https://www.scribd.com/document/1496...-Final-Version
Printable View
唵薩嚩怛他((引))誐多度播冥伽三( 去))母捺囉((二合))薩發((二合) )囉拏布惹
http://tripitaka.cbeta.org/mobile/in...x=T18n0873_001
https://kinhmatgiao.files.wordpress..../07/no-873.pdf
māndārava 曼陀羅, 曼陀羅華, 曼陀華
曼陀若花 / 曼陀罗(曼陀羅) màntuóluó. màntuóluó noun mandārava tree / mandāra tree / coral tree
dharaṇ 地 Look up here
dharaṇ -tala 地 Look up here
dhana-dhānya 財寶
財物(dhana)、穀物(dhānya)
Sasya-vati dhanya-vati dhana-vati srimati prabha-vati.
阿波陀那/Avadāna. 阿閦佛/Akṣobhya( Akṣobhya 另有不動佛, 無動佛, 無怒, 阿閦佛, 阿閦婆)(阿閦佛另有譯作Akṣobhya-buddha)
( http://www.acmuller.net/indexes/term-sa-d.html / http://homepage.ntu.edu.tw/~tsaiyt/h...tu-104-2-4.pdf )
NHẤT-TỰ THỔ-ĐỊA CHƠN-NGÔN
[ ĐỊA-THẦN CHƠN-NGÔN ĐOẢN-CHÚ ]
( 一字土地真言 / 地神真言短咒 )
http://s1.upanh123.com/2016/10/05/10...0c8_o898df.jpg
1)
.嗡,比,娑哈
.嗡,微,娑哈
.Án VI Sa-Ha
.OṂ VĪ SVĀHĀ
.曩莫三曼多沒馱喃: 比
.南麼三曼多勃驮喃(一)微。
.Nẵng-Mồ Tam-Mãn-Đa Một-Đà-Nẫm: VI
.NAMAḤ SAMANTABUDDHĀNĀṂ: VĪ
.曩莫三曼多沒馱喃: 嗡,比,娑哈
.南麼三曼多勃驮喃: 嗡,微,娑哈
.Nẵng-Mồ Tam-Mãn-Đa Một-Đà-Nẫm: Án VI Sa-Ha
.NAMAḤ SAMANTABUDDHĀNĀṂ: OṂ VĪ SVĀHĀ
2)
.嗡,比,娑哈 / 嗡,微,娑哈 ( 嗡,勿,娑哈 ? )
.Án VI Sa-Ha ( Án VẬT Sa-Ha ? )
.OṂ VĪ SVĀHĀ / OṂ VĪḤ SVĀHĀ
.曩莫三曼多沒馱喃: 比 / 南麼三曼多勃驮喃(一)微。
.Nẵng-Mồ Tam-Mãn-Đa Một-Đà-Nẫm: VI / Nẵng-Mồ Tam-Mãn-Đa Một-Đà-Nẫm: VẬT ( ? )
.NAMAḤ SAMANTABUDDHĀNĀṂ: VĪ / NAMAḤ SAMANTABUDDHĀNĀṂ: VĪḤ
.曩莫三曼多沒馱喃: 嗡,比,娑哈 / 南麼三曼多勃驮喃: 嗡,微,娑哈 ( 曩莫三曼多沒馱喃: 嗡,勿,娑哈 ? )
.Nẵng-Mồ Tam-Mãn-Đa Một-Đà-Nẫm: Án VI Sa-Ha ( Nẵng-Mồ Tam-Mãn-Đa Một-Đà-Nẫm: Án VẬT Sa-Ha ? )
.NAMAḤ SAMANTABUDDHĀNĀṂ: OṂ VĪ SVĀHĀ / NAMAḤ SAMANTABUDDHĀNĀṂ: OṂ VĪḤ SVĀHĀ
Thích Đề Hoàn Nhân
(s: Śakra Devānāmindra, 釋提桓因): Thích Đề Hoàn Nhân (釋提桓因), còn gọi là Đế Thích Thiên (s: Indra, p: Inda, 帝釋天, Trời Đế Thích), Năng Thiên Chủ (能天主), Thiên Chủ Đế Thích (天主帝釋), Thiên Đế Thích (天帝釋), Thiên Đế (天帝), Đao Lợi Thiên Vương (忉利天王); âm dịch là Thích Ca Đề Hoàn Nhân Đà La (釋迦提桓因陀羅); còn có các tên gọi khác như Nhân Đà La (因陀羅), Kiều Thi Ca (憍尸迦), Ta Bà Bà (娑婆婆), Thiên Nhãn (千眼), v.v. Nguyên lai, Ngài là vị thần của Ấn Độ Giáo, thời cổ đại Ấn Độ gọi là Nhân Đà La. Vì được thần cách hóa như là ánh sáng chớp của sấm sét, dưới thời đại Veda, vị này được xem như là có sức mạnh nhất trong các vị thần, thường hay đánh nhau với ác thần A Tu La. Người Trung Quốc thường gọi là Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝). Theo các kinh luận cho biết, xưa kia vị này là người dòng dõi Bà La Môn ở nước Ma Già Đà (摩伽陀), nhờ có phước đức tu tập hạnh Bố Thí, được sanh lên cung trời Đao Lợi (s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利), làm Thiên chủ của 33 cõi trời. Trời Đế Thích trú tại Thành Thiện Kiến (善見城), cung điện tối cao của cõi Trời Ba Mươi Ba, nơi có ngọn Tu Di Sơn (須彌山) cao nhất trên mặt đất, và cai trị địa giới. Cùng với Phạm Thiên, vị trời này được xem như là vị thần bảo vệ của Phật Giáo. Hai bên Trời Đế Thích có 10 vị Thiên tử hầu hạ thường xuyên. Về cõi Trời Ba Mươi Ba, do vì trước kia vị trời này đã cùng với 32 người khác tu tập thiện nghiệp tại nước Ma Kiệt Đà. Tương truyền xưa kia, sau khi đức Phật Ca Diếp qua đời, có một người nữ phát tâm tu sửa tháp của Ngài, rồi lại có thêm 32 người khác trợ lực. Tất cả sau khi qua xả bỏ báo thân này thì cùng được sanh cõi Trời Đao Lợi. Do đó, chung quanh cõi Trời này có 32 cung điện của 32 người kia; còn ở giữa là Đế Thích, tổng cọng là 33. Ngài có 3 vị phu nhân tên Viên Sanh (園生), Thiện Pháp (善法), Xá Chi (赦支). Tại phía Đông Bắc của cung điện Trời Đế Thích có cây Viên Sanh; phía Tây Nam có Thiện Pháp Đường (善法堂). Trời Đế Thích thường tập trung chư Thiên thuyết pháp tại đây. Nếu Trời Đế Thích đi nữa, chư Thiên vẫn cung kính chỗ ngồi của Ngài, xem như Ngài có mặt. Tuổi thọ của Ngài rất dài, một ngày một đêm trên cõi Trời ấy bằng 100 năm dưới cõi người, tính 36.000 năm của con người làm 1 tuổi của Ngài. Mỗi nữa tháng vào các ngày trai giới, Trời Đế Thích thường hạ lịnh Tứ Thiên Vương, Thái Tử, Thị Giả, v.v., thám sát thiên hạ vạn dân, xem thử thiện ác, tà chánh thế nào. Nếu nghe chúng sanh nhiều việc ác, không hiếu thuận cha mẹ, không kính trọng thầy tổ, không bố thí cho người nghèo khốn, tức làm cho chư Thiên buồn phiền, giảm tổn đi, và làm cho chúng A Tu La tăng trưởng. Và ngược lại, nếu nghe chúng sanh làm các việc thiện nhiều, hiếu thuận cha mẹ, tôn kính thầy tổ, siêng năng tu tập trai giới, bố thí cho người nghè khốn, nhờ vậy chư thiên vô cùng hoan hỷ, số lượng tăng thêm; và chúng A Tu La giảm xuống. Sau khi đức Phật thành đạo, Trời Đế Thích trở thành thần thủ hộ cho Ngài. Khi đức Phật lên cung Trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẫu thân, Trời Đế Thích tạo thành bậc cấp bằng 7 thứ báu, đích thân Ngài cầm lọng báu che đức Phật đi từ trên xuống. Sau đó, Trời Đế Thích cung thỉnh Phật thuyết pháp trong cung điện. Ngài từng hóa hiện ra nhiều thân hình để hóa độ, khuyên răn mọi người làm lành tránh dữ, bố thí, cúng dường. Ngài tuy là vua của tất cả chư Thiên, thống lãnh muôn loài, như từ tâm vô lượng. Tương truyền có một con quỷ Dạ Xoa thân hình rất nhỏ, nhan sắc đen thùi, xấu xí, hung ác, ngồi trên ngai của Trời Đế Thích. Thấy vậy chư Thiên tức giận, muốn đánh đuổi con quỷ ấy đi. Trời Đế Thích bảo rằng: “Vị này tên là Trợ Sân Quỷ (助瞋鬼, quỷ giúp cho sân hận).” Bèn trịch áo, bày vai bên phải, tay cầm lò hương thưa với quỷ Dạ Xoa rằng: “Thưa đại tiên, tôi là Trời Đế Thích đây.” Thưa như vậy ba lần. Nghe xong, thân hình quỷ Dạ Xoa biến nhỏ dần và tiêu mất. Cho nên, dù làm vua cõi Trời đi nữa, nhưng Trời Đế Thích cũng không bao giờ làm tổn thương muôn vật, lấy đức từ để hóa độ chúng sanh. Về hình tượng, vị này thường thể hiện hình trời người, cỡi voi trắng, tay phải cầm cây chày báu Tam Cô, hay cây Chày Kim Cang; tay trái đặt trên bắp vế.
Ngọc Hoàng Thượng Đế
(玉皇上帝): tên gọi của vị vua tối cao của bầu trời, là chủ của Thiên Đình, với nhiều tôn xưng khác nhau như Hạo Thiên Thượng Đế (昊天上帝), Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝), Ngọc Đế (玉帝), Ngọc Hoàng (玉皇), Hạo Thiên Kim Khuyết Chí Tôn Ngọc Hoàng Đại Đế (昊天金闕至尊玉皇大帝), Huyền Khung Cao Thượng Ngọc Hoàng Đại Thiên Đế (玄穹高上玉皇大天帝), Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn Huyền Linh Cao Thượng Đế (玉皇大天尊玄靈高上帝), hay dân gian thường gọi là Thiên Công (天公, Ông Trời). Dưới thời nhà Tống, vua Chơn Tông (眞宗, tại vị 997-1022) cũng như Huy Tông (徽宗, tại vị 1100-1125) đều có ban Thánh hiệu cho Ngọc Hoàng Đại Đế. Vua Chơn Tông ban cho Thánh hiệu là Thái Thượng Thiên Chấp Phù Ngự Lịch Hàm Chơn Thể Đạo Ngọc Hoàng Đại Thiên Đế (太上開天執符御歷含眞體道玉皇大天 ). Vua Huy Tông là Thái Thượng Thiên Chấp Phù Ngự Lịch Hàm Chơn Thể Đạo Hạo Thiên Ngọc Hoàng Thượng Đế (太上開天執符御歷含眞體道昊天玉皇 帝). Trong các kinh điển của Đạo Giáo tôn xưng là Hạo Thiên Kim Khuyết Vô Thượng Chí Tôn Tự Nhiên Diệu Hữu Di La Chí Chơn Ngọc Hoàng Đại Đế (昊天金闕無上至尊自然妙有彌羅至眞 皇大帝). Ngài được xem như là một vị thần minh tối cao của Đạo Giáo, địa vị chỉ dưới Tam Thanh Tôn Thần (三清尊神) mà thôi. Dưới con mắt thế tục, Ngài được kính ngưỡng như vị thần tối vĩ đại, là vua trong các vị thần. Theo truyền thuyết dân gian, Ngọc Hoàng Thượng Đế không những thọ mạng Thiên Tử thống trị con người, mà còn cai quản cả Tam Giáo Nho, Lão, Thích, cùng với chư vị thần tiên của ba đạo này, cũng như các thiên thần, địa kỳ, người, quỷ đều thuộc quyền thống quản của Ngài. Ngoài việc quản lý ba cõi Thiên, Địa, Nhân, Ngọc Hoàng Đại Đế còn trông coi về sự hưng long, suy bại, tốt xấu, phước họa của vũ trụ vạn vật. Thuộc hạ quản lý về học vụ có Văn Xương Đế Quân (文昌帝君); về thương vụ có Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君); về công vụ có Công Thánh Tiên Sư (巧聖先師); về nông vụ có Thần Nông Tiên Đế (神農先帝); về việc địa phương có Đông Nhạc Đại Đế (東岳大帝), Thanh Sơn Vương (青山王), Thành Hoàng Da (城隍爺), Cảnh Chủ Công (境主公), Thổ Địa Công (土地公), Địa Cơ Chủ (地基主); về cõi âm có Phong Đô Đại Đế (酆都大帝) và Thập Điện Diêm Vương (十殿閻王). Theo lý luận của Đạo Giáo, Trời có 13 tầng, mỗi tầng có 3 vạn dặm, địa phương ngoài Trời ra được gọi là Vô Cực (無極), cõi trong Trời là Thái Cực (太極). Ngọc Hoàng Đại Đế là thần linh tối cao vô thượng trong vũ trụ, hết thảy chư thần linh đều phải vâng lịnh Ngài. Cõi Trời Thái Cực chia thành 5 cõi Trời khác nhau: Trung Thiên (中天) có Ngọc Hoàng Đại Đế an ngự, trên chưởng quản 36 cõi trời, ba ngàn thế giới, dưới trông coi 72 cõi, hết thảy sinh linh. Đông Thiên (東天) có Tam Quan Đại Đế (三官大帝), chủ quản ban phước, kéo dài tuổi thọ, giải trừ tai ách, xá tội, tiêu nạn. Nam Thiên (南天) có Văn Hành Thánh Đế (文衡聖帝), chủ quản việc ủy nhiệm chư thần linh, lên xuống, khảo sát, xem xét công tội của các thần. Tây Thiên (西天) có Thích Ca Mâu Ni (釋迦牟尼), chủ quản việc tín ngưỡng, quy y của con người. Bắc Thiên (北天) có Tử Vi Đại Đế (紫微大帝), chủ quản việc ban phước, tiêu tai, ban bố tài lộc. Về lai lịch của Ngài, theo Cao Thượng Ngọc Hoàng Bản Hạnh Tập Kinh (高上玉皇本行集經) của Đạo Giáo cho rằng vào thời xa xưa có một trú xứ tên Quang Nghiêm Diệu Lạc Quốc (光嚴妙樂國); Quốc Vương xứ này là Tịnh Đức Vương (淨德王), Hoàng Hậu là Bảo Nguyệt Quang (寶月光). Cả hai đều lớn tuổi nhưng không có con nối dõi. Bỗng một đêm nọ, bà mộng thấy Thái Thượng Lão Quân (太上老君) ẵm một đứa hài nhi đưa vào trong bài thai của Hoàng Hậu. Bà cung kính đón nhận, đến khi tỉnh dậy mới hay rằng mình đã có thai. Mang thai tròn 12 tháng, rồi đến ngày mồng 9 tháng giêng năm Bính Ngọ thì hạ sinh Thái Tử. Ngay từ lúc nhỏ, Thái Tử đã thông tuệ, đến khi lớn lên phụ tá cho Quốc Vương rất đắc lực, thương dân, làm việc thiện, cứu người nghèo khổ. Sau khi vua cha băng hà, Thái Tử từ bỏ ngôi vị, vào trong Phổ Minh Hương Nham Sơn (普明香岩山) tu đạo, trãi qua 3.200 kiếp, mới chứng được Kim Tiên, hiệu là Tự Nhiên Giác Hoàng. Sau đó, lại trãi qua cả ức kiếp mới chứng thành Ngọc Đế, hy sinh thân mạng để cứu độ chúng sanh. Từ đó, mồng 9 tháng giêng hằng năm được xem như là ngày khánh đản của Ngọc Hoàng Đại Đế. Tại các Đạo Quán đều có thiết lễ dâng cúng, gọi là Ngọc Hoàng Hội (玉皇會) để cầu nguyện phước quả, sống lâu. Tại tỉnh Phúc Kiến của Trung Quốc cũng như Đài Loan, ngày này được gọi là ngày Bái Thiên Công (拜天公, Lạy Ông Trời); cho nên cả gia đình lớn nhỏ, già trẻ đều giữ gìn trai giới, tắm rửa sạch sẽ, dâng hương hành lễ, vái lạy, tụng kinh. Thời xưa, ở phương Bắc của Trung Quốc có tục lệ tế lễ Ngọc Hoàng, rước tượng Ngài đi cùng khắp thôn xóm. Tương truyền 25 tháng 12 là ngày Ngọc Hoàng Đại Đế hà phàm tuần tra nhân gian, cho nên các Đạo Quán cũng như trong dân gian đều có thắp hương, tụng kinh để nghênh đón Ngài. Trong Đạo Mẫu của Việt Nam, Ngọc Hoàng được gọi là Vua Cha Ngọc Hoàng, là cha của Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Trong bài Mộng Tiên (夢仙), Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) có đoạn thơ xưng tán Ngọc Hoàng Đại Đế rằng: “An kỳ tiện môn bối, liệt thị như công khanh, ngưỡng yết Ngọc Hoàng Đế, khể thủ tiền trí thành (安期羨門輩、列侍如公卿、仰謁玉皇 、稽首前致誠, mong sao lòng kẻ mọn, hầu hạ như công khanh, ngưỡng tâu Ngọc Hoàng Đế, cúi đầu tâm chí thành).
ĐẾ THÍCH VƯƠNG[ Indra, Śakra, Sakka / Sakradevanam Indra, Śakra-devānām Indra, Śakro devānām indraḥ, Sakko devānaṃ indo ]
( 帝釋天 / 釋王三十三密語 )
Nguồn: http://foxue.foshang.net/fopusa-tian...babuzhong.html
Phục hồi Phạn Chú: Phổ Quảng
http://s1.upanh123.com/2016/10/08/qu...QTA1491e51.png
http://s1.upanh123.com/2016/10/08/20...30999f8be2.jpg
http://s1.upanh123.com/2016/10/08/02302c.jpg
Thích Vương: Mang giày cỏ, tay trái nắm thành quyền để ở eo, tay phải cầm chày Độc Cổ
Thích Vương Tam Thập Tam: màu trắng hồng, tay trái đặt ở eo lưng, tay phải cầm chày Kim Cương. Chân Ngôn là:
.唵末尼迦釋迦跋折羅壁瑠璃耶娑婆訶
.“Án, muội ni ca thích ca, bạt chiết la, tích lưu ly gia, sa bà ha”
.OM MANIKA SAKRA VAJRA VAIDURYA SVAHA
*GHI CHÚ:
Kinh Đại Bi Tâm Đà Ra Ni ghi : “Thích Vương, Tam Thập Tam”
.Thích Vương: Tức vua Trời Đế Thích (Indra hay Śakra). Nguyên Indra là vị Thần của Ấn Độ Giáo, là Thần Lôi Vũ có địa vị tối cao trong các chư Thần, ngồi trên xe có ngựa kéo, vung múa Chày Kim Cương ngăn trị loài Ma ác và đấu tranh với hàng A Tu La. Sau khi du nhập vào Phật Giáo thì Indra trở thành vị Hộ Pháp, là vị Thần Chủ của cõi Trời Đao Lợi, cai quản cả 33 cõi Trời.
.Tam Thập Tam : Tức Tam Thập Tam Thiên (Trayastriṃśa). Cõi này còn có tên là Đao Lợi Thiên, Đế Thích Thiên, Dạ Xoa Bí Mật Kim Cương Thủ… Đây là tầng Trời thứ hai trong 6 tầng Trời của Dục Giới (Kāma-dhātu) ở trên đỉnh núi Tu Di (Sumeru) 4 phương của đỉnh núi đều có thành quách của 8 Thiên, chính giữa là thành Thiện Kiến (Sudṛśa) là nơi cư ngụ của vua Trời Đế Thích, 4 góc của đỉnh núi đều có một ngọn cao 500 Do Tuần có Thần Dạ Xoa tên là Kim Cương Thủ (Vajra-pāṇi) cư trú và phòng hộ chư Thiên.
Chính Pháp Niệm Xứ kinh , quyển 25 ghi nhận 33 Thiên là :
1) Trụ Thiện Pháp Đường Thiên
2) Trụ Phong Thiên
3) Trụ Sơn Đỉnh Thiên
4) Thiện Kiến Thành Thiên (nơi cư ngụ của Đế Thích)
5) Bát Tư Địa Thiên
6) Trụ Câu Tra Thiên
7) Tạp Điện Thiên
8) Trụ Hoan Hỷ Viên Thiên
9) Quang Minh Thiên
10) Ba Lợi Gia Đa Thọ Viên Thiên
11) Hiểm Ngạn Thiên
12) Trụ Tạp Hiểm Ngạn Thiên
13) Trụ Ma Ni Tạp Thiên
14) Du Hành Địa Thiên
15) Kim Điện Thiên
16) Man Ảnh Xứ Thiên
17) Trụ Nhu Nhuyễn Địa Thiên
18) Tạp Trang Nghiêm Thiên
19) Như Ý Địa Thiên
20) Vi Tế Hành Thiên
21) Ca Âm Hỷ Lạc Thiên
22) Uy Đức Luân Thiên
23) Nguyệt Hành Thiên
24) Diễm Ma Sa La Thiên
25) Tốc Hành Thiên
26) Ảnh Chiếu Thiên
27) Trí Tuệ Hành Thiên
28) Chúng Phần Thiên
29) Trụ Luân Thiên
30) Thượng Hành Thiên
31) Uy Đức Nhan Thiên
32) Uy Đức Diễm Luân Thiên
33) Thanh Tĩnh Thiên
hắc thiên
(黑天) I. Hắc Thiên. Phạm: Kfwịa. Cũng gọi Cát lật sắt noa. Hóa thân thứ 8 của Tì thấp nô, một trong những vị thần lớn của Ấn độ giáo. Cứ theo thiên anh hùng ca Mahàbhàratacủa Ấn độ, thì Hắc thiên là một vị anh hùng đa mưu túc kế. Còn kinh Bhagavadgìtàthì gọi vị thần này là Tinh thần tối cao của vũ trụ . (xt. Cát Lật Sắt Noa). II. Hắc thiên. Phạm:Kàla. Hóa thân của trời Đại tự tại. Có thuyết cho thần này là hóa thân của Rô nại la (Phạm:Rudra), hoặc là Đại hắc thiên. Còn Đại nhật kinh sớ quyển 2 thì cho rằng âm Phạm của Hắc thiên là Rô nại la, là quyến thuộc của Tự tại thiên, tức cho Hắc thiên chính là Rô nại la. Nhưng theo kinh Quảng lí thú quyển 3, thì Hắc thiên, Rô nại la và Đại hắc thiên là ba vị khác nhau. [X. Đại nhật kinh sớ Q.10].
Đại Phước Đức Tự Tại Bồ Tát, Phật nói kinh Mahakala Thần Đại Hắc Thiên
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni PHật
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Lúc bấy giờ , Như Lai nói với mọi người rằng : nay tại hội chúng này , có vị đại Bồ Tát tên là " Đại Phước Đức Tự Tại Bồ Tát " . Vào thời rất lâu vị Bồ Tát này thành tựu Chánh Giác hiện là Đại Mani Châu Vương Như Lai .Nay tuỳ theo nghiệp lực tự tại đến thế giới Ta Bà , hiện thân thần Đại Hắc Thiên .
Lúc này Bồ Tát ở trong hội chúng , từ chỗ ngồi đứng dậy chấp tay bạch Phật rằng : Tôi sẽ vì chúng sanh vô phước và bần cùng , vì họ mà ban cho phước đức , nay hiện thân Ưu Bà Tắc cùng quyến thuộc Thất Mẫu Nữ Thiên du hành trong tam giới , đem lại phước đức cho tất cả chúng sanh . Duy nguyện Đức Thế Tôn , vì tôi mà nói đại phước đức viên mãn Đà-La-Ni chú .
Lúc bấy giờ , Đức Thế Tôn hoan hỷ và nói bài chú rằng :
Namo Samanta Buddhanam Om Mahakalaya Svaha
Khi đó Đức Thế Tôn nói với mọi người rằng : Thiên thần chú này , chư Phật trong thời quá khứ ở thế gian không nói , nay trong đời mạt pháp ác thế , nếu có những người bần cùng , thiếu phước mà nghe được bài chú Đà-La-Ni này sẽ biết là người này được ban phát Bảo Châu Mani sanh ra vô vàn Bảo Châu Trân Quí .
Lúc đó , Thần Đại Hắc Thiên bạch Phật rằng : nay có chúng sanh trong đời mạt pháp , trì tụng bài chú này , nếu khắc hình tượng tôi hoặc năm thước , hoặc ba thước ,hoặc năm tất , an vị tại chùa chiền , hoặc thờ phụng nơi gia đình , tôi sẽ khiến các quyến thuộc của Thất Mẫu Nữ Thiên , cùng tám mươi bốn ngàn các vị Thần Phước Đức , sẽ đi khắp mười phương , mỗi ngày sẽ đi cúng dường một ngàn người trong thế gian . Nếu lời nói của tôi là dối trá , không thật , tôi sẽ bị đoạ vào đường ác , không được giác ngộ vĩnh viễn .
Lại nếu dùng tất cả trái cây tươi ngon , rượu tốt để cúng dường , tất nhiên sẽ được hưởng Cam Lộ
Lúc bấy giờ , mọi người tại hội chúng , đều phát tâm hoan hỷ , nghe lời này mà thực hành , đãnh lể rồi lui về.
Phật nói kinh Mahakala Thần Đại Hắc Thiên
Ghi chú :
- Mỗi ngày đọc 2 thời .
- Thời gian tốt nhất là giờ Tý ( 23:00 - 1:00 ) và giờ Ngọ ( 11:00 - 13:00 )
- Đọc kinh 1 lần
- Chú đọc 108 lần
Namo Samanta Buddhanam Om Mahakalaya Svaha
Cách thờ :
- Đậu xanh , đậu đỏ , đậu nành , bo bo , đậu đen , gừng , muối , Rong biển . ( để đúng thứ tự )
- Đèn 2 cây ( mỗi lần đọc kinh và Chú thì thắp sáng )
- Nhang trưng , Rượu đỏ ( cúng dường , bên trái của ngài )
- trái cây ( đặt bên phải của ngài )
( http://www.nhacsiquyluan.com/forum/s...AFc-Thi%C3%AAn )
【大黑天神】法真言:【唵,密止密 ,舍婆隸,多羅羯帝,娑婆訶】,梵 (Om miccimicci Svare Toragate Svaha)
《大黑天神法》载其真言为:「唵蜜 蜜止(micch micch,降伏)舍婆隶(svare,自在)多 羯帝(taragate,救度)娑婆诃。」
( http://www.lama.com.tw/content/msg/D...l.aspx?Id=4596 / http://www.lz333.com/HF/News_show.asp?Newsid=1870 / http://www.baike.com/wiki/%E5%85%AD%...98%8E%E6%8B%89 / http://www.yinxinzong.net/ol/lbm.htm / http://www.6fo.org/6fo/a/zaixianlifu.../1107/149.html )
6. ĐẠI HẮC THIÊN
Đại Hắc Thiên là một vị Trời rất kính ái Tam Bảo, hộ trì người tu hành, thỏa mãn đầy đủ
tư tài (tiền bạc, của cải cho tất cả chúng sanh thế gian và xuất thế gian). Trong Phạn ngữ, Đại
Hắc Thiên là Mahakala, là một trong những vị thần thủ hộ Mật Giáo, còn trong tiếng Hán Việt là
Ma Ha Ca La hoặc Mặc Ha Ca La, Đại Hắc, hoặc Đại Thời, hoặc còn gọi là Ma Ha Ca thần….
Trong Ấn Độ giáo (Hindu) vị thần có biệt danh là Siva (Thấp Bà hay Bà Đột Ca, hậu của
Thấp Bà hóa thân) chư phá hoại chiến đấu. Phật giáo lại thấy đây là hóa thân của Đại Tự Tại
Thiên, hoặc ngài Tỳ Lô Giá Na Phật hóa thân. Các thuyết không giống nhau, trong đó có thuyết
xem ngài Đại Hắc Thiên như một vị phước thần để cúng bái cầu xin. Trong Đại Nhật Sớ kinh nói
rằng đây là vị thần phẫn nộ, hàng phục Đồ Cát Ni. Cũng có thuyết nói rằng vị thần nầy là Ma Ê
Thủ La (Đại Tự Tại Thiên) hóa thân, tức là Trưng Gian thần, Chiến Đấu thần. Thuyết nầy đã
công nhận Đại Hắn Thiên là Ma Ê Thủ La hóa thân cùng với vô số quyến thuộc quỷ thần ban
đêm du hành ở trong rừng, ăn máu thịt của người sống để có sức mạnh cho các phép chiến đấu
để đạt toàn thắng. Do đó Đại Hắc Thiên còn gọi là Chiến Đấu Thần.
Căn cứ vào kinh Đại Tập Đại Phương Đẳng, quyển 55, phẩm Phân Bố Diêm Phù Đề đã
nói rằng: “Đại Hắc Thiên Nữ và Thiện Phát Cát Thát Bà đều hộ trì cho nước Bà La Nại.”
Trong Mật giáo Tây Tạng, Đại Hắc Thiên được gọi là Mahakala, là vị tôn chủ hộ pháp
trọng yếu. Sự truyền thừa hình tượng Ngài trong các trường phái Tây Tạng thì không đồng nhau,
tánh chất và tác dụng cũng bất đồng. Tôn tượng và đặc tính của Ngài Đại Hắc Thiên có rất nhiều
cách diễn tả khác nhau như: Đại Hắc Thiên hai tay chủ yếu là hộ trì cho những hành giả tu Hỷ
Kim Cang. Đại Hắc Thiên bốn tay chủ yếu hộ trì cho hành giả tu Đại Thủ Ấn. Đại Hắc Thiên sáu
tay chủ yếu hộ pháp cho phái Hương Ba Cát Cử và Cách Lỗ. Đại Hắc Thiên sáu tay màu trắng
chủ yếu hộ pháp của phái Tát Ca Cử, trong đó Bạch Ma Ca La còn có tên là Bổn Tôn Tài Thần.
Ngoài ra vị Trời nầy còn là Tài Phước thần, Ty Ẩm Thực.
Trong Nam Hải Ký Quy Nội Pháp truyện, quyển 1 Thọ Tế Quỷ Tắc có đề cập: “Tất cả
các đại tu viện ở phía tây, bên cột nhà bếp hoặc trước các kho tàng, đầu cột có điêu khắc hình
tượng Đại Hắc Thiên màu đen.”
Tương truyền vào thời cổ đại, Đại Hắc Thiên là thuộc hạ của Hỏa Thiên, rất kính ái Tam
Bảo, hộ trì 5 chúng để khỏi bị hoa tổn, phàm có nghười cầu đều được xứng nguyện. Mỗi khi đến
giờ ăn cơm, vị thầy đặc trách nhà bếp thường thường dâng cúng lên ngài Đại Hắc Thiên hương
đèn, đồ ăn trước. Trong văn bản cũng có đề cập đến chùa, miếu ở Hoài Bắc, tuy nhiên không có
phong tục cúng dường ngài Đại Hắc Thiên. Phàm có người cầu xin đều có ứng nghiệm một cách
lạ lùng.
Ngoài những điều nầy, ở Nhật Bản các chùa đều căn cứ vào Nam Hải Ký Quy truyện có
nói: “Thịnh hành nhất là các nhà kho ở nhà bếp đều an trí tượng ngài Đại Hắc Thiên hai tay”.
Trong Nam Hải truyện cũng có viết về sự tích ứng hóa của Đại Hắc Thiên.
Có một ngôi chùa tên là Đại Niết Bàn Thiền Na Tự, thường ngày ở trong chùa có khoảng
100 tăng sĩ, nhưng hằng năm đến mùa lễ bái thì có nhiều tăng sĩ các nơi hội về. Điều nầy làm
ban ẩm thực ở chùa gặp nhiều khó khăn. Có một lần, vào buổi trưa có khoảng 500 tăng khách
đến đây lễ bái, chùa không còn khả năng cung cấp đồ ăn uống trong lúc nầy, nhưng cũng không
thể để cho 500 vị tăng khách nhịn đói. Trong khi tất cả mọi người trong chùa không biết giải
quyết bằng cách nào, thì có một bà già nói: “Chuyện nầy là thường xảy ra, đại chúng đừng nên lo
lắng.” Chỉ thấy bà lão đốt một nắm hương lớn, hướng về ngài Đại Hắc Thiên, thành kính bạch
rằng: “Đại thánh! Chư tăng bốn phương đến đây để dâng lễ bái thánh tích. Kính mong ngài đừng
để cho đại chúng thiếu đồ ăn.” Khi lời cầu nguyện nầy chấm dứt, liền khiến cho đại chúng lấy số
thực phẩm trước đây dự trù để cung cấp cho tất cả đem ra, nhưng lạ thay, số người ăn so với số
bình thường hơn nhau mấy trăm người, nhưng thức ăn vẩn không thiếu. Đại chúng vô cùng cảm
kích và kinh dị.
Người Nhật cũng lấy ngài Đại Hắc Thiên là một trong bảy vị phước thần. Vị Đại Hắc
Thiên được công nhận giúp cho thế gian quan vị và phú quí, đã được nhân gian sung tín rộng rải.
Đông Mật tương truyền ngài Đại Hắc Thiên nguyên là Đại Nhựt Như Laithị hiện hình tướng của
thần Dược Xoa phẫn nộ để hàng phục ác ma. Tạng Mật lại truyền là Quan Thế Âm Bồ Tát thị
hiện hóa làm vị đại hộ pháp. Có sự tương đồng giữa 2 hệ phái Mật Tông Nhật Bản và Tây Tạng
đều xem trọng pháp tu của Bổn Tôn.
Do tôn nầy thống lãnh vô lượng quỷ thần quyến thuộc, lại còn them kỹ thuật phi hành và
ẩn hình lâu, cho nên trong chiến tranh thường gia hộ cho các sở cầu của chúng sanh khiến cho
thực phẩm được đầy đủ. Do đây mà các tu viện ở Ấn Độ và Trung Quốc, tỉnh Giang Nam người
dân thường thờ cúng trong nhà bếp. Người ta cũng thờ cúng vị Đại Hắc Thiên trong nghĩa địa.
Cũng tương truyền rằng vị thần nầy cùng với quyến thuộc của Thất Mẫu Nử Thiên thường cứu
giúp người nghèo khó. Do đó mà Đại Hắc Thiên được thông dụng gọi bằng 4 tên: Chiến Đấu
Thần, Trù Phòng Thần (nhà bếp), Trủng gian Thần (Nghĩa Địa), Phước Đức Thần.
Đại Hắc Thiên Hình Tướng
Liên quan đến tôn tượng của Ngài, trong Tuệ Lâm Âm Nghĩa, quyển 10, mô tả tượng
ngài có 8 tay, thân ngài màu mây đen xanh. Hai tay ôm ngang bụng cầm cái kích chỉa ba, tay
phải thứ hai cầm con dê màu đen xanh, tay trái thứ hai nắm đầu tóc của nột ngạ quỷ, tay phải thứ
ba cầm kiếm, tay trái thứ ba cầm Khiết Trá Cang Ca tức là cái chuông đầu lâu dấu hiệu phá hoại,
tai họa. Hai tay sau, mỗi tay để ở trên vai đở một tấm da voi trắng như trong thế mặc áo. Dùng
rắn độc xâu đầu lâu là chuỗi hột. Phía trên nhe răng cọp ra tạo nên hình tướng rất hung giữa.
Dưới có Địa Thần Nữ Thiên đang dùng 2 tay để đỡ chân.
Ngoài những điều tương tự mà sách Đại hắc Thiên Thần Pháp đã ghi, còn có hình ngài là
3 mặt sáu tay màu xanh. Tay trái và tay phải của mặt trước để ngang cầm kiếm, tay trái thứ nhất
cầm búi tóc của người nâng lên, tay mặt thứ nhứt cầm một con dê cái, hai tay thứ hai để sau lưng
trùm 1 tấm da voi. Cổ dùng đầu lâu làm hột chuỗi. Trong tranh Mạn Đà La có tôn hình và hình
tượng nầy giống nhau, chỉ trừ con dê và đầu người là khác nhau. Nhưng trong Tối Thắng Tâm
Kinh nói rằng ngài Đại Hắc Thiên mặc da voi, cầm ngang một cây thương, một đầu đâm thẳng
vào một đầu người, đầu kia đâm vào một con dê. Trong Nam Hải Ký Quy truyện nói hình của vị
nầy đeo túi vàng, ngồi trên một giường nhỏ và thòng một chân .
Nói tóm lại, liên quan đến tôn hình của ngài thông thường có 2 loại, một loại hiện phẫn
nộ như thân màu đen, ngồi trên tòa hình tròn, trên tóc phát ra lữa dựng đứng, ba mặt sáu tay, tay
phải thứ nhất cầm mặt dao hình mặt trăng nằm ngửa, tay thứ nhì cầm tràng hạt bằng xương, tay
thứ ba cầm trống nhỏ. Tay trái thứ nhất cầm thiên linh cái, tay trái thứ hai cầm chỉa ba, tay trái
thứ ba cầm xích Kim Cang, phía trên 2 bên trái phải 2 tay nắm một miếng da voi căng rộng.
Một loại khác tạo hình theo phước thần, làm theo hình dáng của phàm nhơn, đầu đội mũ
tròn, vai mang 1 cái bị, cầm một cái chày nhỏ, chân đạp bị gạo.
Trong lúc tu pháp điều phục, phẫn nộ hình được dùng nhiều trong pháp hàng ma. Phước
thần được dùng trong pháp tu cầu phước đức.
Người tu tập về Đông Mật hoặc Tạng Mật, đối với ngài Đại hắc Thiên có phần quan
trọng. Hành giả dùng ngài để cầu đảo, trừ ma, thành tựu thắng lợi và công đức.
Tự chủng: Ma
Chơn Ngôn: Om Maha-Kalaya svaha
Nghĩa: Qui mạng, Đại Hắc thành tựu
Chơn ngôn: Om Micch micch svare taragate svaha
Nghĩa: Qui mạng hàng phục, tự tại, cứu độ thanh tịnh.
( http://www.chuadainhatnhulai.org/pdf...iemBocPhap.pdf )
http://s1.upanh123.com/2016/10/08/t....small0a79f.jpg
( http://gunsoh.fc2web.com/singon-1.htm )
地天(Prthivi)
ナウ マク サ マ ンダ ボ ダ ナン・ビリ チ ビエイ ソワ カ
(Namah samanta-buddhanam prthivyai svaha)
梵名;プリティーヴィ
huru-huru.muru-muru.curu-curu.ayuh.palani.sura-vara.marthani.
呼噜-呼噜.呣噜-呣噜.祖噜-祖噜.阿佑.巴拉尼.苏拉-瓦拉.玛惹他尼
namo vaga mavadudhu
拿莫 瓦嘎 马为达度
dhatu dhari padma bhavati
达睹 达利 巴得吗 巴瓦地
savari.dramidi.raudrini.sarvartha.sadhani 侠瓦哩.怛密低.捞迪昵.萨惹哇惹踏.萨 尼.
... 洒噜(引)跋驮(引)哩抳婆(上)誐嚩底摩 (引)尾儞也(二合)埿(上)尾啰吃洒(二合 )啰 ...... ri ga^mdhaari, ca.n.daali, maata^ngi vacasi, sumati, pukkasi, `savari `savari ...
( http://tieba.baidu.com/p/3045654749 / http://read.goodweb.cn/sutra/08/1153.asp / http://baota.fjnet.com/jingwen_03.html / http://bbs.bushinet.com/forum.php?mo...read&tid=59818)
堅牢地神咒:Namah Samantha Buddhanam Om Pritivye Svaha
Namaste,
In Taisho Tripitaka 1280
we have teaching about Goddess of Art (Chinesse and Japanesse call Her Goddes of Art)
Thus i heard, one time Mahesvara with many Devis is dancing in sukha, and then from Mahesvara's crest born Devi who speak this Dharani :
Namo Ucci maya Sikha Deviye
讷谋 乌之之衣 摩耶 师衣可 逮微耶衣
pra-patya-Si kara-carum. Tadyatha,
波惹 波跌 师衣 科惹 遮如M 德叠特
sva-jatile vi-rama jalini
司窝 遮低类 微热摩 遮里你
hum phat svaha.
吽 颇的 娑诃
please, anyone know the meaning of this mantra ?
and in Hinduism , this Devi is who ?
i only know :
Namo = i refuge
Ucci = Manifestation
Maya = ilution
Sikha = crest
Deviye = Goddess
thanks
( http://hindudharmaforums.com/showthr...esvara-s-Crest )
《聖大解脫經》中的陀羅尼
爾時。師子吼菩薩即於佛前而說咒曰
南無佛陀。南無達摩。南無僧伽。
阿亶地陀羅尼。 多陀呵。阿伽闍尼。婆毘。薩婆達摩 婆毘。伊舍 摩陀毘婆舍那。毘摩羅修缽離達摩。 佉那。婆。樓尼叉。夜多摩隸。遮隸 睺樓睺樓。師鞞帝。曼哆羅曼哆羅。 沙訶。
( namo buddha ya , namo dharma ya , namo sanggha ya.
a dan tidha ra ni , tadyatha , a ka sha ni , ba bi ni , sarva dharma ni va ni, i sha ma da pi pa sha na , vimalasuparri dharma , ni kha na , va ra , ru ni ca, ya tamale , cale , huru huru , shivite , mantra mantra mantrah , svaha . )
( http://cwho02.blogspot.com/2010/06/blog-post_3319.html )
十罗刹女陀罗尼
大梦难觉 (文武两道)
驱魔斩祟,安稳修佛。 众佛菩萨之陀罗尼,以悲智双运护持 生,慈心广大。罗刹女之陀罗尼,尚 达无漏,故有煞气暗伏。以此咒驱魔 ,好似以魔制魔,威力巨大。 原经本汉字 “伊提履、伊提泯、伊提履、阿提履 伊提履、泥履、泥履、泥履、泥履、 履、楼醯、楼醯、楼醯、楼醯、多醯 、多醯、多醯、兜醯、梭哈” 罗马拼音 “Iti me、Iti me、Iti me、Iti me、Iti me、ni me、ni me、ni me、ni me、ni me、ruhe、ruhe、ruh...
( https://book.douban.com/subject/1352283/ )
Ganapati Short Mantra
NAMAḤ SAMANTA BUDDHĀNĀṂ MAHĀ-GAṆA-PATAYE SVĀHĀ
Om varataka svaha [Peaceful]/ Om bagavate ekadamstravanidha siddhi hum [Productive]/ Om brum
ganapataye svaha [Powerful]/
OṂ NAMO GAṆAPATI/ JAYA VARANE/ JĪVANTĀYE SVĀHĀ
NAMO VINĀYAKASYA HASTI MUKHASYA
TADYATHĀ: OṂ NĀYAKA NĀYAKA, VINĀYĀKA VINĀYAKA, TRAYAKA
DHṚ-TRAYAKA, ŚAṂKHA-HASTI, ŚAṂKHA KASITA, ŚĀNTI-KARA SVĀHĀ
[Mantra]
OṂ GAḤ GAḤ HŪṂ SVĀHĀ
oṃ namo ‘stu te mahāgaṇapataye svāhā /
oṃ gaḥ gaḥ gaḥ gaḥ gaḥ gaḥ gaḥ gaḥ /
oṃ namo gaṇapataye svāhā /
oṃ gaṇādhipataye svāhā /
oṃ gaṇeśvarāya svāhā /
oṃ gaṇapatipūjitāya svāhā /
oṃ kaṭa kaṭa maṭa maṭa dara dara vidara vidara hana hana gṛhṇa gṛhṇa dhāva dhāva bhañja bhañja jambha jambha tambha tambha stambha stambha moha moha deha deha dadāpaya dadāpaya dhanasiddhi me prayaccha /
oṃ rudrāvatārāya svāhā /
oṃ adbhutavindukṣubhitacittamahāhāsam āgacchati /
mahābhayamahābalaparākramāya mahāhastidakṣiṇāya dadāpaya svāhā /
oṃ namo ‘stu te mahāgaṇapataye svāhā /
oṃ gaḥ gaḥ gaḥ gaḥ gaḥ gaḥ gaḥ gaḥ /
oṃ namo gaṇapataye svāhā /
oṃ gaṇeśvarāya svāhā /
oṃ gaṇādhipataye svāhā /
oṃ gaṇapatipūjitāya svāha /
oṃ suru suru svāhā / oṃ turu turu svāhā / oṃ muru muru svāhā /
[mantra]
Om Gam Ganapati mama ratna siddhi/
Ga ga ga ga ga ga ga ga Ganapati svaha/.
[dharani]
Om Ganapati ratna ratna ratna siddhi mama rodha rodha/
Ganapati/ Ga ga ga ga ga ga ga ga kata kata svaha/ Ganapati
ratna pustikara mata mata svaha/ Ganapati siddhi vasim kuru
rata rata svaha/ Ganapati ratana bausata grihna grihna svaha/.
Ganapati’s Exalted Mantra for Breaking Opposing Forces
A supremely powerful mantra that can shatter anything with perfect natural ease.
Tadyatha/ Namah stute ganapati/ Katta kattal Madda madda/
Radda radda/ Daha daha/ Grihna grihna/ Bhanja bhanja/ Namah stute/
Ganapati rurucanaya svaha/ Om A bhum travinabukhanance dhara
bhrama gacchati/ Hahaya/ Mahuhatiksitananapraye mayemi/ Kuru
kuru/ Curu curu/ Muru muru/ Namo nama svaha/
==============================
OṂ NAMO GAṆAPATI/ JAYA VARANE/ JIVANTIYE SVĀHĀ
[Tibetan pronunciation: OṂ NAMO GAṆAPATI/ DZAYA BARANE/ DZIBANTIYE SŌHĀ]
OṂ NAGALA SKAMAN JAYE SVĀHĀ
[Tibetan pronunciation: OṂ NAGALA SKAMAN DZAYE SŌHĀ]
( https://medium.com/vajra-resources/g...622#.ri2iin8or / http://tibetanaltar.blogspot.com/200...t-dharani.html / https://buddha-nature.com/2015/01/25...a-pa-tii-gzun/ / http://dharmawheel.net/viewtopic.php?t=9083 / https://gnosticteachings.org/courses...eginnings.html / http://bhadrasblog.blogspot.com/2009...ara-sutra.html / https://www.google.com.vn/webhp?sour...NG+PHAT+SWAHA. / http://abhidharma.ru/A/Tantra/Content/Ganapati/0001.pdf )
Vaisravana Sutra (毘沙門天王經)
At that time, Vaisravana clasped his hands in front of the Buddha. He said to Buddha: “For the benefit of future sentient beings so that they can be peaceful, rich in abundance, to protect and support their countries; I hereby announce my own mantra. This mantra of mine is as if cintamani jewel and can fulfil the wishes of all sentient beings. Lord of the world, please listen and allow I to speak.”
The Buddha said: “Sadhu, sadhu (praise) Vaisravana. You can read the minds of all sentient beings, I allow you to speak.”
Vaisravana hence with extreme pleasure announced his heart mantra in front of the Buddha:
Namo.ratnatrayaya. Namo.vishuramanaya.Maha.rajaya.Sarva.satvm.Namo.su-parib.solo.solo.selo.selo. jili.jili.juru.juru.muru.muru.zulu.zulu-satvaya. katam.momo.niryatiya. motanampowa.svaha. visra.mona-ya.svaha.tuonamna-ya.svaha. Mona-rata.polibu-roka-ya.svaha.
After Vaisravana spoke of his mantra, he again told Buddha: “Now I elaborate more on the method of reciting this mantra. Get some Benzoin, white sandalwood, Sapura (Dryobalanops aromatica Gaertner f.), tagara, mastic leaf and styrax balsam. Mix them well and offer them to me, Vaisravana. If you want to invite me, do the fundamental mudra: move both of your thumbs towards your body. After that recite the mantra 7 times and release the mudra on top of your head.
Tadyatha: Namo.Vishura.mona-ya.Namo.tranana-ya.tranisivara-ya.abicho-bicho.apolimitotrani-sivaraparamoka-runika-sarvasatvam.Siddho.citto.momotranamo.ruparaksava.y ama.bhicho.svaha.
If a practitioner is persistent in reciting the Vaisravana mantra, then the prince of King Vaisravana Nazha will come in the form of a kid and ask this practitioner what is the business of calling his father. The practitioner should say, “I want to make offerings to the 3 gems so please bestow me with wealth.” The kid Nazha will immediately return to the palace of King Vaisravana. He will tell his father that the practitioner is asking for all kinds of treasures. It is for the purpose of offering and hence to benefit all sentient beings. King Vaisravana will tell Nazha that you should give him 100 pieces of gold coins (money) until this person dies. The kid Nazha will give the person 100 gold coins every day. If the practitioner put the gold coins beside his head, then the coins will emit a special kind of fragrance. The person who is bestowed with this kind of fortune, other than personal uses; he must also donate generously. He should not save the money and be stingy. The person should always be compassionate to all sentient beings around his place and he should watch his tempers.
He should offer the most excellent incense, flower, food and beverages and also lamps to the Buddha, Dharma and Sangha at a quiet place; coupled with in thoughtful meditation and consistency on behalf of King Vaisravana and his dependents. In remembering the kindness of King Vaisravana, one should always recite the suspicious chant. This will enable the King Vaisravana to receive all kinds of auspiciousness. Hopefully the King Vaisravana and all his relatives assist the practitioner. One should also recite auspicious chants even to the messengers and armies of the King and this will enable King Vaisravana to get all auspiciousness.
By doing so, one will receive the praises from all sentient beings in a country and all 10 benefits praised by the Buddha. What is meant by 10 benefits are so called:
Pure trust
Sila (behavioural discipline)
Listen to dharma
Let go
Accept what is good
Wisdom
Perfect features
Power
Good in arguments
The freedom of wealthy appearance, voice, smell, taste and touch.
He will have new insights into Buddhist teachings and hence achieve enlightenment and be bestowed with superb dharma teachings. He will also obtain the 37 qualities and this will assist him in preaching Buddha dharma. If a practitioner make such wishes everyday; then King Vaisravana will feel happy and inform his followers and dependents, “You all must see, this person has paid utmost respect to me.”
The King will again tell NaZha about the practitioner’s wishes: if he wishes to see me, the Yaksa King Vaisravana and wanted to close the passage to lower bad realms. Whatever he thinks of you must fill his wishes. You must increase his life a 100,000 years. Let him obtain all types of wish fulfilling jewels and also let him obtain the ability to fly in the air; servants and also hidden treasures. Be it a man or a woman until the kings, let them beloved this person. Let him understand the languages of all animals. Let him be rich and never in poverty.
A practitioner should invite an artist to draw an image on the 8th day or the 15th day of first half of a lunar month. The artist must first go through the 8 precepts retreat, after taking a bath. He should a natural white cloth for the drawing and that the colouring material should not contain hide glue. In the centre a picture of Siddharta Gautama Buddha preaching should be drawn. On the right of the Buddha is the image of Laksmi. Her eyes are wide and elongated with peaceful facial expression. She is wearing a heavenly crown on her head and her body is adorned with keyura and armlet as ornaments. Her right hand is making the varada mudra while her left hand is holding a blossoming lotus. After the drawing is completed, it should be put in a quiet and clean place. The picture shuld be offered with incense paste, flower rosary, incense, food and beverages and lamps. In order to make offerings to Buddha and Laksmi, the practitioner should not have improper mindsets or be afraid. He should have a determination in his heart in reciting the below Laksmi mantra:
Namo.Shri.Ga-na-ya.Namo.Visramona-ya.Maha.yaksa.ra-ja-tira-ya.Namo.Shri.ya-i. Maha-Devi-tamiyata.Om.tara.tara.turu.turu. susekimanikanaka. vajra. vinuriya. mukrita. Namo-lingkitapu-sarva.satvm.siddhoga-mo-visra.mona.shri-ya.Devi.moravi.yisik-sikurana.kurana.mosa.mosa.nara.sayasiddhi.nana-simi.nara.sinangha-mosie-naro.senan.para.hara.hara-nayamono.svaha.
At this time, the King Vaisravana sees that the practitioner uses this mantra as an offering to the Buddha. He pities the practitioner, and hence he materializes in front of the person in the form of a kid or a kulapati (Buddhist). He is holding a wish fulfilling gem in his right hand and a gold trunk. He approaches the drawing with a calm face. After he prostrated to the Buddha, he speaks to the practitioner: “What is your wish?”
Is it that you want to go into the cave of Asura? Or you want hidden treasures? Or you want to control fire and mercury? Or you want intimate relationships and beloved? Or you want the success of realgar? Or you want the success of angsana medicine? Or it is that the success of Vidhyahara you want? Or perhaps you want the ability to fly in the air? Or even to prolong your life to 1 kalpa? If these are what you want or any other wishes shall be granted. The practitioner replied to King Vaisravana: “I wish where I go shall not be blocked. I wish I obtain unlimited gold and silver with unlimited titles, fortune and merits. I wish my life is of unlimited kalpas and that I can fly in the air. I wish I can have various freedoms of yoga.”
After listening to the practitioner’s wish, the King Vaisravana wanted to emphasize his meaning hence said the below stanzas:
Supposed the sun and the moon drop from the air onto the ground,
Or the Earth overturned, if this indeed happens,
You should not doubt, this is not difficult and can be easily done.
There is no need for fasting or precepts, benefits to every poor.
He shall be beloved by everyone, until he meets his death.
The blessings of Vaisravana, avert all disasters.
All Yaksas will protect, and follows the practitioner.
If he is consistent to my teaching, then he will have all accomplishments.
The effects are as fast as arrow flies; he is beloved by all kings.
He obtain endless of precious items and thousand koti yaksas too,
Protect the practitioner; they help to fulfil all wishes.
He will be freed from various lower bad realms, if he sees Vaisravana;
Then Kubera will bestow fortune, he also obtains great wisdom.
He even will obtain the 3rd eye, with his life span extended as long as one koti.
Anyone with sincere hearts, if they respect this teaching;
They should request for accomplishment, with full confident and without doubt.
This is a method for protection, as said by Vaisravana;
Due to this empowerment, the accomplishment of mantras (shall be bestowed!)
Now recite this mantra of protection:
Namo.ratna.trayaya.Namo.Visuramana-ya. Maha-ra-ja-ya.Tadhyata: Om.yaryar.sena.sena.quna.qunu.Maha-ra-ja.saksa.saksa.samao.ponaravi-viya.svaha.
Now I describe the foundation mudra: cross both fingers inwards with right hand on top of the left. Erect both ring fingers and let them touch each other. Let the index finger tips slightly bent forming hooks. If you want to invite, then move the mudra towards your body, if you want to dispatch then move the mudra outwards.
Secondly, I describe the Laksmi body mudra: clasp both hands with the centre of the palms hollow. Part the thumbs, middle and ring fingers, thus forming the shape of a lotus. With both of the thumbs and small fingers erect and pointing upwards.
When you are reciting mantra, then do this mudra in front of your chest and recite the mantra 7 times and then release the mudra on top of your head.
The mantra of King Vaisravana
Namo.peishuoluoponaxie. Maha.heluoduxieshibing.svaha. Shipo.dieli.svaha.
Recite this mantra 7 times onto a clean oil and apply around your bedroom for requesting wealth or others; your wishes shall be fulfilled.
毘沙門天王經
The Sutra Of Heavenly King Vaisravana
Qiǎo fū xiān hán fēn zhòng fú qiǎo fū yīn xiā gèn tā fú gèn kòu quán zè fú yì nán yì zī zuǒ jiāo guī rēng gòng shì xiān tā fú fān àng yī quán fú chú yī mǐn zuǒ fú āo xìqiǎo xiū xiǎ zī bì xì yīn xiā gèn tā zuò dāo fú jiāo xiàng fū bì hǎo yì yì nán yì zī chú dāo xiàng yè āo yǎn kǎ yú fān àng chén chú chú chén yì yì yì yì yì xiān chén yì xiān chén yī xiān chén dīng gòng chén nǎi bīng chén zī bīng chén òu bīng chén zhōu lè fú zhào ào gèn gèn shì niǔ gèn huì fú shǐxiàng sòng kòu yīn xiā gèn tā fú sòng kòu lè qiǎo diāo fú sòng kòu gèn fú xiān huì rēng gòng shì xiān yǐ fú sòng kòu
qiǎo xiū zhòu wán tā fú qiǎo fū yīn xiā gèn tā fú gèn kòu fú xiǔ quán zè qiú quán zè fú qiǎo xiū zhòu zhòng fèn gèn kòu zhǐ zhā āo yǎn kǎ yú āo xiān chén jiā bīng chén chú xùn chén gèn zhàng yī qiǎo yīxiàng tiǎn yīn xué bó zī shēn zuǒ jiāo chěn kàng āo dié yì nán yì zī káng āo yǐ gèn yīn xiā gèn shì zhòu fú zhǐ chī gèn cùn chī chōng zhù káng me duì chén gèn yì chén zhì zài fú fān àng diāo diāo káng huǒ zhì zài qiǎo yǐ gèn liǎng zhì zài wù máng fěi dāo fú gèn dōng sòng kòu
( http://seatranslate.blogspot.com/201...ana-sutra.html )
TỲ SA MÔN THIÊN VƯƠNG
( http://kinhsach.net/product/123k1n15...vuong-33cm.htm )
Tài Bảo Thiên Vương là một thân biến hóa của Tỳ Sa Môn Thiên Vương (Vaiśravaṇa) dùng hiện bày thân phần Hộ Pháp Xuất Thế Gian, thân ấy ở cung Liễu Diệp tại phương Bắc trong Tịnh Thổ của Kim Cương Thủ Bồ Tát (Vajra-pāṇi-bodhisatva) cùng với Kim Cương Thủ Bồ Tát có ngọn nguồn rất sâu xa, thuộc vào Bộ thuộc của Kim Cương Thủ Bồ Tát, đồng thời có đủ Phước Đức lớn, chuyên môn bảo hộ tài phú của chúng sinh, lại kèm chức vụ chủ quản tiền tài, tên Phạn xưng là Kubera, là bậc thủ hộ tất cả tài phú trên đời, là vị Thiện Thần trong coi tài bảo phú quý, hộ trì Phật Pháp
Ngoại Hóa Hiện: là một trong bốn vị Đại Thiên Vương, tên Phạn là Tỳ Sa Môn(Vaiśravaṇa) là Ngoại Thần của Thiên Đế Thích, cư ngụ tại Thủy Tinh Đóa ở núi Tu Di (Sumeru), là vị Thần thủ hộ Phương Bắc của Diêm Phù Đề (Jaṃbu-dvīpa), tên làDạ Xoa Bộ Chủ. Lại do Phước Đức của Thiên Vương vang dội khắp bốn phương nên xưng là Đa Văn Thiên Vương, chức phận chủ yếu là trông coi kho tàng tiền của châu báu trong cảnh Dạ Xoa ở phương Bắc với Sự Nghiệp Bộ (Karma-kulāya) của sự giáng phục, có thể dùng diệt trừ Quỷ Thần, Ác Sát (hung thần ác)gian trá xảo quyệt
Y theo Kinh Điển đã ghi chép: Khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Śākya-muṇi) hiện bàyNiết Bàn (Nirvāṇa) thời phó chúc cho bốn vị Đại Thiên Vương: “Ở đời vị lai có vua chúa Tà Kiến hủy diệt Phật Pháp thời đều nên hộ trì Phật Pháp”. Ngay lúc đó, Thiên Vương đỉnh lễ trước mặt Đức Phật rồi ở trước mặt Đức Phật lập Thệ Nguyện sẽ thống lãnh quyến thuộc, nguyện hộ trì Phật Pháp, bảo hộ cho Đệ Tử của Phật Môn ở phương Bắc, khiến cho Chính Pháp trụ lâu ở Thế Gian, kèm theo cung cấp Tư Lương Tài Bảo cho chúng sinh khiến cho họ thành tựu Pháp Thế Gian. Bởi thế, tướng bên ngoài ấy tuy hiển hiện dung mạo Tài Bảo Thiên Vương nhưng thật chất là nơi hóa hiện của Đức Phật Đà. Chung quanh Tài Bảo Thiên Vương có Bát Lộ Tài Thần làm Bộ Thuộc hiệp trợ Tài Bảo Thiên Vương hóa độ chúng sinh nhằm thỏa mãn nguyện ước của chúng sinh, là Thủ Lãnh của chúng Tài Thần
Bát Lộ Tài Thần lại xưng là Bát Tuấn Tài Thần, Tài Thần Bát Đại Tướng. Tám vị Tài Thần này là Bạn Thần của Tài Bảo Thiên Vương gồm có: Đông Lộ Hoàng Khố Thần, Nam Lộ Hoàng Khố Thần, Tây Lộ Bạch Khố Thần, Bắc Lộ Hắc Khố Thần, Đông Nam Lộ Hoàng Khố Thần, Tây Nam Lộ Hắc Khố Thần, Đông Bắc Lộ Bạch Khố Thần, Tây Bắc Lộ Hoàng Khố Thần…. đều trông coi kho tàng của Trời (thiên khố) ở tám phương, lắng nghe lệnh tế độ cho Hành Giả học Phật bị thiếu tiền của, giải cứu tất cả chúng sinh nghèo cùng khốn khổ. Các vị này có dung mạo mười phần tương tự như Tài Bảo Thiên Vương, thân khoác áo giáp hoa quý, cỡi con tuấn mã đồng với màu sắc của thân mình, tay phải đều cầm một món Pháp Khí, tay trái cầm con chồn sóc phun ra vật báu, đều ở tại phương của mình
Tài Bảo Thiên Vương có bốn vị Vương Phi, bốn người con, lại có tám vị Đại Dược Xoa thành tựu sự nghiệp, tám vị Đại Long Vương ban cho tài bảo, Ngũ Tính Tài Thầncùng với tám Bộ Trời Rồng, quyến thuộc của các Lộ Tài Thần nhiều vô tận
Thiên Vương có thân màu vàng như đồng với một dạng vàng ròng xán lạn huy hoàng. Từ trên thân phóng bắn ra vạn đường tia sáng mãnh liệt, đầu đội mão năm Phật có vàng ròng và đá báu trang sức, trên khôi giáp vàng chóe khoác thêm áo Trời bằng sợi tơ của loài hoa quý. Hai mắt tròn trong, râu tóc mọc đầy ở cổ họng, mặt hơi giận dữ, cỡi con sư tử trắng bờm xanh há miệng lớn, tay phải cầm cây phướng báu chuyển động không dừng, cây phướng báu chuyển động liền liên tục sinh ra tài phú rải bày trên đất chẳng dứt, tay trái ôm một con chồn sóc phun ra vật báu, từ trong miệng của con chồn sóc hay phun ra châu báu chẳng cạn chẳng thể dùng hết được.
Ý nghĩa của hình tượng:
.)Thân màu vàng biểu thị cho Pháp Tăng Ích (Puṣṭika)
.)Đầu đội mão năm Phật có vàng ròng và đá báu trang sức biểu thị cho năm Trí của Phật
.)Cây phướng báu chuyển động không dừng biểu thị cho việc ban tài phú và sự đầy đủ cho con người cùng với mưa móc trân quý chẳng thể khuyết thiếu trong Phong Điều Vũ Thuận
.)Con chồn sóc phun ra vật báu biểu thị cho việc hay ban cho tài bảo không cùng tận
.)Cỡi con sư tử trắng bờm xanh há miệng lớn biểu thị cho việc chẳng những có thể giảng nói Phật Pháp mà còn hay phun ra các loại tài vật châu báu
.)Trên thân phóng bắn ra vạn đường tia sáng mãnh liệt biểu thị cho kho tàng của Trời (thiên khố) chứa tài bảo vô tận là sở hữu của Ngài.
_Chữ chủng tử của Tài Bảo Thiên Vương là: VAI / 毗沙門的梵文悉曇種子字為「vai」, 文種子字為「bai」
_Căn Bản Chú:
OṂ_ VAIŚRAVAṆAYE SVĀHĀ
Namo Samanta Buddhanam. Om Turu Turu Prithivi Svaha.
( http://pbms.org.my/v2/wp-content/upl...7%A8_PDF-1.pdf )
『大黒天摩诃迦罗』
(マハーカーラ)
“唵·摩诃迦罗耶·娑婆诃(Om Mahakalaya svaha)”
——终段·显象——
“大黑天摩诃迦罗(Mahakala)”
( http://www.360doc.com/content/13/110...26386515.shtml )
唵 啤(vai) 梳哈
( http://www.discuss.com.hk/viewthread.php?tid=9324817 )
Lợi ích của Tắm Phật
_Sự giàu có và hạnh phúc, sức khỏe tốt và tuổi thọ
_Tất cả mong muốn (với động cơ bên phải) được đáp ứng
_Hòa bình và hòa hợp cho gia đình, người thân, bạn bè, quốc gia và thế giới.
_Tịnh hóa các chướng ngại trong khi thực hành.
_Không có bệnh tật hay khổ đau.
_Đạt được Giác Ngộ
Khi tắm Phật, ta nên:
_Phát khởi sự tín tâm thanh tịnh trong khi thực hành ,.hãy quán tưởng chư Phật đang hiện diện trước mặt.Hành giả rót nước thơm với những niệm tưởng tốt lành .
_Tắm kim thân của đức Phật
_Tẩy tịnh tâm hồn và các phiền não vô minh
_Cầu nguyện an lạc cho bản thân ,gia đình và tất cả hữu tình
_Dzambala là Bổn Tôn của sự giàu có thịnh vượng ,ngài là hiện thân của thiện xảo của chư Phật giúp hành giả tịnh hóa các chướng nghiệp nghèo đói trong khi tu tập .Thực hành cúng nước hàng ngày bằng cách đổ nước vào trán của ngài giúp hành giả tích lũy công đức tiêu trừ sự nghèo đói về thân và tâm .Việc thực hành đơn giản nhưng mang lại lợi ích thù thắng do hành nguyện hóa độ của chư Phật toàn giác .Ngoài ra ngài còn sở hữu sức mạnh giải thoát Giác Ngộ .
KINH KIM QUANG MINH
http://www.dharanipitaka.net/2011/20...abha-sutra.pdf
Pertivi: Merupakan Penguasa Bumi, merupakan emanasi cinta kasih dari Ksitigarbha Bodhisattva, mampu menganugerahkan segala berkah dari Bumi Mantra: Tan Che Ta, Che Li Che Li, Chu Lu Chu Lu, Ci Lu Ci Lu, Chi Cu Chi Cu, Tu Cu Tu Cu, Puo He Puo He, Fa She Fa She, So Ha.
( http://serbuksalju.blogspot.com/2015...ezeki-dan.html )
Tán thán:!
Quyền uy Đế Thích tay cầm chày!
Vua các loài trời, chúa các Ma!
Ngự ở phương đông cùng quyến thuộc,!
Cúng dường, tán tụng, kính bái Ngài.
( http://documents.tips/documents/cac-...-dinh-tue.html )
地天:Om prithivye svaha
( http://my1my1.byethost9.com/wp/categ...AE/page/7/?i=1 )
Tam Bảo Hoang Thần
(三宝荒神)
Nguồn: http://www.taodabai.com/94596104.html / http://batev2008.tripod.com/PhapDanhChungTu.htm / http://wenku.baidu.com/view/45ac256a...2a2162a96.html
http://s1.upanh123.com/2016/10/16/75Phap5837451.gif
http://image.taodabai.com/upload/4/d...f85a_thumb.jpg
Aum Kampa Kampa Svaha
Aum Kampa Kampa Hum Phat