-
Lễ Cúng Thí Thực Theo Tinh Thần Kinh Nikaya
Lễ Cúng Thí Thực Theo Tinh Thần Kinh Nikaya
Theo kinh Phật dạy, các hương linh đó nếu thọ dụng được thức ăn hiến cúng đó, tương đương chúng sanh trong cảnh giới ngạ quỷ. Cho nên hương linh là ngôn ngữ nhân gian, có thể thọ nhận được sự hiến cúng phẩm vật. Kinh chép rằng: “Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi ngạ quỷ. Món ăn của chúng sanh ngạ quỷ như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Món ăn nào các bạn bè, hoặc thân hữu, hoặc bà con, hoặc người cùng huyết thống từ đấy muốn hướng cúng cho vị ấy, tại đấy vị ấy sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy được lợi ích của bố thí ấy [4]. Thực chất cảnh giới chúng sanh trong loài quỷ có nhiều loại, tùy theo phước báo và nghiệp lực sai biệt, nên sanh vào trong loài quỷ cũng có nhiều loại. Thức ăn chúng ta hiến cúng, tương ưng với nghiệp lực loài đó, thì có sự thọ nhận. Kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa thường nhắc đến loài quỷ có phước và oai lực, loài quỷ thiếu phước khổ đau và đói khát. Có loài quỷ thường xuất hiện trong không gian, chỉ có người có tuệ nhãn mới thấy. Điều này được ghi nhận trong Kinh Nikaya ghi rất rõ ràng, khi tôn giả Mục Kiền Liên (Maha Moggallana) trong thấy có nhiều loài quỷ quái dị mà người bình thường không thể thấy, và Đức Phật xác nhận điều ấy qua đoạn Kinh sau: “Xưa kia, này các Tỳ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.”[5].
Ở bài này, chỉ dựa trên cơ sở Kinh Nikaya để xác minh ý nghĩa lễ cúng thí thực vốn có nguồn gốc trong hai truyền thống Phật Giáo. Nếu không hiểu rõ ý nghĩa tích cực và phương pháp lễ cúng này và nếu áp dụng lễ cúng thí theo kiểu Tế Đàn cực đoan của Bà La Môn giáo và ngoại đạo thì chắc chắn không không có phước báo tốt đẹp. Một lễ cúng đầy đủ ý nghĩa cần có thực phẩm hiến cúng và dùng pháp ngữ khai thị hương linh, ngạ quỷ nhận thức đạo lý để xả ly chấp thủ, luyến ái và sớm được giải thoát tự tại. Vấn đề ở đây cần nhận thức rõ ràng tinh thần người hiến cúng và đối tượng được hiến cúng trong pháp thí thực một các có trí tuệ, mới có sự lợi lạc.
Người Hiến Cúng
a) Người hiến cúng bằng pháp bất thiện
Người hiến cúng thí thực bằng pháp bất thiện sẽ mắc nghiệp xấu, vì giết hại sanh linh lấy thịt cúng tế sẽ tạo ba thứ ác nghiệp từ thân, miệng và ý, chắc chắn sẽ đưa đến kết quả không như ý muốn. Điều này được ghi lại trong Kinh Tăng Chi qua Phẩm Tế Đàn, khi Đức Phật đã trả lời cho Bà La Môn Uggatasarìra. Vị Bà La Môn này ý định đốt lửa, dựng trụ tế đàn, giết hàng trăm con bò, con cừu, con heo làm thực phẩm hiến cúng để cầu mong được quả phước lớn. Đức Phật đã thẳng thắn phê phán, cho đó là hành động bất thiện chỉ đưa đến quả khổ trong đời này và đời sau, Ngài dạy như sau: “Này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ tế đàn, dựng lên ba cây kiếm này, đưa đến khổ sanh, khổ dị thục”.[1] (Dựng lên ba cây kiếm là dụ cho ba nghiệp xấu ác của thân, miệng và ý, vì đã giết hại sanh linh để làm thực phẩm cúng tế một cách mù quáng). Qua đó chúng ta hiểu rằng, trong Dân Gian Việt Nam, nếu cá nhân gia đình, hay truyền thống làng và họ, với bất kỳ nghi lễ cúng tế nào mà sát sanh, hại vật đều đưa đến quả khổ chung cả người cúng tế lẫn đối tượng được cúng.
b) Cúng thí thực bằng pháp thiện
Người hiến cúng bằng thiện pháp sẽ đưa đến phước lành, họ không sát hại sanh linh để lấy thịt hiến cúng, dùng phẩm vật thanh tịnh cúng tế. Pháp hiến cúng này thể hiện được phẩm hạnh từ bi giúp các sanh linh thoát khỏi cảnh giới đói khổ. Trong kinh Tăng Chi Đức Phật giải thích rõ cho các người Bà La Môn như sau: “Này Bà la môn, tại những tế đàn nào, trong ấy không có bò bị giết, không có dê cừu bị giết, không có gà heo bị giết, không có các loài sinh vật khác bị giết hại. Này Bà la môn, Ta tán thán loại tế đàn không có sát sinh như vậy, tức là làm bố thí, tế đàn cầu hạnh phúc cho gia đình. Những loại tế đàn không có sát sinh như vậy, này Bà la môn, các A la hán và những ai đi trên con đường hướng đến A la hán, có đi đến.”[2] Qua đoạn Kinh trên, nội dung khẳng định rõ ràng, cúng tế không sát hại sanh linh là có quả báo tốt đẹp, đáng được tán thán.
2. Đối tượng được cúng
a) Sanh được làm người là khó (Ý nghĩa này mang tính chất pháp thí, trong pháp ngữ của nghi cúng mà hương linh- ngạ quỷ cần nhận biết)
Thuật ngữ Hương Linh, Vong Linh chỉ cho người thế tục qua đời. Thuật ngữ Giác Linh là chỉ cho người có giới đức và phẩm hạnh qua đời. Ở đây, các bậc thánh giả, thoát ly luân hồi chúng ta không bàn tới trong chuyện cúng thí. Theo tuệ giác của Phật thì, những hạng người không tu tập thiện pháp, người sát sanh, trộm cắp, tà hạnh và ác khẩu, khi chết không được sanh thiên giới, không được tái sanh làm người, phần đông sanh vào cảnh giới thấp như địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Đức Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, được tái sanh làm người lại. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, phải tái sanh vào cõi ngạ quỷ [3]. Những chúng sanh trong loài quỷ này, đa số chịu nhiều sự đói khát và có hình thù quái lạ, phần nhiều cầu mong sự cúng thí thực phẩm của người đời. Phẩm vật hiến cúng và đối tượng thọ nhận phải có sự tương ưng. Trong văn hóa cúng bái nhân gian Việt Nam, mỗi khi cúng, người ta thiết hai bàn, bàn thượng và bàn hạ. Bàn thượng cúng hương hoa, bông trái và nước trong thanh khiết dành cúng cho chư thiên và các chúng sanh ở cảnh giới cao, gọi là bàn Thiên. Bàn hạ là cúng thức ăn thông thường như người đang sống thường dùng, như cơm, cháo, bánh trái để cúng cho các hương linh, gọi là bàn hương linh.Trong nghi thức chẩn tế và siêu độ thì đàn tràng được thiết lập theo triết lý Mật Tông. Người cúng thỉnh sư đọc tụng chân ngôn, cầu sự gia trì của Phật và Bồ tát, giúp cho chúng hương linh (ngạ quỷ) được thọ dụng no đủ và thoát khổ.
b) Sự hiến cúng thực phẩm, vì sao cần khai thị hương linh trong lễ cúng
Theo kinh Phật dạy, các hương linh đó nếu thọ dụng được thức ăn hiến cúng đó, tương đương chúng sanh trong cảnh giới ngạ quỷ. Cho nên hương linh là ngôn ngữ nhân gian, có thể thọ nhận được sự hiến cúng phẩm vật. Kinh chép rằng: “Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi ngạ quỷ. Món ăn của chúng sanh ngạ quỷ như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Món ăn nào các bạn bè, hoặc thân hữu, hoặc bà con, hoặc người cùng huyết thống từ đấy muốn hướng cúng cho vị ấy, tại đấy vị ấy sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy được lợi ích của bố thí ấy [4]. Thực chất cảnh giới chúng sanh trong loài quỷ có nhiều loại, tùy theo phước báo và nghiệp lực sai biệt, nên sanh vào trong loài quỷ cũng có nhiều loại. Thức ăn chúng ta hiến cúng, tương ưng với nghiệp lực loài đó, thì có sự thọ nhận. Kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa thường nhắc đến loài quỷ có phước và oai lực, loài quỷ thiếu phước khổ đau và đói khát. Có loài quỷ thường xuất hiện trong không gian, chỉ có người có tuệ nhãn mới thấy. Điều này được ghi nhận trong Kinh Nikaya ghi rất rõ ràng, khi tôn giả Mục Kiền Liên (Maha Moggallana) trong thấy có nhiều loài quỷ quái dị mà người bình thường không thể thấy, và Đức Phật xác nhận điều ấy qua đoạn Kinh sau: “Xưa kia, này các Tỳ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.”[5].
Có những người qua đời tái sanh trong loài quỹ vẫn còn lưu luyến người thân. Một chi tiết trong Kinh Tăng Chi thuật về cuộc đối thoại của nữ cư sĩ Velukantakì và tôn giả Sàriputta chứng minh điều đó. Kinh chép như sau: “Ở đây, thưa Tôn giả, người chồng của con, khi mạng chung, sanh vào loại Dạ-xoa, và vị ấy hiện lên trước mặt con, với một tự ngã như lúc trước. Nhưng thưa Tôn giả, con rõ biết, không vì nhân duyên ấy, tâm của con có đổi khác.[6] Như vậy, dù qua kiếp khác, nhưng ấn tượng về những gì trong đời trước vẫn còn, nên các loài quỷ còn bám víu người thân và hoàn cảnh sống quá khứ. Cho nên, ngoài phẩm vật cúng thí, còn dùng giáo nghĩa Phật dạy, khai thị cho hương linh, ngạ quỷ nhận thức để xả ly sự chấp thủ các yếu tố tham ái để được giải thoát là điều cần thiết.
Kết luận
Phật giáo không phải thiết lập mục đích sự chứng ngộ thông qua nghi lễ cúng tế. Nhưng thực hiện nghi thức cúng thí thực cho người đã khuất bằng phẩm vật thanh tịnh, không giết hại sanh linh làm phẩm vật cúng tế là được Đức Phật tán thán. Pháp thí thực như vậy không phải xuất phát từ tính ngưỡng ngoại đạo mà có. Vì thông qua pháp ngữ trong lễ cúng, chư hương linh-ngạ quỷ nhận chân được chân lý Phật dạy.
Chúng ta nên xem những chúng sanh bị đọa lạc trong cảnh giới khổ đau, có thể họ đã từng là cha mẹ, tổ tiên, thân bằng quyến thuộc của chúng ta nhiều đời kiếp, họ đáng được báo ân và và thọ nhận sự bố thí cúng dường. Đó là việc làm thiết thực và có quả phước lành đáng được tôn trọng.
Trong cuộc sống hiện đại, con người chạy theo những giá trị vật chất, dễ dàng quên đi cái ân nghĩa đối người thân thuộc đã qua đời. Thực hiện bố thí trong đó có Pháp Thí luôn nuôi dưỡng và khơi dậy tinh thần cứu khổ và ban vui của đạo Phật đối với chúng sanh ngay trong đời này và các đời sau./.
[1] Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt, Chương VII - Bảy Pháp, Phẩm Tế Đàn
[2] ĐTKVN,Tăng Chi BộI, chương 4, phẩm Bánh xe, phần Ujjaya, VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.629
[3] Kinh Tương ưng bộ, tập 2, HT.Thích Minh Châu dịch, NXB.Tôn Giáo, 2015, tr.830.
[4] Kinh Tăng chi bộ, tập 2, HT.Thích Minh Châu dịch, NXB.Tôn Giáo, 2015, tr.720.
[5] Kinh Tương ưng bộ, tập 1, HT.Thích Minh Châu dịch, NXB.Tôn Giáo, 2015, tr.599-606
[6] Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya. Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt, Phẩm Tế Đàn, Phần: Mẹ Của Nanda
http://www.phathocthuongthuc.com/ind...an-kinh-nikaya
-
-
-
Mũi: Xông ngũ hương, dược liệu
14/05/2020 - 06:08 Lượt xem: 241
Bí mật của Hương giải thoát
Trầm hương hay các loại hương đốt tinh chế từ thảo dược quý (đinh hương, thảo quả, quế hồi, bạch giới tử) thuộc dương tính đặc biệt có tác dụng xua đuổi tà khí, thanh lọc thân tâm, tịnh hóa môi trường sống.
Theo vũ trụ học Mật thừa, khi các nguồn năng lượng tiêu cực xâm nhập vào đời sống, biểu hiện bên ngoài là thân bệnh, bên trong có thể là các loại tà khí quấy nhiễu, sâu hơn nữa là các loại xúc tình phiền não, tâm nhị nguyên phân biệt.
Các y sư vùng Himalaya thường đốt hương liệu và cho người bệnh xông, ngửi luồng năng lượng khí từ khói thảo dược này như là một phương pháp y thuật để loại trừ âm khí ra khỏi người bệnh.
Những nơi có không khí lạnh lẽo, u ám, nhiều âm khí là môi trường chiêu vời các loại bệnh tật, virus xâm nhập, vì vậy cần được thanh lọc. Việc đốt các loại thảo dược dương tính có thể khử âm khí và tạo ra nguồn năng lượng an lành. Hiểu theo tâm linh, đó chính là sự gia hộ bảo vệ của chư Thiên, bách thần hộ pháp.
Ở nhà cũng như công sở, chúng ta cần tạo ra bầu năng lượng tích cực bằng cách vệ sinh sạch các vật dụng, đồng thời xông, đốt các hương thơm có nguồn từ tinh chất thảo dược nguyên chất; không nên dùng hóa chất sẽ phản tác dụng.
Giải thoát qua sự Ngửi
Các nhà khoa học cho rằng 75% cảm xúc của con người được kích hoạt bởi mùi hương có liên hệ tới niềm vui, hạnh phúc, cảm xúc và trí nhớ.
Mùi hương của các loại trầm, thảo dược, hay hương từ Bhutan tác động đến các giác quan, kích thích các kênh năng lượng, giúp lưu thông khí mạch và khai phóng năng lượng tích cực nơi mỗi người.
Theo Đạo Phật, trong sáu căn của con người là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, căn mũi hay tỵ căn đặc biệt quan trọng, ta có thể không thấy, không nghe không biết, không làm, nhưng ta không thể không hít thở. Quán sát hơi thở, nhận biết hơi thở vào ra giúp tâm ta trở nên an định và tỉnh thức hơn.
Các loại thảo dược hay hương liệu như hương trầm, đinh hương, thảo quả, quế hồi, bạch giới tử… không chỉ là phương tiện Phật tử cúng dàng lên chư Phật, Bồ Tát, mà hương thơm tinh khiết của thảo dược tự nhiên còn là liệu pháp tuyệt vời giúp chúng ta loại bỏ trược khí, thanh lọc thân tâm và cải thiện sức khỏe.
Kinh Phật dạy rằng Chư Phật, Bồ tát nhờ có công phu tu hành thành tựu nên các ngài tỏa ban “hương thơm Bồ đề” bao trùm khắp mọi thế giới, đó là hương của ‘tâm giác ngộ’ giúp cho chúng sinh có thể nương nhờ vào đó mở mang trí tuệ, đạt được giác ngộ, giải thoát.
Phật giáo Himalaya thường sử dụng trầm hương để giải tỏa stress, tăng cường sự tập trung, an định, giúp cho giác quan trở nên nhạy bén, khai mở luân xa và trưởng dưỡng trí tuệ. Những điều này đặc biệt quan trọng đối với việc thực hành thiền định và yoga.
(Nguồn ảnh: Lorenz Berna)
Bạch giới tử cũng là một trong những dược liệu có năng lực tịnh hóa rất mạnh, từng được Đức Kim Cương Thủ - vị Bồ tát uy lực trong Kim Cương bộ với công hạnh chính là phá tan mọi hận thù, xung đột và những ảnh hưởng tiêu cực khác, cúng dàng lên Đức Phật.
Bạch giới tử nêu biểu cho Chính kiến trong Bát Chính Đạo. Hương Bạch giới tử khi đốt cháy có tác dụng tịnh trừ tà khí, xua đuổi quỷ thần, oan hồn uổng tử nhiễu hại con người.
Hương thảo dược thanh tịnh, được sử dụng đúng cách có thể trở thành ‘hương giải thoát’, không chỉ giúp chúng ta thanh lọc thân tâm mà trên hết, có khả năng đưa mình trở về tự tính an lạc vốn sẵn có và tịnh hóa tâm nhị nguyên.
(Mai An biên soạn)
http://daibaothapmandalataythien.org...?itok=5gfUkLCx
http://daibaothapmandalataythien.org...ong-giai-thoat
-
Xúc chạm: Đeo đồ gia trì hộ thân
20/04/2020 - 06:08 Lượt xem: 407
Sự gia trì từ Pháp khí Hộ thân và các biểu tượng giác ngộ
Thời kỳ giãn cách xã hội là quãng thời gian chúng ta có thể tận dụng để chăm lo, tăng cường sức khỏe để phòng tránh dịch bệnh bằng nhiều cách, từ tập luyện thể thao, thiền, cải thiện chế độ ăn uống đến việc duy trì sinh hoạt lành mạnh…Việc có được cơ thể khỏe mạnh là rất cần thiết. Chỉ khi khỏe chúng ta mới có thể lực và sức đề kháng chống lại sự xâm nhập của virus, bệnh tật. Khi có sức khỏe, chúng ta mới có thể sống hạnh phúc bình an.
Là Phật tử, chúng ta cũng cần biết cách sử dụng các đồ hộ thân gia trì. Nếu đôi khi bạn còn chủ quan cho rằng mọi thứ đều ổn, những pháp khí hộ thân mang theo người sẽ vướng víu, bất tiện, thì phần giải thích sau đây hy vọng sẽ giúp bạn thực sự hiểu và trân trọng những Pháp khí hộ thân quý giá này.
Đeo Hộ luân gia trì
Hộ luân gia trì nghĩa là gì? “Hộ” là sự hộ trì che chở, “luân” chính là Mandala được các Bậc Thầy tạo ra từ các chất liệu thanh tịnh khác nhau để hộ mệnh cho nên gọi là hộ luân hộ mệnh hay thường gọi là Pháp khí hộ thân.
(Nguồn ảnh: Trung tâm Phật Trường Thọ)
Các Pháp khí hộ thân này được tạo ra từ nhiều cách: Chân ngôn được viết bằng vàng, các chất liệu ngọc, đá quý nhiều màu sắc, chỉ ngũ sắc, các loại linh dược và cả xá lợi Phật, xá lợi chư Thượng Sư giác ngộ. Các Pháp khí hộ thân này có sự gia trì Thân Khẩu Ý Giác ngộ của Chư Phật. Lịch sử ghi nhận rằng Đức Phật và Đức Liên Hoa Sinh đã điều phục vô số quỷ thần và chuyển hóa họ trở thành các bậc Hộ pháp. Vì vậy, việc sử dụng các biểu tượng giác ngộ và chân ngôn sẽ nhắc nhở các quỷ thần về Tam muội da giới họ đã phát nguyện và không quấy phá, nhiễu hại người đeo các biểu tượng này.
Đặc biệt, khi bạn đeo (chạm) vào hộ luân gia trì liên tục sẽ giúp tăng trưởng công đức, tác động mạnh mẽ tích cực đến toàn bộ thân tâm vi tế và bảo hộ khỏi nỗi sợ hãi ma quỷ, dịch bệnh, hạn hán, chiến tranh, động đất, hỏa hoạn, tác động tiêu cực từ các hành tinh...Trong Sáu sự giải thoát của Kim Cương thừa, đây được gọi là “Giải thoát qua sự Xúc chạm”
Hãy luôn nhớ, Pháp khí hộ thân là sự kết tinh từ tinh túy của Phật pháp, là sự giải thoát, giác ngộ, từ bi, trí tuệ, là những năng lượng tích cực mà không gì có thể phá hủy được, hoàn toàn không phải các bùa chú thế gian.
Chuỗi tràng mà bạn trì tụng Chân ngôn hàng ngày, đặc biệt là nếu được một bậc Thượng Sư giác ngộ ban gia trì cho chuỗi tràng, cũng là một pháp khí hộ thân đầy năng lực. Hãy luôn mang theo các Pháp khí quý giá này bên mình như vật bất ly thân. Không chỉ trong thời gian bệnh dịch đe dọa mà mọi lúc, mọi nơi, vì lợi ích vô giá mà các Pháp khí đó mang lại cho bạn.
http://daibaothapmandalataythien.org...?itok=LX5gOX5N
http://daibaothapmandalataythien.org...tuong-giac-ngo
-
Lưỡi: Ăn chay, nếm thuốc gia trì
Thọ dụng thuốc gia trì – “thần dược” tịnh hóa thân tâm
Từ nguyên liệu thảo dược lấy từ các vùng thánh địa, được hấp thụ năng lượng tinh túy của vũ trụ từ lúc mọc mầm, cùng xá lợi tôn quý của các Bậc giác ngộ và nhiều chất liệu linh thiêng khác, trải qua các nghi lễ tâm linh nghiêm mật và được làm với tâm chí thành và sự thiền định của hành giả, mỗi viên thuốc gia trì cam lồ nhỏ như những hạt kê nhưng lại chứa đựng vô số công đức và năng lượng tâm linh của Từ bi và Trí tuệ, có công dụng mang lại ân phúc gia trì cho người dùng, giúp hành giả nhanh chóng thành tựu pháp, chữa lành thân tâm bệnh.
Xuất phát từ lòng từ bi vô hạn, chư Phật Bồ tát có thể hóa hiện thành những hình tướng vô tình nhằm truyền trao năng lượng gia trì và giác ngộ qua các cách thức khác nhau, thuốc gia trì chính là phương tiện giải thoát qua sự nếm (nếm tức giải thoát).
Theo truyền thống Phật giáo Kim Cương Thừa, thuốc gia trì hay thuốc cam lồ trong có thể được ngậm, pha cùng nước nóng để uống hay mang theo người để hộ thân.
Thọ dụng thuốc gia trì với tâm chí thành, tri kiến đúng đắn có thể giúp Phật tử chứng ngộ được Tính không, bảo hộ chúng ta thoát khỏi nạn vũ khí, độc dược, giúp tịnh hóa ô nhiễm trong tâm, làm tăng trưởng những ý nghĩ thiện lành, đối trị vô minh và đau khổ.
http://daibaothapmandalataythien.org...?itok=Db7LbKNE
http://daibaothapmandalataythien.org/54-uong-thuc-duong
-
-
-
-
-
-
https://www.youtube.com/watch?v=BMLPtL5Ergg
Tam Giáo Chính Độ-Phép Khai Quang Điiểm Nhãn Vong (39)
-
-
https://www.youtube.com/watch?v=g4XLDDc4-jQ
Tam Giáo Chính Độ-Phó Chúc Chỉ Lộ-Lễ Địa Tạng Phó Chúc (11)
-
https://www.youtube.com/watch?v=W2Wrx4nCjgU
Tam Giáo Chính Độ-Các bước Pháp Sư Phó Chúc cho người ốm (5)
-
https://www.youtube.com/watch?v=Z_N3bzxV2sE
Tam Giáo Chính Độ-Phó Chúc Tụng Kinh-Chuyển Sắc Thân (9)
-
-
https://www.youtube.com/watch?v=PJESItwe360
Tam Giáo Chính Độ-Nghi thức lúc lâm chung (17)
-
https://www.youtube.com/watch?v=gI6jDMxK_O0
Tam Giáo Chính Độ-Phép Liệm do Sản Vong-Trụy Thai (34)
-
https://www.youtube.com/watch?v=1G1ZLM2l2eM
Tam Giáo Chính Độ-Nghi thức khi người ốm đã qua đời (16)