https://www.youtube.com/watch?v=rLZj8AZLyeU
Chữa Bệnh ĐAU LƯNG Bằng Phương Pháp Vỗ Dầu Hỏa | Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán)
Printable View
https://www.youtube.com/watch?v=rLZj8AZLyeU
Chữa Bệnh ĐAU LƯNG Bằng Phương Pháp Vỗ Dầu Hỏa | Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán)
"Om Guru Maha Vajra Siddhi Hum",
http://mahavajra.com/files/MV_Studen...-Agreement.pdf
JESUS:
Mantra: Om Guru Yesu Prabhu siddhi hum (9 x 12)
Contemplate: Forgiveness, charity
The Lord's Prayer and the Mahajrya explanation of each sentence. (1 x 10 days Or 22 x
22 days)
Recommended: Read the New Testament the parts where it is Jesus talking "And
Jesus said..." to contemplate the words of Jesus.
http://www.mahajrya.org/repository/E...ahajrya_EN.pdf
================
Full text of "Avalokiteśvara - Quán Âm Pháp Bộ" - Internet Archive
https://archive.org/stream/.../Quan-Am-Phap-Bo_djvu.txt
Translate this page
Cau Chii xung tan Ngai la OM MANI PADME HUM hiku thi cho phuong tien Dai Bi ..... AVALOKITA ISVARA dugc vilt ggn thanh AVALOKITESVARA nen dich nghia la ...... tra chi, hong, nhyo'c, sa-phoc ha OM PRABHU TAKKI HUM JAH SVAHA .
http://img.pcstore.com.tw/~prod/M076...c&P=1400207776
PChome Online 商店街- 真心呵護TAKE CARE - 祈福招財金紙/祭拜土地公&迎 ...
PChome商店街
PChome Online 商店街- 真心呵護TAKE CARE - 祈福招財金紙/祭拜土地公&迎財神&新春開運/拜拜用品系列
http://www.pcstore.com.tw/wintin/M07657413.htm
Âm trạch - Scribd
https://www.scribd.com/doc/223688771/Am-trạch
Translate this page
Rating: 5 - 3 votes
mộ tổ đắc được Long Mạch Địa Thế tốt; Tứ thủy thanh tú, là do đắc được thủy pháp lợi. ... Táng Kinh nói : Phàm mộ có 5 điều không tốt thì nên cải tạo nhanh. Đó là: 1. ... mộ phần rất chu đáo (họ có thuyết cho rằng trần sao âm vậy). ... xin thổ thần cho đem hài cốt người thân di dời nơi khác. ..... Năm,Thần trước Phật sau.
https://vi.scribd.com/doc/223688771/Am-tr%E1%BA%A1ch
Đào Viên Minh Thánh Kinh - Kinh Tụng Và Sự Ứng Nghiệm - SlideShare
https://www.slideshare.net/.../o-vin...kinh-tng-v-s-n...
Translate this page
May 15, 2018 - "Gia trạch cung kính trì tụng kinh này, yêu ma đều tránh xa. ... Nhưng danh lợi nào có thể mua chuộc được lòng trung nghĩa của Đế Quân. ... đầu thai,… đều hợp với thuyết nhân quả nhà Phật. Thần thánh tiên phật ..... Tinh Thần. Thiên hạ Thành Hoàng thính hiệu lệnh, vạn phương Thổ Địa các tuân hành.
https://www.slideshare.net/nganvu199...nghim-97130037
VỀ BÀI VĂN TẾ LỄ KỲ AN Ở ĐÌNH LÀNG KHÁNH HÒA
Khánh Hải
Thời phong kiến, việc tế tự luôn được chính quyền hết sức coi trọng; được xem như một phương thức hữu hiệu để dạy dân phải biết kính trọng Trời – Đất, Thánh - Thần, biết tuân theo lễ giáo và đó cũng chính là một kế sách trị dân. Vì vậy, hàng năm Triều đình đều tổ chức tế Trời Đất ở Đàn Nam Giao còn làng xóm cũng được quy định phải tế “sơn hà xã tắc” ở đình làng.
Ở nước ta, hầu hết các đình làng đều đã được vua ban sắc chuẩn y cho việc thờ tự một vị thần nào đó. Bộ Lễ triều Nguyễn cũng đã ban hành quy định cụ thể về nghi thức tế tự tại đình làng nhằm tạo nên sự thiêng liêng, thành kính, trong đó bài chúc văn (văn tế) được xem như linh hồn của cuộc lễ, vì nó là nguyện vọng của nhân dân gửi đến các bậc tôn thần để nhờ sự chở che, bảo vệ. Đến nay những nghi thức này vẫn còn được nhân dân giữ gìn, thực hành trong việc cúng bái tại đình làng.
Khảo sát nhiều bài văn tế ở Khánh Hòa, chúng ta có thể thấy bài văn tế bao giờ cũng được chia làm hai bộ phận như sau:
- Phần Nghi: Là phần nói về địa điểm, ngày tháng, thành phần Ban Tế lễ, và xướng danh các vị Thần được mời về tham dự cuộc tế lễ . Trong bài “Bàn về nguồn gốc tế lễ ở đình xưa” Nhà văn Sơn Nam viết: “…có nhiều vị thần có sắc phong hoặc không sắc phong nhưng lý lịch mơ hồ, ấy thế mà được thờ cúng”; “…nhiều sắc phong Bổn Cảnh Thành Hoàng là chức năng của vị thần, nhưng không ghi tên họ, thành tích lúc còn sống. Mà Thần không tên, chỉ có chức năng thì làm sao mà thỉnh về để cúng tế?” Cũng chính vì lẽ đó nên “tùy địa phương, còn mời thêm khách như thần Mộc Trụ, bà Chúa Xứ, thần Giếng nước, Nam Hải Tướng quân (thần Cá Ông) và quá nhiều vị thần khác, ông Quan Công được mời về cùng hưởng”. Điều đó giải thích vì sao danh sách các vị thần được xướng tên trong bài văn tế có khi lên đến bốn năm chục vị hoặc nhiều hơn nữa. Đối với bài văn tế lễ Kỳ an thì bao giờ cũng phải xướng danh “Thượng cổ Thần Nông Viêm Đế; Trung cổ Hậu Tắc Tôn Thần” đầu tiên, sau đó thì mới đến các vị thần khác và cuối cùng là “âm hồn, cô hồn đồng lai phối hưởng”.
- Phần Văn: Là nội dung chính của bài văn tế, được viết bằng chữ Hán theo lối văn biền ngẫu. Tùy theo mục đích và đối tượng tế tự mà nội dung các bài văn tế có khác nhau. Thông thường là ca ngợi công đức của vị Thần chủ và bày tỏ nguyện vọng của dân làng với các vị tôn thần.
Những năm vừa qua, do công việc đẩy đưa tôi có dịp tham dự nhiều cuộc tế lễ tại các đình làng trong tỉnh, được tiếp cận với nhiều bộ hồ sơ di tích của tỉnh và cũng qua đó nhận thấy các nghi thức tế lễ tại đình làng vẫn được bảo lưu khá tốt. Đặc biệt, trong lễ tế Kỳ an ở Khánh Hòa hầu như các nơi đều sử dụng chung một bài văn tế. Điều ấy nói lên rằng, bài văn tế này đã được phổ biến rộng rãi và có thể đã được chế định hóa ở thời các vua triều Nguyễn. Có điều, qua những thăng trầm dâu bể, bài văn tế ấy đã bị “tam sao thất bản”, nhiều câu chữ tối nghĩa, chỉ còn giống nhau ở những ý chính mà thôi. Đó cũng bởi nền Hán học ở nước ta đã sớm bị suy tàn từ những năm đầu thế kỷ 20, đến nay số người còn đọc hiểu được chữ Hán – Nôm ở ta còn quá ít; các nghi thức tế lễ cổ truyền và những bài văn tế còn giữ được đến nay chủ yếu qua đường truyền miệng từ thế hệ này qua thế hệ khác; thêm vào đó là sự tàn phá của chiến tranh, địch họa nên sự mai một là điều không sao tránh khỏi và dẫn đến tình trạng nhiều khi người đọc văn tế không hiểu ý nghĩa những gì mình đọc, nói chi đến người nghe…
Thế nhưng, “giấy rách phải giữ lấy lề” vẫn là quan niệm đã ăn sâu vào tâm khảm của nhiều người, nên việc “xưa bày nay làm” vẫn luôn được mọi người chấp nhận. Hơn nữa, tế tự cốt ở lòng thành, nên cũng ít ai để tâm vào nội dung của bài văn tế. Đã đành ở cõi tâm linh vốn dĩ “hữu cảm tư thông”, “thành tất hữu Thần”; vẫn biết sự mai một kia là chuyện bể dâu, nhưng không sao tránh khỏi chạnh lòng vì những gì cha ông xưa một thời trân trọng nay đã nhạt nhòa cùng năm tháng...
Từ suy nghĩ trên, những năm gần đây chúng tôi cũng đã để tâm sưu tầm, đối chiếu những bài văn tế của các đình làng trong tỉnh với mong muốn tìm lại hoặc hoàn nguyên lại bài văn tế gốc, nhất là bài văn tế lễ Kỳ an. Rất may, năm 2002 trong chuyến điền dã tại Ninh Hòa chúng tôi đã gặp được cụ Lê Nghị – một Thầy Lễ am hiểu sâu sắc về Hán – Nôm và cả Quốc ngữ. Qua trao đổi và khi hiểu được mong muốn của tôi, cụ đã vui vẻ tặng cho tôi bài Chúc văn đọc tại lễ tế Kỳ an ở các đình làng do chính cụ viết tay trên giấy lễ. Sau nhiều năm khảo sát, đối chiếu và trao đổi với nhiều vị cao niên ở các Ban tế lễ trong tỉnh, có thể khẳng định các đình làng ở Khánh Hòa chỉ sử dụng chung một bài bài văn tế lễ Kỳ an, và tùy theo từng địa phương nội dung phần “Văn” có thể thay đổi ít nhiều cho phù hợp.
Năm 2008, nhân chuyến đi công tác tại Đồng Nai, chúng tôi lại may mắn được tiếp cận một số văn bản Hán – Nôm các bài văn tế ở vùng đất này và qua đó phát hiện ra nội dung nhiều bài có những đoạn rất giống với bản văn tế Kỳ an ở Khánh Hòa, tiêu biểu là bài văn tế Lễ Đàn cả của thôn Bình Kính, ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mà theo chúng tôi sự tương đồng ấy chắc không phải là sự ngẫu nhiên (!?) (1)
Sau đây là bài văn tế Kỳ an do cụ Lê Nghị đọc tại lễ Tế chánh trong Lễ hội cúng đình thôn Chấp Lễ, xã Ninh Thân, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa ngày 16 tháng 2 năm Nhâm Ngọ (2002). Phần nguyên văn chữ Hán, chúng tôi xin chỉ ghi lại toàn bộ phần “Văn” (nội dung) để bạn đọc tiện bề tham khảo; riêng phần “Nghi” xin phép được giản lược. Nay, xin giới thiệu và mạo muội tạm dịch bài chúc văn này, những mong góp được chút gì cho sự phục hồi một bài văn tế cổ. Nguyên văn chữ Hán phần “Văn” của bài văn tế như sau:
曰恭維;
尊神: 大者神, 妙者 化, 有 感 玆 通; 視 弗 見, 聽 弗 聞, 唯 誠 所 寓. 例 至 祈 安, 恭 陳 禮 數. 鑒 此, 洋 洋 在 上, 莫 測 機椷; 願 其, 濯 濯 厥 靈, 同 斯 保 護. 庇 國 祚 延 長, 皇 圖 鞏 固. 熙 熙 雨 順 風 調; 世 世 民 康 物 阜. 爵者 龍 墀 進秩, 官 祿 位 于 三 台. 士者 雁 塔 先 登, 留 芳 名 於 萬 世. 農 者 豐 登 和 穀, 絕 無 蟲 鼠 之 憂. 工 者 技 藝 精 通, 巧 達 彫 華 之 趣. 商 者 物 利 貨 豐, 又 得 財 源 積 聚.
斯因: 禮 例 祈 安, 以 張 歌 舞, 以 神 歡 民 樂; 得 享 太 平 之 世, 村 中 老 幼 安 居, 歡 藤 樂 土; 八 元 衍 慶, 萬 事增 隆.
仰賴! 靈 神 之 嘉 惠 也! 伏 惟 尚 享!
Phiên âm: (Phần chữ nghiêng tô đậm trong bản văn tế này là phiên âm nội dung chữ Hán trên).
Duy:
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Tuế thứ Nhâm Ngọ niên, nhị nguyệt kiến Quý Mão, Tân Tỵ sóc, việt thập lục nhật Bính Thân lương thần.
Khánh Hòa tỉnh, Ninh Hòa huyện, Ninh Thân xã, Chấp Lễ thôn. Chánh tế: …; Bồi tế: …; Đông hiến: …; Tây hiến: …; Hương đăng: …; Cổ lệnh: …; Tả chinh: …; Hữu cổ: …; Lễ nhạc: …tịnh chính quyền thôn cập lão, nông, thanh, phụ, nam, nữ đại tiểu đẳng. Cẩn dĩ hoa quả, sinh tư, thanh chước, thứ phẩm chi nghi.
Cảm cáo vu:
Thượng cổ Thần Nông, Viêm Đế; Trung cổ Hậu Tắc Tôn Thần;
Đại Càn Quốc Gia Nam Hải tứ vị Thánh Nương;
Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi - Hồng nhân Phổ tế Linh ứng Thượng đẳng Thần;
Cao Các Đại Vương - Hồng mô Vi lược Đôn hậu Thanh linh Thuần đức Linh từ Hậu trạch Minh cảm Tôn Thần;
Đương cảnh Thành Hoàng Địa Vương - Quảng hậu Bảo an Chánh trực Hựu thiên Đông ngưng Dực bảo Trung hưng Tôn Thần;
Long Vương - Dương dương Hiệp hóa Tôn Thần;
Hà Bá - Hồng ân Quảng trạch Tôn Thần;
Đương niên Tần Vương - Hành khiển Thiên hao Hành binh chi Thần;
Vương Tào - Phán quan Quỷ vương;
Thổ Địa Phúc Đức Chính Thần; Tứ Thời Ty Hỏa Táo Quân Tôn Thần;
Tiền trấn Biên doanh Tham đốc Tướng phù Quận công Lương Quý Phủ -Bảo quốc Hộ dân Thanh tiết Tôn Thần;
Tam vị Đàn Nương; Tứ đầu Gia lệnh;
Sơn, Xuyên, Nhạc, Độc chư vị linh thần;
Thượng, Trung, Hạ liệt vị Dương Thần; Thượng, Trung, Hạ liệt vị Âm Thần;
Đông Hiến chi Thần; Tây Hiến chi Thần;
Tả Ban liệt vị Tôn Thần; Hữu Ban liệt vị Tôn Thần;
Tả miếu Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Tôn Thần;
Hữu miếu Sơn Quân Chúa Tướng Lý Nhĩ Tôn Thần;
A Vu, Chúa Viên chi Thần.
Kỵ
Tiên Sư, Thổ Công, Thổ Kỳ, Thổ Chúa, Long Thần;
Tiền Hiền khai khẩn, Hậu Hiền khai khẩn Tôn Thần;
Chúa Ngung, Man Nương, Trú Trạch; Bản thôn Phúc Thần, Lý Thần, Tài Thần, Điền Phu, Điền Phụ chư vị linh Thần;
Ngũ phương Chiến sĩ trận vong; Mục Đồng, Mục Tượng; Hữu danh vô vị, hữu vị vô danh âm hồn, cô hồn đồng lai phối hưởng.
“Viết cung duy:
Tôn thần: Đại giả thần, diệu giả hóa, hữu cảm tư thông; thị phất kiến, thính phất văn, duy thành sở ngụ. Lệ chí kỳ an, cung trần lễ số. Giám thử, dương dương tại thượng, mạc trắc cơ hàm; nguyện kỳ, trạc trạc quyết linh, đồng tư bảo hộ. Quốc tộ diên trường, Hoàng đồ củng cố; Hy hy vũ thuận phong điều, thế thế dân khang vật phụ.
Tước giả Long trì tiến trật, quan lộc vị vu Tam thai. Sĩ giả Nhạn Tháp tiên đăng, lưu phương danh ư vạn cổ. Nông giả phong đăng hòa cốc, tuyệt vô trùng thử chi ưu. Công giả kỹ nghệ tinh thông, xảo đạt điêu hoa chi thú. Thương giả lợi vật hóa phong, hựu đắc tài nguyên tích tụ.
Tư nhân: Lễ lệ kỳ an, dĩ trương ca vũ, dĩ Thần hoan dân lạc; đắc hưởng thái bình chi thế, thôn trung lão ấu an cư, hoan đằng lạc thổ; bát nguyên diễn khánh, vạn sự tăng long!
Ngưỡng lại! Tôn Thần chi gia huệ dã! Phục duy thượng hưởng!”
Tạm dịch: (Chỉ dịch nghĩa đoạn đầu của phần Nghi và phần Văn. Riêng đoạn ghi tên các vị thần xin được giữ nguyên như phần phiên âm).
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Năm Nhâm Ngọ (2002), tháng Quý Mão (tháng 2), ngày sóc (mùng 1) là ngày Tân Tỵ, đến nay là ngày 16 – tức ngày Bính Thân gặp giờ tốt.
Hôm nay, tại thôn Chấp Lễ, xã Ninh Thân, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Chánh tế:…; Bồi tế:…; Đông hiến:…i; Tây hiến:…; Hương đăng:…; Cổ lệnh:…; Tả chinh:…; Hữu cổ:…; Lễ nhạc:…cùng với chính quyền thôn và các giới lão nông, thanh niên, phụ nữ, nam nữ, lớn bé trong làng kính cẩn dâng lễ vật gồm: Sinh tư, hương hoa, trà rượu, nước trong và các vật phẩm khác.
Kính cáo cùng:
“Thượng cổ Thần Nông, Viêm Đế; Trung cổ Hậu Tắc Tôn Thần…
… cô hồn đồng lai phối hưởng”.
“Trộm nghĩ rằng:
Tôn thần là đấng:
Quảng đại thần thông, diệu kỳ biến hóa, ai người có cảm ắt thông;
Nhìn không thể thấy, lắng chẳng thể nghe, tâm thành là nơi chốn ở.
Nay đáo lệ kỳ an, chúng con sắm sanh lễ vật.
Kính xin: Lồng lộng trên cao soi xét, dám đâu lấp liếm, dấu che;
Nguyện cùng: Linh thiêng rạng rỡ chứng tri, ra tay đỡ nâng, bảo hộ;
Cho Đất nước trường tồn, Núi sông bền vững;
Yên vui mưa thuận gió hòa, đời đời dân khang vật phụ.
Người làm quan bệ rồng thăng chức, thênh thang hoạn lộ đến Tam thai.
Kẻ sĩ sớm bước lên Nhạn Tháp, danh thơm lưu truyền mãi muôn đời.
Người canh nông thóc lúa bời bời, không lo cảnh sâu vầy, chuột phá.
Người công nhân tinh thông kỹ nghệ, mang tài hoa trau chuốt cho đời.
Người bán buôn hàng hóa dồi dào, lại được cả tài nguyên tích tụ.
Nay nhân, tế lễ kỳ an, mở hội hát ca một cuộc.
Trước là hoan hĩ Tôn Thần, sau để con dân vui vẻ;
Chung hưởng cuộc sống thái bình,
Xóm thôn già trẻ an cư, cỏ cây mừng vui dậy đất;
Cho tám hướng thảy hân hoan, muôn điều thêm may mắn!
Ngưỡng mong, linh thần ban cho ân huệ!
Cúi đầu tưởng niệm, kính dâng!”
Chú thích:
(1) Phần phiên âm nội dung sau đây theo chúng tôi có nhiều điểm tương đồng với bài văn tế Kỳ an ở Khánh Hòa: “…Tước giả long trì tiến trật; Quan giả lộc vị vu Tam Thai; Sĩ giả Nhạn tháp đề danh, lưu phương ư vạn cổ; Nông giả phong doanh hòa cốc, tuyệt vô trùng thử chi ưu; công giả kỹ nghệ tinh thông, xảo đạt điêu hoa chi thú. Thị thượng chi thương nhân tranh tập, lợi ích hóa nguyên. Thôn trung lão ấu an cư, hoan đằng lạc thổ. Nguyện kỳ hâm hưởng, sắc thử gia tường. Phục duy thượng hưởng.” Nguyên văn: “ 爵 者 龙 墀 進 秩、官 者 祿 位 于 三 台、士 者 鴈 塔 題 名、流 芳 於 萬 古、農 者 豊 盈 禾 穀, 絕 無 虫 鼠 之 憂、工 者 技 蓺 精 通、巧 達 彫 華 之 趣。市 上 之 商 人 争 集、利 益 貨 源。村 中 老 幼 安 居、歡 藤 樂 土。願 其歆 享、敕 此 嘉 祥。伏 惟 尚 饗” 。
http://www.ninhhoatoday.net/stbkky93-4.asp
Sắc Hoàng công Quả Nghị tướng quân Bình nhung Đại tướng tôn thần.
dòng chữ Hán “Thánh phụ thánh mẫu liệt vị tôn thần”.
WjmXp
Kính tặng
天
Thiên
仁
Nhơn
日 Nhựt + 月 Nguyệt = Minh 明
地
Địa
GIẢI PHÁP VÔ ÚY
THỰC LỰC
VÔ VI - TỰ CỨU
Không sợ đói khi lâm biến cố
Khỏi lo âu, lo nạn khổ phập phòng,
Sẵn có VÔ ÚY Pháp Tông,
Thực thi tự cứu khoẻ lòng qua cơn.
Tu sĩ Ngọc Liên Hoa
Nhà Phát Minh phương pháp : Đạo trưởng Lê Thành Thân, tu ẩn dật, khi qui liễu có ấn chứng mở mắt trái.
Nữ Tu sĩ Ngọc Liên Hoa ấn tống kính tặng chư đạo hữu, chư vị đang bệnh nan y, nghèo khổ lo chạy gạo không nỗi và chư vị trong cảnh màn trời chiếu đất khi bị trốt Hurrican, nạn hồng thủy, chiến tranh, muốn sống sót sau Đại Chiến nguyên tử.
BỬU MINH ĐÀN và ĐÀN BỬU LIÊN ĐĂNG
tại Nantes, Pháp Quốc và tại Bad Aibling , Đức Quốc
BỬU MINH ĐÀN và ĐÀN BỬU LIÊN ĐĂNG Trân trọng giới thiệu cùng chư vị đang lo âu vì khổ nạn sắp tới vì Thiên Nhiên đang trừng phạt loài người, bởi loài người tàn phá thiên nhiên, mà Thiên Nhiên là MẸ ĐẤT. (Nhân loại gọi là Mẹ Đất ) Địa Mẫu 地 母 là vì trước khi có Trời Đất thì Khí Hư Vô hay TAO (Đạo) = 道 Prana = Nichtsein = No-Being = Néant = Hư Vô chi Khí = Đệ nhất Nguyên Tử = erstes Atom = THẦY Thượng Đế ở thể TỊNH khi ngài chưa ĐỘNG hay chưa tạo ra vụ nổ BIG BANG. Trong Đạo Cao Đài ngài nói ngài do Khí Hư Vô sanh ra. Nhưng ngài là Đấng Toàn năng Toàn Thiện mà loài người gọi ngài là Đấng Sáng Tạo ( Créateur = Creator = Schöpfer) thì ngài cũng chính là Khí Hư Vô, cũng là Đức Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn. Ngài có ba ngôi mà các Tôn giáo đều nói đến : Vô Cực = Huyền Khí có sẵn trong trời đất, tượng trưng là vòng tròn, cái ao = Trì = mare =>Tây phương gọi là Maria = mère. Ngài có Ngôi Thứ Nhứt là Thái Cực , Lưỡng Nghi và Tứ Tượng hay Đức Chúa Cha = 1.Logos = Nhiên Đăng Cổ Phật hay Adibuddha, Đức Chúa Con hay Ngôi hai = Chúa Jésus Christ = Chiết Thân của Đức Thượng Đế hay Đức Ngô Minh Chiêu = Nhị Thiên Giáo Chủ = Giê-su ở Phương Đông và Đức Chúa Thánh Thần hay Điển Linh tức Đài Truyền Hình của ngài bằng làn sóng siêu tần số hay là Brahma, Vishnu und Shiva. Qua sơ đồ Tạo lập Vũ Trụ là Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái thì Nhật, Nguyệt, Tinh và Thiên Nhiên là Tiên Thiên, sinh linh có sự sống là Hậu Thiên. Hậu Thiên ở trong sự tàn phá cái hư để xây dựng cái mới do Ngôi Thứ Ba điều khiển hay Ngôi Phá Hoại (Âm + Dương + Ngũ Hành tương khắc hay tương sanh), cho nên con người luôn phải học từ ác đến Thiện, giống như ước nguyện của ông A-Đam là muốn ăn trái cấm để biết điều thiện và điều ác như Đấng Jéhova. Muốn như vậy thì chính hai vị A-Đam và Ê-và phải chiến đấu với thiên nhiên (Chúa không cho lười biếng nữa, phải tự lo nhà, áo quần - vì biết hỗ thẹn nam, nữ rồi).
Tại sao nhân loại quá tham lam quyền bính, tài, danh, tình, thoả mãn cái dục và túi tham không đáy mới tự tàn phá nhau chỉ vì mớ giấy lộn money =dollars = Euros = $ và Transfer, Visa Card, gold, cho nên tự gây khủng hoảng TÀI CHÁNH kéo theo KHỦNG HOẢNG KINH TẾ như đang diễn ra (2.008), tàn phá thiên nhiên, gây ô nhiễm cả Địa Cầu hay Quả Cầu thứ 68 mà ngày nay bệnh ung thư ngày càng tăng, nhiều bệnh lạ xuất hiện cả loài vật đến loài người mà khoa học cũng như y khoa tiến bộ cao nhất thế giới bằng hóa học và kỹ thuật chưa trị được nhiều bệnh nan y. Thời tiết nóng và những núi bằng nước đá hai cực chảy ra, thành phố Venedig = Venise ngập thêm vài từng lầu nữa, Châu Úc và Châu Phi sẽ chìm xuống, California cũng sụp xuống Thái Bình Dương, còn C.H.Á-rạp thống nhứt xây cây dừa và trái đất mới, Tháp Đôi cao hơn của Mỹ, nhưng chưa có cách giữ vững trước thiên nhiên và con người tìm cách làm giống như loài mối ở Phi Châu (cả mấy ngày làm thành ổ mối, sáng bữa chót tự phá tan tành. Tại sao?) Chỉ có các nhà tu hành, là những người nguyên là Thần, Thánh, Tiên, Phật từ Niết bàn giáng thế giúp và dạy nhân loại về Đạo học để nhân loại học cho biết nguồn gốc con người từ đâu xuống thế? làm gì cả cuộc đời đầy đau khổ? Chết rồi linh hồn đi về đâu? Tại sao hiện nay có quá nhiều khổ nạn mà chưa có GIẢI PHÁP nào giúp cho nhân loại qua cơn khổ của bệnh hoạn, nghèo đói cần miếng ăn và lệ thuộc nhiều vào sự ăn uống khi gặp thiên tai khủng khiếp và bệnh nan y chờ chết trong tuyệt vọng thì nhờ các nước khác công quả bánh mì, nước và cơm sấy hầu thực hành việc làm điều thiện, để khi ông triệu phú tại California nằm giữa màn trời chiếu đất xin miếng bánh mì ăn đỡ đói vì nhà băng không cho tiền chạy ra khi để Visa Card vào máy phát tiền tự động khi nhà băng đóng cửa, nhờ có suy nghĩ mà thức tâm, biết thương người như mình vậy lúc nghe giảng trong nhà thờ, nhưng tánh tham tiền làm cứ ích kỷ mãi, có khổ mới nghĩ tới việc làm công quả. Bên Mỹ chưa biết phương pháp của CHÚA GIÊ-SU khi ngài đã học từ Kaschmir và về Do Thái áp dụng NHỊN ĂN 40 ngày thì trược hóa thanh, minh mẫn lên, đắc Đạo và hồi đó ở Do Thái chưa có Internet, mà ngài có UniversalNet bắt được Web Site của CHA ngài trên trời, có cả âm thanh, nhạc như trang nầy và ngài đi giảng Đạo, giảng cả Luân hồi, Nhân quả mà chư Tông Đồ ghi ra hết trong Tân Ước. Tại sao Vatican cấm giảng chữ reincarnation mà nói trại lại là "xác loài người ngày sau sống lại"? Pháp của ngài cũng là pháp của Phật Thích Ca như hình chư nhị vị Giáo Tổ bên trên.
Tại sao nhiều người không tin vào việc NHỊN ĂN và cứ sợ rằng nhịn ăn lâu thì sẽ chết? Tại sao có người nhịn ăn cả 108 ngày, vẫn làm việc, buôn gánh bán bưng mà không mệt, không chết, lại khoẻ hơn? (Chúng tôi gặp một bà tại chợ gần Trường Đua Phú Thọ, đang bán hủ tiếu chay đang nhịn ăn 102 ngày mà chưa chết, nói còn 6 ngày nữa thì ăn cháo lỏng, sệt, đặc và ăn cơm trở lại). Tại sao Đức Phật ngồi thiền 49 ngày (có người đến dâng sữa uống) mà không chết? Tại sao Đức Chúa Giê-su ngồi trên núi Zion ở Sinai 40 ngày không ăn, chỉ uống nước mà không chết?
Đạo trưởng Lê Thành Thân tu thiền với pháp nào cả gia đình không biết mà tứ thời vào phòng công phu, ngài học với Ơn Trên hay tự nghĩ ra, ai cũng không rõ, nhưng ngài áp dụng: nghỉ ăn lâu ngày mà không trở ngại gì, chỉ uống nước chanh + đường + muối mà thôi. Lúc ngài bỏ xác thì gia đình vuốt mắt, nhưng mắt trái cứ mở, vuốt hoài không nhắm lại. Về sau, hỏi ra tại sao như thế, thì chư vị tu theo Phái Chiếu Minh, nói rằng qui liễu mà mắt trái hay mắt thuần dương thì mở chứ không nhắm, như vậy là đắc Đạo rồi đó! Con trai của ngài là huynh Lê Thành Danh sau nầy hỏi chư vị tu theo Chiếu Minh nói cho biết và hiện nay huynh Danh (nhà gần cầu Đường Chừa, tỉnh Vĩnh Long) đang cố tu để có Kim Thân mà về Niết Bàn, thoát luân hồi sanh, tử.
Người thực hành GIẢI PHÁP VÔ ÚY nầy là nữ Tu sĩ Ngọc Liên Hoa chứng thực rằng NHỊN ĂN KHÔNG CHẾT và nói "NHỊN ĐÓI" là sai khi người ta biết cách sống còn (survival = überleben) lúc thiên tai khủng khiếp chừng 1 đến 2 tháng, chỉ uống nước mà không bị hề hấn gì. Nhưng có điều là thiếu nước thì phải chết, như ở giữa sa mạc không có ốc đảo, không có giếng thì đành phải chịu, còn bị nạn hồng thủy thì làm sao nước dơ thành sạch mà uống? Việc nầy không khó nếu người ta biết cách lọc, nấu chín nếu có ván trôi, bỏ chút nước Javel sát trùng, tìm chỗ cao đốt nấu hay nhờ nơi khác tiếp tế. Nếu có đường + chanh + muối và phải uống thuốc xổ khi bắt đầu, nhưng chỉ có nước thì số ngày nhịn ngắn lại, nhưng việc tập thở Pháp Luân thường chuyển là quan trọng, vì Khí Hư Vô trong không khí miễn phí, ai cũng được phép CƯỚP KHÍ HẠO NHIÊN nầy.
Hiện nay (bữa nay là 2.12.2008) tại Bến Tre cũng có một cụ già 80 tuổi đang trị bệnh AIDS (SIDA)= nhiễm Virus HIV positif, sưng gan vì siêu vi A,B hay C làm tổn thương, cứng gan, ung thư vú, tử cung và các loại ung thư khác, bệnh tiểu đường vì lá lách không tiết ra chất insulin làm điều hòa đường trong máu và chưa chích insulin hay chưa thúi thịt ở chân, cùng nhiều bệnh khác mà các bệnh viện từ chối chữa trị thì cụ nhận hết, nhưng cụ muốn chứng minh rằng phương pháp nầy rất khoa học chứ không mê tín dị đoan hay quảng cáo để nhiều bệnh nhân đến đặng cho mướn chỗ nằm hay bắt đóng tiền gì cả. Cụ là nghiệp chủ có đất, vườn, nên đủ tiền mua đường cát pha nước + chanh + muối uống. Nhà cụ có trồng chanh và nếu cần nhiều thì các nhà khác cho để giúp bệnh nhân như bố thí. Chữa bệnh không tính tiền gì cả. Bệnh nhân chỉ cần mang theo quấn áo, hoặc có mùng, mền hay cái võng có mùng nhỏ loại của quân đội. Cầu tiêu thì có đủ chỗ cho vài chục người vào buổi chiều ngày đầu tiên.
Đây là dịp may cho những người bị bệnh nan y có thể chữa khỏi luôn mà không tốn tiền gì cả. Chỉ có cái lễ với Trời, Phật, Chúa Giê-su, chu Vị Năm Ông... để nhập thất lúc mới đến và Lễ Tạ Ơn lúc hết bệnh, ra về là mua nhang, bánh, trái cây, bông.
Hiện tại nhà cụ thì cụ để kỷ niệm một chồng hồ sơ y khoa từ các bệnh viện mà cụ bảo với bệnh nhân trước khi quyết định muốn được cụ trị lành 100% bệnh nan y là phải lấy giấy định bệnh của Hội Đồng Giám Định Y Khoa hay bác sĩ chuyên môn của Bệnh Viện lớn tại Thành phố đưa cho cụ giữ làm hồ sơ trình với chính quyền khi xét hỏi. Khi hết bệnh thì phải đến nơi Bệnh Viện cũ khám tổng quát các bệnh và xem bệnh nan y cũ coi mức độ nặng, nhẹ hay hết tuyệt như thế nào, đưa cho cụ kèm với giấy chứng nhận trước. Chúng tôi xem một số hồ sơ định bệnh và có chụp hình, thì giấy lúc mới đến ghi: HIV positif, giấy sau: HIV negatif; các bệnh khác trước ghi: tình trạng "nặng" hay "không thể chữa trị nữa", giấy sau: sức khoẻ bình thường; bệnh siêu vi C thì: trước 3.000.000 con vi khuẩn, sau: máu tốt, không có siêu vi. Tại sao chỉ uống nước mà vi trùng hay siêu vi đi đâu hết? Vì Hepatitist C thích uống rượu nên sanh nhiều, chỉ có nước thì chúng đói mà chết. Phòng thí nghiệm với PC đếm có sai không? Chuyên viên Phòng Thí Nghiệm có làm việc đúng không? Dù thế nào thì không ai biết, nhưng nhìn mặt bệnh nhân đã hết bệnh thì thấy họ lạc quan, cười nói vui vẻ, chúng tôi ghi địa chỉ và đợi 3 năm sau hỏi coi còn sống hay bệnh tái phát? Tại sao các Cơ Quan Quốc Tế cứu Bệnh AIDS chưa biết? Tại sao các Mạnh Thường Quân muốn công quả như nhà tỉ phú Computer Bill Gates chỉ giúp tiền thuốc cho dân Nam Phi và các nước khác cho thuốc làm chậm chết của bệnh AIDS mà không cất một cái nhà rộng, có luới ngăn muỗi, có đường cát + muối + chanh, có chỗ nằm cho bệnh nhân nhiễm HIV nằm 8 tuần miễn phí để trị tuyệt căn? Hay là ai có nghiệp nặng nên phải chịu chết? Tại sao một số người bị bệnh ung thư và bị Bệnh Viện Ung Bướu tại Lăng Ông Bà Chiểu từ chối vì tình trạng quá nặng, chờ chết, mà khi đến Ông Ba Nhì thì hết bệnh? Phải chăng những người đó cái nghiệp nhẹ đi. Muốn biết tại sao ? Xin quí vị đọc trang sau lúc chúng tôi về Việt Nam và đến nhà cụ mà người ta gọi Ông thầy Ba Nhì. : TINH HOA ĐÔNG PHƯƠNG ĐỂ TRỊ BỆNH NAN Y để biết thêm chi tiết. Khi nói ra thì nhiều người không tin, các Bác sĩ thì phản đối, vì sợ bị thất nghiệp, bởi lý do là cụ Ba Nhì trị không ăn tiền và muốn làm công quả cứu nhơn độ thế mà thôi. Khi hỏi cụ làm sao cụ biết phương pháp trị nầy, thì cụ nói cụ gặp một cụ khác dáng phương phi chỉ cách trị, và dặn không được lấy tiền ai cả, kể cả tiền thưởng hay đền ơn khi hết bệnh, còn bệnh nhân thì phải đứng trước bàn thờ Phật và thề rất nặng là không chỉ cho ai hết cách trị nầy, nếu chỉ người khác thì khi chết sẽ tiêu tan ra tro bụi. Chúng tôi nghĩ rằng cụ già phương phi đó là Đức Chúa Giê-su, còn việc không cho chỉ người khác cách trị là tránh trường hợp người khác lợi dụng ăn tiền bệnh nhân làm giàu trên sự đau khổ của người khác.
Một nhà Tiên tri xứ Ba-Tây có tiên báo là trong tương lai nhân loạu sẽ có phương pháp trị bệnh AIDS và đây là phương pháp đó chứ không còn Therapie nào khác, vì theo Tây Y là làm chận phát triển bệnh, chậm chết, chứ cái chết phải đến, nhưng người nghèo như ở Nam Phi thì không có tiền mua thuốc uống hằng ngày thì phải theo số mạng mà thôi.
Tại sao giới y khoa sợ phương pháp trị bệnh không lấy tiền nầy? Tại sao Nghiệp Đoàn các bác sĩ kiện với Chính Quyền để cấm cụ trị bệnh miễn phí và Chính quyền Tỉnh Bến Tre ra lệnh phạt 10 triệu đồng mà cụ khỏi bị phạt cho đến ngày nay vẫn tiếp tục hành nghề y khoa không có bằng cấp Tiến sĩ Y Khoa hay Lương Y chẳng có bằng cấp Châm Cứu nào?
Vì một cán bộ Tỉnh Ủy (chức vụ cao cấp) bị bệnh ung thư được cụ trị hết bệnh, đã ngăn cản chính quyền cấm trị bệnh và dạy Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Bến Tre phải thu hồi Lệnh Phạt?
Bài viết trong Internet TINH HOA ĐÔNG PHƯƠNG ĐỂ TRỊ BỆNH NAN Y gởi phổ biến trong Internet thì có một bác sĩ trả lời:"Chuyện vậy mà cũng tin" tức là chê "mê tín". Trường hợp nầy giống như ở Mỹ các Bác sỉ kiện ông Edgar Cayce vậy và nếu Đức Chúa Giê-su có tái sanh mà trị bệnh cho chúng sanh như thế thì ngài sẽ bị loài người giết nữa.
Gần tới ngày Lễ Giáng Sinh, chúng tôi viết trang nầy để nhắn với chư vị có nhiều phước đức và đang bị cái nghiệp nặng đưa đến cái chết, nhưng nhờ biết con đường Đạo, nên có công quả, nhờ công quả mà nghiệp hết, khi đọc trang nầy, tin tưởng, sẽ tìm về Việt Nam, theo địa chỉ, điện thoại, tìm được nhà Ông Ba Nhì, rán ở nhà ông 8 tuần thì bệnh ung thư, AIDS... sẽ hết 100%, nhớ mang theo giấy khám bệnh.
Pháp Vô Úy phải chăng là Phật Pháp?
Thưa: "PHÁP VÔ ÚY" vừa Phật pháp vừa ngoài Phật pháp:
Vừa là Phật pháp vì bởi Tu Tỉnh đến giai đoạn cuối cùng. Tu sĩ chẳng cần dùng đến thực vật. Tu sĩ chỉ dùng toàn Tiên Thiên Khí nhờ phép Điều tức.
Tu sĩ luyện kỷ đến giai đoạn thường hay đến hồi Nhập Đại Định luôn đêm lẫn ngày, trong giai đoạn nầy Tu sĩ chẳng còn biết ngoại cảnh, cứ say mùi Đạo.
Đây, chúng tôi xin nhượng lời cho Phái "Song Tu Tánh Mạng": Tu Thân Luyện Kỷ, vì đâ thuộc phạm vi của Tu Sĩ Đại Đạo đắc quả gần đến mức tột mức thống nhất tinh thần với Thượng Đế, hợp nhứt cùng Thượng Đế Nhứt Thể (quá quan phục thực giai đoạn Đại Đạo.
Chúng tôi đã vừa thốt rằng "Pháp Vô Úy" cũng vừa là Phật Pháp và vừa ngoại Phật Pháp. Bởi nhờ Pháp nầy mà chúng sanh đi lần tới, cũng như tìm được mối của một cuộn chỉ hay nhợ. Nhờ mối nầy phăng lần đến cùng.
"PHÁP VÔ ÚY" thấy rất lưu dụng, được bổ ich cho chúng sanh nhứt là lúc nầy thời gian nhân loại sống trong vòng khói lửa, cầu cho vừa đủ no thân ấm cật, dụng pháp nương thân, chẳng còn biết tực vào đâu.
Đó là chuyện đã qua để cho nhơn sanh sáng soi làm gương, rút kinh nghiệm, và để nhớ gương mẫu khổ đau đó là, tin để hiểu.
1. Để giữ lấy xác thân người, biết bao giờ có lại được? Còn quí hơn vàng bạc, châu báu, ngọc nga trên đời.
- Ai là người dám xướng lên tránh khỏi tai nạn nầy được?
- Ai là người đứng lên ra tay tế độ nhôn quần sanh chúng?
Thảy thảy đều cùng bị một tai nạn, còn ai cứu ai được nữa.
May ra có Trời - Phật - Đấng Toàn Năng mới cứu vớt được. Vì vậy Thượng Đế hé ra màng trời, vén ngút mây mù chỉ dạy cho nhân loại phương pháp để tự vệ, chỉ còn cách phổ biến, nỡ lòng nào dấu diếm chi nữa?
Những điều mà người ta tu, đã nhờ Trời, Phật dạy biểu từ bấy lâu nay.
Và tự mình đã gieo và gặt hái bao lần khi luồn truôn qua ải, khi lên đèo, xuống biển, khi lạc giữa rừng già U-Minh, cùng lâm vào bãi sa-mạc không thể tấn, thối, chỉ chờ Tử Thần đến cứu thôi.
Ngày nào quần chúng sanh linh đã bị đã bị trải qua một phần nào sự nguy tai biến thiên vừa rồi.
Trong cái rủi mà tìm ra cái may mới xuất xứ bài "PHÁP VÔ ÚY" rút trong kinh nghiệm.
Kinh Phật rất nhiều vô tận, cũng được gọi là tối đại đa số, do đó mới có Bồ Tát đa hạnh, biết làm sao mà con người biết đặng duyên để đi cùng đến tột.
PHẬT PHÁP LÀ GÌ?
Là những lời vàng tiếng ngọc của Phật thốt ra trong hồi giáo huấn 49 năm: Lời ấy góp lại thành Kinh Khế, đang thời hiện tại lưu hành trong hoàn võ.
Phật pháp chỉ cách hành vi của chúng sanh theo đúng với chân lý chẳng ngoài cách ăn thói ở, để tránh tứ khổ: sanh, lão, bệnh, tử, thoát ly luân hồi. Nói trắng trợn mà dễ hiểu hơn là các Kinh gom về mục tiêu giải thoát, trở thành Phật như ngài.
Muốn thành Phật phải tu. Nhưng mà đói khát rồi, còn thân đâu mà tu? hoặc sống sót gượng được bao lăm ngày mà tu?
TU là sửa chữa tánh tình LINH-HỒN.
Linh hồn là chủ. mà thân là nhà. Chủ không nhà tựa vào đâu?
PHẬT PHÁP LÀ GÌ?
Vậy nên nói đến TU có nghĩa là muốn nói tu bổ hoặc rán dinh dưỡng xác thân
CÁCH TRỊ TUYỆT BỆNH UNG THƯ, các loại bướu
và
Các bệnh NAN Y khác như AIDS (SIDA) = HIV positif, tiểu đường, SIÊU VI trong gan cứng gan ( Hepetatitist A,B,C), sạn thận, Parkinson run rẩy, tê liệt sau khi bị xuất huyết mạch máu não bại xuội sẽ cử động lại được...
Chúng tôi có cách trị bệnh UNG THƯ dứt tuyệt , nhưng ai không tin thì thôi, vì chưa có cơ duyên sống lâu thêm, sẽ học tiếp ở kiếp sau. Bài học đau khổ còn học dài nhiều kiếp luân hồi. Nhưng hiện nay là thời MẠT PHÁP, nghiệp quả trả hiện tiền để bước qua Đời THƯỢNG NGƯƠN THÁNH ĐỨC, ai trễ khi thi Long Hoa Đại Hội thì đợi 700.000 năm tới mới trở lại học lớp như bây giờ.
Nguyên nhân sanh ra bệnh UNG THƯ và đề phòng bệnh nan y nầy như thế nào?
Các khoa học gia chưa khám phá ra độc chất, chỉ đoán, kinh nghiệm, làm thống kê để nói xác suất chứ chưa chính xác, chưa có Vidéo Caméra như nhị vị chư Thần Nam Tào Bắc Đẩu đặt máy như cảnh sát ở thế gian trang bị Vidéo vậy, cõi Akasha quay cả trong TƯ TƯỞNG (Film), LỜI NÓI ( MP3) và việc làm (Video). Tư tưởng ác, dù chưa làm cũng bị tội, bị xử như đã làm (xin mời đọc thánh giáo) :
ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG
Tại sao trị bằng chất hóa học và quang tuyến chỉ chận sự phát triển của những bướu nhọt chậm to lên mà không trị tuyệt bệnh UNG THƯ?
BỬU MINH ĐÀN và ĐÀN BỬU LIÊN ĐĂNG
tại Nantes, Pháp Quốc và tại Bad Aibling, Đức Quốc
THI :
Tự hỏi chính mình ba câu nầy: Suy nghĩ thật lâu, tự trả lời :
Từ đâu tôi đầu thai xuống đây? Hồn tôi từ cõi Niết-Bàn-Trời.
Sống ở cõi trần để chi vậy? Giáng trần học ác rồi học thiện. (như A-Đam và Ê-và)
Chết rồi đi đâu ? hay ở đây? Tu có Kim Thân thì về Trời !
Tôi ghiền hút thuốc làm sao cai?
Dễ quá ! Đọc xong các trang nầy:
Không ăn, chỉ uống, hút => bị sặc,
Thế thì cai được! Thế mới hay !
Tại sao tôi bị bệnh UNG THƯ? Hận thù, ăn thịt, nhậu => Cancer
Còn bị tiểu đường, ngũ tạng nhừ, Thích ngọt, lá lách ít insulin nghe!
Muốn chết cho khoẻ không chết được, Bài học chưa xong, về bị phạt!
Thích dâm, bị AIDS (SIDA) gầy từ từ. Nhịn ăn, chỉ uống , sẽ khoẻ re !
Những người không tin Chúa Giê-su, Pháp trị nầy là của CHÚA CON,
Chỉ tin khoa học, Doctor Medizin mù, Cũng là Pháp Phật học trên non. (Himalaya)
Trở thành mù quáng, vật thí nghiệm, Trị khỏi tốn tiền, khỏi uống thuốc,
Nuôi Bảo Hiểm + Bác-sĩ không biết tu. Tuyệt căn mọi bệnh để sống còn.
Peter Ha , Heilpraktiker, kostenlose ganzlich Heilung
BỬU MINH ĐÀN và ĐÀN BỬU LIÊN ĐĂNG Trân trọng giới thiệu cùng chư vị đang lo âu vì khổ nạn sắp tới vì Thiên Nhiên đang trừng phạt loài người, bởi loài người tàn phá thiên nhiên, mà Thiên Nhiên là MẸ ĐẤT. (Nhân loại gọi là Mẹ Đất ) Địa Mẫu 地 母 là vì trước khi có Trời Đất thì Khí Hư Vô hay TAO (Đạo) = 道 Prana = Nichtsein = No-Being = Néant = Hư Vô chi Khí = Đệ nhất Nguyên Tử = erstes Atom = THẦY Thượng Đế ở thể TỊNH khi ngài chưa ĐỘNG hay chưa tạo ra vụ nổ BIG BANG. Trong Đạo Cao Đài ngài nói ngài do Khí Hư Vô sanh ra. Nhưng ngài là Đấng Toàn năng Toàn Thiện mà loài người gọi ngài là Đấng Sáng Tạo ( Créateur = Creator = Schöpfer) thì ngài cũng chính là Khí Hư Vô, cũng là Đức Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn. Ngài có ba ngôi mà các Tôn giáo đều nói đến : Vô Cực = Huyền Khí có sẵn trong trời đất, tượng trưng là vòng tròn, cái ao = Trì = mare =>Tây phương gọi là Maria = mère. Ngài có Ngôi Thứ Nhứt là Thái Cực , Lưỡng Nghi và Tứ Tượng hay Đức Chúa Cha = 1.Logos = Nhiên Đăng Cổ Phật hay Adibuddha, Đức Chúa Con hay Ngôi hai = Chúa Jésus Christ = Chiết Thân của Đức Thượng Đế hay Đức Ngô Minh Chiêu = Nhị Thiên Giáo Chủ = Giê-su ở Phương Đông và Đức Chúa Thánh Thần hay Điển Linh tức Đài Truyền Hình của ngài bằng làn sóng siêu tần số hay là Brahma, Vishnu und Shiva. Qua sơ đồ Tạo lập Vũ Trụ là Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái thì Nhật, Nguyệt, Tinh và Thiên Nhiên là Tiên Thiên, sinh linh có sự sống là Hậu Thiên. Hậu Thiên ở trong sự tàn phá cái hư để xây dựng cái mới do Ngôi Thứ Ba điều khiển hay Ngôi Phá Hoại (Âm + Dương + Ngũ Hành tương khắc hay tương sanh), cho nên con người luôn phải học từ ác đến Thiện, giống như ước nguyện của ông A-Đam là muốn ăn trái cấm để biết điều thiện và điều ác như Đấng Jéhova. Muốn như vậy thì chính hai vị A-Đam và Ê-và phải chiến đấu với thiên nhiên (Chúa không cho lười biếng nữa, phải tự lo nhà, áo quần - vì biết hỗ thẹn nam, nữ rồi).
Tại sao nhân loại quá tham lam quyền bính, tài, danh, tình, thoả mãn cái dục và túi tham không đáy mới tự tàn phá nhau chỉ vì mớ giấy lộn money =dollars = Euros = $ và Transfer, Visa Card, gold, cho nên tự gây khủng hoảng TÀI CHÁNH kéo theo KHỦNG HOẢNG KINH TẾ như đang diễn ra (2.008), tàn phá thiên nhiên, gây ô nhiễm cả Địa Cầu hay Quả Cầu thứ 68 mà ngày nay bệnh ung thư ngày càng tăng, nhiều bệnh lạ xuất hiện cả loài vật đến loài người mà khoa học cũng như y khoa tiến bộ cao nhất thế giới bằng hóa học và kỹ thuật chưa trị được nhiều bệnh nan y. Thời tiết nóng và những núi bằng nước đá hai cực chảy ra, thành phố Venedig = Venise ngập thêm vài từng lầu nữa, Châu Úc và Châu Phi sẽ chìm xuống, California cũng sụp xuống Thái Bình Dương, còn C.H.Á-rạp thống nhứt xây cây dừa và trái đất mới, Tháp Đôi cao hơn của Mỹ, nhưng chưa có cách giữ vững trước thiên nhiên và con người tìm cách làm giống như loài mối ở Phi Châu (cả mấy ngày làm thành ổ mối, sáng bữa chót tự phá tan tành. Tại sao?) Chỉ có các nhà tu hành, là những người nguyên là Thần, Thánh, Tiên, Phật từ Niết bàn giáng thế giúp và dạy nhân loại về Đạo học để nhân loại học cho biết nguồn gốc con người từ đâu xuống thế? làm gì cả cuộc đời đầy đau khổ? Chết rồi linh hồn đi về đâu? Tại sao hiện nay có quá nhiều khổ nạn mà chưa có GIẢI PHÁP nào giúp cho nhân loại qua cơn khổ của bệnh hoạn, nghèo đói cần miếng ăn và lệ thuộc nhiều vào sự ăn uống khi gặp thiên tai khủng khiếp và bệnh nan y chờ chết trong tuyệt vọng thì nhờ các nước khác công quả bánh mì, nước và cơm sấy hầu thực hành việc làm điều thiện, để khi ông triệu phú tại California nằm giữa màn trời chiếu đất xin miếng bánh mì ăn đỡ đói vì nhà băng không cho tiền chạy ra khi để Visa Card vào máy phát tiền tự động khi nhà băng đóng cửa, nhờ có suy nghĩ mà thức tâm, biết thương người như mình vậy lúc nghe giảng trong nhà thờ, nhưng tánh tham tiền làm cứ ích kỷ mãi, có khổ mới nghĩ tới việc làm công quả. Bên Mỹ chưa biết phương pháp của CHÚA GIÊ-SU khi ngài đã học từ Kaschmir và về Do Thái áp dụng NHỊN ĂN 40 ngày thì trược hóa thanh, minh mẫn lên, đắc Đạo và hồi đó ở Do Thái chưa có Internet, mà ngài có UniversalNet bắt được Web Site của CHA ngài trên trời, có cả âm thanh, nhạc như trang nầy và ngài đi giảng Đạo, giảng cả Luân hồi, Nhân quả mà chư Tông Đồ ghi ra hết trong Tân Ước. Tại sao Vatican cấm giảng chữ reincarnation mà nói trại lại là "xác loài người ngày sau sống lại"? Pháp của ngài cũng là pháp của Phật Thích Ca như hình chư nhị vị Giáo Tổ bên trên.
Tại sao nhiều người không tin vào việc NHỊN ĂN và cứ sợ rằng nhịn ăn lâu thì sẽ chết? Tại sao có người nhịn ăn cả 108 ngày, vẫn làm việc, buôn gánh bán bưng mà không mệt, không chết, lại khoẻ hơn? (Chúng tôi gặp một bà tại chợ gần Trường Đua Phú Thọ, đang bán hủ tiếu chay đang nhịn ăn 102 ngày mà chưa chết, nói còn 6 ngày nữa thì ăn cháo lỏng, sệt, đặc và ăn cơm trở lại). Tại sao Đức Phật ngồi thiền 49 ngày (có người đến dâng sữa uống) mà không chết? Tại sao Đức Chúa Giê-su ngồi trên núi Zion ở Sinai 40 ngày không ăn, chỉ uống nước mà không chết?
Đạo trưởng Lê Thành Thân tu thiền với pháp nào cả gia đình không biết mà tứ thời vào phòng công phu, ngài học với Ơn Trên hay tự nghĩ ra, ai cũng không rõ, nhưng ngài áp dụng: nghỉ ăn lâu ngày mà không trở ngại gì, chỉ uống nước chanh + đường + muối mà thôi. Lúc ngài bỏ xác thì gia đình vuốt mắt, nhưng mắt trái cứ mở, vuốt hoài không nhắm lại. Về sau, hỏi ra tại sao như thế, thì chư vị tu theo Phái Chiếu Minh, nói rằng qui liễu mà mắt trái hay mắt thuần dương thì mở chứ không nhắm, như vậy là đắc Đạo rồi đó! Con trai của ngài là huynh Lê Thành Danh sau nầy hỏi chư vị tu theo Chiếu Minh nói cho biết và hiện nay huynh Danh (nhà gần cầu Đường Chừa, tỉnh Vĩnh Long) đang cố tu để có Kim Thân mà về Niết Bàn, thoát luân hồi sanh, tử.
Người thực hành GIẢI PHÁP VÔ ÚY nầy là nữ Tu sĩ Ngọc Liên Hoa chứng thực rằng NHỊN ĂN KHÔNG CHẾT và nói "NHỊN ĐÓI" là sai khi người ta biết cách sống còn (survival = überleben) lúc thiên tai khủng khiếp chừng 1 đến 2 tháng, chỉ uống nước mà không bị hề hấn gì. Nhưng có điều là thiếu nước thì phải chết, như ở giữa sa mạc không có ốc đảo, không có giếng thì đành phải chịu, còn bị nạn hồng thủy thì làm sao nước dơ thành sạch mà uống? Việc nầy không khó nếu người ta biết cách lọc, nấu chín nếu có ván trôi, bỏ chút nước Javel sát trùng, tìm chỗ cao đốt nấu hay nhờ nơi khác tiếp tế. Nếu có đường + chanh + muối và phải uống thuốc xổ khi bắt đầu, nhưng chỉ có nước thì số ngày nhịn ngắn lại, nhưng việc tập thở Pháp Luân thường chuyển là quan trọng, vì Khí Hư Vô trong không khí miễn phí, ai cũng được phép CƯỚP KHÍ HẠO NHIÊN nầy.
Hiện nay (bữa nay là 2.12.2008) tại Bến Tre cũng có một cụ già 80 tuổi đang trị bệnh AIDS (SIDA)= nhiễm Virus HIV positif, sưng gan vì siêu vi A,B hay C làm tổn thương, cứng gan, ung thư vú, tử cung và các loại ung thư khác, bệnh tiểu đường vì lá lách không tiết ra chất insulin làm điều hòa đường trong máu và chưa chích insulin hay chưa thúi thịt ở chân, cùng nhiều bệnh khác mà các bệnh viện từ chối chữa trị thì cụ nhận hết, nhưng cụ muốn chứng minh rằng phương pháp nầy rất khoa học chứ không mê tín dị đoan hay quảng cáo để nhiều bệnh nhân đến đặng cho mướn chỗ nằm hay bắt đóng tiền gì cả. Cụ là nghiệp chủ có đất, vườn, nên đủ tiền mua đường cát pha nước + chanh + muối uống. Nhà cụ có trồng chanh và nếu cần nhiều thì các nhà khác cho để giúp bệnh nhân như bố thí. Chữa bệnh không tính tiền gì cả. Bệnh nhân chỉ cần mang theo quấn áo, hoặc có mùng, mền hay cái võng có mùng nhỏ loại của quân đội. Cầu tiêu thì có đủ chỗ cho vài chục người vào buổi chiều ngày đầu tiên.
Đây là dịp may cho những người bị bệnh nan y có thể chữa khỏi luôn mà không tốn tiền gì cả. Chỉ có cái lễ với Trời, Phật, Chúa Giê-su, chu Vị Năm Ông... để nhập thất lúc mới đến và Lễ Tạ Ơn lúc hết bệnh, ra về là mua nhang, bánh, trái cây, bông.
Hiện tại nhà cụ thì cụ để kỷ niệm một chồng hồ sơ y khoa từ các bệnh viện mà cụ bảo với bệnh nhân trước khi quyết định muốn được cụ trị lành 100% bệnh nan y là phải lấy giấy định bệnh của Hội Đồng Giám Định Y Khoa hay bác sĩ chuyên môn của Bệnh Viện lớn tại Thành phố đưa cho cụ giữ làm hồ sơ trình với chính quyền khi xét hỏi. Khi hết bệnh thì phải đến nơi Bệnh Viện cũ khám tổng quát các bệnh và xem bệnh nan y cũ coi mức độ nặng, nhẹ hay hết tuyệt như thế nào, đưa cho cụ kèm với giấy chứng nhận trước. Chúng tôi xem một số hồ sơ định bệnh và có chụp hình, thì giấy lúc mới đến ghi: HIV positif, giấy sau: HIV negatif; các bệnh khác trước ghi: tình trạng "nặng" hay "không thể chữa trị nữa", giấy sau: sức khoẻ bình thường; bệnh siêu vi C thì: trước 3.000.000 con vi khuẩn, sau: máu tốt, không có siêu vi. Tại sao chỉ uống nước mà vi trùng hay siêu vi đi đâu hết? Vì Hepatitist C thích uống rượu nên sanh nhiều, chỉ có nước thì chúng đói mà chết. Phòng thí nghiệm với PC đếm có sai không? Chuyên viên Phòng Thí Nghiệm có làm việc đúng không? Dù thế nào thì không ai biết, nhưng nhìn mặt bệnh nhân đã hết bệnh thì thấy họ lạc quan, cười nói vui vẻ, chúng tôi ghi địa chỉ và đợi 3 năm sau hỏi coi còn sống hay bệnh tái phát? Tại sao các Cơ Quan Quốc Tế cứu Bệnh AIDS chưa biết? Tại sao các Mạnh Thường Quân muốn công quả như nhà tỉ phú Computer Bill Gates chỉ giúp tiền thuốc cho dân Nam Phi và các nước khác cho thuốc làm chậm chết của bệnh AIDS mà không cất một cái nhà rộng, có luới ngăn muỗi, có đường cát + muối + chanh, có chỗ nằm cho bệnh nhân nhiễm HIV nằm 8 tuần miễn phí để trị tuyệt căn? Hay là ai có nghiệp nặng nên phải chịu chết? Tại sao một số người bị bệnh ung thư và bị Bệnh Viện Ung Bướu tại Lăng Ông Bà Chiểu từ chối vì tình trạng quá nặng, chờ chết, mà khi đến Ông Ba Nhì thì hết bệnh? Phải chăng những người đó cái nghiệp nhẹ đi. Muốn biết tại sao ? Xin quí vị đọc trang sau lúc chúng tôi về Việt Nam và đến nhà cụ mà người ta gọi Ông thầy Ba Nhì. : TINH HOA ĐÔNG PHƯƠNG ĐỂ TRỊ BỆNH NANY để biết thêm chi tiết. Khi nói ra thì nhiều người không tin, các Bác sĩ thì phản đối, vì sợ bị thất nghiệp, bởi lý do là cụ Ba Nhì trị không ăn tiền và muốn làm công quả cứu nhơn độ thế mà thôi. Khi hỏi cụ làm sao cụ biết phương pháp trị nầy, thì cụ nói cụ gặp một cụ khác dáng phương phi chỉ cách trị, và dặn không được lấy tiền ai cả, kể cả tiền thưởng hay đền ơn khi hết bệnh, còn bệnh nhân thì phải đứng trước bàn thờ Phật và thề rất nặng là không chỉ cho ai hết cách trị nầy, nếu chỉ người khác thì khi chết sẽ tiêu tan ra tro bụi. Chúng tôi nghĩ rằng cụ già phương phi đó là Đức Chúa Giê-su, còn việc không cho chỉ người khác cách trị là tránh trường hợp người khác lợi dụng ăn tiền bệnh nhân làm giàu trên sự đau khổ của người khác.
Một nhà Tiên tri xứ Ba-Tây có tiên báo là trong tương lai nhân loạu sẽ có phương pháp trị bệnh AIDS và đây là phương pháp đó chứ không còn Therapie nào khác, vì theo Tây Y là làm chận phát triển bệnh, chậm chết, chứ cái chết phải đến, nhưng người nghèo như ở Nam Phi thì không có tiền mua thuốc uống hằng ngày thì phải theo số mạng mà thôi.
Tại sao giới y khoa sợ phương pháp trị bệnh không lấy tiền nầy? Tại sao Nghiệp Đoàn các bác sĩ kiện với Chính Quyền để cấm cụ trị bệnh miễn phí và Chính quyền Tỉnh Bến Tre ra lệnh phạt 10 triệu đồng mà cụ khỏi bị phạt cho đến ngày nay vẫn tiếp tục hành nghề y khoa không có bằng cấp Tiến sĩ Y Khoa hay Lương Y chẳng có bằng cấp Châm Cứu nào?
Vì một cán bộ Tỉnh Ủy (chức vụ cao cấp) bị bệnh ung thư được cụ trị hết bệnh, đã ngăn cản chính quyền cấm trị bệnh và dạy Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Bến Tre phải thu hồi Lệnh Phạt?
Bài viết trong Internet TINH HOA ĐÔNG PHƯƠNG ĐỂ TRỊ BỆNH NANY gởi phổ biến trong Internet thì có một bác sĩ trả lời:"Chuyện vậy mà cũng tin" tức là chê "mê tín". Trường hợp nầy giống như ở Mỹ các Bác sỉ kiện ông Edgar Cayce vậy và nếu Đức Chúa Giê-su có tái sanh mà trị bệnh cho chúng sanh như thế thì ngài sẽ bị loài người giết nữa.
Gần tới ngày Lễ Giáng Sinh, chúng tôi viết trang nầy để nhắn với chư vị có nhiều phước đức và đang bị cái nghiệp nặng đưa đến cái chết, nhưng nhờ biết con đường Đạo, nên có công quả, nhờ công quả mà nghiệp hết, khi đọc trang nầy, tin tưởng, sẽ tìm về Việt Nam, theo địa chỉ, điện thoại, tìm được nhà Ông Ba Nhì, rán ở nhà ông 8 tuần thì bệnh ung thư, AIDS... sẽ hết 100%, nhớ mang theo giấy khám bệnh.
Khi quí vị hêt bệnh, xin trở lại trang nầy và đọc hết cuốn.
Mập quá sẽ gầy (ốm lại), nhưng trẻ con thì sao?
Mập quá sẽ gầy (ốm lại), nhưng trẻ con thì sao?
người lớn thì nhịn không đói nhờ thở.
người lớn thì nhịn không đói nhờ thở.
Pháp Vô Úy phải chăng là Phật Pháp?
Thưa: "PHÁP VÔ ÚY" vừa Phật pháp vừa ngoài Phật pháp:
Vừa là Phật pháp vì bởi Tu Tỉnh đến giai đoạn cuối cùng. Tu sĩ chẳng cần dùng đến thực vật. Tu sĩ chỉ dùng toàn Tiên Thiên Khí nhờ phép Điều tức.
Tu sĩ luyện kỷ đến giai đoạn thường hay đến hồi Nhập Đại Định luôn đêm lẫn ngày, trong giai đoạn nầy Tu sĩ chẳng còn biết ngoại cảnh, cứ say mùi Đạo.
Đây, chúng tôi xin nhượng lời cho Phái "Song Tu Tánh Mạng": Tu Thân Luyện Kỷ, vì đâ thuộc phạm vi của Tu Sĩ Đại Đạo đắc quả gần đến mức tột mức thống nhất tinh thần với Thượng Đế, hợp nhứt cùng Thượng Đế Nhứt Thể (quá quan phục thực giai đoạn Đại Đạo.
Chúng tôi đã vừa thốt rằng "Pháp Vô Úy" cũng vừa là Phật Pháp và vừa ngoại Phật Pháp. Bởi nhờ Pháp nầy mà chúng sanh đi lần tới, cũng như tìm được mối của một cuộn chỉ hay nhợ. Nhờ mối nầy phăng lần đến cùng.
"PHÁP VÔ ÚY" thấy rất lưu dụng, được bổ ich cho chúng sanh nhứt là lúc nầy thời gian nhân loại sống trong vòng khói lửa, cầu cho vừa đủ no thân ấm cật, dụng pháp nương thân, chẳng còn biết tực vào đâu.
Đó là chuyện đã qua để cho nhơn sanh sáng soi làm gương, rút kinh nghiệm, và để nhớ gương mẫu khổ đau đó là, tin để hiểu.
1. Để giữ lấy xác thân người, biết bao giờ có lại được? Còn quí hơn vàng bạc, châu báu, ngọc nga trên đời.
- Ai là người dám xướng lên tránh khỏi tai nạn nầy được?
- Ai là người đứng lên ra tay tế độ nhôn quần sanh chúng?
Thảy thảy đều cùng bị một tai nạn, còn ai cứu ai được nữa.
May ra có Trời - Phật - Đấng Toàn Năng mới cứu vớt được. Vì vậy Thượng Đế hé ra màng trời, vén ngút mây mù chỉ dạy cho nhân loại phương pháp để tự vệ, chỉ còn cách phổ biến, nỡ lòng nào dấu diếm chi nữa?
Những điều mà người ta tu, đã nhờ Trời, Phật dạy biểu từ bấy lâu nay.
Và tự mình đã gieo và gặt hái bao lần khi luồn truôn qua ải, khi lên đèo, xuống biển, khi lạc giữa rừng già U-Minh, cùng lâm vào bãi sa-mạc không thể tấn, thối, chỉ chờ Tử Thần đến cứu thôi.
Ngày nào quần chúng sanh linh đã bị đã bị trải qua một phần nào sự nguy tai biến thiên vừa rồi.
Trong cái rủi mà tìm ra cái may mới xuất xứ bài "PHÁP VÔ ÚY" rút trong kinh nghiệm.
Kinh Phật rất nhiều vô tận, cũng được gọi là tối đại đa số, do đó mới có Bồ Tát đa hạnh, biết làm sao mà con người biết đặng duyên để đi cùng đến tột.
PHẬT PHÁP LÀ GÌ?
Là những lời vàng tiếng ngọc của Phật thốt ra trong hồi giáo huấn 49 năm: Lời ấy góp lại thành Kinh Khế, đang thời hiện tại lưu hành trong hoàn võ.
Phật pháp chỉ cách hành vi của chúng sanh theo đúng với chân lý chẳng ngoài cách ăn thói ở, để tránh tứ khổ: sanh, lão, bệnh, tử, thoát ly luân hồi. Nói trắng trợn mà dễ hiểu hơn là các Kinh gom về mục tiêu giải thoát, trở thành Phật như ngài.
Muốn thành Phật phải tu. Nhưng mà đói khát rồi, còn thân đâu mà tu? hoặc sống sót gượng được bao lăm ngày mà tu?
TU là sửa chữa tánh tình LINH-HỒN.
Linh hồn là chủ. mà thân là nhà. Chủ không nhà tựa vào đâu?
PHẬT PHÁP LÀ GÌ?
Vậy nên nói đến TU có nghĩa là muốn nói tu bổ hoặc rán dinh dưỡng xác thân, chỗ trú ngụ tạm thời của linh hồn, nói đúng hơn là Linh Hồn ngự trị nơi thân.
Còn thân mới còn Linh Hồn, mới có TU đặng. Biết thuở nào mà còn được thân như nay, được thân thiệt quí báu thay! Rất may mắn thay!
Có thân mới có "nhơn điển" hòa hiệp cùng Thiên Địa Điển mới hóa thành Tiên Phật.
Trong ba loại nầy: Điểm Tam Tài, thiếu một thì không thành gì hết.
Vì vậy, là con người thì cần phải thận trọng, rán giữ cho còn thân.
Nhưng thân được tráng kiện thì tinh thần mới cương kiện ( Un Esprit se loge dans un corps saint).
Ngũ tạng Lục Phủ của thể xác được cương kiện, người mới dễ tu, vì đủ kiện lực sanh khí.
Tu là : Trong trừ thất tình, lục dục, ngoài bế ngũ quan: nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân.
Khi bế được ngũ quan trừ dược ngũ căn, con người mới thoát khảm tù (chữ Hán: 4 bức tường chữ nhơn ở giũa, con người mới ra vòng tứ đổ tường, bốn bức tường đồng hãm con người, bốn tường đồng hãm thân người, bốn tường đồng: sắc, tài, danh, lợi.
Trong bốn chữ nầy, chỉ có chữ TÀI là trọng hơn hết đứng đầu. Có kim tiền chơi Tiên, mua danh, bán tước, nói trắng ra: tiền làm người vốn bổn thiện trở thành tham lam, sắc dâm, ăn no, ngũ ấm.
Tứ dục nầy không bao giờ ngưng nghỉ, khiến cho con người lủi thủi chạy vòng quanh quẩn cho đến thời giờ cuối cùng trút hơi thở mới hết.
Than ôi ! Nhơn thân gian lao, khổ cực biết bao! trọn kiếp phù sanh phải chịu!
Chết rồi cũng chưa mãn nợ trần, Linh Hồn còn mang hai vai oằn oại một gánh nợ nghiệp chướng, luân hồi trở lại thế gian để thanh toán mối nợ oa nghiệt nầy biết chừng nào mới xong!
Linh hồn đặng trong trắng sạch sẽ mà hồi cựu vị ngôi Tiên, Phật, dựa kề bệ ngọc.
Thảm thay cho chúg sanh !
Thương thay cho nhân loại !
Đời là trường rèn tập, luyện, là nơi trả quả, là nơi học hỏi cho các nguyên nhân.
Thế gian cũng là nơi đọa đày không ngày trở lại, cho những linh hồn nào còn non yếu không khắc phục trước mọi cảnh vật.
"Trường đời trong kiếp phù sinh,
Ngày mai chẳng biết đời mình ra sao?
Tuần huờn vận hội đáo đầu,
Vòng tròn giáp mối chuyển bầu Càn Khôn".
Chinh chinh ác lặn non đoài,
Cha, con, chồng, vợ, tớ, thấy : loạn ly,
Quỉ ma, ác thú đến kỳ,
Thánh, Thần, Tiên, Phật ra thi Hội nầy.
Hỏi người thế ! Hỏi ai là chúng sanh thấy vậy có buồn ư ?
Thôi thì thôi ! Trong vạn kế, chỉ có một con đường duy nhứt là tìm cách giải thoát cho thể xác, luôn cả linh hồn sanh linh. Giải thoát bằng cách nào? Chỉ còn có biết tìm một con đường TU mà thôi !
TU là gì ?
TU là bổ, là sửa chữa.
Trong nhơn thân về phần hữu hình là tu bổ ngũ tạng lục phủ. Chỗ nào hơi chinh lệnh là sửa lại cho quân bình, được thăng bằng, thiếu sức thì bồi sức.
Về phần vô hình thuộc tâm tánh, nên tìm tánh tốt học và hành, trừ thải những gỉ gọi thói quen, tánh xấu thành kiến, tỉ như thói mê ăn uống, ưa thích món ngon vật lạ, chịu làm cho khoái ổ gà cho vui miệng, như dâm dục, say đắm bóng sắc hao mòn khí thể.
Kim tiền làm cho người ưa thích m2u bạc trắng, thích màu vàng ánh.
Tiền biết khiến nó, biết sử dụng, nó là trung thần, không gì hơn tôi tớ ngay, rất hữu ích giúp người từ cõi tạm, phù du sớm nở tối tàn. Rốt cuộc không cũng hoàn không.
Có cách gì để ý tới mà tưởng đến danh.
TU dứt bỏ các tánh xấu nầy.
Muốn tu chân thì tìm Đạo.
Đạo là con đường duy nhứt của vạn linh sanh chúng, của THẦY (Đức Chúa Trới = Đức Thượng Đế = God = GOtt = Dieu ...) ban phát, từ THẦY đến thế gian, rồi từ thế gian các Vạn Linh trở lại cùng THẦY.
Đạo là con đường cứu rỗi.
Thế nên, trong thời Hạ Nguơn Mạt Kiếp nầy, nếu hiểu thấu và biết rõ Đạo, người phải làm sao?
Phải ngày tập, đêm luyện, khổ cực chẳng nao lòng, gọi công quả, công trình, công phu :
Vì mến Đạo mà làm công quả,
Vì muốn tu việc cả đảm đương,
Khổ lao chẳng bỗng, không lương,
Không danh, không vị, quan trường thế gian.
Hễ người sứ mạng hiểu ra,
Phận hành bao quản những là khó khăn,
Nhân tình thế thái lăng xăng,
Người tu không chấp, vẹn toàn lòng nhân.
"PHÁP VÔ ÚY" bày ra chỉ cho tất cả đồng bào (1) những ai có tinh thần vững chắc, có đủ đức tin, vui lòng đi thử mới thấy kết quả lợi ích là dường nào ! trí óc mở mang ra sao? Lòng vui mừng có khác thường không?
Không biết bao nhiêu người từ lâu thấy đời, mỗi ngày mỗi khổ thêm, mong sao tìm ra một phương giải khổ. Nay gặp PHÁP VÔ ÚY đồng ý nên nghe rồi là đặt dức tin dầy đủ và đi (thực hành) ngay.
Họ toại chí, nhịn ăn đến 50 ngày và 100 ngày mà không chán, còn mốn tuyệt ăn luôn.
Bác sĩ Cao Sĩ Tấn
Pháp danh Kiến Thành
(1) ngày nay có thể nói cả nước và trên thế giới, nếu có ai dịch ra tiếng Anh, Pháp, Đức, Nga, Há, Nhựt, A-rạp... thí có thể nói : cả nhân loại. Nếu ai cũng thử, thử rối thích, thích và tin...và biết Đạo, khi biết chánh Đạo thì không còn ham muốn, khi không ham muốn vật chất thế gian thì công phu thiền định là chắc chắn nội trong kiếp nầy thành Phật. Người mê tín hay cuồng tín sẽ không giết người nữa, người tham quyền cố vị và cướp của người khác bằng sản xuất vũ khí, bán những thứ giết người, tham nhũng...sẽ trở thành thánh cả, nhở đó thế gian mới sớm tạo đời Thượng Ngươn Thánh Đức Bích Ngọc Tân Dân, Bồng Lai tại thế hay Thế Giới Đại Đồng thực sự chứ không dối gạt như xưa nay.
Phải chăng là Phật Pháp
Có người bài bác: "VÔ ÚY" không phải là Phật Pháp.
Rồi họ viện lẽ: "Vô Úy" không có ghi chép trong các Kinh Phật, họ tưởng đã có lý lắm rồi.
Nhưng sự thật, họ đã lầm! ( Nào là tham thiền dưới cội Bồ Đề) đáng lẽ họ nên nói: Tôi không thấy, không để ý đến Vô Úy trong các Kinh Phật hiện đương lưu hành.
Vì Kinh Phật có nhiều Pháp Môn, đến tám muôn bốn ngàn, nghĩa là nhiều lắm rồi. Có ai mà biết và đếm được cho hết?
Nay muốn biết VÔ ÚY có phải là Phật Pháp chăng thì trước hết phải nhận định những điều nầy:
PHẬT PHÁP là gì ?
Hết thảy Phật Pháp có ghi chép đủ trong các Kinh Khế hiện đang lưu hành chăng?
PHẬT PHÁP là tất cả những lời chư Phật dạy chúng sanh phải nương thân theo đó mà ăn, ở và hành động cho khỏi bốn cái khổ lớn: SANH, LÃO, BỆNH, TỬ để đến Niết Bàn và rốt ráo được Nhứt thiết Chứng Tri hay là Thành Phật như Phật vậy.
Nói cách khác, tất cả những lời Phật dạy có mục đích nầy :
a) Giúp chúng sanh thoát cái vòng lẩn bẩn nó buộc chúng sanh trong ba cõi: Hồng trần và Vô sắc giới, tức là giải thoát, được về Niết Bàn.
b) Giúp chúng sanh thành Phật.
Cái vòng lẩn bẩn đó là gì ?
Nó là "NGŨ DỤC", năm món mà chúng sanh, nhút là nhơn loại đương ưa nhứt : TÀI, DANH, ĂN, NGỦ.
ĂN no rồi thì NGŨ nghỉ, kết quả là có sức mạnh, khí đủ Tinh sinh đầy sanh DÂM ( dâm sắc), có nhiều tiền (TÀI: cũng thòa mãn cái danh).
Như vậy, nhơn loại chạy quanh cái vòng ĂN, NGỦ, SẮC, TÀI, DANH ( chẳng khác nào kiến bò miệng chén)... không nghỉ, không ngừng, gian lao khổ cực biết bao nhiêu, chí đến lúc đầu bạc răng long mà cũng chưa bitế chán.
Rồi chết lại tái sanh lại nữa để chạy theo đuổi cái trò đời lẩn bẩn đó, từ kiếp nầy qua kiếp nọ nhiều cho đến không ghi bàn được, gọi là A-tăng kỳ kiếp mà vẫn chưa đến đâu hết, còn ở một chỗ cũ.
Phật thương chúng sanh, chỉ cho chúng sanh đường lối thoát để ra khỏi vòng đó (thoát ly).
Những lời Phật dạy để đoạt cho được cái mục đích đó đều là Phật pháp hết thảy.
Nói cách khác, những lời dạy do Đức Phật Thích Ca hay chư Phật khác nói ra, do các vị Bồ Tát, do các vị thiện hữu Tri thức nói ra để giúp chúng sanh để thoát ly ra ngoài dứt cái ĂN, NGỦ, DÂM, TIỀN TÀI, DANH VỌNG.
"Pháp Vô Úy" giúp cho khỏi cái đau, chế ngự cái ĂN, diệt trừ cái DÂM tức là Phật Pháp chứ còn gì nữa?
Đạo tâm
LÊ VĂN KẾ
Bệnh tùng khẩu nhập => Ung thư => mổ như thế nầy:
Bệnh tùng khẩu nhập => Ung thư => mổ như thế nầy:
Mổ tùng quả tuyến mổ cổ !! Khổ không?
Tại sao không áp dụng Giải Pháp Vô Úy ?
GIẢI PHÁP VÔ ÚY
Thực Lực Vô Vi Tự Cứu
Không sợ ĐÓI, MỆT khi lâm biến cố.
Hay bình thường áp dụng NGHỈ ĂN GIẢI ĐỘC TỐ.
Thế nào gọi danh từ PHÁP VÔ ÚY ?
PHÁP là phương châm diệu dụng "HÁP ÁM ĐỘNG TỊNH" thuộc "Vô Vi" (esoteric = ésotérique = ESOTERIK) gọi " TỨ ĐẠI CHƠN HIỆP"điều hòa nhơn thân thuộc hữu hình gọi "Tứ Đại Giả Hiệp" (đất , nước, gió, lửa) , thực thi câu: "TÁ GIẢ CHƠN TU".
Thể hiện "PHÉP BÍ TRUYỀN" của các bực Giáo Tổ thời xưa mật ẩn lưu dấu hiệu.
Là biết vận chuyển "KHÍ ÂM DƯƠNG TƯƠNG HIỆP" qui "TAM BỬU" khai thác Điển Quang làm "bộ thiết giáp ĐẠO ĐỨC" để đối phó với thời nguyên tử chiến tranh Kỳ Mạt Pháp, cơ Tận Diệt cuối Hạ Ngươn lắm biến cố bất ngờ thực lực "VÔ VI TỰ CỨU", lướt qua mọi trở lực, không sợ đói, mệt và không sợ chết bất ngờ.
VÔ : KHÔNG
ÚY : SỢ
"PHÁP VÔ ÚY" rộng phổ biến, mà đồng bào Miền Nam đã từng thí nghiệm và được kết quả mỹ mãn.
Thực hành PHÁP VÔ ÚY nghỉ ăn là dùng cái máy điển trong thân mình, có thể không ăn 7 ngày hoặc trên nữa mà không đói mệt, trái lại, khoan khoái nhẹ nhàng.
Áp dụng trong cơn ngộ biến cố không có thực phẩm dùng và không nước uống thì có hai trở ngại :
1) Cơn đói đòi hỏi dạ dày.
2) Mệt người đến xỉu.
Muốn đánh tan hai tở lực ấy thì dùng hai lối hô hấp nội công phu :
1) CÁCH THỰC NGHIỆM NỘI CÔNG PHU PHÍA TRƯỚC:
(Để làm cho hết đói) (xem hình dưới đây:)
HẤP :Hít hơi thở nhè nhẹ vào theo hai dây Óc Phế Vị phía trước ngực thẳng xuống phía dưới rún độ 3 phân là
ngay Hạ Đơn Điền hay huyệt Khí Hải, bụng tự nhiên phì ra có chất ẤM.
NÍN THỞ: Nhíu hậu môn (ĐỘNG) đồng thời đưa hơi xuyên lên trên cũng độ 3 phân cấp thời.
HÔ : Thở (hao hao) thờ ra nhè nhẹ phát tiết hơi từ cổ cũng nhè nhẹ cho xuống, để ý ngó giữa rún ( dứt hơi ra, bụng tự nhiên hót vào nhanh, là huờn TỊNh)
Đó là một HÔ HẤP: NỘI CÔNG PHU.
9 lần vận hành thì không đói.
CHÚ Ý : Nên hấp hơi thở nhẹ bên trong, chớ hít mạnh quá, hơi bị dồn lên ngư6c, sẽ bị ran mệt, tức ngực.
Rồi sang qua hô hấp nội công phu phát tiết phía sau (20) để làm cho hết mệt.
2) CÁCH THỰC NGHIỆM NỘI CÔNG PHU PHÍA SAU :
(Để làm cho hết mệt và hết lo sợ)
Cũng tập trung như cách trên.
HẤP : Hơi thở thật nhè nhẹ theo hai dây "Óc phế vị" phía trước ngực thẳng xuống giữa rún đoạn :
(bụng tự nhiên phì ra, có chất ẤM)
NÍN THỞ : Nhíu Hậu môn ( ĐỘNG) đồng thời để ý phía trên sau cổ ót (Ngọc Chẫm ngang với giữa hai mắt hay con mắt thứ ba ở phía trước)) cấp thời.
HÔ: Thở hao hao ra phát tiết hơi cũng nhè nhẹ theo hai dây "Giao cảm thần kinh" phía sau lưng tỏa xuống giữa trung tâm xương sống, mắt ngó tại "Giáp Tích" hay điểm ngang với Tim phía trước. Dứt hơi bụng tự nhiên hót vào là huờn TỊNH.
Đó là một HÔ HẤP NỘI CÔNG PHU.
Cũng 9 lần vận hành thì không mệt.
Đi, đứng, nằm, ngồi, nếu thấy đói, mệt thì vận hành 9 lần phía sau.
Đoạn nhịp cắn hai hàm răng vào nhau nhiều lần (Để làm cho đỡ khát nước).
Sau khi một công phu xong, nên ngậm miệng, chót lưỡi để trên ổ gà (đóc giọng), nhịp cắn hai hàm răng 32 (đếm) lần thì sẽ có nhiều nước miếng tuôn ra thắm giọng đỡ khát (nếu còn khát nhịp thêm).
Bình thường Hành giả có quán tập trước mấy lối hô hấp làm cho no và khoẻ, hoà nhịp răng, khi lâm cảnh (thiên tai, giặc, nhà cháy chạy nạn, nạn hồng thủy, đói chờ cấp cứu...) áp dụng rất hữu hiệu.
CHƯƠNG TRÌNH TỔNG QUÁT
(hành PHÁP VÔ VI NGHỈ ĂN => cách nay 2.008 năm Đức Chúa Giê-su lên núi Zion tại Sinai hành uống nước 40 ngày không ăn rồi. Ngài không chết mà chết vì vua Herodes và Phi-la-tồ)
ình thường hành giả muốn nghiên cứu thực nghiệm nghỉ ăn 7 ngày để GIẢI ĐỘC TỐ, sửa chữa Ngũ Tạng đang bị yếu đau, lần lần sẽ hết bệnh.
Trước khi đi ngủ bửa trước, tối đó uống thuốc xổ, xổ tróng bụng, sáng hôm sau mới vận hành công phu phía trước, phía sau theo hai lối đã thông qua.
Vẫn sanh hoạt như thường lệ (không khiêng nặng, làm văn phòng, buôn bán, dạy học, làm việc nhẹ, nấu cơm, hút bụi, quét nhà...rất tốt).
SÁNG : Dậy sớm, vận hành nội công phu phía sau phát tiết tại GIÁP TÍCH 108 lần.
CÁCH NGỒI : Ngồi cách nào tùy phương tiện hành giả (trên ghế, dưới sàn nhà có lót chiếu, thảm, gối..) nhung ngồi phải thẳng lưng, mắt lim dim tập trung theo nhịp thở điều hoà, cột được TÂM viên, Ý mã (không cho ý nghĩ gì vào trong trí, nghe như không nghe = thính chi bất văn, thấy như không thấy = thị chi bất kiến. Tích khí lành đượm nhuần mạnh khoẻ.
Sau khi nội công xong đoạn quán tập nhịp răng 32 lần.
SAU KHI XẢ NGỒI : Lấy hai bàn tay chà xát cho có hơi ấm nóng nơi hai bàn tay, đoạn lấy tay mặt chà nửa phía mặt bên trái, tay trái chà nửa phía mặt bên phải 9 lần. Chà xát hai tay xoa trước ngực cùng phía trước hay tập thể dục nhẹ như co củi, tay chơn chuyển gân thêm sức gọi là "Hiệp Nội Ngoại Chi Đạo" hầu sau nầy ngừa bệnh tê liệt, nhức mỏi khớp (tê thấp) bởi thời thế, độc khí lan tràn.
VẤN ĐỀ TẮM : Mỗi ngày 2 lần tắm, sau khi thể dục, lau ráo mồ hôi, nghỉ một lát đi tắm.
VẤN ĐỀ NƯỚC UỐNG: Mỗi ngày từ 2 đến 3 lít: Nước đường chanh hay cam (lược xác), để chút muối, có thể uống nước mía, nước d72a, hay ngậm đường uống nước mát (trắng).
Đầu tiên quán tập (tập cho thành thói quen) trong 7 ngày để nghỉ ăn giải độc tố, sửa chữa Ngũ Tạng đang yếu đau (đừng uống thuốc). Nếu cần, dùng mấy thức uống trên và ngậm không lạt miệng hầu để uống nước nhiều và để rửa vị (bao tử) và ruột cho sạch chất mật tiết ra do gan qua ruột gây cơn nóng xót ruột, nước đến ruột qua thận làm máu loảng lọc rồi đào thải độc chất ra khỏi thân xác.
Vì nguyên lý nầy cho nên dùng nhiều nước.
TRƯA, TỐI, KHUYA cũng y hành (y như trên)
Ngoài ốn thời, lúc nào thấy đói, mệt thì vận hành 9 lần phía trước, 9 lần phía sau đã trình qua đoạn thực nghiệm.
Chỉ có ba ngày đầu chưa quen nhịn và quán tập chưa thuần nên hơi uể oải, cũng có triệu chứng của tạng nào yếu sẽ hiện ra.
Với ý chí cương quyết sẽ lướt qua, ngày thứ tư sẽ thấy khoan khoái nhẹ nhàng.
Hành giả nếu thấy trong mình còn nóng, ngày thứ tư nên uống dầu xổ hoặc tửa ruột (lavement, tức dùng máy rửa ruột là bình nước ấm, có ống, vói đầu tròn đưa vào hậu môn, giở bình nước ấm lên cao cho nước vào ruột già, làm sạch lai. Nếu không có vật dụng thì uống thuốc xổ tiện hơn).
Cần phải có lập trường với ý chí thực nghiệm NGHỈ ĂN, vì sẽ bị cám dỗ, ngư3ời thân khuyên lơn, biểu ngưng và cho ăn hay đưa thức ăn cho thèm, mời quá bánh mà ngày thường ưa thích rồi bỏ dở cuộc thí nghiệm.
Hoặc trong lúc NGHỈ ĂN bị lâm cảnh thử thách hay gọi là BỊ KHẢO nên bình tĩnh tập trung vận hành "NỘI CÔNG PHU" phía sau phát tiết hơi ra tại GIÁP TÍCH mở tia sáng, đợm nhuần GIÁC TÁNH mà thản nhiên trước cảnh nghịch trái ý lòng, vui hoà làm bài học nung chí trên đường "TỰ GIÁC NHI GIÁC THA" thoát qua tam chướng phiền não, mở TÂM thiền TÁNH định.
Như thế là làm sáng tỏ muôn pháp "THIỀN ĐỊNH" trong cảnh động mới đắc câu:"TÂM tức PHẬT, PHẬT tức TÂM".
Đó là thể hiện phương GIẢI THOÁT.
VẤN ĐỀ ĂN LẠI : Muốn đúng PHÁP VÔ ÚY nên bắt đầu uống nước cháo có nhựa, sau dùng chao lỏng nấu nhừ bằng phân nửa thời gian nghỉ ăn rồi cơm vì để cho TÌ (Bao tử hay Mồ Kỷ Thổ hay Trung Cung) có nhiều thì giờ giản rộng y như xưa. (Nếu không giữ đúng qui tắc đã dặn thì có hại bao tử về sau).
Nên dùng nước canh rau hay nước trái cây hấu khỏi bón khi xả. (Nếu chữa hẳn hết bệnh một vài tháng sau hành lại và thời gian tăng lên gấp hai lần. Lần đầu 1 tuần, lần sau 2 tuần).
SAU KHI ĂN: VÌ thời kỳ ô nhiễm, độc khí lan tràn có thể nhiễm lâm vào thức ăn, thức uống, kể cả rau cải xịt thuốc MyTox độc hại, trái cây xịt Formaol cho tươi cả tháng bán rẽ, ăn vô thêm chất độc nhiều), cho nên ngừa bệnh bất thường, trộ bộ máy tiêu hóa, làm ấm bao tử thoát khỏi bệnh khi có đau.
Khi ăn lại, nếu quên và không phân thời ĐI, ĐỨNG, NẰM, NGỒI, lúc nhớ ra nên quán tập.
HẤP : Hơi thở sâu giữa rún.
HÔ: Thở ra phát tiết hơi cũng xuống giữa rún, sẽ có chất ẤM đốt các thức ăn mau tiêu hóa.
Chỉ có hai đoạn không nhíu hậu môn. Đó lá HẤP ẤM.
Hàng ngày hành giả quán tập sẽ thành tự nhiên, giử được nguồn sống mạnh khoẻ, cương kiện, khỏi lo tốn hao tài chánh về thuốc men, bảo tồn hạnh phúc tươi vui đầm ấm trong gia đình.
Ra ngoài xã hội đầy đủ năng lực đởm đương phục vụ chơn lý, giúp đỡ thế nhân, vun trồng cội đức, thể hiện được "Cách Mạng Bản Thân" thực thi đời sống TÂN DÂN MINH ĐỨC.
Lãnh hội cùng quán tập thực nghiệm PHÁP VÔ ÚY để làm phương tiện sử dụng ở mọi hoàn cảnh, không ô lệ cho thức ăn đòi hỏi mà phải vào lòn, ra cúi, hạn chế được vấn đề ăn, tránh âu lo phập phồng nạn đói bất ngờ trong thời nguyên tử chiến tranh lắm biến cố mà thực thi.
Không sợ đói khi lâm biến cố,
Khỏi lo âu nạn khổ phập phồng,
Sẵn có VÔ ÚY PHÁP TÔNG,
Thực thi tự cứu khoẻ lòng qua cơn.
Như thế minh xác danh từ :
VÔ : KHÔNG
ÚY : SỢ
Thành công trên đường hành "PHÁP VÔ ÚY" đầu tiên 7 ngày, nghỉ ăn giải độc tố. Sau khi ăn xả lại, hằng ngày trước bữa ăn hay lúc đói bụng, thực thi CHƯƠNG TRÌNH: Sáng, Trưa, Tối, Khuya sử dụng lối HÔ HẤP: Nội công phu phía sau, hơi ra, mắt ngó lại ngay "GIÁP TÍCH" làm "kim chỉ Nam" tu tập với đường lối chánh tín căn bản, mục tiêu "Cầu nguyện Thiền Định Có Qui Tắc" hầu có Âm phò Dương trợ à thẳng tiến trên đường cứu cánh GIẢI THOÁT VÀ ĐỘ THA".
Đồng thời hòa mình tác phong Sứ Mạng và Thiên Mạng dọn đường thí trường LONG HOA ĐẠI HỘI, đón mừng Đức Phật, Chúa Cứu Thế Tái Lâm Phán Xét Đại Đồng tân tạo Thánh Địa Jérusalem thứ hai tại Việt Nam. Do khí Âm Dương Tương Hiệp Tam Thiên Cảnh, 9 từng giới. Điển phối hợp mở Cửa THIÊN ĐÀNG, Phật, Thánh, Tiên tùng Luật Ân Xá xuống thế độ đời, giúp người trực giác, tự tu, trợ luật bảo Tồn, khai Cơ Kiến Thiết, mở cửa Địa Ngục, Hung Thần, ma, quỉ tùng ân xá tiến lên ám ảnh lòng người, xáo trộn luật thừa Đào Thải gây mầm phá hoại, mở "CỬA TỊNH ĐỘ", các Chơn Tu quá vãn hay các Chơn Hồn Thánh Thiện ở "Cảnh Luyện Tội" đều tiến lên tự chọn nhập thai bào, nên hình thể, hoặc nhập điển tá cơ khuyến thiện độ đời, mở Màn Thánh Đức Thượng Nguơn.
( Nhận thức bài thi dự ngôn trong quyển "Thánh Ngôn Hiệp Tuyển!" của nền tảng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ) nêu như sau:
Hảo Nam Bang ! Hảo Nam bang !
Tiểu quốc tảo khai Hội Niết Bàn,
Hạnh ngộ Cao Đài truyền Đại Đạo,
Hảo phùng Ngọc Đế ngự trần gian.
Thi ân tế chúng thiên tai tận,
Nhược thiệt, nhược hư vạn đại an.
Chí bửu nhơn sanh vô giá định,
Năng tri giác thế sắc cao ban.
Nhuần gội cơ "Ân Xá Kỳ Ba của Thượng Đế" thực thi Phật Pháp bình đẳng nên Chơn Truyền "ĐẠI THỪA VÔ VI TÂM PHÁP" được rộng phổ biến cho mỗi dân sanh chí thiện theo lòng Trời mà thể hiện "NHƠN HÒA" bên trong "KHAI TAM QUAN" ( NGọc Chẫm Quan, Giáp Tích, Vĩ Lư) thông "Cửu Khiếu".
Thực hành câu :
"Phá Nhứt khiếu chi Huyền Quang,
Tánh hiệp Vô Vi, Thống TAM TÀI (Thiên- Địa- Nhơn) chi bí chỉ....."
Hoà Bản Thể: Đại Thiên Địa hiệp "THẦY là Các Con", "Các Con là THẦY" khai nguồn Phật tánh mở tia sáng biết trí huệ bên trong, luớt qua mọi thử thách, cám dỗ, đởm đương phục vụ Chơn Lý thi hành Phật sự bên ngoài, cùng đầy điển lực hòa mình nhập hội Niết Bàn khai, cung nghinh Đúc Di Lạc Phật Vương Chủ Hội.
Hãy thể hiện rước Ân Điển ba Ngôi Mầu Nhiệm Thiên Chúa đồng một tính, một phép, hầu khôn ngoan, lướt qua mọi trở lực, dọn đường cho Đấng CHÚA CỨU THẾ Tái Lâm Phán Xét Đại Đồng, tân tạo Thánh Địa Jérusalem mới.
"Cửu cửu Càn Khôn dĩ định,
hay là câu:
Bảo Giang Thiên Tử xuất" ( Bảo giang là con sông quí, đó là Cửu Long Giang hay Mékong theo nhu nền (underground) của trang nầy.
PHÁT BỒ ĐỀ TÂM HÀNH PHÁP VÔ ÚY
Hành giả muốn thực nghiệm hành "PHÁP VÔ ÚY" nghỉ ăn trước phải dọn mình, thanh toán những gì qua : KHÔNG + Ý LÀNH gọi là gội rửa bộ Thần Kinh Não.
Để đào tạo một Tân Dân dọn đường rước Chúa Cứu Thế Tái Lâm Phán Xét Đại Đồng tân tạo Thánh Địa Jérusalem Mới.
Hầu cung nghinh Chúc Mừng Đức Di Lạc Phật Vương Hiện Thân Chủ HỘi Long Hoa Khai Niết Bàn tại Trần Gian.
Đảo cáo .................................................. .................................................. .................................................. ......
(Tùy tín ngưỡng Tôn Giáo của mỗi Hành Giả khấn nguyện tôn danh ..............)
Chứng minh Họ, Tên....Xin thành tâm phát nguyện hành chánh pháp hiển Như Lai Chơn Tánh Ân Điển Ba Ngôi mầu nhiệm Thiên Chúa gìn thập thiện giữ thân, khẩu, ý :
THÂN : Tránh sát sanh, tà dâm, Du đạo
KHẨU : Tránh ý ngữ, ác ngữ, vọng ngữ, lưỡng thiệt.
Ý : tránh tham, sân, si.
Đây là lễ đấu tiên phát nguyện hầu khải thông các Đấng Giáo Tổ chứng minh gia hộ.
Giúp Hành Giả thực thi CHÂN PHÁP, thông rõ sự lý, của "PHÉP BÍ TRUYỀN" theo hai lối hô hấp gọi nội công phu hội ý phía trước và phía sau, lãnh hội bài thiệu và dấu hiệu mật ẩn truyền của các bực gia tổ thời xưa biểu dương bên ngoài.
Xin hiến trình tâm đắc.
I. PHÂN TÁCH BÍ TRUYỀN NỘI CÔNG PHU PHÍA TRƯỚC.
(Để làm cho hết đói, sửa chữa Ngũ Tạng)
Định tâm KHÔNG, hoà Ngôi VÔ CỰC.
Tập trung mắt, tai, miệng, mũi trong Thân, để ý là "Nhíp Lục Căn nơi hữu thể Tứ Đại ( Đất , nước, gió , lửa).
HẤP : Hơi thở nhẹ bên trong theo hai dây "Óc Phế Vị" (Nerfs Pneumogastriques) phía trước ngực hòa Tạng TÂM thuộc NAM PHƯƠNG : BÍNH ĐINH ẩn lý số.
ĐỊA NHỊ : sanh HÒA qui CHÂU-TƯỚC (Phụng đỏ) tụ "ĐẠM KHÍ".
- "Vượng Bát Quái Cung TRUNG HƯ" : (hai gạch dài bên ngoài, gạch đứt ở giữa )
- "Ly vi HỎA" tiêu biểu "NHỨT DƯƠNG" ( | ) = một gạch đứng thẳng
Sổ xuống (trưng dây nóng) đưa thẳng hơi xuống dưới rún 3 phân (Hạ Đơn Điền) hòa tạng "CAN" thuộc ĐÔNG PHƯƠNG : Giáp Ất ẩn lý số THIÊN TAM sanh MỘC qui THANH LONG ( Rồng Xanh) tụ KHINH KHÍ,
Minh xác câu:
ĐÔNG TAM, NAM NHỊ đồng thành NGŨ.
"CAN - TÂM" hiệp thành một nhà HỎA nguyên lý, đem hơi xuống gọi là HỎA GIÁNG có chất "ẤM" phía trước bụng.
NÍN THỞ: Nhíu Hậu Môn dẫn KHÍ Hư VÔ xuống hòa ngôi "THÁI CỰC" Tạo Hóa.
Đồng thời cho nhíu dẫn KHÍ chuyển ĐỘNG => TINH lực nơi MẠNG MÔN giữa hai trái cật tạng THẬN thuộc BẮC PHƯƠNG : NHÂM QUÍ ẩn lý số THIÊN NHỨT sanh THỦY qui HUYỀN VÕ (rùa đen) tụ HUYỀN KHÍ Vượng BÁT QUÁI cung TRUNG - MẪN (hai gạch đứt hai bên bìa, gạch đầy ở giữa) KHẢM vi THỦY đượm DIÊN: Tiêu biểu NHỨT ÂM = gạch ngang : tượng trưng dây nguội (của điện) xuyên hơi đưa hơi lên giao hòa tạng PHẾ (do hấp hơi xuống rún = (như bơm lò rèn, đầy thì dội lên) thuộc TÂY PHƯƠNG: CANH TÂN ẩn lý số, ĐỊA TỨ sanh KIM qui BẠCH HỔ (cọp trắng tụ THẦN KHÍ.
Minh xác câu:
BẮC NHỨT TÂY PHƯƠNG TỨ cọng chi ( Ngũ Chi)
THẬN PHẾ hiệp thành một nhà THỦY ( nguyên lý nhíu Hậu môn đưa hơi hơi lên gọi là THỦY THĂNG.
Chỗ nhíu đưa lên gọi là CHIẾT KHẢM trung mãn ( 2 gạch đứt hai bên, ở giữa gạch dài đầy gọi là TRUNG MÃN. Gạch dài có HÀO giữa lấy ra (chiết ra) đem lên bỏ vào Hào thiếu ở giữa, nên KHẢM sẽ thành KHÔN (3 gạch đứt hay lục đoạn như 6 con rồng), lục đoạn lên nằm trên rún, xuyên hơi đưa lên GIÁP TÍCH ngang qua Tim khoảng giữa là LY (2 gạch ngoài đầy, gạch giữa đứt mất một HÀO) thêm vào Hào Dương từ KHẢM do Khí Hư Vô mang đem lên điền vào gạch đứt ở giữa của LY gọi là ĐIỀN LY (TRUNG HƯ = ở giữa mất) và 3 gạch sẽ đần trỏ lại thành CÀN ( 3 gạch đầ).
TAM LIÊN (hay Tinh+Khí+Thần) phối hợp NHỨT ÂM NHỨT DƯƠNG thành tựu là THẬP TỰ TAM THANH (như trên bàn thờ Chiếu Minh) hòa Ngôi LƯỠNG NGHI - TỨ TƯỢNG.
HÔ : Thở ra phát tiết hơi nhẹ xuống hi65i ý giữa rún hòa tạng TỲ thuộc TRUNG ƯƠNG: MỒ KỶ ẩn lý số THIÊN NGŨ sanh THỔ sắc vàng, tứ tổ QUI GIA, tụ DƯỠNG KHÍ.
Khí ÂM DƯƠNG tương hiệp khai thác Điển Quang nên Hào Quang Uyển Chuyển bao quanh THẬP TỰ thêm bốn cánh hoá VẠN TỰ (chữ VẠN) nầy hoà ngôi BÁT QUÁI tồn THẦN huờn TỊNH, Hống Diên giao đầu (giao cấu = như TINH của Dương bắn vào tử cung ÂM trong bản thể kết thánh thai, chứ không phải phàm nhân cho xuống TỬ LỘ của da92n ông và đàn bà xuất 2 thứ phàm TINH) => minh xác câu :
MỒ KỶ tự cư sanh số NGŨ.
Đồng thời thực hành 2 câu đầu của bài thiệu ẩn mật truyền:
THỦY thăng HỎA giáng KHẢM LY hoàn,
DIÊN HỐNG giao đấu LONG HỔ phan.
là thể hiện :
LẠC THƠ : LY (2 gạch bìa đầy gạch giữa thiếu) KHẢM ( 2 gạch bìa đứt, gạch giữ đầy) PHẢN BỔN
HÀ DỒ : CÀN (3 gạch đầy) KHÔN (3 gạch đứt)
Điều hành : "THỦY HỎA KÝ TẾ" => tiêu trừ bá bệnh (kể cả UNG THƯ, SIDA, Tiểu đường và các bệnh nan y mới do siêu vi gây ra).
Đây là phương tu chỉnh TAM BỬU NGŨ TẠNG trong NHƠN THÂN TỨ ĐẠI GIẢ HIỆP (đất, nước, gió, lửa) diệu dụng HẤP, ẤM, ĐỘNG, TỊNH thuộc VÔ VI: TỨ ĐẠI CHƠN HIỆP, thể hiện câu: TÁ GIẢ TU CHƠN (mượn cái giả để làm thành cái chơn, mượn cái xác thịt vật chất chỉ tồn tại trong một kiếp, tạo thánh thai trong chính bản thể, nuôi dưỡng cho lớn thành KIM THÂN bất hoại đồng thể với những nguyên tử cõi NIẾT BÀN, đồng thể với TRỜI hay THIÊN + NHƠN hiệp nhứt).
Đường NỘI CÔNG PHU nầy gọi là NGŨ KHÍ TRIỀU NGƯƠN bởi tụ NGŨ KHÍ điều hòa NGŨ HÀNH, nằm chồng chất lên nhau (hình bốn vòng tròn bao bốn phía, ở giữa có vòng trọn trung cung như chữ NGŨ hay Giếng LẠC VIỆT trong làng của giống BÁCH VIỆT để dân làng ra múc nước ở giữa làng cho công bằng, lối sống của làng dân Việt là theo truyền thống KINH DỊCH mà tổ tiên là LẠC LONG QUÂN và Bà Âu Cơ đã vẽ, đã dạy cho dân BÁCH VIỆT cách nay gần 5.000 năm rồi: xuất xứ khi mới lập quốc, kết cuộc cũng dùng KINH DỊCH để tu luyện nội công tại KIM THÂN trong Đạo Cao Đài và dắt nước Việt Nam hình cong chữ S chia Lưỡng Nghi ( đất liền = Thái Dương; biển: Thái Âm, hồ Tonlesáp bên Nam Vang là Thiếu Âm, đảo Hải Nam là Thiếu Dương; Hoàng Sa, trường sa, Lào, Miên là Tứ Tượng, nên khi có Đại chiến nguyên tử do 18 nước tại Thái Bình Dương giành mõ dầu thì đất sụp mất trung Quốc, Việt Nam còn hình như QUẢ CAM là vậy. Số 18 ứng với 18 đời của Hùng-Dynasty khi Quốc Tổ Hùng Vương lập quốc).
Nhận thức bài thiệu ẩn truyền:
TAM NGŨ NHỨT ĐÔ TAM CÁ TỰ,
Cổ kim minh giải thị nhiên hi !!!
.................................................. .....
Trong bài cơ của Đức Di Lạc Thiên Tôn giáng điển tại TRƯỚC LÂM THÁNH ĐỨC TỔ ĐÌNH ở Vĩnh Long, xin trích một đoạn sau đây:
THI BÀI :
Tình Tạo Hóa ban đều vạn vật,
Trời với người phẩm chất giống in,
TRỜI thì có Nhựt, Nguyệt, Tinh,
NGƯỜI thì lại có đủ Tinh, Khí, Thần.
Trời Đất có Ngũ Hành năm sắc,
Người: TÂM, CAN, PHẾ đặt THẬN, TỲ,
Huyền vi một máy huyền vi,
Luân luân chuyển chuyển chẳng khi nào ngừng.
Luyện cho đặng TINH ngưng THẦN kết,
Soi cho thông khí huyệt Huyền quang,
KHẢM LY trở lại KHÔN CÀN,
Siêu phàm nhập thánh con đàng là đây.
TU với luận giải bày rồi đó !
Hỡi môn đồ hiểu rõ pháp môn !
Nhớ lời Di Lạc Thiên Tôn,
TAM KỲ ĐẠI ĐẠO chiêu hồn TÂN DÂN.
Cũng hiểu được lá cờ của vị Tổ nước Đại Hàn đầu tiên thành lập biểu dương:
Nền trắng tiêu biểu Khí Hồng Mông trưng Ngôi VÔ CỰC vòng tròn ( o ), chính giữa nền tiêu biểu TẠO HÓA trưng Ngôi THÁI CỰC rẻ hai XANH ĐỎ tiêu biểu ÂM DƯƠNG trưng LƯỠNG NGHI.
Một góc LY ___
- - TRUNG HƯ
___
MỘt góc KHẢM
- -
___ TRUNG MÃN
- -
Một góc CÀN
___
___ TAM LIÊN
___
Một góc KHÔN
- -
- - LỤC ĐOẠN
- -
Tiêu biểu TỨ TƯỢNG trưng BÁT QUÁI.
Lá cờ biểu dương một Quốc Thể tinh túy biết tùng theo luật Trời với tinh thần điểm tô Đạo pháp, bên trong đào tạo một Quốc Hồn hùng mạnh đầy Bác Ái, thể hiện điều hòa nguồn máy Quốc Gia, bên ngoài với căn bản thanh liêm trị nước ( chúng ta thấy Đại Hàn ngày càng giàu, còn Bắc Trều Tiên ngày càng nghèo, đó chết cả 2 triệu người, lo chế bom nguyên tử thì sao? ai cũng thấy rõ!!!
Còn cờ VIỆT NAM màu vàng chỉ Đạo pháp, ba sọc đỏ chỉ CÀN là TRỜI, màu đỏ là Dương sẽ truờng tồn, mặc dù phải trả nghiệp 36 năm. Còn cở đỏ sao vàng thì sao? Thấy Liên Xô thì biết.
PHÂN TÍCH LÝ BÍ TRUYỀN CÔNG PHU PHÍA SAU
(để làm cho hết mệt và hết lo sợ )
Tập trung MẮT, TAI, MIỆNG, MŨI.
HẤP : Hơi thở nhè nhẹ theo hai dây "Óc Phế Vi" nơi thân phía truớc ngực (ẩn : Tâm : HỎA) thuộc MẠCH NHÂM để ý xuống giữa rún thấy như có hơi ẤM là nhíp lục căn "THÂU HẬU THIÊN thuộc Khí "Cạnh tranh, giành giựt" (Flux-énergique).
NÍN THỞ : Nhíu hậu Môn (cụ thể dẫn chứng theo điện học là biết vặn "công tắc" phối hợp DÂY NÓNG và DÂY NGUỘI mới phát điện tuyến, nên bóng đèn cháy sáng lên đánh tan đêm tối, theo khoa học phát minh, còn nguyên tử khi thí nghiệp thì phải dùng chất nổ TNT bắn cái nhân TRUNG HÒA TỬ (Netron) giao động Dương tử (Proton) để chạm ÂM TỬ (electron) để cả hai nổ tiếp thành dây chuyển nổ các Âm + Dương tử khác (Ngôi Phá Hoại trong Ba Ngôi theo Ấn độ giáo tức là Ngũ hành tương khắc hay resistance của lò so trong lò điện hay bàn ủi thì phát ra sức nóng hay nguyên tử lực, sức nóng tỏa ra, còn nguyên tử thì phóng xả tỏa ra lan tràn trong không khí), đồng thời tiếp dfẫn Tiên Thiên Khí thuộc Trường Sanh Thanh Tịnh (Flux-Vitalogène) hay NGUYÊN SINH KHÍ TINH TÚ ngoài Hư Vô tiếp xúc đưa xuống hiệp THẦN HỒN giữa Nê Huờn Cung hay là TẠNG HUỆ, là HẠCH TÀNG CỦA CON MẮT THỨ BA (Glande piéale est 3ème OEIL) ẩn phía trên đầu cao tột, dùng danh từ VÔ THƯỢNG vượng NHỨT DƯƠNG ( | ) sổ xuống (tiêu biểu dây NÓNG hay DƯƠNG TỬ, hòa Ngôi THÁI DƯƠNG = mặt Nhựt 日 chỗ BỬU ĐÀI : CHỦ NHƠN ÔNG hiệp BÁT QUÁI : Cung TAM LIÊN (ba gạch đầy) CÀN VI THIÊN đồng thời phối hợp Cung LỤC ĐOẠN (ba gạch đứt) KHÔN VI ĐỊA ẩn phía dưới BẮC ĐẨU CUNG: CHÒM GÂN NƠI THẦN KINH NƠI HẬU MÔN (Plexus-Sacré) ở nơi quá sâu, đượm danh từ THẬM THÂM Vượng NHỨT ÂM ( - ) gạch ngang (tiêu biểu dây NGUỘI hay ÂM TỬ, hiệp NGôi THÁI ÂM mặt NGUYỆT 月 chuyển nguồn NGUYÊN SINH LỰC ĐỘNG + TỊNH ba nơi : MẠNG MÔN giưa hai trái cật (ẩn: THẬN THỦY) nằm sát theo dây "Óc Thủy Xương Sống" ngang lưng quần, đượm danh từ "VĨ LƯ QUAN"m do chỗ nhíu soi thông "GIÁP TÍCH QUAN" phía sau lưng trái tim theo đường xương sống cùng đến "NGỌC CHẨM QUAN" trên cổ ót phía sau lưng thuộc MẠCH ĐỐC.
Vận hành như thế là giao hòa NHÂM ĐỐC, "THỦY HỎA KÝ TẾ", "KHAI CỬU KHIẾU", "THÔNG TAM QUAN"", HIỆP HẬU THIÊN - TIÊN THIÊN - hòa VÔ THƯỢNG THẬM THÂM, thống THÁI ÂM + THÁI DƯƠNG => NHỰT NGUYỆT CÀN KHÔN, hòa Bản Thể: ĐẠI THIÊN ĐỊA trong NHƠN THÂN : Tiểu Thiên Địa, nhận thức được Vòng Tròn Dấu Hiệu nầy biểu dương: bên ngoài hiệp được TAM TÀI (THIÊN - NHƠN - ĐỊA), qui TAM BỬU
( TINH - KHÍ - THẦN), Nhựt - Nguyệt - Tinh, Thủy - Hỏa - Phong, lưu Khí Thanh Tịnh, khử Cạnh Tranh thành Khí Ôn Hòa (Flux harmonique) NHỨT ÂM NHỨT DƯƠNG phối hợp thành THẬP TỰ ( + ).
HÔ : Thở ra phát tiết hơi cũng nhè nhẹ theo hai dây "GIAO CẢM THẦN KINH" (glande-Sympathiques) thẳng xuống để ý ngó lại "GIÁP TÍCH" giữa đường xương sống. Khí Âm Dương tương hiệp khai thác "NGUYÊN SINH ĐIỂN" nên HÀO QUANG Uyển Chuyển bao quanh Thập Tự thêm 4 cánh hóa "VẠN TỰ" nầy là do biết nghịch hành chuyển pháp luân nhập tâm ( qui TAM ĐIỂM) dứt hơi ra làm huờn "TỊNH" "Tồn Thần" Dưỡng Sinh Khí "THỦ TINH", đồng thời PHÁT KHÍ ÔN HÒA RA TRUNG THIÊN KHÍ từ ÂM lẫn Dương đượm nhuần do sử dụng tư tưởng cầu nguyện hồi hướng (Xem hình Nhơn Thân Đồ).
Cùng nhận thức sáng tỏ lý thì nêu tzrong quyển ĐẠI THỪA CHƠN GIÁO của CAO ĐÀI GIÁO phổ biến nơi trang 124 có bài:
THI :
Một lý phân hai thuận nghịch hành,
Nghịch hành tu luyện đắc trường sanh,
VÔ VI Đại Đạo nào ai thấu,
Thấu đặng về nơi Tử Phủ Thành.
TỒN THẦN : Đối hành "QUI Y PHẬT" hay NHƠN DANH CHA hay QUI Y PHẬT đượm nhuần trí Huệ phát tỏ do chữ TÂM Nho tự biểu dương câu:
TAM ĐIỂM NHƯ TINH TƯỢNG
HÒAN CẦU TỢ NGUYỆT TÀ
PHI MAO TÙNG THỬ ĐẮC
TỔ PHẬT ĐÀ ĐỘ THA.
vận hành được như thế tức là thoát bến Mê qua bờ Giác là đắc câu TÂM TỨC PHẬT.
TÂM TỨC PHẬT.
Xin nêu Bài Kệ chữ PHẬT :
NHƠN tại tự tri Tứ Diệu Đề,
HOÀNH CUNG dõng mãnh xa đồ mê,
SONG ĐAO tu tận oan duyên nghiệp,
ĐẮC PHẬT Liên Đài bất nhiễm nê.
Đồng thời, làm bộ Thiết Giáp thực lực "VÔ VI Tự Cứu" trong thời nguyên tử chiến tranh.
Cùng nhận thức hai câu sau bài thiệu Tứu Cú:
"Điên đảoÂM DƯƠNG thành Thánh Thể,
Công thas2nh viên mãn lạc an nhàn"
Đây là phương luyện TINH THẦN VẠN NĂNG TỰ CỨU.
Đạt ; "VI DIỆU PHÁP"
là: " CHI VI ĐẠO"
Minh xác câu:
"NHỨT ÂM NHỨT DƯƠNG CHI VI ĐẠO" Khám phá MẦU NHIỆM BA NGÔI THIÊN CHÚA đồng tính một phép thấu mối THIÊN CƠ TẠO HÓA, đạ được chìa khoá mở Máy Âm Dương trong NHƠN THÂN Tiểu Thiên Địa, hận thức danh từ "ĐẠO MẦU" thường nêu trên Kinh giảng. Minh xác hai hình TAM GIÁC (hai hình Tam Giác chồng nhau giống như cờ của Hội Thông Thiên Học hay cờ của nước Do Thái, tức Ba Ngôi Thượng Đế và Ba Báu trong thân con người hiệp nhập lại với nhau) hay TAM TÀI hoà TAM BỬU nằm chồng chất lên nhau, mủi nhọn chỉ lên, tượng trưng cho HỎA, chỉ xuống tượng trưng cho THỦY. Biểu dương cho THỦY HỎA KÝ TẾ tiêu trừ BÁ BỆNH do biết nghỉ ĂN giải độc tố, trống bụng chuyển được LUÂN XA, mở được luồng HỎA XÀ, qua được BÁNH XE PHÁP, mở ý lành, sửa tánh tình, do chỗ dụng TƯ TƯỞNG nhíp LỤC CĂN, hấp hơi thở sâu, vận nhíu hậu Môn động "DÂY ÓC TỦY XƯƠNG SỐNG" (Moelle Épmière) làm cho đầu xà ngậm đuôi giữa có chữ VẠN nằm trong Vòng Tròn phía ngoài trên có chữ UM 3 tiếng Phạn, minh xác dấu hiệu Thông Thiên Học, biểu dương: Bên ngoải HÀNH được như thế hòa được bản thể Khí Hư Vô Tạo Hóa (trưng vòng tròn tiêu biểu Khí Hư Vô, chữ AUM = UM = úm.. tiêu biểu Tạo Hóa) hiệp Ý Trời, mở Phật Tánh thắng thất tình (trưng con rắn) đạt nguồn minh triết Bác Ái.
Thể hiện vận hành Hô Hấp gọi NỘI CÔNG PHU là khai Bộ Thần Kinh Hệ bên trong, nhận thức ý nghĩa bên ngoài Kinh Phật nêu tặng:
KHAI KINH KỆ :
"Cao Tột Quá Sâu PHÉP DIỆU HUYỀN,
Bá Thiên Vạn Kiếp Nan Tao Ngộ,
(ngàn năm muôn kiếp khó trùng duyên)
Ngả Kiêm Kiến Văn Đắc Thọ trì"
(Ta nay thấy nghe chuyên hành giữ)
Nguyện Giải NHƯ LAI CHƠN THIỆT NGHĨA"
( Phát tỏ Như Lai Tánh Thật Truyền)
TỨc là thể hiện "Như Lai Thừa" hành "DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH" gồm Khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến.
Xin trình một đoạn "DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH" tiêu biểu bông sen, có năm điều đặc biệt:
1) Có hoa là có gương "NHÂN QUẢ ĐỒNG THỜI"
(Cụ thể dẫn chứng: Hành giả HÔ HẤP gọi Nội Công Phu phía trước và sau, nhân, quả kết liền, không ĐÓI , MỆT, tức là thể hiện "NHÂN QUẢ ĐỒNG THỜI".
2) Sen ở dưới bùn mà không tanh mùi bùn.
(Cụ thể dẫn chứng: Hành giả thực thi Diệu Pháp, thân lẫn lộn với thế trần mà tâm hồn không nhiễm bợn trần nhơ).
3) Cọng sen từ trên tới dưới trống rổng không chung cành với lá.
(Cụ thể: hành già biết thể hiện Diệu Pháp, lấy TÂM HƯ KHÔNG, phát nguyện HƯ KHÔNG hành "HẠNH HƯ KHÔNG".
4) Ong và bướm không bu đậu.
(Cụ thể: Hành già thọ DIỆU PHÁP phải tránh biển nhục dục ái hà)
5) Không bị người dùng mình làm món trang điểm.
(Cụ thể: hành giả thọ DIỆU PHÁP chỉ nhập cảnh cảm hóa và đồng hóa, chớ không bị chi phối, lệ thuộc cho cá nhân nào xách động).
Như thế làm sáng tỏ "PHẬT THỪA" và Tam Giáo:
NHO, THÍCH, ĐẠO căn bản chữ,
Tâm biểu dương "TAM ĐIỂM" hay "TAM QUI",
Thiên Chúa Giáo trưng BA NGÔI,
Biểu dương lấy dấu thánh giá.
Còn Cao Đài Giáo cũng căn bản chủ TÂM: Biểu dương "BA NGÔI", lấy dấu (bắt ấn Tí, xá, chào làm dấu Tam Qui, thờ THIÊN NHÃN, tượng trưng câu: "NHÃN THỊ CHỦ TÂM, LƯỠNG QUANG CHỦ TỂ, QUANG THỊ THẦN, THẦN THỊ THIÊN, THIÊN DÃ NGÃ DÃ".
THỜ THIÊN NHÃN
Tượng trưng ra câu: "NHÃN THỊ CHỦ TÂM, LƯỠNG QUANG CHỦ TỂ, QUANG THỊ THẦN, THẦN THỊ THIÊN, THIÊN DÃ NGÃ DÃ".
Cũng như nhà điện học áp dụng số 3 : Dây nguội (Négatif), D6ay nóng (positif) và Công Tắc, nhưng phải biết vặn lên phối hợp mới phát tiết Điện tuyến, nên sự sáng trên bóng đèn mà đánh tan đêm tối: Khâm phục và tri ân Điện học đầu tiên (Madison) sáng kiến (phát minh) giúp đời hữu dụng lúc đêm về.
Cùng nhà khoa học phát minh nguyên tử cũng sử dụng số 3 : Âm Tử ( Electron), Dương Tử (Proton), Trung Hòa Tử (Neutron) Khi thí nghiệm phải bắn cái Neutron giao động Âm Tử và Dương Tử mới phát huy nguyên tử lực thuộc Hậu Thiên Nguyên Tử, nên bụi phóng xạ lan tràn trong không khí. Nếu ở gần sẽ bị nhiễm làm con người phải sanh nhiều bệnh tật lạ.
Còn sử dụng khau hấn chiến tranh Nguyên tử sẽ gây sự đổ vở, sát hại, tiêu diệt.
Cũng như ở Hiroshima nước Nhựt ở Thế Chiến Thứ hai vừa qua 100.000 người vong mạng. Đặc biệt có một số người trong TU VIỆN gần đó lại được thoát nạn.
Theo cuốn Tân Dưỡng Sinh ( Giáo sư Oshawa, Nhật Bản) có đoạn thuật về cuộc nghiên cứu của một vị tướng lãnh người Ý của Chính Phủ thuộc Trục Tam Đức-Ý-Nhật tại Rome qua Nhựt nghiên cứu, viết báo tại La-mã hiện tượng lạ mà ông không thể giải thích :Tại sao cả Bệnh Viện, Tu Viện gần nơi bom nguyên tử nổ không hề hấn gì, không chết, sau đó không bị bệnh tật như dân ỏ chung quanh Tu Viện?
Với căn bản tu hịc, với ý chí vị tha, bác ái, giúp đời, độ thế thể hiện Khoa Bí Truyền tập trung hơi thở sâu, dụng ý nhíu hậu môn (cụ thể dẫn chứng theo điện học vặn công tắc, theo khoa học là bắn Trung Hòa Tử, phối hợp Nhứt Âm Nhứt Dương, thống TAM TÀI ( Thiên + Địa + Nhơn) tụ Tam Bửu (Tinh + Khí + Thần ) Nhựt Nguyệt Tinh, Thuỷ Hỏa Phong rước ân điển ba Ngôi hằng ngự mà không ngoan, thắng mọi sự cám dỗ, lướt qua những chướng ngại, toát cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, cơ Tận Thế Nguyên Tử Chiến Tranh do loài người fây ra, đào tạo được nguồn NGUYÊN SINH KHÍ, NGUYÊN SINH ĐIỂN ( là BIẾN THỂ của NGUYÊN TỬ LINH QUANG là Tia Sáng biết Điển Quang thuộc Tiên Thiên Nguyên Tử trong Nhơn Thân thâu đượm hành TIÊN THIÊN ĐẠO.
Giải theo khoa học là Tần số của Tiên Thiên Nguyên Tử có cùng Tần số cao hay thanh nhẹ trong Nhơn Thân Tiểu Thiên Địa nên không làm nổ hay chạm nhau : Điện cao thế và bóng đèn 30.000 volt cháy sáng chứ không cháy tan như bóng đèn 220 volt khi nuôi dưỡng bằng hậu Thiên thịt cá.
Sáng tỏ dự ngôn Thánh Huấn Cơ truyền nêu :
TIÊN THIÊN ĐẠO phô trương BÁ ĐẠO
THIÊN tùng NHƠN thế tạo THƯỢNG ĐỜI.
Với chí thiện theo lòng Trời, tín ngưỡng thực nghiệm VÔ VI TÂM PHÁP dẫn KHÍ TIÊN THIÊN hiệp MÁY THIỀN ĐỊNH là THIÊN tùng NHƠN thế tạo THƯỢNG ĐỜI.
Đồng thời đối phó với Cơ Nguyên Tử.
Tâm đắc đoạn dự ngôn Thánh Huấn Cơ Truyền gợi xin nêu :
BÀI :
Thời Nguyên Tử Phong Thần Bảng dựng,
Người chí tâm ngồi đứng nào an,
Làm sao cứu kẻ lầm than ?
Làm sao sửa đổi đời tàn mai sau?
Cơ đã định Nam Trào lãnh đạo,
Dẫn bước đường đào tạo NGUYÊN SANH,
Phục hồi nước biếc trời xanh,
Trương cờ vạn quốc thanh Bình Năm Châu.
Người hướng đạo thi nhau hạ cúi,
Để phụng thừa những chuỗi ngày qua,
Đặt mình Thiên Mạng Trời Cha,
Nhơn Sanh vi quí mới ra Đại Đồng.
Đời đang sống trong vòng khói lửa,
Nỗi phập phòng biết tựa vào đâu?
Phải chăng nhờ lấy Đạo Mầu?
Mau tua làm ván bắc cầu người đi.
Hầu tiến lên kịp kỳ NGUYÊN TỬ,
Cùng năm Châu thi thử khí hùng,
Chí Nhân mang gánh sầu chung,
Soi đèn Chơn Lý rọi cùng trần ai.
Giải Pháp Cầu Nguyện Thiền Định
có qui tắc
Thể hiện BINH THƠ : Áp dụng "Chiến lưọc" Phúng thỉnh.
Đọc lên tám đôi liễn trương tám hướng.
Sử dụng "Chiến Thuật" Vận Hành BÍ PHÁP.
Căn bản tác phong hàng Cán Bộ của Thiên Đình :
Thủ Trận VÔ VI BÁT QUÁI trấn an.
Giải Tỏa trận NGŨ HÀNH Cơ Khí.
Dọn đường Nhập Thí Trường LONG HOA HỘI.
MỤC TIÊU CẦU QUỐC THỚI DÂN AN.
Gia dĩ trước CƠ DIỆT VONG nghiêm trọng, bởi ai là hàng thiện căn lành hiền có công tu luyện, ai là bực ưu thời mẫn thế, ai là hàng tác phong CÁN BỘ DỌN ĐƯỜNG NHẬP THÍ TRƯỜNG LONG HOA ĐẠI HỘI với mục tiêu CẦU QUỐC THỚI DÂN AN cần thấy ĐẠO MẦU hiển nhiên, nên thể hiện BINH THƠ hành BÍ PHÁP.
Là áp dụng CHIẾN LƯỢC Điều Hành Phúng Thỉnh Siêu Thần, biết trung gian khêu lên Sống Động các bậc Tiền Bối Danh Nhân Chơn Tu Quá Vãng, Khai Quốc Công Thần, Ngũ Đế Công Đồng, gợi Tôn HỒN ANH LINH Chiến Sĩ hữu công, cầu Cô Thế Hồn Oan siêu tiến và Cửu Huyền Thất Tổ Ngoại cảnh tiêu diêu mỗi hướng trấn an, CHUYỂN VÔ VI BÁT QUÁI TRẬN, Giải Tỏa Ngũ Hành CƠ KHÍ, giúp nền QUỐC THỂ sơm pjhục hồi, KHAI CƠ KIẾN THIẾT, mở mang THƯỢNG NGUƠN THÁNH ĐỨC an lạc HÒA BÌNH.
Sử dụng CHIẾN THUẬT theo PHÉP BÍ TRUYỀN vận hành VÔ VI PHÁP, hô hấp NỘI CÔNG, dẫn KHÍ HƯ VÔ xúc xuống đồng thời chuyển TINH LỰC hiệp NHỨT ÂM ( - ) gạch ngang hòa THẦN HỒN NHỨT DƯƠNG ( | ) sổ xuống tụ TAM BỪU điều hòa NGŨ TẠNG thống NHỨT ÂM NHỨT DƯƠNG thành tựu THẬP TỰ (-|- ) ÂM DƯƠNG TƯƠNG HIỆP KHAI THÁC ĐIỂN QUANG HÀO QUANG UYỂN CHUYỂN bao quanh thập tự thêm bnốn cánh hóa VẠN TỰ
chuyển BÁT QUÁI
vẹt lằn Hắc Khí trược phủ bao Địa Cầu, thay đổi tư tưởng bất hảo trở lại thanh tịnh lành thiện bằng cách DUNG HÒA CHÌU HƯỚNG ( đường hô hấp) nội công phu đả thông giai đoạn trước. Ở đây thực thi câu cách ngôn :
"LỜI CẦU NGUYỆN LÀ KHÍ CỤ CỦA KẺ YẾU"
Xin trình hiến BINH THƠ hành BÍ PHÁP theo GIẢI PHÁP CẦU NGUYỆN + THIỀN ĐỊNH có qui tắc mục tiêu "CẦU QUỐC THỚI DÂN AN" ( cho thời kỳ sắp tới , xin đọc Thánh giáo MẸ tiên tri về Quả Cầu 68 hư hại nặng, thực tế thì thấy rõ : Hurrican, bão Typhoon, Tsunami, bệnh dịch ga, heo, bò, gà tây bên Đức, gà bên Thiá Lan, Việt Nam, bệnh ung thư ngày càng đông ở Việt Nam...)
Ngày thường hành giả nếu nhận thức đường lối về tín ngưỡng VÔ VI nầy, vì Đại Cuộc... thì tác phong (hạ cúi), hành: nên quán tập thuộc mỗi hướng với một đôi liễn đọc phúng thỉnh (tu Chiếu Minh thì chiều cúng muối gạo, vàng, bạc, thỉnh Thiên Tiên) và điều hòa thuần thục hô hấp gọi NỘI CÔNG PHU (tới khi xảy ra thì hành chung nhiều người, điển lực làm điện trong máy móc giết người không nổ, giống như tia tử thần mà ông Marconi phát minh, có thứ tia mới phát minh sau nầy).
SÁNG, TRƯA, TỐI, KHUYA cấp tiến thực nghiệm thi hành chương trình.
SÁNG : Dậy sớm, khởi đầu đọc tâm tưởng, đọc: (Đặt tư tưởng khởi xoay hướng) :
1) CHÁNH ĐÔNG PHÚNG THỈNH
CHÚA hộ dân an cư lạc nghiệp.
XỨ nhuần khách lữ (1) hưởng lành duyên.
(1) khách lữ : Khi Đại chiến nguyên tử tại Biển Đông, bom nổ dưới lòng đại dương, nước sôi 3.000 độ. Các nước chấu Thánh Chúa, đến Việt Nam rất đông. Nhiều quá thực phẩm đâu đủ cho họ ăn? dạy họ pháp VÔ ÚY, chờ cứu giúp sau.
Đây là áp dụng CHIẾN LƯỢC phúng thỉnh (mời vào, cho ăn bằng thức ăn Vô Vi) - Cụ thể hữu vi : nước + đường + chanh (cam).
BINH PHÁP: áp dụng CHIẾN LƯỢC: Điều binh khiển tướng ( Tàu chiến, máy bay, Đề đốc, phi công, Hạm trưởng là tướng, tá sẽ dưới quyền chỉ huy của chư hành già thiền).
Đoạn tập trung hành BÍ PHÁP :
a) Hai mắt lim dim ngó vào trong.
b) Lổ tai nghe một nhịp trong.
c) Miệng ngậm khít răng, chốt lưỡi để lên ổ gà hòa 2 lổ mũi.
HẤP : Hơi thở thật nhè nhẹ theo hai "Óc Phế Vị" phía trước ngực thẳng xuống giữa rún (bụng tự nhiên phì ra) đoạn:
NÍN THỞ : Nhíu Hậu Mônđồng thời để ý phía trên sau cổ ót ( NGỌC CHẨM) cấp thời:
HÔ: Thở hao hao ra phát tiết hơi cùng nhè nhẹ theo hai dây "Giao Cảm Thần Kinh" phía sau lưng thẳng xuống giữa đường dây "Óc Tủy Xương Sống" để ý tại GIÁP TÍCH (dứt hơi ra, bụng tự nhiên hót vô),
(Xin xem hình NHƠN THÂN ĐỒ trang trước)
3 lần vận hành hô hấp phát huy (Đây là Sử Dụng CHIẾN THUẬT hành BÍ PHÁP khai thác ĐIỂN QUANG phát tiết đưa xuống tại GIÁP TÍCH dứt hơi ra bằng tư tưởng là tích KHÍ ÔN HÒA. Cũng như hửu vi bề BINH PHÁP áp dụng CHIẾN THUẬT chọn Địa Hình, Địa thế sắp binh).
Tiếp tưởng đọc :
2) ĐÔNG NAM PHÚNG THỈNH.
THÀNH HÒANG tá trợ yên bờ cõi.
BỔN CẢNH giữ gìn chỉnh nước non.
Đoạn 3 lần vận hành hô hấp như cách trên,
Tiếp tưởng đọc: (đọc trong trí)
3) CHÁNH NAM PHÚNG TÔN THỈNH.
TIỀN BỐI Danh Nhân truyền vạn Thuở,
QUÁ VÃNG Chơn Tu nhắc ngàn đời.
Cũng y hành 3 lần hô hấp.
4) TÂY NAM PHÚNG TÔN THỈNH.
KHAI QUỐC tiếng còn bia tạc sử,
CÔNG THẦN danh rạng khắc nêu tên.
3 lần y hành nội công phu.
5) CHÁNH TÂY PHÚNG CẦU.
CÔ thế thác oan không quyến thuộc,
HỒN còn vớ vẩn có người thương.
Cơn phổ độ mong cầu giải thoát,
Nước tịnh bình rưới hạt dương chi.
Mong Trời, Phật Từ Bi,
Giải oan cứu khổ hồn về Chơn Không.
Y hành nội công phu 3 lần.
6) TÂY BẮC PHÚNG THÍNH
Ngũ Phương Ngũ Đế Ân Hồng tẩm,
Ngũ Hành Ngũ Khí lực Thần giao.
Y hành nội công phu 3 lần.
Tiếp tưởng đọc :
7) TÂY BẮC PHÚNG TÔN THÍNH.
ANH LINH vị Quốc ghi thanh sử,
CHIẾN SĨ Vong Thân chiếm Ngọc Đài.
Trời ban công trạng kẻ vong thân,
Vị Quốc vì Dân giữ trọn phần,
Trung trực Quốc Gia ghi sổ ngọc,
Toàn Dân tôn trọng khắp xa gần.
3 lần vận hành hô hấp hồi hướng.
Tiếp tưởng đọc:
8) ĐÔNG BẮY PHÚNG SIÊU THỈNH.
HỘI hiệp CỬU HUYỀN cầu siêu rỗi,
ĐỒNG chung THẤT TỔ hưởng tiêu diêu.
3 lần vận hành hô hấp.
Đoạn tôn kính niệm nguyện danh hiệu tùy tín ngưỡng Tôn Giáo của mỗi hành giả, khải thông các bậc Giáo Tổ chứng minh gia hộ.
Điều hành Phúng Thỉnh niệm nguyện xong.
tiếp theo Phần quán tập THIỀN ĐỊNH.
Thiền Định
Quán tập Thiền Định điều hòa theo nhịp HÔ HẤP gọi nội công phu 108 lần vận hành (mượn xau chuỗi làm ni một lần hô hấp, lần 1 hột là 1 lần hít thở hay mượn đồng hồ làm qui tắc, cột được tâm viên, ý mã, tích khí lành trong châu thân được mạnh khoẻ, và hữu hiệu thực lực VÔ VI TỰ CỨU trong thời lâm biến sử dụng thoát hiểm nguy, cũng nhu nhà có xây cây THÔI LÔI không bị sấm sét đánh vở tan.
CÁCH NGỒI VÀ SAU KHI XẢ NGỒI QUÁN TẬP y như chương trình HÀNH PHÁP VÔ ÚY, xin xem chương trình thông qua.
TRƯA, TỐI, KHUYA cũng y hành (lúc bụng đói trước bữa ăn trở lại).
Nếu mỗi mỗi hành giả đồng lý tưởng thống nhất CẦU NGUYỆN THIỀN ĐỊNH CÓ QUI TẮC một nhịp thể hiện BINH THƠ hành BÍ PHÁP là thực thi NHƠN HÒA thống TAM TÀI ( 天 地 人 ) hiệp TAM THIÊN , qui TAM BỬU, dẫn NGŨ KHÍ, điều hòa NGŨ HÀNH, an NGŨ TẠNG.
Mỗi tu nhân hành giả biết chuyển Pháp Luân, qui TAM BỬU, NGŨ TẠNG nguyên vẹn bên trong, điều hòa NHỨT ÂM NHỨT DƯƠNG, khai thác ĐIỂN QUANG nên HÀO QUANG uyển chuyển vẹt hắc Khí, mở tia sáng biết (minh ttriết). Đồng thời dẫn khối Điển Lực vô song xúc xuống dinhhoàn, người người thấm nhuần ánh sáng Chơn Lý yêu thương, tuân kính luật Trời, tất không vấp tội lỗi, không phạm luật pháp.
Tức là NHÀ YÊN
Nhà yên tất NƯỚC TRỊ,
Nước trị tất DÂN AN.
Được an lo trùng tu Đạo Đức, vun trồng nguồn lợi, giúp nền Kinh Tế Quốc Gia giàu mạnh, tất là QUỐC THỚI.
Hòa hưởng cơ bên ngoài, đón rước Đức Phật, Chúa CVứu Thế Hiện Thân Chủ HỘI LONG HOA hay Ngày Phán Xét Đại Đồng nền Hòa Bình Nhơn Loại tựu thành, Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt mở mang THƯỢNG NGƯƠN THÁNH ĐỨC. Niết Bàn khai hoát tại trần gian.
Nhận thức dự ngôn Thánh huấn truyền thì nêu :
Chẳng phải thế gian nắm mối giềng,
Hoà Bình Nhân Loại Phép Thần Tiên,
Huyền Quang chuếu diệu từ Đông Á,
Phép tắc lảm thông khắp giới miền.
Xuống thế KỲ BA Trời hạ lịnh,
Sửa đời ngươn chót Đất Qui NGuyên.
Bao nhiêu nhơn loại trong trời đất,
Cả thảy đều tuân PHÉP BÍ TRUYỀN.
Hành được như thế hữu hiệu CẦU QUỐC THỚI DÂN AN và HOÀ BÌNH NHƠN LOẠI.
Đồng thời minh xác và sáng tỏ dự ngôn của Đức Thượng Đế giáng cơ truyền BINH THƠ BÍ PHÁP mật ẩn trong quyển Kinh TIẾNG TRỐNG GIÁC MÊ của Cao Đài Giáo phổ biến.
Xin trích biểu dương một đoạn :
THI BÀI :
THẦY Bạch Ngọc xe rồng hạ thế,
Truyền Kinh Trời hầu để khuyên đời,
Khắp trong dân chúng nơi nơi,
Ngũ Châu Tứ Hải đồng thời hoan nghinh.
NGỌC HÒANG ân Sắc Tứ,
THƯỢNG ĐẾ giáng Đàn trung.
Trường Thiên Đạo rộng khai cứu chúng,
Bố Huyền Linh vạn chủng điều hòa,
BINH THƠ dành để KỲ BA,
Trao cho con trẻ hầu ra độ đời.
THẦY dòm thấy năm nơi rối loạn,
Thế điêu tàn con rán lo bương,
LONG HOA THẦY mở Khoa Trường,
Cho con ứng thí phô trương Đạo Mầu.
Đạo Mầu quí báu lắm con ôi !
Ngôi vị gắng lo kíp phục hồi !
Hồi tỉnh độ đời qua Bĩ Ngạn,
Kiên tâm Đạo Đức rán trau giồi !
Đạo đức trau giồi ớ trẻ thơ !
Mau chơn kíp lẹ thẳng qua bờ !
Đường ngay thú lạc thuyền linh đợi,
Lối thẳng cảnh yên Bác Nhã chờ.
Thế sự giấc nồng thêm lở dở,
Linh hoàn Hồ Điệp lắm bơ vơ.
Hỡi ai là kẻ thương nòi giống !
Rán sức một phen nữa kịp giờ.
Tam Ngươn nay sắp đáo đấu,
Tuần huờn vay trả một bầu tang thương.
THẦY thấy vậy mới tầm phương,
Chỉ Cơ BÍ PHÁP dẫn đường về nguyên.
Hoàn cầu vỉ cuộc đảo điên,
Vòng quanh khu ốc đảo huyền nhơn sanh.
Cho nên thế cuộc tan tành,
Ngày nay mới có lập thành ĐẠO CAO.
Dạy con biết chỗ mà vào,
Biết nơi Tiên Phật hầu sau thanh nhàn.
THẦY tùy theo bực thế gian,
Phải dày khó nhọc mới ban phép huyền.
THI :
HUYỀN VI BÍ PHÁP ẩn chờ con,
THẦY muốn trao tay, sợ trẻ lờn,
Cất để có nơi dành sẵn chỗ,
Đến khi tai biến sẽ ban ơn.
Xét ra, hiện tình bầu tai biến thiên điển và còn tiếp, mỗi điển biến, đúng lúc quí hàng tu nhân nhận hành BÍ PHÁP thể hiện BINH THƠ thực chỉ dự ngôn của Đức THƯỢNG ĐẾ lâm giáng cơ điển truyền ban ơn.
Ban ơn Hồng Lạc khỏi nạn tai,
Thức thức cho mau ớ chủng loài !
Điểm huệ THẦY gieo qui trẻ thiện,
Cam Lồ ban bố diễn tuồng hay.
Tuồng hay Đạo Đức đó con tầm !
Pháp nhiệm THẦY truyền kẻ chí tâm,
Đang buổi bình yên thôi chật nức,
Đến hồi bát loạn chỉ còn tâm.
Còn tâm tưởng Đạo bước mau về,
Chốn cũ để dành sẵn vị quê,
Khiến Tánh lưu thông hành một Lý,
Nhắc chừng con trẻ nhớ câu thề.
Vận hành nội công phu là sáng tỏ, rước Ân Điển BA NGÔI THIÊN CHÚA đồng một tính, một pháp là nhận lãnh LINH CỦA LẼ THẬT Đấng CHÚA Cứu Thế hứa Ban Thánh Linh.
Xin dẫn chứng trích nêu dự ngôn đoạn Đấng Chúa Cứu Thế Hứa Ban Thánh Linh:
(Trong Kinh Tân Ước đoạn 14: 1-17)
" Nếu các ngươi thương yêu TA, TA sẽ giữ lời răn TA, TA sẽ xin CHA. Ngài sẽ ban cho các ngươi ĐẤNG YÊN ỦI để lại với các ngươi đời đời, tức là LINH CỦA LẼ THẬT mà thế gian không thể nhận lãnh được.
"Vì chẳng thấy Ngài, cũng chẳng biết Ngài. Ngài vẫn ở với các ngươi. TA cũng sẽ ở trong các ngươi nữa. TA không để các ngươi mồ côi đâu ! TA sẽ đến cùng các ngươi. Các ngươi cũng sẽ biết TA ở trong CHA và TA ở trong các ngươi. Ai có điều răn của TA, ấy là kẻ thương yêu TA, sẽ được TA thương yêu và tỏ chính mình TA cho ngươi,
Nhưng ĐẤNG YÊN ỦI tức là THÁNH LINH mà CHA sẽ nhơn danh sai đến. Đấng ấy sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự, nhắc lại cho các ngươi nhớ mọi điều. Ta phán cùng các ngươi. Ta ban sự sáng bằng an Ta cho các ngươi. Ta cho các ngươi chẳng phải như thế gian cho các ngươi. Ta cho các ngươi chẳng phải như thế gian cho.
Lòng các ngươi chớ bối rối, cũng đừng sợ sệt. Các ngươi đã nghe Ta nói rằng: Ta đi khỏi, rồi Ta trở lại cùng các ngươi. Nếu các ngươi thương yêu Ta, thì chắc vui mừng,, vì Ta đi đến cùng Cha, bởi Cha lớn hơn Ta. Nay Ta nói điều nầy với các ngươi, để khi xảy đến thì các ngươi tin. Ta chẳng còn nói nhiều với các ngươi nữa. Vì Bá Chủ của Thế Gian nầy hầu đến, nó chẳng có chi hết với Ta, nhưng để cho thế gian biết Ta thương yêu Cha, và Cha truyền cho Ta thế nào, thì Ta làm thế ấy."
Tjhông qua bài dự ngôn Đấng Cứu Thế mật ẩn Ba Ngôi CHA TA THÁNH LINH giúp hành giả trên bước đường hành Đạo VÔ VI độ thế, nếu có lâm Cơ Khảo Đảo khổ nạn hay cơn thử thách nên đọc bào Hộ Mạng nầy (nếu thuộc lòng càng tốt) để phấn khởi tinh thần tiến cơ cứu cánh hòa hưởng Thượng Ngươn Thái Bình.
BÀI HỘ MẠNG
(luyện Đạo)
Nơi cảnh thế thạnh tình luyện Đạo,
Chữ keo sơn phước báu giồi trau,
Tầm đường thanh nhã thanh cao,
Học hành báu pháp chẳng xao tinh thần.
Gìn giữ chặt ân cần mơi sớm,
Nắm mối giềng chí đởm lòng thanh,
Chứa chan đức tính trọn lành,
Đem thân hành Đạo khổ đành dạ cam.
Ơn Trời Phật thân phàm vọng bái,
Nghĩa nặng non lòng phải liệu toan.
Quả công cho đặng hoàn toàn,
Tu hành một bước gian nan phải chìu.
Rõ vàng, đá mơi chiều, sống, thác,
Rành lý sâu man mác lòng son,
Vai tuồng nặng gánh nước non,
Mạng Trời thọ lãnh, mất còn quản chi.
Cảnh Thiên Đạo Khoa Kỳ ra sức,
Bước Thượng Thừa nổ lực tu tâm,
Ơn dâu đền trả chỉ tằm,
Lập đời Nghiêu Thuấn muôn năm Thái Bình.
Lịnh Thượng Đế chương trình phát khởi,
Luật Thiên Tào chờ đợi Kỳ Ba,
Chúng dân hưởng chữ Cộng Hòa,
Truyền khai Đại Đạo LONG HOA rạnh đề.
Ngày nay đặng vai kề chung bước,
Hành Vô Vi thao lược giồi mài,
Đạo Trời chờ bước hoằng khai,
Chung vui một mối ngày nay hiệp đàng.
Qui hội hợp giang san chung thủy,
Cảnh nhà Nam đặng phỉ nguyền xưa,
Nhàn cư vui bước Thượng Thừa,
Kiếm tìm học Đạo, sớm trưa theo THẦY.
K Ế T - L U Ậ N
Giúp Hành Giả mạnh tiến và vững niềm tin chánh tín trên đường hành PHÁP VÔ ÚY nghỉ ăn hay CẦU NGUYỆN CÓ QUI TẮC.
Xin nêu những dẫn chứng một đoạn Pháp văn trong quyển sách AMOUR ET VIE lời của Đấng Jésus :
"Vouler-vous que le Verbe et la Force de Dieu Vivant Puissance se deserver à flot en vous ?
Dans ce cas ne salisserz, ni ne profanez votre corps et le temple de l´Esprit, car le corps est le temple
de l´Esprit, et l´Esprit est le Temple de Dieu.
Purifiez le Temple afin que Maitre du temple puisse y demeurer et Y trouver un lieu digne le Lui (Jésus).
Régerez Vous et jeunez car je Vous le dis en Vérité.
Satan et Support ne peuvent êrtre chasser que le Jeune et la prière.
Retirez vous à l´escart et jeuner pour vous même ne montrant à personne que vous jeunez.
Le Dieu Vivant le Verra, et Grande sera votre récompense.
Et jeunez jusqu´à ce que Neizabeth et tous ses dénons s´menfuient de Votre Mère la Terre car qui cherche trouve.
XIN TẠM DỊCH :
Con muốn Ngôi Hai và Thiên Lực linh động bủa làn sóng điển dồi dào cho con không?
Muốn được vậy, con đừng để xác thân và Tinh Thần nhiễm nhơ bợn tục phàm, vì xác thân là Đền Thờ Tinh Thần,
vì Tinh Thần. Tinh Thần là Đền thờ Trời.
Con giữ Đền cho trong sạch hầu Chúa Đền Thờ có thể ngự chỗ xứng đáng của Người (Jésus).
Con tạo lập đời sống mới và NGHỈ ĂN, vì TA quả quyết :
Với con sự thật chỉ có NGHỈ ĂN và CẦU NGUYỆN mới có thể tống đuổi Ma Vương và Đồng Đảng của nó.
Con tìm nơi ẩn trú và tự nghỉ ăn lấy một mình, đừng cho ai biết con nghỉ ăn. Trời hiện ra tướng hình, sẽ thấy và
phần thưởng của con sẽ lớn.
Và con nghỉ ăn đến chừng nào QUỈ VƯƠNG và ĐỒNG ĐẢNG xa lánh con, cừng đó con sẽ tìm Thiên Thần của
Địa Từ Mẫu, vì ai tìm sẽ gặp.
Nêu lên phương tiện pháp trình, hiến dâng, do trong lúc nghỉ ăn 63 ngày với mục phiêu tầm giải thoát cứu cánh trợ cơ Bảo Tồn, xuất thần NGỘ BA NGÔI đượm nhuần ân điển gợi điểm truyến.
Lập thành cống hiến, gọi là giúp đời trong muôn một cũng gọi là sự trả bài vở trên ba mươi năm tu học.
Mong toàn thể quí Tôn Giáo Thiện Hữu Trí Thức và quí Đạo Tâm nam, nữ thông cảm, ý lành nhiệt tình huyết hiến phưong tiện tự cứu có chi sơ xuất xin hoan hỉ cho.
Kính tặng,
Tu sĩ
NGỌC LIÊN HOA
Sưu tầm: Hà Phước Thảo
WD Advertisement
Số lượng đồng bào đã đọc đến hôm nay:
http://daovang.free.fr/GiaiPhapVoUy.html
ội san
Về tín ngưỡng Bà Đại Càn - Tứ vị Thánh Nương ở Quảng Nam - Đà Nẵng (khảo cứu trường hợp cư dân ven biển)
24 Tháng Bảy 2015
TS. Nguyễn Xuân Hương
Đại học Trà Vinh
Quảng Nam - Đà Nẵng có 175 km bờ biển với diện tích ngư trường khoảng 50.000 km2. Cư dân Việt có mặt tại nơi đây đã vài thế kỷ. Có một bộ phận người Việt đã chọn nghề biển để mưu sinh từ thủa xưa cho đến nay. Sự hình thành, tiếp nối và phát triển nghề biển đã là môi trường duy trì, tiếp nối và sản sinh các tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng - một bộ phận quan trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng dân biển. Một trong những tín ngưỡng đó là Tứ Vị Thánh Nương, được dân biển nơi đây gọi tắt là Bà Đại Càn.
1. Bà Đại Càn và cộng đồng cư dân ven biển - mối quan hệ
Các kết quả nghiên cứu của sử học, văn hoá học, cũng như sự tự nhận của các tộc họ ở vùng đất Quảng đã cho biết: phần lớn cư dân Quảng Nam - Đà Nẵng có nguồn gốc từ vùng Thanh Hoá và Nghệ An. Cùng với lớp cư dân người Việt từ các vùng quê khác nhau của đất Bắc, bộ phận cư dân Thanh - Nghệ (bao gồm Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Nghệ An) đến đất Quảng sinh sống khoảng từ thế kỷ XV. Phần đông lớp cư dân này sinh sống ở vùng ven biển.
Bối cảnh môi sinh của vùng đất, vùng biển mới khiến người Việt phải sớm thích ứng để sinh tồn và phát triển. Các làng nông, ngư, hoặc kết hợp giữa nông và ngư được hình thành. Làng vạn hình thành còn là môi trường để các tài sản văn hoá tinh thần của cư dân Việt mang vào từ vùng quê gốc Thanh - Nghệ tiếp tục phát huy để phục vụ cuộc sống cộng đồng trên địa bàn mới. Tín ngưỡng Tứ Vị Thánh Nương mà trung tâm phát tích tại Đền Cờn của làng Kẻ Cờn, nay là làng Phương Cần, xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, là một trong những tài sản tinh thần được tiếp nối ở các làng xã ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng.
Để tìm ra sợi dây liên hệ giữa cư dân ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng và Bà Đại Càn / Tứ Vị Thánh Nương thì phải ngược về vùng biển Lạch Cờn - nơi tích tụ và ''phát tán'' niềm tin, trung tâm của sự thờ phụng. Lạch Cờn là một trong những cửa biển lớn ở xứ Nghệ. Từ các lễ và hội tại Đền Cờn xưa và nay, có thể thấy việc phụng thờ Tứ Vị nơi đây chính là thờ các Nữ Thần cai quản cửa lạch - cửa biển và bảo hộ nghề biển.
Hầu hết các chư phái tộc các làng biển Quảng Nam - Đà Nẵng đều cho rằng nghề biển là do ông cha họ mang vào từ vùng quê gốc Thanh - Nghệ. Những thông tin này tất phải kiểm chứng thêm, tuy nhiên qua đó, có thể nhận ra mối liên hệ giữa cư dân ven biển đất Quảng với tín ngưỡng Tứ Vị Thánh Nương từ góc độ khởi nguyên.
Theo đó, khi từ vùng quê gốc di cư vào Quảng Nam - Đà Nẵng, người dân Thanh Nghệ đã đặt niềm tin vào sự bảo trợ của Tứ Vị Thánh Nương - Nữ Thần Biển hộ trì cho những thuyền nhân vượt bão tố, cập bến an toàn, cũng giống như Thiên Hậu - Thánh Mẫu của người Hoa vậy. Có thể, sự thờ phụng Tứ Vị Thánh Nương ở giai đoạn đầu là cốt bày tỏ lòng biết ơn sâu nặng với các Nữ Thần có công hộ mạng trên biển nước.
Khi cập vùng đất, vùng biển mới, một bộ phận cư dân gốc Thanh - Nghệ lại tiếp tục nghề biển, tiếp tục công việc chèo ghe đi từ những cửa lạch - cửa biển để ra khơi vào lộng. Mà nghề biển là nghề rất vất vả, bấp bênh. Người đàn ông đi biển cũng là người trụ cột trong gia đình, luôn phải đối mặt với hiểm nguy về tính mạng và tài sản, nhất là tính mạng. Người Việt Nam, từ xưa cho đến nay, rất sợ chết mất xác hoặc bị xiêu mồ lạc nấm, không ai cúng kiếng, trở thành ma đói ma khát, cô hồn. Người đi biển càng sợ hơn, bởi hơn ai hết, họ hiểu mình rất dễ rơi vào cảnh này. Biển cả mênh mông, bất trắc xảy ra đã khó bảo toàn tính mạng nhưng cũng không đáng sợ bằng xác rơi vào miệng cá hay bị tan biến giữa biển khơi. Trải nhiều đời định cư và làm biển ở vùng đất, vùng biển này khiến các thế hệ người dân đất Quảng gốc Thanh Nghệ suy tôn Tứ Vị Thánh Nương là các Nữ Thần cai quản cửa lạch, cửa sông, hộ trì cho thuyền ghe ra vào cửa lạch an toàn. Có nơi còn quan niệm đó là Bà Thuỷ.
So với trung tâm của tín ngưỡng thờ Tứ Vị Thánh Nương thì ở Quảng Nam - Đà Nẵng, việc phụng thờ Tứ Vị Thánh Nương đậm tính thực tế, mang nhiều ý nghĩa do xuất phát từ chính cuộc sống mưu sinh của cộng đồng dân biển. Tại đây, những phần thuộc về ''bác học'' của Tứ Vị không xuất hiện. Nếu ở đền Cờn / Lạch Cờn, Tứ Vị Thánh Nương là gốc người Trung Quốc, được thiêng hoá do công trạng có ý nghĩa lịch sử lớn lao đối với hai triều đại phong kiến Việt Nam là triều Trần và triều Lê, thì ở Quảng Nam - Đà Nẵng, qua khảo sát, chúng tôi không hề gặp truyền thuyết, thần tích về Tứ Vị như ở vùng đền Cờn /Lạch Cờn; đồng thời cũng không gặp truyền thuyết về Tứ Vị mang màu sắc Việt, gắn với cư dân buổi đầu dựng nước - thời các Vua Hùng. Cá biệt cũng có một vài lão ngư (làng Mỹ Khê) cho biết Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương là người Trung Quốc.
Tuy không có truyền thuyết và thần tích, song tất cả những sắc phong của Tứ Vị ở Quảng Nam - Đà Nẵng do các đời vua của triều Nguyễn phong tặng, đều có ghi rõ tước hiệu, danh thần Tứ Vị là Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương Vương Thượng Đẳng Thần. Trong những cuộc lễ tiết quan trọng của cộng đồng, như lễ cúng đình, lễ cầu ngư, lễ cúng Bà, lễ tống ôn, danh thần, tước hiệu của Bà Đại Càn được cung hô đầy đủ.
2. Tín ngưỡng Tứ vị Thánh Nương - sự kế thừa và biến đổi tại Quảng Nam - Đà Nẵng
Thừa kế và tiếp biến tín ngưỡng Tứ Vị Thánh Nương là một đặc điểm nổi bật của cộng đồng cư dân Việt Quảng Nam - Đà Nẵng nói chung, cư dân ven biển nói riêng.
Sự kế thừa thể hiện rõ ở việc thờ phụng Tứ Vị Thánh Nương trong các ngôi đình đất Quảng, từ làng nông đến làng biển, mà đậm nhất là ở các làng xã ven biển. Qua khảo cứu, chúng tôi cho rằng, buổi đầu, rất có thể tín ngưỡng Tứ Vị Thánh Nương giữ một vai trò quan trọng trong đời sống của người dân làng biển hơn là tín ngưỡng cá voi. Nếu tín ngưỡng thờ cá voi nơi đây cũng như các làng biển từ miền Trung trở vào Nam Bộ xuất hiện từ hiện thực cuộc sống của người dân, qua chứng kiến trực quan thực tế, thì tín ngưỡng thờ Tứ Vị Thánh Nương lại là sự tiếp nối thờ cúng Nữ Thần có sẵn của vùng quê gốc, đã bảo trợ thuyền bè vượt biển an toàn. Và như thế, Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương (cùng với các vị thần linh khác cũng của miền quê gốc) đã được thờ phụng trước cả tín ngưỡng thờ cá voi. Đó là sự tiếp nối thờ phụng Nữ Thần Biển.
Ngày nay, các cụ già hai làng biển Mân Thái và Nam Thọ ở Đà Nẵng vẫn lưu kể cho những ai muốn nghiên cứu về lịch sử làng câu chuyện giành đất của hai làng này. Theo đó, vào thời vua Minh Mạng, làng Mân Thái có ông Tiền Hiền Ngô Quang Cư - người có công đạp đất, khai khẩn lập làng; làng Nam Thọ kế bên đã vượt quá ranh giới lấn sang đất làng Mân Thái, khiến xảy ra kiện tụng kéo dài giữa hai làng. Cuối cùng, làng Mân Thái thắng kiện. Tại mốc ''biên giới'', dân làng này đã xây một ngôi miếu thờ Bà Đại Càn / Tứ Vị Thánh Nương. Miếu Đại Càn còn được dân làng gọi là Miếu Vua, đất dựng miếu gọi là Đất Miếu Vua. Chi tiết này khiến chúng ta suy nghĩ, so sánh để trả lời câu hỏi, tại sao làng Mân Thái không lập miếu, lăng thờ cá voi, cũng là một vị thần biển, mà lại lập miếu thờ Đại Càn? Ngôi miếu Đại Càn cổ kính, quy mô nhỏ, xây toàn bằng đá xanh, tường dày chắc chắn, có văn cúng khánh thành miếu (1) đã gắn bó với dân làng này đến tận năm 2005. Từ sau năm này, do quy hoạch đô thị của Đà Nẵng, miếu Đại Càn không còn nữa. Bà Đại Càn được rước về nơi thờ tự mới, được thờ chung với Thánh Mẫu Thiên Y A Na của làng trong một ngôi lăng thời hiện đại.
Thời gian và chiến tranh khiến cho hiện nay, nhiều ngôi đình ở Quảng Nam - Đà Nẵng không giữ được sắc phong Thần. Song, cũng có một số đình, sắc phong Thần còn nguyên vẹn, trong đó có sắc Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương. Đó là các đình: Nam An (Nam Thọ), An Hải, Xuân Sơn, Tuý Loan, Thạc Gián, Đế Võng, Sơn Phong, Cẩm Phô..., trong đó đình Nam Thọ còn giữ được các sắc phong của Tứ Vị Thánh Nương từ thời vua Minh Mạng đến vua Khải Định. Đây là nội dung bản sắc phong sớm nhất cho làng thờ Đại Càn:
Sắc Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương hộ quốc tí dân, hiển hữư công đức, kính hữu xã dân phụng sự. Phụng ngã Thế Tổ Cao Hoàng đế thống nhất hải võ, khánh bị thần dân. Tứ kim quang thiệu hồng đồ, miến niệm thần hưu, nghi long hiển hiện, khả gia tặng Hàm Hoằng Quang Đại Chí Đức Thượng đẳng thần. Nhưng chuẩn hứa Diên Phước Huyện, Nam An xã y cựu phụng sự. Thần kỳ tưởng hựu, bảo ngã lê dân. Khâm tai
Minh Mạng thất niên, cửu nguyệt, thập nhất nhật.
Dịch nghĩa: Sắc phong bốn vị Thánh nương Đại Càn Quốc Gia Nam Hải. Các ngài những vị thần giúp nươc che chở dân chúng, công đức hiển hiện rất rõ ràng, từ trước đã được dân xã phụng thờ. Từ khi đức Thế tổ thống nhất đất nước, các vị thần linh và người đời đều thảy mừng rỡ. Nay ta nối nghiệp lớn, nghĩ đến công ơn của các ngài, nên long trọng đặt các ngài ở địa vị sáng ngời và gia tặng các ngài vào bậc Thượng đẳng thần với danh hiệu: ''Hàm Hoằng - Quang Đại - Chí Đức''. Chuẩn y cho xã Nam An thuộc huyện Diên Phước được thờ như cũ. Các ngài sẽ giúp và bảo vệ dân đen của ta.
Hãy kính cẩn vâng mệnh
Ngày 17 tháng 9 năm Minh Mạng thứ 7.
Sắc phong Thần là ''văn bản pháp lý'' cho làng xã thờ phụng tại đình.
Qua khảo cứu sắc phong, người ta nhận thấy có một thực tế là ở Quảng Nam - Đà Nẵng, Tứ Vị Thánh Nương đã gia nhập vào hệ thống Thần đình để bảo trợ dân chúng, có vị thế quan trọng trong ngôi đình đất Quảng. Phần lớn Tứ Vị Thánh Nương giữ địa vị là chủ Thần của đình, như: đình Thanh Khê, đình Nam Ô, đình Đế Võng... Ở những nơi này, Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương gắn bó với cuộc sống bình an của dân chúng. Lễ đình làng hàng năm diễn ra vào hai kỳ xuân thu được gọi là lễ Cầu An, mà vị thần số một được cung thỉnh khấn cầu, được trân trọng hô mời đầu tiên trong bản văn tế chính là Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương. Điển hình như văn tế Lễ Cầu An hàng năm của làng biển Thanh Khê (Đà Nẵng). Trong lễ này, Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương đứng đầu danh sách hơn ba mươi vị thần cũ, mới của làng được hô mời cung thỉnh với đầy đủ danh thần, tước hiệu:
- Sắc tặng Hàm Hoàng Quảng Đại Chí Đức Phổ Bác Hiển Hoá Trang Huy Dực Bảo Trung Hưng Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương Vương Thượng Đẳng Thần.
- Sắc chỉ Dực tá Trung Hưng Quan Thánh Đế Quân
- Thần Nông Hậu Tắc Đại Đế Tôn Thần gia tặng kính dâng vật lợi Thượng đặng Thần
- Sắc tặng Hoằng Huệ Phổ tế Linh cảm diệu Thông Mặc Tướng Trang Huy Dực Bảo Trung Hưng Thiên Y A Na Thượng Đẳng Thần.
- Cửu Thiên Huyền Nữ Tôn Thần Gia tặng Cao Đại Linh Thông Tổ Thuật Thượng Đẳng Thần.
- Sắc tặng Hoằng Mô Vĩ Lược Đôn Hậu Phu Hựu Trạc Dương Trác Vĩ Dực Bảo Trung Hưng Cao Các Quảng Độ Thượng Đẳng Thần.
- Kim Đức Thánh Phi Tôn Thần, Gia tặng Hiển Linh Hiệu Ứng Trung Đẳng Thần, Mộc Đức Thánh Phi Tôn Thần, Gia tặng Kiên trực Thanh Tú Trung Đẳng Thần, Thuỷ Đức Thánh Phi Tôn Thần, Gia tặng Dương Trạch Hiển Linh Trung Đẳng Thần, Hoả Đức Thánh Phi Tôn Thần, Gia tặng Ôn Hậu Quan Ứng Trng Đẳng Thần, Thổ Đức Thánh Phi Tôn Thần, Gia tặng Hoằng Đại Hậu Độ Trung Đẳng Thần.
- Tam Vị Oai Linh Song Tước Lộc Đô Nguyên Suý Kim Chi Lưỡng Hộ Thành Hoàng Chi Thần, Tả Đông Chinh Thành Hoàng Chi Thần, Gia tặng Hự Thuận Chi Thần, Hữu Dực Thánh Thành Hoàng chi Thần, Gia tặng Trợ Oai chi thần.
- Tiên Sư Chi Thần, Hồng Phi Chi Thần, Quý Tài Nhị vị Công Tử, Thái Giám Bạch mã Chi Thần, Gia tặng Lợi Vật Chi Thần. Đương Kiển Thổ Địa Phước Đức Chánh Thần Gia tặng Hậu Tế Chi Thần. Thổ Địa Long Thần, Gia tặng Phổ Tế Chi Thần. Sơn Xuyên Nhạc Tục Hà hải Giang Tân Chi Thần. Thái Tuế Chí Đức Chi Thần, Gia tặng Chủ Tế Chi Thần. Đương Niên Hành Khiển hành Binh Chi Thần, Tả Ban Liệt Vị, Hữu Ban Liệt Vị Chi Thần, Bá Công Kỹ Nghệ Tổ Sư Chi Thần. Tiền Hiền Hậu Hiền Chi Thần. Long Thần Trụ Trạch Thần Quan. Ngũ Phương Thổ Công Chi Thần Đông Trù Tư Mạng Táo Phủ Thần Quan. Tứ Phương Viên Miếu Chi Thần, Chủ Ngung Man Nương Chi Thần
- Thị Tùng Bộ hạ Nhứt Thiết Oai Linh Thập Loại Cô Hồn đẳng chúng, Tướng Sĩ Trận Vong đồng lai phối hưởng
...
Ngoài một số làng biển thờ Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương làm chủ Thần của đình, thì xưa kia, có những làng còn dựng miếu riêng thờ Tứ Vị Thánh Nương. Các bô lão ban khánh tiết đình làng và lăng Ông Ngư Mỹ Khê cho biết: ngày trước, làng này có miếu riêng thờ Bà Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương, gọi là Miếu Cả. Ngày 12 tháng Giêng Âm lịch hàng năm là ngày kỵ Bà. Lễ kỵ Bà bao giờ cũng phải tổ chức trước các lễ cúng đình, lăng, miếu khác.
Ngày vía Bà thời đó của làng Mỹ Khê rất thiêng và vui. Trước lễ chính một ngày, các nhà trong làng gánh lễ vật đến miếu Đại Càn, cầu Bà hộ trì sức khoẻ, đi biển an toàn. Ngày vía Bà cũng là ngày hội của làng Mỹ Khê, có đua ghe và hát bội mấy đêm liền. Song, ngày nay, miếu Bà Đại Càn không còn. Bà đã được nghinh rước vào đình, phối thờ cùng Tiền Hiền, Hậu Hiền của làng. Nghi lễ riêng giành cho Bà cũng không còn, nhưng các kỳ lễ lệ của làng như lễ Xuân Thủ, lễ Kỳ Yên và lễ Cầu ngư, thì Bà Đại Càn vẫn ''có chân'' trong tập thể thần linh được làng hô mời cung thỉnh, cầu xin sự che chở.
Còn như hai làng biển Mân Thái và Nam Thọ, nơi có miếu Bà Đại Càn làm ''đường biên'' thì hiện nay, hai làng này vẫn duy trì lễ kỵ Bà thường niên nhưng không tổ chức một ngày riêng mà lễ chung với ngày vía Bà Thiên Y A Na - vị Thánh Mẫu của làng, vào ngày 24 tháng Giêng Âm lịch.
Có một vài làng biển, tuy Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương không là một thành viên trong tập thể Thần đình, nhưng lại có ''chân'' trong tập thể Thần chi phối việc ra khơi vào lộng của dân biển, đồng thời tác động đến đời sống sinh hoạt của cộng đồng làng vạn. Trong các lễ Cầu Ngư (chủ thần là cá voi - thần Nam Hải), lễ Tống ôn, Khao ôn (tẩy uế, tống tiễn ôn hoàng dịch lệ trong làng), Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương vẫn giữ vị trí số một trong số các vị thần được ghi trong văn tế (2), (3).
Qua các bản văn tế đó, ta nhận thấy hiển diện một tập thể đông đảo thần linh hỗ trợ dân biển, mà đứng đầu là Bà Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương. Đây là dấu hiệu khẳng định: ở Quảng Nam - Đà Nẵng, Tứ Vị Thánh Nương vẫn là Nữ Thần Biển, Chúa Nước, Bà Mẹ Nước của người Việt làm biển.
Thực tế cho thấy, nghề biển là nghề gặp nhiều rủi ro về tính mạng nhất, nên một đặc trưng trong hệ tín ngưỡng cộng đồng dân biển là họ sùng bái rất nhiều thần linh. Đối với họ, chỉ có bổ sung thêm các Thần chứ không bao giờ bớt đi. Cho nên ngày nay, mặc dù đã có Ngư Ông - Thần Nam Hải, Đông Hải bảo hộ, nhưng người dân biển vẫn không quên Nữ thần Biển Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương. Bản chất thờ phụng không thay đổi, có chăng chỉ là hình thức đổi thay. Trong các ngày lễ lệ, lễ hội của cộng đồng dân biển Quảng Nam - Đà Nẵng hiện nay, Bà Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương bao giờ cũng được cung thỉnh, hô mời với đầy đủ mỹ tự do nhà Nguyễn phong tặng: ''Hàm Hoằng Quảng Đại Chí Đức Phổ Bác Hiển Hoá Trang Huy Dực Bảo Trung Hưng Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương Vương Thượng Đẳng Thần''.
Ngược dòng thời gian, xưa kia, khi bước chân lưu dân người Quảng đến đâu thì Tứ Vị Thánh Nương cùng đồng hành, trở thành chỗ dựa tâm linh cho họ ở nơi đó. Chẳng hạn như trên đất Sài Gòn, đình Nam Chơn (29 Trần Quang Khải, Quận I) là một ngôi đình của người Quảng (Hoà Vang - Đà Nẵng) dựng vào khoảng năm 1860, có thờ sắc Thần Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương(4); còn theo nhà nghiên cứu văn hoá Huỳnh Ngọc Trảng thì, chỉ riêng thành phố Hồ Chí Minh, bốn Nữ Thần Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương là đối tượng thờ phụng rất kính tín đối với cộng đồng Quảng Nam di tản ở các đình: Nam Chơn, Tân An, Phú Hoà Vạn, Hoà Mỹ, Sơn Trà (thuộc phường Đa Kao và phường Tân Định - quận 1) (5).
Xưa và nay ở Quảng Nam - Đà Nẵng, Tứ Vị Thánh Nương vẫn hiển diện trong đời sống tín ngưỡng cộng đồng dân biển. Đó là những bằng chứng biểu hiện việc thừa kế di sản tiền nhân của cộng đồng cư dân Quảng Nam - Đà Nẵng, đồng thời là sự xác tín vai trò của tín ngưỡng này trong đời sống tinh thần, tâm linh cư dân đất Quảng.
Và như thế, có thể xem sự xuất hiện của Tứ Vị Thánh Nương trong đình, lăng, miếu như đã nêu ở trên là biểu hiện của sự thờ phụng chính danh, chính thống một tín ngưỡng có từ vùng quê gốc của cư dân ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng.
Nhưng, còn có một thực tế khác ở Quảng Nam - Đà Nẵng là, có một số làng biển (chủ yếu là bãi dọc) còn sùng bái Bà Dàng Lạch, mà căn cứ vào nghĩa của từ thì đây cũng là một Nữ Thần cửa Biển/ cửa Lạch. Chung quy cũng là dạng Nữ Thần Nước, Thần Biển.
Tại những nơi này, Bà Dàng Lạch ''xuất hiện'' thường xuyên, liên quan đến nguyện vọng cầu mùa biển bội thu, đến việc ra cửa vào lạch của dân biển. Do vậy, ngoài việc được cung thỉnh, cáo tế trong các lễ cầu ngư, Bà còn hiển diện trong các nghi lễ liên quan đến phương tiện, công cụ và hoạt động đánh bắt của dân biển, như: các lễ cúng cửa hay còn gọi là cúng lạch, lễ phạt mộc, tống mộc đưa dăm khi đóng thuyền mới, lễ nhúng nghề, lễ cúng vũng vịnh.
Đối với dân biển, thuyền / ghe không chỉ là một phương tiện đánh bắt mà còn là ngôi nhà trên biển. Việc đóng mới hay sửa chữa cũng giống như xây nhà hay sửa nhà, do vậy, phải tuân theo những lễ thức cổ truyền như lễ phạt mộc, lễ tống mộc đưa dăm. Những lễ này đều liên quan đến Bà Dàng Lạch. Theo quan niệm của dân biển, Bà Dàng Lạch là một trong những Bà cản trở hoặc hộ trì cho thuyền ra cửa, ra lạch. Lễ phạt mộc phải cúng Bà vì dăm mộc sau đó được tống ra cửa / lạch khi hạ thuỷ. Tiếp theo đó là lễ hành thuyền, nghĩa là cho thuyền ra cửa, lạch. Tại đây, chủ thuyền lại cúng để cầu xin Bà Dàng Lạch cùng các Thần khác cho mỗi lần ra cửa/ lạch được thuận tiện. Vai trò của Bà Dàng Lạch ở lễ hành thuyền rất quan trọng, bởi dân biển xem lễ này như chuyến đi biển đầu tay, mở hàng, là ''Hạ nghệ'' (xuống nghề), nên cần sự che chở, phò trì của Bà.
Một nghi lễ đầu năm của gia đình và cộng đồng làng biển là lễ nhúng lưới hay còn gọi là nhúng nghề, tiến hành vào ngày chẵn đầu tháng Giêng, sau lễ Khai hạ. Lễ nhúng lưới có ý nghĩa như lễ xuống đồng của làng nông nghiệp. Địa điểm nhúng lưới thường diễn ra ở cửa / lạch. Công việc này được coi là chuyến đi biển đầu mùa, còn gọi là đi mở hàng hay ''đi mai xưa'', do đó phải cúng các Thần cửa/ lạch chu đáo trước khi nhúng lưới. Một bàn lễ được bài trí ở mũi thuyền với lễ vật đơn giản, gồm: hương, đăng, hoa quả, áo mã và lốt (hình vẽ) bà Thuỷ. Chủ thuyền hoặc trưởng vạn cúng cầu Bà Thuỷ cùng các vị thần khác ở trên sơn dưới thuỷ, trong đó có Bà Đại Càn.
Lễ cúng vũng, vịnh là một trong những nghi lễ quan trọng liên quan đến hoạt động đánh bắt của cư dân biển, nhằm cầu xin sự bảo trợ của Bà Ngũ Hành, Bà Đại Càn, Cô Bác cho ghe thuyền neo đậu an toàn khi gió bão. Lễ này được tiến hành thường niên, sau lễ cầu ngư ít ngày, với vật cúng gồm: thịt, cá, hình nhân thế mạng, lốt cá voi, lốt Bà Thuỷ, Bà Ngũ Hành, lốt ngũ quỷ câu trận (năm con vật linh: ba con đẻn và hai con vích) vật tam sanh (tôm, cua, trứng). Trong lễ này, Bà Đại Càn cũng được cáo mời, mặc dù không có lốt (hình vẽ) của Bà.
Từ Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương - Nữ Thần Biển mà trung tâm trú sở là Cửa Cờn / Lạch Cờn đến Bà Đại Càn ở biển Quảng Nam - Đà Nẵng rồi lại thành Bà Dàng Lạch cai quản các cửa / lạch ở vùng này, thì có thể xem đó là biểu hiện sinh động của sự tiếp biến hình mẫu Tứ Vị Thánh Nương ở Quảng Nam - Đà Nẵng; mặt nữa còn phản ánh sắc thái địa phương của tín ngưỡng Tứ Vị Thánh Nương, bên cạnh tính phổ cập của tín ngưỡng này.
Biểu hiện tính địa phương của tín ngưỡng Tứ Vị Thánh Nương ở Quảng Nam - Đà Nẵng cũng cho thấy đã có sự giao thoa văn hoá giữa cư dân Việt và cư dân thổ trước (một số dân tộc sống dọc Trường Sơn chẳng hạn), trong đó có người Chăm cổ ở vùng này. Như mọi người đã biết, các vị thần sông, thần suối của người Tây Nguyên được gọi chung là Dàng / Giàng. Vậy, rất có thể là, hình mẫu Bà Đại Càn - Bà Lạch Cờn khi ''vân du'' đến vùng biển Quảng Nam - Đà Nẵng đã hoà nhập với các Dàng sông, Dàng suối Tây Nguyên để chuyển hoá thành Bà Chúa Nước với tên gọi thuần Việt là Dàng Lạch. Việc suy tôn Bà này là ''Dàng Lạch Chúa Nước Nương Nương'' ở Quảng Nam - Đà Nẵng như đã phần nào cho thấy mối quan hệ cũng như sự ''biến hình'' của Tứ Vị Thánh Nương ở một vùng ngoại biên.
Hoặc giả cũng có thể, Bà Đại Càn đã hoà nhập với Bà Pô Nư Gar - Mẹ Nác/ Nước của người Chăm, để trở thành một Bà Chúa Nước, một Mẫu Thuỷ của cư dân ven biển, như quan niệm của một vài người nghiên cứu.
Kết luận
1. Trong đời sống tâm linh cư dân ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng, tín ngưỡng Tứ Vị Thánh Nương đã có vị trí rất quan trọng. Những ký ức được trao truyền, những bản sắc phong, những dấu tích về Tứ Vị Thánh Nương đã khẳng đây là một dạng thờ Mẫu ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Sự trường lưu của tín ngưỡng này hình như độc lập với sự thay đổi, biến thiên của thời cuộc và nghề biển. Từ trung tâm Đền Cờn / Lạch Cờn, Tứ Vị Thánh Nương đã cùng lưu dân Việt xuôi về phương Nam theo đường biển, mà Quảng Nam - Đà Nẵng là một bến đỗ trên bước đường Nam tiến của dân tộc Việt. Dừng chân tại vùng đất ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng, Tứ Vị Thánh Nương đã gắn bó với cư dân, nhất là cộng đồng cư dân làm nghề biển. Sự mưu sinh bằng đường nước khiến việc thờ phụng Tứ Vị Thánh Nương của cư dân Việt ở Quảng Nam - Đà Nẵng có phần giản dị, so với vùng trung tâm. Ở Quảng Nam - Đà Nẵng, tín ngưỡng Tứ Vị Thánh Nương truyền lưu theo con đường dân dã, đậm yếu tố của cuộc sống ''đi khơi, đi lộng, ra cửa vào lạch''. Bốn vị Thánh Nương, do đó, đã được hô gọi theo cách của dân biển - Bà Đại Càn/ Bà Dàng Lạch. Danh xưng mới của Tứ Vị Thánh Nương, một mặt xác tín vai trò ''ngư nghiệp'' của các Bà, mặt nữa như phản ánh sự gặp gỡ giữa Tứ Vị Thánh Nương và các Nữ Thần của cư dân thổ trước ở nơi đây, để rồi, trong tiến trình phát triển cuộc sống, tất cả đã hoà kết vào trong hình mẫu truyền thống, sâu đậm trong tâm thức cư dân biển. Đó chính là Bà Đại Càn - Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương
2. Do hạn chế về trình độ và tư liệu, tác giả bài viết này chưa so sánh để nêu bật tính phổ biến của tín ngưỡng Tứ Vị Thánh Nương (đã được xác tín là một dạng tín ngưỡng ngư nghiệp biển). Tuy nhiên, từ một vài ''quan sát trực quan'' trên một vài tư liệu, chúng tôi có cảm nhận, tín ngưỡng biển dạng Nữ Thần này hình như còn mang tính khu vực, ở đây muốn nói đến các nước thuộc khu vực văn hoá Đông Á. Lấy trường hợp Nhật Bản chẳng hạn: Đời sống văn hoá tín ngưỡng của người Nhật truyền thống cho thấy, cá và tín ngưỡng liên quan đến biển có vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá, phong tục của cư dân xứ sở mặt trời mọc. Trong đời sống tín ngưỡng, người Nhật sùng bái Ningyo, một Nữ Thần Biển hoá thân dưới dạng một người đàn bà tóc dài, mình người đuôi cá. Nữ Thần ở trên một tảng đá ngoài biển khơi. Đó là một Phúc Thần của người Nhật. Nhiều địa phương ở Nhật thờ Bà, từ Aomori phía Bắc cho đến đảo Kyushu ở phía Nam. Tương truyền, những sự không may trong cuộc sống, hoặc chiến tranh sắp bùng nổ thì đều được Nữ Thần hiện lên báo trước cho người dân biết.
Nhật Bản là một dân tộc tiêu thụ nhiều cá nhất trên thế giới. Cá biển và những sản phẩm từ biển đã in đậm dấu ấn trong đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của người Nhật từ xưa cho đến nay. Một trong những món ăn không thể thiếu trong ngày tết của mọi gia đình Nhật bản là món Kazunoko, tức là món trứng cá trích, gắn với niềm tin trứng cá trích rất tốt cho sức khoẻ.
Dấu ấn của cá, biển còn in đậm trong phong tục Nhật Bản. Tango, nghĩa là Tết Đoan Ngọ, là lễ hội dành cho con trai, tổ chức vào ngày mùng 5 tháng 5. Ngày này, những chiếc bong bóng hình cá chép được treo trên những cây nêu, có ý nghĩa tượng trưng sức phấn đấu của con trai. Hay như trong những dịp tổ chức Chúc lễ (Oiwai) mang tính tôn giáo, thể hiện quan niệm của người Nhật về mối quan hệ giữa con người và thánh thần, là dịp bày tỏ tình cảm của người đối với thánh thần, thì, một lễ vật phải có để dâng lên thánh thần, đó là một con cá hường (Tai) nguyên con, nấu chín, gọi là Kashirazuki(6)
Một vài hiện tượng có tính chất tản mạn về văn hoá Nhật Bản mà chúng tôi được biết qua sách vở, nhưng đã khiến chúng tôi suy nghĩ, phải chăng có mối liên hệ, giao lưu, ảnh hưởng văn hoá hay chỉ là sự tương đồng tự nhiên, gắn với tư duy thống nhất của các cộng đồng cư dân sống gần biển đảo?
Tài liệu tham khảo
1. Dương Văn An (2001), Ô châu cận lục (Hiệu đính - dịch chú Trần Đại Vinh, Hoàng Phúc), Nxb Thuận Hoá, Huế
2. Nguyễn Xuân Hương (2005), ''Lễ Tống ôn của cư dân ven biển xứ Quảng'', Văn hoá Nghệ thuật (6), tr. 43-46.
3. Nguyễn Xuân Hương (2005), ''Về tục thờ Mẫu của cư dân ven biển xứ Quảng'',Văn hoá Dân gian (2), tr.39-45.
4. Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (2000), Văn hoá dân gian làng ven biển, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội.
5. Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (2001), Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
6. Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (2002), Đạo Mẫu ở Việt Nam, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
7. Ngô Đức Thịnh (2007), Về tín ngưỡng lễ hội cổ truyền, Viện Văn hoá, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội.
Chú thích
(1) Khánh thành Đại Càn miếu văn
Cảm cáo vu:
Sắc tặng Hàm hoằng, Quang Đại, Chí đức, Phổ bác, Hiển hoá, Trang huy, Gia tặng Dực bảo Trung Hưng Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ vị Thượng đẳng thần
Tả ban liệt vị, Hữu ban liệt vị chư tôn thân
Bộ hạ liệt vị đồng lai phụ hưởng
Viết cung duy
Tôn thần Phù dư dục tú, Quang nhạc chung linh, Hiển hoá trang huy, khôn nguyên chí đức; Hàm hoằng Quang đại, Khổn phạm nghi hình.Dực bảo Trung Hưng tứ vị, Thần kỳ tứ hựu trước phong thượng đẳng bửu trùng ân trọng bao vinh tằng phụng sự vu tích niên dực dực tác miếu, nãi sùng tư ư kim nhật thực thực kỳ đình, đan hộ kỳ đồ tranh tư tiêu cung chi xác xán. Uyên ương hợp ngoả hồn như quế điện chi tranh vanh tải cơ tải lạc, kỳ chính kỳ minh. Thần chi cách tư dương hồ như tại. Thần sở lao hỉ diệc mạc bất ninh. Tiết phùng xuân lệnh, lễ cáo công thanh. Phục kỳ quang lâm, bảo toà chiếu giám đan thanh, tỉ hương chức vĩnh tăng lộc thọ, hựu binh dân cộng khánh phong doanh. Ngưỡng lại tôn thần chi đại đức dã. Cẩn cáo!.
(2) Trích văn tế Cầu Ngư ở Tam Hải (Quảng Nam) làm minh chứng:
... Xuất tiết giới kỳ lễ lệ cầu ngư phát xuất
...Cẩn cáo vu:
- Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương Chi Thần, sắc tặng Hàm Hoằng Thượng Đẳng Thần.
- Tam giáo, Thánh Hiền Ba Công Kỹ Nghệ Chi Tiên Sư
- Quan Thánh Đế Quân sắc tặng Hộ Quốc Tý Dân Chi Công Đức Thượng Đẳng Thần.
- Khâm Sai Bắc Quân Đô Đốc, sắc tặng Thái Bảo Quận Công Chi Thần.
- Thiên Y A Na Diễn Phi sắc tặng Hường Nhơn Linh Ứng Thượng Đẳng Thần.
- Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Chi Thần.
- Giàng Phi Phu Nhân Chi Thần.
- Hà Bá Thuỷ Quan Chi Thần.
- Hoằng Phi Quảng Trạch Thượng Đẳng Thần.
- Bổn Xứ Thành Hoàng Chi Thần.
- Thái Giám Bạch Mã Chi Thần.
- Đương Cảnh Thổ Địa Chánh Thần.
- Công Hàm Tư Chỉ Tiên Sư Linh
- Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ, Đức Thánh Phi, sắc tặng Trung Đẳng Thần.
- Đông Nam Sát hải Lang Lại Nhị Đại Tướng Quân sắc tặng Dũng Mãnh Chi Thần.
- Ngũ Phương, Ngũ Đế, Ngũ Vị Long Vương Chi Thần.
- Tả Ban, Hữu Ban Chư Vị Tôn Thần.
- Văn Võ tướng Quân Chi Thần.
- Ốc Tiêu, Sơn La Tiêu Diện Đại Sĩ Diệm Khẩu Quỷ Vương Chi Thần.
- Chủ Ngung Ma Vương Chi Thần.
- Ngũ Phương Trụ Trạch Thần Quan Chi Thần.
- Tiền Hiền khai khẩn Hậu Hiền khai cơ.
- Tiên Đại Bá Vương, Thập loại Cô Hồn đồng lai phối hưởng.
Tổ Quốc Việt Nam muôn đời gấm vóc, núi sông giàu đẹp trải khắp Bắc, Nam, Trung. Đức Ngọc Lân ngoài biển cả an lành, xây rún bạc ơn hải hà đãi ngộ, cập chúng sinh đức hiền độ thế an dân, sâu thăm thẳm phò trì ngư nghiệp. Sở đắc kỳ công sản phẩm hằng hà, biển đông vô tận mênh mông lai láng mặc sức thuyền đua, tối diệu tối linh tạo nguồn sống ngư dân toạ lạc. Đức cao dày hải hà vô biên, phổ cập ơn trên ngư dân đại lợi.
Nay nhân xuân tiết giới kỳ lễ lệ cầu ngư vụ mùa xuất phát, Tân Xuân Kỷ Sửu thắng lợi kỳ công. Đoàn thuỷ thủ ra quân đánh bắt, đoàn thuyền tàu lướt sóng tầm ngư, thu hoạch sản lượng tối đa vượt mức. Hiệp toàn bổn vạn thành tâm trần thiết lễ nghi, sở nguyện lộ kỳ ơn vũ lộ chứng minh chi chúc. cẩm kỳ lễ vật phò trì tài lợi phương minh phổ cập, ngư dân bình an tấn phước. Thuyền nội hiển lai tài phát đạt. Ngư dân khương thái bình an, nhờ ơn chi linh độ thế gia phúc tài đa. Đẳng cập ngư dân chi huệ giã. Phục di cẩn cáo.
(3) Trích văn Tống Ôn ở một làng biển Hội An làm minh chứng
. ... Xuân tiết lễ lệ, cầu an, cầu ngư, cẩn dĩ sanh tư, kim ngân ba quả, thứ phẩm chi nghi.
Cảm cáo vu
- Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ vị Thánh Nương Tôn Thần.
- Ngũ Hành Tiên Nương Chúa NgọcTôn Thần.
- Thái Tuế Bạch Mã Chí Đức Tôn Thần
- Bổn xứ Thần Hoàng Tôn Thần.
- Khổng Lồ Giác Hải Tiên Nương Tôn Thần.
- Bà Giàng Chúa Ngọc Thần Nữ
- Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Tôn Thần
- Bổn Xứ Chi Thần.
- Tứ Nương Thành Quốc Công Tôn Thần
- Thuỷ Long Tinh Thần Nữ Chi Thần
- Hạ giới, Thuỷ Khí, Thuỷ Tinh, Thuỷ Long Thần Nữ Tôn Thần.
- Chánh Chúa Cản Môn Chi Thần
- Bổn Xứ Ông Ngư, Bà Ngư Chi Thần
- Thuỷ Tinh, Thuỷ Độc Đơn Lâm Đại Đế.
- Hiển Chài, Hiển Lưới Tôn Thần
- Thuỷ Khí, Thuỷ Ma Tôn Thần
- Tiền Hiền khai khẩn, Hậu Hiền khai cơ Lịch đại Tôn Nhân
- Nường Dục Mẫu tử nương nương Tôn Thần
- Chiến sĩ trận vong liệt vị
- Thập loại cô hồn đồng đẳng chúng
- Cao Các Quảng Độ Đại Vương Tôn Thần
- Thiên Y A Na Bà Dàng Chúa Ngọc Tôn Thần
- Ngũ Hành sơn Tinh Liệt Vị, Thuỷ Tinh Tôn Thần
- Dương Bà Phu Nhân Tôn Thần
- Lôi Công Thánh Mẫu Phong Bá Võ Sư Tôn Thần
- Đông Nam Sát Hải Lang Lại Nhị Đại Tướng Quân
- Đương Cảnh Thổ Địa Phước Đức Chánh Thần
- Thạch Sơn, Thạch trụ Tôn Thần.
- Tam Vị Thái Tử Thần Quan
- Mộc trụ Diễn Thần Chi Thần
- Bà Giành Lạch Chúa nước tôn thần
- Cao Trận Đằng Xà Chi Thần
- Giang Hà Hải Ngạn Chi Thần
- Sơn Xuyên Độc Tụng Chi Thần
- Cư Lực, Cư Binh Chi Thần
- Lý Ngư, Lý Lực Chi Thần
- Địa Phủ, Tổ Hoàng Đại Đế
- Đông Trù Tư Mạng Táo Phủ Thần Quan
- Ngũ Phương Ngũ Đế Ngũ Vị Long Vương Chi Thần
- Tả Hữu Biên Giang Liệt vị Chi Thần
- Tả Ban Chủ Dương Thần Liệt Vị
- Hữu Ban Chủ Âm Thần Liệt Vị
- Quý Cô Quý Cậu Liệt Vị
- Hậu Hiền Võng Nghệ Cái Thế Chư tôn linh Liệt Vị
- Cặp Bộ hạ thị tùng, Tiêu Diện Đại Sĩ Diệm Khẩu Quỷ Vương
- Thống lãnh Thập nhị loại Cô Hồn, Âm Hồn, Chiến Sĩ Trận Vong
Viết cung di Tôn Thần chi gia huệ giã
Phục Nguyện:
Xuân đa kiết khánh
Hạ bảo bình an
Thu tống tam tai
Đông nghinh bá phước
Nhất thành thượng đạt
Vạn tội băng tiêu
Nguyện chư hương hồn đắc đạo cao siêu
Cầu cho bổn xã bổn thôn tài ba lộc lợi
(4) Kim Thạch, Đình Nam Chơn, một di tích lịch sử của người Quảng Nam trên đất Sài Gòn, Văn Hoá Quảng Nam số 34, tr 37, 38.
(5) Sở Văn hoá -Thông tin Quảng Nam (2001), Vai trò lịch sử dinh trấn Quảng Nam ( Kỷ yếu hội thảo khoa học), Quảng Nam, tr.355.
(6). Ph. D Lý Kim Hoa (2006), Để hiểu văn hoá Nhật Bản, Nhà xuất bản Văn Nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.89, 218,228, 241.
Chia sẻ trên Facebook Google +
http://www.spnttw.edu.vn/articledeta...sitepageid=650
Giác Ngộ Online
Tìm hiểu về Càn Thát Bà
NSGN - Càn Thát Bà (Gandharva) là một trong các hình tượng mỹ lệ đặc sắc trong nghệ thuật Phật giáo thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng. Các nhạc công thiên thần Gandharva xuất hiện trong điêu khắc, hội họa ở nhiều quốc gia. Riêng ở Việt Nam, hình tượng Gandharva thể hiện trên các đồ án mỹ thuật thời Lý, Trần và mỹ thuật Champa. Khảo luận dưới đây sẽ trình bày về nguồn gốc và các tín niệm liên quan đến đối tượng này.
Càn Thát Bà trong tín niệm Hindu
Càn Thát Bà (Gandharva) là tên gọi dành riêng để chỉ những sinh vật cõi trời trong Hindu giáo và Phật giáo và đó cũng là thuật ngữ để chỉ các ca sĩ tài danh trong âm nhạc truyền thống Ấn Độ.
Trong Hindu giáo, Gandharva là những nam thần, chồng của các Apsara. Gandharva có hình tướng kết hợp người và muông thú, thường là chim hoặc ngựa, có kỹ năng âm nhạc tuyệt vời chuyên xướng tấu những khúc nhạc du dương nơi cung điện của các vị thần linh thượng giới. Trong tín ngưỡng Hindu, Gandharva được coi là sứ giả giữa các thần linh và con người(1).
Những “Gandharva ở cõi trời” của thời Veda cổ xưa là một loại thần hiểu biết, phát hiện ra những bí mật của cõi trời và những chân lý thiêng liêng nói chung. Gandharva thường cư ngụ trên cõi trời, trong không trung. Những Gandharva hết sức thiên vị đối với phụ nữ và có một năng lực thần bí. Atharva-Veda nói đến 6.333 Gandharva. Những Gandharva thời kỳ sau này có những đặc tính tương tự: có nhiệm vụ trông nom rượu thiêng soma, có kỹ năng y khoa, điều chỉnh các chòm sao và được phụ nữ yêu thích. Cõi trời Indra (Đế Thích) thường được coi là cõi trời dành cho Gandharva, các Gandharva là những ca công và nhạc công phụng sự trong những cuộc tiệc tùng của chư thần(2).
Các tập Puruna, cổ tích thần kỳ Ấn Độ, đưa ra những miêu tả trái ngược về nguồn gốc của Gandharva. Vishnu-Purana cho rằng, ở một nơi nọ, Gandharva được sinh ra từ thần Brahma, “hấp thụ những giai điệu. Nhờ uống lấy lời nói của các nữ thần (gam dhayantah) mà chúng được sinh ra, và do đó có được danh xưng như vậy”. Sau đó, Vishnu-Purana lại nói rằng Gandharva là con đẻ của Kasyapa và người vợ Arishta. Hari-vansa cho rằng Gandharva xuất thân từ mũi thần Brahma, và cũng cho biết chúng có nguồn gốc từ Muni, một người vợ khác của Kasyapa. Chitra-ratha là thủ lĩnh của những Gandharva, và Apsara là những người vợ hay tình nhân của Gandharva. Kinh thành của những Gandharva thường được thể hiện rất nguy nga, tráng lệ.
Vishnu Purana có một truyền thuyết về những Gandharva đánh nhau với Naga nơi địa ngục để giành châu báu. Thủ lĩnh Naga cầu xin thần Vishnu giúp đỡ và thần đã hứa sẽ biến thành người của Purukutsa để trợ giúp. Những con rắn Naga đã gửi người chị em Narmada (sông Nerbudda) đến cho Purukutsa để chỉ dẫn cho thần những vùng đất bên dưới, nơi thần đến để tiêu diệt các Gandharva. Gandharva đôi khi được gọi là Gatu và Pulaka(3).
Gandharva được nói đến 505 lần trong sử thi Mahabharata. Theo đó, có đến 27 bộ tộc của những Gandharva và Apsara.
Trong Mahabharata, Gandharva xuất hiện như là tộc người cư trú nơi đồi gò hoang vu nên được gọi như vậy. Nguồn dữ liệu khác lại cho rằng Gandharva là sinh vật của vùng hoang vu, vắng vẻ; thỉnh thoảng quấy rối các ẩn sĩ khi họ đang thiền định một mình(4).
Trong luật lệ Hindu, Gandharva là cách thức kết hôn dựa trên sự đồng thuận kết giao giữa nam và nữ mà không có bất kỳ một lễ nghi chính thức nào. Nói cách khác thể thức kết hôn Gandharva là hình thức “tự do luyến ái”(5).
Những Gandharva được đề cập phổ biến trong sử thi Mahabharata như là sự liên kết với các deva (như những kỹ nhạc thiên) và với các yaksha, những chiến binh dữ dội/khủng khiếp. Gandharva cũng được đề cập rộng rãi đến các vùng lãnh thổ, khu vực khác.
Vương quốc Gandharva biểu thị địa hạt cư ngụ của tộc người được gọi là Gandharva. Họ rất am tường về âm nhạc và nhảy múa. Những Gandharva cũng là các chiến binh hùng mạnh, thỉnh thoảng các Gandharva rong ruổi trên trái đất qua các vương quốc Ấn Độ, bất chấp các vị vua Ấn Độ hay binh lính Kshatriya. Mặc cho những chiến binh Kshatriya vô cùng dũng mãnh, các Gandharva vẫn hỗ trợ cho các chư thiên (deva). Nhiều vị vua Gandharva được đề cập trong Mahabharata. Một vài Gandharva chịu sự cai trị của vị vua deva Indra (Đế Thích) và một số khác lại là bộ hạ của vua yaksha là Kubera(6).
Càn Thát Bà trong tín niệm Phật giáo
1. Gandharva gốc từ tiếng Sanskrit, chuyển sang Pali là Gandhabba; Trung Quốc: Kiện-đạt-phược, Kiền-thát-bà, Kiền-đà-la, Ngạn-đạt-bà, Càn-đáp-bà; Nhật Bản: Kendatsuba/ Kandabha; Tạng: Dri-za. Hán dịch: Thực hương, Tầm hương hành, Hương ẩm, Hương thần, Tầm hương chủ.
Càn Thát Bà được gọi là Tầm hương thần, Nhạc thần, Chấp nhạc thiên và liệt vào một trong bát bộ chúng.
Gọi là Tầm hương thần, bởi Càn Thát Bà không ăn thịt, uống rượu, chỉ hưởng mùi hương, thích mùi thơm (hương), ngửi mùi cũng đủ no, vì vậy nên trong mình xông ra mùi thơm, và chính vì thế nên gọi là Hương thần. Càn Thát Bà được cho là nửa người nửa thần.
Càn Thát Bà - vị thần chuyên hòa tấu nhã nhạc, sửa chữa nhạc cụ, bài hát và cùng với Khẩn Na La lo về pháp nhạc hầu hạ trời Đế Thích(7).
Vị thần này thường trú ở Bảo Sơn trên mặt đất, có lúc lại bay lên cõi Đao Lợi để tấu nhạc, diễn tấu vô vàn những điệu nhã nhạc thần kỳ(8). Âm nhạc của vị thần này có thể làm rung động khắp 3.000 đại thiên thế giới, lại biết pháp thuật, có thể làm cho xuất hiện trên mặt biển hình bóng của lâu đài thành quách – gọi là “Càn Thát Bà thành”(9).
Càn Thát Bà thành(10), Phạn: Gandharvanagara, còn gọi: Kiền-thát-bà thành, Kiện-đạt-phược thành, Nghiễn-đạt-phược thành. Gọi tắt: Bà thành, Càn-đạt thành, Càn thành. Hán dịch: Tầm hương thành.
Cảnh thành đô của loài Càn Thát Bà. Hạng nhạc thần là thần Càn Thát Bà thường dùng ảo thuật mà tạo ra những cảnh thành đô, nhưng những thành ấy trong phút chốc thì tiêu diệt, cho nên người ta gọi là Càn Thát Bà thành. Lầu các, sông, núi, rừng, đồng trống không có thật thể, chỉ là ảo ảnh xuất hiện trong không gian.
Theo truyền thuyết cho rằng thành Càn Thát Bà là thành quách do thần Càn Thát Bà hóa hiện trong hư không. Trong các kinh điển Phật giáo, thuật ngữ Càn Thát Bà thành thường được sử dụng để chỉ cho các pháp không thật. Thành Càn Thát Bà thường dùng để hình dung sự ảo hóa.
Ở đây, chúng ta thấy Càn Thát Bà thành phần nào tương tự dạng thành quách trong truyện cổ Tiên Dung-Chử Đồng Tử. Câu chuyện cổ thấm đượm màu sắc Phật giáo của Việt Nam đã cho chúng ta những tình tiết mỹ lệ về tính chất hư ảo của một dạng Càn Thát Bà thành(11).
Càn Thát Bà là một trong những hàng ngũ deva thuộc cấp bậc thấp nhất trong vũ trụ quan Phật giáo. Gandharva nằm trong số những deva Caturmaharajikakayika (chư thiên của tầng trời thứ nhất trong 6 tầng trời cõi Dục. Trong thế giới quan của Phật giáo, ở tầng thứ 4 của núi Tu-di có một ngọn núi tên là Do Kiền Đà La, núi có 4 đỉnh, Tứ Thiên Vương và bộ chúng của mỗi vị đều ở 1 trong 4 ngọn)(12). Đa số các kinh đều cho Càn Thát Bà là thần thủ hộ phương Đông, quyến thuộc của Trì quốc thiên và là một trong 33 ứng hóa thân của Bồ-tát Quán Thế Âm(13).
Theo kinh Xa-ni-sa (Janavasabha-sutta, thuộc Trường bộ kinh/Digha-Nikaya), những chúng sinh được đầu thai làm Gandharva là kết quả của việc thực hành hầu hết những việc thiện.
Về hình tướng, trong thần thoại có nhiều cách miêu tả về hình dáng của loại thần này. Có thuyết cho rằng thần này trên thân có nhiều lông, nửa người nửa thú; song lại có thuyết cho rằng thần này có hình dáng rất đẹp. Bổ-đà-lạc Hải hội quỹ ghi: Hình tượng Càn Thát Bà thân lộ màu da thịt, to lớn như trâu chúa, tay trái cầm sáo trúc, tay phải cầm bảo kiếm, đầy đủ tướng đại oai lực, trên đầu đội mũ tỏa ra ánh lửa. Có kinh văn lại cho biết thêm: đầu đội mũ bát giác, thân thể màu đỏ... Ngoài ra, trong tranh ảnh, họ xuất hiện trong tư thế ngồi thư thái, với 12 con giáp vây quanh, tay phải cầm đinh ba, tay trái cầm phất trần. Trên đầu có hào quang lửa. Càn Thát Bà ít được thể hiện trong điêu khắc, song riêng tại Nhật Bản cũng có một số mẫu ở Kofukuji, thuộc triều đại Nara từ thế kỷ thứ 8, và ở Sanjusangendo, Kyoto. Những mẫu này thể hiện họ như là những chàng trai trẻ mặc chiến bào, đứng, với một đầu sư tử trên tóc(14).
Càn Thát Bà là một bộ trong tám bộ chúng sanh thường hiện đến nghe Phật mỗi khi Phật giảng kinh Đại thừa.
Hồi Phật giảng kinh Diệu pháp liên hoa, có bốn vị vua Càn Thát Bà đến nghe: Nhạc Càn Thát Bà vương, Nhạc âm Càn Thát Bà vương, Mỹ Càn Thát Bà vương, Mỹ âm Càn Thát Bà vương (Manôdja, Manôdjasvara, Madhura, Madhurasvara). Bốn vị này có dắt theo cả trăm ngàn quyến thuộc(15).
Theo phẩm Tựa trong kinh Pháp hoa, có 4 loại Càn Thát Bà vương. Theo hội Luật nghi trong Đại Bảo tích 13, có một triệu Càn Thát Bà vương. Theo phẩm Thế chủ Diệu Trang Nghiêm trong kinh Hoa nghiêm 1 (Tân dịch) có hơn 20 tên gọi Càn Thát Bà vương. Số lượng và tên gọi phong phú như vậy là do Càn Thát Bà vốn là một loại thần của Bà-la-môn giáo: trong Yajur-Veda có đến 27 loại và trong Atharva-Veda lại nêu hơn 6.333.
Theo luận Đại trí độ 10, Càn Thát Bà vương tấu nhạc xưng tán Phật, đến nỗi Tam thiên đại thiên thế giới đều chấn động, thậm chí ngài Ma Ha Ca Diếp cũng ngồi không yên.
Trong Soạn tập bá duyên kinh (Avadana-Cataka), lúc Phật ngự gần thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc, có một nhà nhạc sĩ đại danh trong toàn cõi Ấn Độ đến thành Xá-vệ. Nhạc sĩ muốn trưng tài mình cho Phật biết. Sau khi nhạc sĩ khảy đàn và được công chúng khen tặng, Phật bèn niệm tưởng đến vị Càn Thát Bà từ Pâncasikha (năm cái xoáy) có bảy ngàn Càn Thát Bà hầu theo và khiến vị ấy đem cây đàn cán bằng lưu ly trên cung trời Đế Thích xuống cho Ngài. Phật khảy đàn ấy, làm cho nhà nhạc sĩ đại danh tín phục. Nhân đó, Phật thuyết pháp độ người. Nhà nhạc sĩ đại danh ấy bèn thọ giới xuất gia và đắc quả A-la-hán(16).
Pancasikha(17) là Gandharva được đề cập trong kinh Sakkapanha (Digha Nikaya/Trường bộ). Khi Đức Phật ở Indasalaguha, Sakka (Indra) đã cử Pancasikha đi trước để thỉnh cầu với Đức Phật cho mình được diện kiến để thỉnh giáo Ngài. Pancasikha tiến lại gần Đức Phật gảy đàn vina, hát lên bài ca tán dương công đức của Đức Phật, Phật pháp, các vị La-hán và tình yêu. Lời ca thực chất là những thể thơ được hình thành từ bài thơ tình gửi đến người con gái mà Pancasikha đã phải lòng - nàng Bhadda Suriyavaccasa, con gái của Gandharva Timbaru. Đức Phật tán dương âm nhạc và bài hát của Gandharva này và hỏi anh về bài thơ đó. Pancasikha đã thú nhận rằng khi Đức Phật còn đang thiền định dưới cây Ajapala nirgodba, trước khi Ngài giác ngộ, anh đã gặp Suriyavaccasa cùng với cha mình biểu diễn nhảy múa trước Sakka, anh đã yêu nàng; nhưng Suriyavaccasa lại yêu mến Sikhandi, con trai của Matali. Pancasikha ngay sau đó đã sáng tác một bài hát dành tặng nàng. Khi Suriyavaccasa đến Sudhammasabha vào dịp Sakka đã tám lần tự nguyện tán dương công đức của Đức Phật, cô đã nghe và rất thích lời ca, ý nhạc của bài hát và bằng lòng lấy Pancasikha. Như một sự đền đáp Pancasikha vì đã gửi lời thỉnh cầu của ông đến Đức Phật, Sakka ban phúc cho đám cưới của họ.
Trong kinh Janavasabha cũng như kinh Mahagovinda (Digha Nikaya/Trường bộ) nói rằng khi Brahma Sanankumara xuất hiện trước các chư vị thần của Tavatimsa và tự biến hóa mình thành hình thể Pancasikha. Buddhaghosa (Phật âm, Cao tăng Trung Ấn Độ, người ở Phật-đà-già-da nước Ma-kiệt-đà, sống vào thế kỷ V) đã giảng giải rằng tất cả các deva đều yêu quý Pancasikha và mong ước được đồng nhất với anh (chú giải Digha Nikaya/Trường bộ). Kinh Mahagovinda, Pancasikha được biểu trưng như là sự truyền đạt đến Đức Phật bản tường trình đầy đủ về những gì đang diễn ra trong các nhóm deva, khi Sakka nói những lời tán dương Đức Phật.
Không có sự giải thích thỏa đáng nào về chú giải các tên Pancasikha. Buddhaghosa (chú giải Digha Nikaya/Trường bộ) nói rằng Pancasikha được sinh ra như một con người và khi chưa là một đứa trẻ đã có 5 xoáy trên đầu (pancaculakadaraka kale), và trở thành thủ lĩnh của những người chăn bò. Điều đó thậm chí còn duy trì đến ngày nay: ở Ceylon, những đứa bé trai buộc vài chỏm tóc trên đầu. Nhưng ở một nơi (chú giải Digha Nikaya/Trường bộ) Buddhaghosa nói rằng đó là một cách để lăng mạ nam nhân cạo đầu, để lại 5 chỏm tóc (garahaya ti pancasikha mundakaranam). Và, lại một lần nữa (chú giải Samyutta Nikaya, Tương ưng bộ), đề cập rằng Sanankumara giữ lại tuổi trẻ bất diệt của mình bởi trong một tiền kiếp, Sanankumara đã đạt đến thiền định (jhana) khi chưa là một chàng trai (pancasikhakumarakale).
2. Một quan niệm phổ biến khác là coi Càn Thát Bà là thân trung hữu ở cõi Dục: Chúng sanh ở cõi Dục sau khi chết, trong thời gian thần thức chưa tìm được nhục thể mới, thì chỉ dùng mùi hương làm thức ăn cho nên có tên gọi như thế.
Trung hữu cũng viết là trung uẩn (trung ấm). Trung ấm là thân mạng ở khoảng giữa. Người ta sống rồi thác. Sau khi thác rồi mà chưa sinh lại, trong thời gian ấy, ở âm cảnh, người ta vẫn có đủ ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), tức có đủ thân mạng, đó gọi là Trung ấm. Đây là nói những người thọ sanh vào cõi Dục, cõi Sắc; còn người thọ sanh vào cõi Vô sắc thì không có thân Trung hữu. Trong phái Tiểu thừa, Câu-xá tông nhận định có Trung ấm, Thành thật tông thì không công nhận. Trong Đại thừa, có tông nhận định là có, có tông nhận định là không có Trung ấm. Trong kinh Niết-bàn, quyển 29, về vấn đề Trung ấm, có nói: Nhục nhãn chẳng thấy được Trung ấm; phải có Thiên nhãn mới thấy được. Thân Trung ấm có ba cách ăn: 1/Tư thực: Suy nghĩ đến món ăn, tức thì ăn no; 2/Xúc thực: Đụng tới món ăn, tức thì ăn no; 3/Ý thực: Trong ý cho là thức ăn, tức thì ăn no. Nói chung, trạng thái trung hữu có đến “ngũ danh” - tức năm tên gọi khác nhau. Ở đây, việc đồng nhất Trung hữu với Càn Thát Bà là căn cứ trên tên gọi “Thực hương”(18).
3. Càn Thát Bà là từ để gọi các nghệ nhân Tây vực theo cách sinh hoạt của họ. Vì họ không phụng sự vương hầu, không kinh doanh hành nghề sống, chỉ nghe mùi thơm thức ăn trong nhà người, liền đến trước cửa trỗi các kỹ nhạc mà cầu xin, cho nên có tên này. Bên Ấn Độ, ngày xưa người ta gọi những kép hát, đào hát là Càn Thát Bà. Điều này cho thấy công năng diễn xướng âm nhạc của Càn Thát Bà được đặc biệt thiên trọng hơn các công năng linh diệu khác thường được bảo lưu trong tín niệm Phật giáo(19).
Càn Thát Bà thiên là tôn danh vị thần hộ pháp của Phật giáo. Vị thần này cũng chuyên ăn hương thơm, phi hành ở trên không trung. Tương truyền khi thắp hương, trong giây lát hương khí tỏa ra, khiến cho thần được sinh hóa. Do chuyên đi tìm mùi hương, ăn mùi thơm nên có tên như vậy. Chính tính chất tế nhị không nắm bắt được nhưng có thật của hương thơm khiến hương thơm gắn liền một cách tượng trưng của thế lực vô hình. Ở đây, Càn Thát Bà được gọi là Hương thần là biểu tượng thiêng của “tính chất tế nhị”: không nhận thấy, nhưng bàng bạc khắp cả. Đã là thần nên vị kỹ nhạc thiên này có quyền năng.
Trong Mật giáo cũng có một vị Càn Thát Bà Thần Vương, tên đầy đủ là “Chiên Đàn Càn Thát Bà Thần Vương”, là thần bảo vệ thai nhi và trẻ em. Vị thần này có thể bắt trói được 15 ác quỷ. Về hình tượng, thần khoác giáp trụ, đội mũ sư tử, thân màu đỏ sẫm, tay trái cầm viên ngọc như ý, tay phải cầm cây kích ba khúc, và 15 chiếc đầu quỷ, hai bên có trời An Ma Lợi Chi Thiên và Ha Lợi Đế Mẫu vây quanh 15 con ác quỷ. Vị thần này còn là một trong 28 bộ chúng của Đức Quan Âm(20).
Ngoài ra, tương truyền khi thai nhi được sinh ra, nếu có người tụng đọc Càn Thát Bà Thần Vương Đà-la-ni, thành tâm cầu nguyện thì quỷ thần không thể đến quấy nhiễu. Nếu đặt lấy vị thần vương này làm pháp tu bản tôn gọi là Đồng tử Kinh Pháp, Càn Thát Bà pháp(21).
Càn Thát Bà trong mỹ thuật Việt Nam
Trong mỹ thuật điêu khắc Champa, nhạc công Gandharva thấy ở Trà Kiệu mang trang sức dạng hạt lớn, mũ miện trang trí hình hoa lớn và cho thấy rõ búi tóc ngắn, tay cầm đàn vina có một hộp tăng âm đặt tì vào ngực(22). Đối với mỹ thuật người Việt thì di vật thời Lý thấy có đồ án hình các nhạc công (Gandharva) được chạm ở bốn cạnh bên của một số tảng đá kê chân cột ở chùa Phật Tích. Dàn nhạc gồm 10 nhạc công chia làm hai nhóm đứng thành hai phía, ở giữa là lá đề to biểu tượng cho nhà Phật. Lá đề có viền quanh các hoa văn dấu hỏi, còn giữa là ba bông hoa cúc, còn đỡ phía dưới là một đài sen. Các tiên nữ nhạc công ở đây đều được chạm theo lối nhìn hơi chếch nghiêng, điểm tô thêm những đao lửa cuộn xoắn như những dải lụa mềm mại và phía dưới là các hoa văn sóng nước.
Nửa bên trái của dàn nhạc, từ trái qua phải, chúng ta thấy: người đang cầm dùi đưa lên trong động tác đánh trống. Đây là loại trống da có hai vòng đai chắc chắn. Tiếp đó là người đang dang rộng tay kéo nhị, cần kéo dài, phía trên được uốn cong lại. Tiếp đến nữa là người đang khảy đàn tranh. Người thứ năm là người biểu diễn sênh.
Nửa bên phải chúng ta thấy tiếp tục có người đang đưa tay dập phách. Tiếp đến là người đang nắn nót đánh đàn tỳ bà. Người thứ ba cũng đang chụm mồm thổi sáo nhưng đây là loại sáo dọc (tiêu). Người thứ tư đang gảy đàn nguyệt. Các nhạc công này đã dùng tay trái để gảy đàn. Cuối cùng là người đang vỗ trống. Đây là loại trống thắt eo giữa được các nhạc sĩ gọi đó là “phong yêu cổ”. Trống này treo ngang ngực và hai tay vỗ hai mặt.
Thời Trần, một di tích duy nhất còn lại là các mảng chạm tiên nữ nhạc công ở chùa Thái Lạc. Hiện ở chùa còn lưu giữ được một bức chạm ba tiên nữ đánh đàn trong mây và 3 bức chạm khác mô tả các tiên nữ vừa cưỡi phượng vừa biểu diễn các loại nhạc cụ khác nhau.
Đồ án về hình ba tiên nữ đánh đàn trong mây trên một cốn gỗ bên phải chùa. Ba tiên nữ được mô tả theo cách nhìn chính diện. Cả ba ngồi xếp bằng thu trên mình một nhạc cụ khác nhau. Từ trái qua phải có: người đánh đàn nguyệt, người đánh đàn tranh và người đánh đàn tỳ bà.
Đồ án với hình các tiên nữ nhạc công vừa cưỡi phượng vừa biểu diễn âm nhạc là ba bức chạm đều nằm trên các ván lá gió bên trái tòa thượng điện chùa. Mỗi bức đều có hai nhạc công cưỡi hai chim phượng. Chim phượng chạm theo lối nhìn nghiêng còn các tiên nữ cưỡi trên lưng để chân sang hai bên, nhưng thân và đầu lại quay ngang ra theo lối nhìn chính diện. Riêng tiên nữ chơi nhị thì hai chân lại để về một phía như kiểu ngồi vắt chân chữ ngũ. Nhạc cụ của họ gồm: một đôi thổi tiêu và kéo nhị, một đôi đánh đàn tỳ bà và đàn nguyệt, đôi còn lại đánh đàn tranh và thổi sáo... Các tiên nữ ở đây đều có hai dải lụa chạy dài cùng nhiều đám mây hình khánh bao quanh với hoa dây cánh sen cách điệu và hoa văn sóng nước góp phần tạo cảnh giới trang nghiêm cho toàn cảnh(23) .
Những đồ án hoa văn nhạc công (Gandharva) nói trên đều được các nhà nghiên cứu gọi là tiên nữ trong khi trong Hindu giáo và Phật giáo đều cho rằng Gandharva là nam thần. Ở đây, có điều đáng lưu ý là trong trò diễn “Con đĩ đánh bồng” ở Việt Nam ta luôn là một nam giả gái dùng hai bàn tay vỗ loại trống thắt lưng eo giống với hình tượng trong đồ án nhạc công thời Lý ở chùa Phật Tích. Phải chăng đây là dấu vết còn sót lại của Gandharva nam thần... giả trang là nữ? Mặt khác, ở Càn Thát Bà thành trong truyện Nhất dạ trạch (đầm/chằm một đêm) của Chử Đồng Tử thì chư vị Hương thần Gandharva không thấy nói đến mà truyện lại ghi rằng: … “Tiên đồng, ngọc nữ, tướng sĩ thị vệ la liệt trước mắt”(24). Lại nữa, phải chăng Hương thần Gandharva đã được Việt-Hán hóa đến mức triệt để như vậy?
Chú thích
(1), (4), (12) Sir Monier Monier-Williams, A Sanskrit-English dictionary: etymologically and philologically arranged.
(2), (3) John Dowson, M.R.A.S., Classical dictionary of Hindu mythology and religion, geography, history, and literature, Rupa.Co, 2004.
(5) Xem, Catherine Benton, God of desire: Tales of Kamadeva in Sanskrit story literature, Suny, 2006.
- Johann Jakob Meyer, Sexual life in ancient India: a study in the comparative history of Indian culture, Motilal Banarsidass, 1989.
(6) Krishna Dwaipayana Vyasa, Mahabharata, bản dịch tiếng Anh của Kisari Mohan Ganguli.
(7),(15),(16) Đoàn Trung Còn, Phật học từ điển, NXB. Tổng hợp TP.HCM, 2011.
(8),(21) Vũ Thỏa, 1.000 vấn đề về Mật tông, Nguyên Ninh Cống Bố, Sen Thu (dịch), NXB. Thời Đại, 2011.
(9),(20) Lão Tử - Thịnh Lê (chủ biên), Từ điển Nho-Phật-Đạo, NXB. Văn Học, 2001.
(10),(13),(18),(19) Phật Quang đại từ điển, Tu viện Huệ Quang, 1995.
(11) Xem thêm, Huỳnh Ngọc Trảng, Đọc lại Chử Đồng Tử truyện, Nguyệt san Giác Ngộ số 153-12.2008, tr.53-63.
(14) Louis Frédéric, Tranh tượng & thần phổ Phật giáo, NXB. Mỹ Thuật, tr.426.
(17) Pali Kanon: Pali proper names.
(22) Emmanuel Guillon, Cham art, River Books ltd, 2001, tr.126.
(23) Nguyễn Du Chi, Hoa văn Việt Nam từ thời tiền sử đến nửa đầu thời kỳ phong kiến, Trường Đại học Mỹ Thuật Hà Nội - Viện Mỹ Thuật, NXB.Mỹ Thuật, 2003.
(24) Vũ Quỳnh - Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái. Bản dịch của Đinh Gia Khánh - Nguyễn Ngọc San. NXB. Văn Học, 1990.
Huỳnh Thanh Bình
Ý kiến của bạn:
<>
© 2008-2019 Bản quyền thuộc về Báo Giác Ngộ
https://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=1AC249
Tết ông Công ông Táo năm 2019 vào ngày nào, thứ mấy?
https://www.giadinhmoi.vn › Tin tức
Translate this page
2 days ago - Nhưng được Việt hóa thành sự tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị ... dân gian Việt Nam có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, ... Cúi xin Tôn thần gia ân xá tội cho mọi lỗi lầm trong năm qua gia chủ chúng con sai phạm.
Tết ông Công ông Táo năm 2019 vào ngày nào, thứ mấy?
14/01/2019 07:50
Tết ông Công ông Táo là ngày lễ quan trọng trong văn hóa người Việt. Vậy Tết ông Công ông Táo năm 2019 là ngày nào, thứ mấy?
XEM THÊM
Mâm cỗ cúng ông Công ông Táo gồm những món gì?
Cúng ông Công ông Táo ban ngày hay buổi tối?
Cúng ông Công ông Táo trên bàn thờ hay trong bếp mới đúng?
Tết ông Công ông Táo 2019 là ngày bao nhiêu?
Tết ông Công ông Táo 2019 năm nay rơi vào thứ Hai, ngày 28/1/2019.
Tết ông Công ông Táo là nét đẹp trong văn hóa truyền thống của người Việt
Tết ông Công ông Táo là nét đẹp trong văn hóa truyền thống của người Việt
Ý nghĩa ngày Tết ông Công ông Táo
Thần Táo Quân trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc. Nhưng được Việt hóa thành sự tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo quân hoặc ông Táo.
Tích của người Việt kể rằng, Thị Nhi có chồng là Trọng Cao. Tuy ăn ở mặn nồng tha thiết với nhau, nhưng mãi không có con. Vì vậy, dần dà Trọng Cao hay kiếm chuyện xô xát dằn vặt vợ.
Một hôm, chỉ vì một chuyện nhỏ, Cao gây thành chuyện lớn, đánh Thị Nhi và đuổi đi. Nhi bỏ nhà, lang thang đến một xứ khác và sau đó gặp Phạm Lang. Phải lòng nhau, hai người kết thành vợ chồng. Phần Trọng Cao, sau khi nguôi giận thì quá ân hận, nhưng vợ đã bỏ đi xa rồi. Day dứt và nhớ quay quắt, Cao lên đường tìm kiếm vợ.
Ngày này qua tháng nọ, tìm mãi, hết gạo hết tiền, Cao phải làm kẻ ăn xin dọc đường. Cuối cùng, may cho Cao, tình cờ tìm xin ăn đúng nhà của Nhi, nhằm lúc Phạm Lang đi vắng. Nhi sớm nhận ra người hành khất đúng là người chồng cũ. Nàng mời vào nhà, nấu cơm mời Cao. Đúng lúc đó, Phạm Lang trở về. Nhi sợ chồng nghi oan, nên giấu Cao dưới đống rạ sau vườn.
Thần Táo Quân trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc.Thần Táo Quân trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc.
Chẳng may, đêm ấy, Phạm Lang nổi lửa đốt đống rạ để lấy tro bón ruộng. Thấy lửa cháy, Nhi lao mình vào cứu Cao ra. Thấy Nhi nhảy vào đống lửa, Phạm Lang thương vợ cũng nhảy theo. Cả ba đều chết trong đám lửa.
Thượng đế thương tình thấy 3 người sống có nghĩa có tình nên phong cho làm vua bếp hay còn gọi là Định phúc Táo Quân và giao cho người chồng mới là Thổ Công trông coi việc trong bếp, người chồng cũ là Thổ Địa trông coi việc trong nhà, còn người vợ là Thổ Kỳ trông coi việc chợ búa. Không những định đoạt may, rủi, phúc họa của gia chủ, các vị Táo còn ngăn cản sự xâm phạm của ma quỷ vào thổ cư, giữ bình yên cho mọi người trong nhà.
Hàng năm, đúng vào ngày 23 tháng Chạp là ngày Táo Quân lên chầu trời báo cáo tất cả việc làm tốt và chưa tốt của con người trong một năm để Thiên đình định đoạt công tội, thưởng phạt phân minh cho tất cả loài người.
Tết ông Công ông Táo năm 2019 vào ngày nào, thứ mấy? 1
Xem thêm: Cúng ông Công ông Táo trước ngày 23 được không?
Phong tục cúng ông Công ông Táo
Người Việt quan niệm ba vị Thần Táo (hay vua Bếp) định đoạt cát hung, phước đức cho gia đình, phước đức này do việc làm đúng đạo lý của gia chủ và những người trong nhà. Với mong muốn Thần Bếp sẽ "phù hộ" cho gia đình mình được nhiều may mắn, nên hàng năm Tết đến. Vào ngày 23 tháng Chạp, người ta thường làm lễ tiễn đưa Táo Quân chầu trời một cách long trọng.
Lễ vật cúng Tết ông Công ông Táo có những gì?
Lễ vật cúng Táo công gồm có: mũ ông Công ba cỗ hay ba chiếc: hai mũ đàn ông và một mũ đàn bà. Mũ dành cho các ông Táo thì có hai cánh chuồn, mũ dành cho Táo bà không có cánh chuồn.
Bàn thờ Táo Quân được đặt ở nơi trang nghiêm nhất, trên có bài vị thờ viết bằng chữ Hán. Ngoài ra còn có vàng mã khác, hương, hoa, oản, quả, cau, trầu. Một mâm cỗ được chuẩn bị cẩn thận, đầy đủ.
Những đồ vàng mã sẽ được đốt đi sau lễ cúng ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp cùng với bài vị cũ. Sau đó người ta lập bài vị mới cho Táo Quân. Sau khi cúng Táo Quân, người ta đem hóa mã.
Ngoài ra, để các ông và các bà Táo có phương tiện về chầu trời, ở miền Bắc người ta còn cúng 3 con cá chép còn sống thả trong chậu nước, ngụ ý cá sẽ biến thành Rồng đưa ông Táo về trời. Cá chép này sẽ được "phóng sinh" (thả ra ao hồ hay ra sông) sau khi cúng.
Ở miền Trung, người ta cúng một con ngựa bằng giấy với yên, cương đầy đủ. Còn ở miền Nam thì giản dị hơn, chỉ cúng mũ, áo và đôi hia bằng giấy.
Tùy theo từng gia cảnh, ngoài các lễ vật chính kể trên, người ta hoặc làm lễ mặn (với xôi gà, chân giò luộc, các món nấu nấm, măng...) hay lễ chay (với trầu cau, hoa, quả, giấy vàng, giấy bạc...) để tiễn Táo Công về trời.
Nên cúng ông Công ông Táo vào ngày nào, giờ nào?
Lễ cúng ông Táo phải tiến hành đúng ngày 23 tháng chạp. Khoảng thời gian tốt nhất từ 9h đến 12h, đây là điểm các thần quy tụ để chuẩn bị về trời. Chính vì thế các gia đình phải tuân thủ theo đúng giờ và ngày nhất định.
Bài cúng ông Công ông Táo đúng chuẩn phong tục
Tết ông Công ông Táo năm 2019 vào ngày nào, thứ mấy? 2
Bài cúng ông Công, ông Táo: Theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam - NXB Văn hóa Thông tin
Nam mô a di đà Phật!
Nam mô a di đà Phật!
Nam mô a di đà Phật!
Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương
Con kính lạy Ngài đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.
Tín chủ (chúng) con là: ……………
Ngụ tại:…………
Hôm nay, ngày 23 tháng Chạp tín chủ chúng con thành tâm sắp sửa hương hoa phẩm luật, xiêm hài áo mũ, kính dâng tôn thần. Thắp nén tâm hương tín chủ con thành tâm kính bái.
Chúng con kính mời ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân hiển linh trước án hưởng thụ lễ vật.
Cúi xin Tôn thần gia ân xá tội cho mọi lỗi lầm trong năm qua gia chủ chúng con sai phạm. Xin Tôn thần ban phước lộc, phù hộ toàn gia chúng con, trai giá, già trẻ sức khỏe dồi dào, an khang thịnh vượng, vạn sự tốt lành. Chúng con lễ bạn tâm thành, kính lễ cầu xin, mong Tôn thần phù hộ độ trì.
Nam mô a di đà Phật!
Nam mô a di đà Phật!
Nam mô a di đà Phật!
(Thông tin trong bài chỉ mang tính chất tham khảo)
https://www.giadinhmoi.vn/tet-ong-co...ay-d18611.html
Ngũ Tự Gia Thần - diembaovn.info
https://diembaovn.info/tags/ngu-tu-gia-than/467808.html
Translate this page
Theo Lễ Ký thì gia thần là các vị thần linh cai quản gia đình. ... kính lạy ngài Bản gia Thổ địa Long Mạch Tôn Thần – Con kính lạy các ngài Ngũ phương, N ... Kính cáo: Liệt vị Tôn thần, Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tự Gia thần ...
https://diembaovn.info/tags/ngu-tu-gia-than/467808.html
BÍ ẨN CỦA SỐ ĐIỆN THOẠI VÀ NHÂN SINH – TẢN MẠN
2 years ago
Thấy mấy hôm nay có vụ lùm xùm về siêu sim. Có em trong nhóm DDH cũng hỏi quan điểm của tôi về siêu sim. Câu chuyện cũng hay. Vậy nên hôm nay tôi cũng có mấy điều chia sẻ về một chút về quan điểm của tôi về số điện thoại.
Theo quan điểm của cổ nhân thì tất cả vạn sự tồn tại trong vũ trụ này dù là hữu hình hay vô hình đều có nối kết với nhau và tồn tại trong một trường thống nhất, được gọi là trường vũ trụ. Hay như cổ nhân gọi là Đạo. Thứ để liên kết chúng lại với nhau thì gọi Khí.
Bất kỳ một chuỗi số nào cũng có tiếng nói của nó. Và người xưa dùng rất nhiều học thuật để truy nguyên và diễn dịch ngôn ngữ của chúng thành ngôn ngữ của chúng ta. Người phương Tây thì dùng pháp Thần Số. Người Á Đông thì dùng quẻ Dịch hoặc các môn Diễn Số…Mỗi chuỗi số được hình thành và được tâm thức con người lặp đi lặp lại đều có sức mạnh của nó. Ở Trung Hoa hiện giờ còn có môn phái kết hợp niệm chuỗi số để trị liệu bệnh tật. Vậy nên đương nhiên là một số điện thoại để chúng ta sử dụng trong các hoạt động hiện giờ chắc chắn sẽ tạo ra anh hưởng tốt/xấu đối với chúng ta.
Cách đây cũng lâu rồi, bản thân tôi đổi sang số điện thoại mang ý nghĩa “bạn tốt” – quả thật là từ ngày dùng nó những người bạn không phù hợp với tôi nữa dần dần xa lánh và không liên lạc nữa.
Tôi lại có một người Đạo huynh, lúc trước dùng phải số điện thoại “tranh biện” thì hễ câu nói nào của anh thốt ra thì cũng gây ra sự tranh cãi. Chỉ lời góp ý nhỏ nhẹ thì cũng tạo ra tranh luận lớn cho sau này. Tình duyên cũng khá lận đận. Từ ngày đổi qua dùng số điện thoại “tình cảm” kết hợp với pháp hoá giải vận xấu thì đúng là có người dắt vợ tới trao tay.
Lại có người khách hàng dùng số điện thoại với ý nghĩa “giao tế” thì từ ngày đó sự nghiệp sales của anh ta ngày một lên hương. Tuy nhiên như tôi lưu tâm cẩn thận thời gian nào trong năm sẽ vướng thị phi thì quả thật đúng thời gian đó hằng năm thường hay gặp vạ miệng…
Cũng vậy, rất nhiều chuyện tương tự xảy ra ứng nghiệm.
Ngoài ra có một điều khá thú vị vận trình chúng ta như thế nào thì thường dễ bị cuốn hút vào số điện thoại đó. Tức là số điện thoại chọn người chứ không phải người chọn số điện thoại. Vậy nên có một lời khuyên của tôi dành cho các bạn khi muốn chọn một số điện thoại đó là phải tĩnh tâm, dưỡng trí, tâm tư an yên rồi hẳn chọn lựa. Như vậy mới thật sự chiêu dụ được số điện thoại tốt đến với mình.
Còn về siêu sim đang bàn cãi ư. Thật ra siêu sim xét theo con mắt của người đời là chuỗi số đẹp. Nhưng con mắt của một người học thuật Âm Dương thì lại là chuỗi số không đến mức “khủng khiếp” vì độ thiên lệch trong mức năng lượng của chuỗi số quá lớn.
Tuy siêu sim này có khả năng kêu gọi “mối giao tình” nhưng sợ là người sở hữu phải vất vả lắm khi gìn giữ cho được lâu dài vì năng lượng bức xạ, phát tán quá cao. Đã vậy chiếc điện thoại màu trắng đi kèm với cái sim này e lại là càng thêm không đúng cách.
Vài lời chia sẻ,
~ Tử Minh
http://www.dudoanhoc.com/tag/phuong-huong
TỬ MINH HƯỚNG DẪN CÁCH PHÁT HIỆN ÂM KHÍ TRONG NHÀ CỬA
2 years ago
Có một số thân hữu hỏi Tử Minh về cách làm sao để phát hiện trong nhà có Âm Khí nhiều hay không? Hay nói dân dã hơn là cách để phát hiện được trong nhà có những “hiện tượng lạ”gây bất lợi cho người ở trong nhà khi đi mua nhà để đỡ lầm lạc.
Câu hỏi này thật ra khá thú vị chắc chắn câu trả lời sẽ đem lại nhiều lợi ích cho mọi người vậy nên Tử Minh quyết định đăng ở đây một số phương cách để giúp cho mọi người có những quyết định bớt lầm lạc hơn.
Các cách phát hiện thì sẽ được Tử Minh lần lượt trình bày từ những cách đơn giản dễ dàng nhất cho đến những phương cách cao cấp & chuẩn xác nhất.
A) CÁC PHƯƠNG CÁCH ĐƠN GIẢN:
1) Sử dụng cảm giác:
- Thông thường khi đến một ngôi nhà mới nếu tự nhiên vừa bước vào nhà cảm thấy nổi da gà, thấy lạnh người, thấy nặng vai, thấy ngộp ngạt, thấy mệt mệt ấy là nhà có Âm Khí nhiều, không nên chọn lựa.
2) Sử dụng điềm báo:
- Bước vào ngôi nhà hoặc địa phận ngôi nhà tự nhiên có một thứ gì đó hư hỏng, úa tàn đập ngay vào mắt ta. Ví dụ khi bước vào sân vườn thì thấy ngay cây đang xanh tốt đột nhiên có một cây úa héo, lá khô vàng… Hoặc ngôi nhà sạch đẹp tự nhiên có một vết nứt hoặc gạch bong ra ở chân tường. Hoặc mọi thứ đều có vẻ hoàn hảo đột nhiên có tiếng rít khi mở cửa, cửa sổ hay cửa bị hóc… Đều là dấu hiệu báo trước có điểm Âm Khí bất thường trong nhà này.
3) Dùng thú cưng:
- Thông thường người xưa họ chọn lựa nhà cửa, đất đai thì thường sử dụng một con rùa để đặt trong gia trạch hoặc vùng đất đó để xem phản ứng của con rùa đó mà biết được vùng đó khí lực thế nào.
- Hiện giờ, theo Tử Minh không cần thiết phải dùng con rùa đâu các bạn ạ. Các bạn có thể sử dụng mèo hoặc chó mình nuôi trong nhà để mang theo đến ngôi nhà, khu đất mới đó. Nếu bạn thấy con vật cưng của mình nằm trườn trải lăn lộn hoặc chạy tung tăng một cách hạnh phúc thì còn gì bằng. Nếu thấy chúng có vẻ căng thẳng, quấn quanh bạn thôi và như sợ sệt, e dè một điều gì đó. Chắc chắn là không nên chọn lựa ngôi nhà/khu đất này rồi. Đơn giản quá phải không.
B) CÁC PHƯƠNG CÁCH CAO CẤP:
Nói là các phương pháp cao cấp vì tính chính xác & rõ ràng của chúng. Đồng thời phải thông qua việc rèn luyện mới có được.
1) Thông qua bàn tay:
- Dùng bàn tay thuận của mình. Chúng ta dùng ngón tay cái và ngón áp út kết thành một vòng tròn. Sau đó ta đến khu đất/ngôi nhà đó thì dùng tay còn lại cố gắng phá vòng tròn đó ra. Dùng một lực giữ tương tự như nhau nhưng nếu vòng tròn khó phá thì nơi đó năng lực khá tốt. Còn nếu vòng tròn yếu, dễ phá thì chứng tỏ nơi đó năng lực không tốt.
- Tại sao lại như vậy? Tại khí lực nơi đó sẽ tác động lên cơ thể chúng ta và khiến cơ thể chúng ta làm cho vòng tròn đó yếu hay mạnh.
2) Thông qua tu tập:
- Người thực hành Thiền Định hoặc tập luyện Khí Công một cách đúng đắn chắc chắn trực giác sẽ rất mạnh mẽ. Thông qua trực giác mạnh mẽ đó họ có thể nhìn xuyên suốt được khí lực trong một khu đất/ ngôi nhà để mà chọn lựa.
3) Thông qua các phương pháp của cổ thuật dự đoán:
- Người biết các môn học thuật về Dự Đoán thì chỉ đơn giản là dùng một quẻ Dịch để kiểm tra hoặc bấm một quẻ độn là có thể biết được khu đất đó tốt xấu ra sao. Âm Khí mạnh yếu thế nào và cách hoá giải. Đây cũng là cách Dự Đoán Học sử dụng.
4) Thông qua kiến thức và phương pháp tầm soát của khoá Khí Công Sinh Năng:
http://www.dudoanhoc.com/category/tu-minh
- Khoá Khí Công Sinh Năng là khoá học Khí Công ngắn ngày nhưng được thiết kế đặc biệt để giúp chúng ta phát hiện ra điểm bất thường trong ngôi nhà/ khu đất và ngay cả trong bản thân/ mối quan hệ của chúng ta đối với người khác. Do vậy phát hiện được điểm Âm Khí và thậm chí biết được Âm Khí đó tác động đến cơ thể chúng ta và những người trong đó như thế nào, ảnh hưởng đến nội tạng hay chức năng sinh lý nào của cơ thể. Đây chính là cách mà khoá Khí Công Sinh Năng hướng dẫn cho chúng ta.
Vài điều chia sẻ, hy vọng sẽ đem lại lợi ích cho tất cả mọi người.
~ Tử Minh
www.dudoanhoc.com
BÁT QUÁI –
Khóa đào tạo kỹ thuật viên chăm sóc xe chuyên nghiệp tại Tp. HCM
Share:
Nếu bạn đang tìm kiếm một nơi để học nghề detailing, để vững kỹ thuật, tự tin làm trọn vẹn một chiếc xe, để tích lũy, học hỏi kinh nghiệm về mở tiệm chăm sóc xe thì không nên bỏ qua bài này.
Tại Mobile Car Care, bạn học được những gì?
ĐÀO TẠO NGÀNH CHĂM SÓC XE #DETAILING TẠI #MOBILE_CAR_CARE
Thực học thực làm, đảm bảo được thời gian và số lượng xe thực tế nhiều, đa dạng.
Đảm bảo vững nghề ngay sau 1 khóa, tự tin ứng tuyển vào những trung tâm lớn hoặc mở ngay một tiệm riêng cho mình.
Được nhận vào làm việc tại các chi nhánh thuộc Mobile Car Care Việt Nam.
Cầm tay chỉ việc giúp bạn thành thạo mọi kỹ năng từ cơ bản đến nâng cao
GIÁO TRÌNH ĐƯỢC CẬP NHẬT THEO TÀI LIỆU CỦA HIỆP HỘI DETAILING QUỐC TẾ (IDA - INTERNATIONAL DETAILING ASSOCIATION) VỚI CÁC CHỦ ĐỀ:
1. Máy móc thiết bị
2. Hóa chất
3. Kính, chrome, kim loại và các phụ kiện trang trí khác
4. Sàn, thảm
5. Ghế: da, nỉ, simili…
6. Hiệu chỉnh bề mặt sơn, đánh bóng, phủ nano, ceramic
7. Mâm lốp
8. Vệ sinh bảo dưỡng khoang máy
9. Các thuật ngữ chuyên ngành detailing
10. An toàn lao động
Không những thế, những kiến thức chia sẻ quý báu từ các chuyên gia đầu ngành về mô hình quản lý nhà xưởng, vận hành bộ máy nhân sự cũng như phân tích chi phí đầu tư, chi phí vốn, lợi nhuận… sẽ là hành trang vô cùng quý báu để bạn có thể tích lũy cho bản thân mình.
Thời gian đào tạo chia làm 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1 (4 tuần - bắt buộc): Các quy trình chăm sóc xe - Lý thuyết và thực hành
+ Giai đoạn 2 (2 tuần - tự chọn): Thực hành, luyện tay nghề thực tế với các dòng xe từ bình dân đến cao cấp.
+ Giai đoạn 3: Thực hành và trải nghiệm thực tế tại các trung tâm thuộc hệ thống Mobile Car Care tại : Phú Nhuận, Vinh, Buôn Mê Thuột, Quy Nhơn.
Học phí: 10.000.000đ/ khóa (Đã bao gồm đồng phục và đồ nghề học tập)
Học viên có nhu cầu ở lại, vui lòng đóng thêm 1.500.000/ khóa
Ngoài ra, Do nhu cầu lớn, Mobile Car Care mở lớp Nghiệp vụ detailing cuối tuần**, bao gồm toàn bộ lý thuyết theo giáo trình như lớp thông thường và thực hành cơ bản, các kiến thức về thị trường detailing thế giới và tại Việt Nam, mô hình kinh doanh detailing center.
Thời gian: 5 ngày (thứ 7 & CN)
Học phí: 5.000.000đ giảm 30% còn 3.500.000đ
**Lớp sẽ khai giảng khi số lượng học viên đạt tối thiểu 4 học viên, và không quá 6 học viên/ lớp
Tham khảo thêm tại: https://goo.gl/drqFaM
☎ Liên hệ hotline: 0909 489 118 để được tư vấn cụ thể nhất!
Đăng kí ngay tại: https://goo.gl/MtUaqG
LIÊN HỆ
MOBILE CAR CARE VIỆT NAM
79/22 Lê Thị Riêng,P.Thới An,Quận 12,Tp.HCM
373 Nguyễn Kiệm, P9, Phú Nhuận, Tp. HCM
0282.2532.970
0901477741
https://mobilecarcare.vn/khoa-dao-ta...cm-119-25.html