-
Các câu chú mà Phật giáo dùng đều có danh hiệu Phật và Bồ Tát, đều có lời quy y Tam Bảo ở trong đó.
Nhưng những câu chú đó đều dịch âm từ chữ Phạn, chứ không phải dịch ra nghĩa chữ Hán.
Có công dụng gia trì hay không?
Thứ bậc đạt được thực tướng vô tướng tuy là cao như vậy, nhưng lại là căn bản của Phật giáo, cơ sở của Phật giáo, bởi vì Phật giáo chủ trương xa lìa dục vọng, không mong cầu và nương tựa ai, không chấp thụ gì cho nên được giải thoát, không chấp trước có hay không, thiện hay ác, được hay mất, yêu hay ghét. Vì vậy mà nói Phật giáo là không thiên lệch một bên nên gọi Phật pháp và vô biên, hoàn toàn tự tại, thực ra không cần được ai gia trì cũng không gia trì cho ai.
Than chu mat tong: Than chu mat tong co suc manh khong
Nhưng người ta sống cuộc đời phàm tục, tuy vẫn hiểu rằng cảnh giới thoát, xa rời dục vọng không mong cầu gì cuối cùng mới là tự tại. Nhưng một khi xảy ra những chuyện không may như đau ốm, bệnh tật, gia đình mắc nạn, công tác gặp khó khăn, thì một cách tự nhiên người ta mong cầu được sự hỗ trợ từ bên ngoài, được sự gia hộ của Phật, Bồ Tát, Thần và Thánh. Do đó gia hộ và hộ trì tuy không phải cứu cánh của Phật pháp, nhưng cũng vì thuận theo nhu cầu của chúng sinh, vì phương tiện cứu độ chúng sinh nên Phật giáo không phủ định hoặc bác bỏ tác dụng và ý nghĩa của gia trì và phù hộ.
(*) Thần lương thiện chỉ giúp đỡ người, không hại.
Công năng của gia trì là sức mạnh của thần chú, sức mạnh của lời nguyện và sức mạnh của tâm. Người trì chú có công đức sâu dày thì bản thân của chú sinh ra lực cảm ứng có thể cảm thông với quỷ thần, giúp đỡ và gia trì người ta. Sức mạnh của lời nguyện có thể giúp thông cảm với sự gia hộ của chư Phật, Bồ Tát và các vị thần hộ pháp. Sức mạnh của tâm có thể ảnh hưởng tới xu thế của tâm, tăng sức mạnh, ý chí, thay đổi quan niệm, chuyển hung thành các tiêu trừ tai họa, chữa lành bệnh, tất cả là do sức mạnh của tâm làm chủ.
Sức mạnh của trì "gia hộ và hộ trì" là ở chỗ làm cho tâm của người được gia trì có chuyển biến, và nhờ đó tăng cường sức mạnh của người được gia trì. Cái gọi là sự gia hộ của thần lực chủ yếu là giúp cho thân tâm được gia trì được ổn định, vượt qua được khó khăn, tăng cường được dũng khí và nghị lực để đối phó với hiện thực, chứ không làm cho người ta khuất phục hay trốn tránh với hiện thực, chứ không làm cho người ta khuất phục hay trốn tránh hiện thực. Đương nhiên có thể nhờ có sức mạnh của gia trì mà áp lực được dịu đi, bớt căng hơn và cuối cùng được triệt tiêu.
Theo lập trường của tín ngưỡng dân gian thì sức mạnh của gia trì là tha lực chứ không phải tự lực. Đó là sức mạnh thần chú, sức mạnh của lời nguyện và tâm người gia trì và nhằm giải quyết vấn đề của người được gia trì.
Đó là mong cầu và niềm tin của người ta nói chung. Bởi vì bản thân không mất công tu hành, không phải trả giá gì hết mà lại vượt qua được mối nguy cơ lớn. Đó là nguyên nhân của tín ngưỡng quỷ thần ở con người bình thường.
Thế nhưng sức mạnh của gia trì, chỉ có thể đối phó với tai họa nhất thời thôi chứ không phải vĩnh cửu, cũng như dựa vào thế lực của người có quyền uy, để trốn tránh xã hội đen tối hoặc để tránh sự truy lùng của chủ nợ. Một khi mà thế lực che chở không còn nữa hoặc bị suy yếu thì tai họa sẽ đổ ập đến ghê gớm hơn nữa.
Biện pháp của Phật giáo thì khác. Nếu bị kê oan gia hay chủ nợ quấy nhiễu gây trở ngại thì người ta trì có thể dùng sức mạnh của lòng từ bi và công phu tu hành của mình để cảm hóa, làm cho oan gia, người chủ nợ rũ sạch hết tâm báo thù và đòi trả oán, khiến họ thoát khỏi sự ràng buộc mà được sinh ở cõi thiện đạo, nhờ đó mà người được gia trì sẽ tai qua nạn khỏi. Nhưng sau đó phải quy y Tam Bảo, tu trì Phật pháp tạo phúc cho chúng sinh, nếu không mà tiếp tục tạo nghiệp ác thì càng chịu quả báo nặng nề hơn nữa.
Có người trì chú Đại Bi trong bát nước, có người dùng sức mạnh của lời nguyện, biến một pháp khí hay đồ vật thông thường thành vật linh thiêng rồi dùng để trị bệnh, đuổi tà, cầu an, giáng phúc. Đó là do sức mạnh của lời nguyện và sức mạnh tu trì, phúc đức, tâm lực của người được gia trì khiến vật phẩm của anh ta sản sinh ra lực lượng. Hiệu lực của vật thiêng nhiều hay ít, kéo dài thời gian bao nhiêu là do phạm vi của cảm ứng.
Đó là tác động chủ yếu do tha lực. Nhưng nếu người được gia trì không chịu thu thập điều thiện, tránh xa điều ác thì sự may mắn của anh ta chỉ là tạm thời. Nếu anh ta cứ tiếp tục làm ác thì hậu quả xảy ra càng trầm trọng hơn. Vì vậy gia trì chỉ là phương tiện có hiệu lực tạm thời, không phải là biện pháp căn bản.
Trì chú có công hiệu hay không?
Trì chú xuất hiện nói chung là thông qua môi giới những nhân vật đặc biệt được tin là có phép linh thiêng, có khả năng tiếp xúc với thần linh và được thần linh trao truyền cho mật chú. Ở các nước phương Đông hay phương Tây, nhiều mật chú được lưu truyền, tin tưởng và sử dụng. Ở Trung Quốc, cả phù và chú đều được sử dụng, phù là phù hiệu vẽ bằng bút, nó cũng đại biểu cho một sức mạnh thần kinh nhất định, dân gian tin rằng phù chú có sức mạnh đuổi tà, tránh dữ, giáng phúc cũng như một số loại thuốc dân tộc có tác dụng trị bệnh vậy.
Khi đức Phật Thích Ca còn tại thế, có một số ít đệ tử cũng dùng phù chú, nhưng đức Phật không cho phép. Sau khi đức Phật diệt độ, những người theo đạo Phật dần dần trở nên phức tạp, số người trước kia là phù thủy, đạo sĩ ngoại đạo sau quy y theo Phật xuất gia làm Tỳ kheo. Nhưng họ vẫn tiếp tục dùng phù chú để chữa bệnh. Trong quyển 27 bộ "Tứ phần luật" và trong cuốn 46 bộ "Thập tụng luật" có ghi các truyện dùng chú trị bệnh.
Theo quan điểm cơ bản của Phật giáo, khi có bệnh phải đến thầy thuốc, gặp tai nạn thì phải sám hối, phải có lòng thành, làm điều thiện mới có thể chuyển hung thành cát, giải trừ được oan trái và nghiệp chướng. Vì vậy, trên nguyên tắc không coi trọng việc dùng mật chú.
TIN TÀI TRỢ
Cậu sinh viên giảm điện ngoạn mục nhờ mẹo tuyệt đỉnh
Thế nhưng nếu thường xuyên trì tụng những câu thuật chú nhất định thì cũng có thể tạo được sức mạnh của thuật chú, trong đó tất nhiên có sức mạnh của thần linh. Nhưng trọng yếu là sức mạnh của tâm niệm tập trung của người trì chú. Nếu chuyên tâm nhất trí thường xuyên trì tụng một thuật chú thì có thể đạt tới hiệu quả thiền định thống nhất thân và tâm, từ hữu niệm tiến tới vô niệm.
Vì vậy, trong giai đoạn phát triển về sau của Phật giáo, người ta không phản đối pháp môn trì chú, hơn nữa các câu chú chữ Phạn có ý nghĩa tổng trì nghĩa là thâu tóm tất cả, cho nên dùng pháp môn trì chú thì có thể thâu tóm tất cả các pháp. Bất kỳ câu chú nào mà tu trì đúng pháp và thường xuyên thì sẽ có hiệu quả lớn. Chủ yếu là do công phu trì chú, kết hợp với giữ giới, tu định mà sinh ra lòng từ bi và trí tuệ và tất nhiên có thể giúp tiêu trừ mọi nghiệp chướng, nhờ đó có thể thông cảm với sức mạnh bản nguyện của chư Phật, Bồ Tát.
Thế nào gọi là Vua của chú (chú vương) ? Theo ý nghĩa tổng trì thì bất cứ câu chú nào, nếu trì tụng thật chuyên, thành ra có sức mạnh, cũng đều là chú vương, trừ các câu tà chú, dùng để lợi mình hại người hoặc để báo thù, rửa hận ra thì bất cứ câu chú nào đều có thể trì tụng được cả.
Vào thời kỳ đầu Phật Giáo mới truyền vào Trung Quốc, người ta không coi trọng trì chú. Nếu trì chú thì bị phê phán là tạp tu, mặc dù vào thời Ngụy Tấn cuốn "Kinh chú Khổng tước vương" đã được dịch ra còn cuốn "Đại bi chú" được dịch ra chữ Hán vào đời Đường Cao Tôn. Đó là những tài liệu sớm nhất về Mật Giáo được truyền đến Trung Quốc. Nhưng mãi tới đời Tống, với sự đề xướng của Đại Sư Tứ Minh Tri Lễ, thuộc Tông Thiên Thai thì việc trì chú mới phổ cập. Vào cuối đời nhà Đường "Chú Lăng Nghiêm" đã được truyền ở Trung Quốc.
Đến sau đời Tống "Kinh Lăng Nghiêm" được phổ biến, xem trọng, mới được các chùa trì chú. Đến cuối đời nhà Minh, cuốn "Thiền môn Nhật tụng" đã gồm có nhiều câu chú rồi.
Dưới các đời Đường, Tống, Phật Giáo truyền vào Nhật Bản không lưu hành các câu chú. Ngoài Mật tông ra, các câu chú không được xem trọng. Tịnh độ tông thì chuyên niệm Phật, Thiền Tông thì chuyên tham thiền, Tông Thiên Thai thì chuyên tu chỉ và quán. Vào thời kỳ Trung Quốc cận đại, người ta trì chú đồng thời kiêm tu các pháp môn khác, đó là điều mà các giới Phật giáo Nhật Bản rất lấy làm lạ. Đó là do ở Trung Quốc, có nhiều tỉ dụ của công việc trì tụng chú Đại Bi nên chúng tôi không phản đối pháp môn trì chú.
Hiện nay trong các câu chú được sử dụng ở Trung Quốc, đại bộ phận là danh hiệu các thần linh, vì theo tư tưởng của Đại thừa thì sức mạnh của tất cả mọi thiện pháp và tác dụng của công đức đều phát xuất từ quyền hiện và hóa hiện của chư Phật, Bồ Tát. Các câu chú mà Phật giáo dùng đều có danh hiệu Phật và Bồ Tát, đều có lời quy y Tam Bảo ở trong đó, nhưng đều dịch âm từ chữ Phạn, chứ không phải dịch ra nghĩa chữ Hán. Tỉ dụ "Nam mô Phật đà, Nam mô Đạt ma, Nam mô Tăng già" là chữ Phạn về quy y Tam Bảo. Nếu tụng "Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát" thì lời lẽ ý tứ rõ ràng hơn.
Người trì chú đúng đắn, tốt nhất là phát âm theo nguyên âm tiếng Phạn. Tụng tiếng Phạn, mọi âm tiết đều có tác dụng và ý nghĩa của nó. Như trong từ A di đà, cần phát âm A cho chuẩn. Thế nhưng trong tất cả các pháp môn, tâm là chủ, thanh là thứ yếu. Hàng nghìn năm lại đây, người Trung Quốc niệm "Nam mô A di đà Phật" không hề thấy xảy ra hậu quả hoặc tác dụng xấu nào cả. Hiện nay, chú Đại Bi được người Trung Quốc, người Tây Tạng, người Nhật, người Triều Tiên, người Việt Nam trì tụng với âm thanh khác nhau, nhưng đều đạt tới hiệu quả giống nhau.
Còn việc trao truyền chú thuật là tập tục của Lạt ma Giáo Tây Tạng của những vị Lạt Ma cao cấp. Thầy trò truyền cho nhau pháp gọi là Du Già mật, hay là Vô thượng Du Già Mật, theo những nghi thức nhất định và tự tu hành nhất định.
Theo Phật Giáo Việt Nam
https://www.facebook.com/himalayasha...8&__tn__=%3C-R
-
GAU - VẬT PHẨM HỘ THÂN.
Gau được sử dụng như một bùa hộ mệnh cho người đeo giữ tránh những điềm xấu, các hung tai giáng hạ và giúp thu hút những phước lành của Vũ Trụ.
Người Tây Tạng khi đi xa thường mang theo hộp Gau bên mình, đeo Gau ở trên cổ gần với trái tim để nhắc mình luôn trì giữ Bổn Tôn trong tâm trí. Khi trở về nhà có thể đặt Gau lên bàn thờ hoặc treo trên tường.
Mỗi hộp Gau có thể được thiết kế với những kiểu dáng hay những vị Bổn Tôn khác nhau, nhưng về cơ bản thì nội dung và ý nghĩa bảo hộ như nhau.
Gau cũng được xem và tượng trưng cho một mandala (vũ trụ) thu nhỏ của Vị Bổn Tôn, mở ra bên trong đó là những bí ẩn thiêng liêng được che dấu và những phước lành đã được tiếp nhận thông qua những nghi lễ đặc biệt.
Gau có thể bằng bạc, bằng đồng, vàng hoặc các kim loại khác. Trên hộp Gau có thể trang trí thêm nhiều các loại đá quý, bán quý khác nhau tùy theo mục đích kiến tạo..
https://scontent.fsgn5-2.fna.fbcdn.n...0d&oe=5E77B942
https://www.facebook.com/himalayasha...8&__tn__=%3C-R
-
GỖ ĐÀN HƯƠNG: TÂM LINH VÀ SỨC KHOẺ...
Là một trong bốn loại gỗ Vương nên đàn hương được người Ấn Độ coi là biểu tượng của sức sống. Việc sở hữu và trồng đàn hương trước hoặc quanh nhà được cho là mang lại may mắn bình an, sức khỏe dồi dào, tài lộc đủ đầy và vương khí.... Hương thơm mát tỏa ra từ cây nhất là khi đơm hoa và kết quả thu hút nhiều chim chóc...tìm về được coi như sự hội tụ của tinh hoa và phước lành, phúc lộc của trời đất.
Theo quan niệm của người Ấn, đàn hương giúp sinh khí mang lại sức khỏe, sự may mắn, giầu có, thịnh vượng và tốt lành cho gia chủ và với người dân Ấn ý nghĩa tâm linh này đã được lưu truyền từ hàng trăm năm, ăn sâu bén rễ trong đời sống cũng như sinh hoạt ở đất nước sông Hằng.
https://www.facebook.com/himalayasha...8&__tn__=%3C-R
-
Những câu thần chú vô cùng linh ứng trong Phật giáo Tây Tạng!
* Thần chú trừ tà và chiêu tài lộc thần chú của Đại Hắc Thiên (Mahakala mantra) cũng có nhiều phiên bản khác nhau:
Om Shri Mahakala Hum Phat
Om Mahakalaya Soha
Om Benza Nara Trim Trim Hung Hung Phet Phet Soha
* Thần chú Hoàng Thần Tài cầu tài Lộc và may mắn
“Om Jambhala Jalendraya Svaha” – “Om Dzambhala Dzalim Dzaye Svaha”
* Thần Chú Trừ Tà - Thần chú Bồ tát Kim Cương Thủ
Om Vajrapani Hum
* Thần chú Phật Dược Sư Lưu Ly – Thần chú chữa bệnh trong Phật giáo
Trong phiên bản dài nó là:
OM Namo bhagawate Bhaishjaya guru
vaidurya Prabha rajaya tathagataya
arhate samyaksam buddhaya teyatha
om bekhajye bekhajye maha bekhajye
bekhajye rajaya samudgate
svaha
Phiên bản ngắn tiếng Tây Tạng:
Tayata
Om Bekandze Bekandze
Maha Bekandze
Radza Samudgate Soha
* Thần chú Bạch Tản Cái Phật Mẫu là : một trong những thần chú phổ biến của trường phái Phật giáo Kim Cương Thừa. Các hành giả Mật Tông thường xuyên tụng niệm thần chú để được bảo vệ, may mắn và loại bỏ những năng lượng tiêu cực bên trong và xung quanh một người.
Thần chú phiên bản dài:
TADYATHA OM ANALE ANALE
KHASAME KHASAME BHAIRE SUMA
SARVA BUDDHA
ADHISHTHANA ADHISHTHITE SOHA
OM SARVA TATHAGATA USHNISHA
SITATA – PATRE HUM PEH
HUM MAMA HUM NI SOHA
Phiên bản trung bình:
Om Sarva Tathagata Usnisha Sitatapatra Hum Phat Hum Mama Hum Ni Svaha
Phiên bản ngắn:
Hum Mama Hum Ni Svaha hoặc Om Mama Hum Ni Soha
* Thần chú tiêu trừ Nghiệp chướng của địa tạng vương bồ tát
Phiên bản ngắn:
Oṃ Ha Ha Ha Vismaye Svāhā – Om Ha Ha Ha Win Sam Mo Ti So Ha
Om / Namo Ksitigarbha Bodhisattva hoặc Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát
Om Pramardane Svaha
Namo Di Zhang Wang Pu sa
Om Ah Kshiti Garbha Thaleng Hum
https://www.facebook.com/himalayasha...8&__tn__=%3C-R
-
-
RỬA RÁY SẠCH SẼ
(Đi tiểu, đi cầu xong rồi, đến chỗ để nước liền niệm Kệ Chú này)
事訖就水
Sự ngật tựu thuỷ
當願衆生
Đương nguyện chúng sinh
出世法中
Xuất Thế Pháp trung
速疾而往
Tốc tật nhi vãng
唵。 室利婆醯莎訶(三徧)
Án, thất lợi bà ê, toa ha (tam biến)
_Việc xong, tiếp đến nước
Nên nguyện cho chúng sinh
Ở trong Pháp Xuất Thế
Mau chóng được đi đến
(9) Tẩy tịnh (rửa sạch)
Sự ngật tựu thủy, đương nguyện chúng sanh, xuất thế pháp trung, tốc tật nhi vãng. Án thất lị bà hê sa ha (3 lần).
Việc xong đến nước, nên nguyện chúng sanh, mau chóng đi đến, trong pháp xuất thế. Án thất lị bà hê sa ha (3 lần).
唵(一)室唎(二合)夜(二)婆醯(三)莎婆诃 (四)
读:嗡 室唎呀巴嘿 斯哇哈
Om sriyabhahe svaha
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...517&viewfull=1 / http://daibaothapmandalataythien.org...-thiet-yeu.pdf / http://blogapp.sina.cn/html/share.d....8808180102yv4j
===========
Ngũ-Thể-Tịnh Chơn Ngôn: Án Vĩ-Thử-Đề Ta Bà Ha
( Niệm Chú này 5 biến để sạch Ngũ Thể là: 2 Chân, 2 Tay và Đầu )
即说咒曰。唵(一)毗输提(二)莎诃(三)
Om visudhi svaha
读音:嗡 V速底 斯哇哈
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...517&viewfull=1 / http://blogapp.sina.cn/html/share.d....8808180102yv4j
-
Then is repeated seven times the following mantra from the Sutra on ”the wheel-blessing for the animal universe” 3 : “ Om! Sambhara, Sammahā jaba hūṃ ! ”
Followed also seven times by this extract from bharabi manaskar mahā jaba hūṃ ! Om ! Smara Smarabi manaskara Norbu-r gyas-pahi-gzhal-med-k’aṅ : “Om! ruci ramini pravartya hūṃ.”
This is followed by ” Om ! Khrecara gaṇaya hri hri svaha ! ” — a spell which if the monk thrice repeats and spits on the sole of his foot, all the animals which die under his feet during that day will be born as gods in the paradise of Indra (Jupiter).
This is followed by ” Om ! Khrecara gaṇaya hri hri svaha !
https://suvacobhikkhu.wordpress.com/lamaism/ / http://thegioivohinh.com/diendan/sho...442&viewfull=1 / https://suvacobhikkhu.wordpress.com/lamaism/
-
時本所出⽣⼀切佛⺟。復於頂上。放 千道雜⾊光明。於⼀⼀光中。
出⽣無量⾦剛杵。勇健熾盛。於⾜下 然。即說成就⼀切明真⾔⽈。
oṃ ṭa ṭā ṭu ṭi ṭī ṭi ṭī ṭu 唵(⼀) 吒 吒 吒烏(短聲)
(⼆) 置 智 置 智 吒烏(短聲)(三) ṭu ṭu ṭu va jra sa
dvo 吒烏(引) 吒烏(引) 吒烏(四) 嚩 ⽇囉(⼆合) 薩 怛嚩(⼆
合)(五) jjaḥ hūṃ vaṃ hoḥ hrīḥ haḥ hūṃ pha ṭ
惹 吽 鑁 斛(六) 紇哩(⼆合) 鶴 吽 泮 吒(七) hūṃ
吽(八)
==========
合)鼻底补摩(引)曩嚩那曩俱贺啰你哩 (二合)多吒吒贺(引) ...
[PDF]T0867 金剛峰樓閣一切瑜伽瑜祇經 - 三学藏
https://ebook.sanxuejiaoguan.com › download › pdf
Translate this page
oṃ va jra su kṣma ma 唵(引) 嚩⽇囉(⼆合) 素訖叉. 麼(三合) .... oṃ ma hā ya tna va jra 唵摩訶(引) 野怛那(⼆ ..... oṃ ṭa ṭā ṭu ṭi ṭī ṭi ṭī ṭu 唵(⼀) 吒吒吒烏(短聲).
-
[PDF]宗薩·蔣揚·欽哲 - AWS
https://s3-ap-southeast-2.amazonaws.com › Resources - Translate this page
日本佛教傳統,則誦ON ARORIKYA SOWAKA。如果泰國的 ...... PARAMPARANI ME SARVA SATTVANANCA SVAHA ...... 嗡母久拉密丹母薩兒哇普瑞忒比亞梭 .
https://s3-ap-southeast-2.amazonaws....5_190423_P.pdf
-
TP.HCM: Đàn Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật theo nghi thức Du mục Tây Tạng xưa
[16.02.2009 23:59]
https://giacngo.vn/UserImages/1/2009...hichca_cao.jpg
Chùa Vạn Phật - một ngôi chùa thuộc phái Hoa tông do Thượng tọa Thích Truyền Cường – Phó ban đại diện Phật giáo Quận 5 làm trụ trì vừa Tổ chức cúng Đàn Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật trong nghi thức Người Du Mục Tây Tạng Xưa.
Vị trí đàn được đặt nơi trang trọng nhất của Chùa Vạn Phật. Đó là Đại Điện Phổ Quang Minh. Nơi đại điện có thờ bộ tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh – tâm điểm chính của chùa, vì toàn bộ không gian tại tầng này được thiết kế dành riêng cho nơi đặt liều du mục của người Tây Tạng xưa, cũng là nơi các thầy thực hiện nghi thức cúng đàn Thất châu Lưu Ly Quang Vương Như Lai.
Theo truyền thống Phật giáo, Lễ hội Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật được tổ chức thường niên, còn gọi là “lễ Cầu an”. Hàng xuất gia cũng như tại gia đều chuyên tâm cầu nguyện “Thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc”.
Đặc biệt, có 49 ngọn nến thắp lên tượng trưng cho ánh sáng trí tuệ, đó là ánh sáng mầu nhiệm của đức Phật Dược Sư Lưu Ly, soi sáng đến cho nhân loại.
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...h%E1%BA%ADt-Q5
-
Bộ tộc giàu có và chuyên khoe trang sức ở Tây Tạng
https://i-dulich.vnecdn.net/2017/06/...1498612536.jpg
Đối với người Khampa, trang sức, thắt lưng và mũ thường được làm từ vàng, bạc để thể hiện sự giàu có, sung túc của chủ nhân.
Các tập tục mai táng khác thường ở Tây Tạng
Gà hong gió - món ăn tàn nhẫn của người Tây Tạng 97
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang
Kham là khu vực đông nam của cao nguyên Tây Tạng, với diện tích gần 900.000 km2 và dân số hơn 2 triệu người. Nơi này trải rộng khắp 4 tỉnh của Trung Quốc: vùng phía đông Tây Tạng, phía nam Thanh Hải, phía tây Tứ Xuyên và phía tây bắc Vân Nam.
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang-1
Kham là nơi trú ngụ của bộ tộc Khampa. Họ được biết đến như những chiến binh dũng mãnh của vùng đất Tây Tạng. Cả đàn ông và phụ nữ ở đây đều có vóc dáng cao lớn, khỏe mạnh cùng với tính cách mạnh mẽ và cởi mở, hướng ngoại. Họ có thể dễ dàng nhận ra trong đám đông với những phụ kiện bằng vàng hoặc bạc, tóc tết và làn da màu tím.
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang-2
Với lối sống du mục đặc thù từ thời tổ tiên, người Khampa không có tài sản cố định như nhà cửa, đất đai mà thường dự trữ vàng bạc, trang sức và lưu truyền từ đời này qua đời khác. Lượng châu báu này chính là biểu tượng cho sự giàu có và địa vị xã hội của một gia đình trong bộ tộc. Vì vậy, người Khampa đánh giá quyền lực và địa vị trong cộng đồng của một người bằng số lượng trang sức người đó mang trên mình.
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang-3
Đồ trang sức của người dân bộ tộc Khampa rất cầu kỳ và rực rỡ. Phụ nữ thường đội mũ, đeo vòng cổ đính đá hổ phách, ngọc lam, san hô và bạc hoặc vàng. Thắt lưng của họ còn được dát đá quý hoặc ngà. Ngoài ra, vòng tay từ sừng động vật và những chiếc nhẫn lớn, to bản có giá trị lên tới hàng trăm nghìn USD cũng là những phụ kiện không thể thiếu đối với người Khampha, trong các dịp lễ hội và cả đời thường.
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang-4
Những bộ vòng cổ xa xỉ có khối lượng lên tới 30 kg. Tuy vậy, không ai cảm thấy phiền toái mà ngược lại rất tự hào và hãnh diện khi được thể hiện sự giàu có của gia đình và bản thân.
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang-5
Theo truyền thuyết, bộ tộc Khampa sống trên cao nguyên bí ẩn tuyết phủ quanh năm là con cháu của vị Thần chiến tranh và thần Sắc đẹp. Vì vậy, họ nổi tiếng với những phụ nữ xinh đẹp và những đàn ông dũng cảm.
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang-6
Mặc dù phải sống trong môi trường khắc nghiệt nhưng người Khampa không bao giờ bỏ cuộc. Họ sống sót trong cuộc chiến với thiên nhiên.
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang-7
Ở Trung Quốc, có rất nhiều câu chuyện về bộ tộc Khampa toàn người trường thọ và không bao giờ bị bệnh. Truyền thuyết kể rằng, ở vương quốc biệt dược có một vị vua vì cảm mến sự dũng cảm và sắc đẹp của người Khampa nên thường chữa bệnh miễn phí cho họ.
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang-8
Cuối cùng, vị vua này còn truyền lại cho người Khampa tất cả bí quyết ông tìm kiếm được trong suốt cuộc đời của mình, trong đó có cả phương thuốc chữa bách bệnh. Kể từ đó, người trong bộ tộc Khampa không bao giờ bị ốm.
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang-9
Thực tế, truyền thuyết kể về người Khampa không bao giờ bệnh chỉ là một câu chuyện cường điệu về sự cường tráng và mạnh mẽ của người trong bộ tộc này. Từ xa xưa, người Khampa có truyền thống đặc biệt chú trọng việc chăm sóc sức khỏe. Trong điều kiện sống khắc nghiệt, họ có phương pháp phòng ngừa bệnh tật hiệu quả bằng các hình thức vận động và chế độ ăn uống lành mạnh. Đó chính là bí quyết tạo nên sự cường tráng, khỏe mạnh của một bộ tộc “không bao giờ ốm”.
Ngọc Mai
https://vnexpress.net/du-lich/bo-toc...g-3605720.html
-
VTD 587_1 - Vòng tay đá turquoise phối hạt đồng Tây Tạng
vòng tay đá | SKU: VTD 587_1
CÒN HÀNG
550.000₫
Chiếc vòng tay rất đặc biệt được làm từ đá turquoise với hạt đồng Tây Tạng (được làm từ hạt đá turquoise đính chữ Om mani pad me hum bằng đồng và san hô đỏ tự nhiên). Số lượng có hạn. Size hạt đồng: 13mm, size hạt đá 10mm. Đá turquoise còn được gọi là lam ngọc, đây là loại tinh thể rất cổ xưa và uy lực, được khai thác từ ít nhất là năm 6000 trước công nguyên bời người Ai Cập. Được tôn thờ như một loại đá thần thánh bởi các pháp sư...
http://bizweb.dktcdn.net/thumb/grand...=1448009678107
https://trangsucthietke.com/vong-tay...-dong-tay-tang
-
-
-
-
CÁC BAN HỘ NIỆM PHẢI ĐẶC BIỆT CHÚ Ý ĐIỂM NÀY : NGƯỜI TRỢ NIỆM PHẢI DÙNG TÂM CHÂN THÀNH, THANH TỊNH, TỪ BI ĐỂ NIỆM PHẬT, CÀNG NHIỀU NGƯỜI TRỢ NIỆM CÀNG TỐT VÌ TỪ TRƯỜNG THÙ THẮNG ÁC QUỶ TRÁNH XA , NGƯỜI TRỢ NIỆM CHẲNG THÀNH TÂM ÁC QUỸ SẼ THỪA DỊP ĐẾN KHUẤY PHÁ !
Những người làm thiện ở cõi Diêm Phù Ðề, đến lúc lâm chung còn có trăm ngàn quỷ thần trong ác đạo hoặc biến làm cha mẹ, cho đến hàng quyến thuộc, dẫn dắt người chết khiến cho lạc vào ác đạo; huống chi là những kẻ vốn đã tạo ác.
Đoạn kinh này rất quan trọng. Người lâm chung, chúng ta đã gặp qua rất nhiều, lúc lâm chung người ấy sẽ nói với những người ở xung quanh rằng họ nhìn thấy người nào đến. Những người mà họ nhìn thấy đều là những bà con, họ hàng đã qua đời. Có phải thiệt là bà con, họ hàng hay không? Không phải, thật ra đó là những oan gia, chủ nợ biến hiện thành bà con họ hàng, bạn bè đến để dẫn người ấy đi, dẫn đi xong rồi sẽ báo thù, chúng ta phải biết việc này. Vì khi nhìn thấy bà con, họ hàng thì rất dễ đi theo họ. Đặc biệt là lúc chúng ta niệm Phật trợ niệm, việc quan trọng nhất chúng ta phải đề phòng là việc này. Một khi người [lâm chung] nói họ ‘nhìn thấy một người nào đó’, thì lập tức phải nhắc họ đừng để ý tới người đó, nhất định phải chờ A Di Đà Phật hiện ra mới đi theo đức Phật A Di Đà. Nếu chẳng phải là đức Phật A Di Đà, bất luận là người nào hiện ra cũng không cần để ý tới. Nếu không để ý, không chú ý thì hiện tượng đó sẽ biến mất rất nhanh, người đó sẽ rời khỏi, điểm này là điểm quan trọng nhất. Trong sự khai thị lúc lâm chung, câu này vô cùng quan trọng! Luôn luôn nhắc nhở họ, suốt hai mươi bốn giờ ngày đêm không thể gián đoạn. Chỉ sợ một khi gián đoạn, một khi sơ suất thì bị những oan gia, chủ nợ biến thành bà con, họ hàng dẫn họ đi mất, đây là việc người trợ niệm lúc lâm chung không thể không biết, như vậy thì trợ niệm mới có lợi ích lớn lao. Người trợ niệm dùng tâm chân thành, thanh tịnh, từ bi để niệm câu Phật hiệu này, người trợ niệm càng nhiều càng tốt, từ trường đó thù thắng, có thể làm cho những quỷ thần cõi ác này chẳng dám đến gần. Nếu người trợ niệm ít, người trợ niệm chẳng có thành tâm, thì quỷ thần ác đạo sẽ thắng thế, sẽ thừa dịp [người trợ niệm] không đề phòng bèn đi vào [phá khuấy], chúng ta phải đặc biệt chú ý điểm này. Thế nên có người hỏi nếu lỡ không tìm được người trợ niệm, chúng ta dùng máy niệm Phật được không? Chỉ có thể nói [dùng máy niệm Phật] tốt hơn một chút mà thôi, tốt nhất là có người đến niệm, như vậy thì sẽ [có hiệu quả] khác nhau.
Phàm khi gặp những chuyện này lúc lâm chung, thì người mất chắc chắn sẽ rơi vào ba đường ác, nếu lúc còn sống người ấy lại làm nhiều ác nghiệp thì còn tệ hại hơn nữa! Địa Tạng Bồ Tát cũng cứu chẳng nổi. Sanh tử là việc quan trọng lớn lao, sau khi chết đi sanh vào cõi nào là một vấn đề vô cùng nghiêm túc. Cho nên khi người mắc bịnh, yêu ma ác quỷ đến phá khuấy, trong kinh này nói những người làm việc thiện cả đời cũng rất khó tránh khỏi, huống chi là người làm ác! Nhân thiện thì được quả thiện, nhân ác thì có quả ác, chắc chắn là chẳng sai; quả báo hiện ra hay không là do duyên đầy đủ hay không. Nếu duyên đầy đủ thì quả báo sẽ hiện ra. Thế nên chúng ta tiễn đưa người vãng sanh nói thật ra là giúp đỡ một người đi làm Phật, cả đời chúng ta làm việc thiện, còn việc thiện nào lớn hơn việc tiễn đưa một người đi làm Phật? Chẳng có việc nào lớn hơn việc này hết. Nếu lúc một người lâm nguy, bạn có thể dốc toàn tâm toàn lực để chăm sóc họ, từng giờ từng phút nhắc nhở họ, đây tức là chiến đấu với vô số ác quỷ ác thần, nhất định phải chiến thắng họ, thì người mất mới có thể vãng sanh một cách thuận lợi, được Phật tiếp dẫn. Cho dù người tạo ngũ nghịch, thập ác, nếu gặp tăng thượng duyên này cũng có thể vãng sanh.
Tôi nghĩ chư vị coi Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, Vãng Sanh Truyện đều biết chuyện ông Trương Thiện Hòa đời Đường. Trương Thiện Hòa là một kẻ làm nghề giết trâu, cả đời chẳng biết đã làm thịt bao nhiêu con trâu, đã làm bao nhiêu ác nghiệp, cho nên lúc lâm chung ông ta nhìn thấy rất nhiều người đầu trâu đến đòi mạng, trong Phật pháp gọi là tướng địa ngục hiện lên, lúc đó ông ta mới kêu cứu. Duyên của ông rất tốt, may sao có một người xuất gia đi ngang, nghe tiếng kêu cứu trong nhà, người xuất gia ấy liền vào nhà ông để coi là chuyện gì. Ông nói ông nhìn thấy rất nhiều người đầu trâu, họ nói phải đền mạng cho họ. Vị xuất gia đó mới đốt một cây nhang rồi kêu ông cầm trong tay, kêu ông gấp rút niệm A Di Đà Phật. Do vì muốn thoát khỏi cảnh tượng ấy ông bèn niệm lớn tiếng “A Di Đà Phật”, mới niệm mười mấy tiếng, ông liền nói với người nhà “người đầu trâu đã biến mất, đều đi mất, A Di Đà Phật đã đến”, nói xong ông bèn vãng sanh. Do đó bạn mới biết đã tạo ác nghiệp cũng không sao, nếu lúc lâm chung gặp duyên thù thắng, vận may của ông Trương Thiện Hòa thiệt là quá tốt, gặp được thiện tri thức, nếu ông chẳng gặp vị xuất gia ấy thì nhất định sẽ đọa tam ác đạo, chắc chắn là phải đọa địa ngục. Sau khi thọ tội ở địa ngục xong cũng phải làm trâu để đền mạng, bạn giết một con trâu thì phải đền mạng một lần, bạn giết bao nhiêu con trâu thì phải đền mạng bấy nhiêu lần.
Giết trâu [bị quả báo] như vậy, chư vị phải biết, giết hại bất cứ chúng sanh nào cũng phải đền mạng, cho dù động vật nhỏ đến đâu cũng phải đền mạng, bạn làm sao đền mạng cho hết? Bạn giết một con trùng, một con kiến đều phải đền mạng, muôn vàn xin bạn đừng tưởng đây là những côn trùng gây hại [thì không sao, chúng ta không thể coi thường] sanh mạng của chúng, chúng cũng là chúng sanh đã làm chuyện ác rồi đầu thai vào cõi súc sanh, biến thành những hình trạng như vậy. Chúng ta trong sáu nẻo luân hồi cũng đã thường làm những chuyện này cả rồi, đời này may mắn được thân người, làm sao biết được sau khi chúng ta mất thân người thì sẽ có thân hình của con vật gì? Thế nên có được thân hình [con người] này cũng không thể kiêu ngạo, không thể dựa vào thế lực của thân hình này mà tàn sát những động vật nhỏ, vừa chớp mắt thì bạn cũng sẽ phải làm thân hình của chúng, bạn cũng sẽ chịu người khác giết hại, nhân duyên quả báo tơ hào chẳng sai.
HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG
A DI ĐÀ PHẬT !
Nguồn từ Facebook Tịnh Liên.
https://vi-vn.facebook.com/chuavanph...7yA&__tn__=K-R
-
https://vi-vn.facebook.com/chuavanph...6817980605209/
乙未年 - 萬人緣祈安普度大法會 - 法事第四集 Đại lễ Trai Đàn Vạn Nhân Duyên năm Ất.
-
https://i.imgur.com/21ALEll.png https://i.imgur.com/XM1SD7X.png
Master Karma Tanpai Gyaltshen
DIVINE CEREMONY OF PEACE AND GREAT VICTORY FOR WHOLE HUMANITY
Chùa Pháp Vương - Hưng Long - Bình Chánh 分享了帖子
12月5日 17:59 ·
Chùa Pháp Vương - Hưng Long - Bình Chánh
Địa chỉ: C23/27 ấp 3, Hương Lộ 11 (Đường Đoàn Nguyễn Tuân), Xã Hưng Long , Huyện Bình Chánh, TP.HCM
Năm thành lập: 1936
Người sáng lập: HT Thích Tắc Vương
Hệ phái: BẮC TÔNG
Năm trùng tu: 1990
Đặc điểm: Có phòng châm cứu từ thiện
Chư vị trụ trì tiền nhiệm: HT Thích Tắc Vương
Trụ trì hiện nay: TT Thích An Bình
Các ngày kỵ giỗ trong năm: 28-12 ÂL giỗ HT Thích Tắc Vương
https://zh-cn.facebook.com/pg/chuaph...=page_internal
-
-
https://www.youtube.com/watch?v=Qm19Llh-e1U
Ăn Ngũ Vị Tân (Hành, Tỏi) Chiêu Cảm Loài Ngạ Quỷ - cố HT. Thích Trí Tịnh