-
Phải chăng Kinh Du già là bộ kinh đã cứu tôn giả A nan khỏi ngạ quỷ Diệm khẩu
Thứ sáu, 19/07/2019 | 14:30
Một đêm Anan thấy một ngạ quỷ tên Diệm Khẩu, hình thù gớm ghiếc, thân thể khô gầy, trong miệng lửa cháy, cổ họng như kim, đầu tóc rối bù, móng dài nanh nhọn, rất đáng kinh sợ. Ngạ quỷ nói với tôn giả rằng: Sau ba ngày nữa, mạng sống của thầy sẽ hết, liền thác sanh vào loài ngạ quỷ.
Tôn giả A Nan nhìn thấy ngạ quỷ Diệm Khẩu
Một thời đức Thế tôn ở tại Tăng già lam Ni câu luật na, (phía nam) thành Ca tỳ la vệ, cùng với chư vị tỳ kheo, chư vị bồ tát và vô số đại chúng hội họp, bao quanh trước sau đức Thế tôn để được Ngài thuyết pháp cho.
Bấy giờ, tôn giả A Nan đang độc cư nơi thanh vắng, nghĩ nhớ đến giáo pháp đã tiếp nhận. Ngay sau canh ba đêm ấy, tôn giả thấy một ngạ quỷ tên là Diệm Khẩu, hình thù gớm ghiếc, thân thể khô gầy, trong miệng lửa cháy, cổ họng như kim, đầu tóc rối bù, móng dài nanh nhọn, rất đáng kinh sợ. Đứng trước mặt tôn giả A Nan, ngạ quỷ nói với tôn giả rằng: Sau ba ngày nữa, mạng sống của thầy sẽ hết, liền thác sanh vào loài ngạ quỷ.
Lúc đó, tôn giả A Nan nghe lời đó rồi, tâm sanh hoảng sợ, hỏi lại ngạ quỷ: Này đại sĩ, sau khi tôi chết sẽ sanh làm ngạ quỷ, vậy thì tôi phải làm phương cách nào để thoát khỏi cái khổ ấy?
Ngay sau canh ba đêm ấy, tôn giả thấy một ngạ quỷ tên là Diệm Khẩu, hình thù gớm ghiếc, thân thể khô gầy, trong miệng lửa cháy, cổ họng như kim, đầu tóc rối bù, móng dài nanh nhọn, rất đáng kinh sợ. Đứng trước mặt tôn giả A Nan, ngạ quỷ nói với tôn giả rằng: Sau ba ngày nữa, mạng sống của thầy sẽ hết, liền thác sanh vào loài ngạ quỷ.
Ngay sau canh ba đêm ấy, tôn giả thấy một ngạ quỷ tên là Diệm Khẩu, hình thù gớm ghiếc, thân thể khô gầy, trong miệng lửa cháy, cổ họng như kim, đầu tóc rối bù, móng dài nanh nhọn, rất đáng kinh sợ. Đứng trước mặt tôn giả A Nan, ngạ quỷ nói với tôn giả rằng: Sau ba ngày nữa, mạng sống của thầy sẽ hết, liền thác sanh vào loài ngạ quỷ.
Khi ấy, ngạ quỷ bảo với tôn giả rằng: Sáng sớm ngày mai, nếu thầy có thể bố thí ẩm thực cho trăm ngàn na do tha hằng hà sa số ngạ quỷ, ngoài ra bố thí cho vô lượng chư vị Bà la môn tiên, các vị minh quan nghiệp đạo thuộc ty phủ Diêm la, các vị quỷ thần, những người đã chết lâu xa các loại ẩm thực thích ứng, mỗi vị sẽ nhận được 49 đấu ẩm thực được tính theo cái lượng đấu của nước Ma già đà, lại còn vì ngạ quỷ chúng tôi mà cúng dường Tam bảo, thì thầy được tăng thêm tuổi thọ, và bọn chúng tôi nhờ đó cũng được lìa cái khổ làm thân ngạ quỷ, sanh về cõi trời.
Tôn giả A Nan nhìn thấy ngạ quỷ Diệm Khẩu đây, thân hình gầy gò, khô khốc gớm ghiếc, trong miệng lửa cháy, cổ họng như kim, đầu tóc rối bù, lông dài móng nhọn, lại nghe lời kể khổ lòng rất hoảng loạn, lông thân dựng đứng.
Ngay khi mặt trời mới mọc, tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy, đi mau về chỗ Phật ở, đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh bên phải Ngài ba vòng, thân thể run rẩy mà bạch với đức Phật rằng:
- Bạch đức đại bi Thế tôn, cúi xin cứu khổ cho con! Sở dĩ con cầu cứu là vì canh ba đêm qua, lúc con đang kinh hành nơi thanh vắng để suy nghiệm những pháp đã lãnh thọ thì gặp ngạ quỷ Diệm Khẩu, nói với con rằng, qua ba ngày nữa con chắc phải mạng chung, sanh làm ngạ quỷ. Con có hỏi ngạ quỷ, làm cách nào để thoát cái khổ ấy, ngạ quỷ đáp rằng, nếu có thể bình đẳng bố thí ẩm thực cho trăm ngàn vạn ức na do tha hằng hà sa số khắp cả chư ngạ quỷ, vô lượng chư vị bà la môn tiên, các vị minh quan nghiệp đạo thuộc ty phủ Diêm la, các vị quỷ thần cùng các quyến thuộc, những người đã chết lâu xa, thì con mới được tăng thêm tuổi thọ. Bạch đức Thế tôn, con làm sao lo liệu đầy đủ vô lượng các loại ẩm thực như vậy?
Ông Anan bạch Phật cứu
Ông Anan bạch Phật cứu
Đức Phật dạy tôn giả A Nan rằng:
- Ông nay chớ sợ, ta nhớ đời quá khứ, trong vô lượng kiếp, có lúc ta làm thân bà la môn, thân cận vị đại bồ tát Quán Thế Âm, lãnh thọ được pháp đà la ni tên là Vô Lượng Uy Đức Tự Tại Quang Minh Như lai đà la ni.
Đức Phật bảo tôn giả A Nan:
- Nếu ông có thể khéo thọ trì Đà la ni này, gia trì 7 biến, có năng lực biến một món ăn thành nhiều món ẩm thực cam lộ, toàn là những món ngon thượng diệu, cung cấp no đủ cho trăm ngàn câu chi na do tha hằng hà sa số tất cả ngạ quỷ, các vị bà la môn tiên, các loại quỷ thần khác. Các chúng như vậy, mỗi vị nhận được 49 đấu ẩm thực được tính theo cái lượng đấu của nước Ma già đà. Món ăn thức uống này, số lượng đồng pháp giới, ăn hoài không hết, ai ăn cũng được quả thánh, giải thoát cái thân khổ sở.
Đức Phật dạy tôn giả A Nan:
- Nay ông thọ trì pháp Đà la ni này thì phước đức và thọ mạng của ông tăng trưởng. Loài ngạ quỷ được sanh thiên hay tịnh độ, làm thân người trời. Vị thí chủ chuyển hoá chướng duyên, tiêu trừ tai nạn, thêm tuổi sống lâu, hiện tại chiêu phước thù thắng, tương lai chứng quả Bồ đề. Hãy phát tâm rộng lớn vì cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp đến nay, khắp vì muôn loại chúng sanh ở tinh tú thiên tào, âm ty địa phủ, Diêm ma quỷ giới, côn trùng nhỏ nhít máy động, tất cả hàm linh mà bày ra sự cúng dường vô giá quảng đại, mời đến phó hội, để nương oai quang của Phật, gột rửa ruộng thân, được lợi thù thắng, hưởng vui nhân thiên. (Phát nguyện như sau:)
Nguyện xin chư Phật, Bồ tát Bát nhã, Kim cang, chư thiên, các quan nghiệp đạo, vô lượng thánh hiền, đem vô duyên từ mà chứng biết cho việc làm của con. Đó là chúng con vì muốn cho thệ nguyện càng thêm rộng lớn và đầy đủ, vì muốn giúp đỡ lớn lao những hữu tình không cho thối thất, vì phá tan các nghiệp chướng để được thanh tịnh, vì muốn tinh tấn mà cầu đạo vô thượng mau chóng thành tựu, vì muốn cứu tế chúng sanh trong các ác đạo vượt thoát biển khổ lên bờ bến kia.
Như trong kinh có nói: Trong bốn loài, sáu nẻo, vô biên thế giới, đều có những bậc chủ tể thống lãnh làm thượng thủ. Họ đều là các bậc Bồ tát an trụ trong bất khả tư nghì giải thoát, bằng từ bi và thệ nguyện mà phân hình bố ảnh, thị hiện hoá thân ở trong sáu đường cùng chịu khổ với chúng sanh, thiết lập những phương tiện (cứu độ) nhưng không bị phiền não và tuỳ phiền não xâm hại.
Họ biết rõ các nghiệp (nhân quả) nên có thể hướng dẫn chúng sanh phát khởi đạo ý, thường tự nhắc nhở trách hối nghiệp thân tạo tác, điều phục giáo hoá tất cả chúng sanh. Họ là đại đạo sư phá diệt ba đường, làm sạch con đường nghiệp quả, đoạn dứt dòng sông khát ái, chẳng xả hạnh nguyện mà làm thiện tri thức sống trong biển khổ, thành tựu lợi lạc cho các hữu tình chứng đại Niết bàn.
Đức Phật dạy tôn giả A Nan rằng: Nếu muốn thọ trì pháp thí thực thì phải y theo pháp Du già tam muội sâu kín của vị thầy A xà lê.
Nếu là hành giả muốn tu thì phải theo vị thầy Du già A xà lê mà học cách phát tâm vô thượng đại bồ đề, thọ tam muội giới, nhập đại mạn nã la, được pháp quán đảnh, vậy sau mới được chấp nhận thọ pháp ngũ trí quán đảnh của đức Đại Tỳ Lô Giá Na Như lai, tiếp nối ngôi vị của bậc A xà lê thì mới được truyền dạy. Không như vậy mà làm thì không được hứa nhận. Giả sử theo ý mà làm thì tự chuốc tai họa, thành ra lỗi ăn trộm giáo pháp, trọn không công hiệu. Nếu người đã thọ pháp quán đảnh, y theo thầy dạy, tu tập Du già, (đầy đủ) oai nghi pháp thức, có khả năng khéo phân biệt rõ ràng pháp tướng, thì gọi là Tam tạng A xà lê, là người được phép truyền trao giáo nghĩa Du già.
Cách thức lập đàn tràng và trì niệm thần chú chân ngôn
Nếu muốn tác pháp, thầy A xà lê trước phải tự hộ trì (thân tâm), các đệ tử cũng làm theo thầy như vậy. Định biết ngày rồi, kế chọn lựa tịnh địa như tinh hoa đại xá, rừng vườn nhàn tịnh, chỗ quỷ thần ưa thích, nơi suối chảy ao tắm, chỗ phước đức, sông ngòi núi hồ, hoặc nhà ở cũng được. Hãy như pháp mà tô xoa bằng bùn với nước thơm, tuỳ khả năng của thí chủ mà làm (đồ biểu mạn đà la) hình vuông hình tròn lớn nhỏ, ở bốn góc dựng phướng như pháp để trang nghiêm. Dùng tơ ngũ sắc đặt lên trên trái châu hoả diệm, lại ở trong trái châu an trí Phật đảnh đại bi tuỳ cầu tôn thắng: đông bắc là Phật đảnh, đông nam là đại bi, tây nam là tuỳ cầu, tây bắc là tôn thắng.
Tất cả ngạ qủi, Nhiều kiếp đói khát,Diêm la chư ty Thiên tào, địa phủ Minh quan nghiệp đạo, Bà la môn tiên, Người chết lâu xa Linh hồn đồng nội, Chư thiên hư không Cùng các quyến thuộc Khác loại quỷ thần.
Tất cả ngạ qủi, Nhiều kiếp đói khát,Diêm la chư ty Thiên tào, địa phủ Minh quan nghiệp đạo, Bà la môn tiên, Người chết lâu xa Linh hồn đồng nội, Chư thiên hư không Cùng các quyến thuộc Khác loại quỷ thần.
Lại ở nơi bốn cột trụ như pháp trang nghiêm một cách đặc thù đẹp đẽ những lá phan gọi là cát tường phan, khiến cho trong khoảng một trăm do tuần không có các việc suy tàn, tai nạn, tức là thành việc kết giới vậy. Gió thổi thân phan phất phới, đất rưới nước ướt thấm nhuần, tội chướng tiêu vong được đại phước lợi, mắt thấy tai nghe thảy đều lợi giúp.
Lại nữa, chu vi (của đàn tràng) treo những dãi lụa, phan phướng, quạt báu rủ phất để trân trọng bố cáo chư liệt vị. Lại nơi đàn tràng sắm sửa nước thơm A già đà, hoa mầu, đèn nến, hương xoa, ẩm thực, thuốc thang, các loại trái cây, cùng các món vật khác, đúng pháp làm sạch, chớ cho tiếp xúc với vật dơ bẩn.
Trang nghiêm xong rồi, tay cầm lư hương, đi quanh chiều phải để xem xét khắp cả đạo tràng, thấy chỗ nào chưa chu đáo đầy đủ thì phải an bài thêm nữa. Việc trang nghiêm xong, thầy và các đệ tử dùng nước thơm tắm gội, mặc y sạch mới. Từ trong ra ngoài đình chùa, quét dọn như pháp, đường đất rải hương nê, trang nghiêm như pháp. Đây gọi là tam muội da đàn.
Kinh Du già tập yếu cứu A nan Đà la ni Diệm khẩu quỹ nghi
Nơi đạo tràng, ngoài thì phô bày sự dâng cúng thanh tịnh, bản thân thì nghiêm chỉnh oai nghi mà làm lễ ba lạy, mặt day về hướng đông, quỳ xuống, tay cầm lư hương, làm pháp khải thỉnh:
Khải cáo mười phương
Hết thảy chư Phật
Bồ tát bát nhã
Kim cang, chư thiên
Và các nghiệp đạo
Vô lượng Thánh hiền
Con nay xin đem
Tâm từ bi lớn
Nương thần lực Phật.
Triệu thỉnh mười phương
Tận hư không giới
Ba đường, địa ngục
Và các cõi dữ,
Tất cả ngạ qủi
Nhiều kiếp đói khát,
Diêm la chư ty
Thiên tào, địa phủ
Minh quan nghiệp đạo
Bà la môn tiên,
Người chết lâu xa
Linh hồn đồng nội
Chư thiên hư không
Cùng các quyến thuộc
Khác loại quỷ thần.
Cúi xin chư Phật
Bồ tát bát nhã
Kim cang, chư thiên
Vô lượng Thánh hiền
Và các nghiệp đạo
Nguyện phóng oai quang
Thương hộ niệm thêm.
Khắp nguyện mười phương
Tận hư không giới
Thiên tào, địa phủ
Minh quan nghiệp đạo
Vô lượng ngạ quỷ
Cha mẹ nhiều đời
Người chết lâu xa
Bà la môn tiên,
Tất cả oán kết
Cậy nhờ tài mạng,
Các thứ tộc loại
Khác loại quỷ thần
Cùng các quyến thuộc,
Nhờ sức Như lai
Vào lúc sáng sớm [25]
Quyết định giáng lâm
Được thọ pháp vị
Như lai thượng diệu
Thanh tịnh cam lồ
Uống ăn đầy đủ
Thấm nhuần ruộng thân
Phước đức, trí tuệ
Phát tâm bồ đề
Xa lìa tà hạnh
Quy y Tam bảo
Hành đại từ tâm
Lợi ích hữu tình
Cầu đạo vô thượng
Chẳng thọ luân hồi
Các quả ác khổ
Thường sanh nhà lành
Lìa các sợ hãi
Thân thường thanh tịnh
Chứng đạo vô thượng.
Ba lần bạch, khải cáo như vậy xong rồi, liền vận tâm cúng dường hương, hoa, đăng, đồ lên chư Phật, bồ tát bát nhã, kim cang, chư thiên, vô lượng thánh hiền, các nghiệp đạo quan, cúi xin chư vị từ bi giáng lâm nhiếp thọ sự cúng dường nhỏ mọn. Lễ tam bái xong, nghinh thỉnh chư thánh chúng vào trong đàn tràng, rồi đi quanh chiều phải ba vòng, về lại chỗ cũ, mặt hướng về phía đông mà làm lễ thánh chúng. Đem hương, hoa, đăng, đồ, các món pháp sự mà cúng dường (lên thánh chúng). Kế đến là phát lộ những lỗi lầm đã tạo của thân tâm, sám hối xong, lại làm lễ thánh chúng. Lấy ngón tay áp út (ngón giới độ) của bàn tay phải nhúng vào hương xoa mà xoa vào lòng bàn tay trái (cùng vận tâm nhập quán) rồi mới có thể tác pháp.
Kế đến, kết ấn Phá địa ngục: Hai tay kết ấn kim cang quyền, hai ngón út (ngón đàn, tuệ) móc với nhau, hai ngón trỏ (ngón tấn, lực) tựa vào nhau, niệm tưởng đang mở cửa địa ngục. Ba lần tụng, ba lần kéo mở.
Chân ngôn (Phá địa ngục):
Nẵng mồ a sắt tra, thí đế nam, tam nhị da, tam một đà câu chi nam, án, nhạ ninh nẵng, phược bà tế, địa rị địa rị, hồng.
Do uy lực của ấn chú này mà bao nhiêu cửa ngõ địa ngục trong các cõi chúng sanh đến ở, theo ấn chú này mà đột nhiên tự mở.
Kế đến kết ấn Triệu thỉnh ngạ quỷ: Bàn tay trái làm dáng vô uý, bàn tay phải thẳng hướng về trước, bốn ngón hơi co, ngón trỏ thiệt cong.
Chân ngôn Triệu thỉnh:
Án, di nẵng di ca, ế sái duệ sái, bà phạ hạ.
Triệu thỉnh xong, ngạ quỷ khắp đều vân tập. Do lòng thương nhớ, ngợi khen, an ủi, khiến cho chư ngạ quỷ sanh lòng hoan hỷ mà khát ngưỡng với giáo pháp.
Kế đến kết ấn Triệu tội:
Hai tay kết ấn kim cang rồi đan kết lại với nhau, (bằng cách hai ngón út và hai ngón áp út giao nhau), hai ngón giữa thẳng đứng như kim, hai ngón trỏ cong như móc câu.
Chân ngôn Triệu tội:
Án, tát phạ bá bả yết rị sái noa, vĩ thú đà nẵng, phạ nhật ra đát pha, tam ma da, hồng, nhược.
Kế đến kết ấn Diệt tội (Tồi tội): Tám ngón tréo nhau vào trong, hai ngón giữa như vách đứng.
Chân ngôn Diệt tội:
Án, phạ nhật ra bá ni, vĩ sa phổ tra da, tát phạ bá da, mãn đà nẵng ninh, bát ra mô khất xoa da, tát phạ bá da nga để tỳ dược, tát phạ tát đát phạ, tát phạ đát tha nga đa, phạ nhật ra, tam ma da, hồng, đát ra tra.
Kế đến kết ấn (Phá) Định nghiệp: Hai tay kết ấn kim cang chưởng, hai ngón trỏ cong hai lóng, hai ngón cái chạm vào đầu hai ngón trỏ.
Chân ngôn Định nghiệp:
Án, phạ nhật ra yết ma, vĩ thú đà dã, tát phạ phạ ra xoa nhĩ, mẫu đà tát để duệ nẵng, tam ma da hồng.
Kế đến kết ấn Sám hối diệt tội: Hai tay kết ấn kim cang, các ngón tiếp giáp bên ngoài, hai ngón trỏ cong hai lóng, hai ngón cái chạm vào đầu hai ngón trỏ.
Chân ngôn Sám hối:
Án, tát phạ bá bả, vĩ sa phổ tra, da hạ nẵng, phạ nhật ra da, sa phạ hạ.
Chư Phật tử đã sám hối rồi, tội chứa nhóm trăm kiếp, một niệm quét sạch mau, như lửa đốt cỏ khô, cháy hết không còn dư.
Kế đến kết ấn Thí cam lộ của Diệu Sắc Thân Như lai: Sử dụng cánh tay trái chuyển cổ tay hướng ra trước, tay phải ngón trỏ búng ngón cái ra tiếng.
Chân ngôn Thí cam lộ:
Nẵng mồ tố lỗ bá da, đát tha nga đa da, đát nhĩ da tha: án, tố lỗ tố lỗ, bát ra tố lỗ, bát ra tố lỗ, sa phạ
Khi tụng chân ngôn, quán tưởng phía trên hai ngón giữa có một chữ noan, lưu xuất nước pháp cam lộ bát nhã, vung vẩy vào không trung, thì tất cả ngạ quỷ, dị loại quỷ thần khắp được mát mẻ, lửa dữ dứt mất, ruộng thân thấm nhuần, lìa tưởng đói khát.
Kế đến kết ấn Khai yết hầu:
Tay trái tưởng đang cầm hoa sen, tay phải ngón giữa búng ngón cái ra tiếng, theo lời tụng mà khảy móng tay.
Chân ngôn Khai yết hầu:
Nẵng mồ bà nga phạ đế, vĩ bổ la, nga đát ra dã, đát tha nga đa dã.
Các người con Phật, tôi nay vì quí vị làm ấn chú xong rồi thì cổ họng tự mở, thông suốt không ngại, lìa các chướng nạn.
Các người con Phật, tôi nay vì quí vị xưng tán danh hiệu cát tường của đức Như lai, có năng lực khiến cho quí vị thoát hẳn cái khổ ba đường tám nạn, thường làm đệ tử chân thật và thanh tịnh của Như lai.
Nam mô Bảo Thắng Như Lai.
Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu Bảo Thắng Như Lai, có năng lực khiến cho những trần lao nghiệp hoả của quí vị thảy đều tiêu diệt.
Nam mô Ly Bố Uý Như Lai.
Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu Ly Bố Úy Như Lai, có năng lực khiến cho quí vị thường được an lạc, thoát hẳn sợ hãi, thanh tịnh khoái lạc.
Nam mô Quảng Bác Thân Như Lai.
Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu Quảng Bác Thân Như Lai, có năng lực khiến cho quí vị không bị cái khổ cổ họng nhỏ như kim châm của loài ngạ quỷ, nghiệp báo lửa dữ không còn thiêu đốt, mát mẻ thông suốt, uống ăn món gì cũng như là vị cam lồ.
Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai.
Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu Diệu Sắc Thân Như Lai, có năng lực khiến cho quí vị chẳng chịu xấu xí, các căn đầy đủ, tướng tốt tròn đầy, thù thắng đoan nghiêm, trong cõi trời nhân gian là bậc nhất hơn hết.
Nam mô Đa Bảo Như Lai.
Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu Đa Bảo Như Lai, có năng lực khiến cho quí vị đầy đủ tài bảo, nhu cầu vừa ý, thọ dụng không hết.
Nam mô A Di Đà Như Lai.
Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu A Di Đà Như Lai, có năng lực khiến cho quí vị vãng sanh thế giới cực lạc ở phương Tây, hoa sen hoá sanh, vào bất thối địa.
Nam mô Thế Gian Quảng Đại Uy Đức Tự Tại Quang Minh Như lai.
Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu Thế Gian Quảng Đại Uy Đức Tự Tại Quang Minh Như lai, có năng lực khiến cho quí vị thu hoạch được năm thứ công đức: một là trong thế gian là bậc đệ nhất so với hết thảy; hai là có được con mắt bồ tát, thân đoan nghiêm thù thắng; ba là uy đức quảng đại vượt qua tất cả thiên ma ngoại đạo, như mặt trời chiếu thế gian, lộ bày trên biển lớn, công đức thật cao dày; bốn là được tự tại lớn, hướng tới như ý, như chim bay trong không trung không có trở ngại; năm là được kiên cố lớn, ánh sáng trí tuệ, thân tâm sáng suốt như ngọc lưu ly.
Các người con Phật, bảy đức Như Lai đây dùng năng lực của thệ nguyện mà cứu giúp chúng sanh lìa xa phiền não, thoát khổ ba đường, an ổn thường lạc. Một phen xưng danh hiệu của các đức Như Lai đây thì ngàn đời lìa khổ, chứng đạo vô thượng.
Kế đến cùng các vị quy y Tam bảo:
Quy y Phật, đấng phước tuệ vẹn toàn.
Quy y pháp, đạo thoát ly tham dục.
Quy y tăng, chúng đáng được tôn kính.
Các người con Phật, quy y Phật rồi, quy y pháp rồi, quy y tăng rồi.
Các vị đã nương tựa Tam bảo rồi, hãy như pháp kiên định hộ trì.
Kế đây vì các vị phát tâm bồ đề, các vị hãy lắng nghe.
Kết ấn kim cang chưởng, hai ngón giữa như cánh sen, đưa ấn ngang trên tim, chân ngôn rằng:
Án, mặc địa tức đa, mẫu đát bả na, dã nhị.
Nay vì các vị phát tâm bồ đề rồi, các người con Phật nên biết, tâm bồ đề đó từ tâm đại bi phát khởi, là chánh nhân thành Phật, là căn bản của trí tuệ, có năng lực phá trừ vô minh phiền não, ác nghiệp, chẳng bị nhiễm cảnh (lôi kéo) phá hoại.
Kế đến vì các vị kết ấn Truyền thọ tam muội da giới: Hai tay kết ấn kim cang đan kết lại với nhau (bằng cách hai ngón út, hai ngón áp út và hai ngón trỏ úp lên nhau), hai ngón giữa thẳng đứng như kim.
Chân ngôn (Tam muội da giới):
Án, tam muội da, tát đát noan.
Nay tôi truyền thọ tam muội da giới cho các vị rồi, từ nay trở đi, các vị vào địa vị của Như lai, thật là đệ tử của Phật, từ pháp hoá sanh, được pháp phần của Phật.
Kế đến kết ấn Vô Lượng Uy Đức Tự Tại Quang Minh Như lai: Tay trái tưởng đang cầm pháp khí, tay phải ngón giữa và ngón cái búng khảy với nhau, tưởng trong lòng bàn tay trái có một chữ noan, tuôn ra vô số các loại pháp thực cam lộ.
Chân ngôn Thí thực:
Án, tát phạ đát tha nga đa, phạ lộ chỉ đế, noan, bà ra bà ra, tam bà ra, tam bà ra, hồng.
Này các người con Phật, nay cùng các vị kết ấn chú rồi, biến thức ăn này thành vô lượng thực, lớn như núi Tu di, lượng đồng với pháp giới, trọn chẳng thể hết.
Lại dùng thủ ấn trước mà tụng chân ngôn (Nhũ hải) rằng:
Nẵng mồ tam mãn đa một đà nẫm, noan.
Cách thức lập đàn tràng và trì niệm thần chú chân ngôn
Cách thức lập đàn tràng và trì niệm thần chú chân ngôn
Này các người con Phật, nay cùng các vị kết ấn chú rồi, do oai lực gia trì của ấn chú đây, cùng tưởng nơi thủ ấn tuôn ra vị cam lộ làm thành biển sữa, chảy rưới pháp giới, khắp giúp các vị và hữu tình sung túc no đủ.
Bấy giờ, hành giả liền dùng tay phải cầm đồ đựng cam lộ, mặt hướng về phương đông, đứng viết (chữ noan) ở trước đàn tràng (hoặc viết trên đất sạch, trên tảng đá lớn, trên bồn gốm đựng nước sạch được gọi là Vu lan bồn, hoặc viết lên sanh đài cũng được, hoặc viết lên suối, ao, sông, biển. Chẳng được viết vào gốc cây của những cây như lựu, đào, liễu, vì quỷ thần hoảng sợ, chẳng ăn được vậy).
Trong đàn tràng có thánh chúng, nếu minh vương muốn bố thí ẩm thực (cho ngạ qủy) thì thời gian bố thí là trước canh năm, còn chư thiên muốn cúng dường chư Phật, thánh chúng thì thời gian cúng dường là sáng sớm lúc mặt trời mọc.
Nếu làm pháp sự cho quỷ thần thì thời gian do con người định chọn, giờ Tý cũng được, hay theo phép tắc căn bản của vị A xà lê.
Từ lúc ngọ trai đến hết một ngày, nếu chỉ gia trì pháp thuỷ lên các món ẩm thực, để bố thí cho các loài thuỷ tộc, thú chạy, chim bay, thì chẳng cần chọn thời tiết, cứ việc bố thí lúc nào tiện lợi.
Nếu lập đàn pháp thí thực cho ngạ quỷ nên chọn giờ Hợi là lúc thí thực. Nếu lấy thời ngọ trai mà thí thực cho ngạ quỷ thì (việc thí thực ấy) chỉ là luống uổng công lao, cũng không kết quả, bởi lẽ thời tiết không đúng, vọng sanh hư dối, quỷ thần chẳng ăn được vậy. Hành giả nếu chẳng từ thầy trao truyền (mà làm) thì tự rước tai họa, thành tội trộm pháp.
Các người con Phật, mặc dù theo nhóm loại mà phân chia, các vị chớ sanh tâm sân hận (mà phân bì, được vậy thì) việc bố thí không có chướng ngại, bởi vì tôi không có tâm cao thấp, bình đẳng chia khắp, chẳng lựa oán thân. Hôm nay, các vị chớ nên lấy giàu khinh nghèo, ỷ mạnh hiếp yếu, ngăn trở kẻ cô, người trẻ, khiến không được ăn, hoặc chia không đồng đều. Nương theo lòng từ tế của Phật, các vị phải thương tưởng giúp đỡ nhau, cũng như cha mẹ thương nhớ đứa con vậy.
Này các người con Phật, các vị ai cũng có cha mẹ, anh em, chị em, vợ con, quyến thuộc, bạn bè thân quen. Người có sự duyên đến không được, thì các vị, những người con Phật, hãy mở lòng từ bi thương nhớ. Mỗi người đều được trao tặng đồ ăn thức uống, tiền tài, vật phẩm, lần lượt được bố thí sung túc no đủ, không có thiếu ít, khiến phát đạo tâm, xa hẳn ba đường, vượt qua bốn dòng], nên xả thân này, mau lên đạo quả.
Lại vì các vị đem tịnh thực này phân làm ba phần: một là bố thí cho giống ở dưới nước khiến được nhân không; hai là bố thí cho loài có lông cánh khiến được pháp tịch; ba là bố thí cho những chúng sanh ở tha phương mà tình thức còn bẩm thụ, hình hài chưa hình thành, đều khiến sung túc, được vô sanh nhẫn.
Kế đến kết ấn Phổ Cúng dường: chấp tay kim cang, (hai ngón giữa cong hai lóng), đặt ấn ngang tim.
Chân ngôn (Phổ cúng dường):
Án, nga nga nẵng, tam bà phạ, phạ nhật ra hộc.
Bài liên quan
Đức Phật dạy về cúng thí và ngạ quỷ
Các người con Phật, trước đây đã thọ hưởng những ẩm thực nhân gian mà toàn là những thứ có ra từ sự đổi chác sinh mạng, tiền mua khô rượu, máu thịt tanh tưởi, đồ cay hôi nồng. Những món ăn thức uống lâu nay tiếp nhận đó, giống như thuốc độc, tổn hại nơi thân, chỉ thêm gốc khổ, làm cho trầm luân biển khổ không biết lúc nào giải thoát.
Tôi nương vào giáo pháp Như lai mà chí thành buông xả tất cả, thiết lập pháp hội vô giá rộng lớn này. Các vị ngày hôm nay gặp được thắng thiện giới phẩm này để thấm nhuần nơi thân, đó là do đời quá khứ các vị đã phụng sự chư Phật một cách rộng lớn, thân cận bạn lành, cúng dường Tam bảo. Do nhân duyên này mà gặp được thiện tri thức, phát tâm bồ đề, thệ nguyện thành Phật, không cầu quả vị khác. Người đắc đạo trước lần lượt độ thoát (người sau). Lại nguyện các vị ngày đêm thường hằng ủng hộ cho tôi mãn thành sở nguyện. Việc thí thực này có được bao nhiêu công đức đều đem hồi thí khắp cả pháp giới hữu tình, nguyện cùng chư hữu tình cùng đem tất cả phước báu này hồi thí đạo quả vô thượng bồ đề, nhất thiết chủng trí, chớ mong quả vị khác, nguyện mau thành Phật.
Kế đến kết ấn Phụng tống: Hai nắm tay kim cang, hai ngón trỏ móc với nhau, tuỳ tụng mà chế khai.
Nếu muốn bố thí cho các ngạ quỷ, các bà la môn tiên, các nghiệp đạo minh quan trong các sở ty Diêm la, các quỷ thần và người chết lâu xa, thì bằng cách đem những món ăn thức uống tinh sạch đựng đầy trong cái bát, làm những ấn chú ở trên, rồi đổ vào trong dòng nước sạch.
Nếu muốn bố thí cho các ngạ quỷ, các bà la môn tiên, các nghiệp đạo minh quan trong các sở ty Diêm la, các quỷ thần và người chết lâu xa, thì bằng cách đem những món ăn thức uống tinh sạch đựng đầy trong cái bát, làm những ấn chú ở trên, rồi đổ vào trong dòng nước sạch.
Chân ngôn Kim cang giải thoát:
Án, phạ nhật phạ, mục khất xoa mục.
Bài liên quan
Cách chế ngự và thu phục, hóa độ quỷ dữ Ãlavaka của Đức Phật
Đức Phật bảo tôn giả A Nan: Ở đời đương lai, có vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di nào vào mỗi sáng sớm, giờ ngọ trai, hay trong tất cả thời, thường dùng pháp (thí thực) này cùng với các chân ngôn và danh hiệu của 7 vị Như lai mà gia trì vào trong đồ ăn thức uống thí cho các ngạ quỷ (có phương tiện) tu hành. Hành giả nên vào thời ngọ trai hay trong tất cả thời, vì các ngạ qủy và quỷ thần khác múc cho đầy các món ẩm thực vào trong đồ đựng sạch sẽ.
Thời gian là do con người định chọn lúc nào thì gia trì pháp thực để bố thí cho vô lượng ngạ quỷ và các chúng quỷ thần khác. Hành trì như vậy là có được đầy đủ vô lượng phước đức, như công đức cúng dường trăm ngàn câu chi đức Như lai không có sai khác, thọ mạng dài lâu, tăng ích sắc lực, thiện căn đầy đủ, tất cả phi nhân, dạ xoa, la sát, chư ác quỷ thần chẳng dám xâm hại, lại còn có thể thành tựu vô lượng uy đức.
Nếu muốn bố thí cho các ngạ quỷ, các bà la môn tiên, các nghiệp đạo minh quan trong các sở ty Diêm la, các quỷ thần và người chết lâu xa, thì bằng cách đem những món ăn thức uống tinh sạch đựng đầy trong cái bát, làm những ấn chú ở trên, rồi đổ vào trong dòng nước sạch. Làm như vậy rồi, tức là đã đem các món ẩm thực mỹ diệu của chư thiên tiên mà cúng dường cho câu chi hằng hà sa số các bà la môn tiên, các nghiệp đạo minh quan trong các ty sở Diêm la, các quỷ thần và người chết lâu xa. Nhờ uy lực của ấn chú gia trì vào thức ăn mà mỗi vị (thọ nhận thức ăn) thành tựu sở nguyện căn bản, các công đức lành. Các vị ấy đồng thời phát thệ nguyện rằng: Nguyện cho người hiến cúng được thọ mạng dài lâu, phước đức an lạc. Lại mong cho người ấy thấy nghe tin hiểu chánh pháp một cách thanh tịnh, đầy đủ thiện căn, mau chứng vô thượng chánh đẳng bồ đề. Người ấy được công đức đồng đẳng không khác công đức cúng dường trăm ngàn hằng hà sa chư vị Như lai, tất cả oán thù chẳng thể xâm hại.
Chư vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, nếu ai muốn cúng dường Tam bảo, Phật pháp tăng, nên đem hương, hoa, đăng, đồ, ẩm thực thượng diệu, dùng ấn chú ở trên gia trì mà hiến cúng, thì chư Phật, bồ tát, tất cả hiền thánh hoan hỷ tán thán các thứ công đức; hằng được chư Phật nhớ nghĩ, ca ngợi; chư thiên, thiện thần thường đến ủng hộ, rằng người này đang thực hành trọn vẹn bố thí ba la mật.
Đức Phật bảo tôn giả A Nan rằng: Ông hãy theo lời Như lai mà tu hành đúng như pháp cùng rộng nói lưu bố, khiến cho các chúng sanh đoản mạng, bạc phước khắp được thấy nghe, thường tu pháp này để được thọ mạng dài lâu, phước đức thêm lớn. Đây là kinh Đức Phật vì tôn giả A Nan mà nói đà la ni cứu bạt ngạ qủy Diệm Khẩu cùng tất cả chúng sanh. Hãy dùng tên kinh này, ông nên phụng trì. Tất cả đại chúng và tôn giả A Nan… nghe đức Phật nói kinh này xong, một lòng tin nhận, hoan hỷ phụng hành.\
Phải chăng Kinh Du già là bộ kinh đã cứu tôn giả A nan khỏi ngạ quỷ Diệm khẩu Thứ sáu, 19/07/2019 | 14:30 Một đêm Anan thấy một ngạ quỷ tên Diệm Khẩu, hình thù gớm ghiếc, thân thể khô gầy, trong miệng lửa cháy, cổ họng như kim, đầu tóc rối bù, móng dài nanh nhọn, rất đáng kinh sợ. Ngạ quỷ nói với tôn giả rằng: Sau ba ngày nữa, mạng sống của thầy sẽ hết, liền thác sanh vào loài ngạ quỷ. Tôn giả A Nan nhìn thấy ngạ quỷ Diệm Khẩu Một thời đức Thế tôn ở tại Tăng già lam Ni câu luật na, (phía nam) thành Ca tỳ la vệ, cùng với chư vị tỳ kheo, chư vị bồ tát và vô số đại chúng hội họp, bao quanh trước sau đức Thế tôn để được Ngài thuyết pháp cho. Bấy giờ, tôn giả A Nan đang độc cư nơi thanh vắng, nghĩ nhớ đến giáo pháp đã tiếp nhận. Ngay sau canh ba đêm ấy, tôn giả thấy một ngạ quỷ tên là Diệm Khẩu, hình thù gớm ghiếc, thân thể khô gầy, trong miệng lửa cháy, cổ họng như kim, đầu tóc rối bù, móng dài nanh nhọn, rất đáng kinh sợ. Đứng trước mặt tôn giả A Nan, ngạ quỷ nói với tôn giả rằng: Sau ba ngày nữa, mạng sống của thầy sẽ hết, liền thác sanh vào loài ngạ quỷ. Lúc đó, tôn giả A Nan nghe lời đó rồi, tâm sanh hoảng sợ, hỏi lại ngạ quỷ: Này đại sĩ, sau khi tôi chết sẽ sanh làm ngạ quỷ, vậy thì tôi phải làm phương cách nào để thoát khỏi cái khổ ấy? Ngay sau canh ba đêm ấy, tôn giả thấy một ngạ quỷ tên là Diệm Khẩu, hình thù gớm ghiếc, thân thể khô gầy, trong miệng lửa cháy, cổ họng như kim, đầu tóc rối bù, móng dài nanh nhọn, rất đáng kinh sợ. Đứng trước mặt tôn giả A Nan, ngạ quỷ nói với tôn giả rằng: Sau ba ngày nữa, mạng sống của thầy sẽ hết, liền thác sanh vào loài ngạ quỷ. Ngay sau canh ba đêm ấy, tôn giả thấy một ngạ quỷ tên là Diệm Khẩu, hình thù gớm ghiếc, thân thể khô gầy, trong miệng lửa cháy, cổ họng như kim, đầu tóc rối bù, móng dài nanh nhọn, rất đáng kinh sợ. Đứng trước mặt tôn giả A Nan, ngạ quỷ nói với tôn giả rằng: Sau ba ngày nữa, mạng sống của thầy sẽ hết, liền thác sanh vào loài ngạ quỷ. Khi ấy, ngạ quỷ bảo với tôn giả rằng: Sáng sớm ngày mai, nếu thầy có thể bố thí ẩm thực cho trăm ngàn na do tha hằng hà sa số ngạ quỷ, ngoài ra bố thí cho vô lượng chư vị Bà la môn tiên, các vị minh quan nghiệp đạo thuộc ty phủ Diêm la, các vị quỷ thần, những người đã chết lâu xa các loại ẩm thực thích ứng, mỗi vị sẽ nhận được 49 đấu ẩm thực được tính theo cái lượng đấu của nước Ma già đà, lại còn vì ngạ quỷ chúng tôi mà cúng dường Tam bảo, thì thầy được tăng thêm tuổi thọ, và bọn chúng tôi nhờ đó cũng được lìa cái khổ làm thân ngạ quỷ, sanh về cõi trời. Tôn giả A Nan nhìn thấy ngạ quỷ Diệm Khẩu đây, thân hình gầy gò, khô khốc gớm ghiếc, trong miệng lửa cháy, cổ họng như kim, đầu tóc rối bù, lông dài móng nhọn, lại nghe lời kể khổ lòng rất hoảng loạn, lông thân dựng đứng. Ngay khi mặt trời mới mọc, tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy, đi mau về chỗ Phật ở, đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh bên phải Ngài ba vòng, thân thể run rẩy mà bạch với đức Phật rằng: - Bạch đức đại bi Thế tôn, cúi xin cứu khổ cho con! Sở dĩ con cầu cứu là vì canh ba đêm qua, lúc con đang kinh hành nơi thanh vắng để suy nghiệm những pháp đã lãnh thọ thì gặp ngạ quỷ Diệm Khẩu, nói với con rằng, qua ba ngày nữa con chắc phải mạng chung, sanh làm ngạ quỷ. Con có hỏi ngạ quỷ, làm cách nào để thoát cái khổ ấy, ngạ quỷ đáp rằng, nếu có thể bình đẳng bố thí ẩm thực cho trăm ngàn vạn ức na do tha hằng hà sa số khắp cả chư ngạ quỷ, vô lượng chư vị bà la môn tiên, các vị minh quan nghiệp đạo thuộc ty phủ Diêm la, các vị quỷ thần cùng các quyến thuộc, những người đã chết lâu xa, thì con mới được tăng thêm tuổi thọ. Bạch đức Thế tôn, con làm sao lo liệu đầy đủ vô lượng các loại ẩm thực như vậy? Ông Anan bạch Phật cứu Ông Anan bạch Phật cứu Đức Phật dạy tôn giả A Nan rằng: - Ông nay chớ sợ, ta nhớ đời quá khứ, trong vô lượng kiếp, có lúc ta làm thân bà la môn, thân cận vị đại bồ tát Quán Thế Âm, lãnh thọ được pháp đà la ni tên là Vô Lượng Uy Đức Tự Tại Quang Minh Như lai đà la ni. Đức Phật bảo tôn giả A Nan: - Nếu ông có thể khéo thọ trì Đà la ni này, gia trì 7 biến, có năng lực biến một món ăn thành nhiều món ẩm thực cam lộ, toàn là những món ngon thượng diệu, cung cấp no đủ cho trăm ngàn câu chi na do tha hằng hà sa số tất cả ngạ quỷ, các vị bà la môn tiên, các loại quỷ thần khác. Các chúng như vậy, mỗi vị nhận được 49 đấu ẩm thực được tính theo cái lượng đấu của nước Ma già đà. Món ăn thức uống này, số lượng đồng pháp giới, ăn hoài không hết, ai ăn cũng được quả thánh, giải thoát cái thân khổ sở. Đức Phật dạy tôn giả A Nan: - Nay ông thọ trì pháp Đà la ni này thì phước đức và thọ mạng của ông tăng trưởng. Loài ngạ quỷ được sanh thiên hay tịnh độ, làm thân người trời. Vị thí chủ chuyển hoá chướng duyên, tiêu trừ tai nạn, thêm tuổi sống lâu, hiện tại chiêu phước thù thắng, tương lai chứng quả Bồ đề. Hãy phát tâm rộng lớn vì cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp đến nay, khắp vì muôn loại chúng sanh ở tinh tú thiên tào, âm ty địa phủ, Diêm ma quỷ giới, côn trùng nhỏ nhít máy động, tất cả hàm linh mà bày ra sự cúng dường vô giá quảng đại, mời đến phó hội, để nương oai quang của Phật, gột rửa ruộng thân, được lợi thù thắng, hưởng vui nhân thiên. (Phát nguyện như sau:) Nguyện xin chư Phật, Bồ tát Bát nhã, Kim cang, chư thiên, các quan nghiệp đạo, vô lượng thánh hiền, đem vô duyên từ mà chứng biết cho việc làm của con. Đó là chúng con vì muốn cho thệ nguyện càng thêm rộng lớn và đầy đủ, vì muốn giúp đỡ lớn lao những hữu tình không cho thối thất, vì phá tan các nghiệp chướng để được thanh tịnh, vì muốn tinh tấn mà cầu đạo vô thượng mau chóng thành tựu, vì muốn cứu tế chúng sanh trong các ác đạo vượt thoát biển khổ lên bờ bến kia. Như trong kinh có nói: Trong bốn loài, sáu nẻo, vô biên thế giới, đều có những bậc chủ tể thống lãnh làm thượng thủ. Họ đều là các bậc Bồ tát an trụ trong bất khả tư nghì giải thoát, bằng từ bi và thệ nguyện mà phân hình bố ảnh, thị hiện hoá thân ở trong sáu đường cùng chịu khổ với chúng sanh, thiết lập những phương tiện (cứu độ) nhưng không bị phiền não và tuỳ phiền não xâm hại. Họ biết rõ các nghiệp (nhân quả) nên có thể hướng dẫn chúng sanh phát khởi đạo ý, thường tự nhắc nhở trách hối nghiệp thân tạo tác, điều phục giáo hoá tất cả chúng sanh. Họ là đại đạo sư phá diệt ba đường, làm sạch con đường nghiệp quả, đoạn dứt dòng sông khát ái, chẳng xả hạnh nguyện mà làm thiện tri thức sống trong biển khổ, thành tựu lợi lạc cho các hữu tình chứng đại Niết bàn. Đức Phật dạy tôn giả A Nan rằng: Nếu muốn thọ trì pháp thí thực thì phải y theo pháp Du già tam muội sâu kín của vị thầy A xà lê. Nếu là hành giả muốn tu thì phải theo vị thầy Du già A xà lê mà học cách phát tâm vô thượng đại bồ đề, thọ tam muội giới, nhập đại mạn nã la, được pháp quán đảnh, vậy sau mới được chấp nhận thọ pháp ngũ trí quán đảnh của đức Đại Tỳ Lô Giá Na Như lai, tiếp nối ngôi vị của bậc A xà lê thì mới được truyền dạy. Không như vậy mà làm thì không được hứa nhận. Giả sử theo ý mà làm thì tự chuốc tai họa, thành ra lỗi ăn trộm giáo pháp, trọn không công hiệu. Nếu người đã thọ pháp quán đảnh, y theo thầy dạy, tu tập Du già, (đầy đủ) oai nghi pháp thức, có khả năng khéo phân biệt rõ ràng pháp tướng, thì gọi là Tam tạng A xà lê, là người được phép truyền trao giáo nghĩa Du già. Cách thức lập đàn tràng và trì niệm thần chú chân ngôn Nếu muốn tác pháp, thầy A xà lê trước phải tự hộ trì (thân tâm), các đệ tử cũng làm theo thầy như vậy. Định biết ngày rồi, kế chọn lựa tịnh địa như tinh hoa đại xá, rừng vườn nhàn tịnh, chỗ quỷ thần ưa thích, nơi suối chảy ao tắm, chỗ phước đức, sông ngòi núi hồ, hoặc nhà ở cũng được. Hãy như pháp mà tô xoa bằng bùn với nước thơm, tuỳ khả năng của thí chủ mà làm (đồ biểu mạn đà la) hình vuông hình tròn lớn nhỏ, ở bốn góc dựng phướng như pháp để trang nghiêm. Dùng tơ ngũ sắc đặt lên trên trái châu hoả diệm, lại ở trong trái châu an trí Phật đảnh đại bi tuỳ cầu tôn thắng: đông bắc là Phật đảnh, đông nam là đại bi, tây nam là tuỳ cầu, tây bắc là tôn thắng. Tất cả ngạ qủi, Nhiều kiếp đói khát,Diêm la chư ty Thiên tào, địa phủ Minh quan nghiệp đạo, Bà la môn tiên, Người chết lâu xa Linh hồn đồng nội, Chư thiên hư không Cùng các quyến thuộc Khác loại quỷ thần. Tất cả ngạ qủi, Nhiều kiếp đói khát,Diêm la chư ty Thiên tào, địa phủ Minh quan nghiệp đạo, Bà la môn tiên, Người chết lâu xa Linh hồn đồng nội, Chư thiên hư không Cùng các quyến thuộc Khác loại quỷ thần. Lại ở nơi bốn cột trụ như pháp trang nghiêm một cách đặc thù đẹp đẽ những lá phan gọi là cát tường phan, khiến cho trong khoảng một trăm do tuần không có các việc suy tàn, tai nạn, tức là thành việc kết giới vậy. Gió thổi thân phan phất phới, đất rưới nước ướt thấm nhuần, tội chướng tiêu vong được đại phước lợi, mắt thấy tai nghe thảy đều lợi giúp. Lại nữa, chu vi (của đàn tràng) treo những dãi lụa, phan phướng, quạt báu rủ phất để trân trọng bố cáo chư liệt vị. Lại nơi đàn tràng sắm sửa nước thơm A già đà, hoa mầu, đèn nến, hương xoa, ẩm thực, thuốc thang, các loại trái cây, cùng các món vật khác, đúng pháp làm sạch, chớ cho tiếp xúc với vật dơ bẩn. Trang nghiêm xong rồi, tay cầm lư hương, đi quanh chiều phải để xem xét khắp cả đạo tràng, thấy chỗ nào chưa chu đáo đầy đủ thì phải an bài thêm nữa. Việc trang nghiêm xong, thầy và các đệ tử dùng nước thơm tắm gội, mặc y sạch mới. Từ trong ra ngoài đình chùa, quét dọn như pháp, đường đất rải hương nê, trang nghiêm như pháp. Đây gọi là tam muội da đàn. Kinh Du già tập yếu cứu A nan Đà la ni Diệm khẩu quỹ nghi Nơi đạo tràng, ngoài thì phô bày sự dâng cúng thanh tịnh, bản thân thì nghiêm chỉnh oai nghi mà làm lễ ba lạy, mặt day về hướng đông, quỳ xuống, tay cầm lư hương, làm pháp khải thỉnh: Khải cáo mười phương Hết thảy chư Phật Bồ tát bát nhã Kim cang, chư thiên Và các nghiệp đạo Vô lượng Thánh hiền Con nay xin đem Tâm từ bi lớn Nương thần lực Phật. Triệu thỉnh mười phương Tận hư không giới Ba đường, địa ngục Và các cõi dữ, Tất cả ngạ qủi Nhiều kiếp đói khát, Diêm la chư ty Thiên tào, địa phủ Minh quan nghiệp đạo Bà la môn tiên, Người chết lâu xa Linh hồn đồng nội Chư thiên hư không Cùng các quyến thuộc Khác loại quỷ thần. Cúi xin chư Phật Bồ tát bát nhã Kim cang, chư thiên Vô lượng Thánh hiền Và các nghiệp đạo Nguyện phóng oai quang Thương hộ niệm thêm. Khắp nguyện mười phương Tận hư không giới Thiên tào, địa phủ Minh quan nghiệp đạo Vô lượng ngạ quỷ Cha mẹ nhiều đời Người chết lâu xa Bà la môn tiên, Tất cả oán kết Cậy nhờ tài mạng, Các thứ tộc loại Khác loại quỷ thần Cùng các quyến thuộc, Nhờ sức Như lai Vào lúc sáng sớm [25] Quyết định giáng lâm Được thọ pháp vị Như lai thượng diệu Thanh tịnh cam lồ Uống ăn đầy đủ Thấm nhuần ruộng thân Phước đức, trí tuệ Phát tâm bồ đề Xa lìa tà hạnh Quy y Tam bảo Hành đại từ tâm Lợi ích hữu tình Cầu đạo vô thượng Chẳng thọ luân hồi Các quả ác khổ Thường sanh nhà lành Lìa các sợ hãi Thân thường thanh tịnh Chứng đạo vô thượng. Ba lần bạch, khải cáo như vậy xong rồi, liền vận tâm cúng dường hương, hoa, đăng, đồ lên chư Phật, bồ tát bát nhã, kim cang, chư thiên, vô lượng thánh hiền, các nghiệp đạo quan, cúi xin chư vị từ bi giáng lâm nhiếp thọ sự cúng dường nhỏ mọn. Lễ tam bái xong, nghinh thỉnh chư thánh chúng vào trong đàn tràng, rồi đi quanh chiều phải ba vòng, về lại chỗ cũ, mặt hướng về phía đông mà làm lễ thánh chúng. Đem hương, hoa, đăng, đồ, các món pháp sự mà cúng dường (lên thánh chúng). Kế đến là phát lộ những lỗi lầm đã tạo của thân tâm, sám hối xong, lại làm lễ thánh chúng. Lấy ngón tay áp út (ngón giới độ) của bàn tay phải nhúng vào hương xoa mà xoa vào lòng bàn tay trái (cùng vận tâm nhập quán) rồi mới có thể tác pháp. Kế đến, kết ấn Phá địa ngục: Hai tay kết ấn kim cang quyền, hai ngón út (ngón đàn, tuệ) móc với nhau, hai ngón trỏ (ngón tấn, lực) tựa vào nhau, niệm tưởng đang mở cửa địa ngục. Ba lần tụng, ba lần kéo mở. Chân ngôn (Phá địa ngục): Nẵng mồ a sắt tra, thí đế nam, tam nhị da, tam một đà câu chi nam, án, nhạ ninh nẵng, phược bà tế, địa rị địa rị, hồng. Do uy lực của ấn chú này mà bao nhiêu cửa ngõ địa ngục trong các cõi chúng sanh đến ở, theo ấn chú này mà đột nhiên tự mở. Kế đến kết ấn Triệu thỉnh ngạ quỷ: Bàn tay trái làm dáng vô uý, bàn tay phải thẳng hướng về trước, bốn ngón hơi co, ngón trỏ thiệt cong. Chân ngôn Triệu thỉnh: Án, di nẵng di ca, ế sái duệ sái, bà phạ hạ. Triệu thỉnh xong, ngạ quỷ khắp đều vân tập. Do lòng thương nhớ, ngợi khen, an ủi, khiến cho chư ngạ quỷ sanh lòng hoan hỷ mà khát ngưỡng với giáo pháp. Kế đến kết ấn Triệu tội: Hai tay kết ấn kim cang rồi đan kết lại với nhau, (bằng cách hai ngón út và hai ngón áp út giao nhau), hai ngón giữa thẳng đứng như kim, hai ngón trỏ cong như móc câu. Chân ngôn Triệu tội: Án, tát phạ bá bả yết rị sái noa, vĩ thú đà nẵng, phạ nhật ra đát pha, tam ma da, hồng, nhược. Kế đến kết ấn Diệt tội (Tồi tội): Tám ngón tréo nhau vào trong, hai ngón giữa như vách đứng. Chân ngôn Diệt tội: Án, phạ nhật ra bá ni, vĩ sa phổ tra da, tát phạ bá da, mãn đà nẵng ninh, bát ra mô khất xoa da, tát phạ bá da nga để tỳ dược, tát phạ tát đát phạ, tát phạ đát tha nga đa, phạ nhật ra, tam ma da, hồng, đát ra tra. Kế đến kết ấn (Phá) Định nghiệp: Hai tay kết ấn kim cang chưởng, hai ngón trỏ cong hai lóng, hai ngón cái chạm vào đầu hai ngón trỏ. Chân ngôn Định nghiệp: Án, phạ nhật ra yết ma, vĩ thú đà dã, tát phạ phạ ra xoa nhĩ, mẫu đà tát để duệ nẵng, tam ma da hồng. Kế đến kết ấn Sám hối diệt tội: Hai tay kết ấn kim cang, các ngón tiếp giáp bên ngoài, hai ngón trỏ cong hai lóng, hai ngón cái chạm vào đầu hai ngón trỏ. Chân ngôn Sám hối: Án, tát phạ bá bả, vĩ sa phổ tra, da hạ nẵng, phạ nhật ra da, sa phạ hạ. Chư Phật tử đã sám hối rồi, tội chứa nhóm trăm kiếp, một niệm quét sạch mau, như lửa đốt cỏ khô, cháy hết không còn dư. Kế đến kết ấn Thí cam lộ của Diệu Sắc Thân Như lai: Sử dụng cánh tay trái chuyển cổ tay hướng ra trước, tay phải ngón trỏ búng ngón cái ra tiếng. Chân ngôn Thí cam lộ: Nẵng mồ tố lỗ bá da, đát tha nga đa da, đát nhĩ da tha: án, tố lỗ tố lỗ, bát ra tố lỗ, bát ra tố lỗ, sa phạ Khi tụng chân ngôn, quán tưởng phía trên hai ngón giữa có một chữ noan, lưu xuất nước pháp cam lộ bát nhã, vung vẩy vào không trung, thì tất cả ngạ quỷ, dị loại quỷ thần khắp được mát mẻ, lửa dữ dứt mất, ruộng thân thấm nhuần, lìa tưởng đói khát. Kế đến kết ấn Khai yết hầu: Tay trái tưởng đang cầm hoa sen, tay phải ngón giữa búng ngón cái ra tiếng, theo lời tụng mà khảy móng tay. Chân ngôn Khai yết hầu: Nẵng mồ bà nga phạ đế, vĩ bổ la, nga đát ra dã, đát tha nga đa dã. Các người con Phật, tôi nay vì quí vị làm ấn chú xong rồi thì cổ họng tự mở, thông suốt không ngại, lìa các chướng nạn. Các người con Phật, tôi nay vì quí vị xưng tán danh hiệu cát tường của đức Như lai, có năng lực khiến cho quí vị thoát hẳn cái khổ ba đường tám nạn, thường làm đệ tử chân thật và thanh tịnh của Như lai. Nam mô Bảo Thắng Như Lai. Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu Bảo Thắng Như Lai, có năng lực khiến cho những trần lao nghiệp hoả của quí vị thảy đều tiêu diệt. Nam mô Ly Bố Uý Như Lai. Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu Ly Bố Úy Như Lai, có năng lực khiến cho quí vị thường được an lạc, thoát hẳn sợ hãi, thanh tịnh khoái lạc. Nam mô Quảng Bác Thân Như Lai. Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu Quảng Bác Thân Như Lai, có năng lực khiến cho quí vị không bị cái khổ cổ họng nhỏ như kim châm của loài ngạ quỷ, nghiệp báo lửa dữ không còn thiêu đốt, mát mẻ thông suốt, uống ăn món gì cũng như là vị cam lồ. Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai. Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu Diệu Sắc Thân Như Lai, có năng lực khiến cho quí vị chẳng chịu xấu xí, các căn đầy đủ, tướng tốt tròn đầy, thù thắng đoan nghiêm, trong cõi trời nhân gian là bậc nhất hơn hết. Nam mô Đa Bảo Như Lai. Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu Đa Bảo Như Lai, có năng lực khiến cho quí vị đầy đủ tài bảo, nhu cầu vừa ý, thọ dụng không hết. Nam mô A Di Đà Như Lai. Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu A Di Đà Như Lai, có năng lực khiến cho quí vị vãng sanh thế giới cực lạc ở phương Tây, hoa sen hoá sanh, vào bất thối địa. Nam mô Thế Gian Quảng Đại Uy Đức Tự Tại Quang Minh Như lai. Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu Thế Gian Quảng Đại Uy Đức Tự Tại Quang Minh Như lai, có năng lực khiến cho quí vị thu hoạch được năm thứ công đức: một là trong thế gian là bậc đệ nhất so với hết thảy; hai là có được con mắt bồ tát, thân đoan nghiêm thù thắng; ba là uy đức quảng đại vượt qua tất cả thiên ma ngoại đạo, như mặt trời chiếu thế gian, lộ bày trên biển lớn, công đức thật cao dày; bốn là được tự tại lớn, hướng tới như ý, như chim bay trong không trung không có trở ngại; năm là được kiên cố lớn, ánh sáng trí tuệ, thân tâm sáng suốt như ngọc lưu ly. Các người con Phật, bảy đức Như Lai đây dùng năng lực của thệ nguyện mà cứu giúp chúng sanh lìa xa phiền não, thoát khổ ba đường, an ổn thường lạc. Một phen xưng danh hiệu của các đức Như Lai đây thì ngàn đời lìa khổ, chứng đạo vô thượng. Kế đến cùng các vị quy y Tam bảo: Quy y Phật, đấng phước tuệ vẹn toàn. Quy y pháp, đạo thoát ly tham dục. Quy y tăng, chúng đáng được tôn kính. Các người con Phật, quy y Phật rồi, quy y pháp rồi, quy y tăng rồi. Các vị đã nương tựa Tam bảo rồi, hãy như pháp kiên định hộ trì. Kế đây vì các vị phát tâm bồ đề, các vị hãy lắng nghe. Kết ấn kim cang chưởng, hai ngón giữa như cánh sen, đưa ấn ngang trên tim, chân ngôn rằng: Án, mặc địa tức đa, mẫu đát bả na, dã nhị. Nay vì các vị phát tâm bồ đề rồi, các người con Phật nên biết, tâm bồ đề đó từ tâm đại bi phát khởi, là chánh nhân thành Phật, là căn bản của trí tuệ, có năng lực phá trừ vô minh phiền não, ác nghiệp, chẳng bị nhiễm cảnh (lôi kéo) phá hoại. Kế đến vì các vị kết ấn Truyền thọ tam muội da giới: Hai tay kết ấn kim cang đan kết lại với nhau (bằng cách hai ngón út, hai ngón áp út và hai ngón trỏ úp lên nhau), hai ngón giữa thẳng đứng như kim. Chân ngôn (Tam muội da giới): Án, tam muội da, tát đát noan. Nay tôi truyền thọ tam muội da giới cho các vị rồi, từ nay trở đi, các vị vào địa vị của Như lai, thật là đệ tử của Phật, từ pháp hoá sanh, được pháp phần của Phật. Kế đến kết ấn Vô Lượng Uy Đức Tự Tại Quang Minh Như lai: Tay trái tưởng đang cầm pháp khí, tay phải ngón giữa và ngón cái búng khảy với nhau, tưởng trong lòng bàn tay trái có một chữ noan, tuôn ra vô số các loại pháp thực cam lộ. Chân ngôn Thí thực: Án, tát phạ đát tha nga đa, phạ lộ chỉ đế, noan, bà ra bà ra, tam bà ra, tam bà ra, hồng. Này các người con Phật, nay cùng các vị kết ấn chú rồi, biến thức ăn này thành vô lượng thực, lớn như núi Tu di, lượng đồng với pháp giới, trọn chẳng thể hết. Lại dùng thủ ấn trước mà tụng chân ngôn (Nhũ hải) rằng: Nẵng mồ tam mãn đa một đà nẫm, noan. Cách thức lập đàn tràng và trì niệm thần chú chân ngôn Cách thức lập đàn tràng và trì niệm thần chú chân ngôn Này các người con Phật, nay cùng các vị kết ấn chú rồi, do oai lực gia trì của ấn chú đây, cùng tưởng nơi thủ ấn tuôn ra vị cam lộ làm thành biển sữa, chảy rưới pháp giới, khắp giúp các vị và hữu tình sung túc no đủ. Bấy giờ, hành giả liền dùng tay phải cầm đồ đựng cam lộ, mặt hướng về phương đông, đứng viết (chữ noan) ở trước đàn tràng (hoặc viết trên đất sạch, trên tảng đá lớn, trên bồn gốm đựng nước sạch được gọi là Vu lan bồn, hoặc viết lên sanh đài cũng được, hoặc viết lên suối, ao, sông, biển. Chẳng được viết vào gốc cây của những cây như lựu, đào, liễu, vì quỷ thần hoảng sợ, chẳng ăn được vậy). Trong đàn tràng có thánh chúng, nếu minh vương muốn bố thí ẩm thực (cho ngạ qủy) thì thời gian bố thí là trước canh năm, còn chư thiên muốn cúng dường chư Phật, thánh chúng thì thời gian cúng dường là sáng sớm lúc mặt trời mọc. Nếu làm pháp sự cho quỷ thần thì thời gian do con người định chọn, giờ Tý cũng được, hay theo phép tắc căn bản của vị A xà lê. Từ lúc ngọ trai đến hết một ngày, nếu chỉ gia trì pháp thuỷ lên các món ẩm thực, để bố thí cho các loài thuỷ tộc, thú chạy, chim bay, thì chẳng cần chọn thời tiết, cứ việc bố thí lúc nào tiện lợi. Nếu lập đàn pháp thí thực cho ngạ quỷ nên chọn giờ Hợi là lúc thí thực. Nếu lấy thời ngọ trai mà thí thực cho ngạ quỷ thì (việc thí thực ấy) chỉ là luống uổng công lao, cũng không kết quả, bởi lẽ thời tiết không đúng, vọng sanh hư dối, quỷ thần chẳng ăn được vậy. Hành giả nếu chẳng từ thầy trao truyền (mà làm) thì tự rước tai họa, thành tội trộm pháp. Các người con Phật, mặc dù theo nhóm loại mà phân chia, các vị chớ sanh tâm sân hận (mà phân bì, được vậy thì) việc bố thí không có chướng ngại, bởi vì tôi không có tâm cao thấp, bình đẳng chia khắp, chẳng lựa oán thân. Hôm nay, các vị chớ nên lấy giàu khinh nghèo, ỷ mạnh hiếp yếu, ngăn trở kẻ cô, người trẻ, khiến không được ăn, hoặc chia không đồng đều. Nương theo lòng từ tế của Phật, các vị phải thương tưởng giúp đỡ nhau, cũng như cha mẹ thương nhớ đứa con vậy. Này các người con Phật, các vị ai cũng có cha mẹ, anh em, chị em, vợ con, quyến thuộc, bạn bè thân quen. Người có sự duyên đến không được, thì các vị, những người con Phật, hãy mở lòng từ bi thương nhớ. Mỗi người đều được trao tặng đồ ăn thức uống, tiền tài, vật phẩm, lần lượt được bố thí sung túc no đủ, không có thiếu ít, khiến phát đạo tâm, xa hẳn ba đường, vượt qua bốn dòng], nên xả thân này, mau lên đạo quả. Lại vì các vị đem tịnh thực này phân làm ba phần: một là bố thí cho giống ở dưới nước khiến được nhân không; hai là bố thí cho loài có lông cánh khiến được pháp tịch; ba là bố thí cho những chúng sanh ở tha phương mà tình thức còn bẩm thụ, hình hài chưa hình thành, đều khiến sung túc, được vô sanh nhẫn. Kế đến kết ấn Phổ Cúng dường: chấp tay kim cang, (hai ngón giữa cong hai lóng), đặt ấn ngang tim. Chân ngôn (Phổ cúng dường): Án, nga nga nẵng, tam bà phạ, phạ nhật ra hộc. Bài liên quan Đức Phật dạy về cúng thí và ngạ quỷ Các người con Phật, trước đây đã thọ hưởng những ẩm thực nhân gian mà toàn là những thứ có ra từ sự đổi chác sinh mạng, tiền mua khô rượu, máu thịt tanh tưởi, đồ cay hôi nồng. Những món ăn thức uống lâu nay tiếp nhận đó, giống như thuốc độc, tổn hại nơi thân, chỉ thêm gốc khổ, làm cho trầm luân biển khổ không biết lúc nào giải thoát. Tôi nương vào giáo pháp Như lai mà chí thành buông xả tất cả, thiết lập pháp hội vô giá rộng lớn này. Các vị ngày hôm nay gặp được thắng thiện giới phẩm này để thấm nhuần nơi thân, đó là do đời quá khứ các vị đã phụng sự chư Phật một cách rộng lớn, thân cận bạn lành, cúng dường Tam bảo. Do nhân duyên này mà gặp được thiện tri thức, phát tâm bồ đề, thệ nguyện thành Phật, không cầu quả vị khác. Người đắc đạo trước lần lượt độ thoát (người sau). Lại nguyện các vị ngày đêm thường hằng ủng hộ cho tôi mãn thành sở nguyện. Việc thí thực này có được bao nhiêu công đức đều đem hồi thí khắp cả pháp giới hữu tình, nguyện cùng chư hữu tình cùng đem tất cả phước báu này hồi thí đạo quả vô thượng bồ đề, nhất thiết chủng trí, chớ mong quả vị khác, nguyện mau thành Phật. Kế đến kết ấn Phụng tống: Hai nắm tay kim cang, hai ngón trỏ móc với nhau, tuỳ tụng mà chế khai. Nếu muốn bố thí cho các ngạ quỷ, các bà la môn tiên, các nghiệp đạo minh quan trong các sở ty Diêm la, các quỷ thần và người chết lâu xa, thì bằng cách đem những món ăn thức uống tinh sạch đựng đầy trong cái bát, làm những ấn chú ở trên, rồi đổ vào trong dòng nước sạch. Nếu muốn bố thí cho các ngạ quỷ, các bà la môn tiên, các nghiệp đạo minh quan trong các sở ty Diêm la, các quỷ thần và người chết lâu xa, thì bằng cách đem những món ăn thức uống tinh sạch đựng đầy trong cái bát, làm những ấn chú ở trên, rồi đổ vào trong dòng nước sạch. Chân ngôn Kim cang giải thoát: Án, phạ nhật phạ, mục khất xoa mục. Bài liên quan Cách chế ngự và thu phục, hóa độ quỷ dữ Ãlavaka của Đức Phật Đức Phật bảo tôn giả A Nan: Ở đời đương lai, có vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di nào vào mỗi sáng sớm, giờ ngọ trai, hay trong tất cả thời, thường dùng pháp (thí thực) này cùng với các chân ngôn và danh hiệu của 7 vị Như lai mà gia trì vào trong đồ ăn thức uống thí cho các ngạ quỷ (có phương tiện) tu hành. Hành giả nên vào thời ngọ trai hay trong tất cả thời, vì các ngạ qủy và quỷ thần khác múc cho đầy các món ẩm thực vào trong đồ đựng sạch sẽ. Thời gian là do con người định chọn lúc nào thì gia trì pháp thực để bố thí cho vô lượng ngạ quỷ và các chúng quỷ thần khác. Hành trì như vậy là có được đầy đủ vô lượng phước đức, như công đức cúng dường trăm ngàn câu chi đức Như lai không có sai khác, thọ mạng dài lâu, tăng ích sắc lực, thiện căn đầy đủ, tất cả phi nhân, dạ xoa, la sát, chư ác quỷ thần chẳng dám xâm hại, lại còn có thể thành tựu vô lượng uy đức. Nếu muốn bố thí cho các ngạ quỷ, các bà la môn tiên, các nghiệp đạo minh quan trong các sở ty Diêm la, các quỷ thần và người chết lâu xa, thì bằng cách đem những món ăn thức uống tinh sạch đựng đầy trong cái bát, làm những ấn chú ở trên, rồi đổ vào trong dòng nước sạch. Làm như vậy rồi, tức là đã đem các món ẩm thực mỹ diệu của chư thiên tiên mà cúng dường cho câu chi hằng hà sa số các bà la môn tiên, các nghiệp đạo minh quan trong các ty sở Diêm la, các quỷ thần và người chết lâu xa. Nhờ uy lực của ấn chú gia trì vào thức ăn mà mỗi vị (thọ nhận thức ăn) thành tựu sở nguyện căn bản, các công đức lành. Các vị ấy đồng thời phát thệ nguyện rằng: Nguyện cho người hiến cúng được thọ mạng dài lâu, phước đức an lạc. Lại mong cho người ấy thấy nghe tin hiểu chánh pháp một cách thanh tịnh, đầy đủ thiện căn, mau chứng vô thượng chánh đẳng bồ đề. Người ấy được công đức đồng đẳng không khác công đức cúng dường trăm ngàn hằng hà sa chư vị Như lai, tất cả oán thù chẳng thể xâm hại. Chư vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, nếu ai muốn cúng dường Tam bảo, Phật pháp tăng, nên đem hương, hoa, đăng, đồ, ẩm thực thượng diệu, dùng ấn chú ở trên gia trì mà hiến cúng, thì chư Phật, bồ tát, tất cả hiền thánh hoan hỷ tán thán các thứ công đức; hằng được chư Phật nhớ nghĩ, ca ngợi; chư thiên, thiện thần thường đến ủng hộ, rằng người này đang thực hành trọn vẹn bố thí ba la mật. Đức Phật bảo tôn giả A Nan rằng: Ông hãy theo lời Như lai mà tu hành đúng như pháp cùng rộng nói lưu bố, khiến cho các chúng sanh đoản mạng, bạc phước khắp được thấy nghe, thường tu pháp này để được thọ mạng dài lâu, phước đức thêm lớn. Đây là kinh Đức Phật vì tôn giả A Nan mà nói đà la ni cứu bạt ngạ qủy Diệm Khẩu cùng tất cả chúng sanh. Hãy dùng tên kinh này, ông nên phụng trì. Tất cả đại chúng và tôn giả A Nan… nghe đức Phật nói kinh này xong, một lòng tin nhận, hoan hỷ phụng hành.
-
-
ỨNG DỤNG LÔNG KHỔNG TƯỚC TRONG PHONG THỦY & ĐỜI SỐNG
Nhiều nhà phong thủy cho rằng, lông chim công có thể hút năng lượng từ trời đất, nên dùng điều hòa âm dương trong nhà, cơ quan, văn phòng, cửa hàng kinh doanh rất tốt. Có thể lấy lại hòa khí, làm cho công việc trong nhà cũng như cơ quan bạn tốt hơn.
Công hay khổng tước là loài chim thuộc họ trĩ, từ xưa nó đã được xem là loài chim quý và được coi trọng, mọi người rất chú ý đến bộ lông đuôi sặc sỡ của nó. Thời cổ, người ta thường nuôi công để thưởng ngoạn.
Hoa văn trên lông của chim công giống như những đồng tiền cổ nối liền nhau, màu sắc chủ yếu là vàng óng vô cùng lộng lẫy. Vì vậy trước đây người ta còn dùng lông chim công làm đồ trang sức.
Chim cong,giong chim cong,chim công,giống chim công
Lông chim công làm thành quạt được gọi là quạt lông công. Cắm lông chim công vào bình bày ở trên bàn cũng là cách trang trí nhà cửa được yêu thích.
Trước đây ở Trung Quốc, chỉ có quan ngũ phẩm trở lên mới được dùng mũ cắm lông chim công, cho nên lông chim công cũng là biểu tượng của quan chức, tiền tài, uy quyền.
Người ta cho rằng, lông chim công có thể hút năng lượng từ trời đất, nên dùng điều hòa âm dương trong nhà, cơ quan, văn phòng, cửa hàng kinh doanh rất tốt. Sự điều hòa lại âm dương là thật sự cần thiết để lấy lại hòa khí, làm cho công việc trong nhà cũng như cơ quan bạn tốt hơn.
Treo tranh chim công được cho là mang lại may mắn, vượng khí
Nếu một người khách đến công ty, nhà bạn, hay cửa hàng của bạn mang theo người luồng khí xấu, nếu bạn dùng biện pháp phong thủy lộ liễu, khách biết sẽ buồn, bởi thế dùng một bức tranh chim công hay một chiếc bình cắm lông công trang trí huy hoàng là biện pháp xua đi luồng khi xấu mang lại vượng khí cho văn phòng lại đẹp về mặt thẩm mỹ.
Để một bình cắm lông công trong phòng ngủ được cho là sẽ tạo thêm sức mạnh phòng the cho phái nam, và sự gợi cảm cho phái nữ. Treo tranh đôi chim công ân ái trong nhà cũng giúp tình duyên bền vững, nồng thắm.
Để lông công trong phòng làm việc tạo ra sự uy nghi, sang trọng và phần nào đó mang lại vượng khí cho công danh sự nghiệp của gia chủ.
Vì chim công thuộc họ trĩ, nếu bạn không có tượng phượng hoàng, gà trống, bạn có thể dùng tượng chim công hay thế.(st)
+ LÔNG CÔNG TỰ NHIÊN TỪ ẤN ĐỘ.
+ Kích thước:
*45-55cm= 15k/cọng
*100cm. = 25k/cọng
+ Quạt đan 2 mặt 46 cọng lông( các mầu theo phong thủy Tuổi mệnh)= 480k.
+ LH: 0975601188-0933601188
NAM MÔ PHẬT MẪU KHỔNG TƯỚC ĐẠI MINH VƯƠNG BỒ TÁT MA HA TÁT TÁC ĐẠI CHỨNG MINH.
https://www.facebook.com/pg/tongdail...tunhien/posts/
-
PHẬT THUYẾT THIÊN TRUNG BẮC ĐẨU CỔ PHẬT TIÊU TAI DIÊN THỌ DIỆU KINH
Như thị ngã văn, nhứt thời Phật tại Tịnh Cư Thiên Cung, tập Chư Thiên chúng Quảng Đàn Pháp Yếu.
Chính tôi được nghe, một thời gian đức Phật tại cung trời Tịnh cư, triệu tập các vị trời nói phép tắc ý nghĩa lớn lao và bí mật, thâm sâu.
Nhĩ thời, Mạn Thù Thất Lợi Bồ Tát tùng tòa khởi tiền bạch Phật ngôn:
Bấy giờ, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi từ tòa ngồi đứng dậy đến phía trước Phật thưa hỏi lời rằng:
Thế Tôn phục kiến đế hoàng tổ phụ qưới tiện chúng sanh tứ tượng ngũ hành hàm linh xuẩn động mạt bất giai do Bắc Đẩu Thất ngươn chi sở chủ tể-Hà cố thi tinh, ư Châu Thiên Trung, oai quyền oai đức tối tân tối thượng.
Thế Tôn thấy rõ từ kẻ làm vua, tới quan hệ cha con, sự sang hèn của chúng sinh, sự vận động của bốn phương (Tứ tượng), ngũ hành chẳng điều gì không do các vị chủ tể của Bảy sao Bắc Đẩu phân định. Như vậy thì oai đức của cõi Trời chính giữa đó thật là tối thượng.
Duy nguyện Thế Tôn vị chúng tuyên thuyết, nhứt thiết nhơn thiên hàm tri qui hương.
Cúi mong Thế Tôn vì chúng con mà nói, tất cả trời, người sẽ một lòng tin theo.
Nhĩ thời, Thế Tôn cáo Mạn Thù Thất Lợi Bồ Tát cập chư đại chúng ngôn.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cùng tất cả đại chúng rằng:
Thiện tai! thiện tai! ngã kiêm vị thử cập mạt thế chúng sanh, phu tuyên nhân do dữ đương lai thế, hàm cọng tri chi thị.
Hay lắm! Hay lắm! Ta nay vì ông cùng chúng sinh thời mạt pháp, rộng nói nhân duyên này, để tất cả được biết.
Thất ngươn tinh phước bi quần sanh, ân thí vạn dựng công đức giả dả. Vu thời Thế Tôn tức thuyết:
Bảy vị chủ sao phúc đức này thương chúng sinh phước mỏng mà ban cho phước đức, lại giúp chúng sinh tự tạo lập vạn vạn công đức. Sau đó Thế tôn lại dạy rằng:
Bắc Đẩu Thất Ngươn Cổ Phật
Bảy vị chủ sao này vốn là các đức Phật thủa quá khứ thị hiện.
Thánh hiệu đảnh lễ ( mỗi câu dưới lạy 1 lạy )
Thánh hiệu để đảnh lễ các Ngài là:
Nam mô Bắc Đẩu Đệ Nhứt Đại Khôi Dương Minh, Tham Lang Thái Tinh Quân, thị Đông Phương Tối Thắng Thế Giới Vận Ý Thông Chứng Như Lai.
Vị chủ sao Bắc đẩu thứ nhất, Nam mô Đại khôi Dương Minh, Tham Lang Thái Tinh Quân, chính là Đức Phật Vận Ý Thông Chứng cõi Thế giới Tối Thắng ở phía Đông thị hiện.
Nam mô Bắc Đẩu Đệ Nhị Đại Phước Âm Tinh, Cự Môn Ngươn Tinh Quân, thị Đông Phương Diệu Bửu Thế Giới Quan Âm Tự Tại Như Lai.
Vị chủ sao Bắc đẩu thứ hai, Nam mô Đại phước Âm Tinh, Cự Môn Ngươn Thái Tinh Quân, chính là Đức Phật Quan Âm Tự Tại cõi Thế giới Diệu Bảo ở phía Đông thị hiện.
Nam mô Bắc Đẩu Đệ Tam Đại Quyền Chơn Nhơn Lộc Tồn Trinh Tinh Quân thị Đông Phương Viên Châu Thế Giới Kim Sắc Thành Tựu Như Lai.
Vị chủ sao Bắc đẩu thứ ba, Nam mô Đại quyền Chân Nhân Lộc Tồn Trinh Tinh Quân, chính là Đức Phật Kim Sắc Thành Tựu cõi Thế giới Viên Châu ở phía Đông thị hiện.
Nam mô Bắc Đẩu Đệ Tứ Đại Hoàng Huyền Minh Văn Khúc Tinh Quân thị Đông Phương Vô Ưu Thế Giới Tối Thắng Kiết Tường Như Lai.
Vị chủ sao Bắc đẩu thứ tư, Nam mô Đại hoàng Huyền Minh Văn Khúc Tinh Quân, chính là Đức Phật Tối Thắng Kiết Tường Như Lai cõi Thế Giới Vô Ưu ở phía Đông thị hiện.
Nam mô Bắc Đẩu Đệ Ngũ Đại Tấc Đơn Ngươn Liêm Trinh Cang Tinh Quân thị Đông Phương Tịnh Trụ Thế Giới Quảng Đại Trí Biện Như Lai.
Vị Chủ sao Bắc đẩu thứ năm, Nam mô Đại Tấc Đơn Ngươn Liêm Trinh Cang Tinh Quân, chính là Đức Phật Quảng Đại Trí Biện cõi Thế giới Tịnh Trụ ở phía Đông thị hiện.
Nam mô Bắc Đẩu Đệ Lục Đại Pho Bắc Cực Võ Khúc Kỷ Tinh Quân thị Đông Phương Pháp Ý Thế Giới Pháp Hải Du Hí Như Lai.
Vị chủ sao Bắc đẩu thứ sáu, Nam mô Đại Phu Bắc Cực Võ Khúc Kỷ Tinh Quân, chính là Đức Phật Pháp Hải Du Hý cõi Thế giới Pháp Ý ở phía Đông thị hiện.
Nam mô Bắc Đẩu Đệ Thất Đại Phiêu Thiền Quang Phá Quân Quang Tinh Quân thị Đông Phương Mãn Nguyệt Thế Giới Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.
Vị chủ sao Bắc đẩu thứ bảy, Nam mô Đại Phiêu Thiền Quang Phá Quân Quang Tinh Quân, chính là Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang cõi Thế giới Mãn Nguyệt ở phía Đông thị hiện.
Nam mô Bắc Đẩu Đệ Bát Động Minh Ngoại Phụ Tinh Quân thị Tây Phương Diệu Hỷ Thế Giới Huệ Tạng Trang Nghiêm Bồ Tát.
Vị chủ sao Bắc đẩu thứ tám, Nam mô Bát Động Minh Ngoại Phụ Tinh Quang, chính là Bồ Tát Huệ Tạng Trang Nghiêm cõi Thế Giới Diệu Hỷ ở phía Tây thị hiện.
Nam mô Bắc Đẩu Đệ Cửu Ẩn Quang Nội Bật Tinh Quân thị Tây Phương Diệu Viên Thế Giới An Lạc Tự Tại Bồ Tát
Vị chủ sao Bắc đẩu thứ chín, Nam mô Ẩn Quang Nội Bật Tinh Quân, chính là Bồ Tát An Lạc Tự Tại cõi Thế giới Diệu Viên ở phương Tây thị hiện.
Ư thị Mạn Thù Thất Lợi Bồ Tát cập Chư Đại Chúng Văn Phật khai diễn như thượng kinh chơn giai thị quá khứ kiết tường thiện thệ Đại Bi Thế Tôn phổ vị chúng sanh hóa thân thị hiện cát hoan hỷ, đắc vỉ vị tằng hữu, khể thủ xưng tán như thuyết kệ ngôn.
Như thế, Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cùng đại chúng được nghe Đức Phật nói kinh điển cao vời về thệ nguyện chân thật tốt lành của các đức Phật thủa quá khứ, vì lòng từ bi thương sót muốn cứu độ chúng sinh mới hóa thân mang điềm lành vui vẻ, có được đại thần lực, liền cũng nhau nói lời ca ngợi và kệ rằng:
Đại Thánh chư thiện thệ vô thượng kiết tường tôn quá khứ dĩ tu chứng ly dục siêu thế gian thuỳ từ tý kiếp hậu lân mẫn chúng quần hữu Hoá Thân Thiên Trung Chủ Bắc Cực Thất Ngươn tôn Phụ Bậc Cộng Quyền Hành Chủ Tể vạn dựng.
Thiện tai Thích Ca Sư
Vị chúng cố tuyên thuyết
Ngã đẳng kim dĩ văn
Nguyện quảng vị mạt thế
Như thị Kinh Công Đức Cầu Phật tuyên dương.
Các Bậc Đại Thánh thủa quá khứ với thệ nguyện tốt lành tột bậc là mang điều tốt đẹp cho chúng sinh vì vậy dù đã tu chứng được quả siêu việt xuất thế gian, xa dời mọi điều mong cầu của thế gian nhưng với lòng thương sót chúng sinh đời sau mà hóa hiện thân ở cõi Thiên trung chủ bảy sao Bắc đẩu với năng lực tối tôn, chủ tể tạo lập vạn điều lành.
Lành thay Phật Thích Ca
Vì chúng con giải dạy
Con được nghe lời vàng
Vì chúng sinh đời Sau
Phát lời thề rộng lớn
Tuyên dương Thánh kinh này.
Nhĩ thời Phật cáo đại chúng:
Lúc đó, Phật bảo đại chúng:
Nhược hữu thiện nam tín nữ ý mỗi niên chánh ngoạt, bất nhựt thập ngoạt, thập nhứt, cửu nhật, cửu ngoạt , mỗi ngoạt, thất, cửu, nhựt bổn mạng sanh thỉnh nhựt trước tịnh y phục đối tinh tượng tiền-chí tâm xưng niệm Thất Phật như Bồ Tát tinh chơn Thánh hiện -tuỳ tâm sở cầu khắc niệm cảm ứng cánh năng bố đăng như đẩu, thiết tịnh thuỷ, hương hoa vu dạ phu thời kiền thiền kỳ đảo hàm đắc toại ý.
Nếu có người trai lành, người nữ tín nào có lòng mong cầu mỗi năm vào tháng riêng, và vào các ngày mồng tám tháng mười, ngày mười một, mồng chín tháng chín, ngày mồng bảy, mồng chín hàng tháng, ngày sinh của mình mặc quần áo sạch sẽ đối trước hình tượng chòm sao Bắc đẩu thỉnh cầu, một lòng xưng niệm danh hiệu Bảy vị Phật cùng hai vị Bồ Tát thì tùy theo tâm mong cầu điều gì liền thấy được sự cảm ứng tức thời. Cách thức là xếp đèn, nến như hình tượng chòm sao, dùng nước tinh khiết, hương hoa cúng dường vào ban đêm, tĩnh lòng rồi cầu gì được lấy.
Phật cáo Mạn Thù Thất Lợi, thế gian tể quan, cư sĩ, tăng ni, đạo, tục, nhược qưới nhược tiện đản hữu thất tình giai thuộc Bắc Đẩu sở chủ.
Phật bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, trong thế gian từ tể tướng, người tu tại gia, người xuất gia, người theo đạo, người không theo đạo, dù người phú quý, dù người nghèo hèn đều có bảy thứ tình cảm đều do Bắc đẩu làm chủ.
Nhược văn thử kinh thọ dĩ thọ trì đọc tụng thiết tương bố đẩu, hương hoa cúng dường, như thị chư lộc vị sùng cao, thọ mạng diên trường hoạch phước vô lượng.
Nếu được nghe kinh này, nhận, giữ, đọc, tụng, thiết lập đàn tràng, dùng hương hoa cúng dường, như vậy được cao sang, sống lâu, được phước đức không thể đếm được.
Nhược hữu tiên vong, viên niên cận nhựt, vị năng siêu độ khủng trệ u đồ, nhược năng trì tụng tư kinh, thọ tử Ân thí vong giả sanh Thiên, hiện tôn hoặch phước.
Nếu có tiên vong, hoặc người sắp chết, không thể cứu độ phải đọa trong đường ác, nếu thường trì tụng kinh này, thì người chết ấy nhờ ân đức đó mà sinh lên trời, được tôn kính, nhiều phước.
Nhược hữu nam nữ hoặc bị tà ma sở sâm, quỷ thần di hại, ác mộng kinh tích, tâm thần hôn loạn thọ trì thử kinh, chuyên tâm cúng dường tà quỷ thời tăng tức an lạc.
Nếu có kẻ thiện nam và người thiện nữ nào, hoặc bị loài quỷ mị xâm hại, hay tà ma quấy nhiễu, ác mộng quái lạ, hồn phách kinh sợ, nếu nghe kinh này thọ trì cúng dường hồn phách liền được yên ổn, không còn lo sợ.
Nhược hữu thiên tai, ngoại ách, tật bệnh triền thân, thọ trì thử kinh-kim trì trai giới tức đắc tai ách tiêu trừ, bệnh nguyên thoát thể.
Nếu bị thiên tai, bên ngoài bức bách, tật bịnh triền miên, thọ trì kinh này, bản thân giữ trai giới thì thiên tai, ngoai ách được tiêu trừ, bệnh tật qua khỏi.
Nhược hữu mạng phùng ác diệu vận trị oai tinh bạo xích nhiệt nhãn, ế mô giá tình, quan sự kiên liên, ngục tù cấm hệ-ngũ dụ ác mộng-bá quái cầm minh-đảng năng bố đăng Bắc Đẩu chi tiền, hương hoa tịnh thuỷ, khoá trì thử kinh, thất biến chí thất thất biến, hung ương diễn diệt-chư tá kiết tường.
Nếu mạng có gặp ác sự, gặp điềm báo ác, sao ác chiếu đến, hoặc bị oan tình, hoặc bị kiện tụng, hoặc bị tù tội, hoặc thấy mộng ác, thấy bị cầm tỏa thì nên xếp đèn Bắc đẩu đảnh lễ, dùng hương hoa, nước sạch cúng dương, tụng niệm kinh này bảy lần cho đến bảy mươi bảy lần thì tai ương đều hết, được nhiều điều lành.
Nhược hữu nam tử, cầu tự khoa danh, năng ư tịnh dạ phần hương. Bắc Đẩu chi tiền bái tụng thử kinh, thất biến chí bá biến chú tự, tức sanh thông huệ chi nam, chúc tức đăng long -hổ chi bản.
Nếu có người nào, cầu con, cầu công danh thì vào đêm thanh vắng, đối trước Bắc đầu lễ bái, tụng kinh này bảy lần cho đến trăm lần kinh này, thời nhanh chóng sinh con trai thông huệ, được công danh như ý bền lâu.
Nhược hữu điền viên lục súc, canh nậu thiểu thành, khả ư tịnh thất phần hương bái tụng thử kinh, tức đắc điền tâm bội hoạch súc dưỡng thành quần, hoặc hữu nữ nhơn luỵ thường thai giáp, lâm sản chí thời, tất hoài ưu lự-đản năng hương hoa cúng dường trì tụng thử kinh, tức đắc oan gia giải thích, dịch ư phân vãng, mẫu tử đoàn viên, nam nữ đoan chánh.
Nếu có làm ruộng vườn chăn nuôi nhưng chẳng được, liền ở trong phòng riêng sạch thắp hương cúng dường kinh này, ruộng tằm vừa ý, gia súc được nhiều, không còn tổn thất cũng chẳng tai chướng. Hoặc có người nữ nào trong lúc mang thai, hoặc đến lúc sinh, lòng luôn ưu sầu, lo nghỉ dùng hương hoa cúng dường, trì tụng kình này thì oan gia xóa bỏ được, đứa con sinh ra rễ dàng, mẹ tròn con vuông, đứa con là người đoan chính.
Phật ngôn Thiện Nam Tử tu tri: Bắc Đẩu Cổ Phật hoằng đại từ bi thị hiện thiên trung, chủ trương viên mạng, thống lãnh càn khôn, thượng chí đế vương dĩ cập lê thứ, thiên địa sơn hà, cầm thú thảo mộc nhứt thiết giai tuân-Thiết Ngươn Tinh Quân Chi sở Qủang Chiếu.
Phật bảo Thiên Nam Tử phải biết: Bắc đẩu chính là Cổ Phật hoằng dương đại từ bi nên thị hiện ở giữa trời, làm chủ để giúp tính mạng chính sinh đầy đủ, thống lãnh tất cả, trên từ vua chúa cho đến dân thường, trời đất núi sông, chim thú cỏ cây tất cả đều do Thiên Ngôn Tinh Quân chiếu dọi.
Nhược hữu tai suy nguy cấp, tức đương bố đăng, kiện cáo, trì tụng thử kinh, tác hoặch hộ hựu như ý kiết tường.
Nếu có tai nguy trước mắt, lập tức tạo xếp đèn Bắc đầu. Nếu có kiện cáo thì trì tụng kình thì được gia hộ, thu được điều lành như ý.
Nhược hữu quốc sĩ lâm ư chiến đích, năng trì thử kinh, tâm vô gián đoạn-thiết lập Thánh Tượng như pháp cúng dường, tức đắc dấu khí gia oai, thiên cang thuận chiếu, tướng thắng binh cường, phong đoan mã võng, tuỳ sở chí phương, ứng hổ khắc phục.
Nếu có vị quốc sỹ của nước nào phải dơi vào chiến loạn, nên thường trì kinh này, tâm không được để gián đoạn. Thiết lập Thánh tượng như pháp cúng dường, tức có được khí thế hùng dũng, được thiên cang thuận chiếu, tướng thắng binh cường, lương mạnh, quân khỏe, đi đến đâu đều thắng lợi đó.
Phật ngôn: Như thị, Thất Ngươn Như Lai cảm ứng vô lượng cùng kiếp nan tuyên, tắc ư thị trung, nhi thiết chú viết:
Đức Phật bảo: Như thế, Bảy vị Phật hiện làm Tinh Tú có cảm ứng vô lượng, hết kiếp cũng chẳng thể nói hết, thị hiện ở giữa trời. Phật liền nói chú rằng:
“Án hát na, đàn na, tra tra đế-ma ha đế-sất sất sất sất đế hát bát na vệ ta bà ha”.
Phật thuyết thử kinh dĩ, Mạn Thù Thất Lợi Bồ Tát cập chư đại chúng, thiên long bát bộ, tinh chơn quỷ thần cung kỉnh tác lễ kính thọ phụng hành.
Khi Phật nói kinh này song, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi cùng tất cả đại chúng, trời rông tám bộ, phi nhân quỷ thần cung kính lễ kính nhận giữ phụng hành.
Phật thuyết Thiên Trung Bắc Đẩu Cổ Phật Tiêu Tai Diên Thọ Diệu Kinh Toan Viết:
Bắc Cực quang minh phổ chiếu tứ phương khôi phược quyền hoàng tác huy hoàng phủ.
Phiếu, Phụ, Bậc, Cường khể thủ tuyên dương phước lộc thọ miên trường.
Nam mô Diên Thọ Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát ( 3lạy )
PHẬT NÓI THẤT TINH CHƠN NGÔN THẦN CHÚ
Úm, Táp Ðá Nhi Nẵng Giả, Bán Nhá Mật Nhá Giả, Nhiễm Phổ Tha, Ma Ta Phạ, Nhị Nẵng Ra Khất Sơn Bà Phạ Ðô Xóa Ha (108 lần).
1. Tham Lang tinh (sao Tham Lang). Người sanh giờ Tý hướng nơi vị tinh tú này mà hạ sanh. Nếu gặp nguy nạn, nên dùng món ăn gạo, lúa mạch cúng dường kinh này và đeo bổn Tinh Phù thì được đại kiết.
2. Cự Môn tinh (sao Cự Môn). Người sanh giờ Sửu, giờ Hợi đồng hướng nơi vị tinh tú này mà hạ sanh. Nếu khi gặp nguy nạn, nên dùng món ăn lúa, nếp cúng dường kinh này và đeo bổn Tinh Phù thì được đại kiết.
3. Lộc tồn tinh (sao Lộc Tồn). Người sanh giờ Dần, giờ Tuất đồng hướng nơi vị tinh tú này mà hạ sanh. Nếu khi gặp hoạn nạn, nếu dùng món ăn lúa tẻ cúng dường kinh này và đeo bổn Tinh Phù thì được đại kiết.
4. Văn Khúc tinh sao (sao Văn Khúc). Người sanh giờ Mẹo, giờ Dậu đồng hướng nơi vị tinh tú này mà hạ sanh. Nếu khi gặp hoạn nạn, nên dùng món ăn hạt đậu nhỏ cúng dường kinh này và đeo bổn Tinh Phù thì được đại kiết.
5. Liêm Trinh tinh (sao Liêm Trinh). Người sanh giờ Thìn, giờ Thân đồng hướng nơi vị tinh tú này mà hạ sanh. Nếu khi gặp hoạn nạn nên dùng món ăn hạt mè cúng dường kinh này và đeo bổn Tinh Phù thì được đại kiết.
6. Vũ Khúc tinh (sao Vũ Khúc). Người sanh giờ Tỵ, giờ Mùi đồng hướng nơi vị tinh tú này mà hạ sanh. Nếu khi gặp hoạn nạn nên dùng món ăn hạt đậu lớn cúng dường kinh này và đeo bổn Tinh Phù thì được đại kiết.
7. Phá Quân tinh (sao Phá Quân). Người sanh giờ Ngọ hướng nơi vị tinh tú này mà hạ sanh. Nếu khi gặp hoạn nạn, nên dùng món ăn hạt đậu nhỏ cúng dường kinh này và đeo bổn Tinh Phù thì được đại kiết.
Tụng trì Thần chú dưới đây:
*Phạn: Om Saptayinaya Banja Viyaya yamputhama svamine Raksam Bhavalu Soaha.
*Hán Việt: Úm táp đá nhi nẵng dã, bán nhá mật nhá dã, nhiễm phổ tha ma tap ha nhị nẵng ra khất sơn bà phạ đô xóa ha.
Nếu có người mỗi ngày tụng Thần chú này quyết định tội nghiệp thảy đều tiêu trừ và tất cả sở nguyện cầu đều được thành tựu. Nếu mỗi ngày tụng Thần chú này 108 biến, thân mình và tất cả quyến thuộc đều được phò hộ. Nếu tụng 500 biến được sức đại oai thần trong 500 do tuần, tất cả ma vương, các ma chúng, kẻ chướng ngại và vô lượng ác quỷ không dám gần gũi, thường được ủng hộ.
Ấn Triệu thỉnh Bắc Đẩu Thất Tinh:
Chắp tay trống ở giữa, 2 ngón cái vịn đầu móng ngón vô danh, 2 ngón giữa và 2 ngón út như lá sen, 2 ngón trỏ hơi cong đầu lại để cách khoảng qua lại tụng Chú Đảnh Luân Chơn Ngôn trước rồi sau đó mới triệu thỉnh Bắc Đẩu.
Ấn Khi Tụng Chú Bắc Đẩu Thất Tinh Diên Mạng:
Hai tay, 2 ngón giữa và 2 ngón cái vịn nhau, 2 ngón vô danh hợp lại trước mặt 2 ngón út, 2 ngón trỏ thẳng đứng. [/size]
*Hộ ma: Nên dùng vỏ lúa nếp, đậu, mật ong, dầu….bỏ vào lư hương mà thiêu cúng Sao Bổn Mạng của Mình. Khi hộ ma thì phải kèm theo câu Mật Chú: Namah Samanta Dhara Dhara Pacara Hum ( Pháp này làm trong 7 ngày 7 đêm: Nếu lửa động đậy biến ra sắc màu vàng lợt tức là nguyện đã thành tựu vậy
Quý vị nào vẽ Linh Phù Thất Tinh sử dụng không cần vẽ hình nhân biểu tượng và chử Tàu phía trên , chỉ cần chiếu theo Tinh Quân Phù bổn mạng giờ sanh của mình vẽ đúng nét là đặng linh ứng , xấu đẹp không sao , khi vẽ cần nín hơi , tập trung tinh thần , tắm rửa , súc miệng sạch sẻ .
https://www.facebook.com/ChanhPhapMi...2729768128410/
-
THẮP ĐÈN[1] THẤT TINH
Đèn thiền vừa thắp dâng lên
Mười phương rạng rỡ dứt đường vô minh
Nguyện cho hết thảy chúng sinh
Nhờ ơn Tam bảo quang minh sáng lòa
Chư thiên các cõi gần xa
Thảy đều hoan hỷ thương mà chứng minh
Pháp đàn Bắc Đẩu Thất Tinh
Chiếu soi khắp chốn đạo tràng an vui. 0
Nam mô Nhiên Đăng Vương Bồ tát Ma Ha Tát . (3 lần) 0
THỈNH NGỌC HOÀNG
Hương hoa khải thỉnh tấu Ngọc Hoàng
Nam Tào, Bắc Đẩu thảy chứng tri
Bổn mạng ngươn thần cùng gia hộ
Tiêu tai tăng phước thọ không lường.
Nam mô Vân Lai Tập Bồ Tát (3 lần). 0
THỈNH THẤT TINH GIÁO CHỦ
Hộ ma như pháp đã cúng dường
Thất tinh giáo chủ trọn xót thương
Không từ bổn nguyện ban ân xuống
Cùng phóng oai quang giáng pháp đàn.0
Nam mô Phạm Thiên Vương Bồ Tát (3 lần).0
Nam mô Đẩu Tinh Xí Thạnh Lưu Ly Quang Vương Phật. (3 lần) 0
[5] Nghi thức này cúng chủ yếu vào ngày 8/1, 7/7, 9/9 âl
http://blog.tamtay.vn/entry/view/683994
-
CHÍ TÂM QUY MẠNG LỄ
Nam-Bắc-Đông-Tây trung ngũ đẩu
Châu thiên thất thập nhị cung thần
Nhị thập bát tú liệt phương ngung
Cửu Diệu thất tinh chư thánh chúng
Đại Bi Đại Nguyện Đại Thánh Đại Từ Phật Quang chủ chiếu
Bổn mạng ngươn thần đại hạn-tiểu hạn-tinh quân-đại vận-tiểu vận-tôn-thần. la-kế-nguyện bộc bàn lâm chủ chiếu: kim-mộc-thủy-hỏa-thổ đức Tinh Quân, kỳ tiêu tai chí thạnh Quang Vương Phật.
Nam mô Quang Vương Phật ( 3lần )
Chơn Ngôn: Xương na dân na-sá sá đê-ma ha đế -ất sất sất sất đế-xương bát duệ ta bà ha ( 3lần ).
https://hypothalamus2615.wordpress.com/hinh-anh/
-
Trong Thất tinh Bắc đẩu chân ngôn này có một pháp bí mật vi diệu, năng lực chân ngôn thể hiện trực tiếp trên Thất tinh Bắc đẩu đó, muốn thực hiện theo Thất tinh Bắc đẩu này để cầu phước, công đức giúp cho người hành giả cầu tài lộc, cầu sự nghiệp, cầu an lành hạnh phúc, cầu an, cầu siêu, cầu trí huệ năng lực. Người hành giả trước đó phải được thọ nhận chân ngôn bổn tinh phù, phải thật tâm tin tưởng vào năng lực của chương cú, cầu thiện tri thức, cầu chân sư chuyên tu về mật chú có đầy đủ pháp ấn để giúp thể hiện đàn pháp Thất tinh Bắc đẩu này. Trải qua nhiều đời, có rất nhiều chư sư thực hiện đàn pháp này. Ngày xưa người ta dùng 7 cây đèn để biển diễn, biểu hiện năng lực công đứ trên 7 cây đèn đó. 7 cây đèn đó cũng có những vị trí giống như 7 vì sao Bắc đẩu ngày xưa trong truyện Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa. Có thể hiện qua văn tự hình ảnh vị chân sư Khổng Minh đã thực hiện qua đàn này để cầu mưa gió, cầu năng lực của vô hình giúp đỡ ông trong việc binh nghiệp, lập nghiệp của ông. Trong 7 cây đèn đó có một cây đèn chủ. Do số mạng bổn mạng con đường lập nghiệp của ông không thuận, cây đèn chủ ấy đã tắt. Ông biết ngay vận mạng ông không tốt. Đó là một khía cạnh khác của vị quân sư đó lập đàn pháp Thất tinh. Và đến hôm nay lâu lâu cũng thấy một vài vị con thực hiện đàn pháp này. Những đàn pháp trên có một phương pháp khác, tư tưởng tu học khác. Sự khác biệt đó là muốn nói lên với đàn pháp Thất tinh Bắc đẩu chân ngôn mật tông này ở đây. Nếu lập 7 cây đèn thì cũng có một cây đèn chủ và hai đèn phụ. Ngay bây giờ tôi thiết lập đàn Thất tinh này tôi đang dùng những viên đá thạch anh, và dùng những đường dẫn chuyền của Thất tinh này bằng năng lực của Mật chú, trì chú cho đến khi thấy năng lực Mật chú chân ngôn đó dẫn truyền và những viên thạch anh đó xoay thì mới được, kèm theo phải có những linh phù pháp ấn gia lên đàn pháp đó. Thực hiện đàn này mất rất nhiều công sức và năng lực. Đàn pháp này tôi giúp rất nhiều người đạt ý nguyện an lạc, hạnh phúc, tài lộc, danh vọng, trí huệ cùng thoát được bệnh tật hiểm nghèo. Đàn này tôi rất ít làm, chỉ giúp cho những vị chuyên tu, có tín tâm đến Phật đạo mà thôi. Những ý niệm này không phải tôi nói để thể hiện những sự hiểu biết của mình, không phải để biểu hiện cái ngã của mình, mà muốn nói lên đây mật chú chân ngôn Thất tinh Bắc đẩu rất vi diệu có vô lượng vô biên công đức, năng lực, trí huệ cùng sự giải thoát. Khi quí đạo hữu xem qua những ý niệm này hãy khởi lòng tín tâm thật vững chắc nơi giáo lý của Đức Phật, giáo lý pháp môn của chư phật luôn đem đến sự an lành, hạnh phúc, luôn làm lợi ích đến chúng sinh.
Hãy trì niệm thực hiện hành trì với tâm chân thật , xả bỏ sự tham, sân, si vọng tưởng . Nhẹ nhàng hít thở, hít vào biết mình đang niệm chú, thở ra biết mình đang niệm chú. Cứ như vậy mật chú sẽ đem lại sự an lành, lợi lạc hạnh phúc cho chúng ta.
http://www.tammat.net/default.aspx?g...3679#post11972
-
SAO BẮC ĐẨU-7 trung tâm thần lực-năng lượng Vũ Trụ quyết định mọi số mệnh muôn vật trong vũ trụ.
Gồm: 7 vị Đại tinh quân và hai vị tinh quân phù tá.
-Đây cũng là các chính tinh trong môn Tử vi-là các sao bản mệnh.
Các pháp môn, tôn giáo, phong thủy khác nhau trên thế giới, có cách gọi tên 9 vị Bắc Đẩu này khác nhau, nhưng đều rất kính trọng, thống nhất, có sự ảnh hưởng to lớn mọi mặt trong tín ngưỡng, đạo giáo, phong thủy huyền không phi tinh, độn giáp, thái ất, tử vi, thước Lỗ Ban…
PHẬT GIÁO
PHẬT THUYẾT: THIÊN TRUNG BẮC ĐẨU CỔ PHẬT TIÊU TAI DIÊN THỌ .
ÔNG A NAN KỂ: Đúng như thế này: - Chính tôi được nghe , một thời Phật ở Tĩnh Cư Thiên Cung, tập hợp các chư Thiên: Phạm Vương Đế Thích, Bát Bộ Hộ Tứ chúng đàm luận Pháp yếu.
Khi ấy Bồ tát Văn Thù Sư Lợi Từ đứng dậy, tiến đến trước Đức Phật mà bạch Phật rằng:-Thưa Đức Thế tôn, con thấy hầu hết nhân dân sang hèn, côn trùng xuẩn động, nằm trong Thái, Thiếu, Âm, Dương, Ngũ hành Kim, Mộc, Thủy Hỏa, Thổ, thảy đều do nơi Bắc Đẩu Thất Nguyên Tinh làm chủ tể. Vì cớ gì mà bảy sao bắc Đẩu giữa Trời có uy quyền, uy đức tối tôn như vậy?
Cúi xin Thế Tôn vì chúng tuyên thuyết, tất cả nhận Thiền và đại chúng đây thẩy đều quy hưởng.
Khi ấy Phật bảo Bồ tát Văn Thù và đại chúng rằng:
-Quý hóa lắm thay, ta sẽ vì ông và chúng sinh ở đời Vị lai tuyên thuyết duyên do để cho đời sau đều hiểu biết công đức lớn lao của bảy vì sao ấy, phúc thí quyền sinh, ân thí muôn cõi. Ông Văn Thù này: Khắp cõi tể quan, cư sĩ, tăng ni, đạo tục, dù sang dù hèn, cũng chỉ có 7 vị Bắc Đẩu Tinh Quân làm chủ bản mệnh. Thiện nam hay thiện nữ, cứ hàng năm ngày 8 tháng 1, ngày 7 tháng 7, ngày 9 tháng 9, và ngày sinh của mình, mặc y phục sạch sẽ, đối trước Tinh Tượng, chí tâm xưng 7 danh hiệu Cổ Phật và hai Bồ tát, tùy tâm cầu nguyện ...Có thể thắp 7 ngọn nến bày theo Tinh vị, rồi nửa đêm dâng cúng các thứ hương hoa, tinh thủy, dốc lòng cầu khẩn, ắt được như ý.
7 Vị gồm:
1-Ngài Bắc Đẩu: Đại Khôi Dương Minh Tham Lang Thái Tinh quân-cổ phật thế giới Tối Thắng Đông Phương, hiệu: Vận Ý Thông Chúng Như Lai.
2-Ngài Bắc Đẩu: Đại Thước Âm Tinh Cự Môn Nguyên Tinh quân-cố phật thế giới Diệu Bảo Đông Phương, hiêu: Quang Âm Tự Tại Như Lai.
3-Ngài Bắc Đẩu: Đại Quyền Chân Nhân Lộc Tồn Trinh Tinh quân-cố phật thế giới Viên Châu, hiệu: Kim Sắc Thành Tựu Như Lai.
4--Ngài Bắc Đẩu: Đại Hành Tiên Minh Văn Khúc Tinh Quân-cổ phật thế giới Vô Ưu Đông Phương, hiệu: Tối Thắng Cát Tường Như Lai.
5-Ngài Bắc Đẩu: Đại Tất Đan Nguyên Liêm Trinhh Cường Tinh quân-cố phật thế giới Tĩnh Trụ Đông Phương, hiệu: Quảng Đạt Trí Biện Như Lai.
6-Ngài Bắc Đẩu: Bắc Cực Vũ Khúc Kỷ Tinh Quân-cổ phật thế giới Pháp Ý Đông Phương, hiệu: Pháp Hải Du Hý Như Lai.
7-Ngài Bắc Đẩu: Phiêu Thiên Quan Phá Quân Tinh quân-cố phật thế giới Mãn Nguyện Đông Phương, hiệu: Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.
Ngoài ra, còn hai ngài Bắc Đẩu Bồ Tát:
Ngài Bắc Đẩu: Đông Minh Tả Phù Tinh quân-Bồ tát thế giới Diệu Hý Tây Phương, hiệu: Hoa Tạng Trang Nghiêm Bồ Tát.
Ngài Bắc Đẩu: Ấn Quan Hữu Bật Tinh quân-Bồ tát thế giới Diệu Viên Tây Phương, hiệu: An Lạc Tự Tại Bồ Tát.
Rồi đức Thế tôn đọc câu Thần chú sau: CHÚ SẠCH 3 NGHIỆP: -ÚM SA PHẠ BA PHẠ - TRUẬT ĐÀ SA PHẠ - ĐẠT MẠ SA PHẠ - BÀ PHẠ TRUẬT ĐỘ HÁM ÚM HÃT NA - ĐÀN NA - CHA CHA ĐẾ - MA HA ĐẾ - SÁT CHA- SÁT CHA ĐẾ - HẠT BÁT MA DUỆ - SA BÀ HA ( 3 lần)
http://adaygold1787.blogspot.com/2016/05/
-
-Kính ơn Cha-Thượng đế vào ngày 9/1 âm lịch.
-Lễ kính ơn Thầy: 9/8 âm lịch.
- Lễ Kính ơn Mẹ -Ngày 9/12 âm lịch.
Phương Đông-phương Tây đều cùng làm lễ như trên.
http://adaygold1787.blogspot.com/2016/05/
-
KINH PHẬT THUYẾT THIÊN TRUNG BẮC ĐẨU CỔ PHẬT TIÊU TÀI DIÊN THỌ
Ông A Nan kể, đúng như thế này:
Chính tôi được nghe, một thời Phật ở Tinh cư Thiên cung, tập hợp chủ Thiên:
Phạm Vương Đế Thích, Bát độ tứ chúng, đàm luận pháp yếu.
Khi ấy Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi từ tòa đứng dậy, tiến đến trước Phật mà bạch Phật rằng:
– Thưa Đức Thế Tôn, con thấy hầu hết nhân dân sang hèn, côn trùng xuẩn động nằm trong Thái, Thiếu Âm Dương, Ngũ hành, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, thảy đều do nơi Bắc Đẩu Thất nguyên Tinh làm chủ tể. Vì cớ gì mà bảy sao Bắc Đẩu ở giữa trời có uy quyền, uy đức tối tôn như vậy? Cúi xin Thế Tôn vì chung tuyên thuyết, tất cả nhân thiên và đại chúng đây thảy đều quy hướng.
Khi ấy Phật bảo Bồ Tát Văn Thù và đại chúng rằng:
Quý hóa lắm thay! Ta nay sẽ vì ông và chúng sinh ở đời vị lai tuyên thuyết duyên do để cho đời sau đều cùng hiểu biết, công đức lớn lao của bảy sao ấy, phúc thúy quyền sinh, ân thí muôn cõi.
– Vị Bắc Đẩu thứ nhất: Đại Khôi Dương Minh Tham Lam Thái Tinh Quân là Cổ Phật ở thế giới Tối Thắng Phương Đông, hiệu là Vân Ý Thông Chúng Như Lai.
– Vị Bắc Đẩu thứ hai: Đại Thước Âm Tinh Cự Môn Nguyên Tinh Quân là Cổ Phật ở thế giới Diệu Bảo Phương Đông, hiệu là Quan Âm Tự Tại Như Lai.
– Vị Bắc Đẩu thứ ba: Đại Quyền Chân Thân Lộc Tồn Chính Tinh Quân là Cổ Phật ở thế giới Viên Châu Phương Đông, hiệu là Kim Sắc Thành Tựu Như Lai.
– Vị Bắc Đẩu thứ tư: Đại Hành Tiên Minh Văn Khúc Nữu Tinh Quân là Cổ Phật ở thế giới Vô Ưu Phương Đông, hiệu là Tối Thắng Cát Tường Như Lai.
– Vị Bắc Đẩu thứ năm: Đại Tất Đán Nguyên Liêm Trinh Cường Tinh Quân là Cổ Phật ở thế giới Tĩnh Trụ Phương Đông, hiệu là Quảng Đạt Trí Hiện Như Lai
– Vị Bắc Đẩu thứ sáu: Bắc Cực Vũ Khúc Kỷ Tinh Quân là Cổ Phật ở thế giới Pháp Ý Phương Đông, hiệu là Pháp Hải Du Hi Như Lai
– Vị Bắc Đẩu thứ bảy: Phiên Thiên Quan Phá Quân Quan Tinh Quân là Cổ Phật ở thế giới Mãn Nguyệt Phương Đông, hiệu là Dược Sư Lưu Lý Quang Như Lai.
– Ngoài ra còn vị thứ tám: Đông Minh Ngoại Phu Tinh Quân là Bồ Tát ở thế giới Diệu Hỉ Phương Tây, hiệu là Hoa Tạng Trang Nghiêm Bồ Tát.
– Vị thứ chín: Án Quan Nội Bất Tinh Quân là Bồ Tát ở hế giới Diệu Viên Phương Tây, hiệu là An Lạc Tự Tại Bồ Tát.
Khi ấy Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi và các đại chúng nghe Phật khai diễn các sao Bắc Đẩu đều là Cổ Phật Như Lai, Ứng CÚng, Chính-Biến-Chi, Minh-Hành-Túc, Thiện-Thệ Thế Gian Giải, Vô Thương Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên, Nhân, Sư, Phật, Thế Tôn, khắp vì chúng sinh hóa thân thị hiện.
Nghe như thế rồi, tất cả đều sung sướng vui mừng, được sự chưa từng có, cúi đầu chắp tay đọc kệ khen rằng:
Các Đức Đại Thiện Thệ
Vô Thượng cát tường Tôn!
Ở đời quá khứ kia
Các ngài đã tu chứng
Ly dục xuất thế gian
Rủ lòng đại từ bi
Thương xót các chúng sinh
Hai nhăm hữu đời sau
Mà hóa thân thị hiện
Ở giữa vòm trời
Làm Thất Bắc Đẩu Tinh Quân
Gồm Ngoại phu, Nội bật
Chúa tể các muôn cõi
Quý thay! Quý hóa thay!
Thích Ca Văn đại sư
Đã vì đại chúng đây
Khai diễn cho được biết
Thất Bắc Đẩu Tinh Quân
Đều là các Cổ Phật
Đời quá khứ thị hiện
Chúng con nay được nghe
Nguyện xin vì hậu thế
Mà diễn nói rộng rãi
Bảo Kinh công đức này
Khi ấy, Phật bảo tất cả đại chúng rằng:
– Có thiện nam hay thiện nữ nào mà hằng năm cứ ngày 8 tháng Giêng, ngày 7 tháng 7, ngày 9 tháng 9, và hàng tháng cứ ngày 7 và ngày 9, với ngày sinh mình, mặc Y Phục sạch, đối trước tinh tượng chí tâm xưng niệm Danh hiệu 7 Phật và 2 Bồ Tát, thời tùy tâm nguyện, cầu gì cũng thấy cảm ứng ngay.
– Nếu lại có thể thắp 7 ngọn đèn, bày theo tinh vị, rồi lúc nửa đêm dâng cúng các thứ hương hoa, tinh thủy, dốc lòng khẩn cầu, ắt được như ý.
Ông Văn Thù này! Khắp cõi tể quan, cư sĩ, tăng ni, đạo tục, dù sang dù hèn, cũng chỉ có 7 vị Bắc Đẩu Tinh Quân làm chủ bản mệnh.
– Khi đã được nghe diễn nói Kinh này mà biết thắp đèn bày theo tinh vị của các sao Bắc Đẩu rồi cung kính đem các thứ hương hoa tịnh thủy, cúng dàng thời những người ấy lộc vị cao sang thọ mệnh diên trường, hưởng phúc vô lượng.
– Hoặc có cha mẹ quyến thuộc tiên vong đã lâu, hay mới chưa được siêu độ, lòng những lo họ chìm đắm u đồ mà biết vì họ bái tụng kinh này, in, viết, phân phát, thời các vong hồn của những người ấy được sinh Thiên thượng, thụ hưởng Thiên phúc.
– Nếu có người nam hay người nữ nào bị ma quỷ làm. Bị tà thần hại, các mộng sợ hãi, tâm thần hôn mê, mà biết vì họ thụ trì kinh này, chuyên tâm cúng dàng thời các ma quỷ tà thần đều thoái, được an lạc ngay.
– Nếu gặp năm xung tháng hạn gây nên tật bệnh tai nạn, mà biết thụ trì đọc tụng Kinh này, giữ gìn trai giới, liền được tiêu tai giải hết ách hết bệnh.
– Nếu có người nam hay nữ nào mệnh ngộ tai ách, vận phùng hung tinh, làm mắt đỏ ngầu, mang che đồng tử, hoặc bị kiện tụng, giam cầm tù ngục, năm canh thao thức, ác mộng kinh hoàng, sáu khắc bâng khuâng biếng ăn khổ não, mà biết thắp đèn, bày theo tinh vị của sao Bắc Đẩu, hương hoa, tịnh thủy, cung kính cúng dàng đặt thành thời khóa, đọc tụng kinh này, bảy biến cho chí bốn mươi chín biến, tâm liền tự tại, thân được an khang.
– Nếu có người nam hay nữ nào cầu tự, cầu thi, nên vào tịnh thất, đối trước tinh vị của sao Bắc Đẩu, bái tụng Kinh này bảy biến, trăm biến… cầu tự sẽ được sinh nam trí tuệ, cầu thi sẽ được ghi tên bảng vàng.
– Hoặc giả ruộng vườn cấy cầy trồng trọt thường bị thất thu, chăn nuôi lục súc hao tán bất lợi, cũng nên đối trước tinh vị Bắc Đẩu, hương hoa tịnh thủy, cung kính cúng dàng, bái tụng Kinh này, tức thời sẽ được gieo trồng bội thu, chăn nuôi phát triển.
– Có người nữ nào mang thai sầu não, đến lúc sinh nở trong tâm lo ngại, cũng nên thành tâm vì người nữ kia, hương hoa tịnh thủy, cung kính cúng dàng Bắc Đẩu Thất Tinh, bái tụng Kinh này, tức thời sẽ được lâm sản an toàn, sinh nam trí tuệ, sinh nữ đoan trang.
Ông Văn Thù này! Bắc Đẩu Cổ Phật quảng đại từ bi… thị hiện giữa trời, chủ trương niên mệnh, thống lĩnh càn khôn, trên từ vua chúa, dưới đến nhân dân, trời đất núi sông, chim muông cây cỏ, tất cả đều do Thất Tinh Bắc Đẩu cai quản soi chiếu.
– Nếu có tai ương suy biến nguy cấp, thời nên lập tức thắp đèn bày theo Bắc Đẩu tinh vị, thành tâm khẩn cầu, đọc tụng Kinh này, tức thời sử được gia hộ tốt lành như ý sở cầu.
– Nếu đất nước nào có sự chiến tranh mà có thể bày đèn theo tinh vị, hương hoa tịnh thủy, cung kính cúng dàng, đọc tụng Kinh này, tâm không gián đoạn, tức thời sẽ được Đẩu khi gia uy, Thất tinh thuận chiếu, khiến được thiên thời, địa lợi, nhân hòa, tướng hùng binh dũng, thế mạnh như gió, tiến đến phương nào, phương ấy bình phục.
Đức Phật Thế Tôn tuyên thuyết bảy Đức Cổ Phật Như Lai cảm ứng vô lượng cùng kiếp khó nói hết rồi Đức Thế Tôn đọc thần chú rằng:
“Úm hạt na, đàn na
Cha cha dé, ma ha dé,
Sát cha dé, sắt cha dé,
Hạt bát ma duệ sa bà ha (3 lần)”
Khi Đức Thế Tôn nói Kinh này xong, Bồ Tát Văn Thù cùng các đại chúng, Thiên Long Bát Bộ Quần Tinh, Quỷ Thần, thảy đều cung kính tuân theo phụng hành.
Phật Thế Tôn khai diễn Bắc Đẩu Nguyên Tinh thị hiện ở Thiên trung, tiêu tai thọ diên trường, chiếu khắp bốn phương, có uy lực quyền hành, Ngoại phu và Nội bật rất rực rỡ huy hoàng, khể thủ tán dương được phúc thọ diên trường.
Nam Mô Hội Thượng Bắc Đẩu nguyên tinh chư Phật Bồ Tát ma ha tát
Nam Mô Tiêu Tai Diên Thọ Bắc Đẩu Cổ Phật Tinh Quân.
Đệ tử con là… tuổi…ở…. cúi nguyện từ bi gia hộ.
Bài ca tinh vị
Nhất, Ngũ, Thất trực như huyền
Nhị, Tứ, Lục diệc kham nhiên
Duy hữu Tam tinh cư nhất vị
Hành chi ngưỡng tượng vu thiên
Lược dịch:
Bài ca về vị trí các sao
1,5,7 thẳng dây phơi
2,4 và 6 cũng phân ngôi
Duy sao thứ ba đứng riêng vị
Ngửa trông tinh tượng ở giữa trời
THẤT TINH CHÂN NGÔN THẦN CHÚ
– Mỗi ngày tụng thần chú này, thì mọi tội nghiệp đều được tiêu trừ và tất cả mọi sở nguyện sở cầu đều được thành tựu
– Nếu mỗi ngày tụng Thần Chú này 108 biến thì thân mình và tất cả quyến thuộc đều được phù hộ.
– Nếu tụng Kinh 500 biến, thì được đại oai thần trong 500 do tuần, tất cả Ma vương, Ma chúng, kẻ chướng ngại và vô lượng ác quỷ không dám gần gũi, thường được ủng hộ.
ÚM TÁP ĐÁ NHỊ NẴNG, DÃ BÁN NHÁ, MẬT NHÁ DÃ, NHIỄM PHỔ THA, MA TA PHẠ NHỊ NẴNG RA KHẤT SƠN BÀ PHẠ ĐÔ XÓA HA.
- st
https://kinhduocsu.tumblr.com/post/1...%ADt-ti%C3%AAu / http://tve-4u.org/threads/thuyet-thi...ien-tho.31778/
-
Nghi Thức Tụng Niệm của Bắc Đẩu Thất Tinh
T21n1305 北Bắc 斗Đẩu 七Thất 星Tinh 念Niệm 誦Tụng 儀Nghi 軌Quỹ
北Bắc 斗Đẩu 七Thất 星Tinh 念Niệm 誦Tụng 儀Nghi 軌Quỹ
爾nhĩ 時thời 如Như 來Lai 。 為vì 末mạt 世thế 薄bạc 福phước 。 一nhất 切thiết 眾chúng 生sanh 故cố 。 說thuyết 真chân 言ngôn 教giáo 法Pháp 。
時thời 一nhất 切thiết 日nhật 月nguyệt 星tinh 宿tú 。 皆giai 悉tất 雲vân 集tập 。 前tiền 後hậu 圍vi 繞nhiễu 。 異dị 口khẩu 同đồng 音âm 。 白bạch 言ngôn 。
唯duy 願nguyện 如Như 來Lai 。 而nhi 為vì 我ngã 等đẳng 。 說thuyết 於ư 神thần 咒chú 。
于vu 時thời 世Thế 尊Tôn 。 說thuyết 八Bát 星Tinh 咒Chú 曰viết 。
oṃ sa pta ji na ya bha rja vi ja ya jaṃ pū tha ma sva mi na ra kṣaṃ bha va tu svā hā
唵án 。 颯tát 。 跢đa 。 而nhi 。 曩nẵng 。 野dã 。 伴bạn 。 惹nhạ 。 密mật 。 惹nhạ 。 野dã 。 染nhiễm 。 普phổ 。 他tha 。 摩ma 。 娑sa 嚩phạ 。 弭nhị 。 曩nẵng 。 囉ra 。 乞khất 山sơn 。 婆bà 。 嚩phạ 。 都đô 。 莎sa 。 呵ha 。
其kỳ 印ấn 明minh 。 出xuất 金Kim 剛Cang 頂Đảnh 經Kinh 。 七Thất 星Tinh 品Phẩm 。
佛Phật 告cáo 貪Tham 狼Lang 破Phá 軍Quân 等đẳng 言ngôn 。
若nhược 有hữu 善thiện 男nam 子tử 善thiện 女nữ 人nhân 。 受thọ 持trì 是thị 神thần 咒chú 擁ủng 護hộ 否phủ 。
于vu 時thời 八bát 女nữ 。 白bạch 世Thế 尊Tôn 言ngôn 。
若nhược 有hữu 人nhân 。 每mỗi 日nhật 誦tụng 此thử 神thần 咒chú 。 決quyết 定định 罪tội 業nghiệp 。 皆giai 悉tất 除trừ 滅diệt 。 成thành 就tựu 一nhất 切thiết 願nguyện 求cầu 。
設thiết 復phục 有hữu 人nhân 。 若nhược 能năng 每mỗi 日nhật 。 誦tụng 此thử 神thần 咒chú 。 一nhất 百bách 八bát 遍biến 。 即tức 得đắc 自tự 身thân 。 及cập 一nhất 切thiết 眷quyến 屬thuộc 擁ủng 護hộ 。
若nhược 能năng 誦tụng 五ngũ 百bách 遍biến 。 大đại 威uy 神thần 力lực 。 五ngũ 百bách 由do 旬tuần 內nội 。 普phổ 皆giai 圍vi 繞nhiễu 。 一nhất 切thiết 魔ma 王vương 。 及cập 諸chư 魔ma 眾chúng 。 一nhất 切thiết 障chướng 者giả 。 無vô 量lượng 惡ác 鬼quỷ 。 不bất 敢cảm 親thân 近cận 。 常thường 當đương 擁ủng 護hộ 。 北bắc 斗đẩu 八bát 女nữ 。 一nhất 切thiết 日nhật 月nguyệt 。 星tinh 宿tú 諸chư 天thiên 。 龍long 。 藥dược 叉xoa 。 能năng 作tác 障chướng 難nạn 者giả 。 一nhất 時thời 斷đoạn 壞hoại 。
若nhược 人nhân 欲dục 供cúng 養dường 者giả 。 先tiên 發phát 拔bạt 濟tế 心tâm 。 於ư 清thanh 淨tịnh 寂tịch 靜tĩnh 之chi 處xứ 。 以dĩ 香hương 華hoa 飲ẩm 食thực 供cúng 養dường 。 持trì 念niệm 神thần 咒chú 。 結kết 印ấn 契khế 。 如như 是thị 供cúng 養dường 時thời 。 八bát 女nữ 。 及cập 一nhất 切thiết 眷quyến 屬thuộc 。 現hiện 身thân 隨tùy 意ý 奉phụng 仕sĩ 。 成thành 就tựu 無vô 量lượng 願nguyện 求cầu 。 惹nhạ 位vị 即tức 得đắc 。 何hà 況huống 世thế 間gian 。 少thiểu 少thiểu 官quan 位vị 榮vinh 耀diệu 。
若nhược 求cầu 壽thọ 命mạng 。 削tước 定định 業nghiệp 籍tịch 。 還hoàn 付phó 生sanh 籍tịch 。
若nhược 諸chư 國quốc 王vương 。 王vương 子tử 。 大đại 臣thần 。 後hậu 宮cung 等đẳng 。 於ư 自tự 宮cung 中trung 。 作tác 曼mạn 荼đồ 羅la 。 如như 法pháp 護hộ 摩ma 。 禮lễ 拜bái 供cúng 養dường 。 北bắc 斗đẩu 八bát 女nữ 。 皆giai 大đại 歡hoan 喜hỷ 。 故cố 久cửu 居cư 勝thắng 位vị 。 恆hằng 常thường 受thọ 安an 樂lạc 。 百bách 官quan 上thượng 下hạ 和hòa 穆mục 。 不bất 行hành 非phi 法pháp 。 人nhân 民dân 熾sí 盛thịnh 。 稼giá 穡 豐phong 饒nhiêu 。 國quốc 土thổ 安an 寧ninh 。 無vô 有hữu 災tai 難nạn 。 不bất 現hiện 異dị 怪quái 。 疫dịch 病bệnh 死tử 亡vong 不bất 起khởi 。 境cảnh 內nội 怨oán 敵địch 群quần 賊tặc 。 自tự 然nhiên 退thoái 散tán 。
故cố 以dĩ 是thị 法pháp 。 甚thậm 為vi 祕bí 密mật 。 不bất 信tín 者giả 。 及cập 無vô 智trí 人nhân 中trung 。 勿vật 妄vọng 宣tuyên 傳truyền 。 無vô 智trí 人nhân 。 不bất 分phân 明minh 心tâm 故cố 。 不bất 得đắc 法pháp 。 意ý 生sanh 疑nghi 謗báng 。 雖tuy 無vô 智trí 人nhân 。 金Kim 剛Cang 生Sanh 。 金Kim 剛Cang 子Tử 等đẳng 。 常thường 誦tụng 持trì 佛Phật 眼nhãn 母mẫu 明minh 者giả 。 當đương 宣tuyên 傳truyền 。 金Kim 剛Cang 子Tử 。 雖tuy 無vô 智trí 。 不bất 生sanh 疑nghi 謗báng 。 故cố 成thành 就tựu 法pháp 。 行hành 者giả 雖tuy 樂nhạo 世thế 間gian 樂lạc 。 深thâm 迴hồi 向hướng 無vô 上thượng 。 正Chánh 等Đẳng 菩Bồ 提Đề 。
北Bắc 斗Đẩu 七Thất 星Tinh 念Niệm 誦Tụng 儀Nghi 軌Quỹ
https://daitangkinh.net/?action=Tripitaka&c=T21
-
📖 Nghi Thức Hỏa Tế Bí Yếu của Bắc Đẩu Thất Tinh
T21n1306 北Bắc 斗Đẩu 七Thất 星Tinh 護Hộ 摩Ma 祕Bí 要Yếu 儀Nghi 軌Quỹ
北Bắc 斗Đẩu 七Thất 星Tinh 護Hộ 摩Ma 祕Bí 要Yếu 儀Nghi 軌Quỹ
我ngã 今kim 為vì 末mạt 世thế 。 薄bạc 福phước 眾chúng 生sanh 故cố 。 說thuyết 是thị 北bắc 極cực 七thất 星tinh 。 供cúng 養dường 護hộ 摩ma 。 次thứ 第đệ 儀nghi 則tắc 。
於ư 靜tĩnh 室thất 中trung 。 作tác 一nhất 水thủy 壇đàn 。 或hoặc 方phương 或hoặc 圓viên 。 各các 足túc 一nhất 肘trửu 。 以dĩ 茅mao 香hương 。 甘cam 松tùng 。 熏huân 陸lục 。 龍long 腦não 。 白bạch 檀đàn 。 五ngũ 味vị 和hòa 合hợp 。 泥nê 塗đồ 之chi 。 其kỳ 壇đàn 場tràng 內nội 。 安an 著trước 圓viên 爐lô 。 飲ẩm 食thực 果quả 子tử 。 分phân 別biệt 置trí 之chi 。 燒thiêu 食thực 。 謂vị 飯phạn 食thực 果quả 。 餅bính 酥tô 蜜mật 等đẳng 。 但đãn 五ngũ 穀cốc 。 并tinh 乳nhũ 木mộc 。 隨tùy 人nhân 命mạng 星tinh 。 相tương 撿kiểm 用dụng 之chi 。
先tiên 啟khải 詞từ 曰viết 。
至chí 心tâm 奉phụng 啟khải 。 北bắc 極cực 七thất 明minh 。 娜Na 羅La 。 貪Tham 狼Lang 。 巨Cự 門Môn 。 祿Lộc 存Tồn 。 文Văn 曲Khúc 。 廉Liêm 貞Trinh 。 武Võ 曲Khúc 。 破phá 軍quân 尊tôn 星tinh 。 為vi 陀đà 主chủ 某mỗ 甲giáp 。 災tai 厄ách 解giải 脫thoát 。 壽thọ 命mạng 延diên 長trường 。 得đắc 見kiến 百bách 秋thu 。 今kim 作tác 曼mạn 荼đồ 羅la 。 唯duy 願nguyện 垂thùy 哀ai 。 降giáng 臨lâm 此thử 處xứ 。 納nạp 受thọ 護hộ 摩ma 。 擁ủng 護hộ 施thí 主chủ 某mỗ 甲giáp 。 災tai 難nạn 解giải 脫thoát 。 壽thọ 命mạng 增tăng 長trưởng 。 所sở 願nguyện 從tùng 心tâm 。
次thứ 結kết 其kỳ 印ấn 。 虛hư 心tâm 合hợp 掌chưởng 。 以dĩ 二nhị 大đại 指chỉ 。 捻nẫm 二nhị 無vô 名danh 指chỉ 甲giáp 。 二nhị 中trung 指chỉ 。 二nhị 小tiểu 指chỉ 。 如như 蓮liên 葉diệp 。 二nhị 頭đầu 指chỉ 小tiểu 開khai 。 屈khuất 來lai 去khứ 。
次thứ 誦tụng 一Nhất 字Tự 頂Đảnh 輪Luân 王Vương 真Chân 言Ngôn 。 并tinh 召Triệu 北Bắc 斗Đẩu 七Thất 星Tinh 真Chân 言Ngôn 。
頂Đảnh 輪Luân 真Chân 言Ngôn 曰viết 。
na mo sa ma nta da ra da ra pa ca ra hūṃ
曩nẵng 。 慕mộ 。 三tam 。 曼mạn 。 多đa 。 那na 。 羅la 。 那na 羅la 。 跛bả 。 左tả 。 囉ra 。 吽hồng 。
召Triệu 北Bắc 斗Đẩu 真Chân 言Ngôn 曰viết 。
na maḥ sa ma nta da ra na e hye hi pa i ha i da i ka i ra i mro ta ra gha ra haṃ svā hā
曩nẵng 。 莫mạc 。 三tam 。 曼mạn 。 多đa 。 那na 。 羅la 。 曩nẵng 。 翳ế 。 醯hê 。 呬hê 。 頗phả 。 伊y 。 賀hạ 。 伊y 。 那na 。 伊y 。 迦ca 。 伊y 。 囉ra 。 伊y 。 謨mô 囉ra 。 哆đa 。 囉ra 。 伽già 。 囉ra 。 唅hám 。 娑sa 嚩phạ 。 訶ha 。
以dĩ 手thủ 取thủ 木mộc 及cập 穀cốc 。 并tinh 酥tô 蜜mật 油du 等đẳng 。 擲trịch 之chi 於ư 爐lô 。 內nội 火hỏa 燒thiêu 之chi 。 自tự 專chuyên 視thị 其kỳ 。 本bổn 命mạng 之chi 星tinh 。 若nhược 動động 搖dao 變biến 色sắc 。 光quang 照chiếu 通thông 爍thước 。 光quang 貌mạo 黃hoàng 白bạch 者giả 。 即tức 應ưng 願nguyện 如Như 來Lai 。 依y 前tiền 法pháp 。 七thất 日nhật 夜dạ 。 而nhi 為vi 之chi 。 必tất 應ưng 如như 事sự 。 不bất 即tức 其kỳ 星tinh 。 藏tàng 沒một 不bất 見kiến 。 謂vị 北bắc 斗đẩu 七thất 星tinh 者giả 。 日nhật 月nguyệt 五ngũ 星tinh 之chi 精tinh 也dã 。 曩nẵng 括quát 七thất 曜diệu 。 照chiếu 臨lâm 八bát 方phương 。 上thượng 曜diệu 於ư 天thiên 神thần 。 下hạ 直trực 于vu 人nhân 間gian 。 以dĩ 司ty 善thiện 惡ác 。 而nhi 分phân 禍họa 福phước 。 群quần 星tinh 所sở 朝triêu 宗tông 。 萬vạn 靈linh 所sở 俯phủ 仰ngưỡng 。
若nhược 有hữu 人nhân 能năng 。 禮lễ 拜bái 供cúng 養dường 。 長trường 壽thọ 福phước 貴quý 。 不bất 信tín 敬kính 者giả 。 運vận 命mạng 不bất 久cửu 。
是thị 以dĩ 祿lộc 命mạng 書thư 云vân 。
世thế 有hữu 司ty 命mạng 。 神thần 每mỗi 至chí 庚canh 申thân 日nhật 。 上thượng 向hướng 天thiên 帝đế 。 陳trần 說thuyết 眾chúng 人nhân 之chi 罪tội 惡ác 。 重trọng 罪tội 者giả 。 則tắc 徹triệt 算toán 。 輕khinh 罪tội 者giả 。 則tắc 去khứ 紀kỷ 。
算toán 書thư 紀kỷ 告cáo 。 即tức 主chủ 命mạng 已dĩ 者giả 。
是thị 故cố 如Như 來Lai 。 為vì 末mạt 世thế 。 薄bạc 福phước 短đoản 命mạng 。 夭yểu 死tử 眾chúng 生sanh 故cố 。 說thuyết 是thị 一Nhất 字Tự 頂Đảnh 輪Luân 王Vương 。 召triệu 北bắc 斗đẩu 七thất 星tinh 。 供cúng 養dường 護hộ 摩ma 之chi 儀nghi 則tắc 。 為vì 供cúng 養dường 者giả 。 令linh 其kỳ 屬thuộc 命mạng 星tinh 。 數số 削tước 死tử 籍tịch 。 還hoàn 付phó 生sanh 籍tịch 。
若nhược 諸chư 國quốc 王vương 。 於ư 自tự 宮cung 中trung 。 作tác 曼mạn 荼đồ 羅la 。 如như 法pháp 護hộ 摩ma 。 禮lễ 拜bái 供cúng 養dường 。 北bắc 斗đẩu 歡hoan 喜hỷ 。 為vì 擁ủng 護hộ 故cố 。 久cửu 居cư 勝thắng 位vị 。 恆hằng 受thọ 安an 穩ổn 。 后hậu 妃phi 夫phu 人nhân 。 後hậu 宮cung 綵thải 女nữ 。 王vương 子tử 群quần 臣thần 。 三tam 公công 百bách 官quan 。 上thượng 下hạ 和hòa 穆mục 。 不bất 行hành 非phi 法pháp 。 人nhân 民dân 熾sí 盛thịnh 。 稼giá 穡 豐phong 饒nhiêu 。 國quốc 土thổ 安an 寧ninh 。 無vô 有hữu 災tai 難nạn 。 不bất 現hiện 怪quái 異dị 。 疫dịch 病bệnh 死tử 亡vong 不bất 起khởi 。 境cảnh 內nội 怨oán 敵địch 群quần 賊tặc 。 自tự 然nhiên 退thoái 散tán 。 故cố 以dĩ 是thị 法pháp 。 甚thậm 為vi 祕bí 要yếu 。
北Bắc 斗Đẩu 七Thất 星Tinh 護Hộ 摩Ma 祕Bí 要Yếu 儀Nghi 軌Quỹ
https://daitangkinh.net/?action=Tripitaka&c=T21
-
生活佛教網
輕鬆學佛,輕鬆生活
首頁 > 璁葉清露------清新自由心 > 密乘寶藏 > 北斗消災增福延壽法
密 乘 寶 藏
圓覺宗 智敏·慧華金剛上師 傳授
貝雅明珠金剛上師 普傳
北斗消災增福延壽法
四皈依
南無咕嚕啤(na mo gu ru bei)
皈依 貝雅明珠金剛上師
南無布達耶(na mo bu da ya)
皈依 諸佛
南無達爾嘛耶(na mo da er ma ya)
皈依 正法
南無僧伽耶(na mo seng ga ya)
皈依 聖僧
弟子(稱自己的名)率領全家眷屬以 一切眾生等
皈依具有根本傳承具德寶上師
皈依佛 皈依法 皈依僧
皈依勇父空行諸護法守者眾
惟願攝受弟子,令業力清淨,百病消 ,福壽增長,
全家平安,世界和平,眾生得安樂, 賜修法得成就。
奉 請
一心奉請,上師三寶,佛眼大日,七 藥師,文殊童子,
斗母七星,延命菩薩,寶藏財神,吉 天女,焰摩天王,
及諸眷屬,降臨于此,歡喜受供,護 弟子,擁護國土,
超度幽冥,拔濟先亡,攝受土神,安 吉祥,福壽增長,凡聖同慶。
開經偈
無上甚深微妙法,百千萬劫難遭遇,
我今見聞得受持,願解如來真實義。
佛說天中北斗古佛消災延壽妙經
如是我聞。一時佛在淨居天宮。集諸 眾。帝釋梵王。八部四眾。廣談法要 爾時曼殊室利菩薩。從座而起。前白 佛言。世尊。伏見帝王宰輔。貴賤眾 。四象五行。含靈蠢動。莫不皆由北 七元之所主宰。何故。是星於周天中 。威權威德。最尊最上。惟願世尊為 宣說。一切人天咸知皈向。爾時世尊 曼殊室利菩薩。及諸大眾言。善哉善 哉。吾今為汝。及末世眾生。敷宣因 。與當來世。咸共知之。是七元尊星 福彼群生。恩施萬彙功德者也。于時 世尊。即說北斗七元古佛聖號。
即唱聖號每位一拜
南無北斗第一大魁 (讀音:葵)陽明貪狼太星君
是 東方最勝世界運意通證如來
南無北斗第二大鬼勺(讀音:碩)陰 巨門元星君
是 東方妙寶世界光音自在如來
南無北斗第三大鬼雚(讀音:歡)真 祿存貞星君
是 東方圓珠世界金色成就如來
南無北斗第四大鬼行(讀音:姓)玄 文曲紐星君
是 東方無憂世界最勝吉祥如來
南無北斗第五大魓 (讀音:畢)丹元廉貞罡星君
是 東方淨住世界廣達智辨如來
南無北斗第六大鬼甫(讀音:甫)北 武曲紀星君
是 東方法意世界法海遊戲如來
南無北斗第七大魒 (讀音:飄)天關破軍關星君
是 東方滿月世界藥師琉璃光如來
南無北斗第八洞明外輔星君
是 西方妙喜世界華藏莊嚴菩薩
南無北斗第九隱光內弼星君
是 西方妙圓世界安樂自在菩薩
於是曼殊室利菩薩。及諸大眾。聞佛 演。如上星真。皆是過去吉祥善逝。 悲世尊。普為眾生。化身示現。各各 歡喜。得未曾有。稽首稱讚。而說偈 。
大聖諸善逝 無上吉祥尊 過去已修證 離欲超世間
垂慈四劫後 憐憫諸群有 化身天中主 北極七元尊
輔弼共權衡 主宰於萬彙 善哉釋迦師 為眾故宣說
我等今已聞 願廣於末世 如是經功德 求佛盡宣揚
爾時佛告大眾。若有善男信女。於每 正月人日(註:正月初七)。七月七 。九月九日。每月七九日。本命生辰 日。著新淨衣服。對星象前。志心稱 。七佛二菩薩。星真聖號。隨心所求 克念感應。更能布燈如斗。設淨水香 花。於夜分時。虔誠祈禱。咸得遂意 佛告曼殊室利。世間宰官居士。僧尼 俗。若貴若賤。但有識情。皆屬北斗 所主。若聞此經。受持讀誦。設象布 。香花供養。如是之人。祿位崇高。 命延長。獲福無量。若有先亡。遠年 近日。未能超度。恐滯幽途。若能持 斯經。壽梓印施。亡者升天。現存獲 。若有男女。或被邪魔所侵。鬼神為 害。惡夢驚惕。心神昏亂。受持此經 專心供養。邪鬼退藏。即得安樂。若 災年月厄。疾病纏身。受持此經。兼 持齋戒。即得災厄消除。病源脫體。 有命逢惡曜。運值威星。暴赤熱眼。 膜遮睛。官事牽連。獄囚禁繫。五夜 (註:五更)惡夢。百怪禽鳴。但能 燈北斗之前。香花淨水。課持此經七 。至七七遍。凶殃殄滅。諸作吉祥。 若有男子求嗣科名。能於靜室焚香。 斗之前。拜誦此經。七遍至百遍。祝 即生聰慧之男。祝名即登龍虎之榜。 若有田園六畜。畊耨少成。可於靜室 香。拜誦此經。即得田蠶倍獲。畜養 群。或有女人。累傷胎甲。臨產至時 。心懷憂慮。但能香花供養。持誦此 。即得冤家解釋。易於分娩。母子團 。男女端正。佛言。善男子。須知北 斗古佛。弘大慈悲。示現天中。主張 命。統領乾坤。上至帝王。以及黎庶 天地山河禽獸草木。一切皆遵七元星 君之所管照。若有災衰危急。即當布 虔告。持誦此經。即獲護佑。如意吉 。若有國土。臨於戰敵。能持是經。 心無間斷。設立聖相。如法供養。即 斗氣加威。天罡順照。將勝兵強。鋒 馬勇。隨所至方。應呼剋伏。佛言如 是七元如來。感應無量。窮劫難宣。 於是中而說咒曰。
嗡。哈那打那。他他地。麻哈地。
他他。他他地。哈巴那耶。所哈。
佛說此經已。曼殊室利菩薩。及諸大 。天龍八部。星真鬼神。恭敬作禮。 受奉行。
佛說天中北斗古佛消災延壽妙經咒
嗡。哈那打那。他他地。麻哈地。
他他。他他地。哈巴那耶。所哈。
讀音:OM。HANA。DANA。TATATI。MAHATI
TATA。TATATI。HAPANAYE。SOHA。
祈 願
南無斗母七星君,願我安穩增吉慶,
南無斗母七星君,願我魂魄神吉祥,
南無斗母七星君,願我延壽增福慧,
南無斗母七星君,願我心願速成就,
南無斗母七星君,願我祖靈得超昇,
南無斗母七星君,願債業速得清淨,
南無斗母七星君,願諸幽眾生善道,
南無斗母七星君,願諸地神增福德,
南無斗母七星君,願諸護法增威靈,
南無斗母七星君,願諸國土常安穩,
南無斗母七星君,願諸佛法常住世,
南無斗母七星君,願諸仙術常利生,
南無斗母七星君,願諸施主得如意,
南無斗母七星君,願諸眾生得自在。
吉祥頌
願晝吉祥夜吉祥,晝夜六時恆吉祥,
護法天龍除諸障,一切成就大吉祥。
總回向
以此功德 上供下施 川流不息 行無緣慈
徧滿虛空 普週法界 四聖六凡 圓融無礙
https://www.yuanjuezong.com/%E7%92%8...3%BD%E6%B3%95/
============
真佛宗」
補充二:我勉強把道家經典中仿梵語 咒,還原為梵語的話,北斗經最後部 的咒是: Om hana dana tatadi mahadi cheta cheta di hapanaye svaha
https://tbsbs.tumblr.com/post/636353...E7%9A%84/embed
-
BẮC ĐẨU THẤT TINH CỔ CHÚ
北斗七星古咒 Beidou ancient mantra
OM HANA DANA TATATI MAHATI TATA TATATI HAPANAYE SOHA.
http://www.moonchin.com.my/wp-conten...r_-chinese.pdf
-
https://www.youtube.com/watch?v=snX3-vFY3Ao
Con Cái Bất Hiếu Với Cha Mẹ sau này sẽ nhận quả báo gì? Những Câu Chuyện Nhân Quả Phật Giáo Hay Nhất
-
-
今发布北斗七星之秘密咒:
北斗心咒曰:嗡,萨打楠,及那雅, 哈。
北斗增益咒曰:嗡,萨打楠,及那雅 巴萨巴那耶,达楠,布师顶古如,梭 。
北斗延寿咒曰:嗡,萨打楠,及那雅 阿育儿达爹,布师顶古如,梭哈。
北斗开智慧咒曰:嗡,萨打楠,及那 ,阿巴啰加那提,吽呸,梭哈
唐密北斗七星心咒:
Om sapta jinaya bharja vijaya jam pthama svamina raksam bhavatu svh
嗡 萨达 吉那雅 巴勒加 V加雅 jam布他嘛 斯哇弥那 啦格sam 巴哇度 斯哇哈
修持次第一:
念诵七佛名号
南無善名称吉祥王如来
南無宝月智严光音自在王如来
南無金色宝光妙行成就如来
南無无忧最胜吉祥如来
南無法海雷音如来
南無法海胜慧游戏神通如来
南無药师琉璃光如来
从南無善名称吉祥王如来念到药师如 为一遍,念21、49、108次。念诵之时, 观想前上方有七佛安住,安住次第如 的排列。
或者念诵心经7遍、21遍,或者金刚经 或者药师、观音、地藏圣号,并北斗 咒“嗡,萨打楠,及那雅,梭哈”108/1080遍,然后回向:
http://blog.sina.com.cn/s/blog_598808180102yxje.html
-
-
-
南无萨达喃(你会不会突然地出现~)2017-10-14 20:37 赞(41) 弱(0).
(1)南无飒哆喃(梵文:namo-saptanam汉语拼音注音:na-mo-sa-da-nan拿摩萨达南)