-
-
藥 師 灌 頂 真 言 :
Yao Shi Kuan Tin Cen Yen :
(Mantra abhiseka Bhaisajya Guru)
南 謨 薄 伽 伐 帝 . 鞞 殺 社 窶 魯 . 薛 琉 璃 .
Na Mo Bo Cia Wa Ti . Pi Sa Shi Ci Lu . Pi Liu Li .
砵 喇 婆 . 喝 囉 闍 也 . 怛 他 揭 多 耶 . 阿 囉 喝 帝 .
Bo La Bo . He La Cie Ye . Ta Da Ye Tuo Ye . A La He Ti .
三 藐 三 勃 陀 耶 . 怛 姪 他 . 唵 . 鞞 殺 逝 .
San Miao San Bu Tuo Ye . Ta Zhi Ta . Om . Pi Sa Shi .
鞞 殺 逝 . 鞞 殺 社 . 三 沒 揭 諦 . 娑 訶 .
Pi Sa Shi . Pi Sa Se . San Mo Cie Ti . So Ha .
解 冤 咒 :
Cie Yen Cou :
(Melepaskan simpul musuh)
解 結 解 結 解 冤 結 . 解 了 多 生 冤 和 業 .
Cie Cie Cie Cie Cie Yen Cie . Cie Liao Tuo Sen Yen He Ye .
(Melepaskan simpul, melepaskan simpul, melepaskan simpul musuh. Melepaskan musuh dan karma beberapa kali masa hidup.)
洗 心 滌 慮 發 虔 誠 . 今 對 佛 前 求 解 結 .
Si Sin Ti Lu Fa Jien Jen . Cin Tui Fo Jien Jiu Cie Cie .
(Membersihkan hati mencuci kegelisahan mengembangkan ketulusan. Kini di depan Buddha memohon melepaskan simpul.)
藥 師 佛 . 藥 師 佛 消 災 延 壽 藥 師 佛 .
Yao Shi Fo . Yao Shi Fo Siao Cai Yen Sou Yao Shi Fo .
(Bhaisajya Guru, Bhaisajya Guru pelepas malapetaka memperpanjang umur Bhaisajya Guru.)
隨 心 滿 願 藥 師 佛 .
Sui Sin Man Yen Yao Shi Fo .
(Sesuai dengan hati memenuhi permintaan Bhaisajya Guru.)
消 解 病 咒 :
Siao Cie Pin Cou :
(Mantra Menghilangkan Penyakit)
唵 室 哩 哆 . 室 哩 哆 軍 . 吒 唎 . 莎 婆 訶 .
Om Si Li Tuo . Si Li Tuo Cin . Ca Li . Sa Bo He .
BHAISAJYAGURU TATHAGATASATYAKRIYA
Sumber: Bhaisajyaguru-vaidurya-prabhasa-tathagata-purva-pranidhana Sutra
BHAIṢAJYA-GURU VAIḌŪRYA PRABHASA TATHĀGATĀ ABHISECANI DHĀRAṆĪ
(The Medicine Master Lapis Lazuli Radiant Tathagata Consecration True Words)
[藥師灌頂真言: YAO SHI GUAN DING ZHEN YAN]
Bhaisajya Guru Vaidurya Prabha Raja Abhisecani Dharani
Namo Bhagavate Bhaisajya Guru Vaidurya Prabharajaya Tathagataya Arhate SamyakSamBuddhaya tadyatha Om Bhaisajye Bhaisajye Bhaisajya Samudgate Svaha.
Bhaiṣajyaguruvaidūryaprabharājasūtram
Namo Bhagavate bhaiṣajyaguru
Vaiḍūryaprabharājāya Tathāgatāya
Arhate Samyaksambuddhāya Tadyathā:
Oṃ Bhaiṣajye Bhaiṣajye Mahābhaiṣajya-Samudgate Svāhā.
NAMO BHAGAVATE BHAISAJYAGURU VAIDURYAPRABHARAJAYA TATHAGATAYA ARHATE SAMYAKSAMBUDDHAYA. TADYATHA: OM BHAISAJYE BHAISAJYE BHAISAJYA SAMUDGATE. SVAHA.
(Dharani ini bermanfaat untuk memusnahkan segala malapetaka, penyakit parah, serta memperpanjang usia kehidupan umat yang membacanya dengan hati tulus. Sumber : Bhaisajyaguru – vaidurya –
prabhasa – tathagata – purva – pranidhana Sutra).
汉字及汉语拼音注音
Paritta Maha Dharani dari Bhaisajya Guru Buddha
藥 師 灌 頂 真 言 :
YAO SHI KUAN TIN CEN YEN :
( Mantra Abhiseka Bhaisajya Guru )
nā mó bó qié fá dì。pí shā shè。jù lǔ bì liú lí。
南谟薄伽伐帝。鞞杀社。窭噜薛琉璃
bō lá pó。hé là shé yě。dá tuō jiē duō yě。
钵喇婆。喝啰阇也。怛他揭多也。
ā là hē dì。sān miǎo sān bó tuó yě。dá zhí tuō。
阿啰喝帝。三藐三勃陀耶。怛侄他。
ān。pí shā shì。pí shā shì。pí shā shè。sān mó jiē dì suō hē。
唵。鞞杀逝。鞞杀逝。鞞杀社。三没 帝莎诃。
南 謨 薄 伽 伐 帝 . 鞞 殺 社 . 窶 嚕 薜 琉 璃 .
NA MO BO CIA WA TI . PI SA SHI . CI LU PI LIU LI .
缽 喇 婆 . 喝 囉 闍 也 . 怛 他 揭 多 耶 . 阿 囉 喝 帝 .
PO LA BO . HE LA CE YE . TA DA YE TUO YE . A LA HE TI .
三 藐 三 勃 陀 耶 . 怛 姪 他 . 唵 . 鞞 殺 逝 .
SAN MIAO SAN BU DUO YE . TA ZHI TA . OM . PI SA SHI .
鞞 殺 逝 . 鞞 殺 社 . 三 沒 揭 帝 娑 訶 .
PI SA SHI . PI SA SE . SAN MO CIE TI SO HA .
6. 药师灌顶真言 (YAU SE KUAN TING CENG YEN)
南谟薄伽伐帝。鞞杀社。窭噜薛琉璃 钵喇婆。喝啰阇也。怛他揭多也。阿 喝帝。三藐三勃陀耶。怛侄他。唵。 鞞杀逝。鞞杀逝。鞞杀社。三没揭帝 诃。
NA MO PO CHIE FA TI 。 PHI SA SE 。 CI LU PI LIU LI 。 PO LA PHO 。 HE LA SE YE 。 TA THA CIE TUO YE 。 O LA HE TI 。 SAN MIAU SAN PO THUO YE 。 TA CE THA 。 OM 。 PHI SA SE 。 PHI SA SE 。 PHI SA SE 。 SAN MO CIE TI SA HO 。
https://forsharingknowledge.blogspot...uddha.html?m=1
http://mantrapahalabuddhapengobatan.....com/2013/?m=1
http://88buddha.blogspot.com/2012/06...-guru.html?m=1
https://agama.forumakers.com/t114-bh...hayana-suttram
https://www.dharmawheel.net/viewtopic.php?t=235
http://www.buddhamountain.ca/Ten_Small_Mantras.php
http://koleksikoin.blogspot.com/2011...endek.html?m=1
https://thebuddhistmantra.blogspot.c...-dasa.html?m=1
-
. Ratna-Candana-Kusuma Bodhisattva: Bảo-Đàn-Hoa Bồ Tát
. Apavarga Bodhisattva: Cứu-Thoát Bồ Tát
. Suryaprabhasana: Nhật-Quang Biến-Chiếu Bồ Tát
. Candraprabhasana: Nguyệt-Quang Biến-Chiếu Bồ Tát
. Jenderal Sandilam: San-Để-La Đại Tướng
https://books.google.com.vn/books?id...ottama&f=false
http://88buddha.blogspot.com/2012/06...-guru.html?m=1
-
KINH DƯỢC SƯ
( Bằng PHẠN-VĂN )
http://homepage.ntu.edu.tw › ...PDF
梵 《藥師經》研讀
藥師灌頂真言(bhaiṣajya-guru-dhāraṇī):. 1 namo bhagavate bhaiṣajya-guru-vaiḍūrya-prabha-rājāya tathāgatāya arhate samyak- saṃbuddhāya. tad-yathā
-
* CHÚ CÚNG DƯỜNG NƯỚC CHO CHƯ PHẬT, CHƯ BỒ TÁT, CHƯ THÁNH TĂNG:
OM AMRTE HUM PHAT ( 3 lần )
https://online.pubhtml5.com/wvhg/kpqz/#p=11
https://pubhtml5.com/wvhg/kpqz/basic
-
" 光世音"( Abhalokasvara )
* abhalokasvara (“the sound of the world of light”)
* Kuang-shih-yin (“Abhalokasvara,” Sound-Illuminator of the World).
QUANG Thế Âm ( 光世音 / Abhalokasvara )
BỒ TÁT QUÁN ÂM
Vị Bồ Tát Chuyên Cứu Khổ Cứu Nạn
Một trong những bộ kinh quan trọng tuyên xưng vai trò của Bồ Tát Quán Âm là kinh Pháp Hoa. Bộ kinh này đã được dịch sang Hán văn cả thảy sáu lần trong đó ba dịch bản vẫn còn tồn tại đến bây giờ. Năm 1992 nhà học giả Nhật Bản Karashima Seishi đã đem đối chiếu những bản dịch Hán Văn này với nguyên bản Phạn ngữ và những bản dịch Tạng văn. Bản dịch đầu tiên là của ngài Đàm Ma La Sát, người xứ Nhục Chi, vào năm 286 mang tựa đề là Chánh Pháp Hoa Kinh. Phẩm thứ 23 của bộ kinh này có tên là Phổ Môn dành riêng để nói về Bồ Tát Avalokitesvara, dưới danh hiệu là Quang Thế Âm (Abhalokasvara). Đây là vị Bồ Tát chuyên cứu khổ ban vui, có năng lực cứu vớt con người ra khỏi bảy khổ nạn, giải phóng họ ra khỏi tam độc tham, sân, si cũng như giúp những người sinh đẻ hiếm muộn được toại nguyện khi muốn cầu xin con trai hay con gái.
Cảnh giới của Quang Thế Âm là vô cùng vô tận vì ở đó có đầy đủ năng lực siêu phàm của Bồ Tát. Bởi Ngài tràn đầy ánh sáng (quang), do nhân duyên đó mà có tên gọi là Quang Thế Âm.
Bản dịch Pháp Hoa đầu tiên này đã cho thấy một điều rất rõ rằng nghe và niệm đến danh hiệu của Bồ Tát là lý do chính để những người tin vào Ngài sẽ được cứu độ và vì Bồ Tát có liên hệ rất mật thiết với ánh sáng, thế nên Ngài đã được gọi là “Quang Thế Âm”. John Holt trong “Buddha in the Crown” đã đưa ra nhận xét rằng, một trong những nét đặc trưng nổi bật trong các kinh điển nói về Bồ Tát Avalokitesvara là biểu tượng ánh sáng. Mối quan hệ giữa Bồ Tát và “âm thanh” đã không được đề cập đến. Honda Yoshihide đã đưa ra một luận cứ khả tín rằng danh hiệu Quang Thế Âm có ý nghĩa tương tự như “Tiên Âm Sanh”. Ðây là danh hiệu của một vị Bồ Tát tương ứng với Bồ Tát Avalokitesvara trong Phóng Quang Bát Nhã kinh do nhà sư xứ Vu Ðiền, Vô La Xoa (Moksala), dịch vào năm 291, năm năm sau bộ Chánh Pháp Hoa kinh. Trong cả hai bộ kinh đều có đề cập đến việc Bồ Tát phóng quang hoặc giải thoát thế gian thông qua ngôn ngữ hoặc âm thanh vi diệu. Âm thanh mang năng lực giải thoát là một phẩm chất đặc biệt của Bồ Tát không phải là loại “âm thanh” thông thường thốt ra bởi những than thở khổ đau của nhân thế.
Sau đây là đoạn kinh văn liên hệ đến danh hiệu Bồ Tát:
Phật bảo ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát: " Nếu có chúng sanh đối diện với vô lượng trăm nghìn muôn ức các khổ não, hoạn nạn, nghe đến danh hiệu Quang-Thế-Âm Bồ-Tát tức thì liền được giải thoát, xa rời mọi khổ nạn. Do nhân duyên đó mà gọi là Quang-Thế-Âm.
Nếu có người nhớ tưởng đến danh hiệu Quang-Thế-Âm Bồ-Tát này, dầu rớt vào trong biển lửa lớn, phủ trùm hết thảy đồi núi ruộng đồng, đốt cháy hết rừng bụi, nhà cửa, ngọn lửa kia sẽ chẳng cháy được khi y nghe đến danh hiệu Bồ-Tát Quang Thế Âm.
Nếu có người đi vào sông lớn, đang kinh hoàng trước giòng cuồng lưu chảy xiết, khi niệm đến danh hiệu Quang Thế Âm này và nhất tâm tìm về nương tựa vào Bồ Tát, năng lực siêu phàm của Ngài liền cứu giúp cho khỏi chìm đắm và đưa đến nơi chốn an toàn.
Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm san-hô, hổ-phách, trân châu các thứ báu… vào trong biển lớn, giả sử gió lớn thổi ghe thuyền của kia sắp bị nhận chìm bởi quỉ La-sát, trong ấy nếu có nhẫn đến một người thầm nghĩ đến năng lực của Bồ Tát và xưng danh hiệu của Ngài, thì các người đó đều được thoát nạn. (Ðoạn tiếp theo mô tả năng lực của Bồ Tát cứu độ con người ra khỏi các ác nạn: Gió bảo, khí giới, quỷ mị, tù đày, và đạo tặc, tất cả đều do niệm đến danh hiệu của Bồ Tát).
http://lecongda.20fr.com/main.htm
http://lecongda.20fr.com/BoTatQuanTheAm2.htm
-
ĐI VÀO BẢN NGUYỆN DƯỢC SƯ
Chùa A Di Đà | 1/11/2016 | 0 Bình luận
Trong Phật giáo nói chung, và Phật giáo ở Tây Tạng nói riêng, việc hành trì phương pháp phát triển theo đức Phật Dược Sư, đấng chúa tể chữa lành mọi vết thương, không chỉ là một phương pháp rất mạnh mẽ để chữa lành bệnh tật
1/Phẩm cách Dược sư
Thế gian luôn bị nhận chìm trong sự nguy hiểm, con người luôn bị phủ vây bởi những căn bệnh trầm kha, thấp hèn và đê tiện của cuộc đời, cho nên hình ảnh một vị Phật lý tưởng, một phẩm tính phổ quát có năng lực chữa lành những căn bệnh hiểm nghèo, vớt thế gian ra khỏi lầy sinh tử, cần được xuất hiện “vì thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho phần đông, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và nhân loại”. Đó là phẩm cách Dược Sư, lý tưởng chữa lành nỗi khổ niềm đau cho nhân loại.
Dược Sư, là danh hiệu đọc theo tiếng Hán, nguyên ngữ Sanskrit gọi là Bhaiṣajya-guru-vaiḍūrya-prabhā-rāja, hay ngắn gọn hơn: Bhaiṣajyaguru, chúng ta có thể tìm hiểu về ngữ học của danh hiệu này như sau:
Từ Bhaiṣajyai: có nghĩa là thuốc chữa bệnh, có năng lực trị bệnh; khi dùng như động từ có nghĩa chữa bệnh, hay chữa lành vết thương, v.v.. tiếng Anh dịch là curativeness, healing efficacy; Guru: đạo sư, bậc Thầy, vị hướng dẫn;vaiḍūrya: tên một loại ngọc quý, Hán dịch là lưu ly để chỉ cho thể tính trong suốt, không váy bẩn của loại ngọc này;prabhā: do thành lập từ động từ căn pra-√bhā: chiếu rọi, soi sáng, rực rỡ… Cho nên prabhā: tinh diệu, sáng tỏ, huy hoàng, ánh sáng chói lọi, v.v.. Anh dịch là light, splendour, radiance; Và rāja: có nghiã vua, chúa tể, thủ lãnh, quốc vương, Anh dịch là Kings. Vậy thì, Bhaiṣajya-guru-vaiḍūrya-prabhā-rāja có nghĩa là ‘Vị vua của các thầy thuốc và phẩm tính tinh diệu như ngọc lưu ly’ hay khác hơn “Vị thầy có năng lực chữa lành vết thương và chứng nghiệm thể tính sáng trong như ngọc lưu ly’, Hán dịch là ‘Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai’, Anh dịch là ‘King of Medicine Master and Lapis Lazuli Light’.
Hình ảnh của đức Phật Dược Sư thường được thể hiện dưới hình thức một vị Phật như kinh điển mô tả: tay cầm một lọ nhỏ chứa thuốc cam lồ, và trong một số truyền bản, ngài còn được nói là có làn da màu xanh. Mặc dù ngài cũng được xem là một vị thượng thủ của phương Đông, nhưng trong hầu hết các kinh điển đức Phật Akshobhya (A-súc-bệ) mới là người giữ vị trí thượng thủ đó. Cho nên, ở đây điều này thuộc vào trường hợp đặc biệt cần nên lưu ý.
2/ Văn bản kinh Dược Sư
Danh hiệu Sanskrit này, hiện nay vẫn còn đọc được ở trong nguyên bản Sanskrit của kinh Dược Sư, nhan đề là:Bhaiṣajyaguruvaidūryaprabharājasūtram, được lưu giữ trong Buddhist Sanskrit Texts No. 17, Mahāyāna-sūtra-saṁgrahaḥ (part 1)[1]; bản Sanskrit này cũng được tìm thấy ở trong Gilgit Manuscript do Dutta và Nalinaksa biên tập[2].
Bản Sanskrit thứ 2 của kinh Dược Sư, nhan đề là Bhaiṣajyagrurvaiḍūryaprabhātathāgata-sūtra, trong bản này pha tạp nhiều thổ ngữ sogdian, thường được gọi là tiếng Xôcđiana, được sử dụng bởi người Iran, và một bận phận người Xôcđiana ở Trung á; bản này do Benveniste biên tập, xuất bản lần đầu năm 1940[3], có tham khảo tư liệu của David A. Utz[4].
Bản dịch tương đương bằng tiếng Tây Tạng của kinh Dược sư, tựa đề là: འཕགས་པ་བཅོམ་ལྡན་ དས་སྨན་གྱི་བླ་བེ ་ཌཱུརྱའི་འོད་ཀྱི ་སྔོན་གྱི་སྨོན་ལ ་གྱི་ཁྱད་པར་རྒྱས པ་ཞེས་བྱ་བ་ཐེག་པ ་ཆེན་པོའི་མདོ Ḥphags-pa bcom-ldan-ḥdas sman-gyi bla-bai-ḍūryaḥi ḥod-kyi sṅon-gyi smon-lam-gyi khyad-par rgyas-pa shes-bya-ba theg-pa chen-poḥi mdo: Thánh Bạc-già-phạm Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Sai Biệt Quảng Đại Đại Thừa Kinh (聖薄伽梵藥師毗琉璃光本願差別 大大乘經), được lưu trữ trong Đại Tạng Kinh Tây Tạng, thông trật đệ 87Da, No.504, trang 274a1-283b7[5]. Được dịch bởi dịch sư Tây Tạng: Ye-śes sde và các dịch sư Ấn độ: Jinamitra, Dānasīla, và Śīlendrabodhi. Căn cứ theo đề kinh trong bản dịch Tây Tạng, có thể khôi phục đề kinh Sanskrit như sau: ‘Ārya-bhagavato bhaiṣajyaguruvaiḍūryaprabhasya pūrvapraṇidhānaviśeṣavistāra-nāma-mahāyānasūtra’.
Hán văn của Kinh Dược Sư, hiện còn bảo tồn trong Taishō Tripiṭaka (Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh), hiện có bốn bản dịch:
- Taisho14, số hiệu 449: Phật thuyết Dược Sư Như Lai Bổn Nguyện kinh 佛說藥師如來本願經, đời Tuỳ, ngài Dharmagupta (Đạt-ma Cấp-đa) dịch năm 615 Tây lịch[6].
-Taisho 14, số hiệu 450: Phật thuyết Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức kinh藥師琉璃光如來本願功德經, Đại Đường, Huyền Trang dịch năm 650 Tây lịch[7].
- Taisho 14, số hiệu 451: Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức kinh 藥師琉璃光七佛本願功德經, 2 quyển, Đại Đường, Nghĩa Tịnh dịch vào năm 707, tại nội tự Phật Quang[8].
-Taisho 21, số hiệu 1331: Phật thuyết Quán Đảnh Bạt Trừ Quá Tội Sanh Tử Đắc Độ Kinh quyển đệ thập nhị 佛說灌頂拔除過罪 生死得度經卷第十 二 , Đông Tấn, Thiên Trúc Tam Tạng Bạch-thi-lê-mật-đa-la dịch, tức quyển thứ 12 củaPhật thuyết Quán Đảnh kinh 佛說灌頂經.[9]
Kinh Dược Sư, cũng được dịch qua tiếng Anh và tiếng Pháp. Có thể thấy các bản dịch tiếng Anh như sau:
- Liebenthal, Walter dịch từ bản Hán của Huyền Trang (T14n0450), tựa đề: The Sutra of the Lord of Healing(Bhaishajyaguru Vaiduryaprabha Tathagata): Kinh Chúa tể chữa lành vết thương[10].
- Sen, S. dịch tựa đề: Two medical texts in Chinese translations, Hai văn bản Dược Sư Trong các bản dịch Trung Quốc[11].
- Birnbaum, Raoul, nhan đề: The Lapis Lazuli Radiance Buddha, Master of Healing: A Study in Iconography and Meaning, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Phật, Vị Thầy Chữa Bệnh: Một nghiên cứu mô tả bằng tranh vẽ và ý nghĩa. Luận án Ph.D. (tiến sĩ) của Columbia University (New York), 1976. Trong luận án đó dịch đầy đủ các bản T14n0450, T14n0451, T20n1161 và Tự phần của T14n0449 sau đó được xuất bản với tựa đề Birnbaum, Raoul:The Healing Buddha, Shambala, 1979. (Luận văn này cũng được dịch sang tiếng Đức: Birnbaum, Raoul: Der heilende Buddha - Heilung und Selbstheilung im Buddhismus. Bern/München/Wien: Otto Wilhelm Barth, 1982.)
- Hsing Yun, tựa đề: The Sutra of the Medicine Buddha with an Introduction, Comments and Prayers, Kinh đức Phật Dược Sư, giới thiệu, chú giải và cầu nguyện[12].
- Bản dịch tiếp theo được hiệu đính bởi Shen Shou-Liang, dịch bởi các vị: Chow Su-Chia, v.v.. tựa đề: The Sutra of the Master of Healing.
-Bản dịch được chú ý hơn hết, vì dịch từ nguyên bản Sanskrit, là bản dịch của Dutt, Nalinaksha (ed.), tồn trữ trongGilgit Manuscripts. Vol. I.[13]
Ngoài ra hiện tìm thấy một bản dịch tiếng Pháp có thể là duy nhất và sớm nhất của Kinh Dược Sư, tựa đề: Le Bhaiṣajyaguru, dịch bởi Pelliot, Paul[14].
3/ Bản nguyện Dược Sư
a/Xuất xứ đại nguyện
Phật Dược Sư được giới thiệu và mô tả trong kinh Bhaiṣajyagrurvaiḍūryaprabhātathāgata, mà chúng ta có thể đọc được nguyên bản Sanskrit hiện còn đầy đủ, hay đọc qua bản Hán dịch của Huyền Trang, thường được gọi là KinhDược Sư. Khi ngài còn là một vị Bồ-tát, đã phát lập 12 đại nguyện.
Khi ngài chứng nghiệm sự cao tuyệt của giác ngộ viên mãn, ngài đã trở thành đức Phật thượng thủ của tịnh độ đông phương, với thể tính “Vaiḍūryanirbhāsa”: “Sáng trong không váy bẩn như ngọc lưu ly”[15]. Tại quốc độ đó, ngài có hai vị Bồ-tát ‘chỉ còn bị trói buộc bởi một lần tái sinh’ (Nhất sinh sở hệ= Nhất sinh bổ xứ), tượng trưng cho ánh sáng của mặt trời và ánh sáng của mặt trăng:
Một là, Bồ-tát Suryaprabha: Sự soi chiếu cùng khắp như ánh sáng của mặt trời, Hán dịch là Nhật Quang Biến Chiếu.
Hai là, Bồ-tát Candraprabha: Sự soi chiếu cùng khắp như ánh sáng của mặt trăng, Hán dịch là Nguyệt Quang Biến Chiếu.
Thủ bản Sanskrit của kinh Bhaiṣajyagrurvaiḍūryaprabhātathāgata đã được phát hiện, là một trong những văn bản chứng thực sự phổ biến của tín ngưỡng Phật Dược Sư tại vùng tây bắc Ấn Độ, mà xưa kia là Gandhāra[16]. Thủ bản này, được xác định niên đại hình thành vào khoảng trước thế kỷ thứ VII Tây lịch, và được viết trên các trụ đá Gupta[17].
Huyền Trang, một nhà hành giả và chiêm bái “vô tiền khoáng hậu” của Phật giáo Trung Quốc, đã đến thăm một tu viện thuộc hệ phái Mahāsāṃghika (Đại chúng bộ) tại Bamiyan, Afghanistan, vào khoảng thế kỷ thứ 7, hiện nay vị trí chính xác của tu viện này đã được phát hiển bởi nhà khảo cổ học[18]. Nhiều thủ bản kinh điển Đại thừa được viết trên các đoạn phiến trên vỏ cây bu-lô (Birchbark) đã được phát hiện tại khu vực này, bao gồm cả thủ bản Sanskrit của kinhDược Sư: Bhaiṣajyagrurvaiḍūryaprabhātathāgata-sūtra (MS 2385)[19].
b/Toát yếu 12 lời nguyện theo bản Sanskrit
1.Chiếu sáng vô số quốc độ với sự rạng ngời của ngài, và nhiếp hộ cho bất cứ ai muốn trở thành một vị Phật giống như ngài.
2. Đánh thức tâm trí của chúng sinh thông qua ánh sáng như ngọc lưu ly của ngài.
3. Cung cấp cho chúng sanh bất cứ phẩm vật gì mà họ cần phải có.
4. Chỉ rõ và chuyển hoá những quan điểm sai lầm, hay nhận thức chủ quan và khơi nguồn cảm hứng cho chúng sinh về chí hướng khởi hành trên con đường Bồ-tát.
5. Hướng dẫn dìu dắt chúng sinh làm theo các điều khoản phẩm cách đạo đức, thậm chí nếu họ đã huỷ phạm trước đó.
6. Chữa lành cho những chúng sinh đã sinh ra mà bị dị tật, bệnh hoạn, hoặc những khổ đau khác về thể xác.
7. Xoa dịu, an ủi vỗ về những người khốn khổ, những người bị bệnh tật phủ vây.
8. Giúp đỡ những người phụ nữ có ước muốn được chuyển sinh làm đàn ông, để họ đạt được sự chuyển sinh như mong muốn.
9. Chữa lành những phiền não nhiễm ô, các ảo tưởng, hay những ‘tri giác bị lộn ngược’.
10. Giúp đỡ những người bị áp bức được tự do, thoát khỏi đau khổ.
11. Làm giảm thiểu những người bị nạn đói khủng khiếp và những cơn khát cháy bỏng.
12. Hỗ trợ y phục cho những người nghèo hèn túng khổ, bị lạnh buốt và muỗi mòng cắn đốt.
c/ Dharani và Mantra
Trong kinh Bhaiṣajyagrurvaiḍūryaprabhātathāgata, đức Phật Dược Sư, được mô tả là thể nghiệm vào trạng thái thiền định gọi là "loại trừ tất cả những đau khổ và phiền não của chúng sinh." Từ trạng thái thiền định này, ngài công bố dharani:
Nguyên văn Sanskrit:
“namo bhagavate bhaiṣajyaguru vaiḍūryaprabharājāya
tathāgatāya arahate samyaksambuddhāya tadyathā:
oṃ bhaiṣajye bhaiṣajye bhaiṣajya-samudgate svāhā”[20].
Dịch:
“Kính lễ Đức Thế Tôn DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG Như Lai, bậc A-la-hán, bậc trực tiếp giác ngộ viên mãn đích thực - Như vậy liền nói chú rằng:
Xin Ngài hãy ban cho con thuốc phòng ngừa bệnh tật, thuốc chữa lành vết thương, thuốc diệt trừ mọi thương tật, và thuốc để cho con mau chóng phát sinh được đạo quả Bồ-đề cao tuyệt.”
Dòng cuối cùng của Dharani này: “oṃ bhaiṣajye bhaiṣajye bhaiṣajya-samudgate svāhā”, mới đích thực là thần chú của đức Phật Dược Sư, còn lại các câu ở trên chỉ là phần xưng tán đức Dược Sư chứ không phải thần chú.
Ngoài ra, còn có một số thần chú khác thuộc về đức Phật Dược Sư được sử dụng trong các hệ phái Mật tông và Phật giáo Kim Cương thừa.
d/ Bản nguyện biểu hiện qua hình tượng
Phật Dược Sư thường được miêu tả trong tư thế ngồi kiết già, khoát ba y của tu sĩ Phật giáo, tay trái cầm một bình lưu ly chứa thuốc cam lồ (bất tử) và bàn tay phải đặt trên đầu gối phải; hoặc có khi tay giữ cuống quả Aruna hoặc Myrobalan giữa ngón tay cái và ngón trỏ.
Trong kinh, ngài cũng được miêu tả có ánh sáng chiếu soi giống như ánh sáng của ngọc lưu ly. Trong miêu tả theo truyền thống Trung Quốc, ngài có một ngôi tháp, tượng trưng cho mười ngàn vị Phật của ba thời kỳ.
Hình tượng của ngài cũng được khắc trên đá, cùng với hai vị Bồ-tát Suryaprabha và Candraprabha, và có khắc thêm bảy vị Phật Dược Sư khác ở bên trong vòng hào quang của ngài. Bức tranh khắc trên đá này, có niên đại được xác định vào thời Bắc Ngụy, khoảng năm 500 Tây lịch, hiện bia đá đặt tại Bảo tàng nghệ thuật Metropolitan.
4. Tiểu kết
Trong Phật giáo nói chung, và Phật giáo ở Tây Tạng nói riêng, việc hành trì phương pháp phát triển theo đức Phật Dược Sư, đấng chúa tể chữa lành mọi vết thương, không chỉ là một phương pháp rất mạnh mẽ để chữa lành bệnh tật và tăng cường phòng bệnh cho cả bản thân và những người khác, mà còn điều phục những căn bệnh trầm kha, trong sự trói buộc của phiền não, hận thù, sự thấp kém, sự đê tiện và thiếu hiểu biết. Do đó, sự chiêm nghiệm và hành trì theo đức Phật Dược Sư có thể giúp giảm thiểu bệnh tật về thể xác và khổ đau về tinh thần.
Câu thần chú đức Phật Dược Sư, có mãnh lực là vô cùng cho việc chữa lành bệnh thể chất và nhổ sạch các tập nghiệp xấu ác. Một hình thức thực hành theo đức Phật Dược Sư được thực hiện khi bị những bệnh tật phủ vây, đó là bệnh nhân trì tụng chú này 108 lần vào một ly nước tinh sạch. Ngữ âm của thần chú sẽ là công cụ hướng dẫn chúng ta vượt qua những giai đoạn hiểm nghèo của cuộc đời, là phương thuốc chữa lành mọi bệnh tật, ta có thể xem nó như thần chú thật với đầy phép lạ cũng được, hoặc coi nó không phải thần chú, cũng không có phép lạ gì hết cũng chẳng sao, quan trọng là tụng đọc nó bằng tất cả tâm tư, đọc như nước chảy mây trôi, để rồi mọi sự sẽ vận hành một cách đều đặn, mọi sự trôi đi một cách an toàn, như cây trôi giữa dòng không bị dính mắc đúng như cái lẽ huyền vi của sự sống: “Gate, gate…..”.
Đồi Tiêu Dao, Am Tâm Không,
PL.2560. Chiều gió lộng, 30.9. Nhâm Thân.
Ngày vía đức Dược Sư, vị chữa lành vết thương cho nhân loại.
Phước Nguyên
[1] Vaidya, Dr. P.L ed., Darbhanga: The Mithila Institute, 1961;
[2] Dutta, Nalinaksa ed., Gilgit Manuscript, Vol I. Delhi : Sri Satguru Publication, 1984, 1-32.
[3] Benveniste, Texts sogdiens, Mission Pelliot en Asie centrale: Série in-Quarto, 3. Paris, 1940, 82-92
[4] David A. Utz, A Survey of Buddhist Sogdian Studies (Bibliographia Philologica Buddhica Series Minor III), Tokyo: The reiyukai Library 1980.
[5] Cf. Trong các bộ ĐTK.TT., Peking: Rgyud (da)255b- 263a; Nại-đường bản: Rgyud (tha)470a- 484a; Dege bản:Rgyud- ḥbum (da) 274a-283b; Lasa bản:Rgyud (ta)419a- 433b; Trác-ni bản:Rgyad (da)304a- 315b
[6] T14n0449, tr. 401b04: 佛說藥師如來本願經隋天竺三藏達摩 多譯.
[7] T14n0450, tr. 0404c15: 藥師琉璃光如來本願功德經 大唐、三藏法師玄奘奉 詔譯.
[8] T14n0451, tr. 0409a08: 藥師琉璃光七佛本願功德經, 大唐三藏沙門義淨於佛光內寺譯.
[9] T21n1331_012, tr. 0532b11: 佛說灌頂經 第12卷, 佛說灌頂拔除過罪生死得度經卷第十 , 東晉天竺三藏帛尸梨蜜多羅譯.
[10] Peking: The Society of Chinese Buddhists, Nien Hua Szŭ (Sales Agent: The French Bookstore), 1936.
[11] Visva-Bharati Annals no.1 (1945), 70-95.
[12] Buddha’s Light Publishing, 2002. 192 pgs.
[13] Srinagar-Kashmir: 1939. 51-57.
[14] Bulletin de l'École Francaise d'Extrême-Orient. 3 (1903), 33-37.
[15] Birnbaum, Raoul (2003). The Healing Buddha. p. 64.
[16] Bakshi, S.R. Kashmir: History and People. 1998. p. 194
[17] ibid., p.194.
[18] "Schøyen Collection: Buddhism". Retrieved 23 June 2012.
[19] "Schøyen Collection: Buddhism". Retrieved 23 June 2012.
[20] Dutta, Nalinaksa ed., Gilgit Manuscript,Vol I. Delhi : Sri Satguru Publication, 1984, 1-32.
https://chuaadida.com/chi-tiet-di-va...-duoc-su-8154/
-
DƯỢC SƯ BẢN NGUYỆN BẢO QUYỂN / DƯỢC SƯ BỔN NGUYỆN BẢO QUYỂN ( 藥師本願寶卷 / 药师本愿宝卷 )
DƯỢC SƯ BẢN NGUYỆN CÔNG ĐỨC BẢO QUYỂN / DƯỢC SƯ BỔN NGUYỆN CÔNG ĐỨC BẢO QUYỂN ( 藥師本願功德寶卷 / 药师本愿功德宝卷 )
Bảo quyển Phật giáo có thể chia làm hai loại là kinh văn khuyên đời và truyện cổ Phật giáo. Ở thời kì đầu, bảo quyển thường được gọi là Kinh. Như bảo quyển Dược sư bản nguyện công đức là hoàn toàn diễn kinh Dược sư bản nguyện chứ không thuật kĩ truyện cổ.
=======
bảo quyển
(寶卷) Là loại văn học diễn biến từ thể văn biến đời Đường. Sản sinh vào khoảng đời Tống, Nguyên và lưu hành ở khoảng năm Chính đức (1506-1521) đời Vũ tôn nhà Minh đến cuối đời Thanh, đầu thời Dân quốc. Thời vua Chân tôn nhà Tống, các tăng sĩ bị cấm không được giảng tụng bằng văn biến thể, từ đó văn biến thể biến thành hình thức Đàm kinh, Thuyết kinh, Thuyết tham thỉnh, cũng tức là cái biến tướng của văn biến thể được phát triển, bảo quyển cũng nhân thời vận đó mà sản sinh. Nội dung kết cấu của bảo quyển với văn biến thể đại khái chỉ khác nhau chút ít, phần nhiều ngôn ngữ thông tục dễ hiểu, phối hợp âm nhạc, thêm giọng ngâm tụng nhằm mục đích thông tục hóa. Cái được tụng giảng là bảo quyền Phật giáo lấy nhân quả báo ứng, sự tích trong đạo Phật làm chủ yếu, cũng có khi lấy bảo quyển phi Phật giáo như truyện cổ dân gian, truyện cổ Thần đạo làm chủ yếu. Tương truyền bảo quyền đầu tiên là bảo quyển Hương sơn, do Thiền sư Phổ minh đời Tống viết. Nhưng khảo sát thực tế thì cho thấy, bảo quyển Hương sơn, bảo quyển Tiêu thích chân không, bảo quyển Mục liên cứu mẫu xuất li địa ngục thăng thiên v.v... là những bảo quyển sớm nhất. Bảo quyển Phật giáo có thể chia làm hai loại là kinh văn khuyên đời và truyện cổ Phật giáo. Ở thời kì đầu, bảo quyển thường được gọi là Kinh. Như bảo quyển Dược sư bản nguyện công đức là hoàn toàn diễn kinh Dược sư bản nguyện chứ không thuật kĩ truyện cổ. Những bảo quyển phi Phật giáo tương đối nổi tiếng thì có bảo quyển Trân châu tháp, bảo quyển Mạnh khương nữ, bảo quyển Anh đài v.v... Những bảo quyền kể truyện cổ Phật giáo rất được dân gian hoan nghênh, và bảo quyển Mục liên cứu mẹ thoát khỏi địa ngục sinh lên cõi trời là thí dụ đẹp nhất. Ngoài ra còn có bảo quyển Mục liên (khác với bảo quyển Thăng thiên), bảo quyển Hương sơn, bảo quyển Diệu anh v.v... hoặc tườngthuật về sự tu đạo cứu đời của Bồ tát, hoặc nói về quá trình tu hành của thiệnnam tín nữ dân gian, đối với phụ nữ rấtcó ảnh hưởng.Danh từ bảo quyển chỉ là tên gọi chung cho loại sách này, chứ tên sách riêng biệt thì chưa chắc đã có hai chữ bảo quyển, mà chỉ gọi là quyển, làkinh, cũng có khi gọi là chân kinh, khoa nghi, bảo sám, bảo truyện v.v... Tuyêngiảng bảo quyển, gọi là Tuyên quyển.Khi tuyên quyển, trước hết phải thắphương thỉnh Phật, bao hàm sắc thái tôn giáo đậm đà, khác với sự giảng diễn thông thường.Thể lệ của bảo quyển lấy văn vần làm chủ, dùng văn xuôi thuyết minh bổ sung. Thông thường mỗi bản chia làm hai mươi bốn phẩm, trong mỗi phẩm lại tách ra làmbốn phần: 1. Phần nghi thức, mở đầu và kết thúc đều phải thắp hương nghinh thỉnh, nghinh tống Phật Bồ tát Thần linh, những bài kệ đọc lúc này là kệ khai kinh, kệ tán hương, kệ thu kinh. 2. Phần tâu bạch, trước văn vần trong mỗi phẩm, dùng văn xuôi nói miệng để tâu bạch. 3. Phần ngâm tụng, là thể thường của bảo quyển, phần nhiều dùng văn vần thể bảy chữ hoặc mười chữ để ngâm tụng. 4. Phần ca xướng, dùng các bài hát thêm vào giữa phẩm hoặc cuối phẩm. Các bài thông dụng hơn cả là Trú vân phi, Hoàng oanh nhi, Sơn pha dương, Nhạn nhi lạc, Bàn trang đài (áng mây bay, chim hoàng oanh, con dê dốc núi, con nhạn lạc, bên đài trang), hoặc phối với các sênh tre, điệu đàn để dễ xướng tụng. Bảo quyển thường bị lạm dụng thành tôn giáo dân gian bí mật, làm công cụ tổ chức của các hội đoàn bí mật, các tôn giáo dân gian như Bạch liên giáo, La giáo, Hoằng dương giáo, Văn hương giáo trong đời nhà Minh, đều dùng bảo quyển làm kinh quyển phụng trì, cho nên bảo quyển thường bị các thế lực chính trị cấm lưu truyền. Những tác phẩm hiện còn không được bao nhiêu, theo những người sưu tập gần đây thì tổng số ước chừng chỉ còn độ một trăm bản mà thôi. [X. Trung quốc tục văn học sử (Trịnh chấn đạc); Bảo quyển chi nghiên cứu (Trạch điền thụy huệ)].
http://phatam.org/dictionary/detail/...y=thất bảo
https://tangthuphathoc.net/tudien/bao-quyen/
http://anphat.org/dictionary/detail/...y=thất bảo
-
https://www.originofself.com › ...PDF
药师琉璃光七佛本愿功德经 - Origin of Self
宝 tán. 檀 huá. 华 pú. 菩 sà. 薩 ná. 南 mó. 无 yào. 药 wáng. 王 pú. 菩 sà. 薩 ná. 南 mó. 无 yào. 药 shàng. 上 ... 药师琉璃光七佛本愿功德经卷上. 1 yào. 药 shī. 师 liú. 琉.
-
-
* ĐẠI-LUÂN NHẤT-TỰ CHƠN NGÔN 【 大轮一字真言】:
唵• 勃隆• 吽(念诵21 遍)
Om • Bhrum • Hong ( 21×)
OM BHRUM HUM ( 21lần )
(Om Bhrum Hum!) added effects of any mantra!
===
* VĂN-THÙ BỒ-TÁT HỘ-THÂN CHƠN NGÔN【文殊菩萨护身真言】:
唵• 齿临(念诵21 遍)
Om • shirim ( 21x )
OM SHIRIM ( 21 lần )
===
* PHÁP-GIỚI CHƠN NGÔN【法界真言】:
唵• 嚩日囉• 驮都•鑁(念诵21 遍)
Om • vajra • dhatu • vam
OM VAJRADHATU VAM ( 21lần )
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...ng-Kinh/page24
-
虛空庫菩薩摩訶薩。
Hư Không KHỐ Bồ Tát Ma Ha Tát.
GAGANA-GANJA BODHISATTVA MAHASATTVA / GAGANA-GANJA BODHISATTVA MAHASATTVA
GAGANAGANJA BODHISATTVA-MAHASATTVA / GAGANAGANJA BODHISATTVA-MAHASATTVA
Gagana-gañja / Gaganagañja (गगनगञ्ज) (S): Kim Cang tràng Bồ tát / Kim Cương Tràng Bồ Tát ( 金剛幢菩薩 / Vajraketu Bodhisattva : (skt)—Vị Bồ Tát cầm cờ, một trong 16 vị Bồ Tát trong nhóm Kim Cang Giới—The flag-bearer, one of the sixteen in the Vajradhatu group.) →. Name of a Bodhisattva. → Tên một vị Bồ Tát.
HƯ-KHÔNG-KHỐ BỒ TÁT ( GAGANAGANJA BODHISATTVA ) = KIM-CANG-TRÀNG BỒ TÁT / KIM-CƯƠNG-TRÀNG BỒ TÁT ( VAJRAKETU BODHISATTVA )
( Vị Bồ Tát này, có Nguồn Gốc từ KINH ĐẠI LẠC KIM CƯƠNG BẤT KHÔNG CHÂN THẬT TAM MUỘI GIA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA LÝ THÚ THÍCH : T19n1003 大樂金剛不空真實三昧耶經般若波羅 �多理趣釋| CBETA 漢文大藏經 )
====
https://text.123doc.net › document
Kinh Đại Lạc Kim Cang Bất Không Chân Thật Tam Ma Da - Tài liệu text - 123doc
Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát Ma-ha-tát, Tài Phát Tâm Chuyển Pháp Luân Bồ-tát Ma-ha-tát, 虛空庫菩薩摩訶薩。摧一切魔菩薩摩 �薩。 hư không khố Bồ Tát Ma-Ha tát ..
-
https://www.jstage.jst.go.jp › -char
金 剛 頂 経 一 切 義 成 就 品 に つ い て 八 田 幸 雄 - J-Stage
viết bởi Y Hatta · 1965 — 身會に相當するものであるが、大 日を中心に阿園、寶生等の生)、Ratna-pani (寶手)、Gagana-ganja (虚空庫 )。Akasa-. 四佛を配するに虚空藏尊を中心とし �金剛 ..
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...ng-Kinh/page25
http://tripitaka.cbeta.org/mobile/in...x=T19n1003_001
http://phatam.org/dictionary/detail/...-tat/1?key=kim
http://anphat.org/dictionary/detail/...tat/46?key=bơ
-
Ngũ Phật có nghĩa là:
(五佛): năm vị Phật ngự ở 5 hướng khác nhau, được vẽ trong các đồ hình của Kim Cang Giới Mạn Trà La (金剛界曼荼羅) cũng như Thai Tạng Giới Mạn Trà La (胎藏界曼荼羅); còn gọi là Ngũ Trí Như Lai (五智如來), Ngũ Như Lai (五如來), Ngũ Bộ Giáo Chủ (五部敎主). Trong Kim Cang Giới Mạn Trà La có Đại Nhật Như Lai (s: Vairocana, 大日如來, tức Tỳ Lô Giá Na Phật [毘盧遮那佛]) ở trung ương, màu vàng, thuộc Thổ; A Súc Như Lai (s: Akṣbhya, 阿閦如來) ở phương Đông, màu xanh, thuộc Mộc; Bảo Sanh Như Lai (s: Ratna-saṃbhava, 寶生如來) ở phương Nam, màu hồng, thuộc Hỏa; A Di Đà Như Lai (s: Lokeśvara-rāja, 阿彌陀如來, tức Thế Tự Tại Như Lai [世自在如來]) ở phương Tây, màu trắng, thuộc Kim; Bất Không Thành Tựu Như Lai (s: Amogha-siddhi, 不空成就如來, tức Thích Ca Như Lai [釋迦如來]) ở phương Bắc, màu đen huyền, thuộc Thủy. Trong Thai Tạng Giới Mạn Trà La, ngoài Đại Nhật Như Lai ở trung ương, màu vàng, thuộc Thổ như trên; còn có Bảo Tràng Như Lai (s: Ratna-ketu, 寶幢如來) ở phương Đông, màu xanh, thuộc Mộc; Khai Phu Hoa Vương Như Lai (s: Saṃkusumita-rāja, 開敷華王如來) ở phương Nam, màu hồng, thuộc Hỏa; Vô Lượng Thọ Như Lai (s: Amitāyus, 無量壽如來) ở phương Tây, màu trắng, thuộc Kim; và Thiên Cổ Lôi Âm Như Lai (s: Dundubhi-svara, 天鼓雷音如來) ở phương Bắc, màu đen huyền, thuộc Thủy. Tu Chứng Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修設瑜伽集要施食壇儀, CBETA No. 1081) giải thích rằng Ngũ Phật hình thành Ngũ Trí: “Ngũ Phật giả, quân Giá Na Phật sở hiện, vị Giá Na Như Lai nội tâm chứng tự thọ dụng dĩ, thành ư Ngũ Trí; nhất Đại Viên Kính Trí, lưu xuất Đông phương A Súc Như Lai, chấp Kim Cang Chử; nhị Bình Đẳng Tánh Trí, lưu xuất Nam phương Bảo Sanh Như Lai, chấp Ma Ni Châu; tam Diệu Quan Sát Trí, lưu xuất Tây phương Di Đà Như Lai, chấp Diệu Liên Hoa; tứ Thành Sở Tác Trí, lưu xuất Bắc phương Thành Tựu Như Lai, thủ Luân Tướng Giao; ngũ Pháp Giới Thanh Tịnh Trí, tức trung ương Tỳ Lô Giá Na Như Lai, thủ Thiên Bức Luân (五佛者、均遮那佛所現、謂遮那如來 心證自受用已、成於五智、一大圓鏡 智、流出東方阿閦如來、執金剛杵、 平等性智、流出南方寶生如來、執摩 珠、三妙觀察智、流出西方彌陀如來 、執妙蓮華、四成所作智、流出北方 就如來、手輪相交、五法界清淨智、 中央毗盧遮那如來、手千輻輪, năm vị Phật đều do Giá Na Phật biến hiện, nghĩa là trong nội tâm của Giá Na Như Lai tự thọ dụng xong, thành ra năm loại trí; một là Đại Viên Kính Trí, lưu xuất A Súc Như Lai ở phương Đông, tay cầm Chày Kim Cang; hai là Bình Đẳng Tánh Trí, lưu xuất Bảo Sanh Như Lai ở phương Nam, tay cầm hạt châu Ma Ni; ba là Diệu Quan Sát Trí, lưu xuất Di Đà Như Lai ở phương Tây, tay cầm Hoa Sen Mầu; bốn là Thành Sở Tác Trí, lưu xuất Thành Tựu Như Lai ở phương Bắc, tay bắt ấn Luân Tướng Giao; năm là Pháp Giới Thanh Tịnh Trí, tức Tỳ Lô Giá Na Như Lai ở trung ương, tay cầm ngàn vòng bánh xe).” Cũng theo tài liệu này cho biết rằng mỗi vị Phật đều có 4 Bồ Tát tùy tùng, hộ trì: “Ngũ Phật các hữu tứ Bồ Tát, A Súc Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát, nhị Kim Cang Vương Bồ Tát, tam Kim Cang Ái Bồ Tát, tứ Kim Cang Thiện Tai Bồ Tát; Bảo Sanh Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Bảo Bồ Tát, nhị Kim Cang Uy Vương Bồ Tát, tam Kim Cang Tràng Bồ Tát, tứ Kim Cang Quyến Bồ Tát; Di Đà Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Pháp Bồ Tát, nhị Kim Cang Kiếm Bồ Tát, tam Kim Cang Nhân Bồ Tát, tứ Kim Cang Lợi Bồ Tát; Thành Tựu Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Nghiệp Bồ Tát, nhị Kim Cang Ngữ Bồ Tát, tam Kim Cang Dược Xoa Bồ Tát, tứ Kim Cang Quyền Bồ Tát; Tỳ Lô Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Ba La Mật Bồ Tát, nhị Kim Cang Bảo Ba La Mật Bồ Tát, tam Kim Cang Pháp Ba La Mật, tứ Kim Cang Yết Ba La Mật Bồ Tát (五佛各有四菩薩、阿閦佛四菩薩者、 金剛薩埵菩薩、二金剛王菩薩、三金 剛愛菩薩、四金剛善哉菩薩、寶生佛 菩薩者、一金剛寶菩薩、二金剛威光 薩、三金剛幢菩薩、四金剛眷菩薩、 彌陀佛四菩薩者、一金剛法菩薩、二 剛劍菩薩、三金剛因菩薩、四金剛利 薩、成就佛四菩薩者、一金剛業菩薩 、二金剛語菩薩、三金剛藥叉菩薩、 金剛拳菩薩、毗盧佛四菩薩者、一金 波羅密菩薩、二金剛寶波羅密菩薩、 三金剛法波羅密菩薩、四金剛羯波羅 菩薩, năm vị Phật mỗi vị đều có 4 Bồ Tát, 4 Bồ Tát của A Súc Phật gồm, một là Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát, hai là Kim Cang Vương Bồ Tát, ba là Kim Cang Ái Bồ Tát, bốn là Kim Cang Thiện Tai Bồ Tát; 4 Bồ Tát của Bảo Sanh Phật gồm, một là Kim Cang Bảo Bồ Tát, hai là Kim Cang Uy Vương Bồ Tát, ba là Kim Cang Tràng Bồ Tát, bốn là Kim Cang Quyến Bồ Tát; 4 Bồ Tát của Di Đà Phật gồm, một là Kim Cang Pháp Bồ Tát, hai là Kim Cang Kiếm Bồ Tát, ba là Kim Cang Nhân Bồ Tát, bốn là Kim Cang Lợi Bồ Tát; 4 Bồ Tát của Thành Tựu Phật gồm, một là Kim Cang Nghiệp Bồ Tát, hai là Kim Cang Ngữ Bồ Tát, ba là Kim Cang Dược Xoa Bồ Tát, bốn là Kim Cang Quyền Bồ Tát; 4 Bồ Tát của Tỳ Lô Phật gồm, một là Kim Cang Ba La Mật Bồ Tát, hai là Kim Cang Bảo Ba La Mật Bồ Tát, ba là Kim Cang Pháp Ba La Mật, bốn là Kim Cang Yết Ba La Mật Bồ Tát).”
https://phatgiao.org.vn/tu-dien-phat...hat-k4675.html
-
LỤC CÚNG
SIX TYPES OF OFFERING
六供
TRANH: BÙI THỊ THANH XINH
THƠ: PHĐT
HƯƠNG, HOA, QUẢ, NHẠC, TRÀ, ĐÈN
TRANG NGHIÊM DÂNG TRƯỚC ĐÀI SEN CÚNG DƯỜNG
NGƯỠNG MONG CHƯ PHẬT MƯỜI PHƯƠNG
TỪ BI TRỤ THẾ MỞ ĐƯỜNG ĐỘ SANH.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.
======
DI LẶC BỒ TÁT NGHÊNH XUÂN
BỤNG LỚN TỪ BI, TÂM HOAN HỶ
SÁU TRẺ NGHỊCH ĐÙA VỚI VÔ VI
LONG HOA MỞ HỘI, DÂN HẠNH PHÚC
THÁI BÌNH HÒA CA KHÚC XUÂN THÌ.
NAM MÔ LONG HOA GIÁO CHỦ DI LẶC TÔN PHẬT.
======
VĂN THÙ BỒ TÁT
MANJUSHRI BODHISATTVA
文殊師利菩薩
ĐẢNH TỤ HÀO QUANG NHƯ VẦNG NHẬT
DỤNG GƯƠNG TRÍ HUỆ TRẢM VÔ MINH
ĐOAN TỌA THANH SƯ DU THẬP XỨ
TRUYỀN THẾ NHƯ LAI MINH HUẤN TỪ.
NAM MÔ ĐẠI TRÍ VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT.
======
PHỔ HIỀN BỒ TÁT THẬP NGUYỆN
Samantabhadra Bodhisattva
普賢菩薩十愿
An nhiên tĩnh toạ tâm thanh tịnh
Văn hay chữ tốt sách tấn tu
Đại hạnh từ nghiêm tròn thập nguyện
Vững chí bền tâm thoát ái hà.
Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát
=======
ĐẠI KIM CANG DIỆU KHỔNG TƯỚC MINH VƯƠNG BỒ TÁT
THE GOLDEN-HUED PEACOCK KING BODHISATTVA
大金刚妙孔雀明王菩薩
TRANH: ĐINH VIỆT CƯỜNG
THƠ: THẦY T.T.T 2
KHỔNG TƯỚC CHIM THIÊNG THÂN SẮC VÀNG
LƯNG CÕNG PHẬT BÀ DẠO THẾ GIAN
CHÂN ĐẠP HÀ SA VÔ MINH GIỚI
ĐƯA NGƯỜI TRỞ LẠI CHỐN TÂY PHANG.
NAM MÔ ĐẠI KIM CANG DIỆU KHỔNG TƯỚC MINH VƯƠNG BỒ TÁT.
https://vinhan1088.wordpress.com/201...6_228605933_n/
-
12 BÀI THẦN CHÚ THƯỜNG TỤNG
TIN SÂU-NGUYỆN THIẾT-HẠNH CHUYÊN
Đôi điều về việc hành trì tụng niệm các bài Thần Chú:
Các hành giả hành trì thần chú phải có đủ 3 điều Tín-Nguyện-Hạnh, chúng ta CÓ CẢM thì MỚI CÓ ỨNG từ các vị Phật, Bồ tát , Chư Thiên, Kim Cương Long Thần hộ vệ. Cũng ví như chúng ta là các máy radio thu sóng “Từ Bi” của chư Phật Bồ tát hàng đêm, ai kiên trì tụng niệm thần chú NHẤT TÂM BẤT LOẠN, một lòng hướng về chư Phật, trong lòng chúng ta có Phật, thì mới có chứng, có linh ứng hiệu nghiệm, cho nên mới nói PHẬT PHÁP NHIỆM MÀU.
Dù ai nói ngã nói nghiêng, thì ta vẫn vững như kiềng 3 chân, dù cho nhiều Thầy có nhiều cách giảng mâu thuẫn khác nhau về giáo lý và về các bài thần chú, nhưng bản thân chúng ta là người quyết định cuối cùng, hãy tự thắp đuốc lên mà đi, hãy là hải đảo của tự thân và tự tìm lấy cho mình 1 lối đi riêng 1 pháp môn tu tập riêng, dù cho có ai nói tụng niệm Thần chú không linh ứng hiệu nghiệm đi chăng nữa, bởi vì họ chưa từ bỏ được Con Ma Nghi Kỵ trong Tâm mình.
Có thể có 4 lí do sau đây khiến việc hành trì Thần Chú không được như ý muốn:
1. Do chưa đủ phước báu: là do chúng ta gieo nhân chưa đủ, chưa tạo đủ Phước cho cuộc đời, mà các đức Phật lại ban phước dựa trên quy luật Nhân-Quả, các Ngài ban phước cho 1 ai đó đều xét bản thân người đó đã làm được những điều tốt đẹp gì cho mọi người xung quanh chưa? có nói lời hay, ý đẹp làm lợi lạc cho chúng sanh hay chưa? Từ đó suy ra, chúng ta nên tích cực làm nhiều việc thiện hơn, để gieo Nhân lành cho việc mong cầu như ý.
2. Do Duyên lành chưa đến, nên Quả lành chưa thể trổ được: ví như trồng cây cà chua, chúng ta phải đợi 1 khoảng thời gian nhất định, chăm sóc, tưới nước, bón phân thì quả cà chua mới lớn lên từ từ, mới đầu màu xanh, sau sẽ chín chuyển thành màu đỏ. Việc mong cầu chuyện gì đó trong cuộc đời của chúng ta cũng như vậy mà thôi, ví dụ việc mong cầu trúng số, có nhà lầu, xe hơi không thể 1 hay 2 ngày là có liền được, chúng ta nên kiên nhẫn chờ đợi và tích cực làm việc thiện nhiều hơn.
3. Mục đích của người mong cầu là gì? có lợi hay có hại? có lợi cho ai? cho 1 người, 1 cá nhân hay 1 cộng đồng, tập thể, chúng sanh. Các vị Phật không bao giờ ban phước lành cho 1 cá nhân đơn lẻ ích kỉ, biết sống chỉ riêng cho mình, mong may mắn hạnh phúc đến cho 1 mình mình thôi, nên cuối lời nguyện cầu, chúng ta nên hồi hướng công đức đến tất cả chúng sanh, biết mở tấm lòng Từ Bi đến mọi người xung quanh thì việc mong cầu sẽ được như ý muốn.
4. Do nghiệp chướng của chúng ta quá sâu dày tích lũy từ vô lượng kiếp tái sanh, hãy dùng các thần chú sau đây nhờ sự gia hộ của chư Phật và Bồ tát chuyển hóa bớt từ từ, hãy kiên nhẫn tinh tấn trên con đường tu sửa tâm từ bên trong, khi nghiệp chướng như bệnh tật, tai ách, oan gia trái chủ, nợ nần đến đòi thì tội nặng hóa thành tội nhẹ, tội nhẹ hóa thành không. Hãy dụng công phu tu hành nhờ Phật lực gia hộ chuyển hóa bớt đi từ từ thì một ngày nào đó chúng ta không đến nỗi lâm vào tình cảnh bi đát, than thân trách phận, đổ thừa vận xui rủi “phước bất trùng lai, họa vô đơn chí” hay “Quả nhồi, Nghiệp khảo” (^_^)
Là hành giả trì tụng thần chú, 1 lòng 1 dạ hướng về các đức Phật, thì nhất định các Ngài sẽ không từ bỏ chúng ta. Hàng ngày chúng ta niệm 1 câu thần chú hay 6 chữ Hồng Danh của Đức Phật A-Di-Dà như người mẹ hiền, ví như cả 2 bên, Mẹ hiền và chúng ta đều đi 1 điểm hẹn duy nhất, dù cho bao nhiêu năm xa xôi cách trở 20-30 năm nhưng nhất định, cả 2 sẽ gặp được nhau vì đều nghĩ, đều gọi tên và đều hướng về nhau. Thời gian không quan trọng, quan trọng là mỗi chúng ta đều giữ Chánh Niệm về 1 đức Phật duy nhất A-Di-Đà trong Tâm của chúng ta. Nếu mất tiền thì chúng ta có thể đi làm kiếm lại được, nhưng để mất đi Niềm Tin và Hy Vọng chúng ta sẽ đánh mất đi hết Tất Cả.
Chúc các hành giả thân tâm an lạc tự tại, xóa bỏ dần các nghiệp chướng sâu dày và vọng tưởng tạp niệm từ vô lượng kiếp, giữ vững CHÁNH NIỆM VÀ CHÁNH ĐỊNH, NHƯ Ý CÁT TƯỜNG, biến ước mơ thành hiện thực, sở cầu được toại nguyện, biết sống vì mọi người hơn nữa, làm lợi lạc cho chúng sanh đang chìm ngập trong bể khổ của 6 nẻo luân hồi và cũng để đạt được sự Màu Nhiệm của Phật Pháp trong đời sống hiện tiền. Nam mô A-Di-Đà Phật.
__________________________Ai ăn người đó No – Ai Tu người đó Chứng________________
1. THẦN CHÚ LĂNG NGHIÊM 2. CHÚ ĐẠI BI
3. TIÊU TAI KIẾT TƯỜNG 4. CÔNG ĐỨC BẢO SƠN 5. PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ 6. THÁNH VÔ LƯỢNG THỌ 7. DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH 8. QUÁN ÂM LINH CẢM 9. THẤT PHẬT DIỆT TỘI
10. VÃNG SANH TỊNH ĐỘ 11. THIỆN THIÊN NỮ CHÚ
12. NHƯ Ý BẢO LUÂN VƯƠNG ĐÀ LA NI
TỔNG KẾT:
Nên để ý các Kinh Chú của Phật để lại trong Đại Tạng thì rất nhiều, đa dạng theo mỗi vị Phật trình bày mỗi cách qua kinh nghiệm tu tập của mình. Các Thiền gia thời xưa qua kinh nghiệm của họ rút ra trong Đại tạng một số Kinh Chú theo nhu cầu phổ thông chẳng những cho quần chúng mà cho cả người xuất gia trong thời mạt pháp nghiệp trọng phước khinh ma cường pháp nhược này. Những Kinh Chú mà các Thiền gia chọn ra để trì tụng là của những vị Phật, những vị Bồ Tát rất quan hệ với các chúng sanh nơi cõi Ta bà ngũ trược ác thế này. Còn các Kinh Chú khác của các vị Phật hay của các vị Bồ Tát khác chỉ quan hệ nhiều với các chúng sanh trong các cõi khác không có ngũ trược ác thế như cõi Ta Bà này. Những Kinh Chú mà các Thiền gia chọn ra để hành trì có những mục đích như sau:
1)-Những Kinh Tụng nêu trên ngoài sự Tu Huệ của hành giả và còn nhờ sự gia hộ của chư Phật, chư Bồ Tát quan hệ giúp hành giả sớm hoàn thành hạnh nguyện đạt đạo.
2)- Còn các Kinh khác nhằm tu tập bao gồm Văn Huệ, Tư Huệ và Tu Huệ trong lãnh vực tự độ và tự giác mà không cần sự gia hộ của chư Phật, chư Bồ Tát quan hệ, được gọi là tự lực cánh sinh.
3)- Các Thần Chú nêu trên mà các Thiền gia chọn lựa được rút ra trong các Kinh Tạng của chư Phật chỉ dạy để các hành giả hành trì ngõ hầu đạt được ý nguyện mà không bị phân tâm, không bị loạn tưởng, không bị tẩu hoả nhập ma.
4)- Còn các Thần Chú khác một số không thấy trong các Kinh Phật mà chỉ thấy trong Mật Tông nếu như hành trì mà thiếu sự hướng dẫn chơn truyền qua sự kinh nghiệm của những người đi trước thì sẽ bị nguy hiểm phân tâm, loạn tưởng, tẩu hoả nhập ma.
Các Thiền gia Việt Nam cũng chọn những Kinh những Chú đã được liệt kê ở trước ngoài những mục đích và ý nghĩa vừa trình bày còn có mục đích khác là thể hiện văn hoá Phật Giáo Việt Nam mà các Thiền gia Việt Nam đem sự đạt đạo xây dựng quốc gia. Nhìn theo Văn Hoá Phật Giáo Việt Nam, Nhị Thời Khoá Tụng mà các Thiền gia Việt Nam thường sử dụng trong khoá lễ hằng ngày dành cho các Thiền sinh hành trì, ngoài sự tu tập để chứng đắc và còn tiêu biểu cho ba hệ phái Thiền đã từng đóng góp xây dựng quốc gia Việt Nam trên lãnh vực văn hoá trải dài hơn 2000 năm lịch sử. Điều đó được thấy như:
a)- Thiền phái Vô Ngôn Thông, Thiền phái Trúc Lâm Tam Tổ đã từng đóng góp xây dựng cho quốc gia Việt Nam trên lãnh vực thuần tuý thiền tập.
b)- Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã từng đóng góp xây dựng cho quốc gia ViệtNamtrên lãnh vực Thiền Mật Tổng Hợp.
c)- Thiền Phái Thảo Đường đã từng đóng góp xây dựng quốc gia ViệtNamtrên lãnh vực Thi Ca và Nghệ Thuật.
d)- Thiền phái Liễu Quán đã từng đóng góp xây dựng quốc gia ViệtNamtrên lãnh vực Thiền Tịnh Song Tu.
Từ những ý nghĩa và giá trị này, chúng ta là người Việt Nam không nên xem thường Nhị Thời Khoá Tụng mà Thiền gia Việt Nam đã chọn và cũng chứng minh rằng các Thiền gia Việt Nam nhờ Nhị Thời Khoá Tụng này được chứng đắc, cho nên mới để lại cho hậu thế hành trì.
https://vinhan1088.wordpress.com/12-...ờng-tụng/
-
6)- Thần Chú Phật Mẫu Chuẩn Đề:
” Khể Thủ quy y Tô tất đế, đầu diện đảnh lễ thất cu chi. Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề, duy nguyện từ bi thùy gia hộ.Nam mô tát đa nẩm tam miệu tam bồ đề, cu chi nẩm đát điệt tha. Án, chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề, ta bà ha”.
===> Câu chú này trích trong Kinh Chuẩn Đề. Bốn câu kệ đầu là: “Khể thủ quy y Tô tất Đế,” v.v… cho đến “Duy nguyện từ bi thùy gia hộ” là của Ngài Long Thọ Bồ Tát. Trong bốn câu kệ:
* Câu đầu là nói về Pháp Bảo; câu hai là nói về Phật Bảo; câu thứ ba là nói về Tăng Bảo; câu thứ tư là nói mình xin nhờ ơn sự gia hộ của Tam Bảo.
*) Khể thủ quy y Tô Tất Đế: nghĩa là cúi đầu quy kính Pháp Viên Thành (pháp nhiệm mầu). Chữ Tô Tất Đế: nguyên tiếng Phạn là Susidhi, Tàu dịch là Diệu Thành Tựu, nghĩa là một pháp có năng lực thành tựu được hết thảy sự lý và thành tựu đặng hết thảy tâm nguyện của chúng sanh rất mầu nhiệm.
*) Đầu diện đảnh lễ Thất Cu Chi (cu đê): nghĩa là thành tâm đảnh lễ bảy trăm ức Phật. Chữ “Cu Chi” hay là “Cu Đê”, nguyên tiếng Phạn là “Koti”, Tàu dịch là bách ức, nghĩa là trăm ức; cho nên trên đây nói ”thất cu chi” tức là số bảy trăm ức vậy.
*) Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề: nghĩa là tôi nay xưng tán đức Đại Chuẩn Đề. Chữ “Chuẩn Đề”, nguyên tiếng Phạn là “Candi”, Tàu dịch có hai nghĩa: 1) Thi Vi, 2) Thành Tựu.
Thi Vi: nghĩa là lời nguyện rộng lớn đúng nơi lý và dùng đại trí để dứt vọng hoặc, vì đủ các nhơn hạnh để ra làm việc lợi tha cho chúng sanh, nên gọi là Thi Vi.
Thành Tựu: nghĩa là từ nơi pháp không mà hiện ra pháp giả rồi thành tựu đặng pháp tịch diệt.
Sở dĩ Chú này xưng là “Phật Mẫu Chuẩn Đề” là nói: Pháp là thầy và thiệt trí, là mẹ của chư Phật, cho nên bảy trăm ức Phật đều dùng pháp “Chuẩn Đề Tam Muội” mà chứng đạo Bồ Đề.
Trong kinh Chuẩn Đề nói rằng: Khi Phật ở vườn Kỳ Đà vì có tứ chúng bát bộ đông đủ, Ngài nghĩ thương những chúng sanh đời mạt pháp sau này, tội dày phước mỏng, nên mới nhập “Chuẩn Đề Định” mà thuyết thần chú như vầy:
Nam Mô Tát Đa Nẩm, Tam Miệu Tam Bồ Đề, Cu Chi Nẩm, Đát Điệt Tha, Án, Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề, Ta bà Ha.
Phật nói: Nếu trì chú này mãn chín mươi vạn (900.000) biến thì diệt trừ được các tội thập ác, ngũ nghịch và tứ trọng; cho đến nhà thế tục chẳng luận tịnh hay uế, chỉ cần chí tâm trì tụng, liền được tiêu trừ tai nạn bệnh hoạn, tăng trưởng phước thọ. Khi tụng mãn 49 ngày, Bồ Tát Chuẩn Đề khiến hai vị Thánh thường theo người ấy hộ trì.
Nếu có người hoặc cầu mở trí tuệ, hoặc cầu chống tai nạn, hoặc cầu pháp thần thông, hoặc cầu đạo Chánh Giác, chỉ y theo pháp thiết lập đàn tràng, tụng đủ một trăm vạn (1.000.000) biến thì đặng đi khắp mười phương Tịnh Độ, phụng thờ chư Phật, nghe cả diệu pháp mà được chứng quả Bồ Đề.
https://vinhan1088.wordpress.com/12-...ờng-tụng/
-
8)- Thần Chú Dược Sư Quán Đảnh Chơn Ngôn:
DƯỢC SƯ QUÁN ĐẲNG CHƠN NGÔN (7, 21 hoặc 108 biến)
” Nam mô Bạc già phạt đế, bệ sát xã,
lũ lô thích lưu ly, bác lặc bà, hắc ra xà dã.
Đát tha yết đa tha, a ra hắc đế.
Tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha.
Án bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế toá ha.
Nam-mô Dược Sư hội thượng Phật Bồ-tát”.
===> Thần chú này được trích ra từ nơi Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức. Theo như trong kinh, đức Thích Ca Như Lai nói nếu có chứng bệnh gì mà cứ nhứt tâm trì chú này trong nước tịnh thủy đủ 108 biến rồi uống vào thì các bệnh đều lành liền.
Còn như những người mà trọn đời thọ trì chú này thì đặng khỏi bệnh tật và được sống lâu, đến lúc mạng chung lại được sanh về cõi Tịnh Lưu Ly. Nhưng phải biết rằng: chú này được gọi là “Quán Đảnh” là nói chú này do nơi đảnh quang của Phật mà thuyết ra. Người nào nếu thọ trì đọc tụng chú này mà đặng thanh tịnh ba nghiệp (thân, miệng, ý) thì hào quang Phật chiếu ngay đến nơi đảnh môn của người trì tụng ấy một cách mát mẻ như rưới nước cam lồ vậy.
Nên biết ánh quang của Phật khác hơn ánh quang của ma, nguyên vì ánh quang của ma thì chói loà khiến cho người ta sợ hãi, còn ánh quang của Phật thì mát mẻ và làm cho ta vui mừng. Vậy ai là người thọ trì chú này hoặc niệm Phật cần phải phân biệt rõ hai cái ánh quang nói trên. Chớ đừng thấy ánh quang của ma lậo lòe trước mắt như ngoại đạo nhìn nến, như kẻ nhìn nhang kia mà nhận lầm cho là thấy tánh.
https://vinhan1088.wordpress.com/12-...ờng-tụng/
-
[3] Bát kim cang hay Bát bộ kim cang (八部金剛), gồm có: 1. Thanh Trừ Tai Kim Cang (青除災金剛); 2. Tích Độc Kim Cang (辟毒金剛); 3. Hoàng Tuỳ Cầu Kim Cang (黃隨求金剛); 4. Bạch Tịnh Thủy Kim Cang (白淨水金剛); 5. Xích Thanh Hoả Kim Cang (赤聲火金剛); 6. Định Trì Tai Kim Cang (定除災金剛); 7. Tử Hiền Kim Cang (紫賢金剛); 8. Đại Thần Kim Cang (大神金剛).
Tứ bồ tát là Kim Cang Quyến Bồ tát (金剛眷菩薩), Kim Cang Tác Bồ tát (金剛索菩薩), Kim Cang Ái Bồ tát (金剛愛菩薩) và Kim Cang Ngữ Bồ tát (金剛語菩薩).
[4] Vân hà đắc trường thọ, Kim cang bất hoại thân, Phục dĩ hà nhân duyên, đắc đại kiên cố lực. Vân hà ư thử kinh, Cứu cánh đáo bỉ ngạn, Nguyện Phật khai vi mật, Quảng vị chúng sanh thuyết. (云何得長壽 金剛不壞身 復以何因緣 得大堅固力 云何於此經 究竟到彼岸 願佛開微密 廣為眾生說, Làm sao được trường thọ, Thân Kim cang bất hoại, Lại nữa nhân duyên gì, Được sức kiên cố lớn. Làm sao đối kinh này, Rốt ráo đến bờ kia, Nguyện Phật khai mật ý, Vì chúng sanh nói rộng.)
https://thuvienhoasen.org/a18026/bai...uong-khoa-nghi
-
kim cương thủ bồ tát
(金剛手菩薩) Kim cương thủ, Phạm: Vajra-pàịi. Hán âm: Phạt chiết la bá ni, hoặcVajradhara (Hán âm: Phạt chiết la đà la). Tạng:Lag-na rdo-rje. Cũng gọi: Chấp kim cương bồ tát, Bí mật chủ bồ tát, Kim cương chủ dược xoa tướng. Chỉ cho các vị Bồ tát cầm chày kim cương trong viện Kim cương thủ thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Vị Bồ tát náy cũng đặc biệt được dùng để gọi Lực sĩ Kim cương mật tích, như kinh Tăng nhất a hàm quyển 22 nói, Lực sĩ Kim cương mật tích cầm chày kim cương đứng ở phía sau đức Như lai. Đại nhật kinh sớ quyển 1 thì nói, Kim cương thủ theo nghĩa nông cạn là chỉ cho Dạ xoa cầm chày kim cương, thường theo hầu đức Phật; còn theo nghĩa sâu xa thì chỉ cho Kim cương tát đỏa, biểu thị cho tam mật thân, ngữ, ý của đức Đại nhật Như lai. Lí thú thích quyển thượng thì cho rằng vị Bồ tát này chính là bồ tát Phổ hiền, vì ngài Phổ hiền đích thân tiếp nhận chày kim cương từ tay đức Phật Tì lô giá na. Nhưng trong kinh Bát đại bồ tát mạn đồ la do ngài Bất Không dịch, thì trong 8 vị Bồ tát có 2 bồ tát Phổ hiền và Kim cương thủ khác nhau; bồ tát Kim cương thủ thân mầu xanh, ngồi bán già, đầu đội mũ Ngũ Phật, tay phải cầm chày kim cương, tay trái để ở chỗ thắt lưng; chân ngôn là: Án tông ra phạ sa phạ ha. [X. kinh Nhập lăng già Q.8; kinh Đại giáo vương Q.1 (ngài Thí hộ dịch); kinh Sư tử trang nghiêm vương bồ tát thỉnh vấn; kinh Đại thừa bát đại mạn noa la].
http://anphat.org/dictionary/detail/...t/19?key=tạt
======
(32) Mật tích Kim cang sĩ: thiên thần cầm kim cang xử theo ủng hộ Phật. GọI là mật tích vì thần này thường theo Phật nghe những sự tích bản thệ bí mật, hoặc các vị này do Phật, Bồ Tát thị hiện làm thần, tung tích rất bí mật, chúng sanh không biết.
https://www.niemphat.vn/kinh-dai-bi-tam-da-ra-ni/
-
法 華 揭
Pháp Hoa kệ.
Bài kệ Kinh Pháp Hoa .
六 萬 餘 言 七 軸 裝. 無 邊 妙 義 廣 含 藏.
Lục vạn dư ngôn thất trục trang. Vô biên diệu nghĩa quảng hàm tàng.
Hơn sáu vạn chữ bảy quyển vàng. Rộng chứa vô biên diệu nghĩa màu.
喉 中 甘 露 涓 涓 潤. 口 內 醍 醐 滴 滴 涼.
Hầu trung Cam-Lộ quyên quyên nhuận. Khẩu nội Đề-Hồ tích tích lương.
Cam Lộ từng giọt nhuần trong họng. Diệu Pháp từng ly mát trong miệng.
白 玉 齒 遍 流 舍 利. 紅 蓮 舌 上 放 毫 光.
Bạch Ngọc Xỉ biên lưu Xá-Lợi. Hồng Liên Thiệt thượng phóng hào quang.
Răng Ngọc trắng lưu truyền Xá Lợi. Hào Quang toả trên Lưỡi Sen hồng.
假 饒 造 罪 過 山 嶽. 不 須 妙 法 兩 三 行.
Giả nhiêu tạo tội quá sơn nhạc. Bất tu Diệu Pháp Lưỡng Tam hàng.
Giả như tạo tội hơn non Thái. Thanh Văn, Duyên Giác chưa cầu Diệu Pháp.
http://chanh-y.blogspot.com/2012/04/...m-tua.html?m=1