Chư Phật xuất thế, thiên hạ thái bình.
Thần linh giáng ứng, gia đình hạnh phúc.
Tổ Tiên giáng ứng, con cháu hỷ an.
https://daitangkinh.truyenphatgiao.c...%B0%20Khoa.pdf
Printable View
Chư Phật xuất thế, thiên hạ thái bình.
Thần linh giáng ứng, gia đình hạnh phúc.
Tổ Tiên giáng ứng, con cháu hỷ an.
https://daitangkinh.truyenphatgiao.c...%B0%20Khoa.pdf
Quan đế đào viên minh thánh kinh (官帝桃園明聖經)
https://dulieu.itrithuc.vn/media/dat...lvnpf-0375.pdf
Thần Chú và Cầu Nguyện
" Thần chú khác với cầu nguyện. Cầu nguyện là hạ mình yêu cầu kẻ khác kể cả thần linh.
Còn đọc thần chú là ra lệnh cho những lực lượng vô hình. Chính vì cái Tâm mình ngay chánh tự tin ở đạo đức ức của mình có thể làm cho quỷ thần kinh khiếp cho nên nhà Đạo Đức chế ra những câu chú có tính cách truyền lệnh. Ví dụ câu chú sau đây giúp sáng tai, nghe cảm được mọi sự họa phước sắp xảy đến. Câu chú này gọi là " Minh nhỉ chú ":
- Thiên Chi Thần quang, địa chi thần quang, Nhật nguyệt thần quang, nhỉ biên quang, chú chi nhỉ văn, chú văn nhỉ khai quang, thần thông nhập nhỉ, tốc chi nhỉ bàng, cấp cấp như Cửu thiên Huyền nữ luật lịnh... nhiếp.
Đọc Thần chú là Tâm phát ra tiếng động tạo thành những điện ba ( sóng điện ). Hễ sóng điện mạnh thì cảm ứng những đường thẳng và đường cong phối hợp với nhau . Đường thẳng hợp thành góc cạnh biến ra những hình tam giác, tứ giác, lục lăng... hình tròn, hình thuần, hình cong, hình nón... và vũ trụ chỉ là những đường thẳng, đường cong phối hợp, biến hóa thành ra muôn hình vạn trạng (kỷ hà học). Điều này thấy rõ khi quan sát những hình ngôi sao, lục giác, những hình kỷ hà biểu tượng trong các tôn giáo hay từ những phương thuật vẽ bùa của người Ấn, người da đỏ, người Phi Châu, người Trung Hoa, người Âu Châu v...v...
https://www.facebook.com/share/p/1GFGoCNWDv/
Thế Tôn Khánh Đản có nghĩa là:
(世尊慶誕): ngày đản sanh hân hoan, vui mừng của đức Thế Tôn, còn gọi là Phật Đản Tiết (佛誕節), Dục Phật Tiết (浴佛節, Lễ Hội Tắm Phật), Quán Phật Hội (灌佛會, Hội Tắm Phật), Long Hoa Hội (龍華會), Hoa Nghiêm Hội (華嚴會), v.v. Tùy theo mỗi quốc gia, tên gọi lễ hội linh thiêng, trọng đại này có khác nhau. Tại Nhật Bản lễ hội này được gọi là Giáng Đản Hội (降誕會, Gōtane), Phật Sanh Hội (佛生會, Busshōe), Dục Phật Hội (浴佛會, Yokubutsue), Quán Phật Hội (灌佛會, Kambutsue), Long Hoa Hội (龍華會, Ryūgee), Hoa Hội Thức (花會式, Hanaeshiki), Hoa Tế (花祭, Hanamatsuri). Trong khi đó, Hàn Quốc gọi là Thích Ca Đản Thần Nhật (釋迦誕辰日, Ngày Đản Sanh Của Đức Thích Ca), Đài Loan là Phật Đà Đản Thần Kỷ Niệm Nhật (佛陀誕辰紀念日, Ngày Kỷ Niệm Đản Sanh Của Đức Phật Đà), Việt Nam là Lễ Phật Đản, v.v. Qua các tên gọi liệt kê ở trên, Lễ Phật Đản còn được gọi là Lễ Hội Tắm Phật. Truyền thống Lễ Hội Tắm Phật vốn phát xuất từ truyền thuyết có 2 con rồng phun nước hương thơm rưới lên kim thân của của đức Phật khi ngài hạ sanh, như trong Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh (過去現在因果經, Taishō No. 189) quyển 1 có diễn tả như sau: “Nan Đà Long Vương, Ưu Ba Nan Đà Long Vương, ư hư không trung, thổ thanh tịnh thủy, nhất ôn nhất lương, quán Thái Tử thân, thân hoàng kim sắc hữu tam thập nhị tướng, phóng đại quang minh, phổ chiếu tam thiên đại thiên thế giới, thiên long Bát Bộ diệc ư không trung tác thiên kỷ nhạc, ca bối tán tụng, thiêu chúng danh hương, tán chư diệu hoa, hựu vũ thiên y nãi dĩ Anh Lạc, tân phân loạn trụy bất khả xưng sổ (難陀龍王、優波難陀龍王、於虛空中 吐清淨水、一溫一涼、灌太子身、身 黃金色有三十二相、放大光明、普照 千大千世界、天龍八部亦於空中作天 樂、歌唄讚頌、燒眾名香、散諸妙花 、又雨天衣及以瓔珞、繽紛亂墜不可 數, Nan Đà Long Vương, Ưu Ba Nan Đà Long Vương ở trong không trung, phun nước trong sạch, một dòng ấm một dòng mát, rưới lên mình Thái Tử; thân người màu vàng ròng, có ba mươi hai tướng, phóng ra ánh sáng lớn, chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới; trời rồng tám bộ chúng cũng ở trên hư không tạo các thứ nhạc trời, ca xướng tán tụng, đốt các loại hương thơm, rãi các loại hoa quý, rồi lại mưa áo trời và lấy Anh Lạc rãi cùng khắp, không thể nào đếm kẻ xiết).” Hay như trong Phổ Diệu Kinh (普曜經, Taishō No. 186) quyển 2 cho là có 9 con rồng: “Cửu long tại thượng nhi hạ hương thủy, tẩy dục thánh tôn, tẩy dục cánh dĩ, thân tâm thanh tịnh (九龍在上而下香水、洗浴聖尊、洗浴 已、身心清淨, chín con rồng ở trên không trung mà rưới nước hương thơm xuống, tắm rửa đấng thánh tôn; tắm rửa xong rồi, thân tâm trong sạch).” Nghi thức tắm các tôn tượng này vốn đã có từ thời xa xưa ở Ấn Độ, là một nhu cầu cần thiết về mặt tôn giáo để cầu phước diệt tội. Như trong Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經, Taishō No. 310) quyển 100 có đề cập đến câu chuyện công chúa Vô Cấu Thí (無垢施), con gái của vua Ba Tư Nặc (s: Prasenajit, p: Pasenadi, 波斯匿) như sau: “Kỳ nữ ư nhị nguyệt bát nhật Phật tinh hiện nhật, dữ ngũ bách Bà La Môn câu, trì mãn bình thủy, xuất chí thành ngoại dục tẩy thiên tượng (其女於二月八日佛星現日、與五百婆 門俱、持滿瓶水、出至城外浴洗天像 , người nữ ấy vào ngày mồng 8 tháng 2, ngày sao Phật xuất hiện, cùng với 500 vị Bà La Môn, cầm một cái bình đầy nước, ra ngoài thành tắm rửa bức tượng trời).” Trong Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện (南海寄歸內法傳) quyển 4 của Nghĩa Tịnh (義淨, 635-713) nhà Đường có đoạn rằng: “Đại sư tuy diệt, hình tượng thượng tồn, kiều tâm như tại, lý ứng tôn kính; hoặc khả hương hoa mỗi thiết, năng sanh thanh tịnh chi tâm, hoặc khả quán mộc hằng vi, túc đãng hôn trầm chi nghiệp; … đản Tây quốc chư tự, quán mộc tôn nghi, mỗi ư nam trung chi thời, thọ sự tiện minh kiền chùy, tự đình trương thí bảo cái, điện trắc la liệt hương bình, thủ kim, ngân, đồng, thạch chi tượng, trí dĩ đồng, kim, mộc, thạch bàn nội, linh chư kỷ nữ tấu kỳ âm nhạc, đồ dĩ ma hương, quán dĩ hương thủy, dĩ tịnh bạch diệp nhi giai thức chi; nhiên hậu an trí điện trung, bố chư hoa thái, thử nãi tự chúng chi nghi (大師雖滅、形像尚存、翹心如在、理 尊敬、或可香花每設、能生清淨之心 、或可灌沐恆爲、足盪昏沉之業、… 西國諸寺、灌沐尊儀、每於男中之時 授事便鳴楗椎、寺庭張施寶蓋、殿側 羅列香瓶、取金、銀、銅、石之像、 以銅、金、木、石盤內、令諸妓女奏 音樂、塗以磨香、灌以香水、以淨白 氎而揩拭之、然後安置殿中、布諸花 、此乃寺眾之儀, Đại sư tuy đã diệt độ, nhưng hình tượng vẫn còn, tâm thành như còn sống, lý hợp với sự tôn kính; hoặc có thể mỗi lần thiết bày hương hoa, làm cho sanh tâm trong sạch; hay có thể tắm rửa tượng thường xuyên để tẩy sạch nghiệp hôn trầm; … hơn nữa, các chùa ở phương Tây [Ấn Độ], có nghi thức tắm tửa tôn tượng, mỗi khi đúng dịp người nam, người chịu trách nhiệm bèn đánh kiền chùy; nơi sân chùa giăng lọng báu, bên chánh điện bày biện các bình hương; lấy tượng bằng vàng, bạc, đồng, đá, đem dặt vào trong chậu bằng đồng, vàng, gỗ, đá; sai các kỷ nữ tấu âm nhạc, thoa hương thơm lên tượng, rưới nước hương thơm, rồi lấy khăn trắng lau sạch tượng; sau đó, đem tượng an trí trong điện, phủ các sắc hoa, đây là nghi thức của các chùa).” Khi Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc, nghi thức này cũng được lưu truyền theo và ban đầu nó rất thịnh hành trong triều đình cũng như trong tầng lớp quan lại. Mãi cho đến thời đại Lưỡng Tấn Nam Bắc Triều, nó trở thành phổ biến rộng khắp. Như trong Truyện Phật Đồ Trừng (佛圖澄傳) của Cao Tăng Truyện (高僧傳) quyển 10 có đề cập đến câu chuyện vị quốc chủ của nhà Hậu Triệu (後趙, 319-352) là Thạch Lặc (石勒, 319-333) đã từng vì con mà đến chùa hành lễ Tắm Phật: “Thạch Lặc chư trĩ tử, đa tại Phật tự trung dưỡng, mỗi chí tứ nguyệt bát nhật, Lặc cung tự nghệ tự quán Phật, vi nhi phát nguyện (石勒諸稚子、多在佛寺中養之、每至 月八日、勒躬自詣寺灌佛、爲兒發願 , các con nhỏ của Thạch Lặc, phần lớn được nuôi dưỡng trong chùa; mỗi khi vào ngày mồng 8 tháng tư, Thạch Lặc kính thành đích thân đến chùa làm lễ Tắm Phật, vì con nhỏ mà phát nguyện như vậy).” Hoặc như trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀) quyển 36, Điều Tống Hiếu Võ Đế Đại Minh Lục Niên (宋孝武帝大明六年, năm 462) có đoạn: “Tứ nguyệt bát nhật, đế ư nội điện quán Phật trai tăng (四月八日、帝於內殿灌佛齋僧, vào ngày mồng 8 tháng tư, nhà vua hành lễ Tắm Phật và Trai Tăng trong nội điện).” Hay trong Lưu Kính Tuyên Truyện (劉敬宣傳) của Tống Thư (宋書) quyển 47 có kể rằng: “Tứ nguyệt bát nhật, Kính Tuyên kiến chúng nhân quán Phật, nãi hạ đầu thượng kim kính dĩ vi mẫu quán, nhân bi khấp bất tự thắng (四月八日、敬宣見眾人灌佛、乃下頭 金鏡以爲母灌、因悲泣不自勝, vào ngày mồng 8 tháng tư, Kính Tuyên thấy mọi người tắm Phật, bèn lấy cái kính vàng trên đầu xuống, vì mẹ mà dội nước tắm, nhân đó buồn khóc chẳng tự kiềm chế được).” Cho nên, nghi thức Tắm Phật được thịnh hành từ ngàn xưa cho đến ngày nay. Về ngày tiến hành Lễ Phật Đản hay Lễ Tắm Phật, xưa nay có nhiều ký lục bất đồng như ngày mồng 8 tháng 2, mồng 8 tháng 4, hay mồng 8 tháng 12. Dưới thời Hậu Hán (後漢, 25-220), trong Ngô Thư (吳書) không ghi rõ ngày Tắm Phật của Trách Dung (笮融, ?-195); đến thời Bắc Triều thì phần lớn người ta tiến hành lễ này vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch. Tuy nhiên, từ thời nhà Lương (梁, 502-557), qua nhà Đường (唐, 618-907) đến đầu thời nhà Liêu (遼, 907-1125), đại để lễ hội này được tiến hành vào ngày mồng 8 tháng 2. Dưới thời nhà Bắc Tống (北宋, 960-1127) lại tổ chức vào ngày mồng 8 tháng chạp; nhưng Nam Tống thì tiến hành ngày mồng 8 tháng 4. Như đã nêu trên, trường hợp của Thạch Lặc nhà Hậu Triệu, Hiếu Võ Đế (孝武帝, 453-464) của nhà Lưu Tống (劉宋, 420-479), Lưu Kính Tuyên (劉敬宣, ?-415), v.v., đều tiến hành vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch. Trong khi đó, tác phẩm Kinh Sở Tuế Thời Ký (荊楚歲時記) dưới thời nhà Lương lại ghi là ngày mồng 8 tháng 2. Trong Thích Huyền Uyển Truyện (釋玄琬傳) nhà Đường của Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳) quyển 22 có đoạn rằng: “Uyển dĩ nhị nguyệt bát nhật Đại Thánh Đản Mộc chi thần, truy duy cựu chư, kính sùng dục cụ, mỗi niên như thử, khai giảng thiết trai, đại hội đạo tục (琬以二月八日大聖誕沐之辰、追惟舊 、敬崇浴具、每年此日、開講設齋、 大會道俗, Huyền Uyển lấy ngày mồng 8 tháng 2 làm ngày tắm Đản Sanh Đức Đại Thánh, theo lề lối xưa, kính sùng vật dụng tắm rửa, mỗi năm vào ngày này, thuyết giảng và bày cỗ chay, tập trung cả tăng lẫn tục).” Phần Lễ Chí (禮志) của Liêu Sử (遼史) quyển 53 cũng ghi ngày mồng 8 tháng 2 là ngày sanh của Thái Tử Tất Đạt Đa (s: Siddhārtha, p: Siddhattha, 悉達多). Trong phần Phật Đản Sanh Niên Đại (佛誕生年代) của Tăng Sử Lược (僧史略) quyển Thượng do Tán Ninh (贊寧, 919-1001) nhà Bắc Tống biên soạn có đoạn: “Kim Đông Kinh dĩ lạp nguyệt bát nhật dục Phật, ngôn Phật sanh nhật (今東京以臘月八日浴佛、言佛生日, nay kinh đô [lúc bấy giờ kinh đô nhà Tống là Khai Phong] lấy ngày mồng 8 tháng chạp làm ngày Tắm Phật, xem đó là ngày Phật hạ sanh).” Hay như Sự Văn Loại Tụ (事文類聚) của Chúc Mục (祝穆, ?-?) nhà Tống có ghi rằng: “Hoàng triều đông kinh thập nhị nguyệt sơ bát nhật, đô thành chư đại tự tác Dục Phật Hội, tinh tạo thất bảo ngũ vị chúc, vị chi Lạp Bát Chúc (皇朝東京十二月初八日、都城諸大寺 浴佛會、並造七寶五味粥、謂之臘八 粥, vào ngày mồng 8 tháng 12, kinh đô hoàng triều, các chùa lớn trong thành đô đều tiến hành Lễ Hội Tắm Phật, làm thứ cháo có bảy loại báu và năm vị, gọi đó là Cháo Mồng Tám Tháng Chạp).” Bên cạnh đó, tác phẩm Tuế Thời Tạp Ký (歲時雜記) có đề cập rằng: “Chư kinh thuyết Phật sanh nhật bất đồng, kỳ chỉ ngôn tứ nguyệt bát nhật sanh giả vi đa; … cố dụng tứ nguyệt bát nhật quán phật dã; kim đản Nam phương giai dụng thử nhật, Bắc nhân chuyên dụng lạp nguyệt bát nhật, cận tuế nhân Viên Chiếu Thiền Sư lai Huệ Lâm, thỉ dụng thử nhật hành Ma Ha Sát Đầu Kinh pháp, tự thị sảo sảo tuân; … kỳ hậu Tống đô Khai Phong chư tự, đa thái dụng tứ nguyệt bát nhật dục Phật (諸經說佛生日不同、其指言四月八日 者爲多、…故用四月八日灌佛也。故 用四月八日灌佛也、今但南方皆用此 ,北人专用腊月八日,近岁因圆照禅 (1020—1099)来慧林(禅 院),始用此日行《摩诃刹头经》法 自是稍稍遵(之)。今但南方皆用此 、北人專用臘月八日、近歲因圓照禪 師來慧林、始用此日行摩訶剎頭經法 自是稍稍遵、…其後宋都開封諸寺、 采用四月八日浴佛, các điển tịch nói về ngày đản sanh của đức Phật không đồng nhất với nhau, phần lớn đều chỉ ngày mồng 8 tháng tư; … cho nên mới dùng ngày mồng 8 tháng tư để tiến hành Lễ Tắm Phật; nay phương Nam đều dùng ngày này, người phương Bắc lại chuyên dùng ngày mồng 8 tháng chạp; gần đây nhân khi Thiền Sư Viên Chiếu [1020-1099] đến Thiền Viện Huệ Lâm, bắt đầu dùng ngày này để hành pháp tu của Ma Ha Sát Đầu Kinh, từ đó có tuân theo chút ít; … về sau, các chùa trong Phủ Khai Phong thuộc kinh đô nhà Tống, phần lớn đều chọn lấy ngày mồng 8 tháng tư làm ngày Tắm Phật).” Từ đó, tác phẩm Đông Kinh Mộng Hoa Lục (東京夢華錄) quyển 8 ghi rõ rằng: “Tứ nguyệt bát nhật Phật sanh nhật, thập đại Thiền viện các hữu Dục Phật Trai Hội, tiễn hương dược đường thủy tương di, danh viết Dục Phật Thủy (四月八日佛生日、十大禪院各有浴佛 會、煎香藥糖水相遺、名曰浴佛水, ngày mồng 8 tháng tư là ngày đản sanh của đức Phật, 10 Thiền viện lớn, mỗi chùa đều có Lễ Hội Trai Tăng Tắm Phật, nấu nước đường thuốc hương thơm ban bố khắp, tên gọi là Nước Tắm Phật).” Trong Huyễn Trú Am Thanh Quy (幻住庵清規, do Trung Phong Minh Bổn [中峰明本, 1263-1323] biên soạn vào năm 1317) cũng như Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (敕修百丈清規, được tu chỉnh vào năm 1336) dưới thời nhà Nguyên cũng quy định ngày mồng 8 tháng tư là ngày Khánh Đản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Từ đó, trên toàn lãnh thổ Trung Quốc cũng thống nhất tổ chức Lễ Phật Đản vào ngày này. Như trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy quyển 2, Chương Báo Bổn (報本章), điều Phật Giáng Đản (佛降誕) có quy định cụ thể nghi thức Tắm Phật như sau: “Chí tứ nguyệt bát nhật, Khố Ty nghiêm thiết hoa đình, trung trí Phật giáng sanh tượng, ư hương thang bồn nội, an nhị tiểu tiêu; Phật tiền phu trần cúng dường tất; Trú Trì thượng đường chúc hương vân: 'Phật Đản linh thần, mỗ tự trú trì … kiền nhiệt bảo hương, cúng dường Bổn Sư Thích Ca Như Lai Đại Hòa Thượng, thượng thù từ ấm, sở kí pháp giới chúng sanh, niệm niệm chư Phật xuất hiện ư thế.' Trú Trì thuyết pháp cánh, lãnh chúng đồng đáo điện thượng; Trú Trì thượng hương tam bái nhiên hậu quỳ lô; Duy Na bạch Phật vân: 'Nhất nguyệt tại thiên, ảnh hàm chúng thủy; nhất Phật xuất thế, các tọa nhất hoa; Bạch Hào thư nhi Tam Giới minh, Cam Lồ sái nhi Tứ Sanh nhuận; … tuyên sớ tất, xướng Dục Phật Kệ (至四月八日、庫司嚴設花亭、中置佛 生像、於香湯盆內、安二小杓、佛前 敷陳供養畢、住持上堂祝香雲、佛誕 辰,某寺住持…虔爇寶香、供養本師 迦如來大和尚、上酬慈蔭、所冀法界 眾生、念念諸佛出現於世、住持說法 、領眾同到殿上、住持上香三拜然後 爐、維那白佛云、一月在天、影涵眾 水、一佛出世、各坐一華、白毫舒而 界明、甘露灑而四生潤、…宣疏畢、 浴佛偈, đến ngày mồng 8 tháng tư, vị Tri Khố trang nghiêm thiết bày nhà hoa, bên trong an trí tượng Phật Đản Sanh, bỏ hai cái muỗng nhỏ bên trong cái bồn nước nóng hương thơm; trước tượng Phật bày biện các vật phẩm cúng dường; xong vị Trú Trì thượng đường niệm hương rằng: 'Khoảnh khắc linh thiêng đức Phật đản sanh, con Trú Trì chùa …, kính dâng hương báu tỏa khắp, cúng dường lên đức Đại Hòa Thượng Bổn Sư Thích Ca Như Lai, trên đền đáp ơn từ, mong khắp pháp giới chúng sanh, thường nhớ chư Phật xuất hiện trên đời; vị Trú Trì thuyết pháp xong, dẫn đại chúng cùng lên Chánh Điện, ông dâng hương, lạy ba lạy, sau đó quỳ xuống; vị Duy Na bạch Phật rằng: 'Một trăng trên trời, bóng hiện khắp chốn; một Phật ra đời, đều ngồi tòa sen; mày trắng buông mà Ba Cõi sáng, Cam Lồ rưới mà Bốn Loài thấm, … tuyên sớ xong, xướng bài Kệ Tắm Phật).” Đối với Việt Nam, bên cạnh ngày mồng 8, Lễ Phật Đản thường được tổ chức vào ngày rằm tháng tư Âm Lịch hằng năm. Như có đề cập ở trên, khi tiến hành Lễ Tắm Phật, bài Kệ Tắm Phật (căn cứ vào bài kệ trong Dục Phật Công Đức Kinh) được xướng tụng là: “Ngã kim quán mộc chư Như Lai, tịnh trí trang nghiêm công đức tụ, Ngũ Trược chúng sanh linh ly cấu, đồng chứng Như Lai tịnh Pháp Thân (我今灌沐諸如來、淨智莊嚴功德聚、 濁眾生令離垢、同證如來淨法身, con nay tắm gội các Như Lai, trí sạch trang nghiêm công đức lớn, chúng sanh Năm Trược xa cấu nhiễm, cùng chứng tịnh Pháp Thân Như Lai).” Về công đức Tắm Phật, trong Dục Phật Công Đức Kinh có liệt kê 15 loại: “Thiện nam tử, nhược hữu chúng sanh, năng tác như thị thắng cúng dường giả, thành tựu thập ngũ thù thắng công đức nhi tự trang nghiêm; nhất giả thường hữu tàm quý, nhị giả phát tịnh tín tâm, tam giả kỳ tâm chất trực, tứ giả thân cận thiện hữu, ngũ giả nhập vô lậu tuệ, lục giả thường kiến chư Phật, thất giả hằng trì chánh pháp, bát giả năng như thuyết hành, cửu giả tùy ý đương sanh tịnh Phật quốc độ, thập giả nhược sanh nhân trung đại tánh tôn quý nhân sở kính phụng sanh hoan hỷ tâm, thập nhất giả sanh tại nhân trung tự nhiên niệm Phật, thập nhị giả chư ma quân chúng bất năng tổn não, thập tam giả năng ư mạt thế hộ trì chánh pháp, thập tứ giả thập phương chư Phật chi sở gia hộ, thập ngũ giả tốc đắc thành tựu Ngũ Phần Pháp Thân (善男子、若有眾生、能作如是勝供養 、成就十五殊勝功德而自莊嚴、一者 常有慚愧、二者發淨信心、三者其心 直、四者親近善友、五者入無漏慧、 者常见诸佛。 六者常見諸佛、七者恆持正法、八者 如說行、九者隨意當生淨佛國土、十 若生人中大姓尊貴人所敬奉生歡喜心 、十一者生在人中自然念佛、十二者 魔軍眾不能損惱、十三者能於末世護 正法、十四者十方諸佛之所加護、十 五者速得成就五分法身, này thiện nam tử, nếu có chúng sanh nào có thể thực hiện sự cúng dường như vậy, sẽ thành tựu 15 loại công đức thù thắng để tự trang nghiêm; một là thường có sự hổ thẹn, hai là phát tín tâm trong sạch, ba là tâm của vị ấy ngay thẳng, bốn là gần gủi bạn tốt, năm là vào trí tuệ vô lậu, sáu là thường thấy chư Phật, bảy là thường giữ gìn chánh pháp, tám là có thể hành theo đúng với lời dạy, chín là tùy ý sẽ sanh về quốc độ thanh tinh của Phật, mười là nếu sanh vào cõi người thì được người dòng họ tôn quý kính phụng và sanh tâm hoan hỷ, mười một là nếu sanh trong cõi người thì tự nhiên niệm Phật, mười hai là chúng ma quân không thể làm cho tổn hại và gây rối, mười ba là có thể hộ trì chánh pháp vào thời mạt pháp, mười bốn là được mười phương chư Phật gia hộ, mười lăm là mau chóng thành tựu Năm Phần Pháp Thân).”
https://phatgiao.org.vn/tu-dien-phat...dan-k5452.html
南無普庵祖師菩薩(三合)唵,寂感 ,普庵吒,普庵吒。天靈靈,地靈靈 水. 靈靈,符靈靈。水裡長生救萬民,普 祖師救病身。金刀吒,金刀吒,斬發 ...
https://www.ha.cuhk.edu.hk/Conferenc...Proceeding.pdf
Tổng hợp 1.500 chữ Hán phổ biến nhất trong tiếng Trung
https://koreanhalong.edu.vn/1500-chu...trung-nd,91331
TIẾN MÃ CHO VONG
(TRANG 131-132)
https://file.nhasachmienphi.com/pdf/...thong-dung.pdf
=====
Quần áo hóa mã:
Mục Liên tôn giả đại từ bi,
Thuyết tạo trung nguyên huyết bổn nghi.
Mục nhân thành cảnh lai chứng giám,
Vũ Lân đại thuyết trưởng mình y.
Lấy hương viết chữ:
Án tất tộc thành hình không khứ.
https://daitangkinh.truyenphatgiao.c...A5ng%20CKN.pdf
===
B. VĂN KHẤN TIẾN MÃ GIA TIÊN
Mục-Liên Tôn-giả, đại từ bi,
Tào tác trung nguyên huyết bốn trì.
Thánh cảnh mục liên lai chứng giám,
Vũ - Lâm sứ giả trưởng Minh Y.
Thiên chỉ thành khôi, ôi thành sắc.
Hỏa quang tam muội, biến tùy nghi,
Kính cấp cho chân linh cụ ông ( cụ bà) ... ( tên cụ ông ) ( tên cụ bà) lai thụ dụng. Vô danh ngoại quỷ, khước trừ chi. (khấn 3 lần)
Thanh chỉ biến vi thanh Y, Xích chỉ biến vi Xích Y
Bạch chỉ biến vi Bạch Y, Hắc chỉ biến vi Hắc Y, Hồng chỉ biến vi Hồng Y, Hoàng chỉ biến vi Hoàng Y
Đắc các sắc biến tùy nghi. Án phạ nhật, Hoa không Minh.
Tài mã lai thành hình sa ha. (khấn 3 lần)
https://www.facebook.com/share/p/1B83ZH4EtZ/
https://amduongnguhanh.vn/article/le...an-linh?page=2
https://fr.scribd.com/document/75325...i-Ma-Khoa-Nghi
https://hatvan.vn/forum/threads/bai-...on-thoi.45321/
https://fr.scribd.com/document/89306...I%E1%BA%BEN-MA
https://triamquan.forumvi.com/t257-topic
https://taaonamtri.wordpress.com/201...huc-thuc-khoa/
TIỀN VÀNG MÃ (Đinh tiền đỏ , vàng lá và Tiền xu vàng loại đẹp chuẩn dát lá vàng, lá bạc) Đinh vàng mã / Đinh xu mã
5 Tập Tiền Địa Phủ Đỏ ( Loại Có Túi ) - Tiền 500 Địa Phủ Đỏ - Tiềm Âm Phủ - Tiền Vàng Mã - Loại 1.
https://shopee.vn/TI%E1%BB%80N-V%C3%...614.1319882531
https://lodotvangma.com/y-nghia-cac-...-tien-vang-ma/
https://muathongminh.vn/giay-tien-do...942__244635292
https://shopee.vn/5-T%E1%BA%ADp-Ti%E...93.29806296821
https://xuongvangma.com/tap-vang-ma-...ng-va-tien-do/
https://vn.biggo.com/s/ti%E1%BB%81n%...A0ng%20m%C3%A3
乾
a
侃
ā
冠
i
看
ī
刊
u
勘
ū
官
ṛ
寛
ṝ
干
ḷ
幹
ḹ
勧
e
巻
ai
喚
o
堪
au
姦
aṃ
完
aḥ
阿 阿引 伊 伊引 烏 鄔 遏
里
遏
梨
哩 翳 愛 汙 奧 暗 惡
正
紐
正
紐
正
紐
正
紐
正
紐
正
紐
正
紐
正
紐
傍
紐
傍
紐
傍
紐
傍
紐
傍
紐
傍
紐
傍
紐
傍
紐
紀
ka
鬼
kā
犠
ki
吉
kī
客
ku
巨
kū
彊
ke
矯
kai
仰
ko
粁
kau
禁
kaṃ
金
kaḥ
迦 迦引 枳 枳引 俱 矩引 誡 句 蹻 欠 却
通
韻
下
十
一
字
亦
同
通
韻
乞
叉
kṣa
乞
叉引
kṣā
乞
使
kṣi
乞
使引
kṣī
乞
楚
kṣu
乞
楚引
kṣū
乞
□
kṣe
乞
濟
kṣai
乞
蒭
kṣo
乞
[ ]
kṣau
乞
[ ]
kṣaṃ
乞
[ ]
kṣaḥ
落
韻
下
十
一
字
亦
同
落
韻
成賀 ha 喉間
朽乞叉 kṣa 喉顎間
屹娑 sa 顎下
匡攞 la 顎舌間
好灑 ṣa 舌頭
先羅 ra 舌齗間
在捨 śa 齗根
伏野 ya 齗唇間
向嚩 va 唇中
開口各處聲
一迦 ka 几佉 kha 丫誐 ga 千伽 gha 小仰 ṅa 喉間
弋左 ca 云車 cha 介惹 ja 刈鄼 jha 及孃 ña 顎下
巴吒 ṭa 斗他 ṭha 毛拏 ḍa 丙茶 ḍha 仕曩 ṇa 舌頭
凹多 ta 卉他 tha 叨娜 da 叻馱 dha 巧那 na 斷[齗]根
扔跛 pa 民頗 pha 生麼 ba 矛婆 bha 亙莽 ma 唇中
https://repository.kulib.kyoto-u.ac....8dca3c/content
http://www.buddhism-dict.net/ddb/indexes/term-sa-v.html
Homage to the Medicine Buddha
NAMO BHAGAVATI. BHAISAIJYA GURU VAITUREYA PRABHA RAJAYA.
NAMO BHAGAVATI. BHAISAIJYA GURU VAITUREYA PRABHA RAJAYA.
NAMO BHAGAVATI. BHAISAIJYA GURU VAITUREYA PRABHA RAJAYA.
Medicine Buddha Mantra
NAMO BHAGAVATI. BHAISAIJYA GURU VAITUREYA PRABHA RAJAYA. TATHAGATAYA ARHATI SAMYAKSAMBUDDHAYA. TADYATHA. OM. BHAISAIJYI. BHAISAIJYI. BHAISAIJYA. SAMUDGATI. SVAHA.
Repeat 49 times or more if you wish.
https://www.bdcu.org.au/bddronline/b...1/abhi039.html
Kinh Điềm Lành Lớn Nhất
Dịch từ Phẩm Cát Tường - thứ 39 trong Kinh Pháp Cú Hán tạng
Bài kệ 1
Phật tôn quá chư thiên
佛尊過諸天
Như Lai thường hiện nghĩa
如來常現義
Hữu phạm chí đạo sĩ
有梵志道士
Lai vấn hà cát tường
來問何吉祥
Bụt được tôn quý hơn cả trong hai giới trời và người
Vì Người thường có khả năng đưa ra vị những giáo nghĩa mầu nhiệm của một bậc Như Lai
Một ngày kia, có một vị đạo sư Bà la môn tới hỏi:
Cái gì mới thật là điềm lành lớn nhất?
Bài kệ 2
Ư thị Phật mẫn thương
於是佛愍傷
Vị thuyết chân hữu yếu
為說真有要
Dĩ tín lạc chánh pháp
已信樂正法
Thị vi tối cát tường
是為最吉祥
Ngay lúc đó với lòng xót thương. Bụt đã
thuyết giảng về những gì thiết yếu và chân thật.
Ngài dạy: Có niềm tin nơi chánh pháp và có hạnh phúc trong khi học hỏi giáo pháp, đó là điềm lành lớn nhất.
Bài kệ 3
Nhược bất tùng thiên nhân
若不從天人
Hy vọng cầu kiểu hạnh
希望求僥倖
Diệc bất đáo thần từ
亦不禱神祠
Thị vi tối cát tường
是為最吉祥
Không chạy theo các giới trời và người,
để cầu mong ban phúc và tránh họa,
cũng không đến cầu đảo ở các đền miếu,
đó là điềm lành lớn nhất.
Bài kệ 4
Hữu hiền trạch thiện cư
友賢擇善居
Thường tiên vi phúc đức
常先為福德
Sắc thân thừa trinh chánh
勅身承貞正
Thị vi tối cát tường
是為最吉祥
Chọn được môi trường tốt,
có nhiều bạn hiền, có dịp làm những việc phúc đức,
giữ lòng cho trinh bạch và chân chánh,
đó là điềm lành lớn nhất.
Bài kệ 5
Khứ ác tùng tựu thiện
去惡從就善
Tị tửu tri tự tiết
避酒知自節
Bất dâm ư nữ sắc
不婬於女色
Thị vi tối cát tường
是為最吉祥
Biết bỏ ác theo lành
Không uống rượu, biết tiêt chế
Không đắm trong sắc dục
Đó là điềm lành lớn
Bài kệ 6
Đa văn như giới hành
多聞如戒行
Pháp luật tinh tấn học
法律精進學
Tu kỷ vô sở tranh
修己無所爭
Thị vi tối cát tường
是為最吉祥
Học rộng biết trì giới
Siêng năng tu tập theo giáo pháp và luật nghi
Biết tu dưỡng thân tâm, không vướng vào các cuộc tranh chấp
Đó là điềm lành lớn nhất
Bài kệ 7
Cư hiếu sự phụ mẫu
居孝事父母
Trị gia dưỡng thê tử
治家養妻子
Bất vi không phạp hành
不為空乏行
Thị vi tối cát tường
是為最吉祥
Là người con hiếu thảo, có cơ hội phụng dưỡng mẹ cha
Biết chăm sóc gia đình, giữ cho trong nhà êm ấm
Không để cho lâm vào cảnh nghèo đói
Đó là điềm lành lớn nhất
Bài kệ 8
Bất mạn bất tự đại
不慢不自大
Tri túc niệm phản phúc
知足念反覆
Dĩ thời tụng tập kinh
以時誦習經
Thị vi tối cát tường
是為最吉祥
Không kiêu mạn, không cho mình là hơn người
Biết tri túc, biết xét suy
Có thì giờ đọc tụng và thực tập kinh điển
Đó là phước đức lớn nhất
Bài kệ 9
Sở văn thường dục nhận
所聞常欲忍
Nhạo dục kiến sa môn
樂欲見沙門
Mỗi giảng tiếp thính thọ
每講輒聽受
Thị vi tối cát tường
是為最吉祥
Biết nhẫn nhục khi nghe điều bất như ý
Có hạnh phúc mỗi khi được gặp người xuất gia
Mỗi khi nghe pháp hết lòng tiếp nhận để hành trì
Đó là điềm lành lớn nhất
Bài kệ 10
Trì trai tu phạm hạnh
持 齋 修 梵 行
Thường dục kiến hiền minh
常 欲 見 賢 明
Y phụ minh trí giả
依 附 明 智 者
Thị vi tối cát tường
是 為 最 吉 祥
Biết ăn chay, biết tu theo phạm hạnh
Có hạnh phúc khi gặp các hiền đức
Biết nương vào các bậc có trí sáng
Đó là điềm lành lớn nhất.
Bài kệ 11
Dĩ tín hữu đạo đức
已 信 有 道 德
Chánh ý hướng vô nghi
正 意 向 無 疑
Dục thoát tam ác đạo
欲 脫 三 惡 道
Thị vi tối cát tường
是 為 最 吉 祥
Có niềm tin, có một đời sống tâm linh
Tâm ý ngay thẳng, không bị hoài nghi che lấp
Có quyết tâm lánh xa ba nẻo về xấu ác
Đó là điềm lành lớn nhất
Bài kệ 12
Đẳng tâm hành bố thí
等 心 行 布 施
Phụng chư đắc đạo giả
奉 諸 得 道 者
Diệc kính chư thiên nhân
亦 敬 諸 天 人
Thị vi tối cát tường
是 為 最 吉 祥
Biết bố thí với tâm niệm bình đẳng
Biết phụng sự những bậc đắc đạo
Biết tôn quý những kẻ đáng tôn quý trong
hai giới nhân và thiên
Đó là điềm lành lớn nhất.
Bài kệ thứ 13
Thường dục ly tham dâm
常 欲 離 貪 婬
Ngộ si sân nhuế ý
遇 癡 瞋 恚 意
Năng tập thành đạo kiến
能 習 成 道 見
Thị vi tối cát tường
是 為 最 吉 祥
Biết xa lìa tham dục
Sân hận và si mê
Thường tu tập để mong đạt được chánh kiến
Đó là điềm lành lớn nhất.
Bài kệ 14
Nhược dĩ khí phi vụ
若 以 棄 非 務
Năng cần tu đạo dụng
能 勤 修 道 用
Thường sự ư khả sự
常 事 於 可 事
Thị vi tối cát tường
是 為 最 吉 祥
Biết buông bỏ những nghiệp vụ phi nghĩa
Có khả năng áp dụng đạo pháp vào đời sống hằng ngày
Biết theo đuổi một lý tưởng đáng được theo đuổi
Đó là điềm lành lớn nhất
Bài kệ thứ 15
Nhất thiết vi thiên hạ
一 切 為 天 下
Kiến lập đại từ ý
建 立 大 慈 意
Tu nhân an chúng sinh
修 人 安 眾 生
Thị vi tối cát tường
是 為 最 吉 祥
Vì tất cả nhân loại
Vun bón tâm đại từ
Nuôi dưỡng tình thương để đem lại an
bình cho thế gian
Đó là điềm lành lớn nhất
Bài kệ 16
Trí giả cư thế gian
智 者 居 世 間
Thường tập cát tường hạnh
常 習 吉 祥 行
Tự trí thành tuệ kiến
自 致 成 慧 見
Thị vị tối cát tường
是 為 最 吉 祥
Là bậc trí giả ở trong cuộc đời
Thường tập hạnh tạo tác những điềm lành
Cho đến khi chính mình thành tựu được tuệ giác lớn
Đó là điềm lành lớn nhất.
https://nigioikhatsi.net/kinhsach-pd...chNhatHanh.pdf
Kinh Mười Danh Hiệu Cát Tường của Chư Phật
Tôi nghe như vầy:
Một thuở nọ, Đức Phật ở trên núi Thứu Phong gần thành Vương Xá, cùng với 1.250 vị đại Bhikṣu [bíc su] và 5.000 vị Bồ-tát.
Lúc bấy giờ có vô số trăm nghìn quyến thuộc vây quanh Thế Tôn và Ngài thuyết Pháp cho họ.
Khi ấy trong đại hội có một vị Đại Sĩ tên là Ly Cấu Cái.
Ngài nương uy thần của Phật, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vén áo lộ vai phải, gối phải quỳ sát đất, chắp tay ở trước Phật và thưa rằng:
"Kính mong Thế Tôn hãy diễn nói về các danh hiệu của chư Phật Như Lai, Ưng Cúng, Chính Đẳng Giác.
Bởi nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào đang cầu Phật Đạo mà nghe được các danh hiệu của chư Phật và thọ trì đọc tụng, họ sẽ nhanh được không thoái chuyển nơi Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác."
Phật bảo Đại sĩ Ly Cấu Cái:
"Lành thay, lành thay, thiện nam tử! Điều ông hỏi sẽ có lợi ích rất lớn cho chúng sinh.
Thiện nam tử! Từ đây về hướng đông, vượt qua một Hằng Hà sa cõi Phật, có một thế giới tên là Phương Trang Nghiêm. Trong quốc độ ấy có Đức Phật, hiệu là Đại Quang Diệu Như Lai, Ưng Cúng, Chính Đẳng Giác và Ngài hiện đang thuyết Pháp ở đó.
Lại nữa, thiện nam tử! Từ đây về hướng đông, vượt qua hai Hằng Hà sa cõi Phật, có một thế giới tên là Đế Thắng Chư Thắng. Trong quốc độ ấy có Đức Phật, hiệu là Đăng Minh Như Lai.
Lại có thế giới tên là Kim Cang. Trong quốc độ ấy có Đức Phật, hiệu là Đại Hùng Như Lai.
Lại có thế giới tên là Tịnh Tôn Trụ. Trong quốc độ ấy có Đức Phật, hiệu là Vô Cấu Trần Như Lai.
Lại có thế giới tên là Kim Quang Minh. Trong quốc độ ấy có Đức Phật, hiệu là Thượng Tượng Tràng Thập Cái Vương Như Lai.
Lại có thế giới tên là Đại Uy Thần. Trong quốc độ ấy có Đức Phật, hiệu là Uy Thần Tự Tại Vương Như Lai.
Lại có thế giới tên là Hương Huân. Trong quốc độ ấy có Đức Phật, hiệu là Cực Thọ Thượng Ảnh Vương Như Lai.
Lại có thế giới tên là Bảo Nghiêm. Trong quốc độ ấy có Đức Phật, hiệu là Nội Bảo Như Lai.
Lại có thế giới tên là Hải Đăng Minh. Trong quốc độ ấy có Đức Phật, hiệu là Đại Hải Như Lai.
Lại có thế giới tên là Thập Lực Đăng Minh. Trong quốc độ ấy có Đức Phật, hiệu là Thập Lực Hiện Như Lai.
Này Ly Cấu Cái! Nên biết rằng, nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào vì cầu Phật Đạo mà lấy bảy báu nhiều như cát sông Hằng để làm bố thí cho Như Lai, Ưng Cúng, Chính Đẳng Giác. Giả sử có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào nghe được các danh hiệu của chư Phật này, rồi thọ trì đọc tụng, tâm luôn tưởng nhớ, và rộng thuyết giảng cho đại chúng, thì công đức ấy sẽ vượt hơn công đức ở trước."
Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:
"Thế giới của chư Phật
Nhiều như cát sông Hằng
Trong ấy đầy bảy báu
Lấy dùng để bố thí
Nhưng nếu ai nghe được
Danh hiệu chư Phật này
Tín mến nhớ chẳng quên
Công đức hơn ở trước
Nếu nghe chư Phật danh
Trì tụng chớ lãng quên
Tâm họ chẳng còn nghi
Quyết định sẽ thành Phật
Sáu Thông vô cùng tận
Cho đến vô số kiếp
Thân họ có màu vàng
Tướng hảo dùng trang nghiêm
Nếu trì Phật danh hiệu
Siêu việt mười ức kiếp
Chính giác nhanh thành tựu"
Khi Phật thuyết Kinh này xong, Đại sĩ Ly Cấu Cái, chư Bồ-tát, trời rồng quỷ thần và người thế gian thảy đều vui mừng. Họ đỉnh thọ lời Phật dạy.
Kinh Mười Danh Hiệu Cát Tường của Chư Phật
Dịch sang cổ văn: Tên người dịch đã thất lạc
Dịch sang tiếng Việt: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận
Dịch nghĩa: 24/10/2013 ◊ Cập nhật: 27/9/2014
☸ Cách Đọc Chữ Phạn
Bhikṣu: bíc su
https://daitangkinh.truyenphatgiao.c...t&m=viet&v=bac
Phât thuyết Kinh một trăm Danh Hiệu Phật
Hán dịch: Ngài Na Liên Đề Da Xá, Đời Đường
Việt dịch: Nguyên Thuận
Tôi nghe như vậy!
Một thuở nọ, Đức Phật ở tại vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc trong thành Xá vệ, cùng với Chư Đại Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, Chư Đại Bồ Tát, Chư Đại Thiên, Đế Thích Thiên Vương, Đại Phạm Thiên Vương, Tứ Đại Thiên Vương, Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, người và phi nhân.
Khi ấy có vô lượng trăm ngàn đại chúng vây quanh ở trước và sau của Đức Phật, họ cung kính cúng dường và tôn trọng tán thán. Lúc bấy giờ Thế Tôn vì các đại chúng mà tuyên thuyết Diệu Pháp.
Khi đó Tôn Giả Xá Lợi Phất liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chỉnh y phục, gối phải quỳ sát đất, chắp mười đầu ngón tay và bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Kính mong Ngài hãy diễn nói các Danh Hiệu của Chư Phật hiện tại trong mười phương Thế Giới. Vì sao thế?
Bởi nếu có Thiện Nam Tử Thiện Nữ Nhân nào nghe được các Danh Hiệu của Chư Phật hiện tại này, thời sẽ khiến họ sanh đại công đức, khiến họ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đắc quả vị bất thối chuyển, và cũng như sẽ khiến họ mau thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.”
*
Khi ấy Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: “Lành thay, lành thay! Ông nay vì muốn làm lợi ích an lạc cho các đại chúng. Vì muốn thương xót bảo hộ các chúng sanh. Vì muốn khiến sở cầu của các chúng sanh được mãn nguyện. Vì muốn khiến tất cả sanh tâm hoan hỷ. Và cũng vì muốn tăng trưởng thiện căn cho Chư Bồ Tát ở đời vị lai.
Lành thay, lành thay! Ông nay sanh thiện giác quán nên mới có thể hỏi như vậy. Ai có thể hỏi như thế, thì phải biết, đó đều là do sức uy thần của Như Lai.
Này Xá Lợi Phất! Ông nay hãy lắng nghe!
Nếu có Thiện Nam Tử Thiện Nữ Nhân nào nghe được các Danh Hiệu của Chư Phật hiện tại này, thời sẽ khiến hết thảy chúng ma đều chẳng thể thừa cơ đắc lợi ở tại nơi họ ở. Tất cả những kẻ ác cũng chẳng thể thừa cơ đắc lợi.
Người thọ trì sẽ được vô lượng vô biên công đức thâm sâu, tùy nơi sanh đến, đầy đủ Bồ Tát hạnh, đắc Túc Mạng Thông, dung nhan đoan chánh, và các tướng vẹn toàn. Họ sẽ luôn được thân cận để cúng dường Chư Phật, và cho đến mau thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Vì sao thế, Xá Lợi Phất?
Bởi nếu có ai nghe được các Danh Hiệu của Chư Phật này, rồi thọ trì đọc tụng, cung kính lễ bái, biên chép cúng dường, và triển chuyển dạy bảo cho người khác, thời công đức có được sẽ là vô lượng vô biên.
Kinh Danh Hiệu Phật: Lợi ích trì tụng danh hiệu Phật
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Nếu trì Danh Hiệu Chư Phật này
Người ấy chẳng bị đao tổn thương
Độc không thể hại lửa chẳng thiêu
Cũng chẳng đọa vào trong tám nạn
Thấy được đại trí kim sắc quang
Ba hai tướng hảo Chư Pháp Vương
Khi đã diện kiến Chư Phật rồi
Cúng dường vô lượng Chư Phật kia
Mắt họ chẳng mù không đỏ vàng
Thân chẳng gù cong không một mắt
Đắc thân đại lực Na La Diên
Thọ trì Phật danh báo như vậy
Luôn được Trời Rồng cùng Dạ Xoa
Với Càn Thát Bà đến cúng dường
Oan giả kẻ ác chẳng thể hại
Thọ trì Phật danh báo như vậy
Ông nay lắng nghe Xá Lợi Phất
Như lời vi diệu của Ta nói
Nếu ai nghe được Phật danh này
Tức là gần kề Đạo Bồ Đề
Bởi thế ông nay chí tâm nghe
*
Mười phương Thế Giới đại Pháp Vương
Khéo bạt chúng sanh gai phiền não
Ví như cây thuốc trừ ách bệnh
Ngu si mù lòa hạng phàm phu
Thí mắt trí tuệ của Bồ Tát
Lại như Hành Thí Thắng Bồ Tát
Vô lượng ngàn ức hằng sa giới
Trong đó đầy ắp vàng Diêm Phù
Ngày đêm sáu thời chưa thôi nghỉ
Thí ban đại bi đại Đạo Sư
Lại dùng Chiên Đàn đầy trăm cõi
Phan lọng y phục như hằng sa
Vô lượng ngàn vạn trong ức kiếp
Nhất tâm mà lấy dùng bố thí
Lại như ở trong một Cõi Phật
Dựng xây đầy khắp các Tháp Phật
Ở trong mười kiếp mà cúng dường
Chư Phật nhiều như cát Sông Hằng
Lại tạo Tháp cao như Tu Di
Tháp đó làm bằng toàn Thất Bảo
Biến mãn như vậy mười ngàn cõi
*
Số ấy có đến ba sáu ức
Lấy chiên đàn đỏ cùng trân châu
Tạo làm lọng che vật cúng dường
Với mỗi lọng che có thể trùm
Hàng trăm Thế Giới Chư Phật Quốc
Trân châu anh lạc dùng trang nghiêm
Số đó nhiều như cát Sông Hằng
Trên không lại tạo lọng che vàng
Số đó cũng như hằng hà sa
Sắc màu vàng tím như pho tượng
Mỗi mỗi biến chiếu Tam Thiên Giới
Ở trong mỗi Tháp bày cúng dường
Vô lượng vô biên vô số kiếp
Làm các công đức như ở trên
Chẳng bằng khéo Phát Bồ Đề Tâm
Phát Bồ Đề Tâm như thế đấy
Giữ giới thanh tịnh không buông lung
Chẳng bằng ai trì Phật danh này
Trì Phật danh này như vậy đó
Lại khéo thương xót các chúng sanh
Ở tại mọi nơi rộng lưu bố
Dạy người thọ trì Phật Danh Hiệu
Ở trong tất cả các chúng sanh
Họ làm phước điền giống Như Lai.
Kinh Danh Hiệu Phật: 100 Danh hiệu Phật
Lúc bấy giờ Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất:
Nếu có ai nhất tâm thọ trì, đọc tụng, và nhớ niệm chẳng quên các Danh Hiệu của Chư Phật này, thời tham dục, sân khuể, ngu si, và các điều sợ hãi của họ sẽ lập tức được diệt trừ. Còn những ai chưa sanh khởi tham dục, sân khuể, ngu si, và các điều sợ hãi thì sẽ khiến chúng chẳng phát sanh.
Khi ấy Thế Tôn liền nói Chư Phật Danh Hiệu:
Nam Mô Nguyệt Quang Phật.
Nam Mô Bất Động Phật.
Nam Mô Đại Trang Nghiêm Phật.
Nam Mô Đa Già La Hương Phật.
Nam Mô Thường Chiếu Diệu Phật.
Nam Mô Chiên Đàn Đức Phật.
Nam Mô Tối Thượng Phật.
Nam Mô Liên Hoa Tràng Phật.
Nam Mô Liên Hoa Sanh Phật.
Nam Mô Bảo Tụ Phật.
Nam Mô A Già Lâu Hương Phật.
Nam Mô Đại Tinh Tấn Phật.
Nam Mô Chiên Đàn Đức Phật.
Nam Mô Hải Phật.
Nam Mô Cự Hải Phật.
Nam Mô Tràng Đức Phật.
Kinh Danh Hiệu Phật: 100 Danh hiệu Phật
Nam Mô Phạm Đức Phật.
Nam Mô Đại Hương Phật.
Nam Mô Đại Sanh Phật.
Nam Mô Bảo Võng Phật.
Nam Mô A Di Đà Phật.
Nam Mô Đại Thí Đức Phật.
Nam Mô Đại Kim Trụ Phật.
Nam Mô Đại Niệm Phật.
Nam Mô Ngôn Vô Tận Phật.
Nam Mô Thường Tán Hoa Phật.
Nam Mô Đại Ái Phật.
Nam Mô Sư Tử Hương Thắng Phật.
Nam Mô Dưỡng Đức Phật.
Nam Mô Đế Thích Hỏa Diễm Phật.
Nam Mô Thường Nhạo Đức Phật.
Nam Mô Sư Tử Hoa Đức Phật.
Nam Mô Tịch Diệt Tràng Phật.
Nam Mô Giới Vương Phật.
Nam Mô Phổ Đức Phật.
Nam Mô Phổ Đức Tượng Phật.
Kinh Danh Hiệu Phật: 100 Danh hiệu Phật
Nam Mô Vô Ưu Đức Phật.
Nam Mô Thanh Liên Hương Phật.
Nam Mô Đại Địa Phật.
Nam Mô Đại Long Đức Phật.
Nam Mô Thanh Tịnh Vương Phật.
Nam Mô Quảng Niệm Phật.
Nam Mô Liên Hoa Đức Phật.
Nam Mô Xả Hoa Phật.
Nam Mô Long Đức Phật.
Nam Mô Hoa Tụ Phật.
Nam Mô Hương Tượng Phật.
Nam Mô Thường Quán Phật.
Nam Mô Chánh Tác Phật.
Nam Mô Thiện Trụ Phật.
Nam Mô Ni Cù Lô Đà Vương Phật.
Nam Mô Vô Thượng Vương Phật.
Nam Mô Nguyệt Đức Phật.
Nam Mô Chiên Đàn Lâm Phật.
Nam Mô Nhật Tạng Phật.
Nam Mô Đức Tạng Phật.
Kinh Danh Hiệu Phật: 100 Danh hiệu Phật
Nam Mô Tu Di Lực Phật.
Nam Mô Ma Ni Tạng Phật.
Nam Mô Kim Cang Vương Phật.
Nam Mô Uy Đức Phật.
Nam Mô Vô Hoại Phật.
Nam Mô Thiện Kiến Phật.
Nam Mô Tinh Tấn Đức Phật.
Nam Mô Đại Hải Phật.
Nam Mô Phú Sa La Thụ Phật.
Nam Mô Bạt Tha Đức Phật.
Nam Mô Phật Thiên Phật.
Nam Mô Sư Tử Tràng Phật.
Nam Mô Tỳ Đầu Đức Phật.
Nam Mô Vô Biên Đức Phật.
Nam Mô Đức Trí Phật.
Nam Mô Hậu Đức Phật.
Nam Mô Hoa Tràng Phật.
Nam Mô Tượng Đức Phật.
Nam Mô Tinh Tấn Đức Phật.
Nam Mô Long Đức Phật.
Kinh Danh Hiệu Phật: 100 Danh hiệu Phật
Nam Mô Đức Sanh Phật.
Nam Mô Bảo Tụ Phật.
Nam Mô Đức Bà Tha Tử Phật.
Nam Mô Luận Nghĩa Phật.
Nam Mô Phổ Kiến Phật.
Nam Mô Bảo Đa La Phật.
Nam Mô Phổ Xả Phật.
Nam Mô Đại Cúng Dường Đức Phật.
Nam Mô Đại Võng Phật.
Nam Mô Đoạn Nhất Thiết Chúng Sanh Nghi Vương Phật.
Nam Mô Bảo Đức Phật.
Nam Mô Phổ Cái Phật.
Nam Mô Đại Cái Phật.
Nam Mô Thắng Đức Phật.
Nam Mô Thiên Cúng Dường Phật.
Nam Mô Bảo Liên Hoa Phấn Tấn Phật.
Nam Mô Hậu Đức Phật.
Nam Mô Trí Tràng Phật.
Nam Mô Bảo Nguyệt Đức Phật.
Nam Mô Ni Cù Lô Đà Bà Tha Vương Phật.
Nam Mô Thường Đức Phật.
Nam Mô Phổ Liên Hoa Phật.
Nam Mô Bình Đẳng Đức Phật.
Nam Mô Long Hộ Cứu Tế Phật.
Kinh Danh Hiệu Phật: 100 Danh hiệu Phật
Danh Hiệu Chư Phật này
Khéo cứu hộ thế gian
Đầu đêm tụng một biến
Nhớ niệm Phật rồi ngủ
Giữa đêm tụng một biến
Cuối đêm cũng như vậy
Ở ba thời như thế
Đầu đêm giữa và cuối
Mỗi thời tụng một biến
Tinh tấn chớ phóng dật
Do tụng Phật danh này
Luôn thấy được mộng lành
Ác quỷ với ác nhân
Chẳng thể trục được lợi
Cho nên Phật danh này
Hay cứu hộ thế gian
Tất cả thiên nhạc thần
Dạ Xoa cưu bàn đồ
La Sát chúng Quỷ Thần
Chẳng thể gây chướng ngại
Một trăm Phật danh này
Luôn hộ niệm người trì
Hết thảy các ma sự
Chẳng thể trục được lợi
*
Lúc bấy giờ Thiên Chủ Đế Thích Vua của ba mươi ba Cõi Trời chỉnh y phục, hai gối quỳ, chắp tay, và bạch Phật rằng:
“Bạch Thế Tôn! Chúng con sẽ luôn hộ vệ cho người thọ trì Danh Hiệu của Chư Phật. Ngoài ra còn có Tứ Đại Thiên Vương cũng luôn bảo hộ người đó. Người thọ trì Danh Hiệu của Chư Phật duy trừ quyết định nghiệp thì chẳng thể cứu hộ còn hết thảy trong hàng Trời người thì không ai có thể gây tạo việc ác cho họ được.”
Lúc bấy giờ bậc Nhất Thiết Trí xuất ra đại âm thanh vi diệu, tám loại tiếng hòa nhã, chân thiện, và thánh thót, khiến ai nấy đều thích nghe.
Sau đó, Ngài bảo khắp các đại chúng rằng: “Hãy mau thọ trì các Danh Hiệu của Chư Phật này, rồi ở khắp nơi trong mười phương Thế Giới mà rộng lưu bố để làm đại pháp thí và đoạn trừ nghi hoặc cho chúng sanh.”
Khi Đại Thánh Thích Ca Văn diễn nói pháp này xong, có ba trăm vị Tỳ Kheo đắc lậu tận ý giải.
Lại có bốn mươi vị Tỳ Kheo Ni được tận trừ tất cả lậu pháp và đắc Đạo A La Hán.
Lại có năm ngàn Ưu Bà Tắc trụ thắng hoan hỷ tâm và chứng quả Tu Đà Hoàn.
Lại có một ngàn một trăm Ưu Bà Di đều viễn ly trần cấu và đắc Pháp Nhãn Tịnh.
Lại có các Đại Thiên Vương cùng vô lượng ngàn vạn Thiên Chúng đắc pháp nhãn thanh tịnh ở trong pháp của bậc Pháp Vương.
*
Ví như có bao nhiêu số cát của một Sông Hằng, hãy đem chia làm ba phần. Số lượng của Chư Bồ Tát chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn thì bằng một phần của số đó.
Lúc bấy giờ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới đều chấn động sáu cách. Các núi non, cao phong, và Đại Địa thảy đều rung chuyển. Còn ở trong Hư Không mưa xuống các bông hoa vi diệu Cõi trời. Tiếng vui vẻ của Trời, Rồng, và hàng phi nhân đều vang dội khắp nơi.
Khi ấy Thiên Chủ Đế Thích, Mục Kiền Liên, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Già, Ma Ha Kiếp Tân Na, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Ca Diếp, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, cho đến Na Đề Ca Diếp, Mãn Nguyện Tử, Thiện Cát Bất Kiến Không, A Nan, Bạt Đề, và Đạp Bà Ma La Tử, các hàng đại chúng như vậy, cả thảy là hai mươi năm ngàn vị đều đồng thanh bạch Phật rằng:
“Bạch Thích Ca Sư Tử Pháp Vương!
Con sẽ tận hết sức tinh tấn của mình không một chút dư sót và dùng mọi sức thần thông ở vô lượng Thế Giới để hóa làm vô lượng thân, rồi vượt qua vô lượng Phật sát mà luôn nói các Danh Hiệu của Chư Phật này và cũng như tuyên giảng những điều Phật dạy.”
Lúc bấy giờ Đức Phật Thế Tôn vì muốn khiến đại chúng trông thấy nên thị hiện đại thần thông. Với sức thần thông của Phật, Ngài hiện vô lượng ức Quốc Độ.
*
Khi ấy đại chúng đều thấy Thích Ca Sư Tử Pháp Vương biến khắp các cõi nước kia mà thuyết giảng Kinh này và cũng như lời dạy của Chư Phật thuở quá khứ tất cả đều chẳng sai biệt.
Phật bảo các đại chúng:
“Từ lâu xa ở trong vô lượng kiếp, Ta đã khéo tu thần thông. Ở nơi vô thượng Phật Pháp, đại chúng hãy quyết định chớ sanh nghi hoặc. Vì muốn chúng sanh được an ổn, cho nên Ta mới mau nói các Danh Hiệu của Chư Phật này. Như thế sẽ khiến các chúng sanh vĩnh viễn xa rời khổ ách của sanh tử.”
Lúc bấy giờ Phật bảo Tuệ mạng Xá Lợi Phất:
“Nếu có Thiện Nam Tử Thiện Nữ Nhân nào khi đã nghe các Danh Hiệu của Chư Phật này, rồi với lòng tin sâu thanh tịnh, họ phát Bồ Đề tâm và yêu mến thọ trì. Ngày đêm tinh tấn, họ đọc tụng biên chép và rộng diễn nói cho người khác, thời sẽ được vô lượng vô biên quảng đại công đức, đắc quả vị bất thối chuyển, cho đến mau thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, và hết thảy chúng ma đều chẳng thể nhiễu loạn.”
Khi Phật Thuyết Kinh này xong, Tuệ mạng Xá Lợi Phất, Đế Thích, Phạm Vương, Tứ Đại Thiên Vương, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, và A Tu La, tất cả đại chúng khi nghe pháp này rồi, họ đều sanh tâm đại hoan hỷ.
(Kinh Danh Hiệu Phật – Hết)
https://kinhnghiemhocphat.com/2021/0...hieu-phat.html
Kinh Tám Danh Hiệu Cát Tường của Chư Phật
Tôi nghe như vầy:
Một thuở nọ, Đức Phật ở tại vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc trong thành Xá-vệ, cùng với 1.250 vị đại Tỳ-kheo, 80.000 vị Bồ-tát Ma-ha-tát, và chư thiên long quỷ thần.
Lúc bấy giờ Thế Tôn bảo ngài Xá-lợi-phất:
“Từ Phật độ này về hướng đông, vượt qua một Hằng Hà sa cõi Phật, có một thế giới tên là Thiên Thắng. Trong cõi nước ấy có Đức Phật, hiệu là Thiện Thuyết Cát Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri và Ngài hiện đang thuyết Pháp ở đó.
Này Xá-lợi-phất! Từ Phật độ đó về hướng đông, vượt qua hai Hằng Hà sa cõi Phật, có một thế giới tên là Niệm Ý. Trong cõi nước ấy có Đức Phật, hiệu là Phổ Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri và Ngài hiện đang thuyết Pháp ở đó.
Này Xá-lợi-phất! Từ Phật độ đó về hướng đông, vượt qua ba Hằng Hà sa cõi Phật, có một thế giới tên là Khả Ái Du Hí. Trong cõi nước ấy có Đức Phật, hiệu là Chiến Đấu Thắng Cát Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri và Ngài hiện đang thuyết Pháp ở đó.
Này Xá-lợi-phất! Từ Phật độ đó về hướng đông, vượt qua bốn Hằng Hà sa cõi Phật, có một thế giới tên là Thiện Thanh Tịnh Tụ. Trong cõi nước ấy có Đức Phật, hiệu là Tự Tại Tràng Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri và Ngài hiện đang thuyết Pháp ở đó.
Này Xá-lợi-phất! Từ Phật độ đó về hướng đông, vượt qua năm Hằng Hà sa cõi Phật, có một thế giới tên là Vô Trần Tụ. Trong cõi nước ấy có Đức Phật, hiệu là Vô Biên Công Đức Quang Minh Cát Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri và Ngài hiện đang thuyết Pháp ở đó.
Này Xá-lợi-phất! Từ Phật độ đó về hướng đông, vượt qua sáu Hằng Hà sa cõi Phật, có một thế giới tên là Vô Phương Ngại Du Hí. Trong cõi nước ấy có Đức Phật, hiệu là Vô Chướng Ngại Nghiệp Trụ Cát Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri và Ngài hiện đang thuyết Pháp ở đó.
Này Xá-lợi-phất! Từ Phật độ đó về hướng đông, vượt qua bảy Hằng Hà sa cõi Phật, có một thế giới tên là Kim Tụ. Trong cõi nước ấy có Đức Phật, hiệu là Diệu Hoa Dũng Mãnh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri và Ngài hiện đang thuyết Pháp ở đó.
Này Xá-lợi-phất! Từ Phật độ đó về hướng đông, vượt qua tám Hằng Hà sa cõi Phật, có một thế giới tên là Mỹ Thanh. Trong cõi nước ấy có Đức Phật, hiệu là Bảo Liên Hoa An Trụ Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri và Ngài hiện đang thuyết Pháp ở đó.
Này Xá-lợi-phất! Tám cõi Phật này thảy đều thanh tịnh, không có người nữ, và cũng không có năm trược.
Này Xá-lợi-phất! Nếu có thiện nam tử thiện nữ nhân nào trụ ở Đại Thừa mà nghe được tám danh hiệu của chư Phật này, thọ trì chẳng quên, và thuyết giảng cho người khác. Giả sử họ còn đọa sanh tam đồ hoặc rơi vào tám nạn, thì quyết không thể có việc ấy.
Nếu có người nữ nào nghe được tám danh hiệu của chư Phật này, rồi tự mình có thể thọ trì và thuyết giảng cho người khác. Giả sử họ còn thọ thân nữ thì quyết không thể có việc ấy.
Này Xá-lợi-phất! Nếu có thiện nam tử thiện nữ nhân nào trụ ở Đại Thừa mà nghe được tám danh hiệu của chư Phật này, rồi thọ trì và thuyết giảng cho người khác, thì ở đời này và đời sau, họ sẽ thường có thần thông, đắc nhạo thuyết biện tài, thâm tu thiền định, đầy đủ đà-la-ni, và luôn gặp thánh nhân. Họ sẽ không bị trời rồng dạ-xoa, người và phi nhân, trộm cướp, nạn nước lửa, hoặc thuốc độc gây hại. Tất cả mọi sợ hãi thảy đều diệt trừ, giấc ngủ bình an, không gặp ác mộng, và luôn được chư thiên bảo hộ.”
Lúc bấy giờ Thế Tôn nói kệ rằng:
“Nếu có thiện nam tử
Cùng với thiện nữ nhân
Nghe qua tám Phật hiệu
Thọ trì giảng cho người
Thân tâm luôn an ổn
Không có mọi sợ hãi
Chuyên niệm chớ lãng quên
Kiếp tội diệt vô lượng
Sau sinh trong trời người
Lìa xa chốn ác đạo
Sáu căn thường thanh tịnh
Đoan chánh có uy đức
Bát bộ chư thiện thần
Ngày đêm theo bảo hộ
Trời người luôn cung kính
Cúng dường sanh hoan hỷ
Dạ-xoa cùng phi nhân
Đạo tặc với dao gậy
Nước lửa hay thuốc độc
Kinh bố chẳng gây hại
Giấc ngủ luôn an ổn
Không gặp các ác mộng
Lợi căn có trí tuệ
Thường thích nghe Chánh Pháp
Nghe rồi sanh tín tâm
Ai đắc thâm diệu Pháp
Hơi thở không hôi thối
Tinh tấn giảng cho người
Chúng ma và ngoại đạo
Chẳng ai dám nhiễu loạn
Người nữ nghe Phật danh
Thọ trì giảng cho người
Khi hết báo thân đó
Đời sau chẳng còn thọ
Tụng trì giảng cho người
Danh hiệu tám Đức Phật
Đắc quả và công đức
Như đã nói ở trên
Bởi vậy bậc trí giả
Thọ trì luôn nhớ niệm
Nhất tâm lòng hoan hỷ
Đừng nên khởi buông lung”
Lúc Phật thuyết Kinh này xong, Trưởng lão Xá-lợi-phất, các vị đại Tỳ-kheo, cùng với chư Bồ-tát Ma-ha-tát, trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người và phi nhân, khi nghe lời Phật dạy, họ hoan hỷ phụng hành.
Việt dịch: Nguyên Thuận
https://www.linkedin.com/pulse/kinh-...BB%A3c-s%C6%B0
================
SỐ 427
KINH BÁT CÁT TƯỜNG THẦN CHÚ
Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, Đại Tập 54 - Bộ Kinh Tập I - Số 425 -> 440, Số 427 - Kinh Bát Cát Tường Thần Chú, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc - Taiwan, 2000, Trang 383 - Trang 387.
Hán dịch: Đời Đông Ngô, Ưu-bà-tắc Chi Khiêm, người nước Nguyệt Chi.
Nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật thuộc kinh thành La-duyệt-kỳ, cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo hội đủ. Chúng Bồ-tát có một ngàn vị đều như Bồ-tát Di-lặc…
Bấy giờ, Đức Phật nói với Hiền giả Xá-lợi-phất cùng các vị Tỳ-kheo là tất cả đều nên nhất tâm lắng nghe.
Đức Phật nói với Hiền giả Xá-lợi-phất:
–Về phương Đông, cách cõi này một hằng sa, có Đức Phật hiệu là Như Lai An Ẩn Chúc Lụy Mãn Cụ Túc Vương, là Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác Vô Thượng, hiện tại đang thuyết pháp, thế giới ấy tên là Mãn sở nguyện tụ.
Cách cõi này hai hằng sa có Đức Phật hiệu là Như Lai Cám Lưu Ly Cụ Túc Vương, là Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác Vô Thượng, hiện tại đang thuyết pháp, thế giới đó tên là Từ ai quang minh.
Cách cõi này ba hằng sa có Đức Phật hiệu là Như Lai Khuyến Trợ Chúng Thiện Cụ Túc Vương, là Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác Vô Thượng, hiện tại đang thuyết pháp, thế giới đó tên là Hoan hỷ khoái lạc.
Cách cõi này bốn hằng sa có Đức Phật hiệu là Như Lai Vô Ưu Đức Cụ Túc Vương, là Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác Vô Thượng, hiện tại đang thuyết pháp, thế giới ấy tên là Nhất thiết lạc nhập.
Cách cõi này năm hằng sa có Đức Phật hiệu là Như Lai Dược Sư Cụ Túc Vương, là Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác Vô Thượng, hiện tại đang thuyết pháp, thế giới đó tên là Mãn nhất thiết trân bảo pháp.
Cách cõi này sáu hằng sa có Đức Phật hiệu là Như Lai Liên Hoa Cụ Túc Vương, là Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác Vô Thượng, hiện đang thuyết pháp, thế giới ấy tên là Mãn hương danh văn.
Cách cõi này bảy hằng sa có Đức Phật hiệu là Như Lai Toán Trạch Hợp Hội Cụ Túc Vương, là Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác Vô Thượng, hiện đang thuyết pháp, thế giới đó tên là Nhất thiết giải thoát âm thanh viễn văn.
Cách cõi này tám hằng sa có Đức Phật hiệu là Như Lai Giải Tán Nhất Thiết Phược Cụ Túc Vương, là Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác Vô Thượng, hiện tại đang thuyết pháp, thế giới ấy tên là Nhất thiết giải thoát.
Đức Phật nói với Hiền giả Xá-lợi-phất:
–Chư Phật Như Lai ấy đều là Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác Vô Thượng, dứt sạch mọi vướng mắc, tham đắm, đi qua đủ bốn nẻo tu tập, không còn thọ nhận sinh tử. Các quốc độ đó đều là cõi thanh tịnh, không có năm thứ ô trược, dứt mọi ái dục, sạch mọi ý tưởng cấu nhiễm. Nếu có những thiện nam, thiện nữ nào được nghe danh hiệu tám Đức Phật ấy cùng với quốc độ của các vị, thọ trì, phụng hành, đọc tụng, lại vì những người khác mà thuyết giảng, giải thích ý nghĩa, thì những thiện nam, thiện nữ đó trọn đời không bị ngu muội, lời nói không hề sai trái lầm lạc, các tướng tốt gồm đủ. Trải qua vô số năm không hề bị lâm vào cảnh đói, thiếu. Những thiện nam, thiện nữ ấy trọn không bị đọa vào ba nẻo ác là: địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh. Cũng không mong cầu giữ lấy các quả vị A-la-hán, Bích-chi-phật để nhập Niết-bàn, mà tất sẽ đạt đến đạo bình đẳng vô thượng, thường gặp các pháp Tổng trì, thường hành theo đúng nẻo Bồ-tát, đạt được công đức vô lượng. Những hàng thiện nam, thiện nữ đó luôn được sự ủng hộ của vị đệ nhất Tứ Thiên vương, không bị đám quan quyền bắt bớ hay lũ trộm cắp xâm phạm đến tài sản hoặc tính mạng mình, cũng tránh khỏi sự quấy nhiễu của Thiên, Long, Quỷ thần cùng các loại quỷ thần độc hại khác, là người hay chẳng phải người, tất cả đều chẳng thể hãm hại, trái lại thân mạng luôn được an ổn, dứt trừ được tội lỗi vốn có từ đời trước. Nếu có người gặp phải bệnh tật nặng, hay bị nước, lửa, tiếng chim dữ kêu, ác mộng, ma quỷ nhiễu hại, dọa nạt khiến cho quá đỗi sợ hãi thì thường nên đọc tụng kinh chú Bát Cát Tường Thần Chú này, tất liền được dứt trừ.
Bấy giờ, Đức Phật nói kệ:
Nếu người trì kinh này
Tám Phật cùng quốc độ
Ba nẻo ác khỏi đọa
Chóng đạt đạo Vô thượng
Tự giác phát tâm đạo
Thấy Phật liền thông tỏ
Trong ngoài luôn hoan hỷ
Tâm cung kính cúng dường
A-tăng-kỳ ức kiếp
Tiêu trừ mọi tội lỗi
Từ kinh Bát Cát Tường
Giáo pháp mau thấu đạt
Kẻ kính thờ kinh này
Sinh nơi ngàn cánh hoa
Châu báu luôn hiện đầy
Hình sắc thường tươi đẹp
Người được nghe kinh báu
Tôn kính và dốc tin
Thọ trì, chăm đọc tụng
Thanh tịnh dứt phóng dật
Người nữ tin kinh này
Kính cẩn, dứt dua nịnh
Bỏ thân, mang thân nam
Thông minh, thêm trí tuệ
Phụng trì tám vị Phật
Ra vào, giặc chẳng hại
Đạo binh nước lửa độc
Mọi tà thuật đều lùi
Ham thích phụng kinh này
Các ma oán đều sợ
Quỷ thần cùng quan quyền
Đều không thể nhiễu hại
Bay lượn đến khắp cõi
Nơi chốn thảy an vui
Tâm ý chánh, dứt tà
Thấy Phật luôn hoan hỷ
Chốn sinh thường gặp Phật
Tâm tin tưởng, kính thờ
Dứt trừ mọi thứ ác
Chóng đạt nẻo giải thoát
Tinh tấn, không biếng trễ
Lìa bỏ bao mối buộc
Xứng danh kẻ chân trực
Phụng trì tám Phật hiệu
Dũng mãnh hàng các ma
Lực ấy như kim cương
Tướng hảo cùng đoan nghiêm
Hơn hẳn muôn người, vật
Bố thí tâm rộng mở
Sinh vạn chốn danh gia
Mọi hận thù, trộm cắp
Tự nhiên thảy tiêu trừ
Bệnh tật cùng quan quyền
Bao ác mộng, chim dữ
Trì tụng tám vị Phật
Chú, nguyện liền dứt sạch
Người phụng trì kinh này
Được Bồ-tát Di-lặc
Đệ nhất Tứ Thiên vương
Cùng dốc sức gia hộ
Mọi sở nguyện đều đạt
Nên sung sướng vui mừng
Kẻ nhất tâm tín thọ
Phước đức cũng như vậy.
Bấy giờ, chư Bồ-tát gồm các vị Bồ-tát Bạt-đà-hòa, Bồ-tát La-lân-na-kiệt, Bồ-tát Kiều-nhật-đâu, Bồ-tát Na-la-đạt, Bồ-tát Tu-thâm-di, Bồ-tát Ma-ha Tu-hòa-tát-hòa, Bồ-tát Nhân-kỳ-đạt, Bồ-tát Hòa-luân-điều, đó là tám vị Bồ-tát dốc cầu đạo Bồ-đề đã trải qua vô số kiếp, đến nay vẫn chưa hoàn tất đại nguyện để thành Phật. Nguyện: “Sẽ khiến cho chúng dân trong mười phương thiên hạ đều đạt đến Phật đạo. Nếu có những người bệnh tật cấp bách, cùng nhất tâm niệm lớn danh hiệu tám người trong chúng ta thì liền được thoát khỏi. Hoặc lúc thọ mạng sắp dứt, tám người trong chúng ta liền hiện đến để đón tiễn.”
Lúc này, các vị Bồ-tát Di-lặc… đệ nhất Tứ Thiên vương đều cùng thưa với Đức Phật:
–Kính thưa Thế Tôn! Chúng con sẽ xin hết lòng ủng hộ những ai thọ trì kinh Bát Cát Tường Thần Chú này. Chúng con xin hợp uy lực mình để khiến cho mọi tật bệnh của những kẻ ấy đều được dứt trừ.
Đức Phật giảng nói kinh này xong, Hiền giả Xá-lợi-phất, Bồ-tát Di-lặc cùng với các vị Tỳ-kheo, chúng Thiên, Long, Quỷ thần, A-tu-la vương, thảy đều lắng nghe và hết sức hoan hỷ.
https://www.vbeta.vn/phap-bao/so-427...n-chu/8/2/7692
Bát Cát Tường
(Phật giáo Tây Tạng)
Bài cầu nguyện này cầu xin sự che chở và ban phước lành từ các vị Phật, Bồ Tát và chư thiên, đồng thời xin được thanh tịnh nghiệp chướng và thành tựu mọi ước nguyện.
(https://fr.scribd.com/document/73171...t-Ca-t-Tu-o-ng)
cát tường kinh có nghĩa là:
(吉祥經) I. Cát tường kinh. Có một quyển. Do Chi khiêm đời Ngô dịch, còn gọi là Bát cát tường thần chú kinh, Bát cát tường kinh, Bát cát tường chú kinh, thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung tường thuật việc đức Phật ở nước La duyệt kì núi Kì xà quật, cùng với chúng tỉ khưu và Bồ tát tập hội, trong hội đức Phật đã nói cho ngài Xá lợi phất và đại chúng nghe về công đức thụ trì danh hiệu của tám đức Phật ở phương Đông và tám Cát tường thần chú. Về sự phiên dịch kinh này, cứ theo Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục quyển 12, có tất cả năm bản dịch, mà hiện chỉ còn bốn, đều thu trong Đại chính tạng tập 14, còn một thì thiếu. Trong đó, bản dịch thứ nhất, tức Bát cát tường thần chú kinh, nói ở trên, 1 quyển, là do Chi khiêm đời Tam quốc Ngô dịch - bản thứ hai là Bát dương thần chú kinh 1 quyển, do Trúc pháp hộ đời Tây Tấn dịch - bản thứ ba Bát cát tường kinh 1 quyển, hiện thiếu, là do Cầu na bạt đà la đời Tống dịch - bản thứ tư Bát cát tường kinh do Tăng già bà la đời Nam triều Lương dịch - bản thứ năm Bát phật danh hiệu kinh 1 quyển, do Xà na quật đa đời Tùy dịch. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.5 - Đại đường nội điển lục Q.2 - Khai nguyên thích giáo lục Q.2]. II. Cát tường kinh, gồm mười hai bài tụng. Do Hoàng để lạp lị lị (tên dịch âm Pàli) dịch vào năm Dân quốc 24 (1935), đăng trên Nhật báo Phật giáo ngày 22 tháng 9. Kinh này là kinh Tiểu tụng (Khuddaka Pàỉha) trong Tiểu bộ kinh (Khuddaka NikàyaI) thuộc tạng kinh Pàli. Nội dung kể việc đức Phật ở nước Xá vệ, trong vườn Kì thụ Cấp cô độc, đáp lời thỉnh cầu của một người trời mà nói về lí giữ giới tu điều lành có thể được đại cát tường. Trong bài Cát tường kinh đích thấu thị (nhìn suốt qua kinh Cát tường) của nhà học giả Pháp chu hiện đại, có nêu lên rằng, phẩm Cát tường thứ 39 trong kinh Pháp cú thu vào Đại chính tạng tập thứ 4, là dịch từ Tiểu bộ kinh, đồng thời như đã nói ở trên, kinh này là kinh Tiểu tụng thuộc Tiểu bộ kinh, cho nên suy luận là phẩm Cát tường đã lấy từ kinh Cát tường trong kinh Tiểu tụng. Ngoài ra trong bài văn của mình, Pháp chu còn in cả nguyên văn Pàli của kinh này, rồi đem so sánh đối chiếu bản dịch với nguyên bản mà chỉ ra những điểm khác nhau giữa hai bản.
https://phatgiao.org.vn/tu-dien-phat...oogle_vignette
Học thần chú ĐẠI CÁT TƯỜNG THIÊN NỮ
Trích từ PHẬT NÓI KINH
12 DANH HIỆU CỦA ĐẠI CÁT TƯỜNG THIÊN NỮ
Cát tường thiên nữ kinh phật nói
THIÊN NỮ ĐẠI CÁT TƯỜNG
Cát Tường Thiên là một vị năng trừ tất cả phiền não của chúng sanh, tiêu diệt hết tội chướng, gợi lên tất cả các phước đức, xua đuổi những điều bất tường. Cát Tường Thiên có Phạn danh là Sri-Maha-Devi, là Thần hộ pháp của Phật Giáo, bảo vệ tất cả chúng sanh được cát tường, an lạc. Trong Kinh về 12 Danh Hiệu của Thiên nữ Đại Cát Tường đã kê ra những danh hiệu của Ngài gồm có như sau: Cát Khánh, Cát Tường Liên Hoa, Nghiêm Sức, Cụ Tài, Bạch Sắc, Đại Danh Xưng, Liên Hoa Nhãn, Đại Quang Diệu, Thí Thực Giả, Thí Ẩm Giả, Bảo Quang, Đại Cát Tường.
Cát Tường Chân Ngôn là:
“Đát nễ-dã tha: Thất-lý nê, thất-lý nê. Tát phộc ca lý dã, bà đà nãnh. Tất nãnh, tất nãnh. Nãnh nãnh nãnh nãnh. A lạc khất sử mính, nẵng xả dã, sa phộc hạ”
TADYATHĀ: ŚRĪṆI ŚRĪṆI _ SARVA KĀRYA-SĀDHANI _ SINI SINI _ NI NI NI NI _ ALAKṢMI NĀŚAYA _ SVĀHĀ.
https://thongoc2520.typepad.com/blog...%E1%BB%AF.html
Phật Thuyết Kinh Thập Cát Tường
Hán dịch: Xuất xứ từ bản ghi chép vào đời Tần, tên người dịch đã bị thất lạc
Việt dịch: Tại gia Bồ-tát giới Ưu-bà-tắc Nguyên Thuận
Tôi nghe như vầy:
Một thuở nọ, Đức Phật ở trên núi Linh Thứu gần thành Vương Xá, cùng với
1.250 vị đại Tỳ-kheo và 5.000 vị Bồ-tát.
Lúc bấy giờ có vô lượng trăm ngàn quyến thuộc vây quanh Thế Tôn và Ngài
thuyết Pháp cho họ.
Khi ấy trong đại hội có một vị Đại sĩ tên là Ly Cấu Cái. Ngài nương uy thần
của Phật, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo lộ vai phải, gối phải quỳ sát đất,
chắp tay ở trước Phật và thưa rằng:
"Kính mong Thế Tôn hãy diễn nói về các danh hiệu của chư Phật Như lai,
Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác.
Bởi nếu có thiện nam tử thiện nữ nhân nào đang cầu Phật Đạo mà nghe được
các danh hiệu của chư Phật và thọ trì đọc tụng, thời họ sẽ mau đắc bất thối
chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác."
Phật bảo Đại sĩ Ly Cấu Cái:
"Lành thay, lành thay, thiện nam tử! Điều ông hỏi sẽ có lợi ích rất lớn cho
chúng sanh.
Này thiện nam tử! Từ đây về hướng đông, vượt qua một Hằng Hà sa cõi
Phật, có một thế giới tên là Phương Trang Nghiêm. Trong cõi nước ấy có
Đức Phật, hiệu là Đại Quang Diệu Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh
Giác và Ngài hiện đang thuyết Pháp ở đó.
Lại nữa, thiện nam tử! Từ đây về hướng đông, vượt qua hai Hằng Hà sa cõi
Phật, có một thế giới tên là Đế Thắng Chư Thắng. Trong cõi nước ấy có Đức
Phật, hiệu là Đăng Minh Như Lai.
Lại có thế giới tên là Kim Cang. Trong cõi nước ấy có Đức Phật, hiệu là Đại
Hùng Như Lai.
Lại có thế giới tên là Tịnh Tôn Trụ. Trong cõi nước ấy có Đức Phật, hiệu là
Vô Cấu Trần Như Lai.
Lại có thế giới tên là Kim Quang Minh. Trong cõi nước ấy có Đức Phật,
hiệu là Thượng Tượng Tràng Thập Cái Vương Như Lai.
Lại có thế giới tên là Đại Uy Thần. Trong cõi nước ấy có Đức Phật, hiệu là
Uy Thần Tự Tại Vương Như Lai.
Lại có thế giới tên là Hương Huân. Trong cõi nước ấy có Đức Phật, hiệu là
Cực Thọ Thượng Ảnh Vương Như Lai.
Lại có thế giới tên là Bảo Nghiêm. Trong cõi nước ấy có Đức Phật, hiệu là
Nội Bảo Như Lai.
Lại có thế giới tên là Hải Đăng Minh. Trong cõi nước ấy có Đức Phật, hiệu
là Đại Hải Như Lai.
Lại có thế giới tên là Thập Lực Đăng Minh. Trong cõi nước ấy có Đức Phật,
hiệu là Thập Lực Hiện Như Lai.
Này Ly Cấu Cái! Phải biết rằng, nếu có thiện nam tử thiện nữ nhân nào vì
cầu Phật Đạo mà lấy thất bảo nhiều cát sông Hằng để làm bố thí cho Như
Lai Chánh Giác. Giả sử có thiện nam tử thiện nữ nhân nào nghe được các
danh hiệu của chư Phật này, rồi thọ trì đọc tụng, tâm luôn tưởng nhớ, và
rộng thuyết giảng cho đại chúng, thì công đức ấy sẽ vượt hơn công đức ở
trước."
Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn trùng tuyên nghĩa lý trên nên nói kệ rằng:
"Thế giới của chư Phật
Nhiều như cát sông Hằng
Trong ấy đầy thất bảo
Lấy dùng để bố thí
Nhưng nếu ai nghe được
Danh hiệu chư Phật này
Tín mến nhớ chẳng quên
Công đức hơn ở trước
Nếu nghe chư Phật danh
Trì tụng chớ lãng quên
Tâm họ chẳng còn nghi
Quyết định sẽ thành Phật
Lục Thông vô cùng tận
Cho đến vô số kiếp
Thân họ có màu vàng
Tướng hảo dùng trang nghiêm
Nếu trì Phật danh hiệu
Siêu vượt mười ức kiếp
Mau được thành Chánh Giác"
Khi Phật thuyết Kinh này xong, Đại sĩ Ly Cấu Cái, chư Bồ-tát, trời rồng quỷ
thần và người thế gian thảy đều vui mừng. Họ đảnh thọ lời Phật dạy.
Phật Thuyết Kinh Thập Cát Tường
https://hoavouu.com/images/file/6kUQ...uyen-thuan.pdf
NGHI THỨC TRIỄN CHƯ THIÊN
[Lễ Tống Thánh (hay là Tiễn Chư Thiên) / CÚNG ĐƯA CHƯ THIÊN NGÀY 25 THÁNG CHẠP]
Tài liệu này là nghi thức cúng dường chư thiên và các vị thần linh. Nó bao gồm các bài tụng, tán, đảnh lễ Tam Bảo và các chú cầu an. Nghi thức nhằm cầu chư Phật, Bồ Tát và các vị thần hộ trì.
(https://fr.scribd.com/document/73364...E3NTM3MjczNTU.)
Bài Khấn Đọc Ngoài Sân
Bài khấn ngoài sân bao gồm việc thắp 36 nén hương và cầu nguyện đến nhiều vị thần, Phật và các vong linh. Người khấn cầu xin các ngài che chở cho các hương hồn không nơi nương tựa, giúp họ siêu thoát và quay lại làm người. Bài khấn cũng bao gồm các chân ngôn để cầu nguyện cho sự linh nghiệm và tăng cường lễ vật cúng dâng.
Khoa Tiếp Linh Tiếng Việt
https://fr.scribd.com/document/64396...E3NTM3MjczNTU.
CÂY QUY Y DÒNG TRUYỀN THỪA GELUKPA
https://fr.scribd.com/document/51672...E3NTM3MjczNTU.
DZAMBHALA
BẢO TẠNG VƯƠNG NGHI QUỸ
La Duy Khánh dịch
https://fr.scribd.com/doc/74140503/b...E3NTM3MjczNTU.
========
Thần Tài Tây Tạng, chú của Thần Giữ Kho Báu
https://thegioivohinh.com/diendan/sh...D-Kho-B%C3%A1u
PHẬT THÁNH TRUNG HOA
CHÚC THỰC KHOA...
(TIẾNG VIỆT)
https://fr.scribd.com/document/83764...E3NTM3MjczNTU.
SÁM HỐI TRẢ NỢ
Thiền Sư AN LẠC HẠNH
https://fr.scribd.com/document/70760...E3NTM3MjczNTU.
Vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát mỗi năm gồm có 3 ngày: 19-02, 19-06, 19-09 AL. Nghi này có thể đùng cho ba lễ được cả.
1. Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm: Phá 3 chướng của nẻo Địa ngục.
2. Nam Mô Đại Từ Quán Thế Âm: Phá 3 chướng của nẻo Ngã quỷ.
3. Nam Mô Sư Tử Vô Úy Quán Thế Âm: Phá 3 chướng của nẻo Súc sinh.
4) Nam Mô Đại Quang Phổ Chiếu Quán Thế Âm: Phá 3 chướng của nẻo Tu la.
5) Nam Mô Thiên Nhân Trượng Phu Quán Thế Âm: Phá 3 chướng của nẻo Nhân Gian
6) Nam Mô Đại Phạm Tấn Tật Quán Thế Âm: Phá 3 chướng của nẻo Thiên Giới
1. Nam Mô Thánh Quán Âm (Ārya Avalokitasvara)
2. Nam Mô Thiên Thủ Quán Âm (Sahasra-bhūja Avalokitasvara)
3. Nam Mô Mã Đầu Quán Âm (Hayagrīva Avalokitasvara)
4. Nam Mô Thập Nhất Diện Quán Âm (Eka-daśa-mukhe Avalokitasvara)
5. Nam Mô Bất Không Quyến Sách Quán Âm (Amogha-pāśa Avalokitasvara)
6. Nam Mô Như Ý Luân Quán Âm (Cintā-maṇi-cakra Avalokitasvara)
7. Nam Mô Chuẩn Đề Quán Âm (Cuṅdhe Avalokitasvara)
8. Nam Mô Tứ Diện Đại Bi Quán Âm.
9. Nam Mô Trừ Bạt Nạn Tiên Quán Âm.
10. Nam Mô Bá Nga Mục Khư Quán Âm.
11. Nam Mô Đại Phạm Thân Tướng Quán Âm.
12. Nam Mô Quảng Đại Minh Vương Câu Xả Quán Âm .
13. Nam mô Bạch Y Quán Âm
14. Nam mô Diệp Y Quán Âm
15. Nam Mô Thủy Nguyệt Quán Âm
16. Nam Mô Dương Liễu Quán Âm
17. Nam Mô A Ma Tai Quán Âm
18. Nam Mô Đa La Quán Âm
19. Nam Mô Thanh Cảnh Quán Âm
20. Hương Vương Quán Âm
21. Nam Mô Tỳ Câu Chi Quán Âm
22. Nam Mô Phẫn Nộ Câu Quán Âm
23. Nam Mô Cát Tường Quán Âm
24. Nam Mô Phong Tài Quán Âm
25. Nam Mô Bất Không Câu Quán Âm
26. Nam Mô Nhất Kế La Sát Quán Âm
27. Nam Mô Liên Hoa Đỉnh Quán Âm
28. Nam Mô Đại Phạm Thiên Tướng Quán Âm
29. Nam Mô Bá Nộ Mục Khư Quán Âm
30. Nam Mô Ương Câu Xá Quán Âm
31. Nam Mô Diên Mạng Quán Âm
32. Nam Mô Dũng Kiện Quán Âm
33. Nam Mô Tứ Diện Đại Bi Quán Âm
34. Nam Mô Trừ Bát Nạn Thiên Quán Âm.
35. Nam Mô Bạt Khổ Quán Tự Tại
36. Nam Mô Dữ Trí Quán Tự Tại
37. Nam Mô Thí Nguyện Quán Tự Tại.
38. Nam Mô Trừ Kích Quán Tự Tại.
39. Nam mô Trừ Khuể Quán Tự Tại.
40. Nam Mô Tiến Đạo Quán Tự Tại.
41. Nam Mô Cần Chính Quán Tự Tại.
42. Nam mô Thí Vô Úy Quán Tự Tại.
43. Thí Quang Quán Tự Tại.
44. Nam Mô Dữ Cam Lộ Quán Tự Tại.
45. Nam Mô Kiến Thiên Quán Tự Tại.
46. Nam Mô Thí Diệu Quán Tự Tại.
47. Nam Mô Kiến Lạc Quán Tự Tại.
48. Nam mô Giáng Ma Quán Tự Tại.
49. Nam Mô Tĩnh Lự Quán Tự Tại.
50. Nam Mô Tác Cữu Quán Tự Tại.
51. Nam Mô Kiến Thiền QuánTự Tại phá Nhị Thiền Hữu
18) Oán Địch Quán Tự Tại phá Tam Thiền Hữu
19) Điều Trực Quán Tự Tại phá Tứ Thiền Hữu
20) Không Huệ Quán Tự Tại phá Vô Tưởng Hữu
21) Hộ Thánh Quán Tự Tại phá Tịnh Cư A Na Hàm Hữu
22) Thanh Tịnh Quán Tự Tại phá Không Xứ Hữu
23) Chính Pháp Quán Tự Tại phá Thức Xứ Hữu
24) Nan Dục Quán Tự Tại phá Vô Sở Hữu Xứ Hữu
25) Bất Động Quán Tự Tại.
-
25 vị Bồ Tát sở hiện của Đại Bi này đều có đủ 11 mặt 40 cánh tay, được 25 Tam Muội, đoạn 25 Hữu và mỗi một vị đều có 40 Hóa Thân
b) 40 vị Quán Tự Tại là Thân Sở Hóa của Thí Vô Úy Quán Tự Tại tương ứng với 40 tay cầm báu vật là :
1) Dữ Nguyện Quán Tự Tại (Như Ý Thủ)
2) Trì sách Quán Tự Tại (Quyến Sách Thủ)
3) Bảo Bát Quán Tự Tại (Bảo Bát Thủ)
4) Bảo Kiếm Quán Tự Tại (Bảo Kiếm Thủ)
5) Kim Cương Quán Tự Tại (Bạt Chiết La Thủ)
6) Trì Xử Quán Tự Tại (Kim Cương Xử Thủ)
7) Trừ Bố Quán Tự Tại (Thí Vô Úy Thủ)
8) Nhật Tinh Quán Tự Tại (Nhật Tinh Ma Ni Thủ)
9) Nguyệt Tinh Quán Tự Tại (Nguyệt Tinh Ma Ni Thủ)
10) Trì Cung Quán Tự Tại (Bảo Cung Thủ)
11) Tốc Trực Quán Tự Tại (Bảo Tiễn Thủ)
12) Dược Vương Quán Tự Tại (Dương Liễu Thủ)
13) Phất Nạn Quán Tự Tại (Bạch Phất Thủ)
14) Trì Bình Quán Tự Tại (Hồ Bình Thủ)
15) Hiện Nộ Quán Tự Tại (Bàng Bài Thủ)
16) Trấn Nạn Quán Tự Tại (Phủ Việt Thủ)
17) Trì Hoàn Quán Tự Tại (Ngọc Hoàn Thủ)
18) Phân Diệp Quán Tự Tại (Bạch Liên Hoa Thủ)
19) Kiến Phật Quán Tự Tại (Thanh Liên Hoa Thủ)
20) Kính Trí Quán Tự Tại (Bảo Kính Thủ)
21) Kiến Liên Quán Tự Tại (Tử Liên Hoa Thủ)
22) Kiến An Quán Tự Tại (Bảo Khiếp Thủ)
23) Tiên Vân Quán Tự Tại (Ngũ Sắc Vân Thủ)
24) Thiền Định Quán Tự Tại (Quân Trì Bình Thủ)
25) Thiên Hoa Quán Tự Tại (Hồng Liên Hoa Thủ)
26) Phá Tặc Quán Tự Tại (Kích Sao Thủ)
27) Niệm Châu Quán Tự Tại (Sổ Châu Thủ)
28) Trì Loa Quán Tự Tại (Bảo Loa Thủ)
29) Phộc Quỷ Quán Tự Tại (Độc Lâu Thủ)
30) Pháp Âm Quán Tự Tại (Bảo Đạc Thủ)
31) Trí Ấn Quán Tự Tại (Bảo Ấn Thủ)
32) Câu Triệu Quán Tự Tại (Thiết Câu Thủ)
33) Từ Trượng Quán Tự Tại (Tích Trượng Thủ)
34) Hiện Kính Quán Tự Tại (Hợp Chưởng Thủ)
35) Bất Ly Quán Tự Tại (Hóa Phật Thủ)
36) Đại Thế Quán Tự Tại (Hoá Cung Điện Thủ)
37) Bát Nhã Quán Tự Tại (Bảo Kinh Thủ)
38) Bất Chuyển Quán Tự Tại (Bảo Luân Thủ)
39) Quán Đỉnh Quán Tự Tại (Đỉnh Thượng Hóa Phật Thủ)
40) Hộ Địa Quán Tự Tại (Bồ Đào Thủ)
https://chuadilac.com/a1694/nghi-thu...uang-bien-soan
Vô-úy Quán Tự Tại Bồ-tát
Vô-úy Quán Tự Tại Đại Bồ-tát
https://kinhsach.chuakhainguyen.com/...-Dai-Cat-Tuong
Thí Vô-Úy Quán Tự Tại Bồ Tát
Thí Vô-Úy Quán Tự Tại
https://phatphapungdung.com/phap-bao...ai-168745.html
Nam mô Thí vô-úy Quán Thế Âm Bồ tát.
Nam mô Thí vô-úy thủ Quán Thế Âm Bồ Tát.
https://www.tuvienquangduc.com.au/ki...ubachdanh.html
Đoạn này nói đức Quán Thế Âm Bồ Tát có thể ban cho chúng sanh sự không sợ hãi. Vì thế, Ngài có biệt hiệu là Thí Vô-Úy.
https://nigioikhatsi.net/viet/giangg...giangky-37.htm
(3) Trong hai bản kinh Pháp Hoa và kinh Thủ Lăng Nghiêm, Bồ-tát Quán Thế Âm còn có danh hiệu Bồ-tát Thí vô-úy – người ban tặng niềm vui không sợ hãi. Ban tặng niềm vui không sợ hãi vừa là hạnh nguyện dấn thân và vừa là kết quả của việc đạt được thành tựu cao quý.
https://quydaophatngaynay.org/an-ton...n-the-am-c294/
Quán Thế Âm Bồ tát, năng dùng oai đức Vô-úy thí cho chúng sanh. Cho nên lại có hiệu là Thí Vô-úy giả nữa. Bố thí có ba thứ: Tài thí, Pháp thí và Vô-úy thí.
https://nigioikhatsi.net/viet/giangg...iangluc-05.htm
Chánh kinh:
Thị Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát ư bố úy cấp nạn chi trung, năng thí vô-úy. Thị cố, thử Sa Bà thế giới giai hiệu chi vi Thí Vô-Úy giả.
是觀世音菩薩摩訶薩。於怖畏急難之 。能施無畏。是故此娑婆世界。皆號之為施無畏者。
(Trong các nạn gấp sợ hãi, vị Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát này có thể ban cho sự không sợ hãi. Vì thế, thế giới Sa Bà này đều gọi Ngài là đấng Thí Vô-Úy).
https://nigioikhatsi.net/viet/giangg...giangky-37.htm
Theo kinh Pháp hoa, phẩm Phổ môn, Bồ-tát Quán Thế Âm có 33 ứng hóa thân, từ thân Phật, Độc giác, Bồ-tát… đến thân đồng nam, đồng nữ; ứng hiện bất cứ thân hình, thân phận nào mà cứu độ được chúng sinh, khai mở được con mắt pháp cho chúng sinh, phát khởi tâm Bồ-đề cho chúng sinh, hay đơn giản là làm cho chúng sinh bớt lo, bớt khổ, bớt buồn… là Ngài đều ứng hiện thân ấy. Ngài thường vận dụng 14 năng lực vô-úy để cứu vớt chúng sinh thoát khỏi khổ đau, ách nạn, hoặc đáp ứng những yêu cầu chính đáng khi chúng sinh tha thiết hành trì tu tập theo pháp môn trì niệm danh hiệu Ngài, cho nên Bồ-tát Quán Thế Âm còn được biết đến với danh hiệu Thí Vô-Úy: Vị Bồ-tát cho chúng sinh sự không sợ hãi!
https://giacngo.vn/bo-tat-thi-vo-uy-post45112.html
3. QUÁN THẾ ÂM LÀ VỊ BAN TẶNG SỰ KHÔNG SỢ HÃI (THÍ VÔ-ÚY) THÂM MẬT DANH HIỆU TRONG KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa có nhấn mạnh hai lần rằng QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT là Vị Bồ Tát hay đem sự không sợ hãi ban tặng cho chúng sinh (Thị Bồ Tát năng dĩ Vô-úy Thí ư chúng sinh) , hay ban cho sự không sợ hãi (Năng Thí Vô-úy). Trong bản chữ Phạn thì có sự khác biệt quan trọng lúc hô lên danh hiệu; thay vì “NAM MÔ QUÁN THẾ BỒ TÁT” như trong bản dịch chữ Hán của Cưu Ma La Thập, trong bản chữ Phạn thì danh hiệu lại được nhấn mạnh thêm với chữ “KẺ BAN TẶNG SỰ AN TOÀN, SỰ KHÔNG SỢ HÃI” (Abhayamdada); tức là thay vì hô danh hiệu “NAM MÔ QUÁN THẾ BỒ TÁT” (theo cách dịch thiếu trong bản chữ Hán, chúng ta phải gọi cho đúng theo bản chính chữ Phạn là: “NAM MÔ VÔ-ÚY THÍ QUÁN THẾ BỒ TÁT MA HA TÁT” như nguyên ngữ chữ Phạn:
NAMO NAMAS TASMAI ABHAYAM
DADÀYÀVALOKITESVARAYA BODHI
SATTVÀYA MAHÀSATTVÀETI!
hay là:
NAMO NAMAS TASMAI ABHAYAM
DADA AVALOKITESVARÀYA BODHI
SATTVÀYA MAHÀSATTVÀYA!
có nghĩa là:
Xin cúi lạy, cúi lạy qui ngưỡng tôn kính trước ÐẤNG BAN CHO SỰ AN TOÀN, SỰ NƯƠNG NÁU, SỰ TRÚ ẨN, SỰ KHÔNG SỢ HÃI, trước ÐẤNG NHÌN THẤY TIẾNG KÊU CỦA TRẦN GIAN, ÐẤNG BỒ TÁT BỪNG TỈNH, ÐẤNG TÔN QÚI VĨ ÐẠI!
Chúng ta thấy rằng dù xưng danh hiệu tắt “NAM MÔ QUÁN THẾ BỒ TÁT” (theo Hán dịch) hay xưng danh hiệu đầy đủ theo nguyên bản Phạn (NAMO NAMAS TASMAI ABHAYAMDADÀYÀVALOKITESVARÀYA BODHISATTVÀYA MAHÀSATTVÀYATI), sự XƯNG DANH HIỆU này là tất cả nội dung bí mật sâu thẳm của toàn thể phẩm Phổ Môn của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Chỉ cần xưng danh QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT với tất cả trọn vẹn tâm hồn hợp nhứt (nhứt tâm xưng danh Quán Thế Âm Bồ Tát) thì mình sẽ tức thì được đẩy thẳng vào trung tâm điểm SỨC MẠNH HUYỀN BÍ CỦA TÌNH THƯƠNG TOÀN DIỆN, SỰ GỌI TÊN (XƯNG DANH) là một cái gì huyền bí nhứt trong thể tính con người; mỗi khi con người gọi tên người yêu của mình thì tự nhiên bất ngờ tất cả mọi sự thơ mộng nhứt, cao đẹp nhứt đời mình bỗng bừng sống đậy. Huống chi ở đây là SỰ GỌI TÊN một cái gì là Suối Nguồn VÔ Tận của tất cả TÌNH THƯƠNG TÌNH YÊU của cả tam thiên đại thế giới. Chỉ cần gọi tên Quán Thế Âm là đánh thức dậy tất cả cơn Bừng Vỡ vô hạn của Tinh Túy TỪ LỰC và BI LỰC huyền diệu khả dĩ phá vỡ tất cả mọi tai nạn, mọi nghịch cảnh, mọi mâu thuẫn, mọi tranh chấp, mọi đau khổ phiền lụy và tất cả mọi sự sỡ hãi thể xác và tinh thần của con người trên mặt đất. Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, chúng ta thấy QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT cũng đều được “những cõi nước mười phương gọi là Vị Thí Vô-Úy (Vị Ban Cho Sự KHÔNG SỢ HÃI) và được Văn Thù Sư Lỵ Pháp vương tử ca ngợi trong bài kệ: “được sức mạnh tự tại vĩ đại và ban bố Sự Không Sợ Hãi cho tất cả mọi chúng sinh”.
https://thuvienphatviet.com/pham-con...the-am-bo-tat/
https://www.vbeta.vn/phap-bao/kinh-d...am/1/325/10040
1.— Quan-âm vô-úy 觀 音 無 畏. Danh-hiệu này là do ở phẩm Phổ-môn trong kinh Pháp-hoa nói rằng: « Quan-thế-âm Đại Bồ-tát thường dùng phép bố-thí vô-úy để cứu chúng sinh trong cơn cấp-nạn sợ-hãi.
https://vi.wikisource.org/wiki/Ph%E1...1%BB%A5c/III-3
1. Vô-Úy Quán Âm: Hình tượng của Ngài rất đặc thù có 3 mắt 4 tay, ngồi trên lưng sư tử trắng, đội bảo quan. 2 tay bên Phải, 1 tay cầm hoa sen trắng, 1 tay cầm con chim cát tường trắng. 2 tay bên trái, 1 tay cầm pháp khí hình con phượng 3 đầu, 1 tay cầm con cá. Khắp thân có ánh sáng, mặc thiên y đeo anh lạc, diên mạo rất đoan nghiêm.
https://thuanduyen.com/sp/33-ung-hoa...EoR-en3R71hHvG
https://hieugiang.net/HinhPhatGiao/3...AmBoTat_01.php
Nam mô Vô-Úy Tạng - Quán Thế Âm Bồ-tát.
https://quanam.us/wp-content/uploads...00-10.30am.pdf
Thật đúng như lời nguyện của Bồ-tát Quán Âm khi xưa: “Nguyện khi con hành Bồ-tát đạo, nếu có chúng sinh nào bị các khổ não, sợ hãi… có nguy cơ thối thất Chánh pháp, đọa vào đường dữ, ưu sầu, một mình côi cút, không người cứu hộ, không áo, không nhà, bần cùng cơ cực… nếu chúng sinh ấy có thể nhớ nghĩ đến con, niệm danh-hiệu của con, vì chúng sinh ấy biết thiên-nhĩ của con có thể nghe thấy, thiên-nhãn của con có thể nhìn thấy, thì nếu chúng sinh ấy không thoát khỏi những khổ đau, ách nạn, con thề trọn không thành tựu Phật quả” (kinh Bi hoa).
https://giacngo.vn/bo-tat-thi-vo-uy-post45112.html
QUAN-THẾ-ÂM BỒ-TÁT
觀 世 音 菩 薩
Quan-thế-âm là một vị Đại Bồ-tát rất có lòng từ-bi hay cứu khổ cứu nạn, cho nên ở đâu đâu cũng thờ Ngài và tụng niệm đến danh-hiệu của Ngài. Ba chữ Quan-thế-âm 觀 世 音 có cái nghĩa rất sâu-sa, tỏ ra là trong thế-gian chỗ nào, lúc nào, cũng có tiếng kêu đau, kêu khổ, thật là đáng thương đáng xót. Nhờ có Phật và có Bồ-tát mở lòng từ-mẫn đem phép mầu-nhiệm mà cứu vớt chúng sinh, cho nên đạo Phật là đạo từ-bi bác-ái vô cùng.
Kinh Pháp-hoa nói rằng: Khổ não chúng sinh, nhất tâm xưng danh, Bồ-tát tức thì quan kỳ âm thanh, giai đắc giải-thoát. Dĩ thị danh Quan-thế-âm 苦 惱 衆 生 一 心 稱 名,菩 薩 即 時 觀 其 音 聲,皆 得 解 脫. 以 是 名 觀 世 音: Những chúng sinh bị khổ-não mà nhất tâm đọc đến tên Bồ-tát, tức thì Ngài xem âm thanh của chúng sinh mà độ cho được giải-thoát. Bởi thế gọi tên Ngài là Quan-thế-âm.
Đức Quan-thế-âm mà có cái danh-hiệu ấy là do một đức Phật đã thụ-ký cho Ngài, cho nên chính Ngài nói trong kinh Lăng-nghiêm rằng: « Về vô-số kiếp đời xưa có đức Phật ra đời hiệu là Quan-thế-âm Như-lai 觀 世 音 如 來. Ta đến trước Phật mà phát bồ-đề tâm. Phật dạy ta theo ba phép văn 聞, tư 思, tu 修, nghĩa là nghe lời giảng dạy, suy nghĩ về đạo lý và tu-hành mà vào tam-ma-đề (Samadhi). Phật khen ta chóng được viên-thông pháp-môn và tức thì ở ngay chỗ đại hội thụ-ký cho ta cái hiệu là Quan-thế-âm ». Như thế là Ngài được lấy cái danh-hiệu của bản-sư làm danh-hiệu của mình vậy.
Người đời thường gọi tắt là Quan-âm có người cho là về đời nhà Đường bên Tàu, người trong nước kiêng chữ thế 世, là tên vua Thái-tôn, cho nên mới bỏ chữ ấy đi, rồi sau thành quen.
Quan-thế-âm Bồ-tát còn có hiệu là Quan-tự-tại Bồ-tát 觀 自 在 菩 薩, lấy nghĩa chữ quan 觀 là khảo xét khắp trong thế-giới, và chữ tự tại 自 在, là bao giờ cũng tự kỷ thường tại để trừ sự khổ, ban sự vui cho chúng sinh. Quan-thế-âm Bồ-tát hay Quan-tự-tại Bồ-tát đều do nghĩa chữ phạm là Avalokitésvara Bodhisattva mà dịch ra. Tiếng phạm còn gọi Quan-thế-âm là Padmapâni, dịch nghĩa ra là Liên-hoa-thủ 蓮 花 手.
Bởi vì đức Quan-thế-âm có phép thần-thông quảng đại, thường hay biến hiện ra nhiều sắc-tướng để trừ sự khổ-não, cho nên trong kinh nhà Phật có nơi nói có sáu vị Quan-thế-âm, có nơi nói có bảy vị Quan-thế-âm, lại có nơi nói có ba-mươi-ba vị Quan-thế-âm. Nhưng thường thì chỉ xưng-hô một tiếng Quan-thế-âm, tức là gồm hết cả các vị Quan-thế-âm khác.
Trong các danh-hiệu và sắc-tướng của đức Quan-thế-âm, ta nên biết mấy danh-hiệu sau này:
1.— Quan-âm vô-úy 觀 音 無 畏. Danh-hiệu này là do ở phẩm Phổ-môn trong kinh Pháp-hoa nói rằng: « Quan-thế-âm Đại Bồ-tát thường dùng phép bố-thí vô-úy để cứu chúng sinh trong cơn cấp-nạn sợ-hãi.
2.— Nam-hải viên-thông giáo-chủ đại-từ đại-bi, tầm thanh cứu khổ linh-cảm Quan-thế-âm Bồ-tát 南 海 圓 通 教 主,大 慈 大 悲,尋 聲 救 苦,靈 感 觀 世 音 菩 薩. Nghĩa là đức Quan-thế-âm làm giáo-chủ đạo viên-thông ở miền Nam-hải, thường tìm tiếng kêu mà cứu khổ, rất cảm-ứng và rất thiêng-liêng. Bởi vì ngài tuy đã gần thành Phật, nhưng vì lòng thương-xót chúng sinh, muốn ở miền thế-gian để cứu khổ cứu nạn. Vậy nên trong kinh nói rằng ngài thường trụ ở miền Nam-hải.
https://iili.io/Kf3A9Lb.png
https://i.ibb.co/4n3DscN7/Phat-Luc-trang-55.png
Tượng đức Quan-âm có 32 tay
3.— Thiên-thủ thiên-nhỡn Quan-thế-âm Bồ-tát 千 手 千 眼 觀 世 音 菩 薩. Ngài có thần-thông quảng-đại, cứu-độ chúng-sinh, không đâu là Ngài không thấy, không việc gì là Ngài không làm được, cho nên Ngài có sắc-tướng là một vị có nghìn tay nghìn mắt.
4.— Chuẩn-đề Quan-âm 準 提 觀 音. Ngài là một ứng-thân trong sáu Quan-âm. Theo đúng trong sách thì tượng Ngài tạc có ba mắt và mười-tám tay, mình mặc áo sắc trắng vẽ hoa.
5.— Phật-bà Quan-âm. Xem trong các kinh-điển và những bức tranh vẽ của các nhà danh-họa từ đời Đường về trước, thì không đâu tỏ ra đức Quan-âm có tướng đàn-bà. Bởi vì Phật và Bồ-tát không có phân biệt nam tướng hay nữ tướng gì hết cả.
Thế mà ta thường nghe gọi là đức Phật-bà Quan-âm và lại thấy các tượng của Ngài hình-dung là người đàn-bà.
Nguyên về đời nhà Nguyên bên Tàu có tăng-nhân, tức là Đạo-tuyên luật-sư 道 宣 律 師 ở Nam-sơn làm ra một truyện nói rằng: « Luật sư thường hỏi thiên-thần về cái duyên khởi của đức Quan-thế-âm. Thiên-thần đáp lại rằng: Về kiếp quá-khứ có một người tên là Hoa-nghiêm, vợ là Báo-ứng, sinh ra được ba người con gái. Người chị cả tên là Diệu-Nhan 妙 顏, chị thứ tên là Diệu-Âm 妙 音, em thứ ba tên là Diệu-Thiện 妙 善. Diệu-Thiện đi tu đắc-đạo có tướng thiên-thủ thiên-nhỡn, tức là tượng của đức Quan-thế-âm. Về sau có nhà làm tiểu-thuyết nhân truyện ấy mà đặt ra một truyện nói vua Trang-vương nước Sở có ba người con gái, người con út tên là Diệu-Thiện đi tu thành Phật. Người Việt-nam ta cũng nhân truyện ấy mà làm ra truyện Phật-bà Quan-âm, nói rằng Ngài tu ở động Hương-tích, thành Phật, có thiên-thủ thiên-nhỡn. Bởi vậy ở trong truyện ấy có câu:
Rằng trong cõi nước Nam ta.
Bể Nam có đức Phật-bà Quan-âm.
Truyện ấy lưu truyền ra ở chỗ dân-gian, ai cũng cho đức Quan-âm là Phật-bà, và khi vào các chùa thấy pho tượng có nhiều tay nhiều mắt, thì người ta gọi là tượng Mụ-Thiện, hay tượng Phật-bà.
Lại xét trong các sách của người Tàu, có nhiều chuyện nói đức Quan-âm hiện ra hình-dung người đàn-bà đẹp để cứu-độ những người mắc phải tai-nạn hoặc để giáo-hóa người đời. Ngay như truyện Thị-Kính là truyện người đàn bà có tính nhẫn-nhục mà tu đắc-đạo, người ta cũng nói là đức Quan-âm hiện hình ra, cho nên ta vẫn gọi là đức Quan-âm Thị-Kính, và cũng có tượng để thờ ở trong chùa. Tượng đức Quan-âm Thị-Kính thường gọi là tượng Quan-âm tông-tử.
Bởi những chuyện như thế lưu truyền ở dân-gian, và lại có những nơi khuê-các, các bà thờ tượng đức Quan-âm làm thành nữ-thân, lâu dần người ta tin ngài là đàn-bà. Song xét kỹ ra, sự tin ấy không phải là sự sai lầm hẳn, là vì xem ở trong kinh Lăng-nghiêm có chỗ nói rằng: « Đức Quan-âm tu được cái thể viên-thông, trên hợp với cái diệu-tâm của chư Phật, dưới đồng với sự trông ngóng xót-thương của chúng-sinh, mà hiện ra ba-mươi hai sự ứng-hóa và làm mười-bốn phép bố-thí vô-úy để tế-độ chúng-sinh ». Vì thế có khi Ngài hiện ra làm Phạm-thiên-vương hoặc làm Đế-Thích; có khi Ngài hiện ra làm một vị Thiên-vương hoặc làm một vị Thiên-tướng; có khi Ngài hiện ra làm ông vua, hoặc làm ông quan; có khi Ngài hiện ra làm người trưởng-giả, hoặc người cư-sĩ, hoặc người tu-hành; có khi Ngài hiện ra làm vị sư-ni, hoặc làm người đàn-bà, hoặc người con gái vân vân. Ngài dùng đủ 32 phép ứng-hóa ấy để ở đâu và hạng người nào có sự khổ-não, thì Ngài theo hạng người ấy mà hiện ra ở đấy, hoặc để thuyết-pháp giảng đạo, hoặc để cứu vớt những người bị khổ-ách. Nếu vậy dù người ta có tin ngài là nữ-thân, thì cũng chỉ là một cái ảnh-tượng về cái hóa-thân của Ngài mà thôi. Và trong kinh Đình-thủy 停 水 經 nói rằng: đức Quan-âm có năm trăm hóa-thân, vậy thì dù Ngài có là nữ-thân nữa, cũng không phải là một hóa-thân nhất định của Ngài.
Xét về những công-đức và sự-trạng của đức Quan-thế-âm Bồ-tát ở trong Phật-giáo, thì phái Đại-thặng có thuyết nói rằng: đức Quan-thế-âm là do đức Phật A-di-đà phát hiện ra để trông coi sự sinh-hóa của thế-gian hiện-tại bây giờ; có thuyết thì nói rằng: đức Quan-thế-âm là một vị Bồ-tát hiện ra sau khi đức Thích-ca-mầu-ni Phật đã vào nát-bàn rồi, để hộ-trì Phật pháp, cho đến khi đức Di-lặc giáng thế thành Phật. Nhất là ở bên Tây-tạng, người ta cho là Ngài hóa thân làm Đạt-lại La-ma 達 賴 喇 嘛 (Dalai Lama) tức là vị Phật-sống ở xứ ấy. Mỗi khi vị Đạt-lại La-ma mất, thì Ngài lại hiện vào một đứa trẻ, để dân Tây-tạng tìm mà rước về tôn lên làm Đạt-lại La-ma khác. Hiện nay tục ấy hãy còn.
Câu thần-chú rất linh-diệu của Quan-thế-âm Bồ-tát là: Úm ma-ni bát-mê hùm! 唵 嚤 呢 叭 𡁠 吽 (Om mani padmê hùm).
Nay ở các chùa thờ Di-đà tam-tôn, để tượng đức A-di-đà ở giữa, tượng đức Quan-thế-âm bên tả, và tượng đức Đại-thế-chí bên hữu, và người ta vẫn tin theo cái thuyết đã nói ở trong kinh Bi-hoa, cho đức Phật A-di-đà là vua Vô-tránh-niệm, mà đức Quan-thế-âm Bồ-tát là người con trưởng và đức Đại-thế-chí là người con thứ của vua. Song đạo pháp của Phật vô-thượng vô-biên, ta không thể lấy cái trí thấp hèn mà suy lượng cho hết các ý nghĩa được. Ta chỉ biết rằng đức Quan-thế-âm là một bậc đại Bồ-tát đã tu gần thành Phật, có thần-thông rất lớn, thế mà chỉ vì trông thấy chúng sinh đau-đớn khổ-sở ở chỗ trần gian, đem lòng đại-từ đại-bi, phát lời thệ-nguyện cứu cho hết mọi loài, rồi mới thành Phật. Ngài nói rằng; « Hễ ở đâu có con ruồi con muỗi phải đau khổ là có ta ở đó ». Mấy lời từ-ái chứa-chan ấy, thật là chứng rõ đạo Phật là đạo từ-bi bác-ái vô-cùng vậy.
https://vi.wikisource.org/wiki/Ph%E1...1%BB%A5c/III-3
Quan Thế Âm Bồ Tát
觀世音菩薩
Quan: Nhìn xem, hình tượng đã xem, ý thức.
Thế: đời.
Âm: tiếng nói, âm thanh.
Quan Thế Âm Bồ Tát là một vị Bồ Tát nhận biết được tiếng kêu cứu của chúng sanh nơi cõi trần, Ngài liền hiện đến để cứu khổ cứu nạn cho chúng sanh.
Do đó, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát còn được gọi là: Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Từ Đại Bi Quảng Đại Linh Quan Thế Âm Bồ Tát, hay gọi vắt tắt là: Quan Âm Bồ Tát hay Quan Âm Như Lai.
Ngài là một vị Nữ Phật, nhưng còn mang danh hiệu Bồ Tát là vì Ngài còn nhiệm vụ cứu độ chúng sanh.
Phật giáo Tây Tạng gọi Ngài là Quán Thế Âm Phật, là vị Phật Nam, hộ trợ xứ Tây Tạng. Người Tây Tạng đều tin rằng, chính Ngài chuyển hóa vào thân Đức vua Đạt-Lai-Lạt-Ma cai trị xứ Tây Tạng, nên dân Tây Tạng xem Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma là vị Phật sống của họ.
Đức Quan Thế Âm Bồ Tát có một hiện thân gồm 11 cái mặt, 1000 cánh tay, 1000 con mắt, có 108 hồng danh. Ngài ngự tại Đền Potala nơi kinh đô xứ Lhassa, Tây Tạng.
Ở Trung Hoa và Việt nam, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là vị Nữ Phật do hai truyện tích: Quan Âm Thị Kính và Quan Âm Diệu Thiện.
Bất cứ hạng người nào trong chúng sanh, khi bị lâm nguy tánh mạng, như gặp phải tai nạn lửa cháy, tai nạn chìm tàu, bị cướp hãm hại, bị tra khảo, tù đày oan ức, v.v.... nếu thành tâm niệm danh hiệu của Ngài để cầu cứu thì Ngài liền hiện đến mà cứu giúp cho tai qua nạn khỏi.
Trong Đạo Cao Đài, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là vị Nữ Phật, đại diện Đức Phật Thích Ca, lãnh lịnh Đức Chí Tôn làm Đệ Nhị Trấn Oai Nghiêm, cầm quyền Phật giáo thời Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.
Trên tấm diềm phía trước Bát Quái Đài Tòa Thánh, tượng của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ngự trên tòa sen, gần bìa phía tay mặt của Đức Lão Tử, thuộc bên Nữ phái.
Nơi Thánh Tượng Thiên Nhãn thờ tại tư gia, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ngự trên tòa sen, hình Ngài ở phía mặt của Thiên Nhãn, dưới hình Đức Thái Thượng Lão Quân.
Trong LUẬT TAM THỂ, Bát Nương có giáng cơ dạy rằng:
"Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu Tiên Nương trông nom về Cơ Giáo hóa cho vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật trông nom về Cơ Phổ độ mà Quan Thế Âm Bồ Tát là Đấng cầm đầu.
Quan Thế Âm Bồ Tát ngự tại Cung Nam Hải, ở An Nhàn Động, còn Cung Diêu Trì thì ở tại Tạo Hóa Thiên."
Trong Truyện Tây Du Ký, hình ảnh của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát được mô tả như sau:
Bốn đức tròn viên mãn,
Thân vàng tỏa sáng thông,
Chuỗi ngọc biếc rủ cạnh,
Vòng thơm đeo bên mình.
Tóc mây uốn đen lánh,
Đài thêu thắt ngang lưng,
Bào trắng khuy ngọc bích,
Mây lành che quẩn quanh.
Quần gấm dây vàng óng,
Khí đẹp phủ quanh thân,
Lông mày vầng trăng khuyết,
Mắt vì sao long lanh.
Mặt ngọc tươi roi rói,
Môi đỏ thắm tuyệt trần,
Bình Cam lồ đầy ắp,
Cắm cành dương liễu xanh,
Độ chúng sanh thoát nạn,
Rất từ bi hiền lành.
Vậy nên:
Giữ núi Thái sơn,
Coi miền Nam hải,
Độ người khổ ải,
Nghìn Thánh nghìn thiêng,
Muôn kêu muôn ứng.
Lòng lan vui khóm trúc,
Tánh huệ quí mây thơm.
Đó là vị Chúa Từ bi ở Phổ Đà Sơn,
Chính là Đức Quan Âm nơi An Nhàn Động.
Theo các kinh sách truyền lại, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát có 33 kiếp giáng trần, khi thì làm nam nhi, khi thì làm thiếu nữ, khi thì giáng sanh vào nơi cao sang quyền quí, khi thì vào nơi bần cùng nghèo khổ, khi thì làm Đạo sĩ, khi thì làm Tỳ Kheo, v.v....
Có hai kiếp giáng trần làm phụ nữ của Ngài được người đời truyền tụng:
- Đó là kiếp thứ 10: Ngài giáng trần làm nàng Thị Kính ở nước Cao Ly, tu hành đắc đạo, gọi là Quan Âm Thị Kính.
- Kiếp giáng trần sau chót ở nước Ấn Độ là Công Chúa Diệu Thiện, cũng tu hành đắc đạo tại Phổ Đà Sơn ở Nam Hải, nên gọi là Quan Âm Diệu Thiện.
Sau đây xin chép lại hai sự tích nổi tiếng nầy:
Sự tích 1: QUAN ÂM THỊ KÍNH
Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đã đầu thai xuống trần tu hành được 9 kiếp rồi, đến kiếp thứ 10, Ngài giáng sanh vào nhà họ Mãng ở nước Cao Ly (Triều Tiên). Hai ông bà họ Mãng đã lớn tuổi rồi, nhà lại giàu có, nhưng chưa có con.
Ngày kia, hai vợ chồng lên chùa cầu tự, sau đó có thai và sanh được một gái, dung nghi đẹp đẽ, tướng mạo đoan trang, đặt tên là Thị Kính.
Khi nàng Thị Kính đến tuổi cặp kê, gần đó có chàng Thiện Sĩ, con nhà họ Sùng, cậy mai mối đến hỏi cưới Thị Kính. Vợ chồng Mãng Ông thấy phải đôi vừa lứa nên bằng lòng gả Thị Kính cho Thiện Sĩ.
Nàng Thị Kính rất buồn bã vì phải về ở nơi nhà chồng, không ai săn sóc cha mẹ. Cha mẹ nàng an ủi: Cha mẹ sanh con gái đến tuổi khôn lớn gả chồng, làm đẹp mày đẹp mặt cho cha mẹ là đủ rồi. Vả lại, nhà bên chồng của con cũng ở gần đây thì sự thăm viếng cũng thuận tiện.
Từ khi về nhà chồng, Thị Kính giữ một mực tôn kính, phụng sự nhà chồng, trong ấm ngoài êm, ai nấy đều khen ngợi.
Một ngày kia, nàng đang ngồi may vá, chàng Thiện Sĩ đọc sách mỏi mệt, đến gần chỗ nàng ngồi may nằm nghỉ và ngủ quên. Nàng thấy nơi càm chồng có mọc sợi râu bất lợi, nên sẵn cầm dao nhíp nơi tay, nàng đưa dao cắt đứt.
Bỗng chàng Thiện Sĩ giựt mình thức dậy, thấy vợ đang cầm dao đưa ngay vào cổ mình, vụt la hoảng: Vợ tôi muốn giết tôi.
Trong nhà vỡ lỡ, cha mẹ chồng chạy ra gạn hỏi, nàng cứ tình thiệt trình bày. Không ngờ cha mẹ chồng quá nghiêm khắc, bắt tội nàng mưu giết chồng, buộc Thiện Sĩ phải làm tờ thôi vợ, rồi cho mời Mãng Ông tới để lãnh con gái về.
Nàng Thị Kính phải mang mối hàm oan, đành lạy từ cha mẹ chồng, theo Mãng Ông trở về nhà. Nàng buồn bã muôn phần, một là buồn cho số phận xui xẻo, hai là buồn cho cha mẹ phải mang điều phiền não.
Nàng than rằng: Nếu nàng có anh em đông thì nàng đành quyên sinh để khỏi mang tiếng nhơ như thế.
Nhưng vì nàng là con một, nên nàng không dám hủy mình, sợ mang tội bất hiếu, mà ở như thế nầy thì cũng rất khổ tâm, cho nên nàng quyết định xuất gia, lo tu hành cho đắc đạo, rồi sẽ trở về độ cha mẹ.
Nàng lén cải trang thành một nam tử, rồi bỏ nhà trốn đi, đến một ngôi chùa nọ thì gặp Sư cụ đang thuyết pháp. Nàng thấy Sư cụ là bực chơn tu, nên xin Sư cụ cho thọ pháp qui y.
Sư cụ gạn hỏi nhiều lần, vì Sư cụ thấy trang thiếu niên nầy còn trẻ quá mà sao lòng chán đời, đến nương nhờ cửa Phật, gột rửa lòng phàm. Sư cụ thấy lòng thành và chí quả quyết của người thiếu niên, nên cho thọ pháp qui y, đặt Pháp danh là Kỉnh Tâm, và nhận Kỉnh Tâm làm đệ tử.
Sãi Kỉnh Tâm là gái giả trai, nên dung mạo đẹp đẽ, làm cho hàng tín nữ trầm trồ, nhứt là nàng Thị Mầu, con của một vị trưởng giả giàu có ở vùng ấy. Thị Mầu nhiều lần trêu ghẹo Sãi Kỉnh Tâm, đưa lời ong bướm, nhưng Kỉnh Tâm vẫn trơ trơ như không hay biết.
Thị Mầu quá si mê Kỉnh Tâm, trong một lúc quá bồng bột, không kềm giữ được lòng dục, nàng tư thông với đứa tớ trai của nàng, khiến nàng có thai.
Làng xã thấy nàng Thị Mầu không chồng mà có chửa, nên gọi nàng và cha mẹ nàng đến tra hỏi. Nàng khai rằng, nàng có tư tình với Sãi Kỉnh Tâm nên mới ra cớ sự, và xin làng rộng tình cho Kỉnh Tâm hoàn tục kết duyên với nàng.
Trống mõ inh ỏi, cửa Thiền xưa nay êm lặng, phút chốc trở nên huyên náo, người làng đến đòi Sư Ông và Sãi Kỉnh Tâm ra làng dạy việc. Thầy trò không biết việc gì, cùng dắt nhau đi, đến nơi mới hay tự sự.
Tá hỏa tâm thần, thầy hỏi trò có sao cứ khai thiệt. Kỉnh Tâm một mực kêu oan, chớ không dám nói điều chi khác nữa.
Kỉnh Tâm bị làng đem ra tra tấn, đòn bộng, máu đổ thịt rơi, mấy lần bất tỉnh, nhưng Kỉnh Tâm vẫn một mực kêu oan. Sư Cụ động mối từ tâm, đứng ra xin bảo lãnh cho trò để đem về khuyên nhủ dạy răn.
Thấy thế, Hương chức làng cũng niệm tình ưng thuận.
Sau đó Sư Cụ bảo Kỉnh Tâm phải ra ngoài cổng Tam quan của chùa mà ở để tránh tiếng không tốt cho chùa.
Thời gian trôi qua, Thị Mầu sanh được một đứa con trai, nàng liền bồng đứa hài nhi đến cổng chùa giao cho Sãi Kỉnh Tâm, nói rằng: Con của ngươi thì đem trả cho ngươi.
Sãi Kỉnh Tâm đang tụng kinh, đứa hài nhi bị bỏ dưới đất, giãy giụa khóc la. KỉnhTâm nghe tiếng trẻ khóc, động mối từ tâm, chẳng cần dư luận, bèn ra ẵm đứa bé đem vào nuôi dưỡng.
Sư Cụ trách Kỉnh Tâm: Trước kia, con nói con bị hàm oan, mà nay con lại nuôi đứa bé nầy, chính thầy đây cũng phải nghi ngờ nữa, huống chi là ai.
Kỉnh Tâm bạch rằng: Bạch Sư phụ, khi xưa Sư phụ có dạy đệ tử rằng, cứu đặng một người thì phước đức hà sa. Đệ tử vâng theo lời thầy nên mới cứu mạng đứa bé nầy, chớ kỳ thật con không có ý chi hết.
Đứa trẻ càng lớn càng giống Kỉnh Tâm như hệt, lại có vẻ thông minh.
Khi đứa bé được 3 tuổi thì Kỉnh Tâm lâm trọng bịnh, biết mình sắp lìa trần theo Phật, nên Kỉnh Tâm ráng ngồi dậy viết hai bức thơ: một gởi cho Sư Cụ, hai gởi cha mẹ ruột, ông bà họ Mãng, rồi dặn kỹ hài nhi làm đúng theo lời dặn.
Khi Sãi Kỉnh Tâm tắt hơi, đứa bé kêu cha khóc lóc một hồi, rồi nhớ lời cha dặn, liền đem thư vào đưa cho Sư Cụ .
Sư Cụ mở thư ra, xem xong trong lòng rất bùi ngùi thương tiếc, sai vài vị Ni cô ra khám xét thi thể của Kỉnh Tâm, thì rõ ràng Kỉnh Tâm là gái giả trai.
Tin Sãi Kỉnh Tâm là gái giả trai được truyền đi mau lẹ trong làng, làm mọi người hết sức ngạc nhiên.
Hương Chức trong làng đòi Thị Mầu tới, buộc tội cáo gian, phạt phải chịu tổn phí về các cuộc tống táng và làm ma chay cho Kỉnh Tâm.
Thị Mầu quá xấu hổ, bèn liều mình quyên sinh.
Đến ngày an táng Sãi Kỉnh Tâm, tức là nàng Thị Kính, mọi người đều nhìn thấy Đức Phật ngự tòa sen hiện ra ở trên mây, rước hồn của nàng Thị Kính về cõi Tây phương.
Chàng Thiện Sĩ rất ăn năn hối lỗi, nên phát nguyện tu hành.
Tục truyền rằng, Đức Quan Âm Bồ Tát nhận thấy chàng Thiện Sĩ thật tâm hối lỗi và quyết chí tu hành, nên hiện đến cứu độ, đem về Nam Hải, hóa thành một con chim đậu một bên Đức Quan Âm Bồ Tát, mỏ ngậm xâu chuỗi bồ đề.
Quan Âm Bồ Tát cũng cứu độ đứa con nuôi, con ruột của Thị Mầu, đem về Nam Hải, đứng hầu bên Ngài.
Do đó, người ta họa hình Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đội mũ ni xanh, mặc áo tràng trắng, ngự trên tòa sen, bên tay mặt có con chim mỏ ngậm xâu chuỗi bồ đề, bên dưới có đứa trẻ bận khôi giáp chấp tay đứng hầu.
Đó là lấy theo sự tích Quan Âm Thị Kính.
Sự tích 2: QUAN ÂM DIỆU THIỆN hay QUAN ÂM NAM HẢI
Theo sự khảo cứu của học giả De Groot, người Hòa Lan, kiếp chót của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là Công Chúa Diệu Thiện, con của vua Linh Ưu nước Hưng Lâm, một Tiểu quốc của Ấn Độ, ở về phía Đông Ấn Độ.
Từ ngày nhà vua lên ngôi đến nay đã 40 năm mà Hoàng Hậu Bửu Đức không hạ sanh được một vị Hoàng tử nào. Nhà vua cùng Hoàng Hậu đi lên núi Huê sơn cầu tự. Trên núi Huê sơn có một vị Thần rất linh hiển, ai cầu chi được nấy.
Cầu tự xong, ít lâu sau, Hoàng hậu có thai, sanh đặng một Công Chúa, đặt tên là Diệu Thanh. Sau đó lại tiếp tục có thai sanh thêm hai nàng Công Chúa nữa là: Diệu Âm và Diệu Thiện; không sanh được một Hoàng Tử nào.
Ba nàng Công Chúa lớn lên, nhà vua định hôn cho hai chị của Diệu Thiện là Diệu Thanh và Diệu Âm, với hai vị quan trẻ tuổi và tài giỏi trong triều đình; còn nàng con gái út Diệu Thiện thì nhứt định không chịu lấy chồng, mà lại còn có ý xin phép vua cha và mẫu hậu xuất gia tu hành.
Vua Linh Ưu tức giận, đày Diệu Thiện vào trong Hoa Viên lo việc gánh nước tưới hoa, làm các công việc cực khổ; đồng thời cho người khuyến dụ nàng bỏ ý định đi tu, nhưng nàng nhứt định cam chịu khổ chớ không từ bỏ ý định tu hành.
Thấy vậy, Hoàng Hậu rất đau lòng, liền xin với vua Linh Ưu cho Diệu Thiện vào chùa Bạch Tước tu hành.
Nhà vua chấp thuận, và ngầm ra lịnh cho các tăng ni trong chùa bắt Diệu Thiện làm các công việc nặng nhọc vất vả, để nàng không chịu nổi mà sớm trở về Cung nội.
Diệu Thiện, tâm vẫn cương quyết, làm đầy đủ các bổn phận, dầu rất cực khổ, nhưng không một tiếng than, và luôn luôn lo việc tu hành.
Nhà vua thấy cách nầy thất bại, nên nghĩ ra cách sai lính đốt chùa, để Diệu Thiện không còn nơi tu hành, phải trở về Cung nội.
Quân lính phóng hỏa khắp bốn mặt, các tăng ni hốt hoảng lo chạy thoát thân, riêng Diệu Thiện vẫn điềm tỉnh, nàng lâm râm cầu nguyện, rồi lấy cây trâm chích vào lưỡi, ngước mặt phun máu lên không, tức thì mây đen hiện ra, mưa tuôn xối xả, dập tắt hết các ngọn lửa. Quân lính đều hết sức kinh ngạc.
Nhà vua không vì sự mầu nhiệm đó mà hối hận, lại bắt Diệu Thiện về triều, tổ chức các cuộc đàn hát vui chơi, để làm cho Diệu Thiện say mê, bỏ việc tu hành. Nhưng vua cha vẫn thất bại bởi Đạo tâm vững chắc của nàng con gái út.
Nhà vua quá tức giận vì không thực hiện được ý mình, nên ra lịnh tối hậu cho nàng Diệu Thiện chọn một trong hai điều: một là phế việc tu hành, lo bề gia thất; hai là chịu xử trảm vì cãi lịnh vua cha.
Nàng Diệu Thiện nhứt quyết chịu chết chớ không chịu bỏ việc tu hành.
Thần Hoàng Bổn Cảnh vội vã bay về Trời tâu trình Thượng Đế, và Đức Thượng Đế ra lịnh cho Thần mau trở về bảo hộ nàng Diệu Thiện.
Diệu Thiện bị đưa ra pháp trường hành quyết. Khi đao phủ đưa đao lên định chém xuống thì đao liền gãy nát; lại lấy cung tên đặng bắn cho chết thì khi mũi tên gần tới Diệu Thiện thì mũi tên bị gãy nát.
Thấy không giết được Diệu Thiện bằng hai cách trên, kẻ hành quyết liền dùng hai bàn tay đến siết cổ Diệu Thiện.
Bỗng đâu cuồng phong nổi lên, cát bay đá chạy, thiên ám địa hôn, một đạo hào quang bay đến bao phủ nàng Diệu Thiện, rồi Thần Hoàng hóa thành một con hổ lớn cõng Công Chúa Diệu Thiện chạy bay vào rừng. Các quan giám sát cuộc hành quyết bị một phen hoảng vía, trở về triều báo cáo lại với vua Linh Ưu tất cả các việc.
Nhà vua không chút nao núng phán rằng: Công Chúa mang tội bất hiếu nên bị cọp tha mất xác cho đáng kiếp.
Công Chúa Diệu Thiện bất tỉnh, hồn Công Chúa thấy một vị Sứ giả mặc áo xanh, tay cầm tờ giấy nói rằng: Diêm Vương mời nàng xuống Diêm Cung để xem các cảnh khổ não và những hình phạt nặng nề những linh hồn mà trong kiếp sanh đã làm nhiều điều ác độc.
Thập Điện Diêm Vương cũng muốn nghe nàng thuyết pháp. Công Chúa vâng lịnh, dùng tâm từ bi và sức thần thông thuyết pháp cho 10 vua nghe, các tội hồn trong ngục cũng được nghe và liền giác ngộ. Trong phút chốc, chốn U Minh thành Lạc Cảnh, và các tội hồn đều được thoát ra khỏi ngục, đầu kiếp trở lại cõi trần.
Thấy các cửa ngục đều trống trơn, Thập Điện Diêm Vương vội đưa hồn Diệu Thiện trở lại dương thế và cho nhập vào xác. Nàng tỉnh dậy, thấy mình đang nằm giữa rừng vắng vẻ, không biết phải làm sao và đi phương nào.
Đức Phật Nhiên Đăng hiện ra trên mây, bảo nàng hãy đi ra biển Nam Hải, đến núi Phổ Đà, tu hành thêm một thời gian nữa thì sẽ đắc đạo, đạt vị Như Lai. Muốn đi đến đó, phải trải qua 3000 dặm đường.
Đức Phật Nhiên Đăng lại tặng cho nàng một trái Đào Tiên, ăn vào không biết đói khát trọn năm mà còn được trường sanh bất lão.
Nàng Diệu Thiện nhận lãnh và bái tạ Đức Phật, đoạn nàng tìm đường đi đến Nam Hải. Thái Bạch Kim Tinh hiện xuống, truyền cho Thần Hoàng biến ra Thần hổ, cõng Diệu Thiện đến Phổ Đà Sơn cho mau lẹ.
Tại Phổ Đà Sơn, nàng Diệu Thiện tu thiền định trong 9 năm, đạo pháp đạt được cao siêu.
Ngày 19 tháng 2 năm ấy, là ngày thành đạo của Công Chúa Diệu Thiện. Chư Thần,Thánh,Tiên, Phật, đến chúc mừng và xưng tụng vị Bồ Tát mới đắc đạo. Công Chúa ngự trên tòa sen, hào quang sáng lòa, xưng là Quan Thế Âm Bồ Tát.
Lúc ấy chư Thánh muốn lựa một đồng tử để theo hầu Ngài, thì may đâu lúc đó có một vị tên là Hoàn Thiện Tài, mồ côi cha mẹ, phát nguyện tu hành, qui y Phật pháp, nhưng chưa chứng quả, nay nghe nơi Phổ Đà Sơn có một vị Bồ Tát mới đắc đạo, nên xin đến hầu Ngài.
Trước khi chấp thuận lời thỉnh cầu ấy, Đức Quan Âm muốn thử xem tâm chí của Thiện Tài ra sao. Ngài truyền cho Sơn Thần Thổ Địa hóa làm ăn cướp đến bắt Ngài, Ngài giả bộ sợ sệt kêu la cầu cứu và ngã té xuống hố sâu.
Thiện Tài chạy đến cứu thầy, và nhảy theo xuống hố. Thiện Tài thiệt mạng, chơn hồn liền xuất ra khỏi xác, đến hầu Đức Quan Thế Âm Bồ Tát và được thâu làm đệ tử.
Về sau, Đức Quan Âm Bồ Tát thâu thêm Long Nữ, con gái của Đệ Tam Thái Tử của Long Vương Nam Hải, làm đệ tử.
Nguyên ngày kia, Long Nữ hóa làm con cá đi dạo chơi trên mặt biển, chẳng may bị một ông chài bắt được. Ông đem cá ấy ra chợ bán. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát biết được, sai Thiện Tài đồng tử hóa ra một người thường, đi ra chợ hỏi mua con cá ấy, rồi đem ra biển Nam thả xuống.
Nam Hải Long Vương nhớ ơn cứu tử cháu nội của mình, nên dạy Long Nữ đem một cục ngọc quí Dạ Minh Châu đến dâng Bồ Tát để Bồ Tát đọc sách ban đêm mà không cần đèn.
Long Nữ đến dâng ngọc xong, lòng hết sức cảm phục Bồ Tát, nên xin qui y và được Bồ Tát thâu làm đệ tử.
Từ ấy, Thiện Tài đồng Tử và Long Nữ luôn luôn theo bên cạnh để lo phụng sự Bồ Tát.
Nhắc lại, từ khi vua Linh Ưu ra lịnh giết chết Diệu Thiện, và Diệu Thiện được Thần Hoàng cứu thoát, nhà vua mắc một chứng bịnh nan y vô cùng khổ sở, thân thể nhà vua bị lở loét ngoài da cùng mình, mùi hôi thối xông ra nồng nặc, nhức nhối đau đớn vô cùng. Nhiều danh y tới điều trị mà bịnh vẫn không thuyên giảm chút nào.
Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ở Nam Hải hay biết việc đó, nên Ngài hóa ra một vị sư già, đi đến kinh thành xin vào trị bịnh cho vua Linh Ưu.
Sau khi xem mạch vua, vị sư già tâu: Bịnh của Bệ hạ do oan nghiệt nhập với chất độc cao lương mỹ vị và tửu nhục hằng ngày, nên phát sanh ra ngoài da thành bịnh nan y. Nếu muốn chữa lành thì phải có đôi mắt và đôi cánh tay của một người con thì mới chế thuốc được.
Nghe vậy, nhà vua cho đòi hai Công chúa Diệu Thanh, Diệu Âm và hai Phò mã đến, rồi nhà vua lập lại lời nói của vị sư già, hỏi xem có đứa con nào dám hy sinh để trị bịnh cho vua cha không?
Hai Công chúa cùng tâu: Xin Phụ vương đừng nghe lời ông sãi mầm nầy, bởi vì một người bị khoét đôi mắt và bị chặt hết hai tay thì dù có sống cũng chẳng ra chi. Chẳng lẽ cứu bịnh một người mà lại hủy hoại một người khác hay sao?
Vua Linh Ưu chợt nhớ tới Công chúa út là Diệu Thiện, liền than: Nếu Diệu Thiện còn sống thì Trẫm ắt lành bịnh, vì Diệu Thiện sẽ hy sinh cho Trẫm.
Vị Sư già liền tâu: Tâu Bệ hạ, Bần tăng biết rõ Công chúa Diệu Thiện hiện vẫn còn sống, ở tại núi Phổ Đà, biển Nam Hải.
Xin Bệ hạ cho người đi đến đó, tìm Công chúa thì may ra chế được thuốc cho nhà vua. Bần tăng xin để thuốc lại đây, khi nào có đôi mắt và đôi tay của Diệu Thiện đem về thì nhập với thuốc nầy, nấu chung lại, rồi trong uống, ngoài thoa, bịnh của Bệ hạ sẽ hết ngay.
Vị Sư già nói xong thì từ giã nhà vua trở về núi.
Vua Linh Ưu rất mừng, liền cho sứ giả sắp đặt hành trang lên đường đi Nam Hải, tìm Công chúa Diệu Thiện. Khi sứ giả đến được Phổ Đà Sơn thì gặp một đồng tử bưng ra một cái mâm phủ vải trắng còn thấm máu tươi, trong đó có đôi mắt và đôi tay của Diệu Thiện, đem ra trao cho sứ giả và nói:
Đây là đôi mắt và hai cánh tay của Công chúa Diệu Thiện, sứ giả hãy mau đem về chế thuốc trị bịnh cho vua.
Hoàng Hậu khi nhìn thấy sứ giả đem đôi mắt và đôi tay của Diệu Thiện về, còn dính máu tươi thì òa lên khóc mướt.
Thị vệ liền đem nấu với thuốc do vị Sư già để lại, cho nhà vua uống phân nữa, còn phân nữa để thoa lên khắp mình mẩy, phút chốc, thân thể nhà vua lành lặn như xưa, hết đau nhức, mà lại còn cảm thấy khỏe khoắn hơn trước.
Vua Linh Ưu và Hoàng Hậu cảm mến ơn nghĩa của Diệu Thiện, nên quyết định đi ra Phổ Đà Sơn một chuyến để tạ ơn. Xa giá đăng trình, gặp không biết bao nhiêu nguy hiểm, nhưng đều được Quan Âm Bồ Tát dùng thần thông cứu khỏi.
Đến nơi, vua Linh Ưu và Hoàng Hậu thấy một vị Bồ Tát đang ngự trên tòa sen, nhưng mất cả hai cánh tay và hai con mắt.
Vua biết đó là Công chúa Diệu Thiện, con của mình, nên vô cùng xúc động, nhớ lại mà ăn năn sám hối lỗi lầm, rồi đồng quì xuống cầu nguyện cùng Trời Phật xin cho Công chúa được lành lặn như xưa.
Sự thành tâm cầu nguyện của vua và Hoàng Hậu có kết quả, Bồ Tát Diệu Thiện liền hiện hào quang với đầy đủ hai tay và hai mắt như lúc trước.
Lúc ấy, vua và Hoàng Hậu đều giác ngộ, quyết rời bỏ điện ngọc ngai vàng, đem mình vào chốn Thiền môn, lo tu hành cầu giải thoát.
Nguyên căn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát:
Đức Chí Tôn giáng cơ cho biết, nguyên căn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là do Đức Từ Hàng Bồ Tát biến thân.
Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 31: "Người ta gọi Quan Âm là Nữ Phật Tông, mà Quan Âm vốn là Từ Hàng Đạo Nhơn biến thân. Từ Hàng lại sanh ra lúc Phong Thần đời nhà Thương." (Nhà Thương bên Tàu khởi đầu từ năm 1766 và dứt vào năm 1122 trước TL).
Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo nhân ngày Vía Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, tại Đền Thánh, thời Tý ngày 19-2-Kỷ Sửu (1949), cũng có nói như sau:
"Hôm nay là ngày vía của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, Bần đạo đã thường nói, nơi cửa Thiêng liêng Hằng sống, Đức Quan Âm Bồ Tát là một Đấng ở trong gia tộc sang trọng và oai quyền hơn hết.
Cái nguyên căn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là do nơi pháp thân của Từ Hàng sản xuất....."
Do đó, trong Kinh Đệ Bát Cửu có câu:
Cung Tận Thức thần thông biến hóa,
Phổ Đà Sơn giải quả Từ Hàng.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, Đức Từ Hàng Bồ Tát chiết chơn linh giáng trần, tu hành nhiều kiếp, cuối cùng đắc đạo tại Phổ Đà Sơn, hiệu là Quan Thế Âm Bồ Tát.
Trong con đường Thiêng Liêng Hằng Sống, Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo cho biết, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát vâng lịnh Đức Phật Vương Di-Lạc "chèo thuyền Bát Nhã Ngân hà độ sanh."
"Bần đạo chỉ nói nơi xa xăm của chúng ta đi qua, chúng ta thấy hình trạng Bát Quái Đài, dưới chân có Thất Đầu Xà, và dưới mình của Thất Đầu Xà là Khổ hải, tức là cảnh trần của chúng ta đó vậy.
Bên kia, có liên tiếp mật thiết vô một nẻo sông Ngân hà, rồi Bần đạo chỉ cho hiểu rằng, từ Khổ hải về cảnh Thiêng liêng Hằng sống phải đi ngang qua Ngân hà, có một chiếc Thuyền Bát Nhã của Đức Quan Âm Bồ Tát, vâng lịnh Đức Di-Lạc Vương Phật, chèo qua lại sông Ngân hà và Khổ hải đặng độ sanh thiên hạ."
Hội Thánh của Đạo Cao Đài chọn ngày 19 tháng 2 âm lịch là ngày thành đạo của Công Chúa Diệu Thiện làm ngày Vía Kỷ niệm Đức Quan Thế Âm Bồ Tát.
Hằng năm, khi đến ngày nầy, tại Tòa Thánh và các Thánh Thất địa phương đều thiết lễ Đại Đàn cúng Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, có Chức sắc thuyết đạo nhắc lại công đức và nhiệm vụ của Ngài trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
KINH CỨU KHỔ là bài kinh đặc biệt cầu nguyện Đức Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn chúng sanh.
Đức Quan Thế Âm Bồ Tát có giáng cơ ban cho hai bài Kinh Thiên đạo là:
Kinh Hạ Huyệt
Kinh Khai Cửu, Đại Tường và Tiểu Tường.
Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, có đăng nhiều bài Thánh giáo của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát.
Mặt khác, trong Kinh Tam Nguơn Giác Thế, cũng có một bài Thánh giáo của Ngài, xin trích ra sau đây:
Đêm mùng 2 tháng 11 năm Tân Mùi (1931).
THI:
Nhựt hoành nhị thập kiến giai thì,
Lục nhựt đạo thành hiệp nhứt chi.
Thứ kỷ thương nhơn tâm bất tại,
Nhị nhơn thê mộc diệt nguyên qui.
Giải rõ thi chiết tự:
Nghe ta giải, khá chép mỗi hàng là 12 chữ:
Hai mươi, chữ Nhựt, chữ Giai hiệp chữ Kiến là chữ: QUAN 觀
Chữ Lục hiệp với chữ Nhứt và chữ Nhựt là chữ: ÂM 音
Chữ Thứ mà bỏ bớt chữ Tâm còn lại chữ: NHƯ 如
Chữ Mộc mà thêm vô 2 chữ Nhơn gọi là chữ: LAI 來
DIỄN DỤ:
Phàm làm người ở thế gian, một kiếp phù sanh, nghĩ lại chẳng bao lâu, tuy số định trăm năm chớ ít người bảy chục, còn e hai nẻo rủi may: Đường may là người nhờ kiếp làm quan trung quân ái quốc, giữ tánh thanh liêm, dạy dân lễ nghĩa, hồi đầu tỉnh ngộ lo tu, đời sau hưởng phước;
Còn gặp đường rủi là: làm quan chẳng dạ ngay vua, mạnh thế lộng quyền, hữu hoài soán nghịch chi tâm, chẳng giữ thanh liêm, hiếp dân, thâu hối lộ làm giàu, bức hiếp kẻ nghèo mà làm cự phú, chác sự oan gia trái chủ, thời phải bị sanh liễu hựu tử, tử liễu hựu sanh, luân hồi chẳng dứt.
Nay gặp Trời ân xá lần ba, khuyên thiện nam tín nữ lo tu bồi đạo đức mà hưởng phước ngày sau, còn người mộ việc tu hành cũng thành Chánh quả.
Nếu tu thời bỏ hết cuộc giàu sang vui sướng ở thế gian. Hãy biết thế gian, muôn việc đều giả, trăm kế cũng không.
THI rằng:
Khán đắc phù sanh nhứt thế KHÔNG,
Điền viên sản nghiệp diệc giai KHÔNG.
Thê nhi phụ tử chung ly biệt,
Phú quí công danh tổng thị KHÔNG.
Cổ ngữ vạn ban đô thị giả,
Kim ngôn bá kế nhứt trường KHÔNG.
Tiền tài thâu thập đa tân khổ,
Lộ thượng huỳnh tuyền lưỡng thủ KHÔNG.
Quan Âm Như Lai
Sau đây, xin chép lại một bài Thánh Ngôn của Đức Quan Âm Bồ Tát dạy Đạo cho nữ phái, giáng cơ đêm 3-8-Nhâm Thìn (dl 21-9-1952), trích trong Thánh Ngôn Sưu Tập:
THI:
QUAN nam diện duợt chí từ bi,
ÂM đức cứu dân mới đắc thì.
BỒ đạo giềng ba thân nữ độ,
TÁT giang đức cảnh thế nên ghi.
Hôm nay về cùng chư tín hữu phân ưu đạo hạnh, cũng nơi lòng ham mộ cửa từ bi, để mong sao thoát kiếp oan khiên nghiệp chướng, do bởi thế trần tạo nhiều khổ cảnh, mà chúng ta mãi vướng cuộc trầm luân, thì bao giờ rời được cái thân nhi nữ thường tình, nếu không sớm lo giải cứu thì sau nầy hối hận, đừng nói sao trễ bước.
Công bấy nhiêu thì quả bấy nhiêu, chỉ có tâm nhiệt thành đạo hạnh thì cơ siêu thoát mới mong hưởng đặng.
Còn một điểm luyến trần, khó mong cứu độ, chừng ấy ăn năn quá muộn, quí nhứt là sớm ngộ Tam Kỳ mà không lo tròn phận sự thì uổng một kiếp sanh vô lối. Dầu khổ dầu cực, cứ lăn lóc theo cơ Đạo để tạo nghiệp cảnh Hư Vô chi vị.
Nếu Bần đạo nói tận cùng, thiện tín phải kinh tâm mà chớ. Thật sự cõi trần là nơi giam hãm con người vào vòng trụy lạc, lại là kiếp khổ tái sanh.
Nếu không ngộ Tam Kỳ, ở Thiên cảnh ngó nơi trần thế, bắt ngậm ngùi cho thế. Chung quanh đều là ô trược để gạt và quyến rũ con người vào vòng tội lỗi, rồi phải chịu đọa luân hồi, khó mong nhìn thượng giới. Mãi bôn xu danh cùng lợi là điều buộc chặt linh hồn đó.
Dưới thế gian mượn nước gội sầu, chớ toàn đều nhơ uế. Cả Thần Tiên rất sợ cảnh trần nầy lắm, chỉ mượn cớ để giác ngộ, nếu hữu duyên thì tránh được, hầu bước qua cảnh mới, tức là siêu linh đó.
Bần đạo cám ơn và ban ơn cho. THĂNG.
https://www.cd-online.net/caodai/cdos/showId/27953
LẠY
SÁM-HỐI
Biên Soạn: Tỳ kheo Thích Thiện Hữu
Lạy Phật, Bồ Tát, Chư Vị Tổ Sư
Sám Hối Những Tội Lỗi Nhiều Đời Đã Tạo
(http://daovaodoi.net/download/lay%20...%20to%20su.pdf)
Quan Thế Âm Bồ Tát là ai? Tiểu sử cuộc đời của ngài
Trong Truyện Tây Du Ký, hình ảnh của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát được mô tả như sau:
“Bốn đức tròn viên mãn,
Thân vàng tỏa sáng thông,
Chuỗi ngọc biếc rủ cạnh,
Vòng thơm đeo bên mình.
Tóc mây uốn đen lánh,
Đai thêu thắt ngang lưng,
Bào trắng khuy ngọc bích,
Mây lành che quẩn quanh.
Quần gấm dây vàng óng,
Khí đẹp phủ quanh thân,
Lông mày vầng trăng khuyết,
Mắt vì sao long lanh.
Mặt ngọc tươi roi rói,
Môi đỏ thắm tuyệt trần,
Bình Cam lồ đầy ắp,
Cắm cành dương liễu xanh,
Độ chúng sanh thoát nạn,
Rất từ bi hiền lành.
Vậy nên: Giữ núi Thái sơn,
Coi miền Nam hải,
Độ người khổ ải,
Nghìn Thánh nghìn thiêng,
Muôn kêu muôn ứng.
Lòng lan vui khóm trúc,
Tánh huệ quí mây thơm.
Đó là vị Chúa Từ bi ở Phổ Đà Sơn,
Chính là Đức Quan Âm nơi An Nhàn Động.”
https://buddhistart.vn/quan-the-am-bo-tat-la-ai
https://buddhismart.com.vn/quan-the-am-bo-tat/
https://dodongdongson.vn/quan-the-am...IqrJmhza43jU1Y
https://kinhnghiemhocphat.com/2021/1...gai-la-ai.html
https://tusachcaodai.wordpress.com/w...theambotat.pdf
https://langnghesondong.com.vn/quan-the-am-bo-tat/
https://giacngo.vn/hanh-bo-tat-trong...post72945.html
https://www.vnctongiao.org/phat-ba-quan-the-am-bo-tat/