-
Trừ Tịch (còn gọi là Đại Niên Dạ, Trừ Dạ, Tuế Trừ, Đại Hối Nhật) là đêm 30 Tết. Trừ (除) ở đây có nghĩa là chia ra. Vì đêm 30 Tết là đêm phân chia giữa năm cũ và năm mới nên gọi là Trừ Dạ, Trừ Tịch hay Tuế Trừ. Do là ngày kết thúc một năm nên gọi là Đại Niên Dạ. Đêm 30 Tết trời rất tối nên cũng gọi là Đại Hối Nhật (Hối (晦) là tối tăm).
http://www.niemphat.net/Luan/quanamb...g7v.htm#_ftn10
-
-
Trường Canh là tên gọi khác của Kim Tinh. Ngôi sao này còn mang tên khác là Khải Minh hay Thái Bạch. Do đầu đêm người ta thấy sao này mọc sớm nhất ở phía Tây bầu trời nên thường gọi là sao Hôm (Trường Canh), khi gần sáng lại thấy sao này mọc ở phương Đông nên gọi là sao Mai (Khải Minh).
Tô Đông Pha tên thật là Tô Thức, còn có hiệu là Tử Chiêm.
http://www.niemphat.net/Luan/quanamb...chcamung8v.htm
-
Linh Chi là tên một loại nấm (Ganoderma Lucidum), được coi là có dược tính thần kỳ giúp con người tráng kiện, trẻ lâu. Có nhiều loại Linh Chi, nhưng thông thường Linh Chi có hình dạng như quả cật, bẹt, phẳng, sắc nâu đỏ, có rìa màu vàng nhạt. Nói chung, dược tính của Linh Chi chưa hề được chứng minh cụ thể qua các khảo sát khoa học nào. Linh Chi rất mắc tiền chỉ vì các sách cổ mô tả Linh Chi như một vị thuốc vô song. Chẳng hạn, sách Thần Nông Bản Thảo cho rằng: “Linh Chi vị đắng, tính trung, không độc, chữa các bệnh đau ngực mãn tính. Tăng trưởng khí huyết lưu thông, nhuận thần... Dùng lâu ngày sẽ khiến thân nhẹ nhàng, không già, tăng thọ....”
http://www.niemphat.net/Luan/quanamb...chcamung9v.htm
-
Thạch là đơn vị đo lường (đúng ra phải đọc là Đàm, nhưng từ trước đến nay ta vẫn quen đọc là Thạch). Nếu tính theo dung tích thì một Thạch là một trăm Thăng (mỗi Thăng là một lít), còn nếu xét theo đơn vị cân nặng thì một Thạch là 120 cân, tức 72 kg.
http://www.niemphat.net/Luan/quanamb...chcamung9v.htm
-
Giếng trời (thiên tỉnh, courtyard): Khoảng sân trống giữa các khu nhà xây quanh bốn phía, nhằm mục đích tạo sự thoáng khí và lấy ánh sáng chiếu vào nhà.
http://www.niemphat.net/Luan/quanamb...chcamung4v.htm
-
Ngói lưu ly đã có từ rất lâu, đã rất phổ biến từ thời Đường, thường dùng để lợp chùa, miếu, cung điện, dinh thự. Ngói làm bằng đất sét trắng trộn với bột đồng, bột đá Lạc Hà (một loại đá lấy từ sông Lạc), hoàng đan (oxyde chì), trộn thêm bột thiếc đen, tiêu thạch (salpeter - KN03) đã nung tán nhuyễn. Đem đất ấy nhồi thành ngói, nung thành hai lượt: Lượt thứ nhất là bảy ngày, để nguội rồi đem ra tráng men, nung lại lần thứ hai suốt ba ngày. Gọi là ngói lưu ly vì nó có sắc óng ánh, trông xa như bằng chất ngọc, nhưng có khuyết điểm là dễ bị vỡ, dễ rạn nứt. Tùy theo cách chế biến, hình dạng và công dụng mà còn chia ra thành nhiều loại ngói lưu ly khác nhau. Do cách chế biến rất tốn công nên ngói lưu ly rất đắt.
http://www.niemphat.net/Luan/quanamb...chcamung3v.htm
-
NHÃN MINH KINH
Cầu nguyện: Quán Thế Âm Bồ tát gia hộ cho con : Họ tên là: .. tuổi:….
Được sáng mắt, suốt đời không bịnh tật về mắt nữa.
Cước chú: Kinh này có người mù mắt lâu năm gặp kinh này liền nguyện ăn chay, thỉnh tượng Quán Thế Âm về thờ, mỗi ngày tảng sáng quỳ tụng tùy ý biến tụng luôn luôn theo nghiệp của người trì kinh mà đôi mắt liền sáng lại.
THÀNH TÂM TRÌ TỤNG MỖI NGÀY SẼ KHÔNG BỊ CÁC BỊNH VỀ MẮT, ĐÃ CÓ NGƯỜI BỊ KHÔNG THẤY ĐƯỜNG DO CHUYÊN TÂM TRÌ TỤNG CHÚ NÀY TRONG 2 NĂM VÀ ĐƯỢC SÁNG MẮT.
kinh chú này còn có tác dụng khai nhãn thanh tịnh,một khi đôi mắt thanh tịnh rồi thì có thấy ma quỷ âm linh,khai sáng tam nhãn thần thông,mơ thấy chư phật và bồ tát,...dành cho người tu luyện lâu năm
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%AAN-MINH-KINH
http://www.diendanphatphaponline.com...read.php?16290
https://thienlamtu.wordpress.com/201...83n-minh-kinh/
-
3.- Phương pháp mở mắt thấy quỷ
Lấy nước sương trong ngày tiết thanh minh hay tiết đoan ngọ 清明节或端午节đổ vào một chậu sành , bỏ hai lá cây liểu xanh tươi vào trong đó , ngâm trong nước sương nầy trong ba ngày , sau đó lấy nước nầy thoa vào mắt hay lấy lá nầy dán trên mí mắt sẻ thắy quỷ ngay .
http://truongton.net/forum/archive/i.../t-455279.html
-
3.- Phương pháp mở mắt thấy quỷ
Lấy nước sương trong ngày tiết thanh minh hay tiết đoan ngọ 清明节或端午节đổ vào một chậu sành , bỏ hai lá cây liểu xanh tươi vào trong đó , ngâm trong nước sương nầy trong ba ngày , sau đó lấy nước nầy thoa vào mắt hay lấy lá nầy dán trên mí mắt sẻ thắy quỷ ngay .
http://truongton.net/forum/archive/i.../t-455279.html
-
- Muốn khai mở âm dương nhãn, thực hành thí thực cho nhiều, thường vào các nhà cốt hay nghĩa địa tụng kinh cầu siêu cho họ, làm nhiều việc phước thiện hồi hướng cho cõi âm và ngã quỷ liên tục, chắc chắn sẽ khai được âm dương nhãn. Cách này an toàn và được sự ủng hộ của cõi giới âm. Cõi này chỉ thấy ma, quỷ, tinh linh... chưa thể thấy thần, thánh, tiên phật.
- Khai mở thần nhãn, phải có vị thần độ, chỉ dẫn pháp tu tập để khai mở 1 số bí huyệt để khai thông với cõi giới thần. Mỗi 1 vị thần có những phương pháp khác nhau, cái này phải tùy duyên. Ráng ăn hiền ở lành, hồi hướng phước lành về cõi thần hay thánh, tức sẽ chiêu cảm với họ.
- Khai tiên nhãn: thân thể phải trong sạch, sống theo đúng nguyên lý âm dương, tạo nhiều phước lành và hồi hướng về cõi tiên. Tâm thành tức linh!
Khai nhãn, không khai nhỉ cũng không xong. Khai nhãn, khai nhĩ không khai tâm, thiếu trí tuệ hiểu biết cũng dễ rơi vào ngã mạn, tà kiến.
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...150#post187150
-
29 原本有梵字 mana.
30 原本有梵字 mukha.
31 原本有梵字 kutila.
32 真言甲本作真言。傍有。摩達二字。
33 原本有梵字 vyakhy-.
34 原本有梵字 carya.
35 醫甲本作翳
p1242
01 翳恐折誤
02 劫波也原本有梵語 rupya.
03 曩麼囉原本有梵語 Tamra.
04 日迦底原本有梵字 cakta.
05 娜地原本有梵字 dadhi.
06 禺度原本有梵字 Godhuma.
07 原本加梵字 nirjita.
p1243
01 原本梵字 datima.
02 葛或●?
03 馬或●?
04 原本梵語 varcakuti.
05 佛以下一行十七字甲本無
p1245
01 【原】麗本,原註依摩吒羅註(Mathara vrtti)
02 上+(此是外道迦毘羅仙人所造明二 五諦非是佛法)夾註【三】
03 數論頌(Sankhyakarika)第一頌
04 欲知Jijnasa.
05 用=因【三】
06 Kapila.
07 法 Dharma,慧 Jijnana,離欲 Vairagya,自在 Aisvarya.
08 Asuri.
09 依內 Adhyatmika,依外 Adhibhautika,依 Adhidaivika.
10 淡=痰【三】* Slesman.
11 可愛…集 Priyaviyoga,Apriyasamyoga.
12 霆=電【三】
13 明=別【三】
14 (知)+顯【三】
15 足=定【元】【明】
16 皮=違【三】*
17 〔是〕-【三】
18 以下依數論頌第二頌
19 隨聞 Anusravika.
20 濁 Avisuddha,失 Ksaya,優 Atisaya.
21 馬祠 Asvamedha.
22 〔隨如是等罪〕-【三】
23 〔亦〕-【三】
24 變 Vyakta,大 Mahat,我 Ahamkara,慢 Tanmatra,塵 Indriya,根
Jndriya,大 Bhuta.
25 別+(外)【三】
26 以下第三頌,本性 Mulaprakrti.無變異 Avikrti,本 Prakrti,變 Vikrti.
27 〔本性〕-【三】
28 是=稱【三】
29 五唯=五大及五根【三】
30 故+(故)【三】
31 〔者〕-【三】
32 稱=秤【三】
33 以下第四頌,證 Drsta,比 Anumana, 言 Aptavacana.
34 量 Pramana.
p1246
01 轉=能【三】
02 以下第五頌
03 〔相〕-【三】
04 量+(名)【三】
05 有前 Purvavat-,有余 Sesavat-,平 比量 Samanyato-drsta
06 〔雲〕-【三】
07 Amra.
08 〔有相〕-【三】
09 正=證【三】
10 以下第六頌
11 諸=法【三】
12 末=未【宋】【元】
13 二=一【宋】【元】
14 末=未【宋】*
15 第七頌
16 〔復〕-【三】
17 生前無 Prag-abhava.
18 壞無 Pradhvamsa-
19 互無 Itaretara-
20 極無 Atyanta-
21 〔是〕-【三】
22 第八頌
23 性 Prakrti.
24 緣+(故不)【三】
25 見+(因)【三】
26 知=智【宋】
27 Vaisesika.
28 耶執=邪【三】
29 第九頌
30 能 Sakta,所作 Sakti.
31 因有果 Satkarya.
p1247
01 〔生〕-【三】
02 蘇=酥【三】
03 等+(不從草木)【三】
04 以=已【宋】
05 〔因〕-【三】
06 〔如〕-【三】
07 種+(故)【三】
08 第十頌,有因 Hetumat,無常 Anitya, Aneka,不遍 Avyapin,有事
Sakriya,沒 Linga,有分 Savayava,依 Asrita,屬他 Paratantra,變
異 Vyakta.
09 第十一頌,三德 Triguna,不相離 Aviv ekin,塵 Visaya,平等 Samanya,
無知 Acetana,能生 Prasavadharmin,我 Pums.
10 不=二【宋】【元】
11 〔故〕-【三】
12 亦=六【三】
13 第十二頌,喜憂闇 Prityapritivisaya. 照造縛 Prakasapravrttiniyama.
伏依生●起 Abhibhavasrayajanmamithunavrhti.
14 Sattva.
15 Rajas.
16 Tamas.
17 磨+(為)【三】
18 則=能【三】
p1248
01 杖=仗【宋】【元】,枚【明】
02 食=植【三】
03 估=賈【三】
04 第十三頌 輕光 Laghu-prakasa,持動 Upastambhaka-cala,重覆 Guru-
varanaka.
05 第十四頌
06 非變異 avyakta.
07 成得=得成【三】
08 第十五頌
09 〔別〕-【三】
10 有+(有)【三】
11 有=其【明】
12 處+(者)【三】
13 能+(成是能)【三】
14 土=士【宋】
p1249
01 〔自〕-【宋】
02 第十六頌
03 異=果【三】*
04 〔異〕-【明】
05 論=信【三】
06 因+(中)【三】
07 得=德【三】
08 第十七頌,聚集為他 Sanghatapararthatva 異三德 Trigunadiviparyaya,
依 Adhisthana,食者 Bhoktrbhava,獨離 Kaivalyarthapravrtti,我
Purusa.
09 如=若知【三】
10 六十科論 Sastitantra.
11 富=當【三】
12 遍=違【三】
13 遍一切=滿遍一一【宋】,遍滿一切 元】【明】
14 第十八頌
15 暗=喑(龍藏、頻伽藏、卍正藏)
p1250
01 第十九頌
02 證義 Saksitva,獨存 Kaivalya,中直 M adhyasthya,見者 Drastr,非作
者 Akartr.
03 若+(我)【三】
04 第二十頌
05 中直 Udasina.
06 執=收【三】
07 第二十一頌,我求…德 Purusasya darsanartham,自性…存 Pradhanasya
kaivalyartham.
08 跛盲 Pangv-andha.
09 合自性=和合【三】
10 因=困【三】
11 施=國【明】
12 由+(是)【三】
13 擇=擲【三】
14 第二十二頌,自性 Prakrti.
15 勝因 Pradhana.
16 梵 Brahman.
17 眾持 Bahudhatmaka.
18 覺 Buddhi.
19 想 Samvitti.
20 智 mati.
21 慧 Prajna.
22 大初 Bhutadi.
23 轉異 Vaikrta.
24 焰熾 Taijasa.
25 聲觸色味香 Sabdasparsaruparasagandha.
26 〔次〕-【三】
27 空 Akasa.
28 風 Vayu.
29 火 Tejas.
30 水 Ap.
31 地 Prthivi.
32 第二十三頌,決智 Adhyavasaya.
33 Yama,Niyama.
34 尼+(尼)【三】
35 摩+(尼)【三】
36 不殺 Ahmsa,不盜 Asteya,實語 Satya 梵行 Brahmacarya.
p1251
01 底=提【三】
02 〔張履及〕-【三】
03 外+(智)【三】
04 〔三〕-【三】
05 非法 Adharma,非智 Ajnana,愛欲 Avai ragya,不自在 Anaisvarya.
06 〔按開…耳〕百三十七字-【三】
07 陳字前行宋元明三本俱有外道迦毘羅 人造八字
08 第二十四頌
09 我所執 Abhimana.
10 三=二【三】
11 第二十五頌
12 轉=體【元】【明】
13 知=如【三】
14 苦=若【三】
15 第二十六頌,耳皮…鼻 Srotratvakcaksura sananasika.
16 知根 Buddhindriya.
17 舌手…大遺 Vakpanipadopasthanapayu.
18 作根 Karmendriya.
19 〔唯〕-【三】
20 第二十七頌
p1252
01 即=則【三】
02 智=知【三】
03 論+(土路伽耶低伽論)【三】
04 此云世入宋元明三本俱作夾註【三】
05 入=人【三】
06 生根爾=根生示【三】
07 臍=高【三】
08 作=行【三】
09 〔作〕-【明】
10 離=難【三】*
11 料=撩【宋】
12 第二十八頌
13 言執…除 Vacanadanaviharananandotsarga.
14 第二十九頌
15 至=必【三】
16 Prana.
17 Apana.
18 Udana.
19 Vyana.
20 婆=娑【三】*,Samana.
21 第三十頌
p1253
01 第三十一頌
02 問=聞【三】
03 今=令【三】
04 ●=集【三】
05 灌=罐【元】【明】
06 意=竟【三】
07 第三十二頌,作具,Karana.
08 牽執照 Aharanadharanaprakasa.
09 〔是事〕-【三】
10 第三十三頌,內作具 Antahkarana.
11 外 Bahya.
12 取=耶【三】
13 第三十四頌
14 〔故〕-【三】*
15 是手根體=手足根能【三】
16 相=根【三】
17 第三十五頌
18 具三=三具【三】
19 有門 Dvarin.
20 門 Dvara.
21 內=自【明】
p1254
01 根是眼根=是眼相【三】
02 第三十六頌
03 但+(能)【三】
04 〔故生三德〕-【三】
05 不+(不)【宋】
06 二=三【三】
07 悉+(不同)【三】
08 〔者〕-【三】
09 〔故覺〕-【三】
10 第三十七頌
11 用事 Pratyupabhoga.
12 天=大【明】
13 知+(在用知)【明】
14 根=相【宋】【元】
15 〔別異〕-【三】
16 〔如前說〕-【三】
17 編髮髻=猶鬚髮【三】
18 第三十八頌
19 寂靜 Santa,畏 Ghora,癡 Mulha.
20 今=令【宋】【元】
21 有=我【三】
22 癡=塵【三】
23 必=如【三】
24 在+(上)【三】
25 亦+(復)【三】
26 第三十九頌,微細 Suksma,父母生 Ma tapitrja,大 Prabhuta.
27 微細身 Suksmasarira.
28 赤白 Sonitasukra.
29 面=而【宋】【元】
30 無礙 Avakasana.
31 時(恃?)著 Viharana.
32 清淨 Suddhi.
33 銷食 Aharapacana.
34 動散 Vyuhana.
35 ●身 Sthulasarira.
p1255
01 第四十頌
02 輪轉 Samsarati.
03 薰習 Adhivasita.
04 獸=狩【宋】*Tiryanc,人 Manusa,天 Deva.
05 第四十一頌
06 第四十二頌
07 因 Nimitta,依因 Naimittika.
08 伎=技【元】【明】*
09 意用 Artha.
10 受用聲等 Sabdadyupalabdhi.
11 見三德人中間 Gunapurusantaropalabdhi.
12 間=聞【元】【明】
13 〔因〕-【三】
14 第四十三頌,因善 Samsiddhika. 自性 Prakrtika. 變異得 Vaikrta.
15 Kalala.
16 者=行【三】
17 說+(有)【三】
18 歌=哥【三】*
19 羅=囉【明】
20 名=者【三】
21 Budbuda.
22 Pesi.
23 Ghanamamsa.
24 嬰孩 Garbha.
25 童子 Kumara.
26 少壯 Yauvana.
27 衰老 Sthavrai.
28 增+(長)【三】*
29 故+(增)【三】
30 以下第四十四頌
31 解脫 Apavarga.
32 尼+(尼)【三】*
p1256
01 Brahma.
02 世主 Prajapatya.
03 天 Aindra.
04 Gandharva.
05 Yaksa.
06 Raksasa.
07 鬼神 Paisaca.
08 怜=憐【明】
09 自性縛 Prakrtibandha.
10 變異縛 Vaikarika-
11 布施縛 Daksina.
12 因=依【明】
13 第四十五頌
14 法=智【三】
15 今=令【三】
16 後=佛【三】
17 謂=諸【明】
18 第四十六頌
19 疑(倒)Viparyaya,無能 Asakti,喜 Tu sti 成 Siddhi.
20 摩+(夜)【三】
21 王=土【三】
22 第=弟子【三】
23 次=決【宋】
24 〔大師〕-【明】
25 辯=辨【三】
26 往彼=彼往【三】
27 白=曰【明】
28 第四十七頌
29 闇 Tamas,癡 Moha,大癡 Mahamoha,重 闇 Tamisra,盲闇 Andhatamisra.
30 先=前【三】
31 第四十八頌
32 〔離〕-【三】
33 相=想【三】
p1257
01 第四十九頌,十一根損壞 Ekadasendriyav adha,智害 Buddhivadha.
02 甕=●【三】
03 〔癩〕-【三】
04 佉=法【三】*
05 〔苦〕-【三】
06 〔亦〕-【三】
07 第五十頌
08 自性 Prakrti,取 Upadana,時 kala, Bhagya.
09 雖=誰【三】
10 三杖 Tridanda,澡罐 Kundika.
11 受便=更【三】
12 〔得〕-【三】
13 獸=狩【宋】
14 估=賈【三】
15 〔得〕-【三】
16 自=目【宋】*
17 得 Arjana,
18 守護 Raksana,
19 失 Ksaya.
20 是+(第七)【三】
21 得已=能得已得【三】
22 見=是【元】【明】
23 此+(善)【三】
24 劫+(賊)【三】
25 潤濕水 Ambhas.
26 深=搖【三】,深淺水 Salila.
27 流水 Ogha.
28 湖水 Vrsti.
29 善入水 Tara.
30 善渡水 Sutara.
31 渡=度【三】
32 善出水 Sunetra.
33 光明水 Sumarica.
34 勝清淨水 Uttamambhasika.
35 非潤濕 Anambhas.
p1258
01 第五十一頌,思量 Uha,聞 Sabda., 頌 Adhyayana. 離苦三
Duhkhavighatatraya. 友得 Suhrtprapti. 因施 Dana.
02 〔失〕-【三】
03 簡=揀【三】
04 苦三=三苦【三】
05 病=痛【三】
06 至+(山)【三】
07 〔往〕-【三】
08 自度成 Tara.
09 善度成 Sutara.
10 全=令【三】*,全度成 Taratara.
11 喜度成 Pramoda.
12 重喜度成 Pramudita.
13 滿喜度成 Mohana.
14 愛成 Ramyaka.
15 遍愛成 Sadapramudita.
16 非+(自)【三】非度
17 〔實〕-【三】
18 第五十二頌
19 〔細〕-【三】
20 〔曰〕-【三】
21 波=般【明】*
22 度+(度)【三】
23 〔故〕-【三】
p1259
01 〔喜〕-【三】
02 曰+(修)【三】
03 法=有【三】
04 二+(種)【三】
05 〔法〕-【三】
06 〔也〕-【三】
07 〔所〕-【三】
08 第五十三頌
09 含識生Bhautika-sarga.
10 由=四【三】
11 第五十四頌
12 喜樂多=多喜樂【三】
13 憂=癡【三】
14 =歡欲【三】
15 中生=生中生生【三】
16 生中=中生【三】
17 故+(居)【三】
18 荷=所【三】
19 作=依【三】
20 狩=獸【三】
21 第五十五頌
22 ●=嗽【三】
23 〔為〕-【三】
24 第五十六頌
25 〔從覺起〕-【三】
26 三=二【三】
p1260
01 第五十七頌
02 犢子 Vatsa.
03 第五十八頌
04 〔故〕-【三】
05 五=王【宋】
06 第五十九頌
07 伎=妓【元】【明】* Nartakin.
08 〔我〕-【三】
09 〔自〕-【三】
10 〔闇〕-【三】
11 第六十頌
12 恩 Upakarin.
13 為他=性作【三】
14 第六十一頌
15 濡=軟【三】*
16 大=太【明】
17 天上 Svarga,地獄 Naraka.
18 鵝 Hamsa.
19 孔雀 Mayura.
20 斑=班【宋】【元】
21 以=比【三】
22 〔若〕-【三】
23 〔故〕-【三】
24 時 Kala.
p1261
01 〔人〕-【三】
02 第六十二頌 無縛 Na badhyate,無脫 Na mucyate,無輪…死 Na samsarti.
03 被縛及=縛【三】
04 以下第六十三頌
05 第六十四頌
06 〔非無〕-【三】
07 第六十五頌
08 其=具【元】【明】
09 〔二〕-【三】
10 〔所〕-【三】
11 第六十六頌
12 捨住 Upeksaka.
13 伎=妓【三】*
14 〔已〕-【三】
15 智=知【三】*
16 債+(債)【三】
17 第六十七頌
18 正遍知 Samyagjnana.
19 成=制【三】
20 不=非【三】
21 速=造【三】
22 第六十八頌
23 法+(非)【三】
24 及=乃【三】
p1262
01 第六十九頌
02 大仙 Daramarsi.
03 生住滅 Utpattisthitipralaya.
04 〔好〕-【三】
05 第七十頌
06 Muni.
07 Pancasikha.
08 〔故〕-【三】
09 尸訶說是般尸=遮尸又為頻闍訶說是 遮尸及頻闍【三】
10 自在黑 Isvara.
11 第七十一頌
12 Uluka.
13 佉+(傳)【三】
14 利+(傳與)【三】
15 第七十二頌
16 說=言【三】
17 有 Astitva,Ekatva,意用 Arthavattva.
18 會 Yoga離 Viyoga,人我多 Bahavah pumamsah,身住 Sthitih sarirasya.
https://github.com/cbeta-git/cbwork-...7%9B%AET54.TXT
-
[DOC]眼科
www.tma.tw/MedicalWords_Foreign/files/眼科.docx
Translate this page
眼科醫師, Ophthalmologist, 眼科医, Dokter mata, Bác sĩ nhãn khoa, จักษุแพทย์. 配鏡師 ... 眼翳, Pterygium, 翼状片, Pterigium, Mộng thịt, ต้อเนื้อ. 視覺模糊, Blurred ...
=============
-
Kinh Ngọc Hoàng Cốt Tủy
( 玉皇骨髓眞經 )
TRANG 15
http://hannom.nlv.gov.vn/hannom/cgi-...N%7ctxME------
=
http://hannom.nlv.gov.vn/hannom/cgi-bin/hannom?a=d&d=BNTwEHieafjah1898&e=-------vi-20--1--txt-txIN%7CtxME------
==========
CHÚ VIẾT
Án hồng hồng hệ rộ dà sa ha (tam biến)
唵 吽吽 ? 嚕伽莎下
唵 吽吽 醯嚕伽 莎下
=> Phổ Quảng phục hồi Phạn Chú: OM HUM-HUM HERUKA SVAHA.
=============
摩醯濕伐羅(Mahe shvara)
-
“Âm đức” là gì? Làm thế nào mới tích được “âm đức”?
Từ xưa đến nay, trong các tác phẩm văn học hay ngoài cuộc sống đời thường, chúng ta thường nghe nói đến những từ như: “âm phúc”, “âm đức”, “âm công”. Nhưng trong văn hóa truyền thống, những từ ngữ này được hiểu chính xác là gì?
Kỳ thực, nhiều người chưa hiểu rõ ý nghĩa của những từ ấy, đặc biệt là từ “âm”. Từ “âm” ở đây không có nghĩa là âm phủ, số âm hay âm dương. Từ “âm” trong “âm công, âm đức, âm phúc” mang ý nghĩa là ám, tức là thầm lặng, ngầm, âm thầm, kín đáo, không hiển lộ ra bên ngoài. Điều này có nghĩa rằng, người làm việc thiện phải làm được ở trong thầm lặng, trong kín đáo, trong lặng lẽ, không phô trương.
Cổ ngữ có câu: “Người có âm đức, tất sẽ có âm báo”. Ý nghĩa rằng, người nào âm thầm làm việc thiện tích đức thì Thượng Thiên cũng sẽ âm thầm ban phúc báo cho họ. Người âm thầm làm việc tốt sẽ tích được “âm đức” và việc làm nhân đức đó của họ sẽ được Thượng Thiên ghi công lại, gọi là “âm công” và ban phúc cho họ gọi là “âm phúc”.
Văn hóa truyền thống luôn cho rằng, hết thảy danh tiếng, tài vận, phúc lộc của một người ở đời này đều là do đời trước đã tích được đức mà sinh ra. Người nào có được loại “âm đức” này, Thượng Thiên sẽ ban thưởng xứng đáng cho người ấy.
“Âm đức” là tinh hoa của văn hóa truyền thống, là thể hiện tâm tín Phật hướng thiện, kính sợ Thần linh, tin vào “thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo”.
115
Từ “Âm đức” xuất hiện đầu tiên trong cuốn “Thượng thư”. Trong đó viết rằng: “Duy thiên âm chất hạ dân”, ý tứ là: Ở trong sâu thẳm, Trời đang bảo hộ che chở cho con người. Đây là tư tưởng mộc mạc, thẳng thắn và chân thành nhất của con người cổ đại đối với Thiên mệnh. Thời cổ đại, các giá trị đạo đức của con người luôn được đề cao và coi trọng, vì thế họ tin rằng, mệnh của một người là do Thượng Thiên an bài và Thượng Thiên sẽ luôn ở trong âm thầm mà che chở, phù hộ cho họ.
Trong cuốn “Âm đức văn”, “âm đức” còn mang ý nghĩa Thiên nhân cảm ứng. Yêu cầu mọi người tự mình tích nhiều âm đức, âm công, hành thiện, làm việc tốt nhưng đừng khoa trương ở khắp mọi nơi, chỉ cần lặng lẽ, âm thầm đi làm là được bởi vì Thượng Thiên là “cảm ứng” được lòng người. Cho dù một người làm việc thiện mà không ai biết thì Văn Xương Đế Quân (Vị Thần chủ quản công danh phúc lộc) cũng sẽ âm thầm phù hộ và ban phúc lộc cho người ấy.
Vậy làm việc thiện mà thể hiện ra cho mọi người cùng biết thì có phải là “âm đức” không?
Làm việc thiện dù âm thầm hay thể hiện ra ngoài, muốn biết có tốt hay không cần phải xét xem cái tâm của người ấy, nhưng về cơ bản đều là những hành vi tốt đẹp, đáng được ca ngợi.
Tuy nhiên, cũng có trường hợp lại chưa hẳn đã là làm việc thiện chân chính.Ví như, một số người làm việc thiện nhưng lại mong muốn để người khác biết đến nhiều hơn, để người khác tôn kính mình hơn, coi trọng mình hơn, để xã hội tán dương mình hơn từ đó mà báo đáp mình. Như vậy, chẳng phải việc thiện ấy đã tự nhiên chuyển hóa thành phương tiện để người đó truy cầu cái “danh” và cái “lợi” cho bản thân mình rồi sao?
“Âm đức” là thiêng liêng, cho nên nếu làm việc thiện mà cố ý khoa trương bản thân để được “danh” và “lợi” thì hiệu lực của “âm đức” sẽ tự nhiên mất đi và cũng không tích được “âm công”, cũng liền khởi không được tác dụng chân chính của hành thiện.
Từ lý luận này, xem ra chỉ có không màng “danh lợi”, lặng lẽ làm việc thiện thì mới thực sự là hành thiện tích đức chân chính.
http://www.daikynguyenvn.com/van-hoa...oc-am-duc.html
================
Hỏi: Trong lá số tử vi xấu, hoặc trong cuộc sống thường gặp vận hạn xấu, thì tôi thường nghe nói phải dùng hai chữ “âm đức” để hóa giải. Vậy thế nào gọi là âm đức?
NQ
Trả lời: Âm đức theo cách hiểu ngày nay thì có nghĩa là lặng lẽ làm việc tốt, coi trọng sự vô tư cống hiến thật sự. Người xưa nói: “Âm dương là gì? Phàm làm việc thiện mà người ta biết đến thì được gọi là dương thiện. Làm việc thiện mà người ta không biết đến, ấy là âm đức. Âm đức thì được Trời đền đáp.
Dương thiện thì được hưởng danh tiếng bởi người đời. Danh cũng là phúc vậy. Những kẻ có danh dễ bị tạo vật ganh ghét. Người đời hay hữu danh vô thực, thường chuốc lấy họa. Chỉ có âm đức mới bền lâu”.
Vậy làm thể nào để tích âm đức? Để hóa giải lá số tử vi xấu hoặc hóa giải vận hạn xấu.
Con người sinh ra phải tích đức hành thiện, lấy nhân nghĩa để đối xử với người khác, lấy lòng từ bi để yêu thương người khác.
Mọi việc trong cuộc sống thường ngày luôn nghĩ cho người khác, chủ động giải quyết khó khăn và nguy cơ để giúp đỡ người khác, thường xuyên phóng sinh, chỉ có như vậy mới dần dần tạo quả thiện, tích âm đức. Khi đã có âm đức thì được Trời đền đáp.
Trong “Kinh Dịch” có giảng: “Những nhà tích thiện, ắt có phúc dư; những nhà không tích thiện, ắt có họa dư”. Gia đình chỉ cần tích âm đức, đời sau con cháu nhất định sẽ hưng vượng giàu sang. Gia đình làm chuyện đại ác, nhất định mang họa cho con cháu. Đây là thiên lý thiện ác hữu báo cho con người.
http://www.blogphongthuy.com/the-nao-goi-la-am-duc.html
==========
Tô Thành người huyện Trâu Bình triều Thanh, trước nay luôn vui vẻ hành thiện giúp người, thường hay làm những việc tốt, tiện lợi cho người khác. Bên đường cách thôn trang Tô Thành ở khoảng 10 dặm, có một cây liễu rất to, cành lá xum xuê, mỗi khi có người đi qua con đường này, chắc chắn sẽ ngồi nghỉ ngơi hóng mát dưới gốc cây. Mùa hè năm đó, Tô Thành đi từ huyện về nhà, trời vô cùng nóng nực, bèn đi tới gốc cây liễu, nhanh chóng bỏ nón, cởi bớt áo, đứng ngược chiều hóng gió cho bớt nóng nực.
Lúc đó có một người mù cả hai mắt đi từ phía Đông tới, đi bộ rất nhanh, đến cả người mắt sáng cũng khó mà đuổi kịp. Sau khi người mù tới chỗ gốc cây, lẩm nhẩm nói rằng: “Hôm nay thời vận không tốt, cả nửa ngày trời mà chưa kiếm được một xu, giờ may mắn tìm được gốc cây này, được cây che chở mới có thể nghỉ ngơi một chút. Giờ mình sẽ bói cho cây này một quẻ, xem vận mệnh của cây liễu này thế nào?” Một lúc sau người mù thất kinh nói: “Quả thực là tang tóc! Cây liễu này sắp chết rồi, giống như bói quẻ cho người chết vậy.” Sau đó vừa than thở vừa lặng lẽ rời đi.
Ban đầu, Tô Thành cho rằng người mù này nói nhảm nhí, cũng không để tâm. Một lúc sau, lại có vài người lạ tới gốc cây, họ cầm rùi, cầm cưa, những vật dùng để đốn gỗ trong tay. Họ nói với Tô Thành: “Bây giờ phải đốn cái cây này đi rồi.”
Tô Thành vô cùng kinh ngạc, hỏi bọn họ: “Cây to này mọc bên đường, nếu chặt đi mất, những người lữ hành đi qua con đường này sẽ không còn nơi nghỉ ngơi tránh nắng vào mùa hè nữa.” Bọn họ nói: “Người chủ của cái cây này đã bán nó rồi, còn cách nào đây!” Tô Thành hỏi người đến đốn cây liễu rằng: “Tôi bằng lòng mua cây này với giá cao hơn giá cũ mà các anh mua vài nghìn đồng, đảm bảo cây liễu này sẽ không chặt, tiện ích cho người qua đường, có được không?” Họ nói: “Như vậy đương nhiên là được rồi,” và hẹn nhau ngày hôm sau sẽ lập điều khoản mua lại cây liễu.
Tô Thành thầm nghĩ, người mù khi nãy có thể biết trước được cây sắp bị đốn, lẽ nào đây là thần tiên? Nhưng nếu là thần tiên sao lại không thể bói ra được có người sẽ mua cây này? Bèn vội vã đuổi theo. Đợi khi gặp được hai người lúc nãy, Tô Thành nói: “Sao hồi nãy tiên sinh bói cái cây đó sắp chết, chẳng chuẩn chút nào? Người mù đáp: “Cậu nói đúng, ta bói được là nhất định sẽ có người mua cái cây đó, nhưng người tốt như vậy trên đời này quả thực rất hiếm rồi, nên lúc đó ta không dám quả quyết.”
Tô Thành nói: “Người mua cái cây đó chính là tôi.” Người mù nói: “Làm việc thiện có lợi cho người khác như vậy tiên sinh nhất định sẽ gặp nhiều chuyện may mắn, gặp hung hóa cát.” Tô Thành nói: “Ta đang định thỉnh giáo tiên sinh xem tương lai của ta thế nào, xin tiên sinh chỉ dạy cặn kẽ.” Người mù nói: “Những chuyện khác thôi không nói nữa, tiên sinh hôm nay sẽ có tai họa. Nhưng nhờ âm đức tiên sinh mua lại cây này, cũng có thể sẽ gặp cứu tinh, nhưng tiên sinh phải nhẫn việc mà thiên hạ không thể nhẫn, như vậy mới có thể trừ được họa này.
Tô Thành nghe nói mình thân sắp có tai họa, liền vội vàng quay về nhà. Sau khi về đến nhà thấy vợ mình và một thanh niên trẻ nằm ôm nhau giữa thanh thiên bạch nhật. Tô Thành thấy vậy nổi cơn thịnh nộ, rút đao chuẩn bị chém chết hai người. Đột nhiên nhớ lại lời của người mù, cơn giận nguôi dần, lòng hận thù dần bay biến, lay vợ con dậy hỏi rằng: “Mau tỉnh dậy đi, là ai nằm ôm nàng giữa ban ngày vậy?”
Sau khi tỉnh dậy vợ Tô Thành nói: “Sao chàng lại tức giận? Thiếp cũng đâu biết người này là ai, chàng nghĩ ai có thể ngủ trên chiếc giường này thì là người đó.” Tô Thành nói: “Có thể ngủ trên chiếc giường này, ngoài nàng ra chỉ có ta và con gái của ta!” Vợ Tô Thành nói: “Thì đúng là vậy, sao chàng lại hỏi nhiều như vậy.” Tô Thành nhìn kỹ lại, quả nhiên là con gái của mình, bèn cười mà rằng: “Con gái nhà ta sao lại mặc y phục con trai thế này?” Vợ Tô Thành nói: “Hôm nay là sinh nhật của thiếp, vì nghĩ trong nhà không có con trai, bèn cùng con gái trêu đùa vì thiếp mà thay đổi y phục bái lạy chúc tụng.”
Tô Thành nói: “Hôm nay mẹ con nàng suýt mất mạng dưới tay ta, may được một vị tiên nhân mù chỉ giáo mới tránh được họa này.” Thế là Tô Thành kể lại cặn kẽ đầu đuôi sự tình cho vợ con nghe. Vì làm việc thiện như vậy mà trong năm đó Tô Thành sinh con trai, đến khi cháu nội chào đời ông mới tạ thế.
Tô Thành trong câu chuyện chỉ là một người dân bình thường giàu có tại vùng nông thôn thời nhà Thanh. Hơn nữa bình thường ông cũng làm một vài việc thiện có ích cho người khác, làm điều thiện, mang lại điều tiện lợi cho người khác, dường như cũng không được phúc báo ngay lúc đó. Đến khi đột nhiên cái cây bên đường bị chặt, khi ông muốn thêm vài nghìn đồng mua lại cái cây để người qua đường có nơi trú chân, ông đã làm việc thiện tổn hại đến lợi ích của bản thân. Cho nên khi nguy hiểm và tai họa sắp tới, nhờ hành thiện mà tích được âm Đức, được thần tiên điểm hóa. Cũng là dựa trên nền tảng tích đức hành thiện hàng ngày, mới có thể đột nhiên gặp chuyện thiên hạ không thể nhẫn mà tiêu tan cơn giận, hóa giải được tai họa gây cái chết oan khuất cho hai mẹ con và bản thân thì chết vì vương pháp. Có thể thấy hành thiện và đại nhẫn quan trọng như thế nào trong tiến trình sinh mệnh của con người. Hành thiện có thể tích âm đức, đồng thời nhờ có Đức mà con người được phúc báo; Đại nhẫn có thể giúp con người hóa giải được những ân oán, hận thù muôn hình muôn vẻ trên cõi nhân gian, khiến con người được giải thoát khỏi nút thắt trong cái vòng luẩn quẩn nhân quả, ân ân oán oán, thay đổi hoặc xoay chuyển vận mệnh con người thế gian một cách triệt để nhất.
==============
http://vnkhampha.com/am-duc-la-gi/
============
THẾ NÀO LÀ PHƯỚC ĐỨC VÀ ÂM ĐỨC?
Trong việc tu phước, thì phước báo do chúng ta tu được đó, được chia làm 2 loại: Âm đức và Phước đức. Người tích âm đức thì bản thân người đó và con cháu đời sau sẽ nhờ âm đức này mà được tiêu tai giải nạn, gặp dữ hoá lành, công thành danh toại, gia tộc hưng vượng. Người tích phước đức thì bản thân người đó và con cháu đời sau được hưởng thụ những tiếng thơm và niềm vui vật chất. Vậy âm đức và phước đức là gì?
Âm đức là làm việc tốt mà không để cho người khác biết, hay lặng lẽ đi làm, đây gọi là âm đức. Âm đức thì quả báo dày. Điển hình là những nhà hảo tâm giấu tên, những người hoằng pháp lợi sanh...Những việc làm như chăm sóc người gặp nạn, che chở người bị truy đổi hãm hại, cứu giúp kẻ khó khăn, đóng góp xây cầu, làm đường và các công trình công cộng, vì lợi ích của mọi người mà sẵn sàng xả thân đi làm....đều được xem là những việc làm tích luỹ âm đức.
Tư Mã Quang trong sách gia huấn đã viết rằng:
_ " Để vàng lại cho con cháu, chưa chắc con cháu đã giữ nổi. Để sách lại cho con cháu, chưa chắc con cháu đã đọc nổi. Không bằng để âm đức mờ mờ bên trong mà lâu dài cho con cháu".
Nếu chịu khó quan sát trong cuộc sống vài ba thế hệ trong một gia tộc nào đó ở quanh ta, thì dấu vết của âm đức rất khó tẩy xoá, phủ nhận.
Trong truyện ký của Phạm Trọng Êm, chúng ta thấy được khi đất nước gặp giặc ngoại xâm, thì ông là đại tướng quân thống soái, khi về đến triều đình thì ông là phó tể tướng, triều đình ban cho ông rất nhiều bổng lộc hậu hỷ. Nhưng bản thân ông lại kiệm ăn kiệm mặc, để tiền đó nuôi sống hơn 300 gia đình, lại mở lớp học miễn phí. Thấy con em của những hộ nghèo có thể đào tạo thì tìm đến nhà chu cấp tiền cho đi học. Đào tạo nhân tài cho đất nước. Ông không một chút vì bản thân mình, nên ông nhận được quả báo hết sức thù thắng. Ông có 5 người con trai, trong đó 2 người làm đến chức tể tướng, 1 người làm ngự sử đại phu. Khi ông mất không mua nổi 1 cỗ quan tài, tài đi đâu hết rồi? Đều đem bố thí làm việc tốt cả. Vì thế, gia đình họ Phạm đến đầu năm Dân Quốc, trải qua hơn 800 năm chưa từng suy vi, mỗi đời đều có rất nhiều người đỗ đạt thành danh, làm quan chức lớn tiếp tục cống hiến cho đất nước. Đây là minh chứng cho việc tích chứa âm đức.
Vậy thế nào là phước đức? Làm một chút việc tốt mọi người đều biết. Như hiện nay tin tức báo chí đứng ra biểu dương khen ngợi, giới thiệu quý vị trước đại chúng xã hội, đây cũng là phước, nhưng phước này thì lập tức tiêu hết, rất đáng tiếc. Người có phước đức được mọi người khen ngợi, hưởng được tiếng thơm trong đời, song phải chú ý, tiếng khen dễ khiến lòng người cao ngạo, thường gặp những tai nạn bất ngờ, dễ bị hãm hại vu khống.
Chứng bệnh nặng nhất của người đời nay chính là thích khoe khoang, thích được người khác tâng bốc và đánh giá mình là người tốt. Chúng ta thấy được ngày nay ở các tự viện thường hay tổ chức các chuyến đi từ thiện để tạo điều kiện cho Phật tử tu phước. Do đó, mà Phật tử có rất nhiều cơ hội gieo trồng phước báo cho chính mình. Nhưng lại không ít người chẳng biết quý tiếc phước báo do mình gieo được mà mặc tình đi khắp nơi khoe khoang, để mọi người biết mình là người tốt, để mọi người khen ngợi. Vì thế mà phước báo cũng theo đó mà tiêu mất hết. Khi phước báo không còn hoạ liền đến. Khi họa đến, lại không chịu xét lỗi nơi mình mà ngược lại đi trách ông Trời bất công với mình.
Bởi vậy, người làm việc tốt thật sự không cần để người khác biết. Nếu làm việc tốt nhất định phải có giới truyền thông đưa tin, phải lên báo, lên đài truyển hình, thì đây không phải là việc tốt thật sự. Tại sao vậy? Vì ý không tốt, những việc tốt đó làm là do hư danh mà làm, làm để cho người khác xem, chẳng phải thật lòng vì người cần giúp đỡ mà làm. Nên thiện này là giả thiện, chẳng phải chân thiện. Nếu là chân thiện thì cần gì để người khác biết. Tuyệt đối tránh tình trạng truyền thông đưa tin, như vậy mới tốt.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT🙏🏻🙏🏻🙏🏻
_ Pháp sư Tịnh Không_
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng và ngoài trời
https://www.facebook.com/permalink.p...bstory_index=0
http://khaiminh.org/ngo_van_lai/am_duc.htm
http://tuvilyso.net/diendan/forum_posts.asp?TID=23286
-
Tránh Sắc Dục - Tích Đại Âm Đức
Tránh tà dâm, được phước đức
Lữ Thanh sống vào triều Minh, thường ngày ưa thích đàm luận việc dâm ô và nhìn trộm phụ nữ; khi anh ta được 30 tuổi, gia cảnh bần cùng đến cực điểm, hai người con đều lần lượt qua đời.
Một ngày kia, Lữ Thanh đột nhiên chết bất đắc kỳ tử và nhìn thấy ông nội rất tức giận, nói với anh ta: “Nhà chúng ta hai thế hệ đều tích thiện, mệnh của cháu lẽ ra phát tài lớn; chẳng ngờ đến cháu, tâm ưa sắc đẹp, mắt miệng đều tạo nghiệp chướng, phúc báo đều sắp cạn sạch rồi. Ta e rằng cháu sẽ thật sự phạm phải việc tà dâm, như thế hậu duệ cả nhà chúng ta sẽ không còn hy vọng gì nữa; do đó ta mới cầu xin Diêm vương bắt cháu xuống âm tào địa phủ để xem xem, cho cháu biết lợi hại thế nào!”
Lữ Thanh nói: “Nghe nói tư thông với vợ người khác mới phải nhận báo ứng là tuyệt tự; sự thật cháu rất sợ nhận phải báo ứng này nên mới chưa từng phạm phải!”
Vị Minh lại đứng bên cạnh nói: “Há chỉ là tuyệt tự không thôi! Nếu như là người nữ chủ động đến cám dỗ mà tự mình thuận theo chứ không chối từ, thì tội nghiệt này chính là báo ứng tuyệt tự. Còn nếu là tự mình dụ dỗ thúc ép người ta, hơn nữa tái phạm nhiều lần, làm bại hoại luân thường người ta, khiến người ta phá thai, thậm chí giết chồng giết con, thì chính là đại tội, há chỉ là tuyệt tự không thôi? Đối với tội tà dâm, pháp luật ở thế gian quá ư khoan hồng, thế nhưng pháp luật ở âm gian lại rất nghiêm khắc. Phàm là người hễ động dục niệm tà dâm, thì ba thần xác sẽ đến tự thú, Táo quân và Thành hoàng sẽ đến trình tấu sự thật; nếu như họ giấu diếm hoặc bỏ sót, thì cũng là lỗi nặng! Ngươi thử xem hôm nay xử trí thế nào thì sẽ rõ ngay.”
Một lúc sau, đám quỷ tốt đưa rất nhiều phạm nhân từng phạm tội tà dâm đến trước mặt; họ đều đeo xiềng xích, quỳ trên mặt đất; Diêm vương nghiêm khắc phán: “Người này biến thành kẻ ăn xin vừa điên vừa câm, người này biến thành kỹ nữ mù mắt, người này hai đời làm trâu, người này mười đời làm heo.” Diêm vương phán xét xong xuôi, đám quỷ tốt lại áp giải họ đi đầu thai.
Lữ Thanh xem xong sợ đến sởn cả gai ốc. Vị Minh lại nói: “Còn có nhiều trừng phạt nghiêm khắc hơn nhiều! Ngươi nhất thiết không được vì chốc lát thèm muốn hoan ái mà đánh mất thân người, cần phải tránh sắc như tránh mũi tên, đồng thời mau chóng in bài văn để khuyên răn người đời!”
Một lúc sau, Diêm vương lệnh thả Lữ Thanh về dương gian. Lữ Thanh in một vạn bài viết du địa phủ để cảnh tỉnh thế nhân, lại rất cố gắng làm việc thiện.
Khi Lữ Thanh được 40 tuổi thì liên tục sinh hai người con, gia tài lên tới bạc triệu, giàu có phi thường. Lữ Thanh sau đó quyết định đoạn tuyệt duyên trần, đi về Nam Hải tu Đạo.
Đây là đồng hương Thái Tinh của Lữ Thanh ghi lại.
_________________________________________________-
Người xưa đều rất chú trọng tu dưỡng đạo đức nhân luân, cũng tin rằng hành thiện là phải lấy thủ đức bất tà dâm làm trọng. Người có thể nhìn sắc mà bất tà dâm ắt sẽ tích đại âm đức (*), được đại phúc báo.
Vào triều Minh, ở Ninh Ba tỉnh Chiết Giang có một thư sinh tên là Tôn Đạo, do gia cảnh bần hàn nên lấy việc dạy dỗ trẻ con làm nghề nghiệp kiếm sống. Sau đó vì không giữ được chức nghiệp này, bèn gửi thân nơi nhà họ Trương ở Đường Tây, giúp sao chép viết lách, đổi lấy chút cơm áo sống qua ngày. Tuy thân trong cảnh thanh bần, nhưng trước sau vẫn kiên trì chính trực, không thay đổi tiết tháo thanh bạch của mình.
Một hôm lúc đêm khuya, nhà họ Trương có một nữ tỳ, lớn lên có chút nhan sắc, nhìn thấy Tôn Đạo tuy ăn mặc giản dị nhưng mặt mày khôi ngô tuấn tú, cử chỉ nho nhã, bất giác xuân tình dập dờn, mới lẻn vào phòng Tôn Đạo định gạ gẫm quan hệ bất chính. Tôn Đạo sau khi biết ý đồ cô gái, liền dùng lời lẽ nghiêm khắc cự tuyệt: “Cô nương hãy bỏ ngay ý nghĩ sai lầm ấy! Phải biết quý trọng thanh danh của mình chứ! Tôi là người đọc sách Khổng Mạnh, nghe theo lời dạy nam nữ thụ thụ bất thân, lẽ nào đi làm cái việc thú tính đồi phong bại tục như thế! Xin cô mau đi đi cho!” Nói rồi trừng mi trợn mắt, mở rộng cửa để cô gái bước ra. Cô nữ tỳ đành chịu, thẹn thùng bước ra cửa mà đi.
Nào ngờ cảnh này đã bị ông thầy tư thục phẩm hạnh không đoan chính của nhà họ Trương thấy được. Ông ta thấy cô gái mỹ miều như hoa, nên lợi dụng cơ hội này tìm cớ lén hẹn hò cô nữ tỳ. Sau khi làm việc cẩu thả không lâu, ông thầy tư thục bỗng nổi mụn nhọt, không thuốc trị được, đau quá bèn bỏ dạy về nhà điều trị. Quả báo tà dâm đến ngay lập tức, quả nhiên rõ như ban ngày! Lẽ nào chưa đủ khiến người đời sau lấy làm gương?
Vị thầy tư thục đi rồi, chủ nhà mời Tôn Đạo làm thầy dạy con của họ. Một ngày nọ, Tôn Đạo chạm mặt người chú ở Giang Khẩu. Người chú kinh ngạc nói: “Có một việc kỳ quái mà ta tìm cháu để nói. Vì con ta mắc bệnh nặng, ta đến miếu hoàng thành cầu khấn, tối hôm ấy ta có một giấc mộng rõ ràng. Mộng thấy lão thành hoàng ngồi trên điện, hô hoán thuộc hạ cải mệnh cho một số người được định sẵn là sẽ bị chết đói. Khi đọc đến khoảng người thứ mười mấy, ta nghe thấy tên cháu. Ta trộm hỏi vị minh quan, vì sao Tôn Đạo có thể cải mệnh? Minh quan nói: ‘Bản mệnh người này, năm 46 tuổi sẽ chết đói ở xứ người. Vì đêm ngày 18 tháng 4 năm nay, anh ta nghiêm khắc cự tuyệt dâm bôn với tỳ nữ, tích được đại âm đức, bởi thế kéo dài thọ mệnh hai kỷ (một kỷ là 12 năm), đổi từ chết đói thành lộc tịch’. Cháu nhớ lại xem, có đúng cháu từng cự tuyệt tỳ nữ dâm bôn hay không?”
Tôn Đạo lặng lẽ gật đầu thừa nhận là có chuyện đó.
Sau đó, thuận theo việc học sinh theo học Tôn Đạo ngày càng nhiều, tiền học học sinh nộp mỗi năm mấy trăm lạng bạc. Đến năm Vạn Lịch thứ 36 triều Minh, Tôn Đạo 46 tuổi, cũng chính là năm cần cải mệnh chết đói, quả nhiên xảy ra mất mùa, giá gạo trở nên rất đắt, người nghèo hoàn toàn không có tiền mua, khi ấy người chết đói rất nhiều. Tuy nhiên Tôn Đạo không chỉ thoát được kiếp này, mà cuộc sống còn hết sức dư dả. Đến những năm cuối đời, phủ họ Tôn đã trở thành cự phú, ứng nghiệm với điều mà minh quan gọi là “lộc tịch”. Năm 70 tuổi, ứng nghiệm với câu “kéo dài thọ mệnh hai kỷ”, Tôn Đạo không bệnh mà mất.
Từ đó mà thấy, đúng là: trên đầu ba thước có trời xanh, hành vi nơi phòng kín mà bị Thần nhìn rõ. Cự nữ dâm bôn âm đức lớn, thọ thêm hai kỷ bất hư truyền. Xin khuyên người đời mau thủ đức, Trời ban Thần tặng phúc lộc toàn. Ngẫm chuyện xưa xét việc nay mà cảm khái vô cùng. Dưới sự đầu độc của thuyết vô thần, hiện nay ở Trung Quốc, quan viên hủ bại, tham lam tột độ, dân chúng cũng bị cuốn theo, trong dòng dơ bẩn của đồi trụy mà như cá gặp nước, tự cảm thấy vui vẻ lắm. Nào là tình dục ngoài hôn nhân, tình một đêm, bao bồ nhí, ở với nhau không cần kết hôn, sống thử, v.v. có thể nói là loạn bát nháo cả rồi.
Vạn ác dâm vi thủ, thiện ác hữu báo thị thiên lý, đây là định luật bất di bất dịch của Trời, không phụ thuộc ý chí con người. Vậy thì thử nghĩ xem: cổ nhân cự nữ dâm bôn tích đức được phúc báo thọ thêm hai kỷ, phóng túng tà dâm tổn âm đức gặp phải báo ứng như thế nào? Hỡi những ai lạc đường, hãy mau thanh tỉnh đi thôi! Triệt để vứt bỏ hành vi tà dâm đồi bại, trở về khí tiết chính đạo trọng đức, chính khí trời đất trường thịnh bất suy, thì may mắn lắm thay!
__________________________________________________ _____________
Quan hệ tình dục ngoài hôn nhân chính là tội tà dâm. Hành vi này trời đất không dung, quỷ thần phẫn nộ. Ngay khi một ý niệm dâm dục khởi phát, thậm chí trước khi hành vi nào đó xảy ra, đã là phạm tội lỗi lớn (tạo nghiệp to lớn). Nếu phạm lỗi, không chỉ người đó đã gây ra tai họa lớn cho chính mình, mà còn mang tới bất hạnh cho con cái họ.
Sự lạc thú từ tội tà dâm chỉ là nhất thời, nhưng tội nghiệp mang lại thì thật to như núi. Đối với những người phạm tội tà dâm, một số thì bị mất mạng, một số thì bị mất chức vị, một số hủy hoại gia đình và một số thì bị tuyệt tự. Một người có thể có mệnh phú quý, nhưng nếu phạm tội tà dâm, anh ta có thể trở nên khốn khổ lao đao suốt cuộc đời. Một người có thể có mệnh được hưởng phúc và thọ, nhưng nếu phạm tội tà dâm, anh ta có thể bị tật nguyền hay chết yểu. Một người có thể có vợ hiền thục và tiết hạnh, nhưng nếu phạm tội tà dâm, bạn đời của anh ta có thể trở nên lẳng lơ và phóng đãng.
Trong quá khứ, một số người có công năng có thể nhìn thấy rằng quả báo với tội tà dâm là nghiêm trọng nhất. Lấy ví dụ, thông dâm với vợ người khác, hay làm ô uế con gái nhà người ta sẽ bị đày đọa dưới địa ngục trong 500 năm. Sau đó, anh ta có thể phải mang thân trâu ngựa trong 500 năm nữa, trước khi được chuyển sinh thành người. Thậm chí khi thành người, anh ta có thể phải làm nghề kỹ nữ. Nếu ai đó bày mưu thông dâm với một góa phụ hay ni cô, làm bại hoại nhân luân, người đó sẽ phải chịu khổ dưới địa ngục trong 800 năm. Sau đó, anh ta có thể đầu thai thành lợn hoặc dê để bị mổ lấy thịt trong 800 năm tiếp theo. Đến khi lại được mang thân người, anh ta có thể bị đau khổ vì tàn tật. Quyến rũ người có địa vị cao hay trẻ nhỏ, làm bại hoại cương thường, sẽ khiến người đó chịu khổ dưới địa ngục trong 1.500 năm. Đến khi lại được mang thân người, người đó có thể bị chết trong bụng mẹ hay chết non, tức là có một đời sống cực ngắn. Tất nhiên, những quả báo này không phải là toàn bộ, mà có thể khác nhau tùy theo trường hợp. Tuy nhiên, điều này cho thấy mức độ nghiêm trọng của tội tà dâm.
Mặc dù quả báo với tội tà dâm là cực kỳ nghiêm trọng, nó thậm chí còn nghiêm trọng hơn với những người xúi giục người khác. Sự đau khổ trong địa ngục là ngoài sức mô tả. Một khi vào ngục vô gián, thì sẽ không còn đường ra nữa. Sự hưởng lạc và phóng túng nơi nhân gian chỉ là rất ngắn ngủi, vì thế chúng ta không nên làm ngơ với những gì sẽ chờ đợi chúng ta sau khi chết. Một người khôn ngoan nên hiểu rõ điều này.
https://adidaphat.jimdo.com/tr%C3%A1...%91%E1%BB%A9c/
-
Âm đức
V Tra Hán Việt Tra Pinyin
Có 1 kết quả:
陰德 âm đức
陰德
âm đức Copy liên kết
Từ điển trích dẫn
1. Làm điều đức hạnh kín đáo người ta không biết tới. ☆Tương tự: "âm công" 陰功.
2. Sự việc ở hậu cung vua.
3. Tên ngôi sao (trong cung tử vi).
Từ điển Nguyễn Quốc Hùng
Việc làm tốt đẹp không được ai biết, nhưng thần thánh biết và sẽ đền bù. Cũng như Âm công 陰功.
-
(3) tích âm đức
Làm thiện mà không phải vì danh, giúp người mà không lưu danh, thi đức thi huệ đều là vô tâm mà làm. Thấy chết mà cứu, thấy nghèo mà giúp, thấy thiện sự không vì để người biết gọi là âm đức. có âm đức thì tất có dương báo; có ẩn hành thì tất hữu chiêu danh.
Tích âm đức là ở trong vô tâm, tích nền tảng phúc đức tốt đẹp, phúc báo âm đức có thể truyền cho con cháu, phúc này trọn lâu dài.
https://sites.google.com/site/daogiaquan/home/tich-dhuc
-
-
Ma là thứ giúp đỡ mình tu đạo. Ma giúp mình ở mặt trái, xem mình có chí nguyện kiên cố hay chăng. Nếu bạn thật kiên cố thì dù có ngàn con ma hại, bạn cũng không thay đổi, vạn con ma phá, bạn cũng không thối sụt. Cái gì bạn cũng không sợ, vì bạn không có gì mong cầu.
Muốn dưỡng khí, bạn không nên nói chuyện nhiều quá. Người tu nếu không biết ít lời thì sẽ chẳng thể tu đặng. Không nuôi dưỡng cái khí lực thì chẳng có pháp. Cứ nói chuyện hoài thì pháp sẽ mất hết. Bấy giờ xem bạn còn tu đạo gì nữa?
Kỳ thật vạn sự vạn vật đều thuyết pháp. Cái bàn nói cái pháp của cái bàn. Cái ghế nói pháp của cái ghế. Việc gì chuyện gì cũng chuyển pháp luân. Người chuyển pháp luân của người. Con mèo chuyển pháp luân của con mèo. Nếu bạn hiểu rõ, thì bạn sẽ nghe được cái pháp hiểu rõ. Nếu bạn không hiểu rõ thì bạn chỉ nghe cái pháp ngu si.
Ðừng để danh lợi làm đầu óc mê muội. Tới chết thì vẫn hai tay trắng. Rằng: Ðừng để tới già mới học đạo, mộ phần đầy dẫy đám thiếu niên.
Tật xấu của tín đồ Phật giáo là ai cũng cho mình đúng, chẳng quan tâm đến ai khác; không có người nào tự nhận mình là sai lầm, ngược lại, bài xích lẫn nhau, dèm pha nói xấu lẫn nhau.
Trong quá trình tu hành không có lúc nào mình được lười biếng. Tu đạo thì phải kiên trì hoài hoài, không để gián đoạn. Nếu không thì tu hằng hà sa số kiếp mà cũng như nấu cát mà đòi có cơm. Chẳng thể có chuyện đó.
Có chân chính biện tài vô ngại thì không cần nói lời chải chuốt. Bởi vì lời lẽ phát xuất từ tự tánh quang minh, trong kho tàng trí huệ của Như Lai. Dùng lời chọn lọc, chải chuốt, lại có phản tác dụng, biến tốt thành xấu. Người xưa nói:
Thông minh là do làm âm đức. (Âm đức là việc tốt mình làm trong im lặng, không cho ai biết)
Âm đức dẫn vào đường thông minh.
Không làm âm đức để thông minh.
Thông minh sẽ bị thông minh lừa.
Thương thân: đừng để thân mình phạm pháp.
Thương nhà: đừng để gia đình bị tan nát.
Thương nước: hãy hy sinh cho đất nước.
Không phải rằng ăn chay là giữ giới sát đâu. Cũng chớ nói rằng: Tôi không có chính tay giết chúng sinh nào, rồi cho rằng không phạm giới sát. Giới sát cần phải trong tâm mình không khởi lòng sân hận đối với chúng sinh.
Khi bạn có lòng lo sợ thì dù bạn không muốn ma lại, ma cũng sẽ tới. Bạn không có tâm lo sợ, thì dù ma muốn tới cũng không thể nào tới. Ðây là bí quyết quan trọng nhất: đừng có sợ hãi. Khi bạn không sợ hãi thì tâm sẽ chính. Chính thì có thể hàng phục mọi thứ, bởi vì tà bất thắng chính. Vì thế ma sợ nhất chính là bốn chữ: Chính đại quang minh.
Người minh tâm thì không ngu si. Kẻ kiến tánh thì không âu sầu. Tâm như gương sáng, lại cũng như nước lặng.
Các bạn nên: Tùy duyên để tiêu nghiệp cũ, chớ tạo thêm tội mới.
Kẻ tự mãn, (kiêu ngạo, cho mình quá tốt quá giỏi quá đủ) thì tuyệt đối chẳng thành tựu được gì cả. Mình phải học: Có mà dường như không, thật mà dường như giả. Có đạo đức cao thượng thì dường như chẳng có vẻ gì cả. Kẻ chân chính có tài hoa, thì y có vẻ như chẳng có tài gì cả.
Sau đây là Sáu cái đừng:
Khi ngồi đừng đu đưa chân, rung đầu gối.
Khi đứng, đừng rung quần.
Khi đi đừng ngoái đầu.
Khi nói đừng lộ lưỡi.
Khi cười đừng cười lớn tiếng.
Khi nóng giận đừng la hét.
Phải tập: Suy nghĩ chín chắn rồi hãy nói, lòng vui rồi mới cười, thấy việc ấy có nghĩa mới làm.
Tất cả pháp hữu vi ở cõi đời này, thật sự là hết sức mỏng manh, không chắc chắn gì hết. Chẳng có chuyện gì vĩnh viễn không biến hoại. Tất cả mọi sự mọi vật không thứ gì kiên cố cả.
Chúng ta ai mà thường thường cứ nổi nóng tức giận, nổi lửa vô minh, thì chính là đang ở trong lưới của ma. Làm sao thoát lưới ma? Rất dễ dàng: Ðừng nóng giận. Không nổi dóa, không có lửa vô minh, không sân giận thì sẽ thoát lưới ma ngay.
Thân thể của mình là giả, thế sao mình cứ chấp trước nó hoài vậy? Vì sao mà cứ vì nó mà tạo tội nghiệp, chẳng thể buông bỏ.
Người tu đạo phải tu hạnh viễn ly: Viễn ly tài sắc danh thực thùy, viễn ly mọi thứ xấu ác. Gần gũi mọi thứ thiện.
Ai có thể hàng phục sáu căn, sáu trần, sáu thức khiến chúng nghe lời, không tạo phản, kẻ ấy là Bồ Tát.
Ai có thể quét sạch tình cảm, lòng không còn rác rưởi dơ bẩn, kẻ ấy là Bồ Tát.
Các vị phải thức tỉnh, giác ngộ đời người là vô thường. Con quỷ vô thường không biết lúc nào sẽ tìm mình. Lúc ấy: Ngàn thứ chẳng đem theo đặng, chỉ có nghiệp theo thân. Nếu bây giờ không dụng công thì đợi đến lúc nào, đến kiếp nào mới tu đây?
Bạn nên biết rằng hai chữ danh và lợi làm hại tất cả người đời.
Không có lòng tham dục thì phiền não gì cũng chẳng có. Một khi có lòng tham dục thì chuyện gì cũng xảy ra. Thế giới, vạn sự vạn vật vạn loài, thứ gì cũng do lòng tham dục sinh ra cả.
Thật ra những thứ sơn yêu, thủy quái, tinh mỵ v.v... không phải là chuyện phiếm đâu. Song nếu lật ngược vấn đề lại nhìn thì nếu mình giữ lòng mình cho thanh tịnh, không có tà niệm, thì lúc nào cũng có thiên long bảo vệ mình. Hãy kiên cố giữ tâm đừng để sơ hỡ, thì ma chướng từ đâu mà lọt vào chớ.
Kẻ có trí huệ thì không có phiền não.
Dựa vào chân mà có vọng. Khi vọng hết thì chân hiện bày. Vọng chưa dứt thì chân không hiện.
Người học Phật chớ nên hễ nghe người ta khen là vui vẻ cao hứng lắm. Nghe một câu không vừa ý thì phiền não vô cùng. Ðó là biểu hiện chẳng có định lực. Có định lực thì bạn không bị cảnh giới của tám gió làm lay chuyển.
Lúc nào các bạn cũng phải tu hành, lúc nào cũng siêng năng cầu thoát ra khỏi cõi đời trần thế này.
Sinh tử nguy hiểm như vậy mà mình còn dám lười biếng sao! Lại còn ra vẻ như chẳng có chuyện gì, tựa như rằng mình có định lực ghê lắm. Chẳng phải đó là lãng phí thời gian sao?
Bậc đạo đức cao tăng xưa kia, thường thường tới một cách vô hình mà ra đi cũng không dấu tích. Tới thì phiêu phiêu, đi thì hốt hốt. Tới như gió thoảng, đi cũng như gió thoảng. (Tuy rằng đạo phong của các ngài truyền lưu muôn thuở). Tới thì vô quái vô ngại, đi cũng vô quái vô ngại.
Siêng tu giới định huệ tức là người quân tử thì hướng về phía trước mà tiến. Khi trừ diệt tham sân si thì mình không cần phải hướng xuống nữa.
Ma vô cùng thông minh. Nó rình biết người kia có lòng tham muốn thứ gì thì nó sẽ dùng phương pháp thích hợp để dụ hoặc người đó. Do đó người tu hành chúng ta không cần thiết phải niệm chú gì đặc biệt, cũng không dùng pháp môn gì. Chỉ cần mình chân thật, không tranh, không tham, không mong cầu, không ích kỷ, không tự lợi, cứ chăm chỉ khổ tu, thì không có ma gì phá hại được bạn. Chỉ cần bạn có lòng tham, có lòng kiêu hãnh, muốn chiếm tiện nghi, muốn tìm đường tu tắt, thì sẽ dễ dàng bị dính vào ma sự.
Khi sinh tâm ô nhiễm , thì đó là thế giới Ta Bà.
Khi sinh tâm thanh tịnh, thì đó là thế giới Cực Lạc. Thế giới Lưu Ly và Cực Lạc không có gì khác biệt đâu.
Xây chùa không bằng xây người. Xây người không bằng xây Phật.
Bạn phải đang cơ (ngay lúc chuyện xảy ra) mà quyết định (phải làm gì). Không nên ủy mỵ, trù trừ chẳng quyết, rồi cứ dây dưa mãi, khiến mất đi thời cơ quý báu. Chớ nên lết chân chẳng quyết, phải mau chặt đứt phiền não, liễu thoát sinh tử.
Trời đất không thể một ngày không hòa khí, lòng người không thể một ngày thiếu hỉ thần (niềm vui). Ngày ngày mình phải mời hỉ thần tới tâm, làm bạn với hỉ thần. Vậy thì mình sẽ không có phiền não. Ðiều này đối với người tu cũng quan trọng lắm.
Mình phải dập tắt chiến tranh thế giới, không phải là phản đối chiến tranh. Khi bạn có tâm phản chiến thì chiến tranh nơi thân bạn đã phát sinh rồi. Khi bạn phản đối kẻ khác, hay phản kháng chiến tranh, thì chiến tranh trong tâm bạn đã khởi dậy rồi.
Bạn không tin nhân quả báo ứng? Chờ tới khi nó đổ xuống đầu bạn, lúc ấy muốn trốn cũng trốn không kịp.
Ngồi kiết già là để dễ dàng nhập định. Nếu bạn có thể nhập định lúc đi, thì ngồi hay không ngồi đều như nhau. Cảnh giới nhập định thì hoàn toàn vắng lặng vọng tưởng, trong tâm không sinh một niệm, không nhiễm bụi trần. Nếu bạn có thể trong lúc đi đứng nằm ngồi không sinh ý niệm nào cũng chẳng nhiễm bụi trần gì thì đó chính là chỗ bạn dụng công. Không phải rằng ngồi xuống mới gọi là dụng công.
Ðừng nên bị những tướng hư giả làm điên đảo.
Không thể nhầm lẫn trong lý nhân quả, không thể đình trệ trong việc tu hành.
Người tu hành thì lánh xa danh lợi. Họ xem phú quý như những giọt sương giữa khóm hoa. Họ xem công danh như hơi nước trên mái ngói, trong khoảnh khắc sẽ tan biến mất dấu tích. Nếu bạn muốn trắc nghiệm xem người nào đó có tu hành hay không thì hãy xem việc làm, hành động của người đó có nhắm về danh với lợi chăng.
Không khóc không cười, đó gọi là định lực. Không có định lực thì mới hay khóc hay cười.
Nếu thường tinh tấn thì đó tức là ở trong định. Nếu bạn có thể tùy thuận theo duyên bên ngoài mà không biến đổi, không thay đổi chí hướng nhưng có thể thích ứng với hoàn cảnh, thì đó gọi là Kim Cang Ðịnh. Kim Cang Ðịnh không phải là thứ có hình tướng, nó chỉ là tâm bồ đề không biến hoại mà thôi.
Xem đầy đủ tại đây :
http://www.chuakimquang.com/vn/Tu-Li...gu/Phap-Ngu-2/
http://vnvista.com/gioidinhhue/thong...m-am-duc-84848