-
Cây thuốc chữa bệnh về gan, kể cả ung thư thời kỳ cuối
***
(Kênh 13) – Các bệnh về gan và ung thư là những căn bệnh thế kỷ đã cướp đi sinh mạng nhiều người. Sau đây, BBT sẽ chia sẻ về 1 bài viết hay về các cây thuốc chữa bệnh gan do một thành viên chia sẻ như sau: –
Tôi tên Hòa, 50t, sống ở thị trấn Lộc Ninh, Bình Phước. Khoảng 1 năm trước đây, sức khỏe tôi bỗng suy giảm, da bắt đầu vàng, bụng chướng, ăn uống không được như trước, sức khỏe yếu dần. Thấy hoài nghi về sức khỏe tôi lên bệnh việc Chợ Rẫy ở Hồ Chí Minh, sau một loại các xét nghiệm và kiểm tra các bác sỹ đã chuẩn đoán tôi có một khối u trong gang, và chuyển tôi thẳng vào Bệnh Viện Ung Bướu ở Bình Thạnh.
Tại đây các bác sỹ lại chẩn đoán thêm một lần nữa tôi có khối u gan khoảng bằng 1 trái chanh và đang ở thời kỳ cuối. Cách duy nhất để cứu vãn tình hình đó là mổ lấy khối u, nhưng tỉ lệ thành công là 50%, cho dù ca phẫu thuật có thành công thì tôi chỉ sống được có vài năm.
Khi tôi và gia đình biết tin thì vô cùng tuyệt vọng và đau buồn, nhưng quyết định về nhà và không phẫu thuật, vì sức tôi cũng đã yếu dần. Tôi biết rất nhiều người mắc bệnh gan như tôi, nhưng bệnh gang có một đặc điểm là không có một biểu hiện bệnh lý nào biểu hiện ra bên ngoài nên người bệnh rất khó biết, kể cả các xét nghiệm và khám thông thường cũng không phát hiện ra, chỉ trừ những biện pháp khoa học kỹ thuật cao như CT, MRI…
Đến khi người bệnh thấy biểu hiện bệnh lý phát ra bên ngoài thì đã quá muộn, cũng như tôi khi đã phát hiện ra là đang ở thời kỳ cuối. Ban đầu tôi nặng 59kg, nhưng từ khi phát hiện bệnh, ăn uống dần không được, mỗi ngày chỉ uống được một muỗng sữa, chẳng thèm khát bất cứ thứ gì.
Rồi dần dần tôi chỉ còn 39kg, gần như da bọc xương, và nói thẳng ra là chờ chết. Nhiều người bạn đã chỉ tôi dùng sừng tê giác để chữa bệnh. Cho dù gia đình tôi cũng khó khăn nhưng cũng ráng chạy mua một miếng nhỏ sừng tê giác bằng một đốt ngón tay út. Sừng tê giác chỉ mài uống được 7 lần nhưng bệnh tình hầu như không giảm.
Thật tình cờ, tôi đã được một người bạn chi một loại cây chữa bệnh gan vốn là gốc người Campuchia nhưng lớn và sinh sống tạị gần khu vực biên giới của Bình Phước. Người bạn này đã chỉ cho cây “ an xoa” vốn là một phương thuốc bí truyền của gia đình nhưng vì thương người, người bạn này đã chỉ tôi tận tình.
Người nhà tôi tức tốc đi tìm cây “an xoa” về sắt nhỏ, rửa sạch, phơi khô, sao vàng hạ thổ rồi đem nấu nước uống. Ban đầu thì nấu thành một chén nhỏ thật đặc cho tôi uống, sau đó lấy bã còn trong bình nấu loãng thêm 2 chén nữa. Như vậy là một ngày tôi cố gắng uống được 3 chén thuốc, không giống như các cây thuốc Nam khác, cây an xoa có vị rất dễ uống, thơm ngon, giống như trà.
Khi uống vào bụng tôi cồn cào, sôi sung sục, như cảm giác bụng đói, hơi khó chịu. 3 ngày đầu uống thuốc, tôi bắt đầu đi ngoài, ban đầu phân vô cùng tanh hôi, và sệt sệt như người hay đi kiết. Tôi đi ngoài được 3 ngày như vậy, sang ngày thứ tư là bắt đầu đi phân bình thường, bắt đầu có cảm giác thèm ăn, nhìn bất cứ thứ gì cũng muốn ăn mặc dù trước đây không hề có. Giấc ngủ tôi cũng sâu và ngon hơn trước.
Lúc đầu tôi ăn được vài muỗng cháo, sau đó tăng lên một chén, 2 chén, rồi chuyển qua thèm cơm, rồi từ từ tôi đã ăn uống lại bình thường, da dẻ dẻ hồng hào, không còn vàng da như trước. Đặc biệt bụng tôi bắt đầu xẹp dần, thon gọn trở lại, Quá trình chuyển biến từ uống một muỗng sữa sang ăn cơm, da dẻ hồng hào, khỏe mạnh chỉ vẻn vẹn trong vòng 3 tháng. Người nhà tôi đã đưa tôi xuống Bệnh Viện Ung Bướu tái khám, thật không ngờ khối u trong gan đã biến mất, chỉ còn lại lớp bọc bên ngoài nhỏ như đầu ngón tay út.
Các bác sỹ và người nhà tôi cũng hết sức ngỡ ngàng, bệnh tình tôi đã khỏi và khỏe mạnh trở lại. Cây “an xoa” quả đúng là thần dược, đã đưa tôi từ cõi chết trở về. Lúc này tôi mới biết quý sinh mạng của mình hơn, và thương những người cùng cảnh ngộ không may mắn gặp được thần dược như tôi. Từ khi phát hiện loài cây này, tôi đã chỉ rất nhiều người bệnh về gan như: viêm gan siêu vi B, C, ung thư gan, men gang cao, hay thậm chí những người hay đau lưng, nhức mỏi, da xanh, mất ngủ đều khỏi hẳn, kể cả những người tim hay mệt cũng giảm bớt.
Thêm một trường hợp khác cũng là người bạn tôi, bị chứng viêm gan C, da dẻ cũng vàng, bụng cũng chướng, kèm theo viêm đại tràng cấp mãn tính nhưng chưa đến mức nặng như tôi. Theo lời khuyên của bác sỹ, những người viêm đại tràng không nên dùng thuốc Nam vì tính hàn trong thuốc Nam vì thuốc Nam có tính hàn.
Nhưng người bạn tôi vẫn muốn dùng thử để chữa bệnh mặc dù không tin là mấy. Thật không ngờ sau vài ngày sử dụng, bạn tôi cũng đi phân lỏng, sau đó đi phân bình thường, rồi từ từ da dẻ cũng hồng hảo, khỏe mạnh lại. Người bạn này chỉ mới sử dụng 1 tháng, nhưng viêm đại tràng đã dần hồi phục, không còn bị phân lỏng, và khỏe mạnh như người bình thường.
Như vậy không chỉ chữa bênh gan, mà an xoa còn chữa bệnh đại tràng cực kỳ hay, kể cả những người bịnh trĩ. Thật ra chức năng chính của cây an xoa là giải độc gan, viêm, sưng tấy ở hệ ruột. Ngoài chức này thì tôi chưa biết đến công dụng nào khác. Nhưng tất cả các bệnh về gan tôi chắc chắn với mọi người rằng tất cả các bệnh liên quan đến gan nó đều chữa được, kèm theo kích thích tuần hoàn, tiêu hóa cực tốt, ăn được, ngủ được. Ngoài công dụng chữa bệnh nó còn là một thần dược để làm đẹp da, nhiều chị em trở nên hồng hào, mặt căn tròn trông trẻ hơn rất nhiều.
Cận cảnh trái cây an xoa.
Tôi đã uống rất nhiều loại thuốc Nam, không có cây nào dễ uống, khỏe mạnh, đẹp da, giảm mỡ gan, giảm mỡ bụng hiệu quả bằng cây an xoa. Trái của cây an xoa Nhờ ơn cứu mạng của cây an xoa, nên tôi đã cố gắng chia sẽ tất cả những gì tôi biết về loại cây này sẽ đến các bác, cô, chú, anh, chị, em gần xa.
Tại Bình Phước, loại cây này hiện nay đang được nhiều bà con dùng, cho dù bệnh, hay không bệnh đều dùng cây này nấu nước uống thay nước lọc hằng ngày. Nhưng chỉ một phần nào đó, vì cây thuốc quý này không phải ai cũng biết và tin dùng. Nhưng trong tương lai, bằng tấm lòng của mình tôi sẽ chỉ cho nhà nhà, người người đều dùng để bà con được khỏe mạnh, vui vẻ. Tôi mong các anh chị, cô chú, các bạn nếu ai trong tình cảnh như tôi có thể tìm đến loại cây này để chữa khỏi căn bệnh hiểm nghèo này.
Hiện nay tôi chỉ biết cây an xoa mọc ở khu vực tỉnh Bình Phước, nơi gần biên giới, và mọc hoang gần các đường mương. Nếu có cơ hội bà con cô bác có cơ duyên gặp được cây này và mang về sắc thuốc uống để chữa bệnh. Chú ý Do cây thuốc có nhiều cây na ná như nhau, có một loại cây rất giống với cây “an xoa” từ lá, thân, cho đến bông, và cả trái.
Tuy nhiên cây này mới ra trái có màu đen, chứ không màu xanh như cây an xoa và chưa biết có công dụng gì không. Mong bà con cần quan sát kỹ trước khi hái về uống. Trái cây an xoa có thể hơi ngứa, nên bà con nhớ bỏ trái, chỉ lấy lá, thân, cành để nấu nước uống mà thôi.
(http: //kenh13. info/cay-thuoc-chua-benh-ve-gan-ke-ca-ung-thu-thoi-ky-cuoi. html)
*******************
Kính thư các thầy, do tôi đọc ở trang web uy tín thấy có cách chữa ung thư từ lá cây đu đủ kính chia sẻ cho mọi người cùng tham khảo:
Trích trong bài báo
“Gần đây, thầy Thích Thông Thức, Tiến sĩ Phật học, Đại đức, trụ trì chùa Linh Am, Bắc Ninh cũng đã bày cho tôi một bài thuốc trị mỡ máu rất hay. Lấy cây chó đẻ, loại chó đẻ răng cưa, cùng với nửa trái dứa xanh gọt vỏ và một lạng gan lợn, đun sôi chừng 15 phút rồi uống hai lần trước khi ăn nửa tiếng. Sau hai tuần, sẽ sạch mỡ máu.”
“Để bài thuốc thật chuẩn thì phải lấy lá đu đủ, thái ra rồi phơi khô, thêm lá sả nữa. Nếu chia làm mười phần, thì 9 phần lá đu đủ, 1 phần sả, đun uống, thay cho nước chè, có thể uống hàng ngày. Nếu sau ba ngày, thấy phân đen và hôi kinh khủng thì hiệu nghiệm. Nếu ung thư, chắc chắn khỏi, nếu men gan cao thì bệnh cũng sẽ bay biến và không tái phát trở lại. Đó là một điều rất linh diệu.”
Trích trong bài báo:
“Gần đây, thầy Thích Thông Thức, Tiến sĩ Phật học, Đại đức, trụ trì chùa Linh Am, Bắc Ninh cũng đã bày cho tôi một bài thuốc trị mỡ máu rất hay. Lấy cây chó đẻ, loại chó đẻ răng cưa, cùng với nửa trái dứa xanh gọt vỏ và một lạng gan lợn, đun sôi chừng 15 phút rồi uống hai lần trước khi ăn nửa tiếng. Sau hai tuần, sẽ sạch mỡ máu.”
“Để bài thuốc thật chuẩn thì phải lấy lá đu đủ, thái ra rồi phơi khô, thêm lá sả nữa. Nếu chia làm mười phần, thì 9 phần lá đu đủ, 1 phần sả, đun uống, thay cho nước chè, có thể uống hàng ngày. Nếu sau ba ngày, thấy phân đen và hôi kinh khủng thì hiệu nghiệm. Nếu ung thư, chắc chắn khỏi, nếu men gan cao thì bệnh cũng sẽ bay biến và không tái phát trở lại. Đó là một điều rất linh diệu.”
https://biblebooks.home.blog/2020/03...y-thuat-ky-bi/
-
Quý Vị Muốn Biết Quỷ Là Gì Không?
(Hòa thượng Tuyên Hóa giảng)
Người gởi: Nguyễn Lan Phương
Quỷ có rất nhiều loại. Có người cứ tưởng rằng quỷ có bộ dạng hung ác, đáng sợ với bộ dạng mặt xanh, răng nhọn. Thật ra, không nhất định là như thế. Có lúc quỷ hóa ra thân người, mới thấy thì tưởng như người thật, nhưng lại là quỷ.
Nếu quý vị là người đã khai mở Ngũ Nhãn, bọn quỷ không thể nào lừa phỉnh được quý vị. Quỷ lại có thể biến làm súc sanh như: ngựa, trâu, dê, chó, thỏ và các loài cá... Vì sao chúng lại có thể biến hóa như thế? Bởi chúng có thần thông, hoặc giả là chúng biến làm con kiến, con muỗi, con trùng, con ruồi, con chim sẻ, con ong... Ví như lúc mùa xuân, trăm hoa đua nở, cho nên có hàng trăm con ong đến hút mật, nhưng trong đó có rất nhiều hóa thân của quỷ. Trong đám hoa có ong thật, mà cũng có ong giả. Ong thật là do nghiệp mà thọ quả báo, trong khi ong giả là do quỷ biến hóa thành. Chúng nó đi các nơi để hút nhụy hoa, uống sương hoa. Bởi vậy quý vị đừng tưởng rằng, nhất định là không thể thấy quỷ được. Quý vị hàng ngày đối diện với nó, vậy mà hãy còn không nhận ra nó. Cho nên có câu nói: “Đối mặt mà không biết là Quán Thế Âm.” Nhưng đây cũng có thể nói tương tợ như: “Đối mặt mà không biết là quỷ!” Bây giờ có người nói: “Thầy à! Thầy nói như thế, tôi thật là không dám tin đâu!” Ờ! Ông không tin thì thôi. Nhưng sao phải nói là không dám tin hả? Tôi cũng đâu có cưỡng ép ông tin, tôi chỉ nói đạo lý cho ông đề cao cảnh giác, để khỏi ngày ngày chung đụng với quỷ mà vẫn không biết.
Có người nói: “Eo ơi! Thầy mà nói như thế thì chỉ làm cho tụi con lo sợ, rồi tối đến cũng không dám ngủ.” Thế thì dứt khoát là đừng nên ngủ nữa, mà hãy lo tu Bát-chu Tam muội là được rồi. (Là tu pháp môn niệm Phật liên tục 90 ngày, hành giả sẽ không ngồi và cũng không nằm.) Nếu tôi nói lời chân thật thì nhất định quý vị sẽ không tin, thành thử tôi ít nói chuyện thật. Vậy có phải là tôi nói chuyện giả không? Không phải đâu, lời giả lại càng không nên nói. Chúng ta ít nói lời thật, còn lời giả dù một chút cũng chớ nên nói. Nếu chúng ta nói nhiều lời thật, người ta cũng không tin.
Lại nữa, yêu ma quỷ quái cũng có thể biến thành rất nhiều loại động vật khác nhau. Quý vị còn nhớ năm 1976, khi chúng ta mới dọn đến Vạn Phật Thành lần đầu tiên không? Lúc bấy giờ, có vị cư sĩ mua được một số rùa để đem phóng sanh. Trong đó có một con bị lật ngữa, bốn chân giơ lên trời. Cư sĩ Phùng Phùng cũng có mặt tại đó. Ông thấy có một người mặc y phục màu xanh đang hướng về ông cầu cứu mạng. Ông Phùng Phùng bèn đến tận nơi quan sát, ông phát hiện ra đó là một chú rùa đang bị lật ngữa. Quý vị thấy chưa! Con rùa đó cũng có linh tánh, cho nên nó biết hướng về ông Phùng Phùng để cầu cứu mạng. Vậy mà nhiều năm qua cũng chưa có ai chú ý đến chuyện nầy. Nhưng từ chuyện đó thì biết rằng tất cả chúng sanh, mỗi loài đều có quyến thuộc. Đó là vật cùng loài tụ họp với nhau, khí cơ tương dẫn y theo loại mà hiển hình.
Bây giờ mọi người đang để tâm nghiên cứu chú Lăng Nghiêm, mới biết là quỷ cũng có đủ hình đủ dạng, muôn ngàn loài khác nhau. Chúng nó đều là do cảm quả mà thọ báo, tùy theo loài mà hiện. Trong chú Lăng Nghiêm có nêu danh nhiều vị vua của quỷ thần, trong đó có quỷ dạ xoa (nhanh lẹ), quỷ la sát (kinh sợ), quỷ thủ hồn, quỷ thủ thi, quỷ tỳ xá xá (hớp tinh khí), quỷ cưu bàn trà (làm người tê liệt, còn gọi là bóng đè, ma đè), quỷ đại thân, quỷ điên, quỷ xú (thối), quỷ phú đan na (có mùi hôi độc), quỷ nhiệt, quỷ hàn, quỷ ảnh, quỷ âm nhạc... Ngoài ra còn có quỷ ăn hoa, quỷ ăn nhau sanh sản, quỷ ăn thai, quỷ ăn hài nhi, quỷ ăn mỡ, quỷ ăn đèn, quỷ ăn ngũ cốc... Sự biến hóa của chúng, quả là vô cùng vô tận, vô lượng vô biên.
Trước đây khi chưa nghe chú Lăng Nghiêm, chúng ta đâu biết có nhiều loại quỷ như thế. Nhưng sau khi chúng ta nghe rồi, mới biết là quỷ cũng có rất nhiều chủng loại. Đương nhiên quỷ so với người thì chúng nó đông hơn nhiều. Người tạo nghiệp tội thì bị đọa xuống cảnh giới quỷ, không thể tự mình thoát ra được.
Khi Phật còn tại thế, có lần Ngài hốt lên nắm đất và hỏi chúng đệ tử: “Các ông nói, đất trong tay ta nhiều hay là đất trên đại địa nầy nhiều?” Đệ tử thưa: “Đương nhiên là đất trên đại địa nhiều, còn đất trong tay Thế Tôn thì rất ít.” Thế Tôn nói: “Chúng sanh được thân người như đất trong bàn tay ta, trong khi chúng sanh bị mất thân người như đất trên đại địa.” Bị mất thân người như đất trên đại địa, vậy mất thân người rồi thì họ đi đâu, làm gì? Đương nhiên là đi làm quỷ! Vậy mà còn phải hỏi nữa sao? Cho nên quỷ so ra thì đông hơn người. Kể như có dùng máy điện não (computer) thống kê cũng không tính nỗi, trừ phi dùng “thần não” thôi. Thần não còn gọi là “thiên não”. Có người nói: “Thầy đã phát minh ra thiên não đó hồi nào vậy?” Không phải là tôi phát minh. Nếu quý vị không tin, thì cứ lên trời xem thử. Thiên não là tự tự nhiên nhiên vẫn luôn tồn tại. Loại thiên não nầy không cần người quản lý, cũng không dùng tay ấn xuống bàn phím đánh chữ (keyboard). Khi quý vị muốn biết điều gì, chỉ cần khởi niệm là tự nhiên nó sẽ tính ra ngay, tơ hào cũng không sai sót. Tâm quý vị nghĩ gì, nó lập tức biết liền. Bởi nó huyền diệu thông linh như thế nên tôi gọi là “THẦN”. Nhưng số lượng của quỷ e rằng dùng thần não cũng tính không xuể, bởi chúng nó quá nhiều. Hơn nữa, vừa mới tính xong là nó tăng vọt lên hàng ngàn, hàng trăm ức. Một giây khắc sau, chúng lại gia tăng thêm hàng ngàn trăm ức nữa. Do đó không cách nào tính cho chính xác được. Bởi vì quỷ cũng thoạt nhiên lên trời, rồi cũng thoạt nhiên xuống đất, không có cách nào để định được.
Quỷ cũng có quyến thuộc và bằng hữu. Nếu nó biết chỗ nào có ăn, nó sẽ mời bạn bè nó cùng tới ăn. Ví như loại quỷ ăn hoa có thể hóa làm ong mật hay bươm bướm, chúng đến đâu thì ăn nhụy hoa, uống sương hoa đến đó. Quỷ đói là do chỗ cảm nhận của quả báo, cho nên thường bị lửa đốt chẳng lúc nào ngừng. Thân thể nó cũng có lửa, bên ngoài, bên trong cũng có lửa. Lửa trong lửa ngoài giao nhau hừng hừng thiêu đốt, thống khổ khó tả. Vì sao bị quả báo như thế? Vì khi làm người lại có tánh giận dữ quá lớn, nên sau khi chết biến thành quỷ cũng chẳng được thoải mái, ngày đêm lại bị thiêu đốt, vĩnh viễn không mãn kỳ hạn, muốn trốn cũng trốn không khỏi. Nhưng nếu chúng ăn được một ít mật hoa, sương hoa là chúng giảm bớt được chút nhiệt não nóng bức. Dù chúng có cầu được mát mẻ chỉ một giây lát thôi cũng không được. Cho nên thiện ác, nhân quả, như bóng theo hình, không bao giờ sai chạy.
Quý vị! Hãy cẩn thận!
Lại có một giống quỷ chuyên ăn trái cây. Nhưng trước hết tôi xin giải thích sơ lược về bốn loại ăn (thực). Tất cả chúng sanh đều nhờ ăn để sống. Nói về ăn tức gồm có bốn loại:
1) Phần đoạn thực: Chúng sanh hữu tình, phàm hễ có khí huyết, hình tướng đều là phần đoạn thực. “Phần” là anh có phần của anh, tôi có phần của tôi. “Đoạn” là từng khúc, từng đoạn, hoặc là từng bữa, từng bữa. Giống như ăn sáng, ăn trưa, ăn tối, và không ăn giữa các bữa ăn, nên gọi là đoạn. Người và súc sanh đều thuộc về phần đoạn thực.
2) Xúc thực: Khi đụng chạm tiếp xúc là như ăn rồi. Quỷ thuộc loại xúc thực.
3) Tư thực: Chỉ cần nghĩ tới là no. Người cảnh trời thuộc về tư thực.
4) Thức thực: Ngay cả ý nghĩ cũng không cần khởi tưởng, vì cơ năng ăn uống ở trong thức thứ tám. Chư thiên ở Tứ Không Thiên thuộc về thức thực. Súc sanh đều có đồng loại với nó. Ví dụ như chim, cùng đồng loại thì chúng sống chung một cách hòa bình. Còn nếu không là đồng loại, mà muốn đến nhà loài khác để làm khách thì không được, vì nhất định là chúng sẽ đánh lộn.
Chắc quý vị cũng nhớ là ở trong khu rừng Vạn Thánh Lâm tại Vạn Phật Thánh Thành, có lúc bầy bạch hạc đã đánh nhau với chim ưng đó. Năm ngoái có một con bạch hạc bị đánh trọng thương, hoặc giả cũng có thể là nó từ trên ổ cao té xuống mà bị thương. Đệ tử tôi là Tiểu Quả Đà, chú nầy trước kia đã từng làm bạn với nó. Có lẽ kiếp trước Quả Đà cũng là chim hạc, nhưng vì nhờ nghe được một chút kinh Phật, cho nên kiếp nầy nó chuyển được làm người. Điều nầy cũng không nhất định là vậy. Quả Đà thấy bạn chim đó đang gặp nạn nên không nỡ lòng bỏ, thế là chú bèn mang chim đến bệnh viện để chữa trị. Nhưng cả đoàn bác sĩ cũng đành bó tay, muốn giúp mà giúp chẳng được. Kết quả là chú phải trả nó về gốc cây. Mặc dù có chim bạch hạc lớn đứng canh giữ bảo hộ, nhưng cuối cùng nó cũng bị chim ưng bắt đi. Do đó chúng ta biết rằng: tất cả chúng sanh loài nào sẽ theo giống nấy, mỗi loài đều có quyến thuộc riêng của chúng.
Trở lại đề tài chính, chúng sanh đều nhờ ăn mà sống. Thí dụ như chúng ta ăn trái cây. Khi trái cây vừa mới được hái từ trên cây xuống, nó vốn là hai trái. Ví như một trái táo (apple), nó không phải đơn thuần là một trái đâu, vì trên mặt trái táo hãy còn có một trái táo khác. Có người nói: “Tại sao tôi không thấy trái đó?” Nếu quý vị thấy được thì sẽ lén ăn nó rồi! Hai trái táo nầy, trong đó có một trái là cái bóng, lại cũng có thể gọi là “Tánh” của trái táo.
Cũng giống như vậy, mỗi cá nhân không phải đơn thuần là một con người, mà còn có một linh tánh tùy thân khác. Nhưng linh tánh của con người thì ẩn tàng bên trong thân thể, không bộc lộ ra ngoài. Nếu linh tánh nầy chạy thoát ra, nó sẽ bị yêu ma quỷ quái ăn mất.
Bất luận chủng loại nào mà biến thành người, phía sau lưng nó vẫn còn lưu lại cái bóng, đó gọi là “quỷ hồn” (con người có ba hồn bảy vía). Ví như kiếp trước người đó làm ngựa, phía sau lưng của y sẽ có bóng ngựa. Có người kiếp trước sanh làm con lừa, cho đến trâu, dê, gà, chó hoặc là heo, phía sau lưng của y vẫn còn lưu lại hình bóng của loài đó. Người đã mở Ngũ Nhãn, nhìn qua là biết ngay: “À! Thì ra người nầy kiếp trước vốn là con chó!” Nhưng không phải ai ai cũng có được Ngũ Nhãn. Bởi e rằng người ta sẽ phanh phui ra hết những vấn đề về kiếp trước của kẻ khác. Cho nên nói: “Thiên cơ bất khả tiết lậu” là vậy.
Trái cây không phải là động vật, tuy không có khí huyết, nhưng nó cũng là sanh vật. Hễ có sanh mạng tức là có tánh. Như đem trái cây cúng tế quỷ thần, quỷ thần sẽ ăn tánh của trái cây đó. Quỷ không phải là cầm trái cây để cắn ăn, mà nó chỉ cần xúc chạm rồi hút lấy tánh của trái cây, tức là đã ăn rồi. Do đó nếu ăn trái cây đã cúng quỷ thần rồi, quý vị sẽ cảm thấy không có mùi vị gì mấy.
Quê tôi thuộc miền núi đông bắc ở Mãn Châu, nơi đó có một loại gấu lớn. Nó ăn món gì cũng không cần cắn xé, tức là nó nuốt trửng nguyên con. Trên núi có mọc một loại lê, gọi là thiết đàn lê vì nó cứng lắm. Nhưng gấu cũng không cần nhai, chỉ ngoạm trái lê một cái là nuốt ngay. Lại càng kỳ diệu hơn nữa là khi đại tiện, nó cũng cho ra nguyên trái lê, hình dáng y như lúc chưa nuốt, không chút sứt mẻ. Nhưng trái lê đó đã không còn mùi vị nữa. Bởi một khi trái lê chạy qua công xưởng hóa học (hệ thống tiêu hóa) trong thân thể con gấu thì chất tinh hoa đã bị hút hết. Cho nên dù hình tướng vẫn còn lưu lại đó, nhưng tánh của nó đã mất rồi.
Từ điểm nầy chúng ta có thể hiểu được tình hình của Phật, Quỷ, Thần ăn trái cây như thế nào. Trái cây đã cúng Phật, cũng không nên để lâu vì nó rất mau bị hư. Cũng giống như con người lúc sanh thời, linh hồn còn ở bên trong, một mai chết rồi thì hồn lìa khỏi xác, thi thể rất mau mục thối. Trái cây nếu còn sanh tánh sẽ không chóng hư thối, nhưng khi đã bị hút mất sanh tánh tức sẽ bị hư hoại rất mau.
Trong bốn loại ăn, quỷ chỉ cần ngửi một cái, chạm một cái là đã ăn xong. Không giống như con người chúng ta, là phải cắn nhai một miếng, rồi lại phải nuốt xuống bụng, rất là phiền phức. Có người hỏi: “Làm sao thầy biết được chuyện như thế? Đó là vì kiếp trước tôi đã từng làm quỷ, cho nên ngày nay vẫn còn nhớ đó mà! Quỷ thuộc loại xúc thực, người Trời thuộc tư thực, chư Thiên ở cõi Tứ Không Xứ thuộc loại thức thực.
Nghiệp báo của mọi loài quỷ thần đều do từ các nhân duyên mà thọ cảm, nhân nào, quả nấy, gọi là: “Khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo.” Vì vậy chúng ta nên biết, làm lành thì phước đi theo, làm ác thì họa theo đuổi, giống như tiếng vang của âm thanh. Thọ khổ hay cảm lạc là do tự mình tạo duyên, chớ có do ai khác đâu! Quý vị không muốn làm quỷ thì đừng tạo nghiệp làm quỷ. Hôm nay tôi chỉ nói một đoạn nhỏ về kiếp xa xưa tôi đã làm quỷ. Giả như quý vị không chán nghe, tương lai tôi sẽ kể cho mọi người biết lúc xưa tôi đã làm kiến, làm muỗi như thế nào, ở địa ngục như thế nào, làm súc sanh ra sao... Tôi sẽ nói hết ra, chứ chẳng giấu giếm làm gì.
Tất cả vua của quỷ thần đều có oai đức lớn. Họ có thể chém yêu quái, trừ tai họa và chế phục bọn ngoại đạo. Họ dùng pháp Chiết Phục để hàng phục tất cả bàng môn tả đạo, ma mị yêu tinh, ngưu quỷ, xà thần. Phàm là những phần tử xấu, tà tri tà kiến, tà thuật tà pháp, họ đều có khả năng hàng phục hết. Họ có thể sanh thiện, diệt ác, trừ tà, phá ma. Ác ma là ví cho những kẻ không màng chi đến đạo lý. Phàm những kẻ ngang ngược không màng đến lý lẽ thì rất quái gở và hống hách, họ đều là từ bọn ác ma chuyển thế mà thành. Quý vị có đối xử tốt với chúng bao nhiêu, chúng cũng không biết là quý vị tốt. Cho đến quý vị đem cả máu thịt mình mà hy sinh cho chúng, chúng vẫn không biết đủ, mà cũng chẳng cám ơn vì chúng có lòng tham không đáy. Tại sao vậy? Bởi chúng đã trải qua nhiều kiếp huân tập thói ác, cho nên các ác tập đó đã trở nên thâm căn cố đế, và tánh xấu được hình thành từ sự u tối gàn dở mà chúng lại không chịu sửa đổi.
Những vị quỷ thần vương trong Chú Lăng Nghiêm thống lãnh các quyến thuộc của họ như: thiên binh, thiên tướng, thiên tào, kim cang lực sĩ... Tất cả các vị đó đều lo chấn giữ khắp cả mười phương, bảo vệ người tu hành và ủng hộ làm cho đạo tràng ngày thêm hưng thịnh. Phần trên chúng ta đã nói quá nhiều về các chủng loại quỷ thần và quyến thuộc của chúng. Quý vị nên biết tất cả chúng sanh, mỗi loại cũng đều có “quỷ hồn” riêng của nó. Chó có quỷ hồn chó, mèo có quỷ hồn mèo, đại chúng sanh, tiểu chúng sanh cũng đều có quỷ hồn riêng. Tuy con người thường nói sợ quỷ, nhưng thật ra người và quỷ vốn chẳng có sự phân chia. Quỷ ở âm gian, người ở dương thế, nhưng âm dương vốn là một thể, không phân cao thấp, chẳng có giới hạn. Quỷ thì tham sân si nặng nề, nếu so với người thì con người có giới định huệ nhiều hơn một chút. Do đó quỷ trở thành đám âm khí, trong khi khí bẩm sinh của người và súc sanh thì tạo thành hình tướng.
Vì sao người và súc sanh có hình tướng? Đều bởi vì biết bao thứ chấp trước mới bị nhốt trong cái lồng ngũ uẩn mà trốn không khỏi phạm vi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Lưới ngũ uẩn nầy làm chướng ngại cho tự tánh của chúng ta, ví như có đám mây đen che lấp mặt trời. Thực ra âm dương vốn là một thể, nhưng nay chỉ bị từng mây ngũ uẩn phân chia mà thôi. Con người bị trận ngũ uẩn làm khốn đốn, quỷ cũng bị rừng cây ngũ uẩn làm vướng vít, cho nên ai nấy đều chìm nổi trong biển nghiệp, sanh sanh tử tử, tử tử sanh sanh. Sanh thời làm người, lúc chết biến thành quỷ. Nhưng nếu ai chịu tu hành thì khỏi phải làm quỷ. Khi tu hành thành công là họ có thể thành Phật, thành Bồ Tát, hoặc chứng quả A La Hán.
Nếu ai chịu giữ ngũ giới và tu thập thiện thì sẽ được sanh lên cõi trời làm thần. Ngũ giới là: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ và không uống rượu. Không sát sanh là từ bi. Không trộm cắp là đạo nghĩa. Không tà dâm là chánh nhân quân tử. Không vọng ngữ là trung tín. Không uống rượu là sẽ không bị cuồng loạn. Kẻ sát sanh, đời sau lại bị quả báo oan ương đoản mạng. Kẻ trộm cắp bị quả báo bần cùng khổ sở. Kẻ tà dâm bị quả báo làm chim sẻ, chim bồ câu, uyên ương. Loài chim sẻ đều ham thích những chuyện cao xa hão huyền, bởi kiếp trước chúng chuyên có hành vi gian dâm và phá hoại đạo đức, cho nên mới có nghiệp báo hiển hiện như vậy. Tôi đã thường nói với quý vị về điều nầy, nhưng vẫn có người không chịu chú ý, cho nên tôi không ngần ngại gì nhấn mạnh thêm lần nữa:
Chúng ta không nên sát sanh! Tất cả chúng sanh từ vô thủy kiếp đến nay đều là cha mẹ, bạn bè, quyến thuộc của ta. Cha mẹ ta vì đời trước đã tạo nghiệt tội, kiếp nầy có thể bị đọa làm heo, ngựa, trâu, dê. Giả như quý vị sát hại súc vật một cách bừa bãi, tức là quý vị gián tiếp giết cha mẹ của mình vậy.
Về trộm cắp, có câu nói: “Chuyện gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác.” Quý vị không muốn ai trộm cắp hay cướp đoạt tài sản của quý vị, thế thì trước hết quý vị không nên trộm cắp tài sản của kẻ khác.
Về việc tà dâm, đối với luật nhân quả, phạm tà dâm là tội nặng nhất và bị trừng phạt tệ hại nhất. Đặc biệt là giữa vợ chồng, nếu hai bên đã ly hôn rồi mà lại kết hôn nữa, căn cứ vào luật nhân quả, đến lúc lâm chung, thân thể họ sẽ bị cắt ra làm hai phần. Bởi lúc sống họ đã có hai mối quan hệ, cho nên khi chết nghiệp báo mới hiện ra. Là có một cái cưa lớn cưa cắt thân người từ trên đỉnh đầu xuống chân ra làm hai. Lúc sanh tiền đã tà dâm bao nhiêu lần, sau khi chết cũng bị cắt chia bấy nhiêu lần. Lúc sanh tiền kết hôn trăm lần, khi chết xuống liền bị phân thành trăm mảnh, để chia từng chút một cho những ai mà họ đã có quan hệ từ trước. Thế bị phân chia như vậy thì có gì không tốt? Vì khi linh tánh đã bị phân ra từng mảnh tan vụn rồi, nếu muốn đem nó tập họp lại tức chẳng dễ gì đâu. E rằng đến cả trăm ngàn ức kiếp cũng không trở lại được thân người. Lúc bấy giờ tánh hóa linh tàn, cùng mục rã với cỏ cây, rồi biến thành thứ thực vật thảo mộc vô tình. Một khi bổn tánh đã bị phân tán thì không dễ gì làm chúng sanh được. Dù cho họ có làm được chúng sanh đi nữa, thì họ chỉ có nước làm loài muỗi mòng mà thôi. Ví như một thân người có thể hóa thành tám vạn bốn ngàn con muỗi, song nếu muốn tập họp tám vạn bốn ngàn con muỗi đó trở lại thành một người, thời không dễ đâu. Đa số là muỗi sẽ sanh trở lại làm muỗi mới. Rồi chúng cứ trôi nổi lên xuống trong sanh tử luân hồi, mà vẫn không biết bội trần hợp giác, xả bỏ mê lầm để quay về chân chánh, nên gọi là: “Nhất thất nhân thân, vạn kiếp bất phục,” một khi mất thân người, muôn kiếp khó được lại. Nếu quý vị có thể thấm thía được ý nghĩa nầy, vậy làm sao mà không lo sợ cho được!
Nguồn: Nguyễn Tuý Minh
https://www.facebook.com/thonangsinhbachngoc/
-
TỤNG “CHÚ VÃNG SANH” - SIÊU ĐỘ OAN HỒN VẤT VƯỞNG.
Năm 2005 tôi có một người em bị bệnh nặng được đưa lên chữa tại bệnh viện Stanford. Sau thời gian chữa trị tại bệnh viện, em tôi được xuất viện.
Xuất viện rồi nhưng không được về nhà, mà phải ở lại 3 tháng tại một căn chung cư thuê ngay trong khuôn viên bệnh viện để hàng ngày đều có mặt tại bệnh viện cho Bác sĩ theo dõi tình trạng, và với một điều kiện là phải có một thân nhân luôn túc trực bên cạnh.
Thế là anh chị em chúng tôi phải chia nhau mỗi người một thời gian đến ở coi người bệnh. Tôi đã nghỉ hưu nên xin nhận coi 2 tuần lễ.
Căn phòng thuê là một căn nhà nhỏ ở lầu 3, có phòng khách phòng ăn và phòng ngủ, nhưng muốn cho người bệnh được yên tĩnh, tôi ngủ ngoài phòng khách trên ghế sofa. Hai tối đầu tôi ngủ êm dễ chịu, bỗng tối thứ ba vừa đặt mình xuống, tắt đèn một chút, còn đang mơ màng chưa ngủ thì chợt thấy rất đông người đi từ xa tới. Tôi chợt nghĩ như có đám biểu tình, song giật mình ngay mà nhớ ra là mình đang ở lầu 3, làm sao có đông người đi như vậy được? Tôi hơi sợ, vội niệm Phật, từ từ đám người dãn dần ra, như tản bớt đi, nhưng vẫn còn thấp thoáng. Tôi bèn tụng “Chú Vãng Sanh”, 1,2, 3, 4, 5 lần thì hết hẳn không còn một bóng nào nữa.
Tuy có linh nghiệm nhưng tôi vẫn chưa dám nghĩ là bài “Chú Vãng Sanh” đã giúp cho các bóng đen tan biến. Nhưng rồi một lần nữa tôi lại được thấy sự linh ứng của thần chú vãng sanh, một lần nữa tôi phải tin là quả thật có âm có dương, và bài chú vãng sanh quả thật là kỳ diệu.
Cách đây khoảng 2 năm tôi có theo một khóa tu học tại một nơi cách xa thành phố chừng hai tiếng đồng hồ lái xe. Khóa học bắt đầu từ trưa thứ Năm tới trưa Chủ Nhật, tức là 2 ngày 2 đêm.
Nơi tu học là một trung tâm rất rộng lớn bao gồm hai tòa nhà, một nơi gồm các phòng rộng rãi có đầy đủ tiện nghi để các khóa sinh ở, và ăn uống. Xa xa là tòa nhà thứ hai có một sảnh đường rộng làm nơi tu học. Sau khi ghi tên đóng tiền, chúng tôi 4 người được chia ở một căn phòng rộng rãi, giường nệm sạch sẽ, cửa kính bao quanh nhìn ra xa chỉ thấy toàn đồng trống mênh mông.
Ổn định xong nơi ở, chúng tôi hối hả băng qua một lối đi rộng khá xa để sang bên sảnh đường làm lễ. Chiều về ăn tối xong, ai nấy đều mệt nhoài, vội vàng thu xếp đi ngủ vì ngày mai, thứ sáu khóa lễ bắt đầu từ 5 giờ sáng.
Bốn giờ sáng hôm sau chuông báo thức reo, chúng tôi hớn hở gọi nhau dậy sửa soạn đi sang sảnh đường. Ra khỏi phòng gió lạnh căm căm, tuy vậy đã thấy đông đảo các bạn “đồng tu” túm năm tụm ba hăng hái lên đường tu học. Thế rồi suốt ngày thứ sáu, từ 5 giờ sáng cho tới tối, trừ hai lần nghỉ ăn, chúng tôi bận rộn liên tiếp, nào theo khóa lễ, nghe giảng, thiền hành, nào nghe thuyết pháp, tuy rất vui nhưng khi về đến phòng là chúng tôi… mệt bở hơi tai, nên bảo nhau đi ngủ sớm lấy sức ngày mai vừa theo khóa học, vừa lo sửa soạn lễ… mãn khóa.
Đèn trong phòng vừa tắt, vừa đặt mình nằm xuống, tôi còn đang suy nghĩ đến buổi học ngày mai, thì chợt thấy có mấy bóng đen đi lại quanh phòng, rồi thấy thêm mấy bóng đen to lớn mặc toàn đen đi ra xa rồi lại trở vào. Cả người tôi như lặng đi, mắt nhìn mà chân tay như tê cứng, thì chợt một bóng đen to cúi xuống nhìn vào mặt tôi. Tôi chợt tỉnh vội đọc theo thói quen “Nam Mô A Di Đa bà dạ, đa tha già đa dạ đa điệt gia tha…” rồi nhớ ra là mình đang tụng chú vãng sanh. Thế là tôi tụng liên tiếp không ngừng “A di rị đô bà tỳ, A di rị đa tất đam bà tỳ..” rồi cứ thế tôi đọc không ngừng, 1 lần, 2 lần, rồi 3-4-5 bao nhiêu tôi cũng không nhớ, tới khi mở mắt ra thì không còn bóng nào nữa. Yên tâm tôi ngủ thiếp đi cho tới chuông báo thức reo mới tỉnh dậy.
Sáng ngày ra tôi cứ nghĩ đến cảnh tượng đêm qua, nhưng không dám nói cho mấy đạo hữu cùng phòng vì họ còn nhỏ tuổi hơn tôi, không muốn làm mấy cô ấy sợ.
Hôm sau thứ bẩy, ngày thứ hai của khóa học mà cũng là ngày cuối, thời khóa biểu học vẫn như ngày trước, nhưng thêm mục văn nghệ mãn khóa nữa nên ai nấy đều có vẻ bận rộn thêm. Và buổi tối sau giờ học, sau màn trình diễn văn nghệ, chúng tôi về phòng khá khuya, nên ai nấy vội vàng thu xếp hành lý, rồi tắt đèn ngủ sớm để sáng mai ra về.
Đêm thứ bẩy thật êm ả, tôi đang mơ màng nghe tiếng thở đều đều của mấy cô bạn nhỏ nằm giường bên thì bỗng lại thấy có nhiều bóng trắng ẩn hiện, họ đến khá đông, nhẹ nhàng quanh quẩn chung quanh phòng, có bóng như mặc áo sơ mi trắng, có bóng như mặc nguyên bộ đồ tây, tôi hiểu ra rằng… họ đã đến thăm. Tôi không thấy sợ như tối hôm qua nữa, bình tĩnh tụng chú vãng sinh và thầm khấn nguyện cho họ được siêu sinh Tịnh Độ. Kỳ này tôi chỉ tụng có ba lần thì các vị ấy… đã ra về hết. Tôi yên tâm ngủ đến sáng.
Vì là đêm cuối tôi mới kể cho mấy cô bạn nghe chuyện có… khách đến thăm mình hai đêm liền. Có thể họ là những oan hồn quanh quẩn nơi đây, thấy người lạ nên họ đến thăm, may mắn tôi đã có chút kinh nghiệm nên bình tĩnh trì tụng chú vãng sanh giúp họ được siêu thoát, đúng theo ý nghĩa của sự trì tụng chú vãng sinh:
“Tụng chú vãng sinh tức là diệt các tội nặng ngũ nghịch, thập ác và báng pháp, là ủng hộ không cho các oan hồn nhiễu hại, là được yên ổn vãng sinh, được diện kiến Đức Phật A Di Đà.”
Qua lần thoát chết trong trận bão Katrina, qua mấy lần thấy những bóng đen bóng trắng ẩn hiện mà lần nào cũng vì tụng Chú Vãng Sinh mà thấy được sự linh ứng nhiệm mầu, tôi không biết nói gì hơn là thành kính tin nhận lời người xưa “Có cầu có ứng” quả thật không sai, và cúi đầu kính cẩn hết lòng tin sự linh nghiệm kỳ diệu của các lời chú.
Bài Chú Vãnh Sinh được trích từ kinh:
“Bạt Nhất Thế Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sinh Tịnh Độ Đà Ra Ni”.
Nam-mô a di đa bà dạ
Ða tha dà đa dạ
Ða địa dạ tha.
A di rị đô bà tỳ
A di rị đa tất đam bà tỳ
A di rị đa tì ca lan đế
A di rị đa, tì ca lan đa
Dà di nị dà dà na
Chỉ đa ca lệ ta bà ha. (3 lần)
Tụng chú này tức là diệt các tội nặng ngũ nghịch, thập ác và báng pháp. Tụng chú này là ủng hộ không cho các oan hồn nhiễu hại, được yên ổn vãng sanh, được diện kiến Đức Phật A Di Đà. Chú vãng sanh công năng thật huyền diệu, nhưng cũng thật là bí mật, đúng với danh xưng “mật chú”, khó mà cảm nhận được sự hiển linh của lời chú này.
NAM MÔ A – DI – ĐÀ PHẬT! XIN THƯỜNG NIỆM_()_
- Tác giả: Thanh Thái -
- Nguồn: Tinhtam.vn -
Vậy nên các bạn cúng thổ địa xong nhớ tụng 7 biến chú vãn sanh nha. Thổ địa thích thích
https://www.facebook.com/thonangsinhbachngoc/
-
-
-
Dùng tiền kết giao, tiền hao thì quên. Dùng lợi kết giao, lợi hết thì tan. Dùng thế kết giao, thế qua thì đổ. Dùng quyền kết giao, quyền mất thì bỏ. Dùng tình kết giao, tình cạn người tổn thương. Duy chỉ có dùng tâm kết giao , tĩnh lặng mà lâu dài.
[Tinh Vân Đại Sư]
https://huidaobian.tumblr.com/archive
-
Friday, May 29, 2020
PHẬT GIA GIẢNG "CẦN BUÔNG BỎ", NHƯNG RỐT CUỘC LÀ BUÔNG BỎ ĐIỀU GÌ?
Phật gia giảng “Cần buông bỏ” nhưng rốt cuộc là buông bỏ điều gì?
1. Buông bỏ việc tranh luận đúng sai
Có rất nhiều người không thể tự nhận ra được sai lầm của bản thân, một mực khăng khăng là mình đúng. Nếu cứ tiếp tục như vậy, họ đâu có biết rằng nó sẽ mang lại áp lực và đau khổ cho chính bản thân họ lẫn người khác.
Trong khi bạn đang bực bội vì tranh luận với người khác, cố chấp bảo vệ quan điểm của bản thân mình, thì hãy nên dừng lại, tự hỏi bản thân làm như vậy có đúng hay không? nó có lợi cho mình và người khác không? Cái tôi của mình tại sao lại lớn như vậy? Nếu suy nghĩ một cách cẩn thận, bạn sẽ biết rằng tranh luận đúng sai đáng hay không?
2. Buông bỏ tâm thái muốn khống chế người khác
Sự tôn trọng với bất kỳ ai, không kể là người bạn yêu mến hay đối tác trong công việc, hoặc có thể chỉ là một người xa lạ trên đường phố sẽ khiến bạn cảm thấy tốt hơn bao giờ hết. Hãy nên tôn trọng tự do cá nhân và cố gắng không nên áp đặt lên người khác sũy nghĩ của mình.
3. Buông bỏ sự trách móc
Khiển trách người khác sẽ không mang lại cho chúng ta bất cứ điều gì tốt đẹp, kể cả khi tâm trạng chúng ta không tốt thì cũng không nên trách móc người khác, nếu bạn có thể làm được như vậy, tâm bạn sẽ được nhẹ nhàng thoải mái..
4. Buông bỏ cảm xúc dằn vặt bản thân mình
Nhiều người đau khổ do những suy nghĩ tiêu cực của chính bản thân họ, việc tự dằn vặt bản thân xuất hiện khi tâm trạng họ không tốt đồng thời lại phải chịu đựng nó.
Bạn không cần phải suy nghĩ về bất cứ những tư tưởng tiêu cực khiến mình phải dằn vặt, điều đó sẽ tốt hơn cho bản thân bạn.
5. Buông bỏ tự ti về hiểu biết hữu hạn của bản thân
Bạn có thể làm những gì và không thể làm những gì? Những gì bạn có thể làm được và không thể làm được? Kỳ thực, nếu bạn có thể buông bỏ sự tự ti về các vấn đề của bản thân, không cuộc hạn chính mình thì bạn có thể làm được mọi thứ.
Hãy dang rộng đôi tay của bạn, thỏa sức vút bay lên thật cao!
6. Buông bỏ tâm phàn nàn
Chúng ta nên dừng lại việc phàn nàn về những gì xung quanh chúng ta ví như con người, hoàn cảnh, các loại sự việc. Bạn biết không, không ai có thể làm cho bạn không vui, không một môi trường nào có thể làm cho bạn chán nản. Bởi lẽ không phải hoàn cảnh khiến bạn bị chán nản mà chính là tự bản thân bạn cảm thấy như vậy. Khi bạn có thể suy nghĩ tích cực hơn, hoàn cảnh sẽ thay đổi, và tự tâm chúng ta có thể thấy vui vẻ!
7. Buông bỏ cái tâm thái phê bình người khác và sự việc khác
Mỗi cá nhân chúng ta là khác nhau, tuy nhiên sẽ vẫn có điểm tương đồng, mọi người đều muốn được vui vẻ, được yêu thương và cảm thông. Vì vậy, nếu có thể thay sự phê bình người khác bằng việc xoay trở lại xét chính mình, bạn sẽ thấy bạn trở nên tốt hơn bao giờ hết.
8. Buông bỏ tâm cầu danh
Nếu bạn luôn xu nịnh và cố lấy lòng người khác thì chúng ta nên dừng lại, chỉ khi bạn cởi bỏ lớp vỏ ngụy trang và chiếc mặt nạ của mình xuống, thì khi đó mới là chính bạn, bạn mới có thể chấp nhận sự thực và người khác sẽ bị bạn thu hút. Vẻ đẹp thật sự chính là con người của bạn chứ không phải là lớp vỏ của ai khác!.
9. Buông bỏ tính lười nhác
Khi bạn thay đổi từ một người có độ ỳ cao trở thành chăm chỉ hơn, bạn có thể cải thiện cuộc sống chính bạn và những người xung quanh, hãy làm những gì bạn muốn làm, đừng lười nhác.
10. Buông bỏ tâm thái tùy ý nhận định người khác
Bạn không hiểu một ai hay một việc gì đó thì tốt nhất không nên tùy tiện định nghĩa và đánh giá, tuy rằng nhiều lúc trông họ rất lạ thường, nhưng bạn hãy mở rộng tâm mình ra hơn một chút.
Hãy luôn nhớ rằng, khi tâm bạn mở rộng bạn mới có thể làm được nhiều việc hơn, biết cảm thông và khoan dung cho người khác.
11. Buông bỏ sự sợ hãi
Sợ hãi chỉ là một cảm giác huyễn hoặc, nó không thực sự tồn tại, nó chính là do bạn tạo ra, và cũng chỉ tồn tại trong đầu óc bạn. Chỉ có một loại sợ hãi thực sự, đó là sợ hãi chính mình.
Khi bạn có thể khắc chế sự sợ hãi từ bên trong, thì mọi thứ bên ngoài tự nhiên sẽ trở nên tốt hơn.
12. Buông bỏ tâm bao biện
Có nhiều lúc, chúng ta luôn hạn cuộc bản thân của mình bằng việc sử dụng cách này hay cách khác bao biện, mà không nghĩ tới việc cải thiện hoàn cảnh của bản thân mình để nỗ lực vươn lên.
Bao biện sẽ tạo thành chướng ngại cho chúng ta, chúng ta sẽ bị nó lừa dối, bạn cần biết rằng 99% sự bao biện đều là giả dối.
13. Buông bỏ quá khứ
Buông bỏ quá khứ là rất khó, kỳ thực, nhiều khi quá khứ quá mỹ hảo khiến nhiều lúc sợ hãi về tương lai. Nhưng bạn cần nghiêm túc sống với thực tế, bởi lẽ hiện tại mới là những thứ mà bạn đang có.
Nhiều người trong chúng ta ao ước được như quá khứ, nhưng chúng ta hãy để đó như chỉ là những kỷ niệm tốt đẹp, hãy nhìn lại hiện thực và hưởng thụ chính nó.
Cuộc sống của con người là cả một quá trình, rồi sẽ đến hồi kết. Chúng ta nên tự chuẩn bị tốt cho mình và sống như chúng ta đang sống.
14. Buông bỏ tâm cố chấp
Sự cố chấp đối với đại đa số chúng ta mà nói xác thực là rất khó hiểu, nhưng không phải là không thể thực hiện được. Nếu bạn có thể dành thời gian nỗ lực rèn luyện bỏ sự cố chấp đó đi thì bạn sẽ phát hiện không gì là không thể.
Khi đó, bạn có thể đủ năng lực để lý giải được mọi việc, thậm chí kể cả những việc mà bạn chưa từng làm.
15. Buông bỏ việc nhìn vào người khác, sống cuộc sống của chính mình.
Trong số chúng ta luôn có nhiều người căn cứ vào quan điểm của người khác mà sống. Họ coi nhẹ khả năng của bản thân họ. Họ lãng quên việc tự định hướng cho cuộc sống của bản thân, quên mất rốt cuộc là mình thích những gì, muốn nghĩ gì, muốn làm gì.
Cuối cùng, họ đánh quên bản thân họ. Bạn có cuộc sống của riêng bạn, đây là quyền đầu tiên và thuộc về bạn. Bạn nên có phong cách sống riêng của mình và không nên bị ý kiến của người khác chi phối.
Bạn thấy đó, khi chúng ta có thể coi nhẹ hoặc buông bỏ được phần nào những tâm thái không tốt như trên, bạn sẽ phát hiện được bạn dần trở lên tốt hơn, và khi đó những người xung quanh bạn đều cảm thấy hạnh phúc.
Minh Minh / Theo DKN
http://luukhamhung.blogspot.com/2020/05/
-
TRUYỀN THUYẾT LY KỲ VỀ CÂY NHÂN SÂM HÀN QUỐC
https://1.bp.blogspot.com/-B0gD3rGbe...YHQ/s640/3.jpg
Truyền thuyết về củ Nhân Sâm Hàn Quốc
Ngày xưa, có một cậu bé hiếu thảo họ Kang, mồ côi cha từ nhỏ, sống với mẹ tại một ngôi làng nọ ở chân núi. Không bao lâu sau mẹ cậu bị ốm nặng, cậu bé vô cùng lo lắng vì không biết làm sao chữa khỏi bệnh cho mẹ. Sau đó, cậu tìm đến hang núi Quan Âm (Kwan-Eum) thuộc núi Jin-Ak để cầu nguyện cho mẹ mau chóng khỏi bệnh.
Vị thần núi cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của cậu bé nên đã xuất hiện trong giấc mơ và chỉ cho cậu cách chữa bệnh cho mẹ. Trong giấc mơ, thần núi bảo rằng: "Ở trên đỉnh núi Quan Âm có một loại cây thân cỏ. Loại cây này có 3 quả, mọc trên vách đá của núi. Con hãy nhổ cây lấy rễ và mang về nhà, sắc rễ cây lên rồi mang nước cho mẹ con uống. Điều cầu khẩn của con sẽ thành hiện thực". Dặn dò cậu bé xong, vị thần liền biến mất.
http://vyctravel.com/libs/upload/ckf...t-nhan-sam.jpg
Đằng sau những cây nhân sâm bổ dưỡng là cả một câu chuyện
Ghi nhớ lời dặn của vị thần, sau khi tỉnh giấc cậu bé liền trèo lên vách núi đá Quan Âm để tìm loại cây thân cỏ đó. Sau khi tìm thấy, cậu mang về nhà và sắc lên cho mẹ uống. Mẹ cậu uống xong cảm thấy trong người khoẻ hơn trước rất nhiều. Mỗi ngày cậu bé đều sắc thuốc cho mẹ uống, chẳng bao lâu sau đó bà khỏi bệnh.
Cậu bé mang hạt của loài cây đó đem trồng ở khu vườn nhà mình. Cậu chính là người đầu tiên trồng cây nhân sâm trong lịch sử Hàn Quốc. Loại cây thần dược dần dần được nhiều người biết đến. Vì rễ cây trông rất giống với hình dạng của con người nên được gọi là nhân sâm.
http://vyctravel.com/libs/upload/ckf...-nhan-sam1.jpg
Nhân sâm vẫn được nhiều người biết đến với những công dụng tuyệt vời trong việc chữa trị các loại bệnh
Củ Sâm biết đi !?
Trong dân gian vẫn hay lưu truyền về chuyện "củ sâm biết đi", ngày xưa người ta khi đi rừng quan sát thì thấy cây sâm đang mọc ở đây nhưng sau một thời gian quay lại thì thấy cây mọc dịch chuyển sang chỗ khác, tựa như biết đi.
Một số giải thích cho rằng do Sâm chứa rất nhiều chất dinh dưỡng quý giá nên cần phải hút trong đất rất nhiều khoáng chất cần thiết, vì thế sau một thời gian sinh trưởng, đất nơi đó không còn đủ dinh dưỡng cho cây Sâm hấp thụ tạo củ nữa thì rễ cây sẽ vươn về hướng khác có dinh dưỡng nhiều hơn và làm cây từ từ dịch chuyển.
http://vyctravel.com/libs/upload/ckf...web/gifhq4.jpg
Nhân Sâm Hàn Quốc ngày nay
Ngày nay, nhân sâm đã được nhiều người biết đến với những công dụng tuyệt vời trong việc chữa trị các loại bệnh. nhâm Sâm là loại sản phẩm có giá trị dinh dưỡng rất cao, là một thực phẩm, dược liệu quý với nhiều công dụng bồi bổ, tăng cường sức khỏe, đề kháng của cơ thể,...
Do đặc thù thiên nhiên ưu đãi về địa lý, khí hậu và chất đất rất thích hợp cho việc trồng sâm và cho ra những củ sâm thượng hạn có chất lượng tuyệt vời thuộc vào loại hàng đầu trên thế giới. Với tổng sản lượng lên đến hàng vài chục nghìn tấn sâm mỗi năm, vì thế thật không ngoa khi từ lâu Hàn Quốc đã được biết đến dưới cái tên “Xứ sở Sâm”.
Nhân sâm tươi Hàn Quốc có hình dáng giống người nhất do phần thân củ dày và nhiều thịt. Phần đầu và phần củ giống như đầu và thân mình của người, phần rễ dài, chia tác rõ ràng giống như đôi chân. Các chuyên gia nghiên cứu về nhân sâm tin rằng: đặc điểm hình dáng của nhân sâm Hàn Quốc là độc nhất, có được là do sự kết hợp tuyệt vời giữa đất đai, khí hậu và phương pháp canh tác từ lâu đời của người Hàn Quốc.
Loại cây này được nhân giống và trồng nhiều tại Geumsan và đây cũng là vùng trồng sâm nổi tiếng nhất ở Hàn Quốc. Huyện 금산 (Geumsan) là một huyện ở tỉnh Chungcheong ở phía Nam Hàn Quốc nổi tiếng là vùng đất chuyên trồng Sâm và Nấm Linh Chi tốt nhất. Nơi đây là vùng núi, có điều kiện đất đai, khí hậu, ánh nắng mặt trời thích hợp cho ra loại sâm chất lượng không vùng nào sánh bằng. Nhờ khí hậu chênh lệch rõ rệt giữa ngày và đêm, đất trồng tốt, sâm trồng ở Geumsan chứa nhiều thành phần có hoạt tính dược lý nổi trội như Saponin và Germanium. Tới Geumsan, còn có cả một "Bảo tàng nhân sâm Geumsan” đến đây bạn có thể tìm hiểu về lịch sử 1.500 năm của loại thảo dược này ở đây.
http://gasnana24.com/kcfinder/upload...Geumsan_01.jpg
Du khách có thể mua Nhân Sâm tại Chợ sâm Geumsan. Chợ sâm Geumsan còn là chợ nhân sâm lớn nhất trên toàn thế giới.
Những năm 1940, đây chỉ là một chợ quê được hình thành để bán các mặt hàng thảo dược từ vùng núi kế bên. Giờ đây nó đã trở thành một chợ chuyên về thuốc Bắc lớn nhất khu vực miền Trung Hàn Quốc với tên gọi “Chợ nhân sâm, thuốc bắc Geumsan”.
Hơn 80% lượng sâm sản xuất ra của Hàn Quốc được bán ở đây. Nơi đây hình thành nên một khu chợ lớn nhất thế giới chuyên về nhân sâm và thảo dược với hơn 1300 cửa hàng ở Geumsan. Lượng giao dịch nhân sâm hàng năm lên tới hơn 21 nghìn tấn, tương đương khoảng 550 triệu USD.”
Công Dụng Nhân Sâm
- Giảm ngộ độc rượu, bia
- Phòng bệnh Alzheimer
- Giảm đau
- Phòng bệnh tim mạch, tiểu đường
- Tăng cường thể lực và sinh lý
- Chống bệnh tật: tăng cường hoạt động của hệ miễn dịch, giúp cơ thể chống bệnh tật và nhiễm trùng.
- Giảm thiểu một số rối loạn tiền mãn kinh
- Chống stress và trầm cảm.
Trường hợp không nên dùng sâm
- Cảm mạo, phát sốt
- Những người bị bệnh gan mật
- Viêm dạ dày và ruột
- Những bệnh giãn phế quản, bị lao, ho ra máu
- Những người cao huyết áp
- Những người bị mất ngủ
- Thanh niên hay bị di tinh, bị xuất tinh sớm
- Phụ nữ mang thai
- Trẻ nhỏ dưới 14 tuổi không nên dùng nhân sâm
Cách dùng sâm
+ Sâm tươi thái mỏng pha trà uống
+ Sâm tán bột pha nước đun sôi
+ Sâm thái thành lát ngậm
+ Sâm thái lát rồi đem đi sắc uống
+ Nấu cháo ăn
+ Sâm hấp trứng gà
+ Sâm hầm thịt gà
https://1.bp.blogspot.com/-9KtuaywXM...YHQ/s640/2.jpg
Nhân Sâm Hàn Quốc có mấy loại?
Phân loại dựa trên môi trường sống
1. Jaebaesam (Trồng tại nông trang)
Loại nhân sâm này được nuôi trồng trên các nông trang. Thân củ dày và nhiều thịt, có khoảng 2-3 rễ chính, có màu trắng nhạt. Số lượng rễ con tùy thuốc và chất lượng đất, biện pháp canh tác, độ ẩm, phân bón,... Nhân sâm nuôi trồng được 4-6 năm rồi thu hoạch sẽ cho ra củ có chất lượng tốt nhất!
2. Jangnoesam (Trồng trong môi trường hoang dã)
Loại nhân sâm được trồng trong môi trường tự nhiên ở vùng núi. Cây phát triển tốt ở các khu vực có độ ẩm cao dưới bóng mát cây bạch dương và cây sơn mài, sâu trong các ngọn núi, các vùng sâu vùng xa.
3. Sansam (Nhân sâm hoang dã)
Nhân sâm hoang dã mọc tự nhiên trên các vùng đồi núi xa xôi, hiểm trở. Loại nhân sâm này có hàm lượng dưỡng chất cao hơn hẳn. Sâm hoang dã có mùi thơm nồng nàn và cực kỳ đắng. Chỉ cần ngậm một lát, nhiệt độ cơ thể bạn sẽ tăng lên tức thì.
Phân loại dựa trên phương thức chế biến
1. Saengsam (Nhân sâm tươi)
Đây là nhân sâm mới được khai thác vẫn ở dạng nguyên thủy, chưa qua chế biến, thường được thu hoạch sau 4-6 năm. Ở Hàn Quốc, người ta thường sử dụng nhân sâm tươi bằng cách xay nhuyễn làm đồ uống, pha thêm chút mật ong hoặc sữa, hoặc làm nguyên liệu cho một số món ăn: gà tần sâm, cháo sâm, salad sâm, sâm nướng với thịt, thịt bò xào sâm,...
https://1.bp.blogspot.com/-DJuYl8L6L...YHQ/s640/1.jpg
2. Baeksam (Bạch sâm)
Nhân sâm 4-6 năm tuổi được cạo vỏ rồi phơi khô dưới ánh nắng mặt trời đến khi độ ẩm giảm còn dưới 14%, phương pháp này giúp sâm có thể bảo quản được trong thời gian dài, thường được dùng để làm vị thuốc hoặc làm trà sâm. Bao gồm:
Jiksam (Sâm thẳng): Củ nhân sâm được phơi khô ở dạng thẳng đứng.
Bangoksam (Sâm bán cong): Phần rễ chính được uốn cong rồi đem phơi khô.
Goksam (Sâm cong): Cả phần thân và rễ được uốn cong trước khi phơi.
Misam: Củ sâm được cắt bổ hết rễ rồi đem phơi nắng.
3. Taegeuksam (Sâm Taegeuksam)
Sâm Taegeuk là hình thức trung gian giữa bạch sâm và hồng sâm. Loại sâm này được rửa sạch rồi ngâm trong nước nóng, sau đó được cạo vỏ rồi đem sấy khô. Nó có màu nâu nhạt hoặc nâu đỏ.
4. Hongsam (Hồng sâm)
Hồng sâm được chế biến bằng phương pháp hấp sấy ở nhiệt độ cao khoảng từ 3-5 lần, có thể bảo quản được trong thời gian dài, lên tới 10 năm. Hồng sâm lành tính hơn nhân sâm rất nhiều, có thể phù hợp cho mọi đối tượng và hầu như ít có tác dụng phụ. Được áp dụng trong việc hỗ trợ điều trị bệnh AIDS và những bệnh nhân bị nhiễm chất độc dioxin. Có rất nhiều chế phẩm từ hồng sâm: bột sâm, viên sâm, nước sâm,... Có thể sử dụng hồng sâm đều đặn trong thời gian dài để bồi bổ sức khỏe.
5. Hắc sâm
Phương pháp chế biến ra hắc sâm mới được nghiên cứu và áp dụng thành công trong những năm gần đây. Theo đó, củ nhân sâm tươi được hấp sấy khoảng 9 lần cho đến khi nó chuyển thành màu đen, đôi khi có mùi hơi khét. Hắc sâm được biết đến hiện nay là có hàm lượng Saponin cao nhất, hơn hẳn nhân sâm tươi và hồng sâm, đặc biệt tốt và phù hợp với người già.
Trên đây là câu chuyện truyền thuyết về loài thảo dược có công dụng tuyệt với giúp cho cậu bé tìm thuốc trị bệnh cho mẹ. Cho đến bước phát triển trong việc canh tác, chế biến và xuất khẩu khiến cho Sâm Hàn Quốc trở nên một thương hiệu nổi tiếng được ưa chuộng trên khắp thế giới với những công dụng tuyệt vời cho sức khỏe.
(Sưu tầm trên mạng)
http://luukhamhung.blogspot.com/2020/02/
-
PHONG THỦY THẬT RA TIỀM ẨN Ở TRONG TA
Mệnh do trời, vận tùy tâm, còn phong thủy thực ra tiềm ẩn ở 3 điểm cơ trên thể bạn: Xin tuyệt đối đừng phá hủy!
Phong thủy thứ nhất của con người: Tâm
Một ông già sau khi nghỉ hưu đã mua một mảnh đất ở quê để chuẩn bị xây một ngôi nhà nhỏ hai tầng an hưởng những năm cuối đời, người con trai hiếu thảo đã đi tìm một bậc thầy nổi tiếng đến nhà để xem phong thủy.
Trên đường đi, nếu có một chiếc xe phía sau muốn vượt, anh đều sẽ nhường và nói với thầy phong thủy: "Xem ra anh ta đang có việc gấp hơn chúng ta, cứ để anh ta đi trước."
Chiếc ô tô chạy đến thị trấn, một đứa trẻ chạy từ con hẻm ra, anh nhanh chóng phanh gấp lại để tránh đứa bé, rồi dừng lại một lúc.
Anh mỉm cười và giải thích: "Trẻ em hay đuổi nhau chơi, chắc đằng sau còn những đứa trẻ khác, chúng ta cứ đợi một chút đã."
Khi về đến nhà, thấy một vài đứa trẻ đang trèo lên cây đào trước cửa hái quả, anh liền đỗ xe trước cửa, để thầy phong thủy đợi thêm một chút nữa rồi hãy vào nhà.
Thầy phong thủy rất kinh ngạc, anh cười nói: "Mấy đứa trẻ đang ở trên cây, bỗng nhiên thấy chủ về, chắc chắn sẽ rất hoang mang, bây giờ mà vào sẽ khiến chúng giật mình, ngã xuống thì không hay."
Thầy phong thủy nghe xong, quay người sang nói với anh: "Anh đưa tôi về đi, phong thủy của mảnh đất này không cần xem nữa."
Anh con trai ngạc nhiên: "Đi mấy chục cây số mới đến được đây, sao thầy đã muốn về rồi?"
Thầy phong thủy cười nói: "Nơi nào có anh, nơi đó phong thủy đều rất tốt lành. Có một anh con trai như anh, bác nhà là một người rất có phúc."
Phong thủy chính là: Người có phúc ở chốn đất lành, chốn đất lành có người có phúc.
Nếu bạn là một người có phúc, nơi bạn sống chính là nơi đất lành.
Nếu nơi bạn sống không phải là chốn đất lành thì bạn vẫn có thể biến nó thành nơi đất lành chim đậu.
Trong tất cả các phong thủy, phong thủy đầu tiên là con người, phong thủy đầu tiên của con người là trái tim, phong thủy dưỡng nhân, nhưng nhiều người không biết rằng nhân cũng dưỡng phong thủy.
Phong thủy tốt do mình tự tạo ra.
Lòng hiếu thảo, sự tốt bụng chính là phong thủy tự nhiên tốt nhất của mỗi người.
Phong thủy thứ 2 của con người: Miệng
Phần lớn mâu thuẫn gia đình đều đến từ việc không biết cách nói chuyện.
Lúc yêu nhau, có những lời vẫn chưa nói hết; sau khi kết hôn, có những trận cãi vã không hồi kết. Không chỉ trong quan hệ vợ chồng, mà ngay cả với cha mẹ, con cái, chúng ta đều có thói quen chỉ trích, trách móc.
Ngôn ngữ là thứ vũ khí mang tính sát thương nặng nhất trong các mối quan hệ thân thiết. Đôi khi, dù bạn có ý tốt, nhưng vì giọng điệu và cách diễn đạt sai, nên nó hoàn toàn thay đổi đi ý nghĩa cần có.
Chập tối, trời bất chợt mưa to, về đến nhà, tóc của người vợ đã bị ướt hết. Người chồng nhìn thấy vợ, lớn tiếng nói: "Lớn bằng ngần này rồi mà ra ngoài không biết mang theo ô? Cảm cúm là đáng đời!" Sau đó, lấy khăn đưa cho vợ: "Mau lau đi." Người vợ cầm chiếc khăn một cách giận dữ rồi đi vào phòng ngủ, đóng sầm cửa lại.
Một vài câu nói đơn giản đã trở thành ngòi nổ của cuộc chiến giữa vợ và chồng, và có lẽ người chồng không biết mình sai ở đâu.
Giữa chồng và vợ, trong tim có yêu, trên miệng có thương, có gì từ từ nói, gia đình tự nhiên sẽ hòa thuận, vợ chồng hòa thuận chính là phong thủy tốt nhất của một gia đình.
Mặt khác, trong xã hội, tại nơi làm việc, vì ăn nói không khiếm tốn mà đắc tội với đủ mọi loại người.
Miệng là cánh cửa phúc họa.
Nếu nói ra những lời chua ngoa cay nghiệt, ngay lập tức sẽ đắc tội với người khác.
Người sống có mặt, cây sống có vỏ, đánh người không đánh vào mặt, mắng người không lôi chỗ yếu ra mà mắng.
Bạn không cho người khác thể diện, người ta cũng sẽ chẳng kiêng dè gì bạn.
Trước mặt người đi khập khiễng không nói từ què, trước mặt người mập không nói béo, trước mặt Thị Nở không nhắc từ xấu.
Đừng nghĩ rằng "mau miệng, thẳng toẹt" lúc nào cũng là hay, quản cho tốt cái miệng của mình, họa đều từ miệng mà ra.
Nước càng sâu, dòng chảy càng êm, người càng ưu tú càng biết "lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau."
Tâm tốt là phúc, nhưng cũng cần phải biết cách ăn nói thì mới giữ được cánh cửa tài phúc, không để "rỉ" phúc, phong thủy mới ngày càng tốt hơn.
Phong thủy thứ 3 của con người: Hành vi
"Tâm hảo, chúy từ, hành thiện" (Lòng tốt, miệng lưỡi tử tế, làm việc tốt).
Tâm là gốc rễ, miệng là hoa và hành vi là quả ngọt.
Giúp đỡ người khác là hành thiện, không tính toán so đo, lợi dụng người khác cũng là thiện.
Lợi dụng, so đo sẽ làm mất đi niềm tin của mọi người, mất nhiều hơn là được.
Vì vậy mới thường nói, người hay giành "thanh toán" có nhiều bạn bè nhất.
Nói họ ngốc nhưng không thực sự ngốc, là họ sẵn lòng, bởi trong lòng mọi người đều sẽ ghi nhớ, lâu dần, ai cũng sẽ tôn trọng họ.
Chịu thiệt thòi là phúc, không so đo, tính toán là một loại trí tuệ.
Không tính toán được mất, thích giúp đỡ mọi người, làm việc lúc nào cũng sẽ như cá gặp nước, phong thủy như vậy tự nhiên là phong thủy tốt.
Tục ngữ nói "đắc nhân tâm giả đắc thiện hạ" (người có được lòng người sẽ có được cả thiên hạ), lấy được lòng người mới có thể mở rộng được mạng lưới, mới thu hoạch được nhiều thông tin, có được nhiều nguồn lực, được nhiều sự giúp đỡ của người khác, từ đó nắm bắt được nhiều cơ hội hơn.
Có những người vì sao lại may mắn đến vậy, đó là bởi cách đối nhân cử thế của anh ta.
Người cho đi lòng tốt sẽ nhận lại lòng tốt, phúc cho đi sẽ lại được phúc đến, đây là chân lý ngàn đời chưa bao giờ thay đổi.
Người thích hành thiện, không hổ thẹn với lương tâm sẽ ăn ngủ tốt, được người xung quanh tôn trọng, tâm tình tốt, sức khỏe tự nhiên tốt, cả đời thuận lợi.
Vì vậy, những phong thủy quan trọng nhất đều không liên quan đến những thứ bên ngoài, nó nằm trong chính bản thân chúng ta.
Suy nghĩ quyết định hành vi, hành vi quyết định thói quen, thói quen quyết định tính cách và tính cách quyết định số phận.
Đây là chân tướng của việc thay đổi số phận thông qua phong thủy của chính mình.
Giữ lòng tốt, nói điều hay, làm việc thiện, đời người sẽ không có cái gọi là "không tốt".
Như Quỳnh
Theo Trí Thức Trẻ
http://luukhamhung.blogspot.com/2020/01/
-
7 CÁCH BỐ THÍ KHÔNG TỐN TIỀN
Đức Phật dạy 7 cách bố thí không tốn một đồng nào lại giúp bạn gặp vận may cả đời
Một người nghèo chạy đến phía trước Đức Phật vừa khóc vừa hỏi Ngài:
“Tại sao con làm việc gì cũng không thành công, đó là do duyên cớ gì ạ?”
Đức Phật nói với anh ta: “Đó là bởi vì con chưa học được cách bố thí cho người khác.”
Người kia thưa: “Nhưng con là một người nghèo khó không có tiền, làm sao có thể bố thí!”
Đức Phật dạy: “Đều không phải như thế. Một người cho dù hoàn toàn không có tiền, vẫn có thể cho người khác 7 thứ:
1. Nhan thí – Cho đi bằng nét mặt. Chúng ta có thể cho đi nụ cười niềm nở đến những người xung quanh hàng ngày mà mình gặp trong cuộc sống.
2. Ngôn thí – Cho đi bằng lời nói. Chúng ta có thể nói nhiều những lời nói ấm áp, khiêm nhường, khen ngợi, an ủi, khích lệ, cổ vũ và động viên người khác.
3. Tâm thí – Cho đi bằng tấm lòng. “Sưởng khai tâm phi, thành khẩn đãi nhân”, có nghĩa rằng mở rộng tấm lòng, chân thật, thành tâm đối đãi với người khác.
4. Nhãn thí – Cho đi những ánh mắt, những cái nhìn hiền từ. Dùng ánh mắt thiện ý để nhìn người khác.
5. Thân thí – Cho đi bằng hành động nhân ái. Dùng hành động nhân ái để đi giúp đỡ người khác.
6. Tọa thí – Cho đi bằng nhường chỗ ngồi cho người cần. Khi đi xe hay trên thuyền có thể nhường chỗ ngồi của mình cho người cần.
7. Phòng thí – Bố thí nơi ở: Đem phòng còn trống cho người khác nghỉ ngơi.
Cuối cùng Đức Phật nói: “Cho dù là ai, chỉ cần tập thành 7 thói quen này thì vận may sẽ đi theo “như hình với bóng”!
Đức Phật nói với chúng ta hạnh của bố thí có rất nhiều cách, chỉ cần dùng chân tình và thiện tâm là có thể làm được.
– Ví như trong cuộc sống hàng ngày, mưu sinh kiếm tiền nuôi gia đình, kỳ thực nuôi gia đình cũng là một dạng bố thí!
– Nếu như bạn cảm nhận thấy bản thân là làm trâu làm ngựa, hay kiếm tiền trả khoản nợ nào đó cho người ta, thế thì chính là bạn đang ôm giữ trong lòng một bụng khí oán giận, bạn sẽ cảm nhận thấy cuộc sống rất khổ! Một khi bạn chuyển ý niệm đầu tiên “nuôi gia đình” thành là bố thí, là cho đi, là chăm sóc, nuôi dưỡng, cung phụng; bạn là cần cho gia đình này, gia đình này cần bạn và bạn là đang cho đi, đang bố thí, đang cung phụng nuôi dưỡng mọi người trong nhà, khi đó bạn sẽ cảm thấy ấm áp nhẹ nhàng và vui vẻ thoải mái.
– Đây chính là giác ngộ và trong mê, tỉnh và thức, khi mê thì thấy rõ ràng xác thực là như bị đòi nợ, trả nợ, một khi giác ngộ ra rồi thì không phải là đòi nợ, trả nợ nữa mà là thực hành bố thí, cung phụng phụng dưỡng cho đi.
– Đừng tưởng rằng đến đền chùa bỏ một chút tiền vào đó mới là bố thí, bởi vì trong vô lượng phương diện bố thí thì bạn mới chỉ hiểu được có một mặt. Bạn có biết rằng, trong cuộc sống thường nhật hàng ngày, hết thảy các hành động và việc làm của chúng ta đều là bố thí, là cung phụng, phụng dưỡng.
– Thí dụ như bạn sắp xếp thu dọn nhà cửa gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ giúp cho cuộc sống những người trong cả nhà được thoái mái, dễ chịu, thì chính là bạn đang tu dưỡng bố thí trong gia đình. Bạn là đang thực hành hạnh Bồ Tát Đạo! Tại công ty bạn tận lực tận tâm làm việc đó là hạnh bố thí trong công việc, và là cung phụng, cung dưỡng đối với xã hội.
– Chúng ta có đủ khả năng khởi lên những niệm đầu này, chúng ta sẽ sống tự tại!
– Chúng ta vất vả chăm chỉ làm việc, có thể tính là không nhận được quyền lợi gì tới mình, nhưng cũng sẽ không còn cảm thấy khó sống, tại sao lại thế ? Bởi vì chúng ta bằng sức lao động và bằng chính thể lực, trí tuệ của bản thân mình để bố thí, cung phụng, phụng dưỡng cho người, cho nên tâm chúng ta hoan hỷ hài lòng và sẽ vô cùng vui vẻ.
– Chúc bạn có thể tu thành hạnh bố thí, cung phụng. Trên bề mặt trước mắt nếu mà bạn có thể chưa thấy ngay được phúc báo, nhưng rồi quả của nó sẽ báo đáp không thể nghĩ bàn.
(Sưu tầm trên mạng)
http://luukhamhung.blogspot.com/2019/09/
-
Wednesday, January 30, 2019
TƯỞNG CHAY NHƯNG KHÔNG THUẦN CHAY
Gửi team thuần chay: Bạn có biết 9 loại thực phẩm này không hề 'thanh tịnh' chút nào không?
Có thể bề ngoài của chúng trông rất giống những món ăn chay, nhưng bạn sẽ không ngờ đến sự thật bên bên trong chúng.
Ăn thuần chay đồng nghĩa với việc bạn phải loại bỏ mọi thực phẩm được chế biến từ thịt động vật, bất kể đó là sữa hay trứng. Khi bắt đầu việc thuần chay và vĩnh biệt những món thịt hấp dẫn, bạn sẽ phải chuẩn bị tinh thần cho những tháng ngày chỉ ăn rau, củ, quả và các loại hạt, bên cạnh đó là không tơ tưởng đến bún bò, cơm tấm sườn bì chả... nữa.
Đôi khi, trong suốt thời gian ăn chay, bạn sẽ đôi lần nghi ngờ hay thắc mắc về những món mình được và không được ăn. Thậm chí là ăn nhầm phải những món không hề thuần chay chút nào nhưng lại mảy may chẳng hay biết.
Dưới đây là 9 loại thực phẩm mà team thuần chay vẫn lầm tưởng sử dụng hàng ngày.
1. Thuốc lá
Đúng là hút thuốc lá thật sự rất có hại cho sức khỏe của bạn. Nhưng ngoài việc đó ra, thuốc lá cũng không hề thân thiện đối với những người theo đuổi chế độ ăn thuần chay, vì một loại chất được gọi là castoreum.
Castoreum là một loại chất dầu được tiết ra từ tuyến gần trực tràng của hải ly. Loại chất này sẽ làm tăng thêm hương vị cho thuốc lá và hiện nay cũng là thành phần không thể thiếu. Năm 1991, Philip Morris (công ty sản xuất thuốc lá đa quốc gia của Mỹ) đã chỉ dụng gần 4 kg chất tạo mùi này để sản xuất ra 400 tỷ điếu thuốc lá, chứng minh rằng dù chỉ một ít chất dầu từ động vật cũng có thể tạo nên điều to lớn.
2. Nước ngọt
Những người ăn thuần chay thường lầm tưởng rằng nước ngọt rất an toàn trong khẩu phần ăn hàng ngày.
Tuy nhiên, từ khi một blogger nổi tiếng có tên Sean O'Callaghan (hay còn gọi là Fat Gay Vegan) phát hiện một số công ty đã sử dụng gelatine để sản xuất nước ngọt và nước ép trái cây.
Gelatine là một chất rắn không màu, không vị được lấy từ da lợn và tủy xương của gia súc.
Nghi ngờ này cũng đã được các chuyên gia làm rõ. Theo đó, đúng là có một số công ty đã thật sự sử dụng gelatine trong nước trái cây của họ. Vì vậy, nước ép trái cây đóng hộp hay nước ngọt cũng không phải là thực phẩm thuần chay đâu nhé.
3. Bia trái cây lên men
Chúng ta đều biết, loại bia này thường được sản xuất dựa trên việc lên men trái cây cũ. Ví dụ như một số loại bia táo lên men.
Một số tín đồ thuần chay vẫn thường xuyên uống các loại bia trái cây như Rekorderlig, Bulmers và Strongbow. Tuy nhiên, tin buồn rằng một số trong chúng có sử dụng gelatine, còn một số khác lại chứa tinh chất của rệp son hay còn được gọi là bọ yên chi.
Vì vậy, nếu là một người ăn chay, bạn cần tìm hiểu trước khi thưởng thức các loại bia trái cây lên men nhé.
4. Rượu vang
Nếu bạn chưa biết thì rượu vang còn có một cái tên nghe hết hồn khác chính là nước ép cá.
Mọi người sẽ tranh cãi rằng rượu vang chỉ được làm từ nho và chỉ nho thôi, làm gì có cá ở đây. Vâng, chúng tôi hiểu điều đó, nhưng một sự thật không thể chối cãi đó chính là bên trong rượu vang có chứa isinglass.
Isinglass là một loại thạch được lấy từ bong bóng cá. Isinglass cũng giống như gelatine chỉ khác là nó được sản xuất từ cá. Sở dĩ rượu vang có thêm loại thạch này là vì để nó trông sóng sánh và hấp dẫn hơn. Chính vì vậy, việc nói bạn đang uống một ly nước ép cá là không ngoa chút nào.
5. Bia
Nếu đã quyết tâm vào việc thuần chay thì có lẽ bạn nên quên chuyện nhậu nhẹt say xỉn từ bây giờ đi thôi. Cũng tương tự như rượu vang hay bia trái cây lên men thì bia thông thường cũng vẫn chứa một ít isinglass hoặc gelatine để làm mịn.
Mặc dù vậy, bạn cũng đừng quá đau khổ vì trên thị trường hiện nay cũng có một số loại bia thuần chay mặc dù chúng khá khó tìm và không được bán phổ biến.
6. Ngũ cốc
Vâng! Bữa sáng bằng ngũ cốc cũng không hề "thanh tịnh" chút nào đâu vì bên trong ngũ cốc thường có chứa chocolate và nguyên liệu làm nên chocolate có bao gồm sữa.
Tuy nhiên, khi số người ăn thuần chay tăng lên, một số công ty cũng đã sản xuất các loại ngũ cốc không hề liên quan đến sữa động vật để giúp cuộc sống của bạn dễ dàng hơn.
7. Kẹo
Dù đối tượng ăn kẹo vốn là trẻ con nhưng nếu không biết rằng kẹo cũng có một chút liên quan đến động vật thì có thể bạn sẽ ăn nhầm đấy.
Gelatine cũng xuất hiện trong kẹo để giúp sản xuất ra kẹo dẻo và các loại thạch.
8. Nước sốt Worcestershire
Sốt Worcestershire có vị ngọt chua, cay, màu nâu sẫm và được sử dụng trong rất nhiều món rau trộn, thịt xào, bánh mì kẹp và nhiều món ăn khác. Ngoài dùng để tẩm ướp, loại sốt này cũng dùng để chấm trực tiếp cho rau củ luộc, há cảo hấp, thậm chí là sử dụng để làm cocktail.
Tuy nhiên, cũng giống như nước mắm Việt Nam, loại sốt này được tinh chế từ cá cơm. Vì vậy khi ăn rau trộn, bạn hãy hỏi kỹ rằng nhà hàng có sử dụng loại sốt đặc biệt này hay không.
9. Đường bột
Ở Mỹ, đường bột được sản xuất từ xương động vật có chứa than và bột. Vì vậy loại đường này ở Mỹ là hoàn toàn không thuần chay. Tuy nhiên nếu được sản xuất ở Anh, hầu hết các nhãn hiệu đều không đụng đến động vật vì vậy đường bột của họ đều là thuần chay.
Từ nay về sau, khi ăn bánh ngọt có phủ lớp đường bột này bên trên, bạn cũng nên cân nhắc về việc có mua chúng không nhé.
Bên trên là 9 thực phẩm nghe có vẻ thuần chay nhưng thật ra đều có chứa ít nhất một thành phần liên quan đến động vật. Nếu bạn đã từng ăn nhầm những loại thực phẩm này thì cũng đừng quá lo lắng mà chỉ cần cẩn thận hơn ở những lần sau là được.
Thực phẩm hiện nay vốn chứa rất nhiều thành phần mà chúng ta không thể nắm rõ vì vậy hãy chắc chắn mua mua thức ăn mỗi ngày ở những cửa tiệm chay uy tín để không ăn nhầm những thực phẩm chế biến từ động vật.
Nguồn bài: BBC
http://luukhamhung.blogspot.com/2019/01/
-
HỌC CÁCH ĐỂ TRỞ NÊN MAY MẮN
Ai cũng muốn là người may mắn, nhưng không phải ai cũng được như thế. Nhưng nếu biết cách, bạn sẽ là người may mắn.
https://3.bp.blogspot.com/-uiYMBP9Z7...GAs/s640/3.jpg
Trên thế giới có 3 loại người: người may mắn, người xui xẻo và bình thường. GS Richard Wiseman, ĐH Hertfordshire (Anh) đã làm một cuộc nghiên cứu cực kì công phu trên 400 người từ 18 đến 84 tuổi trong suốt hơn 10 năm, để tìm hiểu về quy luật may mắn của con người.
Qua nghiên cứu này, ông đã rút ra được khá nhiều điều lý thú và hữu ích cho tất cả mọi người muốn mình trở nên may mắn hơn.
Cuộc sống là một trò chơi tìm kiếm
Trong một cuộc thí nghiệm, GS Wiseman đưa cho người may mắn và xui xẻo 2 tờ báo và hỏi họ: “Hãy tìm cho tôi có bao nhiêu tấm hình trong tờ báo này?” Người xui xẻo mất 2 phút, trong khi người may mắn chỉ mất có vài giây. Tại sao lại như vậy?
Vì ở ngay trang 2 của tờ báo có một dòng chú thích: “Đừng tìm nữa, tờ báo này có 43 tấm hình”. Cuộc thí nghiệm được làm lại nhiều lần và người xui xẻo chẳng bao giờ nhìn ra dòng chữ ấy.
Bài học rút ra là: người xui xẻo đã bỏ lỡ cơ hội vì họ quá bận rộn, quá tập trung vào những gì đang làm. Trong khi đó, người may mắn luôn biết nhận ra những gì khác biệt hơn là những gì họ tìm kiếm.
May mắn thường gõ cửa những người luôn sáng tạo và luôn biết cách làm mới mình, làm mới môi trường xung quanh mình.
Nếu ví sự may mắn là trái táo và môi trường quanh bạn là một vườn táo. Hàng ngày, bạn chỉ cứ hái mãi ở một vườn, càng ngày bạn sẽ càng khó tìm thấy, vì táo ít đi từng ngày.
Nhưng nếu bạn sang một vườn táo mới, xác suất hái được táo của bạn sẽ tăng lên đột ngột. Đó chính là sự may mắn!
Biết là mình may mắn
Sở dĩ GS Wiseman chia ra làm hai loại người: may mắn và không may mắn vì… chính họ đã tự nhận mình là như vậy. Cùng một sự việc, người may mắn và xui xẻo có thể nhìn dưới 2 khía cạnh khác hẳn nhau.
Cũng như một đội tuyển tham dự Olympic vậy, năm nay họ thi đấu chỉ đoạt huy chương đồng, sang năm, họ tập luyện chăm chỉ hơn và rồi đạt huy chương bạc. Nhưng bạn hãy thử đoán xem, lúc nào họ vui hơn?
Khi đoạt huy chương bạc, họ cảm thấy xui xẻo vì chỉ còn một chút nữa thôi là họ có thể làm được điều tốt nhất. Còn khi chỉ đoạt huy chương đồng, họ lại thấy may mắn, vì nếu họ không cố gắng dù chỉ là một chút nữa thôi thì họ đã không có gì cả.
Các nhà nghiên cứu gọi đây là hiện tượng suy nghĩ “phản thực” (counter-factual). Những người may mắn là người biết biến sự xui xẻo thành cảm giác may mắn.
Trong một thí nghiệm khác, GS Wiseman đặt ra trường hợp rằng: một ngày bạn vào nhà băng, thế rồi bất chợt bọn cướp xuất hiện, chúng bắn bừa một viên đạn thế nào lại trúng vào vai bạn. Quan điểm của người xui xẻo là: “Ôi trời, sao tôi xui xẻo đến thế. Đến nhà băng ngày nào không đến, lại đến đúng ngày có cướp viếng, đã thế lại bị tai bay đạn lạc”.
Trong khi đó, quan điểm của người may mắn là: “Ôi may quá! Đạn chỉ trúng vào vai mà không vào đầu mình”.
Chính quan điểm ấy giúp họ có một cuộc sống tràn đầy tự tin và hy vọng. Họ luôn lạc quan ngay cả khi khó khăn nhất.
Luyện để trở thành người may mắn
Mục đích của nghiên cứu này là rút ra những kinh nghiệm và thói quen có thể giúp chúng ta tìm thấy nhiều sự may mắn hơn.
GS Wiseman tổ chức một cuộc trao đổi giữa hai nhóm người. Những người may mắn sẽ nói về cách họ suy nghĩ, cảm nhận về cuộc sống, cách họ tìm kiếm may mắn, phá vỡ các thói quen và giải quyết những xui xẻo.
Những người xui xẻo được giao nhiệm vụ là hãy thay đổi một số thói quen, lối sống. Sau đó chỉ một tháng, những kết quả báo lại thật bất ngờ: 80% số người xui xẻo đã cảm thấy sống tốt hơn, vui vẻ hơn và may mắn hơn.
Piper, một người thuộc nhóm xui xẻo nói: “Tôi đã tự lập ra một số sở thích và thói quen bất chấp những hạn chế của mình. Ví dụ như vào các sáng thứ 7, tôi rất muốn đi câu, vì vướng chuyện học lại thôi.
Nhưng lúc đó, tôi vẫn cứ đi câu bất chấp vẫn còn một đống bài ở nhà. Trong khi câu cá, chúng tôi đã trao đổi cùng nhau về bài luận, tôi đã nhận ra khá nhiều điều lý thú và tôi đã có một bài luận điểm A”.
Alesadra nói: “Tuần trước, tôi thấy có một cái váy rất đẹp, nhưng không mua. Hôm sau tôi quay lại để mua thì người ta đã bán mất. Nếu là trước đây, tôi sẽ thất vọng, buồn rầu mà đi về. Nhưng sau khi đi một vòng, tôi lại tìm được một cái khác đẹp hơn và còn rẻ hơn thế. Thật là may mắn”.
Có lẽ, may mắn hay xui xẻo cũng chỉ là một khái niệm trìu tượng và do quan điểm của mỗi chúng ta. Vậy là bài học rút ra ở đây thật sự chẳng có gì cao siêu cả.
Nếu bạn muốn là người may mắn, hãy tự xếp hạng mình là người “số đỏ”. Hãy luôn suy nghĩ tích cực, rằng những may mắn đến với bạn là do bạn xứng đáng được hưởng, còn những xui xẻo chẳng qua là những thử thách giúp chúng ta cứng cỏi hơn mà thôi.
Hãy nhớ rằng: “Khi một cánh cửa sập lại với bạn, chắc chắn sẽ có 5, 7 cánh cửa khác trải thảm đỏ đón bạn”.
Theo: Reader’s Digest
http://luukhamhung.blogspot.com/2018/
-
7 LOẠI TRÁI CÂY KHÔ TỐT CHO SỨC KHỎE
Thuốc bổ không bằng ăn bổ. Chỉ cần bạn lựa chọn đúng cho dù chỉ là món ăn vặt hàng ngày cũng có thể giúp phòng và trị bệnh. Tạp chí “Daily Mail” của Anh đã tổng kết 7 loại trái cây có tác dụng chữa bệnh. Bạn có nguy cơ mắc bệnh nào, hãy chọn đúng loại quả sau đây nhé.
1. Nho khô – giảm loãng xương
Nho khô có tác dụng làm giảm nguy cơ loãng xương ở phụ nữ mãn kinh.
Trong nho khô có hàm lượng Boron phong phú, có tác dụng làm giảm nguy cơ loãng xương ở phụ nữ mãn kinh. Bạn có thể ăn nho khô cùng với sữa chua – thực phẩm giàu hàm lượng canxi, để mang lại hiệu quả tốt hơn cho sức khoẻ.
2. Táo tàu – Tiêu trừ mệt mỏi
https://1.bp.blogspot.com/--feXsVwcE...GAs/s640/3.jpg
Khi mệt mỏi, chúng ta thường thích ăn đồ ngọt. Lúc này táo tàu với chỉ số hàm lượng đường thấp sẽ là 1 lựa chọn tuyệt vời. Bạn có thể kết hợp táo tàu cùng các loại quả khô khác để làm tăng cảm giác no.
3. Anh đào khô (CERISE) – giảm chứng tê thấp, gout
Trong anh đào khô chứa nhiều cyanidin, có hiệu quả trị liệu rất tốt đối với các chứng viêm khớp, tê thấp. Một nghiên cứu gần đây của Mỹ đã phát hiện, các thực phẩm có chứa anh đào có thể làm giảm 50% các triệu chứng viêm. Các chuyên gia cũng khuyến nghị mỗi ngày nên ăn anh đào khô 2 lần, mỗi lần 132g.
4. Mơ khô (ABRICOT) – Tốt cho người cao huyết áp
Mơ khô chứa hàm lượng Kali cao gấp 3 lần chuối tiêu.
Mơ khô chứa hàm lượng Kali cao gấp 3 lần chuối tiêu. Kali lại có tác dụng làm giảm huyết áp.
Cũng theo 1 nghiên cứu mới đây của Mỹ, lượng Kali nạp vào cơ thể nhiều hơn Natri sẽ có tác dụng ngăn ngừa các bệnh về tim mạch, và chứng cao huyết áp.
5. Việt quất khô (CANNEBERGE) – Có lợi cho người viêm bàng quang
Theo nghiên cứu của Mỹ, mỗi ngày ăn 2 nắm việt quất khô (khoảng 42,5g), có thể làm giảm “độ bám dính” của vi khuẩn E.coli trong các mẫu nước tiểu của bệnh nhân nữ, do đó nguy cơ viêm bàng quang cũng giảm. Nguyên nhân chính giúp quả việt quất có tác dụng kì diệu này là vì nó có chứa các hoạt chất proanthocyanidis có tác dụng chống vi khuẩn lưu lại ở bàng quang.
6. Mận khô (PRUNE) – Cải thiện chứng táo bón
Mận khô chứa chất sorbose, có công hiệu thông tiện.
Cũng theo các nhà nghiên cứu, mỗi ngày ăn 2 lần, mỗi lần 6 quả mận khô (khoảng 50g), sẽ có công hiệu cải thiện chứng táo bón tốt hơn các loại thuốc. Do trong mận khô chứa chất sorbose, có công hiệu thông tiện.
7. Sung khô (FIGUE) – Tốt cho người thiếu máu
Mỗi ngày ăn 4 quả sung khô có thể cung cấp đủ 1/4 nhu cầu sắt trong ngày của cơ thể, mang lại tác dụng ngăn ngừa chứng thiếu máu. Dùng sung khô cùng với nước cam tươi chứa hàm lượng vitamin C phong phú sẽ càng có lợi cho việc hấp thụ sắt từ thực phẩm của cơ thể.
(Sưu tầm trên mạng)
http://luukhamhung.blogspot.com/2018/10/
-
VÌ SAO NGƯỜI DÂN BHUTAN KHÔNG SỢ CHẾT?
Trong một lần đến Thimphu, thủ đô của Bhutan, tôi đã ngồi đối diện một người đàn ông có tên Karma Ura và trút hết ruột gan của mình. Có lẽ lý do là vì ông ấy có tên là Karma (tức ‘Nghiệp’ theo Phật giáo), hay do không khí loãng hay do hành trình chuyến đi đã làm tôi không e dè gì nữa.
Nghĩ về cái chết
Điều mà tôi quyết định thổ lộ với ông ấy hết sức riêng tư.
Không lâu trước đó, dường như không hiểu từ đâu tôi trải qua một số triệu chứng khó chịu: khó thở, chóng mặt, tay chân tê cứng. Lúc đầu, tôi sợ rằng mình đang lên cơn đau tim. Do đó tôi đi đến gặp bác sỹ. Bác sỹ đã tiến hành một số xét nghiệm và kết luận rằng...
“Không có gì cả”, Ura nói. Ngay cả khi tôi nói hết câu thì ông ấy đã biết là nỗi lo sợ của tôi là không có cơ sở. Không phải là tôi đang chết dần mòn, ít nhất cũng không chết nhanh như tôi lo sợ. Tôi chỉ bị chứng hoảng loạn mà thôi.
Điều tôi muốn biết là: “Tại sao vào lúc này?” – cuộc sống của tôi vẫn đang diễn ra tốt đẹp – và tôi có thể làm được gì để thay đổi tình trạng này?
“Anh cần nghĩ về cái chết năm phút mỗi ngày,” Ura trả lời. “Cách làm này sẽ giúp được anh.”
“Bằng cách nào?” tôi hỏi trong khi cảm thấy chết lặng.
“Chính là nỗi sợ cái chết trước khi chúng ta làm được những gì chúng ta muốn hay nhìn thấy con cái chúng ta lớn khôn. Đó chính là lý do khiến anh cảm thấy bất an.”
“Nhưng tại sao tôi lại cần nghĩ về một điều đau buồn đến như vậy?”
“Những người giàu ở phương Tây – họ chưa từng chạm vào xác người chết, những vết thương còn nguyên hay những thứ thối rữa. Đó chính là vấn đề. Đó là cuộc sống nhân sinh. Chúng ta cần phải chuẩn bị sẵn sàng cho giây phút chúng ta từ giã cõi đời.”
Vương quốc bất ngờ
Các địa điểm, cũng như con người, có cách gây bất ngờ cho chúng ta, miễn là chúng ta đón nhận khả năng bất ngờ và không bị ảnh hưởng bởi những quan niệm sẵn có.
Vương quốc nằm trên dãy Himalaya này được biết đến nhiều nhất với Chỉ số Hạnh phúc Quốc gia. Đây là một đất nước mà sự hài lòng được cho là ngự trị còn nỗi buồn không được phép ghé đến. Bhutan thật sự là một đất nước đặc biệt và Ura, giám đốc của Trung tâm Nghiên cứu Bhutan, là một người đặc biệt. Tuy nhiên sự đặc biệt đó mang nhiều sắc thái.
Thật ra, khi đưa ra đề xuất tôi nên nghĩ về cái chết một lần mỗi ngày, Ura hơi dễ dãi đối với tôi. Trong văn hóa Bhutan, người ta phải nghĩ về cái chết năm lần một ngày.
Điều này thật không bình thường đối với bất kỳ nước nào, nhất là đối với một nước thường được đánh đồng với hạnh phúc như Bhutan. Liệu đây có phải là đất nước của sự tăm tối và tuyệt vọng mà bên ngoài không biết đến?
Không nhất thiết phải như vậy.
Một số nghiên cứu mới đây cho thấy bằng cách nghĩ về cái chết thường xuyên như vậy, người dân Bhutan sẽ đạt được một cái gì đó.
Trong một nghiên cứu hồi năm 2007, các nhà tâm lý học Nathan DeWall và Roy Baumesiter tại Đại học Kentucky đã chia vài chục sinh viên ra làm hai nhóm. Một nhóm được yêu cầu nghĩ về lần đi khám nha khoa rất đau đớn và một nhóm được yêu cầu chiêm nghiệm về cái chết của chính họ.
Cả hai nhóm sinh viên này sau đó được yêu cầu hoàn thành một từ đầy đủ từ một số chữ cái cho sẵn. Nhóm nghĩ về cái chết đã đưa ra những từ tích cực hơn nhiều so với nhóm kia, chẳng hạn như từ ‘vui sướng’.
‘Sống trọn vẹn từng khoảnh khắc’
Điều này khiến cho các nhà nghiên cứu đi đến kết luận rằng ‘cái chết là một việc đáng sợ về mặt tâm lý nhưng khi chúng ta chiêm nghiệm về nó thì chúng ta tự động tìm đến những suy nghĩ vui vẻ’.
Điều này, tôi tin chắc, không hề khiến Ura hay bất kỳ người dân Bhutan nào cảm thấy ngạc nhiên.
Họ biết rằng cái chết là một phần của cuộc sống dù chúng ta có muốn hay không và việc không để ý đến sự thật này sẽ dẫn đến một cái giá nặng nề về mặt tâm lý.
Bà Linda Leaming, tác giả cuốn sách Hướng dẫn Hạnh phúc: Điều tôi học được ở Bhutan về Cuộc sống, Yêu thương và Sự tỉnh thức, cũng biết rõ điều này.
“Tôi nhận thấy rằng nghĩ về cái chết không khiến cho tôi đau buồn. Nó khiến cho tôi sống trọn vẹn từng khoảnh khắc và nhìn cuộc sống theo cách mà tôi không thường nhận ra,” bà viết. “Lời khuyên của tôi, hãy đến Bhutan. Hãy nghĩ những điều bạn không dám nghĩ, điều mà bạn sợ phải nghĩ một vài lần mỗi ngày.”
Không như nhiều người ở phương Tây, người Bhutan không tách riêng hình ảnh của cái chết.
Chết chóc và hình ảnh cái chết có mặt ở khắp nơi, nhất là trong những tranh vẽ Phật giáo với những hình ảnh minh họa đầy màu sắc. Không ai, ngay cả trẻ nhỏ, được giữ tránh xa những hình ảnh này hay những điệu múa nghi lễ thể hiện cái chết.
Tin vào kiếp sau
Tại sao người dân Bhutan có thái độ như thế đối với cái chết? Một lý do khiến người dân Bhutan nghĩ về cái chết thường xuyên là vì nó có mặt ở mọi nơi xung quanh họ. Đối với một đất nước nhỏ bé, có nhiều cách để chết. Người dân có thể mất mạng trên những cung đường ngoằn ngoèo, hiểm trở. Bạn có thể bị gấu vồ hay ăn nhầm nấm độc...
Một cách giải thích khác là niềm tin Phật giáo thấm sâu vào đất nước này, nhất là niềm tin vào kiếp sau. Nếu bạn tin rằng bạn sẽ có kiếp sau, bạn sẽ ít có khả năng lo sợ kết thúc kiếp sống hiện tại. Như trong Kinh Phật dạy, chúng ta không nên sợ cái chết hơn là sợ vứt bỏ đi lớp áo cũ.
Điều này không có nghĩa là người dân Bhutan không có nỗi sợ hay nỗi buồn trước cái chết.
Dĩ nhiên là họ sợ và buồn.
Nhưng, như bà Leaming nói với tôi, họ không chạy trốn những cảm giác này. “Ở phương Tây chúng ta muốn vượt qua nỗi buồn,” bà nói. “Chúng ta sợ nỗi buồn. Còn ở Bhutan có một sự chấp nhận. Đó là một phần của cuộc sống.”
(Bản quyền hình ảnh: THINKSTOCK)
Eric Weiner
BBC Travel
http://luukhamhung.blogspot.com/2018/06/
-
Tuesday, May 30, 2017
TÂM TÍNH THAY ĐỔI SỐ MẠNG CŨNG BIẾN ĐỔI THEO
Vào thời nhà Minh ở trấn Giang Tô Giang Kinh có một tú tài tên là Trương Sinh. Hoàn cảnh gia đình anh ta rất nghèo khó, tư cách của anh thì tồi tệ, thường hay làm hại hàng xóm láng giềng. Tính nết anh ta lại khá hào sảng, tiền của mà anh ta vơ vét được nhờ bắt chẹt dọa dẫm người ta thì anh ta lại tùy ý đem cho khắp nơi, trong số hàng xóm rất nhiều người túng quẫn cũng được anh ta giúp đỡ rất nhiều, cho nên lương thực tiền của trong nhà anh ta chẳng giữ được lâu.
Có một năm vào đêm giao thừa, gia đình Trương Sinh lại không còn gì để ăn nữa. Anh ta thầm nghĩ trong số bạn cũ và thân thích đều đã từng có thù oán, hơn nữa phần lớn đều là những kẻ tiểu nhân nịnh bợ, nghĩ mãi không ra nhà nào có thể tới vay mượn chút tiền, bản thân lại không muốn vẫy đuôi van xin, cầu cạnh người ta. Anh ta mượn gia đình một cuộn vải cũ, tới hiệu cầm đồ ép người ta cầm với giá ngàn đồng tiền, mua một đấu gạo, thực phẩm và hương nến giấy, bỏ trong giỏ đi về nhà. Chiều tối hôm đó tuyết rơi dày, trên đường trơn trượt, anh đi nhanh về tới cổng nhà không cẩn thận bị ngã, tất cả những thứ trong giỏ bị đổ rơi vào vũng bùn. Trương Sinh vội vàng vào nhà cầm đèn trở ra tìm. Bất ngờ anh nhặt được một cái bao to, nhấc thử lên thấy rất nặng. Xách bao về nhà xem thử, bên trong có mấy thỏi vàng, hơn mười lượng bạc vụn, và hơn 100 đồng bạc trắng, mấy trăm tiền lẻ, một quyển sổ kế toán, mấy quyển sổ tay nhỏ, biết đó là những đồ của một nhà buôn tơ lụa. Trương Sinh sung sướng vô cùng, nghĩ thầm từ nay về sau có thể sống yên ổn rồi. Đúng lúc đem vào buồng trong, đột nhiên lại nghĩ: những thứ này nhất định là sổ kế toán thu của một người làm mướn trong cửa hàng tơ lụa, lúc đi ngang qua đây đã đánh rơi. Nếu như không giao được cho chủ tiệm, người này chắc chắn chỉ còn đường chết thôi. Chi bằng đợi người đó đến, trả lại cho người ta. Thế là mang túi, tự mình cầm đèn ngồi ngoài cửa giữa trời gió tuyết và chờ đợi.
Không lâu sau, thấy ở đàng xa có một ông lão và mấy người thiếu niên đi tới, tay cầm đèn hiệu của cửa hiệu tơ tằm, vừa đi vừa soi chiếu dọc con đường để tìm kiếm, dáng vẻ hoảng loạn. Trương Sinh nghĩ đây chắc chắn là người mất của, bèn chào hỏi họ: “Các vị đang tìm thứ gì thế?”.
Ông già thoáng nhìn thấy đó là Trương Sinh, biết anh ta là kẻ vô lại, không dám nói thẳng, chỉ úp úp mở mở muốn tránh đi.
Trương Sinh nói lớn: “Các người xách đèn lồng soi tìm khắp nơi, có phải là tìm đồ thất lạc hay không, trả lời tôi mau!”.
Ông già đành phải nói thật: “Vừa rồi tôi mang sổ kế toán thu đi ngang qua đây, gặp phải trận mưa tuyết, vội vàng gấp rút lên đường, đã đánh mất một bao vải, cho nên quay lại tìm kiếm. Bây giờ tìm không thấy, chắc là bị người đi đường nhặt mất rồi!”.
Trương Sinh hỏi ông ta trong bao đựng thứ gì, ông già kể tất những tiền bạc sổ sách ra, hoàn toàn phù hợp. Trương Sinh nói: “Xin mời đến nhà tôi ngồi chơi một lát, tôi đã biết người nhặt được của là ai rồi!”.
Ông lão vái Trương Sinh một vái, nói: “Nếu tiên sinh biết là ai xin hãy lập tức cho tôi biết, không dám tùy tiện tới nhà anh quấy rầy!”.
Trương Sinh nói: “Ở đây tuyết rơi nhiều, nhà kẻ hèn này ở ngay bên cạnh đây!”.
Nói xong anh ta lôi ông lão về nhà mình, vào trong mang ra cái bao vải và nói: “Mau xem có đúng là thứ này không?”.
Ông lão kinh hãi nhìn anh ta, môi không động đậy, không dám nói gì cả. Trương Sinh trấn an ông lão và nói: “Lão tiên sinh chớ nghi ngờ tôi. Nếu tôi muốn giữ những thứ trong túi này thì việc gì phải ngu dốt mà ngồi chờ ông đến để nói cho ông biết chứ!”. Vừa nói vừa đưa bao vải cho ông già.
Ông lão khóc nước mắt như mưa, nói: “Tôi làm quản lý sổ thu của cửa hàng, thứ tôi làm mất hôm nay chính là toàn bộ tiền bán hàng, bồi thường cũng không nổi, chỉ có con đường chết thôi. Cảm tạ tiên sinh đã cứu tôi!”.
Ông lão dập đầu lạy như tế sao. Sau khi đứng dậy, ông lão xin Trương Sinh hãy giữ lại một nửa. Trương Sinh thẳng thừng từ chối.
Ông lão nói: “Tiên sinh không nhận, tôi cũng không thể đi được!”.
Trương Sinh cười nói: “Không cần phải biếu, cho tôi mượn tạm mấy đồng bạc để tết này có thể ăn được bữa cơm no, vậy là cám ơn Ngài rồi!”.
Ông lão thấy anh ta rất thành thật, không dám nói gì thêm bèn lấy mấy đồng bạc trao cho anh ta, khấu đầu cám ơn rồi đi.
Trương Sinh cầm tiền ra ngoài mua lương thực và hoa quả để cúng Thần cúng Trời. Vợ chồng ăn bữa cơm tất niên. Đêm đó Trương Sinh nằm mơ bị người ta bắt trói, mang tới trước mặt một người dáng dấp như Vương giả. Vị Vương giả trách mắng anh ta nói: “Anh làm nhiều việc bất nghĩa, nếu không sửa lại, thì đáng rơi vào đường ngạ quỷ đó!”.
Trương Sinh đang dập đầu xin tha, đột nhiên có một người cầm một bản cáo trạng tới bẩm báo.
Vị Vương giả xem qua lập tức dịu lại và nói: “Đây là việc đại thiện, đủ để tiêu trừ những việc làm ác ngày xưa. Cần phải hoàn trả phúc lộc lại cho anh ta, ghi tên anh ta vào danh sách thi đậu khoa bảng năm nay”.
Rồi ông ta nói với Trương Sinh: “Sau khi anh trở về cần phải thực tâm hối cải những lầm lỗi trước kia, một lòng hướng thiện thì tương lai sẽ rất sáng sủa!”.
Trương Sinh tỉnh giấc, biết đó là về chuyện mình đã trả lại tiền của cho người ta, cảm thấy như đang được Thần phù hộ. Sau khi trời sáng, anh đứng trước bàn thờ Thần linh thề sẽ biết tự kiểm điểm bản thân, không làm điều ác chỉ làm việc thiện để chuộc lại những tội lỗi trước kia. Chẳng bao lâu sau, ông lão ngày trước mũ áo chỉnh tề tới nhà anh cảm tạ và nói: “Lần trước nếu không có tiên sinh làm ơn làm phước thì tính mạng của cả nhà lão đều đã không còn nữa rồi! Tôi đã báo cáo việc này lên chủ nhân của tôi rồi, ông ấy chắc chắn sẽ có báo đáp”. Trương Sinh khiêm tốn cảm ơn ông lão. Từ đó về sau anh hết lòng làm việc thiện, nhưng cuộc sống còn túng quẫn hơn, thường mấy ngày liền chẳng có gì để ăn.
Rằm tháng 7 âm lịch năm ấy, tất cả tú tài đều tới Kim Lăng tham gia cuộc thi Hương. Nhưng Trương Sinh một đồng cũng không có, thậm chí mỗi bữa cơm hàng ngày cũng khó kiếm, nên không còn nghĩ đến chuyện đi dự thi nữa. Lúc ấy bỗng nhiên anh lại gặp được ông lão ngày trước.
Ông lão hỏi anh: “Vì sao tiên sinh còn chưa lên đường tới dự thi?”.
Trương Sinh trả lời là vì không có tiền.
Ông lão lại nói: “Tiên sinh là một người lương thiện, thi Hương chẳng lẽ lại không thể tham gia! Xin tiên sinh hãy về trước và ở nhà đợi tôi!”.
Trương Sinh về nhà một lát sau thì ông lão cùng với một thanh niên tới. Ông lão nói với Trương Sinh: “Vị này chính là chủ nhân của tôi, cảm động nghĩa cả của tiên sinh, muốn báo đáp tiên sinh đã lâu! Nghe nói tiên sinh muốn đi thi nhưng cuộc sống khó khăn, xin tặng 20 vàng và 4 thạch gạo trắng”.
Rồi ông lão lại lấy từ trong tay áo ra 20 vàng trao cho Trương Sinh nói: “Đây là tiền công tôi dành dụm được, cũng kính tặng tiên sinh, xin tiên sinh hãy mau chóng đi thi!”.
Trương Sinh từ chối không được đành nhận lấy, rồi lập tức đáp thuyền tới Kim Lăng dự thi. Đến khi yết bảng quả nhiên thi đỗ. Ông lão cùng chủ cửa hàng lại tới biếu Trương Sinh tiền lộ phí về kinh đô dự kỳ thi Đình. Trương Sinh thi đỗ tiến sỹ, rồi được làm quan Quán sát sử.
Thiện niệm là quý báu nhất, Trương Sinh nhờ vào một thiện niệm đã tiêu trừ tội lỗi đọa vào đường Ngạ quỷ, thậm chí còn được bổng lộc vinh hoa, thật là nhanh chóng! Anh ta gặp món lợi lớn mà không nổi lòng tham, cũng là vì anh có thiện căn thích giúp đỡ chu cấp cho người gặp khổ nạn. Chuyện này chứng tỏ rõ vận mệnh con người không phải là “nhất thành bất biến” (nghĩa là khi số phận đã được bên trên an bài thì không thay đổi được chút nào), mà quan trọng là ở chỗ tự mình lựa chọn ra sao! Trời cao chủ trì công đạo, phạt ác khuyến thiện, báo ứng phân minh. Thiện có thiện báo, là để cổ vũ nhiều người làm việc thiện; ác có ác báo là để khiến người ta biết cảnh giác giữ gìn. Do đó loài người trên thế gian này, nhất định cần tuân theo Thiên Lý, luôn ôm ấp thiện niệm trong lòng. Người lương thiện trên thế gian được người đời khâm phục tôn kính, tự nhiên sẽ được Trời cao che chở, khiến cho phúc báo được dài lâu. Trái với Luật Trời, ngược với lòng người, hiểm ác tàn nhẫn, thì không phải “Đạo”, chúng ta cần phải hết sức kiên trì để ngăn chặn chúng.
Trí Chân
(Sưu tầm trên mạng)
http://luukhamhung.blogspot.com/2017/05/
-
灌Quán 頂Đỉnh 無Vô 上Thượng 章Chương 句Cú 經Kinh 卷quyển 第đệ 十thập 一nhất
聞văn 如như 是thị 。
一nhất 時thời 佛Phật 在tại 。 鳩Cưu 尸Thi 那Na 竭Kiệt 國Quốc 。 娑sa 羅la 雙song 樹thụ 間gian 。
爾nhĩ 時thời 世Thế 尊Tôn 。 般Bát 涅Niết 槃Bàn 時thời 。 十thập 方phương 國quốc 土độ 。 無vô 央ương 數số 眾chúng 。 天thiên 龍long 八bát 部bộ 。 悉tất 皆giai 悲bi 號hào 歎thán 息tức 。 禽cầm 獸thú 雜tạp 類loại 。 悉tất 皆giai 如như 是thị 。 來lai 到đáo 佛Phật 所sở 。 稽khể 首thủ 作tác 禮lễ 。 畢tất 訖ngật 卻khước 坐tọa 。
世Thế 尊Tôn 告cáo 曰viết 。
若nhược 有hữu 疑nghi 者giả 。 今kim 皆giai 當đương 問vấn 。 正chính 覺giác 滅diệt 度độ 。 多đa 所sở 矜căng 愍mẫn 。 設thiết 有hữu 問vấn 者giả 。 為vi 究cứu 竟cánh 說thuyết 。
爾nhĩ 時thời 他tha 方phương 國quốc 土độ 。 有hữu 一nhất 菩Bồ 薩Tát 。 名danh 曰viết 普Phổ 廣Quảng 。 從tùng 座tòa 而nhi 起khởi 。 稽khể 首thủ 作tác 禮lễ 。 而nhi 白bạch 佛Phật 言ngôn 。
四tứ 輩bối 弟đệ 子tử 。 臨lâm 終chung 之chi 日nhật 。 若nhược 已dĩ 終chung 者giả 。 願nguyện 欲dục 往vãng 生sinh 。 十thập 方phương 國quốc 土độ 。 修tu 何hà 功công 德đức 。 而nhi 得đắc 往vãng 生sinh 。
佛Phật 告cáo 普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。
汝nhữ 能năng 愍mẫn 念niệm 。 四tứ 輩bối 弟đệ 子tử 。 及cập 未vị 來lai 世thế 。 諸chư 眾chúng 生sinh 等đẳng 。 問vấn 此thử 願nguyện 生sinh 。 因nhân 緣duyên 之chi 福phúc 。 汝nhữ 今kim 諦đế 聽thính 。 吾ngô 當đương 為vì 汝nhữ 。 而nhi 演diễn 說thuyết 之chi 。
佛Phật 告cáo 普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。
若nhược 四tứ 輩bối 弟đệ 子tử 。 若nhược 臨lâm 終chung 時thời 。 若nhược 未vị 終chung 者giả 。 願nguyện 生sinh 東đông 方phương 。 香Hương 林Lâm 剎Sát 者giả 。 其kỳ 佛Phật 號hiệu 曰viết 入Nhập 精Tinh 進Tấn 。 菩Bồ 薩Tát 無vô 央ương 數số 。 國quốc 土độ 莊trang 嚴nghiêm 。 若nhược 人nhân 臨lâm 終chung 之chi 日nhật 。 願nguyện 生sinh 彼bỉ 者giả 。 隨tùy 願nguyện 往vãng 生sinh 。
佛Phật 告cáo 普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。
若nhược 有hữu 善thiện 男nam 子tử 。 善thiện 女nữ 人nhân 等đẳng 。 臨lâm 終chung 之chi 日nhật 。 願nguyện 生sinh 東đông 南nam 方phương 。 金Kim 林Lâm 剎Sát 者giả 。 其kỳ 佛Phật 號hiệu 曰viết 盡Tận 精Tinh 進Tấn 。 菩Bồ 薩Tát 無vô 央ương 數số 。 國quốc 土độ 莊trang 嚴nghiêm 。 若nhược 人nhân 臨lâm 終chung 。 願nguyện 生sinh 彼bỉ 者giả 。 隨tùy 願nguyện 往vãng 生sinh 。
佛Phật 告cáo 普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。
若nhược 有hữu 善thiện 男nam 子tử 。 善thiện 女nữ 人nhân 等đẳng 。 臨lâm 終chung 之chi 日nhật 。 願nguyện 生sinh 南nam 方phương 。 樂Lạc 林Lâm 剎Sát 者giả 。 其kỳ 佛Phật 號hiệu 曰viết 不Bất 捨Xả 樂Lạc 。 菩Bồ 薩Tát 無vô 央ương 數số 。 國quốc 土độ 莊trang 嚴nghiêm 。 若nhược 人nhân 命mạng 終chung 。 願nguyện 生sinh 彼bỉ 者giả 。 隨tùy 願nguyện 往vãng 生sinh 。
佛Phật 告cáo 普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。
若nhược 有hữu 善thiện 男nam 子tử 。 善thiện 女nữ 人nhân 等đẳng 。 臨lâm 終chung 之chi 日nhật 。 願nguyện 生sinh 西tây 南nam 方phương 。 寶Bảo 林Lâm 剎Sát 者giả 。 其kỳ 佛Phật 號hiệu 曰viết 上Thượng 精Tinh 進Tấn 。 菩Bồ 薩Tát 無vô 央ương 數số 。 國quốc 土độ 莊trang 嚴nghiêm 。 若nhược 臨lâm 終chung 時thời 。 願nguyện 生sinh 彼bỉ 者giả 。 隨tùy 願nguyện 往vãng 生sinh 。
佛Phật 告cáo 普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。
若nhược 有hữu 善thiện 男nam 子tử 。 善thiện 女nữ 人nhân 等đẳng 。 臨lâm 終chung 之chi 日nhật 。 願nguyện 生sinh 西tây 方phương 。 華Hoa 林Lâm 剎Sát 者giả 。 其kỳ 佛Phật 號hiệu 曰viết 習Tập 精Tinh 進Tấn 。 菩Bồ 薩Tát 無vô 央ương 數số 。 國quốc 土độ 莊trang 嚴nghiêm 。 若nhược 人nhân 臨lâm 終chung 。 願nguyện 生sinh 彼bỉ 者giả 。 隨tùy 願nguyện 往vãng 生sinh 。
佛Phật 告cáo 普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。
若nhược 有hữu 善thiện 男nam 子tử 。 善thiện 女nữ 人nhân 等đẳng 。 臨lâm 終chung 之chi 日nhật 。 願nguyện 生sinh 西tây 北bắc 方phương 。 金Kim 剛Cang 剎Sát 者giả 。 其kỳ 佛Phật 號hiệu 曰viết 一Nhất 乘Thừa 度Độ 。 菩Bồ 薩Tát 無vô 央ương 數số 。 國quốc 土độ 莊trang 嚴nghiêm 。 若nhược 人nhân 臨lâm 終chung 。 願nguyện 生sinh 彼bỉ 者giả 。 隨tùy 願nguyện 往vãng 生sinh 。
佛Phật 告cáo 普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。
若nhược 有hữu 善thiện 男nam 子tử 。 善thiện 女nữ 人nhân 等đẳng 。 臨lâm 終chung 之chi 日nhật 。 願nguyện 生sinh 北bắc 方phương 。 道Đạo 林Lâm 剎Sát 者giả 。 其kỳ 佛Phật 號hiệu 曰viết 行Hành 精Tinh 進Tấn 。 菩Bồ 薩Tát 無vô 央ương 數số 。 國quốc 土độ 莊trang 嚴nghiêm 。 若nhược 人nhân 臨lâm 終chung 。 願nguyện 生sinh 彼bỉ 者giả 。 隨tùy 願nguyện 往vãng 生sinh 。
佛Phật 告cáo 普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。
若nhược 有hữu 善thiện 男nam 子tử 。 善thiện 女nữ 人nhân 等đẳng 。 臨lâm 終chung 之chi 日nhật 。 願nguyện 生sinh 東đông 北bắc 方phương 。 青Thanh 蓮Liên 剎Sát 者giả 。 其kỳ 佛Phật 號hiệu 曰viết 悲Bi 精Tinh 進Tấn 。 菩Bồ 薩Tát 無vô 央ương 數số 。 國quốc 土độ 莊trang 嚴nghiêm 。 若nhược 人nhân 臨lâm 終chung 。 願nguyện 生sinh 彼bỉ 者giả 。 隨tùy 願nguyện 往vãng 生sinh 。
佛Phật 告cáo 普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。
若nhược 有hữu 善thiện 男nam 子tử 。 善thiện 女nữ 人nhân 等đẳng 。 臨lâm 終chung 之chi 日nhật 。 願nguyện 生sinh 下hạ 方phương 。 水Thủy 精Tinh 剎Sát 者giả 。 其kỳ 佛Phật 號hiệu 曰viết 。 淨Tịnh 命Mạng 精Tinh 進Tấn 。 菩Bồ 薩Tát 無vô 央ương 數số 。 國quốc 土độ 莊trang 嚴nghiêm 。 若nhược 人nhân 臨lâm 終chung 。 願nguyện 生sinh 彼bỉ 者giả 。 隨tùy 願nguyện 往vãng 生sinh 。
佛Phật 告cáo 普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。
若nhược 有hữu 善thiện 男nam 子tử 。 善thiện 女nữ 人nhân 等đẳng 。 命mạng 終chung 之chi 日nhật 。 願nguyện 生sinh 上thượng 方phương 。 欲Dục 林Lâm 剎Sát 者giả 。 其kỳ 佛Phật 號hiệu 曰viết 。 至Chí 誠Thành 精Tinh 進Tấn 。 菩Bồ 薩Tát 無vô 央ương 數số 。 國quốc 土độ 莊trang 嚴nghiêm 。 若nhược 人nhân 臨lâm 終chung 。 願nguyện 生sinh 彼bỉ 者giả 。 隨tùy 願nguyện 往vãng 生sinh 。
佛Phật 告cáo 普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。
若nhược 四tứ 輩bối 男nam 女nữ 。 臨lâm 終chung 之chi 日nhật 。 願nguyện 生sinh 十thập 方phương 。 佛Phật 剎sát 土độ 者giả 。 當đương 洗tẩy 除trừ 身thân 體thể 。 著trước 鮮tiên 潔khiết 之chi 衣y 。 燒thiêu 眾chúng 名danh 香hương 。 懸huyền 繒tăng 旛phan 蓋cái 。 歌ca 詠vịnh 三Tam 寶Bảo 。 讀độc 誦tụng 尊tôn 經Kinh 。 廣quảng 為vì 病bệnh 者giả 。 說thuyết 因nhân 緣duyên 。 譬thí 喻dụ 言ngôn 辭từ 。 微vi 妙diệu 經Kinh 義nghĩa 。 苦khổ 空không 非phi 身thân 。 四tứ 大đại 假giả 合hợp 。 形hình 如như 芭ba 蕉tiêu 。 中trung 無vô 有hữu 實thật 。 又hựu 如như 電điện 光quang 。 不bất 得đắc 久cửu 停đình 。 故cố 云vân 。 色sắc 不bất 久cửu 鮮tiên 。 當đương 歸quy 敗bại 壞hoại 。 精tinh 誠thành 行hành 道đạo 。 可khả 得đắc 度độ 苦khổ 。 隨tùy 心tâm 所sở 願nguyện 。 無vô 不bất 獲hoạch 果quả 。
佛Phật 又hựu 復phục 告cáo 。 普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。
十thập 方phương 妙diệu 土độ 。 通thông 洞đỗng 無vô 窮cùng 。 不bất 可khả 度độ 量lương 。 諸chư 佛Phật 如Như 來Lai 。 所sở 居cư 淨tịnh 土độ 。 亦diệc 復phục 無vô 量lượng 。 不bất 可khả 稱xưng 數số 。 今kim 我ngã 於ư 此thử 。 大đại 眾chúng 之chi 中trung 。 為vì 諸chư 四tứ 輩bối 。 未vị 來lai 之chi 世thế 。 像Tượng 法Pháp 眾chúng 生sinh 。 說thuyết 是thị 十thập 方phương 。 諸chư 佛Phật 國quốc 土độ 。 及cập 佛Phật 名danh 號hiệu 。 不bất 可khả 稱xưng 說thuyết 。 略lược 演diễn 少thiểu 耳nhĩ 。
普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 又hựu 白bạch 佛Phật 言ngôn 。
世Thế 尊Tôn 。 十thập 方phương 佛Phật 剎sát 。 淨tịnh 妙diệu 國quốc 土độ 。 有hữu 差sai 別biệt 不phủ 。
佛Phật 言ngôn 普Phổ 廣Quảng 。
無vô 差sai 別biệt 也dã 。
普Phổ 廣Quảng 。 又hựu 白bạch 佛Phật 言ngôn 。
世Thế 尊Tôn 。 何hà 故cố 經Kinh 中trung 。 讚tán 歎thán 阿A 彌Di 陀Đà 剎sát 。 七thất 寶bảo 諸chư 樹thụ 。 宮cung 殿điện 樓lâu 閣các 。 諸chư 願nguyện 生sinh 者giả 。 皆giai 悉tất 隨tùy 彼bỉ 。 心tâm 中trung 所sở 欲dục 。 應ứng 念niệm 而nhi 至chí 。
佛Phật 告cáo 普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。
汝nhữ 不bất 解giải 我ngã 意ý 。 娑Sa 婆Bà 世Thế 界Giới 。 人nhân 多đa 貪tham 濁trược 。 信tín 向hướng 者giả 少thiểu 。 習tập 邪tà 者giả 多đa 。 不bất 信tín 正Chính 法Pháp 。 不bất 能năng 專chuyên 一nhất 。 心tâm 亂loạn 無vô 志chí 。 實thật 無vô 差sai 別biệt 。 令linh 諸chư 眾chúng 生sinh 。 專chuyên 心tâm 有hữu 在tại 。 是thị 故cố 讚tán 歎thán 。 彼bỉ 國quốc 土độ 耳nhĩ 。 諸chư 往vãng 生sinh 者giả 。 悉tất 隨tùy 彼bỉ 願nguyện 。 無vô 不bất 獲hoạch 果quả 。
普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 。 復phục 白bạch 佛Phật 言ngôn 。
若nhược 四tứ 眾chúng 男nam 女nữ 。 若nhược 命mạng 未vị 終chung 。 若nhược 已dĩ 終chung 者giả 。 我ngã 今kim 當đương 勸khuyến 。 修tu 諸chư 福phúc 業nghiệp 。 得đắc 生sinh 十thập 方phương 。 諸chư 佛Phật 剎sát 也dã 。
佛Phật 言ngôn 。
善thiện 哉tai 。 普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 隨tùy 意ý 教giáo 導đạo 。 十thập 方phương 人nhân 也dã 。
普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 。 語ngứ 四tứ 輩bối 言ngôn 。
若nhược 人nhân 臨lâm 終chung 。 未vị 終chung 之chi 日nhật 。 當đương 為vi 燒thiêu 香hương 。 然nhiên 燈đăng 續tục 明minh 。 於ư 塔tháp 寺tự 中trung 。 表biểu 剎sát 之chi 上thượng 。 懸huyền 命mạng 過quá 幡phan 。 轉chuyển 讀độc 尊tôn 經Kinh 。 竟cánh 三tam 七thất 日nhật 。 所sở 以dĩ 然nhiên 者giả 。 命mạng 終chung 之chi 人nhân 。 在tại 中trung 陰ấm 中trung 。 身thân 如như 小tiểu 兒nhi 。 罪tội 福phúc 未vị 定định 。 應ưng 為vi 修tu 福phúc 。 願nguyện 亡vong 者giả 神thần 。 使sử 生sinh 十thập 方phương 。 無vô 量lượng 剎sát 土độ 。 承thừa 此thử 功công 德đức 。 必tất 得đắc 往vãng 生sinh 。
亡vong 者giả 在tại 世thế 。 若nhược 有hữu 罪tội 業nghiệp 。 應ưng 墮đọa 八bát 難nạn 。 幡phan 燈đăng 功công 德đức 。 必tất 得đắc 解giải 脫thoát 。
若nhược 善thiện 願nguyện 應ưng 生sinh 。 父phụ 母mẫu 在tại 異dị 方phương 。 不bất 得đắc 疾tật 生sinh 。 以dĩ 幡phan 燈đăng 功công 德đức 。 皆giai 得đắc 疾tật 生sinh 。 無vô 復phục 留lưu 難nạn 。
若nhược 得đắc 生sinh 已dĩ 。 當đương 為vì 人nhân 作tác 。 福phúc 德đức 之chi 子tử 。 不bất 為vị 邪tà 鬼quỷ 。 之chi 所sở 得đắc 便tiện 。 種chủng 族tộc 豪hào 強cường 。 是thị 故cố 應ưng 修tu 。 幡phan 燈đăng 功công 德đức 。 諸chư 過quá 命mạng 者giả 。 修tu 行hành 福phúc 業nghiệp 。 至chí 心tâm 懇khẩn 惻trắc 。 應ưng 代đại 亡vong 者giả 。 悔hối 過quá 眾chúng 罪tội 。 罪tội 垢cấu 即tức 滅diệt 。 為vì 亡vong 者giả 修tu 福phúc 。 如như 餉hướng 遠viễn 人nhân 。 無vô 不bất 獲hoạch 果quả 。
譬thí 如như 世thế 間gian 。 犯phạm 罪tội 之chi 人nhân 。 心tâm 中trung 思tư 惟duy 。 望vọng 諸chư 親thân 屬thuộc 。 求cầu 諸chư 大đại 力lực 。 救cứu 其kỳ 危nguy 厄ách 。 今kim 日nhật 燒thiêu 香hương 。 望vọng 得đắc 解giải 脫thoát 。 為vì 亡vong 者giả 。 稱xưng 其kỳ 名danh 號hiệu 。 修tu 諸chư 功công 德đức 。 以dĩ 福phúc 德đức 之chi 力lực 。 緣duyên 是thị 解giải 脫thoát 。 亦diệc 復phục 如như 是thị 。 徑kính 生sinh 十thập 方phương 。 無vô 願nguyện 不bất 得đắc 。
普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 。 又hựu 白bạch 佛Phật 言ngôn 。
若nhược 人nhân 在tại 世thế 。 不bất 歸quy 三Tam 寶Bảo 。 不bất 行hành 法Pháp 戒giới 。 若nhược 其kỳ 命mạng 終chung 。 應ưng 墮đọa 三tam 塗đồ 。 受thọ 諸chư 苦khổ 痛thống 。 其kỳ 人nhân 臨lâm 終chung 。 方phương 欲dục 精tinh 誠thành 。 歸quy 命mạng 三Tam 寶Bảo 。 受thọ 行hành 法Pháp 戒giới 。 悔hối 過quá 罪tội 釁hấn 。 發phát 露lộ 懺sám 謝tạ 。 改cải 更canh 修tu 善thiện 。 臨lâm 壽thọ 終chung 時thời 。 聞văn 說thuyết 經Kinh 法Pháp 。 善thiện 師sư 化hóa 導đạo 。 得đắc 聞văn 法Pháp 音âm 。 欲dục 終chung 之chi 日nhật 。 生sinh 是thị 善thiện 心tâm 。 得đắc 解giải 脫thoát 不phủ 。
佛Phật 言ngôn 。
普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 若nhược 有hữu 男nam 子tử 。 善thiện 女nữ 人nhân 等đẳng 。 臨lâm 終chung 之chi 時thời 。 得đắc 生sinh 此thử 心tâm 。 無vô 不bất 解giải 脫thoát 。 眾chúng 苦khổ 者giả 也dã 。
所sở 以dĩ 者giả 何hà 。 如như 人nhân 負phụ 債trái 。 依y 附phụ 王vương 者giả 。 債trái 主chủ 便tiện 畏úy 。 不bất 從tùng 求cầu 財tài 。 此thử 譬thí 亦diệc 然nhiên 。 天thiên 帝đế 放phóng 赦xá 。 閻Diêm 羅La 除trừ 遣khiển 。 及cập 諸chư 五ngũ 官quan 。 伺tứ 候hậu 之chi 神thần 。 反phản 更cánh 恭cung 敬kính 。 不bất 生sinh 惡ác 心tâm 。 緣duyên 此thử 福phúc 故cố 。 不bất 墮đọa 惡ác 道đạo 。 解giải 脫thoát 厄ách 難nạn 。 隨tùy 心tâm 所sở 願nguyện 。 皆giai 得đắc 往vãng 生sinh 。
普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 。 復phục 白bạch 佛Phật 言ngôn 。
又hựu 有hữu 眾chúng 生sinh 。 不bất 信tín 三Tam 寶Bảo 。 不bất 行hành 法Pháp 戒giới 。 或hoặc 時thời 生sinh 信tín 。 或hoặc 時thời 誹phỉ 謗báng 。 或hoặc 時thời 父phụ 母mẫu 。 兄huynh 弟đệ 親thân 族tộc 。 卒thốt 得đắc 病bệnh 苦khổ 。 緣duyên 此thử 命mạng 終chung 。 或hoặc 墮đọa 在tại 三tam 塗đồ 。 八bát 難nạn 之chi 中trung 。 受thọ 諸chư 苦khổ 惱não 。 無vô 有hữu 休hưu 息tức 。 父phụ 母mẫu 兄huynh 弟đệ 。 及cập 諸chư 親thân 族tộc 。 為vì 其kỳ 修tu 福phúc 。 為vi 得đắc 福phúc 不phủ 。
佛Phật 言ngôn 普Phổ 廣Quảng 。
為vì 此thử 人nhân 修tu 福phúc 。 七thất 分phần 之chi 中trung 。 為vi 獲hoạch 一nhất 也dã 。
何hà 故cố 爾nhĩ 乎hồ 。 緣duyên 其kỳ 前tiền 世thế 。 不bất 信tín 道Đạo 德đức 。 故cố 使sử 福phúc 德đức 。 七thất 分phần 獲hoạch 一nhất 。
若nhược 以dĩ 亡vong 者giả 。 嚴nghiêm 身thân 之chi 具cụ 。 堂đường 宇vũ 室thất 宅trạch 。 園viên 林lâm 浴dục 池trì 。 以dĩ 施thí 三Tam 寶Bảo 。 此thử 福phúc 最tối 多đa 。 功công 德đức 力lực 強cường 。 可khả 得đắc 拔bạt 彼bỉ 。 地địa 獄ngục 之chi 殃ương 。 以dĩ 是thị 因nhân 緣duyên 。 便tiện 得đắc 解giải 脫thoát 。 憂ưu 苦khổ 之chi 患hoạn 。 長trường 得đắc 度độ 脫thoát 。 往vãng 生sinh 十thập 方phương 。 諸chư 佛Phật 淨tịnh 土độ 。
普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 。 復phục 白bạch 佛Phật 言ngôn 。
若nhược 四tứ 輩bối 男nam 女nữ 。 善thiện 解giải 法Pháp 戒giới 。 知tri 身thân 如như 幻huyễn 。 精tinh 勤cần 修tu 習tập 。 行hành 菩Bồ 提Đề 道Đạo 。 未vị 終chung 之chi 時thời 。 逆nghịch 修tu 三tam 七thất 。 然nhiên 燈đăng 續tục 明minh 。 懸huyền 繒tăng 旛phan 蓋cái 。 請thỉnh 召triệu 眾chúng 僧Tăng 。 轉chuyển 讀độc 尊tôn 經Kinh 。 修tu 諸chư 福phúc 業nghiệp 。 得đắc 福phúc 多đa 不phủ 。
佛Phật 言ngôn 。
普Phổ 廣Quảng 。 其kỳ 福phúc 無vô 量lượng 。 不bất 可khả 度độ 量lương 。 隨tùy 心tâm 所sở 願nguyện 。 獲hoạch 其kỳ 果quả 實thật 。
普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 。 白bạch 佛Phật 言ngôn 。
世Thế 尊Tôn 。 若nhược 四tứ 輩bối 男nam 女nữ 。 若nhược 臨lâm 終chung 時thời 。 若nhược 已dĩ 過quá 命mạng 。 是thị 其kỳ 亡vong 日nhật 。 我ngã 今kim 亦diệc 勸khuyến 。 造tạo 作tác 黃hoàng 幡phan 。 懸huyền 著trước 剎sát 上thượng 。 使sử 獲hoạch 福phúc 德đức 。 離ly 八bát 難nạn 苦khổ 。 得đắc 生sinh 十thập 方phương 。 諸chư 佛Phật 淨tịnh 土độ 。 幡phan 蓋cái 供cúng 養dường 。 隨tùy 心tâm 所sở 願nguyện 。 至chí 成thành 菩Bồ 提Đề 。 幡phan 隨tùy 風phong 轉chuyển 。 破phá 碎toái 都đô 盡tận 。 至chí 成thành 微vi 塵trần 。 風phong 吹xuy 幡phan 塵trần 。 其kỳ 福phúc 無vô 量lượng 。 幡phan 一nhất 轉chuyển 時thời 。 轉Chuyển 輪Luân 王Vương 位vị 。 乃nãi 至chí 吹xuy 塵trần 。 小tiểu 王vương 之chi 位vị 。 其kỳ 報báo 無vô 量lượng 。 燈đăng 四tứ 十thập 九cửu 。 照chiếu 諸chư 幽u 冥minh 。 苦khổ 痛thống 眾chúng 生sinh 。 蒙mông 此thử 光quang 明minh 。 皆giai 得đắc 相tương 見kiến 。 緣duyên 此thử 福phúc 德đức 。 拔bạt 彼bỉ 眾chúng 生sinh 。 悉tất 得đắc 休hưu 息tức 。
佛Phật 告cáo 普Phổ 廣Quảng 。
若nhược 四tứ 輩bối 男nam 女nữ 。 若nhược 行hành 齋trai 戒giới 。 心tâm 當đương 存tồn 想tưởng 。 請thỉnh 十thập 方phương 僧Tăng 。 不bất 擇trạch 善thiện 惡ác 。 持trì 戒giới 毀hủy 戒giới 。 高cao 下hạ 之chi 行hành 。 到đáo 諸chư 塔tháp 寺tự 。 請thỉnh 僧Tăng 之chi 時thời 。 僧Tăng 次thứ 供cúng 養dường 。 無vô 別biệt 異dị 想tưởng 。 其kỳ 福phúc 最tối 多đa 。 無vô 量lượng 無vô 邊biên 。
若nhược 值trị 羅La 漢Hán 。 四tứ 道Đạo 果Quả 人nhân 。 及cập 大đại 心tâm 者giả 。 緣duyên 此thử 功công 德đức 。 受thọ 福phúc 無vô 窮cùng 。 一nhất 聞văn 說thuyết 法Pháp 。 可khả 得đắc 至chí 道Đạo 。 無vô 上thượng 涅Niết 槃Bàn 。
佛Phật 告cáo 普Phổ 廣Quảng 。 及cập 大đại 眾chúng 人nhân 民dân 。 天thiên 龍long 八bát 部bộ 。 諸chư 鬼quỷ 神thần 等đẳng 。
各các 各các 諦đế 聽thính 。 思tư 惟duy 吾ngô 言ngôn 。 我ngã 今kim 欲dục 於ư 。 此thử 大đại 眾chúng 之chi 中trung 。 說thuyết 那Na 舍Xá 長Trưởng 者Giả 。 本bổn 昔tích 因nhân 緣duyên 。 罪tội 福phúc 之chi 事sự 。
此thử 大đại 長trưởng 者giả 。 居cư 羅La 閱Duyệt 祇Kỳ 國Quốc 。 恆hằng 修tu 仁nhân 義nghĩa 。 飢cơ 窮cùng 乏phạp 者giả 。 沙Sa 門Môn 婆Bà 羅La 門Môn 。 諸chư 求cầu 索sách 者giả 。 悉tất 欲dục 供cúng 養dường 。 無vô 所sở 遺di 惜tích 。 父phụ 母mẫu 大đại 慳san 。 無vô 供cúng 養dường 心tâm 。
長trưởng 者giả 有hữu 緣duyên 。 行hành 至chí 他tha 方phương 。 晨thần 朝triêu 澡táo 洗tẩy 著trước 衣y 。 結kết 束thúc 已dĩ 畢tất 。 跪quỵ 拜bái 父phụ 母mẫu 。 叉xoa 手thủ 白bạch 言ngôn 。
今kim 有hữu 緣duyên 事sự 。 往vãng 至chí 他tha 方phương 。 有hữu 少thiểu 財tài 物vật 。 分phân 為vi 三tam 分phần 。 一nhất 分phần 供cung 養dưỡng 。 供cung 給cấp 父phụ 母mẫu 。 一nhất 分phần 珍trân 寶bảo 。 施thí 諸chư 沙Sa 門Môn 。 及cập 貧bần 之chi 者giả 。 餘dư 有hữu 一nhất 分phần 。 自tự 欲dục 持trì 行hành 。
父phụ 母mẫu 言ngôn 。
受thọ 。
於ư 兒nhi 行hành 後hậu 。 修tu 諸chư 福phúc 德đức 。 若nhược 有hữu 人nhân 來lai 。 從tùng 求cầu 索sách 者giả 。 悉tất 當đương 施thí 與dữ 。 於ư 是thị 長trưởng 者giả 。 便tiện 辭từ 父phụ 母mẫu 。 遠viễn 至chí 他tha 方phương 。 如như 是thị 去khứ 後hậu 。 父phụ 母mẫu 邪tà 見kiến 。 無vô 念niệm 子tử 心tâm 。 沙Sa 門Môn 婆Bà 羅La 門Môn 。 及cập 貧bần 乏phạp 者giả 。 往vãng 從tùng 乞khất 匃cái 。 慳san 貪tham 邪tà 見kiến 。 無vô 施thí 與dữ 心tâm 。
子tử 行hành 去khứ 後hậu 。 若nhược 干can 日nhật 數số 。 應ưng 還hoàn 到đáo 舍xá 。 父phụ 母mẫu 計kế 其kỳ 。 應ưng 還hoàn 歸quy 家gia 。 往vãng 到đáo 市thị 所sở 。 取thủ 猪trư 羊dương 骨cốt 。 頭đầu 蹄đề 膏cao 血huyết 。 果quả 蓏lỏa 雜tạp 穀cốc 。 持trì 散tán 家gia 中trung 。
那Na 舍Xá 長Trưởng 者Giả 。 從tùng 遠viễn 方phương 還hoàn 。 見kiến 其kỳ 父phụ 母mẫu 。 歡hoan 喜hỷ 無vô 量lượng 。 接tiếp 足túc 禮lễ 拜bái 。 問vấn 訊tấn 起khởi 居cư 。
父phụ 母mẫu 亦diệc 復phục 。 歡hoan 喜hỷ 踊dũng 躍dược 。 語ngứ 那Na 舍Xá 言ngôn 。
我ngã 於ư 汝nhữ 行hành 。 後hậu 為vì 汝nhữ 設thiết 福phúc 。 沙Sa 門Môn 婆Bà 羅La 門Môn 。 國quốc 中trung 孤cô 老lão 。 貧bần 窮cùng 乞khất 者giả 。 以dĩ 汝nhữ 財tài 物vật 。 悉tất 施thí 與dữ 之chi 。
兒nhi 聞văn 設thiết 福phúc 。 布bố 施thí 貧bần 乏phạp 。 心tâm 大đại 歡hoan 喜hỷ 。
又hựu 語ngứ 兒nhi 言ngôn 。
我ngã 亦diệc 復phục 請thỉnh 諸chư 沙Sa 門Môn 。 設thiết 福phúc 始thỉ 竟cánh 。 今kim 日nhật 家gia 中trung 。 草thảo 穢uế 狼lang 藉tạ 。 猶do 未vị 掃tảo 除trừ 。
兒nhi 見kiến 狼lang 藉tạ 。 相tướng 貌mạo 如như 是thị 。 信tín 其kỳ 父phụ 母mẫu 。 為vi 設thiết 福phúc 德đức 。 倍bội 復phục 歡hoan 喜hỷ 。 踊dũng 躍dược 無vô 量lượng 。
久cửu 後hậu 之chi 間gian 。 父phụ 母mẫu 衰suy 老lão 。 得đắc 諸chư 病bệnh 苦khổ 。 便tiện 即tức 命mạng 終chung 。 那Na 舍Xá 即tức 便tiện 。 殯tấn 殮liễm 屍thi 骸hài 。 安an 厝thố 粗thô 畢tất 。 從tùng 父phụ 母mẫu 命mạng 終chung 。 轉chuyển 讀độc 尊tôn 經Kinh 。 燒thiêu 香hương 禮lễ 拜bái 。 歌ca 詠vịnh 讚tán 歎thán 。 無vô 一nhất 時thời 廢phế 。 竟cánh 于vu 三tam 七thất 。 經kinh 聲thanh 不bất 絕tuyệt 。 作tác 是thị 思tư 惟duy 。
我ngã 父phụ 母mẫu 在tại 世thế 。 極cực 憂ưu 念niệm 我ngã 。 多đa 修tu 福phúc 德đức 。 今kim 我ngã 又hựu 復phục 。 請thỉnh 諸chư 聖thánh 眾chúng 。 想tưởng 我ngã 父phụ 母mẫu 。 緣duyên 此thử 功công 德đức 故cố 。 應ưng 往vãng 生sinh 十thập 方phương 剎sát 土độ 。 供cúng 養dường 恭cung 敬kính 。 面diện 見kiến 諸chư 佛Phật 。
於ư 是thị 那Na 舍Xá 。 忽hốt 得đắc 重trọng 病bệnh 。 奄yểm 便tiện 欲dục 死tử 。 唯duy 心tâm 上thượng 暖noãn 。 家gia 中trung 大đại 小tiểu 。 未vị 便tiện 殯tấn 斂liểm 。 至chí 七thất 日nhật 後hậu 。 乃nãi 得đắc 蘇tô 解giải 。
家gia 中trung 問vấn 言ngôn 。
那Na 舍Xá 長Trưởng 者Giả 。 病bệnh 苦khổ 如như 是thị 。 本bổn 死tử 今kim 蘇tô 。 從tùng 何hà 而nhi 來lai 。
長Trưởng 者giả 那Na 舍Xá 。 語ngứ 其kỳ 家gia 言ngôn 。
我ngã 數sổ 日nhật 來lai 。 善thiện 神thần 將tương 我ngã 。 示thị 以dĩ 福phúc 堂đường 。 無vô 極cực 之chi 樂lạc 。 又hựu 到đáo 地địa 獄ngục 。 靡mĩ 不bất 經kinh 歷lịch 。 眼nhãn 中trung 所sở 覩đổ 。 唯duy 苦khổ 痛thống 耳nhĩ 。 今kim 我ngã 又hựu 見kiến 。 餓ngạ 鬼quỷ 住trú 處xứ 。 所sở 生sinh 父phụ 母mẫu 。 在tại 中trung 受thọ 苦khổ 。 見kiến 我ngã 來lai 看khán 。 悲bi 號hào 懊áo 惱não 。 欲dục 求cầu 免miễn 脫thoát 。 不bất 能năng 得đắc 出xuất 。
我ngã 思tư 父phụ 母mẫu 。 在tại 世thế 之chi 時thời 。 大đại 修tu 福phúc 德đức 。 意ý 謂vị 生sinh 天thiên 。 而nhi 更cánh 墮đọa 在tại 。 餓ngạ 鬼quỷ 獄ngục 中trung 。 受thọ 諸chư 苦khổ 惱não 。
那Na 舍Xá 長Trưởng 者Giả 。 說thuyết 此thử 語ngữ 已dĩ 。 向hướng 其kỳ 家gia 中trung 。 懊áo 惱não 流lưu 淚lệ 。
我ngã 今kim 家gia 中trung 。 當đương 作tác 何hà 方phương 。 功công 德đức 之chi 力lực 。 拔bạt 我ngã 父phụ 母mẫu 。 使sử 得đắc 解giải 脫thoát 。
那Na 舍Xá 長Trưởng 者Giả 。 又hựu 自tự 思tư 惟duy 。
我ngã 父phụ 母mẫu 昔tích 。 病bệnh 苦khổ 之chi 時thời 。 大đại 修tu 福phúc 德đức 。 欲dục 終chung 未vị 終chung 。 及cập 命mạng 終chung 已dĩ 。 然nhiên 燈đăng 續tục 明minh 。 轉chuyển 經Kinh 行hành 道Đạo 。 齋trai 戒giới 一nhất 心tâm 。 乃nãi 至chí 三tam 七thất 。 未vị 曾tằng 懈giải 廢phế 。 而nhi 今kim 父phụ 母mẫu 。 而nhi 更cánh 生sinh 此thử 。 罪tội 苦khổ 地địa 獄ngục 。 必tất 當đương 有hữu 意ý 。
便tiện 問vấn 親thân 族tộc 。 及cập 諸chư 耆kỳ 宿túc 。
耆kỳ 宿túc 答đáp 言ngôn 。
我ngã 不bất 了liễu 此thử 。 深thâm 妙diệu 之chi 事sự 。 可khả 往vãng 諮tư 問vấn 。 佛Phật 世Thế 尊Tôn 也dã 。
於ư 是thị 長trưởng 者giả 。 便tiện 往vãng 到đáo 佛Phật 所sở 。 頭đầu 面diện 作tác 禮lễ 。 胡hồ 跪quỵ 合hợp 掌chưởng 。 而nhi 白bạch 佛Phật 言ngôn 。
欲dục 有hữu 啟khải 請thỉnh 。 唯duy 願nguyện 世Thế 尊Tôn 。 慈từ 愍mẫn 不bất 怪quái 。
佛Phật 言ngôn 。
便tiện 說thuyết 。
長Trưởng 者giả 那Na 舍Xá 。 說thuyết 向hướng 因nhân 緣duyên 。
父phụ 母mẫu 在tại 世thế 。 常thường 修tu 福phúc 德đức 。 及cập 命mạng 終chung 後hậu 。 為vi 供cúng 三tam 七thất 。 至chí 安an 厝thố 畢tất 。 謂vị 言ngôn 生sinh 天thiên 。 而nhi 更cánh 墮đọa 在tại 地địa 獄ngục 中trung 。 已dĩ 問vấn 耆kỳ 宿túc 。 耆kỳ 宿túc 不bất 了liễu 。 今kim 故cố 問vấn 佛Phật 。 為vì 我ngã 決quyết 疑nghi 。 緣duyên 我ngã 重trọng 病bệnh 。 奄yểm 便tiện 欲dục 死tử 。 七thất 日nhật 乃nãi 蘇tô 。 善thiện 神thần 將tương 我ngã 。 經kinh 歷lịch 地địa 獄ngục 。 靡mĩ 不bất 周chu 遍biến 。 以dĩ 是thị 因nhân 緣duyên 。 得đắc 見kiến 父phụ 母mẫu 。 在tại 苦khổ 劇kịch 地địa 。 修tu 福phúc 如như 此thử 。 而nhi 更cánh 墮đọa 罪tội 。 不bất 解giải 所sở 以dĩ 。 今kim 故cố 問vấn 佛Phật 。
唯duy 願nguyện 世Thế 尊Tôn 。 解giải 釋thích 我ngã 疑nghi 。 修tu 何hà 福phúc 業nghiệp 。 令linh 我ngã 父phụ 母mẫu 。 解giải 脫thoát 厄ách 難nạn 。 不bất 遭tao 苦khổ 患hoạn 。 悉tất 得đắc 生sinh 天thiên 。 封phong 受thọ 自tự 然nhiên 。 快khoái 樂lạc 無vô 極cực 。 得đắc 涅Niết 槃Bàn 道Đạo 。
佛Phật 語ngứ 長trưởng 者giả 。
汝nhữ 一nhất 心tâm 諦đế 聽thính 。 我ngã 之chi 所sở 說thuyết 。
汝nhữ 前tiền 欲dục 行hành 。 往vãng 至chí 他tha 方phương 。 留lưu 財tài 寶bảo 物vật 。 與dữ 汝nhữ 父phụ 母mẫu 。 令linh 汝nhữ 父phụ 母mẫu 。 修tu 諸chư 福phúc 德đức 。 父phụ 母mẫu 邪tà 見kiến 。 欺khi 誑cuống 於ư 汝nhữ 。 實thật 不bất 修tu 福phúc 。 妄vọng 言ngôn 為vi 作tác 。 修tu 諸chư 福phúc 緣duyên 。 以dĩ 慳san 貪tham 故cố 。 墮đọa 彼bỉ 地địa 獄ngục 。
長trưởng 者giả 聞văn 佛Phật 。 神thần 口khẩu 所sở 說thuyết 。 疑nghi 惑hoặc 永vĩnh 除trừ 。 作tác 如như 是thị 言ngôn 。
是thị 我ngã 之chi 過quá 。 非phi 父phụ 母mẫu 咎cữu 。
即tức 於ư 佛Phật 前tiền 。 代đại 其kỳ 父phụ 母mẫu 。 悔hối 過quá 此thử 罪tội 。 慳san 貪tham 之chi 殃ương 。 長trưởng 者giả 父phụ 母mẫu 。 於ư 彼bỉ 地địa 獄ngục 。 小tiểu 得đắc 休hưu 息tức 。
佛Phật 語ngứ 長trưởng 者giả 。
今kim 我ngã 借tá 汝nhữ 天thiên 眼nhãn 。 使sử 汝nhữ 得đắc 見kiến 。 父phụ 母mẫu 休hưu 息tức 。
長trưởng 者giả 於ư 是thị 。 承thừa 佛Phật 威uy 神thần 。 見kiến 其kỳ 父phụ 母mẫu 。 皆giai 得đắc 休hưu 息tức 。
那Na 舍Xá 長Trưởng 者Giả 。 又hựu 白bạch 佛Phật 言ngôn 。
今kim 者giả 又hựu 當đương 。 作tác 何hà 福phúc 業nghiệp 。 使sử 我ngã 父phụ 母mẫu 。 解giải 脫thoát 彼bỉ 苦khổ 。
佛Phật 語ngứ 長trưởng 者giả 。
今kim 請thỉnh 諸chư 聖thánh 眾chúng 。 安an 居cư 三tam 月nguyệt 。 行hành 道đạo 欲dục 竟cánh 。 可khả 還hoàn 家gia 中trung 。 作tác 百bách 味vị 飲ẩm 食thực 之chi 具cụ 。 種chủng 種chủng 甘cam 美mỹ 。 以dĩ 好hảo 淨tịnh 器khí 。 盛thình 持trì 供cúng 養dường 。 及cập 好hảo 衣y 服phục 。 種chủng 種chủng 華hoa 香hương 。 金kim 銀ngân 珍trân 寶bảo 。 雜tạp 碎toái 供cúng 具cụ 。 以dĩ 施thí 於ư 僧Tăng 。 令linh 汝nhữ 得đắc 福phúc 。 使sử 汝nhữ 父phụ 母mẫu 。 解giải 脫thoát 此thử 難nạn 。 不bất 復phục 更cánh 受thọ 。 餓ngạ 鬼quỷ 形hình 也dã 。
長Trưởng 者giả 那Na 舍Xá 。 即tức 如như 佛Phật 言ngôn 。 還hoàn 家gia 供cung 辦biện 。 不bất 違vi 尊tôn 教giáo 。 作tác 供cúng 養dường 已dĩ 。 緣duyên 此thử 生sinh 天thiên 。 封phong 受thọ 自tự 然nhiên 。 無vô 為vi 快khoái 樂lạc 。
汝nhữ 今kim 欲dục 見kiến 。 汝nhữ 父phụ 母mẫu 所sở 生sinh 。 宮cung 殿điện 處xứ 不phủ 。 今kim 更cánh 以dĩ 威uy 神thần 。 令linh 汝nhữ 得đắc 見kiến 。 不bất 復phục 受thọ 苦khổ 。
長trưởng 者giả 承thừa 佛Phật 。 威uy 神thần 之chi 力lực 。 見kiến 其kỳ 父phụ 母mẫu 。 生sinh 在tại 天thiên 上thượng 。 諸chư 天thiên 娛ngu 樂lạc 。 自tự 在tại 隨tùy 意ý 。 無vô 復phục 罣quái 礙ngại 。
佛Phật 告cáo 那Na 舍Xá 。
罪tội 福phúc 如như 是thị 。 不bất 可khả 不bất 慎thận 。 如như 長trưởng 者giả 眼nhãn 所sở 。 見kiến 心tâm 所sở 開khai 。 故cố 言ngôn 自tự 作tác 自tự 得đắc 。 非phi 天thiên 與dữ 人nhân 。 如như 長trưởng 者giả 父phụ 母mẫu 。 雖tuy 在tại 餓ngạ 鬼quỷ 。 其kỳ 罪tội 小tiểu 輕khinh 。 一nhất 切thiết 餓ngạ 鬼quỷ 。 受thọ 罪tội 甚thậm 重trọng 。 不bất 可khả 具cụ 說thuyết 。 長trưởng 者giả 父phụ 母mẫu 。 其kỳ 罪tội 輕khinh 者giả 。 有hữu 小tiểu 福phúc 德đức 。 扶phù 接tiếp 使sử 爾nhĩ 。 長trưởng 者giả 修tu 福phúc 。 竟cánh 于vu 三tam 七thất 日nhật 。 於ư 諸chư 餓ngạ 鬼quỷ 。 受thọ 罪tội 輕khinh 也dã 。
所sở 以dĩ 然nhiên 者giả 。 前tiền 章chương 中trung 言ngôn 。 若nhược 人nhân 在tại 世thế 。 不bất 識thức 三Tam 寶Bảo 。 不bất 修tu 齋trai 戒giới 。 無vô 善thiện 師sư 教giáo 。 過quá 命mạng 已dĩ 後hậu 。 兄huynh 弟đệ 父phụ 母mẫu 。 親thân 屬thuộc 知tri 識thức 。 為vì 其kỳ 修tu 福phúc 。 七thất 分phần 之chi 中trung 。 為vi 獲hoạch 一nhất 也dã 。
是thị 故cố 長trưởng 者giả 。 父phụ 母mẫu 有hữu 罪tội 。 雖tuy 在tại 地địa 獄ngục 。 餓ngạ 鬼quỷ 之chi 中trung 。 受thọ 罪tội 輕khinh 者giả 。 緣duyên 修tu 福phúc 故cố 。 七thất 分phần 獲hoạch 一nhất 。 今kim 修tu 福phúc 德đức 。 供cúng 養dường 眾chúng 僧Tăng 。 以dĩ 是thị 因nhân 緣duyên 。 解giải 脫thoát 眾chúng 難nạn 。 故cố 得đắc 生sinh 天thiên 。
佛Phật 告cáo 普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。
若nhược 人nhân 未vị 終chung 。 臨lâm 終chung 之chi 日nhật 。 若nhược 已dĩ 終chung 竟cánh 。 又hựu 是thị 終chung 日nhật 。 父phụ 母mẫu 親thân 族tộc 。 知tri 識thức 朋bằng 友hữu 。 為vì 命mạng 終chung 者giả 。 修tu 諸chư 福phúc 業nghiệp 。 齋trai 戒giới 一nhất 心tâm 。 洗tẩy 浴dục 身thân 體thể 。 著trước 鮮tiên 潔khiết 之chi 衣y 。 一nhất 心tâm 禮lễ 敬kính 。 十thập 方phương 諸chư 佛Phật 。 又hựu 當đương 稱xưng 揚dương 。 十thập 方phương 佛Phật 號hiệu 。 別biệt 以dĩ 華hoa 香hương 。 供cúng 養dường 諸chư 佛Phật 。 可khả 得đắc 解giải 脫thoát 。 憂ưu 苦khổ 之chi 患hoạn 。 得đắc 昇thăng 天thiên 上thượng 。 證chứng 泥Nê 洹Hoàn 道Đạo 。
佛Phật 告cáo 普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。
若nhược 未vị 終chung 時thời 。 禮lễ 拜bái 十thập 方phương 諸chư 佛Phật 。 命mạng 終chung 之chi 人nhân 。 所sở 生sinh 之chi 處xứ 。 常thường 得đắc 值trị 佛Phật 。 千thiên 劫kiếp 萬vạn 劫kiếp 。 億ức 萬vạn 劫kiếp 數số 。 重trọng 罪tội 之chi 殃ương 。 無vô 不bất 得đắc 脫thoát 。
亦diệc 復phục 當đương 為vi 。 說thuyết 是thị 灌quán 頂đỉnh 。 無vô 上thượng 章chương 句cú 。 三tam 世thế 諸chư 佛Phật 。 天Thiên 中Trung 之chi 天Thiên 。 各các 皆giai 順thuận 本bổn 。 三tam 世thế 如Như 來Lai 。 說thuyết 是thị 無vô 上thượng 。 總tổng 持trì 章chương 句cú 。
普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 汝nhữ 當đương 諦đế 聽thính 。 我ngã 今kim 為vì 汝nhữ 。 及cập 一nhất 切thiết 眾chúng 生sinh 。 諸chư 病bệnh 苦khổ 者giả 。 若nhược 其kỳ 臨lâm 終chung 。 若nhược 已dĩ 終chung 竟cánh 。 復phục 是thị 終chung 日nhật 。 聞văn 此thử 章chương 句cú 。 所sở 生sinh 之chi 處xứ 。 當đương 得đắc 見kiến 佛Phật 。 不bất 墮đọa 八bát 難nạn 。 遠viễn 於ư 惡ác 道đạo 。
於ư 是thị 世Thế 尊Tôn 。 在tại 大đại 眾chúng 中trung 。 宣tuyên 說thuyết 諸chư 佛Phật 。 無vô 上thượng 章chương 句cú 。 即tức 作tác 偈kệ 頌tụng 。 而nhi 說thuyết 之chi 曰viết 。
波ba 利lợi 富phú 樓lâu 那na 。
遮già 利lợi 三tam 慢mạn 陀đà 。
達đạt 舍xá 尼ni 羅la 佉khư 。
摩ma 訶ha 毘tỳ 羅la 訶ha 。
伽già 帝đế 三tam 慢mạn 陀đà 。
毘tỳ 陀đà 摩ma 伽già 帝đế 。
摩ma 訶ha 伽già 利lợi 波ba 。
波ba 帝đế 婆bà 彌di 陀đà 。
娑sa 婆bà 婁lâu 伽già 提đề 。
修tu 鉢bát 利lợi 富phú 那na 。
阿a 利lợi 那na 達đạt 摩ma 。
摩ma 訶ha 毘tỳ 波ba 提đề 。
帝đế 利lợi 毘tỳ 波ba 伽già 。
修tu 勒lặc 波ba 僧Tăng 祇kỳ 。
醯hê 帝đế 三tam 博bác 叉xoa 。
摩ma 訶ha 三tam 慢mạn 陀đà 。
阿a 陀đà 摩ma 羅la 尼ni 。
阿a 利lợi 摩ma 羅la 多đa 。
毘tỳ 鼓cổ 三tam 慢mạn 陀đà 。
達đạt 尼ni 佉khư 羅la 陀đà 。
佛Phật 語ngứ 普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。
是thị 為vi 灌quán 頂đỉnh 。 無vô 上thượng 章chương 句cú 。 必tất 定định 不bất 二nhị 。 解giải 除trừ 亡vong 者giả 。 無vô 量lượng 罪tội 厄ách 。 令linh 過quá 命mạng 者giả 。 得đắc 生sinh 天thiên 上thượng 。 隨tùy 心tâm 所sở 願nguyện 。 往vãng 生sinh 十thập 方phương 。
此thử 大đại 章chương 句cú 。 真chân 實thật 之chi 言ngôn 。 在tại 所sở 生sinh 處xứ 。 常thường 見kiến 十thập 方phương 。 微vi 妙diệu 淨tịnh 土độ 。
若nhược 在tại 世thế 時thời 。 應ưng 當đương 受thọ 持trì 。 如như 是thị 章chương 句cú 。 齋trai 戒giới 一nhất 心tâm 。 為vì 過quá 命mạng 者giả 。 七thất 日nhật 七thất 夜dạ 。 受thọ 持trì 八bát 禁cấm 。 長trường 齋trai 菜thái 食thực 。 禮lễ 敬kính 十thập 方phương 。 諸chư 佛Phật 世Thế 尊Tôn 。 當đương 發phát 大đại 誓thệ 。
願nguyện 我ngã 獲hoạch 得đắc 。 僧tăng 那na 僧tăng 涅niết 。 諸chư 眾chúng 生sinh 輩bối 。 使sử 向hướng 無vô 上thượng 。 正chính 真chân 大Đại 道Đạo 。
爾nhĩ 時thời 世Thế 尊Tôn 。 說thuyết 是thị 語ngữ 已dĩ 。 告cáo 諸chư 大đại 眾chúng 。 善thiện 男nam 子tử 善thiện 女nữ 人nhân 等đẳng 。 及cập 天thiên 龍long 八bát 部bộ 。 一nhất 切thiết 鬼quỷ 神thần 。
汝nhữ 等đẳng 眾chúng 輩bối 。 聞văn 說thuyết 十thập 方phương 。 淨tịnh 佛Phật 國quốc 土độ 。 復phục 聞văn 說thuyết 是thị 。 那Na 舍Xá 長Trưởng 者Giả 。 因nhân 緣duyên 罪tội 福phúc 。 生sinh 信tín 心tâm 不phủ 。
普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 。 復phục 從tùng 坐tọa 起khởi 。 白bạch 世Thế 尊Tôn 言ngôn 。
說thuyết 是thị 十thập 方phương 。 諸chư 佛Phật 淨tịnh 土độ 。 無vô 量lượng 功công 德đức 。 莊trang 嚴nghiêm 快khoái 樂lạc 。 復phục 得đắc 聞văn 是thị 。 那Na 舍Xá 因nhân 緣duyên 。 世Thế 尊Tôn 又hựu 說thuyết 。 眾chúng 事sự 因nhân 緣duyên 。 甚thậm 善thiện 。 心tâm 大đại 歡hoan 喜hỷ 。 踊dũng 躍dược 無vô 量lượng 。 世Thế 尊Tôn 說thuyết 是thị 。 多đa 所sở 利lợi 益ích 。 後hậu 世thế 眾chúng 生sinh 。 緣duyên 此thử 解giải 脫thoát 。 以dĩ 為vi 軌quỹ 則tắc 。 不bất 復phục 貪tham 悋lận 。 資tư 生sinh 之chi 物vật 。 聞văn 此thử 經Kinh 言ngôn 。 但đãn 生sinh 施thí 心tâm 。 無vô 所sở 愛ái 惜tích 。 隨tùy 意ý 施thí 與dữ 。 貧bần 乏phạp 使sử 足túc 。 國quốc 土thổ 豐phong 饒nhiêu 。 施thí 心tâm 平bình 等đẳng 。 如như 是thị 漸tiệm 漸tiệm 。 積tích 功công 累lũy 德đức 。 悉tất 成thành 佛Phật 道Đạo 。
普Phổ 廣Quảng 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 又hựu 白bạch 佛Phật 言ngôn 。
若nhược 四tứ 輩bối 男nam 女nữ 。 欲dục 修tu 學học 是thị 。 願nguyện 生sinh 淨tịnh 土độ 。 灌quán 頂đỉnh 經Kinh 典điển 。 有hữu 幾kỷ 事sự 行hành 。 得đắc 此thử 經Kinh 法Pháp 。
佛Phật 言ngôn 普Phổ 廣Quảng 。
有hữu 十thập 二nhị 事sự 。 可khả 得đắc 修tu 學học 。 是thị 經Kinh 典điển 也dã 。
一nhất 者giả 。 不bất 信tín 九cửu 十thập 五ngũ 種chủng 。 邪tà 見kiến 之chi 道đạo 。 二nhị 者giả 。 堅kiên 持trì 禁cấm 戒giới 。 至chí 終chung 不bất 犯phạm 。 三tam 者giả 。 勤cần 學học 禪thiền 定định 。 教giáo 未vị 學học 者giả 。 四tứ 者giả 。 忍nhẫn 辱nhục 不bất 瞋sân 。 見kiến 惡ác 不bất 惱não 。 五ngũ 者giả 。 常thường 樂nhạo 布bố 施thí 。 愍mẫn 念niệm 孤cô 老lão 。 六lục 者giả 。 常thường 勤cần 精tinh 進tấn 。 晝trú 夜dạ 不bất 懈giải 。 七thất 者giả 。 若nhược 行hành 來lai 出xuất 入nhập 。 朝triêu 拜bái 塔tháp 像tượng 。 及cập 諸chư 尊tôn 長trưởng 。 然nhiên 後hậu 捨xả 去khứ 。 八bát 者giả 。 合hợp 集tập 眾chúng 人nhân 。 為vi 作tác 唱xướng 導đạo 。 普phổ 得đắc 信tín 心tâm 。 九cửu 者giả 。 不bất 貪tham 世thế 榮vinh 。 衣y 服phục 伎kỹ 樂nhạc 。 資tư 生sinh 之chi 物vật 。 常thường 好hiếu 苦khổ 行hạnh 。 依y 四tứ 依y 法pháp 。 十thập 者giả 。 行hành 此thử 法Pháp 時thời 。 無vô 所sở 悕hy 望vọng 。 但đãn 欲dục 利lợi 益ích 。 諸chư 眾chúng 生sinh 輩bối 。 不bất 於ư 其kỳ 中trung 。 悕hy 人nhân 利lợi 養dưỡng 。 十thập 一nhất 者giả 。 至chí 終chung 不bất 諂siểm 。 邪tà 命mạng 自tự 活hoạt 。 十thập 二nhị 者giả 。 行hành 此thử 經Kinh 時thời 。 不bất 擇trạch 富phú 貴quý 。 豪hào 樂lạc 之chi 人nhân 。 貧bần 苦khổ 求cầu 者giả 。 等đẳng 心tâm 看khán 之chi 。 無vô 有hữu 異dị 想tưởng 。
是thị 為vi 十thập 二nhị 。 正chính 化hóa 之chi 事sự 。
時thời 普Phổ 廣Quảng 聞văn 此thử 。 心tâm 大đại 歡hoan 喜hỷ 。
我ngã 當đương 奉phụng 行hành 。 至chí 終chung 不bất 犯phạm 。
佛Phật 說thuyết 經Kinh 竟cánh 。 是thị 諸chư 大đại 眾chúng 。 無vô 不bất 歡hoan 喜hỷ 。
阿A 難Nan 因nhân 從tùng 坐tọa 起khởi 。
演diễn 說thuyết 法Pháp 竟cánh 。 當đương 何hà 名danh 之chi 。
佛Phật 語ngứ 阿A 難Nan 。
此thử 經Kinh 名danh 為vi 。 普Phổ 廣Quảng 所Sở 問Vấn 十Thập 方Phương 淨Tịnh 土Độ 隨Tùy 願Nguyện 往Vãng 生Sinh 。 亦diệc 名danh 那Na 舍Xá 罪Tội 福Phúc 因Nhân 緣Duyên 。 又hựu 名danh 灌Quán 頂Đỉnh 無Vô 上Thượng 章Chương 句Cú 。
佛Phật 說thuyết 是thị 經Kinh 已dĩ 。 四tứ 眾chúng 人nhân 民dân 。 天thiên 龍long 八bát 部bộ 。 聞văn 佛Phật 所sở 說thuyết 。 作tác 禮lễ 奉phụng 行hành 。
灌Quán 頂Đỉnh 無Vô 上Thượng 章Chương 句Cú 經Kinh 卷quyển 第đệ 十thập 一nhất
東đông 晉tấn 天Thiên 竺Trúc 三tam 藏tạng 帛bạch 尸thi 梨lê 蜜mật 多đa 羅la 譯dịch
Phiên âm và chấm câu: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận
Phiên âm: 28/6/2018 ◊ Cập nhật: 28/6/2018
►
https://daitangkinh.net/?f=T21n1331/12&m=awviet
-
灌Quán 頂Đỉnh 摩Ma 尼Ni 羅La 亶Đản 大Đại 神Thần 咒Chú 經Kinh 卷quyển 第đệ 八bát
聞văn 如như 是thị 。
一nhất 時thời 佛Phật 在tại 舍Xá 衛Vệ 國Quốc 。 祇Kỳ 樹Thụ 給Cấp 孤Cô 獨Độc 園Viên 。 與dữ 千thiên 二nhị 百bách 五ngũ 十thập 比Bỉ 丘Khâu 俱câu 。
佛Phật 愍mẫn 念niệm 世thế 間gian 。 天thiên 下hạ 人nhân 民dân 。 為vị 諸chư 邪tà 魅mị 。 鬼quỷ 神thần 所sở 惱não 。 佛Phật 便tiện 結kết 是thị 。 摩Ma 尼Ni 羅La 亶Đản 大Đại 神Thần 咒Chú 經Kinh 。
於ư 是thị 世Thế 尊Tôn 。 便tiện 舉cử 過quá 去khứ 。 七thất 佛Phật 名danh 字tự 。 以dĩ 為vi 經Kinh 證chứng 。
第đệ 一nhất 。 維Duy 衛Vệ 佛Phật 。 第đệ 二nhị 。 式Thức 佛Phật 。 第đệ 三tam 。 隨Tùy 葉Diếp 佛Phật 。 第đệ 四tứ 。 拘Câu 樓Lâu 秦Tần 佛Phật 。 第đệ 五ngũ 。 拘Câu 那Na 含Hàm 牟Mâu 尼Ni 佛Phật 。 第đệ 六lục 。 迦Ca 葉Diếp 佛Phật 。 今kim 我ngã 第đệ 七thất 。 釋Thích 迦Ca 文Văn 佛Phật 。
佛Phật 告cáo 阿A 難Nan 。
我ngã 今kim 又hựu 舉cử 。 是thị 八bát 大đại 菩Bồ 薩Tát 。
颰Bạt 陀Đà 和Hòa 菩Bồ 薩Tát 。 羅La 隣Lân 竭Kiệt 菩Bồ 薩Tát 。 憍Kiêu 曰Viết 兜Đâu 菩Bồ 薩Tát 。 那Na 羅La 達Đạt 菩Bồ 薩Tát 。 須Tu 深Thâm 彌Di 菩Bồ 薩Tát 摩Ma 訶Ha 薩Tát 。 和Hòa 和Hòa 菩Bồ 薩Tát 。 因Nhân 互Hỗ 達Đạt 菩Bồ 薩Tát 。 和Hòa 輪Luân 調Điều 菩Bồ 薩Tát 。
是thị 為vi 八bát 菩Bồ 薩Tát 。 及cập 五ngũ 百bách 開Khai 士Sĩ 。
佛Phật 告cáo 賢Hiền 者giả 阿A 難Nan 。
此thử 諸chư 菩Bồ 薩Tát 。 有hữu 大đại 誓thệ 願nguyện 。 於ư 我ngã 滅diệt 後hậu 。 五ngũ 濁trược 世thế 中trung 。 救cứu 諸chư 厄ách 人nhân 。 若nhược 為vị 邪tà 神thần 。 惡ác 鬼quỷ 所sở 持trì 。 皆giai 當đương 一nhất 心tâm 。 呼hô 其kỳ 名danh 字tự 。 即tức 不bất 違vi 本bổn 願nguyện 。 為vì 人nhân 作tác 護hộ 。 令linh 諸chư 小tiểu 魔ma 。 自tự 然nhiên 消tiêu 滅diệt 。
佛Phật 又hựu 告cáo 賢Hiền 者giả 阿A 難Nan 。
我ngã 十thập 大đại 弟đệ 子tử 。 各các 有hữu 威uy 德đức 。 智trí 慧tuệ 齊tề 等đẳng 。 悉tất 皆giai 第đệ 一nhất 。 我ngã 今kim 結kết 之chi 。 各các 現hiện 其kỳ 威uy 神thần 。 護hộ 諸chư 四tứ 輩bối 。
佛Phật 言ngôn 阿A 難Nan 。
舍Xá 利Lợi 弗Phất 。 大Đại 目Mục 揵Kiền 連Liên 。 大Đại 迦Ca 葉Diếp 。 須Tu 菩Bồ 提Đề 。 富Phú 樓Lâu 那Na 。 阿A 那Na 律Luật 。 迦Ca 旃Chiên 延Diên 。 優Ưu 波Ba 離Ly 。 羅La 睺Hầu 羅La 。
阿A 難Nan 。 若nhược 四tứ 輩bối 弟đệ 子tử 。 為vị 邪tà 惡ác 所sở 中trúng 者giả 。 皆giai 當đương 呼hô 其kỳ 名danh 號hiệu 。 為vì 人nhân 除trừ 憂ưu 。 去khứ 諸chư 厄ách 難nạn 。 萬vạn 事sự 吉cát 祥tường 。
佛Phật 告cáo 阿A 難Nan 。
有hữu 諸chư 天thiên 子tử 。 常thường 樂nhạo 佛Phật 法Pháp 。 於ư 閑nhàn 靜tĩnh 時thời 。 來lai 到đáo 我ngã 所sở 。 我ngã 為vi 說thuyết 法Pháp 。 各các 得đắc 道Đạo 迹tích 。 亦diệc 作tác 誓thệ 願nguyện 。 於ư 我ngã 滅diệt 後hậu 。 護hộ 諸chư 四tứ 輩bối 。 不bất 令linh 邪tà 惡ác 。 得đắc 其kỳ 便tiện 也dã 。
四Tứ 天Thiên 大Đại 王Vương 。 提Đề 頭Đầu 賴Lại 吒Tra 天Thiên 。 毘Tỳ 樓Lâu 勒Lặc 天Thiên 。 惟Duy 睒Thiểm 門Môn 天Thiên 。 毘Tỳ 沙Sa 門Môn 天Thiên 。 忉Đao 利Lợi 天Thiên 。 鹽Diêm 摩Ma 羅La 天Thiên 。 兜Đâu 率Suất 陀Đà 天Thiên 。 不Bất 憍Kiêu 樂Lạc 天Thiên 。 化Hóa 應Ứng 聲Thanh 天Thiên 。 化Hóa 自Tự 在Tại 天Thiên 。 梵Phạm 眾Chúng 妙Diệu 天Thiên 。 梵Phạm 輔Phụ 祿Lộc 天Thiên 。 摩Ma 訶Ha 梵Phạm 天Thiên 。 水Thủy 行Hành 梵Phạm 天Thiên 。 水Thủy 微Vi 梵Phạm 天Thiên 。 水Thủy 無Vô 量Lượng 梵Phạm 天Thiên 。 水Thủy 應Ứng 梵Phạm 天Thiên 。 約Ước 淨Tịnh 天Thiên 。 遍Biến 淨Tịnh 天Thiên 。 淨Tịnh 明Minh 天Thiên 。 守Thủ 妙Diệu 天Thiên 。 微Vi 妙Diệu 天Thiên 。 廣Quảng 妙Diệu 天Thiên 。 極Cực 妙Diệu 天Thiên 。 福Phúc 愛Ái 天Thiên 。 愛Ái 勝Thắng 天Thiên 。 近Cận 際Tế 天Thiên 。 普Phổ 觀Quán 天Thiên 。 快Khoái 見Kiến 天Thiên 。 無Vô 結Kết 愛Ái 天Thiên 。 色Sắc 究Cứu 竟Cánh 天Thiên 。 淨Tịnh 光Quang 天Thiên 。 普Phổ 等Đẳng 天Thiên 。 是thị 為vi 三tam 十thập 三tam 天thiên 。 各các 現hiện 威uy 神thần 為vi 。 四tứ 輩bối 弟đệ 子tử 。 作tác 大đại 擁ủng 護hộ 。 辟tịch 除trừ 凶hung 惡ác 。
佛Phật 告cáo 阿A 難Nan 。
我ngã 今kim 說thuyết 是thị 。 三tam 十thập 五ngũ 龍long 王vương 名danh 字tự 。
其kỳ 所sở 居cư 處xứ 。 各các 在tại 異dị 國quốc 。 齊tề 心tâm 等đẳng 意ý 。 以dĩ 其kỳ 所sở 翫ngoạn 。 龍long 宮cung 珍trân 寶bảo 。 摩ma 尼ni 雜tạp 珠châu 。 以dĩ 奉phụng 獻hiến 我ngã 。
我ngã 為vì 諸chư 龍long 。 說thuyết 其kỳ 因nhân 緣duyên 。 業nghiệp 報báo 之chi 事sự 。 各các 於ư 我ngã 所sở 。 得đắc 法Pháp 眼nhãn 淨tịnh 。 建kiến 大đại 誓thệ 願nguyện 。 於ư 未vị 來lai 世thế 。 佛Phật 法Pháp 滅diệt 時thời 。 在tại 所sở 國quốc 土thổ 。 城thành 邑ấp 聚tụ 落lạc 。 護hộ 諸chư 四tứ 輩bối 。 令linh 離ly 危nguy 厄ách 。 不bất 為vị 邪tà 橫hoạnh 。 之chi 所sở 侵xâm 害hại 。 使sử 萬vạn 事sự 吉cát 祥tường 。
波Ba 覽Lãm 摩Ma 龍Long 王Vương 。 阿A 梨Lê 伽Già 龍Long 王Vương 。 因Nhân 陀Đà 羅La 龍Long 王Vương 。 娑Sa 伽Già 婁Lâu 龍Long 王Vương 。 思Tư 普Phổ 陀Đà 龍Long 王Vương 。 修Tu 陀Đà 利Lợi 龍Long 王Vương 。 婆Bà 修Tu 只Chỉ 龍Long 王Vương 。 波Ba 利Lợi 沙Sa 龍Long 王Vương 。 得Đắc 叉Xoa 迦Ca 龍Long 王Vương 。 伽Già 婁Lâu 盧Lô 龍Long 王Vương 。
阿A 梨Lê 伽Già 龍Long 王Vương 。 沙Sa 梁Lương 瞿Cù 龍Long 王Vương 。 阿A 婆Bà 盧Lô 龍Long 王Vương 。 波Ba 利Lợi 伽Già 龍Long 王Vương 。 修Tu 婆Bà 睺Hầu 龍Long 王Vương 。 那Na 栗Lật 陀Đà 龍Long 王Vương 。 須Tu 彌Di 弗Phất 龍Long 王Vương 。 苾Bật 闍Xà 陀Đà 龍Long 王Vương 。 質Chất 多Đa 斯Tư 龍Long 王Vương 。 那Na 某Mỗ 旨Chỉ 龍Long 王Vương 。
質Chất 多Đa 勒Lặc 龍Long 王Vương 。 思Tư 利Lợi 那Na 龍Long 王Vương 。 只Chỉ 利Lợi 彌Di 龍Long 王Vương 。 難Nan 婁Lâu 陀Đà 龍Long 王Vương 。 阿A 那Na 俱Câu 龍Long 王Vương 。 慢Mạn 陀Đà 俱Câu 龍Long 王Vương 。 氷Băng 伽Già 婁Lâu 龍Long 王Vương 。 伽Già 多Đa 俱Câu 龍Long 王Vương 。 達Đạt 婆Bà 婁Lâu 龍Long 王Vương 。 阿A 勒Lặc 叉Xoa 龍Long 王Vương 。
思Tư 羅La 婆Bà 龍Long 王Vương 。 茫Mang 伽Già 婁Lâu 龍Long 王Vương 。 毘Tỳ 大Đại 都Đô 龍Long 王Vương 。 跋Bạt 陀Đà 羅La 龍Long 王Vương 。 摩Ma 根Căn 陀Đà 龍Long 王Vương 。
佛Phật 告cáo 阿A 難Nan 。 是thị 諸chư 龍long 王vương 。 不bất 可khả 稱xưng 數số 。
我ngã 今kim 為vì 汝nhữ 。 及cập 諸chư 四tứ 輩bối 。 略lược 說thuyết 三tam 十thập 五ngũ 。 龍long 王vương 名danh 字tự 。 上thượng 首thủ 者giả 也dã 。 若nhược 有hữu 厄ách 難nạn 。 恐khủng 怖bố 之chi 日nhật 。 令linh 諸chư 弟đệ 子tử 。 演diễn 其kỳ 名danh 字tự 。 至chí 心tâm 呼hô 者giả 。 立lập 在tại 左tả 右hữu 。 辟tịch 除trừ 邪tà 惡ác 。 萬vạn 事sự 吉cát 祥tường 。
佛Phật 語ngứ 阿A 難Nan 。
我ngã 昔tích 遊du 化hóa 。 諸chư 國quốc 土thổ 中trung 。 有hữu 諸chư 神thần 王vương 。 強cường 梁lương 難nan 化hóa 。 不bất 受thọ 教giáo 者giả 。 我ngã 悉tất 降hàng 伏phục 。 令linh 其kỳ 受thọ 道Đạo 。 既ký 受thọ 道Đạo 已dĩ 。 皆giai 作tác 誓thệ 願nguyện 。
我ngã 滅diệt 之chi 後hậu 。 後hậu 五ngũ 濁trược 世thế 時thời 。 護hộ 佛Phật 弟đệ 子tử 。 不bất 令linh 諸chư 邪tà 。 雜tạp 魅mị 小tiểu 鬼quỷ 。 求cầu 人nhân 長trường 短đoản 。 若nhược 有hữu 厄ách 難nạn 。 恐khủng 怖bố 之chi 日nhật 。 皆giai 當đương 一nhất 心tâm 。 呼hô 其kỳ 名danh 號hiệu 。 我ngã 今kim 說thuyết 之chi 。 灌quán 頂đỉnh 神thần 名danh 。 一nhất 切thiết 善thiện 聽thính 。
大Đại 神thần 將tướng 軍quân 摩Ma 醯Hê 首Thủ 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 墮Đọa 沙Sa 俗Tục 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 金Kim 毘Tỳ 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 半Bán 耆Kỳ 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 和Hòa 耆Kỳ 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 摩Ma 尼Ni 跋Bạt 陀Đà 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 波Ba 提Đề 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 摩Ma 和Hòa 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 羅La 剎Sát 陀Đà 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 鳩Cưu 摩Ma 和Hòa 羅La 。
大Đại 神thần 將tướng 軍quân 修Tu 摩Ma 乾Càn 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 波Ba 迦Ca 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 因Nhân 輪Luân 無Vô 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 因Nhân 持Trì 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 和Hòa 林Lâm 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 波Ba 耶Da 越Việt 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 宋Tống 林Lâm 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 檀Đàn 特Đặc 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 式Thức 叉Xoa 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 健Kiện 陀Đà 羅La 。
大Đại 神thần 將tướng 軍quân 乾Càn 頭Đầu 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 彌Di 佉Khư 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 乾Càn 朱Chu 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 摩Ma 油Du 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 阿A 須Tu 輪Luân 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 隨Tùy 沙Sa 門Môn 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 隨Tùy 孫Tôn 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 曼Mạn 提Đề 羅La 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 母Mẫu 阿A 宿Túc 提Đề 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 母Mẫu 設Thiết 婁Lâu 陀Đà 。
大Đại 神thần 將tướng 軍quân 女nữ 薩Tát 遮Già 摩Ma 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 女nữ 毘Tỳ 藍Lam 婆Bà 。 大Đại 神thần 將tướng 軍quân 女nữ 持Trì 瓔Anh 珞Lạc 。
佛Phật 告cáo 阿A 難Nan 。 是thị 諸chư 大đại 神thần 。 及cập 神thần 母mẫu 女nữ 等đẳng 。 三tam 十thập 三tam 王vương 。
若nhược 四tứ 輩bối 弟đệ 子tử 。 橫hoạnh 遭tao 難nạn 者giả 。 呼hô 其kỳ 名danh 字tự 。 令linh 人nhân 得đắc 福phúc 。 萬vạn 事sự 吉cát 祥tường 。
佛Phật 告cáo 阿A 難Nan 。
又hựu 有hữu 六lục 萬vạn 二nhị 十thập 四tứ 鬼quỷ 師sư 。 亦diệc 皆giai 誓thệ 願nguyện 。 於ư 未vị 來lai 世thế 。 五ngũ 濁trược 亂loạn 時thời 。 在tại 所sở 國quốc 土thổ 。 城thành 邑ấp 聚tụ 落lạc 。 護hộ 諸chư 四tứ 輩bối 。 不bất 令linh 小tiểu 鬼quỷ 。 之chi 所sở 得đắc 便tiện 。 使sử 獲hoạch 吉cát 利lợi 。 我ngã 今kim 說thuyết 之chi 。
其kỳ 名danh 如như 是thị 。
東đông 方phương 四tứ 鬼quỷ 師sư 。 怛đát 署thự 陀đà 。
鬼Quỷ 師sư 疾Tật 佉Khư 。 鬼Quỷ 師sư 修Tu 涅Niết 多Đa 羅La 。 鬼Quỷ 師sư 不Bất 輪Luân 。 鬼Quỷ 師sư 迦Ca 毘Tỳ 羅La 。
南nam 方phương 四tứ 鬼quỷ 師sư 。 怛đát 署thự 陀đà 。
鬼Quỷ 師sư 斯Tư 睺Hầu 。 鬼Quỷ 師sư 婆Bà 斯Tư 睺Hầu 。 鬼Quỷ 師sư 傷Thương 伽Già 。 鬼Quỷ 師sư 賴Lại 遮Già 。
西tây 方phương 四tứ 鬼quỷ 師sư 。 怛đát 署thự 陀đà 。
鬼Quỷ 師sư 嘻 利Lợi 。 鬼Quỷ 師sư 嘻 羅La 只Chỉ 。 鬼Quỷ 師sư 輪Luân 波Ba 羅La 浮Phù 睺Hầu 。 鬼Quỷ 師sư 氷Băng 和Hòa 和Hòa 利Lợi 。
北bắc 方phương 四tứ 鬼quỷ 師sư 。 怛đát 署thự 陀đà 。
鬼Quỷ 師sư 陀Đà 羅La 尼Ni 。 鬼Quỷ 師sư 陀Đà 羅La 多Đa 升Thăng 。 鬼Quỷ 師sư 復Phục 度Độ 伽Già 。 鬼Quỷ 師sư 波Ba 盧Lô 毘Tỳ 多Đa 。
上thượng 方phương 四tứ 鬼quỷ 師sư 。 怛đát 署thự 陀đà 。
鬼Quỷ 師sư 浮Phù 摩Ma 。 鬼Quỷ 師sư 修Tu 浮Phù 摩Ma 。 鬼Quỷ 師sư 波Ba 由Do 。 鬼Quỷ 師sư 夜Dạ 摩Ma 。
下hạ 方phương 四tứ 鬼quỷ 師sư 。 怛đát 署thự 陀đà 。
鬼Quỷ 師sư 根Căn 頭Đầu 波Ba 。 鬼Quỷ 師sư 修Tu 摩Ma 。 鬼Quỷ 師sư 根Căn 陀Đà 。 鬼Quỷ 師sư 修Tu 利Lợi 耶Da 。
佛Phật 告cáo 阿A 難Nan 。
我ngã 以dĩ 略lược 說thuyết 。 諸chư 佛Phật 名danh 字tự 。 菩Bồ 薩Tát 羅La 漢Hán 。 諸chư 天thiên 龍long 善thiện 神thần 。 及cập 二nhị 十thập 四tứ 鬼quỷ 師sư 。 名danh 字tự 如như 是thị 。
今kim 當đương 又hựu 說thuyết 。 四tứ 山sơn 河hà 海hải 。 川xuyên 谷cốc 井tỉnh 泉tuyền 。 有hữu 諸chư 精tinh 魅mị 。 喜hỷ 行hành 毒độc 惡ác 。 以dĩ 害hại 萬vạn 姓tánh 。 汝nhữ 當đương 正chính 心tâm 。 誦tụng 是thị 摩ma 尼ni 。 大đại 神thần 咒chú 經Kinh 。 并tinh 說thuyết 山sơn 海hải 。 精tinh 魅mị 名danh 字tự 。 若nhược 有hữu 行hành 毒độc 。 害hại 萬vạn 姓tánh 者giả 。 各các 使sử 攝nhiếp 毒độc 。 不bất 復phục 害hại 人nhân 。
佛Phật 告cáo 阿A 難Nan 。
國quốc 土thổ 之chi 中trung 。 四tứ 山sơn 河hà 海hải 。 有hữu 二nhị 精tinh 魅mị 鬼quỷ 。 我ngã 今kim 說thuyết 之chi 。 其kỳ 名danh 如như 是thị 。
一nhất 名danh 。 深Thâm 沙Sa 。 二nhị 名danh 。 浮Phù 丘Khâu 。
國quốc 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 山sơn 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 林lâm 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 草thảo 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 墓mộ 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 塚trủng 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 地địa 上thượng 魅mị 鬼quỷ 。 地địa 下hạ 魅mị 鬼quỷ 。 水thủy 邊biên 魅mị 鬼quỷ 。 水thủy 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 空không 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 市thị 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 死tử 人nhân 魅mị 鬼quỷ 。 生sinh 人nhân 魅mị 鬼quỷ 。 飽bão 死tử 魅mị 鬼quỷ 。 餓ngạ 死tử 魅mị 鬼quỷ 。 渴khát 死tử 魅mị 鬼quỷ 。 道đạo 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 道đạo 外ngoại 魅mị 鬼quỷ 。 堂đường 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 堂đường 上thượng 魅mị 鬼quỷ 。 堂đường 外ngoại 魅mị 鬼quỷ 。 簷diêm 邊biên 魅mị 鬼quỷ 。 四tứ 壁bích 魅mị 鬼quỷ 。 火hỏa 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 火hỏa 邊biên 魅mị 鬼quỷ 。 身thân 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 身thân 外ngoại 魅mị 鬼quỷ 。 飯phạn 時thời 魅mị 鬼quỷ 。 噎ế 時thời 魅mị 鬼quỷ 。 金kim 銀ngân 魅mị 鬼quỷ 。 坐tọa 時thời 魅mị 鬼quỷ 。 臥ngọa 時thời 魅mị 鬼quỷ 。 赤xích 色sắc 魅mị 鬼quỷ 。 黑hắc 色sắc 魅mị 鬼quỷ 。 有hữu 長trường 魅mị 鬼quỷ 。 身thân 短đoản 魅mị 鬼quỷ 。 有hữu 大đại 魅mị 鬼quỷ 。 有hữu 小tiểu 魅mị 鬼quỷ 。 中trung 適thích 魅mị 鬼quỷ 。 白bạch 色sắc 魅mị 鬼quỷ 。 黃hoàng 色sắc 魅mị 鬼quỷ 。 青thanh 色sắc 魅mị 鬼quỷ 。 斑ban 色sắc 魅mị 鬼quỷ 。 紅hồng 色sắc 魅mị 鬼quỷ 。 紫tử 色sắc 魅mị 鬼quỷ 。 厭yếm 人nhân 魅mị 鬼quỷ 。 夢mộng 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 朝triêu 起khởi 魅mị 鬼quỷ 。 步bộ 行hành 魅mị 鬼quỷ 。 飛phi 行hành 魅mị 鬼quỷ 。
佛Phật 語ngứ 阿A 難Nan 。
是thị 諸chư 山sơn 精tinh 。 溪khê 瀆độc 之chi 中trung 。 人nhân 間gian 作tác 害hại 。 若nhược 人nhân 知tri 其kỳ 名danh 者giả 。 喚hoán 其kỳ 名danh 。 不bất 能năng 害hại 人nhân 。 吾ngô 故cố 說thuyết 是thị 。 四tứ 十thập 九cửu 鬼quỷ 。 今kim 吾ngô 更cánh 說thuyết 。 汝nhữ 一nhất 心tâm 聽thính 。
佛Phật 告cáo 阿A 難Nan 。
有hữu 問vấn 人nhân 魂hồn 鬼quỷ 。 擊kích 人nhân 魄phách 鬼quỷ 。 喜hỷ 鬪đấu [口*爭]# 鬼quỷ 。 大đại 語ngữ 言ngôn 鬼quỷ 。 有hữu 大đại 笑tiếu 鬼quỷ 。 有hữu 大đại 戲hí 鬼quỷ 。 相tương 扠tra 打đả 鬼quỷ 。 相tương 搏bác 撮toát 鬼quỷ 。 遮già 生sinh 門môn 鬼quỷ 。 噉đạm 人nhân 精tinh 鬼quỷ 。 食thực 人nhân 血huyết 鬼quỷ 。 屠đồ 人nhân 肉nhục 鬼quỷ 。 喫khiết 人nhân 骨cốt 鬼quỷ 。 拍phách 人nhân 骨cốt 鬼quỷ 。 噉đạm 人nhân 五ngũ 藏tạng 鬼quỷ 。 食thực 人nhân 腸tràng 鬼quỷ 。 抽trừu 人nhân 筋cân 鬼quỷ 。 縮súc 人nhân 脈mạch 鬼quỷ 。 壞hoại 人nhân 胎thai 鬼quỷ 。 使sử 難nan 產sản 鬼quỷ 。 喜hỷ 瞋sân 惱não 鬼quỷ 。 喜hỷ 恚khuể 恨hận 鬼quỷ 。 持trì 刀đao 行hành 鬼quỷ 。 持trì 杖trượng 行hành 鬼quỷ 。 有hữu 汗hãn 傴ủ 鬼quỷ 。 有hữu 仰ngưỡng 行hành 鬼quỷ 。 有hữu 叉xoa 腰yêu 鬼quỷ 。 有hữu 反phản 倒đảo 鬼quỷ 。 有hữu 頸cảnh 行hành 鬼quỷ 。 有hữu 破phá 髓tủy 鬼quỷ 。 碎toái 身thân 塵trần 鬼quỷ 。 有hữu 疑nghi 阻trở 鬼quỷ 。 有hữu 懸huyền 頭đầu 鬼quỷ 。 有hữu 五ngũ 掣xiết 鬼quỷ 。 有hữu 鍾chung 心tâm 鬼quỷ 。 有hữu 寒hàn 戰chiến 鬼quỷ 。 有hữu 熱nhiệt 悶muộn 鬼quỷ 。 有hữu 沙sa 中trung 鬼quỷ 。 有hữu 崗 堆đôi 間gian 鬼quỷ 。 有hữu 健kiện 行hành 鬼quỷ 。 有hữu 舉cử 手thủ 鬼quỷ 。 有hữu 摩ma 頭đầu 鬼quỷ 。 有hữu 白bạch 頭đầu 鬼quỷ 。 有hữu 赤xích 頭đầu 鬼quỷ 。 有hữu 黃hoàng 頭đầu 鬼quỷ 。 有hữu 斷đoạn 頭đầu 鬼quỷ 。 有hữu 吐thổ 火hỏa 鬼quỷ 。 有hữu 憙hí 燒thiêu 人nhân 鬼quỷ 。 有hữu 血huyết 光quang 鬼quỷ 。
佛Phật 告cáo 阿A 難Nan 。
若nhược 人nhân 疾tật 厄ách 。 為vị 此thử 諸chư 鬼quỷ 。 所sở 嬈nhiễu 害hại 者giả 。 當đương 說thuyết 其kỳ 名danh 字tự 。 即tức 當đương 攝nhiếp 毒độc 。 不bất 能năng 為vi 害hại 。 還hoàn 其kỳ 處xứ 所sở 。 隱ẩn 匿nặc 不bất 現hiện 。
佛Phật 告cáo 阿A 難Nan 。
又hựu 四tứ 十thập 九cửu 。 山sơn 精tinh 之chi 鬼quỷ 。 我ngã 今kim 說thuyết 之chi 。 令linh 諸chư 四tứ 輩bối 。 離ly 諸chư 邪tà 惡ác 。 不bất 復phục 遭tao 惱não 。 百bách 病bệnh 除trừ 愈dũ 。 怨oán 害hại 不bất 生sinh 。 得đắc 吉cát 祥tường 福phúc 。
佛Phật 語ngứ 阿A 難Nan 。
山sơn 精tinh 之chi 中trung 。 五ngũ 等đẳng 精tinh 魅mị 。 我ngã 今kim 說thuyết 之chi 。
其kỳ 名danh 如như 是thị 。
青thanh 色sắc 山sơn 精tinh 。 赤xích 色sắc 山sơn 精tinh 。 白bạch 色sắc 山sơn 精tinh 。 黃hoàng 色sắc 山sơn 精tinh 。 黑hắc 色sắc 山sơn 精tinh 。 高cao 大đại 山sơn 精tinh 。 卑ty 小tiểu 山sơn 精tinh 。 廣quảng 大đại 山sơn 精tinh 。 無vô 頭đầu 山sơn 精tinh 。 無vô 手thủ 山sơn 精tinh 。 無vô 脚cước 山sơn 精tinh 。 龍long 頭đầu 山sơn 精tinh 。 蛇xà 頭đầu 山sơn 精tinh 。 馬mã 頭đầu 山sơn 精tinh 。 狗cẩu 頭đầu 山sơn 精tinh 。 虎hổ 頭đầu 山sơn 精tinh 。 人nhân 頭đầu 山sơn 精tinh 。 猨viên 頭đầu 山sơn 精tinh 。 鳥điểu 頭đầu 山sơn 精tinh 。 銜hàm 火hỏa 山sơn 精tinh 。 火hỏa 殃ương 山sơn 精tinh 。 蛇xà 形hình 山sơn 精tinh 。 龍long 形hình 山sơn 精tinh 。 男nam 形hình 山sơn 精tinh 。 女nữ 形hình 山sơn 精tinh 。 三tam 脚cước 山sơn 精tinh 。 六lục 手thủ 山sơn 精tinh 。 九cửu 頭đầu 山sơn 精tinh 。 三tam 頭đầu 山sơn 精tinh 。 四tứ 眼nhãn 山sơn 精tinh 。 四tứ 十thập 九cửu 眼nhãn 山sơn 精tinh 。 三tam 眼nhãn 山sơn 精tinh 。 聚tụ 會hội 山sơn 精tinh 。 歌ca 樂nhạc 山sơn 精tinh 。 喜hỷ 歡hoan 山sơn 精tinh 。 愁sầu 憂ưu 山sơn 精tinh 。 悲bi 哭khốc 山sơn 精tinh 。 跛bả 脚cước 山sơn 精tinh 。 喑âm 啞á 山sơn 精tinh 。 歎thán 吒tra 山sơn 精tinh 。 相tương 拘câu 牽khiên 山sơn 精tinh 。 鬪đấu [口*爭]# 山sơn 精tinh 。 吐thổ 青thanh 毒độc 山sơn 精tinh 。 吐thổ 赤xích 毒độc 山sơn 精tinh 。 吐thổ 白bạch 毒độc 山sơn 精tinh 。 吐thổ 黑hắc 毒độc 山sơn 精tinh 。 吐thổ 黃hoàng 毒độc 山sơn 精tinh 。 兩lưỡng 頭đầu 共cộng 身thân 山sơn 精tinh 。 龜quy 形hình 山sơn 精tinh 。
佛Phật 言ngôn 。
是thị 為vi 四tứ 十thập 九cửu 。 山sơn 精tinh 之chi 鬼quỷ 。 若nhược 四tứ 輩bối 為vị 。 山sơn 精tinh 鬼quỷ 所sở 害hại 者giả 。 呼hô 其kỳ 名danh 字tự 。 即tức 便tiện 攝nhiếp 毒độc 。 不bất 得đắc 為vi 害hại 。
佛Phật 言ngôn 。
阿A 難Nan 。 國quốc 土thổ 四tứ 方phương 。 山sơn 精tinh 雜tạp 魅mị 。 惡ác 鬼quỷ 伴bạn 侶lữ 。 水thủy 中trung 雜tạp 精tinh 。 我ngã 今kim 更cánh 說thuyết 。 諸chư 精tinh 魅mị 鬼quỷ 。
火hỏa 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 水thủy 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 水thủy 邊biên 魅mị 鬼quỷ 。 飄phiêu 風phong 之chi 鬼quỷ 。
東đông 方phương 青thanh 色sắc 鬼quỷ 。 為vi 惡ác 夢mộng 鬼quỷ 。 為vi 變biến 怪quái 鬼quỷ 。 鳥điểu 鳴minh 怪quái 鬼quỷ 。 百bách 狩thú 變biến 怪quái 鬼quỷ 。 有hữu 狐hồ 鳴minh 鬼quỷ 。 有hữu 烏ô 鳴minh 鬼quỷ 。 鼠thử 鳴minh 怪quái 鬼quỷ 。
南nam 方phương 赤xích 氣khí 溫ôn 鬼quỷ 。 白bạch 氣khí 溫ôn 鬼quỷ 。 青thanh 氣khí 溫ôn 鬼quỷ 。 黑hắc 氣khí 溫ôn 鬼quỷ 。 黃hoàng 氣khí 溫ôn 鬼quỷ 。
五ngũ 注chú 之chi 鬼quỷ 。 青thanh 色sắc 注chú 鬼quỷ 。 白bạch 色sắc 注chú 鬼quỷ 。 赤xích 色sắc 注chú 鬼quỷ 。 黃hoàng 色sắc 注chú 鬼quỷ 。 黑hắc 色sắc 注chú 鬼quỷ 。
墜trụy 床sàng 死tử 鬼quỷ 。 喜hỷ 為vi 縣huyện 官quan 鬼quỷ 。 金kim 慢mạn 鬼quỷ 。 薜bệ 荔lệ 鬼quỷ 。 慳san 貪tham 鬼quỷ 。 勤cần 苦khổ 鬼quỷ 。 病bệnh 瘦sấu 鬼quỷ 。 痛thống 痒dương 鬼quỷ 。 思tư 想tưởng 鬼quỷ 。 身thân 中trung 鬼quỷ 。 隆long 殘tàn 鬼quỷ 。 絆bán 繼kế 鬼quỷ 。 有hữu 顛điên 狂cuồng 鬼quỷ 。 有hữu 癡si 聾lung 鬼quỷ 。 呻thân 吟ngâm 鬼quỷ 。 㖒 哭khốc 鬼quỷ 。 困khốn 病bệnh 鬼quỷ 。 虛hư 耗hao 鬼quỷ 。 嫉tật 妬đố 鬼quỷ 。 籬 間gian 鬼quỷ 。 籬 上thượng 鬼quỷ 。 門môn 邊biên 死tử 鬼quỷ 。 戶hộ 邊biên 死tử 鬼quỷ 。 魍vọng 魎lượng 鬼quỷ 。
北bắc 方phương 黑hắc 色sắc 鬼quỷ 。 熒 惑hoặc 鬼quỷ 。 游du 光quang 鬼quỷ 。 詐trá 稱xưng 鬼quỷ 。 斷đoạn 人nhân 毛mao 髮phát 鬼quỷ 。 飲ẩm 人nhân 血huyết 鬼quỷ 。 怨oán 家gia 鬼quỷ 。 故cố 氣khí 神thần 鬼quỷ 。 蜚 尸thi 鬼quỷ 。 伏phục 尸thi 鬼quỷ 。 有hữu 樹thụ 上thượng 鬼quỷ 。 有hữu 樹thụ 下hạ 鬼quỷ 。
溝câu 澗giản 死tử 鬼quỷ 。 屋ốc 上thượng 鬼quỷ 。 屋ốc 頭đầu 鬼quỷ 。 咒chú 咀trớ 鬼quỷ 。 宮cung 舍xá 鬼quỷ 。 軍quân 營doanh 鬼quỷ 。 停đình 傳truyền 鬼quỷ 。 獄ngục 死tử 鬼quỷ 。 囚tù 死tử 鬼quỷ 。 水thủy 死tử 鬼quỷ 。 溺nịch 水thủy 死tử 鬼quỷ 。 火hỏa 死tử 鬼quỷ 。 有hữu 客khách 死tử 鬼quỷ 。 有hữu 未vị 葬táng 鬼quỷ 。 有hữu 兩lưỡng 舌thiệt 鬼quỷ 。 有hữu 惡ác 口khẩu 鬼quỷ 。 酒tửu 死tử 鬼quỷ 。 有hữu 陷hãm 死tử 鬼quỷ 。 有hữu 復phục 連liên 死tử 鬼quỷ 。 市thị 死tử 鬼quỷ 。 道đạo 路lộ 死tử 鬼quỷ 。 有hữu 渴khát 死tử 鬼quỷ 。 有hữu 凍đống 死tử 鬼quỷ 。 有hữu 兵binh 死tử 鬼quỷ 。 有hữu 藥dược 死tử 鬼quỷ 。 鎮trấn 死tử 鬼quỷ 。 血huyết 死tử 鬼quỷ 。 有hữu 碓đối 死tử 鬼quỷ 。 捕bộ 擣đảo 死tử 鬼quỷ 。 有hữu 鬪đấu 死tử 鬼quỷ 。 有hữu 絞giảo 死tử 鬼quỷ 。 有hữu 自tự 刺thứ 死tử 鬼quỷ 。 有hữu 恐khủng 死tử 鬼quỷ 。 強cưỡng 死tử 鬼quỷ 。 迮trách 殺sát 死tử 鬼quỷ 。
斷đoạn 頭đầu 鬼quỷ 。 剪tiễn 人nhân 毛mao 髮phát 鬼quỷ 。 有hữu 騎kỵ 乘thừa 鬼quỷ 。 駕giá 車xa 鬼quỷ 。
佛Phật 言ngôn 。
阿A 難Nan 。 中trung 央ương 及cập 水thủy 中trung 。 諸chư 雜tạp 魅mị 鬼quỷ 。 我ngã 今kim 更cánh 說thuyết 。
步bộ 行hành 魅mị 鬼quỷ 。 逢phùng 忤ngỗ 魅mị 鬼quỷ 。 山sơn 神thần 魅mị 鬼quỷ 。 樹thụ 神thần 魅mị 鬼quỷ 。 石thạch 神thần 魅mị 鬼quỷ 。 土thổ 神thần 魅mị 鬼quỷ 。 風phong 神thần 魅mị 鬼quỷ 。 海hải 邊biên 魅mị 鬼quỷ 。 海hải 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 橋kiều 梁lương 魅mị 鬼quỷ 。 宅trạch 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 雜tạp 破phá 器khí 魅mị 鬼quỷ 。 溝câu 渠cừ 魅mị 鬼quỷ 。 道đạo 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 道đạo 外ngoại 魅mị 鬼quỷ 。
湖hồ 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 夷di 國quốc 魅mị 鬼quỷ 。 蠻 國quốc 魅mị 鬼quỷ 。 羗khương 國quốc 魅mị 鬼quỷ 。 虜lỗ 國quốc 魅mị 鬼quỷ 。 中trung 國quốc 魅mị 鬼quỷ 。 越việt 國quốc 魅mị 鬼quỷ 。 百bách 國quốc 魅mị 鬼quỷ 。 百bách 狩thú 魅mị 鬼quỷ 。 馬mã 行hành 魅mị 鬼quỷ 。 百bách 虫trùng 魅mị 鬼quỷ 。 溪khê 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 谷cốc 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 門môn 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 戶hộ 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 竈táo 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 竈táo 上thượng 魅mị 鬼quỷ 。 竈táo 四tứ 邊biên 魅mị 鬼quỷ 。 注chú 池trì 魅mị 鬼quỷ 。 廁trắc 中trung 咒chú 術thuật 魅mị 鬼quỷ 。 遮già 道đạo 魅mị 鬼quỷ 。 遮già 虫trùng 魅mị 鬼quỷ 。 不bất 臣thần 屬thuộc 鬼quỷ 。 祇kỳ 人nhân 頭đầu 鬼quỷ 。 帳trướng 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 屏bính 風phong 間gian 鬼quỷ 。 梁lương 上thượng 魅mị 鬼quỷ 。 室thất 中trung 魅mị 鬼quỷ 。 使sử 人nhân 嘔 吐thổ 鬼quỷ 。 噉đạm 屎thỉ 尿niệu 鬼quỷ 。 客khách 忤ngỗ 魅mị 鬼quỷ 。 凶hung 注chú 魅mị 鬼quỷ 。
佛Phật 言ngôn 。
阿A 難Nan 。 是thị 為vi 六lục 萬vạn 四tứ 十thập 九cửu 鬼quỷ 。 汝nhữ 當đương 一nhất 心tâm 。 為vì 萬vạn 姓tánh 故cố 。 誦tụng 持trì 是thị 摩Ma 尼Ni 羅La 亶Đản 。 灌quán 頂đỉnh 章chương 句cú 。 摩ma 訶ha 神thần 咒chú 。 急cấp 難nạn 之chi 日nhật 。 當đương 齋trai 戒giới 一nhất 心tâm 。 思tư 念niệm 十thập 方phương 。 一nhất 切thiết 諸chư 佛Phật 。 過quá 去khứ 七thất 佛Phật 。 八bát 大đại 菩Bồ 薩Tát 。 十thập 大đại 弟đệ 子tử 。 五ngũ 百bách 開Khai 士Sĩ 。 三Tam 十Thập 三Tam 天Thiên 。 諸chư 大đại 龍long 王vương 。 善thiện 神thần 將tướng 軍quân 。 及cập 鬼quỷ 神thần 等đẳng 。 正chính 心tâm 一nhất 意ý 。 莫mạc 念niệm 東đông 西tây 。 南nam 北bắc 之chi 事sự 。 亦diệc 復phục 莫mạc 念niệm 。 家gia 室thất 之chi 事sự 。
觀quán 是thị 諸chư 佛Phật 。 菩Bồ 薩Tát 羅La 漢Hán 。 諸chư 天thiên 龍long 神thần 。 善thiện 鬼quỷ 神thần 等đẳng 。 觀quán 念niệm 是thị 已dĩ 。 呼hô 是thị 諸chư 鬼quỷ 神thần 。 為vì 人nhân 作tác 護hộ 。 喚hoán 其kỳ 名danh 字tự 。 即tức 攝nhiếp 毒độc 氣khí 。 還hoàn 其kỳ 所sở 止chỉ 。 不bất 能năng 為vi 害hại 。 即tức 便tiện 獲hoạch 得đắc 。 吉cát 祥tường 之chi 福phúc 。
佛Phật 告cáo 阿A 難Nan 。
若nhược 有hữu 善thiện 男nam 子tử 。 善thiện 女nữ 人nhân 等đẳng 。 須tu 習tập 誦tụng 是thị 。 摩Ma 尼Ni 羅La 亶Đản 。 灌quán 頂đỉnh 大đại 神thần 咒chú 時thời 。 有hữu 此thử 事sự 行hành 。 不bất 生sinh 誹phỉ 謗báng 。
何hà 者giả 是thị 耶da 。
願nguyện 聞văn 其kỳ 事sự 。 生sinh 信tín 誹phỉ 謗báng 。 唯duy 願nguyện 天Thiên 尊Tôn 。 說thuyết 是thị 諸chư 事sự 。
佛Phật 言ngôn 。
阿A 難Nan 。 有hữu 人nhân 聞văn 是thị 。 大đại 神thần 咒chú 經Kinh 。 不bất 生sinh 誹phỉ 謗báng 。 有hữu 四tứ 事sự 因nhân 緣duyên 。
一nhất 者giả 。 從tùng 過quá 去khứ 佛Phật 聞văn 。 二nhị 者giả 。 從tùng 善Thiện 知Tri 識Thức 受thọ 。 三tam 者giả 。 直trực 信tín 不bất 毀hủy 。 四tứ 者giả 。 作tác 菩Bồ 薩Tát 道Đạo 。 欲dục 度độ 群quần 生sinh 。
生sinh 誹phỉ 謗báng 者giả 。 又hựu 有hữu 四tứ 事sự 。
一nhất 者giả 。 不bất 從tùng 佛Phật 聞văn 。 二nhị 者giả 。 不bất 從tùng 師sư 受thọ 。 三tam 者giả 。 無vô 專chuyên 信tín 心tâm 。 四tứ 者giả 。 無vô 菩Bồ 薩Tát 意ý 。
以dĩ 是thị 因nhân 緣duyên 。 故cố 生sinh 誹phỉ 謗báng 。 有hữu 如như 是thị 人nhân 。 不bất 應ưng 授thọ 與dữ 。
佛Phật 語ngứ 阿A 難Nan 。
若nhược 人nhân 信tín 樂nhạo 。 有hữu 前tiền 四tứ 事sự 。 行hành 不bất 生sinh 誹phỉ 謗báng 。 汝nhữ 當đương 為vi 說thuyết 。 大đại 神thần 咒chú 經Kinh 。 傳truyền 度độ 與dữ 人nhân 。 若nhược 有hữu 四tứ 事sự 。 莫mạc 授thọ 與dữ 之chi 。 令linh 彼bỉ 前tiền 人nhân 。 獲hoạch 無vô 量lượng 罪tội 。
佛Phật 說thuyết 是thị 語ngữ 竟cánh 。 阿A 難Nan 唯dụy 諾nặc 。 受thọ 天Thiên 尊Tôn 教giáo 。
佛Phật 語ngứ 阿A 難Nan 。
我ngã 既ký 說thuyết 是thị 。 摩Ma 尼Ni 羅La 亶Đản 。 大đại 神thần 咒chú 經Kinh 。 甚thậm 深thâm 微vi 妙diệu 。 灌quán 頂đỉnh 章chương 句cú 。 十thập 二nhị 部bộ 典điển 。 不bất 可khả 妄vọng 授thọ 。 持trì 與dữ 人nhân 也dã 。
若nhược 有hữu 信tín 心tâm 。 欲dục 受thọ 之chi 者giả 。 師sư 當đương 一nhất 心tâm 。 如như 法pháp 度độ 與dữ 。 師sư 師sư 相tương 承thừa 。 受thọ 是thị 章chương 句cú 。 法pháp 應ưng 七thất 歲tuế 。 授thọ 與dữ 一nhất 人nhân 。 不bất 得đắc 輕khinh 慢mạn 。 深thâm 妙diệu 神thần 咒chú 。 諸chư 佛Phật 菩Bồ 薩Tát 。 羅La 漢Hán 真Chân 人Nhân 。 又hựu 為vi 諸chư 天thiên 。 善thiện 鬼quỷ 神thần 等đẳng 。 之chi 所sở 守thủ 護hộ 。 不bất 得đắc 輕khinh 度độ 。 授thọ 與dữ 人nhân 也dã 。 若nhược 有hữu 受thọ 者giả 。 當đương 如như 上thượng 法pháp 。 然nhiên 後hậu 乃nãi 授thọ 。 是thị 經Kinh 法Pháp 也dã 。
爾nhĩ 時thời 眾chúng 中trung 。 有hữu 一nhất 居cư 士sĩ 。 名danh 曰viết 善Thiện 可Khả 。 問vấn 阿A 難Nan 言ngôn 。
佛Phật 滅diệt 度độ 後hậu 。 出xuất 千thiên 歲tuế 時thời 。 若nhược 有hữu 善thiện 男nam 子tử 。 善thiện 女nữ 人nhân 等đẳng 。 疾tật 急cấp 苦khổ 惱não 。 欲dục 讀độc 誦tụng 是thị 。 大đại 神thần 咒chú 時thời 。 法pháp 則tắc 云vân 何hà 。
阿A 難Nan 言ngôn 。
善Thiện 可Khả 居Cư 士Sĩ 。 若nhược 人nhân 欲dục 讀độc 。 神thần 咒chú 經Kinh 者giả 。 香hương 花hoa 供cúng 養dường 。 十thập 方phương 諸chư 佛Phật 。 過quá 去khứ 七thất 佛Phật 。 菩Bồ 薩Tát 羅La 漢Hán 。 及cập 諸chư 天thiên 子tử 。 善thiện 鬼quỷ 神thần 輩bối 。 佛Phật 昔tích 教giáo 授thọ 。 得đắc 法Pháp 淨tịnh 眼nhãn 已dĩ 。 各các 自tự 作tác 誓thệ 。
於ư 未vị 來lai 世thế 。 千thiên 歲tuế 之chi 外ngoại 。 魔ma 道đạo 興hưng 盛thịnh 。 佛Phật 法Pháp 欲dục 滅diệt 。 山sơn 海hải 魅mị 鬼quỷ 人nhân 間gian 惡ác 魔ma 。 欲dục 吐thổ 惡ác 毒độc 。 害hại 四tứ 輩bối 時thời 。 我ngã 當đương 遊du 入nhập 。 聚tụ 落lạc 之chi 中trung 。 護hộ 僧tăng 伽già 藍lam 。 四tứ 輩bối 弟đệ 子tử 。
世Thế 尊Tôn 爾nhĩ 時thời 。 許hứa 可khả 讚tán 善thiện 。 善thiện 鬼quỷ 神thần 等đẳng 。 皆giai 悉tất 胡hồ 跪quỵ 。 作tác 是thị 誓thệ 願nguyện 。 佛Phật 即tức 可khả 之chi 。
鬼quỷ 神thần 又hựu 言ngôn 。
當đương 為vì 一nhất 切thiết 。 出xuất 家gia 之chi 人nhân 。 作tác 大đại 檀đàn 越việt 。 若nhược 有hữu 大đại 嚫sấn 我ngã 者giả 。 我ngã 即tức 施thí 僧Tăng 。 是thị 故cố 我ngã 護hộ 。 檀đàn 越việt 施thí 主chủ 。 唯duy 願nguyện 世Thế 尊Tôn 。 勅sắc 諸chư 弟đệ 子tử 。 法Pháp 食thực 之chi 時thời 。 施thí 餘dư 䴵 果quả 。
佛Phật 亦diệc 許hứa 可khả 。
阿A 難Nan 。 語ngứ 居cư 士sĩ 言ngôn 。
此thử 諸chư 善thiện 神thần 。 誓thệ 願nguyện 如như 此thử 。 常thường 護hộ 佛Phật 法Pháp 。 四tứ 輩bối 弟đệ 子tử 。 若nhược 有hữu 善thiện 男nam 子tử 。 善thiện 女nữ 人nhân 等đẳng 。 有hữu 疾tật 急cấp 之chi 日nhật 。 欲dục 行hành 讀độc 是thị 。 灌quán 頂đỉnh 章chương 句cú 。 大đại 神thần 咒chú 時thời 。 應ưng 當đương 如như 是thị 。 案án 上thượng 科khoa 法pháp 。 散tán 眾chúng 名danh 花hoa 。 燒thiêu 種chủng 種chủng 香hương 。 然nhiên 于vu 燈đăng 明minh 。 施thí 雜tạp 䴵 果quả 。 蘇tô 油du 石thạch 蜜mật 。 得đắc 飲ẩm 食thực 已dĩ 。 是thị 諸chư 善thiện 神thần 。 為vì 人nhân 作tác 護hộ 。 當đương 讀độc 誦tụng 是thị 。 摩Ma 尼Ni 羅La 亶Đản 。 大đại 神thần 咒chú 經Kinh 。 便tiện 逮đãi 獲hoạch 得đắc 。 吉cát 祥tường 果quả 報báo 。
佛Phật 說thuyết 經Kinh 竟cánh 。 比Bỉ 丘Khâu 。 比Bỉ 丘Khâu 尼Ni 。 優Ưu 婆Bà 塞Tắc 。 優Ưu 婆Bà 夷Di 。 諸chư 天thiên 龍long 善thiện 神thần 。 不bất 可khả 稱xưng 數số 。 阿A 難Nan 頭đầu 面diện 禮lễ 佛Phật 足túc 。 四tứ 輩bối 亦diệc 然nhiên 。 歡hoan 喜hỷ 無vô 量lượng 。 頂đỉnh 受thọ 奉phụng 行hành 。
灌Quán 頂Đỉnh 摩Ma 尼Ni 羅La 亶Đản 大Đại 神Thần 咒Chú 經Kinh 卷quyển 第đệ 八bát
https://daitangkinh.net/?f=T21n1331/12&m=awviet
-
Người phá giới lúc lâm chung muốn niệm Phật nhưng lại niệm không ra (Tế Công Hoạt Phật từ huấn)Khi nghiệp quả đã chín muồi, nghiệp báo hễ đã hiện ra trước mặt thì chẳng cách nào miễn khổ rồi, cũng giống như một người đã bị oan gia tóm được rồi thì không dễ dàng gì mà thoát lìa được. Trước khi chưa bị tóm được, con vẫn còn có thể trốn thoát, vậy nên các con hãy nhân lúc nghiệp chướng vẫn còn chưa hiển hiện trước mắt thì hãy thật tốt mà tinh tấn niệm Phật tiêu trừ nghiệp chướng, và cho dẫu nghiệp chướng hiển hiện trước mắt thì cũng phải tuỳ duyên tiêu nghiệp cũ, chớ có lại gây vạ mới, nhất tâm nhất ý cầu sanh thế giới Cực Lạc là việc quan trọng.Mọi người niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương là việc rất bình thường, thế nhưng cũng có những người lúc lâm chung nghiệp chướng hiển hiện ra trước mắt, chớ đâu phải trăm phần trăm thân thể chẳng có bệnh khổ. Có một Tỳ kheo nọ, bởi vì lúc xuất gia chẳng gặp được thiện tri thức, thụ giới rồi lại quay về ngôi miếu xuất gia mà mọi hành động đều y như người thế tục, đều đã phạm vào rất nhiều giới. Cậu ta biết đã phạm giới quá nhiều, nghiệp chướng quá nặng, cứ như thế thì không ổn. Thế nhưng bởi vì thân thể sớm đã yếu kém suy nhược, chẳng cách nào ứng phó với sinh hoạt ăn ở của đại chúng, ở chung với mọi người rất miễn cưỡng. Niệm Phật tuy tinh tấn, biết rằng phải sám hối, thế nhưng đã tạo nghiệp quá nặng rồi, lúc lâm chung nghiệp chướng hiển hiện trước mắt, muốn niệm Phật nhưng chẳng cách nào niệm, mọi người bèn trợ niệm cho cậu ta, thế nhưng cậu ta lại cứ gào lên bảo rằng không thể niệm không thể niệm, hễ trợ niệm thì đầu của cậu ta lại đau, con xem nghiệp chướng đến mức độ như thế ! Đấy là tình hình nghiệp quả hiển hiện trước mắt, quá ư là đáng sợ !
https://dokumen.pub/dia-mau-chon-kin...c-2248905.html
-
南無西方極樂世界 . 三十六萬億 . 一十一萬 . 九千五百. 同名同號 . 大慈大悲 . 接
引導師阿彌陀佛.
Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới. Tam Thập Lục Vạn Ức. Nhất Thập Nhất Vạn. Cửu
Thiên Ngũ Bách Đồng Danh Đồng Hiệu. Đại Từ Đại Bi. Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
南無西方極樂世界 . 三十六萬億 . 一十一萬 .九千五百 . 同名同號 . 大慈大悲阿彌陀佛.
Nam-mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới. Tam Thập Lục Vạn Ức. Nhất Thập Nhất Vạn. Cửu
Thiên Ngũ Bách. Đồng Danh Đồng Hiệu. Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.
http://66.254.41.11/HieuGiang/Data/P..._BuiDucHue.pdf
-
收 經 揭:
Thu Kinh kệ.
Bài kệ thu Kinh.
三 涂 永 急 常 離 苦 . 六 趣 休 隨 汨 沒 因 . 河 沙 含 識 悟 真 如 . 萬 類 有 情 豋 彼 岸 .
Tam-Đồ vĩnh tức thường ly Khổ. Lục Thú hưu tuỳ Mịch một nhân. Hà sa hàm thức ngộ Chân
Như. Vạn loại Hữu-Tình đăng bỉ Ngạn
Ba Đường Ác dứt thường hết Khổ. Sáu Đạo ngơi nghỉ hết nổi chìm. Hà sa các Thức hiểu ‘Chân
Như’. Vạn loại Hữu tình đều thành Phật.
南 無 阿 彌 陀 佛.
Nam-mô A Di Đà Phật.
http://66.254.41.11/HieuGiang/Data/P..._BuiDucHue.pdf