc gia châu Âu, Canada, Australia và Nhật đã bắt tay vào kiểm soát ô nhiễm TN và giảm mức sử dụng kim loại này từ 5-10 năm nay.
Hy vọng từ những động thái tích cực trên, mối nguy hại của TN đối với con người ngày càng giảm, tạo sự trong lành cho môi trường sống của con người và động, thực vật...
Phạm Hương
https://suckhoedoisong.vn/moi-nguy-h...an-n28116.html
-
CHU SA MẠN ĐÀM
Tổng hợp: Lê Bá Thanh
Chu sa tự nhiên được khai thác từ các mỏ mà không bị thay đổi tính chất vật lý qua các quy trình kỹ thuật, còn được gọi là quăng chu sa thô, chu sa tinh khiết. Chu sa là khoáng chất có nhiều hình dạng khác nhau như hình mảnh, sợi, cục, màu đỏ hoặc nâu hồng, có những vết bóng sáng, rắn nhưng rất giòn nên dễ vỡ. Chu sa tự nhiên phân bố ở các tỉnh Hồ Nam, Tứ Xuyên, Liêu Ninh, Vân Nam, Quí Châu, Hà Bắc; thứ sản xuất ở Thần châu, Hồ Nam có chất lượng tốt nhất, được dùng trong Đông y và hội họa và thường gọi là thần sa.
Chu sa (朱砂) là một loại đá khoáng, trong các tài liệu sớm nhất chỉ có một từ dùng để chỉ chu sa, tên của nó là “đơn” (丹), “đơn” là một từ hội ý dùng để chỉ màu đỏ, các mỏ chu sa đã được khai thác trong thời cổ đại, khoáng chất màu đỏ khai thác từ mỏ đầu tiên là Chu sa. Chu sa nhiều hình dạng khác nhau như hình mảnh, sợi, cục, màu đỏ hoặc nâu hồng, có những vết bóng sáng, rắn nhưng rất giòn, thường được tán thành bột, chế biến thường được thủy phi nên rất mịn, lấy ngón tay xát màu không ra tay là thứ tốt. Chu sa không tan trong nước, cho vào ống nghiệm đun nóng, chuyển thành Thủy ngân sulfua màu đen, rồi tiếp tục phân hủy ra khí lưu huỳnh dioxid bốc lên và kim loại thủy ngân bám vào thành ống.
Chu sa có nhiều tên gọi khác nhau, như: Đơn sa, Phế sa, Thổ khanh sa, Cửu khanh sa (Bản Thảo Cương Mục), Mai bách sa, Kim tinh sa, Thần mạt sa, Bình diện sa, Tiển thốc sa, Bạch đình sa, Thần toà sa, Diệu lưu sa, Kim toà sa, Ngọc toà sa, Bạch kim sa, Trừng thủy sa, Âm thành sa, Thần cẩm sa, Phù dung sa, Tòa mạc sa (Lôi Công Bào Chích Luận), Ba sa, Việt sa, Vân mẫu sa, Mã xỉ sa, Đậu sa, Mạc sa (Bản Thảo Tập Chú) Quang minh sa, Mã nha sa, Vô lương sa (Tân Tu Bản Thảo Đồ Kinh), Nhật tinh, Chân châu, Tiên châu, Hồng sa, Xích đế, Thái dương, Chu điểu, Ráng lăng chu nhi, Ráng cung chu nhi, Xích đế tinh, Xích đế tủy, Chu tước, Thạch dược (Nhĩ Nhã), Khối sa, Bán diện sa (Hòa Hán Dược Khảo), Khỏa khối (Đồ Kinh Bản Thảo).
Ngoài ra, ở Việt Nam lưu hành hai tên gọi, là Chu sa và Thần sa, và người ta cho rằng Chu sa và Thần sa là hai loại khác nhau, nhưng thực ra nó là một. Tại sao có sự nhầm lẫn như vậy? Vì Chu sa phân bố ở nhiều nơi khác nhau nên chất lượng cũng khác nhau. Và Chu sa có nhiều ở lưu vực sông Nguyên Giang, phía Tây tỉnh Hồ Nam, thời xưa khu vực này có tên là Thần Châu (辰州), vì vậy Chu sa khai thác ở Thần Châu nên được gọi là Thần sa. Mặt khác, Thần Châu cũng là trung tâm buôn bán Chu Sa tên là Thần Châu, lâu dần người ta ghép tên địa danh buôn bán và sản phẩm buôn bán thành một từ chỉ mặt hàng được trao đổi, đó chính là chữ Thần sa.
Chu sa có địa bàn phân bố khá rộng, nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc, như: Hồ Nam, Tứ Xuyên, Liêu Ninh, Vân Nam, Quí Châu, Hà Bắc.
Tên khoa học là Cinnabaris, Sulfur thủy ngân, HgS, Sulfuratum Hydragyrium.
Chu sa nhân tạo
Vào những năm 1940 của thế kỷ trước, cách đây 70 năm, các nhà phân phối dược liệu ở Trùng Khánh và Vũ Hán đã từ phát triển một loại thủy ngân sulfua tổng hợp và cũng lấy tên là Chu sa. Theo cách này, ý nghĩa của Chu sa đã thay đổi, Chu sa giờ đây không còn là Chu sa chất lượng cao nữa vì nó không còn là tinh thể của sulfua thủy ngân tự nhiên. Sau những năm 1940, chu sa được gọi là sulfua thủy ngân tổng hợp. Chu sa tổng hợp được sản xuất bằng cách xử lý các muối của thủy ngân hóa trị 2 với sulfur hydro (H2S) để làm lắng đọng metacinnabarit tổng hợp màu đen, sau đó được đun nóng trong nước. Chuyển hóa này được xúc tác bằng sự có mặt của sulfur natri (Na2S). Chu sa tổng hợp không có dạng hạt, nó có các tinh thể dạng sợi cơ, giống như sợi cơ thịt bò. Theo nghiên cứu, hàm lượng thủy ngân tự do trong Chu sa tự nhiên rất thấp, thậm chí có loại không chứa thủy ngân, hàm lượng thủy ngân sulfua cũng tương đối thấp. Ngoài sunfua thủy ngân, hiện nay người ta còn phát hiện thấy có nhiều nguyên tố vi lượng, Chu sa tự nhiên được dùng trong y học lâm sàng và có thể dùng để uống. Chu sa tổng hợp không thích hợp để sử dụng trong nhà vì độ tinh khiết của sulfua thủy ngân trên 99,9 và hàm lượng thủy ngân tự do cũng cao. Nó chủ yếu được sử dụng để ứng dụng bên ngoài. Chủ yếu có tác dụng trấn tĩnh và làm dịu tâm trí! Và hiện nay trên thị trường Việt Nam cũng như Trung Quốc có đến 80% là Chu sa nhân tạo, vì Chu sa tự nhiên ngày một hiếm đi, các mỏ được khai thác từ thời cổ đại nên sản lượng giảm dần và việc khai thác trở nên khó khăn hơn.
Hình 1; 2; 3: Chu sa tự nhiên
Hình 4; 5; 6: Chu sa nhân tạo
Vai trò của Chu sa trong Đạo Giáo
Chúng ta đều biết rằng chu sa đã được Đạo giáo giả kim, khai sáng và hoàn thiện từ thời cổ đại. Đạo là thuận tự nhiên. Chu sa, nơi ngưng tụ linh khí của tự nhiên, có mối quan hệ sâu sắc với Đạo giáo. Người đời luôn coi đó là phẩm chất tối cao để cầu may, trấn yểm tà ác, cầu tài lộc. Ngoài ra họ còn dùng Chu sa để luyện thành kim đan và cho rằng việc ăn nó có thể làm cho người ta trở thành bất tử, thành thần tiên.
Tại sao chu sa lại có sức hút như vậy?
Theo tiêu chuẩn của thuật giả kim Đạo gia, chữ “Sa Nữ” (姹女) được dùng trong thuật giả kim, màu sắc và độ bóng như “tín - 信”(phụ nữ đến kỳ kinh nguyệt) là loại cao nhất, màu sắc và độ bóng như “sơ tín - 初信” là sản phẩm tinh xảo, thực sự là để chỉ các tinh thể thủy ngân sulfua. Màu sắc được phản ánh bởi các mức độ tinh khiết khác nhau của viên thuốc được gọi là “sơ đan” (姹丹)và “Sơ nữ đan” (姹女丹). Các bậc thầy giả kim thuật còn gọi là Sơ Đan Thị (姹丹氏) và Sơ Nữ Thị (姹女氏). Đạo sĩ Trung Quốc dùng "sơ nữ" đặc biệt để chỉ các khoáng chất được sử dụng bởi nhà giả kim thuật của Huyền Môn học, thủy ngân tinh khiết thu được từ thuật giả kim với chu sa là một kim loại chuyển tiếp dạng lỏng nặng, màu trắng bạc, vì vậy nó thường được gọi là thủy ngân.
Trong số các hậu duệ của bậc thầy giả kim Sơ Đan Thị, có những người có tên tổ tiên dòng họ, sau đó, nó được đơn giản hóa thành một họ duy nhất. Trong thời kỳ Hán Vũ Đế trị vì nhà Tây Hán (năm 141 đến năm 87 trước Công nguyên), Một đoàn tùy tùng của gia tộc Sơ Thị đi theo Bác Vọng Hầu Trương Khiên với tư cách là sứ thần đến các vùng phía Tây và chuyển giao thuật giả kim đến các khu vực phía Tây qua Con đường Tơ lụa. Sau đó, kỹ thuật này đi qua Con đường Cổ đại Ba Tư (nay là Ai Cập). Truyền bá sang Châu Âu và phát triển dần sang lĩnh vực hóa học hiện đại?.
Đạo giáo cho rằng chu sa được lấy từ mạch khoáng tinh hoa của mặt trời và mặt trăng, vì hấp thụ năng lượng chính khí của trời đất nên có từ trường năng lượng dương rất mạnh, có thể trấn nhà, tránh tà khí, cầu may, cầu tài lộc. Nếu phong thủy ở nơi nào đó không tốt và bị tà khí quá nặng, sử dụng màu đỏ của chu sa được cho là có tác dụng trấn áp ma quỷ rất rõ ràng. Đạo sĩ thường sử dụng các biểu tượng để xua đuổi tà ma. Họ đặt lá bùa của họ dưới tên của Trương Thiên Sư, được gọi là Bùa Thiên Sư. Ngày xưa, các đền thờ Đạo giáo dùng bút chu sa để vẽ các biểu tượng trên giấy vàng để dán hoặc bán chúng trong Lễ hội Thuyền rồng.
"Yến Thuế Thời Ký · Thiên Sư Phù" có câu: “Ở Bắc Kinh, Bất cứ khi nào Đoan ngọ, bạn phải sử dụng một cây thước bằng giấy vàng và đóng dấu đỏ, hoặc vẽ hình ảnh của Thiên Sư, tượng thần Chung Quỳ, hoặc vẽ hình năm bùa độc. Người ta tranh nhau mua, dán vào cửa giữa, để xua đuổi ma quỷ. “Xưa kia có ghi lại hai bức tranh về bùa chú buổi trưa Quảng Châu, một bức là tượng Thiên chủ, một bức là hình Thái Cực Bát quái. Văn bản giống nhau: ở giữa là "Sắc lệnh rằng mọi thứ sẽ bị loại bỏ vào trưa ngày 5 tháng 5 kể cả kiến, rắn và côn trùng", và ở hai bên là "Ngãi kỳ nghênh bách phúc" và "Bồ kiếm trảm thiên tà". Chu sa được các đạo sĩ sử dụng để trấn yểm, tránh tà ma, cầu may, cầu tài lộc phần lớn là chu sa được sản xuất ở Vạn Sơn. Người ta kể rằng từ thời Tần và Hán, ở Vạn Sơn đã có những thầy phù thủy khai thác cát để làm thuật giả kim, lịch sử khai thác rất lâu đời. Phong tục tang lễ hiện nay ở miền Tây Hồ Nam vẫn còn tồn tại thói quen sử dụng Chu sa: trước khi người chết vào quan tài, người đó cần dùng Chu sa chạm vào bảy huyệt đạo trên trán, lưng, ngực, tim, tay trái, tay phải, bàn chân cũng như tai, mũi, miệng. Phong ấn ba hồn bảy vía. Sau khi đào mộ cho người chết, rắc Chu sa xuống phía dưới, có nghĩa là trấn "lão ốc trường". Bằng cách này, các thế hệ tương lai có thể an toàn, hạnh phúc và khỏe mạnh. Trong dân gian, ngôi nhà nơi có người treo cổ tự tử gọi là nhà ma ám, nhà bất an, người ta yêu cầu treo chân dung của thần Chung Quỳ lên tường, áo choàng đỏ của thần Chung Quỳ phải được nhuộm bằng Chu sa. Từ quan điểm này cho thấy mối quan hệ giữa Chu sa và Đạo giáo là vô cùng sâu sắc.
Chu sa trong Phật Giáo
Từ dấu vết nhỏ màu đỏ của Chu sa trên trán của Đức Phật Thích Ca và Quán Thế Âm Bồ tát, chúng ta có thể nhận thức sâu sắc rằng Chu sa có mối quan hệ sâu sắc với Phật giáo. Đối với lễkhai quang của Phật giáo, phải được sử dụng Chu sa. Khai quang hay còn gọi là cúng khai nhãn, khai sáng. Hằng thuận có nghĩa là khi tượng và tranh Phật mới được đặt trong Phật đường, phải được các vị cao tăng cung thỉnh theo nghi lễ Phật giáo nhất định, khai nhãn cho Đức Phật, chạm khắc gỗ điêu, đất sét thông qua tụng kinh, cầu nguyện, v.v. Tượng Phật hay pháp khí có “sức mạnh của Phật tính”. Khi cung nghinh Phật, trước hết phải dựng tượng Phật, tụng kinh, niệm chú, thỉnh Bồ Tát ngồi xuống, sau đó thỉnh vị cao tăng cung thỉnh tượng Phật. Trong khi cúng dường, do công đức của chư Phật và Bồ tát khác nhau, pháp của các vị nguyên thần cũng khác nhau, và các vị nguyên thần thường nói đến việc khai mở “lục thông” cho tượng Phật là mắt, tai, mũi, lưỡi, Thân và ý, nghĩa là để cho đức Phật có sáu thần thông: tức là mắt thấy, thấy sự thật khắp nơi, tai nghe, nghe âm thanh kỳ diệu khắp mười phương; mũi ngửi mùi hương; lưỡi, kỹ năng nói vô hạn; thân, giao tiếp cơ thể và cơ thể điểm; ý và giao tiếp ý nghĩa, có thể học hỏi từ ba thế giới.
Lễ Hằng thuận nói chung là trước tiên gia chủ lấy khăn mới đặt trước tượng Phật, làm động tác lau mặt cho tượng Phật, đọc một câu ca ngợi công đức của Phật và Bồ tát; thứ hai, đối chiếu tượng Phật với gương và nói đôi lời về chùa và tượng Phật. Bấy giờ Pháp sư cầm cây bút Chu sa, đọc mtj câu trong kinh Phật, dùng vải nhuộm Chu sa che lại, dùng bút viết câu thần chú lên không trung. Miệng niệm “Khai quang”, “Khai quang”, đưa cây bút Chu sa về hướng mắt của Đức Phật và làm động tác “điểm”, hô “mở ra”, và toàn bộ buổi lễ đã hoàn thành.
Tại sao Phật giáo lại dùng chu sa để Khai quang?
Hóa ra Phật giáo tin rằng Chu sa ngưng tụ linh khí của trời đất, hấp thụ tinh hoa của mặt trời và mặt trăng, là thần dược, trấn tĩnh thần kinh, là pháp khí để diệt tà ma, là thánh vật có sức mạnh vô biên. Tinh thể Chu sa là những tấm dày hoặc hình thoi, rất hiếm trong tự nhiên và chủ yếu xuất hiện dưới dạng khối hạt và dày đặc, một số ở dạng bột. Màu sắc của chu sa từ đỏ son đến đỏ đen, đôi khi có màu xám chì, có vệt đỏ, ánh kim cương, trong mờ, có trọng lượng, không mùi, không vị. Nó có độ cứng từ 2 đến 2,5, trọng lượng riêng từ 8,09 đến 8,2 và giòn. Nó có lẫn trong đá vôi, đá phiến và đá sa thạch.
Dưới góc độ phong thủy, Chu sa được kết tinh từ mạch khoáng tinh hoa của mặt trời và mặt trăng, vì nó hấp thụ năng lượng chính khí của trời đất nên có từ trường rất mạnh. Ngọc và pha lê lạnh trong tay bạn, nhưng chu sa thì ấm trong tay bạn. Nói cách khác, Chu sa có từ trường cực mạnh, chẳng trách Phật giáo tin rằng nó có thể diệt bùa, trấn áp tà ác, ma lực của nó là vô biên. Dùng Chu sa để Khai quang, không những diệt được bùa chú, trấn áp tà ác mà còn có thể soi sáng Phật đạo.
Chu sa trong Đông y
Muối HgSe dưới dạng keo có trong Chu sa có tác dụng: An thần rất mạnh, chống co giật mạnh hơn hẳn các chất an thần thường dùng như Bromua.Tác dụng ở vỏ não không làm thay đổi nhịp tim và không chống được nôn do apomorphin. Kéo dài giấc ngủ do các barbituric lên 2 – 3 lần và kéo dài thời gian mê do pentothal cüng 2 – 3 lần (Báo cáo của Hoàng tích Huyền, Bộ môn Dược lý Trường Đại học Y Hà nội) về thí nghiệm các muối selenua natri, kali, muối selenit và muối selenua thủy ngân do Đàm trung Bảo tổng hợp từ Selen trong Chu sa.
Theo các tạp chí nước ngoài, một số hợp chất selen được dùng với những công dụng như Chu sa. Một số hợp chất của selen (Anh, ấn độ) được dùng làm thuốc an thần.
Thuốc có tác dụng giải độc, chống mốc thối. Dùng ngoài thuốc có tác dụng ức chế, sát khuẩn ngoài da, ký sinh trùng. Hợp chất selen được các nhà nghiên cứu Liên xô cü thí nghiệm thấy có tác dụng diệt nấm. Trị một số bệnh ngoài da. Hoạt chất chủ yếu phần nhiều do muối selen.
Theo y học cổ truyền Trung Hoa thì Chu sa sinh ở phương Nam, hấp thụ được hỏa khí của quẻ Ly mà sinh ra, thể nó dương và tính âm nên bên ngoài thì thể hiện màu đỏ còn trong thì óng ánh như thủy ngân, tính không nóng mà lại mát, vị không đắng mà lại ngọt. Vì vậy kết hợp với Viễn chí và Long cốt thì dưỡng được tâm huyết, với Câu kỷ, Địa hoàng thì dưỡng Thận, với Hậu phác, Xuyên tiêu thì dưỡng tỳ, với Nam tinh, Xuyên ô thì đuổi phong. Chu sa có thể làm cho sáng mắt, an thai, giải độc, phát hãn, tùy theo đó để tá sứ mới thấy công hiệu.
Ngày xưa ông Hạ tử tích trong “Kỳ tật phương” ghi rằng: Hễ người nào tự thấy hình của mình mà làm thành 2 người, cùng đi cùng nằm không phân biệt chân giả đó gọi là “Ly hồn bệnh” thì dùng Thần sa, Nhân sâm, Phục linh sắc đặc uống hàng ngày, thật thì thần khí sáng, còn giả thì biến hóa vậy (Lý Thời Trân).
Cách chế biến Chu Sa
Cách 1: lấy chu sa, thần sa, mài vào cái bát sứ đã chứa ít nước sạch cho tan hết phần bột, làm nhiều lần, bỏ phần cặn, gạn hoặc dùng nam châm để hút các cặn sắt, lấy phần bột mịn đỏ, đem phơi khô rồi dung.
Cách 2: Bỏ chu sa, thần sa vào cối sứ hoặc lon sành, cho nước sạch vào rồi nghiền làm nhiều lần, mỗi lần gạn lấy phần nước có bột đỏ sang một dụng cụ khác như can, chậu sành..., để lắng vài giờ, gạn bỏ phần nước trong ở trên, thu lấy bột mịn màu đỏ. Có thể tinh chế vài lần như vậy. Sau đó cho ra mâm nhôm hay khay men... phơi trong bóng râm cho tới khô. Lấy phần bột mịn màu đỏ, bảo quản trong lọ thủy tinh sạch, nút kín, để nơi cao ráo, tránh ánh sáng.
Cách 3: Trong các xí nghiệp sản xuất thuốc Đông dược, khi cần sản xuất số lượng lớn thần sa, chu sa, phải xay nghiền trong các cối bằng đá, song nhất thiết phải luôn luôn xay nghiền cùng với nước sạch để làm nguội (do nhiệt sinh ra trong quá trình xay nghiền dễ tạo ra thủy ngân nguyên tố). Sau đó các quá trình tiếp theo cũng làm theo các cách trên.
Hình 7; 8: Chế chu sa
Chu sa trong mỹ thuật
Trong mỹ thuật, tên gọi có khác nhau, như: Vermilion, đỏ son (son trai, tươi, thắm, nhì, tam…) bởi những màu đỏ này được chế, tách từ thần sa và được dùng rộng rãi trong ngành mỹ thuật từ xa xưa. Tên gọi chung là đỏ son hay đỏ chu sa là tên gọi của màu sắc có ánh màu da cam rất nhẹ. Gọi là màu đỏ son do màu của một số loại son đỏ rất giống như vậy. Bột màu đỏ son là chất màu trong mờ, nặng với sắc thái tươi và trong. Màu đỏ son không phải là một sắc thái màu cụ thể; thủy ngân sulfua tạo ra một loạt các sắc thái nóng, từ đỏ cam tươi tới tía ánh đỏ xỉn hơn, trông tương tự như gan vịt tươi. Các khác biệt về sắc thái là do kích thước các hạt bột đã nghiền mịn. Các tinh thể lớn hơn tạo ra màu xỉn hơn và ít sắc cam hơn.
Nó đồng thời cũng là tên gọi của một loại thuốc màu có nguồn gốc từ khoáng vật Chu sa. Nó được sử dụng rộng rãi trong nghệ thuật và trang trí của La Mã cổ đại, trong các sách chép tay minh họa thời Trung cổ, trong hội họa thời kỳ Phục Hưng, cũng như trong nghệ thuật và đồ sơn tại Trung Quốc.
Nhà giả kim thuật Hy Lạp Zosimos xứ Panopolis (thế kỷ 3–4) viết rằng một phương pháp như thế đã tồn tại. Đầu thế kỷ 9 quá trình này đã được nhà giả kim thuật Ba Tư Jabir ibn Hayyan (722–804) mo tả chính xác trong sách của ông về các công thức màu, và quá trình này đã bắt đầu được sử dụng rộng rãi tại châu Âu.
Quá trình được Jabir ibn Hayyan mô tả là khá đơn giản. Thủy ngân và Lưu huỳnh được trộn cùng nhau tạo ra một hợp chất thủy ngân sulfua màu đen, gọi là *Aethiopes mineralis*. Chất này sau đó được nung trong bình thót cổ. Hợp chất này bay hơi và ngưng tụ lại ở phía trên của bình thót cổ. Bình này sau đó được đập vỡ và lấy ra cục màu đỏ son để đem nghiền. Khi mới được tạo ra nó có màu gần như đen, nhưng khi được nghiền thì màu đỏ sẽ xuất hiện. Bột màu càng được nghiền lâu thì màu càng tinh tế hơn. Họa sĩ người Ý thời Phục Hưng là Cennio Cennini (khoảng 1360 - trước 1427) viết rằng: "nếu bạn có thể nghiền nó mỗi ngày trong hai mươi năm thì nó càng tốt hơn và hoàn hảo hơn".
Tài liệu đầu tiên sử dụng chất màu đỏ son, được làm bằng Chu sa, có niên đại 8000–7000 trước Công nguyên, và được tìm thấy tại làng Catalhoyuk, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay có niên đại từ thời đồ đá mới. Chu sa được khai thác ở Tây Ban Nha bắt đầu từ khoảng 5300 trước Công nguyên. Ở Trung Quốc, việc sử dụng Chu sa đầu tiên được ghi nhận như một chất màu là của nền văn hóa Ngưỡng Thiều (5000–4000 trước Công nguyên), nơi nó được sử dụng để vẽ đồ gốm sứ, để phủ tường và sàn của các căn phòng, và cho các nghi lễ.
Nguồn gốc chính của Chu sa của người La Mã cổ đại là mỏ Almaden ở tây bắc Tây Ban Nha, nơi được các tù nhân làm việc. Vì quặng thủy ngân có độc tính cao nên một thuật ngữ trong mỏ là một bản án tử hình ảo. Pliny the Elder đã mô tả về mỏ này đường: Không có gì được bảo vệ cẩn thận hơn. Cấm bẻ hoặc tinh chế Chu sa ngay tại chỗ. Họ gửi nó đến La Mã trong tình trạng tự nhiên, được niêm phong, với mức khoảng mười nghìn bảng một năm. Giá bán được ấn định bởi luật để giữ cho nó không trở nên quá đắt, và giá cố định là bảy mươi sesterces một pound.
Ở La Mã, chất màu quý giá được sử dụng để vẽ các bức bích họa, trang trí các bức tượng, và thậm chí là mỹ phẩm. Trong chiến thắng của người La Mã, những người chiến thắng có khuôn mặt được phủ bằng bột màu đỏ son từ Chu sa, và khuôn mặt của thần Jupiter trên Đồi Capitoline cũng có màu đỏ son. Chu sa đã được sử dụng để sơn tường của một số biệt thự sang trọng nhất ở Pompeii, bao gồm Biệt thự của những Bí ẩn (tiếng Ý: Villa dei Misteri). Pliny báo cáo rằng những người thợ sơn của biệt thự đó đã đánh cắp một phần lớn của chất màu đắt tiền bằng cách thường xuyên rửa bàn chải của họ và tiết kiệm nước rửa.
Trong Đế chế Byzantine, việc sử dụng Chu sa và màu đỏ son được dành riêng cho việc sử dụng của gia đình Hoàng gia và các quản trị viên; các thư chính thức và sắc lệnh của hoàng gia được viết bằng mực đỏ son, được làm bằng chu sa.
Chu sa cũng được sử dụng bởi các dân tộc ở Bắc và Nam Mỹ, để vẽ đồ gốm, tượng nhỏ, tranh tường và để trang trí cho các lễ chôn cất. Nó đã được sử dụng trong Nền văn minh Chavin (400 TCN - 200 SCN) và ở Maya, Sican, Moche, và Đế chế Inca. Nguồn chính là mỏ Huancavelica trên dãy núi Andes ở miền trung Peru.
Ví dụ ấn tượng nhất về việc sử dụng màu đỏ son ở châu Mỹ là cái gọi là Lăng mộ của Nữ hoàng Đỏ, nằm ở Đền XIII trong tàn tích của thành phố Palenque của người Maya ở Chiapas, Mexico, có niên đại từ 600–700 sau Công nguyên, được phát hiện vào năm 1994 bởi nhà khảo cổ học người Mexico Arnoldo Gonzales Cruz. Cơ thể và tất cả các đồ vật trong quan tài đều được phủ một lớp bột màu đỏ son đỏ tươi làm từ chu sa.
Chu sa cũng được các họa sĩ trong thời kỳ Phục hưng sử dụng như một màu đỏ rất sống động và tươi sáng, mặc dù nó có điểm yếu là đôi khi chuyển sang màu tối theo thời gian.
Hình 9: *Họa sĩ người Venice, Titian, đã sử dụng màu đỏ son để tạo hiệu ứng ấn tượng. Trong phim Đức Mẹ Đồng trinh (1516–18), chiếc áo choàng màu đỏ son thu hút ánh nhìn của các nhân vật chính.*
Ở phương Đông như Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản, Chu sa được sử dụng và đã có một lịch sử lâu dài trong ứng dụng, sáng tạo các đồ gia dụng, thủ công mỹ nghệ. Được biết đến từ thời cổ đại và phát triển mạnh trong xã hội hiện đại, ngoài ra còn nổi tiếng khắp thế giới từ đầu thế kỷ 20. Nói chung, sơn tự nhiên và chu sa (thần sa) đã làm nên một “nghề sơn” đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong ngành thủ công mỹ nghệ. Cao hơn nữa, thời nay sơn tự nhiên và chu sa (thần sa) cũng đã và đang đóng một vai trò chính yếu tạo nên và phát triển ngành sơn mài hiện đại.
Cạn kiệt tài nguyên chu sa
Hiện nay, với sự cạn kiệt dần tài nguyên khoáng sản của các nước sản xuất Chu sa vì Chu sa là tinh thể khoáng vật có giá trị làm đá cảnh, đã trở thành bảo vật của các bảo tàng và nhà sưu tầm ở khắp mọi nơi. Có nhiều điều kiện xác định giá của tinh thể chu sa, nhưng kích thước tinh thể thường được sử dụng để hiệu chuẩn. Hình dạng pha lê hoàn chỉnh, các cạnh và góc rõ ràng, màu đỏ tươi, độ trong suốt tốt. Do đó, chu sa nguyên chất trong suốt và mờ là mặt hàng đứng đầu trong bộ sưu tập với phiến lớn và tinh thể tốt. Trung Quốc là một trong những quốc gia sản xuất nhiều Chu sa nhất trên thế giới, trong những năm gần đây, với sự cạn kiệt nguồn tài nguyên Chu sa, giá thị trường của Chu sa ngày càng tăng cao. Chu sa không chỉ là vật trang trí quý giá cho căn phòng mà còn là bảo vật tốt nhất để làm quà tặng cho người thân, bạn bè, có thể ví nó là “báu vật của trời đất, báu vật của nhân sinh. Mặc dù Chu sa không phải là thép hay sắt, nhưng đó là kết tinh của trời đất, là ký ức của vỏ trái đất, là giọt nước mắt đỏ đặc của ngàn năm thăng trầm, và những giọt nắng vùi trong đất.
https://scontent-xsp1-2.xx.fbcdn.net...e4&oe=603AD822
https://scontent-sin6-1.xx.fbcdn.net...bc&oe=603C8EBE
https://scontent.fsgn5-1.fna.fbcdn.n...b5&oe=6038F7C4
https://scontent-sin6-2.xx.fbcdn.net...0e&oe=60399F1A
https://scontent-sin6-3.xx.fbcdn.net...b0&oe=6039DCB0
https://scontent-sin6-1.xx.fbcdn.net...d9&oe=603A0E95
https://scontent-xsp1-2.xx.fbcdn.net...de&oe=603C714C
https://scontent-sin6-3.xx.fbcdn.net...14&oe=603A1791
https://scontent.fsgn5-5.fna.fbcdn.n...ad&oe=603C5606
https://scontent-sin6-2.xx.fbcdn.net...5d&oe=6039AD7E
https://scontent-xsp1-2.xx.fbcdn.net...64&oe=6039E620
https://scontent-xsp1-2.xx.fbcdn.net...fa&oe=603B9C37
https://scontent.fsgn5-7.fna.fbcdn.n...cf&oe=603AFAFC
https://scontent-xsp1-2.xx.fbcdn.net...07&oe=6039E02F
https://scontent.fsgn5-3.fna.fbcdn.n...71&oe=603AAA9A
https://i.imgur.com/gWqDyOH.png
https://i.imgur.com/o7lYsy8.png
https://www.facebook.com/11322049042...6268012119476/
-
-
-
Sơn vô thạch bất kỳ
(núi không có đá không kỳ vĩ)
Thủy vô thạch bất thanh
(nước chảy không có đá thiếu âm thanh)
Lộ vô thạch bất hoa
(đường không có đá không chắc chắn)
Viên vô thạch bất tú
(vườn không có đá không đẹp)
Thất vô thạch bất nhã
(nhà không có đá không sang trọng)
Nhân vô thạch bất khang
(người không chơi đá không khỏe mạnh)
https://scontent-sin6-2.xx.fbcdn.net...4c&oe=603B0DA2
https://scontent-sin6-2.xx.fbcdn.net...4c&oe=603B0DA2
-
-
TÁO ĐỎ TOÀN TẬP
https://file.hstatic.net/1000258789/...77c_grande.jpg
TÁO ĐỎ - ĐẠI TÁO
Các tên khác: đại táo, nam táo, ô táo, hồng táo, hắc táo, can táo, mỹ táo, quế táo, giao táo, nhẫm táo, đường táo, đan táo, lương táo, táo bô, táo cao, khư táo, lộc lô, thiên chưng táo, phác lạc tô, kê tâm, quyết tiết, cẩu nah, bạch táo, tử táo, quán táo, đê táo, t áo du, ngưu đầu, dương giáp.
Có lẽ đây là một trong những vị thuốc có nhiều tên gọi khác nhau nhất trong các vị về thuốc và đồ ăn thức uống. Mỗi tên khác nhau đó dựa trên chữ tượng hình khác nhau, nghĩa là vì nó có những công dụng khác nhau mà người ta đã gán cho nó những ý nghĩa khác nhau và dựa trên đó mà gọi tên. Tuy nhiên cũng còn một ý nghĩa khác là giống táo này có rất nhiều loại, chúng có sự khác nhau nhưng khá giống nhau vd đại táo và hồng táo.
Táo có nhiều loại, đại khái một thứ quả to gọi là Táo, thứ nhỏ gọi là Cức, nghĩa là thứ quả nhỏ, ngọt ít, chua nhiều, cho nên thường gọi là Toan Táo. Vì tính quả táo to to, khí độ nó cao cho nên người ta có ý viết chồng lên trên dưới bằng nhauy 2 chữ Cức, còn thứ nữa là Cức thì thấp kém, chỉ dùng 1 chữ Cứu thôi, tức là chữ Cức. Nhưng mặc dầu hơn kém, những cây nào quả nào cũng ngụ ý như có bó gai châm nên dùng chữ đó mà đặt tên cho nó vậy.
Đại táo có khí ôn, vị cam, không độc
Công hiệu của đại táo nuôi được tỳ, bình được vị, bổ ích cho nguyên khí, nhuận được tâm phế, điều hòa được khí huyết, sinh được tân dịch, thông được các khiếu, bổ được ngũ tạng, làm cho nhan sắc đẹp thêm. Nói tóm lại, nó là vị thuốc của tỳ thổ, mà cũng giúp sức cho cả 12 kinh, hòa giải và nó cũng có thể giúp sức các vị thuốc khác, trừ được chứng trong lòng buồn bực, thuốc thương hàn hay là thuốc bổ dùng nó thêm vào thì sẽ nâng đỡ được khí của tỳ vị lên mạnh. Tính nó giải được chất độc của ô đầu, phụ tử.
Những người nào ói tức đầy hơi, đau ở bên dưới trái tim, cũng những người đang có bệnh úa thổ, hay là người đang bị chứng đau răng thì kiêng nó. (kiểu như ăn ăn đồ ngọt, đường thì gậy đầy hơi, ợ chua, hại răng)
Trẻ con ăn nó cũng tốt nhưng ăn xong phải đánh răng rửa miệng cho sạch không thì sẽ sinh ra chứng sún răng (răng cứ mè rồi mọt dần)
Thuốc uống có đại táo phải kiêng ăn hành sống, nếu không kiêng sẽ sinh ra đông phong hỏa, phát ra nhiều chứng bệnh khác.
Công hiệu của táo, đại bổ tỳ vị, chữa được chứng tả, chứng lỵ, điều hòa được vinh vệ, chữa được chứng sốt rét, chứng âm nuy hay là người thiếu máu.
Tính nó sau khi đã vào rong dạ dày rồi, nó làm nổi nước vị toan, mạnh nhiều lên, làm nên sinh tố, nước đường. Vào đến ruột thì ruốt hấp dẫn suốt vào trong huyết, hiến cho trong huyết, giúp thêm sức khí hóa tăng gia. Bấy giờ, các tế bào nhwof sức đó mà khuếch sung ra vậy. Cho nên dùng táo là một vị thuốc hòa hoãn mà lại có thể tăng cường tráng kiện được nữa.
Chủ trị được chứng tâm phúc có tà khí, tính nó có thể làm yên được trung nguyên, nuôi dưỡng được tỳ khí, điều hòa được vị khí, thông lợi được chính khiếu, giúp cho người khai kinh lạc, bổ cho những chỗ thiếu khí, chỗ ít tân dịch, những chỗ nào trong mình không đủ. Chữa được chứng người bị sợ hãi quá, hay là chứng chân tay nặng nề. Tính nó điều hòa được mọi thứ thuốc. Theo như sách nội kinh nói: tính táo bổ trung ích khí, mạnh sức bền gan, trừ được những chứng phiền buồn, chữa được những chứng dưới tim hình như treo dốc ngược. Nó lại chữa được trứng trường tích.
Thời nhà Đường ông Mạnh Sần viết trong sách bản thảo thực liệu nói rằng: Đại táo tính nó có thể chữa được chứng tiểu nhi mắc bệnh lỵ về mùa thu. Cho nên nó ăn mấy quả táo có sâu mọt là khỏi, nhất là táo đã để lâu 3 năm.
Sách Nhật Hoa chư gia bản thảo nói rằng đại táo tính nó nhuận được tim và phổi, chữa được chứng ho, bổ cho ngũ tạng bị hư tổn, trừ được khí tích ở trong dạ dày và ruột, tính nó hòa với quang phấn mà đốt chữa được chứng cam đi lỵ
Thời nhà Nguyên, ông Vương Hiếu Cổ viết trong sách Thang dịch bản thảo nói rằng đại táo tính nó chủ nuôi được tỳ khí, bổ được tân dịch, làm cho thần khí được thêm, não óc tốt hơn nhớ lâu không quên. Những quả táo nào để được lâu quá 3 năm thì cái nhân ở trong hạt nó có thể chữa được chứng đau bụng hay là chứng trúng phải ác khí, chứng thốt nhiên bị phi thi quỷ chú, chữa được chứng trái tim như bị treo giốc lên.
Sách Nội-kinh nói rằng tính nó giúp được 12 kinh lạc, chữa được chứng tà khí ở trong tâm phcus, hòa được hàng trăm thứ thuốc, thông lợi được cửu khiếu, bổ được cho khí phần không đủ.
Nhưng mà táo ăn nói khi còn sống thì nó có thể làm cho người ta bụng phải trướng đầy, có khi làm ra chứng tả. Trái lại, nếu chưng nó thực chín rồi phơi khô thì lại bổ được trường vị, điều hòa được trung nguyên, ích cho khí lực.
Nhưng phàm những người nào hễ ở trong đã đầy thì không nên ăn nó, cũng như ăn của ngọt vì những thức ngọt thì làm cho người ta bị đầy thêm. Vì thế cho nên khi dùng bài Đại-kiến-trung thang mà thấy bệnh nhân ở bên dưới trái tim bị bí đầy thì tất nhiên phải giảm đường và đại táo đi.
Thời nhà Nguyên, ông Lý Đông Viên viết trong sách Dụng dược pháp tượng nói rằng đại táo tính nó có thẻ hòa hợp được âm dương, điều chỉnh được vinh vệ, làm cho người ta sinh được tân dịch.
Thời nhà MInh, ông Cù Hy Ung viết trong sách Bản thảo kinh sơ nói rằng sở dĩ đại táo nó bẩm thụ được cái khsi sung hòa của hành thổ, cũng như là cái khí tiết tốt lành của đất, nó lại gồm cảm ứng được cái khí vi dương của trười để mà sinh sống. Cho nên trong sách bản kinh nói rằng đại táo vị nó cam, khí bình, không có chi là độc cả. Đến như ông Đông Viên hay ông Mạnh Sần đều nói rằng tính nó ôn, khí vị đều hậu, đó là bởi nó thuộc về dương. Nó vào kinh túc thái âm và kinh túc dương minh (kinh này suy thì tóc bạc).
Sách Nội kinh nói rằng Những người mà ở trung nguyên không dủ sức, thì phải dùng những vị cam để mà bổ vào đó. Lại nói rằng, những chỗ hình thể mà không đủ, thì nên dùng vị ôn, để giúp lấy cái khí đó. Vì rằng cam thì nó hay bổ được trung nguyên, mà ôn thì nó làm cho ích được khí. Thế cho nên những vị cam ôn nó hay bổ được tỳ vị, mà nó có thể sinh được tân dịch nữa.
Nếu những điều kiện như thế thì trong 12 kinh mạch tự nhiên nó thông, và cả trong cửu khiếu tự nhiên nó lợi, chân tay đều hòa mà sung sướng cả.
Bởi vị một khi mà chính khí nó đã đầy đủ thì tất nhiên là thần huồn cũng được yên lành, cho nên những khi ở tâm phúc có tà khí hay là khi gặp việc gì khủng hoảng quá độ. Nếu mà ở trong được sự giúp đỡ, để cho nó hòa hoãn thì những sự phiền buồn phải lui. Cho nên những khi chữa những chứng ở dưới trái tim mường tượng y như là nó treo ngược, nó giốc tiết lên hay là như thể người ít hơi, những hễ mà tỳ kinh nó đã được bổ, thì khí lực nó lại mạnh ngay. Cho nên những trường vị cần phải được thanh, cũng có khi nó làm ra sự trong mình không đủ, hay làm ra chứng tràng tích (táo bón).
Đại táo bởi vì nó vị cam, cho nên nó hay giải được độc, hòa được hàng trăm thứ thuốc, nó có thể làm cho tỳ vị được no đủ, khí huyết được sung túc, kể như năng lực của nó thì về phần hâu thiên sinh khí nó có thể nói được rằng cũng là nhờ có phần doanh dưỡng, cho nên mới nói rằng ai dùng được nó lâu thì có thể nhẹ nhàng thân thể, sống lâu thêm tuổi thọ dáng diệu hầu như là phảng phất thần tiên tự tại, không biết no đói là gì nữa.
Nhưng đó là ý nói rằng những bậc biết tu luyện, những bậc đã tịch cốc chứ không phải là người thường, thì chưa chắc đã được như thế đâu?
Thời nhà Minh, ông Lý Sĩ Tài nói rằng, Đại Táo tính nó cam, nó là vị thuốc của tỳ kinh, nó bổ được cho tỳ, nó làm cho ích được khí, nó nhuận được phổi, làm cho nó khỏi ho, nó sát được phụ tử độc.
Ngày xưa, cụ Trương Trọng Cảnh chữa chứng bón dồn dùng đại táo đó là cụ có ý giúp cho tỳ thổ, dùng nó để mà bình thận khí. Chữa chứng thủy ẩm, làm ra đau nơi cạnh sườn, thì dùng bài thập táo thang là có ý giúp cho tỳ thổ để cho nó thắng được những cái nước bậy bạ. Vậy thì Đại Táo tính nó hay điều hòa được tạng phủ, nó là một vị thiết yếu có thể nói là nó hòa đều hàng trăm thứ thuốc vậy.
Nhưng cũng có điều không nên ăn nó nhiều vì hại răng.
NHỮNG BÀI ĐƠN GIẢN HIỆU NGHIỆM
Táo có nhiều loại, đại khái một thứ quả to gọi là Táo, thứ nhỏ gọi là Cức, nghĩa là thứ quả nhỏ, ngọt ít, chua nhiều, cho nên thường gọi là Toan Táo. Vì tính quả táo to to, khí độ nó cao cho nên người ta có ý viết chồng lên trên dưới bằng nhau 2 chữ Cức, còn thứ nữa là Cức thì thấp kém, chỉ dùng 1 chữ Cức thôi, tức là chữ Cức. Nhưng mặc dầu hơn kém, những cây nào quả nào cũng ngụ ý như có bó gai châm nên dùng chữ đó mà đặt tên cho nó vậy.
Hồng táo thì công hiệu của nó đại khái cũng như đại táo nhưng hiệu lực của nó có phần kém hơn một chút. Người ta dùng nó vào những thứ thuốc chỉ tả thì dùng nó làm thuốc viên.
Thực ra táo đỏ gốc gác không phải ở Tân Cương, nó là giống cây di thực. Cách đây gần trăm năm thì Tân Cương là vùng đất nghèo, chính phủ Trung Quốc có chính sách khai hoang và phát triển kinh tế, họ đã đưa nhiều giống cây đến Tân Cương để trồng thử nghiệm. Trong đó có 2 loại thành công nhất là táo đỏ có nguồn gốc ở Sơn Đông và hoa Lavender. Khi giống táo đỏ được trồng ở Tân Cương nó cho mùi vị khác hẳn với nơi vốn là bản địa của nó. Ngày nay, táo ở Sơn Đông cũng rất nhiều và giá thì rẻ hơn nhiều so với ở Tân Cương.
NHỮNG BÀI ĐƠN GIẢN HIỆU NGHIỆM
Một phương chữa chứng tiều trường khí bí , phát ra đau. Dùng đại táo 1 quả , bỏ hạt, dùng một con Ban miêu cắt đầu bỏ cánh, cho vào trong quả táo, rồi gói giấy ướt nướng cho thật chín, đem bỏ ban miêu đi chỉ lấy táo, dùng thang bằng nước sắc Quế tâm và tất - trừng- già sắc làm thang mà uống. - Xuất ở trực chỉ phương.
Một phương chữa người chữa bệnh thương hàn, bệnh nóng, miệng khô, cổ đau, hay nhổ vặt. Dùng đại táo 20 quả, ô mai 10 quả, đều bóc lấy thịt luyện với mật mà viên, ngậm bằng một hột hạnh nhân, nuốt dần nước cốt rất hay. - Xuất thiên kim phương.
Một chứng chưa người đàn bà bị tạng táo, hay sầu tủi, chỉ trực khóc, giáng như là bị thần linh trách phạt, lại hay ngáp vặt, thì dùng đại táo thang làm chủ. Đại táo 10 quả, gạo tiểu mạch 1 bát, cam thảo 2 lạng, dùng nước sắc kỹ mà uống. Bài này có thể bổ tỳ khí nữa.
Một phương chữa bênh người đàn bà mang bầu đau bụng, dùng tào đỏ 14 quả, đốt cho khô đi rồi làm bột, uống với một chút nước tiểu. - Xuất mai sư phương.
Một phương chữa đại tiện táo kết không đi được, dùng một quả táo to bỏ hạt đi, rồi cho kinh phấn nửa đông cân vào, dùng giấy ướt bọc lại, nước cho thật chín rồi ăn. Nhưng cũng nên dùng nước nầu đại táo uống làm thang mà uống. - Xuất ở trực chi phương.
Một phương chữa người bị chứng biền buồn không ngủ được, dùng 14 quả táo tầu to, hành trắng 7 củ, nước 3 bát sắc thành 1 bát rồi uống. - Xuất ở thiên kim phương.
Một phương bị chứng chữa người bị khí bốc ngược lên rồi làm cho ho hắng, dùng táo tầu to 20 quả, bỏ hạt đi. Dùng sữa bò lạnh, dùng lửa nhỏ nấu rồi cho thịt táo vào, đợi khi sữa ngấm vào táo thì lấy ra dùng. Mội lúc thường ngậm 1 quả, nuột nước cốt dần dần, nuốt suôi xuống là khỏi. - Xuất ở thánh huệ phương.
Một phương chữa người bị phế ung thư, thường nhổ ra máu, bởi người ấy ăn nhiều thứ cay nóng quá đến nỗi phát ra như thế. Dùng táo đỏ để nguyên cả hột đốt cháy thành bột toàn tính, nghĩa là bỏ trong cái lọ nút kín mà đốt, dẫu có cháy vẫn còn tính. Rồi dùng bách dược chiên đốt qua, hai thứ bằng nhau làm ra bột., mỗi lần uống hai đồng cân, uống với nước cơm. - Xuất ở tam nhân phương.
Một phương chữa người bị tai điếc , mũi nghẹt. Không nghe thấy tiếng gì mà cũng không ngửi thấy hương gì cả. Dùng đại táo bóc vỏ ngoài đi chỉ dùng nguyên phần thịt táo, cùng với Tỳ ma tử 300 hạt bỏ vỏ ngoài đi, giã nát hòa đều hai thứ, gói vào miễng vải nhét vào tai và mũi, mỗi ngày 1 lần chừng 30 ngày thì nghe lại và ngửi lại được. Trước cho vào tai , sau mới cho vào mũi, đừng cho vào cả hai chỗ 1 lúc. - Xuất mạnh thần thử liệu phương.
Một phương dùng cho thân thể mình thơm lâu, dùng thịt đại táo với quế lâm và bạch qua nhân, tùng thụ bì, tán bột làm viên, để uống dần dần. - Xuất mạnh sần thực liệu phương.
Một phương chữa chứng mã tẩu cam nha. Dùng táo tàu 1 quả với Hoàng bá , đốt khô ra thành bột hòa với dầu mà bôi. - Xuất vương thập bát tế phương.
Một phương chữa mọi chứng ghẻ lở thối tha, lâu ngày không khỏi. Dùng táo cao 3 bát , dùng nước sắc kỹ ngâm rửa luôn luôn là khỏi. - Xuất ở thiên kim phương
Một phương chữa chứng trĩ đang đau nhức, dùng táo tàu 1 quả bóc vỏ ngoài, lấy thủy ngân để trên lòng bàn tay, dùng nước bột nghiền sao khiến cho nó rất nóng, rồi cho vào quả táo đút vào chỗ hã bộ ít lâu rất có thần hiệu. - Xuất ở ngoại đài bí yếu phương.
Một phương chữa chứng ngứa ở hạ bộ, có trùng, dùng đại táo trưng thành cao, lấy thủy ngân hòa với táo mà nắm lại, dài chừng 3 tấc , lấy bông bọc lấy nó, cứ đến đêm đem đút vào chỗ hạ bộ, đến sáng mai thì sâu hết. - Trửu hậu phương.
Một phương chữa người bị chứng thốt nhiên đau tim. Hải thượng lãn ông có bài quyết :
Nhất cá ô mai nhị cá táo
Thất mai hạnh nhân, nhất xứ đảo
Nam tửu nữ thổ tống hạ chỉ
Bất hại tâm đông trực đáo lão.
Dịch:
Một quả ô mai, hai quả táo
Hạnh nhân 7 hạt tán chung vào
Đàn ông lấy rượu làm thang uống
Phụ nữ dùng ngay giấm khỏi mau
Chữa chứng đau tim hay đáo để
Đến già cũng chẳng thấy còn đau
Nguy nan cấp cứu nên ghi lấy
Hải thượng thần phương thuốc nhiệm màu.
Một phương chữa người ăn Hồ tiêu bế khí thì dùng kinh táo mà ăn tự nhiên giải. - Xuất ở bách nhất tuyển phương.
Trường hợp phải kiêng đại táo:
Trẻ con nhiều bệnh cam, bụng to đầy trướng hay người có chứng đờm nhiệt, cùng là có chứng đau rang, sâu răng, vì ăn nhiều táo quá, trẻ con sinh ra sún răng, ăn nó nhiều rất hại răng, khi ăn xong phải cho súc miệng sạch. Những quá táo còn sống ăn vào rất hại, giống nó phải đồ lên thật chín mới dùng, chớ dùng chung với hành, làm cho người ta 5 tạng không hòa, chớ ăn cùng lúc với cá làm cho đau lưng, đau bụng.
(chỗ này hiểu nó như là ăn đường. Đường thì có nhiều loại và mặc dù đường táo là loại lành hơn đường mía nhưng nó vẫn là chất ngọt. Nhưng đồ ngọt làm trệ khí, đầy bụng khó tiêu và nóng nên không hợp với các trường hợp như trên. Chính vì thế mà cần phải có cách chế biến phù hợp chứ không phải cứ xơi luôn một "cục đường". Chúng ta cũng vừa thấy họ nói bổ tỳ vị mà lại vừa nói ai đầy bụng khó tiêu thì ko nên ăn, thật là mâu thuẫn. Bởi thứ nào tốt hay xấu nó còn phụ thuộc vào cách chế biến nữa. Đôi khi dùng thế này không được mà thế kia lại tốt. )
https://bimatthucduong.com/blogs/news/tao-do-toan-tap
-